THẨM PHÁN PHÙNG LÊ TRÂN – NGƯỜI ĐÃ TUYÊN TẠ ĐÌNH ĐỀ VÔ TỘI

22 Th5
Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Nguyễn Văn Lượng LượngTheo dõi

14:22 Nhân vụ án tử tù Hồ Duy Hải , tôi muốn đăng một bài viết về vụ xử Tạ Đình Đề khi xưa để mọi người tự so sánh với ngày nay về đạo đức trong sạch và cái tâm làm nghề trong sáng của một nữ thẩm phán kiên định – người dám đứng lên bảo vệ công lý …
THẨM PHÁN PHÙNG LÊ TRÂN – NGƯỜI ĐÃ TUYÊN TẠ ĐÌNH ĐỀ VÔ TỘI

Hơn 40 năm trước, phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề – một bị cáo khác thường, gây nên sự chú ý đặc biệt ở Hà Nội. Thẩm phán đã tuyên Tạ Đình Đề không phạm tội, trong niềm vui vỡ òa của hàng ngàn người theo dõi phiên tòa. Thẩm phán đó là bà Phùng Lê Trân, năm nay tròn 10 năm ngày bà về với tổ tiên.

Phiên tòa lịch sử

Ngày 6/6/1976, Tòa án Hà Nội, khi đó ở tầng một của trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, 48 phố Lý Thường Kiệt, mở phiên tòa đặc biệt, thu hút sự quan tâm theo dõi của đông đảo người dân thủ đô vì bị cáo là ông Tạ Đình Đề – một người hào sảng, nghĩa hiệp, cuộc đời gắn với quá nhiều giai thoại. Phiên tòa kéo dài đến 6 ngày, hôm nào quảng trường Tòa án cũng đông nghịt.

Ông Tạ Đình Đề tham gia Việt Minh từ khi 18 tuổi, năm 1954 làm Trưởng ban Thể dục thể thao, kiêm Xưởng trưởng Xưởng dụng cụ cao su của Tổng cục Đường sắt. Năm 1970, theo chủ trương của lãnh đạo Tổng cục, Xưởng phải chuyển từ 65 Quán Sứ xuống Giảng Võ. Khu đất 15 ha nguyên là bãi tha ma, Xí nghiệp phải di dời gần 400 ngôi mộ và đắp đường. Tháng 12/1972 cơ sở ở Quán Sứ lại bị cháy nên kế hoạch xây dựng càng gấp rút hơn, để có thể tiếp tục sản xuất vào năm 1973. Mở rộng sản xuất xưởng cao su cần đến nhiều nguyên vật liệu và máy móc, lúc đó lại khan hiếm, Tạ Đình Đề nảy ra sáng kiến, tận dụng những máy móc phế liệu do chiến tranh phá hoại còn lại vứt dọc đường Quốc lộ 5. Ông liền đến xin ông Đinh Đức Thiện – Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và được ủng hộ ngay.

Nhờ tâm huyết của Tạ Đình Đề và lãnh đạo xí nghiệp nên trên mảnh đất tha ma ấy, nhà xưởng, rồi hội trường, nhà trẻ, khu văn phòng lần lượt mọc lên… Không ngờ công ấy trở thành vấn đề họ hạch tội ông sau này.

Để khuyến khích người lao động, ông Đề và lãnh đạo xí nghiệp áp dụng hình thức khoán và trả lương theo sản phẩm, thực hiện thưởng lương tháng 13 để công nhân có tiền ăn Tết. Công nhân được đưa đón bằng xe ô tô và ăn giữa ca không mất tiền. Nhờ vậy mà sản phẩm của xí nghiệp ngày càng đa dạng, được xuất khẩu, có thời điểm xuất khẩu cho thị trường 9 nước XHCN. Bây giờ nghĩ đó là những việc làm bình thường nhưng lúc ấy là sự kiện chấn động tư duy kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp triệt để của thời chiến.

Trong đội ngũ công nhân của xí nghiệp có những người có tiền án tiền sự, người không có nghề nghiệp, người thất cơ lỡ vận… Có hai nghệ sĩ lúc đó còn chưa mấy người biết đến là thi sĩ Lưu Quang Vũ và nhạc sĩ Phan Lạc Hoa. Nhờ sự cưu mang của ông mà sau đó ngành đường sắt có bài “ngành ca” nổi tiếng “Tàu anh qua núi” và cũng từ đó người yêu nhạc biết đến Phan Lạc Hoa. Lưu Quang Vũ sau nay trở thành kịch tác gia nổi tiếng, đã lấy từ nguyên mẫu Tạ Đình Đề và Xí nghiệp cao su này để làm chất liệu dựng vở kịch “Tôi và chúng ta”…

Giữa lúc công việc trôi chảy và phát đạt ấy thì ngày 27/11/1974, Tạ Đình Đề và phó xưởng Nguyễn Xuân Luật bị bắt giam, vì nghe đâu có đơn tố cáo ông Đề ba tội: Chứa thuốc nổ và vũ khí; tập hợp các phần tử xấu và rút tiền mặt chi tiêu vô tội vạ…

Sau 18 tháng giam cứu, Tạ Đình Đề và các đồng phạm được đưa ra xét xử, bà Thẩm phán Phùng Lê Trân, chủ tọa phiên tòa đã làm rõ từng nội dung cáo trạng buộc tội Tạ Đình Đề và 7 bị cáo khác trong vụ án. Hội đồng xét xử nhận định: Toàn bộ hoạt động của Tạ Đình Đề từ 1971 đến 1974 là thấy việc gì có lợi cho đơn vị thì kể cả móc ngoặc, xin nhượng, mua bán, đổi chác, cách gì cũng làm bằng được. Thấy mặt hàng gì có khả năng bán được là tung tiền ra mua kỹ thuật và đầu tư sản xuất, trước mắt lấy lãi phục vụ kiến thiết cơ bản, hoạt động thể dục thể thao và mục tiêu lâu dài là đưa xí nghiệp trở thành xí nghiệp lớn, kinh doanh tổng hợp. Kết quả đạt được là một cơ ngơi khang trang được hoàn thành trong hai năm trên một bãi tha ma và ao rau muống… Các bị cáo cố ý làm trái nhưng không có tư lợi.

Cáo trạng dựa vào một bản báo cáo thanh tra, nhưng Thẩm phán Phùng Lê Trân phân tích: Báo cáo của đoàn thanh tra liên bộ chưa có căn cứ để tin. Xét về nguyên tắc thì không có quyết định thành lập đoàn thanh tra liên bộ. Báo cáo thanh tra không có ngày tháng, không ghi những ai, tên gì, của cơ quan nào được cử tham gia đoàn thanh tra. Không ghi ai là đoàn trưởng, đoàn gồm có mấy người… nên không thể xem đây là văn bản có giá trị pháp lý.

Hơn nữa, Bộ trưởng Bộ GTVT Dương Bạch Liên trong Công văn số 72 ngày 4/12/1974 khẳng định: “Có những việc liên quan đến Tổng cục Đường sắt và Bộ có trách nhiệm, không phải giám đốc xưởng tự ý làm”… Được sự ủng hộ của một vị Hội thẩm, Thẩm phán Phùng Lê Trân đã quyết định, Tạ Đình Đề và 7 bị cáo khác không phạm tội cố ý làm trái nguyên tắc quản lý kinh tế gây thiệt hại cho tài sản XHCN; không phạm tội tham ô và hối lộ. Tạ Đình Đề và các bị cáo khác được trả tự do.

Lời tuyên án vang lên gây bất ngờ không chỉ cho các bị cáo, mà cả những ai quan tâm đến vụ án này. Trong tiếng hoan hô vang dội của những người tham dự và theo dõi phiên tòa qua loa phóng thanh, người ta ào vào công kênh ông Tạ Đình Đề rồi tặng hoa như chào đón anh hùng.

Áp lực lên gia đình bé nhỏ

Phiên tòa chấn động dư luận vì nhiều khía cạnh, nhưng không mấy ai biết Thẩm phán Phùng Lê Trân là ai, để có được lời tuyên án đề cao pháp luật và công lý giữa “thanh thiên bạch nhật” như thế, bà Phùng Lê Trân đã phải trải qua những thử thách khắc nghiệt như thế nào. Vụ án đã mang đến cho gia đình bé nhỏ của bà những áp lực ghê gớm.

Bà Phùng Lê Trân có một gia đình bé nhỏ theo cả nghĩa thực lẫn nghĩa bóng. Nhà chỉ có ba người, hai ông bà và anh con trai Nguyễn Chí Tâm. Gia đình họ sống trong căn phòng 16m2 ở tầng ba, tầng cao nhất trong một ngôi nhà cũ ở con phố nhỏ, phố Cao Bá Quát, Hà Nội

Anh Nguyễn Chí Tâm nhớ lại những ngày đó, khi mẹ anh xử vụ Tạ Đình Đề, dù anh không biết cụ thể vụ án hay công việc mẹ anh đang làm nhưng ấn tượng không thể nào quên là không khí nhà anh rất căng thẳng. Ngay từ lúc chuẩn bị xét xử, đã rất nhiều người ra vào nhà anh, họ đến bất kể buổi nào, mẹ anh thường bảo anh đi chơi cho mẹ làm việc với khách. Anh không biết mẹ bàn chuyện gì nhưng sau mỗi lần như vậy anh thấy mẹ rất trầm ngâm. Có khi đêm đã khuya còn có người gõ cửa. Mẹ anh ra ngoài hành lang bàn bạc gì đó rất lâu. Anh nghe loáng thoáng, họ đang thuyết phục mẹ anh điều gì đó mà bà không chịu.

Vị Công an hộ tịch đến bảo: “Chị làm thế nào thì làm, còn con chị nữa. Nó quan hệ quá rộng đấy”. Bà bảo: “Nếu con tôi có tội thì các anh cứ xử lý”. Hồi đó anh Tâm mới 16 tuổi, ham chơi, hay tụ tập bạn bè đàn hát. Mẹ anh dặn: “Con đi đâu, quan hệ với ai cũng phải cẩn thận, họ đã nói như vậy đấy, nếu có chuyện gì thì không cứu được đâu”.

Hôm khai mạc phiên tòa, bố anh không đi làm. Ông không ra khỏi nhà, chỉ đi lại, hết đứng lại ngồi, bồn chồn trong căn phòng hẹp. Lòng ông như lửa đốt, nhất là lúc trước khi đi, bà bảo: “Hôm nay có thể em không về”.

Sau này, bà Phùng Lê Trân trả lời một nhà báo: “Ông Đề không có tội, tôi không thể vẽ tội cho ông ấy. Rất nhiều người không có thiện cảm với ông Đề đòi phải xử nặng, phải xử tù giam 10 – 15 năm chi đó, nhưng tôi không nghe. Sau thấy diễn biến phiên tòa khó luận tội, dư luận nghiêng về phía các bị cáo thì lại có người gợi ý, ít nhất cũng phải tuyên án treo 18 tháng. Nhiều lúc tôi muốn điên cái đầu! Trời ạ, sao mà lắm gợi ý thế”

Lúc đầu, mỗi khi có gợi ý như thế bà đều tranh luận rất mệt mỏi, nhưng sau đó bà rút kinh nghiệm, chỉ nghe và hứa sẽ xem xét kỹ. Và bà đã tuyên án dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhưng làm cho nhiều người rất bực bội. Nhiều cuộc họp, nhiều buổi chất vấn sau phiên tòa, nhưng cuối cùng bản án hình như có kháng nghị nhưng không có phiên tòa giám đốc thẩm.

Vụ án Tạ Đình Đề đã khiến bà kiệt sức, Thẩm phán Phùng Lê Trân phải đi nằm viện hơn một tháng trời. Sau đợt nghỉ chữa bệnh, năm 1978 bà về nghỉ hưu, năm đó bà 57 tuổi.

Một người kiên định

Khi viết bài này tôi đến thăm gia đình anh Nguyễn Chí Tâm, trò chuyện với con cháu cụ Phùng Lê Trân. Chị Thanh Huyền, vợ anh Tâm kể về mẹ chồng: “Tôi rất thương cụ, nhất là những khi về già. Cụ là người tốt quá mà khi về già lại nhiều bệnh tật, ốm đau luôn. Anh Tâm cũng thương mẹ hết lòng, “mẹ là nhất”. Mẹ tôi rất nghiêm khắc, nhiều lúc thật khó tính nhưng tôi vẫn hết lòng chiều mẹ. Vợ chồng tôi có được cuộc sống như hôm nay là nhờ phúc đức mẹ tôi để lại” – chị Huyền nói mà nước mắt chan hòa.

Chị cứ thương mẹ chồng, vừa chuyển về nhà mới rộng rãi, khang trang hơn căn phòng 16m2 ở Cao Bá Quát được vài tháng thì cụ đã ra đi. Căn phòng của cụ trên tầng hai bây giờ là phòng thờ. Bàn thờ Thẩm phán Phùng Lê Trân đặt trên chiếc tủ gỗ nhỏ, vốn cụ thân sinh của bà đóng cho con gái từ gỗ cây nhãn vườn nhà. Đây là tài sản giá trị nhất mà chị Huyền thấy khi về nhà chồng.

Anh Tâm nói: Mẹ tôi là một người nhân hậu nhưng tính rất kiên định, đã định làm gì là làm bằng được.

Chị Nguyên Bình, nguyên phóng viên báo Quân đội nhân dân, gọi bà Trân bằng bác dâu thì nói: Bác Trân là một người đẹp, dáng người cao, học vấn cũng cao nữa nên rất kén chồng. Mãi sau này gặp bác Trí, bác ấy mới kết hôn. Bác Trân là người không chỉ giỏi giang trong công tác mà còn rất khéo tay, nấu ăn giỏi, nhà cửa hết sức sạch sẽ, ngăn nắp. Trong công việc, bà không chấp nhận sự áp đặt.

Quả thật, nhìn lại cuộc đời bà, người ta thấy rõ tính kiên định ấy. Bà là người làng Bát Tràng, Gia Lâm. Con gái của ông giáo Phùng Văn Trinh (hiện nay Hải Dương có trường mang tên ông. Một người em trai của bà sau này là Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Văn Tửu). Năm 13 tuổi, bà được cha mẹ gả cho con trai một gia đình khá giả ở Hải Phòng. Bà đã hai lần đình quyên sinh vì không muốn lấy người chồng ấy nhưng cuối cùng bà nghĩ đến đạo làm con, cha mẹ đặt đâu con phải ngồi đấy theo lề lối gia phong. Tuy thế, bà chấp nhận làm người con dâu hiếu thuận, chu toàn nhưng không chịu làm vợ. Bà không chê chú rể điểm gì, anh ấy cũng đẹp trai, có học, nhưng bà không chịu được sự áp đặt, vậy thôi. Đêm động phòng, cô dâu khóa trái cửa buồng. Sau nhiều đêm không chinh phục được vợ, anh chồng đành chấp nhận giao ước, ăn cùng mâm, ở cùng nhà nhưng không ngủ cùng giường với cô vợ xinh đẹp nhưng sắt đá.

Trong một Hồi ký ngắn viết trong lúc nằm bệnh viện đề ngày 30/10/1977, bà Phùng Lê Trân nhớ lại, đúng lúc đang bế tắc như thế thì “có phong trào Cách mạng. Ta đến với cách mạng như mũi tên lao trúng hồng tâm”. Năm 1948, bà bị địch bắt tại Hồng Gai. Trong nhà giam, vì dám giúp đỡ, chăm sóc một bạn tù bị tra tấn nên bà bị địch bẻ hết hàm răng. Thẩm phán Phùng Lê Trân phải mang răng giả từ khi đó. Bà cũng bị Pháp đưa ra xét xử, bà viết: “Từng hiên ngang đứng trước vành móng ngựa, cãi lý với quan tòa thực dân mệnh danh “mẫu quốc”. Tòa đệ nhị cấp rồi lên Tòa thượng thẩm, ta có sợ chi đâu”.

Năm 1951, bà Phùng Lê Trân vào ngành Tòa án, với cương vị Hội thẩm ở Tòa án Quảng Yên. Sau khi được học nghiệp vụ, bà được bổ nhiệm và phân công làm Thẩm phán Tòa án khu Ba Đình, rồi lên Thẩm phán Tòa án Hà Nội. Năm 1956, sau khi đã được giải phóng khỏi tờ hôn thú cũ, bà gặp người bạn đời là ông Nguyễn Văn Trí, một Việt kiều, Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp trở về. Ông Trí là trưởng phòng Kỹ thuật Nhà máy da Thụy Khuê cho đến lúc nghỉ hưu.

Khi anh Tâm đi lao động xuất khẩu về chưa có việc làm, bà bảo: Con vào chỗ ba mà làm, mẹ không thể luồn lọt, xin xỏ việc làm cho con đâu.

Bà về hưu, phải đan len thêm để cải thiện cuộc sống, nhưng khi có người kiện tụng qua nhờ bà giúp, tất nhiên kèm theo đó là sự hậu tạ, bà từ chối thẳng thừng: “Tôi không phải thầy cò”

Ông Tạ Đình Đề và lòng biết ơn

Anh Tâm kể: Sau phiên tòa ít lâu, anh thấy ông Đề và ông Luật đến chơi. Họ xách theo một túi quà, mẹ anh bảo, nếu các anh mang quà đến thì tôi xin lỗi, tôi phải mời các anh ra khỏi nhà tôi. Cuối cùng, họ phải để túi quà ở ngoài cửa để vào nhà. Từ đó, ông Đề thực hiện một cam kết là mỗi năm xin đến chúc Tết bà một lần và chỉ đi tay không. Vì thế, suốt nhiều năm, cứ đến ngày áp Tết, anh lại thấy vợ chồng ông Tạ Đình Đề đến chơi chúc Tết.

Chị Huyền kể: Mãi đến năm 1997, ông Đề đến thăm, mang theo một cái đồng hồ điện tử treo tường hiệu “Tuổi trẻ” và nói: “Tôi không biếu được chị chút quà nào để cảm ơn nên tôi thấy rất áy náy. Cái đồng hồ này cũng không đáng bao nhiêu, xin chị vui lòng nhận cho tôi. Chúng ta đều đã quá già rồi…”. Không hiểu linh cảm thế nào mà bà nhận chiếc đồng hồ, đó là món quà đầu tiên và cuối cùng của ông Tạ Đình Đề tặng ân nhân của mình vì cuối năm đó ông Đề qua đời.

Sau đó, đến gần Tết, anh con trai ông Tạ Đình Đề, nghe đâu là một người thành đạt ở trong Nam ra, đã mang quà bánh đến chúc Tết bà và nói: Ba cháu dặn là sau khi ba cháu mất, cháu phải thay ba đến chúc Tết bác mỗi năm. Vì thế, cháu xin phép bác cho cháu được qua lại. Bà nói: Bác xử bố cháu là theo nhiệm vụ được phân công, bố cháu không có tội thì phải được tuyên là không phạm tội, vì thế không phải mang ơn huệ gì cả. Ba cháu dặn thế nhưng cháu không phải câu nệ đến thăm bác nữa. Bây giờ cháu mang túi quà này về. Bác không muốn như vậy… Từ đó gia đình ông Tạ Đình Đề mới thôi đi lại. Ngày Thẩm phán Phùng Lê Trân tạ thế, anh Tâm cũng không báo tin cho họ.

Trong hồi ký ghi tại bệnh viện đã dẫn, có lẽ trong tâm trạng ốm đau, Thẩm phán Phùng Lê Trân có viết: “Các em ạ, con ạ – Hôm nay, người ta thiên về thế mạnh, người ta đánh giá chị, đánh giá mẹ không ra gì đâu, nhưng chị, mẹ tin rằng: Một trăm năm sau, tên tuổi của chị, mẹ sẽ được ghi vào sử sách rằng, một trăm năm trước đây đã có nữ Thẩm phán của Tòa án nhân dân thủ đô dám hy sinh phần mình đấu tranh công khai, trực diện với các ngành hữu quan… để bảo vệ chân lý, bảo vệ chế độ, mà đỉnh cao nhất là vụ án Tạ Đình Đề, tiến hành xét xử vào những ngày 6,7,8,9,10 và 11 tháng 6 năm 1976”.

Đọc đoạn hồi ký này xong, tôi xin phép thắp một nén hương lên bàn thờ Thẩm phán Phùng Lê Trân, và nói cũng như nói với vợ chồng anh Tâm rằng: “Thưa bác, không phải đợi đến 100 năm sau. Bác là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và sau này noi theo về phẩm chất không khuất phục trước uy vũ, không bị cám dỗ bởi lợi ích, luôn thượng tôn pháp luật và lẽ công bằng. Công cuộc cải cách tư pháp đang được thực hiện cũng hướng về những mục tiêu như thế”.

Năm 2007, ông Tạ Đình Đề, người mà Thẩm phán Phùng Lê Trân tuyên vô tội năm xưa – cũng đã được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Hẳn ở nơi xa xôi, bà cũng có thể mỉm cười.

NGUYỄN PHAN KHIÊM
https://tapchitoaan.vn/…/tham-phan-phung-le-tran-nguoi-da-t…

 

XÉ MỘNG NIỀM TIN – nh

19 Th7

XÉ MỘNG NIỀM TIN

Đôi mắt đêm ảo huyền ráo hoảnh
Thao thức trời nam sợi nhớ oằn
Nặng nỗi niềm tiếng lòng chùng nhịp nhịp
Bao canh rồi sương lạnh tái hồn trăng

Tiếng giun dế cùng bầy chúng sinh muôn loại
Thở than nghe trời đất rách trăm bề
Tiếng loẹt xoẹt ai mài gươm thuở trước 
Còn đâu đây như xé nát tim người

Sao chưa hiện sao khuê
Sao chưa thấy cờ đào áo vải 
Cọc Bạch Đằng, lời “Sát Thát” mãi còn in
Mỏi đêm dài, hồn trống trận xé mộng niềm tin

Trời non nước qua bao mươi thập kỷ
Sa-tan lộng hành thiên sứ cũng đành lui
Nay hiện thân cả rừng quỷ đũ
Phật lắc đầu, thần thánh cũng bó tay

 

nh 07-’18

TRẢ VÀ ĐÒI

14 Th7

TRẢ VÀ ĐÒI

Trôi nhanh đi mây chiều ơi
Cho qua đêm tối cho trời bình minh
Cho tình về lại với tình
Hợp duyên hợp nợ ta mình trả nhau

Trả em hết kiếp trầu cau
Trả em trọn vẹn trước sau thân nầy
Trả em nguyên trái tim đầy
Trả em hồn vóc ngất ngây hương tình
Trả em mấy kiếp ba sinh
Trả cho em hết để mình thành đôi

Đòi em một chút nợ thôi
Đòi em anh được suốt đời chăm em
Đòi ru em được hàng đêm
Đòi em ngon giấc, mặc thềm trăng soi
Đòi em dáng liễu mặn mòi
Đòi em cứ mãi quê mùa anh yêu

Trả đòi biết nói bao nhiêu
Suốt đời mình nợ nhau nhiều đó em 
Ước mong duyên nợ dài thêm 
Đời đời kiếp kiếp cứ thèm đòi nhau.

NH

EM CỨ MÃI QUÊ.

14 Th7

 

EM CỨ MÃI QUÊ.

Em ơi.. cứ mãi quê mùa
Cho anh theo mãi theo hoài dáng quê
Chân phương mộc mạc vẹn thề
Dáng duyên thục nữ nương đê xóm làng

Tân thời văn vẻ đài trang
Chuốc trau “vôi vữa” môi ngàn điêu ngoa
Trắng đen muôn mặt cáo xà
Hơn thua tị nạnh sẽ là chia ly

Em ơi cứ mãi quê đi…
Cho tình yêu sáng diệu kỳ lòng son 
Lũy tre bến nước đồi non
Yêu thương chung thủy là còn hồn quê

Như lời cha mẹ xưa thề
Trầu cau, vôi trắng đê mê môi hồng
Sinh mình ra nên vợ chồng
Theo gương cha mẹ lòng không thẹn lòng.

NH

Dọa kiện Mỹ ra WTO liệu tổ chức thương mại thế giới có cứu được Trung Quốc? – youtube

12 Th7

 

Mỹ Công Bố Với Thế Giới Về Hàng Giả TQ Và Ngày Công Bố Thuế Bổ Sung Cao Nhất Trong Lịch Sử – youtube

12 Th7

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG – ncbd.vn

12 Th7

 

 

Tin tuần từ 2/7 – 8/7

Thứ năm, 05 Tháng 7 2018 10:41

-(Tuoitre 4/7) Nhật đưa tàu chiến lớn nhất tới Biển Đông: Tàu sân bay trực thăng Kaga sẽ bắt đầu hải trình 2 tháng xuyên Biển Đông và Ấn Độ Dương; (Giaoduc 4/7) Tính ngụy biện trong lập luận của Trung Quốc: Biển Đông do “tổ tiên” để lại

-(Vnplus 4/7) Philippines có kế hoạch xây thêm các căn cứ không quân trong nước: Chương trình hiện đại hóa của Philippines tới năm 2022 có 16 dự án dành cho PAF có tổng trị giá khoảng 2,6 tỷ USD; (Baodatviet 4/7) Chứng minh Singapore là nước tiếp theo mua F-35

 -(Vnmedia 2/7) Mỹ dùng cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới để “dạy dỗ” Trung Quốc ở Biển Đông?: Trung Quốc tự tiến hành cuộc tập trận bắn đạn thật ở ngoài khơi Đài Loan từ hôm 17/6; (Zing 2/7) Những nguy cơ từ bản đồ Biển Đông sai lệch trên Facebook

-(Dantri 1/7) Nước cờ chiến lược của Mỹ trong cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới với sự tham gia của 25 quốc gia, 25.000 quân nhân, 200 máy bay và 46 tàu chiến; (Vnepxress 2/7) Bị loại khỏi RIMPAC, Trung Quốc có thể cứng rắn hơn ở Biển Đông

-(Soha 2/7) Trung Quốc thay vòi rồng bằng pháo hạm, Biển Đông sắp “dậy sóng”? Quyền chỉ đạo lực lượng hải cảnh Trung Quốc sẽ được chuyển từ Cục Quản lý Hải dương sang Quân đội Trung Quốc từ ngày 1/7; (Nhiepanhdoisong 2/7) Malaysia sẽ làm rõ quan điểm về Biển Đông trực tiếp với Trung Quốc

VINH DANH CHỮ QUỐC NGỮ TRƯỚC MỐI HỌA TRUNG QUỐC – trannhuong.com

11 Th7

 

GS. Nguyễn Đăng Hưng

Chủ nhật ngày 1 tháng 7 năm 2018 7:43 AM

 
 
 
Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, một chuyên gia giáo dục Việt Nam, nguyên là giảng viên đại học Liège – Bỉ, đang thực hiện một số dự án vinh danh chữ quốc ngữ, như một cách để tỏ lòng tri ân với những người giúp sáng khai sinh ra tiếng Việt và bảo vệ văn hóa Việt nhất là trong thời buổi sự lấn lướt của Trung Quốc trên lãnh thổ VN ngày càng gia tăng.
 
 
 
Theo một số thông tin Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng chia sẻ thì ông đang thực hiện hai dự án để vinh danh những người giúp tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Một dự án là làm bia tưởng niệm ông Alexander de Rhodes một giáo sĩ người Pháp. Bia tưởng niệm sẽ được đặt tại một nghĩa trang ở Iran nơi ông yên nghỉ. Và dự án thứ hai là lập một không gian tri ân và tưởng niệm các giáo sĩ người nước ngoài đặc biệt các giáo sỹ Bồ Đào Nha, cùng tập thể các trí sĩ người VN đã có công trong việc phổ biến chữ quốc ngữ. Không gian này dự tính được xây dựng ở Hội An.
 
RFA trao đổi với GS. Nguyễn Đăng Hưng về các dự án này:
 
RFA: Xin chào GS. Nguyễn Đăng Hưng. Ông có thể cho quý khán thính giả biết lý do gì thôi thúc ông thực hiện các dự án này không ạ?
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: Cuối năm 2017, ở VN có một sự kiện xảy ra đó là ông PGS. Bùi Hiền, nguyên hiệu trưởng trường ngôn ngữ ở Hà Nội, đã đưa ra đề nghị sửa đổi cách viết chữ quốc ngữ. Cách viết của ông ấy làm cho tiếng Việt giống tiếng Trung Quốc được phiên âm.
 
Tôi rất buồn, nhưng tôi có thói quen phản ứng tích cực chứ không phản ứng tiêu cực. Tôi không tìm cách mắng mỏ ai, mà tôi chỉ nói tại sao mình không đưa ra một đợt vinh danh chữ quốc ngữ. Bởi vì tôi cho rằng chữ quốc ngữ đã quyện vào tâm hồn dân tộc. Tất cả người Việt nói tiếng Việt đều viết chữ quốc ngữ. Bây giờ cứ nhìn thấy chữ quốc ngữ người ta đã tìm thấy tâm hồn, tìm ra thơ, nét nhạc. Cho nên mình phải bảo tồn và vinh danh nó. Mà muốn làm vậy thì trước hết phải tri ân những người tiền bối đã khai sinh ra chữ quốc ngữ.
 
RFA: Đây là dự án lập đền thờ vinh danh ông Francisco de Pina, và các trí sĩ người Việt ở Hội An, và làm bia tưởng niệm ông Alexander de Rhodes ở Iran phải không? Ông có thể nói rõ hơn các dự án sẽ được thực hiện như thế nào?
 
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: Bây giờ có muốn tạc tượng vinh danh các vị này ta cũng không nên để ở Hà Nội vì ở Hà Nội người ta đã gỡ đi rồi. Mà cũng không nên để ở Sài Gòn, một thành phố lớn bởi vì ông Võ Văn Kiệt là bí thư thành ủy còn không làm được thì làm sao tôi làm được.
 
Nên tôi mới đề nghị làm một không gian vinh danh, một cái đền chẳng hạn tại Thanh Chiêm, chỗ các giáo sĩ tới để truyền đạo thì vừa có ý nghĩa mà không ai nói gì được.
 
Nhưng những người ở Hội An nói rằng sao thầy không làm ở Hội AN đi vì Thanh Chiêm bây giờ không còn sinh hoạt gì, thành một làng hoang phế rồi. Mà Hội An cách đó có 10 cây số thôi. Các giáo sĩ đó trước khi tới Thanh Chiêm cũng đã tới Hội An. Và hiện Hội An có một nhà thờ Cơ đốc cũ nhất. Cũng có người nói với tôi họ có thể giúp tôi giữ mảnh đất đó, ở ngay trung tâm Hội An, để làm đền thờ.
 
Đây là đợt 2. Còn đợt 1 là đi sang cố đô của Iran, trước gọi là Ba Tư. Ở Isfahan có mộ của ông Alexander de Rhodes chơi vơi trong một nghĩa trang, không khói hương, không có hoa từ lâu rồi, khoảng 300 năm. Tôi quyết định sang đó đi tìm lại ngôi mộ để nghiên cứu lập một cái bia để tri ân ông ấy. Tôi đã thực hiện việc này hồi tháng 5 vừa rồi, và mọi việc rất thành công.
 
Đặt một bia đá ở ngôi mộ cổ không phải là việc dễ. Thứ nhất, phải được người quản lý nghĩa địa đồng ý. Thứ hai là phải được nhà thờ chấp thuận, vì đay là nghĩa địa Cơ đốc. Rồi phải có ý kiến của chính quyền địa phương. Khi tôi sang tôi phải đi hết 3 cửa. Cửa nghĩa địa thì rất là tốt. Đi tới nhà thờ thì họ cũng chịu, không vấn đề gì, nhưng họ nói với tôi vấn đề khó là phải đi qua chính quyền. Tôi cũng mầy mò đi tới gặp chính quyền và nói chuyện với ông Cục trưởng Cục quản lý Văn hóa- Tôn giáo của quận Isfahan. Tôi đã đưa cho ông cục trưởng những đề nghị về văn bia mà chúng tôi viết, trong đó chúng tôi dùng 4 thứ tiếng. Ý tưởng 4 thứ tiếng này làm ông cục trưởng rất mừng, nói rằng như vậy rất nhân văn nên không thể từ chối được.
 
Sau đó chúng tôi đi tìm thợ khắc bia. Tấm bia dài 1m6 và bề ngang 50 cm. Tôi lo người Iran mà khắc Tiếng Việt là có thể sai nên phải ngồi lại cả buổi để dạy họ khắc cho đúng.
 
Vây giờ khắc bia xong rồi, hợp đồng ký rồi, tôi đã trả tiền cọc rồi, chỉ còn phần còn lại là sang khánh thành. Chúng tôi có một nhóm rất đông nhà sử học của Việt Nam, nhà trí thức cao cấp của VN, có cả người trong Đảng Cộng sản VN, có người dân Việt, có dân hải ngoại, người ở Paris, người ở Bồ Đào Nha. Tôi đã đưa ra một tiêu đề là chữ quốc ngữ còn thì Tiếng Việt còn, mà Tiếng Việt còn thì nước Việt còn”.
 
Ngày 5/11 tới đây chúng tôi sẽ có một phái đoàn khoảng 20 người sang Iran để khánh thành tấm bia tại mộ của ông Alexander de Rhodes, đây cũng là ngày giỗ của ông ấy.
 
Bia mộ này có một phần nhỏ tầm 50 cm thì chúng tôi lấy một hòn đá ở Thanh Chiêm hoặc Hội An để khắc lời tri ân, và in vào đó hình ông Alexander de Rhodes cùng hình cuốn từ điển. Như vậy để có một cái gì đó của dân tộc Việt Nam, làng Thanh Chiêm nơi ông đã qua, tựa lưng vào mộ để ông ấy thấy ấm áp lòng.
 
Đến tháng 7 này chúng tôi có một phái đoàn sang Bồ Đào Nha tham gia cùng Viện nghiên cứu lịch sử – địa lý của Bồ Đào Nha để tham gia một hội thảo về cống hiến của người Bồ Đào Nha đối với chữ quốc ngữ. Có một cô sử gia lấy chồng ở Bồ Đào Nha nói với tôi đã tìm được con cháu của ông F.de Pina rồi. Nếu lấy được mẫu AND và khai tìm các mộ cổ của đạo sĩ đã chôn, tìm ra mộ có ADN giống thì lúc đó sẽ xác nhận được mộ của ông De Pina. Từ đó chúng tôi sẽ làm một chuyện mới mẻ trong lịch sử là biết được ông ấy chôn ở đâu và vinh danh ông ấy bằng cách củng cố mộ của ông ấy cho tốt.
 
RFA: Ngày này sự lấn lướt của Trung Quốc với chủ quyền lãnh thổ của nước ta ngày càng rõ ràng. Đây có phải là một trong những lý do khiến Giáo sư thực hiện các dự án này không?
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: Không phải là mục đích chính nhưng cũng là muốn bảo vệ tiếng Việt, bảo vệ độc lập và lãnh thổ của Việt Nam. Muốn bảo vệ nước Việt Nam thì chuyện đầu tiên cần bảo vệ là tiếng Việt. Bảo vệ tiếng Việt tốt thì tất cả những xâm lấn, nhất là về văn hóa sẽ bị ngăn cản và có sức đề kháng cao. Như vậy cũng là một hình thức đối kháng lại dã tâm xâm lược văn hóa của bá quyền Trung Quốc.
 
RFA: Qua chương trình của RFA, Giáo sư muốn nhắn gửi điều gì đến quý khán thính giả?
 
GS. Nguyễn Đăng Hưng: : Tôi mong rằng sau khi khánh thành bia mộ của ông Alexander de Rhodes và tìm được mộ của ông F.de Pina sẽ dấy lên một phong trào ủng hộ công việc của chúng tôi, một nhóm mười mấy người, để xây dựng được không gian đó. Tôi muốn lan truyền sự ủng hộ ở hải ngoại và trong nước. Trong nước giới doanh nhân cũng có người rất tốt đã ủng hộ rồi. Tôi mong rằng doanh nhân Việt Kiều Mỹ, Pháp, Úc,… những người vẫn nói tiếng Việt, viết tiếng Việt sẽ hiểu rằng mình cần có bổn phận tri ân những người đã khai sinh ra chữ quốc ngữ.
 
RFA: Xin cám ơn những chia sẽ của Giáo sư và xin chúc cho những dự án của ông sẽ nhận được sự ủng hộ của cộng đồng người Việt trong nước và hải ngoại.
Nguồn trublog

KẺ SĨ KINH BẮC – trannhuong.com

11 Th7

Hồ Hoàng

Thứ hai ngày 9 tháng 7 năm 2018 8:39 AM

 
 
 
 

Kinh Bắc có hai người con kiệt xuất, cùng thời nhưng cuộc đời đầy tai ương bất trắc. Có thể hai người này là hai vết khắc sâu đậm của văn hóa Việt Nam hiện đại. Nghiệt ngã thay, cả hai ông đều là nạn nhân của những gì các ông theo đuổi; bị truy đuổi đến tận cùng bởi tài năng xuất chúng; bởi trung thành với chính mình. Cuối đời các ông đều được tặng thưởng những phần thưởng cao quý: Trần Đức Thảo được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội, Hoàng Cầm được giải thưởng nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

 
1.Triết gia Trần Đức Thảo. Với con người này, mình chưa được tiếp cận nhiều với những gì ông viết vì sách của ông rất ít phổ biến mà chắc có phổ biến mình cũng rất khó tiếp cận bởi lĩnh vực nghiên cứu của ông không phải giành cho tất cả mọi người. Chỉ biết được cuộc đời đầy cay đắng của ông qua những gì người ta viết về ông.
 
Giáo sư Văn học Nguyễn Đình Chú đã đánh giá về ông: “là một lưu học sinh đã làm vẻ vang cho tổ quốc trên đất Pháp với tấm bằng thủ khoa thạc sĩ triết học đến nay chưa có người thứ hai; là triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế với những hành động, tác phẩm nổi trội, có ý nghĩa phát triển chủ nghĩa Mác theo hướng “duy vật biện chứng nhân bản” và người khai sinh bộ môn Lịch sử tư tưởng triết học cho giáo dục Việt Nam.”
 
Giáo sư Trần văn Giàu khẳng định: “Ở Việt nam, người duy nhất được là nhà Triết học, chỉ có Trần Đức Thảo thôi”. Nhà văn hóa Bùi Nam Sơn cho rằng: “Đó là một trong những người Việt hiếm hoi được học hành đến nơi đến chốn về triết học và cho thấy người Việt mình cũng có thể tiếp cận rất gần với triết học thế giới”.
 
Sinh năm 1917, học sinh trường Trung học Pháp nổi tiếng nhất Đông dương Albert Sarraut. Đạt giải nhì cuộc thi Triết học các trường Trung học toàn quốc Pháp. Nhận học bổng phủ Toàn quyền Đông Dương học tại Pari. Đậu thủ khoa Thạc sĩ triết học thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đậu Thạc sĩ Triết học tại Pháp.
 
Là một học giả được đào tạo bài bản của nền giáo dục hàng đầu thế giới, lại rất có tiếng tăm hứa hẹn một tương lai sán lạn của ông trên đất Pháp. Tham gia Hội nghị Fontainebleau, Bác Hồ đã tìm gặp và đề nghị Trần Đức Thảo về nước phục vụ cách mạng, năm 1952, ông đã xung phong về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến.
 
Năm 1955 ông trở thành Giáo sư Triết học và Phó Giám đốc đại học Văn khoa Hà Nội, Chủ nhiệm khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội.
 
Năm 1957, ông bị quy tội tham gia Nhân văn giai phẩm, một phong trào đấu tranh vì tự do dân chủ cho văn hóa văn nghệ vì công bố một số bài báo bàn về tự do dân chủ. Bị giáng chức, tước quyền giảng dạy, Tước biên chế nhà nước (thời đó coi như hết đường sống), bị cắt đứt mọi mọi mối liên hệ với cuộc sống, bị cô lập với đồng bào và đồng chí. Một học sinh của ông kể lại: “việc gặp thầy Trần Đức Thảo từ nước Pháp tư bản trở về là rất dễ bị quy tội như bên Trung Quốc trong Đại Cách mạng Văn hoá. Gặp thầy lủi thủi đạp chiếc xe đạp mini cộc cạch cũng đành làm ngơ, nhiều khi không dám nhìn”. Một học trò khác là Giáo sư Nguyễn Đình Chú kể: “Hàng ngày vẫn gặp Thầy lên xuống ở cầu thang mà tôi cứ phải cúi mặt xuống không dám chào Thầy vì sợ liên lụy, vì xấu hổ về tội phản Thầy. Chỉ một Đoàn Mai Thi là người duy nhất không sợ gì cả vẫn thường xuyên lui tới săn sóc Thầy trong hoạn nạn, để lại một điểm son về đạo tôn sư trong lòng chúng bạn.”. Còn Trần Như Tảng kể lại rằng: “Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man.”
 
Hành trình cuộc đời đầy cay đắng của ông có thể gom lại trong chuyện kể chết cười của bà cụ hàng nước được nhà văn Phùng Quán ghi lại:
 
“Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen… “Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây dợ xong, bật lên thấy đang chiếu cánh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to được tặng huân chương Độc lập hạng hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu, toàn bộ cấp cao, có danh giá đến dự… Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cư ỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc? Mặt cứ vác lên trời, đạp xem thinh thoảng lại tủm tỉm cười một mình như anh dở người… Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nắng nom vất vả thế… ế… ế…”. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái “poócbaga”, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi ná rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo một đằng thì chết danh, chết giá, còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai”. Bà cụ chép miệng thương cảm: “Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…”.
 
Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: “Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti vi…”. Bà già bĩu môi: “Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!”.
 
2. Nhà thơ Hoàng Cầm. Với nhà thơ Hoàng Cầm, mình bị mê hoặc bởi những câu thơ lộng lẫy của ông. Nhưng những câu thơ đi vào tâm khảm đầu tiên, thuộc ngay tắp lự là:
 
“Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh”.
 
Từ những câu thơ đó, mình bắt đầu hành trình đọc thơ ông cho đến hôm nay và chắc chỉ dừng lại khi không đọc được nữa.
 
Khó có ai mà quê hương thấm vào máu như ông, văn hóa Kinh bắc đã hóa trầm tích trong mỗi câu thơ ông, nó cứ bay lên lấp lánh, lộng lẫy với những Sông đuống, Mưa Thuận thành, Cổ bài tam cúc…:
 
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”
 
Sinh ra ở Thuận Thành Bắc Ninh, Tốt nghiệp tú tài toàn phần, 8 tuổi đã có thơ đăng báo. Năm 1944 ông đã tham gia Việt Minh, Cách mạng Tháng Tám, về Hà Nội xây dựng đoàn Kịch Đông Phương, phục vụ kháng chiến.
 
Năm 1947, tham gia Vệ quốc quân, thành lập đội Tuyên truyền Văn nghệ, năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn Văn công Tổng cục chính trị. 1955 về công tác tại Hội văn nghệ, tham gia thành lập Hội nhà Văn Việt nam. Cũng như nhiều nghệ sĩ tài năng thời đó, ông bị kết tội tham gia Nhân văn gia phẩm bị tước văn tịch.
 
Đầy là cuộc sống của Nhà thơ sau án phạt: “Bề ngoài, Hoàng Cầm chịu một hình phạt tương đối nhẹ là khai trừ một năm khỏi Hội Nhà văn, cho dù ông là một yếu nhân của phong trào với vai trò chủ trương hai tờ Giai phẩm và Nhân văn, khích lệ các văn nghệ sĩ tham gia, cổ vũ Văn Cao “vào cuộc” (với thi phẩm “Anh có nghe thấy không?”), chủ động in “Nhất định thắng” và can đảm bênh vực Trần Dần, v.v…
 
Tuy nhiên, trong thực tế, một bản án vô hình đã treo lơ lửng trên đầu ông, khiến thi sĩ lâm vào một cuộc trầm luân kéo dài 3 thập niên: không được sống bằng ngòi bút, không được in ấn tác phẩm, người đời xa lánh… Như hồi tưởng của nhà thơ: “Nội dung kỷ luật lúc đầu thì chỉ như thế thôi. Nhưng rồi cái kỷ luật đó nó kéo quá dài. (…) riêng tôi thì cũng sáng tác tập “Về Kinh Bắc”. (…) Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối.”
 
Năm 1982, bị bắt, bị tống giam 18 tháng vì tập thơ “Về kinh Bắc” bằng “ ‘Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp’ vì tội ‘lưu truyền văn hóa phẩm phản động ”, tập thơ đậm nhất về vùng văn Hóa Kinh Bắc . Ra tù ông bị bệnh tâm thần. Cuộc sống được tự ông ghi lại: ““Bà vợ tôi đã qua đời trong cảnh vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một. Tiền thức ăn thì cũng không có, bữa cơm nào hai vợ chồng cũng phải nhịn bớt đi, nghĩa là đáng lẽ mình ăn ba bát, ăn có một bát, để nhường cho các con ăn.
 
Bà vợ tôi chết vào những ngày như thế, mà lại chết vào năm 85 ấy, lúc tôi đang bị cái bệnh tâm thần, đang ở cái dạng trầm uất và hoảng loạn như thế. Vì bà ấy phải chạy từng ngày bữa ăn của gia đình. Gia đình thì đông. Mỗi một tháng lại phải lên trình diện một lần mới được người ta cấp cho 12 cân gạo. Rồi lại phải đi lên sở lương thực để lấy giấy chứng nhận nọ kia, rồi bấy giờ mới lại sang phòng tài chính để thanh toán tiền, xong rồi xuống chỗ bán hàng, xếp hàng chờ đợi.
 
Tóm lại là muốn được 12 cân gạo, bà vợ tôi vất vả đến mức là nó lên một trận huyết áp rất đột ngột, chỉ mới có từ chập tối hơi sôn sốt, rồi bà ấy đi nằm, mà giữa mùa nực, bà ấy thấy có cái gì ren rét, tôi đã phải đắp cho bà ấy một cái chăn lớn. Ðến 4 giờ sáng thì người cứng ra và liệt nửa người. 9 giờ thì đem đi cấp cứu và đến chiều hôm sau qua đời.”
 
Và cái chứng tâm thần mà theo ông ” cũng không có gì ghê gớm lắm” hành hạ ông:
 
“Thật ra thì cũng không có gì là ghê gớm lắm, cũng không xé quần, xé áo, không đi ra ngoài đường, không chửi bới hay làm những gì ầm ĩ cả, bởi vì chỉ là hoảng loạn thôi. Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ. Ví dụ nghe một tiếng còi ô-tô và một cái gì như là phanh ô-tô rít lên ở ngoài cửa – mà lúc bấy giờ tôi ở tít tận trong nhà cơ – nhưng khi nghe thấy như thế, vào lúc độ gần nửa đêm chẳng hạn, thì tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hãi.
.
Nó như là một cái bản năng đấy, tìm chỗ trốn. Quả nhiên là tôi đã có nhiều lần chui xuống gầm giường vì những hoảng loạn như thế. Hay nghe tiếng giày cộp cộp và thoáng thấy một bóng áo, như áo quân đội hay áo cảnh sát hay của một người thương binh nào đó, chỉ cần một cái bóng, một cái màu quần áo thôi, thì tôi cũng hoảng rồi. Người ta gọi là bệnh hoảng loạn. Chứ sự thực thì lúc ấy chẳng có ai dọa nạt, chẳng có ai làm gì mình cả.”
 
Hai con người, hai chiến sĩ, hai nhà văn hóa. Đã đi trọn cuộc đời vì niềm đam mê, thao thức về trí tuệ và văn hóa. Kết cục khó có thể nói bi đát hơn nhưng nhờ thế hai ông đã để lại cho Việt Nam những hình ảnh của nhà văn hóa đích thực, những kẻ sĩ đích thực trong hoàn cảnh nhiễu nhương. Là hi vọng cho sự tồn tại nhân cách Việt, con Người Việt.

PHAN VŨ đã làm lành cánh chim trời xa xứ – Lê Thiếu Nhơn

9 Th7

Bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” tuy không phải trường ca nhưng cũng có dung lượng khá dài. Được đề từ “Gửi những người Hà Nội đi xa”, bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” như những thước phim quay chậm về một nỗi ám ảnh “Khuôn mặt ai dừng trong khung cửa”. Thi sĩ Phan Vũ bộc bạch về hoàn cảnh ra đời bài thơ trở thành thương hiệu cá nhân: “Tháng Chạp năm 1972, khi B-52 của Mỹ bắn phá Thủ đô với lời hăm he “đưa Hà Nội trở lại thời kỳ đồ đá”, tôi khởi viết những câu đầu tiên: Em ơi! Hà Nội phố… Ta còn em, mùi hoàng lan, ta còn em, mùi hoa sữa… Điệp từ “ta còn em…” được lặp lại trong từng đoạn của bài thơ. “Ta còn em…” là còn những hoài niệm yêu thương của tôi về Hà Nội mà đôi lần khi trong trạng thái cần nương tựa, an ủi, tôi lại tìm về.”

PHAN VŨ ĐÃ LÀM LÀNH CÁNH CHIM TRỜI XA XỨ

LÊ THIẾU NHƠN

Năm nay, thi sĩ Phan Vũ đã bước qua tuổi 92, và là nhân vật cao niên nhất trong làng thơ còn tại thế. Thi sĩ Phan Vũ tài hoa và đào hoa, nên sự thăng trầm của cuộc đời ông gần như không tránh khỏi. Ông từng viết kịch và đạo diễn, hoạt động ở cả sân khấu lẫn điện ảnh, nhưng cuối cùng công chúng chỉ nhớ ông với tư cách một thi sĩ phiêu lãng: “Gã – xòe tay che một đời mưa/ Một đời nắng chân trần rát bỏng/ Sợi thòng lọng trên đầu phận số/ Chênh vênh bờ vực lối đi về”

Rời nơi chôn nhau cắt rốn Hải Phòng, chàng trai 20 tuổi Trần Hồng Hải vào bộ đội và lấy bút danh Phan Vũ để làm công tác văn nghệ ở miền Nam. Năm 1954, Phan Vũ quay lại miền Bắc để bắt đầu dan díu với thi ca. Bài thơ khởi nghiệp “Bình vỡ” viết năm 1956 thảng thốt: “Chỉ còn màu xanh trong từng mảnh nhỏ/ Sao đâu đây phảng phất mùi hương thơ ngây”. Giai đoạn trai trẻ nhiệt huyết “Ta lại xếp mớ hành trang đã bao lần xếp lại, cho chuyến đi chưa có buổi lên đường”, giấc mộng thơ phú của Phan Vũ chủ yếu xoay quanh nỗi hoang mang: “Đã làm lành cánh chim trời xa xứ/ Đành theo vòng lượn mịt mù khơi/ Đêm quá dài giấc mơ chẳng đến/ Một trống không ôm mãi vòng tay…/ Đi dưới mưa tưởng là nắng đổ/ Ngồi trong phòng như đợi sân ga/ Chưa ra đi sao đã nhớ nhà/ Ngoảnh mặt lại thấy đời đã lỡ!”. Chân dung thi sĩ Phan Vũ bất ngờ hiện rõ khi bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” được viết trên căn gác nhỏ phố Hàng Bún vào cái ngày bàng hoàng Thủ đô chìm trong mưa bom.

Bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” tuy không phải trường ca nhưng cũng có dung lượng khá dài. Được đề từ “Gửi những người Hà Nội đi xa”, bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” như những thước phim quay chậm về một nỗi ám ảnh “Khuôn mặt ai dừng trong khung cửa”. Thi sĩ Phan Vũ bộc bạch về hoàn cảnh ra đời bài thơ trở thành thương hiệu cá nhân: “Tháng Chạp năm 1972, khi B-52 của Mỹ bắn phá Thủ đô với lời hăm he “đưa Hà Nội trở lại thời kỳ đồ đá”, tôi khởi viết những câu đầu tiên: Em ơi! Hà Nội phố… Ta còn em, mùi hoàng lan, ta còn em, mùi hoa sữa… Điệp từ “ta còn em…” được lặp lại trong từng đoạn của bài thơ. “Ta còn em…” là còn những hoài niệm yêu thương của tôi về Hà Nội mà đôi lần khi trong trạng thái cần nương tựa, an ủi, tôi lại tìm về.”

Bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” gồm 23 đoạn thơ. Mỗi đoạn thơ đều được trợ hứng bằng câu chủ chốt “Em ơi, Hà Nội phố”, trừ đoạn thơ thứ 13 và đoạn thơ thứ 20. Đoạn thơ thứ 13 được đặt tên “Riêng về một chuyến đi” phản ánh một không khí cách mạng: “Con tàu chở những người lính. Về phía Nam vào trận đánh. Chở theo những căn phố, những con đường/ Chở nguyên Hà Nội nhớ? Với những vết môi hôn”. Đoạn thơ thứ 20 được đặt tên “Riêng về một tháng Chạp” trình bày nỗi tang thương chiến tranh hủy diệt: “Tháng Chạp/ Đôi tân hôn chưa kịp nằm chiếu hoa/ Đã có tên/ Trong vòng hoa tưởng niệm/ Một tháng Chạp/ Trắng khăn sô/ Khói hương dài theo phố…”. Nếu bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” chỉ do chính Phan Vũ đi đọc trọn vẹn 443 câu cho bạn bè thưởng thức giữa những cuộc tụ bạ nghiêng ngả thì có lẽ tính phổ biến của “Em ơi, Hà Nội phố” không được như hôm nay. Năm 1986, nhạc sĩ Phú Quang đã lẩy ra vài câu trong các đoạn thơ thứ 1, 2, 3, 7, 10, 20, 21 và 23 để phổ thành ca khúc “Em ơi, Hà Nội phố”. Phải thừa nhận, nhạc sĩ Phú Quang đã tinh tường chọn được những câu tiêu biểu nhất và có sự chau chuốt thêm để ca từ mềm mại theo giai điệu.

Ngoài những câu được đưa vào ca khúc “Em ơi, Hà Nội phố”, phần còn lại của 15 đoạn thơ kia như thế nào? Đoạn thơ thứ 8 cũng có giá trị như một bài thơ hoàn chỉnh: “Em ơi Hà Nội phố! Ta còn em khuya phố mênh mông/ Vùng sáng nhỏ/ Bà quán ê a chuyện nàng Kiều/ Rượu làng Vân lung linh men ngọt/ Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa/ Ngơ ngẩn bao chàng trai Kẻ Chợ/ Cơn say quá dài thành một cơn mê”. Có không ít đoạn thơ trong “Em ơi, Hà Nội phố” la đà kể lể, nhưng thỉnh thoảnh bật lên những câu ấn tượng. Đoạn thơ thứ 10 giàu chất điện ảnh: “Ta còn em một tên thật cũ Cổ Ngư/ Chiều phai nắng/ Càng phưọng vĩ la đà/ Bông hoa muộn  in hình ngọn lửa”. Đoạn thơ thứ 15 phác họa một bức tranh phong cảnh trầm mặc và run rẩy: “Ta còn em đường lượn mái cong/ Ngôi chùa cổ/ Năm tháng buồn/ Xô lệch ngói âm dương”. Đoạn thơ thứ 18 nhận diện sự thay đổi trên mảnh đất ngàn năm văn hiến: “Ta còn em một Hàng Đào không bán đào/ Một Hàng Bạc không còn thợ bạc/ Đường Trường Thi không chõng không lều, không ông nghè bái tổ vinh qui”. Đặc biệt, đoạn thơ thứ 21 có hai câu thể hiện đầy đủ sự ngổn ngang và sự mất mát của Hà Nội cuối năm 1972, mà giá trị hoàn toàn vượt trội ca từ “Em ơi, Hà Nội phố” về mặt nhận thức thẩm mỹ: “Một mình giữa bóng chiều sa/ Tha hương ngay trước cửa nhà mẹ cha”.

Cũng với mạch nguồn cảm xúc “Em ơi, Hà Nội phố”, thi sĩ Phan Vũ có bài thơ “Ngày trở về” viết năm 1975: “Ngày trở về mưa hoài trên đại lộ/ Những bộ hành không nón không dù/ Một con đường chia thành trăm ngả/ Về ngả nào cũng lạc, cũng bơ vơ”. Năm 1990, thi sĩ Phan Vũ vào định cư tại Sài Gòn và không ngần ngại bày tỏ mơ ước viết cho đô thị sầm uất nhất phương Nam một bài thơ dài có sức lan tỏa tương đương “Em ơi, Hà Nội phố”. Đáng tiếc, thi ca lắm lúc giống như món quà của định mệnh, không thể cưỡng cầu bằng kinh nghiệm và nỗ lực. Mất 10 năm cặm cụi, từ 1998 đến 2008, thi sĩ Phan Vũ viết “Bài thơ về một câu hỏi” với ngôn từ mạnh mẽ không thua kém một bài xã luận nồng nàn: “Những người ngã xuống hôm qua/ Với câu hỏi hôm nay cho thành phố: Bao giờ Sài Gòn trở thành một trung tâm đô thị văn minh? Bao giờ Sài Gòn không còn cảnh lầm than đói khổ? Câu hỏi quay trong vòng lửa/ Như ngày nào/ Yêu thương cháy dở/ Tôi viết bài thơ về một giấc mơ/ Như một kinh cầu siêu độ”.

Sau thời thăng hoa “Em ơi, Hà Nội phố”, thi sĩ Phan Vũ có hai cơn cớ để làm thơ là hai người phụ nữ ơn nghĩa phu thê với ông: Phi Nga và Diễm Chi. Từ năm 22 tuổi đã nổi tiếng với vai Hoài trong bộ phim “Chung một dòng sông”, diễn viên Phi Nga tiếp tục tỏa sáng qua các bộ phim “Vật kỷ niệm”, “Trên vĩ tuyến 17”, “Rừng O Thắm”, “Vợ chồng anh Lực”, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”… Sau khi đám cưới với thi sĩ Phan Vũ được 2 năm và sinh cho ông 2 người con, thì diễn viên Phi Nga phải rời khỏi màn ảnh vì căn bệnh tim bẩm sinh. Rồi một lần tai biến đã khiến diễn viên Phi Nga phải nằm một chỗ. Thi sĩ Phan Vũ đã chu đáo và ân cần chăm sóc người vợ đau ốm suốt 20 năm, cho đến khi bà qua đời ở tuổi 49. Ngày vợ mất, thi sĩ Phan Vũ viết bài thơ “Đã có lần anh nói thương em” với đề từ “Gửi theo hương hồn Phi Nga” nhiều day dứt: Câu nói buồn hơn tiếng khóc/ Nước mắt vẫn là chút trống không/ Hòn đá nhỏ lăn vào vô định/ Lời chì chiết tội tình/ Giữ lại mãi trong anh”. Một thập niên sau, thi sĩ Phan Vũ viết bài “Tháng vỡ” vào năm 1995 với đề từ “Lại gửi theo Phi Nga” vẫn đầy bịn rịn hình bóng cũ: “Tờ lịch chia thành từng tháng vỡ/ Vô nghĩa ngày xuân hay tháng hạ”. Đến năm 2000, thi sĩ Phan Vũ có thêm bài “Tưởng như” với đề từ “Gửi theo Phi Nga” chất chứa hoài niệm: “Tưởng như em vẫn nằm trên đệm cỏ/ Căn phòng ghi dấu giấc mơ xưa/ Những mùa thu cây bàng đổ lá/ Vàng khung cửa sổ/ Anh sống hôm nay nửa ảo nửa đời/ Chiêm bao ban ngày đôi mắt mở…”.

Còn người vợ thứ hai Diễm Chi, lại mang đến cho thi sĩ Phan Vũ một thiên tình sử đáng trầm trồ. Từ vai trò một đồng nghiệp với cô con gái Việt Nga của thi sĩ Phan Vũ, nhà báo Diễm Chi đã gặp gỡ và phỏng vấn tác giả “Em ơi, Hà Nội phố”, để rồi nảy nở duyên nợ ba sinh. Năm 1998, thi sĩ Phan Vũ viết ba bài thơ có chung một cách đề từ “Của Diễm Chi”.  Đó là bài thơ “Sự chồi sinh của nỗi nhớ” ngỡ ngàng hạnh phúc: “Em ra đi không khép cửa/ Cơn gió lạc vào căn phòng trống/ Mây mù báo hiệu mưa khuya/ Anh nhặt cánh hoa khô trên nền ẩm/ Sự khao khát cồn cào nổi lên trong nín lặng/ Từ lâu cái hũ nút chặt/ Cho những mầm xanh khờ khạo lên men/ Như một kho tàng chôn dưới đáy sâu ngôi cổ mộ”. Đó là bài thơ “Đợi một mùa sau” náo nức điềm lành: “Thời tiết yêu chợt mưa chợt nắng/ Phần riêng em một trận gió cuồng/ Lặng lẽ em vào khu rừng cấm/ Khai quật nỗi niềm/ Bới tìm lõi đá/ Nào ngờ tình yêu chỉ là mảnh vá/ Ngày ngày đắp đổi cơn đau”. Và đó là “Chân dung em” nâng niu đồng hành: “Ta vẽ em/ Ngơ ngơ đối mắt dại/ Mê man đón đợi cuộc tình đầy”. Năm 1999, thi sĩ Phan Vũ và nhà báo Diễm Chi tổ chức đám cưới, khi chàng 73 tuổi và nàng 37 tuổi.

Thi sĩ Phan Vũ từng hăm hở theo đuổi loại hình nghệ thuật khác, nhưng ông bất ngờ rẽ vào thơ và ở lại với thơ. Dù thi sĩ Phan Vũ hơi hứng thú với kiểu dàn dựng chi tiết và câu cú, nhưng thơ cũng cho ông những khoảnh khắc để khám phá bản thân. Qua thơ, công chúng mới hiểu trọn vẹn vui buồn của ông. Bài thơ “Tôi vẽ” viết năm 1996, thi sĩ Phan Vũ thổ lộ: Tôi vẽ mặt hề/ Trong những cuộc tình vô vọng/ Một tôi đích thực”. Bài thơ “Độc hành” viết năm 1997, thi sĩ Phan Vũ khắc khoải: “Người ấy đi một mình/ Khuôn mặt chia hai nửa/ Một nửa đầy mặt trời/ Một nửa ngả hoàng hôn/ Ngày qua không khác hơn/ Tháng năm dài lặp lại”. Bài thơ “Tự họa” viết năm 2001, thi sĩ Phan Vũ thở dài buông bỏ: “Gã – con ngựa quên hiệu còi khởi chạy/ Phi thật nhanh nhưng chệch đường đua/ Ngày ra đi một kẻ dại khờ/ Ngày trở về da mồi tóc bạc/ Nguyên xi thằng khờ dại/ Gã – đừng giữa ngày tàn chiều tận/ Trên thân đau nếm đủ lằn roi/ Đòn hội chợ của đám đông không thù oán/ Khi cô đơn chính là hình án/ Giữa chợ trời còn rao bán tài hoa”.

Thi sĩ Phan Vũ có phước đắc thọ để thấy được sau hành trình lạnh lùng của thời gian, thì mình vẫn được định danh với thơ. Thi sĩ Phan Vũ hiểu rằng, ít ai còn nhớ ông từng viết kịch bản “Lửa cháy lên rồi” hoặc kịch bản “Dòng sông âm vang”, và cũng ít ai nhớ ông từng đạo diễn bộ phim “Bí mật thành phố cấm” hoặc bộ phim “Như một huyền thoại”, nhưng nhiều người nhắc đến ông bước chầm chậm giữa làng thơ bằng phong cách đa tình: “Tôi là chiếc phi thuyền/ Trong không gian mắc nợ/ Cả cuộc đời mắc nợ những câu thơ/ Những vì sao không bao giờ đến được/ Còn tình em hoài hoài xin khất nợ”./.

20 SỰ THẬT TRẦN TRỤI VỀ CUỘC ĐỜI . trannhuong.com

7 Th7

20 SỰ THẬT TRẦN TRỤI VỀ CUỘC ĐỜI

theo VDNNB

Thứ tư ngày 20 tháng 6 năm 2018 2:34 PM

Lòng tin là thứ mà một khi ta đã mất thì khó có thể trở lại như ban đầu. Vì vậy, hãy sống đúng ngay từ đầu bở trường học có bút xóa nhưng trường đời thì không.
2. Đừng nghĩ mãi về quá khứ nếu nó chỉ mang tới những giọt nước mắt. Đừng nghĩ nhiều về tương lai, nó chỉ mang lại sự lo sợ. Sống ở hiện tại với nụ cười trên môi như trẻ thơ. Nó sẽ mang lại niềm vui cho bạn.
3. Cuộc đời vốn chẳng có thứ gì hoàn hảo những mỗi người đều có nét đẹp riêng.
4. Cuộc sống có 3 cái đừng:– Đừng hiền quá để người ta bắt nạt– Đừng ngốc quá để người ta đùa giỡn– Đừng tin tưởng quá để người ta lừa dối.
5. Cuộc đời ngắn lắm nên đừng lãng phí thời gian của mình với những người không có thời gian dành cho bạn.
6. Con người tạo ra để được yêu thương . Vật chất tạo ra là để sử dụng. Nhưng vì một lí do nào đó, vật chất lại được yêu thương. Còn con người thì lại bị lợi dụng.
7. Đá còn có thể mòn huống chi là lòng người. Thay đổi trước sau âu cũng là chuyện thường tình. Duyên là do người giữ. Hết thương rồi có cố mãi cũng bằng không.
8. Đồng xu tuy có 2 mặt nhưng chỉ có 1 mệnh giá. Con người chỉ có 1 mặt cớ sao lại sống 2 lòng.
9. Làm người nhất định phải có lương tâm! Nhất định không được quên người đã từng giúp đỡ bạn, nếu không bạn sẽ ngày càng ít bạn bè, đường đi sẽ ngày càng hẹp.
10. Ngay cả ngõ cụt cũng là điểm xuất phát, nếu bạn biết quay lưng.
11. Có những người họ quên những lần ta giúp đỡ họ, nhưng sẽ nhớ mãi một lần ta từ chối họ.
12. Quan tâm nhiều quá đồng nghĩa với làm phiền. Yêu thương nhiều quá, người ta lại không biết trân trọng!
13. Dựa vào núi, núi sẽ đổ.Dựa vào sông, nước sẽ chảy.Dựa vào người, người cũng đi.Sống trên cõi đời, để tồn tại chỉ có thể dựa vào chính mình.
14. Có hai sai lầm lớn trong cuộc sống. Một là sống cho người khác coi. Hai là coi người khác mà sống. Thật ra chỉ cần bản thân cảm thấy hạnh phúc là được. Đừng mãi nhìn vào người khác mà đi sai con đường dưới chân mình.
15. Bạn có tốt bao nhiêu thì vẫn có người ghét bạn. Đó là điều không thể tránh khỏi.
16. Có lẽ cần phải trải qua tuổi thanh xuân mới có thể hiểu được tuổi xuân là khoảng thời gian ta sống ích kỷ biết chừng nào. Có lúc nghĩ, sở dĩ tình yêu cần phải đi một vòng tròn lớn như vậy, phải trả một cái giá quá đắt như thế, là bởi vì nó đến không đúng thời điểm. Khi có được tình yêu, chúng ta thiếu đi trí tuệ. Đợi đến khi có đủ trí tuệ, chúng ta đã không còn sức lực để yêu một tình yêu thuần khiết nữa.
17. Bất kỳ một sự đả kích nào cũng không nên trở thành cái cớ cho bạn sa ngã. Bạn không thể thay đổi thế giới nhưng bạn có thể thay đổi bản thân mình. Việc cần làm là chọn lựa một con đường đúng đắn và kiên trì bước tiếp.
18. Ai không giả dối, ai không dễ thay đổi, không ai là ai của ai hết. Hà tất phải coi một số người, một số chuyện quan trọng đến thế.
19. Tình yêu, tình bạn, không phải là cả đời không cãi nhau, mà là cãi nhau rồi vẫn có thể bên nhau cả đời.
20. Người quan tâm đến tôi, tôi sẽ quan tâm lại gấp bội!Người không quan tâm đến tôi, bạn dựa vào cái gì mà bảo tôi phải tiếp tục?
 
VANDANBNN st/gt

8 ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU NHÂN – trannhuong.com

7 Th7

8 ĐẶC ĐIỂM CỦA TIỂU NHÂN

Theo VDNNB

Thứ tư ngày 4 tháng 7 năm 2018 9:22 AM

 

1. Thích nịnh nọt người khác

Khi đứng trước mặt chúng ta, họ ra vẻ rất nhiệt tình, từng lời nói “ngọt như mía lùi” khiến cho ai nấy cũng dễ rơi vào trạng thái mất cảnh giác. Có những lời không nên nói, có những sự việc không nên làm nhưng bạn đã làm, đã nói trước mặt họ, vì bạn coi họ là người có thể tin cậy,nói sao biết vậy. Nhưng chỉ cần quay lưng đi một cái, sự việc đã đến tai người khác, đẩy bạn vào trạng thái bất lợi.
2. Thích ngồi chỗ nọ nói xấu chỗ kia
Trước mặt bạn, kẻ tiểu nhân sẽ nói bạn hay, chê người kia dở nhưng trước mặt người kia, bạn là kẻ chẳng ra gì. Kẻ tiểu nhân thường tìm cách lấy lòng tất cả nhưng lại ngấm ngầm chia cắt tình bạn bè, đồng nghiệp, thậm chí gây ra những tranh cãi và mâu thuẫn khó có thể hàn gắn. Hơn nữa, miệng lưỡi những kẻ tiểu nhân thường rất khéo léo, cho dù bị phát hiện, họ cũng biết cách thoái thác, phủi sạch trách nhiệm.
3. Gió chiều nào xoay chiều đó
Ở cơ quan, biết được lãnh đạo thích ai, kẻ tiểu nhân sẽ tìm cách gần gũi người đó. Với những người lãnhđạo không ưa thích, kẻ tiểu nhân sẽ ngày ngày tìm cách đả kích. Trong mắt họ, ai có ưu thế thì đeo bám, ai thất thế thì xa lánh. Với những người không có giá trị lợi dụng, họ chắc chắn sẽ không bao giờ nghĩ đến việc gần gũi, kết thân.
4. Thích thể hiện
Trước mặt lãnh đạo, những kẻ tiểu nhân luôn tỏ ra hăng hái, nhiệt tình nhưng khi cấp trên vừa đi khỏi, đâu lại vào đó. Trong công việc, họ nói và làm trước sau không như một. Kiểu người này vô cùng giỏi trong việc kể công. Nếu công việc của người khác có một chút sơ suất, họ sẽ lập tức gọi điện thoại cho cấp trên và coi đó là “thành tích” của bản thân.
5. Sở trường đổ vấy trách nhiệm cho người khác
Nếu trong công việc mắc sai lầm hoặc hành động, ngôn từ của bản thân không đúng, kẻ tiểu nhân sẽ một mực không thừa nhận mà tìm một người thế thân gánh nạn. Kiểu người này rất “mồm mép”, có thể đổi trắng thay đen, có thể khiến mọi người nhầm lẫn mà lan truyền đi những thông tin sai sự thật.
Thậm chí có những lúc “chân tướng” vì thế mà bị giấu nhẹm đi và cho dù được phát hiện khi việc đã rồi, mức độ ảnh hưởng của nó cũng đã không còn nữa.
6. Thích bịa đặt dựng chuyện
Những kẻ tiểu nhân làm như vậy vì nhiều mục đích khác nhau chứ không đơn thuần chỉ là để mua vui. Có những kẻ bịa đặt, dựng chuyện để mưu lợi cá nhân, gây bất lợi cho người khác, bôi nhọ đối thủ, nâng cao bản thân.
7. Thường bồi thêm nhát dao chí mạng cho người đang gặp hoạn nạn
Trong cơ quan, đơn vị có đồng nghiệp mắc sai lầm hoặc thất bại trước một nhiệm vụ nào đó, bị cấp trên phê bình. Những kẻ tiểu nhân sẽ sẵn sàng bồi thêm một hai nhát dao chí mạng khiến “nạn nhân” càng lúc càng rơi vào “vòng nguy hiểm”.
8. Sẵn sàng giẫm lên vai người khác để leo lên trên
Bạn khổ nhọc lao động, làm việc, trong khi đó những kẻ tiểu nhân chỉ đứng một chỗ, đợi sẵn để hái quả ngọt. Bạn trồng cây, kẻ tiểu nhân ngồi dưới hóng mát, lợi dụng con đường sẵn có mà bạn khổ sở vạch ra, đến lúc thành công, họ vội đứng lên nhận công và sẵn sàng gạt phắt bạn ra ngoài. Nếu thất bại, trách nhiệm tất nhiên sẽ thuộc về bạn.
Nếu trong số những người bạn chơi hoặc quen biết, có người sở hữu từ 2 trong số 8 đặc điểm nói trên, hãy giữ khoảng cách với họ, đảm bảo cho mình một “vùng an toàn” tối thiểu.
Nguồn: Sưu tầm

CÂU NÓI HAY TRONG TUẦN – trannhuong.com

7 Th7

 

 “TQ đến, mang theo rất nhiều tiền và nói bạn có thể mượn số tiền này. Nhưng bạn phải nghĩ ngay: Làm sao trả nợ? Một số nước chỉ thấy các dự án mà không thấy phần trả nợ đi kèm. Đó là lý do tại sao họ mất từng mảng đất nước. Chúng ta không muốn như vậy”.

Thủ tướng Malaysia Dr. Mahathir Mohamad

Tin Biển Đông – youtube

2 Th2

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 – TNO

19 Th1
(TNO) Thanh Niên Online xin cung cấp tới bạn đọc danh sách 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hy sinh khi chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

(TNO) Thanh Niên Online xin cung cấp tới bạn đọc danh sách 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh khi chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Danh sách này đang tiếp tục được hoàn thiện với sự đóng góp của bạn đọc. 

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 1

6 quân nhân trong số 74 người đã ngã xuống trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa – Ảnh tư liệu

Phần lớn những tử sĩ này thân xác đã tan vào biển cả và suốt 40 năm qua, chỉ có người thân, bạn bè và đồng đội mới biết và tưởng nhớ họ.

Vẫn còn nhiều thông tin chưa rõ ràng trong danh sách dưới đây (khuyết họ, chức vụ…), rất mong bạn đọc giúp chúng tôi bổ sung thông tin, hoàn chỉnh danh sách những người đã ngã xuống trong khi chiến đấu bảo vệ chủ quyền đất nước.

Thanh Niên Online xin cảm ơn kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình (TP.HCM) và cựu Hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San (Mỹ) đã cung cấp và giúp chúng tôi điều chỉnh các thông tin trong danh sách.

Sau đây là danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974:

Số TT Chức vụ Họ tên Đơn vị
1 Trung sĩ Cơ khí Trần Văn Ba HQ-10
2 Hạ sĩ Cơ khí Phạm Văn Ba HQ-10
3 Hải quân đại úy Vũ Văn Bang HQ-10
4 Hạ sĩ Cơ khí Trần Văn Bảy HQ-10
5 Thượng sĩ nhất quản nội trưởng Trọng pháo Châu HQ-10
6 Trung sĩ nhất Vô tuyến Phan Tiến Chung HQ-10
7 Hạ sĩ Giám lộ Nguyễn Xuân Cường HQ-10
8 Hạ sĩ Điện khí Trần Văn Cường HQ-10
9 Trung sĩ Bí thư Trần Văn Đảm HQ-10
10 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Nguyễn Thành Danh HQ-4
11 Hạ sĩ Vận chuyển Trương Hồng Đào HQ-10
12 Hạ sĩ nhất đoàn viên Trần Văn Định HQ-10
13 Trung úy Người nhái Lê Văn Đơn Người nhái
14 Hạ sĩ Cơ khí Nguyễn Văn Đông HQ-10
15 Hải quân trung úy Phạm Văn Đông HQ-10
16 Hải quân trung úy Nguyễn Văn Đồng HQ-5
17 Trung sĩ Trọng pháo Đức HQ-10
18 Thủy thủ nhất Trọng pháo Nguyễn Văn Đức HQ-10
19 Trung sĩ Thám xuất Lê Anh Dũng HQ-10
20 Hạ sĩ Quản kho Nguyễn Văn Duyên HQ-16
21 Thượng sĩ Ðiện tử (truy phong chuẩn úy) Nguyễn Phú Hảo HQ-5
22 Hạ sĩ Ðiện khí Nguyễn Ngọc Hòa HQ-10
23 Hạ sĩ Giám lộ Nguyễn Văn Hoàng (nhỏ tuổi nhất) HQ-10
24 Hải quân trung úy Cơ khí Vũ Ðình Huân HQ-10
25 Hạ sĩ Trọng pháo Phan Văn Hùng HQ-10
26 Thượng sĩ nhất Ðiện khí  Võ Thế Kiệt HQ-10
27 Thượng sĩ Vận chuyển Hoàng Ngọc Lễ (cao tuổi nhất) HQ-10
28 Thủy thủ nhất Thám xuất Phạm Văn Lèo HQ-10
29 Thượng sĩ nhất Cơ khí  Phan Tấn Liêng HQ-10
30 Hạ sĩ Trọng pháo Nguyễn Văn Lợi HQ-10
31 Thủy thủ nhất Cơ khí Dương Văn Lợi HQ-10
32 Hạ sĩ Người nhái Ðỗ Văn Long Người nhái
33 Trung sĩ Ðiện khí Lai Viết Luận HQ-10
34 Hạ sĩ nhất Cơ khí Ðinh Hoàng Mai HQ-10
35 Hạ sĩ nhất Trọng pháo Nguyễn Quang Mến HQ-10
36 Hạ sĩ nhất Cơ khí Trần Văn Mộng HQ-10
37 Trung sĩ Trọng pháo  Nam HQ-10
38 Thủy thủ nhất Trọng pháo Nguyễn Văn Nghĩa HQ-10
39 Trung sĩ Giám lộ Ngô Văn Ơn HQ-10
40 Hạ sĩ Phòng tai Nguyễn Văn Phương HQ-10
41 Thủy thủ nhất Phòng tai Nguyễn Hữu Phương HQ-10
42 Thượng sĩ nhất Trọng pháo Nguyễn Ðình Quang HQ-5
43 Thủy thủ nhất Trọng pháo Lý Phùng Quy HQ-10
44 Trung sĩ Cơ khí Phạm Văn Quý HQ-10
45 Trung sĩ Trọng pháo Huỳnh Kim Sang HQ-10
46 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Ngô Sáu HQ-10
47 Trung sĩ Cơ khí Nguyễn Tấn Sĩ HQ-10
48 Thủy thủ Trọng pháo Thi Văn Sinh HQ-10
49 Trung sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn HQ-10
50 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lê Văn Tây HQ-10
51 Hải quân thiếu tá – Hạm trưởng (truy phong trung tá) Ngụy Văn Thà HQ-10
52 Hải quân đại úy Hàng hải-Thương thuyền Huỳnh Duy Thạch HQ-10
53 Hạ sĩ Trọng pháo Nguyễn Văn Thân HQ-10
54 Thủy thủ Điện tử Thanh HQ-10
55 Hải quân trung úy Ngô Chí Thành HQ-10
56 Hạ sĩ Phòng tai Trần Văn Thêm HQ-10
57 Hạ sĩ Phòng tai Phan Văn Thép HQ-10
58 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lương Thanh Thú HQ-10
59 Thượng sĩ Điện tử Thọ HQ-10
60 Thủy thủ nhất Vô tuyến Phạm Văn Thu HQ-10
61 Thủy thủ nhất Điện tử Ðinh Văn Thục HQ-10
62 Trung sĩ Giám lộ Vương Thương HQ-10
63 Thủy thủ (?) Người nhái Nguyễn Văn Tiến Người nhái
64 Hải quân thiếu tá – Hạm phó Nguyễn Thành Trí HQ-10
65 Trung sĩ Trọng pháo Nguyễn Thành Trọng HQ-10
66 Hạ sĩ Vận chuyển Huỳnh Công Trứ HQ-10
67 Thượng sĩ Người nhái Ðinh Hữu Từ Người nhái
68 Trung sĩ Quản kho Nguyễn Văn Tuân HQ-10
69 Thủy thủ nhất Cơ khí Châu Túy Tuấn HQ-10
70 Biệt hải Nguyễn Văn Vượng HQ-4
71 Hải quân trung úy Nguyễn Phúc Xá HQ-10
72 Trung sĩ Trọng pháo Nguyễn Vĩnh Xuân HQ-10
73 Trung sĩ Ðiện tử Nguyễn Quang Xuân HQ-10
74 Trung sĩ Điện khí Xuân HQ-16

Bổ sung:

75. Trung sĩ Phạm Ngọc Đa – HQ-10

Cập nhật:

Ngày 9.1:

– Thanh Niên Online vừa nhận được điện thoại của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc (TP.HCM). Ông Phúc cho biết theo thông tin do gia đình cung cấp, ở vị trí thứ 58 là Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lương Thanh Thú (HQ-10), không phải “Lương Thanh Thi” như danh sách ban đầu. 

– Kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình (TP.HCM) vừa nhắn tin cho Thanh Niên Online, thông báo gia đình cho biết ở vị trí 21 là Thượng sĩ Điện tử Nguyễn Phú Hảo, không phải “Hào” như danh sách ban đầu. Chúng tôi xin phép điều chỉnh.

Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc và kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình.

Ngày 12.1:

– Anh Trần Đoàn Nam ở TP.HCM đề nghị điều chỉnh tên cha của mình là Trần Văn Đảm (ví trí thứ 9), không phải Trần Văn Đàm như trong danh sách ban đầu. Xin trân trọng cảm ơn anh Trần Đoàn Nam.

Danh sách trên vẫn còn cần bổ sung và điều chỉnh, Thanh Niên Online mong tiếp tục nhận được sự góp ý của bạn đọc và rất xin lỗi nếu có điểm nào đó chưa chính xác do điều kiện xác minh khó khăn.

Ngày 14.1:

Thanh Niên Online vừa nhận được thông tin từ gia đình một quân nhân hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa: “Gia đình chúng tôi có người mất trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng không thấy có tên trong danh sách. Thân nhân là Phạm Ngọc Đa, số quân là 71703011, phục vụ trên tàu HQ-10 (Nhật Tảo) với cấp bậc là trung sĩ. Trung sĩ Phạm Ngọc Đa không trực tiếp thiệt mạng trong trận chiến mà chết trong quá trình trôi dạt trên biển ba ngày sau khi tàu HQ-10 chìm (22.1.1974)…”

Gia đình trung sĩ Phạm Ngọc Đa còn gửi tới Thanh Niên Online bản sao chụp giấy báo tử, giấy trợ cấp của chính quyền VNCH và các giấy tờ, hình ảnh liên quan. Cũng theo người thân trong gia đình, thân mẫu của trung sĩ Phạm Ngọc Đa vẫn còn sống tại địa chỉ 588/20A Đông Thịnh 3, Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, An Giang.

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 2

Giấy chứng tử quân nhân Phạm Ngọc Đa – Ảnh: Gia đình cung cấp

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 3

Trung sĩ Phạm Ngọc Đa

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 4

Phong thư được trung sĩ Đa gửi đi từ tàu HQ-10

 Ngày 16.1:

– Thanh Niên Online vừa nhận được tin nhắn của bạn đọc Trần Minh Kha ở quận 4, TP.HCM với nội dung sau: “Đề nghị quí báo điều chỉnh bổ sung họ và tên đầy đủ của anh tôi là: Trần Văn Xuân, trung sĩ điện khí, HQ-16 (ở mục 74). Trân trọng cảm ơn”. Rất mong bạn Trần Minh Kha gửi số điện thoại hoặc email tới hộp thư toiviet@thanhnien.vn để chúng tôi xác minh thêm trước khi cập nhật.

Thanh Niên Online

>> Hồ sơ ngoại giao Mỹ về Hải chiến Hoàng Sa – Kỳ 2: Hoàng Sa ở Hội đồng Bảo an LHQ
>> Hồ sơ ngoại giao Mỹ về Hải chiến Hoàng Sa – Kỳ 1: Bàn cờ nước lớn
>> Một sự thật khác về Hải chiến Hoàng Sa (?)
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 4: Nổ súng chống giặc
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 3: Tương quan lực lượng
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 2: Hành quân giữ đảo
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại

THÔNG TIN TỪ NHẬT BẢN PHÁT HIỆN NGÔI MỘ TẬP THỂ CỦA BỘ ĐỘI VIỆT NAM TRÊN ĐỈNH 1509 ( LÃO SƠN-NÚI ĐẤT) VỊ XUYÊN-HÀ GIANG

18 Th1

https://nvphamvietdao5.blogspot.cz/2017/01/thong-tin-tu-nhat-ban-ve-ngoi-mo-tap.html?m=1

THÔNG TIN TỪ NHẬT BẢN PHÁT HIỆN NGÔI MỘ TẬP THỂ CỦA BỘ ĐỘI VIỆT NAM TRÊN ĐỈNH 1509 ( LÃO SƠN-NÚI ĐẤT) VỊ XUYÊN-HÀ GIANG

Chào anh Đào!

Em là Hà Minh Thành, ở Nhật xin gửi tặng anh Đào một số hình ảnh về Núi Đất bây giờ đã thuộc về Trung Quốc sau hiệp định hoạch định biên giới; tên mới của Trung Quốc bây giờ là Lão Sơn mà em đã chụp vào tháng 12 năm ngoái ( 2009) . 

Khu vực này hiện tại vẫn còn được xem là khu vực quân sự trọng yếu do quân đội Trung Quốc quản lý. Dĩ  nhiên ngoài những chỗ họ cho phép thì hầu như họ cấm chụp ảnh, quay phim với lý do có rất nhiều mìn. Em đã lén chụp ở khu vực chôn các liệt sĩ VN , anh xem trong các tấm hình có một hình em ngồi ở bên cạnh một cái hố , trên đó có nhiều phiến đá vuông (hình số 17).

Ông Vương Hoàn Hải – một sĩ quan Trung Quốc từng tham gia cuộc chiến đó, đã cho em biết đây là nơi chôn các binh sĩ Việt Nam bị chết trong trận đó

Ông ta vô tình kể một chi tiết là sau khi chiếm được Núi Đất thì họ thu gom hài cốt binh sĩ cả 2 bên, thi thể lính Trung Quốc thì họ đưa về phía sâu bên Trung Quốc cách đó 10 km và làm nghĩa trang liệt sĩ, còn thi thể của các liệt sĩ VN cũng như các thương binh nặng nhẹ, các tù binh bị tập trung xử bắn hàng loạt tại chỗ không phân biệt đã chết hay còn sống, họ liệng xuống cái hố đó và nhờ lực lượng hóa học đốt, sau đó thì cho xe ủi lấp.

Ông ta nói rằng không nhớ chính xác nhưng trong cái hố đó có khoảng 3700 xác binh sĩ VN. Cho đến ngày hôm nay ông ta và các đồng đội vẫn còn ám ảnh tiếng kêu gào của các thương binh VN trong biển lửa khi hỏa thiêu họ. Em đã không cầm được nước mắt và quỳ xuống cảm tạ trước ngôi mộ hoang tàn mà trong đó có thể có thi thể của anh Tạo em của anh, một người bằng tuổi của em đã Vị quốc vong thân.

Hy vọng anh Đào với tiếng nói của một nhà văn hãy kêu gọi Chính phủ VN phải bằng mọi giá quy tập hài cốt của các liệt sĩ mình cho họ trở về quê hương và gia đình. Nếu không làm được thì cũng nên vinh danh những người anh, người con đã ngã xuống để bảo vệ lãnh thổ trong cuộc chiến không cân sức, để đỡ tủi thân những người đã khuất cũng như gia đình họ…

Theo thông tin đoàn làm phim thu thập được thì trong trận chiến đó, phía Việt Nam đã thất bại do đã bị phản bội bởi một sĩ quan cao cấp Quân báo Việt Nam, tên này đã bán thông tin chi tiết về kế hoạch hành quân tái chiếm Núi Đất cho tình báo Trung Quốc. 

Rất tiếc cho đến lúc này, Chính phủ VN và Bộ Quốc phòng Việt Nam vẫn chưa hồi âm cho phép đoàn làm phim của đài TBS phỏng vấn các sĩ quan, binh sĩ và dân chúng VN để bộ phim phóng sự có một góc nhìn trung thực từ cả hai phía. Theo em đây là một cơ hội để phía VN lên tiếng cho thế giới biết Trung Quốc đã xâm chiếm lãnh thổ của mình.

Trong phạm vi khả năng của em thì em cố gắng dịch, sưu tầm các tài liệu và hướng cho Đạo diễn Bành Trung Nghĩa làm phim theo một góc nhìn trung thực, không thiên vị phía Trung Quốc, vì dù sao ông ta cũng là người gốc Hoa.

Trong khi chính quyền Lạng Sơn cho Trung Quốc vào tảo mộ liệt sĩ của họ, còn hài cốt của liệt sĩ VN còn ở Núi Đất thì lại im lặng và bị lãng quên…

MỘT VÀI THÔNG TIN VỀ HÀ MINH THÀNH:

Hà Minh Thành trao đổi thư từ qua mạng với tôi sau loạt bài tôi viết trên Website Hội Nhà văn VN NĂM 2009:tôi viết về vụ án nhận hối lộ của Huỳnh Ngọc Sĩ và vụ một phi công Việt Nam chở hàng ăn cắp từ Nhật bản về.
Thời điểm đó tôi làm biên tập cho Website của Hội nhà văn VN ( Vanvn.net)…

Hà Minh Thành đã cung cấp cho tôi một số tin quan trọng liên quan tới vụ án, anh cho biết: anh là người tham gia dịch rất nhiều tài liệu của vụ án hối lộ CPI.

Anh còn cung cấp một số thông tin về một số việc làm nhem nhuốc của một số cơ quan ngoại giao Việt Nam làm việc tại Nhật Bản. Tôi đã tham mưu cho Chủ tịch Hội Nhà văn VN chuyển các thông tin do Hà Minh Thành cung cấp cho các cơ quan chức năng (Ban phòng chống tham nhũng TƯ) của Việt Nam để giải quyết…

Công văn do Phạm Viết Đào soạn, Chủ tịch Hội nhà văn VN Hữu Thỉnh ký ngày 30/12/2008 

Từ khi tôi mở Blog riêng, Hà Minh Thành thường có nhiều comment và thư trao đổi với tôi. Tôi coi Hà Minh Thành là một trong những bạn tâm giao trên mạng, mặc dù chưa từng gặp và biết nhiều về anh.

Còn nguyên nhân Thành cung cấp thông tin trên là do: sau khi đọc bài tôi viết về em trai tôi, Ls Phạm Hữu Tạo đã hy sinh trận 12/7/1984 trong trận đánh Cao điểm 772; Thành cho biết Đạo diễn truyền hình Nhật Bản Hãng TBS là ông Bành Trung Nghĩa, người gốc Hoa muốn làm một bộ phim tài liệu về cuộc chiến tranh biên giới Việt -Trung. 

Đạo diễn Bành Trung Nghĩa cũng có một người em là lính Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến tranh này và đã tử trận. Do vậy, ông rất muốn sang Việt Nam để quay phim, lấy thêm hình ảnh, tài liệu, làm việc với các nhân chứng phía Việt Nam trong đó có tôi vì ông và tôi đều mất người thân vì cuộc chiến này. 

Tôi đã trả lời với ông Bành Trung Nghĩa qua giới thiệu của Hà Minh Thành là sẵn sàng hợp tác với Đoàn làm phim Nhật Bản để làm bộ phim này nhằm mục đích: giúp cho thế giới hiểu đúng bản chất của cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam. Cần phải làm mọi cách để thế giới hiểu đúng đất nước và con người Việt Nam nhiều đời này luôn muốn có quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc, để được yên ổn làm ăn. Không một người dân Việt Nam yêu nước, lương thiện nào lại muốn gây sự với Trung Quốc; nhưng người Việt Nam cũng chẳng bao giờ chịu khuất phục Trung Quốc hay bất kỳ thế lực ngoại bang nào.

Hiện nay phía Việt Nam không cho phép đoàn làm phim của ông Bành Trung Nghĩa thực hiện bộ phim này, mặc dù năm 1979, một phóng viên của Nhật Bản (hình như của Hãng NHK) đã hy sinh trong khi quay phim tại chiến trường Lạng Sơn. Chi tiết này đã được Đạo diễn Đặng Nhật Minh tái hiện lại trong bộ phim truyện Thị xã trong tầm tay

Còn phía Trung Quốc  đã chấp nhận cho đoàn làm phim của ông Bành Trung Nghĩa thực hiện quay phim, lấy tài liệu trên đất Trung Quốc. Thông tin, ảnh mà Thành viết cho tôi là do khi anh tham gia đoàn làm phim này chụp được.

Sở dĩ Thành được mời theo Đoàn làm phim Nhật Bản là họ biết tại khu vực Cao điểm 1509, nay thuộc về Trung Quốc và Trung Quốc gọi là Lão Sơn-Núi Đất vẫn còn một số đồng bào người Dao sống, trước đây họ là người Việt. Hà Minh Thành đi cùng để dịch cho đoàn làm phim…

PVĐ

Một số hình ảnh do Hà Minh Thành cung cấp khi cùng Đoàn làm phim TBS bay bằng trực thăng Trung Quốc lên đỉnh Lão Sơn:

Anh Đào kính mến

Xin lỗi anh vì bận quá nên đã không chú thích các tấm hình em chụp ở Núi Đất cho anh được. Em tính chú thích trên blog của em nhưng mà không biết tại sao hình copy không vô blog được nên bây giờ em chú thích trên mail cho anh vậy. Các hình chắc anh còn và mỗi cái hình em có đánh số. Em giải thích theo số tên file của hình.

Hình số 5. jpg. Đoàn làm phim được lữ đoàn 513 biên phòng Trung Quốc không vận vào núi Lão Sơn bằng 2 máy bay trực thăng.

Hình 1.jpg, 3.jpg, 7.jpg.  Các hình ảnh Núi Đất chụp từ trực thăng, trước khi vào Núi Đất họ đã bay vòng phía trên không phận VN.

Hình  8.jpg, 9.jpg.  Người lính dẫn đường Trung Quốc giải thích trước 1984 thì lãnh thổ Trung Quốc tới chân cái bia  đá này, bây giờ họ lời được cả dãy núi.

Hình 10.jpg. Hai cha con ông Vòng A Sỉn, nghe nói trước 1984 là người VN, một trong 4 hộ dân còn sống sót ở khu vực này. Nói tiếng Việt rất giỏi. Hy vọng được trở lại làm người VN tại Núi Đất.

Hình 11.jpg.  Mẹ của ông Vòng A Sỉn, bà cụ kể cho nghe đã giấu 4 thương binh VN trốn trong hốc đá sau nhà nhưng lính Trung Quốc bắt ra bắn trước cửa nhà bà rồi khiêng xác đi.

Hình 12, 13, 18, 21.jpg.  Khu vực có mìn được phía VN gài đến nay vẫn chưa giải tỏa. Rất nguy hiểm.  Nghe ông Vòng A Sỉn kể lâu lâu cũng có vài lính biên phòng Trung Quốc chết vì mìn còn sót lại của VN.

Hình 16.jpg.  Cái bảng có đề bằng các thứ tiếng Anh – Việt – Trung:  “KHU GẦN QUÂN DỰ, CẤM TRÈO”, chắc là anh Tàu nào viết tiếng Việt sai lỗi chính tả.

Hình 19.jpg. Một bà già gốc Việt cuốc rẫy ngay khu vực nghi còn có mìn. Nghe A Sỉn kể sau khi chiếm được vùng này thì lính Trung Quốc bắt dân gốc Việt đi làm rẫy tại các khu vực nghi là còn có mìn. Nhiều người chết lắm, còn sót 4 hộ là nhờ vào trời còn thương.

Hình 20.jpg.  Bia kỷ niệm chiến trường. Từ tấm bia này chếch về bên phải 400 m là cái hố chôn tập thể các liệt sĩ VN.

Hình 17.jpg.  Người trong hình là em nhờ một người Nhật chụp bằng ống Zoom ngay trên miệng hố chôn tập tể các anh hùng liệt sĩ VN. Vương Hoàn Hải, sĩ quan Trung Quốc tại cứ điểm đó vô tình tiết lộ cái hố này chôn 3700 thi thể của Liệt sĩ VN, trong đó có cả thương binh và tù binh bị bắt và họ xử tử hết tại cái hố này. Sau đó thì công binh lên họ dùng hóa chất và xăng hỏa thiêu. Cái hố này họ cấm chụp hình nhưng mà em chạy ra nhờ tên bạn Nhật trong đoàn chụp đại, hình không rõ lắm.

Hình 25, 26.jpg. Anh trai của Vương Hoàn Hải, một người lính tham gia trận chiến Lưỡng Sơn đang kể lại cho đoàn làm phim tình hình cuộc chiến lúc đó. Trong cái bì xanh ông cầm là một cuốn sổ nhật ký của một người lính VN tên là Nguyễn Văn Nam thuộc sư đoàn 313 VN đưa cho ông trước khi bị các bạn của ông lùa vào hố để giết. Ông hy vọng có ngày sẽ tìm đến trao lại cho gia đình anh Nam đó nhưng không có cơ hội vì nghèo.

Nhân tiện xin anh vui lòng thắp giùm cho em một nén nhang trên bàn thờ anh Tạo hôm nay. Dù em là người miền Nam  và gia đình đều là người đã từng ở bên kia chiến tuyến với các anh, nhưng là một người VN em xin kính cẩn tri ân gia đình anh Đào, tri ân anh Tạo đã ngã xuống hy sinh vì Tổ quốc. Em hy vọng rằng tất cả hài cốt các anh em trong ngôi mộ khổng lồ hoang vu trên đỉnh Lão Sơn (có thể trong đó có anh Tạo) sẽ sớm được quy tập trở về với gia đình không phải bơ vơ lạnh lẽo, bị bỏ mặc bởi Chính phủ cũng như bị lịch sử cố ý lãng quên. Hy vọng có một ngày có những nhà viết sử can đảm sẽ tìm đến bên cột mốc chủ quyền xây bằng 3700 anh linh tại Núi Đất ghi lại những giờ phút oanh liệt và hào hùng của họ.

Chúc anh Đào và gia quyến vạn sự như ý.                                                                  

Hà Minh Thành

Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv

SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG – Ngã Du Tử

1 Th1

 

 

Lối thực dụng bỏ quên lời châu ngọc

Bếp trần gian còn ấm chút lửa hồng

Ta nhuốm lại cho đời thêm ấm áp

Để không buồn mai mốt với non sông

 

Ơi, sự thực vắt ngang hồn dân tộc

Hồn quan san chau mặt suốt đêm ngày

Em có trách cũng đành thôi thế sự

Con sông nào không nhận những tầng mây

 

Trăng với nước một thời như ảo mộng

Nên loanh quanh sương khói nhuộm ngang đời

Thương nhật nguyệt cứ bình yên lên xuống

Chân lý lẽ nào là ánh sao rơi

 

Đời sống mãi triền miên theo dòng chảy

Nợ áo cơm siết cổ mộng bình thường

Đâu có hiểu hồn quan san rưng rức

Mơ cả đời sống để yêu thương./.

TRẦM TÍCH XUÂN

 

Bao nhiêu năm trăng mọc một phương

Những ngôi sao thần dân không đổi ngôi

Mặt trời chẳng bình yên soi rọi

Lòng người mang mang như tơ trời

 

Chỉ có Em

Mùa đông đến lại đong đầy nổi nhớ

Khi xuân giục giã tận phương ngoài

Ai ngữa mặt nở cái cười nửa nụ

Ải quan đầy những xa hoa

 

Ta đứng lại nhìn xa tám hướng

Hướng nào cũng mờ bến sông xưa

Nghe lỡ lói bao nổi buồn trầm tích

Mắt môi xưa hong lại tháng năm vừa

 

Khoác vội mùa xuân qua lớp áo

Vàng xanh sặc sỡ khắp làng quê

Có bà mẹ áo nâu, cánh bạc

Ngóng con xa mùa xuân vẫn chưa về

 

Khi mùa đông cáo chung

Ngày xuân nẩy mầm

 

NGÃ DU TỬ

SÀI GÒN

KẺ LANG THANG VÀ VỊ KHÁCH ĐÊM MƯA.. Đổ Anh Thư

1 Th1

Gã đích thị là một kẻ lang thang đầu đường, xó chợ. Gã cư ngụ dưới gầm cầu, nơi từ sáng tới chiều nồng nặc mùi tanh hôi xú uế.
Ngày nắng thì cơ man nào là các loại rác : bao ni lon, lá chuối, giấy gói các loại thực phẩm…v..vv..từ khu chợ gần đó theo gió bay vào.
Còn những ngày mưa, nước cống tràn lên đến chỗ gã nằm, quện theo bao nhiêu bùn, rác….Ấy thế mà nơi đây là giang sơn riêng biệt của gã đã từ rất lâu rồi, không kẻ nào dám vào đây tranh giành , chiếm cứ..!
Gã không nhớ mình có mặt trên đời từ khi nào nữa, đến như cái tên KẺ LANG THANG , cũng do dân ở chợ gọi mãi mà thành..Cuộc đời gã hầu như chẳng có gì để nói, ngoài việc lang thang quanh ngõ chợ, chân cầu kiếm ăn, gã chỉ còn mỗi việc đánh nhau để giữ gìn miếng ăn vừa kiếm được…
Những lúc ấy, gã mất hẳn cái vẻ hiền lành giả tạo.miếng mồi để ngay trước mặt, gã đứng đối diện kẻ tranh giành, xuống tấn, thủ bộ sẵn sàng tấn công..mắt gã long lên sòng sọc, lông cổ xù lên, dựng đứng…hai hàm răng trắng nhởn nhe ra dữ tợn kèm theo những tiếng gầm gừ đe dọa.Gã cứ giữ bộ dạng hung tợn như thế cho đến lúc kẻ kia chờn dạ, rút lui…
Chỉ chờ có thế, gã nằm mọp xuống, hai chân trước giữ chặt miếng mồi, gã nhai, gặm ngấu nghiến…nước dãi chảy tràn ra theo kẽ răng, khóe mép.Mắt gã lim dim ra chiều sung sướng lắm…
Gã sống một mình,lúc đói phải đi kiếm ăn thì thôi, khi đã lưng lửng dạ, trở về nằm trong xó tối, gã thường nghĩ miên man về thân phận, cám cảnh cô đơn, không biết gã có biết khóc không mà lúc ấy tự dưng mắt cứ ướt nhòe…

Một đêm trời tối như hũ nút, gã đang nằm nhâm nhi thưởng thức cái gói chân, đầu , cánh vịt quay của bà hàng trong chợ vứt cho hồi sớm..Bỗng nghe trong cơn gió lạnh ùa vào thoảng tiếng kêu rên thảm thiết…Thoạt đầu, gã chẳng mấy quan tâm. Cuộc sống giang hồ, gió bụi đường đời đã rèn cho gã một thái độ lạnh lùng, vô cảm trước mọi sự việc, gã vẫn cứ điềm nhiên đánh chén một cách khoái trá trong cái xó riêng tư của mình..

Ngoài trời, mưa càng lúc càng nặng hạt, tiếng kêu rên càng thống thiết, bi ai hơn, dường như có cả mùi nước mắt trong gió đưa vào….Bất chợt gã thấy trong lòng rung lên một cảm xúc lạ kỳ..cái cảm giác này chưa bao giờ gã có trong đời..gã tò mò, đứng lên, bước ra nhìn sang bên đường, nơi phát ra tiếng kêu ai oán đó… Một sinh vật nhỏ bé đang run lên vì lạnh, toàn thân ướt sũng nước mưa…con bé (chắc vậy,,vì hình hài yếu ớt, mỏng manh quá) đang trân mình chịu những làn mưa như quất vào thân thể yếu đuối đáng thương…

Máu trong người bỗng nóng lên, gã hành động một cách không tự chủ, hùng dũng băng ngang đường dưới cơn mưa xối xả, đến gần bên cô bé, ngoạm ngang cổ rồi chạy một mạch về tổ ấm dưới chân cầu …

Gã đặt con bé nằm vào bên trong cùng, nơi khô nhất, ấm nhất trong cái xó hôi tanh của gã.và cứ thế gã liếm từ đầu đến chân con bé, liếm cho đến khi bộ lông trở lại khô ráo, mềm mượt như nhung.Cô bé được chăm sóc, cuộn tròn người lại , rúc vào bụng gã tìm hơi ấm, chiếc miệng đỏ hồng xinh xắn đã thôi rên khóc mà chỉ gừ gừ khe khẽ, thi thoảng lại kèm vài tiếng kêu nũng nịu meo…meo…

Gã để yên cho cô bé nằm trong lòng mình, đôi mắt lim dim ngắm nhìn kẻ không cùng chủng loại bằng một thứ tình cảm lạ lùng, đầy những yêu thương, trìu mến…ngoài trời, mưa càng to thêm, bên trong cái xó dưới gầm cầu, hai trái tim đang cùng nhịp đập, hai sinh vật khác loài đang cùng tận hưởng niềm hạnh phúc của một MÁI ẤM TÌNH THƯƠNG..
ATĐ.
7/2016.

ảnh minh họa

Hình ảnh

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

31 Th12

hpny

10 sự kiện quốc tế nổi bật năm 2016 – VHNA

21 Th12

.

(Baonghean.vn) – Hàng loạt sự kiện chính trị, kinh tế, an ninh quan trọng trên thế giới đã diễn ra khắp các châu lục, đánh dấu một năm 2016 đáng nhớ để thế giới bước vào năm mới 2017 với niềm hy vọng mới, xen lẫn cả sự lo âu.

Cùng Báo Nghệ An điểm lại những sự kiện nổi bật trong năm qua.

 1. Bầu cử Tổng thống Mỹ

Ngày 8/11, cả thế giới vô cùng bất ngờ khi ông Donald Trump giành được 306 phiếu đại cử tri trong khi bà Hillary Clinton chỉ có 232 phiếu để đắc cử Tổng thống thứ 45 của Mỹ.  Đây là lần đầu tiên nước Mỹ có tổng thống là một tỷ phú và chưa hề có kinh nghiệm chính trị. Mặc dù sau cuộc bầu cử đã có nhiều cuộc biểu tình phản đối oong Trump sau, nhưng cũng có những ý kiến cho rằng ông sẽ đem lại sự thay đổi cần thiết cho nước Mỹ. Sự kiện này cũng có tác động lớn đến bàn cờ chính trị thế giới.
Ngày 8/11, cả thế giới vô cùng bất ngờ khi ông Donald Trump giành được 306 phiếu đại cử tri trong khi bà Hillary Clinton chỉ có 232 phiếu để đắc cử Tổng thống thứ 45 của Mỹ. Đây là lần đầu tiên nước Mỹ có tổng thống là một tỷ phú và chưa hề có kinh nghiệm chính trị. Mặc dù sau cuộc bầu cử đã có nhiều cuộc biểu tình phản đối oong Trump sau, nhưng cũng có những ý kiến cho rằng ông sẽ đem lại sự thay đổi cần thiết cho nước Mỹ. Sự kiện này cũng có tác động lớn đến bàn cờ chính trị thế giới.

2. Nước Anh rời EU (Brexit)

Ngày 23/6, cử tri Anh đã bỏ phiếu rút khỏi Liên minh châu Âu (EU) trong sự kiện thường được gọi là ‘Brexit’ với số phiếu 52% muốn rời đi và 48% ở lại. Sau khi kết quả được công bố, Thủ tướng Anh lúc đó, David Cameron tuyên bố từ chức. Thủ tướng mới, bà Theresa May, lên cầm quyền. Sau vụ bỏ phiếu, thị trường tài chính quốc tế lao dốc, đồng Bảng Anh giảm giá mạnh.
Ngày 23/6, cử tri Anh đã bỏ phiếu rút khỏi Liên minh châu Âu (EU) trong sự kiện thường được gọi là ‘Brexit’ với số phiếu 52% muốn rời đi và 48% ở lại. Sau khi kết quả được công bố, Thủ tướng Anh lúc đó, David Cameron tuyên bố từ chức. Thủ tướng mới, bà Theresa May, lên cầm quyền. Sau vụ bỏ phiếu, thị trường tài chính quốc tế lao dốc, đồng Bảng Anh giảm giá mạnh.

3. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro qua đời

Đêm 25/11 giờ địa phương tức trưa 26/11 (giờ HN), Chủ tịch Cuba Raul Castro tuyên bố trên truyền hình, lãnh tụ Fidel Castro đã qua đời ở tuổi 90. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro sinh ngày 13/8/1926. Ông là một nhà cách mạng vĩ đại, một trong những người kiệt xuất nhất của thế kỷ XX. Ông là người đã ghi danh Cuba vào lịch sử nhân loại với cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài, dẫn dắt quốc gia Caribe này đến con đường độc lập ngày hôm nay.
Đêm 25/11 giờ địa phương tức trưa 26/11 (giờ HN), Chủ tịch Cuba Raul Castro tuyên bố trên truyền hình, lãnh tụ Fidel Castro đã qua đời ở tuổi 90. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro sinh ngày 13/8/1926. Ông là một nhà cách mạng vĩ đại, một trong những người kiệt xuất nhất của thế kỷ XX. Ông là người đã ghi danh Cuba vào lịch sử nhân loại với cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài, dẫn dắt quốc gia Caribe này đến con đường độc lập ngày hôm nay.

4. Khủng bố ngày Quốc khánh Pháp

Tối 14/7, một kẻ khủng bố đã lái xe tải với tốc độ hơn 60km/giờ lao vào đám đông vừa xem xong màn trình diễn pháo hoa đúng ngày quốc khánh ở Pháp, khiến 84 người chết và hơn 150 người bị thương, trong đó có nhiều trẻ em. Kẻ khủng bố dường như cố tình lái chiếc xe theo hình zích zắc để cán nhiều người nhất có thể. Lái xe được xác định là người Pháp gốc Tunisia, 31 tuổi, đã bị bắn chết.
Tối 14/7, một kẻ khủng bố đã lái xe tải với tốc độ hơn 60km/giờ lao vào đám đông vừa xem xong màn trình diễn pháo hoa đúng ngày quốc khánh ở Pháp, khiến 84 người chết và hơn 150 người bị thương, trong đó có nhiều trẻ em. Kẻ khủng bố dường như cố tình lái chiếc xe theo hình zích zắc để cán nhiều người nhất có thể. Lái xe được xác định là người Pháp gốc Tunisia, 31 tuổi, đã bị bắn chết.

5. Đảo chính ở Thổ Nhĩ Kỳ

Vào ngày 15 và 16/7/2016, một nhóm trong Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành đảo chính nhằm lật đổ chính phủ đương nhiệm của Tổng thống Erdogan đã không thành công. Ít nhất 264 người đã bị giết chết trong số đó 173 thường dân, 67 nhân viên an ninh chính phủ, 24 người đảo chính và hơn 1.390 người bị thương.  Theo bộ trưởng bộ Tư pháp Bekir Bozdag cho đến nay khoảng 6.000 người đã bị bắt giữ và 2.745 thẩm phán đã bị sa thải.
Vào ngày 15 và 16/7/2016, một nhóm trong Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành đảo chính nhằm lật đổ chính phủ đương nhiệm của Tổng thống Erdogan đã không thành công. Ít nhất 264 người đã bị giết chết trong số đó 173 thường dân, 67 nhân viên an ninh chính phủ, 24 người đảo chính và hơn 1.390 người bị thương. Theo bộ trưởng bộ Tư pháp Bekir Bozdag cho đến nay khoảng 6.000 người đã bị bắt giữ và 2.745 thẩm phán đã bị sa thải.

6. Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej băng hà

Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej trút hơi thở cuối cùng chiều 13/10, ở tuổi 88. Sau gần 7 thập kỷ cầm quyền, ông là người trị vì lâu nhất trong lịch sử Thái Lan. Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej là vị vua hiếm hoi trên thế giới hiện đại cùng lúc có được khối tài sản khổng lồ, quyền lực trên chính trường, sự sùng kính của người dân trong nước và trọng thị của nước ngoài. Con trai đồng thời là người thừa kế của ông, Thái tử Maha Vajiralongkorn, 63 tuổi, trở thành quốc vương mới của Thái Lan.
Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej trút hơi thở cuối cùng chiều 13/10, ở tuổi 88. Sau gần 7 thập kỷ cầm quyền, ông là người trị vì lâu nhất trong lịch sử Thái Lan. Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej là vị vua hiếm hoi trên thế giới hiện đại cùng lúc có được khối tài sản khổng lồ, quyền lực trên chính trường, sự sùng kính của người dân trong nước và trọng thị của nước ngoài. Con trai đồng thời là người thừa kế của ông, Thái tử Maha Vajiralongkorn, 63 tuổi, trở thành quốc vương mới của Thái Lan.

7. Vụ bê bối của Tổng thống Hàn Quốc

Tổng thống Hàn Quốc Park Gyun Hye ngày 25/10 đã xin lỗi và thừa nhận từng “hỏi ý kiến” của bạn thân là bà Choi Soon-sil khi soạn thảo các bài diễn văn trong chiến dịch tranh cử năm 2012 lẫn giai đoạn đầu nhậm chức. Bà Park còn bị nghi ngờ có vai trò trong việc ép các tập đoàn lớn đóng góp để thành lập 2 tổ chức phi lợi nhuận được cho là của bà Choi.
Tổng thống Hàn Quốc Park Gyun Hye ngày 25/10 đã xin lỗi và thừa nhận từng “hỏi ý kiến” của bạn thân là bà Choi Soon-sil khi soạn thảo các bài diễn văn trong chiến dịch tranh cử năm 2012 lẫn giai đoạn đầu nhậm chức. Bà Park còn bị nghi ngờ có vai trò trong việc ép các tập đoàn lớn đóng góp để thành lập 2 tổ chức phi lợi nhuận được cho là của bà Choi.

8. Vụ tiết lộ tài liệu mật lớn nhất trong lịch sử

Ngày 10/5, Hiệp hội Các nhà báo điều tra quốc tế (ICIJ) công khai “Hồ sơ Panama”, liên quan tới việc trốn thuế của giới nhà giàu. Dữ liệu, thuộc về hãng luật Mossack Fonseca có trụ sở ở Panama, tiết lộ việc rửa tiền và trốn thuế liên quan tới 140 chính trị gia, hàng chục tỷ phú và cá nhân nổi tiếng thế giới. Tài liệu cũng đã phơi bày một hệ thống công ty “ma”, lên tới 214.000 tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài dính líu.
Ngày 10/5, Hiệp hội Các nhà báo điều tra quốc tế (ICIJ) công khai “Hồ sơ Panama”, liên quan tới việc trốn thuế của giới nhà giàu. Dữ liệu, thuộc về hãng luật Mossack Fonseca có trụ sở ở Panama, tiết lộ việc rửa tiền và trốn thuế liên quan tới 140 chính trị gia, hàng chục tỷ phú và cá nhân nổi tiếng thế giới. Tài liệu cũng đã phơi bày một hệ thống công ty “ma”, lên tới 214.000 tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài dính líu.

9. Châu Âu “nghẹt thở” vì khủng hoảng nhập cư

Năm 2016, làn sóng người di cư tiếp tục tràn vào châu Âu. Câu chuyện những con tàu chở đầy người tị nạn bị đắm ở Địa Trung Hải đã trở thành nỗi ám ảnh với nhân loại. Nhiều chính sách được đưa ra, nhưng chưa hiệu quả. Việc phân bổ hạn ngạch nhập cư khiến EU chia rẽ, trong khi tư tưởng bài ngoại xuất hiện ở nhiều nơi. Châu Âu cũng rơi vào thế nguy hiểm khi khủng bố cài cắm lực lượng vào dòng người tỵ nạn.
Năm 2016, làn sóng người di cư tiếp tục tràn vào châu Âu. Câu chuyện những con tàu chở đầy người tị nạn bị đắm ở Địa Trung Hải đã trở thành nỗi ám ảnh với nhân loại. Nhiều chính sách được đưa ra, nhưng chưa hiệu quả. Việc phân bổ hạn ngạch nhập cư khiến EU chia rẽ, trong khi tư tưởng bài ngoại xuất hiện ở nhiều nơi. Châu Âu cũng rơi vào thế nguy hiểm khi khủng bố cài cắm lực lượng vào dòng người tỵ nạn.

10. Tòa trọng tài bác đường lưỡi bò

Hôm 12/7, Tòa Trọng tài thường trực Liên Hợp Quốc (PCA) đã ra phán quyết về vụ kiện của Philippines, bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, kết luận không có căn cứ pháp lý cho việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử với các tài nguyên trong đường chín đoạn. Trong phán quyết, PCA cũng kết luận không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể mang lại vùng đặc quyền kinh tế cho Trung Quốc.
Hôm 12/7, Tòa Trọng tài thường trực Liên Hợp Quốc (PCA) đã ra phán quyết về vụ kiện của Philippines, bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, kết luận không có căn cứ pháp lý cho việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử với các tài nguyên trong đường chín đoạn. Trong phán quyết, PCA cũng kết luận không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể mang lại vùng đặc quyền kinh tế cho Trung Quốc.

Thái Bình

(Tổng hợp)

VIẾNG MỘ CHA – NH

19 Th12

VIẾNG MỘ CHA

Dâng hương con viếng mộ Cha
Ngậm ngùi sợi khói nhạt nhòa mi cay
Thắm dòng huyết nhục xưa nay
Chữ tâm chữ hiếu tháng ngày rong rêu

Chạnh lòng se lạnh mây chiều
Âm-dương lặng ngắt quạnh hiu nhà mồ
Thành tâm niệm giữa hư vô
Thái Sơn dưởng dục con nào vong ân

Sinh thời phụ – tử cách ngăn
Nay Cha về cõi vĩnh hằng Tổ Tông
Đời con trèo núi băng sông
Tha phương mỗi bước tím lòng hiếu trung

Con về viếng mộ Lễ không
Chỉ nhành hoa với nỗi lòng nhớ thương !
Lạy cha, khấn nguyện Tổ Đường
Mong người yên nghĩ miên trường thần tiên.

NH

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 12/12-18/12 – NCBĐ

19 Th12

Thứ ba, 13 Tháng 12 2016 02:00 dinh tuan anh

Share:

-(Laodong 13/12) Ấn Độ, Indonesia yêu cầu Trung Quốc tuân thủ UNCLOS về Biển Đông sau cuộc họp giữa Thủ tướng Ấn Độ, Narendra Modi, và Tổng thống Indonesia, Joko Widodo; (Giaoduc 13/12) Ông Duterte thăm Campuchia, sẽ bàn chuyện Biển Đông với Thủ tướng Hun Sen

-(RFI 12/12) Chuyên gia Pháp: Mỹ sắp mất quyền kiểm soát Thái Bình Dương trong khi Nga đang thể hiện ý chí lấy lại vị trí cường quốc thế giới mà Liên Xô từng có trước đây; (Nhandan 12/12) Tiếp tục khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

 

-(Laodong 12/12) Máy bay ném bom Trung Quốc lượn trên biển Đông để gửi thông điệp cho Trump? Hành động này diễn ra sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump điện đàm với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn; (Giaoduc 12/12) Trung – Mỹ đang tìm cách thỏa hiệp sau hậu trường về Biển Đông?

-(Nguoilaodong 12/12) Việt Nam phản đối Trung Quốc gây phức tạp tình hình sau khi Hải quân Trung Quốc kỉ niệm cái gọi là “70 năm thu hồi Hoàng Sa, Trường Sa”; (Laodong 11/12) Trung Quốc lại ngang nhiên đưa du thuyền đến Biển Đông

 

 

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump

15 Th12

 

– Ngày 14/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump.

Thủ tướng đã chúc mừng ông Donald Trump được bầu là Tổng thống thứ 45 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Hoa Kỳ.

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump. Ảnh: TTXVN

Tổng thống đắc cử Donald Trump đánh giá cao những thành tựu Việt Nam đạt được trong thời gian qua, những tiến triển tích cực trong quan hệ hai nước và khẳng định mong muốn hợp tác với Việt Nam để cùng thúc đẩy quan hệ.

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump

Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi phương hướng và biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ thời gian tới.

Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt – nghiencuulichsu.com

14 Th12

1

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

Trần Gia Ninh

Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.

Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.

Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.

Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.

Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.

Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6: Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

bachviet_030916_2.jpg

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.

Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20 “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.

Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.

Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:

* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.

* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.

* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:

* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.

* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:

* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.

* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.

* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.

(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.

1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.

2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.

3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.

Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1
CHÚ DẪN

1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml

越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.

3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。

#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html

 The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)

6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.

7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.

8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.

11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.

12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).

13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.

14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).

#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.

16 叶榆水

17岱依人

18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.

19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.

20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.

21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!

22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.

23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.

24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).

25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.

#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên

27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.

28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.

Nguồn bài đăng

 

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump “manh động” với Đài Loan – Soha

14 Th12

Ngọc Anh | 12/12/2016 19:37

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump "manh động" với Đài Loan

Báo chí chính thống của Trung Quốc phát đi thông điệp rằng nước này có thể dùng biện pháp quân sự để tiếp quản Đài Loan, thay vì “thống nhất hòa bình”.

Tiếp tục lên tiếng sau cuộc điện đàm với lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hôm 2/12, Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump nói với Fox News rằng “không có ràng buộc” nào để phải thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”, và ông “không muốn bị Trung Quốc chỉ huy”.

Phía Trung Quốc đã lên tiếng phản đối các phát ngôn của Trump. Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói “hết sức quan ngại” và chỉ ra vấn đề Đài Loan là nền tảng chính trị cho quan hệ Trung-Mỹ, đồng thời cảnh báo quan hệ song phương “không còn gì để nói” nếu chính sách “Một Trung Quốc” bị Mỹ làm tổn hại.

Trong khi đó, truyền thông nhà nước Trung Quốc đã phát đi lời đe dọa vũ trang cho các lực lượng chống Mỹ và thậm chí tấn công quân sự Đài Loan.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu, thuộc chủ quản của báo đảng Trung Quốc Nhân dân Nhật báo, ngày 12/12 cảnh báo:

“Trung Quốc sẽ tiếp quản Đài Loan bằng vũ lực, thay vì ‘thống nhất hòa bình’, nếu Trump từ bỏ chính sách ‘Một Trung Quốc’. Các lãnh đạo Đài Loan sau đó sẽ phải hối tiếc khi trở thành một món đồ mặc cả của Trump, một viên gạch đệm để Mỹ tiến tới thay đổi chính sách. Một ngày nào đó, có lẽ chính bà Thái Anh Văn sẽ từ chối nghe điện đàm của Trump”.

Tờ báo “diều hâu” của Trung Quốc cũng dẫn lời một học giả uy tín trong nước có những lời lẽ gay gắt về cá nhân ông Trump.

“Ông ta là một doanh nhân thông minh nhưng lại mù mờ như một đứa trẻ và thiếu nhạy cảm trong vấn đề chính trị, đặc biệt rất ‘nông cạn’ trong vấn đề Đài Loan.

Ông ta không hiểu rằng ‘Một Trung Quốc’ không phải là một chính sách có thể đem ra thương lượng và mặc cả” – Giáo sư Học viện ngoại giao Trung Quốc, ông Lý Hải Đông nói.

 

theo Trí Thức Trẻ

 

Tập Cận Bình phát điên vì Donald Trump

13 Th12
Dân Làm Báo VNThích Trang

Tập Cận Bình phát điên vì Donald Trump

Ts Nguyễn Ngọc Sẵng (#Danlambao) – Trong cuộc du hành để cám ơn một số tiểu bang Mỹ, hôm 9 tháng 12 năm 2016, Tổng Thống tân cử Donald Trump tuyên bố tại Michigan rằng “Mỹ không nhất thiết phải đi theo chính sách Một nước Trung Hoa”. Ông thắc mắc rằng Mỹ có nhất thiết phải đi theo lập trường từ trước là Đài Loan chỉ là một bộ phận của Trung Quốc.

Trong cuộc phỏng vấn ngày Chủ Nhật 11 tháng 12 dành cho đài truyền hình Fox, Ông Trump tuyên bố rằng “ông hiểu chính sách Một nước Trung Hoa, nhưng ông không hiểu tại sao Mỹ phải theo chính sách đó, trừ khi Mỹ có cuộc thương lượng với Trung cộng về nhiều việc khác, trong đó có vấn đề mậu dịch.”

Ông Trump cũng đã lên án nhiều chính sách của Tàu cộng, trong đó có chính sách tiền tệ, vấn đề biển Đông, Bắc Triều Tiên. Ông nói Bắc Kinh không can dự gì vào việc ông điện đàm với Tổng Thống Đài Loan cả.

Ông tiếp “tôi không muốn Trung cộng ra lệnh tôi và đây là cuộc điện đàm của tôi. Đó là cuộc nói chuyện rất lịch sự, ngắn ngủi. Tại sao nước khác lại có thể nói tôi không thể làm việc nầy? Tôi nghĩ rằng việc nầy thực sự không tôn trọng (người khác), và đừng nên làm thế.” Nhà báo Caren Bohan tường thuật.

Ông nhận cuộc điện đàm chúc mừng từ bà Tổng Thống Đài Loan, Thái Anh Văn, đó là cuộc điện đàm đầu tiên trong cương vị Tổng Thống tân cử, kể từ sau việc Tổng Thống Carter thừa nhận Đài Loan là bộ phận của một Trung Quốc từ 1979.

Ban đầu chính Ngoại trưởng Trung cộng Vương Nghị không thấy cuộc điện đàm này là một xúc phạm và coi đó là sự xã giao, không ảnh hưởng đến sự bang giao bấy lâu nay dựa trên chính sách Một nước Trung Hoa. Nhưng theo tiết lộ mới nhất từ những nhân vật thân cận với Trump thì đây là sự sắp xếp của những người vận động hành lang của Đài Loan, thông qua tổ hợp luật sư của cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Dole có văn phòng ở Đài Loan sắp đặt nhiều tháng nay. Như vậy, cuộc điện đàm được sắp xếp, cân nhắc kỹ lưỡng, cả người gọi và người nhận đều theo thuyết âm mưu riêng của họ.

Trong tuần qua tờ Nhân Dân Nhật Báo của Trung cộng trên trang đầu có bài bình luận gay gắt rằng “gây khó khăn cho mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ tự tạo sự khó khăn cho chính chính phủ Trump”, đồng thời cũng “làm giảm thiểu cơ hội để Mỹ đạt mục tiêu trở thành vĩ đại” như Trump tuyên bố trong cuộc vận động bầu cử.

Nhà báo Trọng Nghĩa viết: “Bài báo của thông tín viên Le Monde tại Bắc Kinh, Brice Pedroletti, trước hết ghi nhận “gáo nước lạnh” mà ông Donald Trump vừa đổ lên đầu Trung Quốc với hai hành động: Cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan ngày 02/12/2016, và sau đó là tin nhắn trên mạng Twitter cực lực đả kích Trung Quốc và nhất là đã nhắc đến việc Trung Quốc hoành hành tại Biển Đông.”

“Theo Le Monde, Bắc Kinh bắt đầu nhận ra rằng quả thực ông Trump rất bị ảnh hưởng của các học giả hay chính khách trong đảng Cộng Hòa rất có ác cảm với sự vươn lên của Trung Quốc. Một ví dụ được tờ báo Pháp nêu bật là ông Peter Navarro, cố vấn cho ông Trump về các vấn đề thương mại trong chiến dịch vận động tranh cử.

Nhân vật này là tác giả một quyển sách đả kích gay gắt chủ nghĩa quân phiệt Trung Quốc, xuất bản năm 2015 dưới tựa đề “Ngọa hổ: Chủ nghĩa quân phiệt Trung Quốc có ý nghĩa ra sao đối với thế giới – Crouching Tiger: What China’s Militarism Means for the World)”. Trong một bài biên khảo trên chuyên san The National Interest tháng Bảy vừa qua với tựa đề “Hoa Kỳ không thể bỏ rơi Đài Loan”, ông Navarro viết: “Trước các hành vi xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, đã đến lúc Hoa Kỳ phải dấn thân mạnh hơn nữa vào việc hiện đại hóa khả năng phòng thủ của Đài Loan”. (Trọng Nghĩa).

Ông Trump chú ý đến mối bang giao với cường quốc thứ 2 của thế giới, Trung cộng. Trong một tuyên bố ngày 8 tháng 12 tại Des Moines, Iowa rằng “Hoa Kỳ cần và phải cải thiện mối bang giao với Trung cộng” nhất là chính sách kinh tế mà ông cho rằng Trung cộng chưa có một nền kinh tế thị trường tự do đích thực và không kiềm chế được Bắc Hàn.

Trong chuyến đi để cám ơn những tiểu bang quan trọng, nhưng không thuộc bên nào, giúp ông thắng cử, ông Trump liên tục kết án Trung cộng về việc ăn cắp tài sản trí tuệ (intellectual property theft), đánh thuế không công bằng với những công ty Mỹ ở Tàu, làm ngơ trước mối đe dọa từ Bắc Hàn, cố ý làm giảm giá trị đồng Quan, tung hàng thừa mứa giá rẻ mạt ra nước ngoài.

Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới kết án Trung cộng lạm dụng trong việc điều hành tiền tệ. Tổ chức Thương Mại Quốc Tế cho biết Trung cộng áp đặt thuế xuất cao với những món hàng nhập khẩu từ Mỹ để chận bớt hàng Mỹ và để tiêu thụ hàng nội địa, trong khi đó Mỹ không đánh thuế hàng Trung cộng.

Trong khi vận động tranh cử, ông Trump nhiều lần lập đi, lập lại là “tiêu thụ hàng hóa Mỹ, thuê mướn nhân công Mỹ, áp lực công ty Mỹ không chuyển công việc ra nước ngoài, ưu tiên cho quyền lợi nước Mỹ” và sẽ đánh thuế 35 phần trăm cho những hàng hóa do công ty Mỹ sản xuất ở nước ngoài và mang ngược trở về Mỹ bán. Nếu thực hiện những lời hứa nầy, thì hàng hóa sản xuất từ Tàu, công nhân Tàu trong những xí nghiệp của Mỹ chắc chắn bị ảnh hưởng không nhỏ. Tập “bức xúc” việc này không ít.

Tờ Le Monde ngày 8 tháng 12 có bài “Trung Quốc báo động trước ý định của Donald Trump”, bài báo nêu bật sự kiện tổng thống Mỹ vừa đắc cử đã khiến Bắc Kinh hết sức bực bội khi chỉ trích việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông.(Trọng Nghĩa).

Từ một số tín hiệu đáng ngại trên, tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 06/12, ông Thời Ân Hoằng (Shi Yin Hong) giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Mỹ tại Đại Học Nhân Dân Bắc Kinh đã kêu gọi: “Hành động của ông Trump đã nhắc nhở giới truyền thông, giới nghiên cứu và người dân chúng ta là có lẽ chúng ta đã có cái nhìn quá tích cực về chính sách Trung Quốc trong tương lai của ông Trump”.(Trọng Nghĩa).

Với những tuyên bố về chính sách Hoa Kỳ trong lúc vận động tranh cử làm cho nhiều người không biết ông Trump sẽ làm gì sau khi chính thức nhận quyền lực Tổng Thống, họ biết rằng đó không phải là những tuyên bố ngẫu hứng, bốc đồng mà là chính sách tương lai của Tổng Thống Trump. Vì vậy tháng rồi Tập Cận Bình mướn một nhà ngoại giao 94 tuổi của Mỹ, Henry Kissinger, sang để giải thích về chính sách bang giao tương lai của Hoa Kỳ mà Tập Cận Bình và cả Bộ Chính trị của Trung cộng không thể giải mã nổi.

Làm được những gì? Làm như thế nào? Chúng ta có bốn năm nữa để có câu trả lời chính xác.

Để kết thúc, tôi xin mượn lời của vị Tổng Thống thứ 40 của Hoa Kỳ, Ronald Regan tuyên bố, trong bang giao quốc tế “phải có sức mạnh mới có người bạn trung thành”. Phải chăng ông Trump đang áp dụng quan niệm nầy trong khi lãnh đạo nước Mỹ?

13.12.2016

Ts Nguyễn Ngọc Sẵng
danlambaovn.blogspot.com
Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/…/tap-can-binh-phat-ien-vi-…

 

Một góc nhìn khác.Trăn trở hay phẫn uất?

13 Th12
Congtrung Nguyen

22 phút ·

WordPress

·

Một góc nhìn khác.Trăn trở hay phẫn uất?

Nhớ lại lời bình của anh Đỗ Minh Tuấn trước đây : “CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU TRẤN YỂM CÁC HUYỆT ĐẠO VÀ BẮT CÓC TỔ TIÊN!

Cứ ở đâu có đền thiêng, mang hồn thiêng sông núi là Trung Quốc thò mũi vào sâu. Khu Ba la Bông đỏ là khu Kinh đô Việt cổ nhất với Ngọc phả lưu giữ bao nhiêu thông tin mới về người Việt cổ khác với sử Tầu thì sắp bị đào bới, chôn sắt và trấn yểm công khai nhân danh xây bến tàu cho 13 đoàn tàu cao tốc mua từ Trung Quốc. Ai tư vấn chọn xây tuyến đường này từ Ba la Bông đỏ? Vĩnh Phú là Kinh đô của nước Văn Lang, nơi có đền Hùng hàng năm hàng triệu người Việt khắp bốn phương trời kéo về thắp hương Quốc Tổ thì bây giờ có Đền Khổng tử 300 tỷ. Tiền ngân sách hay tiền TQ tài trợ theo các kênh nào đó? Các ông bà thằng con nào làm những dự án này có biết ngày xưa, bộ đội Trung Quốc sang Việt Nam giúp làm đường sắt thực ra là để tìm lấy các kho vàng tổ tiên chúng chôn ở Việt Nam, theo dặn dò trong Gia phả hay không? Và cái Dự án làm đường xuyên qua đáy Hồ Tây bị dừng mấy năm gần đây cũng chỉ vì Tổ tiên Việt còn chút linh thiêng nhắc nhở lũ cháu con tham lam ngu dốt rằng những cái cọc đóng xuống lòng hồ là những đạo bùa khổng lồ trấn yểm huyệt đạo của Thăng Long ngàn tuổi đấy!

Bán dân, bán đất, bán biển đảo, bán tài nguyên… dân vẫn đang chịu đựng được. Nhưng nếu tham lam ngu dại bán Tổ tiên, bán bàn thờ, bán bát hương, bán hồn dân tộc…thì dân chẳng để yên đâu! Ngay cả khi lũ bạn vàng trấn yểm linh địa Việt, đầu độc thân thể Việt, nhào nặn nhân cách Việt, xỏ mũi quyền lực Việt…làm đủ các kiểu cho dân Việt tiêu biến dần đi cả hồn và xác, mà người Việt đất Việt vẫn không tiêu vong, chỉ sống dặt dẹo như xác sống, thì việc một bầy quỷ dữ nhân danh các ông Tây râu xồm đầu hói để rước voi Tàu về dày mả tổ sẽ gây khó cho thế giới tiến bộ nhiều lắm đấy! Vì sẽ có lúc tên lửa chống khủng bố quốc tế của Mỹ và LHQ phải đắn đo không dám bắn vào nơi thờ cúng của dân tộc ta để diệt bọn khủng bố quốc tế núp trong đó, như cảnh sát không dám bắn vào kẻ bắt cóc các con tin vậy. Còn bọn cướp biển, cướp nước thì vẫn có thể từ nơi đó bắn ra.

Trời đất ơi! Sao dân tộc tôi lại khốn khổ đến mức này, ngu dại tham lam đến mức này, mong manh trôi dạt đến mức này!”

Đất nước tan hoang, văn hoá chạm đáy và nợ công ngập đầu để đổi lấy với quá nhiều đầy khắp những Vinashin, bauxit Tây Nguyên, nhà máy lọc dầu Dung quất,Formosa ..Chưa kể sông Cửu Long từng cuồn cuộn những mùa nước nổi phải trơ đáy, ngập mặn đe dọa cuộc sống gần hai mươi triệu con người, ngân khố quốc gia cạn kiệt,sự bết bát, suy sụp nền kinh tế.. Sự lưu manh hoá trỗi dậy kệch cỡm mang cờ nhảy nhót quấy rối nhân dân tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ bảo vệ Tổ quốc chống quân Trung Quốc xâm lược biến liệt sĩ thành những người ngu ngốc chết để làm gì, chết cho ai ? Sách giáo khoa không nói về chủ quyền biển đảo Hoàng sa, Gạc ma và các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân năm 1979,1988 mà lại in sách ca ngợi kẻ đứng đầu quân xâm lược Việt Nam .. Một bộ máy nhà nước hưởng thụ hàng chục năm hoà bình mà biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống,thương bệnh binh còn thiệt thòi nhan nhản, cả dân tộc phải thắt lưng buộc bụng.. Vậy mà với mấy thế hệ kế tục hàng chục năm đáng ra phải là tinh hoa của xã hội, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì sa đọa tận cùng với tham nhũng phát triển tràn lan như “ghẻ ngứa ” mà phó chủ tịch nước phải thốt lên ” Người ta ăn của dân không từ một thứ gì “,chủ tịch quốc hội còn chịu không nổi :” Thủ tục hành chính của mình cay độc lắm, độc ác lắm “,bỏ mặc cho phong trào nhân dân tha hồ tẩm ướp hoá chất giết hại lẫn nhau để kiếm một chút chênh lệch mà tồn tại .. Cuối cùng không ai chịu trách nhiệm, ai cũng hạ cánh an toàn vì họ cơ cấu người sau, người sau bảo vệ người trước theo kiểu cha truyền con nối, con ông cháu cha như thời phong kiến thối nát.
Đáng ra làm cán bộ lãnh đạo ngoài tài năng còn là đạo đức cần, kiệm, liêm chính, dám chịu hy sinh để gương mẫu dẫn dắt dân tộc chứ không phải làm quan phát tài,ích kỷ riêng mình để ăn trên ngồi trốc, vinh thân phì gia làm méo mó nhân cách giới trẻ, biến dạng nhân cách dân tộc rồi đổ thừa, đổ trút mọi tệ nạn lên đầu nhân dân. Nhiều kẻ không có liêm sĩ khi đến tuổi phải về hưu còn ngoan cố vơ vét cú chót bòn rút ngân khố quốc gia mà họ đã tham gia phá tan nát, èo ọp bằng những chuyến du hí dưới cái mác là đi học xổ số, chống ngập, có người du hí tận châu Phi xa xôi hẻo lánh không biết để làm gì? Có ai còn nhớ nổi cái tên Hiển cựu Bộ trưởng bộ giáo dục xưa kia đã về hưu còn vơ tiếp ít ngàn USD để đi nước ngoài học ngoại ngữ. Tệ vậy mà sao ngồi được ghế bộ trưởng? Sao trẻ không học, già rồi học ngoại ngữ để làm gì nữa ? Sao không bỏ tiền túi ra học mà lấy ngân sách nhà nước, tiêu chuẩn gì? Ông Nghiên cựu chủ tịch Hà Nội vi vu chiếc xe hơi đáng giá bằng 4.000 con trâu cày mà nông dân còn thiếu, đã vậy về hưu còn không chịu trả lại nhà công vụ v.v.. Bẩn tính vậy thì đạo đức cách mạng gì ? Sao ổng không nhìn hàng chục ngàn gia đình liệt sĩ , cả trăm ngàn thương,bệnh binh có mấy người được nhà nước cấp nhà, chỉ là “nhà tình thương” vài chục triệu tiền đồng Việt Nam thôi chứ không mơ căn nhà công vụ có giá vài trăm ngàn đến cả triệu USD..

Nguyễn Tiến Dân 13-12-2016 Thưa các ông/bà Đại biểu Quốc hội Khóa XIV nước CHXHCN Việt nam…
ANHBASAM.WORDPRESS.COM

Nổ lớn tại Công an tỉnh Đắk Lắk, 2 người chết – NLĐ

13 Th12

NLĐO) Một vụ nổ lớn vừa xảy ra tại Công an tỉnh Đắk Lắk. Một nguồn tin tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk cho hay đã có 2 người chết và 2 người bị thương trong vụ nổ này.

Thông tin ban đầu cho biết vụ nổ lớn xảy ra vào khoảng 20 giờ 50 phút đêm nay (12-12) tại một toà nhà thuộc Công an tỉnh Đắk Lắk (đường Nguyễn Tất Thành, TP Buôn Ma Thuột).


Một nhà dân bị sập cửa, nền nhà bị vỡ trong vụ nổ

Một nhà dân bị sập cửa, nền nhà bị vỡ trong vụ nổ

Theo một số người dân sống gần hiện trường, vụ nổ phát ra từ toà nhà chứa tang vật vi phạm. Vụ nổ có sức công phá lớn đến mức nhiều nhà người dân ở quanh khu vực cũng bị sập một phần. Nhiều cửa kính, bóng đèn nhà dân lân cận bị hư hỏng.


Một bức tường nhà dân gần đó bị vỡ vụn

Một bức tường nhà dân gần đó bị vỡ vụn

Lúc 21 giờ 30 phút, có mặt tại hiện trường, phóng viên chứng kiến một khung cảnh hoảng loạn. Nhiều bức tường của toà nhà bị sập hết tường. Vẫn còn nhiều tiếng la khóc. Lúc này lực lượng cứu hộ vẫn đang tích cực tìm kiếm nạn nhân trong đống đổ nát. Một người được đưa ra từ đống đổ nát nghi đã chết. Những người có mặt tại hiện trường cho biết nạn nhân này bị hất văng hàng chục mét trong vụ nổ. Không khí quanh khu vực có mùi như mùi thuốc nổ


Một bức tường nhà dân gần đó bị sập

Một bức tường nhà dân gần đó bị sập

Phóng viên Cao Nguyên của Báo Người Lao Động đang có mặt tại hiện trường vụ nổ sẽ tiếp tục cập nhật thông tin đến bạn đọc.

Lúc 22 giờ 10 phút: Ghi nhận của phóng viên một xe quân sự cùng lực lượng công binh đã đến hiện trường.

Tại dãy nhà dân phía sau tòa nhà nghi vụ nổ được phát ra (thuộc nhánh 25 đường Trần Hưng Đạo), gạch, đá, gỗ văng xa hàng chục mét, làm đứt các dây cáp viễn thông.

Tại dãy phòng trọ số 25/15 đường Trần Hưng Đạo bị sập hết toàn bộ trần nhựa do rung chuyển của vụ nổ này.

Theo những người dân gần đó, khác với những tiếng nổ họ từng biết đến, tiếng nổ lớn trong vụ này kéo dài trong khoảng 10 giây.


Một nhà dân bị nứt tường, sập trần

Một nhà dân bị nứt tường, sập trần

Theo quan sát của phóng viên, Công an đã cử lực lượng đến từng nhà dân gần đó để kiểm tra tình hình trước mắt.

Hiện phóng viên Cao Nguyên (Báo Người Lao Động) đã bị một người mặc thường phục thu máy ảnh.

Phóng viên Cao Nguyên sẽ tiếp tục cập nhật thông tin đến bạn đọc.

22 giờ 58 phút: Một nguồn tin tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk cho hay đã có 2 người chết và 2 người bị thương trong vụ nổ này. Trong số 2 người bị thương, có một người bị thương rất nặng do chấn thương sọ não. Phần lớn trong số này là chiến sĩ công an.

Một nguồn tin khác cho hay vụ nổ xảy ra ở kho chứa hóa chất khám nghiệm của Công an tỉnh Đắk Lắk, chứ không phải ở kho chứa tang vật vi phạm như nhiều người dân nghĩ.

Hiện Công an tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức cuộc họp khẩn để tìm ra nguyên nhân vụ nổ.

Người Lao Động online sẽ tiếp tục cập nhật thông tin vụ nổ đến bạn đọc.

23 giờ 30 phút: Trao đổi nhanh với phóng viên Báo Người Lao Động, Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc Công an tỉnh Đắk Lắk, xác định vụ nổ xảy ra tại phòng tạm lưu giữ vật chứng trong khuôn viên của Công an tỉnh Đắk Lắk.

23 giờ 50 phút: Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi cho biết các lực lượng vẫn đang cứu hộ, cứu nạn tại hiện trường

Cao Nguyên

 

KHÔNG THỂ LÀ EMAIL CUỐI CÙNG

10 Th12

 

KHÔNG THỂ LÀ EMAIL CUỐI CÙNG

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Ở Hà Nội tôi có hai người anh thân yêu: anh Phạm Quế Dương và anh Nguyễn Thanh Giang. Anh Phạm Quế Dương là một nhân cách văn hóa mặc áo lính. Trước khi nghỉ hưu anh là Tổng biên tập tạp chí Lịch sử Quân sự. Anh Nguyễn Thanh Giang là nhà khoa học địa chất và là một nhà tư tưởng, nhà lí luận chính trị sắc sảo.

Những năm 80 thế kỉ trước, nhà anh Phạm Quế Dương và nơi tôi làm việc cùng trên phố nhà binh Lý Nam Đế và chỉ cách nhau vài khối nhà. Ngày đó, anh Phạm Quế Dương thường xuyên tìm đến tôi để đưa tận tay tôi những bản photo những bài viết chọc thủng sự tuyên truyền dối trá cộng sản và sự bưng bít sự thật. Loại bài đó ngày nay dễ dàng tìm thấy trên những trang web Basam, Boxitvn, Danlambao, Danchimviet . . . nhưng ngày đó internet còn quá hiếm hoi, những trang báo mạng chưa có và những bài viết như vậy cũng vô cùng hiếm.

Những năm 80 thế kỉ trước, anh Phạm Quế Dương đã mang đến cho tôi ánh sáng dân chủ xé toang bóng tối độc tài như những năm 30 những người cộng sản mang đốm lửa cách mạng vô sản đến với những người nông dân đói khổ. Chỉ khác là ngày nay trong tăm tối độc tài, chúng tôi khao khát tự do dân chủ và anh Phạm Quế Dương đã mang đến ánh sáng dân chủ còn những nông dân đói khổ hơn nửa thế kỉ trước chỉ có khao khát tột cùng là cơm áo thì những người cộng sản chỉ mang đến cái bánh vẽ “người cày có ruộng” và mang đến cái có thật là hận thù và máu lửa đấu tranh giai cấp rồi đẩy những người nông dân đói khổ thiếu học, thiếu hiểu biết vào cuộc thanh toán giai cấp vô nghĩa, mất tính người nhưng đẫm máu và kéo dài triền miên không có điểm dừng.

Qua anh Phạm Quế Dương tôi biết anh Nguyễn Thanh Giang và mhững bài viết đầu tiên của tôi về dân chủ đều do anh Nguyễn Thanh Giang đặt hàng viết cho tập san Tổ Quốc. Năm 2007, ra Hà Nội để tham gia đoàn nhà văn Việt Nam sang hội thảo văn chương ở Konkata, Ấn Độ, tôi đến thăm anh Giang liền được anh Giang đặt tôi viết bài về chuyến đi này.

Từ Ấn Độ về, tôi gửi email ngay cho anh Nguyễn Thanh Giang bài viết Nghĩ Suy Từ Ấn Độ. Cũng bị mất độc lập bởi sự xâm lược của nước Anh, đất nước Ấn Độ lại bị chia rẽ sâu săc bởi tôn giáo và đẳng cấp xã hội, nhưng với tư tưởng bất bạo động, chọn con đường đấu tranh chính trị và đấu tranh nghị trường, Mahatma Gandhi đã giành được độc lập thực sự cho Ấn Độ từ năm 1947. Độc lập thực sự và bền vững đến hôm nay đã đưa Ấn Độ trở thành cường quốc nguyên tử.

Cùng hoàn cảnh lịch sử đó, những người cộng sản Việt Nam chọn con đường bạo lực đã đẩy đất nước Việt Nam vào những cuộc chiến tranh đẫm máu, triền miên suốt ba mươi năm. Gần chục triệu người Việt bị nướng trong lò lửa chiến tranh đó. Cả dãy Trường Sơn hùng vĩ bị đốt cháy và băm nát để chỉ giành được nền độc lập hình thức, mong manh và bị trói buộc vào hệ tư tưởng cộng sản khát máu, không bị trói buộc vào nước Nga Xô viết cũng bị trói buộc vào nước Tàu Cộng Đại Hán. Tôn sùng bạo lực. Nhà nước thành độc tài. Người dân thành nô lệ. Người trung thực thành thù địch. Xã hội tối tăm và tụt lại sau ngày càng xa với thời đại.

So sánh nền độc lập của Ấn Độ và Việt Nam, Nghĩ Suy Từ Ấn Độ đi đến cái kết: Điều nguy hại hơn cả là suốt hơn nửa thế kỉ giành và giữ chính quyền bằng bạo lực cách mạng vô sản, nhà nước cộng sản Việt Nam đã coi chính quyền tồn tại bằng bạo lực như một lẽ đương nhiên, như là điều bình thường. Một xã hội dân sự yên hàn nhưng chính quyền vẫn chuyên chính với dân, vẫn dùng bạo lực trả lời những ý kiến khác biệt thì không thể bình thường. Xài bạo lực quá lâu đã trở thành nghiện, khi ấy bạo lực đã trở thành ma túy của nhà cầm quyền! Quá nghiền, quá ỷ vào bạo lực, làm sao có thể nói đến dân chủ! Đó là một hệ lụy đau đớn do con đường bạo lực cách mạng vô sản mà những người cộng sản Việt Nam rước về cho đân tộc Việt Nam khốn khổ.

Anh Giang email cho tôi khen bài viết và anh cho biết bài viết được nhiều người đọc. Từ ngày đó, email không chỉ là đường dây thông tin mà còn là đường dây tình cảm của anh Giang và tôi. Anh Giang và tôi có bài viết mới đều gửi email cho nhau.

Tối 23.11.2016, tôi gửi cho anh Giang bài viết về ông thầy ở trường đại học Viết Văn Nguyễn Du của tôi. Một ông thầy dạy ngữ văn ở nhiều trường đại học mà khi nghe ông tỉnh ủy viên, trưởng ban tuyên huấn tỉnh ủy than rằng làm tuyên huấn của tỉnh nhưng ông phải chịu thiệt thòi chưa được học lí luận bài bản ở trường đảng Nguyễn Ái Quốc thì ông thầy văn chương liền bất ngờ bật ra câu nói như đã nung nấu từ lâu: Anh không được đi học là may. Học cái sai thì càng học càng ngu. Đất nước mình khốn khổ như hiện nay là vì cái ngu đó.

Gửi bài cho anh Giang tối hôm trước ngay hôm sau, 24.11.2016, tôi nhận được email trả lời của anh Giang

Anh Trọng ơi
Nhận được thư này rất mừng. Đang định gọi điện thoại kiểm tra sức khỏe của anh xem thế nào mà đã vài tuần nay không thấy bài của anh
Anh vẫn khỏe. Thế là mừng rồi
NTG

Nhớ lời anh Giang hẹn, khi nào tôi ra Hà Nội, tôi và anh sẽ tổ chức chuyến đi chơi đâu đó, rất cần gặp anh Giang ở skype để bàn về chuyến đi, tôi liền reply thư anh Giang: Lúc nào có thể được, anh cho em gặp anh ở skype, có việc em muốn nói với anh.

Mọi lần, thư của tôi đều được anh Giang trả lời tức thì. Lần này, ba ngày sau vẫn không có thư trả lời, tôi liền phôn và nhắn tin điện thoại cho anh. Chuông điện thoại đổ dồn mà không có người nhận cuộc gọi. Tin nhắn không hồi âm. Tôi đang nghĩ đến những tình huống bất thường có thể xảy ra thì tối 4.12.2016, nhận được email của anh Lê Anh Hùng:

THÔNG BÁO
TS Nguyễn Thanh Giang, một nhà đấu tranh dân chủ kỳ cựu, thành viên Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, đã bị tai biến mạch máu não từ 10 hôm nay. Hiện ông đang nằm điều trị tại phòng 208, khoa Thần kinh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô (Số 1 Trần Khánh Dư, Hai Bà Trưng, Hà Nội).
Mặc dù năm nay đã 80 tuổi, nhưng ông vẫn luôn đau đáu dõi theo tình hình đất nước, vẫn đều đặn đăng các bài viết chính luận trên các trang mạng trong và ngoài nước, vẫn thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ những người bất đồng chính kiến, những anh em đấu tranh dân chủ trẻ tuổi cũng như bà con dân oan.
Xin thông báo để các thành viên trong Hội được biết. Mong mọi người quan tâm, chia sẻ và cùng cầu nguyện cho ông.

Ý định có từ trước về chuyến đi Hà Nội của tôi liền được thực hiện ngay. Ra Hà Nội tối hôm trước, sáng hôm sau tôi đón xe bus đến bệnh viện Hữu Nghị, vào phòng 208 khoa thần kinh thăm anh Giang thì người cùng phòng nói ông Giang đã chuyển viện về Thái Hà từ chiều hôm trước. Đón xe bus trở về và sau nhiều cuộc điện thoại tôi mới biết nơi người bệnh Nguyễn Thanh Giang chuyển đến là bệnh viện châm cứu trung ương đường Thái Thịnh, quận Đống Đa.

Tôi đến bệnh viện châm cứu. Anh Giang đang ngồi trên xe lăn hướng ra cửa phòng nhưng khi tôi đến trước anh, nét mặt anh vẫn vô cảm. Đứa cháu ngoại và người giúp việc đỡ anh lên giường. Mắt anh hé mở khi tôi cúi xuống sát anh. Dường như lúc này anh mới nhận ra tôi, anh nấc lên, mắt đỏ hoe rưng rưng.

Ngồi lặng bên anh, tôi lại nhớ đến cái email anh lo cho sức khỏe tôi. Nhẩm tính thời gian, tôi biết rằng anh gửi email đó vào buổi sáng thì chỉ hai, ba giờ sau cơn xuất huyết não ập đến anh trong giấc ngủ trưa. Anh Giang ơi, cái email anh gửi cho em sáng 24.11.2016 lại là cái email cuối cùng giữa em và anh ư? Không. Anh phải khỏe lại để những email mong chờ giữa em và anh còn tiếp tục mãi.

Chút riêng tư. Ở trên tôi phải nhắc đến chuyến xe bus đưa tôi đến và đi từ bệnh viện Hữu Nghị vì trên chuyến xe đó tôi trở thành nạn nhân của thời đại rực rỡ mà ông Nguyễn Phú Trọng hãnh diện ca ngợi như là thành quả rực rỡ do đảng của ông tạo ra, thời đại tham nhũng, trộm cắp, cướp của giết người ngang nhiên hoành hành. Trên chuyến xe bus đi từ đầu phố Trần Hưng Đạo về phía Nam Hà Nôi tôi bị những người hùng của thời đại rực rỡ móc túi lấy hết giấy tùy thân và tiền bạc. Tiền mất thôi quên đi cho nhẹ lòng. Chỉ mong được nhận lại những giấy tờ cần thiết, vì sẽ rất mệt mỏi khi phải đi làm lại những giấy tờ đó.

 

Phi hành gia Mỹ đầu tiên bay trên quỹ đạo trái đất từ trần – VOA

9 Th12

09.12.2016

Ông John Glenn trở thành phi hành gia Mỹ đầu tiên bay trên quỹ đạo trái đất với phi thuyền Friendship 7.

Ông John Glenn trở thành phi hành gia Mỹ đầu tiên bay trên quỹ đạo trái đất với phi thuyền Friendship 7.

 

Các giới chức Mỹ cho biết John Glenn, phi hành gia Mỹ đầu tiên bay trên quỹ đạo trái đất từ trần thọ 95 tuổi.

Ông Glenn qua đời ngày thứ Năm 8 tháng 12, 2016, hơn một tuần lễ sau khi vào bệnh viện Ung thư James, Trường đại học tiểu bang Ohio OSU. Trường đại học về Các vấn đề Công cộng thuộc OSU loan tin này.

Tổng thống Barack Obama đưa ra một tuyên bố nói rằng với sự qua đời của ông Glenn “đất nước chúng ta mất một thần tượng và Michelle và tôi mất một người bạn.” Tổng thống Obama ca ngợi ông Glenn đã phá vỡ những rào cản, trong đó có việc tạo ra một kỷ lục về tốc độ xuyên lục địa và trở thành người già nhất bay vào không gian.

Tổng thống tân cử Donald Trump phản ứng về việc ông Glenn từ trần qua Twitter “Hôm nay chúng ta mất ông John Glenn, một nhà thám hiểm hàng không và không gian vĩ đại. Ông là một anh hùng và là nguồn cảm hứng của những thế hệ các nhà thám hiểm trong tương lai. Ông sẽ được mọi người nhớ mãi.”

Ông Glenn là người sống sót cuối cùng của một nhóm được gọi là “Mercury 7”-là nhóm 7 phi công quân sự thử nghiệm được chọn vào năm 1959 để trở thành những phi hành gia đầu tiên của nước Mỹ.

Trong một tuyên bố tổng thống Obama nói “Phi hành gia cuối cùng trong số những phi hành gia đầu tiên của nước Mỹ đã rời bỏ chúng ta, nhưng được thúc đẩy vì tấm gương của họ, chúng ta biết rằng tương lai chúng ta trên trái đất buộc chúng ta tiếp tục vươn tới những tầng trời cao.”

Sau khi phục vụ trong tư cách là một phi công quân sự trong Thế Chiến Thứ Hai và trong cuộc chiến Triều Tiên, ông Glenn trở thành phi công thử nghiệm trên những máy bay phản lực chiến đấu của Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ và chiếm được một chỗ trong lớp học đầu tiên các phi hành gia Mỹ được Cơ quan Quản trị Hàng không và Không gian Mỹ, gọi tắt là NASA tổ chức, vào năm 1958.

Ông Glenn trở thành phi hành gia Mỹ đầu tiên bay trên quỹ đạo trái đất với phi thuyền Friendship 7. Phi thuyền này bay vòng quanh trái đất 3 lần trong gần 5 giờ bay vào ngày 20 tháng 2 năm 1962.

Trong chuyến bay này, ông Glenn nói với các kỹ sư ở mặt đất về một giai đoạn ông cảm thấy “Vô trọng lực và vẫn khỏe.” Ý ông Glenn muốn nói là ông đã thực hiện được tình trạng vô trọng lực trong không gian.

Ông Glenn cũng có những khát vọng chính trị. Là một đảng viên Dân chủ lâu đời, ông tranh cử Thượng nghị sĩ tiểu bang Ohio vào năm 1964 nhưng thất bại. Mười năm sau đó ông đắc cử vào thượng viện Mỹ. Ông bảo vệ những chỉ trích về thành tích quân sự của ông trong những nhận xét sau đó được biết đến với tên bài diễn văn “Những Bà mẹ Ngôi sao Vàng”.

Trong những cuộc bầu cử sơ bộ vào năm 1974, đối thủ Howard Metzenbaum, cáo buộc ông Glenn, một sĩ quan chuyên nghiệp, là không bao giờ giữ một công việc thực sự. Ông Glenn trả lời “Bạn đi với tôi đến bất cứ bà mẹ Ngôi sao Vàng nào (là bà mẹ có con trai tử trận) và nhìn vào mắt bà và nói với bà là con của bà không có việc làm.”

Ông Glenn thắng trong cuộc bầu cử này và trở thành một Thượng nghị sĩ cho đến năm 1999. Trong những tháng trước khi qua đời, ông Glenn là một cựu nghị sĩ sống lâu nhất.

Ông Glenn bay vào không gian lần cuối cùng vào năm 1998 ở tuổi 77. Một số người chỉ trích việc ông tham dự chuyến bay 9 ngày của phi thuyền con thoi Discovery là điên rồ. Tuy nhiên những người ủng hộ nói những số liệu về tình trạng thể chất của ông Glenn trong chuyến bay có thể so sánh với số liệu của ông cách đây hơn 3 thập niên. Những dữ liệu này là những tài liệu quí giá cho thấy những chuyến bay không gian ảnh hưởng đến cơ thể con người ở những độ tuổi khác nhau như thế nào.

Sau khi rời thượng viện vào năm 1999, ông Glenn giúp thành lập một trường về dịch vụ công cộng tại trường đại học tiểu bang Ohio, sau này trở thành Trường đại học về các Vấn đề Công cộng John Gleen. Ông giảng dạy tại đây trong tư cách là một giáo sư phụ tá.

Ông Glenn nhận được nhiều tước vị và giải thưởng, trong đó có những bằng danh dự tại một số trường đại học, Giải thưởng Woodrow Wilson về Công vụ, giải thưởng phục vụ công cộng của Thượng viện Mỹ, và Huy chương Tự do của Tổng thống Hoa Kỳ.

 

%d bloggers like this: