Lưu trữ | 9:04 Chiều

Điều khiến nhiều người rầu lòng nhất là sự xuống cấp của đạo đức xã hội – VHNA

12 Th4

Phan Văn Thắng (thực hiện)

TSKH. Phan Hồng Giang

VHNA: Văn hóa và giáo dục là hai môi trường, hai không gian quan trọng bậc nhất của đời sống xã hội. Con nguời sinh ra, trưởng thành trong đó và quyết định đạo đức mà họ là chủ thể. Nhân Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI vừa ra Nghị quyết 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, VHNA đã đón TSKH Phan Hồng Giang làm khách và cùng trao đổi về những vấn đề xã hội đáng quan tâm từ cách tiếp cận về văn hóa và giáo dục.

PV: Thưa ông, xin được bắt đầu từ nghề nghiệp nghiên cứu văn học của ông. Ông thấy đời sống văn học của nước ta hiện nay như thế nào, từ sáng tác văn chương đến lý luận phê bình?

TSKH Phan Hồng Giang (PHG): Để trả lời tương đối đầy đủ câu hỏi này của anh có lẽ phải cần tới vài ba luận án tiến sĩ thứ thiệt. Tôi chỉ có thể trả lời vắn tắt.

Đời sống văn học ở nước ta hiện nay theo cảm nhận của riêng tôi, khá phong phú, đa dạng nhưng cũng không quá nhộn nhịp sôi động bởi không có sự xuất hiện của nhiều tên tuổi nổi bật hay sự chú ý đặc biệt của đông đảo độc giả dành cho văn học. Hình như cuộc mưu sinh tất bật khắp nơi hôm nay cùng với sự xuất hiện của nhiều phương tiện nghe nhìn hấp dẫn khác đã khiến số lượng người đọc sách văn học giảm đến mức thê lương: Với số dân gần 90 triệu, trung bình mỗi đầu sách văn chương chỉ được in ra phổ biến là trên dưới 1000 bản. Văn chương thưa vắng người đọc khác nào… bóng đá trước khán đài lơ thơ người xem?!

Nếu hình dung bức tranh toàn cảnh văn học nước nhà như một “hội chợ” triển lãm thì đi vào những khu vực cụ thể có thể thấy các “quầy” thơ trẻ, văn xuôi trẻ, văn học mạng… có vẻ tấp nập ồn ào, nhưng lại chưa có nhiều sản phẩm “bắt mắt”, “hữu dụng” hứa hẹn còn lưu lại lâu dài.

Sự tham gia khá sốt sắng của các “quầy” văn chương (?) thủ công nghiệp dư, -nhất là trong thể loại thơ, – thực ra, ngoài tình yêu văn chương thái quá thể hiện bằng số lượng đáng nể, thì cũng không có gì nhiều để nói. Văn thơ dở thì chỉ còn nước là chính tác giả cùng vợ con bạn bè thân quý gật gù thưởng thức. Như hàng xấu vụng về thì không ai mua dùng.

“Quầy” hải ngoại cũng khá đông vui với các cây bút không còn mãi nhâm nhi nỗi buồn xa xứ hay gậm nhấm mối thù xưa hận cũ…

“Quầy” các bậc cao niên – ngoại ngũ tuần “tri thiên mệnh”, lục tuần “nhi nhĩ thuận” hay “thất thập cổ lai hy” và cao hơn nữa… thì thoạt trông có vẻ “đìu hiu” nhưng ngắm nghía kỹ lại hóa ra hầu hết toàn là “đặc sản”, là thứ rượu chưng cất nhiều năm, càng để lâu càng đậm đà hương vị của các quan sát chiêm nghiệm sâu xa chuyện nhân tình thế thái, xới xáo những trầm tích văn hóa…

Đặc biệt có sự hiện diện của cả các “quầy” mà chủ nhân của chúng có thể nói – theo nghĩa đen – là “đội mồ sống dậy”, chiếm vị thế trang trọng trong cuộc “quần anh tụ hội” giả tưởng hôm nay.

“Quầy” lý luận phê bình khá lâu trước đây thường tự hào với thiên chức làm “cái roi” quất cho “con ngựa văn chương” lồng lên (?) nay lại tỏ ra khá vắng vẻ khiêm nhường vào vai các học giả đeo mục kỉnh trầm tư, theo đuổi các thao tác lý luận này nọ…

(Tôi không nhắc đến những cái tên cụ thể nào; người trong giới đọc những giòng trên có thể tự tin mà đoán tiếp ra điều tôi muốn nói, trong khi nếu tôi tự kể thì các bạn sẽ cho là vừa thừa, vừa thiếu !).

PV: Văn học đương đại của chúng ta đã có những tác phẩm lớn và những nhà văn, nhà thơ lớn chưa? Có tác phẩm nào, tác giả nào thực sự lớn mà chúng ta chưa nhận ra hoặc cố tình không công nhận là lớn?

PHG: Xin nói ngay là để hạ bút đánh giá tác phẩm văn học này “lớn”, tác phẩm kia “bé” cần có những tiêu chí cụ thể đại để là về nội dung đề cập, hình thức biểu đạt, về cảm hứng nghệ thuật hay đặc sắc ngôn từ, về hiệu quả xã hội khách quan và chủ quan, về sự tiếp nhận mang tính đặc thù tương đối ở mỗi người … Mà tất cả những tiêu chí trên, tiếc thay (hay may thay?) lại rất khác biệt – thậm chí còn trái ngược nhau ! – ở những người đọc, những nhóm người đọc cụ thể. Vậy nên tôi cũng xin khất không vội trả lời đạt mức được coi là rõ ràng cho câu hỏi này ngay bây giờ vì quả thật không muốn vô tình (?) gây ra những tranh cãi có thể căng thẳng mà vô bổ khi xuất phát điểm của các đánh giá cụ thể lại hứa hẹn sẽ cách xa nhau quá nhiều! Tôi nghĩ mình có thể sẽ quay lại chủ đề này vào một dịp khác thích hợp hơn chăng?

Tôi chỉ có thể nói ngay một điều rằng, dưới góc nhìn của tôi, văn học đương đại của ta đã và đang có những tác phẩm lớn cùng các tác giả lớn.

PV: Điều khác biệt lớn nhất, căn bản nhất của văn học thời hôm nay so với mấy chục năm trước là gì? Cái khác đó có là một điều kiện để chúng ta hy vọng có những tác giả và tác phẩm lớn?

PHG: Nếu đem so văn học ngày nay với cách đây vài chục năm thì điều khác biệt lớn nhất nằm ở bối cảnh xã hội mà từ đó văn học đã sản sinh ra: những đổi mới đáng kể diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, nhìn từ sâu xa, đã phần nào góp phần cởi bỏ những bao cấp nặng nề về tư tưởng. Đặc biệt, sự giao lưu, hội nhập quốc tế mang tính tất yếu về nhiều mặt đem lại những thay đổi to lớn trong đời sống xã hội. Từ dòng suối nhỏ chúng ta đã bơi ra biển lớn và học cách hòa nhập tích cực vào nếp cảm. nếp nghĩ và hành vi của nhân loại tiến bộ. Dân trí ngày càng được nâng lên. Tinh thần tư duy khoa học đã dần thay thế cho thói quen tự ràng buộc mình bằng những định đề tiên nghiệm (a priori), con người trở nên khoan dung hơn trước những biểu hiện khác biệt của đồng loại, ngày càng bộc lộ mạnh mẽ hơn nhu cầu được làm chủ chính cuộc đời mình, làm chủ xã hội của những người công dân…

Từ đây, nói riêng về lĩnh vực văn học nghệ thuật, có thể thấy người viết đã có ý thức rõ ràng hơn về sự thực thi quyền tự do trong sáng tác gắn với trách nhiệm chân chính của người công dân. Các cấp quản lý đã tỏ ra thoáng đạt cởi mở hơn và những người viết cũng dần tự cởi bỏ nỗi sợ hãi vô hình bị ai đó xét nét săm soi những cái gọi là “biểu tượng hai mặt”, “ám chỉ ẩn dụ” mà từ đó – như trước đây – có thể bị quy chụp những tội lỗi nặng nề, khó tự bào chữa… Đông đảo người đọc, dưới góc độ tư tưởng-nghệ thuật, cũng tỏ ra nghiêm khắc hơn khi tiếp nhận các tác phẩm văn học; họ sẵn sàng ngoảnh mặt làm ngơ đối với những cuốn sách dễ dãi, nhạt nhòa hay nhảm nhí…

Nói gọn lại, một xã hội với trình độ tự ý thức cao đang xuất hiện và – như một tất yếu lịch sử – dần thay thế xã hội thụ động, quen bị áp đặt, bao cấp. Bên cạnh sự hiện diện của tài năng văn chương, đây chính là điều kiện tiên quyết để chúng ta hy vọng về sự xuất hiện ngày một nhiều hơn những tác giả và tác phẩm lớn.

PV: Văn học là một thành tố cốt lõi của văn hóa. Từ góc nhìn văn học, ông thấy sự vận động văn hóa của nước ta trong giai đoạn vừa qua có những vấn đề, những đặc điểm nào đáng chú ý nhất?

PHG: Văn học, một lĩnh vực quan trọng của nghệ thuật nói chung, thường được coi là cái chắt lọc, cái tinh hoa của một nền văn hóa. Cho nên nếu chúng ta quan niệm rằng điều cốt lõi nhất của văn hóa là ở đạo đức, lối sống, nếp sống của mọi người trong xã hội thì xem ra khó có thể kỳ vọng gì nhiều ở văn học trong vai trò một tác nhân đáng kể vào sự “vận động văn hóa” mà anh vừa nêu ra.

Nhiều vấn đề, nhiều đặc điểm của sự vận động ấy chắc chắn sẽ được hiển lộ rõ hơn dưới những góc nhìn khác ngoài văn học. Nhìn dưới góc độ xã hội học chẳng hạn, chúng ta sẽ không gặp khó để nhận ra rằng: chính những bất cập trong hệ thống chính trị (mà Nghị quyết TƯ 4 vừa nêu rõ), những khuyết tật trong thể chế kinh tế thị trường, những hệ quả tiêu cực của giao lưu hội nhập quốc tế… đã làm méo mó tai hại đến thế nào cho diện mạo đạo đức, lối sống, nếp sống của cả xã hội, khiến không một ai trong chúng ta có thể yên lòng trước hiện trạng khá nhốn nháo của đời sống văn hóa hôm nay.

PV: Ông có thấy đời sống văn hóa của chúng ta bây giờ có điều gì đáng ái ngại không?

PHG: Điều khiến nhiều người rầu lòng nhất hôm nay là những biểu hiện nhan nhản quanh ta về sự xuống cấp của đạo đức xã hội: làm giàu bất chính bằng tham nhũng và kinh doanh gian lận, khoét sâu thêm không thương tiếc cái hố cách biệt giầu nghèo; thói dối trá, đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo trở thành trâng tráo, công khai; bạo lực không hiếm khi trở thành thói quen ứng xử của nhiều người trong gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội; thói hợm hĩnh khoe của xài như phá cả núi tiền kiếm dễ, không mảy may động lòng khi bao đồng bào bên cạnh còn chật vật chạy ăn từng bữa; những giá trị truyền thống của Chân-Thiện-Mỹ bị phai nhạt, dần nhường chỗ cho Tiền bạc – Quyền lực – Danh vị lên ngôi; không ít nơi trước đây vốn là chốn thiêng liêng như đền chùa miếu mạo nay bỗng chốc thành nơi dậy mùi kim tiền, mê tín quàng xiên, mua thần bán thánh…

Khó có thể kể hết những điều bức xúc, dù kẻ xấu gây ra bao giờ cũng chỉ là số ít. Tất cả gần như diễn ra trước sự vô cảm của một số người này và sự phản kháng bất lực của một số người khác…

PV: Vậy vấn đề con người? Phẩm chất người Việt ta trong mấy chục năm qua có gì biến chuyển không? Nếu có thì theo ông có điều gì là thuận, điều gì là không thuận?

PHG: Không thể nói về một con người nào đó chung chung. “Bách nhân bách tính” – các cụ xưa đã dạy. Có người cơ bản là tốt và, ngược lại, cũng có người cơ bản là xấu. Nói về sự chuyển biến trong phẩm chất người Việt ta trong mấy chục năm qua đôi khi dễ khiến ta gợi nhớ tới câu chuyện hài “Thầy bói xem voi”. Khó có thể có ngay những nghiên cứu định lượng. Đành tạm bằng lòng với những kết luận thiên về định tính.

Nếu nhìn một cách tổng thể về hiện trạng văn hóa đạo đức của xã hội, từ kỳ vọng rất cao của chúng ta dành cho vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự nghiệp thiết lập một xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh”, chúng ta dễ đồng thuận với cách đánh giá không vui.

Tin vào sự tồn tại vĩnh cửu của những giá trị văn hóa cao đẹp – vốn là bản năng tự vệ bảo đảm cho sự tồn vong của cả dân tộc, chúng ta có thể yên tâm khẳng định về xu hướng đổi thay theo chiều hướng tích cực trong phẩm chất của người Việt; cái xấu phải dần chịu lùi bước, cái tốt đẹp phải giành lại chỗ đứng của mình.

Công cuộc Đổi mới toàn diện ngày càng mạnh mẽ sâu sắc đang diễn ra vừa là hệ quả, vừa là điều kiện tiên quyết để dẫn tới những đổi thay nói trên.

Con người Việt Nam trong mong muốn của chúng ta là con người khao khát thoát khỏi sự hiểu biết hạn hẹp kém cỏi, vươn lên nắm bắt kiến thức khoa học – công nghệ, kiến thức sản xuất – kinh doanh để có thể bộc lộ rõ rệt năng lực cá nhân bằng cách làm ra ngày càng nhiều hơn của cải vật chất – tinh thần, làm giàu chính đáng cho bản thân, cho gia đình mình và góp phần làm giàu cho đất nước.

Con người Việt Nam đang ngày càng là con người có ý thức làm chủ vận mệnh của bản thân mình, tham gia làm chủ thực sự đất nước, thoát khỏi thân phận “thần dân” luôn trông đợi vào sự “cầm tay chỉ việc” của các “quan trên”. Từ vị thế “vô ngã” hòa tan trong “tập thể” vô diện mạo, con người Việt Nam ngày càng nhận ra bản ngã riêng, ý thức rõ ràng về năng lực sáng tạo của mình, biết loại bỏ dần các khiếm khuyết của cá nhân mình, hướng về sự hoàn thiện.

Con ngườì Việt Nam, trên cơ sở thừa nhận hệ giá trị chung, có thái độ khoan dung hơn trước sự dị biệt trong sự hiểu biết, trong quyền lợi và niềm tin của những người khác, để biết nhìn cùng về một hướng, chung tay góp sức đưa dân tộc sớm thoát khỏi cái nhục tụt hậu, đói nghèo.

Con người Việt Nam không còn tự thỏa mãn với cái thú “ta tắm ao ta”, không chỉ quẩn quanh trong xó bếp vườn nhà mà còn biết quan tâm đến muôn mặt hiện tình đất nước; không chỉ là công dân của đất nước mình mà còn là “công dân toàn cầu” cùng mọi người trên Trái đất này ghé vai gánh vác lo toan những vấn đề chung – từ chống khủng bố, loại trừ thảm họa hạt nhân đến chống biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến xóa bỏ dịch bệnh, đói nghèo, bảo vệ môi trường…

Con người Việt Nam biết làm thế nào để nâng cao chất lượng cuộc sống, biết tìm sự thanh thản hài lòng không phải trước tiên là trong sự thừa thãi tiện nghi vật chất mà là ở tình thương với gia đình và đồng loại, ở niềm tin vào Sức mạnh toàn năng của cái Thiện, ở tình yêu nghệ thuật và cái đẹp, ở sự hòa đồng với thiên nhiên…

Để những phẩm chất tốt đẹp trên đây có thể trở thành nét chủ đạo, chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong con người Việt Nam nói chung chắc chắn còn phải vượt qua vô vàn lực cản níu kéo từ di sản của quá khứ-phong kiến-tiểu nông-nô lệ cũng như từ những bất cập trong môi trường xã hội hôm nay.

PV: Chúng tôi vẫn thường nghe một số người nói tình hình phức tạp về văn hóa xã hội chủ yếu là do cơ chế thị trường, do giao lưu văn hóa với bên ngoài thiếu chọn lọc. Điều đó có đúng không, thưa ông?

PHG: Nhận định đó đúng nhưng chưa đủ, còn phiến diện. Tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường là có và có nhiều là đàng khác. Nhưng cần phải nói thêm là để phát triển mạnh mẽ sức sản xuất xã hội, nhân loại cho tới nay chưa nghĩ ra phương thức nào thông minh, hữu hiệu hơn là vận hành cơ chế thị trường với sự điều tiết chừng mực, khôn ngoan của nhà nước. Tác động tiêu cực từ cơ chế thị trường phải nói cho đúng là từ “mặt trái” của nó, khi mà một nhà nước nào đó vì lý do kém hiểu biết, tham nhũng và tư lợi nên không thể điều tiết được nó một cách hiệu quả, khiến bản năng hoang dã tham lam của thị trường càng được dịp tác oai tác quái.

Xin nhớ rằng các nước được coi là có nền tảng văn hóa đạo đức xã hội tương đối hoàn thiện chính là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển lành mạnh như các nước Bắc Âu, như Canada, Đức, Áo, Thụy Sĩ…, gần ta hơn là Nhật Bản, là quốc đảo Singapore…

Giao lưu văn hóa cũng vậy. Ảnh hưởng từ bên ngoài vừa có mặt tốt mà cũng có cả mặt chưa tốt, chưa thích hợp. Điều quan trọng là ta phải có nội lực tốt, đủ mạnh, đủ tinh khôn để chọn lọc những gì là phù hợp với hệ giá trị mang tính truyền thống và hiện đại của chúng ta; vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa tốt đẹp của cha ông.

PV: Môi trường văn hóa đang có những điều bất ổn đã tác động tới phẩm chất văn hóa của mỗi người, của cả cộng đồng. Vậy môi trường giáo dục, một không gian văn hóa đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng thì sao?

PHG: Phẩm chất văn hóa, hay nói khác đi là nhân cách của mỗi người hình thành trong môi trường của gia đình, của nhà trường và xã hội. Lứa tuổi đi học là lứa tuổi hình thành khá bền vững nhân cách con người cả cuộc đời sau này nên môi trường giáo dục đóng vai trò quan trọng.

Đáng tiếc là môi trường này còn quá nhiều bất cập – từ chương trình-sách giáo khoa đơn điệu nặng nề, coi nhẹ thực học mà quá thiên về lý thuyết cao xa đến phương pháp dạy “thầy đọc trò chép” nhàm tẻ nhồi nhét kiến thức, từ mục tiêu dường như “học chỉ để thi” đến vô số áp lực học tập “vị thành tích”, “vị thi đua”, “vị khen thưởng” này nọ khiến học sinh không mấy khi được hưởng thụ niềm vui đến trường, tuổi thơ hồn nhiên của các em bị phủ bóng mây u ám…

Điều đáng nói là sản phẩm-đầu ra của giáo dục còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khi rất nhiều em ra trường với đầy đủ bằng cấp chứng chỉ trong tay nhưng lại rất thiếu kỹ năng hành nghề, chưa nói đến chuyện nhiều em nhân cách bị méo mó vì tác động nhỡn tiền của các hoạt động nhuốm màu “thương mại hóa” của nhà trường và các thầy cô hay của chính bố mẹ mình thể hiện qua việc ” dạy thêm, học thêm” hay qua các dịp lễ tết …

Dù không ai phủ nhận những nỗ lực to lớn của ngành giáo dục nhưng hiệu quả tích cực thì còn chưa tương xứng với mong đợi. Khi không ít người lắm tiền hay cán bộ có chức quyền (kể cả trong ngành giáo dục !) sốt sắng gửi con cái mình – tài sản quý nhất của họ – ra nước ngoài hoặc chí ít là đến các trường quốc tế để được nhận một nền giáo dục khác thì hiện tượng gọi là “tỵ nạn giáo dục”, “chảy máu ngoại tệ” này không nên để các cấp có trách nhiệm chặc lưỡi bỏ qua mà phải đi sâu tìm hiểu căn nguyên đặng tìm ra giải pháp hạn chế, khắc phục.

PV: Theo ông thì điều kiện tiên quyết để khắc phục được sự lạc hậu của nền giáo dục của chúng ta hiện nay và xây dựng được một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại là gì?

PHG: Theo tôi điều kiện tiên quyết là phải sớm xác lập một triết lý giáo dục đúng đắn, để xuất phát từ đó, có thể vạch ra được lộ trình và những cải cách cơ bản toàn diện trong lĩnh vực này sao cho các sản phẩm giáo dục-con người được tạo ra có khả năng sống hạnh phúc, hữu ích, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay và mai sau.

Để làm được việc này, theo tôi, nhất thiết phải có sự vào cuộc nhanh nhậy, quyết liệt và dứt khoát của cấp lãnh đạo cao nhất ( như ta đã thấy chẳng hạn như là sự can thiệp kịp thời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong việc giải quyết “sự cố” Tiên Lãng vừa qua !). Dù biết là các lãnh đạo cao nhất luôn có trăm công nghìn việc đối nội đối ngoại phải lo, nhưng tôi nghĩ rằng giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực vốn được coi là một trong ba nhiệm vụ đột phá theo Nghị quyết Đại hội Đảng XI vừa qua hoàn toàn xứng đáng được lãnh đạo dành cho mối quan tâm đặc biệt.

PV: Xin chân thành cám ơn ông đã trả lời phỏng vấn của tạp chí chúng tôi. Chúc ông sức khỏe và có thêm nhiều trang viết mới./.

 

Mỹ sẽ điều máy bay B-52 đến Australia để răn đe Trung Quốc – GDVN

12 Th4

(GDVN) – Tờ The Times của Anh mới đây đưa tin, Mỹ sẽ bố trí máy bay ném boom chiến lược tầm xa B-52 tại khu vực phía Bắc Australia.

Tờ The Times của Anh mới đây đưa tin, Mỹ sẽ bố trí máy bay ném boom chiến lược tầm xa B-52 tại khu vực phía Bắc Australia nhằm thể hiện khả năng chiến đấu của Không quân Mỹ trước các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.
Máy bay nem boom chiến lược B-52 của Không quân Mỹ
Kế hoạch điều 2.500 lính thủy quân lục chiến của quân đội Mỹ đến căn cứ Darwin đã thể hiện sự tăng cường hợp tác quân sự giữa hai nước.
Một quan chức Mỹ cho hay: “Điều này là bằng chứng rõ ràng trước các tuyên bố hỗ trợ các đồng minh trong khu vực của chúng tôi”.
Tờ The Times đưa tin, hiện Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ và Bộ Quốc phòng Australia vẫn tiến hành các cuộc thảo luận, song Lầu Năm Góc đã tuyên bố về sự hợp tác chặt chẽ giữa Không quân Mỹ và Không quân Hoàng gia Australia vào tháng 11/2011.
Theo đó, hai bên sẽ tăng cường các chuyến viếng thăm lẫn nhau, đồng thời Mỹ sẽ có những kế hoạch xoay vòng các máy bay chiến đấu thực hiện nhiệm vụ tại căn cứ khu vực phía Bắc Austrlia.
Điều này thể hiện tính lâu dài trong chiến lược quốc phòng mới của Mỹ.
Một quan chức cấp cao của Lầu Năm Góc cho biết, máy bay nem boom tầm xa B-52 của quân đội Mỹ trong thời gian tới sẽ được bố trí tại khu vực phía Bắc Australia.
Đây được coi là một phần trong quyết định chuyển trọng tâm quốc phòng đến khu vực Thái Bình Dương mà Tổng thống Obama đã tuyên bố trước đó.
Theo kế hoạch này, máy bay B-52 sẽ được điều đến một căn cứ tại khu vực phía nam Darwin để thể hiện khả năng chiến đấu của Không quân Mỹ đối với các nước trong khu vực và đặc biệt là Trung Quốc.
Đồng thời làm nổ bật sự hỗ trợ của Chính quyền Obama với các nước đồng minh khu vực.

Philippines điều tàu tới hiện trường đụng độ tàu TQ

12 Th4

Hôm nay, Philippines đã triển khai con tàu thứ hai tới vùng đảo nhỏ ở Biển Đông với nỗ lực khẳng định chủquyền của mình trong một vụ đụng độ với tàu Trung Quốc.

 Hải quân Philippines đụng độ tàu TQ ở Biển Đông

Nhà chức trách cho hay, một tàu phòng vệ bờ biển sẽ tham gia hỗ trợ cho tàu chiến lớn nhất của Phillippines hiệnđang ở bãi đá ngầm Scarborough vào sáng nay – nơi hai tàu hải giám Trung Quốcđang cố gắng bảo vệ và ngăn chặn việc bắt giữ các ngư dân trên tàu cá.

  2 tàu hải giám Trung Quốc đã đi            vào giữa tàu chiến Philippines và 8 tàu cá Trung Quốc. Ảnh: Philippine Army            photo

 

“Con tàu sẽ hỗ trợ chúng tôi trong khu vực”, chỉ huy hải quân – phó đô đốc Alexander Pama nói về con tàu phòng vệ bờ biển dài 56m.

Tuy nhiên, quan chức ngoại giao Philippines Raul Hernandez đã nhấn mạnh rằng, nước này mong muốn chấm dứt đụngđộ một cách hoà bình và các cuộc hội đàm với phía ngoại giao Trung Quốc vẫn tiếp tục. “Những gì quan trọng là chúng tôi đang trao đổi với họ để đạt được giải pháp ngoại giao. Giải pháp ấy cần công bằng và khả thi”, Hernandez nói với báo chí.

Tranh cãi bắt đầu xảy ra vào chủnhật khi nhà chức trách Philippines phát hiện ra 8 tàu cá Trung Quốc ở bãi đá ngầm cách đảo Luzon ở phía tây 124 hải lý. Philippines đã cáo buộc các ngư dân Trung Quốc hoạt động trái phép, khẳng định đây là khu vực thuộc phạm vi lãnh thổcủa Philippines vì nằm trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế được công nhận bởi luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, Trung Quốc luôn khẳngđịnh chủ quyền với hầu hết Biển Đông, thậm chí là với cả những vùng biển ngay cạnh bờ biển của các nước khác và giới chức Trung Quốc nhấn mạnh rằng, các ngưdân được phép ở bãi đá ngầm.

Cạnh tranh trong tuyên bố chủquyền ở Biển Đông từ lâu được xem là một trong những điểm nóng của châu Á có nguy cơ châm ngòi cho xung đột quân sự. Vùng biển này có ý nghĩa kinh tế và chính trị to lớn và được tin là rất giàu trữ lượng dầu khí, dồi dào nguồn cá và sở hữu các tuyến đường biển sống còn với thương mại toàn cầu.

Biển Đông là nơi diễn ra tuyên bốchủ quyền chồng lấn giữa Trung Quốc và bốn quốc gia Đông Nam Á. Trong đó, Trung Quốc khẳng định chủ quyền với hầu hết vùng biển. Ở vụ việc đụng độ mới nhất xảy ra, Philippines đã lập tức điều tàu hải quân tới bãi đá ngầm Scarborough sau khi phát hiện ra các tàu cá Trung Quốc ở đây để bắt các ngư dân. Tuy nhiên, hai tàu hải giám Trung Quốc đã tới hiện trường hôm thứ ba và ngăn chặn tàu Philippines không cho tiếp cận với tàu cá.

Năm ngoái, Philippines và Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng các hành động ngày một gây hấn của Trung Quốc ở BiểnĐông. Manila cáo buộc các tàu Trung Quốc bắn cảnh báo ngư dân Philippines, quấy nhiễu tàu thăm dò dầu khí…

Tuy nhiên, vụ việc mới xảy ra là vụ đụng độ cao nhất vài năm gần đây.

Trong cuộc họp báo đầu tiên tại Philippines vào giữa tháng 3, Đại sứ mới của Trung Quốc Mã Khắc Thanh bày tỏ hy vọng, Philippines và Trung Quốc có thể “cuối cùng tìm ra con đường để khởi động các cuộc hội đàm” về các khu vực cùng phát triển ở Biển Đông. “Với sự kiên nhẫn, khôn ngoan và thiện chí, chúng ta cuối cùng có thể tìm ra một con đường”, bà nói. “Suy nghĩ của chúng tôi là, trong khi tìm kiếm giải pháp cuối cùng (tranh chấp Trường Sa), chúng ta nên gác lại và đặt sang bên những khác biệt để cùng tham gia thoả thuận hợp tác”.

Bà Mã nhấn mạnh: Các tài nguyên ở đó để khai thác, phát triển kinh tế là ‘ưu tiên của chúng ta’ với Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei, những nước đều tuyên bố chủ quyền ởBiển Đông. “Nhưng kể từ khi có tranh chấp, không ai có thể hành động đơn phương. Vì vậy, cách thích hợp để làm điều này hoặc bắt đầu điểm khởi đầu là gác lại bấtđồng và cùng tham gia hợp tác”, bà nói.

Thái An (theo AP, asiaone)

VN bảo vệ lợi ích đối tác dầu khí ở Biển Đông – vnn

12 Th4

 – Các dự án hợp tác dầu khí với đối tác nước ngoài, gồm cả dự án với Gazprom của Nga đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, phù hợp luật pháp quốc tế – người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị tuyên bố.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị

Về thông tin các công ty dầu khí của Việt Nam và Nga đã ký thỏa thuận thăm dò dầu khí tại Biển Đông, ngày 10/4, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Vĩ Dân cho hay, nước này yêu cầu các quốc gia không có liên quan đến tranh chấp Biển Đông nên tránh xa khu vực này.

Trong cuộc họp báo chiều nay ở Hà Nội (12/4), trả lời câu hỏi của báo chí về phản ứng của Việt Nam trước động thái trên của Trung Quốc, ông Lương Thanh Nghị nhấn mạnh: “Các dự án hợp tác giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí hiện nay bao gồm cả dự án hợp tác với Gazprom của Nga đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật biển năm 1982”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao tuyên bố: “Việt Nam cam kết và có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi và lợi ích chínhđáng và hợp pháp của các đối tác nước ngoài làm ăn tại Việt Nam”.

Về phản ứng xung quanh vụ đụng độgiữa tàu hải quân Philippines và tàu Trung Quốc ở Biển Đông, ông Nghị cho biết, Việt Nam kêu gọi các bên liên quan cần tránh làm phức tạp tình hình, góp phần duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực.

 

Liên quan tình hình trên bán đảo Triều Tiên đang căng thẳng vì tuyên bố sắp phóng vệ tinh của Bình Nhưỡng, người phát ngôn cho biết: “Việt Nam luôn mong muốn một bán đảo Triều Tiên hòa bình và thịnh vượng. Chúng tôi bày tỏ quan ngại tới tình hình liên quan việc Triều Tiên phóng vệ tinh. Chúng tôi luôn nhấn mạnh tính cần thiết của việc tuân thủ nghiêm túc các nghị quyết của Hội đồng Bảo an, đặc biệt là nghịquyết 1874 vì hòa bình và ổn định trong khu vực và thế giới”.Trước thông tin về việc sẽ cóđoàn kiều bào ra thăm Trường Sa, ông Nghị khẳng định, việc người Việt Nam đi thăm các địa danh của đất nước, trong đó có huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa là hoàn toàn bình thường.

Thái An

Khi các nhà phê bình văn học “về quanh chiếu ngồi” – TT&VH

12 Th4

(TT&VH) – Sáng 10/4, tại Hội trường Ban Tuyên giáo trung ương, Thường trực Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương phối hợp với Hội Nhà văn tổ chức Hội thảo “Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học” nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết 23 về phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. Đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đã đến dự cuộc Hội thảo khoa học quan trọng này.

Nhà phê bình và trăm nỗi éo le

Đáng chú ý là tranh luận giữa nhà phê bình Nguyễn Hòa và GS Trần Đình Sử về phân loại phê bình của Albert Thibaudet như phê bình báo chí, phê bình giáo sư và phê bình nghệ sĩ. Rồi phát biểu của nhà văn Nguyễn Văn Lưu với bài Kinh nghiệm phê bình qua một hiện tượng văn học, lấy Nguyễn Huy Thiệp làm trung tâm, cũng vấp phải những qua lại hết sức lý thú với nhà văn Nguyễn Trí Huân, TS Chu Văn Sơn, Phạm Xuân Nguyên.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã lên tiếng rằng tôi làm MC nổi tiếng hơn làm phê bình, tôi vào Hội chợ sách TP.HCM là với tư cách cá nhân, tham gia rất nhiều sự kiện, chứ không phải vì dẫn chương trình cho giao lưu với bạn đọc Vong bướm của Nguyễn Huy Thiệp. Ông cho biết có một mảng phê bình hiện nay đang nằm ở các luận văn, luận án nhưng chỉ có người chấm, người hướng dẫn khoa học biết và ít khi được đưa ra ngoài xã hội cũng là một điều đáng tiếc.

Phê bình văn học đang làm cho tôi “hai mừng, một bực”, mừng bởi vì đã xuất hiện những bài viết tiếp cận được những lý thuyết mới đưa vào và đa phần những bài viết này đều là của những người còn rất trẻ như Nguyễn Chí Hoan, Trần Thiện Khanh, Đoàn Ánh Dương, Nhã Thuyên… Cái bực là những người làm công tác phê bình văn học không được trang bị đào tạo đến nơi đến chốn. Và ông nêu ví dụ tại sao có trại sáng tác thơ văn mà lại không có trại dịch thuật, trại phê bình, nên chăng từ nay chúng ta nên gọi chung là trại viết.

GS Mai Quốc Liên trăn trở khi cho rằng thời thị trường, người ta phải nghĩ đến lợi ích cá nhân, tính toán, né tránh, không ai dại gì vác cờ đi đầu, người làm phê bình khó kiếm. Ông làm phép so sánh với điện ảnh có số người xem, nghe rất đông, một phim truyền hình có hàng triệu khán giả, trong khi văn học chỉ in 500 đến 1.000 cuốn, bạn đọc đi đâu, so với ngày trước sách văn học in vài vạn bản mà vẫn còn chưa đủ. Nhà phê bình có biết không, trước cái lo cơm áo và đề xuất cái mới, tốt tươi, hấp dẫn làm cho văn hóa đọc quay lại phải chăng vẫn là quá khó.

Cần “mở lòng” với phê bình

Việc các nhà phê bình ít trình bày hệ thống lý thuyết phê bình (critical theory), tận dụng quỹ thời gian mỗi người có được khoảng mươi, mười lăm phút để phát biểu những điểm mới, những giải pháp, cả những phản biện đối với những tham luận trước đó, đã tạo ra không khí trong buổi hội thảo sự thoải mái, tươi mới và dân chủ. Những thuật ngữ được sử dụng như phê bình kê ghế, khi nhà phê bình thay bút bằng lưỡi, để phải tính cái đã, thổ nhưỡng văn đàn, thời tiết phê bình… trong tranh luận giữa các nhà phê bình đã thực sự gây hứng khởi cho các đại biểu tham dự.

Nhà phê bình La Khắc Hòa bày tỏ về mối quan hệ giữa nhà sáng tác và nhà phê bình rằng hành nghề đã hơn 40 năm, quả tôi chưa thấy nhà văn nào mở lòng đón nhận sự tri âm của phê bình. Nghe khen thì cười ha hả, say tít cung thang, nhưng chê một chút thì hầm hè, khí uất xung thiên, “tóc xiên qua mũ”. Rồi nhuận bút cho phê bình của tôi, hơn ba chục trang, in rất sang trọng trên một tạp chí cũng chỉ nhận được năm trăm nghìn đồng. Cứ đà này, lý luận phê bình, có khi trở thành nghề cần đưa gấp vào “sách đỏ”.

Nhà văn Văn Chinh hóm hỉnh nói, không ai thù ghét văn học bằng những nhà phê bình văn học đương đại và đồ rằng nạn phung phí và ghẻ lạnh với tài năng là một sự thật. Mười ba cuốn tiểu thuyết được giải của Hội Nhà văn không có nổi một bài phê bình cho đến khi có ý kiến thiếu xây dựng được công bố trên mạng. Hay như gần đây, giải thưởng năm 2010 – 2011 của Hội cũng không có một bài phê bình tự giác nào, đến nỗi phải mở cả hội thảo và báo Văn nghệ phải đặt bài phê bình. Rồi những cuốn kỷ yếu về phê bình cũng không nhiều ảnh hưởng đến đời sống văn học, bị tán sắc trong hệ thống giải trí vô cùng đa dạng hiện nay. Ở chỗ đó, thì chính các nhà phê bình lại trở lại thành nạn nhân của thói ghẻ lạnh với văn học.

Hướng đến một nền văn chương tốt đẹp

Nhà văn Văn Giá nêu ra một giả định bên cạnh những tạp chí Thơ, tạp chí Văn học nước ngoài, tạp chí Nhà văn, nên chăng cũng phải có thêm một tạp chí chuyên cho lĩnh vực lý luận, phê bình văn học. Ông cho biết, mặc dù hội thảo lần này khá kín tiếng với báo giới, nhưng cần khẳng định rằng phê bình văn học luôn được xã hội quan tâm, thậm chí trước ngày hội thảo, một trang web văn học đã đăng cả thông báo: “Hãy mang tất cả những tham luận ngày hôm nay, chuyển cho chúng tôi, để đăng ngay vào buổi tối”. Có thoáng những ánh mắt xúc động từ phía những nhà phê bình, sự quan tâm lớn của xã hội không phải là liều thuốc quý để kích hoạt lĩnh vực vốn được xem là đầy cam go, thử thách hay sao.

Cuộc hội thảo trong một ngày với hơn 20 tham luận đã mở ra những chiều kích mới, không gian mới trong các khuynh hướng lý luận phê bình văn học. Các phát biểu tham luận đều được các nhà phê bình phản biện lẫn nhau, nói như người điều hành thảo luận, nhà thơ Hữu Thỉnh “không làm tổn thương nhau, mà đầy tình thân ái”.

Phê bình là “khoa học đánh giá cái đẹp, phân biệt cái đẹp với cái không đẹp” (Puskin). Và công việc của các nhà lý luận phê bình văn học trong sự dấn thân đến kiệt cùng của mình, phân luồng đúng sai, chỉ dẫn cho công chúng và bạn đọc những giá trị nhân bản, lẽ phải và tình thương trên phạm vi rộng, vì một nền văn chương tốt đẹp.

Lãng Ma

Mỹ tính “can thiệp quân sự hạn chế” vào Syria – TN

12 Th4
Các nguồn tin không chính thức cho hay Mỹ có thể không kích Syria để ép chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad thực thi kế hoạch hòa bình.

Mỹ đang cân nhắc một hành động quân sự giới hạn chống chính quyền Tổng thống Syria Bashar al-Assad sau khi Damascus bị cáo buộc không tuân thủ kế hoạch hòa bình của Đặc phái viên Kofi Annan. Website về thông tin tình báo DEBKAfile hôm qua dẫn các nguồn tin cấp cao cho hay dù Tổng thống Barack Obama vẫn chống lại việc can thiệp quân sự vào Syria, giới chức Washington cảm thấy Mỹ không thể tiếp tục đứng ngoài.

Theo kế hoạch đang được thảo luận, một cuộc không kích nhằm vào các mục tiêu của chính phủ hoặc quân đội Syria sẽ đủ để làm suy sụp nhuệ khí ở Damascus và chứng minh nhà lãnh đạo Syria không phải là không thể sụp đổ. Điều này sẽ buộc ông al-Assad tuân thủ kế hoạch hòa bình. Các nguồn tin trên cho biết thêm hành động quân sự giới hạn của Mỹ sẽ được tiến hành sau các cuộc đàm phán hạt nhân giữa Iran với các cường quốc, nhằm tránh tạo cớ cho Tehran có động thái cứng rắn hoặc rút khỏi đàm phán.

Binh sĩ Thổ Nhĩ Kỳ canh gác khu vực biên giới với Syria ngày 11.4 – Ảnh: AFP

Bên cạnh đó, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang tiến gần hơn đến một chiến dịch quân sự chống Syria. Theo DEBKAfile, các trực thăng tấn công của Thổ Nhĩ Kỳ đã được triển khai đến khu vực biên giới với Syria sau khi có nhiều cáo buộc quân đội Syria tấn công dòng người chạy nạn cũng như bắn vào các trại tị nạn của người Syria trên đất Thổ. Các bên liên quan chưa có phản ứng gì về những thông tin trên.

Trong một diễn biến liên quan, HĐBA LHQ hôm qua ra tuyên bố ủng hộ lời kêu gọi của Đặc sứ Annan, theo đó chính phủ Syria phải ngừng mọi hành động quân sự và rút binh sĩ khỏi các đô thị để lệnh ngừng bắn có thể được áp đặt vào ngày 12.4. Damascus tuyên bố đã bắt đầu rút quân khỏi các thành phố trong ngày 10.4, thời hạn đặt ra trong gói giải pháp của ông Annan.

Tuy nhiên, phe chống đối và một số nước phương Tây cáo buộc quân đội Syria vẫn tiếp tục pháo kích nhiều nơi. Tối qua, truyền hình Syria dẫn lời một quan chức quốc phòng nước này thông báo quân đội chính phủ sẽ ngừng bắn vào sáng 12.4.

Trùng Quang

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: Người cô đơn trong cõi văn chương – Tin tức

12 Th4

Báo Tin Tức

Gặp Ngọc Tư, bao giờ cũng thế, luôn thấy chị giản dị, nhỏ nhẹ, điềm tĩnh nhưng cũng rất hóm hỉnh trong những câu chuyện. Đối với chị, dường như không có chuyện gì quá quan trọng, mà cũng không có gì là quá bình thường. Đối diện với chị, có thể thỏa sức tưởng tượng về những thứ thuộc về chị, liên quan đến chị vì chị chẳng màng đến việc người khác đang nghĩ gì, đang bàn điều gì (về mọi người hoặc ngay cả về mình)… Đối với Ngọc Tư, những thứ thuộc về những lễ nghi, hoa mĩ, chị đều đứng ngoài lề. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là, trông Tư tỉnh bơ vậy, phớt lờ vậy, nhưng trong óc quan sát của Tư lại luôn có một ngăn kéo dữ liệu về tất cả những điều chị gặp, chị đối diện, để đứng trước trang viết, như thể những hồi ức ấy, cứ chực ào ra trên ngòi bút.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau. Trước khi viết truyện ngắn đầu tiên, chị đơn thuần chỉ là một cô gái nông dân, bỏ dở học hành, ở nhà nấu cơm nuôi ông ngoại, chăm sóc vườn rau, chiều chiều cắt rau cho má đi bán chợ đêm. Thế rồi, trong một ngày đẹp trời, nổi hứng thế nào, Ngọc Tư viết văn. Truyện ngắn đầu tiên của chị được in ở Tạp chí Văn nghệ Cà Mau đã làm cho Ngọc Tư cảm thấy rất phấn chấn và mê mẩn. Cũng từ đó, chị tin rằng, ngoài sự may mắn trời cho, chị đã có duyên nợ với trang viết như là mối duyên đã định sẵn. Thời gian đó, Ngọc Tư tiếp tục đi học bổ túc văn hóa và tiếp tục sáng tác. Lần lượt những truyện ngắn nối nhau ra đời, chị viết như một sự giải tỏa và thể nghiệm. Chẳng mong mình sẽ thành nhà này, nhà nọ, cũng chẳng nghĩ nó là văn chương, chỉ có điều, chị biết rằng chị muốn viết về những điều gần gũi nhất xung quanh cuộc sống của mình, những điều đó khi được viết ra, khiến lòng Tư thanh thản. Khi có cái bằng bổ túc văn hóa trong tay, cũng là lúc, lưng vốn về tác phẩm của chị cũng đã đủ để chị tự tin rằng, chân trời sáng tác, đã mở ra cho chị một con đường sáng.

Âm thầm đến với văn chương và bừng sáng khi được nhận giải Nhất Cuộc thi “Văn học tuổi 20” của NXB Trẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành tâm điểm của sự hy vọng vào một nền văn trẻ đương đại. Chị đã tiếp tục có những cú nhảy ngoạn mục trên chặng đường văn với một lối văn dung dị, nhẹ nhàng, giàu tính nhân văn. Đặc biệt, năm 2005, tác phẩm truyện dài “Cánh đồng bất tận” đã trở thành một cuốn sách Best-seller, một hiện tượng văn học nổi bật của văn chương Việt Nam. Liên tục sau đó, “Cánh đồng bất tận” đã mang đến cho Nguyễn Ngọc Tư những niềm vui bất ngờ với giải thưởng Hội Nhà văn, giải Văn học ASEAN. Sau đó, “Cánh đồng bất tận” đã được chuyển thể thành phim và công chiếu trên toàn quốc.

Khi ôn lại những kỷ niệm lúc viết “Cánh đồng bất tận”, Ngọc Tư tâm sự rằng, khi đặt bút viết, chị vô cùng mệt mỏi, chông chênh. Chị không ngờ, mình đã nhón chân hái trái ở một cành quá cao, đến nỗi dường như chị đã nhảy thót lên nhiều lần mới chạm được nó. Đôi khi chị cần thời gian để mình đủ cao, đủ sức lực để có thể đi trọn một lối nhỏ mà chị đã trót rẽ vào vì thấy lạ. Khi hoàn thành tác phẩm chị chỉ mơ ước người đọc, bạn bè đồng nghiệp ghi nhận sự cố gắng, sự lao động nhọc nhằn của mình. Văn hóa đọc đã đìu hiu đến mức, chị chẳng mảy may nghĩ sách của mình vượt quá con số 5.000 bản… Nhưng, không ngờ, “Cánh đồng bất tận” lại có được sự ghi nhận ngoài mong đợi đến vậy, chị đã được “nương bóng” nó quá lâu, lâu đến nỗi, người ngoài cuộc, hoặc các nhà phê bình thì cho rằng, Ngọc Tư, khó mà bứt khỏi “cánh đồng” ấy được!

Cái giỏi của Ngọc Tư là chị cứ rủ rỉ với một lối văn phong dung dị, ngôn ngữ truyện cứ như được bê vào từ đời thường, câu chuyện ấy như thể mình là người được chứng kiến đủ điều từ đầu đến cuối và kể lại cho mọi người cùng nghe. Không có một lời phán xét nào mà như cứa vào tâm thức những nỗi niềm trắc ẩn. Làm được vậy, Ngọc Tư khẳng định, bởi trong cõi văn chương, chị là người cực kỳ cô đơn, nên chị rất dễ dàng để nhân vật của mình sống trong cô đơn tận cùng, trong hoang hoải, chán chường. Chị cũng như những con người trong “Cánh đồng bất tận”, sống giữa nhiều người, sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người nhưng có cảm giác như bị bỏ rơi… Cũng phải cảm ơn mảnh đất, mà theo như Ngọc Tư đã nhiều lần chiêm nghiệm rằng, nếu tách chị ra khỏi nó, chị sẽ không thể sống nổi. Mảnh đất ấy đã cho chị nguồn cảm hứng không bao giờ cạn, nguồn cảm hứng từ con người, từ thiên nhiên, từ những phận người dân nghèo, từ cả một vùng nước lớn nước rộng mênh mông. Dường như, chỉ có người biết lắng nghe âm vang từ sâu thẳm bên trong như Nguyễn Ngọc Tư mới có thể thấu hiểu được. Nơi chị đang sống tràn đầy sự cô đơn, nếu có giây phút nào không thể cầm bút, thì chị nhốt mình vào nỗi cô đơn ấy, rồi đến khi không chịu nổi thì kêu gào, bấu víu vào bất cứ cái gì, và viết như thể phân thân chính mình. Điều này lý giải vì sao, sau khi nổi danh, chị đã từ chối không ít lời mời về thành phố lớn để sống và làm việc. Chị bảo rằng, nếu lên Sài Gòn, thay vì viết văn, chị sẽ ra đường… đi bán chuối nướng!

Không chỉ viết văn, Ngọc Tư giờ còn “sa đà” thêm vào việc làm thơ. Có lần tôi đọc được chùm thơ của Nguyễn Ngọc Tư trên Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn và vội vàng nhắn tin hỏi: “Phải thơ của chị trên Tạp chí Thơ không?”, Tư nhắn lại: “Ừa, sao? Lạ lắm hả?! Tui lấn sân tí thôi mà!”. Tôi không nhắn lại cho chị, vì nghĩ rằng, nói về thơ của Nguyễn Ngọc Tư, lại là một câu chuyện khác. Nhưng, cũng như văn xuôi, thơ của chị là những khúc buồn của tâm hồn được lọc qua một lăng kính khác. Có lần, Ngọc Tư bảo, ở thơ, nỗi buồn của chị như được chắt lại. Thơ chị là những khoảnh khắc đẹp, không đủ dài để viết thành tản văn hay truyện ngắn, mà đủ để như một thứ gia vị nhỏ ngấm dần vào lòng: “Hai vạn năm nghìn con cừu/ Một con lạc vào mũi sói/ Chín nghìn ba trăm vì sao/Kìa tinh cầu nào tắt vội/Thênh thang đếm cỏ đếm cát/ Chấp chới muôn ngàn sóng bạc/ Chim đêm kêu tiếng thứ sáu/ Đêm chao sáu lát thở dài/ Đếm được bao nhiêu bóng tối/ Đếm xem từng nào gió thổi/ Người đi săn trong rừng thẳm/ Người đi chìm trong rừng thẳm/ Người đi bặt trong rừng thẳm/ Sớm kia còn về với người?” (Mất ngủ). Và có khi là những nỗi khắc khoải mơ hồ: Hình như có tiếng hời bên trời khác/ Hình như con kiến cõng vụn chiêm bao/ (Hình như giấc ấy mơ rất ngọt ngào ?)/ Hình như vừa lẻn ngồi xem mình ngủ/ Hình như hôm nay mình đã sống rồi/ Ngón tay thức trước/ sờ ngày thấy lạnh/ Con mắt ngủ lâu/ Bóng tối vẫn đầy/ Xô tấm chăn không/ Chân chiêu chạm đất/ Ngày xiêu xiêu/ Vừa mới đây sao nghe đã chớm chiều… (bài thơ chào ngày mới)…

Ngọc Tư là vậy. Dường như, quả “sầu riêng” ấy luôn là một bí ẩn. Như có lần chị đã nói: “Đôi lúc tôi ví văn của mình như một quả sầu riêng (tôi rất muốn làm một quả sầu riêng), người thích thì nói thơm còn người không thích thì chê thối. Nhưng trời đã cho vậy thì biết làm sao. Tôi tin vào số phận!”. Và có con đường văn đã được số phận an bài ấy của Nguyễn Ngọc Tư là một con – đường – sáng vì chị xuất hiện đã góp phần làm nên một diện mạo của văn học Việt Nam đương đại.

Trần Hoàn Thiên Kim

%d bloggers like this: