Lưu trữ | 10:45 Chiều

Tiếng của biển – Truyện ngắn của Hoàng Trọng Dũng – TN

29 Th4

1 Thời tiết những ngày giao mùa thường đỏng đảnh, chợt mưa chợt nắng, chợt nóng chợt lạnh. Nhưng đỏng đảnh, khó chịu nhất có lẽ là những ngày cuối xuân đầu hè.

Những ngày ấy, khí lạnh dùng dằng nửa ở nửa đi còn khí nóng vẫn chỉ rụt rè xuất hiện chốc lát vào ban trưa. Lại có bữa trời đột nhiên oi nồng rồi ngay sau đó cơn mưa chợt rào rào đổ xuống.

Minh họa: Văn Nguyễn

Mưa, dù chỉ là cơn mưa rào trong chốc lát, thì cái sân thượng nhà tôi vẫn bị thấm. Tôi đã láng một lớp hồ dầu, đã sử dụng tất cả các loại sơn chống thấm, nhưng kết quả thật đáng buồn. Chỉ sau một hai cơn mưa, đâu lại vào đấy. Khỏi phải nói tôi bực dọc đến thế nào.

Thế rồi một buổi trưa chang chang nắng, trong khi đi bộ dọc bờ biển, tôi nhìn thấy một con thuyền với một người đàn ông đang cặm cụi kề bên. Lúc đến gần, tôi nhận ra người đàn ông đang chăm chỉ dùng dầu rái trét lên thuyền. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi. Từ trên cát nóng rồi xuống nước, trong hai môi trường hoàn toàn khác biệt, nhưng thuyền vẫn không thấm nước. Vậy có thể dầu rái là chất chống thấm hữu hiệu tôi đang cần, vượt xa các loại sơn đang được quảng cáo ầm ĩ trên ti vi. Tôi mon men tới gần thuyền, tìm cách bắt chuyện với người đàn ông.

Ông ta tên Xuân, như sau này tôi biết. Lúc tôi chào, ông Xuân đang cúi xuống, chiếc nón lá che gần hết khuôn mặt. Nhìn chiếc nón lá, tôi nghĩ ngay nó cũng được quang  bằng dầu rái, và chịu mưa chịu nắng không thứ sơn nào sánh được. Đáp lại lời chào của tôi, ông Xuân hơi ngẩng mặt lên, nhưng vẫn không mở miệng. Tôi đã gặp nhiều trường hợp như thế. Người ta đang bận bịu mình tới quấy rầy, không bị đuổi đi là may.

– Bao nhiêu lâu thì phải trét lại một lần ạ? – tôi hỏi.

Chỉ là sự im lặng đáp lại tôi. Phải đến vài phút sau ông Xuân mới lại ngẩng lên, khoát tay một cái rồi tiếp tục cúi xuống. Trong khoảnh khắc ấy, không phải cái khoát tay mà chính đôi mắt ông Xuân đã gửi tới tôi câu trả lời. Ấy là ông muốn bảo tôi, tùy chất lượng dầu rái, và tùy việc mình có trét kỹ hay không.

Tôi còn hỏi ông Xuân vài câu nữa, trình bày cả ý định chống thấm sân thượng nhà tôi bằng dầu rái. Tôi hỏi ông có thể tìm mua dầu rái ở đâu. Nhưng mặc cho tôi nói gì hỏi gì, ông Xuân vẫn không mở miệng, chỉ đôi mắt của ông là sáng lên, như tán thành đề xuất của tôi. Sau cùng, ông đưa cho tôi chiếc lon lớn đựng đầy dầu rái và nhất định không chịu cầm món tiền tôi trả.

Ra là ông Xuân bị câm.

2 Tôi ở không xa chỗ ông Xuân. Từ nhà tôi ra mép biển chỉ vài phút đi bộ. Từ nhà tôi đến chỗ bãi biển ông Xuân hay ngồi mỗi chiều, cũng chỉ mươi lăm phút. Ở gần biển nhưng tôi chẳng mấy khi tắm biển. Một phần, bãi biển chỗ tôi ở không phải bãi tắm, nước thải từ các khu dân cư chảy thẳng ra biển gây cảm giác dơ bẩn. Mặt khác và là lý do chủ yếu, khi quá dư thừa thứ gì thì hình như người ta không còn thấy quý nữa.

Biển đấy, bao la đến rợn ngợp, muốn tắm bao lâu, sáng trưa chiều tối tùy thích. Trăm người, nghìn người, thậm chí nhiều hơn nữa, biển vẫn rộng lòng đón tất cả. Thế nhưng đáp lại sự hào phóng của biển, chỉ có lũ con nít chịu khó cởi truồng ra đẫm nước, nô đùa, ném cát vào nhau. Không tắm nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn ra biển đón gió, ngắm mặt nước thẳm xanh, phóng tầm mắt ra xa, nơi rất nhiều thuyền đánh cá không rõ đang ra khơi hay trở về. Tôi đặc biệt thích biển vào lúc mặt trời sắp lặn.

Những tia nắng cuối ngày hắt lên nhuộm màu những vạt mây hồng, cam, vàng tùy hôm. Những làn sóng lấp lánh khúc xạ những tia nắng đang chiếu vào các vạt mây. Những người đàn ông cũng ra biển hóng gió như tôi sà vào những chiếc bàn gỗ đặt chông chênh trên cát gọi xị đế với con mực hoặc vài con tôm nướng.

Thuận chân, tôi đi thẳng tới chỗ ông Xuân, lấy một chiếc ghế trống ngồi xuống cạnh ông. Quay mặt về phía biển, hai chúng tôi chậm rãi uống từng ngụm bia. Được ngồi uống với một người không hề nói lời nào quả thực tôi rất thích. Tôi luôn ghét sự ồn ào, to tiếng  nhưng lại cũng không thích uống một mình. Ông Xuân quả là người bạn rượu hoàn hảo của tôi.

Còn một việc nữa là ông Xuân không biết chữ. Thông thường khi không nói được thì có thể viết ra giấy, kiểu bút đàm. Nhưng vừa không nói lại còn không viết được nên câu chuyện giữa tôi và ông Xuân luôn diễn ra rất khó khăn.

Như khi tôi hỏi bị tàu nào tấn công trên biển mà uất đến nỗi tai biến thì ông Xuân chỉ ú ớ: “Àu ạ… àu ạ…” với ánh mắt vừa giận dữ, vừa uất ức chua xót. Năm lần bảy lượt tôi mới hiểu được ông muốn nói: “tàu lạ”. Khi tôi bảo sao ông lại bướng bỉnh, đã bị nó tấn công mà vẫn quay lại đánh bắt chỗ cũ thì ông hoa chân múa tay, gào lên như bị động kinh khiến tôi hoảng sợ nhưng mãi vẫn không thể hiểu ông định nói gì.

Và tôi quyết định phải dạy chữ cho ông Xuân. Dạy chữ cho một người đã đi gần hết cuộc đời quả thực không hề dễ. “A… bờ a ba, e… mờ e me nặng mẹ…”. Tôi chẳng quan tâm bây giờ người ta dạy chữ cho trẻ con thế nào, còn tôi cứ theo cách ngày xưa mình đã từng được dạy.

Ngày xưa cả lũ con nít chúng tôi đến vài ba chục đứa một lớp cứ nghê nga theo lời dạy của thầy cô, nghe vui đáo để. Giờ thì chỉ duy nhất giọng của tôi lọt thỏm trong tiếng sóng ì ầm mỗi chiều. Và thực ra, rõ ràng ông Xuân không muốn học. Không chỉ thế, ông còn giễu cợt, cười nhạo khi tôi kiểm tra bài đã dạy ông hôm trước. Đúng là chữ thầy trả thầy. Ông Xuân đã trả tôi tất tần tật, không giữ lại lấy nửa chữ.

Cho đến một hôm, bất ngờ tôi và ông nhìn nhau, rồi bật lên cười, cười mãi đến ràn rụa nước mắt, che cả tiếng sóng biển. Tại sao tôi và ông Xuân lại vui đến thế sau một thất bại? Thú thật tôi cũng chẳng thể nào cắt nghĩa. Tự dưng thấy buồn cười thì cười, thế thôi. Tôi quẳng cả cây bút và cuốn tập cho bà bán rượu. Đổi lại, bà rót cho tôi và ông Xuân mỗi người một ly đế.

Có thể vì không cần biết chữ nhưng ông Xuân vẫn đọc được biển rất rành rọt. Cứ nghe đến biển là nét mặt ông thay đổi. Và tôi ngày càng dễ nhận hiểu chính xác hơn những điều ông muốn tỏ bày. Nhưng ngôn ngữ ký hiệu của ông Xuân là của riêng cá nhân ông, phải quen mới hiểu. Như khi ông khoát tay, cái khoát tay thông thường vẫn có nghĩa là rộng lớn thì đối với ông Xuân, đấy là biển. Như khi bàn tay ông Xuân uốn lượn thì tùy theo tư thế bàn tay nghiêng hay sấp tôi hiểu ông Xuân đang muốn nói tới cá hay sóng nước.

Nhưng với những vấn đề trừu tượng thì không dễ dàng như thế. Có lần ông Xuân định giảng giải cho tôi về sóng. Tôi vốn mù tịt về biển, nên nhìn những động tác không theo quy tắc nào của ông, tôi như đâm đầu vào đá. Thế là ông cáu, mặt sắt hẳn lại, ra chiều giận tôi lắm lắm. Rất may gặp đúng bữa anh con trai ông Xuân không đi biển, đã chịu khó giải thích cho tôi là cha anh muốn nói biển của mình, cái vùng biển mà ngày chưa bị tai biến ông Xuân vẫn đánh cá ấy, sóng nước rất khác, khác từ biên độ, vận tốc, chu kỳ… Thế nhưng khi tôi hỏi khác như thế nào thì chính con trai ông Xuân cũng không giải thích được. Anh bảo có những điều người ta chỉ có thể cảm nhận chứ không diễn tả được…

3 Tôi được cơ quan cử đi học nghiệp vụ ở Hà Nội. Vèo một cái đã qua một năm. Suốt thời gian học, đúng là tôi không hề nhớ ông Xuân. Hà Nội không có biển, vậy mà tôi không hề có cảm giác thiếu vắng biển. Trên đường trở về sau khi kết thúc khóa học, tôi chỉ mong gặp vợ. Mùi da thịt của vợ tràn ngập trong tôi, lấn át mọi ý nghĩ. Và vợ tôi, hóa ra cũng chẳng khác tôi. Sau giây phút mừng vui của cả gia đình, vợ tôi lập tức dẫn bọn trẻ con sang gửi nhà ngoại. Hai vợ chồng đóng cửa khóa cổng, rút dây điện thoại, dứt khoát bảo vệ sự riêng tư của mình.

Hôm sau khi ra khỏi nhà, theo thói quen chân tôi cứ bước về phía biển. Trước mắt tôi là một hàng rào tôn che khuất hết tầm nhìn. Tôi hết sức ngạc nhiên không hiểu người ta đang làm gì. Khi tới gần, tôi thấy một tấm biển to tướng viết tiếng Anh, tôi mới hiểu đây là dự án một khu resort. Nhìn dọc bờ biển, hàng hàng lớp lớp những rào tôn, bờ tường nối đuôi nhau. Mỗi hàng rào sẽ là một khách sạn, một resort tương lai.

Tôi bỗng có một cảm giác hết sức ngột ngạt, tù túng. Tiếng sóng biển vẫn ầm ào, nhưng tôi chỉ nghe mà không thấy. Liệu tôi còn có thể nói biển của tôi, biển của chúng tôi được không? Biển chỉ cách vài bước chân, nhưng tôi không thể bước tiếp. Tôi tự trách mình quá đa cảm, nhưng không thể gạt bỏ các cảm giác của mình. Lần đầu tiên trong đời, tôi ngửi thấy mùi biển, cay cay nơi sống mũi.

Đấy là mùi cá, mùi muối, mùi mồ hôi quyện vào nhau đậm đặc trong cơn gió trái mùa. Lần đầu tiên trong đời, tôi thử tìm cách bênh vực những dự án kia, cho những người đang mua và bán. Không ai cho không ai cái gì cả. Muốn được cái này thì phải mất cái khác. Và cái mất lớn thường khi không thể nhìn thấy được ngay. Nước biển ngoài khơi hay nước biển trong bờ, ở đâu thì muối cũng mặn vậy thôi…

Nhưng những lý lẽ tôi nghĩ ra không thể thuyết phục được bản thân mình.

Thế rồi tôi nghe thấy những bước chân trên cát. Quay lại, tôi nhận ra con trai ông Xuân. Tôi cố cười thật tươi nhưng con trai ông Xuân không đáp lại. Anh báo tin cha anh đã mất và mời tôi về nhà. Tôi cố trấn tĩnh trước tin dữ. Chỉ mới một buổi sáng, tôi đã phải đối mặt với bao điều không vui.

Đợi tôi thắp nén hương cho cha anh xong, con trai ông Xuân mời tôi nán lại để anh thưa chuyện. Anh bảo những ngày cuối đời cha anh rất yếu nhưng vẫn nằng nặc đòi ra bờ biển, ngồi trên ghế, mắt trân trối nhìn những bức tường tôn, tai dỏng lên đón tiếng sóng. Khi trở vào nhà ông bảo mọi người đưa giấy bút, rồi từ đó cứ cặm cụi giờ này qua giờ khác. Vài ngày trước khi mất, ông cuộn những tờ giấy, lấy dây cao su ràng lại và dặn đưa cho tôi.

Con trai ông Xuân trịnh trọng đưa cuộn giấy cho tôi. Trong đời mình tôi đã nhận khá nhiều quà tặng khiến mình tò mò nhưng không hề hồi hộp. Lần này thì ngược lại, tôi tò mò và hồi hộp không chịu nổi. Chẳng lẽ ông Xuân đã tự học chữ để viết thư cho tôi, người bạn vong niên hằng ngày vẫn ra ngắm biển, hằng ngày vẫn ăn con nục con thu của biển mà chẳng hiểu gì về biển?

Trước mắt tôi là những bản vẽ, chính xác hơn là những bức tranh, giống hệt tranh của những lũ trẻ tuổi mẫu giáo. Những nét nguệch ngoạc, run rẩy, khi đậm khi nhạt. Đúng là không viết được thì vẽ. Viết và vẽ đều là phương tiện thông đạt của con người.

Tôi lần lượt lướt mắt qua những bức tranh. Chúng đều hao hao nhau, phía trên là sóng biển, phía dưới là đáy biển có những con cá đang bơi, cả rong và san hô. Tôi nói với con trai ông Xuân rằng tôi không hiểu ý nghĩa những gì ông Xuân muốn gửi gắm. Anh bảo giờ anh đã có thể giải thích cho câu hỏi của tôi năm trước. Đấy là sóng biển! Sóng biển không chỉ sinh ra từ những gì phía trên mặt nước mà còn bởi cấu tạo dưới đáy biển. Cùng một cấp gió nhưng do đáy biển khác nhau, sóng có thể khác nhau.

“Đây này, cha tôi vạch đôi tờ giấy, một bên đáy bằng phẳng, một bên đáy gồ ghề. Bên này sóng lăn tăn, bên kia sóng có ngọn. Cả đời đi biển, chỉ cần nhìn qua con sóng là cha tôi đã nhận ra đâu là biển của mình, biển mà tổ tiên đã hy sinh cả mạng sống để giữ cho đời sau. Nên ông sẽ không để mất nó cho bất kỳ kẻ nào khác!”.

Tôi lặng người, chẳng nói nên lời. Ông Xuân câm không cần đến máy định vị để biết đâu là biển của mình. Chỉ những người một lòng một dạ với biển mới hiểu được căn nguyên cội nguồn của sóng.

Truyện ngắn của Hoàng Trọng Dũng

Phan Thị Thanh Nhàn: 40 năm ‘Hương thầm’ vẫn tỏa – eVan

29 Th4

Phan Thị Thanh Nhàn: 40 năm ‘Hương thầm’ vẫn tỏa

Nguyễn Xuân Thủy

Hơn 40 năm kể từ khi bài thơ “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn ra đời, và gần 30 năm bài hát do nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc chắp cánh cho bài thơ đến với rộng rãi công chúng, cả “Hương thầm” thơ và “Hương thầm” nhạc vẫn chứng tỏ sức sống bền bỉ.

Và cũng đã mấy chục năm rồi Phan Thị Thanh Nhàn vẫn độc bước, lặng lẽ với “Hương thầm”…

Mỗi bước chân thơm mùi hương bưởi

Tại trại sáng tác Văn nghệ Quân đội 2012, lần đầu tiên nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, tác giả “Hương thầm” đến với mảnh đất Phú Yên. Suốt những ngày trại viết diễn ra, có đi cùng bà đến các buổi giao lưu, tham dự các sự kiện mới thấy độ hot của nữ tác giả “Hương thầm”. Hầu như đâu đâu mọi người cũng biết bà. Khi giới thiệu tác giả “Hương thầm”, tất cả đều ồ lên, ánh mắt đổ dồn về phía bà chào đón.

Bài thơ “Hương thầm” của Phan Thị Thanh Nhàn xuất hiện cách đây đã hơn 40 năm. Nó được tặng giải nhì cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ năm 1969. Xuất phát từ câu chuyện có thật của người em trai thứ sáu trong gia đình với cô bạn học, Phan Thị Thanh Nhàn đã viết nên bài thơ. Ngày ấy nhà bà ở khu Yên Phụ, vùng quê trù phú ven sông Hồng xum xuê cây trái, trong đó không thể thiếu những cây bưởi ngát hương mỗi độ tháng ba về. Sau đó em trai bà là Phan Hữu Khải nhập ngũ. Từ chiến trường, khi tình cờ nghe được Đài Tiếng nói Việt Nam ngâm bài thơ, anh viết thư về kể cho chị gái. Nhưng Phan Thị Thanh Nhàn chưa kịp hồi âm lá thư ấy để nói rằng bài thơ bà làm là từ câu chuyện của em thì đã nghe tin người em hy sinh. Em trai bà ra đi mà chưa kịp biết rằng, bài thơ chị gái làm để tặng cho chính mình. Năm 1984, bài thơ được nhạc sĩ Vũ Hoàng thổi hồn để nó đi xa hơn, đến với công chúng nhiều hơn qua sự thăng hoa của âm nhạc. Có lẽ cả bài thơ và bài hát có sức sống lâu bền đến thế là vì chúng đã nói hộ tâm trạng của cả một thế hệ thanh niên đã sống và yêu, thầm kín, dịu dàng nhưng cũng rất nồng nàn lãng mạn. Đã hơn 40 năm kể từ khi bài thơ ra đời, cũng như hơn 40 năm người em ra đi, nhưng “Hương thầm” của một thế hệ vẫn sống mãi.

Nhà văn Phan Thị Thanh Nhàn.

Sau này, có tác giả trẻ trong làng văn đã nói rằng, thời của cô không còn là thời của “Hương thầm” như thế hệ Phan Thị Thanh Nhàn nữa để mà “nào ai đã một lần dám nói”, nếu cô yêu cô sẽ đến và nói thẳng với người cô yêu những tình cảm của mình. Thế hệ sau có quyền sống khác,
tuy nhiên không có nghĩa là những gì mà thế hệ trước đã làm không còn ý nghĩa. Phan Thị Thanh Nhàn cũng từng được nghe rất nhiều “dị bản” mà người yêu nhạc đã chế lại lời của bài hát, tưởng rằng “tác giả gốc” của “Hương thầm” sẽ buồn nhưng không, bà kể lại điều đó với thái độ rất vui vẻ.

Chiếc khăn gửi lại Phú Yên

Nếu như lời bài hát “Hương thầm” có câu “Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay / Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm” thì tác giả của nó cũng có một chiếc khăn rất đẹp. Mỗi khi có sự kiện trọng đại, bà thường xuất hiện, khi thì váy, khi thì áo dài, nhưng luôn xúng xính chiếc khăn dài thả dáng. Tại Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương, bà và nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát cùng xuất hiện với chiếc khăn nổi bật, sau đó cũng với hình ảnh ấy bà đọc thơ trên sân khấu trước các đại biểu. Khi ấy trời Hạ Long còn se lạnh. Và khi dự trại sáng tác tại Phú Yên, dù đất phương Nam nắng nóng nhưng vẫn thấy Phan Thị Thanh Nhàn quấn quýt với chiếc khăn, khi thì căng ra đội lên đầu che nắng, khi thì quàng trên vai, cũng có khi buộc vắt ngang eo.

Phan Thị Thanh Nhàn có cách giao tiếp thân mật, gần gũi, nhiều lúc bà thường xưng “tao – mày”, “u – con” với lớp trẻ. Ăn nói thì có vẻ “thông thoáng” thế nhưng bà rất kỹ trong việc ăn mặc. Và có vẻ như bà ngày càng đẹp lên. Đẹp đến mức trước đây nếu xem ảnh Phan Thị Thanh Nhàn, tôi không nghĩ khi gặp bà mình sẽ chụp nhiều ảnh đến thế. Suốt những ngày ở trại viết, đến trước hôm bế mạc tôi đã copy từ máy tính vào chiếc USB do Phan Thị Thanh Nhàn đưa cho đến hơn một trăm bức ảnh. Trong đó phân nửa là những bức ảnh có khăn.

Chiếc khăn của bà cũng làm nên khối chuyện ở trại viết. Trong buổi đi tham quan Nhà máy đường tại huyện Sông Hinh của Phú Yên, bà xúng xính với chiếc khăn, điệu đà thế nào mà nó lại móc vào bụi xương rồng ven lối đi khiến cho hai nhà văn trẻ Đỗ Tiến Thụy và Phong Điệp phải xúm lại gỡ hộ mãi mới được.

Vẫn chiếc khăn ấy, trong buổi giao lưu với Hội Văn nghệ Phú Yên còn trở nên đặc biệt hơn nhiều. Biết có sự xuất hiện của tác giả “Hương thầm”, đoàn ca múa Sao Biển đã dàn dựng và biểu diễn bài hát phổ thơ bà. Phan Thị Thanh Nhàn rất cảm động, ngoài việc trực tiếp lên tặng hoa bà còn đưa chiếc khăn của mình cho nhà văn trẻ Nguyễn Anh Vũ và thì thầm gì đó, một lát sau, thấy Nguyễn Anh Vũ chạy lên chỗ ca sĩ đang hát dùng chiếc khăn quàng vào cổ mình rồi quàng lên cổ cô gái làm các văn nghệ sĩ của Phú Yên và cả nước vỗ tay nhiệt liệt. Sau đó, cứ có người lên hát là lại có người cầm khăn của Phan Thị Thanh Nhàn lên làm “đạo cụ” để diễn chung; từng cặp, từng cặp đã dùng chiếc khăn làm sợi dây tơ hồng để kết nối.

 
Nữ sĩ và người đàn ông mến mộ bà.

Nhưng khi Phan Thị Thanh Nhàn đang mải mê với những lời chúc tụng và chụp ảnh cùng bạn văn và những người yêu quý thì bỗng nhiên chiếc khăn… biến mất. Các nữ văn sĩ của Hội Văn nghệ Phú Yên tá hỏa đi tìm khắp vòng trong vòng ngoài mà không thấy. Khi buổi giao lưu đã gần kết thúc, họ tỏ ra lo lắng sợ làm mất khăn của nữ sĩ “Hương thầm”, cuối cùng ai đó đã nghĩ ra cách truy lần lượt những người cầm khăn, ai đã cầm phải nói đã đưa cho ai, cuối cùng đến một người không nói được đã đưa khăn cho ai, bị truy vấn đành thú nhận mình đã giấu chiếc khăn do quá yêu quý tác giả. Trước đó, khi biết có sự xuất hiện của tác giả “Hương thầm”, người đàn ông này đã đưa cả gia đình đến để gặp mặt và xin được chụp ảnh chung với bà. Khi biết chuyện, Phan Thị Thanh Nhàn không trách và còn tỏ ra rất cảm động. Được trả lại khăn nhưng bà đã quyết định tặng lại cho người hâm mộ ấy dù chiếc khăn cũng là một món quà bà được tặng. Sau khi nhận được tặng vật quý, người đàn ông hâm mộ bà rất mừng và nói: “Đấy nhé, tôi vô can. Tôi chỉ muốn giữ kỷ niệm của tác giả “Hương thầm” thôi mà”. Mọi người đều cười thông cảm… Kết thúc buổi giao lưu ấy, Phan Thị Thanh Nhàn rất vui.

Dù cuộc sống riêng tư có những nỗi buồn, Phan Thị Thanh Nhàn luôn lạc quan. Tuổi cao nhưng suy nghĩ của bà rất trẻ. Bà biết tìm cho mình những niềm vui trong cuộc sống, không ngồi một chỗ thụ động để nỗi buồn và bệnh tật tìm đến quật ngã. Đó cũng là bản lĩnh và sức sống bền bỉ của một “Hương thầm”.

Câu chuyện chủ nhật: Bình chú giải về những lời mạ lị nhà văn Nguyễn Huy Thiệp – badamxoe

29 Th4

Câu chuyện chủ nhật: Bình chú giải về những lời mạ lị nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Posted by badamxoe on 28/04/2012

Phạm Thành

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với tài văn lừng lẫy thiên hạ vừa công bố tác phẩm mới: vở chèo: “ Vong Bướm”  lập tức bị một số nhà cải cọ lăng nhăng “hội quân” đánh đòn hội đồng cấp tập, dã man. Nó như là “đòn thù” đã được “ ủ nhuyễn” từ lâu chỉ chờ dịt Thiệp “ló đầu” ra là đại bác cấp tập nhã đạn. Người nhằm bắn đạn bẩn đầu tiên ( đã nhã 3 viên, còn một viên) mang tên Chu Giang -Nguyễn Văn Lưu, quê Thanh Hóa, nguyên giám đốc Nhà Xuất bản Văn học. Người này khi còn đương chức thi thoảng có bài điểm sách, thi thoảng có bài cải cọ này nọ về các tác phẩm văn học đăng trên một vài tờ báo, nhưng chẳng có ai để ý. Rồi tiếp đến nhà giáo Lê Xuân, bạn giáo viên với Thiệp (2 viên); đến nhà phê bình “thứ thiệt” Bùi Công Thuấn (cũng hai viên). Tất cả họ đều một giọng hạ sát, nhục mạ Thiệp một cách mà các bà hàng tôm hàng cá có vén váy lên chửi nhau cũng phải khom lưng tôn các vị này lên bậc đại sư phụ.

Nguyễn Văn Lưu chửi Thiệp, “Sao lại chửi đời”; chửi Thiệp là kẻ “Phản đạo, vô đạo” là kẻ “bất lương, vô nhân bản, là kẻ dối trá, không sợ ai?” là kẻ “dắt gái, ma cô đĩ bợm không từ; kẻ “nôn mửa vào lịch sử, vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”.

 

Lê Xuân miệt thị Thiệp là “con buôn”, kẻ “ đốt sách” , kẻ “loạn ngôn”,  kẻ “vô chính phủ. Và cũng như Lưu, Xuân cũng “mách” với “Cảnh sát”: “Thiệp xúc phạm đến cả dân tộc, cả Đời, từ chủ nghĩa xã hội đến các vị anh hùng dân tộc” và mớn an cho Tòa án: “Vẻ đẹp của đất nước ta hôm nay có được là do biết bao xương máu của các anh hùng, liệt sĩ và dân tộc đổ xuống. Đó không phải là thành quả của cách mạng đem lại hay sao?”.

Khác một chút với hai người kia, Bùi Công Thuấn có vẻ khách quan hơn khi đem học thuật ra để hạ sát Thiệp. Nào là Thiệp “không có tư tưởng, không có triết học, và quên Thiệp từ lâu rồi”. Nhưng ẩn trong các câu trích dẫn Thuấn cũng như hai vị trên đều “tố” Thiệp là tên phản động của nước Việt ta phá hoại từ giáo dục đến an ninh, từ nhân cách đến hạnh phúc của nhân dân Việt Nam anh hùng.

Toàn những vấn đề ghê gớm.

Trong các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình…có bao nhiêu người làm đặc tình cho công an, hẳn mọi người đã nghe nói. Ba vị phê bình trên không biết có phải là đặc tình hay không, nhưng mục tiêu đề ra của các bài viết này không khác là bao so với “bản báo cáo tố giác tội phạm” của đặc tình. Nhưng chuyện đó là chuyện của anh ninh. Tôi tin, từ các bài viết của 3 vị này mà một ngày gần đây nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sẽ bị tống lao vì hằng hà sa số tội:

– Môi giới mại dâm

– Trốn thuế

– Tuyền truyền chống nhà nước

– Tuyền truyền chống dân tộc

– Phỉ báng đạo Phật

– Phỉ bán đạo Thiên chúa

– Phỉ báng đất đai, xương máu người hy sinh

Căn cứ để tống lao Thiệp là các bài viết của ba vị này, rành rành nha. Nhưng đấy là chuyện của kiểm sát, an ninh và những tên chó săn chuyên sục mõm vào mâm cỗ. Tôi, một người đọc bài của các vị chỉ xin bình chú giải những vấn đề mà tôi thấy ngứa tai tôi mà thôi.

1. Nguyễn Văn Lưu: tri bất tri.

Nhà phê bình văn học Nguyễn Văn Lưu giống ai vậy? Ảnh: Tư liệu Google.

Nguyễn Văn Lưu dưới cái tít bài “Sao lại chửi đời”, “Thiệp ơi, Thờ phật làm chi”, “Có phải Nguyễn Huy Thiệp không biết sợ” và một bài nữa sắp đăng. Chỉ lướt những cái tít của Nguyễn Văn Lưu đã thấy rùng mình cả người, kinh khiếp còn hơn cả sự kinh khiếp, giống như Lưu đem phân của người anh hùng Trịnh Xuân Bái, cùng quê huyện Thọ Xuân với Nguyễn Văn Lưu, đổ ụp xuống đầu Nguyễn Huy Thiệp (Những năm 60 của thế kỷ trước, ông Trịnh Xuân Bái nhờ có sáng kiến đem phân người ủ thành phân bắc để bón cho cây trồng nên được nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu: Anh hùng lao động). Thật không còn có thứ nhơ bẩn rác thải nào hơn đổ chụp lên đầu Nguyễn Huy Thiệp.

Mà “cái tội” lớn của Nguyễn Huy Thiệp là “Sao lại chửi đời” bằng thứ ngôn ngữ mà Nguyễn Văn Lưu cho là tục tằn:

Đéo mẹ tiên sư đời tầm thường

Đéo diện lượt là, đéo đế vương

Đéo vênh vang mặt: giai đéo sợ

Đéo giáo giở lòng: gái đéo thương

Đéo khoác lác cho phường vô dụng!

Đéo cúi luồn hóa đứa bất lương!

Đời có ra chi mà đéo chửi!

Đéo mẹ tiên sư đời tầm thường!”.

Và Lưu bình “Viết sách như thế đúng là làm trò cười cho thiên hạ”.

Ơ, cái ông Lưu này, đây và vở diễn, nếu chưa diễn mà Lưu đã thấy cười rồi, chẳng là thành công ngoài mong đợi của Thiệp rồi sao?

Lưu nói, Lưu ghê sợ cái sự tục. Hãy từ từ để giám định cái ngôn ngữ tục tằn của Thiệp là gì, có đáng để cho Nguyễn Văn Lưu ghê tởm để lại mượn tục chửi  tục lại Thiệp không?

“Đời có ra chi mà đéo chửi

Viết văn, đọc sách, trò cười ư?

Tiểu nhân lại đóng vai quân tử

Đĩ bợm ma cô cũng chẳng từ.

Bạn hỏi ở đâu đời gớm thế

Tỉnh thức đi cùng với lú mê

“Vong bướm” tích chèo vừa mới mở

Văn nhân Nguyễn (Huy) Thiệp mượn vai hề!”.

Trước hết tôi xin bình chú giải về lời “tố” của Nguyễn Văn Lưu đối với Nguyễn Huy Thiệp: “Sao lại chửi đời?”

Thưa ông Lưu, tôi xin hỏi ông: Đời là cái gì mà ta lại không dám chửi? Phải chăng Đời là Ngọc Hoàng, Đời là ánh sáng, Đời là không khí, là thần là thánh, là ngọc ngà kim cương, là mâm cỗ… chỉ được phép thờ, không được chửi?

Đời phải chăng không phải là của mỗi người chúng ta vừa cộng, vừa trừ, vừa nhân, vừa chia, và khai căn… với nhau mà thành? Nói một cách “lý luận”, Đời là mối quan hệ giữa người với người, và việc chửi hay khen Đời là tất yếu của bất kỳ một thứ văn tự nào khi chúng được viết ra. Nói một cách khác, bất kỳ một văn tự nào được viết ra, suy cho cùng cũng đều thể hiện thái độ, tư tưởng nào đó, chung quy lại là: hoặc là khen, hoặc là chê, hoặc là vừa khen vừa chê Đời.

Vậy thì cái mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt Nam ta trong mấy chục năm qua như thế nào? Hẳn người có lương tri đều đã biết cả.

Nó là một xã hội mà trong đó, dân tộc ta đã phải hứng chịu một thứ chủ nghĩa quái thai nhập ngoại về, lấy tính giai cấp làm động lực để phát triển xã hội, đã không khoan nhượng tiêu diệt tính dân tộc; lấy súng đạn để dựng nên chính quyền; lấy đất đai sông núi làm nhà tù; lấy nhân dân làm vật thí nghiệm; lấy chém giết, đàn áp, bỏ tù làm kế sách giáo dục… Cái xã hội đó, dắt mũi dân tộc đi về cõi âm; đã dìm văn hóa đạo đức con người vào bể phốt. Cái Đời đó đã được “blog 2D của Nhà văn Nhật Tuấn khái quát và treo trang trọng trên đầu blog của mình: “Blog thời 2D: Đồ Đểu, Đĩ Đực, Đàng Điến, Độc Đoán, Điên Đầu, Điên Địt, Điên Đéo, Điên…”

Nhà văn Nhật Tuấn cũng chứi đấy chứ, nhưng là chủi bằng khẩu hiệu, còn Nguyễn Huy Thiệp chửi bằng văn, bằng những câu chuyện kể, có nhân vật, có tình tiết, có tâm hồn…, tức là chứi bằng nghệ thuật của con chữ và hình tượng. Thiệp viết, như Lưu đã dẫn, là “Thế hệ tôi nôn mửa vào lịch sử”, đám nhà văn thì rặt một bọn “rặt rẹo, lưu manh”.

Nguyễn Văn Lưu, ông hãy bình tâm mà nhận mặt lịch sử đi. Trong gần 70 năm qua, dân tộc ta đã tiến tới đâu so với thế giới; Quyền tối thiểu của người Việt Nam xếp hạng bao nhiêu trong bức tranh tiến bộ, văn minh của thế giới? Chiến tranh liên miên mấy chục năm qua góp gì cho sự giải phóng con người? Cái sự chiến thắng của của miền Bắc làm bao nhiêu người sung sướng, bao nhiêu đớn đau? (như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã cảnh tỉnh). Sau chiến thắng, cái cảnh “cành đậu đun hạt đậu” diễn ra “tưng bừng”, và vẫn còn “ tưng bừng” ở thì ngày nay. Văn minh, lương thiện con người như Lưu nói là “phi thường” vẫn đang song hành cũng cái “tầm thương”. Ông Lưu ơi, hãy vào mạng và chỉ cần “lướt mạng”, cũng không cần ông lẩm nhẩm cộng, trừ, nhân, chia gì thì ông cũng buộc phải nhận ra, cái “phi thường” của ông là thứ của hiếm, của độc, cái ẻo lả, nhạt nhòa; còn cái dã man, phi con người, phi đạo đức, phi văn hóa, cướp giật, giết người, trộm cắt, đĩ điếm, tham ô, tham những, “coi mạng người như cỏ rác” lại diễn ra ngày ngày, nhiều đến mức ai cũng phải kinh khiếp và ghê sợ. Vậy, cái xã hội đó là cái xã hội “phi thường” đẹp, phổ biến hay là một xã hội đang “đi về nơi hoang dã – tiểu thuyết của Nhật Tuấn” mới là phổ biến? Tôi dám cược với Lưu 1 ăn cả tất cả bạn bè của tôi rằng, hầu hết người Việt Nam hiện nay sẽ “biểu quyết” với tinh thần đồng thuận cao ở khía cạnh thứ 2, đó là cả dân tộc ta, sau chiến thắng đánh đuổi ngoại xâm, sau đổi mới mấy chục năm trời vẫn đang “đi về nơi hoang dã”.

Chả có mấy ai là không biết cái Đời đang như vậy. Cái Đời đang bị “ tồn tại khách quan” như vậy. Và, dù muốn hay không tất cả đều bị vấy bẩn, nhiều ít có khác nhau. Nhưng kỳ lạ là, chả có mấy ai dám từ bỏ nó, vạch mặt nó, lên án nó mà hầu hết đều chấp nhận nó, sống với nó như sâu, như bọ nhung nhúc ăn, vui… trong một đống. Cái xã hội đó đúng như Nguyễn Huy Thiệp đã viết:

“Chàng duỗi chân, ngả người vào lòng thuyền. Chàng nói :-Cứt…Giờ đây gặp Mỵ Nương, chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc : – cứt. …Trương Chi không hát nữa. Chàng lại nói:- Cứt…Chàng ăn cá nhưng được vài miếng chàng lại nhổ đi. Chàng nói : -Cứt. Mị Nương bảo chàng hát, Trương Chi biết đó chỉ là trò cứt. Khi Trương Chi Hát, bọn hoạn quan đứng quanh nhiều lần cười ré lên: -Hát như cứt…Trương Chi lại chèo thuyền ra giữa tim sông. Chàng lại nói :-Cứt.”

Đứng trước một Đời như vậy, người có lương tri chân chính phải làm gì? Phải lên án nó, nguyền rủa nó, kêu gọi tiêu diệt nó, tức là chửi nó là một lẽ đương nhiên, là một hành động cần thiết, là tấm gương sáng của đạo đức Hồ Chí Minh. Nguyễn Huy Thiệp đã dũng cảm làm như vậy. Một số người ít ỏi khác cũng đã và đang làm như vậy. Chửi những cái xấu xa của con người, sao có thể là người phản đạo, vô đạo,  kẻ  bất lương, vô nhân bản,  kẻ dối trá, không sợ ai, kẻ dắt gái, ma cô đĩ bợm không từ; kẻ “nôn mửa vào lịch sử, vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc được. Còn không chửi nó, makeno nó, đương nhiên đó là cách “hành động” của những kẻ bất tri, hoặc có tri nhưng là cái tri đồng tình và đang đồng hành cùng nó, “quyết” đưa Đời “đi về nơi hoàng dã”, nơi Đời là những con vật chuyên “ăn sống, nuốt tươi” đồng loại. Những kẻ như thế này mới chính là kẻ: Phản đạo, vô đạo, kẻ bất lương, vô nhân bản, kẻ dối trá, không sợ ai, kẻ dắt gái, ma cô đĩ bợm không từ, kẻ ăn chung năm chạ với đống nôn mửa của lịch sử, và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Không khen Nguyễn Huy Thiệp dám dũng cảm chửi Đời mà lại mạt sát Nguyễn Huy Thiệp, Chu Giang – Nguyễn Văn Lưu đang là kẻ bất tri, kẻ makeno, kẻ đang vui thú đồng hành cùng đưa Đời “đi về nơi hoang dã”, nơi Đời đang là những con vật chuyên “ ăn sống, nuốt tươi” đồng loại.

2. Lê Xuân, sao lại phỉ báng doanh nhân?

Nhà giáo Lê Xuân. Ảnh: lethieunhon.com

Cũng trong đòn đánh hội đồng lần này, người có tên là Lê Xuân tự xưng là là giáo viên cùng với Thiệp hồi ở Tây Bắc. Người này chỉ nhẹ nhàng cung cấp cho bạn đọc “Về cái tài của Nguyễn Huy Thiệp” khi làm thày giáo và khi làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Giáo dục, và như chưa đã cơn “tố cáo” Xuân lại bồi  thêm một “đòn” nữa “Nguyễn Huy Thiệp giữa chính danh và ngụy danh”. Xuân lại cũng phê bình văn chương Thiệp theo cái lối mà nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã chế ra: “bỏ bóng đá người”,  “ tố cáo” Thiệp là kẻ khôn ngoan, cơ hội và con buôn, nói trắng ra nói Thiệp là kẻ  lưu manh. Có thể Xuân nói không sai. Nhưng Xuân nói như vậy, cũng là kẻ bất tri như Nguyễn Văn Lưu mà thôi, nhưng hèn thì hèn hơn Nguyễn Văn Lưu. Vì rằng, Thiệp “lưu manh” là để tồn tại, là để rồi mấy năm sau Thiệp làm một cuộc cách mạng trong văn học Việt Nam bằng những tác phẩm để đời như: Tướng về hưu, Phẩm tiết, Kiếm sắc, Qua Sông, Thương nhớ đồng quê, vân vân, mà nếu không có nó nền văn chương Việt Nam sẽ mãi như một tên nô lệ khốn nạn thủ dâm trong chuồng lợn. Hơn nữa, Thiệp khôn ngoan kiếm tiền để tồn tại, đó như là sự đấu tranh để sinh tồn trong một xã hội đói kém và bịt đường sinh sống, chứ có kiếm tiền để củng cố quyền lực, kết bè kết cách gây tội ác đâu. Nó chỉ là sự quyền biến để tồn tại. Nó cũng như Việt vương Câu Tiễn phải nếm cứt vua Ngô Phù Sai vậy. Chẳng thương cho Thiệp, cho biết bao thân phận thì thôi, Lê Xuân lại “nhe răng cắn áo rách”. Phê như thế chẳng những khổ cho Thiệp mà con đau cho biết bao thân phận người Việt Nam ta đã sống ở  thời bao cấp.

Nhưng quan niệm của Lê Xuân, về cái nghề buôn mới là điều đáng xấu hổ. “Con buôn” là cách gọi kinh thị của đám hủ nho. Lũ này chỉ cho chữ nghĩa mới là quan trọng trên hết; còn  ăn ở, yêu đương chỉ là cứt đái… Quan niệm này đã bị “cây đời mãi mãi xanh tươi”, đã bị  tri thức con người loại bỏ từ lâu rồi. Buôn bán kiếm tiền là một nghề, và là một nghề quan trọng, thiếu nó cư  dân đô thị sẽ thiếu cơm ăn, nước uống hàng ngày ngay lập tức. Vì thế, nước mình từ đổi mới đến nay “con buôn” đã trở thành giường cột của quốc gia, của nhà nước, chính phủ, của nhân dân, của các tổ chức xã hội. Hàng năm đều có “mít tính kỷ niệm”, trao giải vàng, giải bạc cho những “con buôn” giỏi.

Một comment có tên là Dokimkhang đã giúp Lê Xuân nhận thức cho đúng về doanh nhân thế này:

“”thực dụng” và “con buôn” thì đã sao? ngày nay người ta đang đội con buôn lên đầu, rồi trao hết giải thưởng này, tới giải thưởng khác đó thôi. với việc mang chuyện riêng tư của tác giả ra để tranh luận về tác phẩm của họ, tôi sợ rằng thiếu nghiêm túc và không công bằng, nhất là những chuyện thời bao cấp chỉ xem như sự bi hài, vì chả lẽ chúng ta lại đi tìm “thân thế và sự nghiệp” những ai đã đọc Nguyễn Huy Thiệp và cả ông giám đốc vừa mua bản quyền các tác phẩm cuả Nguyễn Huy Thiệp?.vì thực tế ở Việt Nam và cả trên thế giới, không thiếu gì những tác giả đã từng trải qua cuộc sống bi đát dưới đáy của xã hội, nhưng những tác phẫm của họ viết về những gì họ từng trải lại trở nên bất hủ. Với những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp tôi nghĩ nó ra đời đúng lúc, khi mà niềm tin trong con người có phần suy giảm, thậm chí sụp đổ trong một bộ phận người đọc. Nguyễn Huy Thiệp như một dòng nước lạ (độc hay không tính sau) thu hút mọi người, nhưng cũng như cuộc chơi tắm bùn nó sẽ tạo nên một trận cười khoái trá sau những căng thẳng và trét, nhưng rồi nhìn lại mặt ai cũng vấy bùn””.

Cái hèn nhà giáo Lê Xuân còn ở chỗ, tại sao lại chỉ trích Thiệp, một công chức nhà nước, phải cần khôn một tí mới có thể tồn tại được mà không vạch mặt những kẻ chẳng cần phải “ buôn” mà ngày ngày tự tung tự tác thít cổ dân, cướp bóc của cải, ăn trên ngồi chốc như vua. Tại sao “thày” không đem chữ ra mà vạch mặt cái tổ chấy này lại chỉ dám soi mói một bạn đồng nghiệp, phải khôn một tí mới sống được, phải học Câu Tiễn nếm cứt vua Ngô mới sống được? Nó cũng tương tự như các chiến sĩ cách mạng, buộc phải bịa ra tấm gương Lê Văn Tám để cổ vũ phong trào cách mạng mà thôi.

Tiểu kết:

Xin được tiểu kết về hai ông Chu Giang – Nguyễn Văn Lưu và Lê Xuân  bằng một commet khác có tên là Hoa tri trên lethieunhon.com như sau:

“Nguyễn Văn Lưu và Lê Xuân là ai thực sự bạn đọc trẻ không biết, chỉ biết thông qua danh tiếng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, khi các ông có các bài chửi đổng, vu khống Nguyễn Huy Thiệp. Ở các nhà sách, sách của người này người kia chất đống cũ mốc năm này tháng kia không có người mua nhưng sách của Nguyễn Huy Thiệp ra cuốn nào hết cuốn nấy, không tranh thủ mua thì hết sạch. Vừa rồi ngày thơ Việt Nam, ở Sài Gòn một số người đang mua cả bè cá định đi phóng sinh (nhân ngày rằm tháng giêng) nghe tin Nguyễn Huy Thiệp bán Vong Bướm ở miền Bắc đã bỏ dở bè cá bay ra Bắc để mua được sách, khi về cầm theo Vong Bướm có chữ ký của nhà văn. Sự thành công ngoài sức tưởng tượng của Vong Bướm đầu năm nay và cả việc NHT bán bản quyền tác phẩm 5 năm cho NXB Trẻ trị giá nửa tỉ đồng đã làm xốn sang quá lớn đối với nhiều người cầm bút, tôi nghĩ đó chính là lý do có các bài viết này ra đời. Có một điểm xin được phê bình là Nguyễn Văn Lưu (không biết là ai) viết không có nghệ thuật lắm khiến người ta đâm ra nghi ngờ tính khoa học của bài viết, tương tự như thế ở bài này Lê Xuân (không biết là ai) cũng không thành công. Nếu có các bài viết hay thì có thể mới thu hút được các cây bút phê bình lớn trong nước, dựng được một sự kiện để mai sau còn nhắc. Các thông tin bài viết người đọc không tin”.

3. Bùi Công Thuấn, đúng không cần cải, nhưng…

Nhà phê bình Bùi Công Thuấn. Ảnh: lethieunhon.com

Một nhà phê bình chính danh Bùi Công Thuấn vào hùa, theo cái cách thì thụt “ném đá giấu tay” không nói tới giá trị văn chương Thiệp hay, dở thế nào mà là phê bình “Nguyễn Huy Thiệp là người thế nào” và “ Nghệ thuật giấu mặt của Nguyễn Huy Thiệp”. Ông ta vòng vo Tam quốc, chẳng biết khen Thiệp hay chê Thiệp, hay khen chê một ít như thói quen phê bình điếm đàng của các nhà phê bình nước ta hay làm, để rồi ông quyết bỏ Thiệp vì Thiệp không có triết học, không có tư tưởng.

Bùi Công Thuấn nói: “Hãy bỏ qua tâm ý của Thiệp, thì bạn đọc nhận ra rõ ràng rằng Thiệp chẳng có một lý thuyết xã hội nào, hay nền tảng triết học tư tưởng nào để lập ngôn, chỉ có cách nói đưa đẩy vòng quanh, cảm tính, như thế Thiệp sẽ chẳng đối thoại với ai được (những lý thuyết gia kinh tế, chính trị),

Thật là “u u minh minh”, cứ phải có triết học trong mình mới sáng tác đựơc ư? Cứ phải có thần tượng trong mình mới sáng tác được ử? Thiệp đã lập ngôn và mỗi lập ngôn của Thiệp đều để lại ấn tượng mạnh trong xã hội theo ý nghĩa tích cực và lập ngôn của Thiệp đã mang tư tưởng Thiệp, và Thiệp đã trên cả có ích của biết bao người. Thử hỏi, Thích ca khi sáng tạo ra đạo Phật, Gie-su sáng tạo ra đạo Thiên chúa, trong hai ông có triết học nào, tư tưởng nào, thần tượng nào?

Bùi Công Thuấn cố gắng làm trò “ ném đá giấu tay” đến mức tối đa  nhằm“lôi cổ” Thiệp ra để hạ sát. Nhưng chỉ cần trích theo Bùi Công Thuấn cũng thấy Nguyễn Huy Thiệp đúng.

Chẳng hạn: “Thiệp nói nhân dân VN đang bị nô lệ mà không biết”- Đúng không thể cải.

“Thiệp nói về các nhà chính trị VN: Họ chỉ “hứa hẹn suông để bịp bợm thôi”, vàĐừng có bẫy tay vào chính trị tư tưởng, mày đều lắm”…” Bản chất của mày là một thằng trí thức lưu manh chính trị. Tởm lắm! (Những Người Thợ Xẻ) – Cũng đúng không thể cải.

Về cái Hội nhà văn Việt Nam, Nguyễn Huy Thiếp viết, Bùi Công Thuấn “tố cáo” và ngầm kêu gọi Hội  đuổi Thiệp ra khỏi Hội:

““Trong cách chửi, giọng văn NHT bình tĩnh dẫn dụ, sau đó bất ngờ bốp chát thẳng vào mặt đối tượng. Xin đọc. “ …Nhìn vào danh sách hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng, sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh… Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ… trên thực tế cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó: nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa. (Nguyễn Huy Thiệp – Trò Truyện Với Hoa Thủy Tiên) – Cũng đúng không thể cải.

Bùi Công Thuấn “tố cáo” Thiệp, tiếp:“Lúc này ở Châu Âu, nền Đế chế Napôlêông Bonnapac đã sụp đổ. Châu Âu chín chắn hơn. Họ đã bắt đầu hiểu vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc không phải do cách mạng hoặc chiến tranh mang lại, cũng không phải do các nhà tư tưởng hoặc các hoàng đế mang lại, bởi vậy họ sống đỡ căng thẳng hơn, giản dị hơn, hợp tự nhiên hơn…” (Vàng Lửa)

và:  “Tôi nói NHT lệch lạc, võ đoán và tự ty khi đưa ra nhận định: Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp” – Đúng không thể cải.

Tiếp: “Lê Lợi biết tư tưởng đó chỉ là ngọn cờ khởi sự chứ không phải phương pháp. Hơn nữa ngọn cờ ấy chỉ phù hợp với tình trạng khốn cùng về vật chất của đám đông trong từng khoảng thời gian nhất thời. Lê Lợi vĩ đại vì đã thực tế hơn Nguyễn về cuộc sống…Nguyễn tôn sùng đám đông nhưng Lê Lợi tin chắc chỉ có những cá nhân siêu việt mới có khả năng gây men cho lịch sử. Lê Lợi hiều rõ khả năng tạo dựng và khả năng phá bỏ của Nguyễn nhưng Nguyễn lại không có khả năng giữ nguyên tình trạng”. – Đúng không thể cải.

Thuấn móc Thiệp: “ Tôi biết sẽ có nhiều người phản ứng lại điều tôi nói “trắng phớ” ra như thế nhưng ở đây nó là thực tế. Tôi chỉ nói ra một thực tế “tàn nhẫn” mà mọi người vẫn tránh né hoặc “không nỡ” nói ra mà thôi. Đã đến lúc người ta phải nhìn vào thực tế để thúc đẩy văn học cũng như thúc đẩy xã hội phát triển” ( Nguyễn Huy Thiệp – Trò Truyện Với Hoa ThủyTiên.) – Cũng đúng không thể cải.

Từ hàng loạt những tố cáo, mạ lị, gợi ý trên, Bùi Công Thuấn kết luận: “Thiệp đã nhận mình là thằng đểu, thằng tởm lợm,… được cài cắm trong câu chuyện của Thiệp thì chính Thiệp là con người ấy”..

Sao ngây thơ thế nhà phê bình thứ thiệt ông Buì Công Thuấn ơi!

Một trí thức dám nhận mình làm cái nghề tởm lợm, nhất định anh ta không bao giờ tởm lợm. Vì khi anh ta đã nhận ra nó, nhất định anh ta không bao giờ muốn sống chung với nó. Tởm lợm là tởm lợm của ai kia?

Thiệp nói, chính trị bản chất là tởm lợm, thế nhưng nhiều kẻ không nhận ra lại cứ tưởng mình đang cứu nước cứu dân, siêu vong, độ thế, kẻ đó mới đích thị là kẻ tởm lợm. Nhà phê bình Bùi Công Thuấn chẳng lẽ lại không hiểu cái ngầm ý “nói zậy mà không phải zậy” của Nguyễn Huy Thiệp sao?. Không hiểu Thiệp mà bỏ Thiệp thì oan cho Thiệp quá. Ông Thuấn nói “Tôi đã từ bỏ Nguyễn Huy Thiệp từ lâu lắm rồi! Bởi chẳng nên mất thì giờ vào những thứ vô bổ mà Thiệp chào mời”. Tôi tin ở đây ông Thuấn nói như vậy, thực chất cũng lại là “nói zậy mà không phải zậy” vì quên “từ lâu lắm rồi!”, sao Nguyễn Văn Lưu vừa bắn viên đại bác bẩn đầu tiên vào Nguyễn Huy Thiệp, Bùi Công Thuấn đã vội “ nhảy” vào ngay và cũng có tới hai phát súng bẩn?

Đối với cách phê bình của ông Thuấn còn nhiều điều phải bàn, nhưng trích vài ý như thế là biết ông Thuấn là người thuộc hàng ngũ nào rồi, trình độ nào rồi, tư tưởng nào rồi.

4. Lời kết cho ba ông:

Mấy câu thơ không phải của Thiệp viết nhưng Thiệp dùng nó trong tác phẩm của mình:

“Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/

Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào lồn/

Vợ tôi nửa dại nửa khôn/

Hôm nay lại bảo: Dí lồn  vào thơ!”

Thiệp đàng hoàng viết chữ lồn chứ không như Bùi Công Thuấn dù trích nhưng cũng chí dám viết chữ lồn bằng el, chấm, chấm, chấm – l…. Cụ thể như sau:

“Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ/

Hôm qua nó bảo: Dí thơ vào l…/

Vợ tôi nửa dại nửa khôn/

Hôm nay lại bảo: Dí l…  vào thơ!”

Ông Lưu, ông Xuân, ông Thuấn cho rằng, đấy là qúa tục và quá bẩn và ba ông không chịu được khi thơ phú lại bị dí vào lồn.

Đền thơ Linga – Yoni ở Thánh địa Mỹ Sơn- Di sản văn hóa vật thể thế giới.

Thưa nhà giám đốc Nhà xuất bản Văn học Nguyễn Văn Lưu, thưa nhà giáo Lê Xuân, Nhà phê bình thứ thiệt Bùi Công Thuấn:

Cái quan niệm nhìn xem, gọi là ngự lãm; uống gọi là ngự tửu; ăn gọi là ngự thiện… của mấy ông đồ nho gàn “dựng” lên từ xửa, từ xưa cũng cần phải có “Biện chứng pháp Mac –Lê”, “Khoa học Mac- Lê” soi vào cho nó ra nhẽ. Tôi cho đây là những quan niệm hủ bại của đám nhà nho điên khùng, muốn cao thượng hơn người khác mà biến thái ra nó. Cứ như đã là nhà nho rồi thì nhất nhất con người không phải chui ra từ lồn, rồi khi trưởng thành không phải yêu nhau và ân ái với nhau ở lồn. Hiện đại, văn minh, văn hóa là sự vật nào phải gọi đúng tên sự vật ấy. Cái tay, cái mắt, cái cặc, cái lồn.. là những bộ phận có nhiệm vụ khác nhau nhằm giúp con người sinh ra, lớn lên và kết thúc. Chúng hoàn toàn bình đẵng và liên kết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất là con người. Chẳng có cái nào có văn hóa hơn cái nào; chẳng có cái nào đáng gọi, cái nào không đáng gọi. Khoa học văn minh chỉ cần xác định giá trị của nó, cái nào hơn cái nào mà thôi. Tôi dám chắc rằng, trong Đời thì cặc, lồn là cái có giá trị nhất. Chúa Gie-su khi sáng tạo ra con người đã quyết sáng tạo ra nó như vậy và đã gửi gắm vào nó như vậy. Nếu không có nó, đàn ông yêu đàn bà bằng cách nào? Lòai người tồn tại và ngày một phát triển bằng cách nào? Lồn sạch sẽ và vĩ đại hơn mấy ông đồ gàn, mấy ông đương đại sĩ diện rởm rất nhiều.

Cho nên, từ xưa dân tộc này đã dựng tượng la liệt ở khắp nơi để thờ lồn và cặc. Những bảo vật ấy vẫn còn “trơ gan cùng tuế nguyệt” ở khắp đất nước ta, tập trung nhiều ở miền Trung, hẳn ba ông đã rõ.

Cho nên, Nguyễn Huy Thiệp gọi lồn là lồn và không ngại ngần bảo các bà vợ đem thơ dí vào lồn, tức là dí vào cái chỗ sạch sẽ nhất, giá trị nhất và vĩ đại nhất ấy. Thiệp hồn nhiên gọi sự vật nào đúng tên sự vật ấy, Thiệp đã là người đàng hòang nhất, tử tế nhất, khoa học nhất, biện chứng nhất và biết quý trọng cái gì cần phải quý trọng nhất. Nguyễn Văn Lưu, Lê Xuân và Bùi Công Thuấn thì không. Ba ông cho rằng, lồn là một thứ ghê tởn, nhơ bẩn, mở mồn ra nói cũng không được, nên đã hạ sát, nhục mạ Nguyễn Huy Thiệp hết lời. Nguyễn Văn Lưu ơi, Lê Xuân và Bùi Công Thuấn ơi, tôi cá 1 ăn vô cùng với ba ông rằng, bất kỳ một con người nào, khi dùng nước đái của bất kỳ một người đàn bà nào đem xoa lên cái mặt người, nhất định trên những cái mặt ấy sẽ lập tức hiện lên hình ảnh cái lồn đã sinh ra ông ta; hình ảnh cái lồn mà bất kỳ một người đàn ông tử tế nào đêm đêm vẫn vuốt ve liếm láp và hú hí với nó. Nó là sự hiện diện của “tội tổ tông mà) mà ba ông. Tôi tin, sau khi làm như vậy, rất có thể ba ông phải xin lỗi ông Thiệp và phải cảm ơn ông Thiệp nữa, vì khi các ông đã làm như thế, ít nhất trong ngày mai, các ông sẽ được vợ các ông cho “ ăn ngon, ngủ yên” được một ngày. Thế là đủ cho ba ông rồi đấy.

Một ngày tháng 4.2012 – P. T.

Tướng Trung Quốc kêu gọi “hành động dứt khoát” với Philippine – VnMedia

29 Th4
Tướng Trung Quốc kêu gọi “hành động dứt khoát” với Philippine
 

Thiếu tướng Luo

<!–
(VnMedia) – Trung Quốc nên có “hành động dứt khoát” với Philippine trong cuộc tranh chấp lãnh thổ ở bãi cạn Scarborough thuộc Biển Đông. Thiếu tướng Luo Yuan hôm qua đã kêu gọi như vậy.
–>

(VnMedia) – Trung Quốc nên có “hành động dứt khoát” với Philippine trong cuộc tranh chấp lãnh thổ ở bãi cạn Scarborough thuộc Biển Đông. Đây là lời kêu gọi vừa được Thiếu tướng Luo Yuan đưa ra ngày hôm qua (27/4). Thiếu tướng Luo là một nhà quân sự nổi tiếng với các quan điểm diều hâu và thường có những bài xã luận mạnh mẽ đăng tải trên các tờ báo nổi tiếng ở Trung Quốc. Trong bài bình luận mới được đăng tải trên website china.org.cn, Thiếu tướng Luo cho rằng, Trung Quốc không nên từ bỏ chính sách “chiến tranh bằng mọi giá” để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của nước này ở Biển Đông. “Chính sách phát triển hòa bình và ‘thời kỳ cơ hội chiến lược’ mà Trung Quốc đang áp dụng loại trừ các cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, sẽ không đúng nếu nghĩ rằng Trung Quốc sẽ hoàn toàn loại bỏ lựa chọn hành động quân sự trong bất kỳ trường hợp nào ở ‘thời kỳ cơ hội chiến lược’”, ông Luo đã phát biểu như vậy. “Ý nghĩ cho rằng, Trung Quốc sẽ từ bỏ quan niệm chiến tranh bằng mọi giá vì triết lý ‘phát triển hòa bình’ là  hoàn toàn sai lầm. Khác biệt lớn giữa “phát triển hòa bình’ và ‘phát triển không hòa bình’ nằm ở động cơ chiến tranh. Để đảm bảo chủ quyền và các quyền lãnh thổ, chúng tôi sẽ không ngại ngần đối mặt với bất kỳ thách thức quân sự nào”, Thiếu tướng Luo nói thêm. Theo lời ông Luo – người nắm giữ chức Phó Tổng thư ký Hiệp hội Khoa học Quân sự Trung Quốc, thay vì rút 2 tàu khỏi bãi cạn Scarborough, “Trung Quốc đáng ra nên nắm bắt cơ hội tạo ra từ cuộc đụng độ này để củng cố chủ quyền ở đảo Huangyan (cách gọi của Trung Quốc đối với bãi cạn Scarborough) bằng cách cắm lá cờ Trung Quốc hoặc thiết lập một căn cứ quân sự hay một trung tâm đánh bắt cá ở đây”. Thiếu tướng Luo cáo buộc Philippine đã gây ra cuộc đối đầu căng thẳng và quyết liệt ở Biển Đông với Trung Quốc. “Vì thế, việc Trung Quốc thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia là rất quan trọng”, ông Luo nói thêm. Thiếu tướng Luo còn nhắc nhở, giới lãnh đạo Trung Quốc nên nhớ đến lời răn dạy của cố Chủ tịch Đặng Tiểu Bình – người từng nói rằng Bắc Kinh cần phải “luôn luôn đặt chủ quyền và an ninh quốc gia lên hàng đầu”. Ông Luo cáo buộc, mặc dù Bắc Kinh muốn giải quyết các cuộc tranh chấp quốc tế thông qua đối thoại và ngoại giao nhưng Philippine không muốn điều đó. So sánh sức mạnh quân sự Thiếu tướng Luo tin rằng, Trung Quốc sẽ giành chiến thắng nếu có cuộc chiến tranh với Philippine liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông. “Chính Philippine đã vi phạm chủ quyền Trung Quốc ở đảo Huangyan bằng cách đến kiểm tra tàu thuyền đánh bắt cá của Trung Quốc. Vì vậy, chúng ta cần phải hành động để đáp trả sự khiêu khích không cần thiết này. Qua đó, chúng ta để cho Philippine và bất kỳ nước nào muốn khiêu khích trong tương lai biết rằng, hành động của họ sẽ không được dung thứ”. Ông Luo còn cảnh báo, “xét đến so sánh sức mạnh quân sự của Trung Quốc và Philippine, người dân Philippine nên tự đánh giá dựa trên lý trí xem liệu chính phủ của họ có thể đối đầu với Trung Quốc hay không”. Thiếu tướng Luo thậm chí còn tin rằng Trung Quốc sẽ có được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nếu khẳng định chủ quyền ở bãi cạn Scarborough. Bắc Kinh và Manila đều đòi chủ quyền ở vùng bãi cạn Scarborough. Hôm 8/4, tàu thuyền giữa hai nước đã có một cuộc va chạm, châm ngòi cho cuộc đối đầu giữa hai nước kéo dài đến hôm nay. Philippine muốn đưa cuộc tranh chấp này ra giải quyết ở tòa án quốc tế nhưng Trung Quốc không chấp nhận điều này. Từ trước tới nay, Bắc Kinh luôn khẳng định lập trường muốn giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông giữa họ với các nước láng giềng trong khuôn khổ song phương. Trong cuộc đối đầu với Philippine hiện nay, Bắc Kinh liên tục cảnh báo Manila không được “quốc tế hóa” tranh chấp ở Biển Đông. Trung Quốc tin rằng, Philippine đang tìm cách lôi kéo Mỹ can thiệp vào các cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước. Điều này khiến Bắc Kinh rất bực tức và khó chịu. Được biết, vào ngày 30/4 tới, các quan chức quân sự và ngoại giao Mỹ, Philippine sẽ có cuộc họp nhằm củng cố mối quan hệ đồng minh thân thiết. Tranh chấp Biển Đông được cho sẽ là một trong những chủ đề chính của cuộc gặp này. Phát ngôn viên Lầu Năm Góc John Kirby hôm qua tuyên bố, Philippine là “một đối tác tuyệt vời” của Mỹ ở khu vực.

 

Kiệt Linh – (tổng hợp)

Nhìn từ biển Đông: Mỹ đang bủa vây Trung Quốc?

29 Th4
Nhìn từ biển Đông: Mỹ đang bủa vây Trung Quốc?
 

<!–
(VnMedia) – Bắc Kinh đang “đứng ngồi không yên” trước những hoạt động tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là ở những nước láng giềng Trung Quốc.
–>

(VnMedia) – Từ năm ngoái, Bắc Kinh đã luôn ở trong trạng thái “đứng ngồi không yên” trước những động thái tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là ở những nước láng giềng xung quanh Trung Quốc. Dù mối quan hệ Mỹ-Trung có tầm quan trọng hàng đầu thế giới với khả năng tác động đến toàn cầu nhưng mối quan hệ này lại không thể phát triển được như mong muốn. Lý do là giữa Mỹ và Trung Quốc luôn tồn tại một sự nghi kỵ, thiếu tin tưởng lẫn nhau. Trước một Trung Quốc ngày càng lớn mạnh và có nhiều động thái thể hiện sức mạnh mới của họ, Mỹ tỏ ra đề phòng. Trong khi đó, Bắc Kinh luôn tin rằng, Washington muốn kiềm chế, không cho họ phát triển. Bắc Kinh có lý do để lo ngại rằng, Mỹ đang tìm cách bao vây họ. Bắt đầu từ cuối năm ngoái, giới lãnh đạo ở Washington đã tích cực thực hiện những hoạt động ngoại giao và quân sự sôi động ở Châu Á-Thái Bình Dương. Washington đã không ngần ngại công khai ý định quay trở lại tìm kiếm vị trí bá chủ Châu Á – một khu vực mà Bắc Kinh coi là “sân sau” của họ. Điều đáng chú ý là Mỹ đang tăng cường, thắt chặt mối quan hệ với một loạt nước láng giềng sát Trung Quốc. Mỹ còn có một loạt kế hoạch quân sự gây khó chịu cho Bắc Kinh ở khu vực. Trong chuyến thăm đến Australia hồi cuối năm ngoái, Tổng thống Barack Obama đã chính thức thông báo kế hoạch triển khai hàng nghìn lính thủy đánh bộ đến xứ sở chuột túi trong vài năm tới. Từ đầu năm nay, kế hoạch này đã được từng bước thực thi. Ngoài ra, Mỹ cũng bắt đầu có nhiều động thái tăng cường sự hiện diện quân sự ở Singapore, Thái Lan… như thường xuyên phái những tàu chiến hiện đại của mình đến những nước này. Washington còn đẩy mạnh cung cấp vũ khí cho các nước Châu Á-Thái Bình Dương. Những hoạt động này của Washington đã khiến Bắc Kinh thực sự “nóng mặt”. Chưa hết, Mỹ cũng tích cực tiến hành các bước đi nhằm củng cố quan hệ liên minh gắn bó với Philippine – một nước có chung đường biên giới với Trung Quốc và cũng là nước có tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Biển Đông giàu dầu mỏ. Trong chuyến thăm Philippine song song với chuyến thăm của Tổng thống Obama đến Australia hồi năm ngoái, Ngoại trưởng Hillary đã cam kết sẽ bảo vệ Philippine trong một cuộc tranh chấp lãnh hải ở khu vực. Cam kết này rõ ràng ám chỉ đến Trung Quốc bởi giữa nước này với Philippines đang có cuộc tranh chấp lãnh hải ở khu vực Biển Đông. Mối quan hệ liên minh trên đang dần trở thành mối lo ngại hàng đầu của Bắc Kinh khi gần đây, Washington đã có nhiều động thái can thiệp trực tiếp vào cuộc đối đầu giữa hai nước Châu Á ở Biển Đông. Không chỉ tuyên bố ủng hộ bằng lời nói, Mỹ còn tiến hành tập trận chung với Philippine để “thị uy” Trung Quốc. Sẽ còn đáng lo ngại hơn rất nhiều cho Trung Quốc khi có tin, Tổng thống Philippine có ý định đề xuất cho Mỹ đưa quân đến một căn cứ của nước này. Đề xuất này được cho là sẽ được đưa ra khi lãnh đạo hai nước Mỹ-Philippine có cuộc gặp quan trọng vào ngày 30/4 tới. Nếu Mỹ đưa quân đến Philippine thì sự  hiện diện quân sự của siêu cường số 1 thế giới ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương sẽ rất lớn. Mỹ vốn đã có hàng nghìn quân đóng tại Hàn Quốc, Nhật Bản và mới đây là Australia. Thêm quân đến Philippine, Mỹ rõ ràng đang khép chặt vòng vây xung quanh Trung Quốc. Trong một động thái khiến Trung Quốc không thể không “giật mình”, Washington mới đây đã bắt đầu cải thiện quan hệ với Myamar – nước láng giềng có vị trí chiến lược với Trung Quốc và là một đối tác kinh tế quan trọng của cường quốc Châu Á. Cụ thể, Mỹ cùng với Liên minh Châu Âu, Nhật Bản đang dần nới lỏng các biện pháp trừng phạt với Myanmar. Trước đó, do Myamar phải chịu các biện pháp trừng phạt của phương Tây nên Trung Quốc đã nổi lên là đồng minh lớn nhất của nước này. Việc Washington cải thiện quan hệ với Myamar khiến Bắc Kinh lo sợ mất ảnh hưởng đối với nước láng giềng nằm sát nách họ này. Không ít các học giả Trung Quốc đã tỏ ra hoài nghi về những động thái mới nhất của Washington ở Myamar. Họ đã đặt câu hỏi, tại sao Mỹ không cải thiện quan hệ với Myamar từ cách đây vài thập kỷ mà lại để đến thời điểm hiện nay. Nhiều người tin rằng, đây là một phần trong kế hoạch của Washington nhằm bao vây Trung Quốc bằng những nước thân Mỹ. Trong khi Mỹ đang nỗ lực củng cố hình ảnh của nước này ở Châu Á-Thái Bình Dương thì ngược lại, hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực đã phần nào bị ảnh hưởng bởi những cuộc tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Biển Đông. Đây là diễn biến hoàn toàn không có lợi cho Bắc Kinh. Nếu Trung Quốc tiếp tục có thái độ cứng rắn, quyết liệt trong tranh chấp lãnh thổ với các nước trong khu vực thì họ đã vô tình đẩy những nước này đến gần với Mỹ hơn. Trường hợp của Philippine trong cuộc đối đầu mới nhất với Trung Quốc ở Biển Đông là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó. Trong thời gian qua, người ta đã chứng kiến Manila cùng Washington có một loạt động thái thắt chặt quan hệ nhằm đối phó với Bắc Kinh.

 

Kiệt Linh

ĐỜI THƯỜNG TRONG DINH ĐỘC LẬP, NGÀY 30-4-1975 – maithanhhai

29 Th4

Xe đạp – điếu cày – quạt nan và sự thảnh thơi buổi trưa chiến thắng

Mai Thanh Hải Blog – Sách giáo khoa lịch sử và cả các phương tiện thông tin đại chúng, khi nhắc đến thời khắc bộ đội ta chiếm Dinh Độc Lập buổi trưa ngày 30-4-1975, suốt 36 năm qua, vẫn chỉ quay đi quay lại hình ảnh chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng và Đại đội trưởng Bùi Quang Thận (Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2) cắm cờ Giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập. Thế nhưng ít ai biết rằng, ngay sau đó, các đơn vị xe tăng – thiết giáp – bộ binh cũng đã ào ạt đổ về, tập trung địa điểm này. Chiến thắng – Qua những hình ảnh thường thấy bao năm nay, là cờ hoa rợp trời, bộ đội mặc quần áo mới cóong, cấp hàm đỏ tươi, ngồi uy nghiêm trên thùng xe… Ít ai biết: Chiến thắng – Sau thời khắc 11h30 ngày 30-4-1975, tại Dinh Độc Lập là những giây phút đời thường, dung dị và rất đặc trưng của những anh bộ đội miền Bắc trẻ măng; là cái thở phào nhẹ nhõm sau 1 chặng đường hành quân vất vả, cái chết và sự sống cách nhau gang tấc; là quần áo rách bươm, nồng nặc mùi thuốc súng, lăn trên cỏ ngủ ngon lành như chưa bao giờ được ngủ; là tò mò ngắm nghía thành phố mới, người dân mới và những đồ vật, cảnh sắc mới quanh mình… Chiến thắng – Có nghĩa là hết chiến tranh, hết nổ súng, hết đổ máu và được nguyên vẹn trở về với quê hương, gia đình, người thân.
Xin trân trọng giới thiệu một số hình ảnh khác với hình ảnh ta vẫn thấy, do các phóng viên nước ngoài và phóng viên chiến trường ghi lại, ngay trong ngày 30-4-1975, tại Dinh Độc Lập:

Trước 11h30 phút, khi cờ 3 sọc vẫn còn trên nóc Dinh Độc Lập
Bộ binh tiến vào Dinh sau xe tăng
Sân trước của Dinh Độc lập, thời điểm 11h30 ngày 30-4-1975
Những người lính của chế độ cũ bỏ vũ khí đầu hàng
Sĩ quan Tăng Thiết giáp của chế độ cũ đầu hàng
Trước bậc thềm vào Dinh
Kíp chiến đấu xe tăng 879 trong sân Dinh
Ngồi nghỉ
Nhiều anh em trên 1 chiếc xe tăng
Lính trẻ vào Dinh
Nồi niêu xoong chảo cũng tiến về Dinh
Tay xách nách mang
Nơi rửa mặt và rửa chân lý tưởng (hình chụp trong Lễ Diễu binh, mừng chiến thắng 5-5-1975)

10 nhận xét:

  1. Những tư liệu thật quý giá, bác cho phép em copy qua blog để mừng 30-4 nha ^^

    Trả lờiXóa

  2. Cám ơn Bác 3Gai nhé. Hình đẹp quá, em rất thích.Thích nhất tấm hình đầu tiên anh bộ đội đang đứng quạt, cái xe đạp lắm đạn thế.

    Trả lờiXóa

  3. xin ngả mũ kính chào các anh !

    Trả lờiXóa

  4. đại ca này kiếm đâu ra những hình ảnh này thế .tui chưa bao giờ dược xem .tuyệt!!!

    Trả lờiXóa

  5. Em cũng mượn bài của anh Hải về trưng ở nhà mình nhé.

    Trả lờiXóa

  6. Bạn Mai Thanh Hải có thể cho biết: Bức hình https://vonga1153.files.wordpress.com/2012/04/96844404.jpg Bạn lấy ở đâu không? Tôi có vài băn khoăn đã trình bày ở bài: Một tấm hình có thể thay đổi lịch sử? http://vn.rd.yahoo.com/blog/mod/new_art/*http://vn.360plus.yahoo.com/hoaphuongdo-2009/article?mid=255&prev=-1&next=252

    Trả lờiXóa

  7. hi hi bố em là trung đội trưởng trên xe tăng kìa – bao nhiêu năm rồi ….

    Trả lờiXóa

  8. Thật là vinh dự ! Nhưng tao sao bạn lại dùng Nặc danh ?

    Xóa

  9. tấm hình cuối cùng là chụp ở buổi ra mắt ỦY BAN QUÂN QUẢN THÀNH PHỐ SA2IGON- GIA ĐỊNH ngày 7-5-1975 (không phải là ngày 5-5 đâu nhé), còn lễ mừng chiến thắng tổ chức vào ngày 15-5-1975 trên đường Lê Duẩn ngày nay (lúc đó là đường Thống Nhất), ở ngoài Dinh Độc Lập….

Bùi Công Tự: ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC – nguyenxuandien

29 Th4

Bùi Công Tự: ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC

 
Bên lề Lễ Diễu binh, mừng chiến thắng 5-5-1975). Nguồn: MTH-blog
ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC
BÙI CÔNG TỰ
Nhớ lại 37 năm trước, ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi hòa trong dòng người Hà Nội trôi bồng bềnh trên các đường phố với một niềm vui sướng tưởng như bất tận: Sài Gòn giải phóng rồi ! Cả Hà Nội đổ ra đường. Một hãng thông tấn nước ngoài đưa tin: Hôm nay Hà Nội là thành phố vui nhất thế giới!
Niềm vui nào rồi cũng qua đi… cho đến bây giờ. Nhân kỷ niệm ngày 30 tháng Tư, chương trình thời sự VTV lại vang lên giai điệu hào hùng của bài ca “giải phòng Miền Nam” quen thuộc tự thuở nào. Nhưng lòng tôi thì đã lạnh lùng. Tôi đang là công dân của Sài Gòn. Và tôi thấu hiểu câu nói của ông Võ Văn Kiệt – người con ưu tú của miền Nam: “Nhiều sự kiện khi nhắc lại, có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Ông Võ Văn Kiệt được dân Sài Gòn – nhất là giới trí thức, văn nghệ sĩ – yêu mến, kính trọng nhiều hơn bởi câu nói đầy “chất Người” đó. Còn tôi, tôi muốn gọi ông là “người Cộng Sản có trái tim”.
Thế hệ những người như tôi sinh ra cùng Cách mạng
tháng Tám, cùng nhà nước Dân chủ Cộng hòa. Cả một thời lịch sử oanh liệt và bi thương đi qua mái tóc bạc cùng cả một đời mong mỏi. Thời kháng chiến 9 năm thì mong đến “Ngày Độc lập”, sau hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 thì lại mong đến “ngày Thống nhất”. Rồi ngày ấy cũng đến, ngày 30 tháng Tư năm 1975 được coi là ngày thống nhất đất nước.
Báo chí ngày ấy nhắc đi nhắc lại câu: “Non sông đã thu về một mối”. Nhưng ít người để ý rằng “lòng người còn trăm mối ngổn ngang”. Người giải phóng trong cơn say chiến thắng cứ đinh ninh nghĩ rằng mình “chiến đấu và chiến thắng kẻ thù” mà có biết đâu là mình “chiến đấu và chiến thắng đồng bào của mình”.
 
Hai người lính trẻ từ hai chiến tuyến
Tôi viết đến đây thì bỗng nghe trong một chương trình truyền hình Trọng Tấn đang hát bài “Đất nước trọn niềm vui”. Tôi muốn hỏi nhạc sĩ Hoàng Hà – tác giả ca khúc này – phải chăng ông đã viết ra nhạc phẩm ấy trong một tâm trạng phấn khích ngây thơ? Vì ông ở trong phe chiến thắng nên ông không nhận ra “có hàng triệu người đang buồn” và thế nên “đất nước chưa trọn niềm vui”.
Tôi cứ tự hỏi tại sao ngày ấy chúng ta phải giam giữ hàng vạn đồng bào (sỹ quan binh lính Việt Nam cộng hòa) khi họ đã buông súng đầu hàng? Những nhà tù được gọi là “trại cải tạo” ấy chẳng những không “cải tạo” được ai mà còn chuốc thêm thù oán. Tại sao chúng ta lại để cho hàng triệu đồng bào phải bỏ nước ra đi khiến ngôn ngữ loài người có thêm từ ngữ “thuyền nhân”? Tại sao chúng ta lại chiếm đoạt các nhà máy, cửa hàng… của các công dân trong cái gọi là “cải tạo tự bản tư doanh”?
Tại sao?
Lại nghĩ, nếu như lúc ấy trong tư thế người chiến thắng, chúng ta hành xử với các đồng bào của mình (những người ở phía bên kia) được như người Tây Đức đối đãi với người Đông Đức sau khi bức tường Berlin sụp đổ thì tình thế có lẽ đã khác biết bao? Nhưng chúng ta đã không đủ văn hóa để ứng xử văn minh như người Đức. Thực tế là chúng ta đã hành xử hà khắc nếu không muốn nói là vô luân. Và vì thế mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc càng thêm căng thẳng.
Tuy thế vấn đề hòa hợp dân tộc cũng đã được đặt ra. Nhà nước Việt Nam cũng đã có những chính sách ngày càng cởi mở hơn, tạo điều kiện cho kiều bào đóng góp với quê hương đất nước. Nhưng những gì đã có là chưa đủ. Đâu đó vẫn còn những quy định, những phát ngôn, những việc làm chưa thấu suốt tinh thần hòa hợp.
Theo thiển nghĩ của tôi, chỉ trừ những kẻ phản quốc, còn tất cả những người có huyết thống thuộc 54 dân tộc Việt Nam, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều là thành viên của nhân dân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Không thể có chuyện tất cả 90 triệu nhân dân đều có chung một quan điểm chính trị, đều có chung một cách nhìn nhận. Ngay cả lòng yêu nước cũng có nhiều cách thể hiện khác nhau. Cho nên để hòa hợp dân tộc thì phải chấp nhận sự khác biệt, vượt lên trên những khác biệt, kể cả sự khác biệt về chính kiến, để tất cả mọi công dân đều có cơ hội chung sức chung lòng xây dựng đất nước Việt Nam.
Sự hòa hợp dân tộc trong một quốc gia còn thể hiện ở chỗ đại bộ phận nhân dân ủng hộ chính quyền, ủng hộ người lãnh đạo mình.
Muốn đạt được như vậy thì chính quyền phải đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, không có cách hành xử chống lại nhân dân. Những vụ việc không tốt đẹp xảy ra ở Tiên Lãng, Văn Giang và nhiều nơi khác vừa qua đã làm cho lương tâm nổi giận, sẽ tiếp tục dẫn đến sự đối đầu trái với tinh thần hòa hợp dân tộc mà tất cả mọi người dân đều tha thiết.
Hòa hợp dân tộc chỉ có thể có được trong một chính thể cởi mở, có nhiều tổ chức xã hội quy tụ nhân dân. Chính quyền và nhân dân cùng phấn đấu cho một mục tiêu chung. Nó đòi hỏi phải có sự minh bạch để nhân dân tin tưởng là chính quyền trong sạch, tin tưởng sự đóng góp của mình là để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là để giúp đỡ cộng đồng chứ không phải để nuôi béo một nhóm người. Do đó hòa hợp dân tộc còn dựa trên tinh thần phản biện để tìm ra chân lý, tránh mê tín, sùng bái cá nhân hoặc tâm lý “đám đông”.
Hòa hợp dân tộc là con đường sáng, là nguyện vọng của toàn dân. Hòa hợp dân tộc chỉ có “được”. Nhưng chỉ những ai không sợ “mất” thì mới mong muốn thôi. Đúng thế không các bạn ?
B.C.T

Xin mời xem thêm chùm ảnh: Đời thường trong dinh Độc Lập, ngày 30.4.1975, tại Mai Thanh Hải – Blog.

%d bloggers like this: