TRẢ VÀ ĐÒI

14 Th7

TRẢ VÀ ĐÒI

Trôi nhanh đi mây chiều ơi
Cho qua đêm tối cho trời bình minh
Cho tình về lại với tình
Hợp duyên hợp nợ ta mình trả nhau

Trả em hết kiếp trầu cau
Trả em trọn vẹn trước sau thân nầy
Trả em nguyên trái tim đầy
Trả em hồn vóc ngất ngây hương tình
Trả em mấy kiếp ba sinh
Trả cho em hết để mình thành đôi

Đòi em một chút nợ thôi
Đòi em anh được suốt đời chăm em
Đòi ru em được hàng đêm
Đòi em ngon giấc, mặc thềm trăng soi
Đòi em dáng liễu mặn mòi
Đòi em cứ mãi quê mùa anh yêu

Trả đòi biết nói bao nhiêu
Suốt đời mình nợ nhau nhiều đó em 
Ước mong duyên nợ dài thêm 
Đời đời kiếp kiếp cứ thèm đòi nhau.

NH

EM CỨ MÃI QUÊ.

14 Th7

 

EM CỨ MÃI QUÊ.

Em ơi.. cứ mãi quê mùa
Cho anh theo mãi theo hoài dáng quê
Chân phương mộc mạc vẹn thề
Dáng duyên thục nữ nương đê xóm làng

Tân thời văn vẻ đài trang
Chuốc trau “vôi vữa” môi ngàn điêu ngoa
Trắng đen muôn mặt cáo xà
Hơn thua tị nạnh sẽ là chia ly

Em ơi cứ mãi quê đi…
Cho tình yêu sáng diệu kỳ lòng son 
Lũy tre bến nước đồi non
Yêu thương chung thủy là còn hồn quê

Như lời cha mẹ xưa thề
Trầu cau, vôi trắng đê mê môi hồng
Sinh mình ra nên vợ chồng
Theo gương cha mẹ lòng không thẹn lòng.

NH

Dọa kiện Mỹ ra WTO liệu tổ chức thương mại thế giới có cứu được Trung Quốc? – youtube

12 Th7

 

Mỹ Công Bố Với Thế Giới Về Hàng Giả TQ Và Ngày Công Bố Thuế Bổ Sung Cao Nhất Trong Lịch Sử – youtube

12 Th7

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG – ncbd.vn

12 Th7

 

 

Tin tuần từ 2/7 – 8/7

Thứ năm, 05 Tháng 7 2018 10:41

-(Tuoitre 4/7) Nhật đưa tàu chiến lớn nhất tới Biển Đông: Tàu sân bay trực thăng Kaga sẽ bắt đầu hải trình 2 tháng xuyên Biển Đông và Ấn Độ Dương; (Giaoduc 4/7) Tính ngụy biện trong lập luận của Trung Quốc: Biển Đông do “tổ tiên” để lại

-(Vnplus 4/7) Philippines có kế hoạch xây thêm các căn cứ không quân trong nước: Chương trình hiện đại hóa của Philippines tới năm 2022 có 16 dự án dành cho PAF có tổng trị giá khoảng 2,6 tỷ USD; (Baodatviet 4/7) Chứng minh Singapore là nước tiếp theo mua F-35

 -(Vnmedia 2/7) Mỹ dùng cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới để “dạy dỗ” Trung Quốc ở Biển Đông?: Trung Quốc tự tiến hành cuộc tập trận bắn đạn thật ở ngoài khơi Đài Loan từ hôm 17/6; (Zing 2/7) Những nguy cơ từ bản đồ Biển Đông sai lệch trên Facebook

-(Dantri 1/7) Nước cờ chiến lược của Mỹ trong cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới với sự tham gia của 25 quốc gia, 25.000 quân nhân, 200 máy bay và 46 tàu chiến; (Vnepxress 2/7) Bị loại khỏi RIMPAC, Trung Quốc có thể cứng rắn hơn ở Biển Đông

-(Soha 2/7) Trung Quốc thay vòi rồng bằng pháo hạm, Biển Đông sắp “dậy sóng”? Quyền chỉ đạo lực lượng hải cảnh Trung Quốc sẽ được chuyển từ Cục Quản lý Hải dương sang Quân đội Trung Quốc từ ngày 1/7; (Nhiepanhdoisong 2/7) Malaysia sẽ làm rõ quan điểm về Biển Đông trực tiếp với Trung Quốc

VINH DANH CHỮ QUỐC NGỮ TRƯỚC MỐI HỌA TRUNG QUỐC – trannhuong.com

11 Th7

 

GS. Nguyễn Đăng Hưng

Chủ nhật ngày 1 tháng 7 năm 2018 7:43 AM

 
 
 
Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, một chuyên gia giáo dục Việt Nam, nguyên là giảng viên đại học Liège – Bỉ, đang thực hiện một số dự án vinh danh chữ quốc ngữ, như một cách để tỏ lòng tri ân với những người giúp sáng khai sinh ra tiếng Việt và bảo vệ văn hóa Việt nhất là trong thời buổi sự lấn lướt của Trung Quốc trên lãnh thổ VN ngày càng gia tăng.
 
 
 
Theo một số thông tin Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng chia sẻ thì ông đang thực hiện hai dự án để vinh danh những người giúp tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Một dự án là làm bia tưởng niệm ông Alexander de Rhodes một giáo sĩ người Pháp. Bia tưởng niệm sẽ được đặt tại một nghĩa trang ở Iran nơi ông yên nghỉ. Và dự án thứ hai là lập một không gian tri ân và tưởng niệm các giáo sĩ người nước ngoài đặc biệt các giáo sỹ Bồ Đào Nha, cùng tập thể các trí sĩ người VN đã có công trong việc phổ biến chữ quốc ngữ. Không gian này dự tính được xây dựng ở Hội An.
 
RFA trao đổi với GS. Nguyễn Đăng Hưng về các dự án này:
 
RFA: Xin chào GS. Nguyễn Đăng Hưng. Ông có thể cho quý khán thính giả biết lý do gì thôi thúc ông thực hiện các dự án này không ạ?
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: Cuối năm 2017, ở VN có một sự kiện xảy ra đó là ông PGS. Bùi Hiền, nguyên hiệu trưởng trường ngôn ngữ ở Hà Nội, đã đưa ra đề nghị sửa đổi cách viết chữ quốc ngữ. Cách viết của ông ấy làm cho tiếng Việt giống tiếng Trung Quốc được phiên âm.
 
Tôi rất buồn, nhưng tôi có thói quen phản ứng tích cực chứ không phản ứng tiêu cực. Tôi không tìm cách mắng mỏ ai, mà tôi chỉ nói tại sao mình không đưa ra một đợt vinh danh chữ quốc ngữ. Bởi vì tôi cho rằng chữ quốc ngữ đã quyện vào tâm hồn dân tộc. Tất cả người Việt nói tiếng Việt đều viết chữ quốc ngữ. Bây giờ cứ nhìn thấy chữ quốc ngữ người ta đã tìm thấy tâm hồn, tìm ra thơ, nét nhạc. Cho nên mình phải bảo tồn và vinh danh nó. Mà muốn làm vậy thì trước hết phải tri ân những người tiền bối đã khai sinh ra chữ quốc ngữ.
 
RFA: Đây là dự án lập đền thờ vinh danh ông Francisco de Pina, và các trí sĩ người Việt ở Hội An, và làm bia tưởng niệm ông Alexander de Rhodes ở Iran phải không? Ông có thể nói rõ hơn các dự án sẽ được thực hiện như thế nào?
 
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: Bây giờ có muốn tạc tượng vinh danh các vị này ta cũng không nên để ở Hà Nội vì ở Hà Nội người ta đã gỡ đi rồi. Mà cũng không nên để ở Sài Gòn, một thành phố lớn bởi vì ông Võ Văn Kiệt là bí thư thành ủy còn không làm được thì làm sao tôi làm được.
 
Nên tôi mới đề nghị làm một không gian vinh danh, một cái đền chẳng hạn tại Thanh Chiêm, chỗ các giáo sĩ tới để truyền đạo thì vừa có ý nghĩa mà không ai nói gì được.
 
Nhưng những người ở Hội An nói rằng sao thầy không làm ở Hội AN đi vì Thanh Chiêm bây giờ không còn sinh hoạt gì, thành một làng hoang phế rồi. Mà Hội An cách đó có 10 cây số thôi. Các giáo sĩ đó trước khi tới Thanh Chiêm cũng đã tới Hội An. Và hiện Hội An có một nhà thờ Cơ đốc cũ nhất. Cũng có người nói với tôi họ có thể giúp tôi giữ mảnh đất đó, ở ngay trung tâm Hội An, để làm đền thờ.
 
Đây là đợt 2. Còn đợt 1 là đi sang cố đô của Iran, trước gọi là Ba Tư. Ở Isfahan có mộ của ông Alexander de Rhodes chơi vơi trong một nghĩa trang, không khói hương, không có hoa từ lâu rồi, khoảng 300 năm. Tôi quyết định sang đó đi tìm lại ngôi mộ để nghiên cứu lập một cái bia để tri ân ông ấy. Tôi đã thực hiện việc này hồi tháng 5 vừa rồi, và mọi việc rất thành công.
 
Đặt một bia đá ở ngôi mộ cổ không phải là việc dễ. Thứ nhất, phải được người quản lý nghĩa địa đồng ý. Thứ hai là phải được nhà thờ chấp thuận, vì đay là nghĩa địa Cơ đốc. Rồi phải có ý kiến của chính quyền địa phương. Khi tôi sang tôi phải đi hết 3 cửa. Cửa nghĩa địa thì rất là tốt. Đi tới nhà thờ thì họ cũng chịu, không vấn đề gì, nhưng họ nói với tôi vấn đề khó là phải đi qua chính quyền. Tôi cũng mầy mò đi tới gặp chính quyền và nói chuyện với ông Cục trưởng Cục quản lý Văn hóa- Tôn giáo của quận Isfahan. Tôi đã đưa cho ông cục trưởng những đề nghị về văn bia mà chúng tôi viết, trong đó chúng tôi dùng 4 thứ tiếng. Ý tưởng 4 thứ tiếng này làm ông cục trưởng rất mừng, nói rằng như vậy rất nhân văn nên không thể từ chối được.
 
Sau đó chúng tôi đi tìm thợ khắc bia. Tấm bia dài 1m6 và bề ngang 50 cm. Tôi lo người Iran mà khắc Tiếng Việt là có thể sai nên phải ngồi lại cả buổi để dạy họ khắc cho đúng.
 
Vây giờ khắc bia xong rồi, hợp đồng ký rồi, tôi đã trả tiền cọc rồi, chỉ còn phần còn lại là sang khánh thành. Chúng tôi có một nhóm rất đông nhà sử học của Việt Nam, nhà trí thức cao cấp của VN, có cả người trong Đảng Cộng sản VN, có người dân Việt, có dân hải ngoại, người ở Paris, người ở Bồ Đào Nha. Tôi đã đưa ra một tiêu đề là chữ quốc ngữ còn thì Tiếng Việt còn, mà Tiếng Việt còn thì nước Việt còn”.
 
Ngày 5/11 tới đây chúng tôi sẽ có một phái đoàn khoảng 20 người sang Iran để khánh thành tấm bia tại mộ của ông Alexander de Rhodes, đây cũng là ngày giỗ của ông ấy.
 
Bia mộ này có một phần nhỏ tầm 50 cm thì chúng tôi lấy một hòn đá ở Thanh Chiêm hoặc Hội An để khắc lời tri ân, và in vào đó hình ông Alexander de Rhodes cùng hình cuốn từ điển. Như vậy để có một cái gì đó của dân tộc Việt Nam, làng Thanh Chiêm nơi ông đã qua, tựa lưng vào mộ để ông ấy thấy ấm áp lòng.
 
Đến tháng 7 này chúng tôi có một phái đoàn sang Bồ Đào Nha tham gia cùng Viện nghiên cứu lịch sử – địa lý của Bồ Đào Nha để tham gia một hội thảo về cống hiến của người Bồ Đào Nha đối với chữ quốc ngữ. Có một cô sử gia lấy chồng ở Bồ Đào Nha nói với tôi đã tìm được con cháu của ông F.de Pina rồi. Nếu lấy được mẫu AND và khai tìm các mộ cổ của đạo sĩ đã chôn, tìm ra mộ có ADN giống thì lúc đó sẽ xác nhận được mộ của ông De Pina. Từ đó chúng tôi sẽ làm một chuyện mới mẻ trong lịch sử là biết được ông ấy chôn ở đâu và vinh danh ông ấy bằng cách củng cố mộ của ông ấy cho tốt.
 
RFA: Ngày này sự lấn lướt của Trung Quốc với chủ quyền lãnh thổ của nước ta ngày càng rõ ràng. Đây có phải là một trong những lý do khiến Giáo sư thực hiện các dự án này không?
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: Không phải là mục đích chính nhưng cũng là muốn bảo vệ tiếng Việt, bảo vệ độc lập và lãnh thổ của Việt Nam. Muốn bảo vệ nước Việt Nam thì chuyện đầu tiên cần bảo vệ là tiếng Việt. Bảo vệ tiếng Việt tốt thì tất cả những xâm lấn, nhất là về văn hóa sẽ bị ngăn cản và có sức đề kháng cao. Như vậy cũng là một hình thức đối kháng lại dã tâm xâm lược văn hóa của bá quyền Trung Quốc.
 
RFA: Qua chương trình của RFA, Giáo sư muốn nhắn gửi điều gì đến quý khán thính giả?
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: : Tôi mong rằng sau khi khánh thành bia mộ của ông Alexander de Rhodes và tìm được mộ của ông F.de Pina sẽ dấy lên một phong trào ủng hộ công việc của chúng tôi, một nhóm mười mấy người, để xây dựng được không gian đó. Tôi muốn lan truyền sự ủng hộ ở hải ngoại và trong nước. Trong nước giới doanh nhân cũng có người rất tốt đã ủng hộ rồi. Tôi mong rằng doanh nhân Việt Kiều Mỹ, Pháp, Úc,… những người vẫn nói tiếng Việt, viết tiếng Việt sẽ hiểu rằng mình cần có bổn phận tri ân những người đã khai sinh ra chữ quốc ngữ.
 
RFA: Xin cám ơn những chia sẽ của Giáo sư và xin chúc cho những dự án của ông sẽ nhận được sự ủng hộ của cộng đồng người Việt trong nước và hải ngoại.
Nguồn trublog

KẺ SĨ KINH BẮC – trannhuong.com

11 Th7

Hồ Hoàng

Thứ hai ngày 9 tháng 7 năm 2018 8:39 AM

 
 
 
 

Kinh Bắc có hai người con kiệt xuất, cùng thời nhưng cuộc đời đầy tai ương bất trắc. Có thể hai người này là hai vết khắc sâu đậm của văn hóa Việt Nam hiện đại. Nghiệt ngã thay, cả hai ông đều là nạn nhân của những gì các ông theo đuổi; bị truy đuổi đến tận cùng bởi tài năng xuất chúng; bởi trung thành với chính mình. Cuối đời các ông đều được tặng thưởng những phần thưởng cao quý: Trần Đức Thảo được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội, Hoàng Cầm được giải thưởng nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

 
1.Triết gia Trần Đức Thảo. Với con người này, mình chưa được tiếp cận nhiều với những gì ông viết vì sách của ông rất ít phổ biến mà chắc có phổ biến mình cũng rất khó tiếp cận bởi lĩnh vực nghiên cứu của ông không phải giành cho tất cả mọi người. Chỉ biết được cuộc đời đầy cay đắng của ông qua những gì người ta viết về ông.
 
Giáo sư Văn học Nguyễn Đình Chú đã đánh giá về ông: “là một lưu học sinh đã làm vẻ vang cho tổ quốc trên đất Pháp với tấm bằng thủ khoa thạc sĩ triết học đến nay chưa có người thứ hai; là triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế với những hành động, tác phẩm nổi trội, có ý nghĩa phát triển chủ nghĩa Mác theo hướng “duy vật biện chứng nhân bản” và người khai sinh bộ môn Lịch sử tư tưởng triết học cho giáo dục Việt Nam.”
 
Giáo sư Trần văn Giàu khẳng định: “Ở Việt nam, người duy nhất được là nhà Triết học, chỉ có Trần Đức Thảo thôi”. Nhà văn hóa Bùi Nam Sơn cho rằng: “Đó là một trong những người Việt hiếm hoi được học hành đến nơi đến chốn về triết học và cho thấy người Việt mình cũng có thể tiếp cận rất gần với triết học thế giới”.
 
Sinh năm 1917, học sinh trường Trung học Pháp nổi tiếng nhất Đông dương Albert Sarraut. Đạt giải nhì cuộc thi Triết học các trường Trung học toàn quốc Pháp. Nhận học bổng phủ Toàn quyền Đông Dương học tại Pari. Đậu thủ khoa Thạc sĩ triết học thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đậu Thạc sĩ Triết học tại Pháp.
 
Là một học giả được đào tạo bài bản của nền giáo dục hàng đầu thế giới, lại rất có tiếng tăm hứa hẹn một tương lai sán lạn của ông trên đất Pháp. Tham gia Hội nghị Fontainebleau, Bác Hồ đã tìm gặp và đề nghị Trần Đức Thảo về nước phục vụ cách mạng, năm 1952, ông đã xung phong về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến.
 
Năm 1955 ông trở thành Giáo sư Triết học và Phó Giám đốc đại học Văn khoa Hà Nội, Chủ nhiệm khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội.
 
Năm 1957, ông bị quy tội tham gia Nhân văn giai phẩm, một phong trào đấu tranh vì tự do dân chủ cho văn hóa văn nghệ vì công bố một số bài báo bàn về tự do dân chủ. Bị giáng chức, tước quyền giảng dạy, Tước biên chế nhà nước (thời đó coi như hết đường sống), bị cắt đứt mọi mọi mối liên hệ với cuộc sống, bị cô lập với đồng bào và đồng chí. Một học sinh của ông kể lại: “việc gặp thầy Trần Đức Thảo từ nước Pháp tư bản trở về là rất dễ bị quy tội như bên Trung Quốc trong Đại Cách mạng Văn hoá. Gặp thầy lủi thủi đạp chiếc xe đạp mini cộc cạch cũng đành làm ngơ, nhiều khi không dám nhìn”. Một học trò khác là Giáo sư Nguyễn Đình Chú kể: “Hàng ngày vẫn gặp Thầy lên xuống ở cầu thang mà tôi cứ phải cúi mặt xuống không dám chào Thầy vì sợ liên lụy, vì xấu hổ về tội phản Thầy. Chỉ một Đoàn Mai Thi là người duy nhất không sợ gì cả vẫn thường xuyên lui tới săn sóc Thầy trong hoạn nạn, để lại một điểm son về đạo tôn sư trong lòng chúng bạn.”. Còn Trần Như Tảng kể lại rằng: “Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man.”
 
Hành trình cuộc đời đầy cay đắng của ông có thể gom lại trong chuyện kể chết cười của bà cụ hàng nước được nhà văn Phùng Quán ghi lại:
 
“Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen… “Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây dợ xong, bật lên thấy đang chiếu cánh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to được tặng huân chương Độc lập hạng hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu, toàn bộ cấp cao, có danh giá đến dự… Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cư ỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc? Mặt cứ vác lên trời, đạp xem thinh thoảng lại tủm tỉm cười một mình như anh dở người… Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nắng nom vất vả thế… ế… ế…”. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái “poócbaga”, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi ná rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo một đằng thì chết danh, chết giá, còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai”. Bà cụ chép miệng thương cảm: “Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…”.
 
Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: “Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti vi…”. Bà già bĩu môi: “Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!”.
 
2. Nhà thơ Hoàng Cầm. Với nhà thơ Hoàng Cầm, mình bị mê hoặc bởi những câu thơ lộng lẫy của ông. Nhưng những câu thơ đi vào tâm khảm đầu tiên, thuộc ngay tắp lự là:
 
“Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh”.
 
Từ những câu thơ đó, mình bắt đầu hành trình đọc thơ ông cho đến hôm nay và chắc chỉ dừng lại khi không đọc được nữa.
 
Khó có ai mà quê hương thấm vào máu như ông, văn hóa Kinh bắc đã hóa trầm tích trong mỗi câu thơ ông, nó cứ bay lên lấp lánh, lộng lẫy với những Sông đuống, Mưa Thuận thành, Cổ bài tam cúc…:
 
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”
 
Sinh ra ở Thuận Thành Bắc Ninh, Tốt nghiệp tú tài toàn phần, 8 tuổi đã có thơ đăng báo. Năm 1944 ông đã tham gia Việt Minh, Cách mạng Tháng Tám, về Hà Nội xây dựng đoàn Kịch Đông Phương, phục vụ kháng chiến.
 
Năm 1947, tham gia Vệ quốc quân, thành lập đội Tuyên truyền Văn nghệ, năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn Văn công Tổng cục chính trị. 1955 về công tác tại Hội văn nghệ, tham gia thành lập Hội nhà Văn Việt nam. Cũng như nhiều nghệ sĩ tài năng thời đó, ông bị kết tội tham gia Nhân văn gia phẩm bị tước văn tịch.
 
Đầy là cuộc sống của Nhà thơ sau án phạt: “Bề ngoài, Hoàng Cầm chịu một hình phạt tương đối nhẹ là khai trừ một năm khỏi Hội Nhà văn, cho dù ông là một yếu nhân của phong trào với vai trò chủ trương hai tờ Giai phẩm và Nhân văn, khích lệ các văn nghệ sĩ tham gia, cổ vũ Văn Cao “vào cuộc” (với thi phẩm “Anh có nghe thấy không?”), chủ động in “Nhất định thắng” và can đảm bênh vực Trần Dần, v.v…
 
Tuy nhiên, trong thực tế, một bản án vô hình đã treo lơ lửng trên đầu ông, khiến thi sĩ lâm vào một cuộc trầm luân kéo dài 3 thập niên: không được sống bằng ngòi bút, không được in ấn tác phẩm, người đời xa lánh… Như hồi tưởng của nhà thơ: “Nội dung kỷ luật lúc đầu thì chỉ như thế thôi. Nhưng rồi cái kỷ luật đó nó kéo quá dài. (…) riêng tôi thì cũng sáng tác tập “Về Kinh Bắc”. (…) Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối.”
 
Năm 1982, bị bắt, bị tống giam 18 tháng vì tập thơ “Về kinh Bắc” bằng “ ‘Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp’ vì tội ‘lưu truyền văn hóa phẩm phản động ”, tập thơ đậm nhất về vùng văn Hóa Kinh Bắc . Ra tù ông bị bệnh tâm thần. Cuộc sống được tự ông ghi lại: ““Bà vợ tôi đã qua đời trong cảnh vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một. Tiền thức ăn thì cũng không có, bữa cơm nào hai vợ chồng cũng phải nhịn bớt đi, nghĩa là đáng lẽ mình ăn ba bát, ăn có một bát, để nhường cho các con ăn.
 
Bà vợ tôi chết vào những ngày như thế, mà lại chết vào năm 85 ấy, lúc tôi đang bị cái bệnh tâm thần, đang ở cái dạng trầm uất và hoảng loạn như thế. Vì bà ấy phải chạy từng ngày bữa ăn của gia đình. Gia đình thì đông. Mỗi một tháng lại phải lên trình diện một lần mới được người ta cấp cho 12 cân gạo. Rồi lại phải đi lên sở lương thực để lấy giấy chứng nhận nọ kia, rồi bấy giờ mới lại sang phòng tài chính để thanh toán tiền, xong rồi xuống chỗ bán hàng, xếp hàng chờ đợi.
 
Tóm lại là muốn được 12 cân gạo, bà vợ tôi vất vả đến mức là nó lên một trận huyết áp rất đột ngột, chỉ mới có từ chập tối hơi sôn sốt, rồi bà ấy đi nằm, mà giữa mùa nực, bà ấy thấy có cái gì ren rét, tôi đã phải đắp cho bà ấy một cái chăn lớn. Ðến 4 giờ sáng thì người cứng ra và liệt nửa người. 9 giờ thì đem đi cấp cứu và đến chiều hôm sau qua đời.”
 
Và cái chứng tâm thần mà theo ông ” cũng không có gì ghê gớm lắm” hành hạ ông:
 
“Thật ra thì cũng không có gì là ghê gớm lắm, cũng không xé quần, xé áo, không đi ra ngoài đường, không chửi bới hay làm những gì ầm ĩ cả, bởi vì chỉ là hoảng loạn thôi. Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ. Ví dụ nghe một tiếng còi ô-tô và một cái gì như là phanh ô-tô rít lên ở ngoài cửa – mà lúc bấy giờ tôi ở tít tận trong nhà cơ – nhưng khi nghe thấy như thế, vào lúc độ gần nửa đêm chẳng hạn, thì tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hãi.
.
Nó như là một cái bản năng đấy, tìm chỗ trốn. Quả nhiên là tôi đã có nhiều lần chui xuống gầm giường vì những hoảng loạn như thế. Hay nghe tiếng giày cộp cộp và thoáng thấy một bóng áo, như áo quân đội hay áo cảnh sát hay của một người thương binh nào đó, chỉ cần một cái bóng, một cái màu quần áo thôi, thì tôi cũng hoảng rồi. Người ta gọi là bệnh hoảng loạn. Chứ sự thực thì lúc ấy chẳng có ai dọa nạt, chẳng có ai làm gì mình cả.”
 
Hai con người, hai chiến sĩ, hai nhà văn hóa. Đã đi trọn cuộc đời vì niềm đam mê, thao thức về trí tuệ và văn hóa. Kết cục khó có thể nói bi đát hơn nhưng nhờ thế hai ông đã để lại cho Việt Nam những hình ảnh của nhà văn hóa đích thực, những kẻ sĩ đích thực trong hoàn cảnh nhiễu nhương. Là hi vọng cho sự tồn tại nhân cách Việt, con Người Việt.
%d bloggers like this: