Lưu trữ | 6:58 Sáng

Phần hỏi đáp với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta tại Đối thoại Shangri-La, Singapore – BS

6 Th6

Người dịch: Dương Lệ Chi

. Tiếp theo phần đầu: Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta tại Đối thoại Shangri-La, Singapore

Ông Chipman: Ông Bộ trưởng, cảm ơn ông rất nhiều về những lời giải thích tổng quát cũng như chi tiết về việc Mỹ sẽ tái cân bằng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương như thế nào. Chúng tôi sẽ nhận một số câu hỏi. Tôi mời những người muốn nói, hãy giữ bảng tên của quý vị theo chiều ngang, để tôi có thể đọc tên của quý vị dễ dàng hơn. Tôi không thể bảo đảm tất cả mọi người đều được hỏi. Tôi sẽ mời một vài người ở vòng đầu tiên và nếu cần chúng ta sẽ hợp lại sau đó. Tôi cũng sẽ cố gắng để bảo đảm những người tham gia đặt câu hỏi đến từ nhiều nước khác nhau. Vì vậy, điều này cũng sẽ được hướng dẫn theo lựa chọn của tôi. Cám ơn quý vị rất nhiều. Thật vậy, tôi đã mời đa số quý vị ngồi xuống. Trong vòng 10 phút, tôi có thể gọi những người muốn đặt câu hỏi trở lại lần thứ hai.

Câu hỏi đầu tiên dành cho ông Bao Bin. Ông chỉ cần bấm microphone trước mặt ông thì máy camera sẽ quay được ông. Giơ tay lên để chúng tôi có thể nhìn thấy ông. Đây rồi. Mời ông bắt đầu.

Câu hỏi: Cảm ơn ông Chipman. Tôi là Chuẩn tướng Bao từ Học viện Khoa học Quân sự, Quân đội Trung Quốc (PLA). Bộ trưởng, ông đã xác định rõ chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi hoan nghênh Hoa Kỳ đóng vai trò xây dựng trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và câu hỏi của tôi là, ông có thể nói rõ thêm một chút về việc Hoa Kỳ sẽ phát triển mối quan hệ quân sự với Trung Quốc như thế nào. Cảm ơn ông.

Bộ trưởng Panetta: Tôi đánh giá cao câu hỏi này bởi vì nó là điều mà chúng tôi đang dành rất nhiều nỗ lực để cố gắng thúc đẩy. Chúng tôi nghĩ rằng mối quan hệ quân sự mạnh mẽ với Trung Quốc sẽ vô cùng quan trọng trong việc đối phó với các vấn đề mà cả hai quốc gia của chúng ta đối đầu.

Cách chúng tôi đang tiếp cận là, phát triển một loạt trao đổi cấp cao giữa hai nước chúng ta. Chúng ta đã bắt đầu và rõ ràng là chúng ta sẽ tiếp tục, hy vọng với chuyến thăm của tôi tới Trung Quốc vào lúc nào đó trong mùa hè.

Bên cạnh đó, chúng ta đã thảo luận khả năng lập ra các nhóm để có thể làm việc với nhau, tập trung vào một số lĩnh vực khó khăn hơn, chẳng hạn như không gian mạng và điều chúng ta có thể làm là trao đổi thông tin và cố gắng bảo đảm rằng, chúng ta đưa ra một số chuẩn mực khi cần sử dụng không gian mạng. Không gian [trên bầu trời] là một lĩnh vực khác mà chúng ta muốn tạo cơ hội để thảo luận những cách tiếp cận khả năng của chúng ta trong việc sử dụng không gian.

Bên cạnh đó, dĩ nhiên là chúng tôi sẽ tiếp tục trao đổi với các chỉ huy quân sự của chúng tôi, Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ đặc trách Thái Bình Dương của chúng tôi. Hy vọng rằng, chúng tôi sẽ đến thăm Trung Quốc để thảo luận với họ những gì chúng tôi đang làm ở Thái Bình Dương.

Vì vậy, điều quan trọng ở đây là, cố gắng gia tăng mối quan hệ quân sự hai nước để chúng ta có thể có sự minh bạch hơn giữa hai nước. Nhưng quan trọng hơn, chúng ta có thể thực hiện các bước để đương đầu với những thách thức chung mà cả hai nước chúng ta phải đối mặt: thách thức trong việc đối phó với khủng hoảng nhân đạo và cứu trợ thiên tai, thách thức trong việc phổ biến vũ khí hạt nhân, thách thức trong việc cố gắng đối phó với Bắc Triều Tiên, thách thức trong việc cố gắng để đối phó với nghiện ma túy và buôn lậu ma túy, thách thức trong việc đối phó với hải tặc trên biển, thách thức trong việc đối phó với việc đi lại trên biển và cải thiện các tuyến đường giao thông. Đó là tất cả những thách thức chung mà chúng ta đang đối mặt. Và cách tốt nhất để làm điều đó là, cải thiện mối quan hệ quân sự của chúng ta.

Ông Chipman: Ông Kato từ Nhật Bản. Nếu ông có thể giơ tay lên để máy ảnh có thể quay được ông. Đây rồi. Ông Kato ở ngay đó. Bắt đầu đi.

Câu hỏi: Cảm ơn Bộ trưởng, về sự trình bày rõ ràng và toàn diện của ông. Trong khi Hoa Kỳ đang tái cân bằng ở châu Á, [Hoa Kỳ] được hầu hết các nước đồng minh và đối tác trong khu vực chào đón, ít nhất có thể nói rằng, phản ứng từ Trung Quốc thì lẫn lộn. Một trong những học giả [của Trung Quốc] gần đây đã tuyên bố trong một cuộc họp tương tự như vậy, rằng Trung Quốc xem việc Mỹ quay lại các chính sách an ninh châu Á là nhắm vào Trung Quốc và là một mối đe dọa trực tiếp và chiến lược. Và ông vừa nói trong bài phát biểu của ông rằng, ông phản đối ý kiến này, nhưng tôi phải nói rằng, thực tế là việc tái cân bằng này đã gây ra một số sự nghi ngờ về chiến lược, đặc biệt là phía Trung Quốc, có thể gây bất ổn trong khu vực. Làm thế nào để ông đối phó với hậu quả có lẽ không dự tính trước này, nhưng lại là hậu quả tiêu cực về sự thay đổi chiến lược? Cảm ơn ông.

Bộ trưởng Panetta: Cảm ơn câu hỏi của ông. Bằng nhiều cách, điều quan trọng là Hoa Kỳ và Trung Quốc duy trì các kênh thông tin liên lạc chặt chẽ để chúng tôi phát triển yếu tố tin cậy trong mối quan hệ của chúng tôi. Trở ngại của chúng tôi trong quá khứ đó là, mặc dù cố gắng thiết lập quan hệ tốt hơn, nhưng có yếu tố ngờ vực lớn giữa hai nước chúng tôi.

Tôi nghĩ cả hai nước chúng tôi phải nhận ra rằng, chúng tôi là cường quốc trong khu vực này. Chúng tôi có lợi ích chung trong khu vực này. Chúng tôi có nghĩa vụ chung để cố gắng thúc đẩy hòa bình, an ninh và thịnh vượng trong khu vực này.

Và đúng vậy, Hoa Kỳ đã có sự hiện diện về sức mạnh ở Thái Bình Dương trong quá khứ và chúng tôi sẽ vẫn giữ như thế và tăng cường trong tương lai, và điều đó cũng đúng đối với Trung Quốc. Nhưng nếu cả hai nước chúng tôi cùng làm việc với nhau, nếu cả hai chúng tôi tuân theo luật lệ và trật tự quốc tế, nếu cả hai nước chúng tôi có thể làm việc với nhau để thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng và giải quyết tranh chấp trong khu vực này, thì cả hai nước chúng tôi sẽ được lợi từ đó. Cả hai nước sẽ được hưởng lợi từ đó.

Và đây không chỉ là vấn đề quân sự. Cũng không chỉ là vấn đề phòng thủ. Mà đó chính là vấn đề ngoại giao. Đó chính là vấn đề thương mại. Đó chính là vấn đề kinh tế. Đó là khả năng chia sẻ trong một số lĩnh vực sẽ quyết định tương lai mối quan hệ của chúng tôi. Nhưng nếu chúng tôi có thể mở rộng mối quan hệ đó, nếu chúng tôi có thể thiết lập loại trao đổi thông tin đó và sự tin tưởng đó, thì tôi nghĩ rằng sẽ có lợi cho tất cả các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Ông Chipman: Ông Demetri Sevastopulo từ báo Financial Times. Tới lượt ông.

Câu hỏi: Cảm ơn ông [Chipman]. Bộ trưởng Panetta, trong ba năm qua, Mỹ đã nói nhiều về việc làm cường quốc Thái Bình Dương [và điều này cũng] trùng hợp với tần số về các sự cố ở biển Hoa Nam (biển Đông) gia tăng, mà nhiều trường hợp liên quan tới Trung Quốc và các nước láng giềng. Ông nói rằng Hoa Kỳ không đứng về phía bên nào trong tranh chấp lãnh thổ, nhưng trừ khi Mỹ có lập trường mạnh mẽ hơn đối với các hành động của Trung Quốc ở biển Hoa Nam, [nếu không] thì Hoa Kỳ không gặp nguy hiểm khi bị xem như một nước yếu đuối hơn khi các ông đang cố gắng bảo vệ chính các ông như là một cường quốc mạnh hơn?

Bộ trưởng Panetta: Tôi nghĩ vấn đề quan trọng để có thể đối phó với các tranh chấp lãnh thổ mà chúng ta thấy ở bãi cạn Scarborough và chúng ta đã thấy ở những nơi khác, đó là xây dựng các tiêu chuẩn trong quy tắc ứng xử mà các nước ASEAN đang làm việc này và rằng chúng tôi có thể giúp trong việc cố gắng hỗ trợ [họ] để xây dựng [các tiêu chuẩn đó].

Theo đúng như việc xây dựng quy tắc ứng xử đó, rất quan trọng để các nước ASEAN phát triển một diễn đàn tranh luận để có thể cho phép giải quyết các tranh chấp này. Đơn giản chỉ phát triển quy tắc ứng xử không thôi, vẫn chưa đủ. Quý vị phải dự phòng khả năng đàm phán và giải quyết các tranh chấp trong khu vực này. Và đó là điều mà Mỹ đang khuyến khích.

Rõ ràng là mỗi lần những sự kiện này diễn ra, chúng ta gần như có một cuộc đối đầu, và rất nguy hiểm cho tất cả các nước trong khu vực này.

Một lần nữa, điều quan trọng trong vấn đề này là, cả Trung Quốc cũng như các nước ASEAN cần phải xây dựng luật lệ và trật tự quốc tế, phải tuân theo các quy tắc và trật tự quốc tế, nhưng điều quan trọng hơn là phải phát triển một quy tắc ứng xử để có thể giúp giải quyết những vấn đề này. Đó là cách hữu hiệu duy nhất để giải quyết chuyện này. Để Mỹ đến và cố gắng giải quyết những vấn đề này thì vẫn chưa đủ. Đây là vấn đề mà các nước ở đây phải ngồi lại với nhau. Chúng tôi sẽ hỗ trợ họ. Chúng tôi sẽ khuyến khích họ, nhưng cuối cùng thì họ phải xây dựng một quy tắc ứng xử và một diễn đàn tranh luận để có thể giải quyết những vấn đề này. Đó là cách hiệu quả nhất để đối phó với các loại xung đột như thế.

Ông Chipman: Mời ông Francois Heisbourg, từ Pháp.

Câu hỏi: Cảm ơn John rất nhiều. Cảm ơn ông Bộ trưởng đã trình bày một cách rõ ràng và khá chính xác về cách tiếp cận chiến lược mới của Mỹ. Tuy nhiên, cách tiếp cận này dựa trên giả thuyết tài chính và kinh tế, không chắc phải có sẵn vào lúc mà cách tiếp cận chiến lược mới này lẽ ra phải có. Về mặt tài chính, đến cuối năm nay, nếu không có gì thay đổi [về quyết định của Quốc hội Mỹ], ông sẽ bị [ảnh hưởng bởi] cái gọi là luật tạm thời về cắt giảm ngân sách, có nghĩa là, khoảng 500 tỉ chi tiêu quốc phòng mới sẽ bị cắt giảm vào cuối thập kỷ này.

Và thứ hai là, tin tức kinh tế ở các nước châu Âu và ở những nơi khác thì chính xác là không có lợi cho các loại chi tiêu ở mức độ mà chiến lược mới của các ông tiếp cận.

Và cuối cùng là nền tảng chính trị, và câu hỏi được đặt ra ở đây: sự tự tin của ông là gì – trong bối cảnh tài chính, kinh tế và chính trị như thế, phải chăng sự tự tin của các ông là, điều này sẽ trở thành chiến lược vững chắc mới của lưỡng đảng Mỹ, thay vì đơn giản là kế hoạch của Chính phủ Tổng thống Obama?

Bộ trưởng Panetta: Hãy để tôi giải đáp vấn đề ở từng phần trong câu hỏi của ông.

Trước hết, cần hiểu rằng Quốc hội Hoa Kỳ bước đầu tiên nhằm cố gắng đối phó với vấn đề nợ nần, nên đã đưa ra Đạo luật Kiểm soát Ngân sách. Và một phần của Đạo luật Kiểm soát Ngân sách đó có liên quan đến [chi phí] quốc phòng mà chúng tôi cắt giảm 487 tỉ đô la ngân sách quốc phòng trong 10 năm tới.

Do kinh nghiệm của tôi là Giám đốc Cục quản lý Hành chính và Ngân sách Hoa Kỳ, và là Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Hạ viện, tôi luôn tin rằng, vai trò quốc phòng liên quan đến trách nhiệm tài chính ở Hoa Kỳ. Vì lý do đó, nên chúng tôi quyết định rằng chúng tôi sẽ lấy con số đó và phát triển một chiến lược, một chiến lược quốc phòng sẽ thực hiện những khoản tiết kiệm trong 10 năm tới, nhưng sẽ làm điều đó theo cách gắn kết một chiến lược quốc phòng nhằm duy trì sức mạnh quân sự của chúng tôi trên thế giới. Và [sau khi] làm việc với những người đứng đầu các cơ quan, làm việc với những người thư ký dưới quyền, chúng tôi đã đề ra chiến lược đó và đề ra ngân sách đó để có thể đáp ứng các mục tiêu kia. Nên tôi không nghĩ rằng, chúng tôi phải lựa chọn giữa an ninh quốc gia hay an ninh tài chính. Tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể chọn cả hai. Và tôi luôn luôn tin tưởng như thế. Và tôi nghĩ rằng chúng tôi đã làm như vậy liên quan đến đề nghị mà chúng tôi đã đưa ra.

Vì vậy, thứ nhất, kế hoạch mà chúng tôi đề ra, chiến lược mà chúng tôi phát triển và ngân sách chúng tôi phác thảo, sẽ thực thi những cắt giảm này trong một giai đoạn, nhưng thực hiện nó theo cách có nhiệm vụ bảo vệ tư thế phòng thủ của chúng tôi trong tương lai. Chúng tôi nhận biết điều đó. Tôi nghĩ rằng Quốc hội cũng biết điều đó.

Thứ hai, liên quan đến luật tạm thời về cắt giảm ngân sách, luật tạm này không phải là một cuộc khủng hoảng thực sự, mà là một cuộc khủng hoảng nhân tạo. Chính Quốc hội đưa ra luật tạm này như một thứ vũ khí để buộc họ phải đưa ra các quyết định liên quan đến việc giảm bớt thâm hụt ngân sách thêm nữa và họ đặt khẩu súng vào đầu của họ, về cơ bản mà nói rằng, nếu họ không làm điều đó, thì súng sẽ nổ.

Luật mới này được thiết lập do sự thất bại [trong việc thực hiện] luật tạm của Siêu Ủy ban lẽ ra phải có hiệu lực vào tháng 1. Cả hai đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ thừa nhận rằng đó sẽ là một thảm họa. Luật tạm sẽ cắt giảm thêm 500 tỉ đô la ngân sách quốc phòng nếu nó có hiệu lực. Tôi biết không có người nào trong đảng Cộng hòa, cũng không có người nào trong đảng Dân chủ tin rằng điều đó nên xảy ra. Nói như thế, rõ ràng, họ có trách nhiệm để hành động ngay bây giờ để luật tạm này không có hiệu lực. Tôi tin rằng họ sẽ làm việc để thực hiện điều đó. Tôi thực sự tin, bởi vì tôi nghĩ rằng không có bất cứ người nào muốn điều đó xảy ra, vì vậy tôi tin rằng cuối cùng thì đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ sẽ tìm cách loại bỏ cuộc khủng hoảng nhân tạo mà họ đưa ra.

Điểm thứ ba là, liên quan đến mức độ tự tin mà tôi có được, rằng cuối cùng thì đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ sẽ đối phó với các vấn đề lớn hơn mà chúng tôi đương đầu với nền kinh tế, đặc biệt liên quan đến thâm hụt [ngân sách].

Trong suốt thời gian tôi làm việc ở Quốc hội trước đây, tôi tham gia mọi [quyết định] ngân sách – [các quyết định] ngân sách lớn bắt đầu từ thời Tổng thống Reagan, tiếp theo là thời Tổng thống Bush. Là giám đốc Cục quản lý Hành chính và Ngân sách Hoa Kỳ cho Tổng thống Clinton, [tôi] đã đề ra ngân sách, kế hoạch giảm thâm hụt mà Tổng thống Clinton đưa ra.

Trong mỗi lần như thế – mỗi lần như thế – rất quan trọng để đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ đặt tất cả mọi thứ lên bàn và xem xét mọi lĩnh vực chi tiêu, không riêng gì quốc phòng, không riêng  chi tiêu trong nước, mà là bảo đảm quyền lợi các bên và tổng thu nhập của chính phủ. Và đó là vì chúng tôi đặt tất cả các yếu tố lại với nhau trong các chương trình kết hợp kia, để cuối cùng chúng tôi có thể cân bằng ngân sách.

Tôi biết, liên quan đến chính trị trong vấn đề này thì rất khó cho cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ, nhưng tôi tin rằng, bởi vì nó rất quan trọng cho đất nước và cho nền kinh tế của chúng tôi, cuối cùng họ sẽ có can đảm để có thể đề ra phương pháp nhằm giảm bớt thâm hụt.

Ông Chipman: Tiếp theo là Norodom Sirivudh, cố vấn của vua Campuchia.

Câu hỏi: Cảm ơn ông, ông Chủ tịch. Campuchia là chủ tịch ASEAN và chúng tôi sẽ tổ chức ARF, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Tôi nghĩ dường như điểm đến kế tiếp của ông là Việt Nam và Ấn Độ và chúng tôi hy vọng rằng Tổng thống Mỹ, ông và bà Hillary Clinton sẽ tới thăm đất nước chúng tôi, Campuchia. Cho nên với tôi, chúng tôi phấn khởi khi thấy mối quan hệ hòa bình giữa Mỹ và Trung Quốc. Ấn Độ và Trung Quốc có chung đường biên giới và Việt Nam cũng [có chung biên giới với Trung Quốc] và bây giờ một nước có chung biên giới với Việt Nam để Myanmar (?) đối mặt với rất nhiều thay đổi và tiến triển. Ông có thể tưởng tượng sự hợp tác tiếp theo giữa Mỹ và Miến Điện, và đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng như thế nào? Cảm ơn ông.

Bộ trưởng Panetta: Rõ ràng là chúng tôi khuyến khích các cải cách mà họ đang hy vọng đặt ra. Như ông biết, Bộ Ngoại giao đã có những bước để giảm bớt một số hình thức trừng phạt đặt lên Miến Điện và một lần nữa, cố gắng khuyến khích họ đi đúng hướng. Tôi nghĩ rằng một phần đó, giả định rằng họ có thể thực hiện cải cách và tiếp tục các nỗ lực chính trị như mở cửa hệ thống của họ, phần đó sẽ được thảo luận, liên quan đến việc chúng tôi có thể cải thiện mối quan hệ quốc phòng của chúng tôi với đất nước của họ như thế nào.

Ông biết đấy, hãy để tôi nhấn mạnh ở đây rằng, hôm nay, Hoa Kỳ, khi làm việc với các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đây không phải là tình hình chiến tranh lạnh để Hoa Kỳ chỉ đơn giản là đến đó, xây dựng các căn cứ lâu dài và cố gắng thiết lập một căn cứ quyền hành trong khu vực này.

Đây là một thế giới khác. Đây là thế giới mà chúng tôi phải tham gia với các nước khác để giúp phát triển khả năng của họ, để họ có thể phát triển an ninh riêng cho họ và có thể tự bảo vệ họ trong tương lai. Và như vậy có nghĩa là, vai trò mà chúng tôi tham gia với các nước này, nơi chúng tôi có thể thiết lập các loại triển khai luân phiên và các cuộc diễn tập, nơi chúng tôi có thể cung cấp sự hướng dẫn và hỗ trợ, nơi chúng tôi có thể phát triển khả năng của họ trên đất nước của họ, để cố gắng cung cấp một quan hệ đối tác, trong nỗ lực nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng. Và chúng tôi sẽ thúc đẩy mối quan hệ đó với mọi quốc gia mà chúng tôi làm việc trong khu vực này, gồm cả Miến Điện.

Ông Chipman: Chúng tôi sẽ nhận thêm hai câu hỏi mà Bộ trưởng có thể trả lời. Bonnie Glaser và sau đó là Josh Rogin. Bonnie Glaser trước, sau đó là Josh và sau đó Bộ trưởng có thể trả lời cả hai cùng một lúc. Bonnie, bắt đầu đi.

Câu hỏi: Cảm ơn ông Bộ trưởng. Ông vừa nói về sự cần thiết để Hoa Kỳ giúp các nước trong khu vực này để phát triển khả năng của họ và tăng cường khả năng an ninh cho riêng họ. Và ông đã thảo luận cụ thể trong bài phát biểu về những nỗ lực mà Hoa Kỳ đang thực hiện để giúp Philippines tăng cường khả năng tự bảo vệ chính họ. Tuy nhiên tôi nghĩ, ngay cả khi các bước này được hoan nghênh trong khu vực, tôi nghe nhiều nguồn tin trong khu vực này cho rằng, các mối lo ngại đang gia tăng là, điều này có thể khuyến khích Philippines và có lẽ các nước khác có được sự tăng cường khả năng, sẽ mạnh bạo hơn, và thật ra, điều này có thể gặp phải một nguy cơ đối đầu lớn hơn. Vì vậy, làm thế nào để Hoa Kỳ nhắm đúng vào sự cân bằng giữa khả năng ngăn chặn và đảm bảo chiến lược?

Ông Chipman: Josh?

Câu hỏi: Cảm ơn ông. Năm ngoái, ông Robert Gates, bộ trưởng tiền nhiệm của ông, đã gặp Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt bên lề hội nghị này. Năm nay, dĩ nhiên là không thể, bởi vì chính phủ Trung Quốc từ chối gửi các quan chức cấp cao tới Đối thoại Shangri-La. Dĩ nhiên, không ai biết chính xác lý do vì sao Trung Quốc quyết định đánh giá thấp sự hiện diện của họ tại diễn đàn này, nhưng một số nguồn tin cho thấy rằng Trung Quốc đang bày tỏ sự phản đối của họ về việc Mỹ gia tăng vai trò trong các vấn đề đa phương trong khu vực này. Ví dụ, một bài bình luận của Nhân Dân Nhật báo trên trang nhất, đăng tải trong tuần này có nói rằng, các tranh chấp của Trung Quốc với các nước láng giềng liên quan đến biển Hoa Nam (biển Đông), trích dẫn nguyên văn trong bài là: “không liên quan gì tới Mỹ”.

Tôi không rõ là: ông có đồng ý rằng Hoa Kỳ là – như trích dẫn trong lời bình luận – “một lực lượng bá quyền bên ngoài” can thiệp không đúng chỗ vào vùng biển Hoa Nam? Ông có thất vọng không, khi chính phủ Trung Quốc quyết định không gửi bất kỳ quan chức cấp cao nào tới đối thoại này? Và ông nghĩ gì khi điều này nói về sự sẵn sàng của Trung Quốc tham gia, mang tính cách xây dựng, với Hoa Kỳ về các vấn đề khu vực [mà hai nước] cùng quan tâm? Cảm ơn ông.

Bộ trưởng Panetta: Trước hết, liên quan tới vấn đề Philippines, tôi nghĩ rằng rất quan trọng để hiểu rằng các nước – một sự tôn trọng thực sự đối với chủ quyền của các nước, đòi hỏi chúng tôi phải làm tất cả mọi thứ để chúng tôi có thể giúp hỗ trợ những nước này phát triển khả năng của mình và có thể giữ gìn an ninh và bảo vệ chính họ, nhưng đồng thời khuyến khích họ, như tôi đã nói, tuân theo các nguyên tắc mà tôi đã đề ra ở đây. Và nguyên tắc quan trọng là tuân theo các quy tắc và chuẩn mực quốc tế mà tất cả các quốc gia phải tuân thủ.

Tôi nghĩ chúng ta không nên có thái độ là, chúng tôi đang làm cho vấn đề rắc rối thêm chỉ vì chúng tôi giúp cải thiện khả năng của họ, bởi vì điều đó sẽ bảo đảm rằng, chỉ những nước trong khu vực này, sẽ là Hoa Kỳ, và Trung Quốc chống lại các các nước có khả năng tham gia trong việc bảo vệ và thúc đẩy an ninh riêng của họ, và tôi nghĩ đây sẽ là sai lầm.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng, sẽ là một bước tích cực để có thể khuyến khích và phát triển các khả năng, đồng thời phải nói rất rõ rằng, các nước này phải tuân theo các luật lệ, các yêu cầu, và các quy định mà tất cả các quốc gia phải tuân theo. Và đó là điều phải được thực hiện một cách thẳng thắn về mặt ngoại giao.

Việc vươn xa tới các nước châu Á-Thái Bình Dương, như tôi đã nhấn mạnh, có thể không chỉ liên quan đến vấn đề quân sự, mà còn phải là vấn đề ngoại giao. Nó phải liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế. Nó phải liên quan đến một số lĩnh vực khác để mở rộng mối quan hệ giữa các nước. Và nếu chúng ta có thể làm điều đó trong tập hợp các vấn đề lớn hơn và tham gia vào một tập hợp các vấn đề rộng hơn, thì tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ có cơ hội tốt hơn có thể để bảo đảm rằng tất cả các nước sẽ tìm cách giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, phản đối tham gia vào xung đột.

Về việc Trung Quốc, mối quan hệ của chúng tôi với Trung Quốc, chúng tôi tiếp cận với đôi mắt tinh tường. Chúng tôi không ngây thơ về mối quan hệ này và cả Trung Quốc cũng không ngây thơ. Cả hai nước chúng tôi đều hiểu sự khác biệt mà chúng tôi có. Cả hai nước chúng tôi hiểu những xung đột mà chúng tôi có, chúng tôi cũng hiểu rằng thực sự không có sự lựa chọn nào khác [ngoài việc] cả hai nước chúng tôi tham gia và cải thiện thông tin liên lạc và để cải thiện các mối quan hệ quân sự với quân sự của chúng tôi.

Khi tôi còn là giám đốc CIA, đối phó với một số nước, có những tranh chấp. Chúng tôi đã có sự khác biệt, nhưng cùng lúc, chúng tôi đã có mối quan hệ tình báo mạnh mẽ bởi vì họ hiểu rằng đó cũng là lợi ích của họ, và chúng tôi hiểu rằng đó là lợi ích của chúng tôi. Và đó là loại quan hệ trưởng thành (*) mà tôi nghĩ rằng cuối cùng chúng tôi phải có với Trung Quốc.

Quý vị biết đấy, chúng tôi sẽ có những thăng trầm. Đó là bản chất của các loại quan hệ này. Chúng tôi có [những thăng trầm] với Nga. Chúng tôi đã có [những thăng trầm] với các nước khác trên thế giới. Có những thăng trầm trong các mối quan hệ. Có những lúc quý vị đồng ý. Có những lúc quý vị bất đồng, nhưng quý vị cần duy trì các kênh thông tin liên lạc. Quý vị duy trì các kênh ngoại giao. Quý vị duy trì loại liên lạc sẽ cho phép quý vị nói chuyện với nhau và hy vọng có thể giải quyết những sự khác biệt và tập trung vào những lĩnh vực mà quý vị đồng ý và [tập trung] vào những lĩnh vực mà quý vị có thể phát triển một mối quan hệ tốt hơn.

Vì vậy, đó là điều mà chúng tôi đang có ý định làm ở đây với Trung Quốc là xây dựng loại quan hệ đó, với nhận thức rằng chúng ta sẽ có tranh chấp, nhận thức rằng chúng ta sẽ có xung đột, nhưng cũng nhận ra rằng đó là lợi ích của hai nước Trung Quốc và Hoa Kỳ để giải quyết những vấn đề này một cách hòa bình. Đó là chìa khóa duy nhất để thúc đẩy sự thịnh vượng của họ và thúc đẩy sự thịnh vượng của chúng tôi.

——-

Ghi chú của BTV: Ông Panetta dùng chữ “trưởng thành” ở đây để nhắc lại cách ứng xử chưa trưởng thành của Trung Quốc từ trước tới giờ. Mỗi khi có bất đồng với Mỹ thì Trung Quốc cắt đứt mọi quan hệ đang có, để rồi sau đó từ từ nối lại quan hệ. Đã nhiều lần Trung Quốc hành xử như vậy, và gần đây, đầu năm 2010, khi chính phủ Mỹ thông báo sẽ bán vũ khí cho Đài Loan, ngay lập tức, Trung Quốc cắt đứt mối quan hệ quân sự với quân sự (military-to-military relationship) với Mỹ, cũng như các cuộc hội đàm có liên quan. Và rồi cuối cùng Trung Quốc cũng đã nối lại. Hành động giận hờn rồi “nghỉ chơi”, sau đó được “vuốt ve” thì “chơi lại”, là hành động thiếu trưởng thành (unmatured) mà báo chí phương Tây đã nhiều lần nhắc tới, khi nói đến cách ứng xử của Trung Quốc.

Nguồn: U.S. Department of Defense

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thi văn với thời đại – VHNA

6 Th6

Phan Khôi

Một bài thi, một bài văn, hay là một  tập thi, một tập văn mà làm cho người ta quý trọng và lưu truyền được là nhờ có đặc sắc về hai đường: một là về đường mỹ thuật, hai là về đường lịch sử. Đặc sắc về mỹ thuật, nghĩa là thơ văn ấy hoặc tả cảnh hay, hoặc tả tình hay, đủ làm cho kẻ đọc đến mà sanh cảm, cũng như trong khi xem một bức vẽ hoặc xem một tấn tuồng mà giục nỗi vui buồn. Đặc sắc về lịch sử nghĩa là trong thi văn có lưu lại những cái dấu vết của xã hội đồng thời với tác giả; đời sau đọc đến có thể nhờ đó mà nhận ra cuộc đời hồi ấy hoặc ít hoặc nhiều, có thể đem thi văn ấy mà đối chứng với những điều nghi ngờ trong lịch sử. Từ xưa đến nay, những tay văn hào bất tử, thường là gồm cả hai mặt đó.
Song le, về đường mỹ thuật thì hầu hết mọi người cầm bút viết văn ai ai cũng biết; đến như cái đặc sắc về đường lịch sử thì người ta thường không chú ý đến mà bỏ qua đi.
Sự thuộc về lịch sử ấy tức trong bài nầy muốn nói rõ hơn một chút, gọi là thi văn quan hệ với thời đại.
Vậy như Đỗ Phủ của Tàu, V. Hugo của Pháp, tức là hai nhà văn hào có đặc sắc về mỹ thuật đã đành, mà lại có đặc sắc về lịch sử nữa, nghĩa là thi văn của hai ông ấy phần nhiều có quan hệ với thời đại mình.
Nay chúng tôi đọc bài Bắc chinh của họ Đỗ thì biết được đầu đuôi việc vua Huyền Tôn chạy giặc, vua Túc Tôn lên nối ngôi ra làm sao; đọc bài Souvenir de la nuit du 4 của Hugo thì biết được hồi Cách mạng nước Pháp, họ làm tàn nhẫn  giết đến kẻ vô tội là thế nào. Bởi vậy các nhà phê bình khi phê bình đến những bài như vầy thì thường hay nắc nỏm khen rằng “thi  trung hữu sử”, nghĩa là trong bài thơ có việc thiệt như là lịch sử.
Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gọi là Trạng Trình, ở nước ta, có hơn ngàn bài thơ, in thành mấy cuốn, nhưng mà không nổi tiếng là một nhà văn hào được, là vì thơ của ông chỉ chuyên về mặt mỹ thuật mà thôi, còn chưa kể đến cái mỹ thuật của ông có thật là “mỹ” không nữa. Hãy đọc cả tập Bạch Vân am thì thấy ra mười bài như một chục, bài nào cũng tả tình  tả cảnh, bài nào cũng nói tâm nói tánh, nói gió nói trăng; song không tìm ra một bài nào có dấu vết của xã hội thời ấy cả. Mà thời ấy là thời họ Mạc tiếm nhà Lê, trong xã hội ta xảy ra biết bao nhiêu là việc, thế mà trong thơ ông Trạng ta bỏ hết cả, không thèm nói đến, dầu nói bóng lấy một vài lời cũng không!
Có người nói rằng thế mới biết cái tánh tình của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm là cao thượng, là siêu việt, chỉ thích bạn với cảnh tự nhiên mà không thèm đặt miệng đến việc đời. Nói vậy cũng có lẽ. Song phải biết rằng đã là thi văn thì là thi văn, phải cho đủ vẻ, phải cho có quan hệ với kẻ khác; còn như chỉ nói riêng hứng cảm phần mình mà thôi, thì người ta đọc nhiều phải sanh chán, những thơ văn ấy ai cầu làm chi?
Người ta hay nói thi nhân nào đại biểu cho thời đại nào, là vì thi nhân ấy có quan hệ với thời đại ấy, như Đỗ Phủ đại biểu cho thời Trung Đường, Victor Hugo đại biểu cho thời Cách mạng Pháp. Ấy vậy, thơ văn mà đại biểu cho một thời đại được, thì mới có thể gọi là một nhà văn hào.
Nước ta gần nay có ông Tú Trần Kế Xương là có cái tư cách đại biểu cho một thời đại ở Bắc Kỳ. Thời đại ông là thời đại mà cựu học suy vi, bọn nhà nho thất nghiệp, tây học mới bén, đám thông ký đắc thời; lại là thời đại mà trong nước bắt đầu nhóm lên phong triều về chánh trị; mà cả những điều đó đọc trong thơ văn của ông có thể thấy được cả. Như những:
– Một đoàn rách rưới con như bố;
Ba chữ ngheo ngao vợ chán chồng.
– Chi bằng đi học làm ông phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò!
Sau nầy người ta đọc những bài đó là đủ biết cái khuynh hướng của xã hội bấy giờ về đường học vấn là thế nào.
Ông Tú Xương lại có nhiều thơ về thời sự bấy giờ nữa; song vì sự huý kị cho nên ít truyền ra. Một ngày kia toàn tập của ông được xuất bản,  người ta sẽ thấy văn chương của ông là quan hệ với thời đại ấy.
Được một người văn nhơn có quan hệ với thời đại là quý lắm; cùng không nữa thì được một bài thơ hoặc một bài văn có quan hệ với thời đại cũng là quý. Vì những thơ văn ấy có bổ ích cho nhà sử học về sau, giá trị của nó không biết là bao.
Thử cử ra vài bài sau đây để làm thí dụ.
Từ triều Thành Thái về sau, sự thi cử ở Trung Bắc Kỳ càng ngày càng bậy bạ. Quan chấm trường thi ăn tiền của học trò thi, học trò thi thì dốt mà đỗ, chẳng còn gì là văn hành công khí cả. Trong lúc đó có lưu truyền một bài hát nói mà không biết ai làm. Bài ấy như vầy:
“Tự cổ văn chương bằng chỉ thượng;
Vu kim nghĩa lý vấn nang trung.
Bảng trong trời chi thiếu mặt hổ long?
Đèn sách nọ không gia công mà cũng đặng,
Xin cho biết mực đen giấy trắng,
Tròm trèm ba chữ cũng dư thi
Sẵn bạc nhà cắp lấy ra đi
Vào thí viện quyển làm chi chẳng tốt?
Vậy có câu rằng cử nọ hai mươi hốt(1) tú kia bát thập nguyên,
Ấy là phận, ấy là duyên, mà phong thổ âm công chi cũng đó!
Khi rước về võng điều chấu đỏ,
Về đến nhà hỏi mụ sướng hay không?
Mụ rằng tôi cũng như ông!”
Năm 1908, ở Quảng Nam có xảy ra vụ xin thuế. Trong khi mấy ngàn người dân ăn mặc lam lũ kéo nhau vừa đến sông Thanh-hà, bị lính đàn áp thì ba người ngã xuống sông mà chết. Bấy giờ có bài văn tế như vầy mà cũng không biết tên người làm:
“Than ôi! nước còn lênh đênh, dân khó ngoi ngóc,
Đã thuế nặng nề, lại quan tham độc.
Chó ăn cả lông, cây đào tận gốc.
Không tiền mua khăn nên đầu ông trọc;
Không tiền mua vải nên áo ông cộc.
Xin thuế ít nhiều, kêu tình khổ nhục;
Một dạ vững bền, tám ngàn chen chúc.
Không ngờ sẩy chơn, chẳng vớ được cọc.
Thôi thà thác trong, còn hơn sống đục!
Hồn ông đi đâu? Xiêm La Băng Cốc,
Nhựt Bổn Hoành Tân, Ấn Độ Thiên Trúc;
Lớn hóa làm tàu bay, nhỏ hóa làm súng lục,
Phới phới trên từng mây để chờ cơn báo phục!
Nay có rượu cặn một bầu, văn nôm một khúc,
Tế các ông một diên, vì dân đau khóc!”
Đó, ta đọc bài văn tế ấy thì biết lúc bấy giờ tại làm sao mà dân Quảng Nam xin thuế, và biết bấy giờ người ta mới bắt đầu hớt tóc và mặc đồ ngắn. Còn đến cái cảm tưởng của tác giả đối với ba người chết thì lại chúc cho linh hồn qua Băng Cốc, Hoành Tân, là vì bấy giờ trong nước ta đương sôi nổi cái phong trào xuất dương cho nên tác giả đem cả việc ấy mà cầu cho kẻ chết.
Một bài thơ hoặc bài văn mà có quan hệ với thời đại là như vậy.
                                                                                                  C.D.
                                                                                      Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.778 (6.10.1928)
——
(1) Hốt là một nén, mười lạng bạc (nguyên chú)
Nguồn: Viet-studies

Thơ miền Trung và thơ Việt, một cái nhìn từ lịch sử – VHNA

6 Th6

Phong Lê

CHỌN Thanh Hóa, Nghệ An hoặc Quảng Bình, Huế, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang,… để bàn về thơ miền Trung và thơ Việt tất cả đều thuận; bởi nhìn vào lịch sử hoặc hiện tại, tất cả các địa chỉ đó đều rất có duyên với thơ, rất dồi dào tiềm năng thơ. Đến với từng vùng miền để tìm ra các nét dáng riêng của nó, đó là điều chúng ta đã từng làm, và đến hôm nay vẫn còn có chuyện để bàn.

Nhưng nếu lưu ý đến thời điểm, thì có lẽ ở thời điểm hôm nay (cũng như cách đây gần 80 năm, ở thời điểm Thơ mới ra đời), cái riêng đó cần được nhận thức trong mối quan hệ với cái chung; có nghĩa là việc nhận diện cái riêng của từng vùng miền, trong đó có miền Trung là nhằm hướng tới một nhận thức chung về tổng thể thơ Việt đã có lịch sử phát triển nhiều thế kỷ thời trung đại; và đến thời hiện đại thì đã mang một gương mặt mới trên sự phong phú, đa dạng của những tìm kiếm, với các xu hướng, các trường phái, các phong cách cá nhân –  nó chính là cái làm nên diện mạo và phẩm chất hiện đại cho văn học dân tộc. Để có diện mạo và phẩm chất này, lịch sử văn học Việt đã phải trải một cuộc chuyển đổi rất ngoạn mục, từ mô hình trung đại có lịch sử một nghìn năm sang mô hình hiện đại diễn ra rất gấp rút trong ba thập niên đầu thế kỷ XX – để đến với Thơ mới 1932-1945. Và, theo tôi, ở thời điểm hôm nay, thơ Việt đang chuyển sang giai đoạn thứ hai, để chuẩn bị cho một cuộc chuyển đổi mô hình mới, khi đất nước bước vào kỷ  nguyên hội nhập trong cuộc Toàn cầu hóa lần thứ ba. Bởi, với kỷ nguyên thông tin và cách mạng số, ở bất cứ vị trí nào, vùng miền nào, chúng ta cũng phải vươn tới tầm bao quát của toàn quốc và toàn cầu. Thơ, hoặc bất cứ một lĩnh vực sinh hoạt tinh thần nào khác cũng không thể tự thu mình trong những phạm vi hẹp của không gian địa lý, mà là hướng tới những vấn đề chung của dân tộc và nhân loại. Vừa dân tộc vừa nhân loại – đó phải là phẩm chất, là cái đích chung mà người viết hôm nay ở bất cứ đâu cũng phải hướng tới.

Trước 1945, chỉ trong khoảng hơn mười năm, kể từ sau 1932, Thơ mới là một tiếng gọi đàn đưa tới sự tập hợp một đội ngũ thơ, tuy chưa phải là nhiều, chỉ khoảng vài ba chục người(1) mà làm nên “một thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh). Một đội ngũ thơ đến từ các địa chỉ trên khắp các vùng miền của Tổ quốc – gồm từ Hà Tiên (Đông Hồ, Mộng Tuyết) ra Bình Định (Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên – quê gốc Nghệ An, Hàn Mặc Tử – quê gốc Quảng Bình), Quảng Ngãi (Nguyễn Vỹ, Tế Hanh, Bích Khê), Quảng Nam (Phạm Hầu, Xuân Tâm, Nam Trân, Hằng Phương), Huế (Tố Hữu, Thanh Tịnh, Thúc Tề, Thu Hồng, Phan Văn Dật, Mộng Huyền, Nguyễn Đình Thư), Quảng Bình (Lưu Kỳ Linh, Lưu Trọng Lư), Hà Tĩnh (Xuân Diệu, Huy Cận, Thái Can), Nghệ An (Phan Khắc Khoan), Nam Định (Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Leiba, Phan Huy Nhiệm, Nguyễn Xuân Huy, Vũ Hoàng Chương); Hải Dương (Thâm Tâm), Bắc Ninh (Thế Lữ), Bắc Giang (Bàng Bá Lân, Anh Thơ); và Hà Nội (Vũ Đình Liên, Huy Thông, Đoàn Phú Tứ, Vân Đài, Nguyễn Giang, Nguyễn Nhược Pháp, Trần Huyền Trân)… Qua cách chọn của Thi nhân Việt Nam, ta có sự phân bố: Nam Bộ – 2 người; Trung Bộ – 24 người; và Bắc Bộ gồm cả Hà Nội – 17 người. Vậy là nhìn vào đây cũng có thể thấy được vị trí của miền Trung trong thơ.

Tiếp xúc với Thơ mới ta vẫn thấy một ít sắc thái địa phương; nhưng đó không phải là mối quan tâm của người làm thơ. Bởi sự để tâm lớn nhất – đó là khát vọng giãi bày của một cái Tôi cá nhân lần đầu tiên có nhu cầu được khẳng định còn đang bị mắc kẹt nhiều bề trong xã hội phong kiến – thuộc địa. Một nhu cầu giải thoát, và trong các lối thoát khác nhau mà Thơ mới có tư thế một giàn giao hưởng của nhiều giọng điệu, nhiều phong cách thơ, nói theo Hoài Thanh, đó là cái rộng mở của Thế Lữ, cái mơ màng của Lưu Trọng Lư, cái hùng tráng của Huy Thông, cái trong sáng của Nguyễn Nhược Pháp, cái ảo não của Huy Cận, cái quê mùa của Nguyễn Bính, cái kỳ dị của Chế Lan Viên, và cái thiết tha, rạo rực, băn khoăn của Xuân Diệu. Bên sự khác nhau của các giọng điệu thơ còn có một sự phân biệt ở cấp độ rộng hơn – đó là ba dòng: dòng Pháp, dòng Đường, và dòng Việt.

Nói một thời đại thơ, là nói đến những liên kết, những gắn nối của nhiều yếu tố để làm nên một gương mặt chung cho thơ Việt – đó là gương mặt hiện đại của nó.

Cách mạng Tháng Tám là một cuộc đổi đời của dân tộc; từ cuộc đổi đời ấy mà làm nên gương mặt mới cho thơ ca. Một gương mặt mới chuyển động theo ba phương châm: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa; theo mục đích tôn vinh và phục vụ công nông binh. Sự chuyển giọng là yêu cầu chung đặt ra cho tất cả, không trừ ai, kể từ Nguyễn Tuân với yêu cầu một cuộc “lột vỏ” đến Nam Cao trong khao khát một “đôi mắt” mới, và Nguyễn Đình Thi đòi hỏi một sự “nhận đường”. Một bước ngoặt, thậm chí gần như là 180 độ, để cho người viết không chỉ rời bỏ các tháp ngà quen thuộc của cái tôi mà đến với đại chúng, nói lên được tâm trạng, nguyện vọng của đại chúng; một đại chúng trên 95% mù chữ, hoặc còn đang thanh toán nạn mù chữ nhưng lại là lực lượng chủ công của cách mạng, là chủ lực của kháng chiến. Mặt khác, hoàn cảnh kháng chiến trong thế cài răng lược giữa ta và địch; sự xen cài chiến trường và hậu phương; tình thế phân cách thành nhiều vùng miền như Việt Bắc, Khu Ba, Khu Bốn, Khu Năm, Nam Bộ… khiến cho diện mạo thơ phải gắn với đặc điểm của từng vùng mới có thể đến được với các giá trị kịp thời và thiết thực. Tóm lại, đây là thời thơ bám rất sát các đặc trưng của địa phương, trong bối cảnh tự cấp, tự túc khiến cho dấu ấn ngôn ngữ của từng vùng không chỉ là một yêu cầu mà còn là một lợi thế cho nhà thơ đến với đại chúng, thuộc lời đại chúng, nói cùng ngôn ngữ với đại chúng.

Hồng Nguyên với ngôn ngữ xứ Thanh trong Nhớ:

Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni

Dân chúng cầm tay lắc lắc

Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc.

Trần Hữu Thung kể chuyện O Bưởi và làm lời người vợ theo lối vè dặm trong Thăm lúa:

Lúa ngoài đồng đã trổ/ Cam ngoài ngõ đã vàng/

Em nhớ ruộng nhớ vườn/ Không nhớ anh răng được

Lưu Trọng Lư trong O tiếp tế hiểu tâm trạng cô dân công vùng hậu địch: “… sợ chồng chê. Nhưng o vẫn bước. Mình lo việc nước. Chồng chê “mược” chồng”. Và biết bao là cảm thông, là chia sẻ qua biến diễn tâm lý của người vợ bộ đội xa chồng trong Ngò cải đơm hoa: “Bộ đội đã về làng. Súng đạn đã ầm vang. Giặc tháo sau tháo trước. Tay cơi trầu đọi nước. Miệng gọi mẹ gọi thầy. Chớ chi anh về đây. Giữa đoàn quân chiến thắng!”.

Và Hồ Vi – tác giả gần như chỉ có một bài nói về tình quân dân, thế mà lứa tuổi học sinh kháng chiến chúng tôi ở hậu phương Hà Tĩnh, chỉ đọc vài lần là nhớ – cho đến hôm nay:

Mấy bữa ni rồi trời thiếu nắng

Chừng chưa bưa lụt nước còn cao

Khi đêm bộ đội hành quân tới

Trấn thủ dầm phơi chật cả sào.

(…)

Thương anh nỏ có, cầu anh mạnh

Anh nện thằng Tây bể sọ dừa

Thương anh cơ khổ  mà nghèo quá

Thiếu rơm lót ổ lạnh lùng khuya.

Người của quê hương làm lời của quần chúng quê hương – thơ chống Pháp là thơ của nhiều vùng miền, với các sắc thái riêng của địa phương trong ngôn ngữ, cấu tứ, hình ảnh… Đó gần như là một đặc điểm chung, và cũng là một lợi thế đối với một nền thơ đang trên đường đại chúng hóa, lấy cảm hứng từ công nông binh, nhằm vào mục tiêu phục vụ công nông binh. Trên định hướng đó, đã diễn ra, một cách dễ hiểu, sự phủ định triệt để các giá trị của thơ văn tiền chiến; và do đó mà tạo nên một bước ngoặt, nếu không nói là sự cắt rời với lịch sử, để cho con người rũ bỏ hết các ràng buộc, các vướng bận của cái tôi cá nhân – nó là cái tôi nạn nhân, và cũng là cái tôi tội nhân, nói như Hoài Thanh, trong bút ký Dân khí miền Trung, đăng trên Tiên phong số 3-1945: “Đoàn thể đã tái tạo chúng tôi, và trong bầu không khí mới của giang sơn, chúng tôi, những nạn nhân của thời đại chữ “tôi” – hay muốn gọi là tội nhân cũng được, chúng tôi thấy rằng đời sống riêng của cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể”.

Thế nhưng không phải là không có những ngoại lệ. Nhà thơ cách mạng xứ Thanh Trần Mai Ninh sau 1945 hoạt động trên chiến trường Nam Trung Bộ, đã ghi lại được trong những bài thơ tự do của mình hương vị của “cái gió Tuy Hòa/ chuyên cần và phóng túng”, cùng với cái Tình sông núi dành cho tất cả các tên riêng làm nên hình ảnh Tổ quốc “không nơi nào không đẹp không giàu” – như Trà Khúc, Tam Quan, Bồng Sơn, Phù Cát, Bình Định, Phú Phong, An Khê, Nha Trang, Diên Khánh…

Nhà thơ trẻ quê Hà Tĩnh – Chính Hữu sớm trở thành công dân Hà Nội và tham gia Trung đoàn Thủ đô. Chính Hữu không có yêu cầu làm lời đại chúng như Trần Hữu Thung, Hoàng Trung Thông, mà trực tiếp giãi bày trung thực “chí nam nhi”, “chí trai” đầy hào sảng của một thế hệ trẻ khao khát lên đường:

Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa

Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi, đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa…

Và Quang Dũng – chàng trai xứ Đoài cũng gần như trong tư thế và tâm thế ấy, qua Tây tiến:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Chuyển sang thời chống Mỹ, văn học Việt Nam đứng trước sự cách bức giữa hai miền và cuộc đấu tranh ý thức hệ không chỉ ở quy mô quốc gia mà là cả thế giới. Trên miền Bắc từ 1954 đến 1975, và cả nước từ 1975 đến 1990 – trong từ trường và khí hậu hiện thực xã hội chủ nghĩa – văn thơ miền Bắc không chỉ là sự khác biệt mà còn là sự đối lập với văn thơ ở các đô thị miền Nam. Thay vì những sắc thái vùng – miền, bây giờ là sự khác biệt về ý thức hệ giữa một bên là phe xã hội chủ nghĩa và một bên là thế giới tự do. Một nền thơ Việt thống nhất và đa dạng chỉ có thể khởi động khi đất nước chuyển vào công cuộc Đổi mới; và những tiền đề cơ bản cho sự phát triển của nó chỉ có thể xuất hiện vào cuối thế kỷ XX – sau những sự kiện lớn về chính trị và kinh tế diễn ra trong suốt thập niên 90 – cho đến năm 2000 là năm thế giới chính thức bước vào công cuộc Toàn cầu hóa lần thứ ba – mà Việt Nam đã có thể tham gia trong tư thế tích cực và chủ động.

Phải cho đến lúc này thì những vấn đề về  mối quan hệ dân tộc và nhân loại, dân tộc và hiện đại mới có thể đặt ra trong một tương quan song trùng, khiến cho mọi sự phong bế, hoặc khoanh vùng bất cứ trên lĩnh vực nào cũng đều là những cản trở cho ta hướng tới một nền thơ mang đặc trưng chung hiện đại.

Bản sắc vùng – miền là sở hữu tự nhiên của thơ; ngay cả khi thơ văn đã là sản phẩm của quốc gia và quốc tế – nó vẫn tồn tại như một cái gì lắng đọng. Nhưng với nhà thơ hôm nay, trước công chúng hôm nay – công chúng có sự trang bị mọi kỹ năng của công nghệ thông tin – để có thể đưa mình vào thế giới, và đưa cả thế giới về mình, thì câu chuyện vùng miền cần được hiểu và xử lý một cách khác. Nó vẫn là một hiện hữu ngay sau khi đất nước hết chiến tranh; và vẫn tiếp tục là mối bận tâm khi đất nước bước vào hội nhập – để cho hội nhập mà không “hòa tan”. Nếu cả dân tộc cần giữ cho được cái sắc thái riêng, thì mọi vùng – miền vẫn phải có những đường nét, những dấu ấn ổn định để không bị xóa bỏ trong nền kinh tế thị trường và trong một cuộc giao lưu có tầm vóc nhân loại. Nhưng do tầm vóc nhân loại của các mối giao lưu nên việc khẳng định đặc sắc của vùng miền hôm nay lại phải mang theo một sắc thái mới, một yêu cầu mới – không phải là sự khác nhau, mà là sự bổ sung, sự hòa hợp, sự góp sức, sự cộng sinh – để xác định một diện mạo chung cho toàn thể, cho tổng thể – đó là bản sắc Việt, tâm hồn Việt, bản lĩnh Việt, sức sống Việt, tương lai Việt. Dẫu là người viết thuộc dân tộc nào trong 54 dân tộc anh em, thuộc vùng miền nào trên đất nước đa dạng về thổ nhưỡng như ở ta cũng đều phải là sự hướng tới một diện mạo chung, một mục tiêu chung, để – một mặt chủ động ứng đối với cuộc Toàn cầu hóa và kỷ nguyên thông tin đang đưa toàn nhân loại lên cùng một mặt phẳng; và mặt khác, còn là để tránh những đe dọa, hoặc hiểm họa, xa và gần, đối với chủ quyền và lợi ích của quốc gia, của dân tộc.

Hơn lúc nào hết, bản lĩnh Việt, sự gắn bó keo sơn của cộng đồng Việt, sự thống nhất của tất cả mọi khác biệt, phải được hiện hữu rõ nét nhất trong thơ, cũng như trong mọi sinh hoạt tinh thần khác.

Trở lại câu chuyện ta đang bàn về thơ miền Trung và thơ Việt. Bản sắc vùng miền trong thơ Việt là có. Thậm chí còn có ở những độ sâu và tinh vi khiến cho chẳng hạn trong thơ của những người viết xứ Nghệ vẫn có sự khác nhau giữa Nghệ An và Hà Tĩnh. Xét về tiếng nói trữ tình thời trung đại cuối thế kỷ XVIII đầu XIX, thì Nghệ An chỉ có tiếng thơ Hồ Xuân Hương; còn Hà Tĩnh thì có cả một văn phái mà Hoàng Xuân Hãn gọi là văn phái Hồng Lam gồm từ dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu – Can Lộc với đại diện là Nguyễn Huy Tự qua dòng họ Nguyễn Tiên Điền với thiên tài kiệt xuất là Nguyễn Du, cùng nhà Nho rất đặc sắc trong ca trù là Nguyễn Công Trứ ở Nghi Xuân. Cũng tiếng nói trữ tình ấy nối dài sang thời hiện đại, đến với Hoàng Ngọc Phách – tác giả Tố Tâm khai sinh nên văn xuôi lãng mạn, cùng hai kiện tướng Thơ mới là Xuân Diệu và Huy Cận.

Từ nhận thức này lại gợi nghĩ một hiện tượng khác. Cả Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du đều có quan hệ mật thiết với Thăng Long. Cả Hoàng Ngọc Phách và Xuân Diệu, Huy Cận đều chọn Hà Nội làm nơi lập nghiệp. Vậy có mối quan hệ nhân quả gì không giữa quê sinh và quê ở nơi những tên tuổi lớn trên đàn văn, để làm nên gương mặt hiện đại cho văn chương – học thuật dân tộc. Phải chăng, kể từ thời Thơ mới, trong buổi bình minh của thơ hiện đại, bất cứ nơi nào trên cả ba miền Tổ quốc cũng đều có sự tỏa sáng các tài thơ, nhưng rốt cùng, vùng phát sáng lớn, vùng phủ sóng lớn vẫn phải là thủ đô – nơi kết tinh khí thiêng nghìn năm của văn minh Việt, văn hóa Việt, văn học Việt, và thơ Việt.

———————–

(1) Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, sau khi đọc khoảng một vạn bài thơ trong đó có non một vạn bài dở, đã chọn 45 tác giả – với 167 bài, để giới thiệu. Trong mục Nhỏ to đặt ở cuối sách ông có nói đến cái mơ ước nếu mai sau trong số này còn lại được 4, 5 tên tuổi thì ông đã lấy làm mãn nguyện. Sự thực thì số tác giả được người đọc nhớ đến là lớn gấp 4, 5 lần con số đó.

Các bến đỗ của sự sống con người – VHNA

6 Th6

Hamvas Béla

(Trích tiểu luận triết học: Scientia sacra)

1.

Sau những phân tích về các hình ảnh cổ, thật là sai lầm không thể tha thứ nếu vẫn tiếp tục nhầm lẫn những giáo huấn về con người cổ trong truyền thống, với thuyết nhân học.

Truyền thống, trước tiên và trên hết nhìn thấy trong con người hình ảnh cổ của nó, trí tuệ thượng đế của nó. Còn trong từng cá nhân, truyền thống chỉ ra bản chất đã đánh dấu của con người bằng dấu ấn của thượng đế, của các sức mạnh, các Quyền lực của trí tuệ thượng đế, con người đứng ở vị trí giới hạn của sự sống.

Như vậy con người bị gim chặt từ ba góc độ: trước tiên trong bản chất vĩnh cửu của nó là linh hồn bất tử, thứ hai con người như một thể loại, và thứ ba, con người như một tính cách.

Viễn tưởng ấu trĩ về tư duy truyền thống của con người lịch sử, nhất là người châu Âu  đều thể hiện rất rõ ở điều này. Những hình ảnh khác nhau về con người cổ không phải (cái gọi là) những ẩn dụ thi ca, những motip cổ tích hay các kết luận cần phải hiện thực hóa. Tại sao? đơn giản vì: con người ở mức độ cổ xưa có khả năng gọi tên các sự vật một cách chính xác, nhưng khả năng này đã bị vật chất hóa, và từ đó đến nay ngôn ngữ chỉ gọi tên sự vật một cách tượng trưng hoặc chỉ theo nghĩa bóng mà thôi.

Chính vì con người đã đánh mất khả năng đặt tên một cách chính xác và trực tiếp  sự vật sự việc  nên nó đánh mất luôn cả khả năng sáng tạo ngôn ngữ, và đánh mất cả khả năng vâng theo ngôn ngữ của các sức mạnh và các Quyền lực thế giới. Và như vậy  ngôn ngữ người chỉ trở thành sự tượng trưng.

Lấy một ví dụ: quan niệm của người hiện đại về từ tái sinh. Đây là một hiểu lầm lớn nhất của con người hiện đại với thời cổ. Hình ảnh tái sinh của linh hồn không có nghĩa là linh hồn cá nhân- mà Veda gọi là dzsivatma-được sinh ra, chết đi, rồi sống lại, từ đời sống ở trái đất bay vào đời sống của thế giới bên kia, rồi từ thế giới bên kia quay lại với đời sống trái đất, quay tròn, luân hồi và vật vờ.

Chỉ  lối tư duy chứa đựng rất nhiều thuật ngữ máy móc và vì thế mù lòa mới có thể phát biểu như vậy.Tái sinh không phải là một hình ảnh cổ liên quan đến cái cá nhân của con người mà liên quan đến con người vĩnh cửu. Ý nghĩa của nó không phải là dzsivatma -cái TÔI bé nhỏ của con người hôm nay chết đi, ngày mai sẽ được sinh ra lần nữa ở một miền đất nào đấy trên quả đất và trong hình hài khác, mà ý nghĩa của nó là con người cổ rơi từ tạo hóa tinh thần xuống thế gian vật chất, và từ vật chất này thức tỉnh như một nhân loại, và từ sự đông đảo chia thành các cá nhân,  từ sự đông đảo này từng cái TÔI là một bến đỗ của con người cổ, từng”sự tái sinh”-luân hồi của con người cổ. Không có sự mất đi và tái sinh một cách tự động.

Sự tái sinh của từng cá nhân chưa bao giờ, chưa có bất kỳ cái gì nhắc đến, từ thời cổ, hay ở phương Đông, hay kinh Veda, đạo Phật, siêu hình học Ai cập, Pitago, Platon cũng chưa bao giờ nói đến. Luân hồi, sự tái sinh là hình ảnh cổ sâu đậm vĩ đại nhất của số phận con người vĩnh cửu,  hình ảnh luân hồi số phận của cái TÔI cá nhân  lồng bóng số phận con người vĩnh cửu, và được hiểu như một sinh linh tái sinh trong mối quan hệ của nhân loại siêu việt.

Linh hồn tái sinh cùng dấu ấn của thượng đế như một hình hài tiêu biểu, linh hồn tái sinh với tính cách như một trường hợp giới hạn cực đoan ra đời, như một khuôn mặt, như một sinh linh cá nhân hóa.

Nếu hình ảnh con người trong truyền thống  có ý nghĩa lớn như vậy, thì sự tái sinh, chỉ có thể hiểu đã tồn tại, và giải thích được trong tinh thần siêu hình của thời cổ. Sự diễn giải này nhất thiết phải dựa trên nền tảng của trạng thái cổ.

Trong trạng thái cổ con người là Adam Kadmon: con người Rực Rỡ.  Adam có nghĩa là kẻ thống trị. Con người cổ trước hết là chúa tể thiên nhiên, nhận được sức mạnh của lời từ Tạo Hóa, bằng ngọn lửa, bằng logo: là kẻ thống trị toàn bộ các sinh linh và các thế gian bằng tình thương yêu của trời. Các nguyên tử, loài động vật, các Quyền lực đều cúi đầu ngoan ngoãn trước con người.

Các luân hồi của hình ảnh cổ Adam Kadmon là các vị vua lớn, các nhà lập pháp các nhà thông thái của nhân loại. Đấy là „loại người bí ẩn” mà truyền thống hay nhắc đến: Manu, Menes, Minos, hay  như tri thức Hindu, Ai cập, Hy lạp, Eheatl, Mexico, Kecalkoatl, Toltek Manko  Kapa, Peru nhắc đến.

Đây là con người” không khí”, đúng hơn là thực thể tinh thần thuần túy, là nhà vua rạng rỡ, kẻ phân chia các quốc gia, như truyền thống Toltek đã viết, kẻ trao cho các dân tộc ngôn ngữ, dân ca, quần áo, thức ăn thức uống và phân chia họ, như ngày nay người ta nói: đánh thức ý thức của họ.

Đấy là kẻ cai trị theo trật tự của Melkizedek, là nhà vua của sự chính trực, của hòa bình, của tình thương. Đấy là con người cổ mà Đạo Đức Kinh nhắc đến, là Quân Tử của Khổng tử; là kẻ duy trì sự thật (aletheia) như Platon đã dạy, và bởi vậy đấy là cái đầu của dân chúng, của Politheia.

Đặc tính của con người này vượt trên cả giống loài, quốc gia, tôn giáo, thời đại: đấy là tinh thần vũ trụ. Tinh thần vũ trụ chỉ có nghĩa như sau: không phải là ý thức của cái TÔI vật chất, mà là ý thức thượng đế-ý thức tinh thần cổ. Con người sống, tư duy, hành động, giao tiếp, cai trị trong đặc tính này không phải là một khuôn mặt cái TÔI, một loài, một tính cách, một dấu ấn, mà là linh hồn thượng đế siêu việt, là tri thức thượng đế.

Đây là „Những đứa con của Thượng đế”- những đứa con của đấng Brahma-những đứa con của Toth- đây là” Bảy nhà thông thái”, là „Bảy risi”, là những kẻ truyền nguồn sống  Thượng đế-thiên nhiên cổ xuống sự sống thế gian vật chất mặt đất.

Có những truyền thống khác gọi những người này là Thần Hộ Mệnh, Thần Canh Gác hoặc Kẻ Thức: egregoroi, phülakesz, pneumaton. Ở Mexico người ta gọi: tlapian-giống như phülax, Thần Hộ Mệnh.

Tác động của những con người này là vô bờ bến, như truyền thống đã nói. Tại sao? Bởi vì đây là con người tồn tại trực tiếp từ tinh thần tỉnh táo của thượng đế, và như sách thánh Iran từng viết: „Thượng đế trao quyền lực vô biên cho tình thương yêu”. Trật tự Melkizedek mang quyền lực vô biên vì đó là vua của tình thương yêu và hòa bình.  Đấy là sự hiện hữu của sinh linh được Thượng đế tạo ra trong ngày thứ sáu, Adam Kadmon, kẻ cai trị.

Con người hiện đại chỉ có thể trải nghiệm bất ngờ ngắn ngủi trạng thái cổ lóe lên trong chốc lát, khi sự nhận thức và tình yêu thương  hòa tan vào làm một. Trong trạng thái cổ này  giáo huấn của Pitago là sự nhập định; từ một vài câu nói của Empedokles hiện thực được sắp xếp đâu vào đấy; Thiên thần triết học của Platon chỉ là một hình hài nhợt nhạt hơn; nhưng Platon là một kẻ nhập định hoàn hảo.

Muộn hơn, trong thời Alexandria người ta biểu trưng sự thống nhất của nhận thức và tình yêu thương bằng logo – trái tim lửa cháy. Trong thời kỳ gần đây nhất, kẻ nhập định vào trạng thái cổ là Ramakrisna. Đây là trạng thái khi sự ấm áp của tình yêu thương làm lóe sáng nhận thức, và khi ánh sáng của tư tưởng soi rọi tình yêu thương.

Sự hợp nhất của trái tim bốc lửa, nhận thức và tình yêu thương không thiên vị rạng rỡ trong ánh sáng tri thức của tinh thần: đây là sự hợp nhất của tri thức và xúc cảm, khối óc và trái tim, tư tưởng và tình cảm. Con người cổ không nhầm lẫn bằng trái tim, nhưng bằng tri thức cũng không. Con người cổ duy trì thế gian làm một bằng tình yêu thương và tri thức. Điều này có nghĩa là, con người đầu tiên chính là trí tuệ thượng đế.

2.

Bến đỗ thứ hai: Sự phạm tội.

Sự phạm tội xảy ra khi con người rơi xuống vương quốc của cái chết. Nó đánh mất sự tỉnh táo của nó; nó đui mù, câm lặng, ánh sáng của nó tắt, mối quan hệ với đặc tính tinh thần bị đứt đoạn. Nó chìm vào vật chất và ở đó trong sự vô thức hoàn toàn về bản thân và về thế gian, nó hóa đá, hóa băng trong tối tăm.

Trạng thái này không  mang tính tượng trưng  của sự mê muội, mê mẩn. Theo truyền thống  hình ảnh cổ của sự phạm tội là cấp độ trước khi bị tiêu hủy hoàn toàn, là cấp độ trước cấp độ cuối cùng. Nếu rơi thấp xuống sâu thêm một độ nữa: sẽ tan ra, và biến thành cát bụi. Con người phạm tội, khi biến thành vật chất, nó lao xuống ngưỡng cửa của sự tiêu hủy hoàn toàn, và đứng chết cứng ở đây.

Không có gì để nói về bến đỗ này. Đây là một bóng râm nhỏ bé duy nhất cách sự hủy diệt hoàn toàn; đây là bực thang trước bực thang cuối cùng. Đây là bến đỗ trước ngưỡng giới hạn của phi-sự sống: vô thức, tối tăm, vô nghĩa, không tình thương yêu, bất nhẫn, không hình hài, phi trí tuệ, không bản chất, phi tư tưởng.

Cái tội mà con người cổ đã phạm, ngày nay ta không hiểu nổi. Baader cho rằng ta không hiểu nổi vì ta không thể phạm được nữa. Truyền thống Ai cập và Do thái gìn giữ kỷ niệm về sự phạm tội này bằng nghi thức cắt bao quy đầu. Như thế nghĩa là gì, không ai giải thích được.

Một phần của Tử thư Ai cập dường như nhắc đến điều này từ xa: nhìn tội lỗi cổ của linh hồn, là nhìn bản thân mình từ bên ngoài, và bằng cử chỉ này lật nhận thức-tình yêu thương tạo hóa ra bên ngoài:  quay ra bên ngoài là quay ra ngoại vi thay cho việc quay về trung tâm- thay việc quay về với Thượng đế là quay lại bản thân mình.

3.

Bến đỗ thứ ba: Sự tỉnh táo

Sự tỉnh táo là cấp bậc mà ( cái gọi là) thời kỳ lịch sử duy trì sự xuất hiện của con người. Khi con người rơi xuống biên giới của không-sự sống, trước khi bị tiêu hủy nó đứng lại, và con người đứng trân trân này bỗng ngoan ngoãn nghe theo lời kêu gọi từ sự quên lãng của đất, từ vương quốc của sự tăm tối và của thần chết và tỉnh giấc.

Kẻ tỉnh dậy đầu tiên là Adam sau đó đến Êva, và từ đó đến nay lần lượt tất cả chúng ta thức dậy. Chúng ta đã từng đóng vai chủ tạo hóa, giờ đây chúng ta được mời đến như khách trong cuộc sống trần tục.

Khi rơi xuống con người đã đánh mất sự nhận thức cổ và lòng yêu thương,  giờ đây  sinh ra từ đất, con người cần lấy lại cả hai thứ này, được bao nhiêu tùy sự có thể của nó. Trong hình hài này con người mang dấu đã ấn định của các Quyền lực (tüposz), mang tính cách cá nhân hóa (cái TÔI). Nó bị xác định trong không –thời gian, và sống một đời sống có hạn.

Loại, tính cách, không gian và thời gian không chỉ là sự hạn chế: đó còn là những khả năng và những điều kiện dành cho con người để nó quay trở lại. Trong loài ẩn giấu những sức mạnh mà con người có thể sử dụng; cái TÔI là thứ công cụ để linh hồn diễn đạt các sức mạnh; không gian là vị trí để nó sống và dành cho các hoạt động của nó; còn thời gian là thứ ân huệ lớn nhất : nếu con người ngay lập tức một lần quyết định và không bao giờ rút lại, nó sẽ rơi xuống vật chất một cách yếu ớt; thời gian là sự kéo dài khả năng tiến tới thức tỉnh- bởi linh hồn thức tỉnh cần thời gian.

Trong sự sống trần thế con người sống giữa các điều kiện bị phá hỏng bởi các Quyền lực. Nhưng như truyền thống Hermetikus hoặc thuật giả kim đã nói: không phải các sinh linh mà là bản chất của sự sống, hay dùng từ khác: các ý tưởng ban đầu của sự sống đã bị phá vỡ.

Quá trình cá nhân hóa, sự hư hỏng của cái TÔI cá nhân là hình ảnh của sự sống bị phá hỏng. Linh hồn sống trong thế gian vật chất, rất hãn hữu hoặc có nhớ lại cũng khá mơ hồ trạng thái trong sạch cổ. Cái ngự trị linh hồn là sự đờ đẫn vì vật chất. Nếu linh hồn nhớ lại, dù rất ít, trạng thái sáng sủa của nó nó sẽ nhận ra rằng sự thức tỉnh từ cái chết không hề tự nhiên, mà theo đúng nghĩa của từ ngữ,  đấy là khoảnh khắc trái tự nhiên, siêu nhiên. Và khi linh hồn ngày càng thức tỉnh hơn nó sẽ dần dần nhận rõ hơn, sự tái sinh từ thế gian vật chất thực ra là sự sống lại, sự phục sinh.

Huyền thoại ghi nhận biến cố này khi cho rằng NGÀI đã tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Ở Palestin đấy là Jahve, ở Peru là Virakocsa tạo ra ánh sáng, trong thứ ánh sáng này con người hóa đá, tê liệt, biến thành đất một lần nữa có thể thức tỉnh. Thượng đế từ cát bụi sinh ra và hà hơi thở cho nó lần nữa.

Trong thời Alexandria người ta gọi sự ra đời tất nhiên là geneszis còn sự thức tỉnh có tên là ta geneszia. Bởi bản thân sự ra đời tất nhiên không mang ý nghĩa gì, nếu không cùng lúc là sự thức tỉnh của linh hồn.

Trong trạng thái thức tỉnh sau chấn động dữ dội, linh hồn một lần nữa mở ra. Nơi nó tìm thấy nó, giờ đây không phải là sự sống nữa mà chỉ là đời sống. Truyền thống không diễn đạt được trạng thái đời sống bằng một từ duy nhất vì cả trạng thái cổ cũng không biết. Khả năng đặt tên chính xác dành cho con người đã bị mất; cái còn lại chỉ là sự đặt tên mang ý nghĩa tượng trưng; nhưng những hình ảnh tượng trưng của thời cổ cũng bị mất, bởi vậy con người thời kỳ lịch sử gần như sống với những khái niệm câm và mù lòa.

Có thể đánh dấu trạng thái cổ của sự sống bằng các khái niệm như: sự thống nhất của kiến thức và tình yêu thương: là hình ảnh trái tim bốc lửa. Nhưng thời điểm thức tỉnh là lúc đã không còn sự sống, chỉ còn đời sống.

Và trạng thái đời sống này một lần nữa chỉ có thể diễn đạt một cách thiết thực, hai chiều bằng hai từ: sự sợ hãi và sự đau khổ. Thống nhất hai từ này là một sự bất lực. Tại sao? Bởi vì nơi hai từ này gặp gỡ nhau nằm xa khung diễn giải của ngôn ngữ ngày nay, bởi vì sự diễn giải muốn đời sống dính mắc trong cội rễ của nó, nhưng trong trạng thái của đời sống, ngôn ngữ đã không bao giờ có thể gắn bó trong cội rễ của nó được nữa.

Giáo huấn Sankhja bắt đầu bằng câu: đời sống là đau khổ. Đạo Phật cũng nói đúng như thế. Nhưng bằng sự đau khổ cả Sankhja lẫn đạo Phật đều muốn nói lên sự hợp nhất của sợ hãi và đau khổ, và từ đau khổ thường xuyên được sử dụng.

Một đối thoại của Hermes Trismegistos, khi nói về trạng thái cổ và thời kỳ sa ngã của con người có nói: sự run sợ –phobosz đã tóm lấy Tạo Hóa. Sự sợ hãi này là một trạng thái ban đầu cổ xưa đến mức từ đây theo nhiều nghi chép Ấn cổ Atman sở dĩ tạo ra thế giới bởi vì” sợ một mình”.

Böhme, người mà trực giác huyền bí khó có thể lầm trong lời giải thích viết cho Genezis đã viết về hai bản năng của Tạo Hóa. hai bản năng đó là:” Y chí cứng như đá” và „Niềm vui tự do”. Hai bản năng này, Böhme nói thổi bùng lên đam mê hướng về nhau, và trong khoảnh khắc, khi cả hai chạm vào nhau” Sự run rẩy nổ toang”(Schrack) như khi chớp giật.

Trong sự khủng khiếp này ngọn lửa đầu tiên nhóm lên. Bởi ý chí cứng như đá không là gì khác ngoàibóng tối và sự đông cứng, giờ đây từ ánh sáng và từ sự mềm mại bao bọc của niềm vui tự do, nó run lên. Trong ý chí cứng như đá, khi trong chính bản thân nó tự bóp ngạt tính ích kỷ lạnh lùng đóng băng và khóa trái bản thân nó lại,  ghê sợ của cái chết nhen nhúm. Bởi bản chất của bóng tối là sự ghê sợ; Như vậy nó tự kìm hãm nó vào bản thân nó, như nỗi losợ ánh sáng, như kẻ thù của ánh sáng. Và đây là trạng thái cổ của thế giới tối tăm, đây là bản thân thế giới tối tăm.”

Nỗi sợ hãi, phobosz,Schreck mà szmti của Ấn độ, hay Hermes và Böhme nhắc đến là nỗi sợ hãi từ sự đau khổ; Sự đau khổ mà Phật và Sankhja nói đến là sự đau khổ bởi sợ hãi. Cả hai là một, sợ hãi là đau khổ và đau khổ là sợ hãi.Mọi sự sống trần thế đều đau khổ; nhưng mọi sự sống trần thế đều là sự sợ hãi.

Đây là trạng thái của đời sống.  Con người run rẩy và đau đớn, rùng mình, lo âu trong trạng thái thức tỉnh từ bóng tối đi ra, trong những tia nắng đầu tiên của sự sáng sủa.

” Sự sợ hãi- Böhme nói -là một dạng của sự nhậy cảm, là kẻ đánh thức tâm trạng, là một cái gì đó thôi thúc cảm giác hoạt động.”

Sự sợ hãi và sự đau khổ thực ra là một dấu hiệu mơ hồ đầu tiên của sự tỉnh táo. Đau khổ và sợ hãi xuất hiện để con người đừng rơi vào sự tăm tối,cái chết và sự quên lãng một lần nữa: tất cả mọi người cần phải đau khổ và sợ, để thức tỉnh.

Đây là trạng thái thức tỉnh. Linh hồn đóng băng, tăm tối, biến thành màn đêm, biến thành đá trong sự sợ hãi và trong đau khổ trưởng thành và vỡ tan, để sự sống một lần nữa mở ra.

Sợ hãi và đau khổ mang hai ý nghĩa và có hai mặt; bởi vậy nó cũng có thể khóa lại cũng như có thể mở ra: nó có thể mang lại tự do cũng như mang đến một ngục tù tăm tối. Trong sự thức tỉnh linh hồn có thể thành vật thí nghiệm cho hai hướng: ánh sáng- sự quay lại trạng thái cổ, hoặc bóng tối-sự rơi xuống vật chất.

Nhưng trong thế giới nó đang sống, hoàn cảnh của nó dễ hơn: ánh sáng và bóng tối đứng riêng, âm và dương, như người Trung quốc hay nói đêm và ngày, mùa đông và mùa hè, sự tỉnh táo và sự đờ đẫn.

Sự sợ hãi và đau khổ khiến linh hồn con người từ những nhậy cảm cơ bản biết quyết định và tham dự. Con người không hiểu nỗi sợ hãi và sự đau khổ. Người ta tránh nó, mà không nhận ra rằng khi lẩn tránh thực ra họ tự khóa họ vào nỗi sợ hãi và sự tối tăm. Người nào sợ hãi và đau khổ, người đó cùng lúc gọi luôn cả sự minh bạch của trạng thái cổ và vương quốc tối tăm của sự quên lãng. Người nào bảo tồn sự nhậy cảm về nỗi sợ hãi và sự đau khổ trong bản thân, người đó đang đi về phía ánh sáng; người nào khóa nó lại trong bản thân, người đó cho phép lời mời chào của vật chất và bị khóa vào tăm tối. Cần phải sợ hãi và đau khổ: bằng sợ hãi và đau khổ con người gánh vác số phận của linh hồn và nhận lời mời gọi tiến lên phía trước.

Những hậu quả tâm lý của nỗi sợ hãi và sự đau khổ là vô tận: sự sợ hãi và sự đau khổ quyết định toàn bộ đời sống của con người sống trong thiên nhiên vật chất. Mọi biểu hiện của sự trốn tránh, cởi mở, chân thành, dối trá, sự đảm bảo, sự quyết định, sự dũng cảm hay hèn nhát đều từ sự sợ hãi và sự đau khổ mà ra, và không bao thắng được nó hoàn toàn.

4

Bến đỗ thứ tư: Sự lặp lại

Có thể nhận biết ra sự lặp lại ở những biểu hiện bên ngoài của con người hiện đại. Người ta đều biết thực thể người trong tử cung của người mẹ phải trải qua những biến thái bí ẩn,và họ hiểu được ý nghĩa của những điều bí ẩn này: con người cá nhân lặp lại con đường giống nòi của nhân loại.

Người ta gọi sự lặp lại này là sự phát triển, như thể con người đang đi trên con đường hoàn thiện, và ngày càng  hoàn thiện.

Tất nhiên không có sự phát triển nào ở đây cả.

Con người trải qua từng mức độ của sự thức tỉnh, và khi được sinh ra, nó không trở nên độc lập và chỉ tiếp tục sự lặp lại. Khi nó lặp lại không có nghĩa là đời sống của lượng đông đảo vĩ đại của nhân loại thêm một mức độ, một cấp bậc mới, thực ra sự lặp lại không là gì khác ngoài sự nhắc lại của những cấp độ trước của con người một lần nữa.

Nhưng sự lặp lại này không chỉ ở bên ngoài. Từ nền tảng một vài nhận thức mới của tâm lý học hiện đại, con người ngày nay bắt đầu hiểu, sự lặp lại các mức độ đời sống trước nó không chỉ trong hình dạng sinh học, mà sự bí ẩn của quá trình biến thái là một quá trình bên trong.

Con người trong tử cung trải qua những bến đỗ mơ hồ của đời sống như trong giấc mộng- qua những cơ cấu động vật học của sự sống, như hình ảnh tượng trưng của sự luân hồi. Khi con người sinh ra, đấy là khoảnh khắc của sự thức tỉnh: khi linh hồn con người ngoan ngoãn nghe theo tiếng gọi bước ra ánh sáng mặt trời.

Đấy là sự tạo dựng Adam. Khi con người được sinh ra,  sự sáng sủa tách ra khỏi bóng tối. Và con người tiếp tục lặp lại. Trong thời thơ ấu nó nhắc lại những cử động, thói quen, ngành nghề của các thế hệ cổ xưa; bé trai chơi trò đánh trận, làm ông bố trong gia đình, đóng vai tướng cướp, thủ lĩnh; bé gái giả nấu ăn, chơi búp bê, khâu vá, đẩy xe nôi.

Trò chơi không phải sự chuẩn bị cho những vai trò xã hội quan trọng như người ta nghĩ; linh hồn lặp đi lặp lại một cách vô thức những hoạt động đã hằn sâu trong linh hồn. Thực thể người cá nhân sao chép lại những hoạt động của con người vĩnh cửu trên  đường đi của con người vĩnh cửu.

Và loài người, rất hãn hữu, có thể nói trừ một vài ngoại lệ, không bao giờ biến thành chủ thể, không bao giờ bước ra khỏi sự lặp lại, không bao giờ làm gì khác ngoài việc lặp lại một lần nữa những lý tưởng, tư tưởng, cảm xúc, hành vi, quan điểm của những thế hệ đã sống trước nó.

Những quá trình thức tỉnh có hiệu quả trong thời cổ luôn được diễn ra để đánh thức con người và nâng họ lên sự sống chủ động. Đấy là những quá trình nhập định. Với nhân loại loài người chưa xảy ra quá trình này.

Nhân loại từ sau khi thời cổ biến mất đứng dẫm chân tại một chỗ: không làm gì hết ngoài việc nhắc lại, lặp lại. Nhắc lại, lặp lại những bến đỗ dân tộc, loài giống, giới tính, quốc gia, ngôn ngữ, tư tưởng: chưa bao giờ nghĩ ra điều gì khác, xúc cảm khác, phát ngôn khác ngoài những điều cả trăm nghìn thế hệ trước đã phát ngôn, cảm xúc, suy nghĩ.

Chưa bao giờ linh hồn cá thể tuyên ngôn một lần duy nhất, đạt đến một lần duy nhất một nhiệm vụ, một quá trình cá nhân hóa, một sự sao chép bản sao Thượng đế vượt quá sự lặp lại, trước khi một lần nữa bước qua ngưỡng của của cái chết. Nhiều người không đạt tới hết các mức độ của nhân loại vũ trụ- không lặp lại nổi toàn bộ con đường, không sống hết toàn bộ các biến thái của con người.

Kinh Thánh đã nói rất rõ về điều này: về con người được giao cho nhiệm vụ cất giữ  và bảo vệ tiền – đấy là con người cả cuộc đời không làm gì khác ngoài việc lặp lại những gì loài người đã nhận được.; đấy là con người đã biết nhân đôi số tiền được trao giữ- là con người bằng sự sống đặc thù của nhân loại đã làm giàu có, mở rộng, soi sáng và nâng cao cái chủ thể vĩnh cửu trong hành động hoặc trong tác phẩm.

„ Con người- Baader nói- cần trở thành hình ảnh đích thực của Thượng đế, như hình ảnh tượng trưng của Thượng đế tự nhiên. Trong mọi sự vật, sự việc, cá nhân, thực thể cần phải lặp lại, nhắc lại cho đến khi điều này con người vĩnh cữu thực hiện được trong bản thân mình.”

Con người không thức tỉnh để trở thành sự lặp lại của sự sống vũ trụ, mà để hiện thực hóa Con Người Trời cổ trong một dáng hình nào đó.

Sau khi thức tỉnh có hai con đường mở ra trước mặt con người: lang thang vật vờ và thức tỉnh. Lang thang vật vờ vô hướng; sự đờ đẫn mê muội từ mơ hồ quên lãng chứa bên trong nó một sức mạnh không biết gì hơn ngoài việc lặp đi lặp lại như một thực hành những âm điệu đã xảy ra trước sự sống.

Trạng thái lang thang vật vờ là trạng thái vô luật. Là sự nhầm lẫn vật vờ. Kinh Veda gọi là luân hồi (szamszara). Con người sống trong sự đờ đẫn vật vờ: nó lang thang trong sự rối loạn vô nghĩa, nửa tỉnh nửa mê, bám víu,yếu ớt, mù quáng, không biết gì hơn chỉ lặp lại những mức độ đã sống qua hàng trăm nghìn lần của sự sống-

Còn thức tỉnh là con đường thứ hai, con đường tỉnh giấc. Đây là con đường của ánh sáng, là trạng thái đúng luật. Đây là vidja.

Con người tỉnh táo biết rằng, nó cần phải trải qua toàn bộ quá trình biến thái, tự nó. Cần tự trải qua nỗi sợ hãi và sự đau khổ, để tự giải phóng nó và sau rốt tự nó cất lời. Khi nó hoàn thành hàng hàng loạt sự lặp lại, nó bước ra khỏi luân hồi. Nó vẫn còn trên quả đất, vẫn là con người, nhưng không phải là kẻ vật vờ nữa, mà là một người hành hương, người đang bước trên con đường đi về phía Người Trời.

5

Bến đỗ thứ năm: Bóng tối bên ngoài.

Saint-Martin nói:” Nói đúng ra thế giới bên kia không bao giờ rời khỏi”.

Mối quan hệ với Người Trời ở mỗi người chưa bao giờ đứt đoạn hoàn toàn. Tất cả các bến đỗ của con người đều trên con đường của Con người Vĩnh cửu, nhiệm vụ không thể nói bằng lời, hay trong hình ảnh. Số phận của tất cả mọi người đều đi đến sự lặp lại và đều đồng nhất: không ngoại lệ, tất cả mọi người đều trải qua trạng thái cổ, đều sống qua sự lao xuống và đều thức tỉnh, đều cần phải nhắc lại con đường của Con người Vĩnh cửu.

Nhưng giờ đây con đường chia đôi. Trong trường học của Pitago truyền thuyết Heracles được biểu tượng bằng chữ Y. Phần dưới của chữ Y là con đường chung, dành cho tất cả mọi người đều giống nhau. Nhưng điểm giữa nơi chữ Y chia làm hai ngả, Heracles là con đường đã lựa chọn.

Cần lựa chọn giữa sự vật vờ lang thang và sự thức tỉnh. Giữa con đường” hẹp” và con đường”rộng”. Con đường”hẹp” tự gỡ từ nó những lớp chăn phủ maja, tính sổ với các giác quan, với manas, với cái TÔI, với buddhi, và quay về với Atman.

Con đường”rộng” đi về phía khác: chìm vào các giác quan, vào cái TÔI, các đam mê, các hình ảnh giấc mộng, các ảo ảnh. Đấy là sự chìm đắm vào bóng tối bên ngoài: sự lầm lẫn sau cùng, sự đờ đẫn sau cùng, dưới bản án không thể chuộc lại của bản thân họ. Bởi vậy sách thiêng đã nói, kẻ nào bị dẫn dắt đến sự tăm tối bên ngoài, sẽ hối cải tại đáy địa ngục: không bao giờ quay lại nơi sinh ra của linh hồn, quay lại ánh sáng.

Ở đây cần lưu ý đến một sự nhầm lẫn cơ bản của con người hiện đại. Sự nhầm lẫn này là bên trong của viparjaja; Viparjaja có nghĩa là sự lộn ngược ý nghĩa gốc gác của quan điểm.

Con người lịch sử lộn ngược ý nghĩa gốc rễ của quan điểm khi cho rằng thị giác đầu tiên và tất nhiên có hướng”quay ra ngoài”, chỉ dưới tác động của các hạn chế bên ngoài con người mới bắt đầu quay vào trong.

Đánh tan sự nhầm lẫn này không đơn giản.

Thực ra điểm bắt đầu là sự tách rời thế giới bên ngoài và bên trong không là gì khác ngoài kết cấu gương thô thiển nhất. Cái giới hạn cực đoan của sự mù lòa nhận thức của con người xảy ra khi kiến thức về thế giới”bên trong” hoàn toàn bị đánh mất, và chỉ có khả năng coi nó là đối kháng „bên ngoài” Trong thực tế bên trong và bên ngoài ở ý nghĩa đó không tồn tại.

Con người lịch sử từ phương pháp thực hành muốn đặt tên cái thế giới giác quan và vô hình với niềm tin rằng cái thế giới tinh thần- linh hồn vô hình này nằm bên trong con người, như một bộ phận hoặc một tế bào, và là đối kháng của thế giới hữu hình.

Truyền thống khi gợi lên sự phân biệt này, trong mọi trường hợp là hình ảnh tượng trưng, cần phải hiểu trong thế giới” bên trong” là cảnh giới của người trời, của sự hướng về cái TÔI thượng đế( Atman), là thế giới siêu nhiên vượt trên cả giác quan và thiên nhiên- còn thế giới „bên ngoài” là thế giới vật chất nặng nề thô thiển nằm trái ngược với Atman.

Từ sự phân biệt này của truyền thống tất nhiên điều tiếp theo là thế giới linh hồn-tinh thần không chỉ là đầu tiên, trước nhất, cơ bản mà còn là thế giới của ánh sáng, của thượng đế, của cái TÔI thượng đế của tạo hóa cổ.

Và từ đó tất nhiên điều tiếp theo là quan điểm và thấu giác cơ bản đầu tiên của con người hướng „vào trong” và ở”bên trong”. Việc quay ra bên ngoài trùng với sự”phạm tội”, với quá trình vật chất hóa, quá trình rớt từ thế giới tinh thần.

Quay ra ngoài, con người rất muộn mằn mới bắt đầu nhận ra, và nhận thức này bắt đầu xuất hiện trong sự tiếp nối của ức chế tai hại ngăn cản nhận thức quay „vào trong”. Khi linh hồn con người bắt đầu nhìn ra ngoài, thực ra lúc đó nó nhìn ngược với hướng của tinh thần: nó quay về phía tự nhiên vật chất, về thế giới thô thiển và nặng nề- về phía tối tăm.

Đến đây cần nhắc lại, không chỉ là vấn đề nhận thức.

Cần hiểu từ nhận thức đầu tiên, nhận thức cổ truyền thống muốn nói đến trạng thái cổ, sự yên bình êm ả, đến thiên đường, đến sự thống nhất giữa tình thương và sự hiểu biết, đến Adam Kadmon, chúa tể chói lòa của thế giới.

Khi con người quay ra ngoài, bản chất này của nó là kết quả của sự tăm tối hóa; Sự lu mờ, mơ hồ bên trong xuất hiện trong quá trình quay ra ngoài: linh hồn đánh mất ánh sáng của chính nó, trở nên tăm tối, và sự sờ soạng trong bóng tối này được đặt tên là nhận thức” bên ngoài”.

Quay ra ngoài không là gì khác ngoài việc mất ánh sáng bên trong; mất ánh sáng bên trong không là gì khác ngoài việc tách xa Người Trời.

”Nhận thức của con người thiếu ánh sáng thượng đế không thấy gì khác ngoài những sự vật của thế giới bên ngoài, và nó càng tách biệt với sự cao cả bao nhiêu nhận thức và thấu giác của nó quay về bản thân càng bị khóa lại bấy nhiêu.”

Bởi vậy”cái bên ngoài” không phải là linh hồn, là thiên nhiên, là vật chất, là hiện thực, mà cái bên ngoài chính là: bóng tối.

Ở Tây Tạng người ta gọi biên giới giữa ánh sáng bên ngoài và bên trong là csösznjid-maba. Ánh sáng bên ngoài không là gì khác ngoài là hình ảnh tượng trưng bên trong. Nếu mối quan hệ của con người đứt đoạn với thế giới bên trong, thế giới bên ngoài của nó rơi vào tăm tối. Mối quan hệ này mất đi nếu con người cắt đứt với ánh sáng thượng đế và dẫn dắt con đường của mình đi ra bên ngoài.

Dấu hiệu của điều này là kỷ niệm cội rễ của thượng đế trong nó đã tắt. Cái TÔI chiếm lĩnh sự thống trị nó. Đây là sự lặp lại của tội tổ tông. Đây là sự kiêu ngạo. „ Kẻ nào kiêu ngạo kẻ đó để Quyền lực cắt đứt con người khỏi gốc rễ của nó”. Và khi con người cắt đứt chính nó, nó yếu ớt rơi rụng.

Cái tên Aton ở Ai cập nghĩa là: Mặt trời Bên Trong. Cái tên Szét nghĩa là: bóng tối bên ngoài. Ý nghĩa của truyền thuyết Oziris: kẻ nào quay ra phía ngoài kẻ đó bị bóng tối giết chết.

Những người theo trường phái Hermetikus hiểu biết về những đêm nhỏ và lớn. Đêm nhỏ là nơi từ đó con người sinh ra, nhỏ bởi nó mang khả năng bước ra: được sinh ra. Còn đêm lớn là nơi đời sống của nó sẽ rơi vào sau cái chết của một linh hồn sống vô nghĩa.

Đây là bóng tối bên ngoài, khi đứt đoạn với cái bên trong, nghĩa là đứt đoạn với thế giới bên kia, với trạng thái cổ. Linh hồn cũng biến thành cái bên ngoài: thành đồ vật, sự vật và trở thành kẻ như những người theo phái Scientifista nói: thành phản xạ, thành bộ máy. Thành bóng ma.

” Một dạng của nhận thức, không bước qua khỏi những giác quan động vật, một sự sống người bị cách mạng hóa: tuột dốc…Loại người này là sự tha hóa trầm trọng nhất của tri thức.” Con người hoàn toàn sống trong „những hình ảnh của sự tối tăm riêng biệt của nó”. Không bao giờ còn mang tính thượng đế nữa, chỉ là cái TÔI hung tợn.

Ở Iran Ahriman là vương quốc của sự tối tăm tạo dựng thế giới Mâu thuẫn tối tăm đối nghịch với thế giới ánh sáng. Cư dân ở thế giới này là Drug- drug có nghĩa là” người khác” một kẻ” không phải kẻ đó”.

Sự tối tăm không là gì khác ngoài” Sự vô công rồi nghề vũ lực”- luôn luôn nỗ lực để những hoạt động của con người chết cứng lại giữa những hạn chế không được giải tỏa.

Sự tăm tối bên ngoài là vị trí cuối cùng của con đường của con người. Khi” nhận thức tăm tối cho rằng thế giới bên ngoài là hiện thực duy nhất.” và nó sống trong sự tăm tối bên ngoài.

Vị trí của con người lịch sử đang ở tận cùng, bởi nó khiến sự tăm tối bên ngoài này trở thành phổ biến.” Bởi con người bên ngoài đang bị tiêu diệt, trong khi con người bên trong đổi mới và phục sinh”

Kẻ nào đặt bản chất của mình vào thế giới bên ngoài, là đặt mình vào sự tăm tối của cái chết và sự quên lãng. Cái bên ngoài tăm tối nghĩa là như vậy.

6.

Bến đỗ thứ sáu: Sự giải phóng.

Sự giải phóng dành cho tất cả mọi người, những ai thức tỉnh từ sự quên lãng vật chất, đây là một bí ẩn mở.

Bởi vì con đường quay lại Người Trời này không đồng nhất với con đường của sự đứt đoạn với con người vũ trụ; và linh hồn, khi quay lại một cách đã được giải phóng, không quay lại vị trí cũ.

Con đường của sự giải phóng cũng tương tự như con đường của sự đứt đoạn, nhưng lại không đồng nhất; linh hồn, khi quay lại đúng vị trí gốc rễ của nó, đúng vị trí đó nhưng đồng thời không phải vị trí đó.

Đây là sự huyền diệu mà ý nghĩa của nó là: linh hồn là vị vương trẻ tuổi được vua cha già nua gửi vào trần thế để học hỏi, và khi vương tử trẻ tuổi này học xong trường học trần thế, quay trở lại đảm nhận ngai vàng của mình (kinh Veda). Tất nhiên đây là hình ảnh tượng trưng.

Sự giải phóng, sau khi đã thức tỉnh là sự cập bến đến đích; nhưng cùng lúc dường như không có gì xảy ra, chỉ vì những ảo ảnh riêng tư đã làm đui mù linh hồn, và mang lại những giấc mộng: thế gian, cái TÔI,nhân loại,đời sống, lịch sử, sự ra đời, tình yêu, bệnh tật, cái chết- nhưng khi những hình ảnh mộng này tan biến, linh hồn được giải phóng khỏi sự quyến rũ của những hình ảnh in dấu ấn và ngây ngất này.

Sự giải phóng là một bí ẩn huyền diệu trong đó ẩn dấu và tồn tại bí mật này:con người từ đâu và cái gì được giải phóng, và kết quả của sự giải phóng này là gì.

Cần phải gọi là sự giải phóng bởi vì: giải phóng khỏi thân xác, nhà tù của linh hồn phải sống một đời sống sợ hãi và đau khổ trong thế gian vật chất; giải phóng khỏi những ảo ảnh mà sự đờ đẫn cứ tưởng đấy là hiện thực.

Sự giải phóng là bến đỗ cuối cùng của các biến thái linh hồn con người: nếu con người biết sử dụng đúng đắn sự thức tỉnh của mình, sẽ không bị chìm đắm vào bóng tối bên ngoài- sẽ được giải phóng.

Mục đích: Trở lại thành con người Thượng đế, Người Trời- là Atman- là linh hồn cổ. Con đường: Sự nhập định.

 

Nguyễn Hồng Nhung dịch từ bản tiếng Hung

(Budapest  2012.03.09)

Nguồn: amvc

%d bloggers like this: