Lưu trữ | 11:37 Chiều

Khám phá ngôi chùa đẹp nhất đồng bằng sông Cửu Long – ĐV

21 Th4

Chùa Pitu Khôsa Răngsây hay còn gọi là chùa Viễn Quang, một địa điểm tín ngưỡng của bà con KhMer (Cần Thơ) được mệnh danh là ngôi chùa đẹp nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long bởi kiến trúc tinh xảo và những giá trị tinh thần mà nó mang lại.

Chùa nằm tại số 27/18 đường Mạc Đĩnh Chi, phương An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Tên Pitu Khôsa Răngsây của chùa hiện nay còn có nghĩa “Chùa Sau” hay “Chùa Xáng” vì thời đó trên trục đường chính Đại lộ Colonel DESSERT (nay là đại lộ Hòa Bình) đã có một chùa “Chùa Muni Răngsây” hay còn gọi “Chùa Trước”.
Chùa do Thượng tọa Sơn Tây, tục gọi Ta Tu ( “Ta” tiếng Khmer có nghĩa là “ông”) xây dựng năm 1948 và xuất phát từ nhu cầu tu học của nhiều bà con Phật tử người Khmer ở Cần Thơ. Ban đầu, chùa chỉ cất bằng cột cây mái lá đơn sơ với kiến trúc khá độc đáo theo hệ phái nam tông Khmer trên khu đất rộng 645m2, do bà con phật tử cúng dường.
Trong hai cuộc kháng chiến ác liệt chống Pháp và Mỹ  chùa là nơi cưu mang hàng trăm thanh niên trốn quân dịch vào tu trong chùa, là nơi tập hợp các sư sãi yêu nước đấu tranh chính trị với chính quyền Sài Gòn, đòi tự do tôn giáo, chống phân biệt sắc tộc… Bên cạnh đó, chùa còn là cơ sở nuôi chứa và bảo vệ nhiều cán bộ cách mạng bám trụ.

Chùa Pitu Khôsa Răngsây. Ảnh: VOV.

 

Từ năm 1975 đến nay, chùa vẫn là nơi sinh hoạt tính ngưỡng Phật giáo Nam tông Khmer của các vị Sư và bà con phật tử người dân tộc, tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho bà con trong khu vực. Nhà chùa còn là nơi ở miễn phí cho nhiều học sinh, sinh viên dân tộc Khmer nghèo ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang học tại Cần Thơ.

Mới đây, được sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như của nhiều Tăng ni, Phật tử, chùa Pitu Khôsa Răngsây được tu bổ và nâng cấp trở thành ngôi chùa có kiến trúc đẹp nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trung tâm của công trình kiến trúc tuyệt đẹp này là ngôi chính điện độc đáo có một không hai. Chính điện chùa Pitu Khôsa Răngsây gồm 3 tầng, được xây dựng bằng bêtông cốt thép tường gạch, chót tháp đổ bêtông mái lợp ngói. Bốn phía tòa chính điện được trang trí bằng những hoa văn tinh xảo, thể hiện hình dáng rồng Ăngkor cách điệu uốn lượn, tiên nữ Keynor – chim thần Krud, phù điêu thần chằn Hanuman, nữ thần Teppanom… vô cùng uy nghi và đẹp mắt.

Tầng trệt của tòa chính điện được sử dụng làm phòng hội họp, tiếp khách, để xe… Tiếp đó, tầng một, từ cổng qua sân lên bậc tam cấp đi vào là hậu điện, dùng để tổ chức các nghi lễ truyền thống Chol Chnam Thmay, Đonta… Cũng tại đây, người ta đặt tượng Đức Phật Thích Ca Mầu Ni cao 1,7m ngồi trên bục cao 2m, bên dưới an trí một tượng Đức Phật nhập niết bàn dài 1,6m và 7 pho tượng Đức Phật khác: 1 tượng nằm, 4 tượng đi bát (có 2 tượng bằng đá cẩm thạch) và 2 tượng ngồi.

Tầng hai của chính điện cùng tầng hậu điện là nơi tổ chức các nghi lễ Phật giáo Nam tông Khmer: Lễ Phật đản, lễ Phật định… dự kiến sắp tới là nơi mở lớp giáo lý Pali cho tăng sinh trong khu vực. Điện thờ được tôn trí một tượng Đức Phật Thích Ca Mầu Ni bằng đồng cao 1,6m, ngồi trên bục cao 2m (tượng rước từ Thái Lan về do ông Quan Văn Cẩn kính dâng), bên dưới an trí thêm 8 pho tượng Đức Phật nhỏ, trong đó có một tượng ngồi và 2 tượng đi bát bằng đá cẩm thạch (cả 5 pho tượng Phật bằng đá cẩm thạch và 1 tượng Phật nhập diệt đều rước từ Campuchia về do ông Hang Kin kính dâng).

Tầng ba tòa chính điện là ơi hành lễ thọ giới xuất gia, Sa di, Tỳ khưu, lễ Dâng y Kthina, Dâng bông và các nghi lễ tăng sự… đồng thời còn là nơi ngồi thiền định cho các vị chư tăng, phật tử. Điện thờ chính được tôn trí bằng ba bậc tam cấp. Bậc cao tôn tượng Đức Bổn Sư bằng đồng cao 2,5m (rước từ Thái Lan về do ông Quan Văn Cẩn kính dâng). Hai bậc dưới an trí thêm nhiều tượng Đức Phật nhập niết bàn, đi bát…

Cả ba tầng của tòa chính điện này còn có 12 cửa sổ bằng gỗ được các nghệ nhân nổi tiếng ở Việt Nam, khắc chạm bằng 12 đức phù điêu tuyệt hảo, mỗi bức mang nội dung về một truyền thuyết dân gian như sự tích phật giáo, tích truyện Riênkê. Trong đó, riêng tầng ba, hai bên tường đều gắn phù điêu nữ thần Têpanon – Phanhites cộng với Phanhi Phlong. Ngoài ra còn trang trí bằng 16 bức tranh vẽ minh họa lại cuộc đời của đất phật từ đản sanh đến nhập niết bàn. Vách ngoài tầng ba đắp hoa văn Đos-chanh Ăngkor. Nhìn chung vừa giữ được nét kiến trúc độc đáo đặc thù của bản sắc văn hóa Khmer vừa cách điệu hiện đại với hòa điệu giữa Ăngkor và Khmer Nam bộ

Hiện nay, chùa dành riêng một phòng để mở lớp học miễn phí dạy Khmer ngữ cho hơn 20 em là con em của đồng bào Khmer vào 3 buổi tối hằng tuần, hướng dẫn cho các em thiếu nhi học và sử dụng nhạc cụ Ngũ âm. Sắp tới, chùa sẽ xây dựng lại khu ký túc xá 26 phòng với sức chứa nội trú khoảng 100 chư tăng và sinh viên ở các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về Cần Thơ học tập.

Bí ẩn những ngôi mộ cổ – Kỳ 8: Nhà mồ giữa thành phố

21 Th4

TT – Có một nhà mồ nằm ngay mặt tiền đường Trần Hưng Đạo, TP.HCM mà không phải ai cũng biết có một thân phận đặc biệt đang yên nghỉ.

Trên cửa nhà mồ, dòng chữ Latin Miseremini mei saltem vos amici mei (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi) như nói lên nỗi lòng thiên cổ của một người Việt đã được vinh danh là một trong 18 nhà thông thái của thế kỷ 19: Trương Vĩnh Ký.

Mộ Trương Vĩnh Ký ở giữa và vợ con hai bên là ba phiến đá lát phẳng với nền nhà mồ – Ảnh: Q.V.

 

Lặng lẽ bên đường

Lách cách mở ổ khóa đã hoen gỉ ở cửa nhà mồ, ông Trương Minh Đạt, hậu duệ đời thứ tư của Trương Vĩnh Ký, ngậm ngùi: “Lâu lắm rồi mới có khách đến viếng!”. Chúng tôi nhẹ bước qua những chiếc lá vàng khô bị gió cuốn bay vào nhà mồ, mà ngẩn ngơ nhìn thực tế khác nhiều với điều mình hình dung. Nền bằng phẳng, không một gò đất, công trình nào nhô lên như những nấm mộ thường hay nhìn thấy. Dưới ánh chiều đang sậm dần, phải nhìn kỹ mới thấy ba phiến đá khác màu có chiều rộng khoảng 1m, dài gần 2m được lát bằng phẳng mà mới nhìn cứ tưởng là nền nhà mồ. Ông Đạt bùi ngùi: “Các ông nhà tôi yên nghỉ dưới đấy!”.

Dưới phiến đá trắng đã ngả màu vàng nhạt, nơi Trương Vĩnh Ký yên nghỉ, ở giữa người vợ Vương Thị Thọ và con trai cả Trương Vĩnh Thế. Sinh thời Trương Vĩnh Ký đã nổi danh. Và hơn một thế kỷ trôi qua bao ngòi bút ngược xuôi vẫn còn rỏ mực về ông, nhưng bia mộ lại chỉ vài dòng ngắn ngủi. Nó được khắc ngay trên phiến đá làm nắp mộ với vài dòng danh phận người yên nghỉ: J.B. Petrus Trương Vĩnh Ký. Chữ Pháp đầu dòng không phải tên Tây của ông mà là tên đạo ông theo từ thuở ấu thơ ở quê hương Cái Mơn, Bến Tre. Bia mộ không ghi năm ông sinh (6-12-1837), nhưng khắc rõ ông mất ngày 1-9-1898. Trang trí mộ bia cũng giản dị với hình một cành lá, không hoa bao quanh.

Mất sau chồng đến chín năm, nhưng bia mộ bà Vương Thị Thọ lại bị thời gian làm phai mòn nhiều hơn. Bà yên nghỉ dưới phiến đá màu nâu đỏ đã ngả màu sậm có nhiều vết nứt, vỡ cùng năm tháng. Lau lớp bụi thời gian, ông Đạt ngậm ngùi kể mình 58 tuổi. Từ nhỏ, ông đã được cha là Trương Vĩnh Thạnh dặn dò phải gìn giữ nhà mồ các cố để hậu sinh truyền đời tưởng nhớ, nhưng không thể ngăn được sự tàn phá của thời gian và bao biến động thời cuộc.

Giữ đúng đạo “xuất giá tòng phu” xưa, dòng đầu trên bia mộ cụ bà mang tên chồng là Maria Trương Vĩnh Ký. Dòng nhỏ dưới mới khắc tên mình là Vương Thị Thọ mất năm 1907 và không trang trí một hoa văn nào ngoài hình cây thánh giá. Nằm bên trái cha, tình trạng bia mộ người con Trương Vĩnh Thế cũng bị nhiều vết hư hại của thời gian. Trong gia phả dòng họ, Trương Vĩnh Thế là anh cả ông nội Trương Vĩnh Tống của ông Trương Minh Đạt, hiện đang sống ở đây để gìn giữ nhà mồ. Sinh thời, ông Thế làm quan đốc phủ sứ mà dòng chữ khắc trên bia vẫn còn rõ nét.

Ông Đạt trầm ngâm: “Hồi xưa, khu nhà mồ này còn nhiều di vật ông cố Trương Vĩnh Ký để lại với các sách vở, hình ảnh được giữ gìn cẩn thận. Về sau, một số được tặng cho Viện Khảo cổ Sài Gòn, nhiều cái còn lại đem qua Pháp trong năm 1975”. Thuở trước, nhà mồ còn có bức tượng bán thân cụ cố Trương Vĩnh Ký. Tượng được đắp bằng ximăng, sơn đen. Những năm khó khăn sau năm 1975, kẻ xấu đã lẻn vào lấy trộm vì tưởng là “đồng đen” quý hiếm. Thời ấy, phải vật vã kiếm miếng ăn, anh em ông Đạt đã bỏ nhiều ngày lang thang các khu “chợ trời” vỉa hè để tìm chuộc lại nhưng cuối cùng đành gạt nước mắt về không. Họ nghĩ có lẽ kẻ gian phát hiện tượng ximăng, không phải kim loại quý, đã đập mất rồi!

Hiện nay, toàn bộ khuôn viên nhà mồ còn rộng hơn 2.000m2. Ngoài nhà mồ Trương Vĩnh Ký, bãi đất còn khoảng 60 ngôi mộ khác của gia tộc và một nhà ngói cổ được xây từ năm 1937 đến giờ vẫn đang là nơi ở của gia đình ông Đạt. Mang nét kiến trúc Pháp với nhiều cửa, cột, vòm cong, nhà mồ Trương Vĩnh Ký rộng khoảng 50m2, trang nhã với các chi tiết nhẹ nhàng nhưng tinh tế.

Chân dung Trương Vĩnh Ký – Ảnh tư liệu

 

Thiên tài và định mệnh

Theo chân ông Đạt, tôi trở ra đường Trần Hưng Đạo. Cảm giác bùi ngùi khi chẳng thể tìm được tấm bảng nào chỉ dẫn đây là nơi Trương Vĩnh Ký – người Việt đã được vinh danh một trong 18 nhà thông thái thế giới, sử dụng thành thạo 26 ngôn ngữ – yên nghỉ. Bên góc cổng, người anh Trương Minh Tấn của ông Đạt đang cặm cụi với quán cà phê kiếm sống qua ngày. Gương mặt ông Tấn hằn nét khắc khổ, già hơn tuổi 68. Nhắc chuyện xưa, ông Tấn tràn ngập ký ức: “Hồi tôi còn nhỏ, đường này thưa thớt lắm, bên đây nhìn thấy con kênh đào ven đại lộ Võ Văn Kiệt bây giờ. Thuở đó, kênh vẫn còn trong xanh và là nơi ông cố Trương Vĩnh Ký dựng nhà mát bên sông để đọc sách, dạy học trò”.

Khi anh em ông Tấn, ông Đạt chào đời, Trương Vĩnh Ký đã mất cả nửa thế kỷ. Ký ức hai anh em được ông nội Trương Vĩnh Tống (con trai thứ Trương Vĩnh Ký) truyền kể rằng nhà mồ nằm bên đại lộ Gallieni nay là đường Trần Hưng Đạo. Vùng đất ngày xưa còn gọi Chợ Quán này là quê vợ Trương Vĩnh Ký. Còn nơi chôn nhau cắt rốn của ông ở Cái Mơn, Bến Tre. Là con trai lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu, Trương Vĩnh Ký sớm mồ côi khi cha đi công vụ ở Cao Miên.

Trong gia đình có đạo, tuổi thơ Trương Vĩnh Ký sớm thăng trầm khi triều Nguyễn ra lệnh “sát tả” ngăn chặn Thiên Chúa giáo. Ban đầu, Trương Vĩnh Ký học chữ Nho với thầy đồ, và ông chỉ lộ rõ thiên tài khi được các linh mục Pháp dạy học. Đặc biệt là ở chủng viện Penang (Malaysia), ông đã làm cả thầy lẫn bạn học khâm phục sự đam mê đọc sách cùng trí nhớ siêu việt và khả năng học nhanh chóng cùng lúc nhiều ngoại ngữ khó như Latin, Hi Lạp, Pháp, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,Thái Lan. Nhờ vậy mà nghiệp bút của Trương Vĩnh Ký đã đạt kỷ lục khoảng 120 cuốn sách gồm đủ các lĩnh vực, đặc biệt là các sách đạo làm người, từ điển Pháp – Việt…

Và rồi định mệnh như an bài với Trương Vĩnh Ký. Chính thiên tài ngoại ngữ, tri thức sâu rộng nhờ đọc sách, đi xa đã cuốn ông vào vòng xoáy lịch sử chênh vênh, phức tạp trong thời cuộc nước nhà bị Pháp tiến chiếm. Trở thành thông ngôn cho Pháp, rồi cho cả sứ bộ triều đình, phải kề cận kẻ đô hộ lẫn gần gũi chính nhà vua nước mình, Trương Vĩnh Ký đã bị người đời nhìn nhận ngược xuôi công tội.

Để rồi trước khi nhắm mắt xuôi tay, chính ông phải cảm thán viết bài thơ đầy nỗi niềm: Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai/Xô đẩy người vô giữa cuộc đời/Học thức gửi tên con sách nát/Công danh rốt cuộc cái quan tài/Dạo hòn lũ kiến men chân bước/Bò xối, con sùng chắc lưỡi hoài/Cuốn sổ bình sanh công với tội/Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

QUỐC VIỆT

————————————

* Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: Mộ hoang và án tham nhũng chấn động lịch sử >> Kỳ 2: Sự thật trong quan tài cổ >>Kỳ 3: Những nấm mộ cát linh thiêng >> Kỳ 4: Ngôi mộ cổ vị danh tướng >> Kỳ 5: Cái chết anh hùng >> Kỳ 6: Nấm mộ “người làm ruộng già” >> Kỳ 7: Bi kịch muôn đời

__________________

Chứng kiến sự thật các chiến cuộc, hòa ước, kể cả có mặt trong phái bộ đi Pháp trước tình thế nước nhà lâm nguy, Trương Vĩnh Ký đã nghĩ gì, làm gì để cuối đời phải thốt lên: Tìm nơi thẩm phán để thừa khai?

Kỳ cuối: Trong vòng xoáy lịch sử

Huỳnh Thúc Kháng – “gạch nối” của lịch sử – TT

21 Th4

TT – Sáng 20-4, tại huyện Tiên Phước (Quảng Nam), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Nam đã tổ chức hội thảo khoa học “Thân thế và sự nghiệp cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)”.

Trưng bày về thân thế, sự nghiệp của cụ Huỳnh Thúc Kháng tại hội thảo – Ảnh: Tấn Vũ

 

Có hơn 100 tham luận của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học cả nước gửi đến hội thảo. Nhiều tham luận khẳng định các cụ Huỳnh Thúc Kháng và Phan Châu Trinh là hai nhân vật tiêu biểu của phong trào Duy Tân với chủ trương “Khai dân trí – chấn dân khí – hậu dân sinh”. Phương châm này còn có giá trị thực tiễn đến ngày hôm nay, trong xu thế hội nhập với những giá trị toàn cầu.

Về việc cụ Huỳnh Thúc Kháng từ chức viện trưởng Viện dân biểu Trung kỳ sau ba năm cương quyết tranh đấu trong nghị trường, trao đổi với Tuổi Trẻ bên lề hội thảo, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng: “Những người làm quan ngày xưa mà không đáp ứng được nguyện vọng của dân thì cáo quan. Rất nhiều phẩm giá người xưa có mà hiện nay chúng ta đã đánh mất. Cái liêm đi đôi với cái sỉ mà cả hai cái này rất thiếu trong một bộ phận của đội ngũ cán bộ chúng ta hiện nay”.

Hội thảo cũng nhìn nhận rằng chính cụ Huỳnh Thúc Kháng là nhân vật tiêu biểu nhất tạo được “gạch nối” lịch sử gắn kết với phong trào yêu nước của thế hệ các chiến sĩ Duy Tân và phong trào Cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Cụ Huỳnh Thúc Kháng, một tấm gương gắn kết tri thức với vận mệnh dân tộc. Hội thảo lịch sử này cũng là nén hương tưởng nhớ và tri ân người đã khuất (ngày 21-4 -1947 – PV)” – nhà sử học Dương Trung Quốc nói.

 

Cũng theo ông Dương Trung Quốc, cụ Huỳnh là người may mắn vì được chứng kiến sự ra đời của một nước Việt Nam độc lập và thể chế dân chủ cộng hòa. Hơn thế, với lời mời thành tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh đã tham chính những cương vị quan trọng trong chế độ mới (bộ trưởng Bộ Nội vụ), có thời gian đảm nhận quyền Chủ tịch nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao phó trong thời gian (bốn tháng) đi vận động ngoại giao ở Pháp năm 1946.

Trong nhiều tham luận tại hội thảo có những tham luận chứng minh cụ Huỳnh Thúc Kháng đã để lại không ít tư liệu liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, như tham luận của bà Hà Thị Sương – Ðại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh, ThS Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Ðại học Huế…

Từ những năm 1938, chủ bút Huỳnh Thúc Kháng đã thể hiện ý thức của ông về chủ quyền Hoàng Sa. Ngay từ lúc đó, ông đã nhấn mạnh cần phải sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu bằng chữ Hán của các bậc tiền nhân để lại về Hoàng Sa, vì đó là những chứng cứ pháp lý chứng minh quần đảo này thuộc chủ quyền của nước ta.

TẤN VŨ

TRÀO LƯU LÃNG MẠN Ở PHƯƠNG TÂY VÀ VIỆT NAM (PHẦN 2) – VC+

21 Th4

B. TỔNG QUAN VỀ TRÀO LƯU LÃNG MẠN Ở VIỆT NAM.

 I. Khái quát.
Theo bước chân của những nhà truyền giáo và thương nhân, văn hóa phương Tây đã đến nhiều vùng đất ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đông Nam Á… Ờ Việt Nam, cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, văn hóa Pháp và phương Tây đã xâm nhập đất nước ta, ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng và tình cảm các tầng lớp dân chúng thời ấy. Sự thay đổi về chế độ chính trị, sự biến động trong kết cấu xã hội, đổi thay về cuộc sống và tâm trạng đã tác động đến quá trình sáng tác, cảm xúc, suy nghĩ của người trí thức. Về mặt nghệ thuật, chủ nghĩa lãng mạn phương Tây (cùng một số trào lưu khác sau đó như tượng trưng, siêu thực) xuất hiện từ một thế kỷ trước đó đã để lại dấu ấn rõ nét và tạo nên một trào lưu nghệ thuật mới trong văn chương, hội họa, âm nhạc Việt Nam, trong đó mạnh mẽ nhất vẫn là ở lĩnh vực văn chương kể từ đầu thập niên 1930 trở đi.
II. Văn chương lãng mạn:
Tuy chịu ảnh hưởng sâu đậm của phương Tây nhưng ở Việt Nam nghệ thuật lãng mạn không tạo nên trường phái, không có tuyên ngôn rõ ràng. Người ta nhận ra khuynh hướng ấy trong các tác phẩm văn thơ, trong một số quan điểm nghệ thuật và thẩm mỹ từ những phát biểu và tranh luận của nhiều cây bút thời bấy giờ. Trên văn đàn bắt đầu xuất hiện những cây bút mới, trước hết là phong trào Thơ mới và nhóm Tự Lực văn đoàn.
Thật ra mầm mống lãng mạn đã manh nha từ một số tác phẩm trước năm 1930 của Tản Đà, Đoàn Như Khuê, Tương Phố, Đông Hồ, Hoàng Ngọc Phách… Dưới ảnh hưởng của thơ ca Pháp, những tác giả thơ mới đã mạnh mẽ đi vào thế giới tâm hồn, đi vào cái tôi, cái bản ngã đậm chất riêng tư. Vả lại thơ mới xuất hiện đầu những năm 1930 giữa thời kỳ thoái trào cách mạng và khủng bố 1930-1931, khủng hoảng kinh tế cho nên những trí thức, viên chức thành thị, trong đó có những nhà thơ mới, lại dễ dàng tìm vào cái tôi hơn. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh viết: “Ngày thứ nhất – ai biết đích ngày nào – chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân”. “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh… Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế”.
Chủ nghĩa lãng mạn đã tạo được một giai đoạn thơ ca giàu hương sắc với nhiều phong cách và cá tính sáng tạo phong phú. Chính Tố Hữu cũng nhìn nhận rằng thơ mới đã nói lên được “một nhu cầu lớn về tự do và về phát huy bản ngã”. Có người cho rằng đó là khuynh hướng thoát ly và tiêu cực. Nhận định như thế là không chính xác, chỉ đứng trên quan điểm cách mạng chứ thật ra những nhà lãng mạn chỉ trung thành với khuynh hướng đã lựa chọn của mình, dù có thể hoàn cảnh xã hội có tác động thật sự đến tâm hồn họ, thậm chí đôi khi tác động thật mạnh mẽ nữa.
Cũng chính tác động ấy mà Huy Cận đã nói đến nỗi “đau đời” và Nhạc sầu dù có làm rơi lệ nhưng vẫn ấm áp chất nhân văn rõ rệt. Nếu văn chương cổ điển là văn chương phi ngã thì ngược lại văn chương lãng mạn đưa vào đậm nét cái tôi cá nhân, khẳng định cái tôi một cách tích cực, xem cái tôi là một chủ thể sáng tạo được khai thác không hề vơi, đã cảm thụ thế giới thiên nhiên và con người qua trái tim giàu tình cảm. Sự xuất hiện cái tôi đồng thời đem đến cuộc đấu tranh đòi tự do cá nhân, giải phóng cá nhân đã là một yếu tố tích cực và tiến bộ. Xuân Diệu thể hiện nỗi khao khát được sống mạnh mẽ: Chân nổi gió cứ mặt trời thẳng đến và mong được nâng hồn mình lên Để hóng gió của ngàn phương thổi tới. Còn Phạm Huy Thông thì Muốn có đôi cánh tay vô ngần to rộng, Để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng tôi. Lại nữa ở trong một xã hội nửa phong kiến nửa thuộc địa, cái xã hội kim tiền ô trọc, các nhà thơ mới lại càng ra sức đấu tranh cho quyền tự do yêu đương, cho những cảm xúc phong phú, cho những mơ mộng xa vời, cho cái đẹp mang màu sắc chủ quan của mình. Huy Cận tìm lại những nét đẹp của dân tộc từ trong quá khứ, trong vũ trụ trăng sao; Xuân Diệu say sưa trong tình yêu đắm đuối; Lưu Trọng Lư tìm cái đẹp ở người tráng sĩ, ở con nai vàng ngơ ngác trong rừng thu; Thế Lữ theo gót hải hồ của người chinh phu hoặc mơ về tiên giới; Phạm Huy Thông đi tìm người anh hùng chiến bại; Thâm Tâm yêu người ly khách ra đi không trở về…
Trên những nẻo đường mới, nhà thơ lãng mạn tìm vào tình yêu. Thơ tình yêu tràn ngập trên báo chí, sách vở đương thời. Trong các nhà thơ mới, Xuân Diệu được xem là nhà thơ của yêu đương, là thi sĩ của tình yêu. Thơ của ông là bài ca sự sống. Dưới mắt ông, yêu là thái độ sống mãnh liệt và tình yêu đôi lứa là nguồn cảm hứng sâu sắc nơi ông. Xuân Diệu nồng nhiệt, say mê nên vội vàng, giục giã yêu đương “Gấp đi em anh rất sợ ngày mai”, “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” để rồi thấy cuộc đời “nổi nênh, xiêu đổ, tan tác, tứ ly”. Còn ở Vũ Hoàng Chương, tình yêu là lẽ sống cao cả, ông đã ôm giấc mộng tình mà thảm thiết khóc than. Và ở chặng cuối đường ông không quên cái vị chua chát của tình yêu xác thịt để rồi tìm vào thơ say: Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải, Chút ngây thơ còn lại cũng vừa chôn (Vũ Hoàng Chương) …
Thơ lãng mạn vẫn có những bài thơ yêu đời, yêu cuộc sống, ngợi ca tình yêu trong sáng (Xuân đầu, Tặng thơ của Xuân Diệu; Chiều xuân, Tình tự, Áo trắng, Đi giữa đường thơm của Huy Cận; Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp; Tương tư, Hai lòng của Nguyễn Bính…) hoặc say đắm thiên nhiên, khao khát niềm giao cảm với cuộc đời. Người ta tìm thấy ở đó những nét đẹp hồn nhiên của tình yêu tuổi học trò, những kỷ niệm tươi thắm của một thời e ấp, say đắm ban sơ, của tuổi thần tiên thơ mộng… Nhưng sắc nét hơn cả ở thơ lãng mạn vẫn là cái tôi buồn bã và cô đơn – dưới mắt một số người đã trở thành yếu tính của lãng mạn. Cái buồn bã ấy đôi khi chỉ là buồn xa vắng, buồn vẩn vơ, buồn mênh mông từ trong những hình ảnh quen thuộc của cảnh vật chung quanh, chẳng hạn tiếng gà trưa đều đi vào trong thơ Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, gợi nên một nỗi buồn rười rượi, một vẻ hoang vắng, đìu hiu và cô liêu: Mỗi lần nắng mới hắt bên song, Xao xác gà trưa gáy não nùng, Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa, Chết không gian khô héo cả hồn cao. Vũ Hoàng Chương thì nghe buồn suốt cả cuộc đời: Mưa lùa gian gác xép, Ngày trắng theo nhau qua. Lá rơi đầy ngõ hẹp, Đời hiu hiu xế tà. Nhưng cái buồn ấy còn được đẩy tới bến bờ da diết, áo não nhất: nó bàng bạc khắp cả thời gian, không gian, đó là nỗi buồn nhân thế, dường như cũng thấm đẫm tự ngàn xưa như trong Kinh cầu tự, Lửa thiêng của Huy Cận …
Nỗi cô đơn cũng là nét chủ đạo của văn chương lãng mạn. Những nhân vật cô đơn để lại dáng vẻ nổi bật, đó là Lamartine dưới gốc sồi trong buổi chiều hôm sau cái chết của Elvire, là René của Chateaubriand, Dũng của Nhất Linh, là “kẻ bộ hành ngơ ngác” của Thế Lữ, là nàng kỹ nữ của Xuân Diệu… Như vậy dễ nhận ra con người của văn chương lãng mạn là một cái tôi buồn vơ vẩn, cô đơn chán nản và “lịm người trong thú đau thương”(Lưu Trọng Lư). Thật ra cái tôi đó xuất hiện và đắm chìm trong hoàn cảnh xã hội lay chuyển, đổi thay đến ngột ngạt nên trở thành cô đơn, cách biệt, buồn thương: Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá, Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ…(Xuân Diệu) và đến đây ta đã có thể nghe tiếng khóc dài trong văn chương Việt Nam.
Người ta còn tìm thấy ở các tác phẩm lãng mạn tình yêu thiên nhiên, lòng yêu nước sâu sắc, tìm thấy rất nhiều hình ảnh quê hương, đất nước, nhiều màu sắc dân tộc, nhiều nét đẹp xưa, đậm đà hương vị làng quê, ở đó thấm đẫm tinh thần dân tộc, sáng lên tâm hồn và cốt cách Việt Nam: Huy Cận với Tràng giang; Xuân Diệu với Đây mùa thu tới; Tế Hanh với Quê hương; Hàn Mặc Tử với Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ; Đoàn Văn Cừ với Chợ tết; Anh Thơ với Chiều xuân; Nguyễn Nhược Pháp với Chùa Hương; Vũ Đình Liên với Ông đồ; Nguyễn Bính với Lỡ bước sang ngang… Hình ảnh đất nước trong thơ mới là hình ảnh của nước Việt Nam thanh bình, đẹp đẽ và đáng yêu hiện lên với tất cả trìu mến. Bên cạnh hình ảnh đó, các nhà thơ mới còn biểu lộ tâm sự yêu nước thầm kín. Họ nghĩ đến quê hương, đất nước, khao khát tự do, độc lập; đó là tâm sự con hổ của Thế Lữ, là hình ảnh khách chinh phu vừa đau xót vì cảnh mất nước vừa say mê cái đẹp của thiên nhiên, là giấc mộng anh hùng qua hình ảnh Kinh Kha quan tâm đến những người bị chà đạp trong xã hội. Tiếng thơ đau xót, quằn quại của họ có ý nghĩa một lời phủ nhận, phản kháng thực tế xã hội của chế độ phong kiến thực dân đương thời.
Trào lưu lãng mạn cũng đã có được những tác phẩm mang ý nghĩa nhân văn, tiến bộ. Có thể nhắc đến Nhớ rừng, Tiếng gọi bên sông của Thế Lữ; Con voi già của Phạm Huy Thông; Đôi bạn, Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân… Người đọc nhận ra một Nhất Linh biết băn khoăn, dằn vặt đi tìm lý tưởng; một Khái Hưng sôi nổi, yêu đời, lạc quan trong cái xao xuyến của một lớp thanh niên cùng thế hệ; một Thạch Lam giàu lòng nhân ái… Tác phẩm của nhóm Tự Lực văn đoàn ngoài những tiểu thuyết lãng mạn còn có những tiểu thuyết phê phán mạnh mẽ lễ giáo phong kiến, đoạn tuyệt với cái cổ hủ, lạc hậu, xiển dương cái mới được lớp người trẻ đồng tình.
Cũng chính với lòng yêu nước đó, sau này một số nhà văn, nhà thơ lãng mạn đã dấn thân vào con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc.
III. Hội họa lãng mạn.
Với sự du nhập của văn hóa phương Tây, nghệ thuật Việt Nam có sự biến đổi lớn. Hội họa đã có một cái nhìn mới về hiện thực khác hẳn nghệ thuật truyền thống từ trước tới nay. Hội họa với giá vẽ thể hiện các loại tranh chân dung, tĩnh vật, phong cảnh, sinh hoạt có khả năng trình bày một cách trực quan đời sống chung quanh. Lớp công chúng thị dân hình thành bên cạnh lối thưởng ngoạn của lớp người xưa. Do vậy, hội họa theo truyền thống châu Âu không đơn giản chỉ là một trường phái hội họa mới, một lối vẽ mới mà còn là sự hình thành một nền nghệ thuật mới. Do tính chất đặc thù của ngôn ngữ và phương tiện diễn đạt của bộ môn nghệ thuật này, hội họa lãng mạn ở Việt Nam chưa đạt tầm vóc và tác động mạnh mẽ như lĩnh vực văn chương và âm nhạc. Tuy vậy với ảnh hưởng của văn  hóa phương Tây đối với tầng lớp trí thức bấy giờ, những họa sĩ Việt Nam chắc chắn đã tiếp nhận không những phương tiện, chất liệu thể hiện mới mẻ mà còn cả chủ đề, đề tài mới trong sáng tác.
Điều này được khẳng định khi thực dân Pháp cho mở Trường Mỹ thuật Đông Dương vào năm 1925 tại Hà Nội. Sau thời gian học tập bốn năm, các học viên của trường đã tổ chức cuộc trưng bày tranh đầu tiên. Những tác phẩm của họ cho thấy có hai khuynh hướng sáng tác nổi bật lúc bấy giờ: khuynh hướng sáng tác theo các trường phái châu Âu và khuynh hướng sáng tác theo phong cách nghệ thuật cổ truyền phương Đông.
Về đề tài, một số họa sĩ gắn bó nhiều hơn với thực tế đời sống. Họ tìm đến với những em bé ngây thơ, những người lao động bình dân chất phác, những nông dân nghèo khổ… Chẳng hạn Nguyễn Đình Phúc với Chú bé thổi sáo,Trần Văn Cẩn với tác phẩm Cha con, Cô đơn, Nguyễn Phan Chánh với Cô gái rửa khoai, Chăn trâu, Đi xem bói… Bên cạnh đó, với ảnh hưởng phương Tây mạnh mẽ trong nghệ thuật thời ấy, khuynh hướng lãng mạn đã xuất hiện rõ nét và chiếm ưu thế. Song hành với các chủ đề trong văn chương lãng mạn, các họa sĩ Việt Nam thường vẽ các cô gái đài các, mơ mộng, những thiếu nữ xinh đẹp thành thị, những khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, chẳng hạn Lê Phổ với Thiếu nữ bên hoa lan … Trong cuốn Lược sử mỹ thuật Việt Nam, Nguyễn Phi Hoanh có nhận xét: “Với tuổi thanh niên của những họa sĩ và nhà điêu khắc mới ra trường thì giọng văn quyến rũ của Hồn bướm mơ tiên hay Đời mưa gió dễ lôi cuốn họ vào con đường lãng mạn”. Không chỉ trưng bày tranh, các họa sĩ còn tìm cách phổ biến tác phẩm công khai bằng cách cho in thành phụ bản trên các tờ báo như Phong Hóa, Ngày Nay...
Hội họa lãng mạn Việt Nam do điều kiện tiếp xúc với công chúng có phần hạn chế, tác giả không đông đảo như ở lĩnh vực văn chương nên vai trò của nó ở giai đoạn đầu lịch sử mỹ thuật hiện đại khiêm tốn hơn. Nó chỉ tiếp tục phát huy tính chất sáng tạo ở một số đô thị miền Nam sau ngày chia cắt đất nước. Trường quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định với Lê Văn Đệ và những sáng tác của Nguyễn Gia Trí, của thế hệ thứ hai với Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng… và sau đó là lớp người đông đảo của Hội Họa sĩ trẻ với Nguyễn Trung, Đinh Cường, Mai Chửng, Đỗ Quang Em, Trịnh Cung, Nguyên Khai, Hồ Hữu Thủ… và những người ở Huế như Vĩnh Phối, Tôn Thất Văn, Hoàng Đăng Nhuận… đã làm cho Sài Gòn trở thành một trung tâm nghệ thuật hội họa mới đầy màu sắc.
IV. Âm nhạc lãng mạn.
Bối cảnh lịch sử và cơ sở xã hội để hình thành và phát triển âm nhạc cải cách tức là tân nhạc, trong đó có âm nhạc lãng mạn, cũng tương tự như ở lĩnh vực văn chương, hội họa. Có nghĩa là xuất phát từ bầu khí xã hội và làn gió Tây học đã lan đến các tầng lớp công chúng, nền tân nhạc hình thành và phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Ở giai đoạn đầu của nền tân nhạc, âm nhạc lãng mạn đã có mặt và  khẳng định được diện mạo riêng, tạo được vai trò và ảnh hưởng lớn lao đối với người nghe không chỉ trong giai đoạn ấy mà còn kéo dài đến ngày nay.
1. Sơ lược về sự ra đời của nền tân nhạc Việt Nam.
Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp đã đưa luồng văn hóa phương Tây vào đất nước ta. Tuy ở trong một hoàn cảnh bị áp đặt song chúng ta vẫn xem đây là sự giao thoa và tiếp biến có tính chất quy luật giữa hai nền văn hóa. Chúng ta tiếp nhận và sau đó cải đổi để sáng tạo nên cái của riêng mình. Từ vốn liếng di sản âm nhạc dân tộc sẵn có, ta tiếp thu kỹ thuật sáng tác mới với nguồn cảm hứng thời đại mới để tạo nên âm nhạc cải cách, tên gọi ban đầu của tân nhạc.
Âm nhạc phương Tây, trong đó chủ yếu là âm nhạc châu Âu, được truyền bá vào Việt Nam là âm nhạc chuyên nghiệp cổ điển, bán cổ điển và nhạc nhẹ châu Âu phát triển đầu thế kỷ XX thông qua các nhạc sĩ, viên chức, nhạc công hành nghề tại các phòng trà, nhà hát ở các đô thị; các giáo sĩ Thiên Chúa giáo; các nhà thờ; các đội quân nhạc và trường âm nhạc của Pháp. Năm 1927, một viên chức Pháp là Poincignon lập ra Pháp quốc Viễn Đông Nhạc viện (Conservatoire francais  d’Extrême-Orient) ở Hà Nội với số học sinh theo học cho đến khi đóng cửa năm 1930 là 50 người. Ở Sài Gòn năm 1933 cũng có Conservatoire de Musique do Ủy ban Nghệ thuật Sài Gòn (Comité artistique de Saigon) lập ra với lớp dạy đàn piano song cũng không kéo dài lâu. Một số nhạc sĩ Việt Nam đã được học âm nhạc Tây phương từ môi trường này hoặc tự học qua sách vở (lý thuyết âm nhạc, hòa âm, lịch sử âm nhạc, sách dạy các loại nhạc cụ…) để sáng tác tân nhạc. Ở giai đoạn đầu, phần lớn các nhạc sĩ Việt Nam đã chọn thể loại có tính đột phá là ca khúc, phù hợp với điều kiện học tập, biểu diễn và phổ biến trong hoàn cảnh bấy giờ.
Dĩ nhiên sự hình thành các tác phẩm tân nhạc và quá trình hoàn chỉnh của chúng ngoài nỗ lực của tác giả còn có sự tác động của các phong trào ca hát trong quần chúng xuất hiện lúc này. Trước hết đó là phong trào hát nhạc Tây (lời Tây điệu Tây), lời ta điệu Tây và phong trào vận động nhạc cải cách.
Khi âm nhạc phương Tây theo chân người Pháp vào Việt Nam, để phục vụ vui chơi giải trí cho bộ máy hành chính,  quân đội chính quốc và thuộc địa, một số người Pháp và Việt đem trình diễn các nhạc phẩm phương Tây trong các buổi họp mặt, lễ tân, liên hoan…Từ những năm 1920, các loại máy hát, đĩa hát (các hãng Victor, Columbia, Pathé, Béka, Odéon…) đã tràn vào Việt Nam. Ngoài các đĩa hát thu các làn điệu dân ca, tuồng tích, chèo, cải lương, ca Huế, các nhà kinh doanh Pháp còn có đĩa các tác phẩm của châu Âu, trong đó nổi bật là ca khúc nhạc nhẹ Tây phương với các giọng hát nổi tiếng bấy giờ như Tino Rossi, Joséphine Baker… Bên cạnh đó ở các nhà thờ đã hình thành những phường nhạc Tây tham dự trong các buổi hát lễ, lễ rước… Nhạc cụ Tây phương đã bắt đầu được phổ biến. Hình ảnh những đội kèn đồng, những dàn nhạc dây, những dàn hợp xướng trở thành quen thuộc trong đời sống xã hội. Ở Huế, năm 1919 triều đình lập một dàn nhạc kèn kiểu Pháp; năm 1920 có dàn kèn của lính khố xanh. Ở Hà Nội năm 1924 thành lập dàn kèn tập hợp những người biết thổi kèn ở các xứ đạo… Các dàn nhạc thường biểu diễn các tác phẩm cổ điển phương Tây của các tác giả G. Bizet, F. Schubert, M. Glinka, R. Schumann, Weber, Mozart, Beethoven, F. Chopin, J. Strauss, A. Ketelbeydo các nhạc trưởng người Pháp và người Việt chỉ huy. Nhiều bài hát Pháp vui tươi, dí dỏm xuất hiện trong các buổi sinh hoạt của thanh niên, học sinh sinh viên như Frère Jacques, Au clair de la lune, Vive le chameau…hoặc bài hát suy tôn thống chế như Maréchal, nous voilà của Dambrine, hoặc bài hát động viên thanh niên như Debout, belle jeunesse của Parmentier… Ở các phòng trà, tiệm nhảy đã phổ biến các vũ điệu như tango, valse, fox-trot…, các tiểu phẩm khí nhạc để hòa tấu…
Từ khoảng năm 1923-1925 nhiều nhóm sinh viên từng hát những bài hát Pháp soạn lời Việt như Nàng Madelon, La Marseillaise, Hãy nói với tôi về tình yêu (Parlez-moi d’amour), Tôi có hai mối tình (J’ai deux amours), Cô gái Bắc kỳ (La petite Tonkinoise), Tình xuân (Pourquoi), Đắm say (Amusez-vous), Biệt ly (Marinella)…Từ  năm 1930 tổ chức hướng đạo sinh đã hình thành ở nước ta cùng với các sinh hoạt vui chơi, cắm trại, ca hát tập thể… tạo thành một phong trào vui sống trong thanh niên. Một số bài hát của hướng đạo cũng được phỏng dịch hoặc đặt lời mới như Vui hướng đạo (Joie Scoute), Hướng đạo toàn cầu (Loi des louveteaux)… hoặc cả một tập bài hát loại này như Tiếng chim ca của Lưu Ngọc Văn và Đào Văn Thiết xuất bản từ năm 1938 trở đi… Đây cũng là môi trường hoạt động lan tỏa để sau này các bài hát mới ra đời và phổ biến trong quần chúng. Phong trào hát lời ta điệu Tây phát triển mạnh mẽ vào các năm 1934-1937 và kéo dài cho đến những năm 1940.
Trong khi các phong trào ca hát này diễn ra, các nhạc sĩ Việt Nam trong giai đoạn đầu của nền tân nhạc cảm thấy có nhu cầu sáng tác bài hát của chính mình trên cơ sở ký âm pháp Tây phương. Nhu cầu này có động lực tất yếu là sự đổi thay của xã hội, từ đó thị hiếu mới nảy sinh và công chúng đô thị ưa chuộng sự mới lạ trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật, trong đó có âm nhạc nói chung, ca hát nói riêng. Như vậy ngay từ những năm 1930 chúng ta đã có những sáng tác thuần Việt ra đời, trong đó có những bài hát chịu ảnh hưởng âm nhạc Tây phương song cũng không ít những bài hát mang ngôn ngữ âm nhạc dân tộc. Trong buổi đầu của phong trào tân nhạc, có nhiều nhạc sĩ hoạt động đơn lẻ song cũng có nhiều  nhạc sĩ qui tụ thành từng nhóm do cùng sở thích, chủ trương và môi trường hoạt động. Những nhóm này đã có nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật; họ cũng là những người tiên phong trong phong trào sáng tác và phổ biến những bài tân nhạc đầu tiên, tạo được ảnh hưởng lớn lao trong quần chúng và có vai trò lịch sử nhất định trong quá trình hình thành và phát triển nền tân nhạc Việt Nam. Có thể kể đến những bài hát đầu tiên xuất hiện sớm trong phong trào tân nhạc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1937) của Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung; Xuân năm xưa (1936) của Lê Thương; Gió thu (1937), Tiếng hát đêm thu (1938), Biệt ly (1939) của Dzoãn Mẫn…
Thật khó xác định thời gian hình thành và xuất hiện của các nhóm nhạc, tuy nhiên theo hồi ức của các nhạc sĩ lão thành, có thể đó là những năm 1936-1940 – thời gian mà phong trào được thúc đẩy mạnh mẽ và tạo đà phát triển cho nhiều thập niên sau. Có thể kể đến các nhóm nhạc chính như sau:
– Nhóm Myosotis:
Nhóm này gồm các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Phạm Văn Nhường, Trần Dư, Vũ Khánh… từng hoạt động từ nhiều năm trước đó trong các buổi họp mặt hoặc các buổi diễn từ thiện ở các rạp hát. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước có ban nhạc riêng từng diễn tấu các nhạc phẩm không lời như Joie d’aimer, Souvenance, Ton doux sourire (viết cho guitare hawaienne). Trong nhóm, nhạc sĩ Thẩm Oánh chủ trương trung dung, nghĩa là các bài hát cải cách theo ký âm pháp Tây phương nhưng có “ý nhạc Việt Nam” và “cảm tưởng thuần túy Á Đông”. Còn nhạc sĩ Dương Thiệu Tước chủ trương sáng tác theo “âm điệu Tây phương” cũng như nhiều nhà văn Việt Nam viết bằng tiếng Pháp vậy. Bên cạnh việc hòa nhạc, nhóm còn có hoạt động nổi bật khoảng cuối năm 1938 là xuất bản các bài hát của nhóm, đầu tiên là các bài như như Đôi oanh vàng, Hoa tàn, Phút vui xưa…và sau đó là Hồ xưa, Xuân về, Tiếng khóc trong phòng the, Thanh niên ơi…(Thẩm Oánh) và Tâm hồn anh tìm em, Một ngày mà thôi…(Dương Thiệu Tước).
    
– Nhóm Tricéa:
Tên nhóm là cách chơi chữ: ba chữ (tri) C và ba chữ A, viết tắt của nhóm từ Collections des Chants Composés par des Artistes Annamites Associés (Tập hợp các ca khúc do nhóm nghệ sĩ Việt Nam sáng tác). Nhóm gồm các nhạc sĩ Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn, mà theo nhạc sĩ Thẩm Oánh, chủ trương “đi sát quần chúng” hơn. Văn Chung chịu ảnh hưởng của nhạc Trung Hoa nên dòng nhạc của ông mang tính chất Á Đông rõ nét. Còn Lê Yên và Dzoãn Mẫn thiên về bay bướm nhịp điệu, dòng nhạc mang âm hưởng phương Tây nhiều hơn. Nhóm qui tụ được một số nhạc sĩ khác, cũng xuất bản nhiều bài hát của nhóm khoảng từ năm 1939 trở đi như Khúc ca ban chiều, Trên thuyền hoa, Đóa hồng nhung, Hồ xuân và thiếu nữ, Bóng ai qua thềm của Văn Chung; Biệt ly, Sao hoa chóng tàn, Tiếng hát đêm thu, Một hình bóng, Một buổi chiều mơ, Trở lại cùng anh của Dzoãn Mẫn; Bẽ bàng, Vườn xuân, Một ngày vui của Lê Yên…
– Nhóm Phạm Đăng Hinh:
Nhóm ra đời sau nhóm Tricéa do nhạc sĩ Phạm Đăng Hinh đứng đầu cùng nhiều nhạc sinh violon và violoncelle, thường biểu diễn các sáng tác của ông, từng ra mắt tại rạp Majestic, Hà Nội. Nhóm hoạt động một thời gian ngắn rồi ngưng, để lại một vài sáng tác như Đám mây hàng (tức là Cám dỗ), bài hát trong bộ phim Việt Nam Trận phong ba quay tại Hong Kong năm 1940.
– Nhóm Đồng Vọng:
Nhóm qui tụ một số nhạc sĩ trẻ, phần lớn là hướng đạo sinh, thích ca hát và du ngoạn, hoạt động sôi nổi ở Hải Phòng. Đó là các nhạc sĩ Canh Thân, Hoàng Quý, Phạm Ngữ, Hoàng Phú (Tô Vũ), Lê Xuân Ái, Văn Trang… Một số nhạc sĩ xuất hiện trên sân khấu Nhà hát lớn Hải Phòng trong các chương trình kịch của nhà thơ Thế Lữ khi ông ra hoạt động cho Hội Ánh Sáng (nhóm Tự Lực văn đoàn) của đất cảng vào năm 1939. Vì là nhóm hướng đạo sinh nên nhiều tác phẩm của họ mang tính chất vui tươi, hùng tráng của lứa tuổi thanh thiếu niên. Phạm Ngữ có bài Trước cảnh cao rộng, Nhớ quê hương; Hoàng Quý có Chùa Hương,Tiếng chim gọi đàn, Trên sông Bạch Đằng, Dưới bóng thông xanh, Chiều xuân, Đêm trong rừng…; Canh Thân có Đi với tôi đến chốn trời xa, Khúc ca mùa hè
Ngoài các nhạc sĩ nhóm Đồng Vọng, đất Hải Phòng còn có nhạc sĩ Lê Thương với Tiếng đàn đêm khuya, Một ngày xanh, Trên sông Dương Tử, Thu trên đảo Kinh Châu…; nhạc sĩ Văn Cao với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Suối mơ, Bến xuân, Thiên thai, Trương Chi, Buồn tàn thu…
– Nhóm Nam Định:
Nổi bật trong số các nhạc đất thành Nam có Đặng Thế Phong với ba bài hát Con thuyền không bến, Đêm thu, Giọt mưa thu từng xuất hiện trong chương trình biểu diễn vở kịch Cái vạ của nhóm Vũ Trọng Can ở Nam Định và sau đó diễn tại rạp Olympia, Hà Nội.
– Nhóm Tổng hội Sinh viên:
Trong sinh hoạt văn nghệ từ 1943-1945, hoạt động của Tổng hội Sinh viên đã gây dấu ấn sâu đậm trong phong trào tân nhạc. Trong cuộc tranh đấu chính trị chống thế lực ngoại bang Pháp – Nhật thời đó, tổng hội đã sử dụng tân nhạc như một phương thức tập hợp và kêu gọi thanh niên, gây tinh thần yêu nước mãnh liệt trong quần chúng. Hoạt động hăng say không mệt mỏi trong tổng hội có Lưu Hữu Phước với một sự nghiệp âm nhạc đầy đặn, qui mô với nhiều thể loại sáng tác phong phú. Đó là những bài sử ca hùng tráng như Ải Chi Lăng, Bạch Đằng giang, Hội nghị Diên Hồng…; những bài ca viết về thanh niên như Tiếng gọi thanh niên, Tráng đoàn Lam Sơn, Lên đàng…; những bài ca dành cho thiếu sinh như Gieo ánh sáng, Thiếu sinh hành khúc, Bạn đường…; ca tụng thiếu nữ như Việt nữ gọi đàn, Thiếu nữ Việt Nam…; những sầu niệm qua thời binh lửa như Kinh cầu nguyện, Hồn tử sĩ, Hờn sông Gianh, Đoàn quân ma…; lĩnh vực ca kịch có phổ nhạc trong kịch thơ Tục lụy của Thế Lữ và tiểu ca kịch Con thỏ ngọc…
Việc xuất hiện các nhóm nhạc cùng với việc xuất bản các bài hát tân nhạc đã thật sự hình thành phong trào sáng tác tân nhạc ở khắp các tỉnh trong nước. Tuy nhiên có một hoạt động có thể gọi là châm ngòi cho phong trào, đó là các cuộc diễn thuyết ủng hộ tân nhạc của một nhạc sĩ trẻ đất Huế là Nguyễn Văn Tuyên vào năm 1938 khi ông từ Sài Gòn ra hô hào ở đất Bắc. Được sự hỗ trợ của thống đốc Nam kỳ Rivoal, Nguyễn Văn Tuyên ra Hà Nội nói chuyện tại Hội Trí Tri vào tháng ba năm ấy. Tuy cử tọa đông đảo nhưng giọng nói khó nghe, vả lại bài hát cải cách đã có sẵn tại đây, nên lời kêu gọi của ông không mấy thuyết phục. Tại Hội Trí Tri Hải Phòng, trước số cử tọa không đông, ý kiến của ông đã được chia sẻ, nhất là khi nhạc sĩ Lê Thương trình bày một số bài hát của các tác giả đất Bắc. Sau đó nhân kỳ hội của Trường nữ học Hoài Đức, ông Tuyên còn trình bày nhạc mới tại rạp chiếu bóng Palace, được cử tọa tán thưởng bài hát Bông cúc vàng của ông.
Lúc này báo chí cũng đã bắt đầu hô hào và đăng tải những bài tân nhạc. Báo Ngày Nay ra ngày 31-7-1938 đăng bài hát Bình minh (thơ Thế Lữ) của Nguyễn Xuân Khoát. Tháng 9-1938 bài Con thuyền không bến đăng trên tạp chí Bạn Gái. Tiếp đó lần lượt xuất hiện trên báo Ngày Nay các bài như Bông cúc vàng, Kiếp hoa (thơ Nguyễn Văn Cổn) của Nguyễn Văn Tuyên; Bình minh (thơ Thế Lữ), Hồn xuân của Nguyễn Xuân Khoát; Bản đàn xuân của Lê Thương; Khúc yêu đương của Thẩm Oánh; Đám mây hàng của Phạm Đăng Hinh; Đường trường của Trần Quang Ngọc… đăng trên báo Ngày Nay. Ở miền Nam, tuần báo Thanh Niên cũng ủng hộ tân nhạc bằng loạt bài Phong trào nhạc mới của Lê Thương từ 25-3-1943 đến 26-8-1944; bài Tuyên ngôn về âm nhạc của ba tác giả Lưu Hữu Phước,Trần Văn Khê, Nguyễn Tôn Hoàn. Báo còn đăng các bài hát Hội nghị Diên Hồng, Thượng lộ tiểu khúc, Gieo ánh sáng, Hờn sông Gianh, Xếp bút nghiên, vở ca kịch Con thỏ ngọc…
Từ đầu năm 1939 một số bài tân nhạc đã được bày bán tại các hiệu sách. Các lớp dạy nhạc cũng được mở ra ở nhiều nơi: Nguyễn Thiện Tơ, Trần Đình Khuê, Dzoãn Mẫn, Dương Thiệu Tước (Hà Nội), Nguyễn Thông, Lê Ngát, Dzoãn Ân (Sài Gòn)… Ở miền Bắc cần nhắc đến hoạt động của nhóm Việt Nam nghệ sĩ đoàn, đứng đầu là Đàm Quang Thiện với chương trình biểu diễn ca nhạc ngày 20-3-1939; của Hội Khuyến nhạc Bắc Việt thành lập khoảng năm 1944 do nhạc sĩ Nguyễn Văn Giệp làm hội trưởng, được sự cộng tác của nhiều nhạc sĩ danh tiếng. Năm 1945, hội đã tổ chức thành công một cuộc đại hòa tấu long trọng nhân kỳ đại hội âm nhạc năm đó và tổ chức được cuộc thi sáng tác âm nhạc đầu tiên tại Việt Nam vào cuối năm 1944 đầu năm 1945, trong đó các bài đoạt giải thưởng là Việt Nam hùng tiến (Thẩm Oánh), Việt Nam minh châu trời Đông (Hùng Lân), Trung thu đất Việt (Tống Ngọc Hạp). Ở Sài Gòn cũng có những buổi hòa nhạc của Võ Đức Thu, Thái Thị Lang…
Lực lượng sáng tác tân nhạc ngày một đông đảo ở khắp các tỉnh thành. Tại Huế có các nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Hữu Ba, Văn Giảng, Lê Quang Nhạc, Ngô Ganh, Lê Cao Phan… Tại Đà Nẵng có La Hối, Dương Minh Ninh, Phan Huỳnh Điểu…
2. Xuất phát điểm của dòng ca khúc lãng mạn.
Khi nhắc đến sự ra đời của trào lưu âm nhạc lãng mạn, chúng ta không thể tách rời trào lưu này với hoàn cảnh đất nước vào giai đoạn lịch sử ấy. Dưới chế độ thuộc địa, các thành thị đông đúc hơn, thương mại được củng cố; viên chức, tiểu chủ, trí thức, giáo viên, sinh viên học sinh, nhà văn, nhà báo… đông dần lên và hình thành tầng lớp mới. Song từ những năm 1920 trở đi, với các chính sách của thực dân Pháp, đời sống của họ trở nên bấp bênh nên nảy sinh bất mãn với chế độ. Tầng lớp này bắt đầu phân hóa; một bộ phận giương cao ngọn cờ tư sản dân tộc, một bộ phận khác đi theo phong trào cách mạng dân tộc. Thất bại của khởi nghĩa Yên Bái (9-2-1930) đã xói mòn con đường của phong trào tư sản. Cùng với sự khủng bố, đàn áp  của thực dân, nền kinh tế bị khủng hoảng đe dọa cuộc sống khiến tầng lớp này hoang mang, dao động, buồn rầu, u uất. Tất cả tâm trạng đó được giãi bày trong văn chương, âm nhạc như một cách thoát ly thực tế. Chủ nghĩa lãng mạn do vậy đã trở thành chốn nương náu êm đềm cho một số nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ. Bắt đầu xuất hiện nơi họ nhu cầu tình cảm mới, thị hiếu thẩm mỹ và rung động mới. Âm nhạc lãng mạn Việt Nam phát triển từ trong bối cảnh đó.
Chính ngay từ bước đầu giai đoạn hình thành nền tân nhạc Việt Nam, đặc biệt trong những năm từ 1935-1938 trở đi, chúng ta thấy xuất hiện rất sớm những tác phẩm lãng mạn trong số rất nhiều ca khúc ở nhiều thể loại. Chúng ta dễ dàng nhận ra sự khai sinh dòng ca khúc lãng mạn có tiền đề thứ nhất là sự tiếp thu luồng âm nhạc phương Tây (ca khúc lãng mạn châu Âu thế kỷ XIX và nhạc nhẹ cổ điển) cùng với trào lưu lãng mạn phương Tây đang xâm nhập vào đất nước; đồng thời tiền đề thứ hai quan trọng không kém là thành tựu rực rỡ của văn chương lãng mạn Việt Nam vào thời kỳ này (đặc biệt phong trào thơ mới và nhóm Tự Lực văn đoàn) đã tác động và tăng nguồn lực cho âm nhạc lãng mạn. Nhiều tác giả đã chọn khuynh hướng lãng mạn và trung thành với lựa chọn đó. Bên cạnh những bài sử ca, bài ca cách mạng, ca khúc lãng mạn đã chiếm được cảm tình của quần chúng, được đông đảo người yêu nhạc nghe, hát và truyền lại cho các thế hệ sau.
Rõ ràng xuất phát điểm của dòng ca khúc lãng mạn chính là thời điểm ra đời của nền tân nhạc Việt Nam. Cùng với sự tác động và nguồn ảnh hưởng từ các tiền đề trên, dòng nhạc này ngày càng phong phú để có thể tự khẳng định khuynh hướng, tính chất cũng như chủ đề, nội dung rõ nét. Âm nhạc lãng mạn đã được phổ biến rộng rãi trong cả nước ngay từ khi ra đời, sau đó do hoàn cảnh chia cắt đất nước năm 1954, âm nhạc lãng mạn thời tiền chiến chỉ còn được phổ biến tại các đô thị ở miền Nam.
Trong đời sống âm nhạc ở các đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, dòng ca khúc lãng mạn đã có vị trí xứng đáng do giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ của nó, đã tác động và khơi nguồn sáng tác cho nhiều lớp nhạc sĩ kế tiếp chọn lựa khuynh hướng này. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh, bên cạnh nhiều khuynh hướng âm nhạc khác ra đời, âm nhạc lãng mạn, trữ tình vẫn không bị đánh mất giá trị và vai trò của nó; âm nhạc lãng mạn vẫn là chỗ dựa tinh thần cho nhiều tâm hồn thanh niên bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc chiến tàn khốc.
3. Nội dung, chủ đề của dòng ca khúc lãng mạn.
Như đã nói ở phần trên, chủ nghĩa lãng mạn phương Tây đã có ảnh hưởng lớn đến tầng lớp trí thức và nghệ sĩ Việt Nam có tiếp xúc với nền Tây học. Họ đã đem phần lớn nguồn rung cảm và chủ đề của chủ nghĩa lãng mạn vào trong sáng tác của mình, từ văn chương cho đến âm nhạc. Do đó chúng ta có thể tìm thấy phần nào sự tương đồng về nội dung, chủ đề, cách khai thác đề tài và phương thức thể hiện trong các tác phẩm lãng mạn của phương Tây, nhất là của Pháp, và các tác phẩm lãng mạn của Việt Nam, dĩ nhiên có tính đến bối cảnh đặc thù của tình hình đất nước, thực tế đời sống và cá tính của người nghệ sĩ Việt Nam.
Riêng về âm nhạc, chúng ta tiếp thu tính chất khoa học của một bộ môn nghệ thuật với lý thuyết, luật lệ rõ ràng, với phương pháp ký âm mới, nghệ thuật sáng tác mới, cách tiến hành giai điệu, khúc thức, nghệ thuật hòa âm, tiết tấu, nhạc  điệu hoàn toàn mới để tạo nên một nền tân nhạc Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trong số những tác phẩm tân nhạc đầu tiên đã có mặt những ca khúc lãng mạn để lại dấu ấn rõ nét về cá tính sáng tạo của các tác giả chỉ chọn lựa khuynh hướng này (như Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Nguyễn Văn Khánh…)  hoặc đôi khi có thêm khuynh hướng khác (như Hoàng Quý, Văn Cao, Phạm Duy…). Tuy chưa trở thành một trường phái, trào lưu với tuyên ngôn, lập trường nghệ thuật rõ rệt, tương tự ở lĩnh vực văn chương, nhưng các ca khúc lãng mạn, trữ tình đã có những nội dung riêng, chủ đề riêng làm nên tính chất đặc thù có thể phân biệt với các dòng nhạc khác xuất hiện trong cùng thời điểm cũng như phát triển trong các giai đoạn kế tiếp.
Những nội dung và chủ đề của âm nhạc lãng mạn Việt Nam còn được tìm thấy trong cả văn chương hoặc chịu ảnh hưởng từ văn chương. Ngoài các chủ đề phổ quát, các nhạc sĩ lãng mạn thường viết về cái tôi dưới mọi độ rung cảm xúc, trong đó thường nối kết nhiều nhất với tình yêu đam mê, say đắm hiện ra muôn màu muôn vẻ nhưng nét chủ đạo vẫn là sự buồn thương, tiếc nuối, sự não nùng và bi thiết. Nhiều sáng tác là cả sự cảm nhận về nỗi buồn lãng mạn, về tình yêu thiên nhiên, về hoài niệm quá khứ, về sự lang bạt, giang hồ, về nỗi cô đơn…
Dòng ca khúc lãng mạn xuất hiện trong giai đoạn đầu hình thành nền tân nhạc là một bộ phận lớn của nhạc tiền chiến, được biểu diễn và hát lại trong đời sống âm nhạc tại các đô thị miền Nam trước năm 1975. Chắc chắn nó sẽ có đời sống lâu dài và trở thành di sản tinh thần quý báu trong lịch sử nền âm nhạc Việt Nam./.
NGUYỄN PHÚ YÊN

TRÀO LƯU LÃNG MẠN Ở PHƯƠNG TÂY VÀ VIỆT NAM (PHẦN 1) – vc+

21 Th4

Trước khi tìm hiểu và khẳng định trào lưu lãng mạn ở Việt Nam, thiết tưởng cần phải nhìn lại sự hình thành, phát triển và nội dung cơ bản của trào lưu lãng mạn trong văn học nghệ thuật phương Tây – nguồn suối đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời của trào lưu lãng mạn ở Việt Nam.

A.TỔNG QUAN VỀ TRÀO LƯU lãng mẠn Ở phương Tây.
Kể từ những năm 30 của thế kỷ XIX, trong sự đảo lộn sâu sắc của xã hội và sự yếu thế của đức tin tôn giáo, chủ nghĩa tư bản bắt đầu phát triển và lên ngôi thống trị ở châu Âu tuy ở mỗi nước thời gian xuất hiện không giống nhau. Ở Pháp, cuộc đại cách mạng 1789 chưa thực hiện được lý tưởng thiết lập một xã hội công bằng “hợp lý” thì cuộc cách mạng 1830 đã phản bội lý tưởng ấy. Ở Đức muộn hơn, phải đến 1848 mới nổ ra cuộc cách mạng tư sản cùng lúc với hoạt động của các phong trào công nhân. Không thể phủ nhận rằng sự phát triển của xã hội đã là tiền đề cho sự phát triển về triết học, các khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Chính những bước tiến đó cho người ta nhận thức đúng đắn hơn về con người – nhân vật trung tâm của nghệ thuật, hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội. Trong bối cảnh đó đã xuất hiện nhiều khuynh hướng, nhiều trào lưu nghệ thuật, trong đó có chủ nghĩa lãng mạn, có mặt trong lĩnh vực văn chương, hội họa, âm nhạc…
I. Văn chương lãng mạn.
1. Khái quát.
Trong văn chương, chủ nghĩa lãng mạn thể hiện rõ nét nhất ở Pháp, nơi mà nền văn học phát triển rực rỡ, hay nói như  Maxime Gorki là “nền văn học chủ đạo của châu Âu”. Chúng ta biết trong sự phát triển nội tại của văn học có tính kế thừa, mỗi dòng văn học đều có quan hệ nhiều mặt với dòng văn học đi trước nó, có thể nó phát triển tính chất hoặc có thể phản ứng lại với cái đi trước. Chủ nghĩa lãng mạn, chống lại chủ nghĩa cổ điển, ra đời từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ban đầu là chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực và sau đó là chủ nghĩa lãng mạn tích cực, đã có ảnh hưởng rất to lớn đối với các nhà văn hiện thực sau này nữa. Thậm chí một số nhà văn hiện thực như  Prospée Mérimé và Honoré de Balzac ở thời kỳ sáng tác đầu tiên cũng là những nhà lãng mạn chủ nghĩa. Hoặc là Geoge Sand và Victor Hugo từ chủ nghĩa lãng mạn tích cực cũng tiến gần đến với chủ nghĩa hiện thực phê phán. Điều đó cho thấy, và cả sau này trong sự đấu tranh phức tạp của các trào lưu thế kỷ XIX, chủ nghĩa hiện thực phê phán tuy chống chủ nghĩa lãng mạn vẫn kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn, đặc biệt của chủ nghĩa lãng mạn tích cực.
Thật ra chủ nghĩa lãng mạn khởi đi từ Anh và Đức từ khoảng năm 1795, có mặt đồng thời ở hầu hết lĩnh vực nghệ thuật như văn học, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Trước đó trong nghệ thuật đã bàng bạc một thế giới cảm tính mới trong một số tác phẩm như Nightsthoughts on life (1742) của Edward Young, ConfessionsRêveries d’un promeneur solitaire (1782) của Jean Jacques Rousseau hay Werther (1774) của Goethe. Đầu thế kỷ XIX ở Pháp, Chateaubriand và Mme de Stael cũng khởi xướng chủ nghĩa lãng mạn, ở người này là do sở thích soi rọi nội tâm, ở người kia là sự ham hiểu biết về nền văn chương Đức non trẻ, nhưng phải đến khoảng năm 1820 thì dòng văn học lãng mạn mới định hình ở Pháp. Từ năm 1827, với V. Hugo và hội tụ quanh ông những Lamartine, A. de Musset, A. de Vigny, Gérard de Nerval và những họa sĩ như Delacroix, chủ nghĩa lãng mạn mới gây ảnh hưởng nổi bật trong đời sống nghệ thuật và tinh thần ở Pháp. Chính chủ nghĩa lãng mạn đã đổi mới hoàn toàn bộ mặt văn học Pháp. Những chủ đề của dòng văn học mới này như thiên nhiên hay sự kỳ quái thì trước đây văn học gần như từ chối. Những nhà lãng mạn trong khi đi tìm sự độc đáo và sự biểu cảm trực tiếp, cũng đã tự mình đưa ra những hình thức nghệ thuật mới, chẳng hạn trong thơ ca đó là thơ xuôi.
Thực tế không nghi ngờ gì nữa, chủ nghĩa lãng mạn là một hiện tượng nghệ thuật quan trọng nhất của thế kỷ XIX. Từ năm 1848 với sự sụp đổ của nền quân chủ ở Pháp, các trào lưu có vẻ suy yếu, họa chăng chỉ còn một vài tài năng như V. Hugo, nhưng với Baudelaire, và tiếp đó là những nhà siêu thực, ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn kéo dài cho đến cuối thế kỷ.
2. Định nghĩa.
Từ lãng mạn (romanticism, romantisme) xuất phát từ tình ca (romances) của thời trung cổ, để chỉ những bài thơ dài nói về những chàng kỵ sĩ, những anh hùng, về những vùng đất xa xôi và những cuộc tình lỡ làng… hoặc những bài ca mà người hát rong (trabadour) thường sử dụng trong ca diễn của mình. Nó xuất hiện sớm nhất ở Đức. Vậy lãng mạn là gì? Biélinski trong bài Văn học Nga, năm 1841, định nghĩa: “Chủ nghĩa lãng mạn, đó là thế giới nội tâm của con người, thế giới của tâm hồn và trái tim”. Có thể nhìn qua những nét chính thể hiện trong những tác phẩm lãng mạn để nhận ra rằng chủ nghĩa lãng mạn là thứ nghệ thuật ở đó nổi trội chất trữ tình. Đối lập với hiện thực là lãng mạn, đối lập với tự sự là trữ tình. Trữ tình là kết quả của việc biểu hiện cảm xúc, tâm trạng chủ quan của con người, do phản ánh ước mơ và khát vọng của con người nên thường vươn lên trên thực tại. Hai phạm trù nghệ thuật này tuy khác nhau nhưng thường đi đôi với nhau. Trữ tình chính là sự mở rộng chủ nghĩa cá nhân, hệ tại ở những hiện tượng cảm tính như tình cảm, cảm xúc về tình yêu, hi vọng, tuyệt vọng, hận thù, thiện cảm, ưu phiền… Georges Duhamel nhận xét: “Phát xuất từ tâm hồn cá nhân, thơ trữ tình tỏa ra khắp thế giới và làm nó thay hình đổi dạng. Trữ tình không chỉ là đặc tính của một loại thơ, đối với tính nhạy cảm của con người hiện đại, nó là thực chất, là điều kiện cần và đủ của thơ ca”. Nói như V. Hugo, lãng mạn là chủ nghĩa tự do trong văn chương. Chính vì sự đòi hỏi tự do mà phong trào lãng mạn đề cao cá nhân, phá bỏ những ràng buộc, qui luật chặt chẽ trong nghệ thuật, thoát khỏi những khuôn mẫu câu thúc. Bút pháp phóng khoáng, vần điệu đa dạng, từ ngữ được chọn lựa tùy theo mức cảm hứng, hành xử theo con tim dễ nhạy cảm và đam mê với giọng điệu thiết tha, đôi khi đạt đến tính nhân bản sâu sắc…
      
3. Những chủ đề chính.
Dĩ nhiên khó mà thâu tóm tất cả tính chất bao hàm trong các tác phẩm của những nhà lãng mạn. Tuy nhiên về đại thể, chúng ta có thể đúc kết một vài nét đặc thù làm nên những thuộc tính, những chủ đề của chủ nghĩa lãng mạn:
a. Sự khẳng định và thăng hoa cái tôi:
Chủ nghĩa lãng mạn tự khẳng định với những chủ đề mới lạ mà chủ nghĩa cổ điển, vốn thường đặt mình trong khuôn khổ lý trí, không đề cập đến. Đó là trổi vượt của tình cảm, cảm tính và sự tưởng tượng. Những nghệ sĩ thuộc thế hệ lãng mạn nhấn mạnh vai trò cá nhân khi những chuẩn mực cộng đồng vừa mới sụp đổ. Thật vậy, sau những niềm hi vọng mà cuộc cách mạng 1789 khêu gợi trong lòng người dân, sau những năm tháng Napoléon tập trung về cho chính mình ngọn lửa vinh quang, phong trào Phục hưng chỉ dựng lên một chế độ phản động và ti tiện. Sau nhiều thập niên, nước Pháp nằm ở trung tâm của lịch sử, là kẻ tiền phong trong cuộc phiêu lưu của con người, cái xã hội hầu như nhạt nhẽo một cách tuyệt vọng ấy đã được giao phó cho lớp trẻ của những năm 1815-1825. Đó chính là bước ngoặt lịch sử của chủ nghĩa lãng mạn Pháp.
Cái tôi được các nhà lãng mạn phân tích ở khía cạnh đặc thù, độc đáo với niềm kiêu hãnh riêng trong khi khẳng định những quyền hạn cá nhân cao cả. Sự trổi vượt của cái tôi diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng. Ở Stendhal, sự tôn thờ cái tôi hòa lẫn với sự kiếm tìm hạnh phúc hết mực, trong khi ở Victor Hugo (chẳng hạn trong tác phẩm Ce siècle avait deux ans) cái tôi của nhà thơ xây dựng nên trung tâm của sự sáng tạo thiêng liêng. Đối với Hugo, cũng như đối với Novalis và Holderlin trước đó, nhà thơ là một kẻ tiên tri, một kẻ thấu suốt. Ngôi vị cao cả của cái tôi và sự đối đầu với một xã hội buồn chán một cách tuyệt vọng, nhất là sau tấm gương Napoléon, đã giải thích sự quan trọng của niềm đam mê và sự tỉnh ngộ. Đam mê trước hết chính là đam mê tình yêu vì gặp trở ngại và phải vượt qua. Trong ý nghĩa này, tác phẩm lãng mạn nhất chính là Tristan et Isolde của Wagner. Tuy nhiên nếu tình yêu là chủ đề đầu tiên thì niềm đam mê còn thể hiện dưới nhiều hình thức khác như là sự nổi loạn (chẳng hạn Byron), khát vọng hiểu biết (Faust là một ví dụ khác có ảnh hưởng quan trọng từ bên ngoài, nhất là ở Gérard de Nerval) hoặc sự kiếm tìm Thượng đế…
Sau cùng những nhà lãng mạn còn nói đến niềm đam mê không được thỏa mãn, cái chết, sự tỉnh ngộ, nói về căn bệnh thời đại, sự luyến tiếc não nùng, về nỗi buồn, về nỗi bất hạnh, về tự tử như là mốt thời thượng và về tự do. Giờ đây những đề tài như thế ở phương Tây, bên cạnh các đề tài khác, không khác biệt bao nhiêu so với những gì mà dòng văn học lãng mạn viết ra từ hai trăm năm trước.
      
b. Nỗi buồn lãng mạn:
Nỗi buồn này có hoàn cảnh lịch sử của nó, đó là sự bất ổn sâu xa của xã hội do những diễn biến tình hình trong khoảng thời gian từ 1789 đến 1848. Chính trong hoàn cảnh đó tình cảm tỏ ra bất lực, khó mà thay đổi được dòng chảy lịch sử, đó là tình cảm về thời gian qua nhanh một cách khắc nghiệt. (Ở Việt Nam, các nhà thơ cổ điển cũng thường viết bóng câu cửa sổ). Nỗi buồn còn do hoàn cảnh xã hội: những nhà lãng mạn trẻ cảm thấy cô đơn, không thích nghi với hoàn cảnh và sống bên lề xã hội, đôi khi chống lại xã hội, không có sự hỗ trợ nào về tinh thần và đạo đức. Do những đảo lộn xã hội từ năm 1789,  những nhà lãng mạn không có chung tính cách với hai thế hệ đi trước họ.
Từ những nguyên nhân trên, họ thường có thái độ bất định, dễ bi quan, tuyệt vọng. Chính Goethe đã từng nói:“Tôi gọi cổ điển là khỏe mạnh, còn lãng mạn là ốm yếu”. Ở họ có nỗi buồn vô cớ, u uất; thích dòng nước mắt; lẩn trốn trong cái tôi, trong giấc mơ, trong thiên nhiên, trong nỗi cô đơn; có cảm giác bị nguyền rủa, bị số phận định đoạt, thỏa mãn với nỗi đau đời; bị mê hoặc bởi sự rùng rợn, kỳ quái, ảo giác; khao khát cái vô cùng, cái đẹp, nghĩa là thường đề cập tình yêu, thiên nhiên, Thượng đế… Họ còn mơ về nơi xa lắm, đó là cuộc viễn du có thật hay tưởng tượng.
     
c. Tình yêu thiên nhiên:
Đối với những nhà lãng mạn, thiên nhiên là đề tài chủ đạo. Đối với nhiều nhà thơ đầu thế kỷ XIX, thiên nhiên là hiện thân xác thực của Thượng đế. Nhưng đối với phần lớn các nhà lãng mạn, khung cảnh thiên nhiên phơi bày trước hết cho chính con người: mùa thucảnh tà dương từ đó đã là hình ảnh của cuộc đời về chiều, trong khi ngọn gió rềncây sậy biết thở than tượng trưng cho cảm xúc của nhà thơ. Cũng vậy trong âm nhạc, nhất là ở tác phẩm Giao hưởng đồng quê của Beethoven, đó không chỉ là sự miêu tả bức tranh thôn dã mà ở đó ta nghe tiếng vọng của sự thanh thản và nỗi giận dữ của một con người.
Thiên nhiên sau cùng là nơi chốn nghỉ ngơi và tĩnh tâm. Về với thiên nhiên, người ta quên đi bộ mặt xã hội, quên đi những phiền nhiễu của thế gian. Vì vậy hiển nhiên với một tâm hồn lãng mạn như Lamartine, người ta có thể thổ lộ tâm tình dễ dàng với cái hồ như với một người bạn tâm giao. Chính đó là dấu hiệu chứng tỏ những nhà thơ này thích trầm tư, trở về với nội tâm mà thiên nhiên như một tấm gương để anh ta dễ soi rọi.
d. Sự hoài niệm quá khứ:
Chúng ta biết rằng các tác giả của thời Phục hưng và thế kỷ cổ điển đặc biệt gắn liền với thời cổ đại Hy Lạp và La Mã. Dựa vào thế giá của ngôn ngữ Latinh mà Bellay đã bảo vệ tiếng Pháp, và dựa vào những Euripide, Eschyle hay Sophocle mà những kịch tác gia của Đại thế kỷ (thế kỷ XVII ở Pháp) khai thác đề tài. Đầu thế kỷ XIX tình hình có vẻ thay đổi. Từ nay trở đi sự qui chiếu vào thời cổ đại đã thoát xác để có thể nối kết với các thế hệ mới. Những nhà lãng mạn cũng thích đưa các nhân vật của mình vào thời quá khứ và có những đam mê mãnh liệt. Tác phẩm Lorenzaccio của Musset hay Cenci của Stendhal đã làm nổi bật cái lôgic của những nhà lãng mạn: sự bê tha, chém giết, cảnh loạn luân, rượu chè trụy lạc…, tất cả đều trong một bối cảnh dường như muốn làm đẹp cái bạo lực. Chắc rằng thời Trung cổ đã tạo nguồn cảm hứng cho những nhà lãng mạn – thời đại khác thường, lạ lẫm, ở đó những cuộc cưỡi ngựa đấu giáo, đấu thương, những nàng công chúa và những kỵ sĩ…, tất cả tạo nên một thế giới ít tôn trọng thực tế lịch sử. Tuy nhiên đôi khi, như ở tác giả Aloysius Bertrand, niềm hứng thú cũng dựa trên sự hiểu biết thật sự về lịch sử. Vả lại chúng ta cũng không quên rằng một trong những sử gia uy tín nhất của thế kỷ XIX – Michelet – cũng được xem như một nhà lãng mạn.
Mặt khác cũng nên nhắc đến sự tương đồng giữa sở thích về lịch sử, thường xuất hiện ở những nhà lãng mạn, và nỗi luyến tiếc não nùng, sự hoài niệm mà nhiều người trong số họ – có thể nhắc đến Lamartine, Nerval và ngay cả Baudelaire – đã cảm nhận ngay đối với tuổi thơ của họ. Điều này gợi nhớ, đúng như bản chất của chủ nghĩa lãng mạn, là cần tôn vinh những gì không thể trở lại, cần ưu ái những gì không thể thấu hiểu…
     
e. Thế giới đường xa xứ lạ:
Chủ nghĩa lãng mạn là tư tưởng về một nơi khác, một thế giới khác lạ. Để thoát khỏi thế giới ngày càng tầm thường, quí tộc, ở đó khoa học, tôn giáo không để lại một không gian kỳ diệu nào cho con người, các nhà lãng mạn mơ tưởng đến một nơi chốn thật xa vời với thực tế xã hội mà anh ta đang sống. Vì vậy phần lớn những nhà lãng mạn Pháp đi du lịch nhiều hơn cả so với các nhà văn của các thế kỷ trước. Hầu hết họ đã đến Ý, nhiều nhất là Tây Ban Nha và không hiếm những người, như Nerval hoặc Lamartine, đã dũng cảm đặt chân đến vùng Cận Đông và Trung Đông. Các vùng đất phía nam là nơi đã thu hút, quyến rũ các nhà lãng mạn nhiều nhất. Ở đó họ tìm hiểu phong tục, tập quán mới lạ, ít văn minh hơn. Thật vậy, không chỉ là phong cảnh tuyệt vời đã lôi kéo Hugo hoặc Musset đến Tây Ban Nha, đến Ý hoặc Bắc Phi mà nhất là cái hoang dã không hề hiện diện trong cuộc sống văn minh nơi họ lớn lên. Vả lại không phải vì Madrid hay Rome đã gợi hứng cho các nghệ sĩ Pháp vào đầu thế kỷ XIX mà đó là những phù thủy của Goya, những dòng nước của thành Venise hay đoàn người cưỡi ngựa ở Algérie, nói cách khác là tất cả những gì mang vẻ sơ khai kích thích trí tưởng tượng của các nhà thơ và họa sĩ.
Dĩ nhiên những nhà lãng mạn không chỉ biết đi du lịch, họ còn khám phá cảnh đường xa xứ lạ trong những cuốn sách hoặc những bức tranh của họ. Điều đó đôi khi cho phép họ dùng những từ ngữ mới (có thể đọc tác phẩm Grenade của Victor Hugo, trong hội họa có thể nghĩ đến Delacroix qua những màu sắc của ông). Nhưng thường hơn cả là sự đam mê nồng nhiệt, cháy bỏng mà sở thích đường xa xứ lạ đem lại (có thể đọc L’enfant, Sara la baigneuse của V.Hugo hoặc Henriquez của Aloysius Bertrand). Như vậy đường xa xứ lạ như một sự bù trừ cho đời sống xã hội, ở đó sự phiêu lưu hoàn toàn vắng mặt. Vì vậy đối với những ai muốn sống nhiệt thành, những miền đất xa xôi, nhất là những vùng hoang dã nhất, đều luôn có sức quyến rũ.
g. Sự hư ảo, quái dị, siêu nhiên:
Vương quốc của lý trí trải dài dọc thế kỷ XVIII: những thành kiến nặng nề hơn, sự mê tín mất tác dụng và ý tưởng về sự hiện hữu của Thượng đế vẫn phải được bàn cãi. Tuy nhiên điều rõ ràng là, mặc dù có sự tiến bộ của tư tưởng thuần lý, sự khao khát về một thế giới siêu nhiên, kỳ dị, khác với những gì mà giác quan con người nhận biết không hề mất đi. Nếu những nhà lãng mạn không có niềm tin vào những điều kỳ dị, vào phép mầu thì họ vẫn còn thích thú điều đó.
Sự thật là cuối thế kỷ XVIII, những tiểu thuyết đen của Lewis, Radcliffe và Maturin vẽ ra cảnh tượng những lâu đài bị ma ám, những hồn ma và những lời nguyền rủa của quỉ, do đó đã đưa văn chương đến những vùng đất mới. Những nhà lãng mạn Đức có trực giác về một thế giới khác ẩn giấu đối với nhiều người nhưng chỉ những nhà thơ mới có nhiệm vụ khám phá: Novalis có cảm giác người nghệ sĩ là một kẻ thấu thị, và tư tưởng này phổ biến ở Pháp đến cả Hugo, Nerval và sau này qua Baudelaire đến tận những nhà siêu thực.
Ở những nhà lãng mạn Pháp, những hình thức thể hiện sự kỳ dị rất đa dạng. Ở Bertrand, ví dụ tác phẩm Gaspard de la nuit, Ondine hay Scarbo, còn mắc nợ những hình tượng nửa người nửa thánh trong các câu chuyện dân gian; trong khi Nerval, với tác phẩm Chimères, khai thác nguồn cảm hứng bác học, bí hiểm, ở đó những truyền thống thừa hưởng từ thần thoại Hy Lạp hay Ai Cập lẫn lộn với những pháp thuật và những giấc mơ mà nhà thơ lấy ra từ những hoàn cảnh trong cuộc sống riêng. Chúng ta nhớ rằng qua chủ đề này, đối với Nerval, giấc mơ là một cuộc sống khác, cũng có thật, và sự điên cuồng tự thân không thể là sự yếu đuối nhưng là một hình thái nhận thức cho phép nhìn thấy rõ hơn, hiểu rõ hơn những sự kiện của thế giới. Với Hugo, trong À propos de la bouche d’ombre, sự kỳ dị liên kết với sự huyền bí và nhà thơ dùng tính chất siêu nhiên để nâng tầm tác phẩm của mình lên như truyền thuyết. Sau cùng Musset tiếp cận với sự kỳ dị bằng cách hòa hợp với tính chất ảo giác trong VisionNuits.
Như vậy ta thấy rằng ở những nhà lãng mạn, sự kỳ dị không phải là một đề tài văn chương có biên giới cố định; trái lại nó len lỏi khắp nơi, điều đó chẳng có gì ngạc nhiên vì nó mở rộng được kinh nghiệm văn chương, cho phép loại đề tài kỳ dị, đối với các nghệ sĩ đầu thế kỷ XIX cũng như ngày nay, trở thành một khuynh hướng của những nhà sáng tạo đích thực.
   
h. Sự siêu phàm:
Những nhà lãng mạn không bao giờ thỏa mãn với thế giới họ đang sống.Vì vậy ta không lấy gì làm ngạc nhiên trước chiều kích tinh thần thường chiếm vị trí quan trọng trong tác phẩm của họ. Niềm tin vào Thượng đế của họ mang dáng dấp mới hơn. Chính vì vậy khi nói về thiên nhiên, về những kinh nghiệm trong mối quan hệ trần gian, tình yêu hay thi hứng chẳng hạn, người nghệ sĩ đều cảm thấy sức mạnh của đấng thiêng liêng. Điều này giải thích những chủ đề tôn giáo trong thơ ca, chẳng hạn trong tác phẩm của Hugo và nhất là của Lamartine.
Nhưng đồng thời quỉ Satan cũng là bộ mặt hiện diện trong nghệ thuật lãng mạn ngày càng nhiều. Tuy nhiên, nếu quỉ sứ thật sự có trong tác phẩm của Bertrand hay Pétrus Borel, nó không còn là hoàng tử khủng khiếp của bóng đêm trong những tiểu thuyết đen và không còn khả năng gây ra sự buồn phiền và tai ác như đã thấy trong thơ của Baudelaire. Trong tác phẩm lãng mạn Pháp, quỉ sứ thường chỉ là một con vật đáng lo ngại và đáng chế giễu.
Một nhân vật khác cũng chiếm vị trí quan trọng trong văn chương lãng mạn Pháp, và dù là một con người bằng xương bằng thịt, nhưng với một số nghệ sĩ, cách mô tả của họ đã đưa ông ta đến chỗ siêu phàm, đó là Napoléon – một người không thể quên được, phần lớn những tác giả lãng mạn trẻ đã lớn lên bằng thế giá của ông ta. Thân sinh của Victor Hugo là sĩ quan trong quân đội của Bonaparte. Vị vua trị vì từ thời trẻ đã thành công với lòng dũng cảm và tài năng đã thống trị cả châu Âu. Vì thế không có gì ngạc nhiên khi thần tượng này, dù cho đã thất bại đi nữa, còn tiếp tục chói sáng, được ca ngợi lâu dài trong văn chương cũng như trong âm nhạc.
    
i. Sự dấn thân:
Những nhà lãng mạn không chỉ có nỗi buồn. Con người dấn thân là bộ mặt thứ hai của con người lãng mạn. Ngoài việc tôn thờ sự đam mê như là một nguồn năng lực, nhà lãng mạn còn nuôi một lý tưởng, đó là lòng nhân ái, lòng yêu nước, tinh thần tôn giáo và khát vọng tự do. Họ vẫn thường chiến đấu trong các phong trào nhân dân chống lại áp bức của giai cấp phong kiến và tư sản. Họ vẫn nghĩ đến một nhiệm vụ lịch sử phải hoàn thành. Nhà thơ cũng phải đi cùng nhân dân. Hugo và Lamartine chẳng hạn rao giảng lý tưởng biết thương yêu những kẻ thấp hèn, những nạn nhân của xã hội, một tình cảm bao la và thân thiện đối với nhân loại.
Những nhà lãng mạn Pháp từ lâu đã không nói đến chính trị trong tác phẩm của mình, tưởng như đề tài này không xứng đáng trong nghệ thuật của họ. Sau thất bại của Napoléon, phải nói rằng nội dung lịch sử được đề cập trong phong trào lãng mạn nhưng không mấy rõ nét. Thật vậy, nếu chủ nghĩa lãng mạn ở Ba Lan, Đức, Hungary,Ý gắn kết với những sự kiện chính trị chính vì ở đó những nhà lãng mạn đã đứng trong các phong trào đấu tranh của nhân dân thì ở Pháp, do các nhà lãng mạn xuất thân từ tầng lớp khá giả, họ còn xa cách với các cuộc đấu tranh của thợ thuyền. Tuy vậy, nếu phần lớn các nhà lãng mạn Pháp lãnh đạm với các tranh luận chính trị thì Hugo và Lamartine là ngoại lệ. Hugo quan tâm đến số phận của nước Hy Lạp và Ba Lan, bên cạnh thiện cảm đối với nước Pháp dù vẫn còn luyến tiếc Napoléon. Lamartine đã là thị trưởng Mâcon từ 1812 và cuộc dấn thân về mặt xã hội ngày càng mạnh mẽ kể từ 1837. Và đến 1848, trong một thời kỳ sôi động của lịch sử nước Pháp, ông đã là bộ trưởng ngoại giao thời ấy. Chỉ sau đó những nhà chính trị của đế chế mới không làm ông vừa lòng nên ông xa lánh đại sự. Còn Hugo ngược lại, từ chốn lưu đày ở Jersey, ông khinh bỉ Napoléon III ra mặt.
Như vậy từ sau năm 1848, sự dấn thân chính trị đã trở thành đề tài chủ đạo của chủ nghĩa lãng mạn. Nhất là ở Hugo, mọi quan tâm về xã hội được diễn tả một cách khá nhiệt thành. Những bài thơ như Souvenir de la nuit du quatre và những tuyển tập như Les Châtiments hay L’année terrible được xem như những tác phẩm mạnh mẽ nhất, xứng đáng nhất của cả nền thơ ca Pháp, tìm lại những lý thú muộn màng mà những nhà lãng mạn Pháp, lâu nay vốn mơ mộng, nay đã nhận ra trước dòng chảy lịch sử thế giới.
k. Đêm tối:
Đêm tối là một trong những chủ đề điển hình nhất của chủ nghĩa lãng mạn. Thật vậy ngay từ giữa thế kỷ XVIII, Edward Young – một trong nhà lãng mạn tiên phong của Anh – đã viết tác phẩm Nights – thoughts on life, ngụ ý rằng bên cạnh ánh sáng của trí tuệ còn có những vẻ đẹp khác, mơ hồ hơn, có thể được khám phá. Quả thật, nếu những nhà lãng mạn thường bị bóng đêm mê hoặc, trước hết chính vì bóng đêm thường có vị trí ưu thế khi diễn tả sự kỳ bí và giấc mơ. Sự câu thúc đối với cộng đồng con người, xã hội và việc làm, mọi xiềng xích trong cuộc sống mà những nhà lãng mạn cho là quá tầm thường, tất cả điều đó tan biến đi dưới bức màn đen nặng nề. Tác phẩm Nuits của Musset, Gaspard de la nuit của Aloysius Bertrand hoàn toàn tiêu biểu trong chủ đề này của chủ nghĩa lãng mạn. Ở những tác giả khác, bóng đêm gần gũi với sự kỳ bí, tượng trưng cho tuổi già, tuổi xế chiều. Từ đó, giống như mùa thu trước mùa xuân, hoàng hôn đi trước đêm tối báo hiệu những đốm lửa cuối cùng của cuộc sống trước khi cái chết bao trùm tất cả. Đó chính là cảnh tượng mà Hugo mô tả trong Soleils couchants; đó cũng chính là cái đẹp rộng lớn đầy hoài niệm mà, dù thuộc thế hệ sau của những nhà lãng mạn, Baudelaire cho ta cảm thấy được trong Recueillement, một trong những thi phẩm đẹp nhất của ông.
Cuối cùng, ta nhớ rằng nếu chủ đề đêm tối thường ít xuất hiện ở những họa sĩ lãng mạn (không có gì ngạc nhiên vì họa sĩ thích màu sắc hơn) thì ngược lại trở thành chủ đề trung tâm của nhiều nhạc sĩ đầu thế kỷ XIX.
II. Hội họa lãng mạn.
Các họa sĩ lãng mạn đi ngược lại khuynh hướng tân cổ điển là thiên về hình họa, đề cao lý tưởng theo tinh thần Hy Lạp. Hội họa lãng mạn lấy nguồn cảm hứng từ những trường đoạn tiểu thuyết mang nhiều kịch tính với những đường nét linh hoạt hơn, những màu sắc tươi sáng hơn, tạo tính chất động trong tranh nhiều hơn. Ở Pháp, người khởi xướng hội họa lãng mạn là Théodore Géricault. Năm 1819, ông bất ngờ trưng bày bức tranh đồ sộ Chiếc bè Méduse nói về cái chết của hàng trăm con người bị bỏ rơi khi tàu đắm. Bức tranh đã làm thay đổi những qui tắc tạo hình mẫu mực của hội họa chính thống bằng bố cục tự do, màu sắc mãnh liệt. Delacroix kế tục sự nghiệp của Géricault, bỏ qua ảnh hưởng của tân cổ điển trong thời kỳ đầu sáng tác. Bức tranh Chiếc thuyền của Dante của ông lấy cảm hứng từ một đoạn trường ca của Dante nói về sự khủng khiếp của địa ngục đã gây sự xúc động lớn cho người xem. Cũng vậy trong tác phẩm Vụ tàn sát ở Scio, Delacroix đã làm dư luận công phẫn bởi màu sắc được sử dụng cho đề tài này. Bức tranh tiêu biểu của ông là Chiến lũy miêu tả cuộc cách mạng năm 1850 được Victor Hugo nhắc đến. Đúng là những họa sĩ lãng mạn không ngần ngại phô diễn những cảnh tượng dữ dội khả dĩ gây ấn tượng mạnh nơi công chúng. Trong tác phẩm Vụ xử bắn ngày 3-5-1808, họa sĩ Goya đã bi thảm hóa chủ đề bằng cách sử dụng sự tương phản giữa ánh sáng nơi những người nông dân Tây Ban Nha và bóng tối nơi những kẻ áp bức – những binh lính của đội quân Napoléon. Những động tác hình thể ở những người Tây Ban Nha đặc biệt đầy biểu cảm: người thì đưa tay lên trời, kẻ thì hai tay ôm đầu. Những mảng màu (quần vàng, áo trắng, máu đỏ) rõ ràng đã làm nên sức mạnh của bức tranh.
Những nẻo đường nghệ thuật mới cũng được Caspar David Friedrich khai phá.Với tác phẩm Hi vọng đắm chìm, qua hình tượng một chiếc tàu bị tảng băng đè nát, chủ đề cũng khó cho ta nhận ra thông điệp mà tác giả muốn nhắn gửi từ việc va chạm, đổ vỡ này. Còn tác phẩm Người đàn ngồi bên cửa sổ cho ta cảm giác về một cảnh tượng đơn giản, nhưng cái mà người đàn bà lắng nhìn thì chúng ta khó có thể hình dung, đó là cảm giác về sự kỳ diệu toát ra từ tác phẩm.
Hội họa lãng mạn cũng đặt ra những chủ đề mới và đem lại niềm hứng thú cho người nghệ sĩ khi đứng trước thiên nhiên. Chắc chắn rằng chủ nghĩa lãng mạn, trong khi biến nghệ sĩ thành kẻ mơ mộng hão huyền, một người sáng tạo với đầy đủ ý nghĩa của danh từ này, đã mở ra những con đường mới dẫn đến nền nghệ thuật hiện đại.
III. Âm nhạc lãng mạn.
Như nhiều cuộc cách mạng chính trị thiết lập trật tự xã hội mới, các nhạc sĩ lãng mạn cũng đem lại nền tảng âm nhạc mới, trong đó nổi bật chiều sâu tình cảm. Họ xuất hiện sớm từ đầu thế kỷ XVIII như Felix Mendelssohn, Robert Schumann (Đức), Frederic Chopin (Ba Lan), Hector Berlioz (Pháp), Franz Liszt (Hungary)… Đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa lãng mạn là dòng chủ đạo trong âm nhạc. Từ năm 1810, Beethoven đã tiếp cận khuynh hướng này nhưng phải từ 1821 trở đi, với tác phẩm Freischutz của Carl Maria von Weber, tiếp đó với những tác phẩm viết cho piano hay cho nhạc thính phòng do Schubert sáng tác mà chủ nghĩa lãng mạn được khẳng định. Sau này những tác phẩm của Giuseppe Verdi, củaWagner đã tạo ra ảnh hưởng nổi bật trong nền  âm nhạc giữa thế kỷ XIX. Những nhạc sĩ lãng mạn cuối cùng ở nửa sau thế kỷ này như Johannes Brahms, Peter Ilyich Tchaikovsky đã sáng tạo những bản giao hưởng, ballet, concerto giàu có và phong phú hơn. Rồi Gustav Mahler Bruckner đã cho phép khuynh hướng này kéo dài đến thế kỷ XX.
Âm nhạc lãng mạn hiển nhiên không phải được nhìn nhận chỉ để làm dịu tâm hồn. Ngược lại, âm nhạc này là để khêu gợi và đảo lộn cảm xúc. Cây đàn piano, thế chỗ cho cây clavecin, từ nay cho phép khai thác sự tương phản mạnh mẽ của những trạng thái tình cảm như Beethoven (trong Hammerklavier) và Chopin (trong phần cuối tác phẩm Révolutionnaire) đã làm. Cũng phương thức ấy, dàn nhạc dần dần trở nên táo bạo và tinh vi đã thật sự rõ ràng hơn trong Giao hưởng số 9 của Beethoven và trong Fantastique của Berlioz. Những âm thanh các nhà lãng mạn sáng tạo đặc biệt có màu sắc hơn, gợi cảm hơn những nhà cổ điển như Haydn hoặc Mozart.
Với những nhà lãng mạn, những hình thức thừa hưởng từ thế kỷ XVIII (nhất là thể loại sonate) rực rỡ hơn lên, tựa như thời kỳ bi kịch trong kịch nghệ. Vấn đề nhất quán của tác phẩm được đặt ra với tầm kịch liệt đặc biệt. Một vài nhạc sĩ, như Schumann trong những tác phẩm viết cho piano (Kinderszenen, KreislerianaCarnaval), còn ưu ái tính chất rực rỡ và từ đó tác phẩm âm nhạc được cấu tạo với nhiều đoạn ít nhiều được phát triển. Ở Wagner thì trái lại, thể loại opera không còn được phân chia thành những con số tương đối ngắn như trường hợp Mozart hoặc Rossini: thay vào đó tác phẩm opera được hình thành từ dòng chảy dài hơi và mạnh mẽ để người nghe cảm nhận được cao trào tình cảm của nhân vật, và chính sự trở về với chủ đề (leitmotiv) mà tác phẩm giữ được sự nhất quán. Cũng cách thức tương tự như thế, Berlioz đã mang đến một giai điệu không ngừng nghỉ, và chính xoay quanh một ý tưởng cố định như thế ông đã viết nên Symphonie Fantastique.
Ở Liszt, những tác phẩm thơ giao hưởng đều dựa trên những truyện kể văn học. Chỉ nhắc đến ba tác phẩm Ce qu’on entend sur la montagneMazeppa của Hugo, cũng như Préludes của Lamartine đã cung cấp cho Liszt chất liệu làm nên những sáng tác qui mô. Những tác phẩm văn học này đã tạo dựng được tên tuổi tuyệt vời trong tương quan âm nhạc và thơ ca mà gần như hầu hết các nhà lãng mạn đều đặc biệt quan tâm.
Nếu văn chương lãng mạn đã chiếm một không gian lớn lao trong nửa đầu thế kỷ XIX thì phải nhìn nhận rằng phiên bản âm nhạc của nó có lẽ cũng có một trọng lượng lớn lao như thế.
NGUYỄN PHÚ YÊN

Sức mạnh của BRICS – TG&VN

21 Th4
LTS. Sở hữu số dân và dự trữ ngoại tệ của gần một nửa thế giới, với sức tăng trưởng mạnh mẽ, nhóm 5 nước, gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi (BRICS), đang được chú ý như một chủ thể độc lập và có sức nặng trong sân chơi kinh tế – chính trị toàn cầu. Tuy nhiên, những mâu thuẫn nội tại và thách thức từ bên ngoài có giúp nhóm nước này đáp ứng được kỳ vọng đó?

Sức mạnh từ phép cộng

Cách đây hơn một thập kỷ, năm 2001, Trưởng ban kinh tế của Hãng Goldman Sachs khi đó là Jim ONeil, trong danh mục “Thị trường nhiều hứa hẹn trên thế giới”, ông đã coi bốn nước Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc (Brazil, Russia, India, China, viết tắt BRIC) là “Viên gạch vàng” (Golden BRIC). Jim ONeil khi đó không thể ngờ rằng 4 nước có nền kinh tế đang trỗi dậy mạnh mẽ trong danh mục “Thị trường nhiều hứa hẹn” nay đã trở thành Nhóm “BRICS” có tầm vóc quan trọng đối với kinh tế thế giới hiện nay. Tháng 5/2008, Ngoại trưởng bốn nước lần đầu tiên đã gặp nhau tại thành phố Yekaterinburg (Nga) và ra Thông cáo báo chí nhấn mạnh bốn nước sẽ “tăng cường đối thoại trên cơ sở tôn trọng và tin cậy lẫn nhau vì lợi ích chung, hơn nữa có quan điểm gần gũi và giống nhau trong giải quyết vấn đề toàn cầu.” Tiếp đó, Bộ trưởng tài chính 4 nước họp tại Horsham (Anh) vào tháng 3/2009 thống nhất hành động và chủ trương tiến hành cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay và đòi quyền phát ngôn lớn hơn trên diễn đàn kinh tế thế giới. Tháng 5/2009, Người phụ trách Cơ quan an ninh bốn nước lần đầu tiên đã gặp nhau tại Matxcơva thảo luận hợp tác an ninh. Các điều kiện hình thành một Nhóm nước mới đã chín muồi, nên ngày 16/6/2009 Hội nghị thượng đỉnh BRIC đầu tiên đã họp tại Yekaterinburg. Đây là cái mốc đánh dấu Nhóm BRIC chính thức hình thành, và hàng năm đều tiến hành gặp mặt. Năm 2010, Cộng hòa Nam Phi gia nhập, nên BRICS có 5 nước thành viên như hiện nay.

Quả thật nếu trông vào những con số thống kê, BRICS có những tiềm năng thật ấn tượng. Nhóm này sở hữu những nguồn quan trọng nhất cho sự tăng trưởng, như chiếm hơn 1/4 diện tích đất đai, 41% dân số, gần 25% GDP, 15% thương mại và gần 50% tổng dự trữ ngoại tệ và vàng của thế giới. Dự trữ ngoại tệ của BRICS hiện tới trên 4.100 tỉ USD, trong đó của Trung Quốc trên 3.200 tỉ USD, của Brazil 200 tỉ USD, của Nga 404 tỉ USD, của Ấn Độ 254 tỉ USD.

Tiêu chí chủ yếu của các cường quốc BRICS là sự nâng cao rõ rệt về thực lực cũng như kinh tế tăng trưởng nhanh bền vững. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đa số các nước đang phát triển coi việc xây dựng kinh tế là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, dồn sức vào thúc đẩy việc cải cách và chuyển đổi mô hình thể chế kinh tế, trong đó các nước lớn đang phát triển đi đầu trong trào lưu phát triển và cải cách trên thế giới. Các nước lớn đang phát triển đã giành được những thành quả trên con đường tìm kiếm sự phát triển phù hợp với tình hình của đất nước mình, cộng thêm vai trò thúc đẩy của toàn cầu hóa sâu sắc, kinh tế đã thực hiện được tăng trưởng ổn định và nhanh chóng. Vào đầu thế kỷ này, nhóm 4 nước BRIC (chưa tính Nam Phi, gia nhập năm 2010) là những nước tỏa sáng nhất của nền kinh tế thế giới, trong đó mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Trung Quốc từ năm 2002 đến năm 2008 đã vượt qua con số 10%, năm 2007 lên tới 11,9%, Ấn Độ đạt 9,3%.Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 có mức ảnh hưởng khác nhau đối với các nước. Nước lớn phương Tây như Mỹ là nước phải hứng chịu “thiệt hại nặng nề” của cuộc khủng hoảng này, kinh tế tụt dốc nghiêm trọng, có một số nước thậm chí xuất hiện nền kinh tế suy thoái. Năm 2009, kinh tế Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản đều rơi vào sự tăng trưởng âm. Trong khi đó, các nước BRICS kinh tế tăng trưởng tuy có phần chậm, nhưng mức suy giảm không lớn, vẫn ở mức tăng trưởng tương đối cao, tăng trưởng vẫn ở mức trên 5%, đặc biệt tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc còn vượt xa mức này.

Điều đáng nói là trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phục hồi chậm chạp sau khủng hoảng năm 2008, BRICS đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ chưa từng có. Tổng GDP của nhóm BRICS (trước khi Nam Phi gia nhập vào cuối năm 2010) đã tăng gấp bốn lần, với 12 nghìn tỷ USD năm 2010, 13.600 tỷ USD năm 2011, đóng góp 45% vào tăng trưởng của kinh tế thế giới. Chỉ tính riêng năm 2001-2010, kim ngạch thương mại giữa năm nước đã đạt 230 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 28%. Sự đóng góp của 4 nước BRICS đầu tiên vào kinh tế của thế giới trong 5 năm qua cũng tăng mạnh, đạt gần 50%. Năm 2007, chỉ tính riêng sự đóng góp của Trung Quốc đối với việc tăng trưởng kinh tế của thế giới đã vượt qua 12%, cao hơn so với Mỹ. Báo cáo mới đây của tập đoàn Goldman Sachs (Mỹ) dự báo, 4 nước BRIC đầu tiên sẽ “đi đầu thống lĩnh nền kinh tế thế giới” trong thế kỷ này; trong năm 2040, Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ trở thành nước lớn kinh tế hàng đầu thế giới; trong năm 2033, Ấn Độ có thể trở thành nước lớn kinh tế thứ ba trên thế giới.

Nhóm nước BRICS, hay còn gọi là “các cường quốc hưng thịnh” đã trở thành đầu tàu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thế giới, phát huy vai trò quan trọng chưa từng thấy trong hệ thống kinh tế thế giới. Thậm chí, sự gia tăng ảnh hưởng của BRICS đã được lãnh đạo các nước phương Tây như Thủ tướng Anh Gordon Brown và Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy phải thừa nhận khi tuyên bố: “Nếu xa rời các cường quốc hưng thịnh này, bất kể các vấn đề quốc tế quan trọng nào đều không thể giải quyết tốt được”.

Chất kết dính: Tiếng nói đối kháng với phương Tây

Trong các diễn đàn chung, các cuộc gặp thượng đỉnh của nhóm, các nhà lãnh đạo BRICS đều nhất trí đoàn kết trong nhiều vấn đề quốc tế, thể hiện quyết tâm cùng phấn đấu chia sẻ nhiều lợi ích quốc tế hơn nữa, tiếp tục củng cố khối liên minh năm nước, đồng thời cũng thể hiện cuộc đọ sức mạnh mẽ giữa BRICS với các nước phương Tây trong một số các vấn đề.

Thứ nhất là thúc đẩy đàm phán thương mại toàn cầu Doha. Mặc dù các vòng đàm phán Doha đều là đàm phán đa phương nhưng nhân vật chính thực sự của các cuộc đàm phán là các nước trong nhóm G20 bao gồm Mỹ, EU và các nước đang phát triển như Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc…BRICS đồng lòng kiến nghị xây dựng một hệ thống mậu dịch quốc tế tự do, công bằng và hợp lý, phản đối bảo hộ dưới mọi hình thức, đồng thời tăng cường hệ thống thương mại đa phương.

Thứ hai là cải cách hệ thống tài chính quốc tế, cùng chống lại sự bá quyền của đồng USD và thúc đẩy đa dạng hóa các loại tiền tệ dự trữ quốc tế. Sự bá quyền của đồng USD và nỗi khổ do nó đem lại cho các nước khác là rất lớn. Nhìn tình trạng lúng túng xử lý vấn đề lạm phát ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi có thể thấy rõ điều này. BRICS luôn cảnh báo viễn cảnh dài hạn của đồng USD do thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách của Mỹ, bày tỏ sự bất mãn đối với đặc quyền dự trữ tiền tệ chủ yếu của toàn cầu mang lại cho Mỹ. Các nhà lãnh đạo khối BRICS kêu gọi xây dựng một hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế có thể “cung cấp ổn định và chắc chắn”, đồng thời thiết lập một hệ thống dự trữ ngoại hối toàn diện và thảo luận về quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của IMF.

Thứ ba là bình đẳng trách nhiệm giải quyết vấn đề khí hậu và năng lượng. Trong khi các quốc gia phương Tây không muốn chịu trách nhiệm cho lịch sử công nghiệp hóa của mình, lại ép buộc các nước đang phát triển đi sau phải gánh vác nhiều trách nhiệm quốc tế hơn. Các nước BRICS duy trì quan điểm các nước phát triển và các nước đang phát triển cần kiên trì nguyên tắc cùng chịu trách nhiệm nhưng có phân định, hợp tác ứng phó với thách thức biến đổi khí hậu mang tính toàn cầu này.

Cuối cùng là xu thế 5 nước BRICS đối thoại độc lập với khối G8 ngày càng rõ rệt. Năm 2008, trong thời gian diễn ra Hội nghị đối thoại giữa lãnh đạo các nước này với khối G8 (8+5) tại hồ Toya, Hokkaido Nhật Bản, lãnh đạo BRICS đã tổ chức cuộc gặp tập thể và công bố tuyên bố chính trị chung, thúc đẩy hợp tác nam-nam, đối thoại nam-bắc, thúc đẩy cùng nhau phát triển cũng như tiến hành thảo luận sâu sắc về vấn đề mang tính toàn cầu mà các bên cùng quan tâm, đạt được sự nhất trí quan trọng.

Có thể thấy, các nước BRIC mong muốn hợp tác với nhau là do mưu cầu lợi ích chung thúc đẩy, nhưng vẫn có ý kiến cho rằng cách thức hợp tác này không đủ sâu để loại bỏ những mâu thuẫn đến từ việc cạnh tranh lẫn nhau.

Thiếu kế hoạch hành động chung

Theo một logic thường thấy, sức mạnh của nhóm luôn tiềm ẩn nguy cơ bị giảm sút khi xuất hiện mâu thuẫn bên trong. Mặc dù có những quan điểm chung về các vấn đề toàn cầu trong đối thoại với phương Tây nhưng các nước BRICS lại đang tồn tại những khác biệt đến mức các lợi ích chung của họ không thể biến thành một kế hoạch hành động chung. Chính các khác biệt này đang khiến hợp tác giữa các nước BRICS tiến triển tương đối chậm, ngược với sự phát triển khá nhanh của từng thành viên.

Trước tiên là sự rạn nứt trong việc tìm kiếm một bản sắc chung và sự hợp tác được thể chế hóa của nhóm 5 nền kinh tế đang nổi này, trong đó đáng chú ý là thảo luận thành lập một ngân hàng phát triển chung, có thể hỗ trợ việc huy động các khoản tiết kiệm giữa các nước, ngân hàng phát triển chung theo mô hình của Ngân hàng Thế giới (WB). Ngân hàng trên sẽ yêu cầu các thành viên BRICS đóng góp vốn nhằm tài trợ cho các dự án cải thiện cơ sở hạ tầng cũng như cung cấp các khoản vay dài hạn hơn để đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giống như cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay ở châu Âu. Tuy nhiên, Trung Quốc đang tìm cách chi phối nhóm nước này bằng những việc như công khai tìm cách kiểm soát ngân hàng phát triển chung đang được đề xuất thành lập, điều mà Ấn Độ và Nga sẽ rất khó chấp nhận.

Tiếp đến là việc các nước BRICS dù không hài lòng về quy chế coi đồng USD như đồng tiền dự trữ của thế giới nhưng lại không nhất trí được về cách thức phản ứng trong vấn đề này. Cấu trúc BRICS giúp Trung Quốc có cơ sở để mở rộng vai trò quốc tế của đồng NDT. Trong nỗ lực đưa đồng NDT trở thành một đồng tiền toàn cầu, có thể cạnh tranh với đồng USD và đồng euro, Trung Quốc đang có kế hoạch mở rộng các khoản vay bằng đồng NDT cho các thành viên BRICS khác. Việc cho vay và buôn bán bằng đồng NDT dường như đang thúc đẩy hơn nữa vị thế và ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc song nó lại đang ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường sản xuất tại các nước BRICS khác, nhất là Ấn Độ và Brazil.

Trung Quốc cũng không có chung quan điểm với các nước BRICS khác trong vấn đề cải cách thể chế toàn cầu. Nước này muốn xem xét lại cấu trúc của hệ thống tài chính thế giới, tìm cách cải cách hệ thống Bretton Woods vốn hầu như không thay đổi từ giữa thế kỷ 20 và phục vụ lợi ích của các nước phương Tây nhưng lại phản đối việc mở rộng số thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc vì vẫn muốn là quốc gia châu Á duy nhất có chiếc ghế thường trực tại Hội đồng bảo an, một lập trường mâu thuẫn với Ấn Độ.

Các nước BRIC cũng cạnh tranh quyết liệt về thị trường xuất khẩu khi đều coi Mỹ, châu Âu và Nhật Bản là thị trường xuất khẩu chủ chốt của mình. Ngay trong nội bộ BRIC cũng không có sự thống nhất về lợi ích. Brazil và Nga hy vọng giá năng lượng và nguyên liệu thô tăng lên để hưởng lợi, nhưng Trung Quốc và Ấn Độ – hai nước lớn về sản xuất hàng hóa – lại muốn giá năng lượng và nguyên liệu thô giảm xuống. Đây chính là mâu thuẫn căn bản về lợi ích giữa các nước BRIC. Hay Brazil – nước nông nghiệp có sức cạnh tranh nhất thế giới nhưng không thể tiếp cận thị trường nông sản Ấn Độ vì New Dehli rất quan tâm bảo vệ 300 triệu dân trong khu vực nông nghiệp có sức cạnh tranh rất thấp của họ. Trong khi đó, Trung Quốc vốn có quan hệ mạnh và đang tăng lên với cả 3 nước BRIC khi là nước “khát” nguồn nguyên liệu thô của Nga và Brazil, đồng thời cũng mong muốn bán sản phẩm vào thị trường đang tăng trưởng mạnh mẽ của Ấn Độ.

Sau 4 năm kể từ khi khởi động, 3 năm kể từ Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên, không thể phủ nhận nhịp độ hình thành khá nhanh của BRICS trong nỗ lực trở thành một công cụ chính trong việc định hình cấu trúc quản trị toàn cầu, cho thấy “hình hài” của một trật tự thế giới với những sáng kiến toàn cầu đầu tiên thoát khỏi sự lệ thuộc của phương Tây. Song BRICS mặc dù đã đưa ra không ít những đề xuất nhiều triển vọng nhưng việc thực hiện những đề xuất đó bị hạn chế bởi không có quyết tâm chính trị và cơ chế tổ chức tương ứng. Để trở thành đối trọng và trở thành một cực trong cục diện kinh tế chính trị thế giới, rõ ràng BRICS cần có quyết tâm lớn hơn nữa trong việc thực hiện những mục tiêu chung. Và nếu BRICS đạt được mục tiêu của họ, điều đó sẽ tốt cho cả thế giới.

Chu Khang

BRICS và tuyến cáp quang riêng

Theo dự án có tên BRICS Cable được Nam Phi đưa ra, tuyến cáp viễn thông này sẽ nối Vladivostok (Nga) với Miami (Mỹ) chạy qua Shantou (Trung Quốc), Mumbai (Ấn Độ) và Fortaleza (Nam Phi). Với chiều dài 34.000km, đây là tuyến cáp quang dài thứ ba thế giới.

Nhìn lướt qua bản đồ các tuyến cáp ngầm xuyên đại dương hiện đang tồn tại cho thấy, các dữ liệu muốn “đi” từ Trung Quốc đến Brazil sẽ phải đi qua các trung tâm ở châu Âu hay ở Mỹ, chịu các chi phí lớn và có “nguy cơ tiềm tàng bị các nước không thuộc BRICS chặn lại các thông tin tài chính và an ninh quan trọng”, theo ngôn ngữ trong dự án BRICS Cable. Tuyến cáp mới dự kiến đi vào sử dụng cuối năm 2014 sẽ kết nối với tuyến WACS ở bờ biển phía Tây châu Phi và tuyến EASSY và SEACOM ở phía đông lục địa này, tạo điều kiện cho 21 quốc gia Châu Phi kết nối nhanh chóng với mạng lưới BRICS đồng thời góp phần cải thiện việc lưu thông và trao đổi về công nghệ và thương mại.

Vậy tại sao tuyến cáp này lại kết nối cả nước Mỹ? Theo Andrew Mthembu, Chủ tịch tập đoàn i3 Africa and Imphandze Investment (Nam Phi), “không thể loại Mỹ ra ngoài vì nếu bỏ Mỹ ra khỏi bức tranh tức là loại bỏ sự lưu thông. Mỹ vẫn là nền kinh tế quan trọng với Brics”. Thực sự, bản thân Mthembu cũng ngạc nhiên khi không có nhiều ý kiến phản đối việc mở rộng tuyến cáp quang này tới Mỹ khi dự án được thảo luận tại New Delhi. Các cân nhắc về thương mại rõ ràng quan trọng hơn là việc bỏ qua Mỹ.

Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma từng nói rằng tuyến cáp sẽ giúp giải quyết “thách thức về mặt kết nối từ lâu vẫn được cho là rào cản thương mại nội khối BRICS”. Nhưng riêng với Nam Phi, đây là một nỗ lực để chứng tỏ vai trò của một “lính mới” trong khối. Vẫn bị xem là “quá sức” khi tham gia câu lạc bộ của các nền kinh tế mới nổi vì nền kinh tế bị cho là “nhỏ” hơn rất nhiều so với các nước còn lại trong nhóm BRICS, Nam Phi cần phải thúc đẩy các dự án quan trọng chiến lược đáng một cách thuyết phục – và BRICS Cable là một dự án như vậy.

Từ tháng 3/2011, chính phủ các nước BRICS nhiều tập đoàn viễn thông đã nghiên cứu dự án và khả năng tài chính cũng như khung thời gian thực hiện. Họ sẽ mất ít nhất 6 tháng để xin giấy phép các chính phủ liên quan. Đây là khâu mất thời gian nhất vì mỗi nước lại có quy chế và luật lệ riêng. Dù vậy, ông Mthembu vẫn lạc quan vì dự án đã được đưa vào trong tuyên bố chung của BRICS sau cuộc họp thượng đỉnh và đã được các chính phủ thành viên ủng hộ “về nguyên tắc”.

Bảo Trâm

Sau BRIC sẽ là CIVETS?

Những năm qua, khối BRIC tiếp tục dẫn dắt sự chuyển dịch của nền kinh tế toàn cầu hướng tới các nền kinh tế đang phát triển. Giờ đây, ngoài BRICS, các nhà đầu tư quốc tế ngày càng quan tâm hơn tới một loạt nước đang nổi lên khác. Bộ phận phân tích thông tin EIU thuộc Tạp chí The Economist (Anh) mới đây cho rằng sau BRIC sẽ là CIVETS, gồm các nước Colombia, Indonesia, Việt Nam, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi, sẽ là khối có tốc độ phát triển cao, bền vững nhất và sẽ là đích đến tốt nhất cho các nhà đầu tư.

Khái niệm BRIC, gồm các nước Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, được Goldman Sachs đưa ra từ năm 2001. BRIC đã trở thành đối thủ của các nền kinh tế phát triển G-7, và tổng GDP của BRIC dự kiến vượt G-7 vào năm 2020. Gần đây, giới kinh tế bắt đầu đề cập tới nhóm các nền kinh tế mới nổi sau BRIC. Một số khái niệm đã được đưa ra, song đáng chú ý là khái niệm về CIVETS, những nước có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao, ổn định trong dài hạn. Các nền kinh tế này đều có số dân đông và tỷ lệ dân số trẻ cao, có các hệ thống tài chính tương đối phát triển, ít nhất là tại các quốc gia không thuộc châu Á.

Hiện tại, không có thành viên nào trong CIVETS có mức lạm phát phi mã, ngoại trừ mức lạm phát tương đối cao tại Ai Cập hiện nay. CIVETS cũng không bị thâm hụt tài khoản vãng lai cao do lạm phát. Tại các nước khác, nhất là trong G-7, thâm hụt ngân sách đều tăng cao do khủng hoảng toàn cầu, nhưng nợ công tại các nước CIVETS lại tương đối thấp. Lo ngại nhất trong lĩnh vực này là Ai Cập, với nợ công hiện ở mức 80% GDP. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh đang giảm bớt lo ngại về gánh nặng nợ nần và dân số trẻ đồng nghĩa với việc tỷ lệ nợ tại Ai Cập không đáng lo ngại bằng các nước OECD.

Ngoài nền tảng kinh tế mạnh, các nước CIVETS cũng đã minh chứng sự kiên cường tuyệt vời trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua, chứng thực bằng việc hoạch định chính sách có định hướng tốt trong những năm gần đây. Cuối cùng, nền tảng chính trị tại các quốc gia CIVETS đều có tính hỗ trợ cao cho tăng trưởng kinh tế. EIU cho rằng khối CIVETS sẽ có mức tăng trưởng GDP hàng năm khoảng 4,5% trong 20 năm tới. Con số này chỉ thấp hơn chút ít so với mức tăng trưởng 4,9% của BRIC, nhưng cao hơn nhiều so với mức dự báo tăng trưởng kinh tế 1,8% của G-7.

EIU kết luận rằng 6 nền kinh tế của CIVETS có nhiều khả năng thành công nhất sau BRIC. Tất nhiên, CIVETS sẽ không định hình trật tự kinh tế toàn cầu theo cách mà BRIC sẽ làm. Vào năm 2030 chỉ có thêm Ai Cập là có khả năng sẽ bắt kịp Inđônêxia và Thổ Nhĩ Kỳ, hai nước vốn đã nằm trong nhóm 20 nước dẫn đầu của kinh tế thế giới (G-20). Tổng GDP của các nước này, kể cả tính theo sức mua tương đương, sẽ chỉ bằng 1/5 của G-7 cộng lại, nhưng CIVETS sẽ chiếm một phần quan trọng trong tăng trưởng toàn cầu vào giai đoạn đó. Sự nổi lên của các nền kinh tế này sẽ giúp củng cố triển vọng tại các khu vực, thúc đẩy sự chuyển dịch của nền kinh tế toàn cầu.

Nhất Phong (gt)

Ý kiến

Giáo sư Joseph Nye, tác giả học thuyết “sức mạnh mềm”: Tôi không cho rằng các nước BRICS sẽ trở thành lực lượng lớn với tư cách một tổ chức thống nhất… BRICS sẽ là một tổ chức có liên thông ngoại giao lỏng lẻo. Đôi khi họ thấy thuận tiện để gặp nhau, bàn về một quan điểm chung. Nhưng vấn đề là khi đã vượt qua được tầm mức đầu tiên, thì sẽ thấy có những quyền lợi khác nhau giữa các nước. Ví dụ, Brazil và Trung Quốc có lập trường khác nhau về giá trị của đồng nhân dân tệ. Brazil không hài lòng với chính sách định giá thấp của Trung Quốc…

Andrey Volodin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thuộc Học viện Ngoại giao Nga: Không chỉ là tác nhân ổn định của hệ thống kinh tế thế giới, BRICS còn có thể đóng vai trò quan trọng trong sự bình ổn chính trị toàn cầu, đặc biệt là trong việc giải quyết xung đột khu vực, chống phổ biến vũ khí hạt nhân, chống khủng bố quốc tế, bảo tồn các điều kiện khí hậu trên Trái Đất.

Project syndicate: Nếu BRICS muốn trở thành một nhóm có thể gây áp lực trong các quan hệ quốc tế, BRICS phải nhất trí được về những mục tiêu chính trị và kinh tế có thể đạt được. Các nước BRICS thường không hài lòng về quy chế coi đồng USD như đồng tiền dự trữ của thế giới.

T.N (Tổng hợp)

Phát triển toàn diện đối tác chiến lược Việt-Nhật – TTXVN

21 Th4

 

Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda đón Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)
Theo đặc phái viên TTXVN, nhân dịp tham dự Hội nghị cấp cao Mekong-Nhật Bản, ngày 21/4, tại Nhà khách Chính phủ ở thủ đô Tokyo của Nhật Bản, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc hội đàm với Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda.
Trong bầu không khí hữu nghị, tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, hai Thủ tướng đã cùng điểm lại tình hình hợp tác Việt Nam-Nhật Bản và trao đổi về phương hướng, biện pháp nhằm đưa quan hệ đối tác chiến lược phát triển toàn diện, hiệu quả,thực chất hơn nữa trong thời gian tới.
Thủ tướng Noda bày tỏ cảm ơn sự ủng hộ, hỗ trợ của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với Nhật Bản sau trận động đất-sóng thần tháng 3/2011. Hai bên nhất trí duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao; mở rộng giao lưu,đối thoại giữa các Bộ ngành, địa phương; sớm tổ chức phiên họp thứ 4 Ủy ban Hợp tác Việt Nam-Nhật Bản; đồng thời phối hợp chặt chẽ để chuẩn bị cho việc tổchức Năm Hữu nghị Việt-Nhật 2013 nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Nhật Bản tăng cường hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn.
Hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước việc hai bên đang tích cực triển khai các thỏa thuận cấp cao về hợp tác kinh tế như các dự án hạ tầng cơ sở quy mô lớn của Việt Nam, Dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2, hợp tác phát triển ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam….
Hai Thủ tướng hoan nghênh việc hai bên đã đạt được thỏa thuận về việc Nhật Bản tiếp nhận điều dưỡng viên và hộlý của Việt Nam, cũng như việc Hàng không Việt Nam và công ty Mitsubishi Công nghiệp nặng đạt được thỏa thuận cả gói về việc mua máy bay tầm trung MRJ và phát triển công nghiệp hàng không tại Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cảm ơn Nhật Bản trong năm tài khóa 2011 đã cam kết dành cho Việt Nam khoản ODA lớn nhất từ trước tới nay, mặc dù phía Nhật Bản đang phải tập trung nguồn lực để tái thiết đất nước. Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda khẳng định lại sự ủng hộ mạnh mẽ của Nhật Bản đối với công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam; cam kết tiếp tục tích cực hỗ trợ ODA giúp Việt Nam phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, năng lượng…;hỗ trợ Việt Nam thực hiện các chương trình hỗ trợ giảm nghèo và hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng và thực hiện chiến lược công nghiệp hóa đến năm 2020 và phát triển Hành lang kinh tế Đông-Tây…
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam; khuyến khích các công ty Nhật Bản tham gia các dự án cơ sở hạ tầng thông qua phương thức đối tác công tư(PPP); đồng thời đề nghị Nhật Bản tiếp tục giúp Việt Nam phát triển công nghiệp hỗ trợ, tích cực phối hợp để sớm có thể triển khai các khu công nghiệp chuyên sâu tại Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu. Thủ tướng Noda đề nghị 2 bên hợp tác thúcđẩy các dự án thành phố khoa học và đô thị sinh thái tại Việt Nam.
Hai Thủ tướng cũng nhất trí đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, khoa học-kỹ thuật, văn hóa; tăng cường giao lưu nhân dân, đặc biệt là giao lưu thanh niên, sinh viên. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Nhật Bản tăng học bổng cho sinh viên Việt Nam.
Hai bên đã trao đổi về một số vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, khẳngđịnh tiếp tục tăng cường hợp tác trên các diễn đàn khu vực và quốc tế. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao vai trò và đóng góp của Nhật Bản vào thành công của Hội nghị cấp cao Mekong-Nhật Bản lần này. Thủ tướng Noda bày tỏ ủng hộ quanđiểm của Việt Nam về việc đảm bảo tự do thương mại, an ninh và an toàn hàng hải trên Biển Đông, giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình, trên cơsở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).
Trước đó, tại Câu lạc bộ Báo chí Nhật Bản ở thủ đô Tokyo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu quan trọng và trả lời nhiều câu hỏi của báo giới Nhật Bản liên quan đến mục tiêu chiến lược, kế hoạch phát triển của Việt Nam, triển vọng đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản, cũng như quan điểm của Việt Nam vềmột số vấn đề khu vực và quốc tế, trong đó có vấn đề công nghệ xây dựng Nhà máyđiện hạt nhân số 2, đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các biện pháp nâng cao chất lượng tiếp nhận y tá, điều dưỡng viên Việt Nam sang Nhật Bản làm việc, và vấn đề duy trì hòa bình, ổn định, an toàn, tự do hàng hải tại Biển Đông…
Chiều nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Đoàn đại biểu Việt Nam đã rời thủ đô Tokyo về nước, kết thúc tốt đẹp chuyến tham dự Hội nghị Cấp cao Mekong-Nhật Bản lần thứ 4./.
(TTXVN)
%d bloggers like this: