Lưu trữ | 10:44 Chiều

Phạm Thiên Thư – Ðộng hoa vàng – BS

4 Th6

 

 

1
Mười con nhạn trắng về tha
Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

2
Xe lên bụi quán hoa đường
Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
Tiếng chim ướt sũng hai mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

3
Dế buồn dỗ giấc mù sa
Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

4
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

5
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

6
Từ chim thủa núi xa xưa
Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đóa sầu

7
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

8
Ngày xưa em chửa theo chồng
Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
Mùa thu áo biếc da trời
Sang đông em lại đổi dời áo hoa

9
Đường về hái nụ mù sa
Đưa theo dài một nương cà tím thôi
Thôi thì em chẳng yêu tôi
Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

10
Sao em bước nhỏ ngập ngừng
Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
Đêm về thắp nến làm thơ
Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

11
Đôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

12
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

13
Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

14
Đêm dài ươm ngát nhụy hoa
Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
Em ơi rủ tóc mây về
Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

15
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ố hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

16
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

17
Đợi ai trăng rõi hoa buồn
Vắng em từ thủa theo buồm gió xuôi
Chiều chiều mở cổng mây trôi
Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

18
Thế thôi phố bụi xe hồng
Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
Đưa nhau đấu rượu hoa này
Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

19
Xuống non nhớ suối hoa rừng
Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
Về thành nhớ cánh chim bay
Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

20
Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
Em về hong tóc mùa xuân
Trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành

21
Em nằm ngó cội thu xanh
Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
Về em vàng phố mây trời
Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

22
Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

23
Gầy em vóc cỏ mây dời
Tay em mai nở chân trời tuyết pha
Ngày dài ngựa soải cầm ca
Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

24
Xe lăn bánh nhỏ bụi hường
Lao xao vó rụng trên đường phố mây
Mưa giăng ráng đỏ hao gầy
Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa

25
Chim nào hát giữa thôn hoa
Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
Lụa nào phơi nắng sông tây
Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông

26
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm

27
Thuyền ai buông lái đêm rằm Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca

28
Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ lòng đòng
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ

29
Vào non soi nguyệt tầm rùa
Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư
Thả rùa lại đứng ưu tư
Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa

30
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha

31
Đất nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

32
Người vui ngựa chợ xe thành
Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi
Theo chân chim gặp mây trời
Lại qua khói động hỏi người tu non

33
Bông hoa trắng rụng bên đường Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng
Con ong nhỏ mới ra giàng
Cũng nghiêng đôi cánh nhụy vàng rụng rơi

34
Mùa xuân bỏ vào suối chơi
Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
Múc bình nước mát về qua
Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa

35
Chim từ bỏ động hoa thưa
Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông
Lên non kiếm hạt tơ hồng
Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay

36
Người về đỉnh núi sương tây
Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa
Bến nam có phố giang hà
Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say

37
Tình cờ anh gặp nàng đây
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương
Qua sông có kẻ chợt buồn
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu

38
Mốt mai em nhớ bao giờ
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không
Chân chim nào đậu bên cồn
Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim

39
Đợi người cuộc mộng thâu đêm
Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa
Anh nằm gối cỏ chờ hoa
Áo em bạch hạc la đà thái hư

40
Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thâu hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

41
Ta về rũ áo mây trôi
Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

42
Ngựa xưa qua ải sương này
Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông
Nước xuôi gờn gợn mây hồng
Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò

43
Hoa đào tưởng bóng đào xưa
Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi
Hoa dương vàng nhạt sầu người
Ta về uống nước sông khuây khỏa lòng

44
Đưa nhau đổ chén rượu hồng
Mai sau em có theo chồng đất xa
Qua đò gõ nhịp chèo ca
Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

45
Khăn trăng từ độ trao tay
Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương
Mốt mai lòng có nghe buồn
Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi

46
Nhện cheo leo mắc tơ trời
Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương
Đánh rơi hạt mận bên đường
Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa

47
Nụ vàng hương rộ tháng ba
Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương
Chẳng như cội liễu bờ dương
Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không

48
Mai nào thơm ngát thu đông
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh
Đôi chim hồng yến trên cành
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang

49
Mùa xuân mặc lá trên ngàn
Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn

50
Nến khuya lửa hắt hiu vàng
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
Ý nào hóa hiện ngàn hoa
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni

51
Dỗ non suối giọng thầm thì
Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa
Ni cô hiện giữa ta bà
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng

52
Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

53
Đố ai nhớ hết hoa vàng
Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu
Đố ai tát cạn mạch sầu
Thì ta để tóc lên cầu đón ai

54
Em về sương đẫm hai vai
Dấu chân là cánh lan dài nở đêm
Từ em hé nụ cười huyền
Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

55
Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca
Sư về chống gậy trúc qua cầu này
Ngó bờ suối lạnh hoa bay
Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh

56
Có con cá mại cờ xanh
Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
Nửa dòng cá gặp phù vân
Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi

57
Dù mai lều cỏ chân trời
Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ
Em còn ửng má đào tơ
Tóc xưa dù có bây giờ sương bay

58
Lên non ngắt đóa hoa này
Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhòa
Nom hoài chẳng rõ là ta
Tắm xong khoác áo hát ca về làng

59
Tay đeo vòng ngọc xênh xang
Áo em bay giải tơ vàng thiết tha
Bước chân tìm chán ta bà
Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh

60
Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: thưa bác thiên thư
Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

61
Nước đi từ thủa bao giờ
Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi
Chừng đâu dưới bến hoa tươi
Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông

62
Từ hôm em bỏ theo chồng
Áo trắng em cất áo hồng em mang
Chiều nay giở lại bàng hoàng
Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh

63
Đôi chim nho nhỏ trên cành
Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường
Nửa đời mây nước du phương
Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân

64
Gò chiều ùn bụi sương lên
Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng
Bên mồ chồn cáo đùn hang
Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga

65
Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

66
Trúc thưa cổng gió ơ hờ
Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng
Sông ơi xanh nhé một dòng
Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa

67
Đường dài xao xác chim ca
Người còn khoác nón theo tà dương nao
Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẫm trăng vào chén không

68
Đồi thu vắt suối mây hồng
Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên
Bấc sầu lửa lụn chờ em
Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này

69
Đón em như ngóng chim trời
Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
Em còn áo trắng ngày xưa
Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen

70
Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
Vườn chùa có nụ hàm ca
Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn

71
Mai tươi cánh nở bên cồn
Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời
Thu đông tàng ẩn kho trời
Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa

72
Cổng làng mở cánh sao sa
Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai
Lên chùa dâng dĩa hoa nhài
Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư

73
Chuông ngân chiều lặng trầm tư
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng
Điệu về tay giấu chùm bông
Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa

74
Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương
Gió thu từ độ tha phương
Về trên hốc gỗ bên đường lặng im

75
Áo em vạt tím ngàn sim
Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay

76
Tình cờ như núi gặp mây
Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
Tỉnh ra thì giấc chim bao
Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng

77
Cành sen lá chĩu sương trong
Áo ni xám vạt trời hong buồn về
Tay nào nghiêng nón thơ che
Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao

78
Đôi mày là phượng cất cao
Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ
Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ
Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây

79
Tóc em rừng ngát hương say
Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà
Mắt xanh bản nguyện di đà
Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim

80
Mắt nàng ru chiếc nôi êm
Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
Em là hoa hiện dáng người
Tôi là cánh bướm cung trời về say

81
Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
Cây bưởi trắng ngát hương đời
Nụ là tay phật chỉ người qua sông

82
Non xanh khoác áo sương hồng
Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay
Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay
Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa

83
Em bên cửa chuốt tay ngà
Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành
Ngày em ướp áo hồ xanh
Con uyên tha thiết trên cành gọi thu

84
Ni về khép cửa chùa tu
Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng
Thu vương ngọn chổi đôi bông
Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên

85
Sư lên chót đỉnh rừng thiền
Trong tim chợt thắp một viền tà dương
Ngón tay nở nụ đào hương
Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời

86
Một dòng hoa nổi trên trời
Một dòng hoa nở trong người trầm tư
Cánh nào mở cõi không hư
Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang

87
Thư em ướp nụ lan vàng
Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa
Áo em phất cõi di đà
Ngón chân em nở cánh hoa đại từ

88
Chênh vênh đầu trượng thiền sư
Cửa non khép ải sương mù bóng ai
Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa

89
Ngày xưa bên dậu vàng hoa
Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời
Năm sau em bỏ đi rồi
Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn

90
Trên nền gạch nẻ rêu phong
Xưa phơi nhã điệu giờ hong đóa quì
Trẻ đào bãi cỏ xanh rì
Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han

91
Non đem nhạn nhốt trong thành
Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
Người còn dệt lụa tằm dâu
Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

92
Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

93
Sáng nghe lan rụng mái nhà
Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
Đường về mù mịt ngàn mây
Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

94
Mây dù chẳng chất non cao
Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

95
Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
Nghiêng ly mình cạn bóng mình
Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

96
Gối tay nệm cỏ nằm say
Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

97
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

98
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

99
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

100
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên

Triều Tiên dọa tấn công cơ quan báo chí Hàn Quốc

4 Th6
Tuổi Trẻ

TTO – CHDCND Triều Tiên hôm nay 4-6 đe dọa tấn công bằng tên lửa nhằm vào trụ sở các cơ quan báo chí tại Hàn Quốc. Quân đội nước này đã tiến tới bước xây dựng bản đồ tọa độ của các mục tiêu.


>> Máy bay chở khách rơi ở Nigeria, 193 người chết

>> Anh tưng bừng lễ hội mừng nữ hoàng

 

 

20.000 trẻ em tại Bình Nhưỡng thể hiện lòng trung thành với Chủ tịch Kim Jong Un nhân kỷ niệm 66 năm thành lập Hội Liên hiệp thiếu nhi Triều Tiên – Ảnh: KCNA/AFP 

Theo tổng tham mưu quân đội CHDCND Triều Tiên, quân đội đã nhằm mục tiêu trụ sở tòa soạn báo Chosin Ilbo ở tọa độ 37 độ 56 phút 83 giây vĩ độ Bắc và 126 độ 97 phút 65 giây vĩ độ Nam. Một số mục tiêu khác cũng nằm trong kế hoạch tấn công là báo Joongang Ilbo, báo Dong-a Ilbo và các đài truyền hình như KBS, MBC, SBS của Hàn Quốc.

Theo Yonhap, đây là lần đầu tiên CHDCND Triều Tiên công bố tọa độ cụ thể của các mục tiêu tấn công ở Hàn Quốc.

“Chúng tôi muốn hỏi chính quyền ông Lee (Tổng thống Lee Myung Bak) rằng có muốn để tất cả những cơ quan này bị tấn công, hay sẽ xin lỗi và đặt tình hình dưới tầm kiểm soát, mặc dù muộn màng”, viên tổng tham mưu phát biểu trong tối hậu thư được KCNA đăng tải kèm lời đe dọa “một cuộc thánh chiến không khoan nhượng”.

Căng thẳng bắt nguồn từ sự kiện 20.000 trẻ em CHDCND Triều Tiên cam kết trung thành với Chủ tịch Kim Jong Un hôm 3-6, khi Bình Nhưỡng bắt đầu lễ kỷ niệm 66 năm thành lập Hội Liên hiệp thiếu nhi Triều Tiên (KCU). Các cơ quan thông tấn Hàn Quốc đã chỉ trích lễ hội này, gọi đây là nỗ lực nhằm chiếm thêm sự ủng hộ dành cho Kim Jong Un.

Phản ứng trước tối hậu thư, người phát ngôn Bộ Thống nhất Hàn Quốc kêu gọi CHDCND Triều Tiên “ngay lập tức dừng đe dọa các cơ quan báo chí Hàn Quốc”, gọi động thái này là “một hành động khiêu khích nghiêm trọng”.

Trong một diễn tiến khác, trang web Uriminzokkiri của Chính phủ CHDCND Triều Tiên hôm nay lên án động thái triển khai các tàu khu trục Aegis của Nhật Bản đến vùng biển quốc tế giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, cáo buộc Hàn Quốc thông đồng với Nhật Bản trong vấn đề quân sự.

Trước đó, Hãng tin Kyodo cho biết Tokyo có kế hoạch triển khai các tàu khu trục đến vùng biển gần biển Hoàng Hải để tăng cường khả năng phát hiện vụ phóng tên lửa từ CHDCND Triều Tiên. Báo Chosun Ilbo dẫn lời một quan chức cao cấp trong văn phòng tổng thống Hàn Quốc rằng Chính phủ Hàn Quốc không phản đối kế hoạch này.

Việc triển khai tàu khu trục diễn ra trong bối cảnh Nhật Bản và Hàn Quốc tìm cách ký kết hiệp ước hợp tác quân sự đầu tiên giữa hai nước.

TẤN KHOA

Di sản Thế giới thành Nhà Hồ, bí ẩn và cuốn hút (03/06/2012) ĐĐK/BS

4 Th6
Nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa, thành Nhà Hồ tọa lạc trên địa bàn thuộc hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá).
Trải qua hơn 600 năm dâu bể, 4 cổng thành: Nam, Bắc, Đông, Tây
vẫn uy nghi sừng sững thi gan cùng tuế nguyệt
Đây là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam, đồng thời cũng được xem là công trình có độ hoành tráng nhất trong khu vực Đông Nam Á. Thành được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397, nay còn được gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long – Hà Nội). Trải qua bao biến thiên, thăng trầm của lịch sử, thành vẫn sừng sững trường tồn cùng thời gian, thu hút sự quan tâm của không ít các nhà khoa học cũng như du khách thập phương bởi những bí ẩn chưa thể giải mã…
Bến đá, nơi được cho là một trong những
địa điểm vận chuyển đá để xây thành
Đền thờ nàng Bình Khương – người đàn bà
dập đầu kêu oan cho chồng đến mòn cả đá xây thành
Một công trình được bảo tồn khá nguyên vẹn ở đây là
Giếng Vua (hay còn gọi là giếng Ngự Duyên, Ngự Dục)
Đôi rồng đá mất đầu thuộc loại tượng rồng lớn và
đẹp nhất còn lại ở Việt Nam, được người dân đặt ngay ngắn
tại trung tâm nội thành. Vì sao đôi rồng này lại bị
chặt mất đầu vẫn đang là một bí ẩn chưa thể giải đáp
Nhiều nhà nghiên cứu cũng như du khách thập phương
đã bị “hút” về đây bởi vẻ đẹp thiên cổ cũng như những bí ẩn
xung quanh Di sản Văn hóa Thế giới này
Nguyễn Chung

Trần Từ Mai – Một bài thơ chứa đầy tâm sự của Chu An (Chu Văn An) – BS

4 Th6

Trần Từ Mai

Theo nhà biên khảo Phan Huy Chú trong Lịch triều Hiến chương Loại chí, thiên “Văn tịch chí,” bên cạnh bài “Thất trảm sớ”danh tiếng, nhà giáo dục Chu An còn để lại nhiều tác phẩm giá trị khác:
n  Một bộ sách biên khảo :  Tứ thưthuyết ước (gồm 10 quyển)
n  Một tập thơ chữ Hán     :  Tiều ẩn thi tập
n  Một tập thơ chữ Nôm    :  Tiều ẩn quốc ngữ thi tập.
Sau 20 năm dân tộc ta bị nhà Minh đô hộ (1407-1427), cùng với “Thất trảm sớ,” tất cả các tác phẩm ấy đều đã bị thất truyền do việc tịch thu sách nhằm hủy diệt văn hóa Đại Việt theo lệnh Thành tổ nhà Minh. Hiện chỉ còn 12 bài thơ chữ Hán do Phan Phu Tiên và Chu Xa sưu tầm được đưa vào Việt âm thi tập, và về sau Lê Quý Đôn gom góp lại trong Toàn Việt thi lục.
Bài viết này nhằm mục đích giới thiệu bài thơ “Miết trì” (Ao ba-ba), một tác phẩm quan trọng trong số 12 bài thơ ấy. “Miết trì” vẫn được coi là một bài thơ nhà giáo dục họ Chu gửi gấm nhiều tâm sự, và đã được Đình nguyên Đinh Văn Chấp dịch cùng giới thiệu lần đầu trên Nam phong tạp chí số 115 năm 1927. Trở lại với bài thơ này gần 80 năm sau, chúng tôi xin chú giải kỹ hơn. Đồng thời, tiếp theo bản dịch của vị Đình nguyên triều Nguyễn (Đệ Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu 1913), cũng xin giới thiệu một bản dịch nữa của một cựu sinh viên Đại học Văn khoa Sàigòn.
NGHĨA:
Ánh trăng phản chiếu trên mặt nước bên cầu đùa giỡn với bóng chiều
Hoa sen, lá sen yên lặng dựa vào nhau
Cá bơi nổi trên ao cũ, rồng ở chốn nào ?
Mâyđầy núi vắng, hạc không về !
Quếgià theo gió, mùi hương thơm ngát đường đá
Rêu non đẫm nước, che lấp cánh cửa gỗ thông.
Tấc lòng này hẳn chưa [nguội lạnh] như tro, đất
Nghe nhắc tới vua trước, gạt thầm giọt lệ.
PHÂN TÍCH NỘI DUNG:
TheoChu Tiên sinh hành trạng thảo, “Miết trì” là tên một chiếc ao trong dãy núi Phượng hoàng (nơi cụ Chu về ẩn dật), nay thuộc huyện Chí linh, tỉnh Hải dương. “Miết” có nghĩa là “con ba-ba” và “Miết trì” là “ao ba-ba.”  Tuy nhiên, bài này không thuần tả cảnh. Từ cảnh quanh ao, tác giả đã liên tưởng tới thời thế và nhân đó, bộc lộ tâm sự.
Dựa vào sự kiện Miết trì ở trong núi Phượng hoàng, nhất là căn cứ vào hai câu cuối, chúng ta có thể phỏng đoán nhà giáo dục họ Chu đã làm bài thơ này sau khi cụdâng “Thất trảm sớ” nhưng không được nghe theo, và đã cáo quan về hưu. Theo nhiều người đương thời, đối với công danh, tấm lòng cụ lúc này đã “lạnh như trođất.” Trong một bài thơ viết tặng cụ, một tôn thất nhà Trần là Băng hồ tướng công Trần Nguyên Đán (ông ngoại của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi sau này) đã có câu:
            Phủmiện hoàn khuê tâm dĩ hôi
            (Đối với mũ áo, ngọc cầm tay [nghi thức của vua chư hầu và đại thần khi vào triều kiến thiên tử], lòng đã [nguội lạnh] như tro).
Qua hai câu cuối của bài “Miết trì,” cụ cho biết: đối với công danh, tước vị, lòng cụ có thể lạnh như tro. Nhưng đối với đất nước, nhất là với “tiên hoàng” (vịvua trước), cụ vô cùng đau xót.
Đểhiểu rõ hơn tâm trạng của Chu An trong bài thơ, chúng ta hãy ôn lại đời cụ cùng tình trạng đất nước trước khi cụ về ẩn dật. Theo thần tích ở làng, cụ sinh năm Nhâm Thìn 1292, cuối đời vua Trần Nhân tông. Theo sử, vị vua cử cụ làm Quốc tửTư nghiệp và trao nhiệm vụ dạy Thái tử là Trần Minh tông. Vị Thái tử học trò của cụ là Thái tử Vượng, lên nối ngôi là vua Hiến tông. Nhưng Hiến tông mất quá sớm khi mới được 23 tuổi khiến ngôi vua và đất nước về tay Dụ tông. Trong 16 năm đầu triều Dụ tông, chính sự còn khả quan vì Thượng hoàng Minh tông còn sống và phần nào giám sát mọi việc. Nhưng từ 1358 trở đi, sau khi Thượng hoàng Minh tông đã mất và một số đại thần đủ uy tín để có thể can vua như các ông Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn … qua đời, triều chính trở nên suy tệ hẳn. Dụtông ham chơi, mê bài bạc, ưa gần bọn tiểu nhân xu nịnh, khiến Chu An phải dâng“Thất trảm sớ.” Lời can không được nghe theo, cụ cáo quan về hưu.  Bài “Miết trì” đã được làm ra trong khung cảnh ấy.
Mở đầu bài thơ, tác giả phác họa cảnh một buổi chiều tối đầu tháng với trăng mọc sớm. Ánh trăng được phản chiếu dưới mặt nước chập chờn như muốn đùa giỡn với ánh mặt trời yếu nhạt của một ngày sắp tàn. Hoa và lá sen yên lặng dựa vào nhau. Cá đua nhau bơi nổi trên mặt ao. Núi vắng đầy mây phủ. Mùi hương quế theo gió lan khiến đường đi thơm ngát. Trước khung cảnh ấy, tác giả liên tưởng rộng hơn, rồi nói lên cảm xúc cùng suy nghĩ của mình.
Trong văn chương thời trước, “rồng” là tiêu biểu của vua, hoặc bậc anh hùng, quân tử,trong khi “cá” chỉ bọn tiểu nhân. “Hạc” cũng để chỉ người quân tử. Hai câu 3-4 với cảnh “cá bơi nổi trên mặt ao” trong khi “rồng ở chốn nào” và “hạc không về”có thể ám chỉ cảnh triều đình cùng đất nước lúc ấy: đầy tiểu nhân, gian nịnh, trong khi quân tử vắng bóng. “Rồng ở chốn nào” cũng hàm ngụ lòng nhớ tiếc của cụ đối với Thượng hoàng Minh tông, vị vua cử cụ làm Quốc Tử giám Tư nghiệp cùng trao cho cụ nhiệm vụ dạy Thái tử trước kia. Cũng có thể chỉ vua Hiến tông, vịThái tử học trò của cụ, nhưng mất sớm ở tuổi 23, khiến ngôi vua và đất nước rơi vào tay Dụ tông.
“Đám rêu đẫm nước” trong câu 6 có thể chỉ bọn tiểu nhân, trong khi “cánh cửa bằng gỗthông” để chỉ người quân tử. Được nước làm cho ướt đẫm, đám rêu lan mạnh, “che lấp hết cánh cửa bằng gỗ thông.” Câu này có thể ngụ ý: sự hoành hành của bọn tiểu nhân đã che lấp hết tiếng nói của những người ngay thẳng. Trong hoàn cảnhấy, nhà giáo dục họ Chu không hẳn chỉ có tấm lòng nguội lạnh: mỗi khi nghe ai nhắc đến hai tiếng “vua trước,” cụ lại thầm gạt lệ. Chúng ta không biết đích xác qua hai tiếng “tiên hoàng,” cụ muốn nhắc tới vị vua nào. Có thể cụ muốn nói tới Hiến tông, vị vua trẻ, mất sớm, từng là học trò của cụ. Nhưng cũng có thểlà Minh tông, thân phụ của Hiến tông và Dụ tông, vị vua trao cho cụ nhiệm vụdạy Hiến tông trước kia. Căn cứ vào sự kiện Hiến tông mất quá sớm (làm vua từnăm lên 10 tới năm 23, suốt 13 năm trên ngôi trong cương vị một vị vua trẻ,dưới sự hướng dẫn của Thượng hoàng Minh tông, chưa có hoàn cảnh tự quyết định những chuyện quan trọng), người viết những dòng này đồng ý với đa số các nhà giảng thơ lớp trước và cho rằng hai tiếng “tiên hoàng” ở đây nhiều phầnđể chỉ vua Minh tông.
BẢN DỊCH CỦA ĐÌNH NGUYÊN ĐINH VĂN CHẤP:
                        Bên cầu trăng nước bóng chiều lồng
                        Chồng chất sen tươi lá lẫn bông.
                        Ao cũ cá bơi rồng khó thấy,
                        Non không mây tỏa hạc khôn trông !
                        Quế già theo gió thơm đường đá
                        Rêu biếc đầm mưa lấp cửa thông.
                        Tấc riêng chưa dễ thành tro bụi
                        Nghe nói vua xưa lệ ngập tròng.
                                                (Nam phong tạp chí số 115, năm 1927)
BẢN DỊCH CỦA MỘT CỰU SINH VIÊN VĂN KHOA SÀIGÒN:
                        Bên cầu trăng nước giỡn chiều tà
                        Sen lặng nương nhau lá giữa hoa.
                        Ao cũ cá đua, rồng khuất lánh
                        Non không mây tỏa, hạc mờ xa.
                        Gió đưa hương quế đường thơm ngát
                        Nước đẫm làn rêu cửa lấp nhòa.
                        Chưa dễ lòng này tro lạnh hẳn
                        Thoảng nghe “vua trước” lệ thầm sa.
Bản dịch đưa ra chỉ nhằm một mục đích khiêm nhượng là góp phần trình bày rõ thêm tâm trạng của người trước. Xét kỹ, vẫn còn một số khuyết điểm (chẳng hạn trong câu 6, chưa dịch được ý “cánh cửa bằng gỗ thông”). Kính mong các bậc thức giả, các vị yêu thơ nhuận sắc giúp hoặc bỏ chút thời giờ dịch lại để chúng ta sẽ có một bản dịch hoàn hảo hơn.

Về Việc: CỤ LÊ HIỀN ĐỨC – BS

4 Th6

Chính quyền Việt Nam thẳng tay trấn áp blogger Nguyễn Xuân Diện (RFI). – Bà Lê Hiền Đức nói về sự cố ở Hà Nội (BBC).  – Nguyễn Đình Ấm: Cáo chung một thủa quyền uy (Bà đầm xòe). – Cháu ngoan Bác Hồ đã 82 tuổi còn đi gây rối ? Ghi chép dư luận hè đường (Nguyễn Tường Thụy).  – Khốn nạn thân các anh, đéo mẹ cha chúng nó (Phương Bích).  – LÃNH ĐẠO MÀ CỨ NHƯ ĐÀ ĐIỂU RÚC CÁT (Mai Xuân Dũng). – Sở TTTT vi phạm luật Phòng cháy và chữa cháy (Đông A).

Về vụ ở Sở 4T, có nhiều điều rất đáng bàn. Tạm vài gợi ý để các công bộc tự soi lại mình:

1- Xảy ra ngay sau hành động gây rối của đám xã hội đen đội lốt thương binh tại Viện Hán Nôm, cùng thái độ trái ngược của chính quyền, báo chí, làm dư luận quá dễ nghi vấn họ “tuy hai mà một”.

2- Một cơ quan mang danh thanh tra, kiểm soát hoạt động thông tin mà nhiều động thái khuất tất. Gửi giấy mời công dân mà địa chỉ ghi không nhất quán, quấy rầy vô lối cơ quan khác, nội dung giấy mời không rõ ràng, không có gì chứng tỏ TS Nguyễn Xuân Diện phải có mặt theo giấy mời đó.

3- Thành phần tiếp công dân không đúng như giấy mời ghi.

4- Hàng loạt sai sót đó, ẩn chứa đằng sau những nghi vấn, thì không thể đòi hỏi công dân phải tuân thủ những yêu cầu của mình được.

5- Từ đó, TS NXD có quyền từ chối buổi làm việc, hoặc có tham gia cũng buộc phải có người khác, không phải chỉ trợ giúp pháp lý, mà còn là nhân chứng để đề phòng mọi rủi ro, như đã từng xảy ra ngay tại cơ quan công quyền.

6- Họ thừa biết cụ Lê Hiền Đức là người mà cả xã hội, chính quyền và quốc tế ngưỡng mộ. Giữa lúc đang phát động chỉnh đốn đảng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM, thì càng phải khích lệ, bảo vệ một con người như vậy. Nên bất luận nếu cụ vì bức xúc, có cử chỉ không vừa ý mình, thì cũng không được phép có hành động bất nhã. Nhưng những gì diễn ra trên thực tế, với thái độ chủ tâm quá rõ, như thể rình đối tượng hở cơ là chộp để lật đổ một thần tượng chống tham nhũng, vốn đã bao năm đơn thương độc mã trên mặt trận này, một con người hiếm hoi còn lại từng cận kề CTHCM trong thời gian dài, thì rất khó biện minh rằng hành động đó không phải là đã trắng trợn chống lại nghị quyết chỉnh đốn đảng và đợt học tập tấm gương đạo đức HCM.

7- Với cấp trên của Sở 4T, nếu thực tâm muốn giữ cho đẹp hình tượng chống tham nhũng quá hiếm hoi của cụ LHĐ để góp phần “quán triệt” nghị quyết trung ương 4, thì với những gì diễn ra đêm 1/6, lẽ ra họ phải lập tức họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm và đưa ra giải pháp khéo léo, tránh cho hình ảnh cụ bị bôi lem. Thế nhưng mọi diễn biến đã ngược lại hoàn toàn.

8- Cách “vào cuộc” rất nhanh của 3 báo, đài HN và toàn bộ nội dung trong đó minh chứng thêm 2 nhận xét trên. Lại thêm việc không đưa lên mạng, rồi sau đó lại đưa lên theo kiểu lắt léo (đã được bình luận tối qua) đoạn video “tố” cụ LHĐ của HTV càng dễ gây thêm nhiều nghi vấn.

Hai bài trên An ninh Thủ đôKinh tế & Đô thị cố lờ đi tình tiết cụ Lê Hiền Đức là “ai”. Nếu cụ chỉ là một công dân bình thường thì việc họ công phu đăng bài vở như vậy lại thành không bình thường. Tại sao họ lờ đi? Bởi vì nếu kể công trạng cụ Đức, thì độc giả, lâu nay vốn tin cụ, không còn mấy niềm tin chính quyền, sẽ rất dễ đặt dấu hỏi cái gì đằng sau màn “đấu tố” này. Có lẽ đó cũng chính là lý do HTV đã giấu đi bài đã phát trên đài, vì trong đó có đề cập chút ít về công trạng chống tiêu cực của cụ.

9- Việc chỉ riêng báo Hà Nội mới không có bài “tố” cụ LHĐ, nếu đúng có sự chỉ đạo thì không khéo lại “gậy ông đập lưng ông”, gây khó chịu từ vài bộ phận, cá nhân liên quan đối với … chính Thành ủy, nơi được cho là chỉ  đạo “chiến dịch” này.

10- Cuối cùng là vấn đề đạo đức và đạo lý. Không ít người, từ Sở 4T cho tới 3 báo đài của HN cũng đều có con, cháu đang tuổi đi học. Chắc ít nhiều họ cũng từng chịu khốn khổ vì những thói hư tật xấu tiêm nhiễm vào con cháu mình. Nhưng có lẽ họ không nghĩ tới việc chính những thói hư tật xấu đó là hệ quả từ những hành vi của những kẻ nắm chút quyền lực trong tay lại bất nhẫn với người già, dùng thủ đoạn hiểm độc với những người dân không răm rắp tuân theo mình, mà miệng thì luôn tụng niệm “là người đầy tớ …” và rao giảng đạo đức cho con cháu ở nhà.

 

Nguồn: BaSam

Tựa đề: vonga1 đặt

CÁC CUỘC CHIẾN NĂNG LƯỢNG – BS

4 Th6

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CÁC CUỘC CHIẾN NĂNG LƯỢNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 2/6/2012

TTXVN (Oasinhtơn 1/6)

Nhà nghiên cứu về hòa bình và an ninh thế giới Michael Klare, giáo sư Đại học Hampshire, có bài viết đăng trên báo Huffington Post về các cuộc xung đột liên quan đến năng lượng có khả năng bùng phát thành chiến tranh, nội dung như sau:

 

Xung đột và toan tính đối với các nguồn cung năng lượng quý giá đã trở thành những đặc điểm của bức tranh quốc tế lâu nay. Các cuộc chiến tranh lớn xung quanh dầu lửa đã diễn ra ở mọi thập kỷ kể từ Chiến tranh thế giới thứ nhất, và các cuộc đụng độ nhỏ hơn cũng xảy ra cứ vài năm một lần. Vì thế, một vài đợt bùng phát của năm 2012 sẽ chỉ là một phần bình thường của bức tranh chung. Thay vào đó, điều mà chúng ta đang chứng kiến là cả một chùm các cuộc xung đột liên quan đến dầu lửa trên khắp toàn cầu, với sự tham gia của khoảng mười quốc gia. Hãy coi những điểm bùng phát này là tín hiệu cho thấy chúng ta đang tiến vào một kỷ nguyên xung đột căng thẳng vì năng lượng.

Từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương, Áchentina đến Philippin, có sáu khu vực xung đột – tất cả đều liên quan đến các nguồn dầu lửa – đã trở thành tin tức trong những tháng đầu của năm 2012:

1. Một cuộc chiến đang âm ỉ hình thành giữa Xuđăng và Nam Xuđăng: Ngày 10/4, các lực lượng từ nhà nước mới độc lập Nam Xuđăng chiếm trung tâm dầu lửa Heglig, một thị trấn được trao cho Xuđăng theo thỏa thuận hòa bình đã cho phép những người miền Nam ly khai năm 2011. Những người miền Bắc có căn cứ tại Khartoum đã huy động lực lượng riêng của mình và đẩy người Nam Xuđăng khỏi Heglig. Từ đó, giao tranh đã nổ ra dọc theo biên giới tranh chấp giữa hai nước, kéo theo các cuộc không kích vào các thị trấn tại Nam Xuđăng. Mặc dù giao tranh chưa đến mức độ chiến tranh tổng lực, nhưng các nỗ lực quốc tế để thương lượng một lệnh ngừng bắn và giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp vẫn chưa thành công.

Cuộc xung đột này bị kích thích bởi nhiều yếu tố, trong đó có sự chênh lệch về kinh tế giữa hai nước Xuđăng và sự thù địch dai dẳng giữa người miền Nam (hầu hết là người châu Phi da đen và người Kitô giáo) và người miền Bắc (chủ yếu là người Arập và Hồi giáo). Nhưng dầu lửa – và thu nhập mà dầu mang lại – là tâm điểm của vấn đề. Khi Xuđăng bị chia cắt năm 2011, các mỏ dầu tốt nhất nằm ở phía Nam, trong khi đường ống dẫn dâu có khả năng vận chuyển dầu từ miền Nam tới các thị trường quốc tế (và vì thế mang lại nguồn thu) lại nằm trong tay người miền Bắc. Họ đã đòi hỏi “chi phí quá cảnh” đặc biệt cao – 32 đến 36 USD/thùng dầu so với giá thông thường là 1 USD/thùng – cho việc đưa dầu từ miền Nam tới thị trường. Khi những người miền Nam từ chối chấp nhận giá này, người miền Bắc tịch thu số tiền mà họ đã thu được từ xuất khẩu dầu của miền Nam nguồn thu quan trọng duy nhất của họ. Đáp lại, người miền Nam ngưng sản xuất dầu và có hành động quân sự chống phía Bắc. Tình hình hiện vẫn đầy khả năng bùng nổ.

2. Va chạm hải quân ở Biển Đông: Ngày 7/4, một tàu chiến của hải quân Philíppin, chiếc Gregorio del Pillar dài 378 fit đến bãi đá ngầm Scarborough ở Biên Đông, và bắt giữ tám tàu đánh cá Trung Quốc đang hạ neo ở đó, buộc tội các tàu này có hoạt động đánh bắt trái phép trong vùng biển chủ quyền của Philíppin. Trung Quốc ngay lập tức cử hai tàu hải quân đến khu vực, tuyên bố rằng tàu Gregorio del Pillar đã sách nhiễu các tàu Trung Quốc ở các vùng biển của Trung Quốc chứ không phải của Philippin. Các tàu đánh cá cuối cùng được phép đi khỏi mà không xảy ra sự cố nào thêm, và căng thẳng đã phần nào giảm bớt. Tuy nhiên, cả hai bên đều không có biểu hiện nào sẽ từ bỏ tuyên bố chủ quyền với bãi đá ngầm này, và cả hai tiếp tục triển khai tàu chiến ra khu vực tranh chấp.

Giống như ở Xuđăng, có nhiều nguyên nhân cho cuộc va chạm này, nhưng năng lượng là động cơ chủ đạo. Biển Đông được cho là nơi có trữ lượng lớn dầu và khí đốt, và tất cả các quốc gia xung quanh, trong đó có Trung Quốc và Philíppin, muốn khai thác các mỏ dầu này. Manila tuyên bố 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế tại Biển Đông tính từ bờ biển phía Tây cua mình, nơi mà Philíppin gọi là Biển Tây Philíppin. Các công ty

Philíppin nói rằng họ đã tìm thấy các vùng có trữ lượng khí đốt lớn tại khu vực này và đã thông báo kế hoạch bắt đầu khai thác. Với tuyên bố rằng nhiều hòn đảo nhỏ nằm rải rác trên Biển Đông (trong đó có bãi đá ngầm Scarborough) là của mình, Bắc Kinh đã khẳng định chủ quyền với toàn bộ khu vực, trong đó có các vùng biển mà Manila có tuyên bố chủ quyền. Bắc Kinh cũng thông báo kế hoạch khoan dầu ở khu vực này. Sau nhiều năm thương lượng, chưa có một giải pháp nào được đưa ra giúp giải quyết cuộc tranh chấp và nhiều khả năng sẽ có đụng độ tiếp.

3. Ai Cập cắt dòng khí tự nhiên tới Ixraen: Ngày 22/4, Tổng công ty dầu lửa Ai Cập và Công ty khí đốt Ai Cập thông báo cho các quan chức năng lượng của Ixraen rằng họ sẽ “chấm dứt các hợp đồng khí đốt” theo đó Ai Cập cung cấp khí đốt cho Ixraen. Việc này xảy ra sau nhiều tháng biểu tình của thanh niên ở Cairô đã thành công trong việc lật đổ nhà độc tài Hosni Mubarak và hiện đang tìm kiếm một chính sách đối ngoại độc lập hơn cho Ai Cập nghĩa là ít chịu ảnh hưởng của Mỹ và Ixraen hơn. Điều này cũng diễn ra sau khi có hàng loạt cuộc tấn công vào các đường ống dẫn khí qua Sa mạc Negev tới Ixraen, điều mà quân đội Ai Cập dường như bất lực, không thể ngăn chặn.

Bề ngoài, có vẻ như quyết định này được đưa ra nhằm phản ứng trước tranh chấp liên quan đến việc thanh toán khí đốt mà Ixraen trả cho Ai Cập, nhưng tất cả các bên liên quan đều hiểu rằng đây một phần có động cơ từ việc chính phủ mới của Ai Cập muốn thể hiện sự thoát ly khỏi chế độ Mubarak đã bị lật đổ và chính sách hợp tác với Ixraen của ông ta. Mối quan hệ khí đốt giữa Ai Cập và Ixraen là một trong những kết quả quan trọng nhất của hiệp ước hòa bình năm 1979 giữa hai nước, và sự chấm dứt nó là tín hiệu rõ ràng về một thời kỳ bất hòa hơn; nó có thể gây ra thiếu hụt năng lượng tại Ixraen, đặc biệt là trong thời kỳ đỉnh điểm về nhu cầu của mùa Hè. Ở phạm vi lớn hơn, nó phản ánh xu hướng sử dụng năng lượng như một con bài chính trị.

4. Áchentina chiếm đoạt công ty dầu mỏ YPF: Ngày 16/4, Tổng thống Áchentina Cristina Fernández de Kirchner thông báo rằng chính phủ của bà sẽ tịch thu phần lớn cổ phần trong YPF, công ty dầu lửa lớn nhất của nước này. Theo kế hoạch của tổng thống, chính phủ sẽ chiếm 51% cổ phần kiểm soát trong YPF, hiện do công ty năng lượng lớn nhất của Tây Ban Nha Repsol YPF nắm giữ. Việc này được Mađrít và các nước châu Âu khác coi như một mối đe dọa lớn phải đối phó. Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha Jose Manuel Garcia Margallo cho rằng hành động của Kirchner “phá vỡ bầu không khí đầm ấm và thân thiện từng có trong quan hệ giữa Tây Ban Nha và Áchentina”. Nhiều ngày sau, trong hành động được cho là bước đi trả đũa đầu tiên, Tây Ban Nha thông báo sẽ ngửng nhập khẩu nhiên liệu sinh học từ Áchentina, nước cung cấp chính của mình – khoản thương mại trị giá 1 tỉ USD mỗi năm cho người Áchentina.

Giống như trong các cuộc xung đột khác, vụ va chạm này có nhiều nguyên nhân, trong đó có chủ nghĩa dân tộc bắt nguồn từ thời Peron, cùng với ý muốn của Kirchner muốn tăng cường vị trí của mình trong bầu cử. Tuy nhiên, điều không kém phần quan trọng là việc Áchentina muốn có lợi ích kinh tế và chính trị lớn hơn từ các nguồn năng lượng của mình, trong đó có trữ lượng khí hóa thạch lớn thứ ba thế giới. Trong khi đối thủ lâu dài là Braxin đang giành được quyền lực và uy tín lớn từ việc khai thác các mỏ dầu ngoài khơi, Áchentina lại chứng kiến sản lượng dầu của mình giảm đi. Repsol có thể không bị đổ lỗi về điều này, nhưng nhiều người Áchentina tin chắc rằng với việc YPF đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ, nay sẽ có thể thúc đẩy việc khai thác nguồn năng lượng của đất nước, có thể có sự hợp tác với các đối tác nước ngoài năng nổ hơn như BP hay ExxonMobil.

5. Áchentina tái châm ngòi cuộc khủng hoảng Falklands: Tại cuộc họp thượng đỉnh các nước châu Mỹ ngày 15, 16/4 vừa qua tại Cartagena, Côlômbia, Áchentina tìm kiếm một lời lên án mới của các nước cùng bán cầu đối với việc Anh tiếp tục chiếm đóng đảo Falkland (còn gọi là Malvinas). Áchentina có được sự ủng hộ mạnh mẽ từ tất cả các nước từ Canada và Mỹ. Với tuyên bố chủ quyền trên đảo, Áchentina đã liên tục đưa vấn đề ra kể từ khi thất bại trong cuộc chiến tranh giành đảo Falkland năm 1982, nhưng gần đây đã đẩy mạnh chiến dịch trên nhiều mặt trận – lên án Luân Đôn ở nhiều diễn đàn quốc tế và ngăn cản các du thuyền của Anh thăm đảo Falkland neo đậu tại các hải cảng của Áchentina. Anh đã phản ứng bằng việc gia tăng lực lượng quân sự của mình tại khu vực và cảnh báo Áchentina không nên có bất cứ manh động nào.

Khi Áchentina và Anh đánh nhau tranh giành quần đảo Falkland, không có gì nhiều để tranh chấp ngoài thể diện quốc gia và thể diện của các nhà lãnh đạo hai bên (Thủ tướng Margaret Thatcher với một nhà độc tài quân sự) và một vài hòn đảo dân cư thưa thớt. Kể từ đó, giá trị của quần đảo đã tăng đáng kể do các cuộc thăm dò địa chấn gần đây ở các vùng biển xung quanh hòn đảo cho thấy có trữ lượng lớn dầu lửa và khí đốt. Nhiều công ty năng lượng có trụ sở ở Anh, trong đó có Desire Petroleum và Rockhốpper Exploration, đã bắt đầu khoan thăm dò tại khu vực và báo cáo là phát hiện trữ lượng hứa hẹn. Khao khát có được thành công như Braxin trong việc khai thác dầu khí ngoài khơi, Áchentina tuyên bố rằng các khu vực mới phát hiện nằm trong lãnh thổ của mình và việc nước khác đên thăm dò tại đó là bất hợp pháp. Tất nhiên, Anh khẳng định đây là lãnh thổ của mình. Không ai biết liệu cuộc khủng hoảng tiềm tàng âm ỉ này sẽ nổ ra như thế nào, nhưng việc lặp lại cuộc chiến năm 1982 – lần này là vì năng lượng – khó có thể không bị đặt ra.

6. Các lực lượng Mỹ huy động chiến tranh với Iran: Suốt mùa Đông và đầu mùa Xuân vừa rồi, dường như một cuộc xung đột vũ trang giữa Iran với Ixraen và hoặc Mỹ gần như không thể tránh khỏi. Không bên nào sẵn sàng lùi bước trước các yêu cầu then chốt, đặc biệt là về chương trình hạt nhân của Iran, và bất cứ ý kiến nào về một giải pháp nhượng bộ đều được cho là không thực tế. Tuy nhiên, hiện khả năng xảy ra chiến tranh đã giảm đi phần nào – ít nhất cho đến hết năm bầu cử ở Mỹ – khi mà các cuộc thương lượng cuối cùng đã diễn ra giữa hai cường quốc với Iran, và cả hai bên đã có lập trường thỏa hiệp hơn. Bên cạnh đó, các quan chức Mỹ đã giảm bớt lời lẽ chiến tranh và các nhân vật trong cộng đồng quân sự và tình báo Ixraen đã có tuyên bố loại bỏ khả năng hành động quân sự vội vàng. Tuy nhiên, Iran tiếp tục làm giàu urani, và các nhà lãnh đạo tất cả các bên nói rằng họ chuẩn bị đầy đủ để sử dụng vũ lực nếu đàm phán đổ vỡ.

Đối với người Iran, điều này có nghĩa là chặn Eo biển Hormuz, eo biển hẹp nơi một phần ba lượng dầu buôn bán của thế giới đi qua mỗi ngày, về phần mình, Mỹ khẳng định sẽ giữ cho eo biển này thông suốt và nếu cần thiết sẽ loại bỏ khả năng hạt nhân của Iran. Cho dù là để dọa Iran, chuẩn bị cho hành động thực, hay có thể là cả hai, Mỹ đã và đang tăng cường lực lượng quân sự ở Vịnh Pécxích, triển khai hai tổ hợp chiến đấu tàu sân bay ở khu vực lân cận đồng thời với việc phối hợp các lực lượng trên không và lực lượng tấn công đổ bộ.

Ai đó có thể tranh cãi về mức độ tác động của dầu lửa trong mối căng thẳng giữa Mỹ với Iran, nhưng không nghi ngờ gì việc cuộc khủng hoảng hiện nay có can hệ rất lớn đến triển vọng nguồn cung dầu toàn cầu, thông qua các mối đe dọa của Iran sẽ đóng cửa Eo biển Hormuz để trả đũa các lệnh cấm vận xuất khẩu dầu của Iran, và khả năng bất cứ cuộc không kích nào nhằm vào các căn cứ hạt nhân của Iran sẽ dẫn đến kết quả tương tự. Dù là cách nào, quân đội Mỹ chắc chắn sẽ đóng vai trò đi đầu trong việc hủy diệt lực lượng quân sự của Iran và tái lập sự thông suốt cho Eo biển Hormuz. Đây là cuộc khủng hoảng do năng lượng gây ra.

Và đây chỉ là một số trong các quốc gia có liên quan đến các xung đột về năng lượng. Bất cứ cuộc xung đột nào với Iran – bất kể với động cơ nào – đều chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến nguồn cung dầu lửa của tất cả các nước nhập khẩu dầu, gây ra một cuộc khủng hoảng quốc tế lớn với những hậu quả khó lường. Quyết tâm của Trung Quốc muốn kiểm soát các nguồn dầu lửa ngoài khơi đã đẩy nước này vào xung đột với các nước khác có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, và vào một tranh chấp tương tự với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Các tranh chấp liên quan đến năng lượng kiểu này có thể thấy ơ Biển Caxpi và tại các khu vực Bắc Cực ngày càng ít băng.

Mầm mống xung đột và chiến tranh năng lượng xuất hiện cùng lúc ở nhiều nơi như vậy cho thấy chúng ta đang bước vào một thời kỳ mới trong đó các nhân tố nhà nước chính yếu sẽ có xu hướng dựa vào sử dụng vũ lực – hoặc đe dọa dùng vũ lực – để giành quyền kiểm soát các nguồn, dầu khí quý giá. Nói cách khác, chúng ta hiện đang sống trên một hành tinh sắp tăng tốc vì năng lượng./.

 

Một cái nhìn “trần trụi” về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc – VHNA

4 Th6

Trần Ngọc Vương

Tình hình “ biển Đông dậy sóng” thời gian qua không nằm ngoài bối cảnh tham vọng lãnh thổ lâu đời của Trung Quốc cũng như mối quan hệ lịch sử phức tạp giữa hai nước Việt – Trung. Phóng viên Đất Việt online đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Trần Ngọc Vương, ĐH Quốc gia Hà Nội, người đã nhiều năm nghiên cứu Trung Quốc, về điều này.

PV: Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, không chỉ là mối quan hệ ngoại giao hiện tại, mà là dưới góc độ lịch sử, văn hóa?
PGS.TS. Trần Ngọc Vương: Thực tế thì từ trước đến nay, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một quan hệ rất phức tạp. Dù công khai hay không công khai thừa nhận thì đó là một thực tế không ai có thể che giấu được.
Mối quan hệ phức tạp đó được thể hiện trên nhiều phương diện: chính trị, văn hóa, chủ nghĩa dân tộc, chân chính hay không chân chính, lành mạnh hay không lành mạnh, trong đó có cả tâm lý đám đông.
Trước hết, cần phải khẳng định quan hệ Việt – Trung từ quá khứ lịch sử đến tận ngày nay là một quan hệ nhiều chiều phong phú, đa dạng, phức tạp và đầy nghịch lý, mâu thuẫn.
Năm 1998, tại Đại học Bắc Kinh, tại cuộc gặp mặt và trao đổi trực tiếp giữa học giả hai nước Việt Nam – Trung Quốc, các học giả Trung Quốc đã hỏi tôi: Ông nghĩ như thế nào về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Tôi muốn nhắc lại một ý mà tôi đã trả lời lúc đó, như là một nhận thức đã trở thành công thức cố định: Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ít nhất phải nhìn trong ba góc độ, ba tư cách của Trung Quốc.
Trong lịch sử, Việt Nam tiếp thu nhiều từ Trung Quốc, cho nên tư cách đầu tiên của Trung Quốc đối với Việt Nam là tư cách ông thầy. Đây là điều không chối cãi được do Việt Nam chịu ảnh hưởng của Trung Quốc cả một thiên niên kỷ. Trong suốt thời gian dài đó, người Việt đã học tập rất nhiều điều từ người Trung Quốc. Chúng ta không thể nào không kính trọng một dân tộc có nền văn minh, văn hóa thuộc loại hàng đầu thế giới.
Tư cách 2: Trung Quốc với Việt Nam là bạn: Bạn ở đây được hiểu theo nhiều nghĩa và được quy định bởi nhiều điều kiện.
Thứ nhất, là 2 nước láng giềng có chung đường biên giới rất dài cả trên đất liền và trên biển. Do có chung đường biên giới quá dài nên để có thể sống với nhau ổn định, cần có sự hữu nghị cả về phương diện cộng đồng, xã hội lẫn phương diện quốc gia.
Thứ hai, chữ “Bạn” ở đây được hiểu vừa là đối tác, vừa là đối thủ. Ngay trong một cộng đồng nhỏ cũng tồn tại những đối thủ, huống hồ là giữa 2 đất nước. Nếu bỏ qua tư cách đối thủ, tự anh sẽ làm hại anh do sẽ dẫn đến mất cảnh giác. Điều này được thể hiện trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Nhưng không vì vậy mà yếu tố đối thủ làm triệt tiêu yếu tố đối tác, bằng hữu.
Nhưng theo tôi, nếu xét trên tư cách bằng hữu, sự hợp tác giữa 2 nước chưa cao. Bởi muốn hợp tác có hiệu quả thì 2 nước phải có những mục tiêu và lợi ích chung. Phải có định hướng về tầm nhìn là cùng nhìn về 1 hướng thì sự hợp tác mới lâu bền và toàn diện. Nếu quay lưng lại với nhau hay người này tìm cách tranh thắng hơn so với người kia thì không thể hợp tác được. Trong hợp tác, nguyên tắc “Cả 2 cùng thắng” mới là nguyên tắc quan trọng nhất, chứ không phải kẻ thắng người thua.
Tư cách bằng hữu này về lâu về dài vẫn cần phải duy trì để cùng tồn tại.
Tư cách 3:Việt Nam thường xuyên là nạn nhân của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sự bành trướng đế chế của Trung Quốc:Trong thực tế, do nhiều lý do lịch sử, Việt Nam không phải là nước lớn để đặt đồng đẳng trên bàn cân so với Trung Quốc. Cho nên, tồn tại bên cạnh một đế chế khổng lổ có dân số chiếm 1/5 nhân loại không phải là điều đơn giản. Rõ ràng, so về tiềm lực, quốc lực, Việt Nam không phải là đối thủ cạnh tranh bình đẳng của Trung Quốc. Không nhận thức được điều này thì sẽ mất nước.Tôi cũng muốn sử dụng khái niệm “sự bành trướng đế chế” như là một thuật ngữ của khoa học lịch sử.
Chính vì điều này, ngay từ quá khứ lịch sử đã luôn đặt ra một tình huống, đó là: mất cân bằng.
Đối với nước nhỏ bé hơn, đây bao giờ cũng là hiểm họa. Điều này không có gì lạ, khắp nơi trên thế giới đều như vậy. Nói một cách lạnh lùng hơn, đây là một quy luật, có thể gọi là “chủ nghĩa Darwin xã hội”, đó là quy luật sinh tồn cạnh tranh về mặt xã hội.
Quy luật này chính các nhà kinh điển Mác – Lênin đã nhận thức và coi là quy luật bất di bất dịch: Quốc gia nào mạnh sẽ đi xâm lược, quốc gia nào yếu sẽ bị xâm lược. Không có một quốc gia đạo đức thuần túy nào từng xuất hiện trên trái đất. Chủ nghĩa bành trướng như là một lẽ đương nhiên của các nước lớn. Trung Quốc từ xưa đến nay, trừ những giai đoạn tự mâu thuẫn, tự đấu tranh nội bộ, khi họ đạt được sự thống nhất nhất định thì họ đều có tư thế nước lớn. Và khi có tư thế nước lớn, họ tự có thuộc tính bành trướng.
Khi bàn về đế chế Sa Hoàng, Lênin đã phải thừa nhận một thực tế khách quan, tất yếu: Khi nó đã là đế chế, là một quốc gia có quy mô lớn như đế chế Nga thì nó hút theo nó rất nhiều sự phụ thuộc, ép các cộng đồng dân tộc xung quanh nó trở thành vệ tinh.
Tôi xin nhắc lại, đế chế nào, quốc gia lớn nào cũng vậy. Sức ảnh hưởng, bành trướng của các đế chế này là sức hút nam châm, có xu hướng hút và cuốn các nước xung quanh vào bên trong nó. Nếu chống lại được lực hút đó thì được độc lập, còn nếu không li tâm được thì tất yếu sẽ bị phụ thuộc.
Tôi cho rằng, xu thế chung của nhân loại và nói riêng các quan hệ khu vực  trong khoảng một thiên niên kỷ trở lại đây là những quốc gia như Việt Nam ngày càng thể hiện tư thế độc lập hơn, tự quyết, tự chủ hơn so với các đế chế kiểu như Trung Quốc. Mặc dù có những thời điểm trong lịch sử, xu thế đó không phải là dạng đồ thị tiến thẳng, có những lúc người cầm quyền Việt Nam tỏ ra bạc nhược, yếu hèn, nhưng nhìn tổng thể thì Việt Nam ngày càng độc lập hơn.
Việt Nam hoàn toàn đủ nội lực để tự mình trở thành một quốc gia độc lập hơn nữa, bình đẳng hơn nữa với các thế lực bên ngoài. Điều kiện của quốc tế hiện đại cho phép thực hiện được, hiện thực hóa được xu hướng đó.
PV: Tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề cần giải quyết trong quan hệ giữa hai nước. Một bước tiến có thể nói khá quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp này  là  các bên đồng thuận không sử  dụng vũ lực. Vậy vì sao gần đây tình hình lại đột ngột “nóng” lên, cùng với đó là sự đe dọa  sử dụng vũ lực từ phía Trung Quốc?
PGS Trần Ngọc Vương: Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua, chúng ta có cái nhìn toàn cảnh và rõ ràng hơn về cái gọi là việc sắp xếp lại trật tự thế giới,  cấu trúc lại những vùng ảnh hưởng trên thế giới. Nhìn theo nhiều lĩnh vực, có thể xuất hiện những cường quốc khác nhau, thậm chí có thể gọi là những siêu cường khu vực. Nhìn một cách tổng thể, rõ ràng Trung Quốc đang có khát vọng trở thành một siêu cường, ít nhất là siêu cường khu vực.
Từ năm 1978, khi khởi xướng lên việc định hướng lại và cải cách kinh tế để tạo vị thế của Trung Quốc, cho đến gần đây, Trung Quốc nêu lên một số mệnh đề mà tôi cho rằng đặc biệt cần chú ý.
Thứ nhất là mệnh đề: “Một hữu đới đầu” – Nhất quyết không đi đầu. Họ chấp nhận không làm người dẫn đầu, không gánh vác trách nhiệm trước thế giới. Điều này có thể dễ dàng hiểu được, cũng là do họ chưa đủ điều kiện để làm vậy dù họ muốn. Tôi cho rằng, về tầm nhìn, đó là một tầm nhìn dài hạn và khôn ngoan của họ.
Mệnh đề thứ hai là “thao quang dưỡng hối”, tức là che bớt ánh sáng, nuôi dưỡng cái tù mù. Trung Quốc muốn giữ cho riêng mình một vùng bí mật rộng lớn trong các quốc sách cũng như trong việc đo đếm, tính toán quốc lực của họ. Đây là một cách giữ gìn bí mật quốc gia để quốc tế không thể biết được tiềm lực thực sự của Trung Quốc. Dù bên ngoài có nói xấu hay nói tốt, nói hay hay nói dở, Trung Quốc cũng không phản đối hay khẳng định quyết liệt.
Mệnh đề thứ ba là “nhất quốc lưỡng chế”, tức là một nước hai chế độ. Chính mệnh đề này đã gây ra tranh luận giữa tôi với các học giả Trung Quốc năm 1998, thời điểm khi họ đang tiếp nhận Hồng Kông.
Khẩu hiệu “Nhất quốc lưỡng chế” mà Đặng Tiểu Bình đưa ra là một tôn chỉ mà họ đang thực hiện và sẽ còn lâu mới thực hiện xong. Đây chính là câu khẩu hiệu gây nhiều suy nghĩ cho tôi.
Tôi đã hỏi các giáo sư, học giả Trung Quốc ở Đại học Bắc Kinh rằng: Một nước 2 chế độ, nghĩa là một bên anh duy trì XHCN, một bên anh duy trì TBCN? Vậy thì CNXH có phải mục đích tối hậu của Trung Quốc không? Đó của phải là hệ tư tưởng của Trung Quốc không?
Họ nói theo họ là như vậy. Tôi nói: Vậy thì theo logic, anh phải tồn tại hai chế độ, dù cho tầm nhìn xa đến đâu, khoảng thời gian dài đến đâu, nhưng nếu đến “một lúc nào đó”, tình trạng đó sẽ được / bị xóa bỏ, thì đó vẫn cứ là một công thức mang tính chiến thuật, dù nó không ngắn hạn về mặt thời gian. Cuối cùng anh phải giải quyết vấn đề hai chế độ ra sao chứ? Phải nhất thể hóa thành một chế độ chứ? Nếu khẳng định như thế, tôi không tin là trên bốn chục triệu người ở mấy vùng lãnh thổ kia để yên cho anh “sáp nhập” dễ dàng.
Trong trường hợp ngược lại, nếu anh nói rằng đó là một tôn chỉ lâu dài, không xác định về mặt thời gian thì tức là anh từ bỏ về mặt nguyên tắc đối với chủ nghĩa cộng sản. Vì trong một nhà nước phải có, và chỉ có một hệ tư tưởng. Giả sử các vùng lãnh thổ như Đài Loan sáp nhập với Trung Quốc thì hệ tư tưởng lúc đó chắc chắn phải khác hệ tư tưởng bây giờ. Vậy hệ tư tưởng đó là gì? Các học giả Trung Quốc không trả lời được. Họ hỏi ý kiến của tôi thế nào. Tôi nói: đó chính là chủ nghĩa tư bản, hoặc một dạng khác, xác thực hơn nữa: chủ nghĩa dân tộc. Họ im lặng nhưng sa xẩm mặt mày.
“Thao quang dưỡng hối” và “không đi đầu” thì hiện nay Trung Quốc đang dần dần từ bỏ. Tức là họ công khai bộc lộ và thị uy sức mạnh, đồng thời một bộ phận kích động chủ nghĩa dân tộc.
Nguy cơ về sự bùng lên và khó lòng kiểm soát của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc là điều có thật. Cái tâm lý này nằm cả ở những người ở cấp cao, tuy tôi chưa dám nói những nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc thì ở mức độ như thế nào.
Vì thế, tôi cho rằng chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc bùng nên và khó kiểm soát đang thực sự là một nguy cơ đối với chúng ta. Tôi theo dõi báo chí và các trang mạng Trung Quốc, qua các thống kê của chính các trang đó, tôi thấy các con số về tỷ lệ người Trung Quốc đòi “dạy cho Việt Nam một bài học” là rất cao. Điều này phản ánh một tỉ lệ trung bình cộng mà chúng ta cần phải hết sức cảnh giác. Đương nhiên là các nhà chính trị không dễ dàng đưa ra các quyết định dựa trên những thống kê trên mạng như vậy, nhưng cũng chắc chắn họ sẽ bị chi phối bởi điều này.
Để hiểu tận căn nguyên, tôi không chỉ theo dõi quan hệ Việt Nam – Trung Quốc mà tôi còn phải theo dõi cả thực thể Trung Hoa, tôi cho rằng hiện nay, những vấn đề mâu thuẫn nội tại của xã hội Trung Quốc là căng thẳng nhất thế giới. Có người đã nói ví von là: Giữa những tỷ phú giàu nhất thế giới đã có người Trung Quốc, nhưng những cộng đồng nghèo đói nhất thế giới cũng có người Trung Quốc. Điều đó dẫn đến những bất an về mặt xã hội.
Những bất an xã hội đó khiến tôi rất lo lắng.Không phải chỉ lo và thương cho người Trung Quốc. Tôi không dám nói đó là tất yếu, nhưng theo những lối mòn của lịch sử, để trấn an nội bộ, trong mấy nghìn năm qua, Trung Quốc luôn dùng phương pháp chuyển mâu thuẫn ra ngoài. Tức là cứ mỗi lần nội bộ Trung Quốc có vấn đề lớn, các nhà cầm quyền Trung Quốc lại tiến hành xâm lược một vùng nào đó. Họ dùng “võ công” để răn đe và giải quyết mâu thuẫn bên trong. Tức là họ không đánh trực tiếp đối thủ trong nước mà dùng chiến công bên ngoài để làm giảm áp lực và xả bớt lực căng xã hội. Xin nói thật, đây là điều tôi sợ nhất vì Việt Nam có nguy cơ cao trở thành nạn nhân, các tỷ lệ thống kê cao trên mạng phản ánh đúng điều này.
Tôi nghĩ là người Trung Quốc đâu thù Việt Nam đến thế. Những người làm chính trị, quan sát chính trị đều nhận thấy trong thời gian qua Việt Nam đã nhẫn nhịn rất nhiều. Thế giới không ngây thơ để tin vào những tuyên truyền xuyên tạc của Trung Quốc là Việt Nam luôn gây hấn và kích động. Rõ ràng là người Việt Nam luôn có tâm lý hòa hiếu, muốn yên ổn. Lịch sử đã chứng minh điều đó.Võ công thiên tài và chiến công hiển hách như Quang Trung mà trước khi đánh trận Đống Đa còn yêu cầu Ngô Thì Nhậm viết sẵn biểu tạ tội, rồi biểu cầu phong.
Vì vậy, vấn đề ở đây là chúng ta phải tránh để bị Trung Quốc biến thành vật hi sinh. Nhưng đồng thời, ta không chỉ giữ thể diện với dân mà về lâu dài cần phải nuôi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của nhân dân ta. Như cụ Hồ đã nói một câu thể hiện tất cả: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Chúng ta vừa phải mềm mỏng, nhẫn nhịn nhưng cũng luôn phải tự cường, rắn rỏi.
Thực trạng bất bình đẳng diễn ra trong cả việc tuyên truyền. Báo chí và các trang mạng Trung Quốc, kể cả các tờ được coi là chính thống và quan trọng hàng đầu, kể cả Đài Truyền hình Trung ương, hiện nay đang liên tục xuyên tạc về Việt Nam, tôi xin gọi là nói rất láo về Việt Nam.
PV: Hòa bình, đó là khát vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Song, cũng như ý chí nhân dân, các vị lãnh đạo của Việt Nam luôn khẳng định “chủ quyền là số một”. Từ cái nhìn lịch sử, theo Giáo sư, làm thế nào để giữ được cả hai điều này?
PGS Trần Ngọc Vương: Mặc dù có những cái đầu ở Trung Quốc đang rất nóng, và cả nhiều cái đầu ở các nước láng giềng của Trung Quốc, đương nhiên cả ở ta, cũng đang nóng, nhưng theo tôi chúng ta nên coi đó là chuyện bình thường. Có những phản ứng cực đoan thái quá là bình thường. Cả ở đây nữa, “trái tim có những lý lẽ riêng mà cái đầu không thể hiểu”. Nhưng đó không phải là tất cả. Vấn đề là các nhà cầm quyền phải biết giữ tỉ lệ cực đoan đó ở mức có thể kiểm soát được và không gây ra tác hại. Các nhà lãnh đạo cần có cách hành xử và giải quyết vấn đề phù hợp.
Tôi cho rằng với diễn biến của tình hình vừa rồi, sự bộc lộ thái độ và hành động của cộng đồng và người dân Việt Nam là hợp lý. Giữ mức độ như thế là hợp lý.
Với tư cách là người cũng đã nhiều năm nghiên cứu về Trung Quốc, về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, tôi cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay đối với chúng ta là làm thế nào để cân bằng được niềm tự hào dân tộc, khí phách dân tộc với hoạt động thực tiễn chính trị tỉnh táo để đạt được mục tiêu quan trọng hàng đầu là giữ gìn độc lập dân tộc. Đồng thời tránh cho dân tộc khỏi những tổn thất, va chạm không cân sức và không cần thiết.
– Xin cảm ơn Giáo sư.
Bản này do Ts, Pgs Trần ngọc Vương gửi cho VHNA
%d bloggers like this: