Lưu trữ | 11:05 Chiều

Trung Quốc không thể độc chiếm Biển Đông – VHNA

13 Th6

Yuriko Kpoike

VHNA : Tình hình biển Biển Đông đang trở nên nóng hơn bởi lập trường và cách ứng xử của các nước có liên quan, nhất là các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga…Tư tưởng bá quyền của Trung Quốc ngày càng bộc lộ bằng hành động tăng cường lực lượng quân sự và tuyên bố sắn sàng sử dụng vũ lực nếu cần thiết.

Báo chí Trung Quốc cũng đã công khai tư tưởng và hành động bá quyền với luận điệu tuyên truyền xảo trá, đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế. Hành động này của phía Trung quốc đã và đang bị dư luận quốc tế vạch trần và lên án. Để bạn đọc có thêm thông tin tham khảo, nhận chân tư tưởng và hành động bá quyền của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay, VHNA giới thiệu bài viết của Yuriko Kpoike – cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhật Bản.

Trung Quốc hiện đang tranh chấp với Philippines về bãi cạn Scarborough và với Nhật Bản về quần đảo Senkaku ở biển Đông , cả hai đều ở cách Trung Quốc quá 200 hải lý. Thật tình mà nói, hiện nay Trung Quốc đang đưa những đòi hỏi về đất đai quá ư rộng lớn khiến nhiều người Á Đông tự đặt câu hỏi làm sao thỏa mãn được ý muốn củaTrung Quốc trong cái gọi là phải bảo đảm “những quyền lợi căn bản” của Trung Quốc. Trong cái đòi hỏi vô giới hạn này, phải chăng lại một lần nữa Trung Quốc đã tự coi mình là “đế quốc Trung ương” và muốn cả thế giới đều phải cúi đầu ?

Cho tới nay Trung Quốc chỉ chính thức liệt kê Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương trong số “những quyền lợi căn bản” của Trung Quốc khi đưa ra những từ ngữ cố chày về khái niệm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Trung Quốc hiện giờ lại muốn áp dụng những từ ngữ đó cho đảo Senkaku và đang đi gần đến hiểm nguy khi đòi hỏi tất cả biển Nam Trung Hoa đều thuộc về mình; thật ra nhiều cấp cao Trung Quốc đang đưa ý đồ đó vào hiện thực.

Quần đảo Senkaku nằm ở phía Tây Okinawa trong Biển Đông không có người ở, được chính phủ Minh Trị Thiên hoàng sáp nhập vào nước Nhật từ năm 1895. Có một thời gian ngắn, đảo được dùng làm chỗ cư ngụ cho các ngư phủ một xí nghiệp đánh cá ngừ. Năm 1969, Ủy hội Kinh tế Á đông và Viễn đông của Liên hiệp quốc phác giác là ở gần những đảo này có nhiều khoáng vật và dầu khí. Cả 2 bên Đài Loan và Trung Quốc đều đòi hỏi có chủ quyền trên quần đảo này, nhưng đối với chính phủ Nhật, chủ quyền của Nhật Bản là điều không thể chối cãi được.

Tháng Tư năm 2012, thủ hiến Tokyo, Shintaro Ishihara, báo tin là chính phủ sẽ mua lại 4 đảo trong quần đảo hiện thuộc quyền sở hữu của tư nhân. Tiền quyên để mua lại những đảo này đã lên đến quá 8,4 triệu đô la. Nhà cầm quyền Trung Quốc phản ứng lại đề nghị này bằng cách không tiếp người con của Ishihara, tổng thư ký đảng Dân chủ Tự do (đảng đối lập chính hiện giờ), mặc dù cuộc viếng thăm này đã được tiên liệu từ lâu.

Và trong cuộc hội nghị giữa 2 thủ tướng Nhật Bản, Yoshihiko Noda, và Trung quốc, Ôn Gia Bảo, bên lề cuộc họp thượng đỉnh tay ba với Đại Hàn, Ôn Gia Bảo đã gắn kết cùng trong một câu nói, phong trào Ouighour đòi độc lập cho Tân Cương và vấn đề quần đảo Senkaku : “ Điều quan trọng là phải tôn trọng quyền lợi căn bản của Trung Quốc và những vấn đề đặc biệt nhạy cảm “. Chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng những từ ngữ này khi nói về quần đảo Senkaku. Cuộc hội họp đã kết thúc nhanh chóng. Lời tuyên bố chung sau buổi họp thượng đỉnh bị trì hoãn tới ngày hôm sau và trong bản tuyên bố không đả động gì tới Bắc Triều Tiên tuy đây mới là một trong những vấn đề chính đối với Nhật Bản và Đại Hàn.

Thật là một sự lăng nhục cho các nhà lãnh đạo Nhật Bản, đồng thời cũng có giá trị một sự cảnh cáo không những về quần đảo Senkaku, mà còn về chuyện Nhật đã tiếp đón Hội nghị IV toàn thế giới dân tộc Ouighour ở tháng 5 năm ngoái, mặc dù Hội nghị không được sự chấp thuận chính thức của chính phủ Nhật.

Ngoài ra hải quân Trung Quốc có mặt mỗi ngày một nhiều ở phía Nam biển Đông kế cận quần đảo Spratleys (Trường Sa) của Việt Nam. Sự quyết tâm làm chủ biển Đông mới này của Trung Quốc đã tạo ra nỗi lo sợ cho những nước ven biển Đông. Philippines không những bị dọa dẫm bởi những tàu chiến Trung quốc ngoài khơi bãi cạn Scarborough, mà hàng hóa Philippines còn bị Trung Quốc giới hạn nhập khẩu.

Sự xâu xé nhau trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc cũng làm các lời tuyên bố của các lãnh đạo Đảng trở lên cứng rắn, dứt khoát hơn và không ai muốn tỏ vẻ hòa hoãn. Nhưng sở dĩ chính quyền Trung Quốc cho tới bây giờ vẫn không tổ chức những cuộc biểu tình khổng lồ chống Nhật Bản để biểu lộ sự không bằng lòng của mình, là vì không một nhà lãnh đạo Trung Quốc nào không cảm thấy địa vị của mình quá là bấp bênh từ khi Bắc Hy Lai bị hạ bệ : những người này không dám chắc một cuộc biểu tình chống Nhật không có thể biến thành một cuộc biểu tình chống chính phủ.

Quyền lợi căn bản của Trung Quốc không nằm trong sự bành trướng đất đai hay làm bá chủ các nước láng giềng mà là sự kính trọng nhân quyền và sự cải thiện đời sống của mỗi người công dân. Khi nào các nhà cầm quyền Trung Quốc mới biết là những đòi hỏi đất đai ở biển Đông chỉ có thể được giải quyết bằng những cuộc đàm phán đa phương để những nước nhỏ bé như Philippines và Việt Nam không cảm thấy bị đe dọa. Cái gọi là “những quyền lợi căn bản” của Trung Quốc mỗi ngày một lớn sẽ phải chịu trách nhiệm về sự mất ổn định ở Đông Nam Á.

Nguyên Phong dịch từ nguyên văn tiếng Pháp

Nguồn : Nhật báo Le Figaro ngày 31-5-12 từ bản tiếng Anh của Projet Syndicat, 2012 (www.projet-syndicate.org).

Kỷ vật “Hồ trường” – Báo QN

13 Th6

Bài thơ “Hồ trường” viết từ bao giờ, tác giả là ai vẫn chưa được kiểm  chứng chuẩn xác. Chỉ biết rằng, đó là một bản tửu ca để sớt chia một “Hồ  trường” cùng người tri kỷ… Có lẽ suốt thời gian dài, rất hiếm tài liệu khẳng định chính bản của bài thơ “Hồ trường”. Nên phần lớn, nhất là tại Quảng Nam khi nhắc đến tác phẩm này, nhiều người thường ngộ nhận Nguyễn Bá Trác là tác giả. Tuy nhiên, theo một bài viết của nhà thơ Đông Trình dẫn lời học giả Nguyễn Văn Xuân cho biết, bài “Hồ trường” do Nguyễn Bá Trác dịch lại từ một ca khúc của Trung Quốc. Về mặt văn bản học, do xuất xứ phức tạp của “Hồ trường” nên các bản đang lưu hành có nhiều điểm khác biệt.

alt
Tác giả và ông Đặng Chi Khuê (Đà Nẵng), người lưu giữ kỷ vật “Hồ trường”.

Dù nhìn nhận thế nào chăng nữa, “Hồ trường” vẫn gắn liền cùng tên tuổi Nguyễn Bá Trác. Ông sinh năm Tân Tỵ (1881) tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, đỗ cử nhân năm 1906. Hưởng ứng phong trào Đông du, Nguyễn Bá Trác sang Nhật du học. Sau khi Chính phủ Nhật cấu kết với Pháp giải tán lưu học sinh Việt Nam, ông phải chạy sang Trung Quốc. Năm 1917, khi trở về Hà Nội, ông làm chủ bút phần Hán văn cho Nam Phong tạp chí.  Sau thôi làm ở báo Nam Phong, ông vào Huế làm Tá lý Bộ Học và lần lượt trải qua các chức vụ: Tuần phủ Quảng Ngãi, Tổng đốc Thanh Hóa, Tổng đốc Bình Định. Tháng 8.1945, Việt Minh lên nắm chính quyền, ông bị xử bắn công khai tại Quy Nhơn (Bình Định).

altTrượng phu không hay sé gan bẻ cột phù cương thường; Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương Trời nam nghìn dậm thẳm, mây nước một mầu sương Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thể bóng tà dương. Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường. Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu? Rót về đông phương, nước bể đông chẩy xiết sinh cuồng lạn; Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương; Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta hay Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.
(Nguyên bản lời ca “Hồ trường” của Nguyễn Bá Trác dịch thoát trích từ Nam Phong tạp chí số 41 năm 1920, có một số lỗi sai so với chính tả ngày nay).

Nhắc về trường hợp của ông, sinh thời nhà thơ Quách Tấn nhận xét: “Nguyễn Bá Trác lúc theo cụ Sào Nam ở hải ngoại và Nguyễn Bá Trác ra làm quan cùng thực dân Pháp là hai khúc sông trong đục khác hẳn nhau. Mà bài “Hồ trường” là nỗi lòng khi chưa ngấm mùi danh lợi. Bởi lòng có thể dối được với nhân thế mà không thể dối được với văn chương. Vì sao vậy, vì văn chương phản chiếu tâm sự. Trừ phi tấm gương phản phúc tức văn chương không thành văn chương, thì tâm sự mới bị lệch lạc. Mà bài “Hồ trường” văn chương chân thực, không có chút giả tạo, nên đáng tin rằng lòng của Nguyễn Bá Trác lúc còn ở hải ngoại chưa bị bùn danh lợi làm vẩn nhơ. Ít ra lúc làm bài “Hồ trường”, lòng Nguyễn Bá Trác lắng hết bùn danh lợi xuống dưới đáy sâu, nên văn chương mới được thanh tao thế ấy. Đó là mảnh gương phản chiếu khúc sông trong của quãng đời tha phương của Nguyễn Bá Trác”.

Đến nay, có ít nhất 5 bản in lời ca “Hồ trường”, mà các bản có nhiều chỗ không giống nhau. Nam phương ca khúc là tên tạm đặt cho lời ca mà Nguyễn Bá Trác đã nghe được, chép lại và dịch thành lời ca “Hồ trường”.

Nam phương ca khúc được đăng lần đầu tiên theo thiên ký sự Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác trên Nam Phong tạp chí phần chữ Hán số 30, trang 214 năm 1919. Về mặt văn bản thì bài ca ấy không rõ tựa đề, không biết tác giả, Nguyễn Bá Trác chép lại toàn vẹn Nam phương ca khúc. Và khi Hạn mạn du ký được in sang chữ Việt thì lời ca này đã được dịch rất thoát, tuy nhiên nó vẫn là “lời ca” minh họa cho văn cảnh ấy chứ không phải “bài thơ Hồ trường” như nhiều người từng gọi.

Cảm xúc trước những lời thơ đầy tâm trạng của ông, tôi vẫn thường băn khoăn muốn đi tìm chén rượu “Hồ trường” liệu còn lưu lạc đâu đó trong thiên hạ và “xé gan bào cật” đến đâu. Cuối cùng, nhờ sự hướng dẫn và giới thiệu của họa sĩ Đỗ Toàn (đã mất), hai kỷ vật của Nguyễn Bá Trác mà tôi tìm được lại không phải là một bầu rượu với chiếc cổ cao ngất ngưởng của những tráng sĩ phương Đông mà chỉ là một bộ tách trà cổ, kèm một bình rượu… Tây. Người giữ những kỷ vật này là ông Đặng Chi Khuê (đường Hoàng Diệu- TP.Đà Nẵng), vốn là chủ hiệu sách nhưng lại đam mê đồ cổ. Theo ông Khuê, cơ duyên có được bộ tách trà của Nguyễn Bá Trác do cha ông lưu lại. Tương truyền, sau khi Nguyễn Bá Trác bị xử tội, người nhà đã đem bán hoặc cho các vật dụng liên quan đến ông. Lúc bấy giờ, gia đình của ông Khuê vì quý tài của Nguyễn Bá Trác nên đã mua lại bộ ấm trà ấy. Trải bao thăng trầm, bộ ấm trà vẫn còn nguyên dáng cũ, nhưng người của “Hồ trường” đã khuất xa.

TRẦN TRUNG SÁNG

Bài phát biểu tại lễ tốt nghiệp trung học gây chấn động nước Mỹ – TS/BS

13 Th6

 

Theo The Swellesley Report/Tuổi trẻ
Giáo viên David McCollough Jr khi đọc bài diễn văn gây sốc – Ảnh: The Swellesley Report
Phát biểu trong lễ tốt nghiệp của các học sinh lớp 12 Trường trung học Wellesley High ở bang Massachusetts (Mỹ) tuần trước, giáo viên tiếng Anh David McCollough Jr đã gây sốc khi nói thẳng.
Thế nhưng, bài phát biểu của David McCollough lại được nhiều tờ báo và hãng tin Mỹ đăng tải, và thu hút được hàng chục ngàn comment (bình luận) trên mạng Internet, phần lớn đều ủng hộ thông điệp của ông McCollough.
Trong bài diễn văn tại lễ tốt nghiệp năm 2012, thay vì lặp lại những câu sáo mòn như “Chúng tôi rất tự hào về các em”, “Các em rất tài năng”, “Thế giới là của các em”…, ông McCollough đưa ra một thông điệp mà giới truyền thông Mỹ mô tả là “Xin chào mừng các em đến với cuộc đời thực”.
Wellesley High là trường công nổi tiếng ở thị trấn giàu có Wellesley, có truyền thống lâu đời và từng sản sinh nhiều nhân tài cho nước Mỹ. David McCollough Jr là con trai của nhà sử học – nhà văn David McCollough, người từng đoạt giải thưởng Pulitzer.
Trước các học sinh của mình đang xúng xính trong bộ đồng phục tốt nghiệp giống nhau, đang háo hức cầm trên tay tấm bằng, McCollough dõng dạc nói rằng “Các em chẳng có gì là đặc biệt”, “chẳng có gì là phi thường”! Một gáo nước lạnh như được giội xuống mọi thành tích vẻ vang của trường!
Được chăm bẵm quá mức
Trước bao ánh mắt mở to sửng sốt, McCollough điềm nhiên nói tiếp: “Các em đã được hầu hạ tận miệng, nâng niu mỗi ngày, được nuông chiều, được bảo bọc cẩn thận. Vâng, người lớn đã ôm hôn các em, cho các em ăn, lau miệng… cho các em. Họ dạy dỗ, hướng dẫn, lắng nghe, động viên và an ủi các em. Các em được nâng niu, phỉnh phờ, dỗ ngon dỗ ngọt, được nghe toàn những lời nài nỉ.
Các em được người lớn ngợi khen đến tận trời xanh, được gọi là cục cưng. Đúng vậy đó. Chúng tôi đã ở bên cạnh các em trong các trò chơi, vở kịch, các cuộc biểu diễn âm nhạc, hội chợ khoa học. Những nụ cười tỏa sáng khi các em bước vào phòng, đáp lại mỗi tin nhắn trên Twitter của các em là những tiếng hô hào hứng. Và giờ các em đã chinh phục được trường trung học. Nhưng đừng lầm tưởng rằng các em là đặc biệt. Không có chuyện đó đâu nhé!”.
Đến đây, McCollough dẫn các học sinh vào một hiện thực đang chờ đợi mình. “Mỗi năm có ít nhất 3,2 triệu học sinh tốt nghiệp từ hơn 37.000 trường trung học trên toàn quốc. Đó là 37.000 học sinh tiêu biểu của các trường, 37.000 chủ tịch hội học tập, 92.000 giọng ca nổi bật, 340.000 vận động viên… Nhưng tại sao lại tự giới hạn chúng ta ở trường trung học thôi? Hãy thử nghĩ xem. Nếu cả triệu người mới có một người như các em thì trên thế giới 6,8 tỉ dân này sẽ có tới gần 7.000 người như các em. Hãy nhìn toàn cảnh. Hành tinh của chúng ta không phải là trung tâm Hệ mặt trời, Hệ mặt trời không phải là trung tâm Ngân hà, Ngân hà cũng chẳng phải là trung tâm vũ trụ. Các nhà thiên văn đã khẳng định vũ trụ không có trung tâm đâu, do đó các em không thể là “cái rốn” của vũ trụ. Ngay cả tỉ phú Mỹ nổi tiếng Donald Trump cũng chẳng là “cái đinh” gì”.
McCollough dẫn dắt tiếp: “Người Mỹ chúng ta giờ đây yêu các danh hiệu hơn là những thành công thật sự. Chúng ta coi danh hiệu là mục tiêu và sẵn sàng thỏa hiệp, tự hạ thấp các chuẩn mực, hoặc phớt lờ thực tế khi cho rằng đó là cách nhanh nhất hoặc duy nhất để có được những thứ có thể đem ra khoe mẽ, để có một vị trí tốt hơn trong xã hội… Hậu quả là chúng ta đang coi rẻ các trải nghiệm đáng giá, thế nên việc xây dựng một cơ sở y tế ở Guatemala trở thành chìa khóa để chạy xin vào học tại Bowdoin (học viện nghệ thuật nổi tiếng ở Mỹ) hơn là việc này vì cuộc sống của người dân Guatemala”.
Hạnh phúc không tự tìm đến
McCollough nhấn mạnh mục tiêu thật sự của giáo dục không phải đem lại lợi thế vật chất mà là sự hiểu biết, yếu tố quan trọng của hạnh phúc. “Trước khi các em tỏa đi khắp nơi, tôi kêu gọi các em hãy làm những gì mình yêu thích và tin tưởng. Hãy kháng cự lại sự thỏa mãn nhất thời, vẻ lóng lánh bề ngoài của vật chất, sự tê liệt của lòng tự mãn. Hãy xứng đáng với những lợi thế mà mình có”.
Sau khi khuyên các học sinh hãy tiếp tục đọc sách thường xuyên, phát triển ý thức về đạo đức, khẳng định cá tính, dám ước mơ, làm việc chăm chỉ và tư duy độc lập, yêu những người mình yêu hết mình, McCollough nhắc nhở: “Hãy làm như vậy một cách nhanh chóng, bởi mỗi giây phút đều quý giá. Cuộc sống hạnh phúc, có ý nghĩa là một thành tựu đòi hỏi nỗ lực, chứ không phải là thứ từ trên trời rơi xuống vì các em là người tốt hay vì cha mẹ đưa đến tận tay các em.
Các em hãy nhớ rằng những người tạo dựng nên nước Mỹ đã nỗ lực đảm bảo quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Mưu cầu là một động từ, và tôi nghĩ các em sẽ không có nhiều thời gian để nằm ườn một chỗ xem mấy trò nhảm nhí trên YouTube. Đừng mong chờ cảm hứng và niềm đam mê sẽ tự tìm đến với các em. Hãy đứng dậy, bước ra bên ngoài, tự mình khám phá, tìm kiếm cảm hứng cùng niềm đam mê và hãy giữ chắc nó bằng cả hai bàn tay”.
Kết thúc phát biểu của mình, ông McCollough nhắn nhủ các học sinh hãy tự chủ, độc lập, sáng tạo không vì sự thỏa mãn do hành động đó mang lại, mà vì những điều tốt đẹp nó đem đến cho người khác. “Và khi đó, các em sẽ phát hiện sự thật vĩ đại và lạ lùng của cuộc sống. Đó là lòng vị tha, sống vì người khác, và đó là điều tuyệt vời nhất các em có thể làm được cho bản thân. Những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống chỉ đến khi các em nhận ra rằng mình không có gì là đặc biệt”.
Sự quan tâm thái quá của người lớn khiến cái tôi của bọn trẻ phình to. Do đó, tôi nghĩ chúng cần một cách suy nghĩ mới. Đưa chúng vào đời với cái tôi quá lớn chẳng khác nào làm hại chúng.
McCollough khẳng định. Trả lời phỏng vấn Fox News, McCollough giải thích ông muốn các học sinh hiểu rằng chúng phải nỗ lực nếu muốn thành công trong cuộc đời.

Những chuyện bịa đặt và xúc phạm trong cuốn sách Danh Nhân Và Thời Đại – lethieunhon

13 Th6

Về nhân vật Võ Duy Dương, những gì được viết trong sách cũng chứa đầy những lỗi sai cơ bản về gia phả, tiểu sử, hành trạng cho đến tên gọi (các trang 222-224). Chẳng biết dựa vào đâu, tác giả cuốn sách đã cho rằng “Võ Duy Lập đã phải đổi tên thành Võ Duy Dương…”, trong khi đây là hai người hoàn toàn khác nhau. Thậm chí tên gọi Thiên hộ Dương cũng bị sách bịa tạc, sửa thành… Thiên hộ vương. Nghiêm trọng hơn cả, hai tác giả cả gan gán ghép cho rằng Võ Duy Dương là cha đẻ của Nguyễn Sinh Sắc. Trang 228 – 229 viết: “Thiên hộ Võ Duy Dương có 5 người con Võ Cường, Võ Kỳ, Võ Sắc, Võ Thị Thắm, Võ Thị Lan. Sau khi rời Đồng Tháp Mười về quê, Võ Sắc vừa lên 4 tuổi … Để che giấu bọn thực dân Pháp và tay sai thân Pháp, ông (Võ Duy Dương) liền tìm cách liên lạc với ông đồ Hoàng Đường ở Nghệ An, nơi có quan hệ ruột thịt với Tổng trấn Hoàng Diệu … Vì lẽ đó nên thầy Hoàng Đường tìm đủ mọi cách để cho Võ Sắc có cha đẻ hẳn hoi và lấy họ của người gọi là cha, sao cho thật hợp lý và hợp Pháp, nên Võ Sắc đã được nhà giáo Hoàng Đường hợp pháp hóa vào họ Nguyễn ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thay vì họ Võ Duy ở Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”.

Sách “Danh nhân và thời đại”: Bịa đặt và xúc phạm
CAO VĂN THỨC
Sách do NXB Đồng Nai vừa ấn hành. Tên sách giống như một cẩm nang tra cứu nhưng suốt gần 300 trang in, hai tác giả Lê Văn Tiễn – Lê Nam đã có rất nhiều sự nhẫm lẫn, sai lệch về các sự kiện lịch sử; thiếu sót về ngữ pháp, chính tả… Chúng tôi chỉ xin trích dẫn ra một số sai phạm quá ngô nghê nhưng rất nghiêm trọng.
Ở trang 9, về cuộc đối đáp của sứ thần Lê Quang Định (1759 – 1813) với vua Càn Long nhà Thanh, khi dẫn đầu sứ đoàn sang Trung Quốc cầu phong năm 1802, sách viết: “Vừa nghe vua Thanh nói, Lê Quang Định vừa nhớ ngay đến đến một bài học thuộc lòng: “Đáng khen Trần Bình Trọng/ Dòng dõi Lê Đại Hành/ Đánh giặc dư tài mạnh/ Thờ vua một tiết trinh/ Bắc vương sống mà nhục/ Nam quỷ thác cũng vinh…” do chính người cha kính yêu của ông đã từng đọc cho ông tập viết khi ông mới bắt đầu lóng ngóng cầm cây bút trên tay”. Thật ra, bài thơ đó là của Phan Kế Bính (1875 – 1921) sáng tác đầu thế kỷ XX. Bất chấp, hai tác giả lại sách vẫn cho người của thế kỷ XVIII – XIX “học thuộc lòng”. Đi trước thời gian quá lâu nên phần trích dẫn chứa không ít điểm sai sót, âu cũng không là sự lạ.
Dành khá nhiều trang viết về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, hai tác giả lại pha vào những đoạn theo kiểu sáng tác văn học với sự hư cấu bịa đặt, trình bày đầy xúc phạm. Trang 20 có đoạn: “Khi Phan Thanh Giản dâng ba thành cho Pháp xong, Pháp có mời vị Lược sư quân sự này sang Tây chơi…Trong chuyến đi này Pháp đã cho Giản tha hồ tự do ăn chơi vô tội vạ, để đến khi về nước dù chẳng có ai hỏi chắc chắn Giản cũng xưng, cũng cứ thèm chảy dãi”. Sự thật, Phan Thanh Giản cầm đầu phái bộ sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh Đông Nam Kỳ vào năm 1863, làm gì có chuyện Pháp mời Phan Thanh Giản sang Paris để ăn chơi (!).
Trang 24, tác giả còn hư cấu sau khi đi sứ nước Pháp về, Phan đã kể cho vua nghe chuyện “đèn lồng treo ngược” (bóng đèn điện). Vua không tin quát tháo và bắt ông làm chiếc đèn như thế. Phan hoảng hốt đi khắp nơi nhưng không tìm được, lo sợ bị vua xử tội đã tự tử. Sau đó hư cấu thêm: “Nhưng may thay chính lúc ấy là lúc Lược sư quân vụ gặp ngay chú bé đi bắt ếch đêm. Thấy vậy chú bé liền nhảy ngay xuống sông sâu cứu được người tự vẫn”. Lố bịch hơn: “Tay cậu bé lôi ngay ra một cái đèn pin tự tạo mà chính tay cậu đã làm vẫn thường để đi bắt ếch, bật qua, bật lại, tắt lại, bật qua luôn mấy cái làm cho vị tiến sĩ Lược sư quân vụ thấy thế nhảy bổ lại định giật lấy xem và không quên reo lên: – Đúng rồi! Đúng rồi! Nó là cái đèn treo ngược, cái đèn treo ngược, cái đèn giữ mạng sống cho ta. Ta mua, cho ta mua một quan chứ năm quan ta cũng mua, mua ngay”. Quả là bậy bạ hết chỗ nói, không còn gì để bình luận.
Về nhân vật Phan Đình Phùng, ở trang 177, tác giả viết: “…tìm mãi chúng mới thấy phần mộ của thủ lĩnh Phan Đình Phùng vì ông đã băng hà do tuổi già sức yếu, thọ đúng 70 xuân, trên một tấm bia chôn chìm dưới đất, có dòng chữ: Phan Đình Phùng bất tử”. Phan Đình Phùng sinh năm 1847, mất vì bệnh (có sách viết là cụ Phan qua đời vì bị thương nặng) năm 1895 ở chiến khu Vụ Quang (Hà Tĩnh), hưởng dương 49 tuổi. Từ “băng hà” chỉ dùng để chỉ sự qua đời của vua đã được tác giả sách sử dụng rất tùy tiện. Sau khi cụ Phan qua đời, tên Việt gian Nguyễn Thân dẫn quân vào căn cứ nghĩa quân, cho khai quật mộ cụ lên nhưng tấm bia thì chẳng thấy tài liệu nào nhắc đến cả. Chắc chỉ có trong trí tưởng tượng của tác giả mà thôi. Sự ấu trĩ ngô nghê tiếp tục lặp lại ở trang 181: “Vương nghĩa là vua, vua đồng nghĩa với vương. Cần vương nghĩa là cả nước đang cần có một ông vua… Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở nước ta luôn luôn nổ ra các phong trào Cần Vương khởi nghĩa ở khắp nơi”. Ai cũng biết, chỉ có một phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi lãnh đạo diễn ra từ tháng 7/1885 đến 1895 thì chấm dứt hẳn. Sang đầu thế kỷ XIX, không diễn ra phong trào Cần Vương nào nữa mà chỉ có các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.
Trang 198, tác giả viết: “…kỳ thi năm Tân Sửu (1901), cụ Nguyễn Sinh Sắc đã đậu đầu bảng đại khoa, với học vị là Phó bảng, vì ngoài học vị này của cụ Nguyễn Sinh Sắc ra năm ấy không có ai đậu cao hơn”. Viết như thế chứng tỏ tác giả không hiểu về khoa cử thời Nguyễn. Phó bảng là bảng phụ (Ất bảng) ghi tên những tiến sĩ lấy thêm để phân biệt với những người đỗ tiến sĩ chính thức. Theo “Quốc triều khoa bảng lục” của Cao Xuân Dục (1843 – 1923) thì khoa thi năm Tân Sửu (1901), cụ Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng, xếp thứ 11/13.
Ở trang 200, tác giả viết: “…viên Tổng đốc Nghệ An, với danh nghĩa là quan đại thần hàng tỉnh cứ vài tháng lại một lần, hắn lân la đến giả bộ thăm dò mời cụ Phó bảng ra làm quan để có cơ hội lần ra đầu mối nào đó của các nhà chí sĩ và thực chất là để bắt cụ, bắt một người mà hắn luôn luôn lo sợ sẽ có uy quyền hơn hắn…”. Tổng đốc Nghệ An vào thời gian này là Đào Tấn (1845 – 1907), quê ở Tuy Phước (Bình Định), là một nhà soạn tuồng hát bội nổi tiếng, một vị quan thanh liêm và yêu nước, có cảm tình với những nhà nho hoạt động cách mạng. Sau khi cụ Sắc đỗ Phó bảng và vinh quy về quê hương thì cụ Đào Tấn cũng được triều đình bổ nhiệm Tổng đốc Nghệ An, thâm tình gắn bó. Gọi tiền nhân đức cao vọng trọng bằng “hắn”, gán cho cụ Đào Tấn những hành vi vô lại, tác giả cuốn sách vừa thiếu kiến thức nghiêm trọng, vừa tỏ ra quá hỗn xược.
Trang 238, tác giả viết: “Nhẫn nại lắm cụ Phó bảng mới trụ lại được gần ba năm (1886 – 1889) làm quan cho triều Nguyễn. Suốt ba năm đó, năm nào cụ Phó bảng cũng thấy viên Khâm sứ Rheinard dồn ép vua Thành Thái không kiêng nể”. Cụ Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó Bảng năm 1901. Năm 1886, cụ mới 24 tuổi đang lo dùi mài kinh sử, chưa thi đỗ, thế mà đã ra làm quan? Vua Đồng Khánh mất năm 1889; người Pháp đưa hoàng tử Bửu Lân, con vua Dục Đức lên ngôi vua, lấy hiệu Thành Thái. Ở đây, tác giả đã tự ý đưa vua Thành Thái lên ngôi sớm hơn 3 năm.
Xào nấu, sao chép và tự bịa nên những gì được trình bày trong sách là một chuỗi những mâu thuẫn, sai lầm về mặt thời gian. Trang 203, tác giả viết: “…năm 1909 năm Nguyễn Sinh Cung mười chín tuổi cũng là năm cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc dâng sớ từ quan”. Trang 239 lại ghi: “Rời chốn quan trường năm 1906 cụ Phó bảng cùng hai con trai đi chu du khắp mọi nơi…”. Trang 252 chế tiếp: “Đến năm 1908 cũng lại với lý do vì tuổi tuy chưa già nhưng sức đã yếu cụ đã cương quyết xin treo ấn từ quan về làm nghề dạy học…”.
Về nhân vật Võ Duy Dương, những gì được viết trong sách cũng chứa đầy những lỗi sai cơ bản về gia phả, tiểu sử, hành trạng cho đến tên gọi (các trang 222-224). Chẳng biết dựa vào đâu, tác giả cuốn sách đã cho rằng “Võ Duy Lập đã phải đổi tên thành Võ Duy Dương…”, trong khi đây là hai người hoàn toàn khác nhau. Thậm chí tên gọi Thiên hộ Dương cũng bị sách bịa tạc, sửa thành… Thiên hộ vương. Nghiêm trọng hơn cả, hai tác giả cả gan gán ghép cho rằng Võ Duy Dương là cha đẻ của Nguyễn Sinh Sắc. Trang 228 – 229 viết: “Thiên hộ Võ Duy Dương có 5 người con Võ Cường, Võ Kỳ, Võ Sắc, Võ Thị Thắm, Võ Thị Lan. Sau khi rời Đồng Tháp Mười về quê, Võ Sắc vừa lên 4 tuổi … Để che giấu bọn thực dân Pháp và tay sai thân Pháp, ông (Võ Duy Dương) liền tìm cách liên lạc với ông đồ Hoàng Đường ở Nghệ An, nơi có quan hệ ruột thịt với Tổng trấn Hoàng Diệu … Vì lẽ đó nên thầy Hoàng Đường tìm đủ mọi cách để cho Võ Sắc có cha đẻ hẳn hoi và lấy họ của người gọi là cha, sao cho thật hợp lý và hợp Pháp, nên Võ Sắc đã được nhà giáo Hoàng Đường hợp pháp hóa vào họ Nguyễn ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thay vì họ Võ Duy ở Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”.
Về lai lịch cụ Nguyễn Sinh Sắc, các tài liệu, tác phẩm lịch sử chính thức xuất bản từ trước đến nay đều đã đề cập nhiều, thiết nghĩ không cần phải nhắc lại. Không biết là tác giả dựa vào cơ sở nào để nói Nguyễn Sinh Sắc là con Võ Duy Dương(?). Có lẽ tác giả dựa vào bài viết của Thượng Hồng ở cuốn “Văn hiến Quảng Ngãi”, một bài viết đã gây phản cảm trong dư luận? Đọc “Danh nhân và thời đại” , độc giả khó phân biệt được đây là một tác phẩm nghiên cứu lịch sử hay tiểu thuyết lịch sử, giai thoại lịch sử. Cuốn sách chứa đầy sai sót rất trầm trọng, cơ bản đồng thời cũng hư cấu, xuyên tạc sự thật; xúc phạm, bôi nhọ nhân vật lịch sử, hỗn xược với người đi trước. Không hiểu tại sao một cuốn sách như vậy lại được Nhà xuất bản Đồng Nai cho phép ấn hành?
Nguồn: Văn Nghệ Công An

Tư tưởng lập hiến ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 – NN&PL

13 Th6
Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng – Đại học Luật Hà Nội, được đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2011.
Lịch sử lập hiến Việt Nam bắt đầu từ năm 1946 khi bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua. Tuy nhiên, tư tưởng lập hiến đã xuất hiện ở Việt Nam trước đó khoảng gần một thế kỷ, sau khi bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, Hiến pháp nước Mỹ năm 1787 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nước Pháp năm 1789 ra đời, đặc biệt vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi những luồng gió mới của chính sách Duy tân của Minh Trị Thiên hoàng ở Nhật Bản và Cách mạng Trung Hoa năm 1911 thổi vào Việt Nam. Tư tưởng lập hiến Việt Nam đã xuất hiện trong giới trí thức Việt Nam mà tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Quang Chiêu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, đặc biệt là tư tưởng lập hiến của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.
1. Tư tưởng cải cách nhà nước của Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) Tư tưởng lập hiến xuất phát từ tư tưởng xây dựng nhà nước mà quyền lực của nó phải xuất phát từ nhân dân và quyền lực của người đứng đầu nhà nước (Vua, Tổng thống) phải bị hạn chế. Tư tưởng xây dựng một nhà nước như vậy xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam là tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ vào những năm 60 của thế kỷ XIX. Trong các tác phẩm: Thiên hạ phân hợp đại thế luận, Dũ tài tế cấp luận, Giáo môn luận, Tế cấp bát điều, Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị hàng loạt cải cách về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội. Về cải cách nhà nước, Nguyễn Trường Tộ đưa ra ba nguyên lý cơ bản là: Quốc dân nhất thể, Thượng hạ tình thông và Quân chủ thần quyền:
– Theo Nguyễn Trường Tộ, quốc dân nhất thể là nhà nước với nhân dân đồng một khối thống nhất, không mâu thuẫn, không đấu tranh, xem như một cơ thể, một thân người. Nguyễn Trường Tộ viết: “Lấy bề ngoài mà xét thì quốc và dân vốn phân biệt, nhưng theo cái lý tự nhiên tương sinh mà xét thì nó hình thành cho nhau, kết hợp nhau khăng khít không phải như bầu bạn muốn hợp, muốn ly, muốn dựa vào nhau hay không đều do mình tự quyết định. Một nước như một cơ thể, một bộ phận cơ thể bị đau thì cả cơ thể vì đó mà bất an; quốc gia với nhân dân, tất thảy đều như huyết mạch trong thân thể con người. Nếu có sự ủng trệ, không lưu thông thì tất nhiên sinh ra bệnh tật”.
Thượng hạ tình thông là mối quan hệ giữa quốc và dân, ấy là cơ sở của mọi chính sách lớn. Nguyễn Trường Tộ giải thích: “Trị nước phải cho cái tình được thông. Tình là cái sẵn có của dân. Trên dưới tình thông, không có cái gì vượt qua được điều ấy trong những chính sách lớn của quốc gia”. Căn cứ vào nguyên lý “Thượng hạ tình thông”, Nguyễn Trường Tộ đã phê phán chính trị lúc bấy giờ là: người trên thì rất xa với kẻ dưới mà kẻ dưới thì kiếm cách lừa dối, che giấu người trên; quyền lệnh của nhà nước thì giảm sút mà gian ngụy của dân ngày càng nảy nở; bởi vậy cho nên trên dưới khác lòng, tình không thông mà tắc, bên nào cũng muốn chiếm phần hơn cho mình cho nên nhà nước yếu đuối. Nguyễn Trường Tộ phê phán cái thực trạng “kẻ mạnh, kẻ yếu nuốt nhau, ăn ở với nhau như cái mâu, cái thuẫn, nhiều kẻ cho rằng nước mặc nước, ta mặc ta, thờ ơ”1. Theo ông, mặc dù pháp luật là chỗ dường như chỉ nhận có chữ lý mà bài trừ chữ tình thì ở đó chữ tình vẫn bị chi phối: “Pháp luật nghiêm thì hình như là vô tình mà kỳ thực là hữu tình tột mực. Khổng Minh nói rằng trị đời thì lấy đại đức mà không lấy tiểu huệ là ý đó vậy”2. Nguyễn Trường Tộ đã hoàn toàn đúng khi ông nhận xét rằng: “Ở các nước phương Tây lập pháp rất chặt chẽ, vì chặt chẽ mà trở thành khoan dung, ai nấy đều ở trong vòng pháp luật, không thể lừa dối nhau được, cho nên không sinh lừa dối mà cũng không nghĩ đến lừa dối, thấy dễ chịu, thấy pháp luật khoan dung. Ở phương Tây chưa từng nghe nói tha tô, miễn thuế mà dân với nước vẫn có tình thân hơn nước ta rất nhiều”3. Nguyễn Trường Tộ là một trong rất ít những người Việt Nam lúc bấy giờ hiểu được nền pháp trị của tư sản cao hơn cái gọi là “đức trị” hay “nhân trị” của phong kiến phương Đông.
Quân chủ thần quyền theo Nguyễn Trường Tộ không phải là chế độ quân chủ chuyên chế mà là xây dựng một nền quân chủ lập hiến, quyền lực cả nước phải ở trong tay Vua, nhưng Vua phải đặt mình trong pháp luật, không nên vượt ra ngoài. Quyền hạn to thì trách nhiệm nặng, quyền lực là phương tiện mà phúc lợi nhân dân là mục đích. Theo ông, “một nước cũng như một nhà, đối với cha mẹ, cái quan trọng nhất là bầy con thì đối với triều đình cái quan trọng nhất là dân chúng. Cái cong, cái thẳng đều công bố trước thiên hạ; mọi việc đặt xuống, cất lên đều lệ thuộc vào sự bình nghị của dân chúng”4. Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trường Tộ là xây dựng một chế độ quân chủ nghị viện hay nói một cách khác là nền quân chủ lập hiến.
2. Tư tưởng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX một cuộc bút chiến đã xảy ra giữa Phạm Quỳnh (lúc đó là Chủ bút Tạp chí Nam Phong) và Nguyễn Văn Vĩnh về vấn đề trực trị hay quân chủ lập hiến. Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương bãi bỏ chế độ vua quan ở miền Bắc, miền Trung và đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của Chính phủ Pháp. Còn Phạm Quỳnh cho rằng, có thể cải tạo chế độ vua quan cũ bằng việc xây dựng một chế độ quân chủ lập hiến, theo mô  hình  của  Anh và Nhật5. Theo Phạm Quỳnh, có thể xây dựng một bản Hiến pháp theo đó có thể vừa đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân Việt Nam, quyền cai trị của Hoàng đế Việt Nam và quyền bảo hộ của Chính phủ Pháp. Hiến pháp này được nhiều người gọi là Hiến pháp chân vạc. Tư tưởng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến được Phạm Quỳnh lý giải trên Tạp chí Nam Phong do ông làm chủ bút: “Quân chủ lập hiến là quốc vương đem một phần chính quyền của mình mà nhường cho một hội nghị thay mặt dân. Nhưng muốn nhường quyền thì trước hết phải có quyền đã, rồi phải biết nhường quyền ấy cho ai”6. “Theo về lối quân chủ lập hiến nghĩa là bản Hiến pháp cho dân cùng được tham dự một phần vào việc nước bằng một hội nghị bầu cử, quyền hạn rộng hẹp thế nào sẽ tuỳ theo trình độ dân mà định”7. Theo Phạm Quỳnh, lý do ông chọn mô hình quân chủ lập hiến là do tính chất ưu việt của hình thức chính thể này. Phạm Quỳnh đã tranh luận quyết liệt vấn đề này với các nhà tư tưởng lập hiến khác như Phan Chu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh tại Paris năm 1922 nhân dịp phái đoàn Nam triều sang Pháp dự triển lãm: “Có lẽ ở đây tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột sức và dân chủ hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm; họ có thể đứng vào đàn anh trên toàn cầu. Vậy tôi chủ trương quân chủ lập hiến, trong đó vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên thừa hành bản Hiến pháp mà chính những người đại diện nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình. Chớ như chế độ cộng hoà hay dân chủ thì sợ mỗi lần sau bốn năm có thay đổi Tổng thống thì phải thay đổi tất cả làm cho guồng máy hành chính trong nước phải bị xáo trộn trầm trọng”8. Trong bài báo: “Vấn đề lập hiến cho nước Nam”9 đăng trong Tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh đã trình bày những ý tưởng cơ bản của mình về chế độ quân chủ lập hiến: “Đặt ra cho Chính phủ quân chủ, giao cho quan trường cai trị, chúng tôi cũng bằng lòng. Nhưng quan trường như quan trường hiện nay, triều đình như triều đình bây giờ thì chúng tôi xin chịu, chẳng qua là cái lợi khí bất lương trong tay Chính phủ Pháp cả. Vậy xin sửa đổi quan trường lại, sửa đổi triều đình lại, làm cái cơ quan cốt yếu của một Chính phủ Việt Nam chân chính, có Hiến pháp hẳn hoi, định quyền hạn rõ ràng của vua, của dân, của bảo hộ, nếu được như thế thì chúng tôi xin biểu đồng tình ngay”10. Lập luận cho tính cấp bách của việc ban hành Hiến pháp, Phạm Quỳnh viết: “Cần phải lập ra một cái Hiến pháp khiến cho có thể đặt được một Chính phủ Việt Nam  chân chính, hành động ở  dưới quyền kiểm soát của bảo hộ. Như thế thì quyền quân chủ nước Nam sau này không thể là quân chủ chuyên chế được nữa; phải là quân chủ lập hiến vậy”11Việc nội trị của nước Nam vẫn phải ở trong tay người An Nam, bảo hộ chỉ có cái chức trách khuyên bảo, cái chức trách kiểm soát mà thôi. Quốc vương An Nam vẫn giữ quyền nội trị trong nước như xưa. Khi Chính phủ Việt Nam với Chính phủ bảo hộ có điều xung đột, thời việc phân tranh sẽ đem điều đình tại Paris bằng phương pháp ngoại giao và ở Paris sẽ đặt một phái bộ An Nam thường trực để thay mặt cho Chính phủ Việt Nam ở trước Chính phủ Pháp”12.
Mặc dù có tinh thần yêu nước, nhưng tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh khó có thể thực hiện được vì đất nước còn bị đô hộ và phụ thuộc nước ngoài, không có độc lập, tự do thì không thể có Hiến pháp thực sự được.
3. Tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Trực và Đảng lập hiến ở Nam Kỳ Theo GS. Trần Văn Giàu, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cũng như trước đó, báo chí ở Nam Kỳ thịnh hơn ở Bắc: năm 1920 ở Nam Kỳ có đến mười tờ báo quốc ngữ và một vài tờ báo Pháp ngữ của người Việt Nam13. Giữa những năm 20 của thế kỷ XX, do ảnh hưởng của các cuộc cách mạng và cải cách trên thế giới, tình hình chính trị Nam Kỳ trở nên sôi động, xuất hiện nhiều phong trào quần chúng lớn, nhiều tổ chức chính trị có hoạt động đáng kể. Nổi bật trong phong trào đó có Đảng lập hiến mà người đứng đầu là Bùi Quang Chiêu (kỹ sư) và các thành viên điển hình là Nguyễn Phan Long (nhà báo), Nguyễn Trực (nhà báo), Dương Văn Giáo (luật sư), Trần Văn Đôn (bác sĩ),  Trương Văn Bền (nhà tư sản), Diệp Văn Kỳ (sinh viên luật ), Trần Văn  Khá, Lê Quang Liêm, Nguyễn Tấn Dược, Nguyễn Kim Đính, Nguyễn Văn Thinh… Cơ quan ngôn luận của Đảng lập hiến là tờ báo La Tribune  Indigène (Diễn đàn bản xứ) sau đổi tên là La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương). Lý giải về nguồn gốc ra đời của Đảng lập hiến, GS. Trần Văn Giàu viết: “Hồi chiến tranh đang diễn ra ác liệt, để làm tiền, bòn lúa, bắt lính, bắt phu, viên toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut hứa hươu, hứa vượn, trong đó có hứa một Hiến pháp cho Đông Dương, lại có hình ảnh son phấn của một xứ “Đông Dương – nước Pháp Viễn Đông”. Bùi Quang Chiêu, Phạm Phú Khai, Nguyễn Phan Long… bám vào chữ Hiến pháp đó để lập ra Đảng lập hiến Đông Dương. Đảng lập hiến Đông Dương tự gọi là Đông Dương, kỳ thật nó không hề vượt ra ngoài ranh giới Nam Kỳ”14.
Có thể coi một loạt bài trên La Tribune Indigène năm 1919 là sự thể hiện  tư tưởng của Đảng lập hiến. Đáng chú ý là bài viết của Nguyễn Trực vào các số ngày 7, 8 và 14 tháng 1 năm 1919. Theo Nguyễn Trực, thế giới sau đại chiến thế giới lần thứ nhất là một thế giới đang biến đổi sâu sắc và phổ biến: Đông Dương và Nam Kỳ không thể là ngoại lệ. Ông viết: “Một luồng gió cải cách thổi qua khắp mặt trái đất, không nước nào không. Từ nước Trung Hoa mà người ta nghĩ đã hoá thạch trong cái huy hoàng  thiên cổ, đến nước Nga của các Sa hoàng, cha của  bọn bần nông, qua nước Đức đang sôi sục, nước Áo, Hung đang tan rã và nước Nhật ở đó Vua được tôn trọng như Trời, khắp các nơi tâm trí con người đang biến đổi sâu sắc, biến đổi chẳng những trong hiến pháp chính trị các dân tộc mà cả trong các ngành hoạt động khác của loài người. Từ trước chưa hề nghe người ta viết nhiều, nói nhiều đến những danh từ thần bí: tự do, nhân quyền, như bây giờ, chưa hề lúc nào tư tưởng con người chứa đựng những lời lẽ bác ái và nhân đạo như bây giờ”15.
Trong bài diễn văn đọc tại một tiệc trà của người Việt Nam tại Pháp vào tháng giêng năm 1926 được Đông Dương thời báo đăng lại ngày 10/3/1926, Bùi Quang Chiêu đã thể hiện sự bất bình của mình với chế độ thuộc địa mà người Pháp đã áp đặt tại Việt Nam: “Chúng ta xem lại cái lịch sử mấy ngàn năm của ông cha ta thuở trước, lại thấy cái năng lực của chúng ta về tinh thần và đạo đức, thì rõ được cái vận mệnh của nước nhà và chỉ noi theo đó mà đi. Cứ theo cái trình độ tiến hoá của chúng ta mà so với trình độ tiến hoá của các nước lân cận ta thì chúng ta phải chua xót, phải căm tức cho ai đã làm mất bao nhiêu thời giờ của ta, phí biết bao nhiêu tài sản của ta, hao biết bao nhiêu tinh lực của ta, khiến nay ta phải giậm chân lên mà la rằng: Đồng bào ơi, bước mau lên! Hãy cùng nhau quyết chí bước mãi tới đi… Chúng ta đâu có chối những sự tiến bộ về mặt vật chất ở xứ ta khoảng 60 năm nay, song chúng ta thử nghĩ nếu như họ dừng thi hành cái chính sách thuộc địa hẹp hòi, thiển cận kia, đừng vì những lợi ích trước mắt nhỏ nhen mà đè ép dân hồn, dân trí ta xuống, mà miệt thị những điều thỉnh cầu chính đáng của ta, thì cái bước đường tiến hoá của dân ta ngày nay há chỉ tới đây hay sao?”16.
Theo GS. Trần Văn Giàu, nhóm La Tribune Indigène mặc dù bất bình với chính sách thuộc địa nhưng lại thuộc vào những người tin vào khả năng cải cách tiến bộ của thực dân Pháp. Họ cho rằng suốt mấy năm chiến tranh, dân Đông Dương đã góp nhiều người, nhiều của cho Pháp thì dân Đông Dương tất nhiên phải có thêm quyền lợi mới, quyền lợi đó là chế độ chính trị xứ này phải được nới rộng cho người Đông Dương được tham chính. Báo này đã viết: “Suốt bốn năm chiến tranh, người Đông Dương đã có dịp  chứng tỏ một cách hùng hồn và rực rỡ với mẫu quốc cái lòng trung thành, lòng tri ân của mình. Song vì cái thể chế Đông Dương nó như thế, cho nên nhân dân không được khuyến khích phải lưu ý đến việc chính trị, tham dự vào sự nghiệp tiến bộ ở xứ này, việc ấy dành riêng cho các nhà cai trị làm gì thì làm theo cảm hứng của  họ, còn nhân dân thì bị động thôi”17. La Tribune Indigène nghĩ rằng, chế  độ trước đây là cần thiết phải như thế vì trình độ dân thấp kém, bây giờ thì dân đã có tiến bộ rồi nên “bắt đầu cảm giác bị chật chội ở trong cái chế độ chính trị đã trở thành hẹp hòi đối với trình độ tiến hoá của chúng tôi. Đã đến lúc phải nới rộng ra để cho phép người bản xứ tham gia một cách đắc lực vào đời sống công cộng của nước họ”. Theo GS. Trần Văn Giàu, Nguyễn Trực cũng như những người theo chủ nghĩa cải lương của báo La Tribune Indigène  nghĩ rằng phải tiến hoá từ từ, không nên đốt cháy giai đoạn nhưng cũng không nên vì lẽ “cẩn thận” nào mà cản trở sự phát triển tự do của một dân tộc đông hai mươi triệu. Tư tưởng chủ đạo của Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu là xây dựng Hiến pháp và đấu tranh vì các quyền  tự do, dân chủ của dân An Nam bằng phương pháp đấu tranh ôn hoà, chống bạo động và trong khuôn khổ thừa nhận chính quyền bảo hộ của Pháp. Bùi Quang Chiêu đã có lần tuyên bố: “Tôi xin thề trước linh hồn ông Phan Chu Trinh  rằng, tôi xin tận tụy về việc nước, anh em đồng bào có thể tin cậy ở tôi, ở người lãnh tụ của Đảng lập hiến nước ta. Nhưng yêu nước không phải là xuẩn động, mà phải thân thiện với người Pháp, người Pháp là một giống người rất trọng công lý và nhân đạo; ta cứ tin ở người ta và liên lạc với người ta một cách thành thật. Vậy hãy nén lòng mà đợi, không phải cúi đầu mà đợi. Phải biết rằng người dám đợi tức là người có can đảm; đợi khi nào người Pháp không làm gì mà chỉ hứa suông thôi thì tới cái giờ đó ta sẽ xử trí sau”18.
Báo La Tribune Indigène có nhiều yêu cầu đối với Chính phủ bảo hộ Pháp, tuy nhiên đáng kể nhất là bốn yêu cầu:     “- Điều thứ nhất mà dân An Nam trông đợi là cải cách về tuyển cử, làm sao cho người An Nam được tham gia thực sự  và đầy đủ vào việc quản trị việc công ở xứ này. Người đóng thuế phải trở thành người công dân Đông Dương (Le citoyen indochinois), có thể qua đại biểu của mình mà có thể kiểm soát bộ máy cai trị một cách có hiệu lực.     – Điều cải cách thứ nhì, đồng thời với cải cách tuyển cử, là cho người An Nam được tự do ra báo, tự do ngôn luận.     – Điều thứ ba, xin có ngày cho Đông Dương quyền được tự trị đối với Pháp như Canada đối với Anh.     – Điều thứ tư, cho dân An Nam ban hành một bản Hiến pháp”19.
Cũng giống như Phạm Quỳnh, tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến của ông mặc dù khó có thể thực hiện được khi đất nước còn bị thực dân Pháp đô hộ, tuy nhiên, việc công khai tranh luận và yêu cầu Chính phủ bảo hộ ban hành Hiến pháp và thừa nhận các quyền tự do dân chủ cho dân An Nam là thông điệp quan trọng của người dân bản xứ đối với chế độ thuộc địa, rằng cần phải thay đổi chế độ đó nếu không sớm hay muộn nó cũng sẽ bị sụp đổ. Người dân Việt Nam sẽ bằng cách này hay cách khác, sớm hay muộn sẽ giành lấy quyền tự chủ của mình, giành độc lập tự do cho đất nước, bảo vệ các quyền con người và quyền công dân của mình.
4. Tư tưởng lập hiến của Nguyễn An Ninh (1900 – 1943) và Phan Văn Trường (1876 – 1933) Nguyễn An Ninh là một cử nhân luật, tốt nghiệp đại học Sorbonne, Paris năm 1920 khi vừa tròn 20 tuổi. Năm 1922, anh trở về Việt Nam và năm 1923 anh đã thành lập tờ báo La cloche fêlée (Tiếng chuông rè). Từ năm 1926,  tờ báo này đổi tên thành L, Annam và có sự cộng tác của Tiến sĩ-Luật sư Phan Văn Trường. Cùng với việc tuyên truyền các tư tưởng về tự do, dân chủ thông qua các bài viết trên báo La cloche fêlée, Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường  đã thể hiện tư tưởng lập hiến của mình. Nguyễn An Ninh đã viết: “Hỡi đồng bào, các bạn đòi tôn trọng tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do giảng dạy, tự do đi lại, tự do làm việc; việc các bạn muốn dân tộc  An Nam  có những hội đồng là nơi mọi từng lớp xã hội được đại diện để chăm lo cho lợi ích chung, các bạn muốn có Hiến pháp để đảm bảo tự do và quyền lợi của các bạn…”20. Để tuyên truyền các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, năm 1923 Nguyễn An Ninh đã biên soạn cuốn sách “Dân ước – dân quyền – dân đạo” mà tư tưởng chủ đạo của nó xuất phát từ tác phẩm “Khế ước xã hội”(Le contrat social) của J. J. Rousseau. Các số báo La Cloche fêlée từ 42 đến 68 đã đăng bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp và các Hiến pháp đầu tiên của Pháp: 1791, 1793, 1794. Về tổ chức bộ máy nhà nước, tư tưởng của Nguyễn An Ninh là xây dựng một chế độ cộng hoà trong đó có Nghị viện đại diện cho quyền lợi của dân phải bao gồm những đại biểu do dân chọn lựa bầu ra một cách dân chủ. Về tổ chức chính quyền địa phương, Nguyễn An Ninh đánh giá cao thể chế làng xã tự trị ở Việt Nam đã xuất hiện trong thời kỳ phong kiến và chủ trương duy trì thiết chế xã thôn tự trị, ông viết: “Đó là một cơ sở cộng hoà, có ban hương chức hội tề do dân bầu ra, có tổ chức nội trị, trong đó mỗi công dân đều có chức nghiệp, chức trách, một nghĩa vụ, với ngân sách riêng, cái cơ chế làng xã An Nam đã khiến cho những cơ chế dân chủ hiện đại tốt nhất cũng phải ghen tỵ”21.
Tiến sĩ – luật sư Phan Văn Trường cũng như Phan Chu Trinh là người đánh giá cao thuyết phân chia quyền lực và việc ứng dụng học thuyết này trong xây dựng Hiến pháp và tổ chức bộ máy nhà nước. Khi nói về Hiến pháp, ông luôn quan tâm đến việc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước: “Ở những nước có Hiến  pháp, cái chủ ngãi quan hệ nhất là cái chủ ngãi phân quyền  (principe de la separation des pouvoirs). Phân quyền nghĩa là lập nên những quyền trong quốc gia đứng tự chủ, không có quyền nọ phải lụy quyền kia, như là quyền lập pháp là quyền làm ra pháp luật, đứng tự chủ, không quỵ lụy quyền hành pháp là quyền thi hành những pháp luật đã ra rồi”22.
5. Tư tưởng lập hiến của Việt Nam quốc dân Đảng (1927-1930) Việt Nam quốc dân Đảng được thành lập năm 1927 và chỉ tồn tại đến năm 1930 do Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Việt Nam quốc dân Đảng lấy chủ nghĩa tam dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) của Tôn Dật Tiên làm chủ nghĩa chính thức, thực hiện chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho nước nhà bằng bạo động cách mạng. Theo TS. Phan Đăng Thanh, ở Việt Nam, từ năm 1925-1929  không có chủ nghĩa chính trị nào được bàn luận, phiên dịch, phổ biến nhiều bằng chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn. Theo học giả Trần Văn Giàu: “Chủ nghĩa cách mạng của Tôn Dật Tiên bao gồm chủ nghĩa tam dân và Ngũ quyền Hiến pháp. Chủ nghĩa tam dân gồm ba bộ phận: chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền và chủ nghĩa dân sinh. Còn ngũ quyền Hiến pháp là: lập pháp, hành pháp, tư pháp, củ soát và khảo thí”23.
6. Tư tưởng lập hiến của Phan Chu Trinh (1872-1926) Một trong những chiến sĩ tiên phong khởi xướng và truyền bá tư tưởng dân chủ và tư tưởng lập hiến ở Việt Nam là Phan Chu Trinh. Vào  năm 1902, Phan  Chu Trinh  đã bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây và những tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Bạch. Những nguồn tư tưởng này giúp ông đề xướng tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Phan Chu Trinh đã coi việc mở mang dân trí là tiền đề để xây dựng xã hội dân chủ. Là người kịch liệt phản đối chế độ quân chủ chuyên chế, ông đã viết: “Cái độc chuyên chế cùng cái hủ nho nhà ta đã trở thành chứng bệnh bất trị mà học thuyết tự do, dân quyền Âu Tây là vị thuốc đắng để chữa bệnh đó”24. Ông đưa ra tư tưởng dân quyền, chủ trương bầu cử những người xứng đáng vào bộ máy nhà nước.
Năm 1922, trong Thư thất điều gửi Hoàng đế Khải Định ông đã buộc tội nền quân chủ chuyên chế là nguyên nhân sâu xa làm cho dân tộc ta suy yếu và để mất độc lập, chủ quyền. Ông nêu ra 7 tội đáng phải chết của Khải Định là:     1.    Tôn bậy quân quyền;    2.    Thưởng phạt không công bình;     3.    Chuộng sự quỳ lạy;     4.   Tiêu xài hoang phí;     5.    Phục sức không đúng phép tắc quân vương;    6.    Chơi bời vô độ;     7.    Chuyến này đi Pháp với mục đích ám muội, duy trì quân quyền.
Công kích Khải Định ông viết: “Đó chẳng phải là công kích cá nhân Bệ hạ mà là công kích một hôn quân, cũng không phải vì tư kỹ của Trinh này mà làm, mà vì hai mươi triệu đồng bào xô ngã chuyên chế, ủng hộ tự do vậy”. Đề cao tư tưởng dân chủ tự do ông viết: “Nhật Bản là nước đồng chủng, đồng giống với nước ta, bốn mươi năm trước họ lập ra Hiến pháp cho dân được bầu cử Nghị viện, còn việc chính trị trong nước theo ý của dân chứ Vua không được chuyên quyền”25.
Tư tưởng xây dựng Hiến pháp và một nhà nước dân chủ thể hiện rất rõ trong bài diễn thuyết “Quân trị và dân trị chủ nghĩa” của ông tại Hội khuyến học Sài gòn: “Trong nước có Hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng Hiến pháp, cái quyền của Chính phủ cũng bởi Hiến pháp quy định cho, lười biếng không được mà dẫu có muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được. Vả lại, khi có điều gì vi phạm đến pháp luật thì người nào cũng như người nào, từ ông Tổng thống đến một người nhà quê cũng chịu theo pháp luật như nhau”26.
Phân tích chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ dân chủ, Phan Chu Trinh đã chỉ ra những ưu thế của chế độ dân chủ: “So sánh hai cái chủ nghĩa quân trị và dân trị ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay của một triều đình mà trị nước thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay đói khát khổ sở tuỳ theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị thì quốc dân lập ra Hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung của cả nước, lòng quốc dân thế nào thì làm thế đấy, dù không có người tài giỏi thì cũng không đến nỗi phải để dân khốn khổ làm tôi mọi một nhà, một họ nào”27.
Không những cổ vũ cho thuyết dân trị, Phan Chu Trinh còn phân tích một cách sâu sắc những ưu thế của việc tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực của John Locke và Montesquieu: “Đây tôi nói về cái chính thể bên Pháp. Ở trong nước có Nghị viện gồm Thượng viện và Hạ viện. Hạ viện là viện quan hệ nhất; khi nào đặt Tổng thống hay thiếu mà đặt lại thì hợp người trong hai viện ấy mà bỏ thăm. Người ra ứng cử cũng ở trong hai viện ấy. Ai được nhiều thăm nhất thì chọn người ấy làm Tổng thống. Khi được bầu rồi thì Tổng thống phải thề trước hai viện rằng: Cứ giữ theo Hiến pháp dân chủ, không phản bạn, không theo đảng này, chống đảng kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy thì dân trục xuất ngay. Còn Chính phủ cũng bởi trong hai viện ấy mà ra. Nhưng mà giao quyền cho Đảng nào chiếm số nhiều trong hai viện ấy mà lập ra Quốc vụ viện (tức Chính phủ, Nội các); theo Quốc vụ viện bây giờ chừng đâu cũng vài chục bộ nhưng không phải ăn không ngồi rồi như các ông Thượng thư bên ta đâu. Ông nào cũng có trách nhiệm của ông ấy cả. Cái gì mà không bằng lòng dân thế nào cũng có người chỉ trích…”. Phân tích cơ chế phân chia quyền lực ông viết: “Cái quan chức về việc cai trị chỉ có quyền hành chính mà thôi, còn quyền xử án thì giao cho các quan án là những người học giỏi luật lệ, có bằng cấp; các quan án chỉ coi việc xử đoán, có quyền độc lập, cứ theo lương tâm công bình, chiếu theo pháp luật mà xử, xử Chính phủ cũng như xử một người dân. Các quan án ở về một viện riêng gọi là Viện tư pháp. Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của Chính phủ và quyền lập pháp của Nghị viện đều đứng riêng ra, không hợp lại trong tay một người nào”28. Điều đáng lưu ý nhất trong tư tưởng lập hiến, lập pháp của Phan Chu Trinh chính là ở chỗ tuy đánh giá cao tư tưởng lập hiến, lập pháp của Montesquieu và Rousseau nhưng ông hoàn toàn chống lại những người tiếp thu một cách máy móc tư tưởng phương Tây. Trong bài diễn thuyết “Đạo đức và luân lý Đông Tây” ông gọi những người nho học cũ và bảo thủ là “hủ nho” còn những người tây học mất gốc, sùng bái nước ngoài vô lối là “hủ tây”. Ông nói rằng: cả “hủ nho” và “hủ tây” đều là loại người dân nước phải biết phân biệt để tránh cho xa, kẻo mang họa cho dân nước29. Như vậy có thể thấy, tư tưởng lập hiến, lập pháp của Phan Chu Trinh là gạn lọc những tinh hoa của tư tưởng dân chủ phương Tây cũng như những yếu tố dân chủ tốt đẹp của công xã nông thôn và đạo đức thuần khiết của  phương Đông để xây dựng một nền Hiến pháp và pháp luật cho nước nhà khi dân ta làm chủ đất nước30.
7. Tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu (1867- 1940) Tư tưởng lập hiến của nhà yêu nước Phan Bội Châu hình thành và phát triển qua hai giai đoạn: Giai đoạn ông sáng lập Duy tân hội năm 1904 và giai đoạn sáng lập Quang phục hội năm 1912. Trong giai đoạn sáng lập Duy tân hội, tư tưởng của Phan Bội Châu là xây dựng chế độ quân chủ lập hiến. Trong “Phan Bội Châu niên biểu”, ông đã thuật lại cuộc tranh luận giữa ông và nhà yêu nước Phan Chu Trinh: “Ông (Phan Châu Trinh) thì muốn trước hết phải đánh đổ ngay quân chủ để làm cơ sở xây dựng dân quyền; Tôi (Phan Bội Châu) thì muốn đánh đuổi ngay giặc Pháp, đợi khi nước nhà độc lập rồi sẽ mưu tính đến việc khác. Ý tôi là muốn lợi dụng quân chủ, thì ông cực lực phản đối. Ý ông là muốn đánh đổ quân chủ, đề cao quyền dân thì tôi không tán thành. Vì ông với tôi cùng một mục đích nhưng thủ đoạn khác nhau rất xa. Ông thì đi từ chỗ dựa vào Pháp để đánh đổ Pháp, đánh đổ vua, tôi thì đi từ chỗ đánh đổ Pháp để phục lại Việt, do đó mà khác nhau”31. Sự khác nhau giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh chủ yếu không phải là chọn chế độ quân chủ và cộng hoà mà là ở những phương pháp để đạt đến độc lập dân tộc. Phan Châu Trinh chủ yếu tin vào khả năng hoạt động hợp pháp, bằng cách cộng tác với chính quyền thực dân để thay đổi hiện trạng bằng một loạt cải cách dần dần. Phan Bội Châu muốn tập hợp lực lượng giải phóng dân tộc bằng đấu tranh vũ trang, sau đó mới tính đến các chuyện khác”32. Tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu đã có những phát triển đáng kể khi ông thành lập Việt Nam Quang phục hội vào năm 1912. Từ tư tưởng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến ông đã chuyển sang chủ trương xây dựng chế độ cộng hoà và đã nhận xét rằng: “Chế độ cộng hoà dân quốc là hay là đúng”. Trong tuyên ngôn chính trị của Việt Nam Quang phục hội năm 1912 đã ghi rõ: “Nay bản hội xét sau, xem trước, Nghĩ cuộc đời thế nước bấy lâu, Gần thì bắt chước theo tàu, Xa thì người Mỹ, người Âu làm thầy”33.
8. Tư tưởng lập hiến của Nguyễn Ái Quốc (1890 – 1969) và Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Ái Quốc sinh ra và trải qua tuổi thơ vào những năm cuối thế kỷ XIX, trong một gia đình nhà nho yêu nước, cha là Nguyễn Sinh Sắc (1863 -1929) đỗ Phó bảng cùng khoa năm 1901 cùng với Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế. Nguyễn Ái Quốc khi nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi là Nguyễn Tất Thành, lớn lên và trưởng thành vào những năm thế giới đầy biến động. Ngay từ những ngày còn học ở Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành đã khâm phục tinh thần yêu nước của các nhà cách mạng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Tuy nhiên, sau này Nguyễn Tất Thành đã không lựa chọn con đường cứu nước bằng cách Đông Du sang Nhật hay đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ và quyền tự trị của dân An Nam trong khuôn khổ thừa nhận chế độ bảo hộ. Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba khắp năm châu, bốn biển từ Pháp đến Anh, Nga, Mỹ, Trung Quốc, Hồng Công…để tìm đường cứu nước. Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã viết Bản yêu sách của nhân dân An Nam (Revendications du peuple Annamite) gửi Hội nghị Versailles (Hội nghị của những nước thắng trận trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, ngày 18/6/1919). Bản yêu sách bao gồm 8 điểm:     1.    Tổng ân xá cho những người bản xứ bị án tù chính trị;     2.    Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;     3.    Tự do báo chí và tự do ngôn luận;     4.    Tự do lập hội và tự do hội họp;     5.    Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;     6.    Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;     7.   Thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;     8.    Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ34.
Năm 1922, Bản yêu sách này đã được Nguyễn Ái Quốc viết lại thành diễn ca với tựa đề “Việt Nam yêu cầu ca” để phổ biến rộng rãi trong giới bình dân ở Việt Nam và nước ngoài. Đáng lưu ý điều yêu cầu thứ bảy đã được thể hiện rõ là yêu cầu lập hiến: “Bảy xin Hiến pháp ban hành Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một nền pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nông và quần chúng lao động.  Nghị quyết  Hội nghị trung ương Đảng lần thứ VII (tháng 11/1940) đã nhắc lại nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và đề ra các nhiệm vụ cần thực hiện, trong đó có nhiệm vụ ban bố Hiến pháp dân chủ; ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do bãi công biểu tình, tự do đi lại và tự do xuất dương.
Tóm lại, trước Cách mạng tháng 8/1945, mặc dù trong điều kiện phải hoạt động bí mật, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra nhiệm vụ hàng đầu là phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, và để chuẩn bị xây dựng nước nhà trong điều kiện khi đất nước đã độc lập rồi thì phải ban bố Hiến pháp dân chủ để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Chú thích:1. Xem: Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 1,  Nxb. Chính trị quốc gia, 1996, tr. 390. 2. Sách đã dẫn, tr. 390. 3. Sách đã dẫn, tr. 390. 4. Sách đã dẫn, tr. 391. 5. Xem: Thái Vĩnh Thắng, Lịch sử lập hiến Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr. 12. 6. Tạp chí Nam Phong, số 189, tháng 10/1933. 7. Xem: Phan Đăng Thanh, Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb.Tư pháp, 2006, tr. 182. 8. Xem: Sách đã dẫn, tr. 182-183. 9. Xem: Phạm Quỳnh, Vấn đề lập hiến cho nước Nam, Tạp chí Nam  Phong, số 151, tháng 6/1930. 10. Phạm Quỳnh, Vấn đề lập hiến cho nước Nam, Tạp chí Nam Phong, số 151, tháng 6 năm 1930.  11. Tài liệu đã dẫn. 12. Phạm Quỳnh, Câu chuyện lập hiến, Tạp chí Nam phong, số 173, năm 1932. 13. Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr. 513. 14. Trần Văn Giàu, Lược sử thành phố Hồ Chí Minh, Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1987, tr. 288. 15. Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr. 513. 16. Sách đã dẫn, tr. 519. 17. Sách đã dẫn, tr. 514. 18. Sách đã dẫn, tr. 521-522. 19. La Tribune Indigène ngày 18/5/1919. 20. Nguyễn An Tịnh, Nguyễn An Ninh, Nxb. Trẻ tp. Hồ Chí Minh, 1996, tr.170. 21. Xem: Nguyễn An Tịnh: Nguyễn An Ninh, Nxb. Trẻ, tp. Hồ Chí Minh, 1996, tr. 134. 22. Xem: Phan Văn Trường, Pháp luật lược luận, Nxb. Xưa – Nay, Sài Gòn, 1926, tr. 18 -28. 23. Xem: Trần Văn Giàu, Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 551. 24. Xem: Phan Chu Trinh, Giai nhân kỳ ngộ, Nxb. Hướng Dương, Sài Gòn, 1958, tr.39. 25. Phan Chu Trinh: Bài diễn thuyết về quân trị và dân trị chủ nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 67, tháng 10-1964, tr. 22. 26. Tài liệu đã dẫn. 27. Tài liệu đã dẫn. 28. Phan Chu Trinh, Thư thất điều gửi Hoàng đế Khải Định ở Paris năm 1922, Nxb. An ninh, Huế, 1958, tr. 22 – 26. 29. Đỗ Thị Hoà Hới, Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Chu Trinh, Nxb. Khoa học xã hội, 1996, tr. 135. 30. Thái Vĩnh Thắng, Lịch sử lập hiến Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr.17. 31. Phan Bội Châu niên biểu, Phạm Trọng Điềm và Tôn Quang Phiệt dịch, Nxb. Văn, Sử, Địa, Hà Nội, 1957, tr. 72. 32. Xem: Chương Thâu, Nghiên cứu Phan Bội Châu, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2004, tr. 38. 33. Xem: Hợp tuyển Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900-1930), tr. 392 34. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 – 1996, tr. 435-436.

PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng – Đại học Luật Hà Nội
Tập tin đính kèm:
413 lượt xem.
Các tin liên quan:
Các tin mới nhất :
08-06-2012   Mục lục Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 (290) năm 2012
07-06-2012   Sinh hoạt khoa học chi đoàn “Quyền tiếp cận công lý trong tố tụng dân sự”
05-06-2012   Cần nâng cao chất lượng của báo cáo thẩm tra trong hoạt động lập pháp
03-06-2012   Giới thiệu sách “Hợp đồng điện tử theo pháp luật Việt Nam”
28-05-2012   Tọa đàm khoa học “Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động và đối với cộng đồng”

Sự thật về loài hoa mang tên Ưu Đàm của nhà Phật – Bee

13 Th6

(Kienthuc.net.vn) – Dư luận đang xôn xao về một loài hoa được gọi tên “Ưu Đàm” nở trên chuông đồng ở đền Tràng Kênh (Hải Phòng) hay ở cửa kính của một ngôi nhà tại Phú Yên… Vậy đâu là loài hoa huyền thoại 3.000 năm mới nở một lần.

TIN LIÊN QUAN

 

 
Theo quan điểm của Phật giáo, hoa Ưu Đàm chỉ nở khi có sự xuất hiện của Đức Phật hay của vị Kim Luân Vương/Chuyển Luân Thánh Vương

Trên quan điểm nhà Phật

Từ điển Phật học Hán Việt ghi rõ hoa Ưu Đàm, tiếng Phạn là Udumbara, Trung Quốc dịch là Ô-đàm, gọi đầy đủ là Ưu-dam-bát-la, Ô-đàm-bạt-la, Ô-đàm-bát-la, Uất-đàm, Ưu-đàm-bát hoa, gọi tắt là Đàm hoa, dịch nghĩa là hoa Linh thụy (điềm lành linh thiêng), hoa Thụy ứng (hoa ứng hiện điềm lành), hoa Không khởi.

“Cây Ưu Đàm không thuộc loại hoa quả, mọc ở các nơi như núi Himalaya, cao nguyên Đê-can và nước Xây-lan… Thân cây cao hơn một trượng (theo vi.wikipedia.org, 1 trượng (市丈, zhang) = 3,33 m) lá có hai thứ: một thứ phẳng trơn, một thứ thô nhám, cả hai thứ đều dài khoảng 4,5 tấc (1 tấc/thốn (市寸, cun) = 3,33 cm), nhọn đầu.

Hoa lưỡng tính rất bé, mọc kín ở lõm sâu trong đài hoa nên thường nhầm là loại cây không hoa. Hoa xếp như nắm tay hoặc như ngón tay cái, thành chùm hơn chục đóa, ăn được nhưng vị không ngon”.

Ngay tại cuốn sách Huyền Ứng Âm Nghĩa, quyển 21 mô tả về Ưu đàm: “Lá cây hoa này tựa như lá cây lê, quả to bằng nắm tay, vị ngọt, có hoa nhưng ít xuất hiện”.

Còn trong kinh Kaṇṇakatthala số 90 thuộc Trung Bộ kinh (Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành năm 1992), khi trả lời vua Pasenadi nước Kosala, Đức Phật có nhắc đến cây Udumbara (cây Ưu Đàm) như sau:

“Thưa Đại Vương, ta nói không có sự khác biệt gì về phương diện giải thoát đối với giải thoát. Ví như, một người đem củi khô từ cây Saka lại và nhen lửa, lửa sẽ xuất hiện. Và một người khác đem cây củi khô từ cây Sala lại và nhen lửa, lửa sẽ xuất hiện. Rồi một người khác đem cây củi khô từ cây Udumbara (cây sung? – chú thích của HT. Thích Minh Châu) lại và nhen lửa, lửa sẽ xuất hiện.

Đại Vương nghĩ sao về các loại cây dùng để nhen lửa, tuy khác nhau nhưng giữa ngọn lửa với ngọn lửa, giữa màu sắc với màu sắc, giữa ánh sáng với ánh sáng của chúng có khác biệt nhau không?

 
Loài hoa nở trên cửa kính của gia đình ông bà Đinh Gò tại Phú Yên được cho là hoa Ưu Đàm

Trong khi đó, thời gian qua giới truyền thông liên tiếp đưa tin, ngày 3/6, gia đình ông Đinh Gò (ở thôn Diêm Điền, xã An Ninh Tây, huyện Tuy An, Phú Yên) phát hiện trên cửa kính, thanh nhôm, song sắt cửa nhà có một loài hoa lạ mọc thành từng khóm, có chỗ 5 bông, có chỗ 8 bông,… tổng cộng là 35 bông.

Đến chiều ngày 7/6, gia đình Thạc sĩ Lê Văn Mậu (giáo viên môn sinh vật trường THPT chuyên Lương Văn Chánh, TP Tuy Hòa, Phú Yên) phát hiện, trên lá cây sả trước nhà có một khóm hoa màu trắng li ti, giống hình dáng loài hoa nhà ông Đinh Gò.

Quan sát bằng mắt thường, thấy cây hoa có chiều cao khoảng 80 mm, hoa có hình chuông, màu trắng nhiều cánh, có nhị, thân mảnh như sợi tơ, được sắp xếp vươn theo hướng sáng, một số hoa nở ra có nhụy; quan sát bằng kính lúp có thể thấy có nhiều tính chất để khẳng định đây là một loài thực vật, hoa có hình dáng như những chiếc chuông nhỏ, phần thân hoa trong trắng như sợi tơ…

Một số người cho rằng những cây lạ này là hoa Ưu Đàm, loài hoa linh thiêng, mang lại sự may mắn 3.000 năm mới nở một lần của Phật giáo.

Vậy đâu là loài hoa 3.000 năm nở 1 lần

Theo thầy Thích Minh Trí, Trụ trì chùa Phúc Lâm (Biên Hòa – Đồng Nai), đối với nhà Phật, thời gian nở của hoa Ưu Đàm là 3.000 năm/lần, mang ý nghĩa biểu tượng hơn là nghĩa thực của nó.

Theo Từ điển Phật học Nhật-Anh (Japanese – English Buddhist Dictionary, Daito Shuppansha, 1965), trong các kinh văn nhà Phật, hoa Ưu Đàm thường tượng trưng cho những gì hiếm có khác thường.

Sự xuất hiện của Đức Phật hay của vị Kim Luân Vương/Chuyển Luân Thánh Vương là một sự kiện hiếm có, được ví như hoa Ưu Đàm rất hiếm khi nở bung ra mà kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Sanh vào đời có Phật là khó – Sanh trực Phật thế nan”.

Trong khi đó website en.wikipedia.org ghi rõ Udumbara (cây Ưu Đàm), tên khoa học là Ficus racemosa (syn. Ficus glomerata Roxb.), thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), thường được gọi là cây Cluster Fig hay cây Goolar (Gular) Fig, Việt Nam gọi là cây sung/cây vả, có nguồn gốc từ Úc, Đông Nam Á, và Ấn Độ.

Cũng theo website này, trong mục cây Ficus racemosa liên quan đến Phật giáo viết: “Cả cây, hoa và quả của sung đều được gọi là Udumbara (tiếng Phạn, tiếng Pali; tiếng Devanagari: उडुम्बर tức hoa đàm hay Ưu Đàm hoa) trong Phật giáo…”

 
Theo website en.wikipedia.org ghi rõ cả cây, hoa và quả của sung đều được gọi là Udumbara hay Ưu Đàm hoa

Ngay tại website Bình Thuận Today cũng đã từng chỉ ra, trong thiên nhiên, hiện nay cây sung vẫn còn nhiều điều bí ẩn và kỳ diệu. Chẳng hạn như cái mà người ta gọi là trái sung, thật ra đó là hoa, còn gọi là quả giả.

Bên ngoài giống như một đế hoa, bên trong mọc tua tủa những cánh hoa li ti và được khép kín lại, hình tròn, bầu bĩnh, trông giống như quả vậy. Hoa lớn dần, vỏ từ màu xanh chuyển sang màu đỏ thẫm, chín và rụng rất nhanh nên dân gian có câu “rụng như sung”.

Khi hoa nở, một mùi hương quyến rũ ngọt lịm tỏa ra từ cái lỗ nhỏ trên đầu trái khiến cho các loài côn trùng nhỏ xíu say mê, tìm cách chui lọt vào bên trong tha hồ hút mật rồi sanh con đẻ cháu, quên cả đường ra lối vào.

Đến khi quả chín rơi xuống đất, vỡ ra chúng mới giật mình bay đi. Chính vì thế khi chúng ta mổ đôi trái sung thường thấy có vô số côn trùng bu quanh khiến mọi người không khỏi ngạc nhiên.

Theo quan niệm dân gian, quả sung là biểu tượng của sự no đủ, tốt lành. Vì vậy, trong mâm ngũ quả dùng để thờ cúng Tổ Tiên, Phật Thánh của người Việt thường có quả sung.

Phải chăng sự xuất hiện của quả sung trong mân ngũ quả của người Việt có nguồn gốc từ huyền thoại hoa Ưu Đàm của Phật giáo?

“Từ những điều này đem so sánh tài liệu nhà Phật và thông tin trên báo chí về hoa “Ưu Đàm” được tìm thấy ở Hải Phòng, Phú Yên và một số nước trên thế giới trong thời gian qua, có thể khẳng định đây chỉ là một loài hoa lạ, không phải hoa Ưu Đàm”, thầy Thích Minh Trí nhìn nhận.

Quần Anh – Hoài Lương

%d bloggers like this: