Lưu trữ | 10:56 Chiều

HỒI ÂM CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN NGỌC HƯNG VỀ CHUYỆN “ĐẠO THƠ?” – nguyentrongtao

6 Th4

HỒI ÂM CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN NGỌC HƯNG VỀ CHUYỆN “ĐẠO THƠ?”

NTT: Nhà thơ Mai Bá Ấn, như anh nói trong Mail gửi cho tôi, là “người đã bảo bọc, giúp đỡ, làm chỗ tựa cho Nguyễn Ngọc Hưng trong suốt cuộc đời bệnh tật và cuộc thơ vượt lên bệnh tật. Em rất hiểu Hưng và tin ở Hưng.

Chuyện bài của Đặng Khánh Cường về chuyện “đạo thơ” này đã được giải quyết trước đây và nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh cũng đã được Nguyễn Ngọc Hưng  trao đổi rất kỹ. Không ngờ bây giờ lại trở lại chuyện này khiến người bạn đau khổ của em lại thêm một lần đau khổ.

Sự trùng hợp giữa hai bài thơ là có, như ta đã biết, nhưng mức độ như thế nào thì ta thử đọc kỹ lại xem…

E gửi anh toàn bộ những bài đã bàn về chuyện này trước đây, cùng những chia sẻ của bạn thơ để anh nắm rõ hơn sự việc. Và tha thiết mong anh, với uy tín của mình có những lời biện minh, làm rõ để cứu người bạn thơ đau khổ của em”.

Trước đây tôi chưa được đọc những bài đã in dưới đây, nhưng sau khi đọc, tôi thấy có thể ĐKC đã trích dẫn sai, hoặc “lỗi đánh máy” của báo VN? Tuy vậy tôi vẫn thấy 2 bài thơ của 2 tác giả sao lại có nhiều từ, cụm từ, ý, tứ giống nhau đến thế. Theo tôi, đây là việc mà NNH và cả những người sáng tác cần rút kinh nghiệm.

 

 

THƯ NGỎ GỬI BAN BIÊN TẬP BÁO VĂN NGHỆ

Quảng ngãi, ngày 19/02/2009

Kính  gửi: Ban biên tập Báo Văn Nghệ

Tôi là Nguyễn Ngọc Hưng, tác giả bài thơ “Hoài khúc tháng ba” và cũng là đối tượng được ông Đặng Khánh Cường phê phán quyết liệt trên báo Văn Nghệ số 7 ngày 14/2/2009 qua bài báo “Một bài thơ tiếng Việt được dịch từ một bài thơ tiếng Việt”.

Hôm nay tôi viết lá thư này gửi đến Ban biên tập để bày tỏ một số nội dung sau:

  1. Tôi rất cảm ơn ông Đặng Khánh Cường đã phát hiện ra điểm giống nhau giữa bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của tôi. Tối 13/2/2009, đêm trước khi báo ra, ông Đặng Khánh Cường có gọi điện thông báo cho tôi về bài phê bình của ông nhưng tôi không tin lắm vào sự “quá giống nhau” (như ông nói). Dù vậy, đêm đó tôi đã cố tìm trong trí nhớ là đã đọc bài thơ “khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh ở đâu chưa (với hoàn cảnh của tôi- bị bại liệt toàn thân- thì nguồn thông tin duy nhât là từ sách và báo chí). Suốt đêm ấy, tôi không ngủ được và cũng không tìm ra. Nhưng cũng không tin vào trí nhớ của mình, tôi và chị bạn tôi tiếp tục xới tung những chồng sách báo trong tủ sách gia đình mà vẫn không hề có thông tin gì về bài thơ trên hay tập thơ “Miền hoa dại”- nơi có đăng bài thơ. Tôi tin chắc rằng “sự quá giống nhau”, nếu có, thì chỉ là một sự tình cờ mà chính tôi cũng không lường trước được.
  1. 2.      Mãi đến tối ngày 18/2/2009 khi có bài báo trong tay (nhờ một người bạn ở Hà Nội gửi vào), lần đầu tiên tôi mới được đọc tác phẩm “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh được trích dẫn trong bài viết của ông Đặng Khánh Cường. Chính tôi cũng bàng hoàng vì sự giống nhau của hai bài thơ, đặc biệt là khổ thơ cuối hoàn toàn trùng khít. Để tìm hiểu sự thật, tôi đã nhờ người cháu tìm hộ bản gốc bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, và đây là bài thơ được lấy từ địa chỉ http:/VOVNEW.VN

 

KHÚC HÁT THÁNG BA

Đào đã tàn từ lâu Mà sen thì chưa tới Ngoài khung cửa Một khoảng trời chới với Tháng ba

Bông lựu đơn nở vội trước hiên nhà Một chấm đỏ như lời yêu vừa chín Ai đan áo Nàng Bân Cho mùa đông bịn rịn Chỉ một chút thôi Đủ để rét ngọt ngào

Mẹ ta ngồi vo gạo cầu ao Tiếng vỗ rá nghe sao mà thân thuộc Ta thương quá tháng ba ngày trước Củ khoai gầy lát sắn mỏng thay cơm

Em ta giờ áo mặc đẹp hơn Mắt lóng lánh nét cười rạng rỡ Em không phải như ta xưa chăn trâu cắt cỏ Chân lấm bùn đầu đội nắng trưa

Mẹ mừng thừa gạo trắng tháng ba Lúa con gái đang thì thơm ngậy đất Mẹ làm bánh trôi Mẹ làm bánh khúc Kính cẩn dâng trời đất tổ tiên

Những cũ càng không thể gọi tên Đã nuôi lớn bao cánh buồm trai trẻ Dù đi muôn phương Ta vẫn muốn được như ngày thơ bé Trở về nhà bên mẹ Sà vào khói bếp tháng Ba.

22/3/2008

Và đây là bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của tôi được in trong tập thơ “Những khúc ca trên cỏ”- NXB Hội nhà văn ấn hành quý 4/2008 (lưu ý: ông Đặng Khánh Cường đã lấy bài thơ của tôi trên Tạp chí Thơ số 2 năm 2009 nhưng tôi chưa có tạp chí này để trích dẫn).

HOÀI KHÚC THÁNG BA

Đào lụi lâu rồi sen chưa tới Một mình một ô cửa tháng ba Thiết tha vừa chín hay nở vội Lựu hoe mắt đỏ trước hiên nhà

Lỡ giấc mùa đan chưa kịp áo Vào giêng hai nắng đã ấm rần Có phải thương người cam phận đắng Đất trời cho rét ngọt Nàng Bân

Giấu nỗi gì tháng ba văn vắt Như thể ao chờ bóng mẹ ta Mỗi lần vo gạo người soi mặt Khoe với rong rêu chút ngọc ngà

Bìu ríu đi qua ngày giáp hạt Tóp teo lát sắn mỏng khoai gầy Thương quá những tháng ba ngày trước Cơm thường cõng củ, cá-rô-cây!

May được tháng ba thừa gạo trắng Dậy thì mơn mởn lúa đồng xanh Bánh trôi bánh khúc dâng trời đất Người kính tổ tiên đặng phước lành

Không còn phải chăn trâu cắt cỏ Thì thụp lội bùn đội nắng trưa Được phút thảnh thơi ngồi độc ẩm Lại ngậm ngùi thương tháng ba xưa

Những muốn chạy ngay về với mẹ Mẹ không còn nữa tháng ba ơi Thanh minh lặng lẽ lên đồi vắng Rưng rưng hương khói trắng mây trời.

22/3/2008

Qua đối chiếu hai bài thơ, tôi nhận thấy rằng khổ thơ cuối (in nghiêng đậm) trong bài thơ của tôi đã được ông Đặng Khánh Cường đưa vào bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh. Ngoài ra, bài viết đã không đầy đủ, cắt rời và nhiều sai sót đối với những hình ảnh trong bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của tôi nên có thể đã dẫn tới sự hiểu lầm không đáng có ở người đọc.

Dù sao tôi cũng đồng ý với ông Đặng Khánh Cường về sự giống nhau giữa hai bài thơ ở nhiều hình ảnh mà chính tôi cũng hết sức ngạc nhiên về sự giống nhau này. Tuy nhiên, những hình ảnh về tháng ba, về mẹ, về một thời gian khó… được sử dụng trong hai bài thơ đều có tính phổ biến và không một người đọc, không một nhà thơ nào không liên tưởng đến. Nếu bình tĩnh và công tâm mà nhìn nhận thì tâm thế, tình cảm và cái hướng đến của mỗi bài mỗi khác. Tôi không có ý định bào chữa cho mình vì dù sao tôi cũng là người có lỗi – lỗi của một người đã viết về cùng một đề tài nhưng đã không đọc được các tác phẩm trước đó của người khác để tránh sự trùng lặp, dẫn tới sự giống nhau (về vỏ ngoài của ngôn ngữ) đáng tiếc như trên.

Gửi đến Ban biên tập lá thư này là tôi mong muốn được nói lại cho rõ hơn và tha thiết mong tìm sự thấu hiểu, thông cảm từ Ban biên tập, nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và tất cả những người đọc thơ tôi. Có lẽ nào một người đã gần 30 năm cố “vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán) như tôi lại đi “dịch thơ” người khác, gửi đăng ở Tạp chí Thơ, Báo Văn Nghệ, in thành tập gửi Hội đồng Thơ,… Làm thế có khác nào tự sát, trong khi thơ với tôi đã trở thành cây gậy chống, cây cầu nối với thế giới rộng lớn bên ngoài và thơ cũng chính là bản mệnh của tôi. Tôi không biết đến bao giờ mới hết bàng hoàng khi nghĩ đến cái án “dịch thơ” mà tôi đang phải gánh chịu.

Tôi xin chân thành cám ơn Ban biên tập và tất cả bạn đọc đã lắng nghe!

Nguyễn Ngọc Hưng

ĐT: 055.3861.312  Đội 10, thị trấn Chợ Chùa, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.

Bài đã đăng trên Báo Văn Nghệ số 11 (ngày 14/3/2009)

.

MỘT LÁ THƯ NGỎ CẢM  ĐỘNG

Nguyễn Trường Lưu

Tuần báo Văn Nghệ số 11 (ngày 14/02/2009) trang 22 đăng bài “Thư ngỏ gửi Ban biên tập Báo Văn Nghệ” tác giả Nguyễn Ngọc Hưng cũng là tác giả bài thơ “Hoài khúc tháng ba”. Bài thơ được tác giả Đặng Khánh Cường cho là “dịch thơ” ở Báo Văn Nghệ số 7 ra ngày 14/02/2009. Đọc thư ngỏ tóat lên một sự chân thành cảm động với hoàn cảnh sống của Nguyễn Ngọc Hưng (như một Đỗ Trọng Khơi thứ hai). Nguyễn Ngọc Hưng bị bại liệt sống quanh quẩn trong căn nhà nhỏ hẹp của mình (như nội dung thư ngỏ), yêu văn chương chắc chắn cuộc sống tinh thần của anh phải lấy trang văn câu thơ mà nương tựa. Cũng đúng như Nguyễn Ngọc Hưng tự bạch: “Có lẽ nào một người đã gần 30 năm cố “vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán) lại đi dịch thơ của người khác”. “Hoài khúc tháng ba” được gửi đi và được sử dụng ở những trung tâm văn hóa của cả nước…

Là một người yêu thơ, tôi tin vào lý lẽ của Nguyễn Ngọc Hưng. Sau  khi cám ơn về sự phát hiện giống nhau giữa hai bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh và “Hoài khúc tháng ba” của mình, Nguyễn ngọc hưng chỉ không đồng ý với việc tác giả Đặng Khánh Cường đem khổ thơ cuối của mình gắn vào làm khổ thơ cuối của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh. Sự khẳng định của Nguyễn Ngọc Hưng được minhh chứng trên trang báo Văn Nghệ số 7 (ngày 14/02/2009).

Đạo văn, đạo thơ là một việc làm xấu. Vi phạm pháp luật. Những người yêu văn chương đích thực không ai làm như vậy. Và tất nhiên mọi phát hiện đều rất cần thiết, đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, trong bài viết của tác giả Đặng Khánh Cường chúng tôi thấy chưa được thỏa đáng. Giá như Đặng Khánh Cường đăng tải nguyên tác cả hai bài thơ, sau đó phân tích để chỉ ra… để người đọc chúng tôi, qua sự cảm nhận và qua thẩm định riêng của mình sẽ nhìn ra, minh bạch hơn. Phê bình quyết liệt một hiện tượng đạo thơ mà lại đi mang khổ thơ của người này gắn vào khổ thơ của người kia quả là… Chắc Đặng Khánh Cường phải là họa sĩ… đa tài!

Sau bài viết của tác giả Đặng Khánh Cường và thư ngỏ của Nguyễn ngọc Hưng, độc giả của Hà Nội xôn xao bàn luận. Người cho thế này, người cho không phải thế!

Và thật may chúng tôi đã tìm được tập thơ “Những khúc ca trên cỏ” của Nguyễn Ngọc Hưng do Hội Văn Nghệ Quảng Ngãi và Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản năm 2008. Trong tập thơ này có bài thơ “Hoài khúc tháng ba”, viết theo thể thơ 7 chữ chia thành 7 khổ thơ, được viết ngày 22/03/2008. Phải thừa nhận “Hoài khúc tháng ba” là bài thơ dồi dào cảm xúc. Thơ xoắn, chụm từ đầu cho đến cuối- thơ dài mà đọc không thấy mệt. Đọc “Hoài khúc tháng ba” của Nguyễn Ngọc Hưng mà như thấy có cả tháng ba của chính mình.

Chúng tôi đem so sánh và thẩm định theo tạng riêng của mình thì thấy một số điểm như sau: Bài thơ “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh có 4 khổ thơ (theo bài viết của Đặng Khánh Cường). Riêng khổ thơ kết nếu bỏ 4 câu mà tác giả Đặng Khánh Cường lấy của Nguyễn Ngọc Hưng ghép vào thì khổ cuối cũng chỉ có 4 câu: “Em ta giờ áo mặc đẹp hơ/ mắt lóng lánh nét cười rạng rỡ/ em không phải như ta xưa chăn trâu cắt cỏ/ chân lấm bùn đầu đội nắng trưa”(?). So giữa hai bài thơ có khổ thơ 1 gần giống nhau nhưng tứ của khổ thơ này hoàn toàn khác. Thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh: “Đào đã tàn từ lâu/ mà sen chưa tới/ ngoài khung cửa/ một khoảng trời chới với/ tháng ba” – thơ của Nguyễn Ngọc Hưng: “Đào lụi lâu rồi sen chưa tới/ Một mình một ô cửa tháng ba/ Thiết tha vừa chín hay nở vội/ Lựu hoe mắt đỏ trước hiên nhà”. Thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh dùng hình tượng để cho ta một tháng ba. Còn Nguyễn Ngọc Hưng ngoài những hình tượng về tháng ba còn có một tầng ngữ nghĩa sâu xa về sự cô đơn, về thân phận, về sự nuối tiếc… Khổ thơ này nếu ai biết hoàn cảnh riêng của Nguyễn Ngọc Hưng hẳn sẽ không nghi ngờ, đúng là thơ viết tự trái tim. Xưa nay người làm thơ phải lấy cảm xúc từ chính thân phận mình, rồi hư cấu, làm cho ảo đi để thành thơ.

Từ khổ thơ mở của hai bài thơ ta đi hết toàn bài và nhất là khi đọc hai bài theo thứ tự, chắc ai cũng nhận ra “Khúc hát tháng ba” cô đọng, gợi lên những nét chấm phá dành cho người đọc nhiều liên tưởng, nhịp thơ gập ghềnh nên nhạc điệu thăng giáng bất chợt.

Với “Hoài khúc tháng ba” những câu thơ mang hình tượng thấm sâu vào ngõ ngách tâm hồn. Thơ không bắt người đọc phải suy ngẫm nhiều, nó đi thẳng đến trái tim gây nên những rưng rưng khó dứt. Nền thơ 7 chữ êm, sang trọng đầy hoài niệm, thơ bắt vần theo luật.

Thơ về tháng ba – tháng ba hoa gạo, rơm gầy… mùa sấm đói no, cùng chiếc cầu ao mẹ ta vo gạo, hoa lựu đỏ lập lòe…, tháng ba với những hình tượng quen thuộc ngàn xưa. Người làm thơ rất dễ bước gần nhau! Theo chúng tôi, những bài thơ có thể có những từ ngữ, hình ảnh nào đó giống nhau, như sự khác nhau là ở tứ thơ. “Hoài khúc tháng ba”“Khúc hát tháng ba” hoàn toàn khác nhau về tứ. Tác giả Đặng Khánh Cường cắt xén, lắp ghép ngôn từ giữa hai bài thơ rồi dùng nhưng giọng văn hài hước… như mỉa mai là một việc làm không thiện và rất vội vàng. Đó là chưa muốn nói anh hiểu về thơ chưa mấy!

Là người yêu thơ tôn thờ “Chân Thiện Mỹ” chúng tôi thấy cần có những ý kiến để mong rằng vườn văn học mãi sạch sẽ thơm tho. Từ Hà Nội xin cảm thông cùng nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, anh đã đứng dậy với số phận nghiệt ngã… tin rằng làn gió không thiện sẽ chỉ như những thử thách để anh vững vàng hơn trên con đường làm thi sĩ.

Hà Nội, ngày 14/04/2009

Nguyễn Trường Lưu

(An Đào, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. ĐT: 04. 3876.8408)

Bị chú:

Bài đã đăng trên Báo Văn Nghệ sau số đăng bài “Thư ngõ gửi Ban biên tập Báo Văn Nghệ” của Nguyễn Ngọc Hưng. Vì không có số báo ấy trong tay nên ai muốn biết chính xác thì liên lạc với tác giả Nguyễn Trường Lưu theo số ĐT trên.

VỀ SỰ THẬN TRỌNG KHI TRÍCH DẪN CỦA NGƯỜI PHÊ BÌNH VĂN HỌC                                                                                  

Nguyễn Huy Thông   

Tôi nghĩ rằng điều này là vô cùng cần thiết đối với những người làm công tác lý luận, phê bình văn học cũng như những người nghiên cứu khoa học xã hội nói chung. Bởi vì việc dẫn chứng, trích dẫn chính xác, trung thực, khách quan sẽ góp phần làm cho người viết có lập luận, phân tích, nhận định, kết luận vấn đề một cách công tâm, đúng đắn, tránh thiên lệch, quy chụp vội vàng và ngược lại. Chính vì vậy, tôi muốn góp vài ý kiến nhỏ về bài viết của tác giả Đặng Khánh Cường (ĐKC) đăng trên Báo Văn Nghệ số 7, ngày 14.02.2009 cho rằng bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của Nguyễn Ngọc Hưng (NNH) “đạo” bài thơ “Khúc hát tháng ba” của Nguyễn Thị Đạo Tĩnh (NTĐT).

A)    Về nguyên văn 2 bài thơ

Tác giả ĐKC viết: “Tôi xin được chép nguyên văn hai bài thơ để bạn

đọc cùng xem xét.

Bài “Khúc hát tháng ba” của nhà thơ Nguyễn Thị Đạo Tĩnh viết tháng 3-2003, in trong tập thơ “Miền hoa dại”, Nhà xuất bản Hội nhà văn- 2006”.

Nói như vậy nhưng không hiểu sao ĐKC chỉ giới thiệu bài thơ của NTĐT mà không giới thiệu bài thơ của NNH đã in trong Tạp chí Thơ số 2- 2009. Và ngay cả bài thơ của NTĐT được giới thiệu có 23 câu, đối chiếu với bài thơ của chị in trong tập “Miền hoa dại”, chúng tôi thấy chỉ có 19 câu đúng nguyên văn, còn 4 câu kết, kèm theo dòng chữ số “22-3-2008” không phải của NTĐT mà chính là đoạn kết trong bài “Hoài khúc tháng ba” của NNH. Ấy thế mà ở câu văn mà chúng tôi vừa dẫn, ĐKC cho biết bài thơ của NTĐT viết tháng 3-2003. Rõ ràng là ông tự mâu thuẫn với chính mình. Xin nói thêm là nếu ai đó chỉ xem bài thơ của NNH và bài thơ của NTĐT do ĐKC giới thiệu mà không xem nguyên văn chính xác bài thơ của chị thì dễ cho là NNH đã “đạo” 4 câu thơ cuối của NTĐT làm thơ của mình.

Ở đoạn sau của bài viết, ĐKC có dẫn thêm 4 câu thơ nữa của NTĐT (thực ra là 5 câu thơ, vì có một dòng gồm câu thơ khác nhau, đáng lẽ phải xuống dòng, nhưng ĐKC đã viết liền). Như vậy là nguyên văn bài thơ của NTĐT có 31 câu, nhưng mới được giới thiệu có 24 câu, còn thiếu 7 câu thơ, bao gồm một câu nằm giữa 5 câu thơ nói trên đã bị sót là “Mẹ làm bánh chay” và 6 câu thơ ở đoạn kết là:

Những cũ càngkhông thể gọi tên

            Đã nuôi lớn những cánh buồm trai trẻ

            Dù đi muôn phương

            Ta vẫn muốn được như ngày thơ bé

Trở về nhà bên mẹ

Sà vào khói bếp tháng ba

 

                                                Mỹ Lộc, 3-2003

 

            b) Về những câu thơ trong 2 bài thơ được trích dẫn

Chúng tôi không có ý bao che cho NNH, vì dù sao như anh đã tự nhận mình “là người có lỗi- lỗi của một người đã viết về cùng một đề tai nhưng đã không đọc được những tác phẩm trước đó của người khác để tánh sự trùng lặp, dẫn tới sự giống nhau (về vẻ bề ngoài của ngôn ngữ) đáng tiếc…” (“Thư ngỏ gửi Ban biên tập Báo Văn Nghệ” của NNH đăng trên Báo Văn nghệ sô 11, ngày 14-03-2009).

Song, chúng tôi nghĩ rằng hoàn cảnh và nghị lực của NNH để sống và sáng tác rất đáng cho chúng ta cảm thông, thể tất và động viên anh. Mặc dù bị tật nguyền, thiệt thòi trăm bề, nhưng anh vẫn quyết tâm vươn lên “vịn câu thơ mà đứng dậy”, coi thơ “chính là bản mệnh” của mình. Nếu chú ý thì chúng ta sẽ thấy mặc dù có một số điểm ngẫu nhiên trùng lặp giống nhau ở hai bài thơ, viết cùng về một đề tài, nhưng chủ định, hướng đến và cách thể hiện của mỗi tác giả ở mỗi bài vẫn có nét khác nhau.

Tác giả NKC đã phát hiện được một số câu thơ giống nhau về ý, tứ, hình ảnh của sự vật, hiện tượng và từ ngữ trong 2 bài thơ của NNH và NTĐT. Phần đầu bài viết, ĐKC đã giới thiệu 19 câu thơ đúng nguyên văn của nhà thơ NTĐT. Vậy mà ở phần sau của bài viết, khi trích dẫn một số câu thơ sau đây, nằm trong 19 câu  thơ ấy để chứng minh cho sự giống nhau đó thì ĐKC vẫn chưa bảo đảm được sự chính xác:

– Đào đã tàn từ lâu Mà sen thì chưa tới

(Nguyên văn là 2 câu thơ riêng biệt phải xuống dòng, chứ không thể viết liền)

– Khung cửa… Tháng ba

(Nguyên văn gồm 3 câu thơ. Câu thứ nhất là “Ngoài khung cửa”, câu thứ 3 là “Tháng ba”.

 

– Bóng lựu… Một chấm đỏ

(Nguyên văn là 2 câu thơ: “Bóng lựu đơn nở vội trước hiên nhà/ Một chấm đỏ như lời yêu vừa chín”)

 

– Nàng  Bân… đủ để rét ngọt ngào

(Nguyên văn gồm 4 câu thơ. Câu thứ nhất là “Ai đan áo Nàng Bân”, câu thứ tư là “Đủ để rét ngọt ngào”)

– Mẹ vo gạo cầu ao

(Nguyên văn là “Mẹ ta ngồi vo gạo cầu ao”)

– Em không phải như ta xưa

chăn trâu cắt cỏ

(Đây là một câu thơ, nguyên văn là “Em không phải như ta xưa chăn trâu cắt cỏ”)

ĐKC cũng trích dẫn một số câu chưa đúng với nguyên văn trong bài thơ “Hoài khúc tháng ba” của NNH, cụ thể là:

– Ô cửa tháng ba

            (Nguyên văn là “Một mình một ô cửa tháng ba”)

– Lựu loe lửa đỏ

            (Nguyên văn là “Lựu loe lửa đỏ trước hiên nhà”)

– Tháng ba về rét ngọt Nàng Bân

(Nguyên văn là “Tháng ba về ngọt rét Nàng Bân”)

– Ao chờ bóng mẹ ta mỗi lần vo gạo

(Nguyên văn là 2 câu thơ “Như thể ao chờ bóng mẹ ta/ Mỗi lần vo gạo người so mặt”)

– Tóp tép lát sắn mỏng khoai gầy

(Nguyên văn là “Tóp teo lát sắn mỏng khoai gầy”)

Qua những dẫn chứng trên, ta có thể thấy rằng ông ĐKC khi giới thiệu toàn văn bài thơ của NTĐT cũng như khi trích dẫn các câu thơ đã không theo đúng nguyên văn bài thơ của cả hai tác giả: Cắt bớt một số từ ngữ, đảo lộn trật tự từ ngữ và thứ tự của các câu thơ hoặc ỏ hẳn cả một đoạn thơ rồi đưa thơ của NNH vào cuối bài thơ của NTĐT. Cách trích dẫn đó chứng tỏ người viết thiếu sự tôn trọng các tác giả, rất cần được rút kinh nghiệm.

Suy cho cùng thì phương pháp làm việc thận trọng, chính xác, khoa học, trung thực với chính bản thân và với người khác vẫn là yêu cầu cần thiết, không thể thiếu đối với nhiều người, nhất là các cán bộ nghiên cứu, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật.

TP. Phủ Lý, ngày 15-5-2009

                                                                       

NGUYỄN HUY THÔNG

(Nhà văn, nhà phê bình văn học. Hội viên Hội Nhà văn ViệtNam. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam)

(Bài đăng trên Tạp chí Cẩm Thành số 59 – tháng 6/2009)

Filed under: Bài của bạn, Báo chí, Làng văn Thẻ: | ,

3 phản hồi

  1. Bác Tạo kính, hoàn cảnh của Hưng thì bác cũng nghe rồi. Chính em là người, sau khi được điện thoại của Phạm Đương, một nhà thơ cũng ở Quảng Ngãi, đã gọi điện cho bác Trần Nhương, khi ấy đang trên đường xuống Quảng Ninh. Em đã trình bày rằng, em tin Nguyễn Ngọc Hưng, và việc này đã được xếp lại mấy năm rồi. Thêm nữa, nếu đúng Hưng có thật sự trót “cầm nhầm”, từ ta hay dùng ngày nay, thì nó cũng đã qua rồi, Hưng và bạn bè Hưng cũng đã có nhời rồi, thì thôi, em xin bác (TN), với tư cách là người cầm bút trong khu vực, chưa gặp Hưng nhưng biết hoàn cảnh của Hưng, hãy rút bài ấy xuống. Và bác Nhương đã rút bài ấy xuống ngay khi tới Hạ Long.

    Mong bác Tạo hãy hiểu Hưng và thông cảm cho nó. Em biết là nó đang rất mặc cảm và đau khổ, vốn dĩ đời nó đã rất khổ rồi. Tê liệt toàn thân sống nhờ bạn bè nuôi, nhưng em tin là nó không ăn cắp, tin những điều nó trình bày bác ạ. Kính chúc bác sức khỏe.

    • Cám ơn nhà thơ Văn Công Hùng đã nói thêm về hoàn cảnh của một nhà thơ rất đáng được thông cảm. Anh cũng mới biết bác Trần Nhương gỡ bài của Đặng Khánh Cường khi có bài của Phạm Liên Tâm. Và bây giờ mới biết rõ lý do vì sao bác TN gỡ bài đó.

      Anh đã gặp Đỗ Trọng Khơi (cũng hoàn cảnh như Hưng) và rất quý trọng sự ham học ham đọc và ham sáng tác của Khơi. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng thì anh chưa được gặp, nhưng cũng có đọc thơ và biết Hưng cũng đã có giải thưởng thơ. Vậy là rất quý.

      Còn việc làm thơ, anh cũng đã từng nghĩ và viết “Khởi đầu của nghệ thuật là bắt chước“, bắt chước thiên nhiên, bắt chước cuộc sống, bắt chước nhau để làm ra một thứ nghệ thuật của riêng mình, không giống ai.

      Tuy nhiên, chuyện đời và thơ “tuy 2 mà 1″, “tuy 1 mà 2″. Có lẽ vì Hưng là “nhà thơ” nên câu chuyện mới trở nên thế. Đó cũng là một đòi hỏi, không có gì ngạc nhiên. Khi anh đưa entry này lên, qua Thư của Hưng và các bài viết trên, anh chắc mọi người sẽ thông cảm và chia sẻ với Hưng.

      NTT

  2. Giời Ơi, on 06.04.2012 at 17:14 said:

    Chúc cả hai bạn Đạo Tĩnh và Ngọc Hưng hãy nên kiềm chế khi đặt bút gieo vần vào chỗ thiêng liêng nhất của nhân loại: Thơ.

Nhà đầu tư Việt Nam chi 19 tỷ đồng mua một thị trấn ở Mỹ – VnEconomy

6 Th4

AN HUY

06/04/2012   08:44 (GMT+7)

pictureÔng Don Sammons tại địa điểm tổ chức buổi bán đấu giá thị trấn Buford ngày 5/4.
Dân số của thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ có tên Buford có vẻ như sẽ tăng thêm ít nhất gấp đôi, sau khi hai doanh nhân Việt Nam quyết định chi 900.000 USD để mua lại thị trấn này.

Theo hãng tin CNN, hai nhà đầu tư đến từ Việt Nam không rõ danh tính đã thắng trong cuộc đấu giá thị trấn Buford thuộc bang Wyoming của Mỹ diễn ra vào ngày 5/4.

Có khoảng hơn một chục nhà đầu tư tham gia vào cuộc đấu giá diễn ra ngay tại Buford, với hy vọng sẽ giành quyền thâu tóm thị trấn bao gồm một trạm xăng, một căn nhà ba phòng ngủ và một vài tòa nhà nhỏ nằm trên diện tích hơn 4 hectar ở độ cao 2.438m so với mặt nước biển.

Thị trấn này bắt đầu được ông Don Sammons, cư dân duy nhất, người tự phong là chủ sở hữu kiêm thị trưởng, rao bán từ hồi giữa tháng 3, với giá khởi điểm 100.000 USD, tương đương chưa đến 2,1 tỷ VND.

Trong cuộc bán đấu giá hôm qua, mức giá khởi điểm mà các nhà đầu tư trả là 100.000 USD, sau đó giá nhanh chóng tăng lên đến 900.000 USD, tương đương xấp xỉ 19 tỷ VND. Người thắng cuộc, được các hãng tin của Mỹ cho là một hoặc hai người Việt Nam, nhanh chóng được các nhà tổ chức đấu giá đưa khỏi địa điểm đấu giá để họ không có cơ hội tiếp xúc với báo chí.

Ông chủ Don Sammons của Buford chỉ đứng một bên quan sát và rơi nước mắt khi người chủ trì buổi đấu giá tuyên bố thị trấn của ông đã được bán.

Ông Sammons sinh sống ở Buford từ năm 1980 cùng vợ và con trai. Vợ ông đã qua đời năm 1995, còn cậu con trai thì chuyển đi từ năm 2007. Ông bỏ tiền mua lại thị trấn này vào năm 1990.

“Tôi đã sống ở đây nửa đời người. Tôi dễ xúc động lắm. Hy vọng là tôi sẽ vượt qua được nỗi buồn này”, ông Buford chia sẻ với phóng viên CNN.

Theo hãng tin này, một nhà môi giới bất động sản có tên Tonjah Andrews đã được hai nhà đầu tư Việt Nam thuê làm đại diện. Cô Andrews từ chối tiết lộ danh tính của hai người này và chỉ cho biết họ “muốn sở hữu một phần nước Mỹ”.

Theo cô Andrews, hai người trên đã bay từ Việt Nam đến để đấu giá sau khi đọc được tin tức trên mạng về vụ thị trấn Buford được rao bán.

Cô Andrews cũng từ chối bình luận về kế hoạch sắp tới của những người chủ mới đối với thị trấn Buford.

Về phần mình, ông Sammons đã mua một căn nhà ở Windsor, bang Colorado, để sống gần con trai. Ông dự kiến sẽ viết một cuốn sách kể về quãng thời gian 32 năm ông sống ở Buford.

Dưới đây là một số hình ảnh về thị trấn Buford:

Vị trí của Buford trên bản đồ nước Mỹ.
Bên trong tiệm tạp hóa ở Buford.
Tấm biển quảng cáo về Buford, thị trấn “nổi tiếng thế giới” vì chỉ có 1 cư dân. Trước đây, ở thời kỳ đỉnh cao, có khoảng 2.000 người sinh sống ở Buford.
Trạm xăng của Buford.
Đường vào Buford. Là thị trấn lâu đời thứ hai ở Wyoming, Buford nằm bên con đường Interstate 80 nối New York và San Francisco.
Ông Sammons giờ đã trở thành cựu chủ nhân của Buford. Chủ nhân mới của thị trấn này giờ là hai người Việt Nam “bí ẩn”.

Hai người Việt mua thị trấn nhỏ nhất của Mỹ – vnn

6 Th4

Một thị trấn nhỏ nhất tại Mỹ đã được bán với giá 900.000 USD cho hai ngườiđàn ông Việt Nam.

TIN BÀI KHÁC:

 

Don Sammos là công dân duy nhất của thị trấn Buford (Ảnh: realestate)

Hai người đàn ông Việt Nam (không để lộ danh tính) đã giành phần thắng trong buổi đấu giá thị trấn Buford, bang Wyoming vào hôm qua (5/4).

Trong thị trấn bao gồm một trường học, một trạm xăng, một ngôi nhà ba phòng ngủ với một cabin và một nhà kho.

Don Sammos, người chủ cũ của Buford và cũng là công dân duy nhất của thị trấn,đã rao với giá khởi điểm là 100.000 USD. Ông đã từ bỏ vai trò như một “thịtrưởng” không chính thức để chuyển tới nơi khác.

Được biết, ông Sammons, 60 tuổi, đã sống ở thị trấn từ năm 1980. Khi con trai ông chuyển đi cách đây vài năm, ông Sammos đã trở thành công dân duy nhất của Buford.

Là thị trấn lâu đời thứ hai tại Wyoming, Buford nằm trên Interstate 80, conđường chính nối liền New York và San Francisco.

Cộng đồng chưa hợp nhất này nằm giữa Laramie và Cheyenne, thủ phủ của bang Wyoming, ở độ cao 2.438 mét. Buford cũng có mã vùng riêng và mang hộp thư bưu chính của Mỹ.

Thị trấn cũng có một tháp điện thoại di động và có tổng diện tích khoảng 4 héc-ta, nhà đấu giá cho biết.

Buford được thành lập khi tuyến đường sắt xuyên lục địa được xây dựng và vào thời điểm đó thị trấn có khoảng 2.000 cư dân.

Sầm Hoa (Theo BBC)

Xem 13 tộc họ tri ân hùng binh Hoàng Sa – vnn

6 Th4

– Ngày 6/4 (ngày 16/3 âm lịch), tại đình làng An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã diễn ra Lễ khao lề tế (thế) lính Hoàng Sa. Đây là nghi lễ có từ hàng trăm năm nay do 13 tộc họ trên đảo Lý Sơn tổ chức nhằm tri ân những binh phu đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền lãnh hải quốc gia tại đảo Hoàng Sa.

Đúng 8 giờ, lễ rước chiến sĩ trận vong từ Âm Linh Tự (nơi thờ tự hàng trăm bài vị lính Hoàng Sa đã bỏ mình vì nước) về đình làng An Vĩnh được thực hiện bởi đại diện 13 họ tộc trong trang phục áo dài, khăn đóng với bàn hương án và hàng trăm người dân trên đảo cùng đi theo đoàn rước.

 

 

Lễ rước chiến sĩ trận vong từ Âm Linh Tự

 

Đúng 9 giờ 30 phút, tại đình làng An Vĩnh (Đây là ngôi đình từng chứng kiến hàng trăm cuộc tiễn đưa con em Lý Sơn “ra trận” nơi Hoàng Sa từ mấy trăm năm trước ) Lễ khao lề Tế lính Hoàng Sa được chính thức bắt đầu. Đây là lễ cầu siêu cho các “hùng binh” đã hy sinh bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu.

Ông Nguyễn Cậu, Trưởng ban tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cho biết: “Không ai còn nhớ lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa có từ bao giờ, nhưng cứ tới tháng 2, tháng 3 hàng năm, nhân dân trên đảo lại tổ chức lễ tái hiện hình ảnh đội thuyền năm xưa ra đi bảo vệ vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của Tổ quốc”.

Tại lễ khao lề, mô hình những chiếc thuyền nan, các vật dụng mà mỗi người lính trước khi ra Hoàng Sa phải chuẩn bị cho mình, gồm một đôi chiếu (là vật dùng để quấn xác nếu không may gục ngã) 7 đòn tre (là vật nẹp quanh thân); 7 sợi dây mây (được dùng để bó xác người). Tất cả tái hiện hình ảnh ra đi của những người lính từ hàng trăm năm trước.

Những người lính Hoàng Sa năm xưa, sau khi nhận nhiệm vụ ra Hoàng Sa để đo đạc thủy trình dựng bia chủ quyền và khai thác sản vật nộp cho triều đình. Nếu không may hy sinh, thi thể người lính sẽ được đồng đội thả xuống biển cả mênh mông. Chiếc thẻ bài bằng tre có ghi tên tuổi, làng quê, phiên hiệu được cài trong bó xác sẽ là thông điệp gửi lại cho gia đình và bản quán nếu thi thể đó trôi vào bờ… Dẫu biết một đi không trở lại, nhưng những người lính Hoàng Sa năm xưa vẫn ra đi quên mình vì quê hương, đất nước.

 

 

            Lễ tri ân hùng binh Hoàng Sa

 

 

Đọc tế lễ hùng binh Hoàng Sa

 

 

 

Lễ thả thuyền- Tái hiện hình ảnh đưa hùng binh Hoàng Sa ra khơi.

 

Theo tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ-Giám đốc Sở VHTT&DL Quảng Ngãi, trước đây lễ hội này được tổ chức riêng lẻ trong từng tộc hộ như Võ Văn, Phạm Quang… Từ năm 2005, bà con các tộc họ tộc ở huyện Lý Sơn đã tổ chức chung ngày lễ. Từ đó tới nay, không chỉ ở huyện Lý Sơn mà các địa phương khác ở vùng biển Quảng Ngãi cũng tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, bởi nhiều địa phương ở vùng biển Quảng Ngãi trước đây đều có lính đi Hoàng Sa, Trường Sa.

·       Bài và ảnh:  Trà Giang

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU TẠI SÀI GÒN ( Phần còn lại ) – phamvietdao

6 Th4

Nguyễn Tấn Phận.
Bài có liên quan:
Phần còn lại: Những văn kiện ngoại giao viết tay!
Thật là điều may mắn, trái với suy đoán của tôi, tất cả mọi nhơn viên làm việc đều là những người trung thành. Họ ít ra cũng đã trải qua một lần kinh nghiệm. Đó là lần Đại tướng Khiêm bị lưu vong dưới thời Đại tướng Nguyễn Khánh. Sau khi chia tay lại là những ngày sum hợp. Đại tướng đi rồi Đại tướng lại về. Họ cũng nghĩ rằng lần đi của Đại tướng kỳ này rồi cũng phải trở về. Thiếu tá Thông cũng có cho tôi biết: “ Khi mọi việc xong xuôi Đại tướng Minh cũng muốn anh Tư về hợp tác. Minh chỉ đi lánh mặt một thời gian.” Cho nên nếu có đi thì tôi hy vọng cũng được trở về. Thành ra các anh em kia cũng có một niềm hy vọng giống như tôi. Ngày chúng tôi lên đường là ngày 25/4/1975. Lúc đó cụ Trần Văn Hương cũng vừa lên làm Tổng thống được 4 ngày mà đã có sự tiên liệu “ Đại tướng Minh sẽ mời anh Tư trở về “ thì cũng cho chúng ta biết thêm một dữ liệu về các diễn biến chánh trị sau đó, đã được thấy trước. Sở dĩ được biết trước là vì trước đó một ngày, là ngày 24 tháng Tư, tại tư dinh Đại tướng Khiêm trong Bộ Tổng Tham Mưu , Tổng thống Trần Văn Hương, Luật sư Nguyễn Văn Huyền và Đại tướng Dương Văn Minh được trực thăng riêng của Đại tướng Khiêm rước vào để họp cùng với Đại tướng Khiêm. Đây là buổi họp rất đặc biệt và vô cùng quan trọng, phải giữ kín đến đỗi ngay cả Tổng Thống Hương cũng phải dùng trực thăng riêng của đại tướng để di chuyển. Buổi họp kéo dài từ 11 giờ 15 cho tới gần 1 giờ trưa. Tôi quan sát trên nét mặt lúc đó, khi ra về, các quí vị lãnh đạo quốc gia đã tỏ ra không đồng thuận lắm – theo nhận xét của riêng tôi – trước giờ phút lâm nguy của đất nước. . . Sáng hôm sau là ngày 25 tháng Tư, Đại tướng Khiêm lại vào dinh Độc Lập họp với cựu Tổng thống Thiệu cùng với Tổng thống Trần Văn Hương và ông Đại sứ Jean-Marie Mérillon của nước Pháp. . .
Chương trình họp nói trên tôi có ghi trong sổ tay.
Thông qua các buổi họp như vậy, những nhà làm chánh trị, những nhà bàn luận thời cuộc, những nhà chạy tin có cơ hội để “ luận cổ suy kim.” Thiếu tá Thông là người hay suy luận nhưng ông là người thành thật và rất tốt bụng. Ông có những lập luận khéo léo, có ý cho tôi biết những gì ông nói chỉ là suy đoán, có nghĩa là không phải ý đó phát xuất từ “ anh Tư.” Riêng tôi, qua những gì tôi quan sát tận mắt, nghe ngóng dư luận và theo dỏi báo chí, tôi cũng có những nhận định giống như vậy – Đại tướng sẽ có cơ hội trở về . . .
Bước ra phía trước nhà, tôi thấy ông Thomas Polgar đang ngồi tại bàn viết của Sĩ quan Tùy viên. Ông kiểm soát lại danh sách phái đoàn để điền tên vào parole documents, dựa vào bản văn của Tổng thống Thiệu.
Danh sách phái đoàn do cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trình lên Tổng thống Trần Văn Hương có nội dung như sau: (Tổng thống Thiệu viết tay)Kính trình Tổng thống Trần Văn Hương,
Thưa Cụ,
Để thực hiện công tác cụ giao phó, tôi kính xin cụ chấp thuận cho những sĩ quan sau đây gọi là thành phần tối thiểu cần thiết để giúp tôi, đi theo tôi trong suốt thời gian công du:
1. Đại tá Võ Văn Cầm 2. Đại tá Nguyễn Văn Đức 3. Đại tá Nhan Văn Thiệt 4. Đại tá Trần Thanh Điền 5.Trung tá Tôn Thất Ái Chiêu 6. Bs Thiếu tá Hồ Vương Minh 7. Đại úy Nguyễn Phú Hải (giờ chót không có mặt) 8. Phục dịch viên Nghị (giờ chót không có mặt)
Ngoài ra, Cựu Thủ tướng Đại tướng Trần Thiện Khiêm cũng cần đem theo những sĩ quan và dân sự sau đây:
1. Trung tá Đặng Văn Châu 2. Thiếu tá Đinh Sơn Thông 3. Thiếu tá Nguyễn Tấn Phận 4. Ông Đặng Vũ (giờ chót không có mặt)
Đại tướng Trần Thiện Khiêm nhờ tôi trình cụ chấp thuận ./.
Kính chào Tổng thống
(ký tên Thiệu)
Tổng thống Trần Văn Hương phê thuận,
Đề ngày 25/4/75
Và ký tên Trần Văn Hương
* * * * Ở đây có một sự trùng hợp lịch sử. Khi viết danh sách phái đoàn để trình lên Tổng thống Trần Văn Hương, cựu Tổng thống Thiệu muốn Đại tá Cầm đánh máy, Đại tá Cầm không biết đánh máy, ông Thiệu đành phải viết tay; khi có lịnh của Đại sứ Martin là phải mang theo bàn đánh máy khi đến nhà Đại tướng Khiêm, ông Polgar quên đem theo bàn đánh máy. Thành ra hai văn kiện: một là danh sách phái đoàn của Tổng thống Thiệu và hai là tên điền vào mẫu parole documents đều không đánh máy, mà phải viết tay.
Cựu Tổng thống Thiệu, với bản tánh cố hữu, người luôn luôn nghĩ xa, ra lịnh cho Đại tá Cầm ở Đài Bắc làm nhiều bản photocopy danh sách phái đoàn do Tổng thống Trần Văn Hương chấp thuận, phát cho mỗi người một bản để trong trường hợp cần thì có thể làm bằng chứng với Sở Di trú của quốc gia sẽ đến định cư. Lúc đó chúng tôi chưa biết đi đâu.
*****
Tại hành lang trước nhà, trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo, các ông Đại tá Cầm, Thiệt, Đức, Điền, Trung tá Chiêu, Bác sĩ Minh đang xúm xích bàn chuyện nhỏ to. Mọi người đều ăn mặc chỉnh tề có vẻ như là những quan chức lớn sắp lên đường đi công tác ở ngoại quốc hơn là sắp đi tỵ nạn. Tất cả chúng tôi cũng không ai tin là sẽ đi tỵ nạn. Trên tay mỗi người xách một túi sắc nhỏ. Cũng cần nói thêm, Đại tá Cầm là người rất nhiệt thành với công vụ và cũng là cấp thừa hành “ một cách triệt để.” Sau khi Tổng thống Thiệu ra lịnh “mỗi người chỉ được đem theo một xách tay nhỏ,” thì ông lại khuyên anh em “không nên mang theo gì hết – nên đi tay không! ”
* * * * Đoạn đường dài như vô tận
Đúng 9 giờ tối…
Vừa điền giấy xong thì ông Thomas Polgar phân phát tờ parole document (tờ tạm cư) cho từng người. Ngay khi vừa đến Đài Bắc, “Cơ quan Đại diện Mỹ” tại đây lập tức thu hồi lại tất cả, duy chỉ có mỗi Trung tá Chiêu, không hiểu sao ông vẫn còn giữ được tờ giấy này.
Chúng tôi lần lượt ra xe và yêu cầu họ mở cốp sau. Tôi bỏ cái samsonite vào, (Lúc ông Polgar đang viết, tôi đã bỏ cây K54 vào samsonite ) hai khẩu súng nhỏ va chạm vào nhau khua lộp cộp. Trong sách của Frank Snepp có nhắc tới chuyện này. Ông có nghe tiếng kim loại khua khi chúng tôi xếp sắc tay vào cốp xe, và có thể nghĩ đó là tiếng va chạm của vàng bạc, châu báu!
Liền sau đó Tổng thống Thiệu, Đại tướng Khiêm, Polgar, Timmes cùng ra xe. Đại tướng Khiêm ngồi xe trước với ông Polgar. Tổng thống Thiệu ngồi xe sau với tướng Timmes; ông ngồi giữa tướng Timmes và Đại tá Đức, Trung tá Chiêu ngồi ghế trước với tài xế là ông Frank Snepp. Chúng tôi chia nhau vào hai xe còn lại.
Thời gian từ lúc ông Thiệu đến nhà Đại tướng Khiêm đến khi bắt đầu ra xe kéo dài độ 10 phút! Đoàn xe bắt đầu chạy hướng về cổng chánh Bộ Tổng Tham mưu, vừa ra khỏi cổng thì quẹo phải, đi thẳng vào cổng phi trường Tân Sơn Nhứt.
Tôi giật mình khi nhận ra cả khu vực phi trường tối om. Dường như hệ thống điện hoàn toàn bị cắt. Nhìn vào cổng VIP – khu vực dành riêng cho các viên chức cao cấp – giờ nầy vắng tanh giống như cổng vào bãi tha ma. Đoàn xe chạy vòng qua khu dành riêng cho hảng AirAmericacủa cơ quan tình báo Mỹ. Khi sắp tới đường băng, tất cả xe đều tắt đèn, di chuyển trong bóng đêm. Sau đó bóng một chiếc máy bay lù lù hiện ra dưới chân trời nhờ đèn trong buồng máy cháy sang, một loại máy bay giống như DC6. Khi tới gần chiếc máy bay, đoàn xe bất thần thắng gấp vì thấy có bóng người. Xe thứ hai ủi tới suýt đụng vào xe đi trước vì trời tối. Hai xe sau tạt qua hai bên hông xe Tổng thống Thiệu. Chiếc xe tôi ngồi vừa thắng gấp vừa bẻ tay lái kêu nghe ken két. Một cuộc biểu diễn ngoạn mục. Dù đó là do sắp xếp hay chỉ là một “tai nạn” nhưng dưới con mắt an ninh họ là những thành phần phải được liệt vào hàng các tay bảo vệ yếu nhân chuyên nghiệp. Xe Tổng thống Thiệu bị bao vây bởi ba chiếc xe Chevrolet to lớn. Xa xa trong bóng đêm, xung quanh chúng tôi xuất hiện có nhiều người Mỹ vạm vỡ, vận thường phục, súng M16 dựng đứng bên hông, trong thế tác chiến… Chúng tôi tông cửa xe, bước xuống mau. Tổng thống Thiệu đi trước, Đại tướng Khiêm theo sau, rồi Polgar, Timmes. Chúng tôi nối đuôi theo sau. Hình ảnh ông Đại sứ Graham Martin – một quan Khâm sai của Đại Vương quốc Hoa Kỳ – hiện ra tại chân cầu thang máy bay như một vị thần hộ mạng, giống với hình ảnh ông thần miễu Ông Tà ở Ô-Môn quê tôi mà hồi nhỏ tôi đã tưởng tượng ra: đôi mắt xanh, tóc bạc trắng, hai tay dài lòng thòng… ai cũng phải sợ. Tổng thống Thiệu bắt tay ông Đại sứ. Hai bên trao đổi mấy lời. Tất cả leo lên mau. Tổng thống Thiệu, Đại tướng Khiêm, tướng Timmes vào buồng danh dự. Tại đây có bốn ghế bành bọc vải trắng. (Sau nầy mới biết đó là máy bay riêng của đại sứ Martin) Đại sứ Martin vào tận buồng máy nói vài lời tiễn biệt rồi vội vã rời máy bay. Chúng tôi mạnh ai nấy tìm chỗ ngồi ở các hàng ghế phía sau. Vào thời điểm nâỳ, Trung tá Nguyễn văn Phú Hiệp là phi công chiếc máy bay Air Việt Nam 727 có lịnh ứng trực, chuẩn bị sẵn sàng, chỉ dành riêng cho Tổng thống Thiệu sử dụng. Trung tá Hiệp trước kia là Trưởng phi hành đoàn trực thăng Phủ Tổng thống. Anh Hiệp, giờ chót không đi được, sau nầy chết trong trại tù Cộng sản. Cũng vào thời gian nói trên, một vài đơn vị trưởng các đơn vi phòng thủ Thủ Đô, và các đơn vị đóng quân gần khu vực phi trường Tân Sơn Nhứt được nghe dư luận đồn đải là có người rỉ tai: “ ông Thiệu sẽ dùng Air Việt Nam để ra khỏi nước. . .”
Khi tất cả chúng tôi ngồi vào chỗ rồi thì Tổng thống Thiệu từ phía trước bước ra sau chỗ chúng tôi. Ông đứng giữa hai hàng ghế với khuôn mặt không còn giống như hồi ở nhà Đại tướng nữa. Nét nghiêm nghị như giận dữ hiện rõ trên khuôn mặt như tôi đã từng chứng kiến nhiều lần trước kia. Các sĩ quan làm việc quanh ông đôi khi phải đón nhận những phản ứng dữ dội từ ông, thay cho các đối tượng mà ông vì cần phải giữ hòa khí ở một mức độ có thể coi được, ông thường “giận cá chém thớt” và hay “phang nhầm” chúng tôi. Với cái nhìn sáng quắc, mặt đỏ gay, Tổng thống Thiệu gằn từng tiếng: “Nè, các chú nhớ là không được nói gì hết. Có ai hay báo chí hỏi thì trả lời là không biết gì hết! Nghe chưa! ” Nói xong ông liền trở về phía trước.
Đoạn đường từ Bộ Tổng Tham mưu đến đây không xa, chỉ là một khoảng đường rất ngắn nhưng với tôi nó thật dài. Cho tới bây giờ, khi ngồi ghi lại những dòng nầy tôi vẫn còn cảm thấy mọi việc như vừa mới xảy ra!
Đúng 9 giờ 15 phút, giờ Sài-gòn.
Buồng máy máy bay tắt đèn. Phi cơ từ từ lăn bánh ra phi đao, đem theo hai vị lãnh tụ quốc gia, một tướng lãnh Mỹ và 9 “quan” tùy tùng, hộ vệ! Chiếc phi cơ lượn một vòng trên bầu trời “đen tối” của không phận Sài-Gòn, rồi hướng về biển Đông…
Tôi bật người ra thành ghế, hít một hơi thở thật dài, nhắm mắt lại; hai dòng lệ từ từ lăn xuống má…
Xin giã biệt quê hương… tạm biệt mọi người thân…
Bí mật của gói quà!
Tôi ôm cái món quà của Đại tướng trong suốt chuyến bay. Suy nghĩ vẩn vơ. Đi đâu làm gì ở xứ người. Một quân nhân Mỹ, đoàn viên phi hành ngồi gần cửa cầu thang, luôn luôn bận rộn nhiệm vụ liên lạc. Thỉnh thoảng anh liếc tôi. Anh không cười cũng không nói gì. Có lẽ anh thông cảm hoàn cảnh của những kẻ sắp xa nhà. Thỉnh thoảng tôi nhìn ra cửa sổ. Cũng chỉ là một màu đen.
Chúng tôi không ai nói chuyện với ai. Mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng tư của mình…
* * * * Chiếc máy bay bắt đầu giảm độ cao, đảo một vòng rồi từ từ hạ cánh. Đường bay nằm dài trước mặt là phi trường Đài Bắc. Chiếc C118 bốn động cơ của Không lực Hoa Kỳ đáp xuống nhẹ nhàng rồi từ từ dừng hẳn. Tôi nhìn đồng hồ. Đúng 3 giờ 40 sáng. Anh Hạ sĩ quan mở cửa cầu thang. Gió ùa vào nghe lành lạnh. Mọi người lần lượt xuống máy bay. Tại chân cầu thang, dưới ánh điện lờ mờ, tôi nhận ra bà Nguyễn Văn Kiểu, phu nhân ông Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Đài Bắc; một vị Trung tá, Tùy Viên Quân Sự tại tòa đại sứ Việt Nam; một nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại giao Trung Hoa Dân quốc – ông này nói tiếng Việt rất giỏi; một hai người nữa tôi không biết tên; và một nhân vật không kém phần quan trọng, đó là Trưởng Chi nhánh tình báo Hoa Kỳ tại Đài Bắc, tôi không biết tên. Gió ở Đài Bắc lạnh hơn Sài-Gòn. Lại có những cảm giác là lạ lướt qua mau, khác hơn nhũng cảm giác ở quê nhà. Lòng bồn chồn khó tả. Có một điều đặc biệt là không có mặt sĩ quan Di trú vào lúc này tại phi trường vì đây là một trường hợp ngoại lệ . . . Để cho mọi việc có danh chánh ngôn thuận, và vào giờ chót muốn dành cho cựu Tổng thống Thiệu và Đại tướng Khiêm một danh dự của chuyến đi, Tổng thống Trần Văn Hương ký Quyết định đề cử cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hướng dẫn một phái đoàn đi Đài Bắc. Bản văn có nội dung như sau: ( bản văn này Đại tá Cầm viết tay )
Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương
Quyết định
1 – Nay đề cử cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đại diện Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đến Đài Bắc để phân ưu cùng Chánh phủ và Nhân dân Trung Hoa dân quốc nhân dịp Tổng thống Tưởng Giới Thạch tạ thế.
2 – Sau đó hai vị trên được đề cử tiếp tục viếng thăm các quốc gia trên thế giới xét cần thiết trong vòng 6 tháng để làm sáng tỏ thiện chí hòa bình của Việt Nam Cộng Hòa đồng thời vận động các Chánh phủ và nhân dân các quốc gia đó hỗ trợ lập trường hòa bình của Chánh phủ và nhân dân ta.
Chương trình thăm viếng sẽ do hai vị tùy nghi quyết định thể theo sự thuận lợi của tình hình đối với các quốc gia đó.
3 – Yêu cầu Bộ Ngoại giao chỉ thị các Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa yểm trợ cần thiết để nguyên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nguyên Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cùng phái đoàn chu toàn nhiệm vụ giao phó.
4 – Chi phí công tác do Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng đài thọ trong khuôn khổ được luật lệ ấn định. (Tổng thống Hương viết thêm hàng chữ: trong khuôn khổ được luật lệ ấn định).
Sài-gòn, ngày 25 tháng 04, 1975
(ký tên Hương)
Khi ký tên trên văn bản này Tổng thống Trần văn Hương, một lần nữa cho thấy sự cẩn trọng và nghiêm túc trong công việc, tác phong của một nhà lãnh đạo xuất thân từ giới mô phạm. Cụ Hương là một nhân sĩ, là một nhà chánh trị được đại đa số nhân dân miềnNamngưỡng mộ. Cụ cũng là một nhà hành chánh nổi tiếng công bằng liêm khiết. Trần Văn Hương, một tên tuổi được đánh giá là một trong vài nhân sĩ cuối cùng của miền Nam Việt Nam, đã quyết định ở lại sau 30 tháng Tư 1975 và kết thúc cuộc đời trên quê hương của mình…
Vào thời kỳ bầu cử Tổng thống năm 1967, lúc đó từ Đại đội Trinh sát / Sư đoàn 5 Bộ binh, tôi được điều động khẩn cấp về Sài Gòn để bảo vệ an ninh cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia; khi đi bỏ phiếu tôi chọn Liên danh Trần Văn Hương – Mai Thọ Truyền thay vì Liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ. Tôi là một quân nhân trẻ mang nhiều lý tưởng cũng như nhiều bạn trẻ khác. Các anh em ấy hầu hết đã tốt nghiệp đại học ở trong nước cũng như từ ngoại quốc trở về, đang phục vụ trong mọi ngành, mọi giới; họ làm việc bên hành chánh cũng như đang phục vụ trong quân đội. Chúng tôi thường gặp gở, trao đổi ý kiến và cùng đi đền một nhận định chung là quần chúng Nam ViệtNam, lúc bấy giờ, chưa sẵn sàng đón nhận một Tổng thống và một Phó Tổng thống xuất thân từ quân đội.
Tổng thống Thiệu và đoàn tùy tùng của ông về nhà Đại sứ Nguyễn Văn Kiểu. Đại tướng Khiêm và chúng tôi về nhà Đại tướng Khiêm.
Sau khi gõ cửa vài phút thì có người ra mở cửa. Tôi nhìn vào thấy bà Đinh Thủy Nga, bà Trần Bạch Yến. . . đứng khép nép bên trong, vừa mừng vừa lo. Đại tướng bước vào trước. Chúng tôi lần lượt vào sau. Nghe có tiếng người nói chuyện lào xào, bà Trần Thiện Khiêm thức giấc. Bà bước ra khỏi phòng trong bộ áo ngủ, đứng tựa lan can nhìn xuống. Yên lặng trong vài giây rồi bà từ từ quỵ xuống sàn nhà. Bà cố gắng lần xuống tới giữa cầu thang, khi nhận ra Đại tướng, bà kêu lên, “ Anh đó hả? ” rồi òa lên khóc…
* * * * Những ngày ở Đài Bắc Tại một villa nhỏ 3 phòng ngủ có lầu ở ngoại ô thành phố Đài Bắc, Đại tướng Khiêm và chúng tôi không có việc gì làm, buồn và nhớ nhà nên thường hay bắt đài phát thanh Sài-gòn để theo dõi tin tức. Các sự kiện đáng chú ý nghe được qua làn sóng đài phát thanh được tôi ghi chép như sau: Ngày 27 tháng 4 – 20 giờ Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu quốc hội chọn người thay thế ông để thương thuyết với Cộng sản – 20 giờ 45 Quốc hội họp. – 2 giờ 25 Quốc hội biểu quyết chọn Đại tướng Dương Văn Minh làm Tổng thống thế Tổng thống Trần Văn Hương. Ngày 28 tháng 4 – 17 00 giờ Lễ bàn giao chức vụ Tổng thống giữa cụ Hương và Đại tướng Dương Văn Minh được cử hành tại dinh Độc Lập Cụ Hương trao quyền Tổng thống lại cho Đại tướng Minh lúc 17 giờ 15. Tân Tổng thống Dương Văn Minh chọn cụ Huyền làm Phó Tổng thống, ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng… trong bài diễn văn cụ Hương nhấn mạnh “hãy quên oán thù, đừng tạo thêm oán thù”… Ngày 29 tháng 4 . . .sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm được thả. Lý Quí Chung được đề cử Tổng trưởng Thông tin. Cộng sản phá cảngNewport, đốt kho dầu gần xa lộ, chiếm vài xã ở Gò Vấp… Ngày 30 tháng 4… Lúc 11giờ 15, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố trao quyền lại cho Chánh phủ “Cách Mạng Lâm Thời miền Nam ViệtNam”. Có tin VC đã cắm cờ trên thượng đài dinh Độc Lâp lúc 13 giờ. (giờ Sài-gòn…)
Các tin trên được tôi ghi nhận qua chiếc máy thâu thanh hiệu Zenith 4 băng, có băng tần làn sóng ngắn, và nghe rất rõ tiếng nói của đài phát thanh Sài-gòn.
Cái radio đó chính là món quà gói trong giấy màu hồng điều thật đẹp mà tôi trân trọng cất giữ từ khi Đại tướng Khiêm trao cho tôi ở Sài-Gòn như đã nói ở trên.
* * * * Một thời gian sau đó, bà Anna Chennault tuân hành lịnh của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford từ Hoa Thịnh Đốn qua Đài Bắc, Đài Loan để gặp Tổng Thống Thiệu và Đại tướng Khiêm. Bà Anna Chennault là vợ của vị tướng anh hùng thời Đệ II Thế chiến, Trung tướng Claire Lee Chennault Tư lệnh Không đoàn 14 của Không Lực Hoa Kỳ hoạt đông ở Trung Hoa lục địa. Bà Anna Chennault sau nầy là một nhân vật quan trọng trong Bộ Tham mưu tranh cử của ông Richard Nixon; bà là người trung gian trong sự liên hệ mật thiết giữa ông Nixon và Tổng thống Thiệu trong thời gian đó. Nhiệm vụ trong chuyến đi nầy của bà là chuyển lời Tổng thống Hoa Kỳ yêu cầu Tổng thống Thiệu và Đại tướng Khiêm đừng vào nước Mỹ.
Như trước đã nói, Thủ tướng Lý Quang Diệu thông báo là giới chức Mỹ muốn ông Thiệu sống lưu vong ở các nước Đông Nam Á. Tổng thống Thiệu đã ở Đài Bắc trong một thời gian khá lâu là đúng với những gì chánh quyền Mỹ muốn. Gợi ý của Tổng thống Trần Văn Hương với Đại tướng Khiêm trước kia chắc có lẽ cũng do ý của tòa Đại sứ Mỹ ở Sài-gòn. Nhưng theo những gì bà Chennault biết trước đó thì Hoa Thịnh Đốn đã chấp thuận và có kế hoạch đưa Tổng thống Thiệu vào Mỹ. Điều này làm cho bà Chennault rất bất mãn khi được lịnh qua gặp ông Thiệu trong một tình huống thật khó xử vì chánh sách “nước đôi” của Hoa Kỳ; hơn nữa bà là bạn thân được Tổng thống Thiệu tin cậy trong mối liên hệ mật thiết giữa Tổng Thống Thiệu và Tổng Thống Richard Nixon, mà huyền thoại- hay là sự thật – về bà đối với việc đắc cử của Tổng Thống Richard Nixon năm 1968 còn đang được nhiều người đề cập tới.
Trước hết bà Anna Chennault qua nhà thăm Đại tướng và bà Trần Thiện Khiêm. Tôi nhận thấy bà không có gì thay đổi sau nhiều năm vắng mặt ở Sài-Gòn; bà vẫn giữ được vẻ đẹp quí phái như xưa trong chiếc áo dài sườn xám đậm màu với dáng người đài các của một nhà ngoại giao lỗi lạc đã một thời gây nên nhiều tranh cãi trong chánh giới Hoa Kỳ.
Khi rời nhà Đại tướng Khiêm bà đi thẳng qua nhà Đại sứ Kiểu thăm Tổng thống Thiệu. Bà Chennault kể trong cuốn hồi ký, The Education of Anna, như sau:
“Khi đến căn nhà nhỏ của Đại sứ Nguyễn Văn Kiểu tại Đài Bắc, tôi đi vào cửa hông. Ông Kiểu tiếp tôi tại sân cỏ. Ông nói ít lời rồi nắm tay tôi dìu vào phòng khách. Ông Thiệu đã ngồi sẵn tại đó, xoay lưng về phía tôi. Thật hết sức là bất ngờ và ngạc nhiên về những gì xảy ra cho ông Thiệu…
“ Tôi đã từng gặp gỡ ông vào các ngày cuối tuần ở Bạch Dinh là tòa nhà trắng đồ sộ của Hoàng đế Bảo Đại trước kia dùng để nghỉ mát ở bãi biển xinh đẹp Vũng Tàu. Ông Thiệu cũng đã tiếp tôi tại dinh Độc Lập ở Sài-gòn, nơi mà trong một phòng khách vàng rộng lớn bên đại sãnh đường, ngay trước phòng làm việc của ông, có cặp ngà voi đứng chầu, đây là cặp ngà voi được xếp vào hàng lớn nhứt thế giới…
“ Một cảm giác đau buồn tràn ngập lòng tôi khi tôi bước tới vài bước để chào ông. Ông đứng lên và xoay lại nhìn tôi. Chúng tôi bắt tay và ôm chặt trong một giây yên lặng. Rồi cuối cùng nhìn lên mặt ông, tôi thấy nước mắt ông dâng trào.”
California, mùa Thu 2008 Nguyễn Tấn Phận

– Sinh quán tại Cần Thơ, trú quán tại Tây Ninh. – Cựu thiếu tá QLVNCH, Khóa 13 sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức. – Đại đội trinh sát Sư Đoàn 5 Bộ Binh. – Sĩ quan cận vê/ Sĩ quan tùy viên Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa – Quận trưởng kiêm Chi khu trưởng Chi khu Hiếu Thiện ( Gò Dầu Hạ) – Đầu tháng 4-1975 được thuyên chuyển về phụ trách an ninh cho Đại Tưóng Trần Thiện Khiêm. – Tháp tùng phái đoàn cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm rời khỏi Việt Nam vào buổi tối ngày 25-4-1975. – Hiện cư ngụ tại tiểu bang California

Phát hiện sai phạm kinh tế 30.720 tỷ đồng – VTV

6 Th4
        Quý I năm 2012, Thanh tra CP đã phát hiện sai phạm, thiếu sót về kinh tế với số tiền 30.720 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 3.712 tỷ đồng.
Phát hiện sai phạm kinh tế 30.720 tỷ đồng
Ảnh minh hoạ.               

 

Thanh tra chính phủ đã đưa ra 11 kết luận thanh tra tại một số tập đoàn, các tổ chức kinh tế lớn như: Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Dầu khí Việt Nam, Viễn thông quân đội, Sông Đà, Bưu chính viễn thông, Điện lực, Hàng hải và một số cơ quan đơn vị và các tỉnh về các vấn đề: công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất, quản lý đầu tư xây dựng và trách nhiệm thực hiện pháp luật về khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng. Trong đó, Thủ tướng chính phủ đã có ý kiến đối với 6 kết luận thanh tra.
Trả lời câu hỏi về tình hình khiếu nại tố cáo hiện nay, Tổng thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết, sau vụ việc ở Tiên Lãng, tình hình khiếu kiện đông người đang gia tăng, đa số vẫn là khiếu kiện về đất đai. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác giải quyết tiếp dân còn hạn chế, một số nơi tập trung chưa cao, giải quyết không đến nơi đến chốn, có trường hợp né tránh, đùn đẩy, kéo dài thời gian. Công tác quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, nhiều địa phương làm không hợp lý, giải quyết không đúng quy trình. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, thay đổi thường xuyên. Sự hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận công dân còn hạn chế, một số thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng lôi kéo, kích động khiếu kiện đông người phức tạp.
Ông Huỳnh Phòng Tranh nhấn mạnh, quan điểm của Thanh tra chính phủ là không thể vin vào vụ Tiên Lãng để xem xét lại tất cả các vụ việc giải quyết đất đai ở khắp nơi, vì mỗi vụ việc có tính chất riêng và sẽ phải giải quyết theo từng vụ việc cụ thể. Bên cạnh đó, với việc khẳng định về tỷ lệ thu hồi giải quyết kết luận sau thanh tra còn thấp, ông Tranh cho biết, Thanh tra chính phủ sẽ cùng các bộ ngành Trung ương trên cơ sở đánh giá nguyên nhân các vụ việc, qua đó tập trung tăng cường giải quyết các vụ việc, sẽ làm chặt chẽ hơn rà soát thực hiện về quy định đất đai, về thu hồi đất nhằm giải quyết quyền lợi của những người dân bị thu hồi đất.

Tác giả :        Thu Huyền


Nguyễn Vĩ: Nhà văn An Nam khổ như chó (Gửi Trương Tửu) – trannhuong

6 Th4
Lê Xuân Quang
(Kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Thi sĩ Nguyễn Vỹ (1912 – 2012), 41 năm ngày mất (7.2.1971 – 7.2.2012)
Tôi biết tiếng Nguyễn Vỹ từ hơn 40 năm trước nhân một lần dự sinh nhật của anh bạn viết văn trẻ Trần Qúy Thường. Khi rượu đã ngà ngà, Thường đọc cho cả bàn nghe 1 khổ thơ của bài Gửi Trương Tửu mà ấn tượng nhất câu ‘’… nhà văn An Nam khổ như chó’’ . Mọi người nghe xong trầm trồ đề nghị anh đọc toàn bài. Thường lắc đầu: Tớ cũng chỉ nghe thằng bạn là sinh viên Khoa Văn trường đại học Tổng hợp đọc một lần, cả bài dài, chỉ nhớ nhất đoạn thơ này…
Dạo đó, dứơi mắt tôi:, Võ Huy Tâm tác giả  tiểu thuyết Vùng Mỏ (ở Lò Thống nhất),Như Mai – tác giả truyện Thi Sĩ Máy – cây bút nổi danh trong phong trào Nhân văn giai phẩm (Báo Vùng Mỏ)), Võ Khắc Nghiêm, Trần Qúy Thường đồng niên, cùng  ở  Mỏ cọc 6, Lý Biên Cương (Hồng Gai)… – là những’’cường nhân’’! Và cái chính – ‘’ma lực’’ của nghề viết đã mê hoặc đám trẻ thích Văn chương.  Tôi bỏ công ra thư viện Cẩm Phả tìm hiểu thân thế sự nghiệp của Nguyễn Vỹ , nhưng không hề có sách báo nào nhắc đến ông dù chỉ một dòng. Thời gian trôi đi, niềm hứng khởi tắt ngóm, đi vào quên lãng. Mãi đến đầu thế kỉ 21, một lần tình cờ đến thư viện Quận Hellersdoft của thủ đô Berlin, nước Đức, ở ngăn tiếng Việt tôi đã tìm được cuốn biên khảo của nhà phê bình văn học Nguyễn Tấn Long tựa đề Toàn Tập Thi Nhân Tiền Chiến Việt Nam, trong đó đầy đủ tư liệu về Nguyễn Vỹ cùng bài thơ Gửi Trương Tửu đính kèm với 14 câu thơ bị kiểm duyệt Pháp cắt bỏ. Tôi luôn coi văn đàn Việt Nam ở những năm 30 của thế kỉ 20 là giòng văn chương rực rỡ của đất nước ở mọi thời đại, nhất là 3 năm (1936 – 1939) khi Mặt trận Bình Dân lên năm quyền ở Pháp khiến chế độ kiểm duyệt Văn hoá – Văn nghệ của thực dân ở Đông dương được nới lỏng… Nhờ đó văn đàn Việt Nam trở nên sôi động trong không khí tìm tòi sáng tạo, nhiều tác phẩm Văn, Thơ, Nhạc, Hoạ có gía trị Nhân văn – Nghệ thuật ra đời, đánh dấu một thời đại mới của Văn học – Nghê thuật Việt Nam đương đại phát triển mà trước hết phải kể sự chuyển mình của thi ca trong phong trào Thơ Mới! Thơ – là ‘’Tiếng lòng’’ của người nghệ sĩ khi cảm xúc đã đến điểm đỉnh, thi sĩ chắt lọc ngôn từ, chọn phương pháp trình bầy để diễn đạt. Thơ Mới ra đời, bởi người viết hoàn toàn tự do, không bị các quy tắc gò bó, ảnh hưởng, ràng buộc (1). Nhờ vậy, đã mang lại cho Thi đàn Việt Nam luồng gió mới, sản sinh nhiều cây bút trở thành những ngôi sao sáng trên bầu trời Văn chương nước nhà. Thi sĩ Nguyễn Vỹ  là một trong số những ngôi sao đó. Ông góp phần tô điểm diện mạo thi ca Việt trong buổi đầu chuyển mình. Sự hiện diện của Nguyễn Vỹ đã in dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Việt Nam ở những năm 30 của thế kỉ 20 và tiếp tục trải dài cho đến hôm nay! Theo Tuyển tập của Nguyễn Tấn Long (nhà xuất bản VH, năm 1998): Nguyễn Vỹ sinh năm 1912 (2) tại Đức Phổ, Quảng Ngãi. Thời thanh niên đã từng cắt tóc đi tu, tu không thành, phá giới đi gánh cát thuê ở bãi sông, bán kẹo ở Hà Nội, bán báo ở Sài Gòn… Sau thời gian lăn lộn trong mội trường thực tế đầy khắc nghiệt, lam lũ…khi cảm thấy đã đủ ‘’vốn sống’’, Nguyễn Vỹ quyết định về Hà Nội, hành nghề viết văn, làm báo cùng bạn văn đất Hà Thành. Ông đã cùng họa sĩ Nguyệt Hồ, thi sĩ Nguyễn Bính – thành lập nhóm Việt – Pháp, ra tờ báo tiếng Pháp Le Cygne, nhằm truyền bá tư tưởng tiến bộ góp phần nâng cao Dân trí cho nhân dân. Le Cygne có rất nhiều bài viết công kích chính sách , đường lối cai trị hà khắc của Thực dân Pháp. Cơ quan An ninh Văn hoá của chúng nhận ra đây mối họa tiềm ẩn đối với chế độ. Chúng’’dàn dựng’’ để bắt chủ báo Nguyễn Vĩ , đóng cửa vĩnh viễn tờ Le Cygne – kết án tù 6 tháng và phạt 3000 quan tiền (sách đã dẩn). Hết hạn, ra tù, trở về, ông lại viết báo chống quân phiệt Nhật – lại bị Nhật bắt… Khi được thả, ông quyết định vào Sài Gòn, làm báo Tổ Quốc, rồi báo Dân chủ, Dân ta, tiếp tục đấu tranh, bảo vệ quyền lợi cho dân cần lao. Kết cục: Tất cả các tờ báo ông tham gia đều bị bị đóng cửa. Suốt thời gian dài, liên tục, Nguyễn Vỹ dùng cây bút để phản kháng, phê phán, đấu tranh với bất công… Ngày 7,2.1971 trên đường từ Sài gòn đi Tiền giang , NV mất trong một tai nạn xe hơi (3). Ông Đỗ Đình Thọ kể lại trong cuốn Nguyễn Bính – Thơ và Đời (nxb Văn học 2000): Nguyễn Vỹ rất giỏi tiếng Pháp, làm thơ tiếng Việt khá hay. Một giai thoại văn chương rất thú vị, thời đó lưu truyền thể hiện thi tài, cá tính của Thi sĩ: Trong một lần Trưởng phòng Kiểm duyệt báo chí của sở Mật Thám Bắc Kì – René Creyssac (RC) – ‘’tạ sự’’ đến ‘’thăm’’ nhóm Việt – Pháp do 2 nhà thơ Nguyễn Vĩ, Nguyễn Bính và Họa sĩ Nguyệt Hồ, sáng lập, chủ trương. Theo tin của mật vụ Văn hóa – Văn nghệ cung cấp: Nhóm Việt – Pháp có xu hướng ‘’Dân chủ – Tự do – Bác ái’’ – mà bọn cai trị thực dân lại rất sợ dân chúng đòi được hưởng các quyền này. 3 người quyết định tìm cách đánh tan ấn tượng xấu về Le Cygne của R. Creyssac. Họ bàn bạc đi đến thống nhất: Rủ RC đi nhậu rồi ‘’chiêu đãi’’ thuốc Phiện ở tiệm thuốc nổi tiếng Hà Thành thời đó – Tiệm Phi Yến Thu Lâm ở phố Mã Mây. Để quảng bá cho thương hiệu mình, chủ tiệm hút cho kẻ trên bảng hiệu chữ Phi Yến Thu Lâm – Yến bay trong rừng Thu. (Thời đó, chữ viếe trên bảng hiệu thường không đánh dấu , khách hút, tán: Phiện Thú Lắm (Phi Yến = Phiện. Thu Lâm = Thú Lắm). RC là con cáo gìa trong nghề. Y rất sành thú chơi của giới Văn Nghệ Sĩ, giỏi tiếng Việt, tiếng Hán, thuộc Truyện Kiều am hiểu văn hóa Phương Đông. Cao hứng và cũng muốn thử tài văn sĩ Bắc Hà, khi hít xong một hơi, RC nói : Tôi ra một đề các bạn cùng làm thơ, nếu hay sẽ được thưởng . Mọi người tán thành. RC chậm rãi ề à đọc: ‘’Phi yến Thu Lâm… nghĩ cũng hay’’ – đoạn dơ tay làm điệu bộ – xin mời! Nguyễn Bính nối ngay: ‘’Nằm trên giường tựa nằm trên mây’’ Nguyễn Vỹ nối bằng tiếng Pháp nhưng lại hợp cảnh, hợp tình đúng niêm luật của thơ Đường: ‘’Uyn, đơ, troa, cát – Ken- cờ- Píp’’ (quelques Pipes) Nguyệt Hồ – kết: ‘’Quật ngã A nam, ngã cả Tây’’! Bài thất ngôn tứ tuyệt, liên hoàn – của cả 4 người – nói về cảnh hút thuốc Phiện và cái thú đi mây về gió: Phi Yến Thu Lâm nghĩ cũng hay Nằm trên giường tựa nằm trên mây Uyn đơ, troa, cát – Ken cờ Píp (4) Quật ngã A Nam, ngã cả Tây!
Quan Cẩm rất khó chịu câu thư 4 ‘’…quật… ngã cả Tây’’, nhưng Nguyễn Bính nhanh trí ‘’giải thích’’: Chúng ta làm tình nàng ấy, thì ai cũng bị quật ngã, chả cứ An Nam hay Tây ! Nguyễn Vỹ đế vào: Ha ha…- Moa ngã , Toa ngã chúng ta đều bị’’Nàng tiên nâu’’ – quật ngã cả! Quan Cẩm hậm hực, miễn cưỡng nhưng cũng phải gật gù đồng tình. Tuy vậy, Y vẫn chưa chịu, muốn thử tiếp nên chậm rãi lí giải : Hay thì có hay nhưng là của 4 người . Cần phải xác định thực tài của’’ thi sĩ Bắc Hà’’ – nghiã là chỉ từng người một, thôi ! – Nhưng nếu làm được bài thơ hay thì sao – Nguyễn Vỹ hỏi? – Nếu hay, nhanh sẽ thưởng 4 điếu (thuốc phiện)’’chính hiệu con nai vàng’’ – RC khẳng định. – Vậy quan ra đề đi – NV, dục. RC đọc : Á phiến , Á phiện – xin mới! NS Nguyệt Hồ nhắy Nguyễn Bính : Ông Bính chiều quan đi chứ ? – Xong ngay thôi – NB dứt lời, đọc : Phảng phât hồn mơ nấm mộ đen Tai nghe giọt nhựa khóc trên đèn Mê li cả một trời đông Á Nhè nhẹ tâm hồn, lỏng khóa then ! Nếu ai đã từng chứng kiến các con nghiện đang hút mới cảm thấy cái hay của bài thơ: Trong căn phòng kín gió, mờ tối (người nghiện thuốc phiện rất sợ nước, sợ gió), khói thuốc mù mịt, ta cảm thấy như đang ở trong ngôi mộ’’đen’’. Tai ta nghe thấy người’’bồi’’ thuốc đưa cục nhựa (cây thuốc phiên) hơ trên ngọn lửa của ngọn đèn đốt bằng dầu lạc, phát ra tiếng xèo xèo, rin rít… cứ như tiếng khóc nỉ non của’’hồn ma’’… rồi khi hít khói vào, con nghiện ‘’phê’’ thuốc, cảm thấy người như bay lượn trong không gian, rồi tâm hồn rạo rực, kích thích… cơ thể hưng phấn đến’’lỏng…khoá…then’’… NV,NH, NB cười vang . RC phải chịu tài của Nguyễn Bính và giữ đúng lời hứa.
xxx
Sự nghiệp Văn – Thơ và di sản của Nguyễn Vỹ để lại rất đồ sộ với nhiều tác phẩm gồm nhiều thể loại : Tiểu thuyết, Biên khảo, Thơ… Trong đó có 2 bài thơ rất gía trị: Gửi Trương Tửu và Sương Rơi. Đặc biệt là Bài Gửi Trương Tửu. Đầu bài thơ đề tựa: Viết trong lúc say…  Gửi Trương Tửu – viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, độc vận. Toàn bài được Thi Nhân Việt Nam của Hài Thanh đăng tải, gồm 6 đoạn, 40 câu, mỗi đoạn nói về một vấn đề. Theo thông lệ của thơ Đường – Vào đề: Tác gỉa giải thích nguyên nhân có lá thư gửi cho bạn rượu – Trương Tửu: Nay ta thèm rượu nhớ mong ai Một mình rót uống chẳng hề say Trước kia hai thằng hết một nậm Trò truyện dông dài, mặt đỏ xẫm Nay một mình ta một be con Cạn rựơu rồi thơ mới véo von Nhà thơ đang ‘’khát ‘’, có rựơu nhưng chỉ có một mình. Rượu ngon… (lại) không có bạn hiền, nên nhớ tới Trương Tửu, đành tâm sự với bạn trong tâm tưởng rồi khẳng định: Chỉ cạn rượu (say), ‘’thơ mới véo von’’. Tiếng hót véo von của chim họa mi là tiếng hót hay. Thơ ‘’véo von’’ cũng có thể hiểu là thơ hay… Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác Mà coi đồng tiền như cái rác Kiếm được xu nào đem tiêu hoang Rủ nhau chè chén nói huyênh hoang Xáo lộn văn chương với chả cá Chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả Rồi ngủ một đêm, mộng với mê Sáng dậy nhìn nhau cừơi hê hê… Có hơi men, tác gỉa nhớ về qúa khứ, về thời – cả hai nghèo kiết xác. Nhưng khi có tiền, họ vẫn hoang toàng trong đời sống, vung vãi tinh lực, kiến thức – trong những trận say túy lúy càn khôn để có sức ‘’chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả’’ cho sướng miệng rồi kéo nhau đi thưởng thức món chả cá ngon có tiếng của đất Hà Thành. Đêm đến tiếp tục say với mộng mơ… sáng dậy không còn nhớ chiếc ‘’Văn tự’’ mua bán… ‘’Trời’’ – kia. Sau trận ‘’quên hết sự đời’’. trở về cõi thực, cả hai nhìn nhau sảng khoái ‘’cười hê… hê’’.
Giấc Nam kha dứt, chợt giật mình – ‘’Bừng con mắt dậy thấy mình tay không’’, liên hệ với cuộc sống của kiếp nhà văn mà đau, buồn. Thời đó, dân trí của ta qúa thấp, nhiều người mù chữ. Kinh tế qúa nghèo, cuộc đời đói khổ, dân lấy đâu ra tiền thừa đẻ mua báo, mua sách đọc giải trí, trừ số ít dân trung lưu, dân buôn bán nhỏ ở thành thị. Do vậy nhà văn không thể bán văn chương, thơ phú để lấy tiền sống tạm qua ngày. Cũng may, Mặt trận Bình Dân Pháp lên nắm quyền ở ‘’Mẫu quốc’’ (…), có một số thay đổi trong chính sách cai trị ở các nước thuộc địa. Chính phủ thực dân ở Đông Dương muốn lấy lòng dân thuộc địa để tô điểm cho khuôn mặt ‘’Bình dân’’ của Sếp mình, hòng ve vuốt giới trí thức bản địa – nguồn gốc của ngòi nổ phản kháng. Họ giảm bớt sức ép cai trị khiến dân chúng dễ thở hơn (…) trong đó có phần kiểm duyệt Văn chương… Mới chỉ có chút ít quyền, được ‘’nói cho Sướng miệng’’thế thôi, mà văn học nghệ thuật thời kì này đã nở rộ, ra đời nhiều tác phẩm gía trị . Còn đời sống của cả xã hội vẫn chưa có gì thay đổi lớn. Chúng ta nên nhớ: Giới Văn Nghệ Sĩ khi xưa không được nhà nước cho ăn lương như VNS thời XHCN – hôm nay. Tất cả đều tùy thân vận động’’Tùy nghi di tản’’ để tự nuôi sống mình mà…viết. (Nhân dân cần lao tất nhiên còn bi thảm hơn, ngoài chịu số phận của kẻ nô lệ – ‘’Một cổ đôi tròng’’(Thực dân – Phong kiến), còn bị cường hào, quan lại ‘’Đè đầu cưỡi cổ’’, ức hiếp…) Sau phút ưu tư, trước hoàn cảnh bi đát… tác gỉa ghi lại cảm xúc đang dâng trào: Thời thế bây giờ vẫn thấy khó Nhà văn An Nam khổ như chó Mỗi lần cầm bút nói văn chương Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương Và nhìn chúng mình hì hục viết Suốt mấy năm giời: Kiết vẫn kiết! Mà thương cho tôi, thương cho anh Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh Ông trở nên bất đắc chí, đem so sánh cuộc sống của nhà Văn với kiếp sống của chó – con vật mạt hạng nhất trong số các vật nuôi của dân ta. Hãy bình tĩnh, hãy ghìm mình lại, đừng tự ái khi gã say ví ta với chó! Thật ra đây chỉ là’’Ngoa dụ’’ mà Nguyễn Vỹ dùng để miêu tả sự khốn cùng của kiếp nhà văn Việt dưới chế độ thực dân. Quan niệm của cả xã hội: Nhà Văn thưộc tầng lớp ở trên cao mà còn khổ như vậy thì dân đen sẽ như thế nào? Lời ví von có hơi cường điệu, nhưng nếu đem kiếp sống của nhà Văn mà ví với chó gia súc của dân ta thì hơi…qúa. Song, nếu ví với chó Berger, chó cảnh của dân giầu, chó săn của ông chủ thực dân, thì… cũng chẳng ngoa chút nào! Lại nữa – Người Việt có tính hay mẫn cảm: Tuy nghèo, đói nhưng, tính sĩ diện thì hết chê. Mặt khác: Quan niệm, cái nhìn về chó của người Việt hoàn toàn khác dân văn minh Tây Âu bởi con chó của dân ta cũng… ‘’khác‘’chú khuyển của họ. Dù thế nào, đem Nhà văn – đại diện cho một tầng lớp Trí thức hạng cao – VNS – ví với chó thì thật… qúa xá! Thi sĩ Tản Đà – nổi danh trên Văn trường Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 (Tản Đà sinh năm 1888. Nguyễn Vĩ sinh năm 1912) dù là bậc trưởng thượng nhưng không hề phân biệt tuổi tác, thi tài, cụ vẫn coi NV là bạn văn, thường cùng uống rượu. Khi đọc được bài thơ của ‘’hậu bối bất trị’’ – cụ bất bình, hỏi: Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó, anh không sợ xấu hổ à? Nguyễn Vĩ mơ mơ màng màng – trả lời tiền bối đáng kính: Ví như vậy thì chó xấu hổ chú chúng ta xấu hổ cái nỗi gì?(5). Ngay trong lúc mê, say, ông vẫn mơ giấc mơ đầy hoang tưởng: Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng Tôi làm Trạng Nguyên, anh Tể Tướng Và anh bên Võ, tôi bên Văn Múa bút tung gươm há một phen …(*) Theo nhà phê bình Nguyễn Tấn Long : Bắt đầu từ đây – 14 câu thơ – ‘’Thực dân Pháp không cho Nguyễn Vĩ nói’’ – bị kiểm duyệt cắt bỏ (chắc Hoài Thanh không được đọc đoạn thơ này): Cho bõ căm hờn cái xã hội Mà anh thường kêu, mục, nát, thối Cho người làm ruộng, kẻ làm công Đều được an vui, hớn hở lòng?
Bao giờ chúng mình gạch một chữ Làm cho đảo điên pho lịch sử! Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa Hất mồ ngồi dậy cười say sưa Để xem hai chàng trai quắc thước Quyét sạch quân thù trên đất nước? Để cho toàn thể dân Việt Nam Đều được tư do muôn muôn năm Để cho muôn muôn đời dân tộc Hết đói rét lầm than tang tóc (hết đoạn bị kiểm duyệt) Không thể ngờ được : Câu thơ NV viết đã gần 70 năm trước, hôm nay đọc lại, ta cứ cảm thấy như nhà thơ vừa mới viết ,vẫn đang sống quanh ta…  Rồi tiếp giòng mơ say, ông liên hệ với thực tại – so sánh: Chứ như bây giờ là trò chơi Làm báo làm bung, chán mớ đời Anh đi che tàn một lũ ngốc Triết lí con Từơu, văn chương Cóc (6) Còn tôi bưng thúng theo đàn bà (7) Ra chợ bán văn, ngày tháng qua Đi che Tàn (lọng, ô) nghĩa là đi hầu. Anh đi che tàn một lũ ngốc (…). Còn tôi bưng thúng theo đàn bà… – cũng là một loại đi hầu khác, mà lại là đi hầu…phụ nữ! Anh làm Tể tướng, tôi Trạng Nguyên. Anh bên Võ, Tôi bên văn – Đúng một phần đời hiện thực, trộn với giấc mơ của của tác gỉa lúc căn bệnh Đa nhân cách – trỗi dậy! – ‘’Con Tườu’’ là con gì? – Con Tườu là con khỉ. Người Trung Hoa coi con khỉ, tập trung của cái xấu trước tiên là ngoại hình. Khi ghét người nào đó, họ thường nói câu cửa miệng: Mày hãy soi gương xem cái ‘’tướng Khỉ’’ của mày đi! Nhưng khó chịu nhất: Khỉ không những hay bắt chước – bắt chước rất giỏi, mà còn không có chút ‘’lịch sự’’ tối thiểu như mọi con vật khác: Khi thấy nhiều người xúm vào xem nó vừa làm được một động tác’’người’, ngay lập tứ hậu duệ của Lão Tôn – Hoa qủa vương – vạch ngay chỗ kín ra… gãi, nghịch, hoặc tè bậy mà lẽ ra theo cách nghĩ của người: Phải kín đáo, dấu… đậy! Con Tườu là vậy. ‘’Triết lí con Tườu’’ là thứ triết lí của kẻ hay bắt chước, triết lí đậm ’’Hầu… phẩm’’! – Còn’’Văn Chương Cóc’’? – Đó là văn chương giản lược, sao chép – là loại văn chương’’kể sự kiện’’ chứ không phải văn chương ’’Viết Sự Kiện’’ – như ngụ ý diễn giải trong một bài viết của cố GS Hoàng Ngọc Hiến lúc sinh thời đăng trên Báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn, nhiều người đọc và học trò của ông – tấm tắc tán thưởng. Ẩn dụ này bắt ngưồn từ bài thơ Con Cóc trong dân gian: Con cóc trong hang – Con có nhẩy ra Con có nhẩy ra – Con cóc ngồi đấy Con cóc ngồi đấy – Con cóc nhẩy đi! Hoặc vịnh thơ con Chim, con Chó – khi’’nhà thơ’’ nổi hứng đạt đến cảnh giới sáng tạo… (*) Qua phút chóang váng, tác gỉa xẹp đi, trở lại hiện trạng cuộc đời rồi tự an ủi mình, an ủi bạn… nhưng chỉ được ít phút, lại nổi xung… lần này tức giận thật sự bởi nhớ lời tiền nhân: ‘’Lập thân tối hạ thị văn chương’’, tự chửi đổng, chửi mình đã nhiễm nặng tật’’Thắu cáy’’ học được trong những canh bạc Xì tố. Nhà thơ chắc mẩm đã ‘’chơi nước cờ cao’’ (…) nhưng thực tế, té ra – cuộc thắu cáy trở nên rất thấp, dẫn đến gặp bĩ, thua đâm, thất vọng, ngẩn ngẩn, ngơ ngơ…. tự nhận hành động của mình – Điên! Cho nên tôi buồn không biết mấy Đời còn nhố nhăng, ta chịu vậy Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa Bực chí thành say, mấy cũng vừa Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ Chơi nước cờ cao lại gặp bĩ Rồi đâm ra điên, đâm ngẩn ngơ Rút cục chỉ còn mộng với mơ! (Viết trong lúc say – Báo Phụ nữ 193…(?) Những vần thơ được tác gỉa xử dụng ngôn từ ‘’qúa thật’’ khiến nhà phê bình Hoài Thanh bức xúc, viết trong TNVN: ‘’Nguyễn Vĩ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ ra xem nhưng lại tưng hửng trở vào…’’. Bất bình vì Nguyễn Vỹ làm ông ‘’…inh cả tai’’ (nhức óc). Hoài Thanh đã nhìn ông bằng con mắt không mấy thiện cảm. Có thể ông không được đọc 14 câu thơ mà kiểm duyệt Pháp cắt bỏ. Cũng có thể ông tự ái khi NV ví  – ‘’Nhà văn An Nam… như… chó’’ nên trút giận rồi viết ra những giòng văn kia – chăng? Trên đời này, con người không thích ai làm họ inh tai, nhất là kẻ kia lại cho họ ‘’cái bạt tai’’ làm họ ù tai, khiến nhức óc. Cái tai do trời ban cho con người, có hình thù đặc biệt: Âm thanh dội vào, được các vành tai tiếp nhận, uốn lượn đưa vào màng nhĩ. Âm thanh càng thẽ thọt, hiệu qủa có lúc – (chứ không phải mọi lúc) – càng cao. Âm thanh làm đinh tai, người nghe không chịu được – có lúc, (chứ không phải mọi lúc) – nhức óc, nổi cắu, thậm chí (phát) Điên. Người đã nổi điên, hành động vô ý thức – sẽ xẩy ra và đối tượng gây họa phải lãnh hậu qủa… Nhưng, vì nói thẳng, nói thật, Gửi Trương Tửu vẫn có nhiều người thích nghe, thích đọc.  Bài thơ được NV viết đã trên dưới 70 năm, đến nay vẫn còn nguyên gía trị Thời sự, Nhân văn, Nhân bản mang dấu ấn của thời đại… Thi sĩ Nguyễn Vỹ là điển hình cho một lớp văn nghệ sĩ đương thời bất mãn vì có tâm huyết, có tài năng nhưng không được thi thố với đời để phục vụ nhân sinh. Gửi Trương Tửu đúng là tác phẩm gía trị của giòng văn chương ‘’Hiện Thực Phê Phán’’ – như cách xếp loại truyền thống của giới phê bình văn học Việt Nam…
Berlin 15.10 2007 – 15.2.2012 LXQ
Ghi chú: (*) – Chuyện vui văn nghệ kể rằng: Có hai người rất háo danh, thích được người ta xưng tụng là nhà Thơ, thường gặp nhau đối ẩm, thù tạc. Nhân một lần uống rượu, khi đã ngà say, nổi hứng thách đố nhau. Một ông bảo: Ông thường tự nhận là vịnh thơ hay. Để chứng tỏ thực tài, ông có dám thể hiện tài của mình không? – Sao lại không ? ông ra đề đi! Ông kia nhìn quanh, thấy trước nhà có tổ chim câu đặt trên 4 chiếc cột, đôi chim  đang’’thơm nhau’’ ở miệng tổ – bảo bạn : Vịnh chim câu đi. Không cần suy nghĩ lâu’’Nhà thơ’’ đọc liền: Bốn cột chênh vênh đứng giữa trời Đứa thì bay bổng, đứa bay khơi Ngày sau nó đẻ ra con chắu Rán chả, băm viên đánh chén chơi ! Dứt lời cười vang vẻ thoả mãn với’’sang tác’’ của mình. Ông kia có phần nể bạn …
Đột nhiên tác giả vịnh…chim, bảo: Tôi đã thể hiện xong tài năng, bây giờ đến lượt ông: Tôi đã vịnh con trên trời, bây giờ ông hãy vịnh con dưói đất xem!
Nhà thơ nhìn quanh thấy con chó nằm chầu hẫu dứơi chân, gật gù – ông nghe đây: Chẳng phải voi, chẳng phải trâu Chính là con chó cắn gâu gâu Khi ngủ với nhau thì phải đứng Quanh năm chẳng được chén trà tầu … rồi cứ thế hai’’nhà Thơ’’ theo giòng văn thơ’’tả thực’’tiếp tục ngâm vịnh cho đến khi cả hai ngã kềnh vì say xỉn.
(1) – Thơ cũ: Đường luật, lục bát, song thật lục bát – có nhiều quy tắc… Thơ Mới ngược lại, không gò bó như thơ cũ… (2) – Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân cho rằng: Nguyễn Vĩ sinh năm 1910.
(3) –Theo TNTCVN Toàn Tập – Nguyễn Tấn Long – nxb Văn Học – 1998. (4) – Câu thơ tiếng Pháp này chỉ diễn giải qúa trình hút thuốc: Một hai ba bốn (đều) hút thuốc , nhưng lại rất đúng ý – nghĩa, vần điệu câu thơ nối, đúng niêm – luật… (5) – Thi nhân Việt Nam. NXB Văn học 2002. (6) – Trương Tửu lúc đó viết cho báo Hữu Ích của Lê Văn Trương. Nguyễn Vỹ viết cho báo Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Thảo. (7) – Thời Nguyễn Vỹ làm bài thơ này, các Mẹ, các Bà, các Cụ Bà, vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng (Nam Định, Thái Bình…) – đi chợ thường đội thúng, khi đến chợ hạ thúng, bưng thúng, bầy hàng trên mẹt đậy – bán cho khách.
%d bloggers like this: