Lưu trữ | 9:51 Chiều

Con Chim Vành Khuyên bay qua nửa thế kỷ – lethieunhon

1 Th6

Con Chim Vành Khuyên bay qua nửa thế kỷ

Trong vài chục bộ phim truyện nhựa ngợi ca lòng yêu nước, quyết tâm giành giữ độc lập tự do cho giang sơn nòi giống- xét về sự hòa hợp nhuần nhuyễn, khớp khao các yếu tố cấu thành, xét về sức thuyết phục người xem, cho đến tận hôm nay, có lẽ chưa một bộ phim nào sánh được với “ Con chim vành khuyên”.  Ấy thế mà “ Con chim vành khuyên “ ra mắt vào mùa hè năm 1962. Tính đến mùa hè này bộ phim đã tròn nửa thế kỷ. Hai tác giả của “Con chim Vành khuyên” – đạo diễn Nguyễn Văn Thông, đạo diễn Trần Vũ, nhà quay phim tài ba Nguyễn Đăng Bẩy cùng nhiều người tham gia bộ phim đã vĩnh biệt chúng ta để qua bên kia với thế giới người hiền. Trông trước ngoảnh sau, chỉ còn lại nữ diễn viên Thúy Vinh trong vai nữ cán bộ Hiền, cô bé chim vành khuyên Tố Uyên và dòng sông Chu nhiều kỷ niệm  ngày nào….

CON CHIM VÀNH KHUYÊN bay qua nửa thế kỷ
TÔ HOÀNG
Làm công việc giảng dạy tại hai cơ sở đào tạo người làm phim trong Nam ngoài Bắc, tôi thường đem chiếu “ Con chim vành khuyên” cho các em sinh viên xem.Xem để tìm ra những ví dụ về học vấn điện ảnh. Xem để cùng nhau  trút một tiếng thở dài vì sự “phú quý giật lùi” của nền điện ảnh nước nhà. Bằng cặp mắt , cách cảm cách nghĩ của ngày hôm nay, nếu phải gắp ra một hạt sạn từ bộ phim này thì đấy chính là…con chim vành khuyên. Trong những gì liên quan tới ngày tháng thanh bình của bố con ông thuyền chài, cô bé chỉ một lần không hơn chạm tới cái lồng và con chim vành khuyên bên trong. Còn sau đó là ngôi miếu hoang đầy hoa đầy bướm, bãi dâu, trò nhẩy giây, cả cái thú chèo thuyền cuốn hút lấy cô bé. Vì thế sẽ là khiên cưỡng khi cha đã bị giặc trói, tiếng gọi đò của cán bộ đang ơi ới cất lên phía bên kia sông, cánh diều báo yên vẫn lơ lửng trên trời xanh, nếu bé Nga định chạy xuống bờ sông, liệu em còn đủ bình tĩnh mở cửa chuồng chim, bắt chú vành khuyên cho vào túi gài kim băng lại không? Càng áp đặt hơn, khi cô bé đã ngã sấp mặt bên mí nước, trong lằn ranh của sự sống chết, cô cất tiếng gọi cha như tìm một sự bấu víu, liệu cô bé còn đủ tỉnh táo để mở miệng túi áo thả chú chim ra, cho chú cất cánh bay lên bầu trời cao không đây? Dĩ nhiên, âm nhạc của nhạc sỹ Hoàng Vân được thể hiện bằng cả dàn nhạc giao hưởng ở đoạn cuối phim này cộng thêm tiếng chip chip của chú chim đã xóa đi chỗ giả tạo đó và đoạn kết phim vẫn gây xúc cảm mạnh. Thuở chúng tôi còn trẻ, đoạn kết này được rất nhiều cây bút phê bình ngợi ca và chúng tôi cũng đã từng rơi nước mắt. Bây giờ nghĩ lại…
May sao, đấy cũng là dấu vết duy nhất của thói áp đặt chủ quan, của căn bệnh ấu trĩ một thuở có thể tìm thấy được trong bộ phim.Nói về những điều cực kỳ lớn lao như tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc, may sao “ Con chim vành khuyên” không cao giọng hô hào hoặc thuyết lý. Bộ phim đã tìm được cách bộc lộ chủ đề ấy qua một câu chuyện giản dị, với một bối cảnh cũng giản dị mà nên thơ, với những xung đột không quá căng thẳng, gay gắt để cha con bé Nga-những người nông dân sống bằng nghề chài lưới,  bộc lộ được tình cảm yêu ghét của mình bình dị và bình thường. Cả cái điều lòng yêu nước, chí căm thù giặc đi từ tự phát tới tự giác mà chúng ta nghe quá quen tai ở các cấp trung học, đại học, qua tình cảm và cách hành xử của bé Nga cũng hợp lý, hợp tình, dễ gây được lòng tin ở người xem.
Phim thể hiện được gout thẩm mỹ cao trong từng khuôn hình, từng góc quay, từng chuyển cảnh. Những người làm phim đã giành toàn bộ tâm huyết và công sức để tìm tòi, khám phá nét lạ, nét mới trong từng khuôn hình.Xin không đi sâu thêm vào những thành công trong diễn xuất, chỉ đạo diễn xuất, trong công việc dàn dựng, đặc biệt là trong nghệ thuật quay phim…điều này sách báo đã tốn nhiều giấy mực. Điếu đáng nói, hay đáng ngạc nhiên là tất cả những yếu tố đó hài hòa, nhuần thuyễn với nhau tựa như không còn tìm ra chỗ còn gợn, còn chưa sạch để chê trách. Tất cả tạo nên một chỉnh thể. Tất cả tạo ra một style duy nhất trong cả cốt truyện kể, cấu trúc phim, dàn cảnh, tạo hình, âm nhạc.
Chính điều này hôm nay xem lại phim, quả là chúng ta hết sức ngạc nhiên. Vào tuổi anh, tuổi tôi chắc đều nhớ rõ thuở ấy người ta để tâm coi sóc một bộ phim như thế nào. Vì ông thủy tổ của cách mạng vô sản chẳng đã dạy rằng: “ Điện ảnh là môn nghệ thuật quan trọng nhất trong các ngành nghệ thuật” mà. Phải cảnh giác với điện ảnh, bởi nó có khả năng chuyển tải những gì muốn nói, muốn tuyên truyền, cổ súy được tới cả.. người mù chữ. Thế mà tội nghiệp cho điện ảnh, nó là thứ nghệ thuật có thể chọc mũi vào ở rất nhiều khâu, rất nhiều công đoạn; từ khi nó còn nằm trên trang giấy, qua giai đoạn nó diễn ra trước ống kính, tới giai đoạn nằm trên bàn dựng, tới giai đoạn vào tiếng vào hình. Nhiều người để mắt tới là “ngon” nếu đồng cấp hiểu biết, đồng cấp cảm xúc. Nhưng trên thực tế lại xẩy ra tréo ngoe khi có những cấp duyệt hoàn toàn i-tờ ít về các niêm luật nghệ thuật.Họ đòi cắt bỏ chỗ này, xén gọt chỗ kia chỉ bởi sự hiểu biết nông cạn của họ hoặc đơn giản hơn họ chỉ muốn “ ra oai” quyền lực. Những “ sự cố” như vậy đâu khó tìm thấy trong đời sống văn nghệ suốt mấy chục năm bao cấp? “ Chim vành khuyên” là tác phẩm báo cáo tốt nghiệp của lứa đạo diễn đầu tiên của nền điện ảnh Việt nam. Chúng ta thừa hiểu nó phải được soi qua rất nhiều, rất nhiều cặp kính lúp đủ loại thông số. Vậy sẽ giải thích sự nhuần nhuyễn hòa quện thành một chỉnh thể; cái giọng điệu kể chuyện tinh tế, nhẹ nhàng, dễ lọt tai, cái gout thẩm mỹ tốt, cái style lồ lộ trong “ Chim vành khuyên” là do đâu mà có được? Cái tài, cái đẹp đã làm rung động cả những trái tim sắt đá chăng? Tiếng nói đồng tình ủng hộ cái mới, cái khai phá đã đè bẹp cái thủ cựu, sự áp đặt thô thiển? Hay cái uy của ông thày Nga A. Ibraghimov đã cứu được “ Con chim vành khuyên”?
Hỏi để mà hỏi, vậy thôi ! Ngày hôm nay sự duyệt, sự nắn dòng đã thưa thoáng, khá giả, trở nên có chữ, có học hơn ngày xưa nhiều. Giới kiểm duyệt cũng đã lung lay niềm xác tín và luôn sợ hãi phơi ra sự dốt nát, kém cỏi của mình. Người có tiền hầu như toàn quyền quyết định lấy sinh mệnh bộ phim họ bỏ tiền làm ra. Quyền uy hôm nay quả là đã tập trung vào tay của người có tiền. Ấy vậy mà mỗi bộ phim mới xuất xưởng đấy thôi đã  ví như một con thuyền tơi tả, tan tành, buồm bay một nơi, tay chèo rơi một chỗ…
Đò giặc, đừng qua! Đò giặc đừng qua! Duy tiếng kêu cảnh tỉnh của bé Nga vẫn có sức đồng vọng đến tận ngày hôm nay…

| Thảo luận(1)|

Địa chỉ trích dẫn Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59

Yên Thế

01/06/2012 10:14
Từ một bộ phim cụ thể có sự phân tích đánh giá một cách xác đáng công bằng, nhà văn-đạo diễn Tô Hoàng đã khéo léo dẫn dắt người đọc tới nhiều vấn đề bức bối của cả ngành Điện ảnh cả hôm qua lẫn hôm nay, khiến chúng ta bàng hoàng tê tái và chua xót ngẫm nghĩ! Cám ơn tác giả và trang chủ lethieunhon!

Những “quái chiêu” thu hồi đất: Đánh tỉa, đánh úp, đánh hội đồng… – NNVN

1 Th6

Những “quái chiêu” thu hồi đất:

Đánh tỉa, đánh úp, đánh hội đồng…

Đó là cái cách mà người dân ở nhiều xã thuộc huyện Duy Tiên (tỉnh Hà Nam) đang dùng để gọi việc chính quyền địa phương và chủ đầu tư quyết tâm thu hồi đất nông nghiệp của họ.

>> ”Quái chiêu” chia chác đất dự án >> Bao án kỷ luật đầy oan ức >> Những “quái chiêu” thu hồi đất

Đủ chiêu trò

Xã Bạch Thượng (Duy Tiên) trước đây có khoảng 500 ha đất lúa chia cho 6 thôn Thần Nữ, Văn Phái, Nhất, Nhì, Ngũ, Nôi. Sau cơn lốc KCN mấy năm trước, Bạch Thượng bây giờ chỉ còn vỏn vẹn khoảng 200 ha. Người dân đang kiên quyết giữ số ruộng còn lại này để làm sinh kế, còn chính quyền lẫn nhà đầu tư (KCN Đồng Văn) lại tìm mọi cách thu hồi bằng được. Nóng nhất về chuyện thu hồi đất ở xã Bạch Thượng là thôn Thần Nữ và Văn Phái.

Thôn Thần Nữ có khoảng 320 hộ bao đời nay chỉ có duy nhất một nghề là làm ruộng. KCN Đồng Văn đổ bộ lần thứ nhất vào năm 2005, khoảng 151 hộ dân thôn Thần Nữ bị thu hồi ruộng với giá 7,5 triệu đồng một sào. Từ chỗ có 160 mẫu ruộng, bây giờ thôn chỉ còn 39,4 mẫu. Ngay cả diện tích ít ỏi này cũng bị chính quyền và nhà đầu tư thu hồi để tiếp tục mở rộng KCN theo quyết định ngày 13/11/2011. Nhưng nông dân Thần Nữ bảo, lần này họ nhất quyết không mắc lừa chính quyền nữa. “Khi thu hồi lần thứ nhất, người dân cũng chẳng muốn giao ruộng với cái giá quá rẻ mạt, nhưng các cuộc họp bàn cán bộ huyện Duy Tiên thuyết phục chúng tôi cứ giao đi, đến năm 2013 thể nào nhà nước cũng chia lại đất”. Ông Ngô Sĩ Bộc (65 tuổi) nói.

Nhóm những hộ dân chống đối không chịu bàn giao đất ngoài ông Bộc còn có thêm ông Thạc, ông Sơn, bà Dơi và hàng trăm hộ dân khác. Trong số họ, có người là đảng viên, cựu chiến binh, gia đình liệt sĩ… Như ông Bộc, hiện đang làm Chi hội trưởng Hội người cao tuổi của thôn. Họ cũng biết đất đai nhà nước sở hữu, nông dân chỉ có quyền sử dụng. Nhưng những việc họ làm không phải vì khăng khăng giữ đất vô lý mà vì quá bức xúc trước những chiêu trò của chính quyền và nhà đầu tư. Họ cùng nhau rải truyền đơn khắp xã với mong muốn dẹp những việc làm mà người dân cho là vớ vẩn trong quá trình thu hồi đất.

“Thu hồi đất lần này, đa số người dân không nhận. Trong khi chưa bàn bạc gì với dân, chưa có quyết định thu hồi đất thì ngày 28 Tết vừa rồi thấy Ban GPMB huyện Duy Tiên mang tiền đến đình làng kêu dân ra nhận. Hầu hết người dân thôn Thần Nữ đều nhất quyết không nhận vì cảm thấy mình bị mất quyền dân chủ. Muốn thu hồi đất thì phải kiểm kê ruộng đất, lập phương án bồi thường, công khai phương án bồi thường… Đằng này, chúng tôi nghe thông báo thu hồi đất hôm trước hôm sau đã thấy mang tiền về ốp nhận rồi. Người dân hỏi cán bộ huyện Duy Tiên tiền ấy là tiền gì? Ông PCT huyện trả lời: Mang tiền về ứng trước cho bà con ăn Tết. Chẳng liên quan gì cả”. Ông Bộc bức xúc.

Tìm mọi cách người dân vẫn không chịu nhận tiền, Ban GPMB huyện nảy ra sáng kiến để trống cột giá tiền đền bù, chỉ ghi phần diện tích rồi gọi người dân ký xác nhận. “Nhiều gia đình tưởng là xác nhận diện tích bình thường nên ký vào. Không ngờ sau đó Ban GPMB in thêm giá tiền, thế là xong được mấy hộ”.

Người dân xã Bạch Thượng kiên quyết giữ đất bất chấp các chiêu trò của chính quyền và chủ đầu tư

Ép tập thể không được, Ban GPMB huyện Duy Tiên chuyển sang đánh tỉa từng gia đình. Lợi dụng tâm lý gần Tết người dân cần tiền sinh hoạt nên họ cử người đến từng gia đình khó khăn để vận động nhận tiền đền bù tiêu Tết. Đến nhà ông Sơn thì bảo nhà bà Dơi đã nhận rồi, lên làng trên bảo người làng dưới đã nhận rồi, dù thực tế chưa ai nhận cả. Vậy mà cách này cũng lừa được 30 hộ dân ký nhận tiền với mức giá đền bù 46,8 triệu đồng một sào.

Chỉ có điều ký nhận xong rồi họ mới vỡ lẽ mình mắc phải chiêu độc của Ban GPMB nên bức xúc, cãi vã inh ỏi. Như gia đình ông Phạm Công Ty. Bố nhận tiền hôm trước, hôm sau con là Phạm Văn Đen kiên quyết đòi mang đi trả. Ông Ty sau khi đi hỏi làng xóm biết mình bị lừa nên mang toàn bộ tiền lên gặp Ban GPMB. Nhưng cán bộ GPMB bảo, bút sa gà chết, làm gì có chuyện trả lại tiền. Đôi co mãi không được, về nhà bố con tiếp tục cãi vã chán thì chuyển sang đánh nhau bươu đầu.

Trái quy trình và vi phạm quy chế dân chủ

Những độc chiêu của huyện Duy Tiên khiến ngay cả chính quyền xã Bạch Thượng ngỡ ngàng. Một vị cán bộ phụ trách chi bộ thôn Thần Nữ (ông xin được giấu tên vì sợ bị kỷ luật) khẳng định: Huyện làm như thế là trái quy trình, vi phạm quy chế dân chủ, đánh úp người dân. Nguyện vọng của người dân là hoàn toàn chính đáng. Họ đòi hỏi phải công khai, đằng này chính quyền lẫn nhà đầu tư làm theo kiểu lén lút. Đợt mang tiền về phát cho dân tôi có tham dự, còn việc PCT huyện nói rằng “mang tiền ứng cho dân ăn Tết”, nghe giải thích là biết ngay ông quan huyện bí lắm rồi. Làm gì có chuyện dân chưa đồng tình đã mang tiền về ứng để cho họ ăn Tết, người dân có cần đâu? Mấy lần tôi có hỏi ông Chủ tịch UBND xã xem xét nguyện vọng người dân nhưng ông trả lời: Nếu các đồng chí ở vào vị trí của tôi cũng phải chịu như thế thôi.

Tiếp xúc với chúng tôi, Chủ tịch UBND xã Bạch Thượng Trần Xuân Việt cũng tỏ ra trăn trở: “Bạch Thượng có 2.400 hộ dân thì 1.400 hộ bị ảnh hưởng từ việc mất đất. Số thất nghiệp không nắm rõ nhưng ít nhất hơn 40%. Cả 6 thôn trong xã đều bị ảnh hưởng từ việc mất đất. Rồi vấn đề ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội”. Nhưng đề cập đến huyện Duy Tiên sử dụng những độc chiêu trong việc thu hồi đất, cụ thể là chuyện mang tiền đền bù về ép người dân phải nhận thì ông Việt xin được phép không bình luận gì.

Tung hết các độc chiêu vẫn không thể khuất phục được người dân Bạch Thượng, chính quyền huyện Duy Tiên tuyên bố sẽ gửi tiền đền bù vào ngân hàng và nhăm nhe cưỡng chế. Nhưng người dân vẫn kiên quyết giữ đất. Họ bảo: Thà bốc chúng tôi lên rừng xuống biển thì thôi, chứ còn ở làng thì huyện đừng có hòng giở trò bẩn ra với dân được nữa.

+ Hầu hết người dân xã Bạch Thượng đều biết đất đai thuộc sở hữu của nhà nước, nông dân được giao quyền sử dụng, nhưng họ tố việc làm của chính quyền huyện Duy Tiên chẳng khác nào tước đi quyền sử dụng của nông dân.

“Họ đang lấy của dân nghèo để chia cho DN giàu có. Cứ lén lút về phát tiền, mấy lần tôi mang máy ảnh ra chụp thì bị trưởng thôn Phan Văn Toàn cho người đến đòi tịch thu”. Ông Bộc kể.

+ Trước những độc chiêu để thu hồi đất bằng được của chính quyền và nhà đầu tư, người dân Bạch Thượng khẳng định: Chắc chắn có lợi ích nhóm trong chuyện lấy đất. Cánh ông Bộc tập hợp nhau lại đến nhà cán bộ địa chính xã, nhà trưởng thôn chửi bới om sòm. Họ cho rằng chính những cán bộ này đã đồng lõa với cán bộ huyện, ăn chia với nhà đầu tư nên mới tích cực đi thu hồi đất của dân như thế.

Thậm chí họ còn truyền tai nhau: Để lấy một héc ta đất nông nghiệp của người dân, chủ đầu tư phải chi 3 gói tiền phần trăm theo tỷ lệ 30-30-40 cho tỉnh, huyện, xã.

Văn hoá cổ và văn hoá thời hiện đại – VHNA

1 Th6

Havas Béla

Từ một thí nghiệm vô nghĩa là gần đây người ta mong muốn gán cho văn hóa một sự quan trọng thái quá, nên chắc chắn thời nào văn hóa cũng được coi trọng.

Không cần thiết cứ phải đặt tên là văn hóa. Có thể canh tác đất, thiên nhiên, vật chất, khả năng, tài năng, tri thức con người; và chỉ canh tác được những thứ này. Không thể canh tác tinh thần, bởi tinh thần là kẻ thực hiện việc canh tác.

Văn hóa là sự canh tác thế giới vật chất một cách tích cực.

Nhưng trong thời cổ, văn hóa không nằm trong ý nghĩa như thế. Bởi vì canh tác cũng giống như các hoạt động khác, không sở hữu ý nghĩa độc lập riêng liên quan đến thế giới vật chất.

Trong thời cổ, người ta không tách thế giới vật chất ra khỏi hiện thực tinh thần, không coi là hai sự vật riêng biệt; khi canh tác thiên nhiên, sự canh tác này được đặt thành sự phụ thuộc từ hiện thực tinh thần.

Văn hóa như một lý thuyết độc lập không có ý nghĩa gì hết.

Gần đây người ta nói, văn hóa là tư tưởng hình thành độc lập với con người, là thứ sáng tạo ra trật tự sống, ra các tập quán, các hình thức, các công cụ, các đối tượng xã hội từ trên xuống một cách độc quyền như thống trị, giống như việc tạo ra nghệ thuật, pháp luật, quan điểm, thậm chí: tinh thần, và như vậy gần đây nhất người ta đã nâng văn hóa lên thành một lý thuyết điều chỉnh sự sống tự trị.

Một từ duy nhất về lý thuyết này cũng chớ nên để xổng, bởi nhầm lẫn này đưa lại một cơ hội cực kỳ hiếm hoi để diễn đạt sự khác biệt giữa canh tác thời cổ và thời kỳ lịch sử.

Không nên để lỡ cơ hội này, bởi vì sự khác biệt trong canh tác thời cổ và trong thời kỳ lịch sử có ý nghĩa quyết định đến mức, nếu một người nào đó định miêu tả sự canh tác thời cổ, mà quên xem xét thời hiện tại, thì chỉ nêu một từ thôi, người ngày nay cũng không thể hiểu nổi.

Câu chuyện bắt đầu như sau: con người thời kỳ lịch sử (sau Công nguyên-ND) cũng giống con người trước thời kỳ lịch sử đều cực kỳ nhấn mạnh đến việc nâng cao mức sống. Con người hiện đại đã thành công trong việc tạo ra cả một đội quân công cụ và các phụ tùng, nhưng các công cụ và các phụ tùng này chỉ liên quan đến tất cả những gì bên ngoài.

Trong khi việc hoàn hảo hóa bề mặt bên ngoài đạt đến mức độ cực kỳ cao, thì con người, không chỉ không thay đổi mà còn đặc biệt suy thoái đi. Ở đây không phải vấn đề: chất lượng đời sống tinh thần  của con người hiện đại được trang bị bằng điện, sưởi ga, telefon, radio hay máy bay không cao hơn đời sống tinh thần của người nguyên thủy bao nhiêu.  Mà vấn đề là: lý tưởng tính con người trang bị cho mình không dựa trên một nền tảng nào cả.

Những lý thuyết đạo đức lý tưởng cao vời vợi không ngăn chặn nổi con người chớ sống một đời sống gần như hoàn toàn vô giá trị đạo đức. Những yêu cầu to lớn quá cỡ chứa đựng tràn ngập trong các lý thuyết về nhà nước, nghệ thuật, trong các sở thích ưu tiên, nhưng không ai có thể thực hiện nổi, thậm chí niềm cảm hứng về các yêu cầu này cũng biến mất từ hàng thế kỷ nay.

Hiện thực tinh thần trong kích thước tổng thể của nó có mặt trong hiện tại, tôn giáo, nghệ thuật, triết học, đạo đức đại diện cho nó. Nhưng khả năng hiện thực hóa những điều này từ phía con người đã hoàn toàn biến mất.

Người ta thản nhiên xây dựng những lý thuyết cao quá khổ về tôn giáo, về đạo đức, về trật tự, về sự sống đích thực. Yêu cầu của sự canh tác có, nhưng không ai phù hợp với những yêu cầu này, và sự canh tác này không thể hiện thực hóa.

Con người hiện đại sống trong một giả bộ về trình độ tinh thần cực kỳ cao; nhưng thực chất trình độ này là một ảo tưởng trắng trợn, bởi từ hệ thống tinh thần này không ai thực hiện nổi bất cứ cái gì.

Người ta gọi văn hóa là mức độ tinh thần, đạo đức, trật tự, sở thích đã qua giáo dục, là sự sống hối hả, là những yêu cầu cao, những lý tưởng con người hiện đại tự đặt ra cho mình.

Bản thân con người hiện đại không với tới được nền văn hóa này, ở sâu hơn, trong bản năng, trong tư tưởng, trong đam mê, nhu cầu tinh thần của họ thực ra phát triển một cách buông thả. Cái mà con người hiện tại đặt tên là văn hóa, không phải một sự canh tác tích cực mà là một thứ lý tưởng tính quá cỡ.

Bằng ánh sáng soi rọi từ bên trong có thể hiểu ngay được tình thế này. Con người càng hoạt động năng động bao nhiêu, càng nảy sinh nhiều tư tưởng tinh thần  sáng sủa bấy nhiêu. Điều này không còn nghi ngờ gì nữa. Sự hoạt động càng có hiệu quả bao nhiêu, tinh thần- người cha của hoạt động- càng được hiện thực hóa một cách trực tiếp bấy nhiêu.

Từ điều này tự nó cho thấy sự hoạt động càng yếu ớt và vô hiệu quả bao nhiêu, trong con người càng ít tư tưởng bấy nhiêu, nói cách khác: hoạt động tinh thần càng bị thu hẹp lại bao nhiêu, hành động càng bất lực và trống rỗng bấy nhiêu.

Bởi, hoạt động không là gì khác ngoài một tinh thần đã được thực hiện, và tinh thần không là gì khác, ngoài tình yêu thương, một thứ tinh thần tích cực, thứ tinh thần của NGƯỜI CHA, không cần chỉ dẫn tự nó cũng đã có thể hiểu được.

Có loại hoạt động trong đó tinh thần được thực hiện một cách đầy đủ; có loại hoạt động trong đó tinh thần bị thu hẹp lại; và có loại hoạt động trong đó hoàn toàn vắng bóng tinh thần. Đây là loại hoạt động trong đó không có sự tích cực, sự tạo dựng, không có tình yêu thương. Đây là loại hoạt động trống rỗng, phi bản chất, phi sức mạnh, trong đó không thể thực hiện bất cứ cái gì, bởi không có gì để thực hiện.

Sự thu hẹp tinh thần xảy ra khi trong hành động, con người không thực hiện tinh thần người cha của tình yêu thương nhân gian, mà thay thế vào đấy cái TÔI của cá nhân, khiến hành động chỉ mang tính chất cá nhân; không để hành động xảy ra trong sự tích cực trong sạch ban đầu của nó, mà gắn cái TÔI vào, và như vậy, phá vỡ tình yêu thương.

Văn hóa, mà con người hiện đại đặt tên và cho là như vậy, không phải sự canh tác tích cực thế giới vật chất, mà là sự lý tưởng hóa đặt trên đời sống và không liên quan gì đến đời sống.

Hoạt động của con người hiện đại không tạo dựng, không mang tính tích cực, mà là thứ hoạt động rỗng, phi bản chất, yếu ớt, chỉ thu hẹp, đóng khung tinh thần lại, trong nhiều trường hợp còn làm biến mất tinh thần. Sự lý tưởng hóa văn hóa, đối nghịch với việc ứng dụng hóa hành động, bởi vậy hiện thực và thực hành vắng bóng trong sự lý tưởng hóa này.

Khả năng canh tác  tích cực thế giới vật chất ở đây hoàn toàn không nổi lên. Tinh thần không chạm tới đời sống và đời sống cũng chẳng chạm tới tinh thần. Không có khả năng cho quá trình hiện thực hóa.

Một mặt là sự trừu tượng hóa lý tưởng, mặt khác, vắng bóng sự ứng dụng của thực hành vật chất đã bị thô thiển hóa, bởi con người hiện đại không sống trong tinh thần đồng nhất với tình yêu thương, mà chỉ sống trong cái TÔI riêng của nó. Về điều này, bàn thế là đủ.

 

2.

 

Con người thời lịch sử, nhất là thời hiện nay sống trong một sự nhầm lẫn, rằng sự canh tác đích thực tự mình cần tạo ra, mục đích tự mình cần lập ra, tiêu chuẩn tự mình cần xây dựng, và các lý tưởng tự mình cần nghĩ ra. Họ quay cái TÔI của họ vào việc đi tìm tinh thần, mục đích, tiêu chuẩn và các lý tưởng. Sau đó gọi sự tìm kiếm những thứ họ tự đặt ra là văn hóa.

Họ không biết rằng: tinh thần của canh tác tích cực thế giới vật chất không cần tìm kiếm. Ngay từ thuở ban đầu, tinh thần như một lời tuyên ngôn đã có sẵn, và nếu như nó không được gìn giữ trong các cuốn sách thiêng đi chăng nữa, nó vẫn được giữ như tình cảm bất biến bất tử của linh hồn con người.

Cần phải làm gì, cần tiếp tục hoạt động gì, cần duy trì tiêu chuẩn nào, cần thực hiện những lý tưởng nào, điều này cái tinh thần của tình yêu thương trong con người đều biết đến từ sự vĩnh cửu.

Các sức mạnh trong con người có đâu phải để tìm ra một tinh thần mới. Và điều này cũng không thể; một tinh thần mang tính chất cá nhân chỉ là sự bóp méo của một định luật tinh thần siêu việt duy nhất mà người Ấn độ gọi là dharma. Và khi con người thời kỳ lịch sử đặt ý chí của cái TÔI cá nhân vào vị trí của định luật tinh thần phổ quát, họ đã phá hỏng tinh thần.

Các sức mạnh không dùng để tìm ra tinh thần mới mà để thực hiện tinh thần vĩnh cửu và phổ quát. Truyền thống bảo vệ thứ tinh thần vĩnh cửu và phổ quát này, thứ tinh thần ngay từ thuở ban đầu đã từng có, vẫn đang có và sẽ tiếp tục có như một lời tuyên ngôn.

Như vậy văn hóa không phải là sự tìm ra, tạo ra một tinh thần, một mục đích tiêu chuẩn chưa bao giờ có ở đâu, mà: văn hóa là việc hiện thực hóa thứ tinh thần đã được truyền thống giữ gìn.

Lấy một ví dụ đơn giản: Các thư viện khoa học lớn của thời hiện đại giữ gìn những biểu hiện tinh thần gắng sức khủng khiếp trong hàng triệu tập sách. Để thực hiện điều này con người phải bỏ vào đấy một số lượng lớn các nhà bác học, rất nhiều công việc, công sức, thời gian, giấy mực, công việc in ấn. Và không bao giờ có thể đo đếm hết nổi những hy vọng, đam mê, lương tâm, kỷ luật, suy tư đi kèm với việc thực hiện những cuốn sách này.

Vậy mà chẳng có gì chắc chắn, giữa hàng triệu cuốn sách này có một tác phẩm là hiện thực của nhân loại trong đời sống. Toàn bộ nền văn hóa nhân đạo thời hiện đại, tâm lý học, khoa học xã hội, văn học, triết học, đạo đức học, mỹ học, ngôn ngữ học, khoa học tôn giáo đều không thể thực hiện nổi, thậm chí không bao giờ thực hiện nổi, không bao giờ có thể hiện thực hóa, và tất cả các tác phẩm đều được tạo ra để không bao giờ có thể hiện thực hóa chúng.

Hàng triệu tác phẩm này vô ích, thừa thãi, trong một khía cạnh nào đấy vô nghĩa một cách đau đớn, như thể chưa bao giờ được viết ra. Nỗi nhọc nhằn, niềm hy vọng, công sức, chất liệu, đam mê, đổ vào một thứ lãng phí, bởi từ các tác phẩm này không thể học được gì từ thực tế, tinh thần của những tác phẩm này không thể thực hiện nổi.

Một„nền văn hóa hùng hậu”- lý tưởng tính, một sự ba hoa khoác lác tày đình, vô nội dung, tạo dựng từ nhu cầu phi hiện thực, với lợi ích phi hiện thực, với tiêu chuẩn hoang tưởng, không chút quan hệ gì với sự sống thực chất của con người, chưa từng có,và sẽ không bao giờ có.

Triết học hiện đại, đạo đức học, xã hội học, tâm lý học tạo dựng trong một lý tưởng tính rỗng tuếch khiến chúng không thể tác động đến đời sống của bất kỳ ai. Và nếu một ngày toàn bộ những thư viện sách này biến mất trên quả đất, không ai nhận ra sự thiếu hụt của chúng.

Thậm chí có thể đánh cuộc rằng: con người hiện đại đang sống trong tôn giáo thiên chúa, nhưng nếu thiên chúa giáo một ngày bỗng biến mất khỏi quả đất, không ai nhận ra sự thiếu vắng này, nhất là các vị linh mục.

Tóm lại: trong toàn bộ thế giới hiện đại có một cái gì đó thiếu cơ bản, giả dối, thổi phồng, bên trong nó là một sự lường gạt rỗng tuếch, luôn vin vào các lý tưởng, vào thiên chúa giáo, vào các giá trị đạo đức, nhưng không ai tin và thậm chí không ai có ý định thực hiện nó. Toàn bộ đời sống hiện đại có một cái gì đó không thực chất.

Và điều để phân biệt con người cổ với con người hiện đại chính là điều này: sự thực chất của con người.

Tinh thần về bản chất không khác; tôn giáo, siêu hình học, đạo đức, trật tự nhà nước, các lý tưởng, sở thích, các mục đích giống nhau, bởi vì những thứ này trong thời gian và ở các dân tộc đều như nhau.

Sự khác biệt là: con người cổ sống trong tinh thần,  tin vào tinh thần và đấy là nội dung và số phận của họ, để thực hiện tinh thần. Sự thực hiện này là hoạt động siêu hình của đời sống; đây chính là sự canh tác mạnh mẽ, tích cực của con người vào thế giới vật chất.

Trong hoạt động thực hiện tinh thần này mang tinh thần người cha của tình yêu thương; chính vì vậy trong toàn bộ sự canh tác chứa đựng tính chất tôn giáo và siêu hình, và chính vì vậy sự hoạt động này là một sự sùng bái.

Con người hiện đại, dù biết về siêu hình, về tính chất sùng bái của hoạt động, về đặc tính tôn giáo của sự canh tác,  nhưng họ không tin, họ vứt bỏ yếu tố tinh thần, và nội dung cuộc đời của họ: thay cái TÔI cá nhân vào vị trí tình thương yêu của người cha trong bản chất của hoạt động.

Tất cả những gì liên quan đến tinh thần của thời hiện đại đều mang tính chất không tưởng. Cái sẽ thực hiện trong tương lai không bao giờ hiện thực hóa, mà chỉ là không tưởng: bởi vậy thời hiện đại là Lời mang tính chất không tưởng và chủ nghĩa không tưởng là hành vi đặc thù của nó.

Bởi vậy lương tâm của toàn bộ nhân loại thời hiện đại là một lương tâm hư hỏng: nó thừa biết tất cả những gì nó nói, đòi hỏi, tuyên bố, thành lập, gắn liền với sự thực hiện. Nó thu thập lý thuyết, đề ra các mục tiêu, nói về các tiêu chuẩn, tuyên bố các giá trị, nhưng kẻ đầu tiên không nghĩ đến việc thực hiện những điều này chính là kẻ đề ra và tuyên truyền.

Tất cả những gì nhân loại thời hiện đại suy nghĩ và lên kế hoạch, như một kẻ bắt buộc chịu đựng những khó khăn thường xuyên đổ lên đầu, không hy vọng nhỏ nhất là được trả công. Tinh thần thời hiện đại, như mới đây nhất người ta nói: không hiện sinh, là một thứ phi bản chất, phi tinh thần, phi cá nhân, rỗng tuếch và không thể hiện thực hóa.

Nhân loại thời hiện đại về tổng thể đã tự nhầm lẫn bản thân với các loại lý thuyết của họ. Riêng biệt từng con người hiện đại, nhất là những kẻ mệnh danh sáng tạo ra văn hóa, các nhà đạo đức, nhà giáo, các nhà bác học, linh mục, các đại diện nhà nước đều cho rằng mình đang sống một đời sống tinh thần rất cao mà không hề nhận ra thứ tinh thần họ tuyên bố không cái gì được thực hiện.

Những tư tưởng cao siêu đẹp đẽ không hề mang tính phổ quát, và đứng về mặt cá nhân cũng không thực hiện nổi, toàn bộ là một ảo tưởng tri thức, núp dưới nó là những con người đê tiện, kiêu ngạo, huênh hoang, rỗng tuếch, kệch cỡm, và trước hết là những kẻ ngu muội.

 

3.

 

Cần đặt giới hạn cho khái niệm hậu quả. Bởi vì trên nền tảng này, nếu ai muốn kiểm tra những hiện tượng của đời sống hiện đại, cần giải thích và mổ xẻ ra toàn bộ.

Một lần nữa cần nhấn mạnh rằng, trong đời sống hiện đại, tinh thần có mặt trong thời hiện tại như trong tất cả các thời kỳ khác, chỉ không được hiện thực hóa. Không được hiện thực hóa bởi con người không canh tác thiên nhiên vật chất trong tinh thần của yêu thương người cha vĩnh cửu, mà chỉ muốn canh tác bằng cái TÔI. Và bởi thế không thể.

Hậu quả là: tinh thần không tiếp xúc được với thiên nhiên, mối quan hệ và tương quan giữa hai thế gian bị gián đoạn: tinh thần nằm lại trong lý tưởng tính, bởi không hiện thực nổi, hàng triệu cuốn sách thừa thãi vô nghĩa, các sức mạnh tự nhiên tự giải phóng thoát khỏi sự kiểm tra của tinh thần, tự do gây sự và rồ dại, điều này có thể thấy rõ trong đời sống nhà nước, trong xã hội, trong số phận và trong thế giới linh hồn của con người.

Hậu quả đầu tiên của tinh thần không hiện thực hóa là ý nghĩa của đời sống bị thất lạc và lu mờ.

Bởi vì đời sống không phải là một cái gì tự nó có ý nghĩa, tự nó mang một ý nghĩa. Đời sống tồn tại trong vòng quay của thiên nhiên vật chất, và nếu thiếu sự tiếp xúc với tinh thần, nó trở nên bất lực và mù lòa, cũng như trở nên vô nghĩa và tối tăm.

Giữa những môi trường như vậy không có một khả năng để biến bất kỳ mức độ nào thành cái phổ quát. Mức độ của các sự vật sẽ là con người, là cái TÔI, là cái bắt đầu của sự phi mức độ, của sự vắng thiếu mức độ, của chủ nghĩa ngụy biện trí tuệ, của đạo đức vô chính phủ trong đời sống nhà nước, như Khổng tử đã nói: „Quyền lực là những kẻ to mồm, mốt là nghệ thuật, và đạo đức giả là đời sống hàng ngày.”

Hậu quả của việc đánh mất mức độ- một lần và mãi mãi – là tất cả mọi người bắt buộc phải tự đặt ra cho mình chuẩn mực của cái tốt và cái xấu, thực ra chỉ là một chuẩn mực nhất thời. Đạo đức bị cá nhân hóa và tự ứng biến đánh mất đi đặc thù hợp lý của nó, để rốt cục cái tốt và cái xấu không là gì khác ngoài quyền lợi cá nhân, là thứ thay đổi từng giây từng phút.

Các quy tắc đời sống biến mất; sự bắt chước vô nghĩa, lối sống tự do cá nhân trở thành tập quán. Tính chất trực tiếp của cộng đồng xã hội chấm dứt, phép lịch sự, sự sang trọng, nền nếp giáo dục, sự nhậy cảm đối với cái TÔI hỗn loạn chỉ còn là gánh nặng. Không ai quan tâm đến một đời sống chung lành mạnh, bởi tất cả mọi người còn mải tìm kiếm cho thú vui riêng của mình.

Giữa những môi trường như vậy không thể nói đến một sự canh tác tích cực. Đời sống trở nên vô nghĩa, sự vô nghĩa này thẩm thấu toàn bộ mọi khía cạnh, mọi khoảnh khắc của cuộc sống. Sự canh tác tích cực lúc đầu trở thành gánh nặng, sau đó trở nên sự cưỡng bức và cuối cùng thành sự nô lệ. Ở mức độ này sự canh tác mang tên gọi: lao động.

Lao động thực chất chính là hoạt động, nhưng vì không có quá trình hiện thực hóa của tinh thần nên lao động trở thành một hoạt động vô nghĩa, khổ sở, nặng nhọc, thấp hèn và đầy đọa trong đời sống.

Nếu cuộc sống không có ý nghĩa, lúc đó mục đích sống của con người là sự hưởng thụ vô nghĩa, sự hưởng thụ của một cái TÔI vô trách nhiệm. Và nếu đời sống vô nghĩa, hoạt động lúc đó cũng vô nghĩa, và hoạt động vô nghĩa này chính là: công việc làm hàng ngày.

 

4.

 

Nhân loại thời hiện đại, đặc biệt trong khoảng một trăm năm gần đây đã đặt việc giải quyết vấn đề lao động thành một trong những mục đích quan trọng nhất của tư tưởng. Nhưng không đạt được kết quả gì, lao động tiếp tục vẫn ở vị trí như cũ: lao động là nô lệ, là cưỡng bức, là sự rùng rợn, và nguyên nhân của nó thật đơn giản.

Người ta không nhìn thấy tất cả  không phải bắt đầu từ lao động, mà từ điều này: tất cả các hoạt động của đời sống cần mang một Ý Nghĩa.

Trong tức khắc, lao động một lần nữa sẽ biến thành một canh tác tích cực, nghĩa là nếu một lần nữa các giá trị tinh thần được hiện thực hóa, mọi vấn đề được giải quyết ngay lập tức.

Trong thời hiện đại, chỉ duy nhất một hình thức lao động giữ đặc tính canh tác. Người nghệ sĩ trong thời hiện đại là kẻ duy nhất hiện thực hóa nổi các giá trị tinh thần. Và lao động nghệ thuật là thứ lao động duy nhất không biến thành sự nô lệ bức bối, mà thậm chí tồn tại một cách lôi cuốn, đẹp đẽ và hoàn chỉnh.

Trong lao động nghệ thuật, con người trực tiếp hoàn thành những giá trị tinh thần, và như vậy trực tiếp canh tác thiên nhiên vật chất. Công việc này là tấm gương và giấc mơ đáng ghen tị cho những công việc khác. Và chắc chắn, chừng nào sự hiện thực hóa trong các lĩnh vực đời sống- như công việc của người nghệ sĩ- còn chưa thực hiện được, chừng đó mọi lý thuyết, luật lệ, mọi công cuộc cải cách lao động, mọi cưỡng bức đều vô ích.

Đây không phải vấn đề tiền công, thời gian lao động, không phải vấn đề xã hội, mà duy nhất – độc nhất chỉ là: mối quan hệ với thế giới vật chất của tinh thần yêu thương từ người Cha.

Con người, như Zarathustra nói, hoặc là người cha hoặc là kẻ cướp của thiên nhiên. Con người, hoặc hiện thực hóa tinh thần yêu thương, lúc đó là người cha của thiên nhiên, hoặc không hiện thực hóa nổi, lúc đó là kẻ cướp của thiên nhiên.

Chúng ta biết ơn sự canh tác cổ không chỉ vì các loài thực vật, lúa, cây ăn quả, cây trồng đã thuần hóa; không chỉ vì những loài gia cầm, ngựa, bò, cừu; không chỉ vì tất cả những đồ vật cơ bản dành cho gia đình và đời sống của chúng ta; mà chúng ta còn biết ơn thời cổ vì tri thức hoàn hảo của thế giới con người, vì hình ảnh đã tạo dựng và hoàn thành hoàn chỉnh về con người.

Bởi vì thời cổ đã canh tác thiên nhiên bằng tinh thần của người cha âu yếm vị tha, tinh thần này thấm đẫm trong sự thuần hóa mỗi một loại thực vật, trong cộng đồng, trong linh hồn con người. Sự hiện thực hóa tinh thần người cha tạo dựng vẻ đẹp của trái đất, tạo dựng hòa bình cho cộng đồng, cho sự phát triển của thành phố, cho sự hiền hòa của tính cách.

Và khi con người không bao giờ hiện thực hóa nổi tinh thần của người cha nữa, nó nhất thiết trở thành kẻ cướp của thiên nhiên.

Kẻ cướp không chỉ của đất, không chỉ triệt hạ những cánh rừng, tàn sát lũ súc vật, tước đoạt tài nguyên của núi, mà nhân dân còn trở thành kẻ cướp của nhân dân, giai cấp trở thành kẻ cướp của giai cấp, con trẻ thành kẻ cướp của các bậc thân sinh, thân sinh thành kẻ cướp của con trẻ, đàn ông thành kẻ cướp của đàn bà, đàn bà thành kẻ cướp của đàn ông, nông dân thành kẻ cướp của thị dân, thị dân thành kẻ cướp của công nhân, giai cấp thống trị thành kẻ cướp của kẻ bị trị.

Con người hoặc là cha hoặc là kẻ cướp của đất, Zarathustra đã nói.

Và khi không là người cha của đất, không thể hiện thực hóa tinh thần của lòng yêu thương, lúc đó nó nhất thiết trở thành kẻ cướp, coi đất như chiến lợi phẩm cần chia bôi cho một bè lũ, bất kể đấy là một dân tộc hay một giai cấp.

Bản năng ăn cướp đã tạo ra cuộc đấu tranh của các dân tộc, các giới tính, các chủng loài, tạo ra cuộc đấu tranh của các thế giới quan- hay nói một cách ngắn gọn: tạo ra cuộc đấu tranh người ta hay gọi là đấu tranh sinh tồn.

Thời cổ có nhận thức về khái niệm chăm lo sự sống, nhưng không có khái niệm đấu tranh sinh tồn.

Bởi con người thời cổ đứng trên thiên nhiên, như một người chủ, người cha của thiên nhiên, như một vị vua tốt cai trị trên thế gian.

 

5.

 

Ở đây phê phán nhân loại thời kỳ lịch sử không phải là mục đích, mà mục đích là làm nổi bật sự khác biệt của văn hóa thời cổ và thời kỳ lịch sử, và chỉ cần trích dẫn một câu nói của Zarathustra, cùng sự giả thích câu nói đó là đủ đạt đến mục đích này.

Con người thời cổ là người cha của thiên nhiên; là cha của thiên nhiên bởi con người đã canh tác đời sống với tinh thần tích cực của tình yêu thương của người cha.

Bởi vì:” Tất cả, cái gì sống và có trên thế gian- kinh Zohár đã nói – chỉ để cho, và vì con người. Bầu trời có để cho, và vì mọi thực thể, bởi bản thân các thực thể và các sự vật không ý nghĩa và cũng chẳng có giá trị gì.”

Sự canh tác không là gì khác ngoài việc hiện thực hóa tinh thần của tình yêu thương; theo một quan điểm nhất định nhiệm vụ của con người trong thiên nhiên vật chất không là gì khác ngoài việc hiện thực hóa tinh thần của người cha, trên tất cả mọi lĩnh vực vật chất và thiên nhiên: đất, quan hệ con người, cộng đồng, với khả năng riêng của mỗi con người.

Đây là mục đích đời sống và nhiệm vụ đời sống duy nhất, con người hãy trở thành chủ, thành người chăm lo, người thày, thành vua của thiên nhiên. Đây là trật tự sống thiêng liêng. Đây là đời sống người trong mọi lĩnh vực, mọi khoảnh khắc mang tính chất tinh thần, bởi vậy nó là sự sùng bái trong cái toàn bộ.

Con người lịch sử không phải là người cha mà là kẻ cướp của thiên nhiên. Họ coi thường vật chất: nhưng sự coi thường này chỉ là một minh chứng sau cùng: họ cho phép mình chống đỡ như vậy, vì trước hết họ chà đạp và cướp bóc vật chất. Hành vi căm thù thiên nhiên vật chất trong những thế kỷ gần đây là một quan niệm muộn mằn và lạc lõng, để đánh lạc hướng việc chú ý đến bản chất.

Con người không thù hằn nổi thế giới vật chất, cái không thể coi thường thì không thể là kẻ thù. Đây là lương tâm tồi tệ của kẻ cướp, một kẻ mong muốn sám hối bằng một thứ đạo đức giả. Thực chất, con người thời kỳ lịch sử không phải là người cha của thiên nhiên, không biết hiện thực hóa tinh thần của tình yêu thương. Họ không bao giờ biết canh tác đất nữa, mà bằng thủ đoạn, hoặc  phi thủ đoạn, nhưng cướp bóc đất.

Đối với con người hiện đại, lúa gạo, ngô hoa quả, thịt súc vật, cá của biển, quặng của núi, và trăm nghìn khả năng bí ẩn của vật chất đều biến thành chiến lợi phẩm, cũng như những đặc tính của điện, từ trường, hóa học, và những người khác, các dân tộc khác, chủng loại người khác cũng trở thành chiến lợi phẩm, đá, nước, đất, không khí cũng trở thành chiến lợi phẩm, con người hiện đại cướp bóc, dành cho cái TÔI riêng, và trong suốt quá trình cướp bóc này, con người càng ngày càng trở nên nghèo đói, thô bỉ, thù hằn, khép kín, khô cứng, thất thường, ngu tối, đần độn và độc ác.

Nhiệm vụ đời sống của con người cổ là hiện thực hóa tinh thần của tình yêu thương, đấy là trật tự sống thiêng liêng; đấy là sự sùng bái.

Con người thời kỳ lịch sử cho rằng nhiệm vụ của đời sống là việc thực hiện quyền lực của cái TÔI, và cảm giác này tạo ra một trật tự đời sống thô bạo, hoang dại, khép kín, ích kỷ, một trật tự đời sống đầy sự xúc phạm. Cái tinh thần cao cả thường được giữ gìn trong lý tưởng tính không được hiện thực hóa, cái con người hiện đại đang thực hiện, đấy là bản năng chiến lợi phẩm của cái TÔI ăn cướp.

Đây chính là sự khác biệt trong sự canh tác của con người cổ và con người thời kỳ lịch sử.

Nhân loại thời kỳ lịch sử là một điển hình tối tăm để sự giáo dục cổ hiện ra với toàn bộ sự sáng láng của nó. Nếu không so sánh với thời kỳ lịch sử, chỉ nói sự canh tác của con người thời cổ là một quá trình sùng bái vị tha, là một trật tự đời sống thiêng liêng, chắc chắn con người hiện đại sẽ không hiểu gì cả.

Cái gọi là nền văn hóa ngày nay đã che phủ toàn bộ bản chất của sự canh tác cổ.

 

6.

 

Mục đích của canh tác cổ không phải tạo ra nền văn hóa, mà là: biến mặt đất (đời sống trần thế) thành thiên đường.

Thành thiên đường: bằng sự hoạt động thiêng liêng có tên là lao động làm nảy nở đời sống phì nhiêu, giàu có, tốt đẹp. Thiên nhiên chưa từng là kẻ thù của con người, mà là cái kho của sự sống tự hiến dâng, để con người từ đó nâng đời sống con người lên thành niềm vui thiêng liêng.

Bởi niềm vui không phải là gì khác, chính là: ” sự bổ sung hoàn thiện của đời sống thiên nhiên”, và ai muốn đạt tới niềm vui, người đó muốn sự sống đạt đến sự hoàn thiện.

Niềm hạnh phúc trần thế phụ thuộc vào việc con người có biến thế gian thành hoa trái, cái đẹp, sự giàu có hay không; có sắp đặt nổi đời sống theo những định luật của tinh thần người cha hay không; có chiến thắng nổi mọi nhiễu nhương và tăm tối hay không; có hiện thực hóa nổi tinh thần của tình yêu thương giữa những con người với nhau và giữa con người với thiên nhiên hay không. Nếu thực hiện nổi, thiên nhiên sẽ ban cho con người đầy đủ châu báu của nó; thiên nhiên và con người sẽ sống trong niềm vui và từ niềm hạnh phúc này hóa thiên đường.

Mọi nền văn hóa chân chính đều là chủ nghĩa diệt trừ ma quỷ (egzorcizmus)”- Baader nói.

Sự sùng bái là một canh tác tích cực, là việc hiện thực hóa tinh thần của tình yêu thương cao cả và là nhiệm vụ lớn. Đây là cuộc chiến đấu chống lại những sức mạnh đen tối, độc ác và gây tác hại trên thế gian. Sự trù phú và cái đẹp, sự phồn thịnh là kết quả hoạt động trong nhu cầu thu tóm toàn bộ sức mạnh của con người.

Nhưng con người thời lịch sử lại không hiểu nổi chính tác dụng và ý nghĩa của việc xua đuổi ma quỷ trong hoạt động sùng bái.

Bởi vậy các Quyền lực độc ác, tăm tối, gây tác hại đã được giải phóng trong thời kỳ lịch sử: các Quyền lực mà các cuộc chiến tranh dân tộc, các cuộc cách mạng, cái bản năng ăn cướp đã phơi bày tính chất ma quỷ của nó, nhưng không có gì sâu sắc và khủng khiếp hơn là cách mạng kỹ thuật. Kỹ thuật không phải là sự sùng bái và văn hóa. Kỹ thuật là thí nghiệm của các sức mạnh ma quỷ đã giải phóng để hủy diệt đời sống trần thế.

Sự thức tỉnh đã bị mất cùng với sự biến mất của thời cổ. Thời kỳ hoàng kim đã biến mất. Con người không bao giờ hiện thực hóa tinh thần của người cha nữa, mà trở thành kẻ cướp của đất, và quả đất trở nên tối tăm.

Sự sống thiên nhiên bị phá hỏng, và sự hoạt động trong thiên nhiên không còn là niềm vui, sự trù phú, niềm hạnh phúc nữa mà trở thành nhu cầu nặng nhọc cay đắng, thành sự đau khổ, sự nghèo đói,và cơ cực.

Từ sự sùng bái được bảo vệ bằng niềm tin và niềm vui, biến thành lao động nặng nhọc. Tinh thần biến mất khỏi lao động. Biến thành một nền văn hóa thực dụng, một kho sách –trừu tượng, rỗng tuếch, vô ích, vô sinh, một thứ văn hóa không làm nảy sinh ra đời sống trù phú, không gây dựng nên một trật tự phổ quát, và từ đó không nảy sinh ra một niềm vui cao thượng. Đời sống người khô cằn đi, hóa đá, thô bạo, khổ sở, đày đọa, tăm tối.

Bởi vì:” Có những sức mạnh hiện thực hóa, và có những sức mạnh cướp bóc, làm khô cằn, khô cứng, hóa đá các hiện thực tinh thần”.

Những sức mạnh để hiện thực hóa những hiện thực tinh thần luôn luôn mở, quay vào trong và hướng lên trên; còn những sức mạnh kẻ cướp luôn luôn mở ra ngoài và hướng xuống dưới.”

Trong khoảnh khắc từ biệt thời cổ, con người không bao giờ hiện thực hóa tinh thần của người cha nữa, mà trở thành kẻ cướp, hướng quay vào trong và lên trên bị khóa lại, để hướng quay ra ngoài và quay xuống dưới mở ra.

Không bao giờ còn có thể nhìn thấy ý nghĩa và mục đích trong hoạt động của con người nữa; con người không biết rằng, nhiệm vụ duy nhất của nó là xây dựng thiên đường từ đất.

Con người đánh mất tinh thần, đánh mất những lý tưởng, đánh mất thần linh, đánh mất niềm vui, niềm hạnh phúc, còn bản thân nó bị đánh mất trong công việc, trong những sự vật bên ngoài, trong bản năng quyền lực ăn cướp mặt đất, trong việc chiếm đoạt chiến lợi phẩm thiên nhiên.

Sự canh tác không bao giờ còn là sự sùng bái nữa mà chỉ còn là văn hóa.

(*) : Trích trong tiểu luận triết học Scientia sacra

Nguyễn Hồng Nhung dịch từ bản tiếng Hung ( Budapest. 2012-05-12)

Nguồn: amvc

EINSTEIN, nhà giáo dục khai phóng*

1 Th6

Nguyễn Xuân Xanh

Einstein, được ví như “bộ óc thế kỷ”, cho rằng mình không thông minh hơn người thường và rằng thông minh không phải là yếu tố quyết định cho thành công, mà sự tò mò thiêng liêng (die heilige Neugier) mới là yếu tố quyết định. Einstein đương thời nói: “Tôi không có sự thông minh đặc biệt nào, tôi chỉ tò mò một cách đam mê” và “Quan trọng là người ta không ngừng hỏi”.

Chúng ta hãy nghe ông trả lời khi được hỏi vì sao ông đã tìm thấy thuyết tương đối: “Nếu tự hỏi từ đâu tôi đã thiết lập nên lý thuyết tương đối, thì câu trả lời dường như nằm ở điều sau đây: người lớn bình thường hầu như  không suy nghĩ về những vấn đề thời gian và không gian. Anh ta nghĩ rằng mình đã làm điều đó từ nhỏ rồi. Tôi ngược lại phát triển chậm về mặt trí tuệ đến nỗi tôi bắt đầu ngạc nhiên về không gian và thời gian khi tôi đã lớn rồi. Một cách tự nhiên, tôi đã thâm nhập vào toàn bộ vấn đề sâu hơn những đứa trẻ có năng khiếu phát triển bình thường khác.”  Ông trả lời người bạn Bucky của gia đình khi ông này hỏi về sự thông minh: “Tôi không thông minh hơn người thường nào. Tôi đơn giản chỉ tò mò hơn một người trung bình, và tôi không bỏ cuộc trước một vấn đề cho đến khi tôi tìm được giải đáp. […] Ông có thể xem tôi là kiên nhẫn hơn những người trung bình trong việc theo đuổi các bài toán. […] Không phải thông minh hơn là quan trọng, mà tò mò hơn và có lẽ kiên nhẫn hơn trong vấn đề tìm giải đáp cho một bài toán.”  Nhiều người khác có thể có chỉ số thông minh hơn Einstein nhiều. Họ có thể suy nghĩ nhanh hơn, phát triển nhanh hơn, có thể là ‘thần đồng’. Khi có người muốn điều tra về sự thông minh di truyền trong dòng họ ông, Einstein đã trả lời ngay: “…Ngoài ra tôi biết chắc rằng bản thân tôi không có một sự thông minh nào đặc biệt. Óc tò mò, sự đam mê và sự kiên nhẫn một cách bướng bỉnh, cộng với sự tự phê bình, đã đưa tôi đến những suy nghĩ của tôi. Tôi không có một sức mạnh tư duy đặc biệt mạnh (‘cơ bắp não’) nào, dù chỉ trong mức độ khiêm tốn. Nhiều người có thứ đó nhiều hơn nhiều mà không mang lại một cái gì đáng để ngạc nhiên.”

 

Là một sự thiếu sót nếu chỉ dạy cho con người một ngành chuyên môn. Bằng cách đó anh ta trở thành một loại máy có thể sử dụng được. Nhưng quan trọng là anh ta phải có một cảm giác sinh động về cái gì đáng giá để phấn đấu. Anh ta phải có một cảm giác sinh động về cái gì đẹp và tốt về mặt đạo lý. Nếu không, anh ta với kiến thức chuyên môn hoá sẽ giống như một con chó được huấn luyện tốt, hơn là một con người phát triển hài hoà. Anh ta phải hiểu biết về động cơ của con người, những ảo tưởng và đau khổ của họ, để có được một thái độ đúng với người đồng loại và với cộng đồng.

Einstein

Óc tò mò của tuổi thơ không bao giờ mất ở ông, và luôn là động cơ của các khám phá. Ai không còn tò mò, người đó như đã chết. Einstein vì thế chống lại những ảnh hưởng có thể giết chết hay làm giảm hại óc tò mò của học sinh từ ghế nhà trường: đó là những cách giáo dục với lối huấn luyện khắc nghiệt, nhồi nhét cho thật nhiều kiến thức, học nhưng không phải để hiểu, để khỏi tư duy, sáng tạo; hoặc tinh thần cạnh tranh vô tâm của chủ nghĩa tư bản như ông thường kết án, từ cách giáo dục làm cho con người trở thành lệ thuộc hay nô lệ, đến độ con người có thể đâm ra oán ghét cái học. Tài năng non trẻ phải được che chở và nuôi dưỡng như một cây con mới mọc. Bản thân ông là một thí dụ phản biện sinh động nhất và đã từng trải nghiệm những cách giáo dục khác nhau. “Biết dạy học có nghĩa là dạy một cách thú vị, là giảng bài, kể cả một bài trừu tượng, sao cho những dây đàn cộng hưởng trong tâm hồn của học sinh cùng rung lên và óc tò mò vẫn mãi sinh động.”  “Kiến thức tự nó là khô cứng. Cần phải có người thầy giỏi và trường tốt để làm sống nó lại.”  Những ấn tượng của một năm giáo dục phóng khoáng ở trường Aarau không bao giờ phai mờ trong tâm trí ông: “Trường ở Aarau, bằng tinh thần phóng khoáng và sự nghiêm túc bình dị của những vị thầy không dựa vào quyền lực bên ngoài nào cả, đã để lại một ấn tượng không phai trong tôi; khi so sánh với sáu năm học ở một trường trung học Đức gia trưởng, tôi mới ý thức thấm thía một nền giáo dục nhằm khuyến khích hành động tự do và tính tự trách nhiệm hơn hẳn như thế nào một nền giáo dục dựa trên lối huấn luyện khắc nghiệt, lên quyền lực bên ngoài và tinh thần hiếu thắng. Dân chủ đích thực không phải là một lời nói sáo rỗng” như ông nhớ lại trong bài Tự thuật lúc sinh nhật 70 tuổi.  Ông nói mục đích của nhà trường là “phải để con người trẻ phát triển lên trong một tinh thần mà những nguyên tắc này (sự phát triển tự do và tự trách nhiệm của cá nhân) trở thành tự nhiên như không khí người đó thở. Chỉ có dạy thôi thì không đạt được gì cả.”  Về việc học nhồi nhét, ông nói: “Tôi nghĩ người ta có thể làm mất đi tính háo ăn của một con thú ăn thịt sống nếu cứ bắt nó phải ăn dưới roi vọt, ngay cả khi nó không đói, đặc biệt khi người ta tự chọn cho nó những thức ăn dưới áp lực đó.”

Trong chuyến đi Mỹ năm 1921, tại Boston, ông được đưa cho bảng câu hỏi Edison để trả lời để người ta xem ông trả lời đúng đến đâu như một trắc nghiệm thông minh. Đến câu hỏi về vận tốc âm thanh ông trả lời: “Điều đó tôi không biết. Tôi không muốn làm nặng nề trí nhớ của tôi với những sự kiện như thế, những thứ mà tôi có thể tìm thấy dễ dàng trong bất cứ tự điển bách khoa nào.”  Ông cũng không đồng ý với quan điểm của Edison cho rằng kiến thức quan trọng hơn giáo dục đại học. Ông trả lời: “Đối với con người, kiến thức không quan trọng lắm. Để có kiến thức con người không cần đến đại học. Cái đó người ta có thể học từ sách. Giá trị của giáo dục đại học không nằm ở chỗ học thuộc lòng thật nhiều kiến thức mà ở chỗ tập luyện tư duy, cái mà người ta không bao giờ học được từ sách giáo khoa.”  Nghiêm trọng nhất đối với ông là khi “trường học chủ yếu dùng những phương tiện gây sợ hãi, cưỡng bách và chuyên chính giả tạo. Phương pháp đó huỷ diệt tình cảm lành mạnh của sự sống, sự chân thật và sự tự tin của học trò. Nó tạo ra một loại thứ dân ngoan ngoãn.” Con người không thể bị xem như một công cụ chết. Một người trẻ khi rời trường học không nên là một chuyên viên mà là một “nhân cách hài hoà”, một “cá nhân biết tự tư duy và hành động”, nắm vững những phương pháp khoa học của ngành mình để có thể thích nghi một cách sáng tạo với mọi thay đổi, tiến bộ, hơn là chỉ được đào tạo bằng sự tích luỹ kiến thức. “Sự phát triển khả năng tổng quát nhằm tư duy và phán đoán tự lập nên luôn luôn được đặt lên hàng đầu chứ không phải sự tích luỹ của kiến thức chuyên môn”. Hệ thống cạnh tranh, sự chuyên môn hoá quá sớm, gánh nặng của nội dung học, của hệ thống điểm là những thứ đe doạ khả năng tư duy và phán đoán tự lập của học sinh, dẫn đến sự hời hợt và “vô văn hoá” (Kulturlosigkeit). “Khắp nơi, sự siêng năng đắc lực, sự thành công được tôn sùng chứ không phải giá trị của sự việc và con người theo quan điểm của cứu cánh đạo đức của nhân loại. Thêm vào đó là ảnh hưởng rất tai hại về mặt đạo đức của cuộc chiến đấu kinh tế không khoan nhượng.” Einstein cho rằng tệ nạn xấu nhất của chủ nghĩa tư bản là “làm què quặt cá nhân…Cả hệ thống giáo dục chúng ta đau khổ vì tệ nạn này. Một thái độ cạnh tranh quá đáng được khắc sâu vào sinh viên, anh ta được huấn luyện để tôn thờ sự thành công hám lợi như một sự chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai.”  Đạo đức đối với ông là tiêu chuẩn hàng đầu: “Một tính cách tốt và vững vàng có giá trị hơn khả năng hiểu biết và sự uyên bác”.  Nền tảng của tất cả mọi giá trị của con người là đạo đức. “Mục tiêu (của nhà trường) phải là sự đào tạo nên những cá nhân tự hành động và tư duy nhưng biết nhìn thấy trong việc phục vụ xã hội nhiệm vụ cao cả nhất của cuộc đời.”

 

Tôi tin rằng sự sa sút khủng khiếp trong tư cách đạo đức của con người trước nhất có liên quan đến sự máy móc hoá và sự làm mất đi tính chất cá nhân của cuộc sống của chúng ta – một sản phẩm phụ bất hạnh của sự phát triển tinh thần khoa học-kỹ thuật. Lỗi của chúng ta…Con người nguội lạnh đi nhanh hơn hành tinh nó đang ngồi trên đó.

EINSTEIN

Einstein chứng kiến trong thế kỷ 20 vô số cá nhân phải chịu số phận nghiệt ngã trước sự khước từ của xã hội, của số đông, của chính quyền đại diện họ. Chính số đông đã để mình chịu khuất phục dễ dàng trước các quyền lực chính trị, để đẩy nhau vào nỗi bất hạnh, trong khi “một số ít người không tham gia vào cách suy nghĩ thô bạo của số đông, vẫn sống theo lý tưởng tình yêu con người, không bị ảnh hưởng bởi những đam mê của họ, thì phải chịu một số phận bi thảm: họ bị ném ra khỏi xã hội và bị đối xử như những kẻ bị hủi nếu họ không chịu làm những hành động mà lương tâm họ chống lại, và im lặng hèn nhát về những gì họ thấy và cảm nhận.”  Trong quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân, Einstein đặt nặng vai trò của cá nhân: “Bởi vì tất cả những gì vĩ đại và cao cả đều được tạo ra bởi cá nhân trong sự phấn đấu tự do.”  Chính cá nhân tạo ra tài sản văn hoá cho nhân loại. Ông nói: “Có thể dễ dàng nhận thấy rằng tất cả những tài sản vật chất, tinh thần và đạo đức mà chúng ta nhận được từ xã hội xuất phát từ những nhân cách đơn lẻ qua vô số thế hệ.[…] Chỉ cá nhân đơn lẻ mới tư duy và qua đó mới tạo ra những giá trị mới cho xã hội.” Ông diễn tả trong “Thế giới quan của tôi”: “Chỉ cá nhân riêng lẻ mới có thể tư duy và qua đó tạo ra những giá trị mới, tạo ra cả những tiêu chuẩn đạo đức mới mà dựa theo đó cuộc sống của cộng đồng phát triển. Không có những cá nhân sáng tạo, tự biết tư duy và phán đoán thì khó hình dung một sự phát triển cao của cộng đồng cũng như khó hình dung sự phát triển của các cá nhân riêng lẻ mà không có miếng đất nuôi dưỡng của cộng đồng. Một xã hội lành mạnh được gắn liền với tính tự chủ của các cá nhân cũng như với sự gắn bó xã hội sâu sắc của họ. Người ta nói một cách chính đáng rằng chính nền văn hoá Hy lạp-Châu Âu-Mỹ, đặc biệt tinh hoa văn hoá của thời Phục Hưng Ý, cái đã chấm dứt giai đoạn trì trệ của thời trung cổ ở châu Âu, là dựa lên sự giải phóng và sự tách biệt tương đối của cá nhân.”  Sự sản xuất hàng loạt những con người giống nhau sẽ không làm giàu mà làm nghèo đi xã hội: “Một xã hội của những cá nhân được tiêu chuẩn hoá không có sắc thái và mục tiêu riêng sẽ là một xã hội nghèo nàn mất khả năng phát triển”.

Không có đầy đủ tự do, đủ lượng khoan dung của xã hội, bắt đầu từ nhà trường, thì không thể có những nhân cách vượt trội để làm giàu cho xã hội. Có lẽ bao nhiêu tài năng đã bị mai một hoặc biến dạng trên con đường họ phải đi qua, nếu các tài năng không đủ mạnh để giữ vững cho mình một loại tự do thứ hai – tự do nội tâm – để tiếp tục phát triển đến đích: “Để phát triển khoa học và hoạt động sáng tạo nói chung cần phải có một thứ tự do khác, người ta có thể gọi là tự do nội tâm. Đó là cái tự do của tinh thần thể hiện qua sự độc lập của tư duy trước các trói buộc của thành kiến, của quyền lực và xã hội, cũng như trước những trói buộc của suy nghĩ lệ thường và thói quen không phê phán. Tự do nội tâm này là một món quà hiếm có của thiên nhiên ban cho và là một mục tiêu đáng giá cho cá nhân. Cộng đồng cũng có thể đóng góp rất nhiều vào việc giáo dục tự do nội tâm này, bằng cách cộng đồng ít nhất không ngăn cản sự phát triển của nó. Trường học, bằng  ảnh hưởng gia trưởng và bằng gánh nặng trí óc thái quá cho những cá nhân trẻ, có thể ngăn cản sự phát triển của tự do nội tâm, hoặc ngược lại bằng khuyến khích tư duy độc lập, sẽ tạo thuận lợi cho nó. Chỉ khi tự do nội tâm và tự do bên ngoài được vun xới một cách có ý thức và lâu dài thì mới có được điều kiện cho sự phát triển tinh thần, cho sự hoàn thiện và cải thiện đời sống nội tâm và bề ngoài”.

Nếu Comenius, một nhà sư phạm nổi tiếng thế kỷ 17, đã có những lời nói như một bản tuyên ngôn của giáo dục đứng hẳn về phía học sinh: “Bản chất con người là tự do, yêu quyền tự quyết và ghét bắt buộc. Cho nên nó muốn được chỉ đường đến nơi nó phát triển, và không phải bị kéo đi, đẩy đi, hay ép buộc”   thì Einstein chính là hiện thân cao nhất, rõ nét nhất của bản chất yêu tự do sâu sắc đó của con người. Phải có đầy đủ tự do, con người mới ý thức được cái khao khát từ bên trong nội tâm của nó và mới sáng tạo được những giá trị bền vững cho xã hội. Einstein ý thức được “sứ mệnh” (Berufung) vật lý của mình vào lúc áp lực của bộ máy giáo dục lên ông giảm đi, nghĩa là khi tìm lại nhiều tự do hơn để tự ý thức: “ Khi dọn về Aarau ở Thuỵ Sĩ năm 1896 và vào trường đại học bách khoa kỹ thuật, tôi lần đầu tiên mới ý thức rằng tôi không thích như thế nào cách nhồi nhét và học thuộc lòng, cách dạy của môn toán. Tôi tin rằng sở thích vật lý của tôi hình thành vào thời điểm này.”

Điều đó nói lên rằng khi có đủ tự do, bớt chịu áp lực hàng ngày của chế độ học nhồi nhét thuộc lòng, ông bắt đầu sáng tạo một cách ý thức. Chính trong thời gian tại Sở sáng chế ở Bern, không bị áp lực và sự lôi cuốn của bộ máy hàn lâm, ông mới có đủ sự yên tĩnh và bình tĩnh để phát triển, kiến tạo những ý tưởng mới của ông. Ông không bị nhiễu bởi vô số ý tưởng thường xuyên xâm chiếm của bộ máy hàn lâm có thể làm cho người ta chỉ “thấy cây mà chẳng thấy rừng”. Chúng ta nhớ lại những bộ óc toán học hạng nặng như Hilbert, Minkowski của đại học Göttingen đã theo dõi và nghiên cứu đề tài điện động lực học của các vật thể chuyển động một cách hệ thống chỉ vài năm trước Einstein nhưng không tìm thấy dấu vết của thuyết tương đối. Mặc dù thuyết tương đối hẹp đã “nằm trong không khí” nhưng chưa ai trong bộ máy hàn lâm phát hiện ra. Einstein không chỉ suy nghĩ một lúc về một, mà về ba đề tài lớn nhất của thời đại. Chỉ có thể được như thế khi một người có được sự độc lập cần thiết làm tiền đề, không phải bị bắt buộc chạy theo “thành tích chiều ngang” để giữ được cái ghế hay hy vọng được tiến thân. Ông nói: “Bởi vì nghề nghiệp hàn lâm đặt một người nghiên cứu trẻ vào một loại tình huống bắt buộc là phải sản xuất các bài nghiên cứu khoa học với số lượng gây ấn tượng – một sự cám dỗ dẫn đến sự hời hợt mà chỉ có những cá tính mạnh mới có khả năng cưỡng lại được.”

Mọi áp lực có tác dụng làm hại cho sự phát triển. “Trong thời học của tôi, ngay khi ngày thi được công bố, tôi bị dồn vào một áp lực đến nỗi tôi có cảm giác tôi không phải bước vào một kỳ thi mà bước lên một đoạn đầu đài.” Nhân danh thi cử, sinh viên bị bắt buộc phải học thuộc lòng quá nhiều thứ không cần thiết. “Trí óc của tôi sau những kỳ thi (cử nhân) hoàn toàn bị tắt nghẽn một thời gian cho hoạt động nghiên cứu và phân tích khoa học. Khả năng trí óc của tôi hoàn toàn bị cạn kiệt, bởi vì tôi phải học thuộc lòng những thông tin vô bổ.” Sau một năm ông mới bắt đầu lại công việc khoa học. Giáng sinh năm 1917 tờ Berliner Tageblatt đăng một bài báo của Einstein, tựa đề “Cơn ác mộng”. Thi cử đối với ông là ác mộng. Ông đã đề nghị xoá bỏ các kỳ thi tú tài, vì nó vô ích và có hại. Khi thầy cô đã biết học lực của một học sinh trong nhiều năm liền thì không cần thiết phải thi nữa, để khỏi gây sự sợ hãi trong học sinh và để học sinh khỏi phải học thuộc lòng một số lượng quá lớn những nội dung chỉ để trả bài.

Trong đời thường chúng ta cũng đã từng có những giây phút giống như thế: khi trở về với tự do, với chính mình, chúng ta mới thấy những ý tưởng sáng tạo được hình thành trong không gian rộng lớn và lắng đọng, mới thấy mình có những khao khát mà mình có lẽ chưa biết đến. Van Gogh là người mà hàng triệu người trên thế giới ngưỡng mộ các tác phẩm tranh ấn tượng của ông nhưng có lẽ ít ai biết rằng, ông trước nhất là một người thất bại, một ‘Versager’, năm năm sống lang bạt không một nơi cố định, không tiền để sống. Vào tháng 7 năm 1880, khi xuống đến tột cùng của nỗi thất vọng sau khi làm đủ nghề nhưng đều thất bại, không được xã hội chấp nhận, trong những giờ phản tỉnh khi trở lại với chính mình, ông mới sực tỉnh thấy mình là con người của hội hoạ. Ông liền cầm bút lên để vẽ, vẽ về cuộc đời, để thoả mãn một tình yêu mãnh liệt với cuộc đời trong trái tim ông. Ông hồi sinh như cây khô gặp nước. Cái gì làm cho ngục tù mà ông đang sống trong đó biến mất? Đó là “Mỗi một tình yêu sâu sắc và đích thực. Là người bạn, anh em và yêu mến – cái đó mở cửa ngục tù với sức mạnh vô biên, huyền bí. Ai không có điều đó, người đó vẫn ở trong cõi chết”. Ông vẽ một mạch tám năm liền cho đến khi ngã xuống một cách bi thảm.

Nếu Van Gogh là một nghệ sĩ vẽ cuộc đời bằng hình ảnh và màu sắc, vì một tình yêu sâu đậm đối với cuộc đời, thì Einstein là một nghệ sĩ vẽ vũ trụ bằng khái niệm, công thức, nguyên lý, vì một tình yêu sâu đậm đối với vũ trụ. Nếu đối với Van Gogh, ai không có tình yêu đích thực người đó như sống trong thế giới đã chết, thì đối với Einstein, ai không biết rằng cái đẹp nhất là cái bí ẩn nhất của tạo hóa, nếu ai “không còn khả năng ngạc nhiên, sửng sốt trước nó, người đó coi như đã chết, ánh mắt đã tắt lịm đi.”  Cả hai người đều cần tự do như không gian rộng mở để mộng tưởng của nghệ thuật bay bổng. Không có tự do, tài năng họ sẽ tàn lụn. Cả hai đã vượt lên khỏi cuộc đời. Hai ông không còn biết sợ hãi trước bất cứ cái gì của cuộc đời, kể cả trước “cọp và tê giác”, như một chương trong Đạo Đức Kinh của Lão tử (Sự sống và Cái chết). Van Gogh tin vào câu nói “Ai muốn giữ cuộc đời mình, người đó sẽ đánh mất nó. Ai mất đời mình vì một cuộc đời cao hơn, người đó sẽ giữ được nó” và đã sống như thế: ông đánh mất cuộc đời của mình, để rồi được một cuộc đời cao cả hơn. Einstein cũng sống như thế, ông không bám víu vào một cuộc đời hàn lâm, dám chấp nhận cuộc sống bên lề, để rồi cuối cùng ông đạt đến một cuộc đời cao cả hơn.

Einstein là một con người tự do và tự lập. Mười lăm tuổi ông đã tự ý bỏ trường và bỏ nước ra đi trước sự thất kinh của bố mẹ. Mười sáu tuổi ông đã nghĩ mình sẽ là một nhà vật lý lý thuyết. Nhưng sau một thời gian vào đại học ông thấy mình không phải là sinh viên giỏi, có lúc nghĩ đến việc nối nghiệp bố đi xây dựnng các nhà máy điện. Ông đã từng đi thăm các nhà máy điện của bố xây ở Bắc Ý. Ông đã đăng ký học những môn phụ thống kê và quản trị kinh doanh để chuẩn bị có thể bước vào nghề kinh doanh. Chính những kiến thức về thống kê sau này đã được ông đem sử dụng vào việc giải thích các định luật chuyển động Brown và thuyết lượng tử năm 1905, thay vì vào việc kinh doanh. Ông cũng tính đến việc làm nhà giáo trung học sau khi tốt nghiệp, nghề ông ngưỡng mộ và thích thú, tấm bằng cử nhân sẽ cho phép ông làm nhà giáo để theo chân vị thầy khả kính Winteler ở Aarau. Ông đã đi kèm trẻ, dạy thêm. Rồi khi được tin Mileva mang thai ông chấp nhận từ bỏ các dự tính hàn lâm để đi tìm bất cứ một nghề gì dù có thấp hèn để cưới và lo cho nàng, ngược với ý muốn của cha mẹ. Thêm vào đó là sự trả lời của Drude, chủ biên tờ báo Niên Giám Vật lý của Đức, tờ báo mà không lâu sẽ công bố những bài nghiên cứu làm thay đổi thế giới của ông, về việc Einstein phê phán lý thuyết electron của ông làm Einstein thêm nản lòng, Drude trả lời một cách ‘độc tài’ hơn là khoa học. Từ đó Einstein mới có câu nói: “Sự ngạo mạn của quyền lực là kẻ thù lớn nhất của chân lý”.

Nhưng rồi tình yêu và sự đam mê khoa học, cùng với sự tự tin đã đưa Einstein vượt qua những khó khăn trước mắt đế tiếp tục đi lên trong sự nghiệp khoa học của mình. Bên cạnh Habicht và Solovine trong “Hàn lâm viện Olympia” ông còn gặp một người bạn quan trọng khác trong đời: Michele Besso. Chính Besso đã lưu ý Einstein về những tác phẩm của Mach, và giúp Einstein đào sâu thêm nhiệt động học. Cũng chính Besso đã lưu ý Einstein về “chuyển động Brown” đã được quan sát từ trước mà Einstein đang nghiên cứu các định luật của nó. Besso và những người bạn khác của Einstein đều là những chiến sĩ “nghiệp dư” trong vật lý, nhưng vì thế mà thoát khỏi ảnh hưởng của bộ máy hàn lâm để vươn lên những ý tưởng hoàn toàn mới.

Vì sao Einstein rút ra được những kết luận mà các bậc thầy như Lorentz, Planck không đạt tới được? Vì ông  nhìn những kết quả của Lorentz, Planck không phải với con mắt của người trong một trường phái tư duy hàn lâm truyền thống, mà bằng con mắt của người ngoài cuộc. Sự tự học có tính cách tổng hợp có một không hai như là một cuộc ‘phiêu lưu’ trí tuệ đã giúp cho Einstein có khả năng nhìn các kết quả của các bậc thầy dưới một ánh sáng  hoàn toàn khác.

Ông yêu, rồi sợ “ngộp thở” trong tình yêu. Ông thương cha mẹ nhưng rồi sợ phải đi theo dấu chân của cha mẹ. Ông sử dụng thực chứng luận để khám phá trong thuyết tương đối hẹp, nhưng rồi là người giải phóng khoa học và triết học khỏi ảnh hưởng cố hữu trăm năm của nó. Ông đọc tác phẩm của nhiều bậc thầy, bước vào các thế giới của họ nhưng không bao giờ dừng lại ở đâu cả. Ông là lữ hành đi mãi, một loại “sói đồng hoang”, chiêm ngưỡng, chia sẻ, tham gia vào các thế giới khác nhau, nhìn thấy chúng như những lăng kính sặc sỡ dưới những góc cạnh khác nhau, nhưng không bao giờ thuộc về thế giới nào, mà vượt ra khỏi chúng để thấy những cái mà người trong những thế giới kia không thấy. Đó là tính cách của Einstein.  Những khám phá của ông năm 1905 là những khám phá nằm ở ranh giới của các ngành khoa học khác nhau: Chuyển động Brown giữa Cơ học và Nhiệt động học, Lượng tử quang học giữa Nhiệt động học và Điện động học, Thuyết tương đối giữa Cơ học và Điện động học.

Ông không khép mình vào bộ máy hay một thế giới cố định nào. Wilhelm Ostwald sau khi đúc kết những nghiên cứu của mình về lịch sử các thiên tài khoa học đã đi đến kết luận: “Những người khám phá của tương lai đều là các học sinh tồi hầu như không ngoại lệ! Chính những con người trẻ có năng khiếu nhất chống đối lại hình thức phát triển tinh thần mà nhà trường áp đặt lên chúng! Trường học vẫn lại luôn tỏ ra là một kẻ thù dai dẳng và khắc nghiệt của tài năng thiên phú!” Con người khoa học không chỉ sống bằng sự kiện, kiến thức, con số hay lô gích, còng lưng học thuộc lòng -những thứ đó cộng lại mãi cũng không bao giờ đưa con người lên đỉnh cao của khoa học, đến các vùng xa xôi của vũ trụ, hay sâu thẳm của vật chất – mà con người còn sống bằng óc tưởng tượng, “phantasie”, những ý tưởng sáng tạo táo bạo. Đằng sau mớ công thức hỗn độn mới chính là những ý tưởng khai sinh chúng ra. Ông nhìn lại: “Nếu suy nghĩ lại về tôi và về cách tư duy của mình, tôi gần như đi đến kết luận rằng khả năng tưởng tượng đối với tôi quan trọng hơn năng khiếu của tôi trong việc tiếp thu kiến thức tuyệt đối”. Óc tưởng tượng là đôi cánh của trực giác dẫn đường của ông, và trực giác như một ngọn đèn dẫn lối cho ông đi trong cuộc khám phá.

Einstein vốn sống cô đơn. Bất cứ ở nơi nào, Thụy Sĩ, Prag, Berlin hay Princeton ông đều có cảm giác là người xa lạ và ngoài cuộc. Cô đơn là quy luật khắc nghiệt dành cho những nhà khoa học hay hoạt động trí óc đam mê. Không có cô đơn hầu như không có khoa học. “Đó thuộc về những định luật mà hầu như tất cả những người bề tôi của vị thần khắc nghiệt là Khoa học phải tuân theo, rằng cuộc đời họ kết thúc trong sự đau buồn, càng đau buồn khi họ càng hết lòng với nhiệm vụ của họ.” Freud nói: “Khoa học chính là sự khước từ trọn vẹn nhất của nguyên lý ham muốn (Lustprinzip) có thể có được cho hoạt động tâm lý chúng ta.” Ngoài cái cô đơn do khoa học Einstein còn nỗi cô đơn riêng của một người không lúc nào thuộc hẳn vào thế giới này. Năm hai mươi hai tuổi ông đã có cảm giác luôn có một bức tường ngăn cách giữa ông và thế giới của những người khác. Einstein nói “Tôi ngược lại càng luôn có khuynh hướng cô đơn, một nét càng tăng lên với tuổi càng cao. Thật là lạ khi người ta nổi tiếng rộng rãi như thế mà lại cô đơn. Nhưng sự thật là loại nổi tiếng này, như nó đã được sắp đặt ở tôi, đẩy đương sự vào thế phòng thủ để rồi dẫn đến sự cô lập.” Ông quan sát đời như một khúc phim đi qua trước mặt: “Quả là khó hiểu cái gì đã thúc đẩy con người khiến cho người đó xem công việc quan trọng kinh khủng như thế? Cho ai? Cho người đó?- Người ta sắp ra đi kia mà. Cho cộng đồng? Cho hậu thế? Không, đó vẫn là điều khó hiểu.” Cuối đời ông phải chứng kiến nhiều người thân của ông lần lượt ra đi: Năm 1936 Grossmann mất, người đã giúp đưa Einstein vào Sở Sáng chế và đến với hình học Riemann; Elsa, người vợ thứ hai mất, năm 1948 người vợ thứ nhất Mileva mất, 1951 em gái Maja mất, tháng 3.1955 Besso mất, người bạn đã giúp Einstein tinh luyện các ý tưởng mình cho thuyết tương đối hẹp; Paul Ehrenfest, bên cạnh Maja có lẽ là người thân nhất của ông, đã tự kết liễu cuộc đời vào năm 1933.

Nếu Einstein trong đời không bám víu vào một bến đỗ nào, cho dù đó là quê hương, quốc gia, bạn bè hay gia đình, ông luôn luôn là một “người lữ hành cô độc”, ông chẳng thuộc vào đâu với tất cả trái tim, luôn luôn có một cảm giác không bao giờ dứt của sự xa lạ và cô đơn, thì trong tư duy khoa học cũng thế, ông cũng không bám víu vào một phương pháp khoa học hay một triết lý nào, ông vẫn là người “lữ hành cô đơn” không bến đỗ trên đường đi tìm chân lý của mình, cho dù con đường ông đi sẽ đưa ông về một chân trời vô định và chỉ còn một mình ông trên đó. Ông là người khai phá, người của tiền tuyến, không bao giờ biết bám víu vào miếng đất mình đã chinh phục, khai phá, và tiếp tục đi tìm những vùng đất hoang mới, với trái tim luôn rộng mở, bỏ lại phía sau tất cả quãng đường mình đã đi cho dù nó đã được trải bằng hoa vinh quang. Ông cũng không xây dựng một “trường phái” nào, không muốn áp đặt tư duy cho ai. Ông nói với tư cách là người thầy với trái tim rộng mở : “Tôi không bao giờ dạy học sinh; tôi chỉ cố gắng tạo ra những điều kiện để chúng có thể học.” Oppenheimer viết năm 1965 lúc kỷ niệm 10 năm ngày mất của Einstein: “Ông dĩ nhiên có nhiều khủng khiếp những môn đệ, theo nghĩa những người, qua việc đọc các tác phẩm của ông hay nghe ông dạy, đã học hỏi từ ông và có một cái nhìn mới về vật lý, về triết lý của vật lý, của bản thể của thế giới chúng ta sống trong đó. Nhưng ông không có, theo thuật ngữ kỹ thuật, một trường phái nào cả.” Khi mất, Einstein để lại di chúc yêu cầu đem tro của mình rải vào không gian ở nơi không ai biết. Ông trở về vũ trụ mà ông hằng chiêm ngưỡng, ông không muốn thấy có những chuyến “hành hương” của hậu thế, hoặc không muốn gây sự ‘quan tâm’ cho những kẻ có thể vẫn còn thù hằn ông mặc dù không hiểu ông như đã từng xảy ra lúc đương thời. “Cái đắng và cái ngọt đến từ bên ngoài, cái vất vả đến từ bên trong, từ sự phấn đấu của chính mình. Tôi làm việc chủ yếu do bản tính tự nhiên của tôi thúc đẩy. Xấu hổ vì qua đó đã nhận được quá nhiều sự kính trọng và yêu thương. Cũng có những mũi tên của sự thù địch bắn về tôi; nhưng chúng không bao giờ  trúng đích, bởi có thể nói chúng thuộc về một thế giới khác mà tôi không ở trong đó. Tôi sống trong sự cô đơn, sự cô đơn mà trong thời trẻ là đau khổ, nhưng trong những năm của sự chín mùi lại ngọt ngào.” Không phải nỗi cô đơn chỉ luôn luôn “ngọt ngào” như ông nói, mà có những lúc nó như một lời than trách ở tuổi bảy mươi: “Tôi hầu như chưa bao giời cảm thấy xa lạ với con người như hiện tại, hay đó là một ảo giác của sự lãng quên?”

Einstein là người đã sống trọn vẹn theo phương châm và lý tưởng của Immanuel Kant: “Bầu trời đầy sao trên tôi và quy luật đạo đức trong tôi” , đúng theo ý tưởng triết học và đạo đức của Kant để lại mà ông đã hằng có ấn tượng: “Cái (thế giới) thực không phải để tặng cho ta, mà được đặt ra như một điều bí ẩn cho ta giải” (Das Wirkliche ist uns nicht gegeben, sondern aufgegeben). Có lẽ những lời sau đây của Schleiermacher, nhà thần học tin lành của Phổ thế kỷ 19, tưởng nhớ đến Spinoza, cũng có thể dùng để tưởng nhớ Einstein: “Linh hồn vũ trụ chiếm ngự ông, cái Vô hạn là sự khởi đầu và kết thúc của ông, Vũ trụ là tình yêu duy nhất và vĩnh cửu của ông. Trong sự hồn nhiên thánh thiện và sự khiêm nhường sâu sắc, ông nhìn thấy chính mình trong thế giới vĩnh hằng, và biết rằng mình là hình ảnh trung thực thân yêu nhất của nó đến dường nào. Ông là con người đầy tín ngưỡng, và tràn đầy Linh hồn vũ trụ. Ông đứng đó, một mình và vượt lên tất cả, và không có gì sánh được, một bậc thầy của nghệ thuật, nhưng cao cả vượt lên khỏi đám đông trần tục, một ánh lửa dẫn đường có một không hai mãi mãi chiếu sáng.”

Đó là Einstein – nhà vật lý trên ngọn hải đăng. Hiểu được một phần cái huyền bí của vũ trụ mà Einstein đã khám phá, hiểu được cái vĩ đại, rộng lớn và cao cả của ông, đó là một niềm hạnh phúc lớn – và cũng để hiểu được một phần của chính mình và của những gì đang diễn ra xung quanh.

Chưa kết thúc được quyển sách này nếu không đặt được hai câu hỏi thời sự cho thế giới hôm nay: thứ nhất, với xã hội hôm nay, liệu có thể có một Einstein thứ hai khi mà nền giáo dục khắp nơi càng ngày càng chất thêm những gánh nặng cho học sinh, sinh viên, biến thanh thiếu niên thành những chú ‘ngựa thồ’ cho nền kinh tế ngày càng cạnh tranh quyết liệt, khi thước đo của xã hội ngày càng dựa trên tiền, bằng cấp, tên tuổi của đại học, khi áp lực công bố báo cáo lên nhà nghiên cứu ngày càng nặng thêm chứ không nhẹ bớt đi, khi “publish or perish” (công bố hay tiêu vong)? Thứ hai, nếu có, các quốc gia sẽ hành xử thế nào với một Einstein mới? Einstein đương thời không phải là con người ‘dễ chịu’, ngoan ngoãn, như chúng ta đã biết. Liệu ông có được để yên đi theo con đường của ông, được tự do để tư duy, bày tỏ suy nghĩ, tín điều, kể cả tín điều chính trị và những suy nghĩ xã hội, giáo dục, tư tưởng mà không phải sợ phải bị theo dõi, chụp mũ, phân biệt đối xử, trù dập hay bị trục xuất ra khỏi nước? Ở mức độ nào “ Những kinh nghiệm xấu luôn lập lại một cách mới” như ông nói? Ở mức độ nào con người học được từ quá khứ: “Nhưng rồi tôi biết con người chung quy thay đổi ít, cho dù cái mốt mà họ chạy theo làm cho họ xuất hiện vào những thời khác nhau như thể khác nhau, và cho dù khi những xu thế thời đại như xu thế hiện nay có mang đến cho họ vô số đau khổ. Chẳng có cái gì còn lại hơn là một trang giấy nghèo nàn trong các sách sử, trong đó những sự ngu dại của cha ông sẽ được phơi bày cô đọng lại trước mắt cho tuổi trẻ của các thế hệ sau”? Hy vọng thế kỷ 21 sẽ ra khỏi đêm dài của những thế kỷ trước. Nhưng ai biết đâu được. Thế kỷ 20 cũng tưởng đã chia tay với những thế kỷ trước, nhưng đã trở thành thế kỷ khủng khiếp nhất của nhân loại. Năm 2005 được công nhận là năm Einstein hay năm vật lý hàm chứa ý nghĩ chúng ta phải nhìn lại mình qua tấm gương của Einstein và học hỏi ở con người đặc biệt này. Cuộc đời của Einstein hơn là một tấm gương, có lẽ là một sự khải thị,  ‘Offenbarung’ hay “revelation”, và một ‘tin lành’ cho nhân loại. Kỷ niệm Einstein là để nhớ và suy ngẫm lại tin lành ấy.

Một hoạ sĩ Đức bang Bayern đã từng vẽ Einstein năm 1927 cho phòng triển lãm mỹ thuật của thành phố Nürnberg, năm 1938 phải bỏ xứ chạy trốn mật vụ Đức Gestapo, một lần hỏi một cụ già vì sao ông ngưỡng mộ Einstein khi mà ông không hiểu gì về lý thuyết của Einstein. Ông nhận được câu trả lời thành khẩn như sau: “Ông biết không, khi nghĩ đến giáo sư Einstein, tôi luôn cảm thấy tôi không còn hoàn toàn một mình nữa!”  Năm nay hàng triệu triệu con người trên quả đất khi tưởng nhớ đến Einstein chắc chắn cũng không cảm thấy mình lẻ loi, cho dù sự tồn tại của họ như thế nào, nó có được một phần như Einstein đã sống hay không. Einstein vừa là ngọn hải đăng luôn rọi sáng chúng ta vừa là một người đồng hành của chúng ta, một ‘đồng minh’,  như giáo sư Jürgen Renn, Viện trưởng Viện Max Planck Lịch sử Khoa học Berlin, người chủ trì chương trình tưởng niệm lớn Einstein tại Đức đã nói. Ông viết” Chính hôm nay chúng ta cần sự tưởng niệm Einstein như một nhà khoa học dấn thân, luôn đồng cảm, để định hướng cho chúng ta, khi ta gặp những vấn đề thời sự của khoa học, chẳng hạn  trách nhiệm của khoa học cho một trật tự thế giới hoà bình, hay sự khắc phục những ranh giới của sự yếu hèn, hoặc sự mở rộng khoa học với yêu cầu đem kiến thức của nó đến  với mọi người”.

Vâng chúng ta cần Einstein vừa là một ngọn hải đăng vừa là một bạn đồng minh, một người đồng hành.

………………………………..

(*): Đây là Chương 10 “Einstein- Con người giải phóng (2) ” trong tác phẩm “Einstein”, Nguyễn Xuân Xanh, nxb Tổng Hợp Tp HCM, in lần thứ 9, 2011

Nguồn: amvc

Loài người giấu cái đuôi ở đâu? – VHNA

1 Th6

Nhụy Nguyên

Có thể lắm, khi minh định được loài người thoát thai từ đâu, hẳn đó là giai đoạn đầu của sự hủy diệt. Nhân loại bằng tiến bộ vượt bậc của khoa học thực nghiệm, những bí mật lớn về tâm linh đã phần nào hé lộ, rọi ra tia hy vọng cứu rỗi giống loài trên hành tinh này. Nhưng nỗ lực vén bức màn vô minh để thấu triệt chân tướng vũ trụ sẽ vô vọng nếu không dựa vào khoa học huyền bí. Phật pháp mênh mông vi diệu nếu biết nương vào sẽ là sinh khí của bất kỳ quốc gia nào.

Chúng ta biết, trái đất từng trải qua thảm họa Đại hồng thủy cuốn sạch người Át-lan; riêng đỉnh Hi-ma-lai-a và Tây Tạng nước không vươn tới, nên hiển nhiên là nơi cất giấu hạt giống loài người. Ngành khảo cổ học cũng tìm thấy trong các hang động cổ xưa hình vẽ mô tả các loại máy móc về Y học hiện đại hơn cả bây giờ. Xem là nền văn minh tiền sử bị lấp vùi. Việc phát hiện ra các bích họa tuyệt mỹ ở dãy núi Alps; những dấu chân hóa thạch có niên đại cách nay mấy trăm triệu năm đã cho thấy người tiền sử từng sinh sôi rực rỡ, vượt xa nền văn minh chúng ta. Rồi giới khảo cổ còn tìm ra các di vật cách hàng tỷ năm, khi mà vỏ trái đất chưa thật hoàn thiện… Nên biến cố “trùng tang” giữa các hành tinh sẽ gây nên bão từ như dự lịch của người Maya đâu gì lạ. Có một hội nghị khoa học khám phá ở Sydney năm ngoái, trọng tâm vẫn là bàn về Ngày tận thế. Bản tổng kết không báo động cũng không đảm bảo sự an toàn. Tuy nhiên điều đáng lưu ý, họ “hy vọng cư dân trên địa cầu từ nay đến thời điểm đó có thể thức tỉnh, mọi người đều có thể làm đến được “bỏ ác dương thiện, cải tà quy chánh, đoan chánh tâm niệm””.

Nền văn minh vật chất càng phát triển, người người chạy theo lối sống vật chất, nhân tâm suy đồi khô cằn hoang mạc. Một số cường quốc tự hào về việc chế tạo các loại vũ khí tối tân, tự hào về việc khám phá các hành tinh khác ngoài trái đất, mà không mấy để ý đến những khám phá tâm linh mang tính quyết định cho tương lai hoàn cầu. Mun đa sép – Gs. Y học, Giám đốc Trung tâm phẫu thuật mắt Liên bang Nga, ông đã hành trình qua Tây Tạng chụp lại những “con mắt thứ ba” trên các đền đài cổ, dùng kỹ thuật hiện đại dựng lại hình dáng của một loại người có tên Xô-ma-chi. Người Xô-ma-chi đã rời thế gian hoặc vẫn ngụ trong lòng các ngọn núi, như là sự di truyền hạt giống cho nền văn minh hậu trái đất; trong đó Hi-ma-lai-a, Tây Tạng được xác định là trung tâm quỹ gen của nhân loại. Qua tiếp xúc với các Lạt ma, Gu-ru, khám phá của Mun đa sép là kho tư liệu quý giá vô ngần về huyền bí phương Đông chưa từng đạt tới trong giới khoa học nghiên cứu tâm linh trước ông.

Hẳn bây giờ khái niệm linh hồn cũng không xa lạ lắm tại Việt Nam. Viện Tiềm năng con người hiển nhiên là cầu nối thông tin giữa cõi sống và cõi chết, dẫu cho sự biết đó vô cùng hạn hẹp tại bề thấp nhất của cõi Trung giới và giai đoạn Thân trung ấm. Nếu người đời vẫn cần một sự tường giải thực nghiệm, e muộn mất. Khoa học gia như Mun đa sép, lúc qua Tây Tạng mới làm quen được khái niệm Từ Bi, thế mà trong thời gian ngắn ông đã lưu cữu vào tâm thức các thức [bất tử] sau kiếp người; có khiến chúng ta chột dạ? Âu là do bức màn vô minh giăng phủ. Vô minh – danh từ này dùng để đeo trước ngực tất cả những ai chưa trực ngộ, chưa thấm Đạo, chưa hề chiêm nghiệm về “tánh không” mà không vin vào tri kiến, vào bàn cân khoa học. Ai rồi cũng đến được bờ giải thoát, có thể trong chúng ta “đang là” đây sẽ cán đích trong kiếp này hoặc nhiều kiếp nữa, cũng có thể trôi lăn trong luân hồi cả đại A Tăng Kỳ kiếp. Một người nông dân ngộ Đạo, nếu tính trên mặt bằng cõi nhân, họ tiến bộ hơn nhiều một trí giả coi thường Phật pháp. Danh giá bây giờ, song họ phải nhận thêm nhiều kiếp nữa để được như người nông dân kia. Đó là chưa dám nghĩ đến chuyện, vì mê lầm chấp trước gây nghiệp không khéo rẽ qua lục đạo luân hồi [không ngoại trừ] nếm mùi đời súc sinh. Việc hành Đạo có quan trọng và việc cự tuyệt hành Đạo có nghiêm trọng, tưởng đâu cần trả lời.

Quay lại với nguồn gốc loài người. Ở đây không nhất thiết lật lại vụ nổ Big Bang; cũng không cần soi lại thuyết Tiến hóa. Mun đa sép bước đầu cảm nhận chủ nhân của các Kim tự tháp là người Át-lan có tuổi thọ 78.000 năm (trong lúc nếu là của người Ai cập thì mới chỉ khoảng 4 – 5000 năm). Vậy các Pharaông từng được xem là xác ướp, có thật? Giả thuyết: đó có thể là những Xô-ma-chi tạm thời gửi xác lại trong các “tháp mộ”; thời điểm loài người hủy diệt, [hồn] họ sẽ quay [sống] lại nhập vào xác duy trì giống người. Học thuyết bí ẩn của học giả người Nga E.P. Bờ-la-vát-cai-a xuất bản năm 1937 viết: “Tại nơi bây giờ là hồ nước mặn và những sa mạc cằn cỗi hoang vu, đã từng có một biển cả nội địa rộng lớn, trải dài từ dãy núi Hi-ma-lai-a hiên ngang và các nhánh phía tây qua Trung Á đến phương Bắc. Trên đó có một hòn đảo đẹp vô song là nơi cư trú của những người còn lại cuối cùng của Chủng tộc trước chúng ta…”.

Xô-ma-chi cũng gần với trạng thái “nhập định viên mãn” trong Thiền Phật giáo Nguyên thủy. Người trần tu đắc quả La hán hoặc cao hơn, tế bào của họ sẽ được thay bằng vật chất cao năng lượng, có thể đưa xác lên cõi khác hoặc xác ấy để lại trần gian mãi mãi không hư hoại (một dạng như đang có ở chùa Dâu). Trường hợp Xô-ma-chi tạm thời gửi xác lại ở dạng đá, trong lòng đất hoặc cũng có thể dưới đại dương; họ sẽ trở lại trái đất lấy xác hoặc không, bởi chính [hồn] họ, bằng năng lực siêu nhiên hoàn toàn tạo được một thân hình vừa ý để “khoác” vào. Ở Tây Tạng có người Xô-ma-chi mật tu trong các hang động, song người đời không được phép vào trừ những ai thực sự đã tịnh hóa thân Tâm đạt đến cấp độ Nhị Thiền trở lên; hoặc người xin vào với sứ mệnh lớn lao thức tỉnh nhân loại… Điều này hoàn toàn lô gích, nếu chúng ta nhớ lại số người từng thiệt mạng tại hầm mộ Pharaông trong các Kim tự tháp. Hiểu cách khác, xác ướp ấy có thể được gửi lại trần gian theo kiểu Xô-ma-chi. Đó có thể là quy luật được an bài bởi các cõi trên, và vĩnh viễn bất khả tri với “người thường” dẫu có sáng chế ra kính thiên văn nhìn thấu thiên hà.

Dĩ nhiên, người đạt được trạng thái Xô-ma-chi xuất hồn gửi xác hàng triệu năm, thì họ hoàn toàn chủ động kiếm phần xác thích hợp khác hay tự tạo ra phần xác cho mình để sinh ra một giống người mới trên trái đất sau thảm họa… Đã đến lúc cần ngẫm kỹ khái niệm Nghiệp. Nghiệp là “bộ máy” tinh vi phân tích nhân tạo quả chi phối xuyên không gian và thời gian. Trong giới động vật mỗi loài đều do quy định của nghiệp quả. Trong vũ trụ có vô số cảnh giới khác nhau được tạo ra để phân loại cho giới loài sinh sống. Danh sư Di Pama chui được xuống đất song khi lên thì người ướt rượt, để thấy ở cảnh giới bà thâm nhập, mặt đất không còn là mặt đất mà lại là nước. Cũng như trong không gian ta đang sống, trong ngôi nhà rỗng của chúng ta, nhìn thì trống không song thực tế có cảnh giới cõi âm, “người” vẫn tồn tại [trong cảnh giới của họ]. Thấp hơn là cảnh giới của ngạ quỷ, súc sanh, cảnh giới địa ngục… và nhiều cảnh giới nữa vẫn “tận dụng” không gian của loài người mà xem ra chẳng ảnh hưởng gì đến nhau. Loài tinh tinh thông minh nhất trái đất hiện thời, khoa học giải mã bộ gen của nó gần trùng khớp với người. Cũng yêu ghét giận hờn, sẻ chia vui buồn, cũng tham sân như ai, nhưng tí chút khác biệt chính là cái nghiệp khiến nó phải là con tinh tinh trọn kiếp!

Đạo Phật có danh từ rất dễ nhớ: Ngộ. Có điều để phá mê, con người phải trải qua nhiều kiếp, ngắn gọn hơn là đánh đổi sự tu tập trọn đời. Kinh Phật vẫn từng nhắc đến rất nhiều vị La Hán, Bồ Tát, Phật Đà thần thông quảng đại, dời chuyển không gian. Mục Kiền Liên xuống Địa ngục để thăm mẹ, xem Bồ Đề Đạt Đa bị đọa như thế nào; Di Pama có thể quay về ngồi chung với các tỳ kheo nghe Phật giảng Tứ thánh đế,… Người chứng Đạo hầu như có thần thông. Vậy tại sao tất thảy họ không tiêu trừ hết khổ đau cho nhân loại? Thực ra như đã nói, con người rớt xuống cõi này đều do lãnh nghiệp báo từ các cõi trên, đòi hỏi phải tự ngộ; Phật chỉ cho lối thoát và ai nấy tự thắp đuốc mà đi. Nếu khả năng kỳ diệu [do đắc Pháp mà có] phơi lộ trước mặt, chúng ta sẽ nổi tham; tu tập mong đạt khả năng đó, như vậy đâu phải ngộ. Ngược lại nếu họ đem huyền năng khoe khoang trục lợi, phô bày bản ngã, chắc chắn sẽ bị rút phép thông công. Bởi thế ngoài một số hiện tượng linh hiển, tiến trình lên [hay xuống] trong Ta bà phụ thuộc vào nhân tâm.

Thật nghiêm trọng nếu nghĩ Phật giáo chỉ dành cho một bộ phận người, ai không theo thì không cần giữ giới, họchành. Thực tế Phật pháp dành chung cho nhân loại. Cõi người là tầng rất thấp trong Tam giới. Chúng ta “rớt” xuống đây xem như cõng nghiệp, duy trì thân mạng cốt tạo phước hầu trả nghiệp tiêu nghiệp, nhẹ gánh mà bay lên. Muốn tìm lại đúng con đường trở về Tây Phương thế giới, không ngọn đèn nào soi tỏ ngoài ánh hào quang của Phật pháp. Chúng ta không nên học Phật qua “tảng băng nổi” mà phải học bằng Tâm ở phía sau văn bản, tức chặt đứt “ngón trăng”. Cho dù “triết học Kinh Phật là nền triết học cao nhất của triết học thế giới” (như nhận xét của Giáo thọ Đông Phương Mỹ) thì sau sở học là hành. Hành, trước hết đào luyện tâm, tẩy rửa bợn nhơ uế trược. Cao nhân Phật pháp, họ cũng chỉ nhận mình là hành giả chứ không gắn hàm học giả bao giờ. Nếu cảm Phật bằng Tâm, chúng ta sẽ không mất quá nhiều thời gian chờ đợi ngành vật lý lượng tử chứng minh bí mật của vũ trụ mà Đức Phật nói không sai trật gần ba ngàn năm trước.

Tu thời nay không nhất thiết phải cạo đầu lên chùa. Từ Phật giáo Tiểu thừa đến Phật giáo Đại thừa  là một quá trình biến đổi lớn về tư duy hành đạo. Ta vẫn có thể “trà trộn” vào dòng đời, lấy đời làm trường tu luyện để nhiếp phục tâm, nâng cao chân tánh. Khi miếng ăn bị xâm hại, nếu ta biết đặt sự nhường nhịn lên trên hẹp hòi ích kỷ thì xem như đã vượt qua một [trong số nhiều] cửa ải tử sinh. Khi biết chịu thiệt về mình để ban phát tình thương lên vạn vật thì nỗi sợ hãi và nghiệp nạn sẽ không chạm được vào cánh cửa tử sinh kế tiếp. Nếu trái đất bị đảo chiều suy biến, khi đó tâm từ mà ta luyện thành sẽ là nơi an trú an toàn nhất.

Hoặc giả, nếu thế giới ấn định thời gian (kiểu như giờ trái đất chẳng hạn) và đúng khoảng thời gian bao lâu đó toàn nhân loại đều thanh sạch nguyện cầu, thiết nghĩ nạn nghiệp sẽ được đẩy lùi.

Nếu như trái đất không lâm nạn, hoặc cộng nghiệp sai số hàng chục, hàng trăm nghìn năm thì tương lai gần của loài người cũng không sáng sủa cho lắm. Đại thế chiến tiền ẩn. Bom nguyên tử chờ kích hoạt… Sự lệch quỹ đạo trái đất sẽ tạo nên địa chấn, đại dương trồi lên và phần đồng bằng đồi núi bị lún xuống. Điều này lý giải nguyên do chúng ta tìm thấy những thành phố chìm dưới đáy đại dương. Hay hiểu thô mộc hơn, thời điểm nền văn minh vật chất “lên đỉnh”, thời điểm các cường quốc “chơi cờ người” phục vụ cơn ngông cuồng của nhóm người băng hoại đạo đức, hẳn sẽ có bàn tay thiên tượng xóa bàn cờ thế sự tạo nên giống người mới cho một nền văn minh mới. Đừng bao giờ nghĩ điều đó bất công. Sẽ chẳng có bất công khi tất cả cùng lâm nạn song người xấu xuống địa ngục còn người tốt lên thiên đàng; người xấu bị đầu thai làm súc sinh còn người tốt hưởng phước tại các cõi cao hơn. Đó là thuyết luân hồi nhân quả không thể nghĩ bàn nếu con người không chịu khai tâm mở não.

Trong lịch sử Việt Nam đã có thời thịnh trị Lý – Trần dựa nền trên lưng Phật giáo; lại là thời có phương sách giữ nước kinh điển. Chúng ta thừa nhận thơ Thiền Lý – Trần là đỉnh tót vời trong kho tàng văn học nước nhà. Nếu chúng ta gạn khỏi “bể khổ” lớp váng vô minh và không nhìn Phật pháp qua lớp kính màu của mê tín, của chính trị và quyền lực thì miền huyền nhiệm trong mỗi người sẽ tự thắp sáng sau những bể dâu.

 

 

Avram Noam Chomsky: “người có trí tuệ nhất thế giới” – VHNA

1 Th6

Nguyễn Đức Dân

Ngày 18-10-2005, trong cuộc bầu chọn Những người trí tuệ trên thế giới do tạp chí Prospectcủa Anh thực hiện, Noam Chomsky đã được chọn là “người có trí tuệ nhất thế giới”. Vậy Noam Chomsky là ai?

Đôi dòng tiểu sử
Avram Noam Chomsky sinh ra trong một gia đình trí thức Nga gốc Do Thái. Ông sinh ngày 7-12-1928, tại East Oak Lane, vùng ngoại ô Philadelphia, bang Pennsylvania, Mĩ. Cha ông là William Chomsky, trốn quân dịch Sa hoàng và di cư khỏi Nga năm 1913, là một học giả tiếng Hebrew. Mẹ ông, Elsie Chomsky (tên thời con gái là Simonofsky) cũng gốc Nga nhưng sinh ra và lớn lên ở Mĩ, nói tiếng Anh giọng New York. Tiếng mẹ đẻ của bố mẹ ông là Yiddish, nhưng trong gia đình lại không dùng thứ tiếng này. Noam trong tiếng Hebrew có nghĩa là “hài lòng”.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1945, Chomsky học hành khá lang bang tại Đại học Philadelphia. Đầu tiên ông quan tâm tới tình hình chính trị ở Trung Đông hơn cả việc học đại học. Ông từng có ý định thôi học để đi Palestine. Tìm cách khuyên can con, cha ông giới thiệu với Zellig Harris, lúc đó cũng rất quan tâm tới chính trị. Thế là chàng thanh niên Chomsky quyết định ở lại Philadelphia học ngôn ngữ học với Z. Harris. Quan điểm chính trị của Z. Harris đã ảnh hưởng sâu đậm tới quan điểm của N. Chomsky sau này.
Năm 1949, Chomsky kết hôn với nhà ngôn ngữ học Carol Schattz. Họ có 3 con, hai gái: Aviva (sinh 1957) và Diane (sinh 1960) và một trai: Harry (sinh 1967).
Đóng góp ngôn ngữ học
Trong quá trình nghiên cứu “Phương pháp ngôn ngữ học cấu trúc” của Harris (x. Harris, 1951) ông đã tìm ra phương pháp hình thức hoá chúng một cách triệt để. Từ 1955, ông đã hoàn thành công trình Cấu trúc logic của lí thuyết ngôn ngữ dày trên 900 trang [A, 1975a]. Chương Phương pháp phân tích biến đổi của sách này được đệ trình làm luận án tiến sĩ. Phương pháp biến đổi của N. Chomsky khác với phương pháp biến đổi của Z. Harris ở điểm căn bản sau: Quy tắc biến đổi của Harris là hai chiều, nghĩa là nếu cấu trúc A biến đổi thành cấu trúc B thì B cũng biến đổi thành A (A ↔ B).Với Chomsky, chỉ có biến đổi một chiều. Ông đỗ tiến sĩ nhưng bị đánh giá khá xoàng. Một giáo sư phản biện viết: ‘Tôi không biết luận án này thuộc lĩnh vực gì, nhưng chắc chắn đây không phải là ngôn ngữ học’. Thế là trong một hai năm tiếp theo, các toà soạn và nhà xuất bản trả lại bản thảo luận án và các bài báo của ông. Dù sao, nhờ M. Halle và R. Jacobson mà Chomsky được một chân dạy tiếng Pháp và tiếng Đức cho cán bộ khoa học – kĩ thuật ở học viện MIT (Massachusetts Institute of Technology). Năm 1961, ông được phong Giáo sư Khoa Ngôn ngữ hiện đại và Ngôn ngữ học (nay là Khoa Ngôn ngữ học và Triết học). Ông đã dạy ở MIT suốt hơn nửa thế kỉ qua.
Năm 1957, NXB Mouton (Hà Lan) in cho ông quyểnSyntactic Structures. Robert Lees, một học trò của ông, đã viết một bài dài hơn 30 trang giới thiệu và bình luận quyển sách này trên tạp chíLanguage (1960). Nhờ đó mà thế giới biết tới ông. Cho đến nay, đây vẫn là công trình được nhiều người biết nhất của N. Chomsky. Trong sách này có một câu rất nổi tiếng minh hoạ cho quan niệm về ‘tính ngữ pháp’ của ông: Colorless green ideas sleep furiously (Những tư tưởng xanh lục không màu đang ngủ một cách giận dữ), một câu vô nghĩa chỉ có thể xuất hiện trong một bài thơ siêu thực vẫn có thể có tính ngữ pháp.
Ngữ pháp tạo sinh
Cách tiếp cận cú pháp của N. Chomsky, thường mang tên ngữ pháp tạo sinh – GG (generative grammar), mặc dù rất phổ biến ở Mĩ và một chừng mực nào đó ở Pháp nhưng lại khó khăn với những nhà nghiên cứu ở ngoài Mĩ, bởi cách phân tích cú pháp đó rất trừu tượng. Nó dựa trên những nghiên cứu công phu về ranh giới giữa những cấu trúc ngữ pháp và phi ngữ pháp trong một ngôn ngữ. Những nghiên cứu này, như N. Chomsky từng nói, dựa trên những quan sát kĩ lưỡng một số lượng khổng lồ các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau suốt từ 1949 đến nay. Những phán xét về tính ngữ pháp chỉ có thể thực hiện một cách chính xác bởi những người bản ngữ. Vì những lí do ngữ dụng các nhà ngôn ngữ học thường nhấn mạnh tới tiếng mẹ đẻ của họ hay ngôn ngữ mà họ chịu ảnh hưởng, như Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch, Ý, Nhật, Trung Quốc… khi giải thích và phát triển lí thuyết này.
Đôi khi những phân tích của GG không thành công ở ngôn ngữ mà trước đó chưa được nghiên cứu. Khi số lượng các ngôn ngữ được khảo sát tăng lên cũng dẫn tới nhiều thay đổi của GG và sự khẳng định về tính phổ quát ngôn ngữ học đã trở nên vững chắc hơn nhiều.
Về phổ quát ngôn ngữ, Joseph Greenberg nổi tiếng với công trình được nghiên cứu công phu qua rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Các ngôn ngữ được phân loại theo những loại hình khác nhau, trong đó có loại hình về trật tự từ [Greenberg, 1966]. Cách tiếp cận của N. Chomsky lại theo hướng đưa ra giả thuyết bẩm sinh ngôn ngữ. Trẻ em được giả định là có năng lực bẩm sinh (innate knowledge) về những cấu trúc ngữ pháp cơ bản chung cho các ngôn ngữ tự nhiên. Tức là, ngôn ngữ nào cũng chứa đựng một số hữu hạn những thành tố giống nhau. Tri thức bẩm sinh này thường mang tên ngữ pháp phổ quát. Đó là một ngữ pháp hình thức có “tính tạo sinh” (productivity): Với một tập hữu hạn các quy tắc ngữ pháp và một tập hữu hạn các từ ngữ, con người có thể tạo ra vô hạn các câu, kể cả các câu mà chưa bao giờ họ nói hoặc nghe thấy.
Cơ chế này được những người bản ngữ kiểm chứng qua thời gian, từ 1949 đến nay. Số lượng ngôn ngữ được kiểm chứng tăng lên rất nhiều. Có những bất ngờ. Một trong những ví dụ thú vị là về trật tự từ. Vào thập niên 90 thế kỉ trước, Richard Kayne, một nhà nghiên cứu nổi tiếng theo trường phái Chomsky đã chứng minh rằng, tất cả các ngôn ngữ đều có cấu trúc chìm (underlying structure) theo trật tự S – V – O [Kayne, 1994], một điều không chấp nhận được vào thập niên 60 thế kỉ trước. Đến nay, giới ngôn ngữ học Việt Nam cũng vẫn bất ngờ với kết luận này.
Năm 1979, N. Chomsky trình bày tại Hội nghị Ngôn ngữ học thế giới GLOW (Generative Linguistics in the Old World) diễn ra ở Đại học Sư phạm Pisa (Ý) cách tiếp cận P&P về ngôn ngữ (The Principles and Parameters approach – Những nguyên lí và tham biến), báo cáo này thường mang tên The Pisa Lectures, sau này được gọi là Lí thuyết G&B(Chi phối và Gắn kết – Government and Binding theory) [1981]. Trong những năm cuối thập niên 60 thế kỉ XX, một số quy tắc trong lí thuyết chuẩn (Standard Theory – tên gọi cho công trình Aspects of the Theory of Syntax, 1965)không giải thích được một số vấn đề ngữ nghĩa nên đã được điều chỉnh lại và mang tên Lí thuyết chuẩn mở rộng (Extended Standard Theory). Tiếp đến, đầu thập kỉ 70 với một số điều chỉnh mang tên ‘phạm trù rỗng’ (empty categories), lí thuyết ‘thanh chắn – X’ (X-bar theory), ‘cấu trúc chìm và cấu trúc nổi’ (D- and S-structures), và những điều kiện biểu hiện như ‘bộ lọc Cách’ (Case filter) lại dẫn đến Lí thuyết chuẩn mở rộng nhìn lại (Revised Extended Standard Theory) làm cho mô hình ngữ pháp trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Lí thuyết Chi phối và Gắn kết đã điều chỉnh về cơ bản lí thuyết ngôn ngữ học tạo sinh trước đó, là bước tiếp theo của N. Chomsky hướng tới một ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar).
Năm 1993, N. Chomsky có bài “A minimalist program for linguistic theory” in trong The view from Building 20: Essays in linguistics in honor of Sylvain Bromberger [MIT Press, p. 1-52], sau xuất bản thành sách The Minimalist Program[1995]. Đây là điều chỉnh cuối cùng về ngữ pháp phổ quát của Chomsky: Chương trình MP nhằm phát triển lí thuyết ngữ pháp chứ không phải là một lí thuyết. MP đưa ra một cách tiếp cận tối thiểu với những công cụ mang tính kĩ thuật cho những nguyên lí và tham biến được phát triển trong thập kỉ 80, cách tiếp cận gợi ý rằng tồn tại một tập cố định những nguyên lí có giá trị với mọi ngôn ngữ cho phép tác động tới một tập hợp hữu hạn những nút bấm lưỡng phân (t.l, những tham biến) là có thể miêu tả được những tính chất đặc trưng cho hệ thống ngôn ngữ mà trẻ em có được.
Trong MP, Chomsky đưa ra hai luận điểm cơ bản. Sự tiết kiệm trong quá trình tạo câu (derivation) và sự tiết kiệm trong quá trình biểu hiện câu (representation). Ở đây có hàng loạt cách tân mang tính kĩ thuật trong tiếp cận ngữ pháp. Ông khái quát hoá lí thuyết thanh chắn – X thành khái niệm BPS – cấu trúc cú đoạn chủ yếu (Bare Phrase Structure) ở 4 điểm quan trọng: a) Câu được phái sinh tường minh, biểu hiện từ dưới – lên chứ không từ trên – xuống như trong lí thuyết thanh chắn – X; b) Cấu trúc câu là không được nhận biết trước; c) Chỉ có hiện tượng rẽ nhánh lưỡng phân chứ không chấp nhận cả rẽ nhánh đơn phân (unary branching) như ở lí thuyết thanh chắn –X; d) Không phân biệt điểm đầu (head) và điểm cuối (terminal) như có trong lí thuyết thanh chắn – X. Trong BPS có hai tác tử cơ bản: Merge là tác tử ánh xạ lên hai đối tượng (khi hai từ đứng cạnh nhau thì tạo ra nghĩa mới như thế nào), và Movelà tác tử khiến một từ chuyển dịch từ chủ thể – đối tượng này sang chủ thể – đối tượng khác.
– Đơn giản hoá hai mức độ biểu hiện trong mô hình ngữ pháp bằng cách loại đi sự phân biệt giữa cấu trúc chìm và cấu trúc nổi bằng cách tiếp cận phái sinh tường minh hơn.
– Loại bỏ khái niệm chi phối (government).
– Đưa vào một điểm đơn, gọi là Spell-Out, về tương tác cú pháp trong nói năng.
– Sự phái sinh cú pháp được thực hiện một cách rõ ràng qua những trạng thái được gọi là phases.
Đóng góp tâm lí học
Những công trình ngôn ngữ học của N. Chomsky đã ảnh hưởng rất lớn tới tâm lí học và những hướng phát triển cơ bản của nó trong thế kỉ 20. Lí thuyết về ngữ pháp phổ quát của ông và một hệ luận của nó là vấn đề trẻ em học ngôn ngữ như thế nào, được xem là thách đố trực tiếp với những lí thuyết hành vi luận đã biết. Nhiều nguyên lí cơ bản của Chomsky đã được một số trung tâm tâm lí học chấp nhận.
Năm 1959, Chomsky viết bài “B.F. Skinner’s Verbal Behavior“ bình luận về cuốn sách Verbal Behavior của B. F. Skinner. Bài này đã tấn công mạnh mẽ vào khái niệm cơ bản ‘tâm lí hành vi’ của B.F.Skinner. Bài này được nhìn nhận là một cột mốc cho cuộc ‘cách mạng tri nhận’, làm nên sự thay đổi tận gốc rễ tâm lí học Mĩ từ thập kỉ 50 tới thập kỉ 70 thế kỉ trước, từ hành vi nguyên thuỷ tới tri nhận nguyên thuỷ. Và Chomsky được coi là một trong những người tiên phong trong cuộc cách mạng tâm lí học theo hướng nghiên cứu tâm lí học tri nhận.
Trong Cartesian Linguistics [1966] và những bài viết sau đó, sự trình bày về năng lực ngôn ngữ của con người đã trở thành khuôn mẫu cho một số khảo cứu trong lĩnh vực tâm lí học. Nhiều khái niệm tâm lí học hiện nay về trí não hoạt động như thế nào bắt nguồn trực tiếp từ đây. Ba điểm then chốt là: Một, trí não (the mind) là ‘tri nhận’, hay là con đường chung để hiểu trí não là thừa nhận rằng chúng chứa đựng những đối tượng như niềm tin, sự ngờ vực, và những trạng thái tinh thần (mental) vô thức khác; Hai, phần lớn những điều mà trí não một người trưởng thành có được là ‘bẩm sinh’. Trong khi không một đứa trẻ nào sinh ra có thể nói được một ngôn ngữ thì chúng có đầy đủ mọi khả năng học nhanh chóng nhiều ngôn ngữ ở giai đoạn đầu đời. Điều này được các nhà tâm lí học mở rộng ra ngoài địa hạt ngôn ngữ; Ba, Chomsky đưa ra khái niệm ‘modularity’ (tính cấu thành bộ phận) về trí não: Trí não gồm các hợp thành bộ phận, có những tập con với các dòng hữu hạn tương tác thông tin nội bộ (inter-communication). Điều này hoàn toàn đối lập với quan điểm cũ là bất kì mảng thông tin nào trong trí não cũng được ghi nhận qua một quá trình tri nhận khác.
Quan điểm và hoạt động chính trị – N. Chomsky và Việt Nam
N. Chomsky là gương mặt nổi bật nhất của những nhà chính trị Mĩ cấp tiến. Trong Từ điển các nhà triết học Mĩ hiện đại [Trd, 2009], Chomsky được coi là “một trong những người phê bình cánh tả có ảnh hưởng nhất tới chính sách ngoại giao Mĩ”. Ông tham gia nhiều hoạt động chính trị và viết rất nhiều sách, nhiều bài trên các tạp chí về vấn đề này. Ông là uỷ viên hội đồng (Senior Scholar) của Viện nghiên cứu chính trị (Institute for Policy Studies). Vài năm trước đây, trong một cuộc bình chọn 11 người xứng đáng đứng đầu một nhà nước toàn cầu (global government), ông được xếp hạng 4 (sau Nelson Mandela, Bill Clinton và Đạt Lai Lạt Ma). Ông nổi tiếng thế giới về những quan điểm chính trị. Những phê bình liên tục và vang dội của ông có ảnh hưởng to lớn tới chính sách đối ngoại của Mĩ. Những người đứng đầu chính quyền Mĩ coi ông là một gương mặt phản kháng. Thậm chí Chomsky từng nhận được những lời đe doạ tính mạng vì phê phán chính sách đối ngoại của Mĩ. Ông quan tâm tới nhiều lĩnh vực khác nhau: chủ nghĩa khủng bố, vấn đề toàn cầu hoá, chủ nghĩa xã hội, truyền thông đại chúng, vấn đề Trung Đông, phê bình giới trí thức, nhất là trí thức Mĩ và Pháp…
Đặc biệt, N. Chomsky là người đứng đầu phản kháng cuộc chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam với tập tiểu luận nổi tiếng “Trách nhiệm của người trí thức” [B,1967]. Ông đã từng tham gia biểu tình tuần hành chống chiến tranh ở Việt Nam. Mùa xuân 1972, Chomsky trình bày về nguồn gốc cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước Ủy ban Quan hệ đối ngoại của Thượng viện Mĩ do J. William Fulbright là chủ tịch. Ngày 10-4-1970, Chomsky trong đoàn đại biểu trí thức Mĩ 3 người sang thăm Việt Nam (Lúc đó tên ông được báo Nhân Dân phiên là “Nô-am Trom-xki”, và trong một bài khác sau đó một thời gian được phiên là “No-am Sôm-xki”). Trong bài phát biểu trên Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 13-4-1970, N. Chomsky nói ông ‘kính trọng nhân dân Việt Nam đã có thể bảo vệ mình, chống lại cuộc tấn công tàn bạo, đồng thời có những thành quả lớn lao trong việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa’. Ông đã gặp gỡ, trao đổi với Tổng Bí thư Lê Duẩn, bày tỏ ủng hộ đường lối chính trị của Việt Nam. Ông trình bày lí thuyết ngôn ngữ học của mình tại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong buổi đó, có một chi tiết thú vị như sau: Người phiên dịch tiếng Anh rất lúng túng, không dịch được những điều ông nói. Lúc ấy bỗng có một ông già lững thững đi từ phía dưới lên dịch thay. Chomsky chắc ông này dịch chính xác vì mỗi khi nói xong ông ấy dịch ngay rất lưu loát và lại nghe những tiếng “ồ, à” tán thưởng từ cử toạ. Chomsky rất bất ngờ vì lúc đó ở Việt Nam đã có người hiểu ông đến như vậy. Sau đó càng bất ngờ hơn khi Chomsky biết “ông già” này là Bộ trưởng Bộ Đại học & THCN: GS Tạ Quang Bửu.
Phương pháp tiếp cận khoa học – Ảnh hưởng của N. Chomsky
Chomsky coi khoa học là những nghiên cứu giải thích. Ông bác bỏ quan điểm phân loại luận trong khoa học, nghĩa là nghiên cứu khoa học không phải là lập ra một danh sách phân loại những sự kiện hay là những giải thích chúng theo một cơ cấu máy móc [Năm 1942, nhà ngôn ngữ học theo trường phái cấu trúc cổ điển Charles F. Hockett (1916 – 2000) từng viết rằng ‘ngôn ngữ học là khoa học phân loại’].
Ông coimột số những phê bình của những người được gọi là hậu – cấu trúc hay hậu hiện đại là không có ý nghĩa gì. Ông lấy làm thất vọng khi đọc những công trình mù mờ, rối rắm của trường phái hậu – cấu trúc hoặc hậu hiện đại đến nỗi ‘mắt đờ đẫn ra’ (my eyes glaze over). Điều này không giống với những chứng minh rắc rối, phức tạp trong toán học hay vật lí. Ông không hiểu chi tiết nhưng tin những chứng minh đó đúng và nhà khoa học có thể giải thích để ông hiểu cốt lõi của vấn đề là gì. Theo ông, điều quan trọng đối với một công trình khoa học là luận giải tường minh. Khoa học nói về những điều rất đơn giản và đặt ra những câu hỏi hóc búa chưa có những câu trả lời thoả đáng. Theo ông, nhiều công trình khoa học chỉ mới nắm bắt được những điều ngoài rìa, chưa đi vào bản chất sự kiện. Phần lớn những công trình khoa học của ông là những giả thuyết.
Chomsky đã có ảnh hưởng rất lớn đến khuynh hướng ngôn ngữ học thế giới nửa cuối thế kỉ 20. John Searle đã từng viết bài “Cuộc cách mạng trong ngôn ngữ học của Chomsky” (Chomsky’s Revolution in Linguistics, trên The New York Review of Books, 29-6-1972) dài gần 11.300 từ,đánh giá những cống hiến vĩ đại và tầm ảnh hưởng to lớn của Chomsky về ngôn ngữ học và tâm lí học.
Tiếng Anh có từ chomskyan, có nghĩa là “những người theo trường phái ngôn ngữ học Chomsky”. Nhưng Chomsky lại không ưa thuật ngữ này.
Những mô hình Chomsky đã trở thành cơ sở lí thuyết cho hàng loạt lĩnh vực khác nhau
Chỉ với một bài Ba mô hình miêu tả ngôn ngữ [A,1956], N. Chomsky đã để lại dấu ấn sâu sắc và được coi là giáo trình nền tảng trong lĩnh vực khoa học máy tính vì đã cung cấp những kiểu ngôn ngữ hình thức khác nhau. Bài này đề cập tới 3 loại ngôn ngữ hình thức khác nhau được phân theo tầng bậc để miêu tả ngôn ngữ tự nhiên, cấp độ sau miêu tả mạnh hơn và bao chứa cấp độ trước. Đó là: 1) Ngữ pháp các trạng thái hữu hạn. Mô hình này được xây dựng theo lí thuyếtôtômát hữu hạn trạng thái của nhà toán học Nga A. Markov; 2) Ngữ pháp các thành tố trực tiếp, còn gọi là ngữ pháp cấu trúc cú đoạn (phrase structure grammar); Mô hình này xây dựng các quy tắc viết lại theo phương pháp suy luận của Post trong lí thuyết ôtômát. 3) Ngữ pháp biến đổi (transformational grammar), về sau được gọi là ngữ pháp tạo sinh. Chính Chomsky đã lưu ý, một số phương diện của ngôn ngữ tự nhiên đòi hỏi những mô hình ngôn ngữ phức tạp hơn. Ở Việt Nam, ba mô hình này đã được Nguyễn Đức Dân giới thiệu [NĐD, 1977].
Donald Knuth, một chuyên gia lừng danh về khoa học máy tính, tiết lộ: Năm 1961, khi hưởng tuần trăng mật ông đọc quyển Syntactic Strctures. Chínhlí thuyết toán học về các ngôn ngữ nảy ra hàng loạt điều trực cảm tuyệt vời giúp ông viết ra những chương trình máy tính.
Sự phân tầng ngôn ngữ này cũng được các nhà toán học tổ hợp quan tâm.
Cũng từ sự phân tầng này đã nảy sinh một số luận điểm trong cuộc cách mạng tâm lí học.
Niels K. Jerne, người nhận giải Nobel Y học 1984, đã dùng mô hình tạo sinh của N. Chomsky để giải thích hệ thống miễn dịch của con người. Theo ông, có một ‘ngữ pháp tạo sinh của hệ miễn dịch’: các bộ phận hợp thành của ngữ pháp tạo sinh… được coi như những đặc trưng khác nhau trong cấu trúc protein.
Ở Đại học Columbia , khi nghiên cứu sự tiếp nhận ngôn ngữ loài vật của con tinh tinh (chimpazee) người ta thấy rằng năng lực ngôn ngữ bẩm sinh chỉ có ở loài người. Họ bèn lấy tên N. Chomsky để đặt cho hiện tượng này: Nim Chimpsky
Một điểm nhấn trong những công trình về chính trị của N. Chomsky là phân tích xu hướng chủ đạo trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, đặc biệt là ở Mĩ, về cấu trúc, về những ràng buộc và sự tiếp nhận chúng trong vai trò biện hộ cho những đại doanh nghiệp và lợi ích của chính quyền. Công trình cộng tác với Edward S. Herman Manufacturing Consent: The Political Economy of the Mass Media [B,1988, 2002] đã gây tiếng vang lớn. Ở đó đã phân tích sâu sắc và được minh hoạ qua hàng loạt ví dụ về ‘mô hình tuyên truyền’ (propaganda model) với 5 ‘bộ lọc’ (five ‘filters’) gây ra xu hướng tiếp nhận sai lệch nhằm tạo sự đồng thuận qua những tin tức truyền thông. Có những dẫn chứng hùng hồn cho mô hình này trong việc báo chí đưa tin về Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của chúng ta (báo chí Mĩ gọi là Tet Offensive).
N. Chomsky là người luôn luôn bảo vệ mạnh mẽ quan điểm khoa học của mình. Ông từng có các cuộc tranh luận về ngôn ngữ học, về triết học, về tâm lí học và về chính trị với nhiều học giả, như Jean Piaget, Michel Foucault, William F. Buckley, Christopher Hitchens [6 cuộc]; George Lakoff, Richard Perle, Hilary Putnam, Willard Quine; Alan Dershovitz.
Ghi nhận về N. Chomsky
Ông đã giảng dạy và thuyết trình ở rất nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới.
N. Chomsky cũng nhận được hàng loạt bằng tiến sĩ danh dự của các trường đại học trên thế giới như:
○ University of London
○ University of Chicago
○ Loyola University of Chicago
○ Swarthmore College
○ University of Delhi
○ Bard College
○ University of Massachusetts
○ University of Pennsylvania
○ Georgetown University
○ Amherst College
○ University of Cambridge
○ University of Colorado
○ University of Buenos Aires
○ McGill University
○ Universitat Rovira i Virgili
○ Columbia University
○ Villanova University
○ University of Connecticut
○ University of Maine
○ Scuola Normale Superiore
○ University of Western Ontario
○ University of Toronto
○ Harvard University
○ Universidad de Chile
○ University of Bologna
○ Universidad de La Frontera
○ University of Calcutta
○ Universidad Nacional de Colombia
○ Vrije Universiteit Brussel
○ Santo Domingo Institute of Technology
○ Uppsala University
○ University of Athens
○ University of Cyprus
○ Central Connecticut State University
○ National Autonomous University of Mexico (UNAM)
○ Peking University
○ National Tsing Hua University
Ông là thành viên của nhiều Viện Hàn lâm khoa học Mĩ và nước ngoài. Ông nhận được nhiều huy chương danh giá. Gần đây nhất, 6-2011, ông nhận được Giải thưởng Hoà bình Sydney vì ‘đã phê phán, đấu tranh không mệt mỏi chống lại cường quyền và và cổ vũ cho quyền lợi con người’.
MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA N. CHOMSKY
Về ngôn ngữ học
○ Chomsky (1955). Transformational Analysis. Ph. D. dissertation, University of Pennsylvania.
○ Chomsky, N. (1956). “Three models for the description of language”. IRE Transactions on Information Theory 2(3): 113–224.
○ Chomsky, N. (1957). Syntactic Structures. The Hague: Mouton.
○ Chomsky, N. (1965). Aspects of the Theory of Syntax. Cambridge: The MIT Press.
○ Chomsky, N. (1966). Cartesian Linguistics. A Chapter in the History of Rationalist Thought. Lanham, Maryland: University Press of America.
○ Chomsky, Noam, and Morris Halle (1968). The Sound Pattern of English. New York: Harper & Row.
○ Chomsky (1972). Studies on Semantics in Generative Grammar.
○ Chomsky (1975a). The Logical Structure of Linguistic Theory.
○ Chomsky (1975b). Reflections on Language. New York: Pantheon Books.
○ Chomsky (1981). Lectures on Government and Binding: The Pisa Lectures. Holland: Foris Publications. Reprint. 7th Edition. Berlin and New York: Mouton de Gruyter, 1993.
○ Chomsky (1984). Modular Approaches to the Study of the Mind.
○ Chomsky (1995). The Minimalist Program. Cambridge, MA: The MIT Press.
○ Chomsky (2000). New Horizons in the Study of Language and Mind (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Văn Vân: Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức. NXB Giáo dục , 2007)
Về chính trị
○ Chomsky, N. (1967) The Responsibility of Intellectuals
○ Chomsky, N. (1969) American Power and the New Mandarins New York: Pantheon.
○ Chomsky, N. (1971) At War with Asia. New York: Pantheon.
○ Chomsky, N. (1972)Problems of Knowledge and Freedom: The Russell Lectures. New York: Pantheon.
○ Chomsky, N. (1983, 1999) The Fateful Triangle: The United States, Israel, and the Palestinians. Boston: South End Press.
○ Chomsky, N. (1988, 2002) Manufacturing Consent: The Political Economy of the Mass Media. New York: Pantheon.(with Edward Herman).
○ Chomsky, N. (1989) Necessary Illusions. Boston: South End Press.
○ Chomsky, N. (1992) Deterring Democracy. New York: Hill and Wang.
○ Chomsky, N. (1996) Class Warfare: Interviews with David Barsamian. Monroe, ME: Common Courage Press.
○ Chomsky, N. (2003) Middle East Illusions: Including Peace in the Middle East? Reflections on Justice and Nationhood. Rowman & Littlefield Publishers.
○ Chomsky, N. (2003A) Hegemony or Survival: America’s Quest for Global Dominance. Metropolitan Books. (Part of the American Empire Project).
○ Chomsky, N. (2003B) Objectivity and Liberal Scholarship. The New Press.
○ Chomsky, N. (2005) Imperial Ambitions: Conversations on the Post-9/11 World. Metropolitan Books. (Part of the American Empire Project).
○ Chomsky, N. (2006) Failed States: The Abuse of Power and the Assault on Democracy. Metropolitan Books.
○ Chomsky, N. (2007) Interventions. City Lights Publishers. City Lights.
○ Chomsky, N. (2010)Gaza in Crisis: Reflections on Israel’s War Against the Palestinians (with Ilan Pappé). Hamish Hamilton.
SÁCH VIẾT VỀ N. CHOMSKY

○ Barsky, Robert F. (2007). The Chomsky Effect: A Radical Works Beyond the Ivory Tower. Cambridge: MIT Press.
○ Barsky, Robert (1997). Noam Chomsky: A Life of Dissent. Cambridge: MIT Press. Retrieved 2006-09-05.
○ Lyons, John (1970). Noam Chomsky (Modern Masters). New York: Viking Press.
○ Sperlich, Wolfgang B. (2006). Noam Chomsky. London: Reaktion Books.
[theo trang: http://en.wikipedia.org/wiki/Noam_Chomsky_bibliography, 17-6-2011]

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
(ngoài N. Chomsky)

[1] Dictionary of Modern American Philosopher, 2009, Ed. The University of Auckland.
[2] Greenberg, Joseph, Language Universals: With Special Reference to Feature Hierarchies. The Hague: Mouton & Co. 1966  (Reprinted 1980 and, with a foreword by Martin Haspelmath, 2005).
[3] Harris, Zellig. 1951, Methods in Structural Linguistics, Chicago, CUP (bản dịch tiếng Việt của Cao Xuân Hạo), NXB Giáo dục, Hà Nội.
[4] Kayne, Richard S., 1994, The Antisymmetry of Syntax. Linguistic Inquiry Monograph Twenty-Five. MIT Press.
[5] Nguyễn Đức Dân, 1977, Những mô hình ngôn ngữ (in ronéo), Trường đại học Tổng hợp  TP HCM.-

Nguồn:vietlex.com

HOA KỲ, CHUYỂN HƯỚNG SANG CHÂU Á – bbc/bs

1 Th6

Điện thoại di động

Hoa Kỳ chuyển hướng sang châu Á

Cập nhật: 17:09 GMT – thứ năm, 31 tháng 5, 2012
Hoa Kỳ sẽ triển khai tàu chiến thân cạn tới Singapore

Trước chuyến thăm đầu tháng 6/2012 tới Singapore, Việt Nam và Ấn Độ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Leon Panetta đã nói đến mục tiêu tăng cường quan hệ truyền thống với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Philippines, và xây dựng “đối tác mạnh mẽ” với các nước Đông Nam Á.

 

Tình hình Biển Đông và Đối tác xuyên Thái Bình Dương là hai chủ đề Hoa Kỳ nêu ra những năm gần đây nhằm thúc đẩy quan hệ với các nước trong vùng, gồm Việt Nam.

BBC Tiếng Việt phỏng vấn Tiến sĩ Ian Story, chuyên gia về Biển Đông tại Singapore và Tiến sĩ Jonathan Chow từ Viện Nghiên cứu Chính sách Asan tại Seoul, Hàn Quốc về hai chủ đề này.

Ian Storey: Chính quyền Obama đã có một chính sách mới mà họ gọi là ‘xoay chiều’, hay cân bằng lại các lực lượng quân sự, chuyển trọng tâm từ Trung Đông, có thể là cả từ châu Âu sang châu Á, và điểm đến chính của Mỹ có thể là Đông Nam Á chứ không phải Đông Bắc Á.

Thực chất, điều này có nghĩa là sự hiện diện của Hoa Kỳ về quân sự tại Đông Nam Á sẽ tăng lên, sẽ có nhiều tàu chiến của Hải quân Mỹ tới đây, và họ cũng tăng cường sự hỗ trợ về năng lực quân sự cho các nước Đông Nam Á như Philippines.

Cả Singaporte và Úc đều là những đối tác trọng yếu của Hoa Kỳ. Úc là đồng minh có hiệp ước quân sự với Mỹ. Singapore không phải đồng minh ở mức có hiệp ước nhưng là một đối tác chiến lược gần gũi. Ngoài ra, Singapore luôn có quyền lợi đặt vào nguyên tắc tự do hàng hải và sự ổn định tại Biển Đông vì họ là quốc gia thương mại. Singapore phụ thuộc nhiều vào nhu cầu đảm bảo tuyến hải hành qua Biển Đông được an toàn.

Hoa Kỳ sẽ triển khai tới bốn tàu chiến thân cạn (littoral combat ship) tới Singapore. Chiếc đầu sẽ đóng ở đó trong 10 tháng của năm 2013. Đây là một phần của chiến lược trấn an các đồng minh của Mỹ tại châu Á rằng Hoa Kỳ sẽ luôn có mặt để duy trì ổn định trong vùng. Tại Úc, đây không phải là một đơn vị đông đảo. Ban đầu chỉ có 250 quân, sau đó đến 2016 sẽ có chừng 2500 thủy quân lục chiến. Mục đích là để thủy quân lục chiến Mỹ luân chuyển qua vùng Đông Nam Á thường xuyên và tham gia vào các đợt tập luyện chung.

Jonathan Chow: Hoa Kỳ bên cạnh thỏa thuận gần đây với Úc để luân chuyển tới 2500 Thủy quân lục chiến tới Darwin là dấu hiệu của quan hệ sâu nặng thêm của hai bên, còn có tập luyện hải quân chung với Việt Nam vào tháng 8/2010 và tháng 7/2011, có tập trận chung với Campuchia hàng năm mà lần đầu xảy ra năm 2010.

Thỏa thuận gần đây giữa Hoa Kỳ và Singapore để cử bốn tàu chiến thân cạn tới Singapore và tăng cường tập trận hai bên, nâng cấp hợp tác quân sự với Malaysia, Indonesia và Brunei đều là những bước tiến triển nhằm thực hiện mục tiêu bổ sung thêm cho các liên minh quân sự đã có rất chặt chẽ của Hoa Kỳ với Philippines và Thailand.

Việt Nam huấn luyện lực lượng phòng vệ bờ biển

Ian Storey: Biển Đông (Nam Trung Hoa – South China Sea) là một vùng biển quan trọng vì có các tuyến hành hải chạy qua, tính ra chừng 25-30% của thương mại hòa cầu, và có thể là chừng đó khối nguyên liệu dầu khí của cả thế giới. Vì thế, vùng biển này rất quan trọng cho kinh tế toàn cầu, đặc biệt là cho các nền kinh tế đóng vai trò động lực quốc tế ở Đông Bắc Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc vốn đều là các nước thiếu nguồn năng lượng.

Jonathan Chow: Nếu [trong tranh chấp Biển Đông] câu hỏi là Hoa Kỳ cho Việt Nam và Philippines “những gì họ muốn”, qua một cam kết công khai hay ngấm ngầm rằng Mỹ sẽ bảo vệ Biển Đông bằng vũ lực cho các nước này, thì tôi nghĩ là chắc chắn là ‘Không’.

Tại diễn đàn ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton đã công nhận “quá trình hợp tác ngoại giao” để có giải pháp cho các tranh chấp lãnh tổ, và nhấn mạnh rằng “các tuyên bố chủ quyền chính đáng về không gian biển tại Biển Nam Trung Hoa phải được căn cứ vào chủ quyền chính đáng về địa hình trên đất liền mà thôi”. Theo tôi, đây là quan điểm khá cân bằng nhưng nó đã khiến Bắc Kinh có phản ứng rất tức tối. Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đã cáo buộc Hoa Kỳ “tấn công Trung Quốc”. Tôi hình dung ra rằng bất cứ một cam kết nào của Hoa Kỳ nhằm bảo vệ tuyên bố chủ quyền của Việt Nam hay Philippines sẽ gây ra cuộc đọ sức nguy hiểm với Trung Quốc. Vì thế, tôi loại trừ khả năng có ủng hộ quân sự của Mỹ.

Vậy ta có thể nói về ủng hộ ngoại giao thế nào cho Việt Nam và Philippines? Washington cần có bước đi rất thận trọng vì Bắc Kinh dễ có phản ứng nổi giận. Tôi nghĩ Washington muốn giữ vai trò thầm lặng và để các nước ASEAN cùng Trung Quốc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Lời Washington thúc giục Trung Quốc và ASEAN xây dựng một Quy tắc Ứng xử trên biển Nam Trung Hoa xuất phát từ cách nhìn này. Chừng nào Trung Quốc chưa từ bỏ giải pháp hòa bình và tăng cường đáng kể sự hung hãn về quân sự trên vùng biển này thì tôi chưa thấy sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho tuyên bố chủ quyền của Việt Nam hay Philippines đi vượt ra ngoài mức thấp như hiện nay.

Ian Storey: Tất nhiên là không một nước Đông Nam Á nào có thể ngang vai với Trung Quốc về quân sự. Trung Quốc nay có ngân sách quốc phòng lớn thứ nhì thế giới và đang trên đường để trở thành cường quốc quân sự chủ đạo ở châu Á.

Việt Nam về phía mình thì đang xây dựng hải quân và họ chỉ muốn quân đội của họ đóng được vai trò ngăn ngừa Trung Quốc. Trên thực tế, họ đang bắt chước chiến lược của Trung Quốc ở eo biển Đài Loan: quân Trung Quốc chỉ muốn kìm chân, không cho Hoa Kỳ can thiệp vào một cuộc xung đột ở Đài Loan. Vì thế, mục tiêu của Việt Nam là gây thiệt hại nào đó cho quân đội Trung Quốc, chứ tất nhiên là không thể đánh bại đối phương được. Nhưng Việt Nam chắc chắn có thể khiến Trung Quốc phải nghĩ lại trước khi ra tay tấn công.

Chứng cớ lịch sử trong tranh chấp:

Ian Storey: Cả Việt Nam và Trung Quốc đều dùng lịch sử để lập luận về chủ quyền với các hòn đảo ma họ nói là của mình. Theo Luật Quốc tế, một quốc gia cần đưa ra cả ba loại bằng chứng: phát kiến địa lý, sự chiếm đóng, và quá trình quản trị liên tục và có hiệu quả (discovery, occupation and effective and continuous administration). Trong các vụ xử gần đây mà Tòa án Quốc tế ra phán quyết, các nước đã thắng kiện đều là những nước chứng minh được sự quản trị hiệu quả và liên tục của họ. Vì thế, khi Trung Quốc nói họ là “chủ sở hữu” các đảo trên Biển Đông từ thế kỷ thứ hai trước Công lịch thì điều đó gần như không có sức nặng gì về luật quốc tế cả. Các lều trại hay vài ba chiếc bình cổ được nói là từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên thực sự chẳng chứng minh được gì cả.

 

Bà Clinton thăm châu Á nhiều hơn người tiền nhiệm

Jonathan Chow: Chúng ta đã thấy cam kết mới của Hoa Kỳ [với khu vực] đã có những kết quả ban đầu. Ví dụ, vào năm 2010, Ngoại trưởng Hillary Clinton dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, và năm 2011, Tổng thống Obama đến dự để đưa Hoa Kỳ chính thức thành nước thành viên của Hội nghị. Cùng lúc, chính quyền Obama đã chú ý nhiều hơn tới Diễn đàn Khu vực ASEAN, so với chính quyền Bush trước đó.

Ngoại trưởng (nhiệm kỳ trước), bà Condoleezza Rice đã vắng mặt tại hai diễn đàn năm 2005 và 2007, làm nảy ra câu hỏi trong giới phân tích về cam kết của Hoa Kỳ với Đông Nam Á. Nhưng về phía mình, bà Clinton đã xuất hiện nhiều hơn, như đi dự Diễn đàn Khu vực ASEAN thứ 16 (Diễn đàn trước, lần thứ 15 tổ chức khi chính quyền Bush lãnh đạo nước Mỹ). Hoa Kỳ cũng ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN năm 2009. Sự tham gia vào các cơ quan đa phương trong vùng nhiều hơn cho phép Hoa Kỳ tác động đến nghị trình chính sách của khu vực và tiếp xúc ngoại giao bên lề nhiều hơn vì đó là thứ xảy ra ngoài các cuộc gặp đó.

Trong bối cảnh này, quyết định của Mỹ dấn sâu vào quan hệ với Miến Điện cũng là một chuyển biến cơ bản và nó sẽ cải thiện quan hệ với các nước ASEAN. Trong quá khứ, Miến Điện là hòn đá cản đường trong quan hệ ASEAN với Mỹ và nằm giữa lệnh cấm vận của Hoa Kỳ cùng cách ASEAN muốn thông qua ngoại giao mà bề ngoài ít hiệu quả để khuyến khích Miến Điện cải tổ. Nay thì các cải cách của chính quyền Thein Sein và vụ thả bà Aung San Suu Kyi đã tạo ra một cơ hội ngoại giao nhằm tăng cường mối bang giao giữa Hoa Kỳ và Miến Điện, và rộng hơn là với cả ASEAN.

Ấn Độ, Nhật Bản và an ninh khu vực:

Ian Storey: Các nền kinh tế chuyên về thương mại trong vùng châu Á – Thái Bình Dương như Nhật Bản và Hàn Quốc đều có quyền lợi để giao thương được thông suốt bằng đường hàng hải. Nhưng Ấn Độ thì không phải như vậy. Thực ra mà nói, Ấn Độ không phải là một đối tượng trong vấn đề Biển Đông. Nước này nói nhiều về nhu cầu đóng một vai trò ở châu Á nhưng vào lúc này sự hiện diện quân sự của Ấn Độ thực ra còn khá nhỏ ở Đông Nam Á. Điều này có thể thay đổi theo thời gian nhưng vào đúng lúc này thì Ấn Độ không phải là tác nhân chính trong tranh chấp Biển Đông.

Ngoại giao Hoa Kỳ có nhiệm vụ thúc đẩy quan hệ đối tác

Jonathan Chow: Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ chính sách ‘xoay chuyển sang châu Á’ của Hoa Kỳ nhưng tôi nghĩ cũng cần đặt quan hệ này trong sự đổi hướng chiến lược của Hoa Kỳ. Từ 1995, khi hai nước bình thường hóa quan hệ, bang giao Việt – Mỹ cải thiện liên tục.

Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTP sau khi đàm phán xong với Mỹ về nền tảng của quan hệ thương mại bình thường (Permanent Normal Trade Relations), quá trình khiến Việt Nam phải nhượng bộ ít nhiều về tự do tôn giáo. Giao thương hai bên tăng từ 220 triệu USD năm 1994 lên 15,7 tỷ USD năm 1998.

Vì thế tôi không nghĩ chiến lược ‘xoay chuyển sang châu Á’ của Hoa Kỳ sẽ làm thay đổi mạnh tính chất của quan hệ Mỹ – Việt.

Còn về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tôi không thể nói chắc chắn liệu nó sẽ có tác động tích cực hay tiêu cực cho kinh tế Việt Nam.

Một mặt, khu vực quốc doanh ở Việt Nam tiếp tục phân chia vốn thiếu hiệu quả. Nhờ quan hệ ưu đãi với nhà nước, họ cũng có lợi thế khi vay ngân hàng, lấn át khu vực tư nhân. Thẻ thành viên TPP của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào cải tổ khối quốc doanh.

Nếu làm được, điều này có thể khiến các ngành trong nước tiến bộ khi bị buộc phải cạnh tranh vớikhu vực tư nhân. Nó cũng sẽ buộc Việt Nam thực thi cải tổ tư pháp để thu hút đầu tư nước ngoài.

Mặt khác, cải tổ cũng sẽ đòi hỏi các biện pháp mở cửa đầu tư mà có thể khiến Việt Nam gặp khó trong vấn đề quản lý dòng vốn. Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 xảy ra phần nhiều là vì kiểm soát vốn lỏng lẻo khiến vốn nước ngoài ngắn hạn đổ vào; bong bóng vỡ khi giới đầu tư cuống cuồng rút vốn. Vì thế TPP đem lại cả lợi thế và tiêu cực.

%d bloggers like this: