Lưu trữ | 11:39 Chiều

Trung Đông: Vẫn còn nhiều nút thắt – ĐĐK

9 Th4

 

 
Điểm nóng Trung Đông đã có những bước tiến đáng chú ý trong những ngày qua khi Syria nhất trí với thời hạn chót thực hiện kế hoạch hòa bình của Đặc phái viên LHQ (ngày 1-/4), và Iran cũng “gật đầu” đồng ý sẽ nối lại đàm phán với nhóm P5+1 vào ngày 13-4.
Xung đột vẫn tiếp diễn trước thời hạn chót của Kế hoạch hòa bình
Có vẻ như các động thái này khiến bức tranh Trung Đông bớt u ám hơn, song thời hạn đang đến gần nhưng dư luận vẫn tiếp tục băn khoăn chuyện Syria và Iran sẽ thực thi các cam kết này như thế nào. Trước mắt, đã có những dấu hiệu cho thấy mọi việc không khả quan như người ta tưởng.
Tại buổi thông báo vắn tắt ở Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Đặc phái viên chung của LHQ – Liên đoàn Arập Kofi Annan cho biết Tổng thống Syria Bashar al-Assad đã nhất trí với thời hạn chót ngày 10-4 thực hiện kế hoạch hòa bình do Đặc phái viên này đề xuất. Đại sứ Syria tại LHQ, Bashar Jaafari cũng đã xác nhận thời hạn chót 10-4. Theo đó, Syria sẽ ngay lập tức bắt đầu rút khỏi các thành phố diễn ra biểu tình chống chính quyền, đến 10-4 sẽ hoàn tất việc rút binh sĩ cũng như vũ khí hạng nặng.
Cũng thời điểm này, Ngoại trưởng Iran Ali Akbar Salehi cho biết Iran và nhóm P5+1 (gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và Đức) sẽ tái khởi động các cuộc đàm phán bị đình trệ lâu nay vào ngày 13-4 tới.
Đây là lần đầu tiên sau nhiều tháng bế tắc, tình hình Syria và Iran đều có những động thái mới đáng chú ý. Nếu Syria thực hiện cam kết của mình và Iran đồng thuận với các kế hoạch của nhóm P5+1 trong các cuộc đàm phán sắp tới, tình hình Trung Đông sẽ có nhiều chuyển biến. Tuy nhiên, vẫn đề đặt ra hiện nay là Syria và Iran sẽ thực thi những cam kết này như thế nào? Hiện, vẫn xuất hiện một số lo ngại về tính khả thi của những tuyên bố mà Syria và Iran đưa ra. Kể từ khi Syria đưa ra tuyên bố sẽ chấm dứt bạo lực vào ngày 10-4, HĐBA LHQ đã 2 lần lên tiếng thúc giục Syria triển khai kế hoạch vừa nêu. Điều này cho thấy rõ sự “sốt ruột” của LHQ. Điều đáng chú ý là, trên các phương tiện truyền thông Syria, đã có những thông tin trái chiều nhau về khả năng Chính phủ Syria rút quân khỏi các điểm nóng xung đột. Một bằng chứng là việc tờ nhật báo thân Chính phủ Syria Al-Watan số ra hôm thứ 6 vừa qua dẫn lời một quan chức Chính phủ nước này khẳng định chính quyền Syria không bị giới hạn bởi thời hạn chót rút quân vừa nêu. Tờ báo dẫn lời quan chức này cho biết: “Ngày 10-4 là ngày bắt đầu rút quân, chứ không phải ngày cuối cùng phải rút hết quân, và đó không phải là hạn chót”. Mặt khác, theo báo này, Bộ Ngoại giao Syria cũng yêu cầu những điều kiện tiên quyết phải được áp dụng cùng thời điểm với phe đối lập. Theo đó, lực lượng đối lập phải thực hiện cam kết tuân thủ kế hoạch sáu điểm của ông Annan nhằm chấm dứt tình trạng bạo lực kéo dài suốt một năm nay. Tuy nhiên, cho đến nay, phe đối lập vẫn chưa đưa ra phản ứng về yêu cầu này.
Câu chuyện hạt nhân của Iran cũng diễn biến tương tự. Mặc dù nhất trí sẽ đàm phán với nhóm P5+1, nhưng cho đến nay, địa điểm của cuộc đàm phán này vẫn chưa được xác định. Ban đầu, nó dự kiến được tổ chức ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), nhưng sau đó Iran đã bác bỏ địa điểm này vì những căng thẳng mới bộc phát giữa Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Iran đã đưa ra một số gợi ý khác, trong đó có Thủ đô Baddag của Iraq hoặc Thủ đô Damas của Syria. Tuy nhiên, phương Tây đã không chấp nhận 2 địa điểm này và cho rằng “đây là một chủ ý trì hoãn” của Tehran, khi Tehran cố tình lựa chọn 2 địa điểm không an toàn và bất ổn về an ninh-nhằm buộc các bên phải lùi lại đàm phán. Trong khi đó, ngày hôm qua (8-4), báo chí quốc tế cho biết một nghị sỹ cao cấp của Iran cũng đã khẳng định nước này có đủ khả năng để sản xuất vũ khí hạt nhân-một động thái được giới phân tích đánh giá là có thể “chọc giận” phương Tây. Hiện, cũng đã xuất hiện nhiều nguồn tin cho biết Mỹ đang xây dựng “kế hoạch B” đối với Iran, tấn công và gây sức ép mạnh mẽ hơn nữa với nước Cộng hoà Hồi giáo này. Tạp chí New American của Mỹ khẳng định Tổng thống Obama mới đây tuyên bố, về mặt ngoại giao, thời gian xử lý hồ sơ hạt nhân của Iran sắp hết. Mặc dù vẫn còn thời gian cho một giải pháp ngoại giao, nhưng Mỹ sẽ không thể chờ đợi với thái độ “cố tình lần chần” của Iran hiện nay.
Nhìn vào những động thái này, có thể thấy những tín hiệu mới ở khu vực Trung Đông với những tuyên bố của Syria và Iran, mới chỉ là hình thức. Những diễn biến hiện nay cho thấy, nếu các bên không bắt tay thực hiện cam kết, mâu thuẫn sẽ tiếp tục gia tăng và dẫn tới những động thái căng thẳng hơn. Nút thắt kịch tính giữa Mỹ, EU, Syria và Iran vẫn còn đó và chưa có hy vọng giải toả trong một sớm một chiều.
Nguyệt Minh

Kinh hoàng hóa phép thịt thối trong 15 phút – vnn

9 Th4

 – Thịt bốc mùi hôi thối, chảy nước nhớt nhát nhưng chỉ cần bỏ 15 phút ngâm tẩm là trở thành thịt đỏ hồng tươi ngon, có thể chễm chệ trên mâm cơm gia đình hay hiên ngang tiến vào quán cơm, bếp ăn tập thể, trường học…

 Xăng dởm, gạo giả, lợn siêu nạc hoành hành

Thịt thối liên tục tấn công người tiêu dùng

Chỉ trong mấy ngày đầu tháng tư, cơ quan chức năng đã liên tục phát hiện, bắt giữ và tiêu hủy số lượng lớn thịt thối được vận chuyển đi tiêu thụ.

Sáng 1/4, Công an H.Hướng Hóa (Quảng Trị) phát hiện 16 thùng xốp đáng ngờ tại cây xăng Tân Liên trên quốc lộ 9. Khi lực lượng chức năng mở thùng thì phát hiện bên trong chứa thịt, nội tạng heo đã bốc mùi hôi thối với trọng lượng 1,6 tấn (không có giấy tờ kèm theo đúng pháp luật).

 

Một số lượng lớn thịt thối bị cơ quan chức năng phát hiện. Ảnh: TN

 

Rạng sáng 4/4, trên QL1A, đoạn qua xã Gio Quang (H.Gio Linh, Quảng Trị), lực lượng chức năng phát hiện xe khách 47 chỗ ngồi mang BKS 17K-4634 chạy tuyến Thái Bình – TP.HCM chở khoảng 500 kg mỡ heo và heo con không rõ nguồn gốc được giấu trong các thùng xốp, khi mở ra bốc mùi hôi nồng nặc.

Cùng ngày, Trạm kiểm dịch động vật Thủ Đức phối hợp Đội CSGT Rạch Chiếc kiểm tra, phát hiện 5 vụ vi phạm vận chuyển 550kg thịt động vật và 29.530 trứng gia cầm “bẩn”. Tổ công tác kiểm tra tuyến quốc lộ 1A (TP.HCM), phát hiện Nguyễn Minh Cảnh (SN 1981, Hậu Giang) vận chuyển gần 300 kg thịt heo bốc mùi hôi, bị xuất huyết, không giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật từ Đồng Nai về TP.HCM. Cũng trên quốc lộ 1A, tổ kiểm tra phát hiện ông Vũ Văn Tý (SN 1981, Đồng Nai) điều khiển xe máy mang biển số 60K9-8207, vận chuyển gần 200 kg thịt heo không rõnguồn gốc, không giấy kiểm dịch, từ Đồng Nai về Thủ Đức (TP.HCM).

Chiều 4/4, tại Đà Nẵng cơ quan chức năng cũng bắt quả tang bà Nguyễn Thị Trà My (ở tổ 20, P.An Khê) tàng trữ và chế biến 150 kg thịt và xương lợn bốc mùi hôi thối, không nguồn gốc xuất xứ và không giấy chứng nhận kiểm dịch. Ngày 5/4, Chi cục Thú y TP. Đà Nẵng cho biết đã tiêu hủy gần 2,5 tấn thịt, nội tạng động vật hôi thối thu giữ được trong thời gian qua.

Đó chỉ là một số ít vụ được phát hiện và bắt giữ. Còn bao nhiêu thịt bẩn ngày ngày bị lọt lưới cơ quan chức năng đến các trường học, quán cơm, và len lỏi vào tận các gia đình. Vậy số thịt bẩn thịt thối đó làm sao có thể qua mặt được người tiêu dùng để chễm chệ trên mâm cơm hàng ngày?

Công nghệ hóa phép thịt bẩn

Theo một số chủ quán cơm bình dân, công nghệ chế biến thịt ôi thối thành thịt trông tươi ngon rất đơn giản. Với những loại thịt chưa bị ôi chảy nước, chỉ cầnđun một nồi nước nóng, cho nhúm muối và trần qua là thịt lại ngon như mới. Cẩn thận hơn, trước khi chế biến, ướp các loại gia vị như hành, tỏi, muối. Nếu màu thịt chưa đẹp, chỉ cần cho chút nước hàng hay kẹo đắng vào là trở nên thơm ngon.

Với những mặt hàng thịt thiu có mùi, bị vữa, không thể xử lý bằng những phương thức thông thường, các chủ quán sẽ “phù phép” biến thành thịt tươi khi ngâm chúng vào chất bột trắng có nguồn gốc từ Trung Quốc thường gọi là bột săm pết, được chào bán tràn lan  trong chợ Đồng Xuân (Hà Nội), chợ Kim Biên (TP.HCM). Với giá chỉ 40-50 nghìn đồng/kg, chất bột này làm thịt thiu rữa thành thịt hồng hào, tươi mới chỉ trong 15 phút.

 

            Công nghệ biến thịt thối thành thịt ‘sạch’. Ảnh: SK&ĐS

 

Phóng viên Báo SK&ĐS cũng đã tự tay thử nghiệm với gói bột săm pết mua từ chợ Đồng Xuân với 400g thịt chân giò lợn để trong túi nilon treo dưới trời nồm suốt 3 ngày. Miếng bị thịt ôi, xám đen và bốc mùi hôi thối chỉ 15 phút ngâm trong dung dịch có pha săm pết khi được lấy ra đã trở nên hồng, tươi như lúc mới mua, hoàn toàn không còn mùi hôi.

Đáng báo động ở chỗ thứ hóa chất độc này lại được bày bán công khai với giá rất rẻ. Hầu như ai có nhu cầu đều có thể mua chúng.

Rõ ràng, những công nghệ phù phép thịt bẩn, những hành vi rất đáng lên án của một số người chăn nuôi, buôn bán gây nguy hại đến sức khoẻ của người tiêu dùngđang đến hồi báo động. Nhưng dường như, sự vào cuộc của các cơ quan chức năng chưa thật sự quyết liệt. Và người tiêu dùng vẫn phải sống trong mối lo “ăn gì cũng độc”

M. Thư (tổng hợp)

Độc giả Mỹ “phát sốt” vì thị trấn Buford thuộc về người Việt Nam – DT

9 Th4
next
(Dân trí) – Việc thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ Buford bị một người Việt Nam thâu tóm đang trở thành đề tài bàn luận sôi nổi của độc giả tại Mỹ nhất là trong bang Wyoming. Không ít người cho rằng đây là món hời lớn cho người mua.
>>  Báo giới quốc tế bất ngờ với tin người Việt Nam “mua đứt” thị trấn của Mỹ
>> Buford sẽ là “showroom” giới thiệu hàng Việt

Suốt từ cuối tuần qua đến nay, tin thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ Buford, bang Wyoming thuộc về một người Việt Nam đã trở thành “điểm nóng” của độc giả Mỹ. Trên trang CNN, chỉ trong vòng hơn 1 ngày sau khi tin tức được công bố đã có hơn 630 bình luận của độc giả. Ở các trang báo nhỏ hơn như MSNBC, ABCnews, USA Today…số phản hồi cũng lên đến hàng chục.

Tin thị trấn Buford bị bán cho 1 người Việt Nam đang thu hút dư luận

 

Phần đông độc giả tranh luận về việc chi 900.000 USD cho một thị trấn không người ở là đắt hay rẻ. “Tôi đã sống ở Wyoming gần 30 năm và không xa lạ gì với Buford. Đó là một điểm đến rất đẹp trên đường liên bang I-80, nằm giữa Laramie và Cheyenne. Cộng đồng dân cư xung quanh đây đang lớn mạnh dần, bao gồm cả những người sống trong sa mạc gần đó. Thị trường BĐS cũng dần khởi sắc…Đó chính là một nơi hái ra tiền trên đường cao tốc”, độc giả có biệt danh Heretic Zero nhận định trên trang ABCnews.

 

Đáng ý chú ý là trên trang Wyomingnews, Philip Kay bạn của ông Sammons, chủ cũ của thị trấn cho rằng việc bán Buford là một sai lầm. Ông tin rằng với sự tập trung của báo giới quốc tế trong tuần qua, thị trấn này có thế thực sự “cất cánh” trong thời gian tới. “Việc sở hữu một thị trấn chính là giấc mơ Mỹ”, Kay khẳng định. Nancy Levine đến từ Denver, người đã tham gia cuộc đấu giá nhưng bất thành cho biết cô đã có kế hoạch marketing để biến Buford trở thành “điểm đến hấp dẫn mới”.

 

Tuy nhiên cũng không ít ý kiến tranh luận cho rằng đây là một vụ đầu tư sai lầm bởi khí hậu tại Buford rất khắc nghiệt và con đường liên bang I-80 qua đây thường đóng cửa tới nửa năm. Howdy, độc giả của Wyomingnews chia sẻ: “Tôi hy vọng người ta sẽ lập một nhà hàng ở đó, tôi thích các món ăn châu Á. Nhưng thành thật mà nói tôi không tin người ta sẽ sinh sống ở nơi ấy. Phải là những người rất đặc biệt mới có thể chịu được những cơn mưa tuyết mùa Đông và gió rét. Mùa hè ở đây tuyệt đẹp nhưng mùa Đông thì đúng là khủng khiếp”.

 

Nickname oleole47 thì khẳng định: “Sammons đã có một thương vụ quá hời. Thị trấn đó là một nơi tồi tệ trên một con đường cao tốc đóng cửa gần 50% thời gian trong năm. Có lẽ họ sắp xây ở đó một khách sạn cho những lái xe bị mắc kẹt”.

 

“900.000 USD? Tôi không rõ những người mua đến từ Việt Nam đã tham dự bao nhiêu cuộc đấu giá ở Bắc Mỹ. Tôi ngờ rằng đã có không ít gã từ Barret-Jackson (một công ty đấu giá) góp mặt và có rất nhiều lời trả giá khống. Bảo sao người mua nhanh chóng bị đưa đi để cho những kẻ tổ chức đấu giá có thể bỏ túi 25% hoa hồng”, độc giả m135 của CNN đặt dấu hỏi.

 

Trên trang MSNBC độc giả có nickname deb-3232690 cũng tỏ vẻ sửng sốt về mức giá 900.000 USD: “Họ có thể mua 10 mẫu đất ở Wyoming chỉ với 5000 USD. Ước gì tôi đã có địa chỉ của họ”.

 

Bên cạnh những tranh cãi về chuyện nên hay không nên mua thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ thì không ít người dân bang Wyoming tỏ vẻ tiếc nuối khi nơi này bị bán. “Hôm nay quả là một ngày rất buồn cho Wyoming. Từ đây truyền thống của Buford đã biến mất mãi mãi. Nếu có tiền tôi đã mua mảnh đất này để giữ nó vẫn là của Wyoming. Tôi rất buồn khi biết rằng người mua nó chẳng có liên quan gì đến bang này và bỏ tiền mua chỉ sau vài ngày tới đây. Có lẽ sẽ không bao giờ tôi dừng chân ở Buford nữa”, Wyoming Cowboy chia sẻ trên trang báo địa phương.

Số khác thì đoán già đoán non về mục đích của những thương gia từ Việt Nam. Một vài người tin rằng đây chỉ là một cách để chủ sở hữu mới của Buford có được hộ chiếu Mỹ. “Tôi biết họ định làm gì với thị trấn này rồi. Họ sẽ mở ở đây một tiệm massage kiểu châu Á và thông qua luật để cho phép nó hoạt động”, QthePower châm biếm.

 

Một độc giả khác có tên Cindy Taylor thì bày tỏ hy vọng: “Thị trấn nhỏ Buford đã hơn 1 lần cứu tôi trong những chuyến đi giữa 2 thành phố Cheyenne và Laramie: đổ xăng, sử dụng phòng tắm hoặc uống một ly cà phê để có thể tiếp tục hành trình trong điều kiện thời tiết giá lạnh. Chúc chủ sở hữu mới của thị trấn gặp nhiều may mắn. Tôi hy vọng họ sẽ vẫn giữ lại bản sắc Wyoming cho điểm dừng chân nhỏ bé nhưng tuyệt vời này”.

 

Thanh Tùng Tổng hợp

Tròn mắt trước “dịch vụ khó hiểu“ nơi Đền thiêng đất Tổ – PLVN

9 Th4

.Là một lễ hội tầm cỡ quốc gia, có ý nghĩa trọng đại đối với đời sống tinh thần của dân tộc Việt, nhưng không gian văn hóa lễ hội Đền Hùng năm nay vẫn còn nhiều điều đáng nói. Sự lỏng lẻo trong quản lí dịch vụ và ý thức của người dân sẽ là một rào cản không nhỏ đối với việc đưa “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đến gần hơn với danh hiệu  “Di sản Văn hóa phi vật thể của thế giới”
Đặc sản sản xuất tại đất Tổ là… quần áo?.
Lễ Tổ trong… tiếng loa quảng cáo
Dân gia ta thuở nào đã có câu ca truyền tụng: “ Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”. Từ xưa đến nay , Giỗ Tổ Hùng Vương đã là một ngày hội chung của cả dân tộc, nơi con cháu Lạc Hồng từ mọi phương trời cùng hướng về nguồn cội, về với cõi hội tụ văn hóa –  tâm linh của đất nước mình. Nói vậy để thấy vai trò, vị trí của lễ hội Đền Hùng trong đời sống văn hóa – tinh thần của dân tộc Việt. Nó không chỉ gói gọn trong một hội làng, hội xã mà đã trở thành một nghi lễ mang tầm quốc gia và đang trên đường trở thành di sản văn hóa của toàn nhân loại.

Năm nay, đến hẹn lại lên, Lễ hội Đền Hùng – Giỗ tổ Hùng Vương 2012 được tổ chức với quy mô lớn , có nhiều hoạt động đặc sắc và thu hút được đông đảo du khách tham gia. Tuy nhiên, hình thức hoành tráng của lễ hội vẫn chưa gói trọn được một nội hàm chặt chẽ, hợp lí. “Hạt sạn” lớn nhất trong công tác tổ chức quản lí hoạt động lễ hội Đền Hùng năm nay đó là việc nảy sinh các dịch vụ du lịch nằm ngoài luồng quy hoạch và chưa được giải quyết hợp lí.

Chuyển đồ bằng quang gánh

Cụ thể, nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, người dân địa phương đã tự mình nghĩ và mở ra rất nhiều dịch vụ từ ăn, uống, ngủ, nghỉ, giải trí, đến quà lưu niệm, chụp ảnh lấy ngay tràn ngập trên các lối đi vào Đền.

Không chỉ là những dịch vụ quen thuộc như đồ ăn, nước uống, giờ người ta còn có thể thấy sự xuất hiện của các “món mới”, phục vụ “tận răng” yêu cầu của du khách như: khách muốn đem lễ vật lên Đền Thượng cầu cúng nhưng ngại vất vả, đã có các bà các chị với đôi quang gánh chuyên chở tận nơi.

Khách muốn có hương dâng bàn thờ Tổ mà ngại khói bụi, chen lấn đã có một đội thanh niên sẵn sàng đốt hộ, lúc nói đến phí thì cười rụt rè: “Chị cứ tùy tâm, miễn  giúp em có thêm quyển vở, cây bút ”. Khách chưa có tiền lẻ để đặt lên mâm cúng hay bỏ vào hòm công đức, lại có sẵn dịch vụ đổi tiền một nghìn, năm trăm đồng. Buổi trưa nóng nực, du khách muốn nghỉ ngơi tại chỗ, dưới những bóng cây râm mát, người ta đã trải sẵn từng dãy chiếu, muốn nghỉ thì “tiền tươi” là 20 nghìn đồng.

Buôn tiền ở lễ hội
Chị Hương, một du khách đến từ Hà Nội bức xúc bày tỏ: “Đây là năm đầu tiên tham gia lễ hội Đền Hùng nên tôi rất xúc động và hào hứng. Nhưng khi đến đây và thấy những dịch vụ tràn lan trong khu vực di tích, tôi cảm thấy vô cùng khó chịu. Những hiện tượng này chắc chắn sẽ làm giảm đi  không khí linh thiêng, trang trọng của một lễ hội lớn mang tầm quốc gia và gây mất điểm trong mắt  bạn bè quốc tế”.
Bức xúc của chị Hương cũng là dễ hiểu, bởi trong không khí tĩnh mịch thiêng liêng và trang trọng của ngày Giỗ Tổ  thỉnh thoảng lại vang lên tiếng loa rè quảng cáo về… túi thơm, bánh cáy, thậm chí là cả máy đo chiều cao.
Nhiều khách du lịch cả ta lẫn tây đều trố mắt ngạc nhiên trước những tiệm bán quần áo, sách bói toán và các quán ăn nhanh mọc lên nhan nhản giữa màu xanh bạt ngàn của rừng núi, đền đài, miếu mạo. Trước  cảnh tượng dở khóc dở cười đó,có người còn đùa bảo: “Khéo cứ đà này đến năm sau sẽ lại có thêm dịch vụ mới : cõng người leo Đền Hùng”.
Câu chuyện cũ: Lỗi tại ai ?
Cứ mỗi dịp lễ hội về, câu chuyện trách nhiệm của nhà quản lí hay lỗi tại ý thức người dân lại ca thành một điệp khúc cũ. Năm nay, các cơ quan chức năng của tỉnh Phú Thọ đã đi trước đón đầu với kế hoạch triển khai và thực hiện một lễ hội “sạch” nhưng thực tế cho thấy điều đó hẳn vẫn còn xa vời.
Trước hết, công tác xây dựng một nơi nghỉ ngơi cho du khách thập phương đến lễ hội Đền Hùng vẫn còn bỏ ngỏ dẫn đến tình trạng nhiều người hành hương về đây đă nằm la liệt khắp các khu vực khu di tích, làm mất đi mỹ quan  nơi đền thờ, miếu mạo trang nghiêm.
Khách du lịch nằm, ngồi ngổn ngang trong khu di tích
Một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng dịch vụ tự phát tràn lan trong khu vực không gian di tích văn hóa đó là do cách quản lí  thiếu hiệu quả của các gian hàng kinh doanh của khu di tích Đền Hùng. Với ý tưởng xây dựng các gian hàng kinh doanh chuyên biệt từng loại sản phẩm mang đậm bản sắc lễ hội như: bánh chưng bánh giầy, đặc sản các miền, đồ lưu niệm truyền thống…, nhưng trong thực tế mỗi cửa hàng lại trở thành một tiệm tạp hóa thu nhỏ và khu bán giới thiệu sản phẩm lại trở thành một cái chợ tự phát.
Bởi thế mới có những chuyện đùa như thật là khu bán bánh đặc sản đất Tổ thì kinh doanh quần áo trẻ em hay cửa hàng bánh chưng bánh dày còn kiêm thêm lồng chim, ô dù, túi xách…
Một lễ hội Đền Hùng hẳn sẽ thành công hơn nếu không có hai chữ “giá như”: giá như công tác tổ chức và quản lí của khu di tích chặt chẽ và hợp lí hơn thì chúng ta đã có thể có một lễ hội “sạch” đúng nghĩa; giá như người dân địa phương và cả du khách tham quan đều có ý thức và lòng tự tôn của dòng giống con Lạc cháu Hồng thì không gian văn hóa Giỗ Tổ linh thiêng đã không bị “ô nhiễm”…
Nhưng, đã bao năm quan vẫn còn đó câu chuyện quản lí – ý thức vốn vấn đề muôn đời ở nhiều di tích văn hóa, lịch sử trên nước Việt chứ chẳng riêng gì nơi đất Tổ linh thiêng.
Vũ Thu Phương

Tang lễ nhạc sĩ Thanh Sơn lặng lẽ dấu chân người – VTC

9 Th4

Sự kiện: nhạc sỹ Thanh Sơn, Nỗi buồn hoa phượng, Hình bóng quê nhà

(VTC News) – Tang lễ đưa tiễn nhạc sỹ Thanh Sơn về với đất mẹ diễn ra khá lặng lẽ sáng nay với sự hiện diện của gia đình và những người thân của nhạc sỹ. 6h30 sáng nay, Lễ Động quan nhạc sỹ Thanh Sơn đã diễn ra tại nhà riêng của ông (Q. Bình Thạnh, TP HCM). Dù là một nhạc sỹ nổi tiếng nhưng tang lễ đưa tiễn đưa nhạc sỹ Thanh Sơn thiếu vắng sự xuất hiện của giới nghệ sỹ, chỉ có sự hiện diện của gia đình và những người thân của ông.

Tang lễ nhạc sĩ Thanh Sơn lặng lẽ dấu chân người
Nghi lễ Động quan

Trong căn nhà nhỏ hẹp nằm trong con hẻm số 100 Đinh Tiên Hoàng, Lễ Động quan nhạc sỹ “Nỗi buồn hoa phượng” được diễn ra khá lặng lẽ. Chịu tang nhạc sỹ là vợ và 4 người con trai của ông. Sau nghi lễ cầu siêu lần cuối của pháp sư, đội kèn thổi những bản nhạc làm nên tên tuổi của nhạc sỹ Thanh Sơn như Nỗi buồn hoa phượng, Hình bóng quê nhà…tiễn đưa linh cữu ông về nghĩa trang công viên Chánh Phú Hòa (Bến Cát, Bình Dương) khiến những người dự tang lễ ngậm ngùi thương tiếc sự ra đi của một nhạc sỹ tài hoa.

Tang lễ nhạc sĩ Thanh Sơn lặng lẽ dấu chân người
Tang lễ nhạc sĩ Thanh Sơn lặng lẽ dấu chân người
Pháp sư cùng 4 con trai của nhạc sỹ Thanh Sơn dẫn đầu đưa tiễn ông về với đất mẹ.

Nhạc sỹ Thanh Sơn, tên thật Lê Văn Thiện sinh ngày 1 tháng 5 năm 1938 tại Sóc Trăng và là con thứ mười trong một gia đình có 12 anh chị em. Ông là một nhạc sĩ Việt Nam được biết đến từ thập niên 1960 với những ca khúc trữ tình nói về tuổi học trò và sau đó là những bài nhạc mang âm hưởng dân ca Nam bộ. Thanh Sơn đã trở về với cát bụi vào chiều ngày 4/4 sau những ngày bạo bệnh, hưởng thọ 74 tuổi.  

H.Anh

Tin liên quan
» Nhạc sỹ Nỗi buồn hoa phượng qua đời

» Cha mẹ DJ Mỹ Quyên đau buồn tiễn đưa con gái

» Lễ động quan DJ Mỹ Quyên dời lại sáng 30/3

» Nữ DJ hàng đầu Việt Nam qua đời ở tuổi 32

Nguyễn Du như một thi sĩ – vuongtrinhan

9 Th4

Lý do để sống “Trong tư thế xếp bằng trên chiếu trải giữa nền đất, ông ngồi trước một ấm nước chè xanh và một ngọn đèn vặn nhỏ bằng hạt đậu. Lúc này ông không hề để mắt ngó qua đến sách vở, cũng chả hút thuốc vặt, mà chỉ so vai lại, thu cả hai bàn tay vào lòng như một người suốt cả đời luôn cảm thấy rét, hai con mắt lim dim nhìn xuống chiếu đang nghĩ.“
Mở đầu một bài viết về Nam Cao, Nguyễn Minh Châu từng vẽ ra hình ảnh tác giả Chí Phèo như vậy. Đoạn văn thật đã bắt trúng cái thần của con người, và giúp người ta hình dung cách làm việc kiểu tư duy nghệ thuật của Nam Cao. Nhưng tôi ngờ rằng, trước Nam Cao khá lâu – tính ra có đến già một thế kỷ -, có một người nữa còn thích hợp hơn với cái cảnh ngồi giữa màn đêm, nghĩ ngợi sự đời, người đó là Nguyễn Du. Dù là lúc sống thanh bần giữa mảnh đất Nghi Xuân quê hương, hay khi chạy loạn dạt xuống Thái Bình; khi làm chức quan cai bạ ở Quảng Bình, hay khi giữa đường đi sứ, dừng lại ở những Hồ Nam, Hàng Châu, An Huy, Sơn Đông… xa lạ mấy đi nữa, thì ông vẫn thường một mình một bóng như vậy. Và cái tư thế ngồi nghĩ trong đêm đó gợi cho chúng ta thấy hình ảnh một loại nghệ sĩ xưa nay hiếm, song lại đáng được coi là cái phần tự hào của nền văn học dân tộc. Do sống trong một đất nước có lắm gian nan nên phần lớn người nghệ sĩ trong xã hội Việt Nam trước tiên là những người hành động. Chẳng phải đến nửa cuối thế kỷ XX, với tư cách là những công dân tham gia hai cuộc chiến tranh liên tiếp, các văn thi sĩ mới tự nguyện sống theo cái tâm niệm “Thà một cây chông trừ giặc Mỹ – Hơn ngàn trang sách luận văn chương”. Mà ngay trong các thế kỷ trước, con người hành động cũng chiếm một phần lớn trong số những người làm thơ có tên trong lịch sử. Nguyễn Trãi tồn tại trước hết như một người tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau đó là một quan chức trong vương triều Lê. Không kể cái tên Quân trung từ mệnh tập đã nói rõ ý nghĩa những bài văn của ông, mà ngay những nét tâm tình bộc lộ trong thơ, xa gần cũng có liên quan đến trách nhiệm công dân mà ông tự nguyện đảm nhận. Nguyễn Công Trứ mải miết làm bằng được các công việc được Minh Mạng, Thiệu Trị giao phó. Nguyễn Đình Chiểu sử dụng thơ văn để dạy đạo đức cho mọi người mà cũng là kêu gọi mọi người cầm gươm đánh giặc. Đặt bên cạnh những tiếng nói sôi nổi đó thì Nguyễn Du có vẻ hơi “lạc đội hình”: Là con người của những suy tư, ông mải nghĩ hơn mải sống, đúng hơn với ông, nghĩ là hình thức tốt đẹp nhất của sự sống. Nghĩ bằng thơ, cố nhiên. Một câu thơ có vẻ bâng quơ khi tả hoa sen: Hoa để tặng người mình sợ (Hoa dĩ tặng sở uý) cứ buộc phải nhớ, bởi có cái gì đó vượt ra ngoài lối thơ đèm đẹp thông thường để hứa hẹn với người ta rằng ở đây sẽ có những suy nghĩ thâm trầm về sự đời. Khi đã như vậy, chỉ có thơ mang lại cho ông niềm vui và ý muốn làm việc, nó cũng là lý do để ông sống trên đời này. Không thấy nói trong khi làm quan ông có được chính tích gì đáng kể. Có vẻ như ông là một vị quan khá xoàng. Ngoài thơ, gần như ông chỉ còn là con người thừa, con người vô dụng. Cuộc tìm tòi của chính mình và về chính mình Tâm lý ổn định vốn là một đặc điểm thường thấy ở những con người hành động. Chẳng hạn như Nguyễn Trãi. Lý tưởng ở ông rõ ràng. Niềm tin của ông mạnh mẽ. Nhiều bài thơ của ông có cái tên ngôn chí. Mà chí với người xưa không chỉ đơn giản là lòng quyết tâm, ý muốn thực hiện bằng được một việc gì đó, như ngày nay chúng ta vẫn hiểu. Trong phạm vi đạo Nho, thực ra nó có một nghĩa cụ thể: khao khát muốn làm cái gì đó cho đời và nhất là sống đúng theo những chỉ dẫn của thánh hiền. Trước khi là nhà thơ, người xưa vốn không quên mình là nhà Nho, và trước khi hành động, họ được giáo dục theo một lý tưởng chặt chẽ. Bản thân Nguyễn Du từng biết đến cái thứ chí đó. Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng nhìn trời hùng tâm sinh kế mờ mịt cả hai (Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên – Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên) [1] . Cái hùng tâm theo nghĩa cổ điển đã từng là một trong hai mối quan tâm lớn của đời ông. Thế nhưng nhìn chung đời Nguyễn Du thì thấy ngay thực tế là cái tráng khí đó ngày càng phai nhạt và một trong những đặc điểm làm nên chỗ khác của cả tập thơ chữ Hán của ông so với các nhà nho chính hiệu: ở đây không có bài nào được gọi là ngôn chí cả. Ông vẫn mê mải đọc sách, đọc bất cứ lúc nào có thể được: Ở chốn tha hương thường soi gương xem vẻ mặt Thì giờ đi trên đường gió bụi, một nửa là đọc sách (Tha hương nhan trạng tần khai kính Khách lộ trần ai bán độc thư) Song cái nghĩa quân thân mà những người như Nguyễn Trãi tự nguyện mang nặng trên vai, ông không san sẻ. Tự ông trút nó đi tự lúc nào, trút đi để chuốc lấy những băn khoăn lớn hơn nặng nề hơn và khó xác định hơn – băn khoăn sống sao cho ra một con người. Cảm động thay lúc cùng đường vẫn được trăng đến thăm (Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến) Tóc bạc rồi dù có hùng tâm cũng ngồi than thở suông mà thôi (Bạch phát hùng tâm không đốt ta) Ngọn cỏ bồng lìa gốc trước luồng gió tây thổi mạnh Không biết cuối cùng sẽ bay đến nơi đâu (Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp Tất cánh phiêu lưu hà xứ quy) Những câu thơ trên đều trích trong Thanh Hiên thi tập. Từ những bài thơ làm trong mười năm gió bụi này, người ta đã thấy cảm giác bao trùm trong Nguyễn Du là bất lực và vô vọng. Trong khi các nhà thơ chủ trương thi ngôn chí cùng là văn dĩ tải đạo thường khuyên con người ta phải sống như thế này, phải cảm nhận đời sống theo kiểu kia – và sản phẩm thơ ở đây giống như những câu trả lời – thì Nguyễn Du hầu như triền miên sống trong băn khoăn; ông không tìm ra ý nghĩa cuộc đời. Từ đấy, động cơ chi phối thơ ông về sau sẽ là cuộc tìm tòi của chính mình và về chính mình. Thơ nhiều khi hiện ra như những lời cật vấn, những câu hỏi siêu hình, trừu tượng, nó làm cho những gì ông viết ra có cái giọng khác đời, còn ông thì đạt tới tầm vóc của một kẻ sống hết tầm người, sống để đối diện với những vấn đề của cả nhân loại. Và, trong thâm tâm, Nguyễn Du biết điều đó. Không biết hơn ba trăm năm sau Thiên hạ ai người khóc Tố Như (Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như) Mấy câu thơ ấy thuộc loại được nhắc nhở nhiều nhất mỗi khi nói tới Nguyễn Du. Nhiều người chỉ thấy đấy là lúc ông thương cảm cho số phận của mình. Nhưng tôi tưởng ở đây còn có một cái gì khác, một niềm riêng tây nằm ở mãi trong tiềm thức nhà thơ. Trước một tài năng bị nhiều thiệt thòi (phần lớn thơ Tiểu Thanh đã bị đốt) ông hình dung ngay ra tương lai của mình và chỉ nói tới tiếng khóc. Nhưng đằng sau chữ khóc ở đây phải chăng còn có chữ biết? Bởi người ta chỉ khóc về những người mà người ta biết và cảm phục. Thành thử, có thể chính Nguyễn Du chưa cảm nhận đầy đủ, song ở ông đã ẩn sẵn cái ý thức sâu xa về sự có mặt của mình trong tương lai, một cách “ở lại với lịch sử”. Trong một hoàn cảnh mà xã hội cứ muốn kéo người ta xuống – chế độ phong kiến vốn nổi tiếng với những ràng buộc kiểu đó, trước hết là ràng buộc về tư tưởng –, có thể nói đây là một sự vượt ngoài thông lệ. Từ lối gián cách cần thiết tới một sự giải phóng Một phần đáng kể thơ chữ Hán của Nguyễn Du là thơ đi sứ. Đi sứ thời tác giả Truyện Kiều sống là gì? Là rơi vào đơn độc, là xa gia đình và môi trường quen thuộc hàng năm liền, là cắt đứt mọị giao thiệp cảm tính hàng ngày để phải đóng vai người đại diện cho đất nước ở một xứ sở xa lạ… Có nhớ lại hoàn cảnh địa lý và phương tiện đi lại, nhớ lại tình trạng tâm lý phổ biến của con người hai trăm năm trước, mới hiểu tại sao với người xưa, việc đi sứ lại trở nên đáng sợ như vậy. Nhưng với những con người đã tự khẳng định thì đây lại là một cơ hội tốt. Cơ hội dứt bỏ cái mè nheo phiền phức hàng ngày. Cơ hội lùi ra xa để nhìn mọi chuyện. Cơ hội vượt lên cái đời sống trần trần ai cũng thấy, để sống với một đời sống bao quát hơn mà cũng là tinh tuý hơn. Nguyễn Du chính là một người khai thác những cuộc đi sứ theo ý nghĩa ấy và đây là điều bộc lộ khá rõ trong thơ đến mức không giấu được ai. Ngay từ lần xuất bản đầu tiên 1958, những người chuẩn bị cho việc in thơ chữ Hán Nguyễn Du là Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh đã nhận xét: khi ở trong nước, “Nguyễn Du thường than thở là tiếu đề tuẫn tục nghĩa là phải chiều theo đời cả tiếng cười tiếng khóc cũng không được tự do, nhưng lúc này là lúc ở nước ngoài, cười tha hồ cười, khóc tha hồ khóc, Nguyễn Du muốn nói ra cho sướng miệng hả lòng cho nên văn khí trong phần này xem ra khảng khái hùng tráng” [2] . Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX cũng cho rằng trong lúc đi sứ, nhà thơ mới “có thể nói điều mình muốn nói” [3] . Quả thật trong việc đi sứ – để dùng lại thuật ngữ của khoa nghiên cứu văn học ngày nay -Nguyễn Du có dịp sử dụng sự gián cách để lạ hoá đời sống. Những tiềm năng trong ông được đánh thức. Những ràng buộc quen thuộc bị gạt bỏ, ông như tìm tới một bậc tự do mới cho sự suy nghĩ của mình. Người nghệ sĩ trong ông vượt lên tưởng như không bị một giới hạn nào ngăn cản. Hai chữ cổ kim vốn đã xuất hiện trong Nam trung tạp ngâm giờ đây lại luôn luôn thấy lặp lại trong Bắc hành tạp lục. Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam – tôi muốn nói cả thơ hiện đại – có một hồn thơ đi xa rộng trong không gian thời gian như Nguyễn Du. Giá như được sống trong thế giới hôm nay, ông sẽ thích cái lý luận về thời gian lớn của nhà triết học Nga M. M. Bakhtin. Đi cụ thể hơn vào cuộc Bắc hành của người từng viết Kiều. Trong khi thơ đi sứ của nhiều người khác chỉ tồn tại trong hình thức thù tạc tầm thường hoặc những cuộc đấu trí mang tính cách giai thoại, hoặc cùng lắm là những bài thơ sụt sịt nhớ vợ nhớ con và mong sớm gặp lại gia đình – thì với Nguyễn Du, tình hình có phần ngược lại. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghĩ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ; không chỉ xót xa với hoàn cảnh khốn khổ của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình, hoặc bốn mẹ con một người hành khất (là những bài thơ lâu nay được các nhà nghiên cứu dành cho quá nhiều sự ưu ái), mà còn đặt mình vào tình thế của những nhân vật kỳ vĩ, hội tụ các vấn đề lớn của đời sống, như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần, Nhạc Phi, Tần Cối… để nghĩ về những vấn đề khá trừu tượng. Một đặc điểm của lịch sử Trung Hoa là ở đó có nhiều nhân vật đa dạng. Tôi trung vua hiền có, mà kẻ gian giảo xảo quyệt cũng rất nhiều, cái gì ở đây dường như cũng cực đoan cũng quá đáng. Lịch sử lại sớm được ghi chép thành những khuôn mẫu, đồng thời mở ngỏ khả năng để người đời sau đánh giá lại. Như nhiều nhà Nho Việt Nam, Nguyễn Du sớm được tiếp xúc các mẫu người đã ổn định đó qua sách vở. Ông không bằng lòng với cách giải thích thông thường. Trước đối tượng nào ông cũng nghĩ và buộc mọi người cùng nghĩ với mình -Bậc thánh vì danh hay vì thực nào ai biết? (Thánh nhân danh thực hữu thuỳ tri?) Xưa nay ai là người có thể phá bỏ cuộc mê này? (Kim cổ thuỳ năng phá thử mê?) Hồn ơi hồn ơi hồn làm thế nào? (Hồn hề, hồn hề, nại hồn hà?). Những câu hỏi như vậy luôn luôn được đặt ra. Lịch sử với ông không còn là cái tất yếu không thể cưỡng lại mà là cái lẽ ra nên khác và luôn luôn có thể khác. Nhiều người đã nói tới việc Nguyễn Du dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình, tương tự như việc ông dùng cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân, câu chuyện về mấy chị em Kiều để miêu tả xã hội Việt Nam. Nhưng có lẽ ở đây còn có thể nói tới một cái gì xa rộng hơn: những câu thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Trong một nhận xét tạt ngang, nhà nghiên cứu Phan Ngọc có lần nói rằng văn hoá Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc, và đó là một nhận xét đúng. Bởi vậy, một khi thơ chữ Hán, bằng con đường riêng của mình, góp phần vào việc bổ sung cho cái mặt thiếu sót đó, chúng ta lại càng thấy trân trọng! Cũng như cái chất siêu hình mà các sáng tác của Nguyễn Du đạt tới không phải là một điều đáng xấu hổ, như một ít nhà nghiên cứu nghĩ, mà thực ra đáng tự hào. Ở nước nào cũng vậy, người ta thường vẫn ghi nhận phẩm chất đó như là một dấu hiệu chứng tỏ một nền thơ đã trưởng thành. Cảm thông và thức tỉnh Xưa nay nói đến Nguyễn Du, mọi người nghĩ ngay tới Truyện Kiều. Trong một cuốn sách tập hợp các bài viết về Nguyễn Du in ra gần đây [4] , phần viết về Truyện Kiều lên tới 815 trang trong khi phần viết về thơ chữ Hán chỉ vẻn vẹn có 128 trang. Tiếp tục làm cuộc thống kê thuần tuý số lượng thế này, người ta thấy ở sự cảm thụ của các cây bút nghệ sĩ như Hoài Thanh, Xuân Diệu lẫn những chuyên gia như Nguyễn Lộc, tỷ lệ cũng là tương tự. Giáo trình của Nguyễn Lộc dành số trang viết về Kiều năm lần lớn hơn số trang viết về thơ chữ Hán. Trong hoàn cảnh ấy thì một số nhận xét viết trong Lời nói đầu bộ Nguyễn Du toàn tập in ra gần đây là một sự đính chính cần thiết. Theo như Mai Quốc Liên, người viết Lời nói đầu này, thì đừng vì đã có Truyện Kiều mà ra lòng rẻ rúng thơ chữ Hán. Bên cạnh Kiều phần thơ này cũng là một toà lâu đài sang trọng. Tỉ mỉ ra còn phải nói “Truyện Kiều là diễn âm, lỡ tay mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đích là sáng tác và nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du” [5] . Nói cách khác, nếu ở Truyện Kiều người ta mới thấy tấm lòng và tài năng, thì tới thơ chữ Hán, người ta thấy được cả tầm vóc, bản lĩnh Nguyễn Du. Trong phạm vi tìm hiểu còn nông cạn của mình, tôi cũng có cảm tưởng như Mai Quốc Liên và muốn nói rõ hơn cái phần tâm huyết do đó là cái phần chân dung của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán bằng cách thử làm một cuộc đối chiếu: Kiều được nâng niu do giá trị của tác phẩm đã đành, nhưng còn xuất phát từ hai khía cạnh làm nên truyền thống cảm thụ của nhiều thế hệ người đọc ở ta: một là dễ nao lòng trước những gì đau xót gợi ra thái độ cảm thương và hai là coi trọng cái đẹp cảm tính hơn là cái đẹp lý tính. Không phải ngẫu nhiên, nói về Kiều, nhiều người nghĩ ngay đến tiếng khóc. Xuân Diệu bảo đó là tiếng khóc vĩ đại. Trong số những bí mật cần được lý giải về khả năng phổ biến của Truyện Kiều, đấy chính là yếu tố thứ nhất. Song phải thấy ngay rằng sự cảm thương (hay rộng hơn là cảm thông) nói ở đây là hồn nhiên tự nhiên. Nguyễn Lộc khi phân tích nhân vật chính của Đoạn trường tân thanh nhiều lần dùng đến hai chữ ý thức, bao gồm từ “ý thức về cuộc sống” cho tới “ý thức làm người”, và riêng với đoạn cuối tác phẩm thì cho rằng nàng Kiều thuộc loại tuyệt vời ý thức [6] . Bởi lẽ với nhiều người chúng ta, Kiều là một con người lý tưởng, nên sự tôn vinh như thế thật dễ hiểu. Ta muốn dành cho Kiều mọi thứ tốt đẹp. Nhưng tôi tưởng nếu xem ý thức như một sự thấu hiểu có vận dụng đến sự xét đoán phân tích thì làm sao có thể nói là Kiều đạt tới cái trình độ cần thiết ấy cho được?! Thử nghĩ lại mà xem, chẳng phải nghĩ tới Kiều là người ta nghĩ đến những lầm lẫn của nàng? Trước chuyện gia đình bị vu oan, nàng không bao giờ thử ngồi suy xét xem đầu đuôi mọi chuyện thế nào, vì đâu đến nông nỗi đó, mà chưa chi đã nghĩ ngay đến chuyện bán mình chuộc cha. Cũng vậy, nhìn chung cả cuộc đời Kiều, cái phần hấp dẫn nhất là tình, nhưng đó là thứ tình thiếu sự hướng dẫn của lý trí. Ma dẫn lối quỷ đưa đường – lại tìm những lối đoạn trường mà đi, khi khái quát vậy, Nguyễn Du quả đã bắt trúng cái thần của nhân vật, và ông đã diễn tả Kiều theo cái cách đó bằng tất cả tài năng kỳ diệu của mình. Chẳng phải là với nhiều người chúng ta, những đoạn Kiều gần gũi nhất là những đoạn buồn: Là đoạn khái quát cuộc đời Đạm Tiên? Là đoạn Kiều trao duyên lại cho em? Là đoạn Kiều nhớ nhà?… Những vấn đề tư tưởng ấy lại thấm cả vào mỹ cảm và nghệ thuật. Xét về vẻ đẹp thì quả thật Truyện Kiều là một cái gì chín đầy rực rỡ. Nhưng phải nói thêm, ngay trong việc vận dụng thể lục bát, cái đẹp ở đây nhiều khi đã như lạ lùng ma quái. Trong Văn chương Truyện Kiều in lần đầu năm 1945, Nguyễn Bách Khoa tức Trương Tửu từng có sự cảm thụ tinh tường nét đặc sắc này của tác phẩm [7] . Ghê gớm thay là cái điệu thơ lục bát nó triền miên cuốn người ta theo cái tâm hồn sầu thảm và làm lan toả mãi mối cảm thương trước một hoàn cảnh bất lực. Với việc đưa lục bát lên đến tuyệt đỉnh, Truyện Kiều an ủi chúng ta nhưng cũng giữ chúng ta trong một sự cam chịu không cưỡng lại nổi. Ở chỗ 3.254 câu Kiều dừng lại, thì thơ chữ Hán bắt đầu. Mấy chữ tuyệt vời ý thức, mà Nguyễn Lộc nói, nên dành cho thơ chữ Hán. Giọng thương cảm vẫn còn, nhưng nó chỉ giúp vào việc làm tăng hiệu quả của cái phần suy nghĩ chỉ có ở những người thông thạo sách vở. Cảm quan hoài nghi kín đáo nhưng bàng bạc khắp nơi, một thứ hoài nghi lành mạnh. Lời kêu gọi toát lên từ những dòng thơ Phản chiêu hồn, Độc Tiểu Thanh ký: Hãy nhìn rộng ra cả thế giới. Hãy biết đến những gì ở ngoài mình, ở ngoài xứ sở của mình nữa. Khóc một chút thôi rồi hãy lau nước mắt mà nhìn vào sự thực… Cố nhiên, vốn xa lạ với thứ thơ thuyết giáo dạy dỗ mọi người, Nguyễn Du không nói những câu bắt đầu bằng chữ hãy ấy với người đọc, song chính là từ các câu thơ người đọc nhận ra những gì mà tác giả tha thiết. Thậm chí ngay cả khi Nguyễn Du thú nhận sự bất lực rơi vào tuyệt vọng thì thơ ông vẫn có khả năng thúc đẩy sự suy nghĩ trong ta và kéo chúng ta về phía ánh sáng của trí tuệ. Vẻ đẹp trong thơ vốn có nhiều sắc thái khác nhau. Trong Kiều có vẻ đẹp của Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng, lại có vẻ đẹp của những câu thơ đơn giản kiểu như Mai sau dù có bao giờ. Song ở Kiều loại thứ nhất nhiều hơn. Còn loại thứ hai thì phải đến thơ chữ Hán mới thật là có một sự trình diện liên tục: Ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thể ăn được (Song ngoại hoàng hoa tú khả xan); Hoa để tặng người mình sợ (Hoa dĩ tặng sở uý); Lúc múa may quay cuồng điên dại nhất là lúc đẹp nhất (Tối điên cuồng xứ tối phong lưu)… Nhìn chung lại, nếu Kiều khai thác mối cảm thông giữa người với người, thì thơ chữ Hán chọn cách tác động của sự thức tỉnh. Kiều an ủi ta, còn thơ chữ Hán làm phiền ta, buộc ta phải đặt lại nhiều vấn đề của đời sống. Kiều là du xuân, là tiếng khóc nhớ nhà, là những cảnh đầy ải không rõ nguyên nhân tại sao. Thơ chữ Hán là chuyến đi xa đơn độc, là con người đối diện với sách vở, với thời gian và lịch sử. Kiều gợi không khí của những ngày ê chề buồn bã, mộng thực lẫn lộn. Thơ chữ Hán là những đêm không ngủ suy xét sự đời. Người làm thơ trong Kiều thủ thỉ tâm sự vỗ về bạn đọc. Người làm thơ trong thơ chữ Hán đòi hỏi chất vấn chúng ta, buộc chúng ta đối mặt với cuộc làm người vất vả mà thú vị. Nhưng chính vì vậy thơ chữ Hán là sản phẩm của sự trưởng thành. Chủ nghĩa nhân đạo thường được hiểu một cách giản dị: chia sẻ với nỗi đau khổ của con người. Tóm lại là một chữ thương. Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã đi gần tới một thứ chủ nghĩa nhân đạo khác – chủ nghĩa nhân đạo của sự hiểu. Đó là một quan niệm chỉ trong thời hiện đại mới được nẩy nở đầy đặn. Và nó lại cũng chính là thứ chủ nghĩa nhân đạo cần cho chúng ta hôm nay hơn cả. Chữ tâm đối với Nguyễn Du lúc này không còn là một thứ sụt sùi thương cảm, để che giấu sự bất lực; tâm đã biến thành cái hích đầu tiên buộc đầu óc chúng ta làm việc, bước đầu tiên để giúp con người sống đúng tầm người. Tiếng rền của núi Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh từng thử đếm và thấy trong 65 bài ở Thanh Hiên thi tập có đến mười bảy lần nhắc đến mái đầu bạc. Tiếp tục lối thống kê ấy, người ta có thể nhận ra nhiều chi tiết cho thấy sự già dặn ở con người Nguyễn Du. Trong thơ ông người ta gặp những ngày lạnh hơn những ngày nóng, gặp mùa thu mùa đông nhiều hơn mùa xuân mùa hè, gặp ánh trăng gợi những ý tưởng hư vô xa xôi nhiều hơn mặt trời thôi thúc người ta chen cạnh với đời. Những đêm không ngủ của Nguyễn Du mà phần trên đã nói cũng phụ hoạ thêm cho cảm giác đó: Suốt đêm nghĩ ngợi thao thức không ngủ Văng vẳng nghe tiếng sáo trong ánh trăng suông (Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung) Đêm khuya, băn khoăn một mình đối bóng Nằm trên giường nghe mưa tầm tã mà sốt ruột (Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh) Không chỉ già trước tuổi, Nguyễn Du còn hiện ra như một người thâm trầm lặng lẽ sống nhiều với nội tâm. Ta có thể đoán hàng ngày, có vẻ như ông là người ít nói ngại nói. Người ta có lúc đã nghĩ nhầm về ông. Một nhà nghiên cứu tả ông như “một kẻ tuỳ thời, ích kỷ, nhút nhát thích an nhàn, mơ giàu sang, sợ biến cố và tranh đấu” [8] . Chỉ có thơ chiêu tuyết cho ông. Một bài như Phản chiêu hồn cho thấy một cách nghĩ quyết liệt hiếm có: Thành quách vẫn như cũ nhưng nhân dân đã khác rồi (Thành quách do thị nhân dân phi) Đời sau ai ai cũng là Thượng Quan Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La (Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan Đại địa xứ xứ giai Mịch La) Thượng Quan là kẻ chuyên môn gièm pha. Còn Mịch La là tên con sông Khuất Nguyên tới trẫm mình. Ai cũng là Thượng Quan, đâu cũng Mịch La, nghĩa là cuộc đời này hỏng hết rồi! Trong thơ xưa nói chung ít khi thấy một lối nói đến kiệt cùng chi lý, nói trăm phần trăm, nói không chừa một chỗ nào để lùi. Lỗi phạm quy của Nguyễn Du là cố ý! Nên để ý thêm là dưới con mắt của các sử gia từng viết Đại nam chính biên liệt truyện, thì Nguyễn Du là người ngạo nghễ tự phụ [9] . Thời phong kiến, những người có chính kiến riêng, tức là những người trẻ trung tươi mới trong cách nghĩ, thường bị ghép cho cái tội đáng ghét ấy. Nguyễn Du cũng ở trong số này chăng? Ta vốn có tính yêu núi. Trong bài Tiềm sơn đạo trung in trong Bắc hành tạp lục, vụt lên một câu thơ lạ vậy. Trong nguyên văn chữ Hán Túc hữu ái sơn tích, chữ tích ở đây có nghĩa là một thứ tật, một thói quen đã bền chắc như là một sự nghiện ngập, và muốn cho chính xác phải dịch thành Ta vốn nghiện núi. Tôi cho rằng đây là một trong số những câu thơ đáng nhớ vì có ý nghĩa thông báo về tác giả. Hoá ra Nguyễn Du không phải chỉ là cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia; mà hình ảnh gợi đúng về ông phải là những ngọn núi, núi đơn độc, núi vượt lên trên sự bằng phẳng. Và thơ Nguyễn Du là một thứ tiếng rền của núi! Liệu có thể nói cái phần bên trong rắn rỏi khoẻ mạnh lão thực mới là phần chính trong con người ông? Nếu thế thì còn có thể nói là ông trẻ trung mãi mãi. [1]Thơ trích trong bài đều lấy từ Thơ chữ Hán Nguyễn Du do Lê Thước Trương Chính biên soạn, NXB Văn học, 1965 [2]Dẫn theo Hoài Thanh, Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán, 1960. Chính Hoài Thanh sau khi dẫn đã viết thêm “Nhận xét này rất đúng». [3]Sách dẫn trên, bản của NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp 1978, tr. 43 [4]Nguyễn Du. Về tác giả và tác phẩm, Trịnh Bá Đĩnh biên soạn, NXB Giáo dục, bản in 2003. [5]Dẫn theo bản in lại trong sách Nguyễn Du. Về tác giả và tác phẩm, tr. 120 [6]Nguyễn Lộc, sđd, tr. 98 [7]In lại trong Nguyễn Bách Khoa, Khoa học văn chương, Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu NXB Văn hoá thông tin, 2003 [8]Ý của Nguyễn Bách Khoa, Trương Chính dẫn lại trong Lời giới thiệu Thơ chữ Hán Nguyễn Du, tr. 30 [9] Dẫn theo Nguyễn Lộc, tr .17 Nguồn: Phụ san Thơ (19+20) của báo Văn nghệ, Hà Nội, số ra ngày 19-2-2005. Bản đăng trên talawas có sửa chữa và bổ sung vài chi tiết nhỏ. Trích talawas

Căng thăng gia tăng khi vụ phóng vệ tinh của Triều Tiên đến gần – VOV

9 Th4

(VOV) – Mỹ và các đồng minh châu Á đã sẵn sàng để đánh chặn tên lửa của Triều Tiên nếu nó lạc vào lãnh thổ các nước này.

Bất chấp việc Triều Tiên công khai việc chuẩn bị cho kế hoạch phóng vệ tinh thời tiết sắp tới trước các hãng truyền thông quốc tế, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn đồng loạt triển khai tàu khu trục để đối phó. Căng thẳng giữa các bên tiếp tục gia tăng khi thời điểm Triều Tiên phóng vệ tinh đến gần.

Các chuyên gia Triều Tiên đang chuẩn bị cho vụ phóng vệ tinh sắp tới (Ảnh: Tân Hoa xã)

Khoảng 70 phóng viên nước ngoài ngày 8/4 đã đến quan sát Trạm phóng vệ tinh Sohae ở khu vực Tongchang-ri thuộc tỉnh Bắc Pyongan của Triều Tiên. Ông Jang Myung Jin, quan chức phụ trách trạm Sohae cho biết, tên lửa đẩy ba tầng Unha-3 mang theo vệ tinh Kwangmyongsong-3 đã được lắp đặt nhưng chưa được tiếp nhiên liệu. Ông Jang Myung Jin cũng khẳng định, tên lửa Unha-3 là tên lửa đẩy, không phải tên lửa đạn đạo và có hệ thống tự hủy vì vậy sẽ không ảnh hưởng tới các nước khác trong khu vực.

 “Chúng tôi sẽ phóng một vệ tinh mạnh mẽ để truyền dữ liệu về thời tiết. Chúng tôi cũng sẽ có một vệ tinh ghi hình địa chất và một tàu thám hiểm không gian trong tương lai. Tôi tin rằng nghị quyết của LHQ không cấm Triều Tiên phóng vệ tinh sử dụng phương tiện đẩy. Theo luật quốc tế về vũ trụ, mọi nước đều có quyền độc lập trong việc phát triển không gian và có chủ quyền rõ ràng về vấn đề này. Tôi thấy không có lý do gì mà Triều Tiên lại bị loại trừ khỏi các hoạt động phát triển không gian”.

Các nhà khoa học Triều Tiên tham gia kế hoạch phóng vệ tinh thời tiết cũng khẳng định tầm quan trọng của kế hoạch này. Một nhà khoa học nói: “Vệ tinh thời tiết này mang ý nghĩa quan trọng về sự phát triển kinh tế của đất nước Triều Tiên cũng như việc cải thiện đời sống của người dân Triều Tiên”.

Tuy vậy, sự công khai của Triều Tiên và những nỗ lực chứng minh việc phóng vệ tinh nằm trong kế hoạch nghiên cứu vũ trụ vì mục đích hòa bình, đã không thể khiến Mỹ và các đồng minh tại châu Á bớt ngờ vực. Ngay khi Triều Tiên đặt tên lửa vào bệ phóng, cả Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đã đồng loạt triển khai tàu khu trục lớp Aegis có trang bị tên lửa đạn đạo tới Hoàng Hải. Trong đó, Nhật Bản đã triển khai các hệ thống đánh chặn tại thủ đô Tokyo, các tỉnh miền Nam và vùng biển Hoa Đông, nhằm ngăn chặn các mảnh vỡ từ vụ phóng vệ tinh của Triều Tiên có thể rơi vào lãnh thổ nước này.

Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Gemba hôm 8/4 cho biết, nước này sẽ kêu gọi cộng đồng quốc tế đoàn kết hành động trước kế hoạch phóng tên lửa mang vệ tinh của Triều Tiên tại Hội nghị Ngoại trưởng G8 vào ngày 11/4 tới ở Washington, Mỹ.

Ông Gemba nhấn mạnh, nếu Triều Tiên kiên quyết thực hiện vụ phóng tên lửa này sẽ phải nhận lấy phải ứng mạnh mẽ từ phía cộng đồng quốc tế và không loại trừ khả năng Hội đồng Bảo an sẽ có một nghị quyết đối với Bình Nhưỡng.

Trong khi đó, theo hãng tin NHK của Nhật Bản, phía Hàn Quốc cáo buộc Triều Tiên đang chuẩn bị cho vụ thử hạt nhân thứ ba. Theo phân tích của Cơ quan tình báo Hàn Quốc, những hình ảnh thu được qua vệ tinh ngày 1/4 vừa qua cho thấy, Bình Nhưỡng đang đào một đường hầm mới tại cơ sở Punggye-ri ở miền Bắc, nơi đã diễn ra hai vụ thử hạt nhân trước đó của Triều Tiên vào các năm 2006 và 2009.

Về phần mình, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì cho biết nước này yêu cầu Triều Tiên có một cái nhìn toàn cảnh hơn, giữ bình tĩnh và kiếm chế, đồng thời nhấn mạnh vấn đề này phải được giải quyết trên cơ sở đối thoại hòa bình./.

Hoàng Lê/VOV-Trung tâm tin

%d bloggers like this: