Lưu trữ | 9:16 Chiều

Ấn Độ – Trung Quốc ‘chơi trò chiến tranh kiểu mới’ – ĐV

20 Th4
Tăng cường sức mạnh, âm thầm so kè với Trung Quốc, Ấn Độ đang tự tin đặt mình vào vị trí của “tay chơi lớn”.

Thâm hụt niềm tin và nhân tố Mỹ

Gần đây báo giới New Delhi và Bắc Kinh thường dành cho nhau những lời lẽ mang đầy tính thù địch. Một tờ báo của Ấn Độ mới đây giật dòng tít: “Hãy cảnh giác, Ấn Độ. Trung Quốc chuẩn bị lập căn cứ quân sự tại Ấn Độ Dương”. Đáp trả, báo giới Bắc Kinh nhanh chóng đả kích New Delhi là “ngày càng tỏ rõ sự đố kỵ với thành công của Trung Quốc”.

Thực tế, không chỉ báo giới mà giới chức New Delhi và Bắc Kinh cũng không thực sự tin tưởng lẫn nhau. Mặc cho Trung Quốc khẳng định căn cứ tại đảo Seychelles trên Ấn Độ Dương chỉ nhằm hỗ trợ cho các tàu hải quân nước này, giới lãnh đạo Ấn Độ vẫn coi động thái này là biểu hiện của “chính sách bao vây chiến lược của Trung Quốc”.

 

Dù không đánh giá cao khả năng xảy ra xung đột thực sự, một nhà ngoại giao kỳ cựu của Ấn Độ vẫn thừa nhận: “New Delhi và Bắc Kinh đang trải qua thời kỳ thâm hụt niềm tin”.

Gần 50 năm sau chiến tranh biên giới, tranh chấp lãnh thổ dài hàng nghìn km2 giữa hai nước vẫn chưa được giải quyết và cái “ung” này thỉnh thoảng lại trở chứng, khiến quan hệ Ấn Độ – Trung Quốc đau tím tái.

Quan hệ Trung – Ấn còn nhiều nghi kỵ. Ảnh: Time.

 

Rõ ràng, quan hệ song phương tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, hồ nghi tới mức Tổng biên tập tạp chí Quốc phòng Ấn Độ là Bharat Verma phải cho rằng, Trung Quốc có thể tấn công Ấn Độ để đảm bảo vị trí thống lĩnh tại châu Á.

Và ngay cả lĩnh vực thương mại song phương, dù có tốc độ phát triển nhanh nhất giữa các nền kinh tế mới nổi, cũng tồn tại việc thiếu tin cậy lẫn nhau.

“Mối quan hệ này đang dần tiến tới thù địch chính bởi quan điểm hiếu thắng của Trung Quốc. Bắc Kinh muốn trở thành số 1 thế giới, có thể không phải để thống trị lãnh thổ mà là nhằm có được cái quyền gạt bỏ chính sách của những nước láng giềng mà Trung Quốc không ưa thích”, Shyam Saran, cựu Ngoại trưởng Ấn Độ nhận định.

Khó chịu không kém, phía Trung Quốc cho rằng, Ấn Độ đang góp sức cho chiến lược kìm chế của Mỹ. Theo Bắc Kinh, mục tiêu rõ ràng của cuộc họp ba bên đầu tiên sắp tới giữa Washington, New Delhi và Tokyo là nhằm tìm cách đối phó với “một Trung Quốc đang ngày càng khẳng định vị thế lớn”.

Vì vậy, giới phân tích nhận định, cuộc họp này, cùng với loạt động thái tăng tốc của New Delhi sẽ chỉ càng gia tăng nghi ngờ trong mối quan hệ song phương.

“Trò chơi lớn”

Dù giới ngoại giao hai nước khẳng định mong muốn thiết lập mối quan hệ song phương thân thiết nhưng căng thẳng vẫn không ngừng gia tăng ở mọi khía cạnh quan hệ giữa hai láng giềng châu Á này. BBC cho rằng, những sự dè chừng, so găng của New Delhi và Bắc Kinh rất giống như một cuộc đấu trong “trò chơi lớn”.

“Trò chơi lớn” là khái niệm gắn liền với cuộc tranh giành ảnh hưởng cũng như quyền kiểm soát đối với khu vực Trung Á giữa Nga và Anh được bắt đầu từ năm 1813 và chỉ kết thúc đến khi hiệp ước Anh-Nga năm 1907 được ký kết.

Theo BBC, so với trò chơi nguyên bản hồi những năm 1880, phiên bản mới giữa hai “ông lớn châu Á” này dù không gây ồn ào bằng nhưng lại có tác động lớn hơn trên toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức không nhỏ cho khu vực và thế giới.

Ấn Độ – Trung Quốc “chơi trò chiến tranh mới”. Ảnh: Economist.

 

Giống như phiên bản cũ, cuộc chơi mới này cũng diễn ra trên mọi lĩnh vực như viện trợ, đầu tư, chính trị, văn hóa và đặc biệt là quân sự.

Trung Quốc giúp Chính phủ Sri Lanka trong các lĩnh vực quân sự, ngoại giao và viện trợ hàng tỷ USD để họ đánh bại lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil. Đổi lại, quốc đảo này cho Bắc Kinh sử dụng cảng nước sâu ở Hambantota, qua đó kiểm soát được nhiều tuyến đường vận chuyển huyết mạch trên biển, có ý nghĩa sống còn với Ấn Độ.

Không dừng lại, Trung Quốc còn dựng lên lá chắn ở phía Tây Nam, ngăn chặn ý định Đông tiến của Ấn Độ bằng cách lôi kéo Myanmar, biến nước này thành đồng minh thân cận nhất. Bằng chứng là Bắc Kinh liên tục thúc đẩy thương mại song phương, trở thành đối tác buôn bán lớn nhất của Naypyidaw, liên tục bảo vệ nước này tại Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, xây dựng hoặc nâng cấp các cơ sở thương mại, các căn cứ hải quân…

Đổi lại, Trung Quốc được phép khai thác mỏ khí tự nhiên của Myanmar với giá hữu nghị, cũng như từng bước tiếp cận những nguồn tài nguyên thiên nhiên. Điều này vừa có lợi cho Trung Quốc, vừa kết lấy lòng Myanmar và quan trọng hơn, cắt đi một nguồn cung nguyên, nhiên liệu cho nhu cầu kinh tế Ấn Độ cũng như lấy đi của Ấn Độ một đồng minh trong vùng đệm an ninh.

Một nước khác cũng được Trung Quốc tận dụng là “kẻ thù” của Ấn Độ: Pakistan. Bằng cách giúp đỡ tài chính, kỹ thuật vũ khí, đặc biệt là vũ khí hạt nhân… cho Islamabad, Bắc Kinh được phép xây dựng một căn cứ hải quân lớn, trạm giám sát ở Gwadar và một bến cảng ở Pasni. Đã vậy, với việc giúp Pakistan phát triển vũ khí hạt nhân, Bắc Kinh giúp kẻ thù của kẻ thù, khiến Ấn Độ phải chia lửa đối phó Pakistan ở phía Tây, không thể dồn sức cho cuộc cạnh tranh với Trung Quốc ở phía Bắc, Đông và Nam.

Xét trên bình diện toàn khu vực xung quanh Ấn Độ, Trung Quốc còn âm thầm lôi kéo Nepal, Bangladesh… tạo thế bao vây Ấn Độ trên đất liền. Và với hàng loạt hải cảng, căn cứ hải quân ở các nước thân thiết với Trung Quốc dọc theo Ấn Độ Dương, Bắc Kinh tạo thành vành đai trên biển. Có thể nói, Trung Quốc đi trước một bước, bao vây thành công Ấn Độ, hoàn toàn có cơ sở để kìm chế được cường quốc này.

Vì vậy, với một số người ở New Delhi, đối phó với Trung Quốc thậm chí còn được đặt cao hơn với đối thủ truyền thống là Pakistan. “Gần đây, có một quan điểm phổ biến ở Ấn Độ rằng, Trung Quốc là mối nguy hiểm thực sự trong tương lai”, Gurmeet Kanwal, giám đốc nghiên cứu chiến tranh mặt đất tại New Delhi nhấn mạnh.

Trước sự uy hiếp của Trung Quốc, Ấn Độ cũng không chịu khoanh tay ngồi nhìn. Ngoài việc tự lực phát triển kinh tế, tăng cường hợp tác với Mỹ, Nga, ASEAN… tạo thế cân bằng chiến lược, nước này còn tập trung tăng cường sức mạnh quốc phòng.

“Quân đội Ấn Độ đang củng cố lực lượng của mình để chuẩn bị đối phó với một cuộc xung đột có thể xảy ra dọc khu vực biên giới tranh chấp và không ngừng cố gắng cân bằng với việc phô trương sức mạnh của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương”, James Clapper, giám đốc tình báo quốc gia Mỹ tuyên bố trước một uỷ ban thượng viện.

Để cạnh tranh, Ấn Độ bắt đầu con đường dài để hiện đại hoá các lực lượng của mình và thay thế những vũ khí lạc hậu từ thời Xô Viết. Ấn Độ quyết định mua 126 máy bay chiến đấu từ hãng Dassault của Pháp sau một cuộc chiến giữa các nhà sản xuất máy bay toàn cầu để lôi kéo Ấn Độ. Chi phí ban đầu cho hợp đồng này ước tính vào khoảng 11 tỷ USD nhưng các vũ khí trên máy bay, việc chuyển giao công nghệ, duy tu bảo dưỡng và các phí tổn khác được cho là làm gia tăng hầu như gấp đôi giá thành.

Hải quân Ấn Độ mới đây cũng tiếp nhận một tàu ngầm hạt nhân Nerpa của Nga, đổi tên là INS Chakra-II. Động thái này khiến Ấn Độ trở thành thành viên của một nhóm “đẳng cấp” các quốc gia vận hành tàu ngầm hạt nhân. Những thành viên khác trong câu lạc bộ này có Mỹ, Pháp, Nga, Anh và Trung Quốc.

Ngoài ra, 6 tàu ngầm đang được xây dựng ở Ấn Độ theo giấy phép từ Pháp trong hợp đồng trị giá 5 tỷ USD dự kiến bắt đầu đi vào hoạt động năm 2015.

“Như vậy, không chỉ có Trung Quốc đang trỗi dậy, mà Ấn Độ cũng đang gia tăng và xu thế này tiếp tục trong vài thập niên tới”, phó chỉ huy không quân Kapil Kak nghỉ hưu, hiện là thành viên Trung tâm nghiên cứu không lực ở New Delhi nhận định.

Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, không ai trong số hai nước muốn gây chiến tranh bởi họ đều có vũ khí hạt nhân, khi giao chiến thì hậu quả là vô cùng lớn, đôi bên đều bị thương nặng, thậm chí hủy diệt lẫn nhau. Vì vậy, tất cả những động thái cứng rắn của họ chỉ nhằm mục đích là để tranh giành ảnh hưởng, giống như những gì diễn ra trong “trò chơi vĩ đại” hồi những năm 1980.

Đốt tiền ‘không bằng lửa’ đáng sợ hơn! – ĐV

20 Th4

(Đất Việt) Clip đốt tiền của một số bạn trẻ xuất hiện trên mạng đã khiến dư luận hết sức phẫn nộ. GS Văn Như Cương – Hiệu trưởng trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh (Hà Nội), đã có cuộc trao đổi với Đất Việt.

>> Tiền khiến người trẻ ‘lùn’ nhân cách? >>  Sốc và phẫn nộ: hàng loạt clip đốt tiền trên mạng
GS Văn Như Cương cho rằng đốt tiền, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, đều là hành vi thể hiện bản thân rất ngông cuồng, coi thường dư luận, sức lao động của người khác, của bố mẹ mình trong một bộ phận lớp trẻ.

Hiện nhiều người trẻ có một kiểu “đốt” tiền khác đó là tiêu tiền một cách vô tội vạ. “Con cái các “đại gia” không đốt tiền bằng lửa, nhưng họ tiêu tiền như đốt thì dù đồng tiền không bị phá hủy, không bị mất đi nhưng nó còn nguy hiểm hơn”, GS Văn Như Cương nhận xét. Điều đáng nói, trẻ em đốt tờ 50.000 đồng hay 100.000 đồng bị người ta lên án, và sẽ  bị xử lý theo luật, nhưng chi 5 tỷ hay 10 tỷ đồng cho một đám cưới, mua siêu xe, hay cách đây đã lâu có đám cưới gửi giấy mời còn kèm theo quà tặng là một chiếc xe máy…. thì không ai xử lý được. Cho nên, việc đốt tiền là nguy hiểm và phạm pháp nhưng kiểu đốt tiền “không bằng lửa” cần phải được chú ý, bởi nó còn ngông cuồng hơn.

GS Văn Như Cương – Hiệu trưởng trường THPT Dân lập Lương Thế Vinh (Hà Nội).

 

Theo GS Văn Như Cương, việc quan tâm giáo dục định hướng của gia đình, nhà trường và xã hội là rất quan trọng vì xã hội thay đổi rất nhiều, tâm lý thanh niên cũng khác trước. Trước đây gia đình nghèo hay giàu đều giữ gia phong, lề thói. Cha mẹ cho tiền và cho tiêu mới được tiêu. Xã hội ngày nay cởi mở, thông thoáng, dân chủ hơn, mối quan hệ giữa thầy – trò, cha mẹ – con cái cũng có phần thay đổi… nếu chúng ta không định hướng trước thì sẽ dẫn đến sai lệch. Thanh niên bây giờ luôn muốn chứng tỏ, khẳng định bản thân mình. Vì thế, giáo dục định hướng cho các em bây giờ rất quan trọng. Không thể áp đặt con trẻ như trước, phải để con trẻ tự chủ nhưng cũng không thể để cho tự do thái quá được. Sự tự do ấy phải trong khuôn khổ.

“Trước đây, nếu ông bố bực mình con cái về chuyện học hành có thể bảo với con “Học thế thì đừng học nữa”, hoặc “Đi đi cho khuất mắt tao”. Con cái dù có ấm ức nhưng vẫn phải nghe, không được cãi. Ngày nay nếu nói thế thì ngay lập tức con bỏ học đi khỏi nhà, cho nên bố mẹ không thể áp đặt hay quát mắng con cái một cách sống sượng được”.

Quan hệ gia đình là yếu tố quan trọng trong giáo dục định hướng cho các em. Quan hệ gia đình hiện nay đang rời rạc, lỏng lẻo, bố mẹ đi làm suốt ngày, phó mặc con cái cho người giúp việc hoặc trường học, ít khi nói được những lời yêu thương, ít khi quan tâm sát sao đến tâm tư tình cảm của con cái. Cho nên, để định hướng tốt cho lớp trẻ về hành vi và nhận thức cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường, làm sao cho các bạn trẻ hiểu được thế nào là chân, thiện, mỹ để có những ứng xử đúng. Đó là nguyên tắc của giáo dục.

GS.TS Nguyễn Minh Thuyết: Chẳng có thời gian để… buồn – Beee/BS

20 Th4

 

(Kienthuc.net.vn) – Với những người theo dõi sát nghị trường, hẳn không ai không biết tới “ông nghị” Nguyễn Minh Thuyết (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn các khóa 11, 12), bởi ông có những câu chất vấn không ngại động chạm, nói thẳng, nói thật, nói trúng tâm nguyện người dân.
 
Bây giờ, ông xa chốn “quan trường” đã được chừng nửa năm. Tôi đem băn khoăn không biết cuộc sống của một ông nghị về hưu sẽ như thế nào đến gõ cửa nhà ông.
Nhận sổ hưu rồi nhưng chưa chịu nghỉ
Những tưởng lùi khỏi chốn nghị trường, “ông nghị” Thuyết sẽ nhàn hơn, tôi bốc máy hẹn. Thế nhưng, tôi đã phải thất vọng vì ông đang đi công tác Cao Bằng. Về Hà Nội, gặp được ông rồi nhưng cuộc nói chuyện giữa chúng tôi liên tục bị gián đoạn bởi những cú điện thoại của bạn bè, của nhà xuất bản, của báo giới… Ông thanh minh: “Nhận sổ hưu rồi nhưng chưa chịu nghỉ, vi phạm luật lao động đấy”.
“Tôi về nghỉ từ tháng 10/2011. Nếu có một sự so sánh giữa lúc đang làm việc với lúc về hưu thì chỉ khác mỗi việc là sáng sáng, tầm 7h, tôi không phải xách cặp đi làm”, ông bảo. Tôi về nghỉ từ tháng 10/2011. Nếu có một sự so sánh giữa lúc đang làm việc với lúc về hưu thì chỉ khác mỗi việc là sáng sáng, tầm 7h, tôi không phải xách cặp đi làm”, ông bảo.

Tôi tỏ vẻ hồ nghi, bởi một người luôn nặng lòng vì nước, vì dân với những câu chất vấn “thỏa lòng người” như ông về nghỉ chẳng lẽ lại không thấy chênh chao. Ông cười mủm mỉm: “Tôi vẫn quan tâm đấy chứ. Hằng ngày, tôi dậy từ 5h sáng, lướt mạng xem tin tức, rồi đi tập. Tôi vẫn dành gần 8 tiếng ban ngày và 3 tiếng buổi tối ngồi vào bàn làm việc. Nếu không ở nhà thì tôi đi thực tế, đi báo cáo với các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân địa phương hoặc hoàn chỉnh dự thảo luật cùng anh em Quốc hội, tham gia hội nghị, hội thảo với các bộ, ngành và Liên hiệp Các hội khoa học, kỹ thuật Việt Nam. Quả thực, chưa có thời gian để buồn”.

Gặp được GS.TS Nguyễn Minh Thuyết nhưng cuộc nói chuyện giữa chúng tôi liên tục bị gián đoạn bởi những cú điện thoại của bạn bè, của nhà xuất bản, của báo giới…

“Ông này ngày xưa  làm khổ tôi lắm!”
Rất tự nhiên, câu chuyện giữa chúng tôi lại quay về với những ngày ông còn tham gia Quốc hội.
Ông thừa nhận: “Bảo những người bị tôi chất vấn đều hài lòng thì không hẳn. Chắc chắn một số vị sẽ có chút gợn nào đó trong quan hệ với tôi”.
Như sực nhớ ra, ông kể lại một kỷ niệm: “Gần đây, tôi đi TPHCM dự hội nghị, vô tình gặp trong thang máy một vị bộ trưởng mà tôi đã từng chất vấn ở khoá 11. Sau khi hỏi han vài câu xã giao, chị ấy chỉ vào tôi và nói với những người đi cùng: “Ông này ngày xưa làm khổ tôi lắm đây”. Tất cả cùng cười”.
Một trong những lý do để ông Thuyết luôn nói thẳng, nói thật, không ngại chất vấn là “không có quan hệ thân sơ với ai trong bộ máy chính quyền cả. Thế nên, nếu mình có đánh giá cao người ta hay chất vấn này nọ thì cũng hết sức khách quan, công tâm theo nhận xét của mình. Có thể đúng hoặc sai nhưng về cơ bản thì không bị chi phối bởi điều gì”.
Ông nói tiếp: “Tôi chưa bao giờ đến nhà hay trò chuyện lâu với sếp nào cấp cao bên hành lang Quốc hội. Bởi tôi sợ mình thân với ông A rồi đi phản biện ông B thì người ta dễ nghĩ có ông A đứng sau lắm. Thế nên, cứ đường hoàng mà làm, để không phải áy náy khi nói ra”, ông bảo.
Được Chủ tịch Quốc hội… chất vấn
Hỏi ông về kỷ niệm đáng nhớ nhất khi tham gia Quốc hội, ông Thuyết thoáng chút suy tư bởi “có quá nhiều kỷ niệm, nhà báo hỏi bất ngờ quá nên chưa kịp nhớ ra”.
Lục tìm trong trí nhớ, ông “à” lên một tiếng rồi hóm hỉnh mở đầu: “Tôi hay chất vấn mọi người, nhưng cũng có lần bị chất vấn giữa hội trường. Ấy là lần tôi chất vấn Bộ trưởng Bộ Công an ở khoá 11. Có hai lần tôi đứng lên chất vấn.

 
Giờ nghỉ giải lao, cánh phóng viên xúm vào hỏi sao không truy vấn tiếp. Tôi bảo: “Sau mình, còn nhiều đại biểu đang chờ đến lượt. Mình đứng lên 2 lần như thế là nhiều rồi. Với lại, cũng như đi chấm luận án tiến sĩ, hỏi đủ để chấm điểm rồi thì thôi chứ!”.
Sáng hôm sau, báo ra với tít “Là nhà giáo, tôi chỉ hỏi đủ để chấm điểm”. Đó cũng là ngày họp cuối cùng của phiên chất vấn. Tôi thấy báo giật tít hay thật, còn không nghĩ gì nhiều.

Không ngờ cuối buổi chiều, còn đang truyền hình trực tiếp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An giơ tờ báo lên và hỏi tại sao tôi lại đặt vấn đề “chấm điểm Bộ trưởng” ở đây. Lúc đó, tôi hơi bị bất ngờ song xác nhận đúng là tôi có trả lời báo chí như thế. Bởi tôi quan niệm ngoài mục tiêu xây dựng, thúc đẩy công việc thì chất vấn còn là để nhân dân đánh giá năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các vị được Quốc hội giao trọng trách.

Ngay tối hôm ấy, tôi nhận được điện thoại của phóng viên viết bài đó, nói rằng hôm nay tòa soạn của bạn ấy phải nín thở nghe tôi giải trình. Bạn ấy bảo: “Anh mà phủ nhận là em chết với toà soạn đấy”, ông kể.

Giá như dành nhiều thời gian cho bố mẹ hơn
“Có bao giờ ông thấy hối tiếc vì điều gì?”, tôi đặt câu hỏi. Ông cười hiền: “Tôi may mắn vì mọi chuyện trong nhà đã có vợ quán xuyến, anh em họ hàng hai bên đều thông cảm, sẻ chia. Các con cũng tự lập hoàn toàn. Thế nhưng, nếu có phép màu, tôi chỉ mong mình trẻ ra được 20 tuổi. Tôi sẽ làm được nhiều hơn và sẽ có nhiều thời gian hơn dành cho gia đình, cho bố mẹ”.
Thoáng chút trầm tư trên gương mặt ông, ông tiếp chuyện, giọng xúc động: “Kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa 12 họp đúng lúc bố vợ tôi nằm viện. Ngày 28/10/2010 thì cụ mất. Tôi chỉ vào thăm được chứ không có thời gian chăm sóc cụ. Bởi đến ngày 1/11, tôi vẫn đi họp và chất vấn về vụ Vinashin.

 
Cũng thời gian này, mẹ đẻ tôi nhập viện. Ngày ngày tôi đi họp, rồi rẽ vào thăm; Tuần 2 tối ngủ luôn trong viện trông cụ. Cuối tháng 11 họp xong thì đến ngày 17/12/2010 mẹ tôi ra đi. Nghĩ lại thấy tiếc lắm. Giá như mình có thể dành nhiều thời gian cho bố mẹ hơn nữa”.
Với ông, điều đáng hài lòng nhất trong cuộc sống là “chưa bao giờ bỏ phí thời gian, làm gì cũng tận tụy, đến nơi đến chốn. Thế là tôi thấy mình thanh thản”, ông cười bảo.
 
“Tôi không nghĩ là tôi làm khổ nhiều người vì đã chất vấn họ. Chất vấn  cũng là vì muốn giúp họ thôi. Giả sử có làm khổ một vài người mà thỏa  lòng hàng triệu người thì cũng là một lựa chọn hợp tình hợp lý. Vả lại,  nói cho công bằng, các vị ấy khổ một thì tôi còn khổ gấp hai, vì để chất  vấn được về những vấn đề xa với chuyên môn của mình, tôi phải đọc rất  nhiều tài liệu để có thông tin và hiểu bản chất vấn đề. Đáng ra thời  gian đó tôi có thể viết sách, đi chơi chứ!”.

Thanh Thủy

‘Tiên sư anh…Tào Mối” – VHNA

20 Th4

Hà Văn

Dịp rồi, tôi đi công tác ở Quảng Bình – đất địa linh nhân kiệt với Kẻ Bàng, kẻ sĩ có cái hào sảng, lung linh, cuốn hút như thạch nhũ rạng ngời…

Ông bạn tôi, một TS nửa ở ẩn nửa không, nửa làm thơ (từng đoạt giải báo Văn Nghệ) nửa thích dùng búa để bửa xẻ chuyện đời, thủng thẳng nói với tôi rằng: “Trên đời này, nếu kể về trí tuệ trong giới động vật không phải người (hoặc chưa thành người) thì loài ong và loài mối là loại có trí tuệ nhất khi tạo ra những công trình xây dựng có một không hai, chuẩn xác và hấp dẫn có khi còn hơn nhiều công trình khoa học thời nay…” Tôi nghe trong hương rượu vodka nhưng vẫn còn đủ chút lý trí mơ hồ nào đó để thầm phản bác rằng: “Quái, cái lão chập (gọi thế chứ lão thông minh ít nhất hơn tôi gấp 10 lần) này, hết việc hay sao lại đi khen loài mối. Ong thì khả dĩ còn được, nó đáng yêu, hơn nữa, nó lại còn cái thắt đáy lưng ong, chỉ mới nghe thôi nước bọt đã thơm phức cả miệng mồm… Mặc cái thằng tôi ngơ ngơ ngẩn ngẩn quẩn tư xuẩn bí, vị TS có gène ba sàm giảng giải tiếp. “Công trình của loài ong cho phép con người nghĩ tới những sự phi thường, thanh cao, thậm chí đạt đến mức thoát tục của nghệ thuật sống và cống hiến. Thế nhưng, so với loài mối thì ong cũng chỉ đáng là loại học trò mang số kiếp thi lại bền vững”. Bây giờ thì tôi shock thật sự bởi cái nhiễu loạn so sánh, phân tích của ông bạn có dăm ba chữ vàng. Dẫu có tối tăm cách mấy tôi cũng không thể quên lời dạy của Marx rằng khoa học bắt đầu bằng sự so sánh, rằng muốn đạt đến cái gì đó kho khó một tý đều phải băng qua những đỉnh cao gian khổ, nhọc nhằn của một con đường dài vất vả, chông chênh. Không nghĩ ra thì đành phải chờ thôi. Có hàng vạn người trên trái đất này không thèm trăn trở vì họ biết thể nào cũng có những người khác nghĩ thay, nghĩ cố cho mình. “Con ong nó xây tổ thật đẹp để sống cho nó và cho những đời sau. Nó dạy cho các thế hệ mới những bài học về tính hiệu quả, tiết kiệm… Cái đẹp của 6 mặt không hề thò lò của cuộc sống chỉn chu là hạnh phúc khi lao động sáng tạo miệt mài”… Tôi bắt đầu nghĩ rằng có lẽ bạn tôi đã say hơn cả tôi khi nó có ý định dạy tôi những bài học cũ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hồi chung nhau một lớp suốt bốn năm rưỡi ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, hắn bao giờ cũng thua tôi ở cái môn nói phét – tức là lịch sử về những điều không tưởng và bịa đặt; hay, nói cho có vẻ văn chương, lịch sử là khoa học về những sự giả dối tinh vi nhằm làm cho con người luôn lầm tưởng mọi cái được bịa ra, thêm vào, cắt bớt, đều là sự thật. “Loài mối, biết làm những điều không một chủng loại nào làm được (trừ con người). Nó đục ruỗng xà nhà, cột, kèo mà không một ai hay biết. Hoặc, giả có biết thì cứ tin rằng không đáng kể. Loài mối cứ xem cột, kèo, xà nhà, đòn tay như là “đất nước” của chúng nó vậy. Chúng phá tan tành “đất nước” của chúng, huỷ hoại từ từ, từng chút một bằng sự tính toán tỷ mỉ, chi ly; sao cho chúng ăn hết bên trong rồi, cái vỏ “đất nước” của nó vẫn y nguyên…” Nói đến đó, bạn tôi chỉ vào một khúc gỗ tròn, dài, đen bóng, dựng chênh chếch bên trái hòn non bộ: “Cậu thử nhấc nó lên xem. Nhớ nhẹ tay bởi mình không muốn nó mục vỡ”. Tôi đứng dậy, đến gần hòn non bộ rồi “vận công”, nhấc khúc gỗ tròn trông giống một cái cột nhà: Nó nhẹ tênh. “Đấy, thấy rõ chưa, tất cả chỉ còn lại một cái vỏ, trong khi lũ mối đã đục khoét bên trong chẳng còn gì. Chúng sẽ ăn, tiếp tục đục khoét cho đến khi nào không thể ăn thêm được nữa là chúng cao chạy xa bay, chuyển sang cây cột khác, kèo dầm khác, tìm “nước” khác”. Nhìn thấy bộ dạng thiểu não, hoang mang của tôi, gã bạn không những không thương hại mà lại còn nhất quyết không buông tha: “Cái khó mà mình nghĩ mãi không ra, khó đến mức phải đặt cái khúc cột nhà đó ở đây để nghĩ tiếp là làm sao loài mối biết khi nào thì cây cột nhà sắp đổ sụp – tức là bị “loài người tiến bộ” phát hiện  (tức là chúng chết chắc), để bồng bế, dắt nhau trốn sang “nước” khác kịp thời…”(!) Ừ nhỉ, tôi thở ra mà giống như trút khỏi cái đầu mình cả một hòn đá trĩu nặng nỗi đau. Lũ mối quả là có “trí tuệ” siêu phàm. Chúng tham ăn, tục uống, bất lương và không hề biết xấu hổ. Chúng giỏi che đậy đến bậc thượng thừa khi ăn ruỗng, đục khoét hết cả một “đất nước” mà ông đi qua, bà đi lại không hề hay biết (hay là biết mà giả điếc, giả câm?). Chỉ đến lúc nào đó, một cơn bão thổi tới, một ai đó xô mạnh vào thì cả cái gọi là khúc gỗ ấy mới đổ sập xuống! Giả dối để tham lam tinh vi đến thế là cùng. Tiên sư anh Tào Mối(!)

Quân đội Trung Quốc: Thối nát từ bên trong VHNA

20 Th4

John Garnaut

Trong nhiều lãnh vực cạnh tranh quốc tế, Trung Quốc không mấy lạc quan về khả năng của họ như người ngoài tưởng.

Các lãnh đạo Trung Quốc thường nhắc nhở phương Tây rằng, Trung Quốc là một quốc gia đang phát triển, với hàng trăm triệu người sống trong nghèo đói, một nền kinh tế không ổn định, và nhiều căng thẳng xã hội. Điều mà Bắc Kinh lo lắng nhất, và điều này làm cho những người lo sợ về sự bành trướng quân sự của trung Quốc cảm thấy dễ chịu đó là tình trạng tham nhũng trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đúng vậy, thế giới đã đánh giá thấp mức gia tăng chi tiêu nhanh chóng về quân sự gấp bốn lần trong thập kỷ qua sẽ có hàng loạt vũ khí hiện đại để ngăn cản Hoa Kỳ xen vào những cuộc tranh chấp quân sự trong khu vực. Những tướng lãnh hàng đầu của Hoa Kỳ quan tâm về tên lửa đạn đạo “chống hạm” được chế tạo để phá hủy hạm đội Hoa Kỳ ở xa như Phi Luật Tân, Nhật Bản và xa hơn. Năm ngoái, Trung Quốc thử nghiệm mẫu chiến đấu cơ tàng hình và hạ thủy chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên, cộng thêm tàu khu trục mới và tàu ngầm nguyên tử. Tuy nhiên, không rõ là liệu quân đội Trung Quốc, một tổ chức tối mật chỉ chịu trách nhiệm một cách tiêu biểu với lãnh đạo dân sự, có thể phát triển lực lượng nhân sự có khả năng điều hành và phối hợp hiệu quả những loại vũ khí mới này hay không.

Đánh giá từ những bài phát biểu gay gắt gần đây của một trong các tướng lãnh hàng đầu PLA, mà chi tiết được lấy từ Foreign Policy, họ không thể, [do]: Tổ chức quân đội chứa đầy tham nhũng và thoái hóa chuyên nghiệp, bị các quan hệ phe phái thoả hiệp, và bị ngộp do các sức ép nặng nề của sự kiểm soát chính trị. Các bài phát biểu, một bài hồi cuối tháng 12 và một bài khác hồi giữa tháng 2, của tướng Lưu Nguyên, con của một cựu chủ tịch Trung Quốc và là một trong những ngôi sao đang lên của PLA; bài phát biểu và hành động của tướng Lưu cho thấy, PLA có thể là nơi xảy ra chuyện tranh đấu quan trọng sắp tới, nhằm kiểm soát Đảng Cộng sản, theo cách thức hạ bệ Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, Bạc Hy Lai xảy ra mới đây. Tướng Lưu là chính ủy và là viên chức có quyền hành nhất trong Tổng cục Hậu cần của PLA, quản lý những hợp đồng khổng lồ về đất đai, nhà cửa, thực phẩm, tài chánh, và dịch vụ cho 2,3 triệu quân nhân Trung Quốc.

“Không ai có thể đánh bại Trung Quốc”, Tướng Lưu nói với 600 sĩ quan thuộc đơn vị của ông trong bài phát biểu không ghi lại tại một cuộc họp đảng đông người vào buổi chiều ngày 29 tháng 12 [năm 2011], theo các nguồn tin đã được kiểm chứng. “Chỉ có nạn tham nhũng của chính chúng ta mới có thể triệt hạ chúng ta và làm cho lực lượng quân sự của chúng ta bị đánh bại mà không cần giao tranh”. Sự tố cáo gay gắt như thế về tình hình của lực lượng vũ trang Trung Quốc, đến từ một tướng ba sao bên trong PLA là chưa từng có tiền lệ.

Không có cách nào để kiểm chứng một cách độc lập sự đánh giá bi quan của tướng Lưu về mức độ tham nhũng bên trong PLA, nhưng ông ấy có đủ uy tín để nói điều đó. Kinh nghiệm nghề nghiệp của ông gồm một thập kỷ trong chính quyền trung ương tỉnh Hà Nam và một thập kỷ trong lực lượng bán quân sự, cho phép ông vượt qua khỏi sự ràng buộc hạn hẹp về các thế lực. Cục Hậu cần của ông phối hợp với tất cả các bộ phận khác trong quân đội Trung Quốc và vị thế của ông là con của một lãnh đạo cao cấp, hoặc thái tử đảng, đã mở ra một mạng lưới đặc quyền không chính thức khắp các cấp bậc trong quân đội và phía dân sự của đảng và chính quyền. Một số nhà quan sát Trung Quốc và ngoại giao PLA tin rằng, tướng Lưu, được sinh ra ở địa vị cao nhất trong số các thái tử đảng, đang trèo lên nấc thang quyền lực, trên đường tiến vào vị trí hàng đầu trong quân đội Trung Quốc, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương (CMC) sau khi giới lãnh đạo hiện nay về hưu sau Đại hội Đảng lần thứ 18, sự chuyển giao quyền lực với quy mô lớn đầu tiên trong một thập kỷ. Hơn nữa, ông còn là bạn thân với chủ tịch tương lai, ông Tập Cận Bình.

Trong khi lãnh đạo Trung Quốc xem Hoa Kỳ như là một đối thủ tương lai, tướng Lưu lo lắng nhiều hơn về  PLA – quân đội chưa từng tham chiến kể từ lần xâm lược Việt Nam khốc liệt năm 1979 – đang làm trong thời bình. Trong bài phát biểu hồi tháng 2, ông mô tả quân đội bị vây hãm bởi thứ bệnh “cá nhân chủ nghĩa bất trị” mà các sĩ quan chỉ tuân lệnh theo sở thích, tiến thân bằng sức mạnh của các mối quan hệ, và sẵn sàng bán các dịch vụ với “giá cả định sẵn”.

Việc thực hiện mua quan bán chức chức bên trong quân đội hiện phổ biến rộng rãi, tướng Lưu ghi nhận, đến nỗi chủ tịch sắp rời chức vụ là ông Hồ Cẩm Đào, cũng là người lãnh đạo quân đội với chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, đã thốt lên với nỗi thất vọng, “Khi Chủ tịch Hồ phê bình nặng nề tệ ‘mua quan bán chức’, chúng ta có thể ngồi yên được không?”

Những điều tiết lộ của tướng Lưu không hẳn là tin tốt cho những đối thủ khả dĩ của Trung Quốc. Các chiến lược gia nước ngoài bắt đầu lo lắng về nạn tham nhũng và chính trị nội tại phức tạp có thể làm tăng thêm những khó khăn sẵn có trong việc liên lạc với PLA và quản lý tình trạng khủng hoảng một cách khéo léo. Bất kể những nguy cơ tiềm ẩn trong kho vũ khí đang gia tăng của Trung Quốc, tham vọng bành trướng và những phát biểu hiếu chiến thất thường, sự hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc hầu như không hiện hữu. Các nhà ngoại giao cho biết, các quan chức Mỹ ít tiếp xúc với các quan chức PLA hơn là những đồng nghiệp của họ ở các tòa đại sứ phương Tây khác, những người mà chính họ cũng giữ bí mật. Các quan chức cao cấp của các chính phủ phương Tây đã nói với tôi rằng, lãnh đạo quân đội Hoa Kỳ không biết nhiều về hệ thống chỉ huy và biết rất ít về hệ thống thông tin liên lạc, so với những gì mà họ biết từ những người đồng nhiệm Liên Xô trong thời chiến tranh lạnh.

Michael Swaine, một chuyên viên an ninh Trung Quốc tại Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie, viết rằng, “cấu trúc phân mảng và chồng chéo” của hệ thống Trung Quốc, có nghĩa là, có trở ngại lớn trong việc liên lạc ngay cả trong nội bộ, nhất là trong trường  hợp khủng khoảng. Cũng như hầu hết các nhà phân tích khác, Michael Swaine đã không nghiên cứu vấn đề tham nhũng của PLA do khó khăn trong việc định lượng.

Tuy nhiên, bằng cách nào đó, nạn tham nhũng đang trốn khỏi ánh sáng mặt trời. Người ngoài có thể thấy những khối lượng khổng lổ của những món hối lộ trong quân đội và đặc ân trong những chiếc xe hơi đắt tiền với biển số quân đội trên đại lộ Trường An, đại lộ đông tây chính ở Bắc Kinh, và đậu chung quanh những hộp đêm hạng sang gần sân vận động Công nhân. Dân làm ăn ngả về các sĩ quan PLA vì sự tiếp cận và bao che của họ. Các cựu chiến  binh PLA nói với tôi, họ đang tổ chức các phong trào “bảo vệ quyền lợi” để phản đối chế độ hưu dưỡng thiếu thốn, điều mà họ thấy tương phản với lối sống xa hoa mà của những sĩ quan đang tại chức. Các sĩ quan về hưu nói với tôi rằng chuyện thăng chức càng đã trở nên đắt đỏ vì nó đã trở thành thông lệ, phải trả số tiền hối lộ tương đương hàng trăm ngàn đô la chỉ để được cất nhắc vào nhiều chức vụ cao cấp.

Bài phát biểu thứ hai hồi tháng 2 là bài phát biểu chi tiết nhất trong những bài về tham nhũng, cho rằng vấn đề này nghiêm trọng hơn những chứng cứ chính xác có được. Ông nói: “Các cá nhân nào đó trao đổi tiền công quỹ, hàng hóa công, văn phòng và việc công cho lợi ích cá nhân, coi thường pháp luật và quy tắc đảng, ngay cả sử dụng lời nói thô lỗ và hăm dọa, âm mưu bí mật và đặt bẫy. Họ tấn công các cán bộ trung thành và gương mẫu, bắt cóc và tống tiền lãnh đạo đảng, và kéo cấp trên của họ vào để làm vật chắn. Họ sử dụng mọi mánh khóe của băng đảng tội phạm ngay chính bên trong quân đội”. Cách thức tướng Lưu diễn tả, mạng lưới bè lũ quân đội, phe cánh, và cách nối kết nội bộ của tội phạm có tổ chức nghe giống như sự vận hành của quân đội cát cứ trước thời cách mạng cộng sản hơn là lực lượng đang được hiện đại hóa nhanh và hiện đang gây náo động các nước láng giềng của Trung Quốc.

Chủ tịch Mao nói về việc “chữa bệnh để cứu bệnh nhân” vào khoảng thời gian kỷ luật và khắc khổ trước cách mạng. Có lẽ do tướng Lưu nói về PLA – nơi mà sự thối nát trông có vẻ tiến nhanh hơn những nơi khác trong bộ máy quan liêu xơ cứng của Trung Quốc. Ông dùng lối nói ẩn dụ nhiều hơn giới hạn minh họa thông thường. Trong bài phát biểu hồi tháng 2, tướng Lưu nhắc lại một câu truyện thời trẻ về một bác sĩ giải phẫu ở Siberia, người đã cứu chính mình khỏi bệnh viêm ruột thừa bằng cách dùng một cái gương để điều khiển con dao mổ ở khu bụng dưới.

Theo các nguồn tin đã kiểm chứng bài phát biểu, ông nói: “Có bao nhiêu người trên thế giới này thực sự có thể tự mổ chính mình? Cho dù là một cá nhân hay một tổ chức, để sửa chữa một vấn đề khi nó phát sinh, đòi hỏi phải có loại người có gan và can đảm này”.

Do xuất thân từ dòng dõi chính thống, tướng Lưu được phép nói và làm những điều mà người khác không thể. Ông là người con duy nhất còn sống sót của Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ, người được Mao chỉ định kế thừa trong 20 năm, cho đến khi Mao phế bỏ ông lúc bắt đầu Cách mạng Văn hóa. Bị bắt và bị đánh đập công khai, ông Lưu Thiếu Kỳ đã chết vào năm 1969 trong nhà tù bê tông lạnh lẽo – trần truồng, gầy gò, bị ói mửa và tiêu chảy. Một trong những người anh em của ông chết vì bị đập đầu vào đường sắt; người khác bị mất trí trong tù và chết ngay sau khi được thả. Năm 1979, mẹ của tướng Lưu được thả sau một thập kỷ trong tù; cha ông được phục hồi danh dự năm sau trong tiến trình dẫn tới cuộc xử án công khai những kẻ hãm hại gia đình ông, bao gồm vợ của Mao, bà Giang Thanh. Tướng Lưu Nguyên và Tập Cận Bình, bạn của ông, cũng bị khốn đốn thời Cách mạng Văn hóa, quyết định làm cán bộ quần chúng ở nông thôn và khởi sự tiến thân qua các cấp chính quyền.

Khi ông nói về cuộc đấu tranh “sống chết” để cứu PLA và hệ thống Đảng Cộng sản mà cha ông góp phần tạo dựng, vài người nghi ngờ ý định của Lưu. Tuy nhiên, điều không rõ ràng là, phải chăng PLA có thể chỉ đơn giản cắt bỏ các bộ phận thối rữa, như là phần ruột dư bị nhiễm độc, và phải chăng lãnh đạo quân đội và dân sự chia rẽ và phe phái, như chuyện thất thế của Bạc Hy Lai, có thể cung cấp dao mổ để ông Lưu làm công việc giải phẫu.

Bài phát biểu “sống chết” của ông Lưu ngày 29 tháng 12 báo hiệu điều có thể trở thành sự phô bày lớn nhất về tham nhũng trong PLA từ thời cựu chủ tịch Giang Trạch Dân mở một cuộc điều tra về Tập đoàn Yuanhua năm 1999. Trong vụ xì-căng-đan đó, được truyền thông nhà nước phổ biến rộng rãi, Yuanhua đã dùng những mối liên hệ quân đội để trốn thuế lên tới 6,3 tỷ đô la qua việc buôn lậu đủ mọi thứ, từ thuốc lá và xe hơi đắt tiền, cho tới những tàu chở dầu. Vụ việc đã làm hàng trăm viên chức quân đội và các quan chức tỉnh thành, gồm một viên chức đứng đầu của một cơ quan tình báo bị mất chức. Nó cũng cho phép Giang củng cố quyền hành đối với quân đội.

Thế giới bên ngoài bắt được một chi tiết khác về tham nhũng trong quân đội vào tháng 12 năm 2005, khi đô đốc Vương Thủ Nghiệp, phó Tư lệnh Lực lượng Hải quân, bị bắt vì “tội kinh tế”. Tin tức chính thức cho biết, ông bị cách chức vì một tình nhân, trong khi báo Asia Weekly của Hồng Kông nói, ông có 5 tình nhân và ăn cắp gần 20 triệu đô la. Lúc đó, Nhật báo PLA, tờ báo chính thức của Quân đội Trung Quốc, nói rằng, hai nhiệm vụ lịch sử của PLA là chiến đấu và tiêu diệt tham nhũng, nhưng không ai có hành động cụ thể đối với nạn tham nhũng trong thời gian 6 năm tới. Chủ đề này đã bị che giấu và tất cả mọi thứ dường như thay đổi đó là toàn cảnh [tham nhũng] đã trở nên lớn hơn nhiều.

Cuối tháng 1 [năm 2012], ông Lưu theo đuổi lời tuyên bố mạnh bạo bằng việc cắt bỏ một cục bướu được cho là ung thư, tướng Cốc Tuấn San, Phó Tổng cục Hậu cần, sau một cuộc đấu tranh nội bộ kéo dài. Ông Cốc là một sĩ quan cao cấp đầu tiên bị đánh đổ kể từ thời Đô đốc Vương năm 2005. Một nguồn tin biết rõ sự việc kể lại, tướng Cốc tống tiền các quan chức quận với đe dọa dùng vũ lực và ông ta đã mua chức để được thăng tiến trong hệ thống PLA. Theo nguồn tin này, mà các cáo buộc không thể kiểm chứng độc lập, nói rằng, tướng Cốc đã cùng bạn bè, họ hàng và những người thân tín trong và ngoài quân đội, kiếm những món lợi rất lớn từ phát triển địa ốc ở Thượng Hải, phân phối hàng trăm căn biệt thự do PLA xây ở Bắc Kinh, làm quà cho bạn bè, đồng minh, và điều hành việc xây cất và hạ tầng cơ sở của ông ta như một băng đảng trong vùng. Ông liệt kê một loạt danh sách tài sản cá nhân, bắt đầu với biệt thự riêng, ở bên ngoài khu quân sự sau một bức tường cao bên cạnh đường East Fourth Ring ở Bắc Kinh, được gọi là dinh cơ của Đại tướng.

“Vấn đề của ông Cốc quá lớn”, nguồn tin cho biết. Ông này nói rằng, ông Cốc sắp xếp những chuyến bay cá nhân vào những chuyến công tác quốc nội và hải ngoại, ngay cả khi ông còn là tướng một sao, là điều chưa từng nghe đối với một người ở cấp bậc đó. Không thể gặp ông Cốc để ông có lời bình luận về chuyện này.

Vào tháng 2, trang web chính thức của quân đội và các hãng tin xác nhận việc sa thải ông Cốc, nhưng chỉ với lời lẽ nhẹ nhàng: “Ông Cốc không còn giữ chức Phó Tổng cục Hậu cần”. Dường như giới lãnh đạo vẫn còn tranh cãi về số phận của ông Cốc và những người đã từng bảo vệ ông.

Bộ Quốc phòng, đại diện cho PLA khi giao tiếp với các cơ quan nước ngoài, đã không trả lời các câu hỏi. Nhưng tất cả các nhà quan sát Trung Quốc được phỏng vấn để viết bài này đã đồng ý rằng nạn tham nhũng trong PLA và vấn đề kỷ luật ngày càng tệ. Tham nhũng trong quân đội là mối đe dọa “cấp bách” cho PLA hơn là lực lượng quân sự Hoa Kỳ, Ông Zhu Feng, giáo sư về quan hệ quốc tế tại đại học Bắc Kinh đã nói như thế. Những người khác cũng nói, vấn nạn đã nhân lên trong nhiều thập kỷ kể từ vụ thảm sát Thiên An môn năm 1989, trong khi ngân sách chính thức của PLA đã lên tới 106 tỷ đô la một năm và lãnh đạo dân sự đang cố gắng nắm giữ quyền kiểm soát (PLA).

Một thái tử đảng và cựu đại tá PLA, ông Trần Hiểu Lỗ, người có nhiều bạn bè là thái tử đảng quyền thế, gồm tướng Lưu, từ chối lặp lại những “câu chuyện kinh khủng” về tham nhũng trong PLA mà ông nghe được từ những tướng lãnh về hưu gần đây (ngoại trừ xác nhận những câu chuyện về Cốc Tuấn San, người bị Lưu cách chức). Ông Trần là con của một trong 10 nguyên soái vĩ đại của Trung Quốc và là con rể của tướng chỉ huy huyền thoại Túc Dụ, quản lý một công ty đầu tư hạ tầng cơ sở, Standard Intrenational. Ông chọn sự nghiệp ngoài hệ thống quân đội và chính phủ sau vụ thảm sát Thiên An môn. Ông nói với tôi, cuộc đổ máu năm 1989 đã để lại một khoảng trống về mục đích và tính chất liên kết bên trong PLA, và đồng tiền đã lùa tới để lấp đầy. Ông nói: “Sau phong trào 4 tháng 6 [năm 1989], khi ‘chống tham nhũng’ là khẩu hiệu của những người biểu tình, một số sĩ quan không còn quan tâm đến bất cứ điều gì. Họ chỉ kiếm tiền và phá bỏ mọi luật lệ”.

Một thái tử đảng thứ nhì, người có chức vụ thuộc hàng bộ trưởng vừa mới nghỉ hưu, nói với tôi rằng, kỷ luật và sự thống nhất trong PLA đã suy thoái trong thập kỷ qua. Ông nói, một khoảng trống lãnh đạo chưa từng thấy đã xảy ra ở hàng chóp bu của quân đội vì Chủ tịch Hồ chưa bao giờ củng cố quyền hành, ngay cả sau khi nắm vị trí tột đỉnh của Đảng Cộng sản hơn 9 năm, và 7 năm đứng đầu Quân ủy Trung ương. Không như dưới thời Mao, Đặng Tiểu Bình và những năm sau dưới quyền Giang Trạch Dân, Trung Quốc không còn một lãnh tụ vĩ đại để có thể chỉ định quyền hành vào những bước ngoặt quan trọng. Ông nói, “băng nhóm” bảo hộ và hối lộ liên kết chặt chẽ với nhau, “tham nhũng là chất keo để giữ cả hệ thống lại với nhau, sau thời kỳ lý tưởng chủ nghĩa”.

Một thái tử đảng thứ ba, mà cha của ông đã có thời quản lý guồng máy an ninh Trung Quốc, đổ lỗi cho Giang Trạch Dân phá hoại việc trao quyền lãnh đạo lần trước vào năm 2002, bằng cách không chịu từ bỏ quyền kiểm soát quân đội. Ông nói, Giang đã thăng chức hàng tá tướng lãnh thuộc loại “tay sai” hay “ngu đần”. Kết quả là không ai thực sự nắm quyền kiểm soát.

Về mặt dân sự của Đảng Cộng sản, sự ra đi ngoạn mục của Bạc Hy Lai đã chọc thủng sự khôn khéo thông thường, rằng sự chuyển giao quyền lực của Trung Quốc đã được hệ thống hóa và sẽ diễn ra êm thắm. Một lần nữa, sự kiện Bạc Hy Lai đã chứng minh rằng, không có luật lệ nào có thể thực thi, cũng không có người trung gian độc lập để quyết định ai sẽ điều hành quốc gia đông dân nhất thế giới và cách thức để thực hiện. Bạc đang chính thức bị điều tra về “vi phạm kỷ luật nghiêm trọng” và vợ ông về tội giết người.

Cuộc chiến của ông Lưu chống lại tham nhũng trong PLA đã mở ra một lãnh vực mới về đấu tranh chính trị cấp cao, cộng thêm nỗi bất thường tại thời điểm khi những liên kết bảo hộ cũ đang vỡ ra, một thế hệ thái tử đảng mới do Tập Cận Bình dẫn đầu đang nắm quyền, và chính các thái tử đảng không đoàn  kết. Vụ việc ông Cốc Tuấn San “tiết lộ cuộc tranh giành nghiêm trọng giữa những người đang nắm quyền và những thế lực mới bên trong PLA. Thái tử đảng như Lưu Nguyên đại diện cho thế lực mới nhưng ai là người đang nắm quyền hiện nay?” Ông Chen Ziming, một nhà phân tích chính trị độc lập ở Bắc Kinh nói.

Một viên chức biết rõ về vụ Cốc Tuấn San nói với tôi rằng, ông Lưu đã thành công trong việc cách chức ông Cốc chỉ sau khi ông Lưu kêu cứu trực tiếp tới Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, người đã 3 lần ra lệnh giải quyết. Nguồn tin nói, hai lệnh đầu tiên đã bị người đỡ đầu then chốt của ông Cốc ngăn cản ở cấp cao, người mà nguồn tin không nêu tên. Viên chức này nói: “Giống như chủ tịch Hồ trình diễn sự bất lực của mình”.

Nhiều nguồn tin thông thạo về vụ việc trên cho biết, ông Cốc bị cách chức vào cuối tháng 1 chỉ sau khi Chủ tịch Hồ dùng cách bất thường, yêu cầu bộ phận dân sự của đảng thực hiện công việc. Ông Chen Ziming, một nhà phân tích chính trị nói: “Với lệnh trực tiếp từ ông Hồ, họ đã bỏ qua ủy ban thanh tra kỷ luật PLA và yêu cầu ủy ban thanh tra kỷ luật trung ương. Điều này có nghĩa là vụ việc đã bị sự chống cự mãnh liệt từ bên trong PLA”.

Mạng lưới và những người đỡ đầu của ông Cốc trong Quân ủy Trung ương và bên ngoài vẫn còn nguyên vẹn. Nguồn thạo tin cho biết, 3 trong 4 thành viên đứng đầu của Quân ủy Trung ương tỏ ra ủng hộ mạnh mẽ ông Lưu Nguyên trong việc chống lại ông Cốc; tướng Từ Tài Hậu, thành viên thứ tư của Quân ủy Trung ương và những người khác không ủng hộ. Ông Lưu có lẽ nói bóng gió về sự chống cự này trong bài diễn văn của ông, khi ám chỉ về những kẻ hành động như “lá chắn” và “ô dù” cho các viên chức tham ô. Ông cũng nói bóng gió về “các thế lực thù địch” cố gắng dùng những cuộc nổi dậy năm ngoái ở Trung Đông “như ngọn giáo để tấn công quân đội của chúng ta” và gieo “sự bất đồng giữa đảng và quân đội”, đưa ra một chiều hướng khác của cuộc chỉnh đốn.

Những dấu hiệu khác về tranh chấp quyền hành trong PLA đang hiện ra. Ba tuần trước, một tùy viên quốc phòng Trung Quốc thông báo cho một học viện quân sự nước ngoài biết rằng, một ngôi sao đang lên khác của PLA, tướng Chương Tấm Sinh (Zhang Qinsheng) sẽ không tham dự một cuộc hội thảo do ông bị “thay” chức Phó Tổng tham mưu thứ nhất của Bộ Tổng tham mưu, tổng hành dinh của PLA, theo nguồn tin từ học viện quân sự. Tin tức đó có vẻ xác nhận những tin đồn liên quan vào lúc đó. Các quan chức quốc phòng Trung Quốc vội vã nói với các nhà ngoại giao nước ngoài rằng, có “một sự hiểu lầm” và chức vụ của tướng Chương, thực ra vẫn còn nguyên. Tin tức sai lầm về số phận của ông Chương theo sau bởi tin đồn sai về một cuộc đảo chánh quân sự, mà đáng ngạc nhiên là phần đông dân chúng nghĩ là đáng tin.

Giới sĩ quan cao cấp PLA đã đáp lại tin đồn về một cuộc đảo chánh và sự tranh chấp chính trị đang xảy ra, gồm sự liên quan tới việc thanh trừng Bạc Hy Lai, người nhận được sự hỗ trợ quân sự, bằng cách đòi hỏi sự đoàn kết và tách rời hơn nữa những sĩ quan của họ với thế giới bên ngoài. Một bài xã luận trên báo PLA Daily cảnh báo: “Bất cứ khi nào đảng và đất nước đối mặt với những vấn đề quan trọng, cải cách và phát triển đi tới thời điểm quyết định, sự đấu tranh trên vũ đài trở nên gay gắt hơn và phức tạp hơn”. Ám chỉ lời đồn mới đây, bài xã luận cũng kêu gọi các quân nhân không quan tâm tới những tin đồn trên mạng: “Chúng ta phải đặc biệt chú ý tới sự ảnh hưởng của mạng thông tin toàn cầu, điện thoại di động và những phương tiện truyền thông mới đối với suy nghĩ của các sĩ quan và binh lính”.

PLA đã cố hết sức để nhồi sọ về mặt chính trị cho các sĩ quan nhằm duy trì lòng trung thành của họ, theo ông Trần, với chi phí của các nỗ lực song song để “chuyên nghiệp hóa”. Ông không tin cuộc vận động chính trị sẽ có kết quả. Ông nói: “Có thể một ngày nào đó, họ sẽ không muốn tuân phục cấp trên bởi vì họ tham ô. Có thể thế hệ các sĩ quan trẻ không muốn phục vụ bất cứ ai và chỉ muốn làm theo ý mình”.

Trong khi đó, ông Lưu đang tạo ra kẻ thù khi ông dẫn dắt chiến dịch [chống] tham nhũng sâu hơn vào mạng lưới kiên cố của các phe phái và sự bảo hộ, và tiết lộ các quan điểm chủ thuyết và tham vọng chính trị của ông. “Lưu Nguyên điên rồi”, một thái tử đảng với chức bộ trưởng vừa về hưu đã nói, và người này cũng thân cận với gia đình ông Giang [Trạch Dân]. Ông Lưu đã trải qua chưa tới một thập kỷ trong PLA, và vài sĩ quan bất mãn vì một người thiếu kinh nghiệm quân sự chuyên nghiệp lãnh đạo, theo nguồn tin từ một người thân cận với một tướng là thái tử đảng đối thủ. Những người khác thì nghi ngờ về tham vọng cá nhân của ông ta và tin rằng những ý kiến chính trị của ông đã vượt quá ranh giới kỷ luật quân đội: cũng giống như ông Bạc, ông Lưu đã đề nghị Trung Quốc nên quay về các lý tưởng thời Mao. Nhiều người xem sự thách thức của ông Lưu đối với lợi ích chính trị và tài chánh như là mối đe dọa cho sự sống còn.

Các tin đồn lan rộng trên mạng internet về chuyện ông Lưu đang chiến đấu chống lại căn bệnh ung thư, điều mà các nguồn tin thân cận với ông bác bỏ (ông đã làm các cuộc kiểm tra hàng năm sau khi có lo ngại trước đó). Các tin đồn khác nói về các mối quan hệ làm ăn giữa vợ ông Lưu, một y tá quyến rũ tên là Wei Zhen, và vợ Bạc Hy Lai, người đang bị điều tra. Nguồn tin thân cận với ông Lưu nói rằng, vợ của ông Lưu không dính dáng tới chuyện làm ăn.

Ông Lưu biết những gì ông phải đối đầu. Ông nói trong bài diễn văn hồi tháng 2: “Những người chống tham nhũng không thể chạy đua nổi với những kẻ tham nhũng. Công lý bị áp lực và người ta sợ bị trả thù trong khi những kẻ cặn bã chúc mừng nhau về viễn ảnh sự nghiệp lớn mạnh, được thăng chức và trở nên giàu có”.

Và nhiều người cảm thấy nhẹ nhõm vì ít nhất có người nào đó đang cố gắng bắt những kẻ thối nát. Ông Trần nói về ông Lưu: “Ông ấy nói Đảng Cộng sản đang trong cơn khủng hoảng và phải thay đổi. Vài người thắc mắc về mục đích của ông ấy. Tôi nói rằng tôi không cần biết mục đích là gì. Tôi nói, nếu ông chống tham nhũng thì tôi ủng hộ ông”.

Có dấu hiệu cho thấy ông Lưu đang có tiến triển. Mặc dù tướng Cốc không bị giam giữ sau khi bị cách chức, trong những tuần gần đây, một cuộc điều tra chính thức cuối cùng đã được chấp thuận, theo một nguồn tin thông thạo vụ việc. Tuần qua, giám đốc quân sự chỗ tổng cục của ông Lưu, người hỗ trợ nỗ lực cách chức ông Cốc, được trao quyền thành lập một ủy ban thanh tra chống tham nhũng toàn bộ PLA. “Suy nghĩ và hành động phải thống nhất với quyết định và chỉ thị của Chủ tịch Hồ và Quân ủy Trung ương”, tướng Liêu tích Long, Giám đốc Quân sự (BTV: ông này là Phó Tổng tham mưu PLA), đã nói trên truyền thông chính thức của quân đội, nhấn mạnh lời kêu gọi sự đoàn kết sau những náo động mới đây.

Công việc giải phẫu của ông Lưu có thể thay đổi sự cân bằng quyền lực phe nhóm, gồm Chủ tịch Hồ, người kế nhiệm ông Giang, và người kế nhiệm được chỉ định của ông Hồ là ông Tập. Nếu ông Lưu thành công, ông có thể nhảy lên chức Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, chính thức dưới quyền người bạn của ông, Tập Cận Bình, khi ông Tập trở thành chủ tịch. Một số nhà quan sát tin rằng, ông Lưu khuyến khích ông Hồ hành động để khẳng định uy quyền, như ông Giang đã làm với cuộc điều tra tham nhũng của Yuanhua, cũng vào cuối nhiệm kỳ. Victor Shih, một khoa học gia chính trị ở đại học Northwest nói: “Sự thành lập ủy ban thanh tra trong quân đội cuối cùng đánh dấu một bước quyết định của giới lãnh đạo dân sự hiện thời để nắm thêm sự kiểm soát đối với quân đội. Vì một số lý do, mất gần hết nhiệm kỳ của ông Hồ Cẩm Đào để chuẩn bị cho hành động đó”.

Một số ít nhà phân tích tin rằng, PLA có thể giải quyết thật sự vấn nạn tham nhũng của chính họ mà không cần sự can thiệp từ lãnh đạo dân sự. Không biết ông Hồ hay người kế vị ông là ông Tập có đủ vốn chính trị để sử dụng, vẫn còn là một câu hỏi. Và nếu PLA là một đầm lầy hiểm ác của bọn trộm cắp, hối lộ, tống tiền và bất tín mà ông Lưu và các thái tử đảng đang an vị nói về nó, thì khả năng tấn công của quân đội Trung Quốc phải thấp hơn mức mà các chiến lược gia nước ngoài e ngại. “Tác động của tham nhũng đối với khả năng chiến đấu của PLA là nghiệm trọng”, Tai Ming Cheung, một chuyên viên an ninh Trung Quốc tại Viện Đại học California về Hợp tác và Xung đột Toàn cầu ở San Diego nói.

Đằng sau bề ngoài bóng bảy của PLA là một thế giới mà thông tin không được tin cậy, những quyết định chủ yếu cần sự đồng thuận quan liêu cồng kềng, và lãnh đạo sợ cấp dưới trốn tránh trách nhiệm hay bỏ qua các chỉ thị. Điều này kéo theo một loạt những rủi ro khác hơn là những điều gây rắc rối cho các nước láng giềng của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Và ông Lưu, cũng như nhiều thái tử đảng năng động khác, không tin tưởng liệu PLA có khả năng tự giải phẫu hay không, trong thời đại vượt lên trên khỏi chủ thuyết và các lãnh đạo uy quyền. “Chúng ta đang rơi như trận đất lở!” Ông Lưu nói trong một bài phát biểu. “Nếu thực sự có chiến tranh, ai sẽ  nghe theo lệnh của các anh hoặc hy sinh mạng sống cho các anh?” Ông hỏi cấp dưới của mình.

Người dịch: Trần Văn Minh

Nguồn: Foreign Policy/BS

Vua Lý Nhân Tông với tam giáo – VHNA

20 Th4

Lê Thị Lan – Nguyễn Thị Hiếu

Vua Lý Nhân Tông (1066-1127) là con của vua Lý Thánh Tông và Nguyên phi ỷ Lan. Ông lên ngôi năm 1072, trị vì 56 năm. Dưới triều đại của ông, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn làm ăn, cả văn học và quân sự đều phát triển.

Ông được coi là vị vua giỏi của triều Lý. Dưới thời Lý Nhân Tông, cùng với sự phát triển đặc biệt của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo cũng rất được coi trọng và phát triển. Hiện tượng tam giáo đồng nguyên này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của xã hội, tạo nên một đời sống tinh thần phong phú ở thời kỳ này. Tìm hiểu thái độ của vua Lý Nhân Tông đối với tam giáo sẽ giúp chúng ta lý giải được phần nào mối quan hệ nhà nước với tôn giáo dưới thời Lý, cũng như nguyên nhân thịnh trị của xã hội ở thời kỳ này.

1. Thái độ của vua Lý Nhân Tông đối với tam giáo

Đại Việt sử ký toàn thư có nhận xét về vua Lý Nhân Tông như sau: “Vua trán dô mặt rồng tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân chúng được đông giàu, minh được thái bình, là vua giỏi của triều Lý. Tiếc rằng mộ đạo Phật, thích điềm lành, đó là điều lụy cho đức tốt”(1). Chỉ với mấy dòng ngắn gọn như vậy nhưng sử gia đã cung cấp cho ta hình ảnh vua Lý Nhân Tông là một vị vua có nhiều phẩm chất lý tưởng về tài đức của một nhà vua Nho giáo nhưng cũng rất chuộng mộ Phật giáo và Đạo giáo.

Vua Lý Nhân Tông là vị vua thứ tư của triều Lý, lên ngôi trong bối cảnh đất nước thái bình, thịnh trị, nên được kế thừa những thành quả xây dựng triều đại về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa từ các vị vua trước đó. Sự coi trọng tam giáo với nền tảng là Phật giáo trong tư tưởng trị nước đã được thiết lập từ các triều vua trước, tiếp tục được Lý Nhân Tông duy trì và phát triển. Bộ máy quản lý nhà nước theo mô hình Nho giáo của Trung Quốc xây dựng từ thời Lý Thái Tổ ngày càng được củng cố. Phật giáo vốn đã được sùng mộ từ thời Lý Thái Tổ, đến thời Lý Nhân Tông được Hoàng thái hậu ỷ Lan tôn sùng đã trở thành một lực lượng mạnh, có ảnh hưởng lớn cả về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị. Bên cạnh hai phái Thiền Tì ni đa lưu chi và Vô Ngôn Thông thịnh hành dưới triều Lý thì Mật giáo từ một nhánh Phật giáo kết hợp với Đạo giáo đã có ảnh hưởng rộng rãi từ thế kỷ trước, đến thời kỳ này lại càng phát triển.

1.1. Đối với Nho giáo

Trước thời Lý Nhân Tông, mặc dù triều Lý đã thiết lập được bộ máy chính quyền trung ương tập quyền quản lý đất nước nhưng về thực chất, quyền lực và ảnh hưởng của nhà Lý chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Lý Nhân Tông chú trọng việc củng cố bộ máy chính quyền trung ương và mở rộng quyền lực thực sự. Ông tìm thấy vai trò của Nho giáo trong việc tổ chức bộ máy triều chính, tuyển chọn quan lại để tăng cường sức mạnh quản lý của chính quyền trung ương. Sau khi lên ngôi một năm, năm 1073, nhà vua xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Đây là kỳ thi Nho học đầu tiên của Việt Nam, chọn được hơn 10 người và thủ khoa là Lê Văn Thịnh về sau làm đến chức thái sư. Năm sau, 1076, vua cho lập Quốc Tử Giám và chọn những người biết chữ trong quan viên văn chức cho vào học. 10 năm sau, năm 1086, nhà vua mới tổ chức tiếp kỳ thi chọn người văn học vào Viện hàn lâm. Kỳ thi này, Mạc Thiên Tích đỗ đầu, được bổ làm Hàn lâm học sĩ. Trần Trọng Kim nói: “Sự Nho học của ta khởi đầu thịnh lên từ thời bấy giờ”(2).

Như vậy, cùng với việc tiếp tục cất nhắc những người hiền lương, có tài văn võ vào bộ máy nhân sự, vua Lý Nhân Tông là vị vua đầu tiên của Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng của việc đào tạo đội ngũ quan lại một cách bài bản, sử dụng trí thức Nho học vào bộ máy nhân sự. Từ đó trở đi, khoa cử được sử dụng như một phương pháp quan trọng để tuyển chọn người hiền tài vào bộ máy triều chính. Dần dần, cùng với sự mở rộng và phát triển giáo dục Nho học thì khoa cử  cũng ngày càng được hoàn chỉnh và trở thành phương thức chủ yếu của nền giáo dục và đào tạo nhân sự cho chính quyền phong kiến Việt Nam. Và, lịch sử Nho học đã góp phần làm nên truyền thống nghìn năm văn vật của Thăng Long, của Việt Nam đã được khởi đầu từ thời vua Lý Nhân Tông.

Cùng với việc khởi đầu phép khoa cử lấy làm đường lối lựa chọn người hiền tài vào bộ máy nhà nước, vào năm 1089, vua Lý Nhân Tông đã tổ chức lại bộ máy triều chính một cách hệ thống theo mô hình quản lý của Trung Quốc bằng việc định quan chế, chia văn võ ra làm chín phẩm, quan hầu vua và các chức tạp lưu. Từ đây, các chức quan trong triều, ngoài các châu quận mới được quy định một cách bài bản, rõ ràng(3). Như vậy, với việc định quan chế, tổ chức lại hệ thống quan lại, sửa sang việc chính sự, định khoa cử và giáo dục theo Nho giáo, Lý Nhân Tông đã bước đầu thiết lập những điều kiện quan trọng nhất chuẩn bị cho Nho giáo dần dần chiếm được vị trí quan trọng trong đạo trị nước và trở thành hệ tư tưởng thống trị trong đời sống chính trị ở các triều đại sau. Và điều quan trọng hơn là, cùng với việc mở đường cho Nho giáo phát triển thì đường lối trị nước theo Nho giáo ngày càng phát huy hiệu quả, góp phần tích cực vào việc củng cố nhà nước trung ương tập quyền. Đó là bước đi hợp quy luật lịch sử.

1.2. Đối với Phật giáo

Lý Nhân Tông là một trong những vị vua sùng mộ đạo Phật nhất thời Lý. Chịu ảnh hưởng của Hoàng thái hậu ỷ Lan, ông là người ủng hộ Phật giáo trên cả phương diện tôn giáo và kinh tế. Có thể nói, dưới sự bảo trợ của vua Lý Nhân Tông với sự hậu thuẫn của Hoàng thái hậu, Phật giáo thời kỳ này đã phát triển tới mức huy hoàng cả về mặt tổ chức, số lượng chùa và tăng ni, tiềm lực kinh tế và tư tưởng giáo lý. Về mặt tổ chức, Lý Nhân Tông tiếp tục truyền thống từ các đời vua trước, coi trọng vai trò cố vấn và nhất thống Phật giáo của các vị cao tăng. Năm 1088, nhà vua phong nhà sư Khô Đầu làm Quốc sư để hỏi việc nước. Cũng trong năm này, ông cho phân hạng các loại chùa trong nước thành hạng đại, trung và tiểu danh lam, cho quan văn chức cao kiêm làm Đề cử (chuyên quản lý ruộng đất và tài sản của nhà chùa). Như vậy, Lý Nhân Tông tiếp tục lấy Phật giáo làm quốc giáo, coi Phật giáo là phương tiện thống nhất nhân tâm, củng cố sự thống nhất và uy quyền của triều đại về mặt tôn giáo. Tuy nhiên, về mặt chính trị, với việc ủng hộ sự phát triển của Nho giáo, Lý Nhân Tông đã phần nào giới hạn ảnh hưởng của Phật giáo trên chính trường. Kể cả vai trò Quốc sư của Khô Đầu cũng chủ yếu là trên lĩnh vực tôn giáo chứ không hẳn là trên lĩnh vực triều chính(4). Đồng thời, việc đặt quan văn làm chức Đề cử để quản lý tài sản nhà chùa cũng là một chính sách quản lý tôn giáo rất hay của Lý Nhân Tông trong việc giải bài toán quan hệ nhà nước và tôn giáo, vừa giúp cho việc thống nhất về tổ chức, quản lý Phật giáo, vừa giúp Phật giáo phát triển một cách hệ thống và quy củ mà không ra ngoài tầm kiểm soát của nhà nước.(4)

Việc tổ chức các lễ hội Phật giáo, nhà nước hóa các lễ hội này cũng được Lý Nhân Tông đặc biệt coi trọng. Dưới thời cai trị của ông, lần đầu tiên chúng ta biết tới Hội đèn Quảng Chiếu như một lễ hội kỳ an của Phật giáo được nhà nước đứng ra tổ chức hết sức huy hoàng. Theo các sách sử thì lễ hội này chỉ được nhắc tới dưới thời Lý Nhân Tông vào các năm Canh Dần (1110): “Mùa Xuân tháng Giêng, tổ chức hội đèn Quảng Chiếu ở ngoài cửa Đại Hưng”; và vào năm Bính Thân (1116) lại ghi: “Mùa Xuân tháng Giêng tổ chức hội đèn Quảng Chiếu ở ngoài cửa Đại Hưng, chế tạo nhà sư bằng gỗ cột vào đánh chuông” (Đại Việt sử lược); năm Canh Tý (1120): “Mùa Xuân, tháng Hai, mở hội đèn Quảng Chiếu”; và vào năm Bính Ngọ (1126): “Mùa Xuân tháng Giêng, mở hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày đêm. Tha người có tội ở phủ Đô Hộ, xuống chiếu cho sứ thần của Chiêm Thành xem” (Đại Việt sử ký toàn thư). Nghi thức tắm Phật vào ngày rằm, mồng một hàng tháng và ngày Phật đản mồng 8 tháng 4 cũng được nhà vua định làm lệ thường từ năm 1105. Như vậy, với sự chính thức hóa các ngày lễ hội của Phật giáo, Lý Nhân Tông đã góp phần củng cố vị trí quốc giáo của Phật giáo và phát huy tối đa vai trò thống nhất nhân tâm của Phật giáo vào quản lý nhà nước, nhờ đó tăng cường được uy quyền và ảnh hưởng của chính quyền trung ương đối với các vùng phụ cận(5).

Dưới thời Lý Nhân Tông, số lượng chùa được xây dựng và số tăng ni cũng tăng lên đáng kể. Bia chùa Linh Xứng chép: “Hễ có cảnh đẹp núi non thì không nơi nào là không mở mang để xây dựng chùa chiền”, nhiều chùa được xây dựng cả ở các vùng dân tộc thiểu số, như chùa Bảo Ninh Sùng Phúc ở Hà Tuyên năm 1107(6). Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1097, “bấy giờ trong nước giàu đủ, Thái hậu làm nhiều chùa Phật”, năm 1115 “Thái hậu dựng chùa thờ Phật trước sau hơn một trăm chùa”(7). Có thể kể một số chùa được xây dựng và tổ chức khánh thành rầm rộ trong thời này như chùa Thắng Nghiêm Thánh Thọ năm 1118, chùa Tịnh Lự năm 1119, chùa Báo thiên năm 1121, bảo tháp Sùng Điện Diên Linh năm 1122,… Cùng với việc xây dựng nhiều chùa tháp Phật giáo thì số lượng tăng ni tại các chùa này cũng trở nên đông đảo do chính sách khuyến khích tu hành của nhà Lý. Nhiều chùa, số lượng tăng đồ từ hàng trăm tới cả nghìn người như chùa Kiến Sơ của thiền sư Đa Bảo có hơn 100 tăng đồ. Chùa Trùng Minh của sư Thiền Lão có tới hàng nghìn học trò…(8). Việc dựng chùa và khuyến khích dân chúng tu hành như vậy được đông đảo vua quan, hoàng thân quốc thích nhà Lý ủng hộ, đóng góp cả về vật chất và tinh thần. Họ đã bỏ tiền của để xây chùa, lại cúng nhiều ruộng đất cho chùa làm phương tiện sinh sống, khiến cho Phật giáo thời kỳ này trở thành một lực lượng xã hội rất mạnh về kinh tế. Chẳng hạn, Thái hậu ỷ Lan đã cúng 72 mẫu ruộng cho chùa tháp Sùng Điện Diên Linh. Ruộng chùa nhiều, nhà chùa có cả điền nô và của chứa trong kho, nhiều vị cao tăng như sư Không Lộ còn được nhà vua cấp 20 thực hộ như chế độ phong thưởng công thần,… Vì vậy, Lý Nhân Tông còn cử các vị quan văn đảm đương thêm chức Đề cử để quản lý tài sản giúp nhà chùa. Tiềm lực kinh tế mạnh, chùa tháp nhiều, sư đồ đông đảo, điều đó cho thấy Phật giáo thời kỳ này đã được sự nâng đỡ mạnh mẽ của triều đình và phát triển thành một lực lượng có vị trí chính trị – kinh tế – xã hội to lớn.(5)

Vị trí quốc giáo của Phật giáo thời Lý Nhân Tông còn được khẳng định và củng cố thêm trên phương diện tư tưởng với việc nhà vua và các tăng ni hết sức chú trọng phát triển giáo lý Phật giáo. Sử chép, nhà vua đã hai lần cử người sang Tống xin kinh Tam tạng vào năm 1081 và năm 1098. Các kinh này được in và chép tay để lưu truyền. Ngoài ra, các tăng ni trên cơ sở các kinh sách đã đọc và tiếp thu theo sở kiến riêng đã sáng tác nhiều thơ văn mang tính chất là bài kệ hoặc văn bia để truyền giảng giáo lý và tư tưởng triết học Phật giáo một cách ngắn gọn, súc tích. Hiện tượng này đã làm nên một nền văn học thiền rực rỡ dưới triều Lý, đặc biệt là dưới thời Lý Nhân Tông với các đại biểu như Diệu Nhân, Từ Đạo Hạnh, ỷ Lan,… Những vấn đề triết học Phật giáo cao viễn luận bàn về bản thể học như các khái niệm tâm, pháp, không, diệu tính, chân như,… là chủ đề nhận thức luận chủ yếu được đề cập trong văn học Phật giáo thời kỳ này. Đồng nhất Phật với tâm, coi đó là bản thể tối thượng của thế giới vạn pháp là nhận thức chung của cả hai phái Thiền Tì ni đa lưu chi và Vô Ngôn Thông.

Đặc biệt, các nhà Thiền học thời kỳ này chú trọng tới khái niệm tâm không, coi việc tu tập Thiền định đạt tới trạng thái tâm không sẽ ngộ được chân lý, giác ngộ được chân như, diệu tính, Phật tính. Cùng với các vấn đề bản thể luận siêu hình, cao viễn đó, các thiền sư còn luận về con đường nhận thức, đạt được Phật tính, chân như. Phái Thiền Vô Ngôn Thông cho đó là con đường trực giác, siêu nghiệm, gạt bỏ ngôn ngữ và tư duy duy lý. Nhà sư Minh Trí cho rằng: “Giáo ngoại (Thiền tông) thì phải truyền theo cách riêng, nguồn của Tổ và Phật là dy hi (không thấy được, không nghe được), nếu ai muốn biện (phân tích) về điều đó thì như là tìm khói trong ánh sáng ảo tưởng”(9).

Những đóng góp về tư tưởng bản thể luận và nhận thức luận Phật học nói trên cho thấy tầm tư duy triết học cao siêu của các thiền sư thời kỳ này. Chính tầm cao và sâu của tư duy triết học Phật giáo đó, qua tấm gương tu tập và truyền bá Phật học của các sư tăng, đã tác động tới tư duy chính trị – xã hội thời kỳ này, khiến cho đường lối cai trị của Lý Nhân Tông nói riêng, triều Lý nói chung mang tính khoan hòa, được lòng dân, giàu tính nhân văn.

1.3. Đối với Đạo giáo

Đạo giáo rất được coi trọng từ thời Đinh, Lê, đến thời Lý lại càng được coi trọng hơn. Đặc biệt, vua Lý Nhân Tông cũng nổi tiếng là người sùng mộ Đạo giáo. Tuy nhiên, Đạo giáo thời kỳ này kết hợp với Phật giáo, là mật giáo, tồn tại dưới các hình thức như cầu đảo, bùa chú, bắt quyết và các phép linh dị khác. Nhà vua thường mời các vị cao tăng, giỏi phép thuật, như Từ Đạo Hạnh, Minh Không,… làm lễ cầu đảo, bùa chú, chữa bệnh mỗi khi có việc bất thường, như hạn hán, lũ lụt, bệnh tật,… Trong Đại Việt sử ký toàn thư, thời Lý Nhân Tông, các sử gia chép rất nhiều sự kiện liên quan tới sự ưa chuộng Đạo giáo của Lý Nhân Tông. Như năm 1073, mưa dầm, vua sai rước Phật Pháp Vân về kinh để cầu tạnh, cúng thần núi Tản Viên; năm 1117, không mưa, cầu đảo ở hành cung,… Những buổi lễ cầu đảo này thường do các nhà sư đảm nhiệm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam cho biết, các nhà sư phái Tì ni đa lưu chi không chỉ giỏi về thiền học, mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của mật giáo và nổi tiếng về phép thuật. Điều đó cho thấy ranh giới giữa Thiền tông và Mật tông, giữa Phật giáo và Đạo giáo thời kỳ này hết sức mơ hồ. Tuy nhiên, chính sự kết hợp chặt chẽ giữa Mật tông và Thiền tông đó càng làm tăng ảnh hưởng xã hội của Phật giáo và củng cố sự sùng mộ của Lý Nhân Tông đối với Phật giáo. Mặc dù vậy, việc sử dụng phép thuật Đạo giáo của Lý Nhân Tông chỉ như những biện pháp bổ trợ cho việc trị nước, an dân và nhà vua cũng không có sự tách bạch rõ ràng giữa Phật giáo và Đạo giáo.(9)

2. Ảnh hưởng quan điểm tam giáo đồng nguyên của Lý Nhân Tông trong việc trị nước

Dưới nhãn quan Nho giáo, các sử gia của Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng nhà vua ưa điềm lành, chuộng Phật giáo nên làm lụy cho đức tốt. Tuy nhiên, qua việc khảo sát thái độ của vua Lý Nhân Tông đối với tam giáo như trên, chúng ta thấy nhà vua đã có một thế ứng xử rất minh triết đối với cả ba giáo, tạo nên một sự ủng hộ hết sức to lớn của cả ba giáo này với triều đại của ông. Đồng thời, với nhãn quan chính trị dung hợp tam giáo uyển chuyển, nhà vua một mặt giới hạn dần vai trò của Phật giáo và Đạo giáo chủ yếu trong lĩnh vực tôn giáo – xã hội; mặt khác, tạo ra một số điều kiện nền tảng cho sự phát triển Nho giáo và xây dựng vị thế của Nho giáo trong lĩnh vực chính trị. Điều đó phù hợp với ưu thế, mặt mạnh riêng của mỗi đạo trong việc hình thành thế chân vạc về hệ tư tưởng của người Việt thời kỳ này. Chính sự khôn khéo trong việc xử lý mối quan hệ nhà nước với tôn giáo, sử dụng thế mạnh của tam giáo vào trị vì đất nước của Lý Nhân Tông đã tạo ra thời kỳ bình yên và hùng mạnh hơn nửa thế kỷ cho nhà nước Đại Việt giai đoạn này.

Dưới thời Lý Nhân Tông, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ đã được bảo vệ một cách oai hùng, vẻ vang. Bằng việc củng cố mô hình nhà nước theo Nho giáo, Lý Nhân Tông đã phát huy được sức mạnh của bộ máy lãnh đạo vào công cuộc giữ gìn độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Dưới thời ông trị vì, năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản theo lệnh vua đã chủ động đem quân sang đánh châu Khâm, châu Liêm, châu Ung, phá tan âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống. Đến năm 1076, Lý Thường Kiệt lại đại phá quân Tống trên sông Như Nguyệt, tạo điều kiện cho việc đòi lại đất Quảng Nguyên vào năm 1078. Năm 1084, Lê Văn Thịnh đi sứ sang Tống, dùng lý lẽ Nho giáo sắc sảo bàn việc phân định cương giới hai nước và đòi lại được các huyện còn lại khác, giữ trọn cương giới lãnh thổ phía Bắc. Cũng dưới thời Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt hai lần đi đánh Chiêm Thành, ngăn chặn sự quấy nhiễu phía Nam bờ cõi, khiến nước Chiêm Thành và các nước phía Nam phải triều cống.

Bên cạnh thành tựu về quân sự, chính trị, đời sống kinh tế và văn hóa Đại Việt dưới thời Lý Nhân Tông cũng phát triển rực rỡ nhờ chủ trương trọng thị tam giáo của nhà vua. Đời sống thanh bình, sung túc của nhân dân là điều kiện cho việc phát triển, mở mang chùa chiền Phật giáo. Sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo lại đem tới đời sống tinh thần cao khiết, tươi đẹp, hướng thiện, thuần hòa cho người dân. Nền văn học Phật giáo rực rỡ thời kỳ này cũng góp phần củng cố những giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của nền văn hiến Đại Việt. Nền học vấn Nho giáo bước đầu được tạo dựng và nâng đỡ đã ngày càng thể hiện là hệ thống giáo dục đáp ứng như cầu phát triển của đất nước. Sự đồng tôn tam giáo của nhà vua là một trong những nguyên nhân thiết lập và thúc đẩy không gian tôn giáo tự do, hòa bình và tươi đẹp thời kỳ này. Thành tựu phát triển văn hóa Đại Việt nói chung, Thăng Long nói riêng thời Lý Nhân Tông để lại đã trở thành những giá trị tinh thần vô giá.

Có thể nói, với vai trò người nhạc trưởng, Lý Nhân Tông đã khơi dậy và tạo điều kiện để dàn nhạc tam giáo hòa thanh tạo dựng những giá trị tinh thần và xã hội đáng quý lâu dài cho nhà nước Đại Việt đang ngày càng hưng thịnh và khẳng định vị thế trong vùng Đông Nam á. Bài học lịch sử về một tư duy chính trị hài hòa, biết kết hợp khéo léo giữa sức mạnh quân sự với sức mạnh tinh thần, giữa chính trị và tôn giáo của Lý Nhân Tông là một giá trị trong tư duy chính trị của dân tộc, đáng để đời sau suy ngẫm.

************

(1) Đại Việt sử ký toàn thư, t.1. Nxb Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, 2000, tr.424.

(2) Theo: Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., tr.426, 432 và Trần Trọng Kim. Việt Nam sử lược. Nxb Đà Nẵng, 2003, tr.95, 96.

(3) Theo Trần Trọng Kim. Sđd., các quan đầu triều có quan đại thần gồm Thái sư, Thái phó, Thái úy và Thiếu sư, thiếu phó, Thiếu úy. Dưới đó, bên văn có Thượng thư, tả hữu Tham tri, tả hữu gián nghị đại phu, Trung thư Thị lang, Bộ thị lang,…, bên võ gồm các chức Đô thống Nguyên súy, Tổng quản khu mật sứ, Kim ngô thượng tướng, Đại tướng, đô tướng… Ngoài các châu quận bên văn thì có Tri phủ, phán phủ, Tri châu, bên võ có Chư lộ trấn trại quan.

(4) Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng “Nhân Tông sùng đạo Phật, phong làm Quốc sư để hỏi việc nước, cũng như Lê Đại Hành đối với Ngô Khuông Việt mà thôi” chứ không phải có vị trí tiết việt cùng Tể tướng đứng trên điện xét đoán công việc như có thuyết phỏng đoán. Sđd., tr.433.

(5) Đại Việt sử ký toàn thư chép việc năm 1073, Thái sư Lý Đạo Thành ra coi châu Nghệ An lập viện Địa Tạng đặt tượng thờ Phật và vị hiệu của Lý Thánh Tông, sớm hôm thờ phụng. Về sau, những người trấn thủ châu Nghệ An vẫn lấy nơi ấy làm chỗ thờ phụng Lý Thánh Tông, tr.425. Đó chính là một hình thức dùng Phật giáo để củng cố uy quyền của vua Lý.

(6) Theo: Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988, tr.147-148.

(7) Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., tr.435, 440.

(8) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sđd., tr.148.

(9) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Sđd., tr.182.

Nguồn:vientriethoc.com.vn

Lịch sử cơ quan Mật vụ hay Sở Bảo Vệ Yếu Nhân Hoa Kỳ – VOA

20 Th4

Các nhân viên thuộc Cơ Quan Bảo Vệ Yếu Nhân Hoa Kỳ  đi vòng quanh Trung tâm Hội nghị ở Cartagena, Colombia trươc lễ khai mạc, với sự tham dự của Tổng thống Obama

        Hình: AP
Các nhân viên thuộc Cơ Quan Bảo Vệ Yếu Nhân Hoa Kỳ  đi vòng quanh Trung tâm Hội nghị ở Cartagena, Colombia trươc lễ khai mạc hội nghị thượng đỉnh châu Mỹ, với sự tham dự của Tổng thống Obama

Sau đây là một phần lịch sử cơ quan Mật Vụ Mỹ:
1865—Ngành Mật Vụ Hoa Kỳ được thành lập ngày 5 tháng 7 tại Washington, D.C, để dẹp tổ chức in tiền giả.
1867—Trách nhiệm của Mật Vụ được mở rộng, để bao gồm việc “phát hiện những người có hành động gian lận đối với chính phủ.”
1883—Mật Vụ được chính thức thừa nhận như một tổ chức đặc biệt nằm trong bộ Tài chánh.
1894—Mật Vụ bắt đầu công việc không chính thức bán thời gian, bảo vệ cho Tổng thống Grover Cleveland.
1902—Mật Vụ đảm nhiệm trách nhiệm toàn thời gian bảo vệ Tổng thống, tiếp theo vụ sát hại Tổng thống William McKinley năm trước.
1908—Mật Vụ bắt đầu bảo vệ Tổng thống Tân cử. Ngoài ra, Tổng thống Theodore Roosevelt còn thuyên chuyển các nhân viên mật vụ sang Bộ Tư Pháp. Họ hình thành cốt lõi của Cơ quan Điều tra Liên bang, tức FBI, hiện nay.
1913—Quốc hội giao nhiệm vụ thường trực bảo vệ Tổng thống  và bảo vệ Tổng thống tân cử.
1917—Quốc Hội giao nhiệm vụ  thường trực bảo vệ gia đình trực hệ của Tổng thống, và qui định những “đe dọa” trực tiếp đối với Tổng thống là một vi phạm cấp liên bang.
1951—Quốc Hội ban hành đạo luật giao nhiệm vụ cho cơ  quan này thường trực bảo vệ Tổng thống, gia đình trực hệ của Tổng thống, Tổng thống tân cử, và phó Tổng thống, nếu ông muốn.
1962—Quốc hội nới rộng bảo vệ cho cả phó Tổng thống (hay giới chức kế tiếp sẽ kế vị Tổng thống), và phó Tổng thống tân cử.
1965—Quốc hội giao nhiệm vụ bảo vệ các cựu Tổng thống và người hôn phối trong suốt đời họ và con cái vị thành niên cho tới tuổi 16.
1968—Sau vụ ám sát Thượng Nghị Sĩ Robert F. Kennedy, Quốc Hội giao nhiệm vụ bảo vệ các ứng cử viên Tổng thống và phó Tổng thống chính, và những người được đề cử. Quốc hội cũng giao nhiệm vụ bảo vệ các góa phụ của Tổng thống cho tới mãn đời, hoặc tái giá, và con cái của họ cho đến tuổi 16.
2001—Luật  Ái Quốc mở rộng vai trò của Sở Mật Vụ trong điều tra gian lận và những hoạt động liên hệ liên quan đến máy vi tính.
2003—Sở Mật Vụ chuyển từ Bộ Tài chánh sang Bộ Nội An, được thành lập năm trước.
2007—Bảo vệ an ninh cho ứng cử viên tổng thống, Barack Obama bắt đầu vào tháng 5, đề nghị sớm nhất cho công tác Bảo vệ Yếu nhân so với bất kỳ ứng cử viên nào trong lịch sử.

%d bloggers like this: