Lưu trữ | 9:10 Chiều

Báo động về đời sống văn hóa nông thôn – VHNA

9 Th6

Vĩnh Khánh

Không thể phủ nhận sự vận động phát triển của nông nghiệp Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An  nói riêng trong nhiều thập kỷ qua đặc biệt từ khi thực hiện công cuộc đổi mới lại nay. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới, Nghệ An cơ bản đảm bảo lương thực cho hơn ba triệu dân. Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi khác theo hướng tiến bộ, văn minh. Nông dân có nhiều điều kiện tiếp cận với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao tri thức để làm chủ cuộc sống. Trong hơn hai mươi năm qua, người nông dân Việt Nam vẫn là điểm tựa cho sự phát triển của đất nước. Nếu từ năm 1990, người nông dân không làm dư ra hàng triệu tấn gạo mỗi năm để xuất khẩu thì tài lực và vị thế đất nước chưa hẳn đã được như ngày nay.

Thế nhưng nông dân vẫn cơ bản là những người vất vả, thiệt thòi nhất trong xã hội. Và nông thôn Việt Nam vẫn đang tồn tại nhiều vấn đề bức xúc, nóng bỏng nhất. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Tính đến thời điểm năm 2011, cả nước chỉ còn hơn 9 triệu ha, trong đó có khoảng 4 triệu ha là đất trồng lúa. Trung bình mỗi năm từ 1996 – 2010 có khoảng 70.000 ha đất nông nghiệp bị lấy để xây dựng đô thị, phát triển công nghiệp. Vì vậy, đất nông nghiệp tính bình quân đầu người đã bị giảm xuống còn 900m2, trong đó đất trồng lúa chỉ còn 465m2. Khoảng cách giàu – nghèo và bất bình đẳng xã hội, xung đột xã hội ngày càng gia tăng (Theo một số chuyên gia thì độ chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn hiện nay là khoảng 10 lần); Tình trạng thiếu việc làm ngày càng trầm trọng: Di dân tự phát; Dân trí và quan trí vẫn còn ở tình trạng thấp; Năng lực quản lý xã hội, kết cấu hạ tầng thấp kém; Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe yếu kém; Môi trường bị ô nhiễm và suy thoái ở mức báo động. Đó là những biểu hiện đồng thời là nguyên nhân của tình trạng sa sút, tiêu cực, xuống cấp của đời sống văn hóa ở khu vực nông thôn, của nông dân.

Điều đáng báo động nhất là do tình trạng đô thị hóa quá nóng và mức độ giao lưu văn hóa, trực tiếp và gián tiếp, ngày càng quyết liệt nên văn hóa nông thôn, văn hóa của người nông dân đã bị các yếu tố văn hoá khác lạ, mới, ngoại lai và không ngoại lai, xâm thực. Dân trí và quan trí còn thấp nên chưa đủ nhạy bén để phân biệt, chọn lọc và tiếp nhận trong quá trình giao lưu ồ ạt hiện nay. Trọng tiền và trọng chức thay cho trọng tước, trọng xỉ. Một bộ phận không ít cán bộ lãnh đạo quản lý ở nông thôn biến chất trở thành cường hào mới làm cho tính tích cực của dân chủ làng xã bị thủ tiêu, tinh thần dân chủ mới không được thực thi, một lối quản lý theo cường quyền được dựng lên. Tâm lý, tinh thần nông dân và đời sống văn hóa nông thôn ở nhiều nơi bị ức chế làm cho sự vận động bị đình trệ, luẩn quẩn.

Hệ lụy của tình trạng này là làm cho đời sống văn hóa ở nhiều miền quê có nhiều biểu hiện biến dạng, thậm chí méo mó, lệch chuẩn. Quan niệm giá trị của kinh tế thị trường đã xô lệch quan niệm giá trị truyền thống, làm rạn nứt kết cấu văn hóa làng và tâm thức văn hóa của người nông dân. Luỹ tre làng được và bị mở tung để cho đồng tiền lên ngôi trong các quan hệ họ hàng, làng xã.  Đời sống văn hóa vật chất đổi thay là hiển nhiên nhưng sự biến dạng văn hóa tinh thần, tâm linh là điều đáng lo ngại của nông thôn, nông dân hiện nay. Sinh hoạt văn nghệ cộng đồng cơ bản là chiếu lệ, hình thức. Chùa chiền, miếu mạo được trùng tu nhưng dị đoan, mù quáng ngày càng nhiều. Lễ hội được phục hồi nhưng không ít tẻ nhạt và lộn xộn bởi cách quản lý, điều hành giáo điều, rập khuôn, kém cỏi. Các thói quen nửa quê nửa tỉnh hình thành trong sinh hoạt làng xã thay cho các mỹ tục, tập quán. Quan niệm và thực hành đạo đức của một bộ phận cư dân nông thôn, nhất là lớp trẻ chuyển biến theo hướng tiêu cực. Tình nghĩa họ hàng, làng xã ngày càng phai nhạt. Bạo hành gia đình, bạo lực xã hội ngày càng nhiều.

Cổng làng phải mở bung ra trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa hiện nay là không thể cưỡng lại. Nhưng điều đó không có nghĩa là văn hóa nông thôn, đời sống văn hóa của người nông dân cũng phải cáo chung cùng với một phần đất đai của họ. Truyền thống và bản sắc văn hóa các cộng đồng không phải luôn luôn tỷ lệ thuận với sự vận động về tính chất và trình độ nền kinh tế của họ. Tại sao các nước kinh tế phát triển nhất thế giới, mức độ đô thị hóa nhất thế giới  đồng thời là những nước bảo tồn tốt nhất bản sắc văn hóa của họ? Nhất định đó là do trí khôn và bản lĩnh chính trị – văn hóa của chính họ.

Đất nước ta vẫn còn hơn 70% nông dân. Dù có giao lưu sâu rộng hơn nữa, tốc độ đô thị hóa nhanh hơn nữa thì căn cốt văn hóa Việt Nam vẫn phải trụ trên nền móng nông thôn, nông dân. Bởi vậy, một nhận thức đầy đủ, chính xác, khách quan hơn, một tinh thần trách nhiệm cao hơn, một cách lãnh đạo, quản lý thông minh, phù hợp hơn đối với văn hóa nông thôn, nông dân là điều cần thiết với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý ở tất cả các cấp.

Thơ Ngã Du Tử: VÀNG GIEO TÂM THỨC

9 Th6

VÀNG GIEO TÂM THỨC
Treo khô trên nhánh sông già
buồn thiên thu nổi xót xa phận người

 
…đôi khi xé một tiếng cười
trào lộng chơi (khóc cuộc đời trầm luân)
về đâu cuối nẻo xa xăm
vần thơ thắm thiết trăm năm tặng đời

đầu xuân nâng chén gọi mời
nhiều năm nữa như một thời… rất xưa
trùng trùng trắng mắt giăng đưa
lẫn trong nhân thế nắng mưa thói thường

nữa mai phía cuối con đường
chong mắt đợi loé ánh dương rực màu
tìm trong dâu bể mai sau
yêu thương ơi, hãy tin nhau chữ tình

nổi buồn nào cũng lặng thinh
cứ bao dung như có mình ở trong
miên man lòng nhuộm sắc hồng
vàng gieo tâm thức thân đồng vọng bay

cuối đường bắt nhịp vỗ tay
hát lên từ lúc chân ngày hé duyên
NGàDU TỬ

Lực đẩy chánh trị trong kinh tế Trung Quốc – Alan Phan

9 Th6

 

Một phân tích khá giá trị của John Lee cho thấy tại sao các doanh nghiệp nhà nước lại là nền tảng cho quyền lực và sự tồn tại của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Mô tả về “sân sau” của chánh phủ Trung Quốc cũng cho thấy tại sao các “tư bản đỏ” sẽ phải là các hoàng tử đỏ hay COCC để duy trì hệ thống quyền lực này và các khác biệt giữa tư bản đỏ và tư bản trắng (Âu Mỹ).

Vài trích dẫn đáng chú ý:

–    Cơ cấu của hệ thống kinh tế – chính trị Trung Quốc hiện nay rõ ràng là được xây dựng để bảo đảm ĐCSTQ sẽ luôn luôn là trung tâm chi phối,điều tiết mọi cơ hội trong các lĩnh vực thương mại, kinh doanh, nghề nghiệp và ngay cả xã hội. Mục đích là buộc chặt mọi đặc quyền và cơ hội của tầng lớp tinh hoa Trung Quốc với ý muốn của Đảng.

–    ĐCSTQ có một quan điểm, cơ bản là chủ nghĩa Lê-nin, rằng mọi chủ thể và hoạt động kinh tế phải là nhằm củng cố ảnh hưởng kinh tế và sau đó là quyền lực chính trị của chế độ. Những chủ thể và hoạt động như thế không thể chấp nhận đối lập chính trị trong bất cứ hình thức nào.

–    Hệ thống kinh tế – chính trị Trung Quốc thời nay được thiết kế để bảo đảm ĐCSTQ luôn luôn là người ban phát mọi cơ hội, có nghĩa là tương lai của các tầng lớp tinh hoa, ít nhất là trong lúc này, được gắn chặt với tương lai của Đảng.

Cuối tuần này, ai có thì giờ và muốn hiểu rõ hơn về những tương quan quyền lực giữa các nhóm lợi ích trong xã hội Trung Quốc, xin mời nghiền ngẫm về bài viết này. Bài đã dịch ra Việt ngữ, đăng trên Thời Đại Mới, và được web site của G/S Trần Hữu Dũng xuất bản theo link dưới đây:

http://www.viet-studies.info/kinhte/201224_JohnLee.pdf

Alan

Quách Tuấn Du: Tu là tránh làm điều trái với lương tâm – Bee

9 Th6
 
 – Là một ca sĩ được nhiều người biết đến nhưng ít ai biết Quách Tuấn Du còn thường xuyên hát những ca khúc liên quan đến Phật giáo.
 
Kienthuc.net.vn đã có buổi trò chuyện với ca sĩ phật tử Quách Tuấn Du.
 
“Mình luôn luôn làm những gì khiến mẹ vui và cố gắng thành công trong sự nghiệp để báo hiếu cho mẹ” – Quách Tuấn Du chia sẻ.
Nguyên do vì sao anh đến với các show diễn liên quan đến cửa Thiền?
 
Trước tiên Tuấn Du là người đạo phật. Từ nhỏ, Du thường được nghe kinh Phật từ bà nội, rồi tụng kinh vào mỗi buổi sáng nên khi được mời thu âm cho những bài hát về đức Phật thì mình nhận lời ngay.
 
Từ khi hát những bài hát Phật giáo, Tuấn Du thấy mình có duyên với cửa Thiền nên muốn làm 1 điều gì đó cống hiến cho đạo. Vì thế Du nghĩ hát cũng là 1 cách hành đạo, thông qua những âm điệu, lời nhạc nhiều người sẽ biết về lòng Từ Bi của đức Phật, con đường đưa đến sự giải thoát mà Ngài đã tìm ra.
 
Tuy nhiên theo mình để hát được nhạc Phật giáo thì tâm phải trong sáng, mới đem lại hiệu quả chứ không như khi hát những ca khúc nhạc trẻ hiện đại. 
 
Muốn hát nhạc Phật giáo tâm cần phải trong sáng
 
Ngoài ra Tuấn Du luôn kiểm tra tâm của mình xem có đang xáo động và tồn tại suy nghĩ gì không tốt hay không. Từ đó để điều chỉnh suy nghĩ sao cho không được có những ý nghĩ gian lận, luồn lách, tránh sân si, luôn nghi tốt cho người khác và biết cho nhiều hơn nhận.
 
Chính những cái đó giúp Tuấn Du có thêm niềm tin để thể hiện những bài hát có liên quan tới Đức Phật. Điều quan trọng hơn nữa đó là từ nhỏ Du đã tin vào luật nhân quả mà nhà Phật luôn răn dạy.
 
Anh hiểu chữ tu của đạo Phật là như thế nào? 
 
Tuy chưa được học và hiểu hết về giáo lý của đạo Phật nhưng theo Tuấn Du nghĩ chữ tu có nghĩa là không được làm những điều trái với lương tâm.
 
Đó chính là tu tâm, sống luôn hướng đến cái thiện, luôn nghĩ tốt cho người khác, không giết hại chúng sanh. 
 
Tu cũng không có nghĩa bắt buộc phải vào chùa, vì nếu người đó là người xấu thì cho dù vào chùa cạo đầu mặc áo cà sa thì chữ Tu cũng không còn ý nghĩa. 
 
Nhưng nếu một người không tốt biết sám hối, làm những điều thiện hay người tốt thấy được chân lý của đức Phật thì ở đâu cũng có thể nói là tu.
 
Theo Tuấn Du, giữa tu hành và âm nhạc có sự liên quan gì không?
 
Việc tu hành và âm nhạc mình nghĩ cũng có liên quan đấy chứ, vì âm nhạc luôn mang đến sự thanh thản trong tâm hồn và cũng là món ăn tinh thần cho tất cả mọi người. 
 
Nó liên quan nếu như giai điệu trong sáng và ca từ của đức Phật khuyên răn dạy dỗ cho nhân loại, cũng như Tuấn Du đã thể hiện tác phẩm Biết Bao Giờ của thầy Thích Tâm Tường ở chùa Hoằng Pháp.
 
Tác phẩm này nếu khán giả nghe sẽ thấy được lời của đức Phật dạy và Tuấn Du hát bằng cả 1 cái tâm sáng và chia sẽ thật lòng, cũng như sự cảm nhận sự vô thường của cuộc đời.
 
Tu hành và âm nhạc luôn có sự liên quan lẫn nhau, đều hướng con người về một sự an lành 
Điều anh ước nguyện hiện nay là điều gì?
 
Tuấn Du chỉ ước cho mẹ luôn có sức khỏe tốt để tránh mọi bệnh tật.
 
Được biết anh chuẩn bị tham gia một chương trình ca nhạc có liên quan đến Phật giáo. Anh có thể bật mí tý được không?
 
(Cười) Đó là chương trình Diệu Âm Hoằng Pháp do chùa Hoằng Pháp tổ chức. Đây là chương trình ca nhạc nhằm đưa những bài hát liên quan đến Phật giáo đến đông đảo người dân và Phật tử một cách cảm nhận mới về đạo Phật.
 
Xin cảm ơn anh!
 
Hoài Lương (thực hiện)

Chuyện tình giữa Hòa Thượng Liên Hoa và Công Chúa Long Thành có thật chăng? (1) – ĐCV

9 Th6

 

Tôi được một anh bạn cho một bài nói về chuyện yêu đương của Công Chúa Long-Thành đối với Thiền Sư Liên-Hoa. Chuyện thực, hư thế nào không biết, có điều là tác giả bài viết, viết không rõ ràng, làm người đọc có thể lầm lẫn giữa Công Chúa Long-Thành Ngọc-Tú và Công Chúa Bảo-Lộc Ngọc-Anh. Tôi có đưa ý kiến đó cho anh bạn tôi, và được anh bạn tôi cho biết là nhiều người bạn khác cũng có ý kiến đó, và anh biết tôi có đôi chút tài liệu nói về hai Công Chúa Long-Thành và Bảo-Lộc, nên đề nghị tôi tra cứu lại các tài liệu, hầu làm rõ sự phân biệt giữa hai vị Công Chúa.

Câu chuyện được đăng ở mạng lytuongnguoiviet trên Internet, dưới nhan đề « Đi tìm sự thật về chuyện tình hoàng gia ngang trái ». Tôi xin trích vài hàng của bài đó như sau :

«Chuyện tình đẹp bi thương – Chuyện Công chúa triều Nguyễn yêu đơn phương một nhà sư ».

« Chuyện nàng Công chúa triều Nguyễn là Hoàng nữ đệ tam Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh yêu đơn phương một vị nhà sư – thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt – sau được phong là Quốc sư – đã để lại nhiều huyền tích khiến người đời vừa xúc động cảm thương nàng công chúa, vừa bội phục một vị chân tu đắc đạo…

Thiền sư có rất nhiều đệ tử trong hoàng cung. Trong số đệ tử này có một vị Hoàng cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, đó là Thái trưởng công chúa Long Thành, chị ruột chúa Nguyễn Phúc Ánh, cô ruột của vua Minh Mạng. Hoàng cô cũng quy y và thọ Bồ Tát giới, pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt. Trong những ngày theo học đạo, Hoàng Cô đã thầm yêu nhà sư. Do cảm mến và quá hâm mộ tài năng cũng như đức độ của Thiền sư nên Hoàng Cô đã có ý định và tìm mọi cách ràng buộc duyên trần cùng với người con của Phật…

Tưởng rằng khi ôm hôn được bàn tay của Thiền sư thì mọi chuyện sẽ lắng xuống. Nhưng không ngờ, ngay đêm hôm ấy, vào khoảng canh ba, trong khi mọi người đang yên giấc, bỗng thấy tịnh thất của Thiền sư phát hỏa, mọi người chạy ra dập lửa thì tịnh thất đã cháy rụi. Nhục thân của thiền sư cũng cháy đen. Mọi người đang bàn tán, xôn xao, có người phát hiện bài kệ của thiền sư viết bằng mực đen trên vách chánh điện :

“THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần

THÀNH không vẩn (dấu hỏi) đục vẫn trong ngần

LIỄU tri mộng huyễn chơn như huyễn

ĐẠT đạo mình (dấu huyền) vui đạo mấy lần”.

Thiền sư Liên Hoa biết cuộc đời này là mộng huyễn ảo ảnh nên đã dùng ngọn lửa để thức tỉnh và giáo hóa Hoàng Cô.

Nhưng có lẽ do duyên nghiệp nhiều đời nhiều kiếp, nên ngọn lửa ấy đã không đạt được kết quả như mong muốn. Sau khi làm lễ cúng thất tuần Hòa thượng Liên Hoa xong, Hoàng Cô rất buồn bã và cho biết rằng bà sẽ ở lại chùa Đại giác cho đến ngày khai mộ mới hồi kinh. Nhưng ngay ngày hôm sau, Hoàng Cô uống độc dược quyên sinh tại hậu liêu chùa Đại giác nhằm ngày mồng 2 tháng 11 năm Quý Mùi (1823).

Hoàng cô Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh chết theo Thiền sư để lại sự cảm động cho triều đình và nhân dân khắp vùng. Từ đó, ngôi chùa trở nên nổi tiếng và được các đời vua nhà Nguyễn chăm sóc đặc biệt.».

Hết trích.

Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến chuyện « Tình » nầy, nên tò mò, tôi lên Internet tìm những bài nói về chuyện « Tình » đó. Thôi thì có hàng chục bài, sao đi chép lại chuyện như đã được đăng ở mạng lytuongnguoiviet, với những Tựa khác nhau, như Chuyện tình công chúa triều Nguyễn với một nhà sư, hay Bi kịch tình yêu thảm thương nhất trong cung đình Việt Nam…, hay cả trên Wikipedia !…

Sau khi tìm đọc qua những bài trên, ở Internet, tôi tình cờ thoáng thấy một cuốn Tiểu Thuyết có nhan đề là Chuyện tình của Liên Hoa Hoà Thượng– CTLHHT của ông Thích Như Điển. Thấy là lạ, nên tôi đọc sơ qua bài giới thiệu của cuốn đó, thì thấy ông Như Điển, tự nhận là đã lấy ý trong cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong – LSPGĐT, của Nguyễn Hiền Đức và cuốn Thiền Sư Việt Nam – TSVN, của Thích Thanh Từ.

Chuyện « Tình » ở chốn thiền môn hay ở nơi cung cấm, tôi e cũng có, vì chúng ta cũng chỉ là những con người, mà đã là con người thì có tình, có cảm, nhận biết được cái đẹp của thiên nhiên, cái hay của một tâm hồn cao thượng… Nhưng chuyện « Tình » trình trên lại chỉ về hai nhân vật lịch sử rất khả kính và rất nổi tiếng là Thiền Sư Hòa Thượng Thiệt-Thành – Liễu-Đạt – Liên-Hoa, một vị Thiền Sư, vì lý tưởng của mình, mà đã ẩn mình tu học ở chốn Thiền Môn, và Công Chúa Long-Thành, một vị Công Chúa, vì lý tưởng của mình, mà giữ tiết nghĩa cho đến lúc già yếu, cho đến lúc lâm chung, nên hiếu kỳ, tôi đã nhờ một người bạn của gia đình tôi, tìm mua giúp cho tôi, tại Việt Nam, cuốn LSPGĐT, in năm 1995. Vì sách ra đã lâu ngày, nên không còn bán tại các tiệm sách, làm anh bạn tôi vất vả cả mấy tháng trời mà cũng tìm không ra, sau cùng anh đã sao chụp lại rất tỷ mỷ cuốn đó và gởi cho tôi. Ở đây, tôi xin chân thành cảm tạ công ơn của anh bạn chí thành đó.

Để cố gắng làm sáng tỏ, chuyện « Tình » trên, tôi xin chia bài nầy theo các mục như sau :

– Phân biệt rõ ràng hai vị Công-Chúa Long-Thành Nguyễn-Phước Ngọc-Tú và Công-Chúa Bảo-Lộc Nguyễn-Phước Ngọc-Anh.

– Chuyện của Hòa-Thượng Liên-Hoa trong cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức.

– Cuốn tiểu thuyết Chuyện tình của Liên Hoa Hòa Thượng của Thích Như Điển.

– Chánh sử (Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Chánh Biên – ĐNTLCB, Đại Nam Liệt Truyện – ĐNLT), Khâm Định Đại Nam Điển Lễ Sự Lệ – KĐĐNĐLSL, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả – NPTTP, cùng những tài liệu lấy ở Bulletin des Amis du Vieux Huế – BAVH.

– Vài sự kiện lịch sử.

– Kết luận.

I – Công-Chúa Long-Thành Nguyễn-Phước Ngọc-Tú và Công-Chúa Bảo-Lộc Nguyễn-Phước Ngọc-Anh.

Theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả – NPTTP (Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1995, Huế), trang 226, 227 và trang 261, 262, thì :

1) Công Chúa Long-Thành, húy Nguyễn-Phước Ngọc-Tú.

Bà là trưởng nữ của Hưng Tổ (Nguyễn-Phước Luân), chị cùng mẹ với Thế Tổ (Nguyễn-Phước Ánh), sinh năm Kỷ-Mão (1759). Chồng là Cai Cơ Lê Phúc Điển. Năm Quý-Mão (1783), khi đánh nhau với quân Tây Sơn ở đảo Diệp Thạch, Phúc Điển bị địch bắt và bị giết.

Khi chồng mất, Bà còn trẻ tuổi, giữ tiết. Bà từng bảo rằng « Điển làm bầy tôi biết giữ nghĩa mà chết, ta là vợ há đổi tiết sao, khi nào lấy lại Kinh Đô cũ ta sẽ xuất gia thờ Phật ».

Đầu đời Gia-Long, Thế-Tổ làm nhà tại làng Dương Xuân (Thừa-Thiên) cho Bà ở. Bà thường xin cắt tóc đi tu, nhưng Thế-Tổ không vui.

Bà mất vào tháng 11 năm Quý-Mùi (1823), thọ 65 tuổi.

Vì Bà vô tự, nên Thường-Tín Công Nguyễn-Phước Cự, con của Thế-Tổ, trông coi việc thừa tự.

[Duới triều Gia-Long, vì Bà là chị của Thế-Tổ, nên người ta gọi Bà là Trưởng Công Chúa. Dưới triều Minh-Mạng, vì Bà là công chúa của triều trước và cũng là cô ruột của Thánh-Tổ, nên người ta gọi Bà là Thái Trưởng Công Chúa hay còn gọi là Hoàng Cô. (Xin xem thêm ở phần IV, Chánh Sử ở dưới). Cũng theo NPTTP thì đời nhà Hán, chị và em gái của vua gọi là Trưởng Công Chúa, đời nhà Đường, cô của vua gọi là Thái Trưởng Công Chúa.]

2) Công-Chúa Bảo-Lộc húy Nguyễn-Phước Ngọc-Anh.

Bà là con gái thứ ba của Thế-Tổ. Bà sinh năm Canh-Tuất (1790). Năm Mậu-Thìn (1808), Bà lấy chồng là Vệ-Uý Trương Phúc Đặng, con trai của Cai-Cơ Trương Phúc Tuấn. Năm Đinh-Hợi (1827), Phúc Đặng vì bắt người trái phép, bị cách chức nghị tội, Đặng sợ, tự tử mà chết. Về sau được khai phục lại nguyên hàm.

Bà mất năm Canh-Tuất (1850), thọ 61 tuổi.

Bà có 1 người con trai và 3 người con gái.

II – Cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức.

1) Tác giả.

Theo amida.vn (Nam Mô A Di Đà Phật) thì Nguyễn Hiền Đức, Cử Nhân Giáo Khoa Sử Học, năm 1973, (Đại Học Văn Khoa Sàigòn) là một nhà nghiên cứu lịch sử, nhất là về Phật Giáo. Ông có làm Giảng Viên tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam (thành phố HồChíMinh). Ông đã cho ra nhiều tác phẩm nghiên cứu về Phật Giáo như Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (từ khi du nhập đến đời Lý), Lịch Sử Phật Giáo Đàng Ngoài (1592 – 1801), Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong (1558 – 1802)…

2) Cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong – LSPGĐT.

Cuốn nầy gồm 2 tập, tập I có 386 trang, tập II có 490 trang, tổng cọng (cộng) 876 trang, in năm 1995 do nhà Xuất Bản Thành Phố HồChíMinh ấn hành. Là một tài liệu nghiên cứu về Phật Giáo Đàng Trong khá công phu. Sách có cho 31 tài liệu tham khảo và trích dẫn (22 bằng chữ Việt, 9 bằng chữ Hán). Trong những trang viết thì đôi khi có dẫn chứng các tài liệu, đôi khi có ghi chú ở phần cuối trang, như khi bàn về ngày sinh và ngày mất của Tổ Nguyên-Thiều (trang 101, tập I), hay là bàn về chuyện của Tổ Mật-Hoàng làm Tăng-Cang ở chùa Thiên Mụ (trang 260, tập I) …

Tôi không đọc hết cả cuốn nầy, mà chỉ đọc những đoạn nói về Hòa Thượng Liên-Hoa hay Thiền Sư Thiệt-Thành – Liễu-Đạt, cùng các chùa Thiên Mụ, Quốc Ân (Huế), Từ Ân, Khải Tường (Sàigòn), Đại Giác (Biên Hòa).

Tên của Hòa Thượng Liên-Hoa được nhắc đến một vài nơi của cuốn sách, nhưng chuyện chính của Hòa Thượng thì được viết trong tập II, từ trang 231 liên tục đến trang 235. Không cho xuất xứ (nguồn tài liệu). Cuối trang 235 có hình chụp Long Vị của Hòa Thương Liên-Hoa và Thần Vị của Hoàng Cô kề sát nhau ở bàn thờ Tổ, tại chùa Từ Ân (1) (để làm bằng chứng chăng ?).

Chuyện xin trích tóm tắt như sau :

« Khoảng những năm 1789, trước khi xây xong thành Gia Định, Nguyễn Vương và triều thần tạm trú tại chùa Từ Ân; Thái Hậu, Vương Phi, Công Chúa tạm trú tại chùa Khải Tường do Hòa Thượng Liên-Hoa làm thủ tọa (2), và Thái Trưởng Công-Chúa Long-Thành đã thọ giới với Hòa Thượng.

Năm 1805, khi Thái Trưởng Công Chúa lên đường về Kinh Đô, Hòa-Thượng Liên-Hoa có nhờ Công Chúa lo trùng tu chùa Quốc Ân, vì chùa nầy là do Tổ Nguyên-Thiều xây dựng từ năm 1683.

Năm 1817, Hòa-Thượng Liên-Hoa được cử làm Tăng Cang chùa Thiên Mụ và làm pháp sư ở nội cung. Trong thời gian nầy, Hòa Thượng Linh-Nhạc, ở chùa Từ Ân, lo cho Hòa Thượng Liên-Hoa không tránh khỏi mối dây ràng buộc trần duyên, vì giảng giải trong nội cung, gần nữ giới. Năm 1821, Hòa Thượng Linh-Nhạc mất, nhưng mãi đến năm 1823, Hòa Thượng Liên-Hoa mới biết tin, và nhân đó, lấy cớ xin từ nhiệm ở chùa Thiên Mụ, để về làm trú trì chùa Từ Ân.

Vào tháng 10 năm 1823, Hoàng Cô vâng lệnh vua (Minh-Mạng) vào Gia Định để cúng dường chùa Từ Ân và chùa Khải Tường. Hòa Thượng Liên-Hoa nghe tin, muốn lánh mặt Hoàng Cô, nhưng Hòa Thượng Viên-Quang khuyên cứ tiếp Hoàng Cô. Trong thời gian Hoàng Cô ở chùa Từ Ân, mỗi sáng Hòa Thượng Liên-Hoa đều tiếp kiến và hầu chuyện với Hoàng Cô, cho đến ngày thứ ba, thì không biết Hòa Thượng Liên-Hoa đi đâu mất. Hoàng Cô cho người tìm kiếm, nhưng vô hiệu quả. Hoàng Cô trầm tư, buồn bã, không màng ăn uống trong ba ngày. Vì sợ Hoàng Cô đi đến tuyệt vọng có hại cho chùa, thị giả Mật Đĩnh đã cho Hoàng Cô biết là Hòa Thượng Liên-Hoa đã đến chùa Đại Giác ở cù lao Phố, tỉnh Biên Hòa để nhập thất trong hai năm. Hoàng Cô báo cho quan trấn thủ Gia Định là sẽ đến chùa Đại Giác để cúng dường.

Đến chùa Đại Giác, sau khi lễ Phật xong, Hoàng Cô đến tịnh thất của Hòa Thượng Liên-Hoa, xin diện kiến, nhưng Hòa-Thượng không trả lời. Hoàng Cô quỳ xuống thưa, nếu Hòa Thượng không tiện ra tiếp, thì xin Hòa Thượng cho thấy bàn tay, thì cũng đã hân hoan mà ra về. Im lặng trong vài phút, Hòa-Thượng đưa bàn tay ra ở cửa nhỏ, nơi đưa thức ăn vào tịnh thất. Hoàng Cô vội ôm lấy bàn tay hôn nhẹ một cách trìu mến, rồi sụp xuống lạy ba lạy và khóc sướt mướt…

Đến giữa đêm, tịnh thất của Hòa Thượng Liên-Hoa phát cháy và xác thân của Hòa Thượng cũng cháy tiêu. Mọi người đang bàn tán xôn xao, có người phát hiện được bài kệ Niết Bàn viết bằng mực đen trên vách chánh điện (3) :

THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần,

THÀNH không vẩn (dấu hỏi) đục vẫn trong ngần.

LIÊU (thiếu dấu ngã chăng ?) tri mộng huyễn chơn như huyễn,

ĐẠT đạo minh (không dấu) vui đạo mấy lần.

Phía dưới có đề : Sa môn Thiệt-Thành hiệu Liễu Đạt.

Sau khi làm lễ nhập tháp Hòa Thượng Liên Hoa xong, Hoàng Cô rất buồn bã và cho biết sẽ ở lại chùa Đại Giác cho đến ngày khai mộ mới hồi kinh. Nhưng, ngay ngày hôm sau đó, Hoàng Cô uống độc dược tự tử tại hậu liêu chùa Đại Giác, ngày mùng 2 tháng 11 năm Quý-Mùi (1823), thọ 65 tuổi. (Có lẽ Hòa Thượng Liên-Hoa lúc đó cũng hơn 60 tuổi) (4).

Thiền Sư Bổn-Giác, trú trì chùa Từ Ân và chư tăng lo lễ nhập tháp Hòa-Thượng Liên-Hoa, cùng lễ an táng Hoàng Cô (5) và thỉnh long vị của Hòa Thượng Liên-Hoa và linh vị Hoàng Cô về thờ ở chùa Từ Ân. Long vị của Hòa Thượng thờ ở bàn thờ Tổ, linh vị của Hoàng Cô thờ ở bàn thờ bá tánh. Nhưng sau đó bỗng nhiên xảy ra nhiều sự cãi vã, xào xáo trong chùa, nên Hòa Thượng Viên-Quang đề nghị với Thiền Sư Bổn-Giác đưa linh vị của Hoàng Cô thờ chung với long vị của Hòa Thượng Liên-Hoa ở bàn thờ Tổ. Quả nhiên sau khi làm như thế, trong chùa Từ Ân trở lại bình thường…(6) ».

Hết trích.

Đó là tóm tắt 5 trang viết về Hòa Thượng Liên-Hoa trong cuốn LSPGĐT. Gạch dưới ở những nhóm chữ trên là do tôi làm.

3) Ý kiến của tôi :

a) Nguyễn Hiền Đức đã khai thác tài liệu thiếu chính xác.

– Tập II, trang 257, 258 của LSPGĐT cho : « Tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH) năm 1915 có viết như sau : “Công chúa Ngọc Anh, chị của vua (Minh Mạng) còn trẻ và tiết liệt, khi Tây Sơn khởi nghĩa đã đến tu ở chùa Đại Giác, giữ cuộc sống cô độc trầm tư mặc tưởng và tu hành hết sức sùng mộ”.».

Tôi đã rà cả 4 tập Bulletin des Amis du Vieux Huê, của năm 1915 mà không thấy nói về chuyện đó. Tôi cho rằng tác giả viết lầm năm, hoặc năm bị in sai, tôi mới tìm trong Index analytique et Résumé des matières (Bảng tra phân tích và mục lục) của BAVH, năm 1924, thì không thấy có những tên Ngọc-Anh, Bảo-Lộc, Đại Giác (có chữ Đại Giác nói về điện thờ Phật ở chùa Diệu Đế, chứ không nói đến chùa Đại Giác ở Biên Hòa), nhưng có thấy những tên Bổn Giác ở BAVH, 1915, tập 3 (Juillet-Septembre), trang 315-316; Mật-Hoàng ở BAVH, 1915, tập 2 (Avril-Juin), trang 186 và tập 3, trang 311-314; Liên-Hoa ở BAVH, 1915, tập 3, trang 309, 310; Long-Thành ở BAVH, 1915, tập 3, trang 308, 309, và ở BAVH, 1915, tập 4 (Octobre-Décembre), trang 341-348; Ngọc-Tú cũng ở BAVH, 1915, tập 3, trang 308, và ở BAVH, 1915, tâp 4, trang 341-348.

Mặt khác, « khi Tây Sơn khởi nghĩa » là năm nào ? vào những năm 1780 chăng ? Lúc đó Công Chúa Ngọc-Anh chưa sinh ra (sinh năm 1790), thì làm gì có « giữ cuộc sống cô độc trầm tư mặc tưởng và tu hành hết sức sùng mộ ». Cho đi đến 1801, thì Công Chúa Ngọc-Anh cũng chỉ mới 11 tuổi !

– « Thái Hậu, Vương Phi, Công Chúa tạm trú tại chùa Khải Tường do Hòa Thượng Liên-Hoa làm thủ tọa » (xem hàng gạch dưới ở (2), phần trên) là sai. Thánh-Tổ sinh ở làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, năm 1791, cũng vì thế sau nầy, cho chỗ ấy là đất thiêng và để cám ơn Trời Phật, nên năm Minh-Mạng thứ 13 (1832), Thánh-Tổ cho xây chùa Khải Tường ở tại đó. (Xem ĐNTLCB, Đệ Nhị Kỷ, Quyễn LXXXIII. Thực lục về Thánh-Tổ Nhân Hoàng Đế : « Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa thu, tháng 9… ». Chuyện xây cất chùa Diệu Đế ở Huế, sau nầy cũng thế (nơi sinh của Hiến-Tổ).

– Tập II, trang 298, 299 của cuốn LSPGĐT cho : « … Tăng Cang Tiên-Giác – Hải Tịnh (huý Nguyễn Tâm Đoan) bị tội chưa biết tội gì, nên bị cách chức Tăng Cang, bị đày làm việc nặng ở chùa (Thiên Mụ)…, mãi đến khi vua Thiệu Trị lên ngôi (năm 1841), Thiền Sư Hải-Tịnh mới được vua tha tội và phục hồi chức Tăng Cang… Tăng Cang Hải-Tịnh là người ở Gia Định…, có thể Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đề nghị với vua Minh Mạng cho Thiền Sư Hải-Tịnh làm Tăng Cang chùa Thiên Mụ… Vì vậy khi Lê Văn Khôi nổi loạn, vua Minh Mạng kết tội Tăng Cang Hải-Tịnh, cách chức Tăng Cang và bắt làm việc nặng ở chùa Thiên Mụ… ».

Chuyện nầy là sai ! Sao lại kéo Lê Văn Khôi vào đây ? Sự thật là, theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ nhị kỷ, Quyển CCVII, tháng 10 và 11 cho : « Kỷ Hợi, Minh Mệnh năm thứ 20 [1839], mùa đông, tháng 10… Sư chùa Thiên Mụ có tên Nguyễn Văn Huấn vì ghen giết người. Bộ Hình và viện Đô Sát xét hỏi qua một năm không khám phá ra manh mối. Đến nay Khoa Đạo là Nguyễn Sĩ Đăng, Lê Tập bí mật đi dò xét tìm được tình trạng, đều thưởng cho mỗi người 10 lạng bạc và gia một cấp. Khi án giao xuống đình thần xét, Huấn bị xử trảm hậu; sư trưởng Nguyễn Tâm Đoan, cách bỏ chức trụ trì, chuẩn bắt phải làm việc nặng nhọc tại chùa ấy. ».

Sau nầy Hòa Thượng Hải-Tịnh được phục hồi chức Tăng Căng vào năm nào, thì tôi không rõ, nhưng theo Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1993), Tập 8, trang 201, thì « Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), chuẩu lời tâu : Tăng Cang chùa Giác Hoàng là Nguyễn Tâm Đoan (Hòa Thượng Hải-Tịnh) chuẩn chiếu như lệ Nguyễn Nhất-Định (Hòa Thượng Nhất-Định), tháng cấp 3 quan tiền, 1 phương gạo…».

– Ngay cả chuyện Hòa Thượng Liên Hoa có làm Trú Trì ở chùa Thiên Mụ cũng là một nghi vấn. Trong cuốn LSPGĐT không cho một chứng cứ lịch sử nào hết. Chuyện nầy, phải đến các chùa Thiên Mụ và Quốc Ân, để xin khảo sát tường tận các tài liệu đang tồn trữ ở chùa, mới có thể biết thực hư được. Linh Mục Léopold Cadière là một người rất hiếu kỳ, một nhà thông thái lại có trong tay rất nhiều tài liệu về các chùa Thiên Mụ, Quốc Ấn, nếu Hòa Thượng Liên-Hoa có làm Trú Trì ở chùa Thiên Mụ, thì có lẽ trong bài « La Pagode de Quấc Ân » (Xin xem phần IV, Chánh sử, ở dưới), Linh Mục Cadière đã đề cập đến.

– Ngày sinh, ngày mất của Hòa Thượng Mật-Hoằng (LSPGĐT, Tập II, trang 272) cũng sai, nhưng ở đây, tôi không bàn tới, vì không phải đề tài của bài viết.

– Ngoài ra về chuyện Hiệp Đức Hầu Nguyễn-Phước Thuần trong LSPGĐT (Tập II, trang 128-129) cũng bị Trần Đình Sơn phản bác như sau :

« Điều rất đáng ngạc nhiên là trong sách Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong ( LSPGĐT ), nhà nghiên cứu Nguyễn Hiền Đức công bố sự việc cuối đời Hiệp Đức Hầu, hoàn toàn khác hẳn với sử sách xưa nay… Phát hiện mới lạ trên , không biết tác giả căn cứ theo truyền thuyết nhân gian, ( Bản thảo : lược sử chùa Sắc tứ Minh Thiện của giáo thọ Huệ Đăng, biên soạn năm Mậu Thìn 1988 ) hay có cứ liệu xác thực chứng minh ? Nên nhớ, Hiệp Đức Hầu đối với Hoàng tộc Nguyễn là một vị thân vương danh tiếng. Võ công của ông được xếp vào thượng đẳng thời các chúa, khi ông mất, Hiền Vương ( cha ) đã làm quốc tang theo tước Công. Dòng dõi của ông hiển đạt cho đến cận đại. Nếu sự kiện cuối đời của ông “ xuất gia – viên tịch “ như trong LSPGĐT viết, có lẽ nào quốc sử lẫn tộc phổ chẳng ghi lại một dòng để cho đời sau hay biết. [Nguồn : giaodiemonline] ». [LSPGĐT nói Ông đã lập chùa Minh Thiện ở Khánh Hòa, và sau đó an nhiên viên tịch… và được nhập tháp trong khuôn viên chùa nầy…].

Thật thế, chuyện Bà Nguyễn-Phước Ngọc-Cầu 球 , con của Dận Quận Công Nguyễn-Phước Điền 氵田 , có lập chùa Phước Thành ở An Cựu, Huế, đã được sử quán nhà Nguyễn (Đại Nam Liệt Tuyện Tiền Biên) ghi. Bà được phong tặng là Tuệ-Tĩnh (có nơi cho là Huệ-Tĩnh) Thánh Mẫu Nguyên Sư. Ở Huế, người ta gọi là chùa Bà Sư. Tháp của Bà nằm ở vườn, sau chùa.

Đại Nam Thực Lục Tiền biên. Quyển V. Thực lục về Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế (Hạ), cho : « Khi (Hiệp Đức Hầu) dẹp xong giặc trở về, tuyệt hẳn không cho đàn bà con gái yết kiến, dựng am nhỏ thờ Phật, thỉnh thoảng ra chơi, bàn đạo thuyết pháp để tự vui. Đến đấy bị bệnh đậu mà mất, mới 23 tuổi. ». NPTTP cho thêm, ở trang 144 : « Bà vợ của Ông húy là Nguyễn Thị Hưng, tiểu sử không rõ. Bà mất ngày 13 tháng 2 âm lịch (năm ?), mộ táng cùng một chổ với Ông, trong khuôn viên nhà thờ của phòng. ».

Vậy Nguyễn Hiền Đức đã khai thác tài liệu thiếu chính xác, và đôi khi, chưa tìm ra tường tận các tài liệu lịch sử, thì lấy giả thuyết riêng của mình để giải thích những sự kiện lịch sử. Thật đáng tiếc cho một công trình nghiên cứu về lịch sử !

b) Một số tài liệu quan trọng mà Nguyễn Hiền Đức dùng.

Một số tài liệu quan trọng mà Nguyễn Hiền Đức dùng, không nới đến Hòa Thượng Liên-Hoa. Như Việt Nam Phật Gíao Sử Lược của Thượng Tọa Thích Mật-Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Hòa Thượng Thích Thiện-Hoa…

c) Bài kệ (xem hàng gạch dưới ở (3), phần trên).

Bài kệ đó, nếu là do Hòa Thượng Liên-Hoa viết thật, thì Hòa Thượng cũng đã viết trước khi Hoàng Cô đến chùa Đại Giác, vì khi Hoàng Cô đến chùa, thì Hòa Thượng đã nhập thất, và ngay sau đó, tịnh thất của Hòa Thượng đã phát hỏa. Không lẽ, trước khi tịnh thất phát hỏa, Hòa Thượng đã lén ra chánh điện, để viết bài kệ ?

Mặt khác, bài kệ đó là một bài thơ tiếng Việt. Không biết vào thời đó (1823), Hoà Thượng viết bài kệ bằng chữ Quốc Ngữ (mẫu tự Latinh), hay bằng chữ Nôm (viết dựa theo chữ Hán) ? Những Thiền Sư vào thời của Hòa Thượng Liên-Hoa hay là những đệ tử của các vị, đều viết bài kệ theo chữ Hán. Điều nầy làm cho ta nghi ngờ bài kệ trên là của Hòa Thượng Liên-Hoa. Rất có thể bài kệ trên là do người đời sau viết.

d) Hòa Thượng Liên-Hoa lúc đó cũng trên 60 tuổi (xem hàng gạch dưới ở (4) phần trên).

Trên 60 tuổi là bao nhiêu tuổi ? 61, 62 ? Cho đi 62 tuổi, và nếu Hòa Thượng Liên-Hoa mất vào năm 1823, thì Hòa Thượng sinh năm 1761 (hay 1762, tính theo tuổi ta). Theo BAVH 1915, tập 3 (juillet-Septembre), Linh Mục Léopold Cadière cho ở trang 309 : « Sau khi chồng (Lê Phúc Điển) mất (1783), Công Chúa Long-Thành thường hay đi lễ (fréquenter) ở chùa Từ Ân và được Trú Trì (Supérieur) Liên-Hoa, còn được gọi là Thiệt-Thành, hay Liễu-Đạt khuyên nhủ thọ Ngũ Giới. ».

Vậy Hòa Thượng Liên-Hoa làm Tọa Chủ hay Trú Trì chùa Từ Ân lúc chỉ mới 22 hay 21 tuổi (1783 – 1761 = 22). Một nhà sư còn quá trẻ như thế, mà được chỉ định làm Tọa Chủ, hay Trú Trì một ngôi chùa lớn như chùa Từ Ân (trong LSPGĐT, Tập II, trang 268, Nguyễn Hiền Đức lại ghi là làm Thủ Tọa, lo điều khiển tăng chúng cho cả hai chùa Từ Ân và Khải Tường), là một chuyện khó có thật, lúc bấy giờ. Nói Hòa Thượng Liên-Hoa lúc đó (1823) có khoảng 70 hay trên 70 tuổi, thì có thể đúng hơn.

e) An táng Hoàng Cô (xem hàng gạch dưới ở (5), phần trên).

Nếu chư tăng an táng Hoàng Cô tại Biên Hòa, thì cớ sao trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên ĐNTLCB, Đệ nhị Kỷ – Quyển XXIV, Thực lục về Thánh-Tổ Nhân Hoàng Đế, tháng 11, ghi « Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa đông, tháng 11… Thái Trưởng Công Chúa là Ngọc-Tú chết … bèn sai Kiến An Công Đài cùng Diên Khánh Công Tấn hội đồng với bộ Lễ mà trị tang. Nghỉ chầu 5 ngày. Tứ tế một đàn… Tặng Long-Thành Thái Trưởng Công Chúa, thụy Trinh-Tĩnh… Ngày táng, vua nghỉ chầu, mặc áo trắng đi đưa…».

Còn nếu lấy giả thuyết là đưa Linh-Cữu của Hoàng Cô từ Biên Hòa về táng ở Thuận Hóa thì, đi đường bộ hay đường thủy, lúc bấy giờ, cũng phải mất hơn một tháng, như thế làm sao an táng Hoàng Cô tại Đình Môn, cho kịp trong tháng 11 năm Quý Mùi như ĐNTLCB đã cho ?

Ở đây cũng xin mở ngoặc. Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ Nhất kỷ, quyển XXV (Gia Long năm thứ 3 [1804]) cho : « Mùa thu, tháng 7… Định hạn ngày đệ trạm. Phàm phái người chuyển đệ công văn theo trạm, từ Gia Định đến Kinh là 13 ngày, từ Bắc Thành đến Kinh là 5 ngày, đúng hạn thì được thưởng tiền theo thứ bực khác nhau. (Gia Định thưởng 5 quan, Bắc Thành thưởng 3 quan). Chậm 1, 2 ngày không thưởng, chậm 3, 4 ngày phạt 30 roi. ». Thời bấy giờ, đi ngựa chạy công văn đã như thế, huống hồ là đưa linh cữu của một công chúa !

f) Chuyện tịnh thất của Hòa Thượng Liên-Hoa phát cháy.

Chuyện tịnh thất của Hòa Thượng Liên-Hoa phát cháy và thân xác bị thiêu, hay chuyện Hòa Thượng được hỏa thiêu đi nữa, cùng năm mất của Hòa Thượng (1823) cũng không chắc chắn gì cả. Không có một chứng cứ lịch sử nào ở trong cuốn LSPGĐT, để chứng minh điều đó.

g) Xào xáo trong chùa… trở lại bình thường (xem gạch dưới (6) ở phần trên)

Đây là một chuyện dị đoan, mà chắc độc giả cũng đồng ý với tôi, là khó mà tin như thế được.

h) Long Vị của Hòa Thượng Liên-Hoa và Thần Vị của Công Chúa Long-Thành (xem phần gạch dưới (1) ở phần trên).

LSPGĐT không cho biết những chữ được viết trên Long Vị của Hòa Thượng Liên-Hoa (thật đáng tiếc !), mà chỉ cho biết những chữ được viết trên Thần Vị của Công Chúa Long-Thành như sau : « Thích môn hộ giáo, Hoàng Cô thọ bồ tác giới, pháp danh Tế-Minh, tự Thiên-Nhựt, chi vị ». Có lẽ ngày mất của Công Chúa mà LSPGĐT cho đã lấy ở trên Thần Vị nầy.

Chính vì Long Vị của Hòa Thượng và Thần Vị của Công Chúa được đặt kề nhau trên bàn thờ Tổ là một chuyện « lạ », nên đã sinh ra chuyện « tình » mà Nguyễn Hiền Đức đã kể trên.

Theo tôi, khi đi nghiên cứu ở chùa Từ Ân, Nguyễn Hiền Đức phát hiện Long Vị của Hòa Thượng Liên-Hoa kề bên Thần Vị của Hoàng Cô ở bàn thờ Tổ, nên mới lấy làm « lạ » và đã hỏi các sư hiện đang tu học ở chùa hay các bổn đạo của chùa hay bà con đang ở xung quanh chùa về chuyện « lạ », để tìm hiểu nguồn gốc. Nhưng các nhà sư, các bổn đạo, các bà con mình, không những ngày nay, mà có thể là từ sau năm 1945 (tôi chỉ ước đoán) cũng cho là « lạ », nên đã có người muốn giải thích cho hợp tình, hợp lý, như chuyện « Trầu Cau » hay chuyện « Vọng Phu », mà sinh ra chuyện « tình » ở trên. (Xin xem giải thích của tôi, ở phần IV, Chánh Sử, ở dưới).

Vì ăn trầu, cau với vôi, nước miếng hóa ra đỏ là một chuyện « lạ » (thật ra, đây chỉ là một phản ứng hóa học), rồi bà con mình cố gắng giải thích, từ đó ta đã có những chuyện « Trầu Cau » (có nhiều bản khác nhau), và rồi có những câu ca dao rất thơ mộng như :

« Có trầu mà chẳng có cau,

Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm.».

Có nhiều tảng đá có hình giống như một thiếu phụ bồng con. Bà con mình cũng lấy làm « lạ », rồi đặt ra những chuyện « Vọng Phu » (có nhiều bản khác nhau), và rồi cũng có những câu thơ trữ tình như :

« Thương ai tấc dạ vàng son,

Bế con lên đứng đầu non đợi chồng.

Trăm năm vẹn chữ tâm đồng,

Ngàn năm hóa đá tạc lòng trung trinh ». (Vũ Thanh).

i) Tạm kết luận.

Vì  thấy Long Vị của Hòa Thượng Liên-Hoa và Thần Vị của Công Chúa Long-Thành được đặt kề nhau ở bàn thờ Tổ, tại chùa Từ Ân, mà không tìm rõ nguyên nhân, nên chuyện của Hòa Thượng Liên-Hoa và của Công Chúa Long-Thành, được kể trong cuốn LSPGĐT, chỉ là một giai thoại. (Xin xem giải thích của tôi, ở phần IV, Chánh Sử, ở dưới). Ngay cho chuyện tịnh thất bị cháy, nhục thể của Hòa Thượng Liên-Hoa bị thiêu cũng chỉ là những nghi vấn.

Cũng vì có chuyện nầy ở cuốn LSPGĐT mà hai nhân vật lịch sử đã được dân chúng, giáo hội Phật Giáo Việt Nam, cùng cả một dòng họ tôn kính, bị phạm đến thanh danh, đạo đức. Thật là một điều đáng tiếc ! (Xin xem trên Internet, có rất nhiều sách, bài viết dựa theo cuốn LSPGĐT, để phạm đến thanh danh của hai vị, tuy lời lẽ có phần ôn tồn và tỏ ra thông cảm).

4) Cuốn Thiền Sư Việt Nam của Thích Thanh Từ.

Trong cuốn nầy, tác giả tự nhận là về phần Thiền Sư Thiệt-Thành – Liễu-Đạt – Liên-Hoa, tác giả đã trích trọn ở cuốn LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức. Thật thế, ở phần nầy, trong sách Thiền Sư Việt Nam, mỗi chữ, mỗi câu đều giống hệt trong cuốn LSPGĐT.

Sở dĩ tôi đưa cuốn TSVN vào đây vì ông Như Điển có đề cập tới trong cuốn tiểu thuyết của ông ta.

(còn tiếp)

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Đọc “Chuyện tình của Liên Hoa Hòa Thượng”
  2. Tình Liên đới Quốc tế là một điều có thật
  3. Một bước chuyển thật chăng?
  4. Nhức nhối chuyện cụ Rùa Hồ Gươm chằng chịt vết thương
  5. Cô gái 37 kilô, nặng lòng yêu nước, nặng tình thương dân
  6. Xung đột giữa công an và giáo dân Đồng Chiêm, nhiều người bị thương

1 Phản hồi cho “Chuyện tình giữa Hòa Thượng Liên Hoa và Công Chúa Long Thành có thật chăng? (1)”

  1. ĐẠI NGÀN says:

    CHUYỆN TÌNH HÒA THƯỢNG

    Dẫu sao công chúa cũng người
    Dẫu sao hòa thượng cũng người nhân gian
    Người nhân gian như hoa đồng nội
    Cùng gió ngàn ong bướm đua chen
    Nàng là thiếu nữ đang xuân
    Chàng là hòa thượng mảnh y sắc vàng
    Yêu thương ấy lòng người chính đáng
    Nhưng làm sao bất chấp tình đời
    Rõ ràng đâu thể bông thùa
    Rõ ràng đâu thể một ngày ném y
    Tâm bồ tát thường khi khó nói
    Tình tiểu thư khó thốt nên lời
    Thế gian thường vẫn cuộc chơi
    Chơi tràn thật khó trên đời nhiêu khê
    Thôi đành vậy giữ gìn tâm đức
    Nàng tìm về nơi cõi phôi pha
    Tâm tình hòa thượng bao la
    Tình yêu đâu thể xóa nhòa Phật kinh
    Nên đêm vắng tụng kinh gõ mõ
    Quên đời hoa hướng cõi chân như
    Đời hoa rồi cũng đành tàn
    Hoa tàn nhụy vẫn giữ hồn tinh anh
    Nơi cửu tuyền đôi lòng thanh khiết
    Bụi trần ai lưu thủy theo dòng
    Chân như giữa chốn hồng trần
    Tình trần khép lại giữa vòng chân như

    NON NGÀN
    (08/6/12)

Kịch bản điện ảnh không phải là tác phẩm văn học hoàn chỉnh – VH/BS

9 Th6

 

 

VH- Tại Lễ trao Giải thưởng HCM và Giải thưởng Nhà nước về VHNT vừa qua, giới biên kịch điện ảnh rất phấn chấn vì lần đầu tiên tác phẩm của nhà biên kịch ĐA được tôn vinh với giải thưởng danh giá – Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước.

<!–


–>

Điều đáng nói là các tác phẩm kịch bản này được xét ở Hội đồng Văn học – vốn được xem là “lãnh địa riêng” của văn chương, trong khi kịch bản điện ảnh từ lâu vẫn bị “đẩy qua, đẩy lại” giữa văn học và điện ảnh và dù bên văn học không phũ phàng từ chối kịch bản nhưng chính các nhà biên kịch điện ảnh lại không thừa nhận kịch bản điện ảnh là tác phẩm văn học. 

Vai trò “viên gạch móng” của kịch bản

Không vô cớ khi vị trí của biên kịch luôn đứng đầu danh sách các thành phần làm phim trên genericque. Đây là vị trí khẳng định vai trò “viên gạch móng” của kịch bản trong quá trình sáng tạo nghệ thuật thứ bảy. Nói cách khác, “có bột, mới gột nên hồ”, một kịch bản hay sẽ là tiền đề quan trọng của một bộ phim tốt, ngược lại rất hiếm khi, thậm chí không bao giờ một phim xuất sắc lại có điểm xuất phát từ một kịch bản dở.

Về điều này, đạo diễn, NSND Hải Ninh với tư cách là đạo diễn của những bộ phim giành nhiều giải thưởng trong và ngoài nước, trong đó có các phim được làm từ “viên gạch móng” là những kịch bản của nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ – người vừa được tôn vinh với Giải thưởng Hồ Chí Minh, khẳng định: “Đối với tôi, người biên kịch rất quan trọng. Anh ta là người bắt đầu cho quá trình hình thành một tác phẩm điện ảnh. Đó là giá trị khách quan không thể phủ nhận, bởi điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp bắt đầu từ kịch bản do người biên kịch làm ra.

Ở các nước phương Tây người ta quan niệm kịch bản điện ảnh càng ít chất văn học càng tốt. Nó không phải là một thể loại văn học và càng không liên quan gì đến văn học, nó chỉ có một mục đích duy nhất là cung cấp cho người đạo diễn một không gian điện ảnh với những gợi ý về hình ảnh và âm thanh. (Đạo diễn, NSND Đặng Nhật Minh) 

Mặc dù ai cũng thừa nhận một chân lý: tác giả chính của phim là đạo diễn, nhưng nếu kịch bản không gợi được cảm hứng thì đạo diễn khó có thể làm nên một bộ phim hay. Với riêng câu chuyện hợp tác giữa tôi và nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ, tôi coi đó là sự hợp tác lý tưởng trong sáng tác giữa biên kịch và đạo diễn. Sự nghiệp của chúng tôi “dính liền” với nhau qua nhiều tác phẩm, đều là tác phẩm mang lại danh tiếng cho cả hai người. Vì thế chưa bao giờ, và không bao giờ tôi đánh giá khác đi vai trò của nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ trong thành công của những tác phẩm đó”.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập, tác giả của kịch bản Đời cát, Thung lũng hoang vắng…, trong cuộc tranh luận giữa đạo diễn và biên kịch nhằm xác lập vai trò “tác giả” của bộ phim cách đây không lâu thì quả quyết: “Bây giờ, nhà biên kịch viết kịch bản điện ảnh chứ không phải kịch bản văn học. Kịch bản điện ảnh thực sự là bộ phim trên giấy, và nhà sản xuất yêu cầu đạo diễn làm phim đúng theo kịch bản đã phê duyệt, khi đó vai trò đạo diễn bất quá là vai trò của một tổng công trình sư trong các công trình kiến trúc”.

Đồng quan điểm với nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà văn Chu Lai- tác giả của nhiều kịch bản phim và sân khấu nói: “ Với kinh nghiệm của người nhiều năm hoạt động trên cả 3 lĩnh vực văn học, điện ảnh và sân khấu, tôi khẳng định điện ảnh, sân khấu có những đặc thù riêng. Nếu nhìn câu chữ trên bản thảo giấy, kịch bản điện ảnh và sân khấu hoàn toàn không phải là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh. Nhưng với từng lĩnh vực của nó thì nó lại có vai trò hoặc là “đặt nền móng” cho bộ phim; hay quyết định sự thành công của vở diễn – sân khấu”.

Lần đầu tiên tác phẩm của nhà biên kịch ĐA được tôn vinh với Giải thưởng Hồ Chí Minh (nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ – ảnh trên) và Giải thưởng Nhà nước (nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát). Ảnh: Trần Huấn-Phúc.Anh

Càng ít chất văn học càng tốt!

Khẳng định kịch bản điện ảnh không bao giờ là… tác phẩm văn học hoàn chỉnh, nhà biên kịch Trịnh Thanh Nhã chia sẻ: “Kịch bản điện ảnh và tác phẩm văn học thuộc hai hệ thống ngôn ngữ khác nhau. Thậm chí là rất khác nhau. Nếu đặt kịch bản bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ… kịch bản điện ảnh rõ ràng không phải là tác phẩm văn học hoàn chỉnh vì cách xử lý ngôn ngữ của kịch bản điện ảnh đâu có giống cách xử lý của ngôn ngữ tiểu thuyết, truyện ngắn, hay thơ…

Trong khi ở điện ảnh, không ai có thể phủ nhận được vai trò của kịch bản điện ảnh là viên gạch móng quan trọng để xây dựng nên tác phẩm điện ảnh. Nếu để hội đồng văn học xét và nhìn kịch bản điện ảnh với ánh mắt xăm xoi nó như một tác phẩm văn học… thì chắc chắn sau nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát, còn lâu lắm… các nhà biên kịch điện ảnh mới hy vọng chạm tới vinh quang là các giải thưởng HCM, hay giải thưởng Nhà nước”.

Đạo diễn, NSND Đặng Nhật Minh, với kinh nghiệm của một người viết kịch bản và trực tiếp làm đạo diễn cho đứa con tinh thần trên giấy của mình đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm trong một bài viết nói về sự khác nhau giữa văn chương và kịch bản điện ảnh: “Ở Liên Xô trước đây, vị trí của người biên kịch điện ảnh được đề cao ngang hàng với nhà văn. Kịch bản điện ảnh được coi như một thể loại của văn học. Trái lại ở các nước phương Tây người ta quan niệm kịch bản điện ảnh càng ít chất văn học càng tốt. Nó không phải là một thể loại văn học và càng không liên quan gì đến văn học, nó chỉ có một mục đích duy nhất là cung cấp cho người đạo diễn một không gian điện ảnh với những gợi ý về hình ảnh và âm thanh. Chúng ta thường nghe nói nhiều về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh. Dường như giữa hai lĩnh vực này có mối liên hệ bí ẩn nào đó mà những người làm điện ảnh phải khám phá cho mình nếu muốn làm tốt công việc chuyển thể một tác phẩm văn học lên màn ảnh. Qua kinh nghiệm ít ỏi của mình tôi nhận thấy văn học và điện ảnh tuy là những người bạn đồng hành nhưng hai lĩnh vực đó hoàn toàn khác nhau”.

Cũng đứng ở vị trí đạo diễn để nói về về kịch bản điện ảnh, đạo diễn, NSƯT Vũ Xuân Hưng đưa ra một khái niệm được viết trong một cuốn sách của Mỹ. Theo khái niệm này thì kịch bản là tài liệu nhằm cung cấp cho đoàn làm phim các dữ liệu về hình ảnh và âm thanh. Có nghĩa, kịch bản điện ảnh không bao giờ là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh. Bởi lẽ, thay vì chăm chút ngôn ngữ văn học như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ… kịch bản điện ảnh chăm chút các chi tiết liên quan đến hình ảnh, âm thanh. Nó là một bộ phim trên giấy mà đọc nó, người ta có thể hình dung phần nào bộ phim tương lai. “Nếu kịch bản điện ảnh là tác phẩm văn học thì tại sao phải có khái niệm “chuyển thể điện ảnh”? Bởi, tác phẩm văn học chứa cốt truyện, nhân vật, thoại, hình ảnh là cơ sở để xây dựng một bộ phim nhưng không phải tất cả các trang viết đều có thể sử dụng được.

Thậm chí, các nhân vật, thoại trong tác phẩm văn học đôi khi chỉ là sự gợi mở ban đầu để các nhà viết kịch bản đào sâu, làm rõ, làm nổi theo ý tưởng của các nhà làm phim. Trong khi đó, kịch bản điện ảnh có ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ ấy rất cụ thể, giúp người đọc có thể hình dung về bộ phim tương lai với những hình ảnh, âm thanh, bối cảnh được thể hiện thế nào… Nói tóm lại, kịch bản điện ảnh không bao giờ là tác phẩm văn học hoàn chỉnh” – đạo diễn Vũ Xuân Hưng khẳng định.

Nguyệt Nhi

%d bloggers like this: