Lưu trữ | 7:40 Sáng

Nguyên Hải: BÂNG QUƠ

16 Th6

BÂNG QUƠ

 

Bâng quơ

hỏi áng mây trôi

Đã bao nhiêu kiếp

luân hồi nước non

Tỉnh say

trời đất

mãi còn

Thiên đường-trần thế 

vuông tròn

bình an !?

Chất lượng chất vấn của Quốc hội và đề xuất cần có Toà án Hiến pháp

16 Th6

Hoành Sơn

Một số vấn đề cần chuẩn bị và hoàn thiện để nâng cao chất lượng câu hỏi và trả lời trước Quốc hội (QH):

  1. Vấn đề nào nổi bật cần ưu tiên chất vấn trước và theo thứ tự ưu tiên nào?
  2. Ai trong số đại biểu QH có kiến thức, kinh nghiệm nhiều nhất (không có mâu thuẫn lợi ích) có thể tham gia các nhóm hay các tiểu ban chất vấn của QH?
  3. Ai sẽ là người bị chất vấn (NBCV) xứng đáng trước QH kỳ này? Nền tảng học vấn, kiến thức, kinh nghiệm, chức vụ và quyền hạn và trách nhiệm của NBCV ra sao?
  4. Vấn đề được nêu trước QH có phạm vi ảnh hưởng sâu và rộng lớn ra sao về không gian, thời gian, phạm vi điều chỉnh, số lượng người dân chịu ảnh hưởng trong Quốc gia?
  5. Cách thức đặt câu hỏi và trả lời có phù hợp với thời gian biểu cho phép trước QH? Có chiếm quá nhiều thời lượng và ảnh hưởng đến các vấn đề, chủ đề quan trọng khác của Quốc hội?
  6. Sau khi nhận câu trả lời của NBCV, các đại biểu QH đã thỏa mãn với câu trả lời của NBCV chưa? Tiếp theo sẽ là gì? Làm sao để giải quyết các mâu thuẫn và xung đột giữa các nhóm lợi ích?
  7. Làm thế nào để theo đuổi tới cùng một vấn đề, để đáp ứng nhu cầu của Cử tri gia phó? Cơ chế nào để Đại biểu Quốc hội dám phát biểu, dám theo đuổi tới cùng một vấn đề? Khâu hậu kiểm và đánh giá hậu kiểm cũng như các giải pháp sau đó sẽ như thế nào?

Đánh giá chất lượng câu trả lời của NBCV:

  1. Câu trả lời đã đáp ứng các trọng tâm của câu hỏi, khớp với yêu cầu câu hỏi chưa?
  2. Câu trả lời có sử dụng các phương pháp luận khoa học, dẫn chứng tiêu biểu rõ ràng, các số liệu hỗ trợ đã có thống kê chính xác, tin cậy?
  3. Nếu có các lời hứa của NBCV thì nên có câu hỏi tiếp theo là: thời gian thực hiện, nếu không làm tốt thì vấn đề cam kết bằng cách từ chức, từ nhiệm có đặt ra không?
  4. Yêu cầu NBCV nên bày tỏ rõ quan điểm của mình trước một vấn đề phát sinh trong đời sống chính trị – kinh tế -văn hóa – xã hội, ý kiến của NBCV ra sao trước và sau khi vấn đề phát sinh xãy ra?
  5. Đánh giá khả năng nhận thức, kiến thức và mức độ hiểu biết về các vấn đề của NBCV ở mức độ sơ lược hay chi tiết, cần đặt thêm nhiều câu hỏi nhỏ hoặc yêu cầu NBCV giải thích rõ thêm ý kiến hay nội dung trình bày của mình.
  6. Đánh giá mức độ chân thành, trung thực, tinh thần vì nhân dân phục vụ của NBCV qua thái độ, phong cách, ngoại hình của NBCV. Điều này, cần các đại biểu QH khả năng cảm nhận cuộc sống, kiến thức về nhân học, kinh nghiệm sống và khả năng nhận biết, đánh giá về con người và hành vi con người trong mối tương tác con người – hệ thống, cũng như bối cảnh và môi trường sống hiện tại.
  7. So sánh NBCV với các trường hợp tiền lệ tương tự trước đây của các QH trong và ngoài nước, các câu trả lời có dẫn chứng các nghiên cứu khả thi, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu định tính và định lượng, thực tiễn kinh nghiệm được đúc kết trong và ngoài nước, chứng tỏ sự nghiêm túc, cầu thị trong khâu chuẩn bị của NBCV sẽ có đánh giá cao hơn các câu trả lời thiên về cảm tính, chủ quan. Đánh giá khả năng thực hiện thành công phương án giải pháp của NBCV có cao hay không.

Luật lệ hóa hay qui chế hóa các thủ tục chất vấn trước Quốc hội chính là vận dụng các logic của khoa học vào đời sống nghị trường. Nhất là trong bối cảnh các đại biểu Quốc hội nước ta hiện nay là các đại biểu kiêm nhiệm. Họ cũng chính là các quan chức đương nhiệm thì thật sự rất khó làm cách nào để họ có thể dám phát biểu chống lại các quan chức đương nhiệm cấp trên của mình !

Xây dựng nhà nước pháp quyền cần có Tòa án Hiến pháp để bảo vệ Hiến pháp

Trong toán học cũng như các ngành khoa học khác, chúng ta luôn phải xây dựng các “gốc tọa độ”, “hệ qui chiếu”, hay các cột mốc, chuẩn mực được thống nhất công nhận rộng rãi, mang tính khách quan và khoa học, phù hợp với lương tri con người.

Khoa học pháp luật và xây dựng nhà nước pháp quyền với tinh thần “thượng tôn pháp luật” cũng không nằm ngoài các qui luật khách quan đó. Cần có các nhìn nhận khách quan, khoa học về mỗi bộ luật, từ các “bộ luật nguồn” như Hiến pháp, là chính “lương tri” của nhân loại, luôn hướng về chân – thiện – mỹ, tin tưởng vào lương tri tốt đẹp của con người nhưng phải có “luật” để chế tài các trách nhiệm của con người. Không thể thuần túy kêu gọi lòng tốt và tinh thần trách nhiệm không có giới hạn ở con người.

Đặc biệt là phải chế tài các cá nhân và tổ chức được đất nước giao phó cho các trọng trách quan trọng, nắm giữ các vận mệnh lớn của đất nước.

Hiến pháp và pháp luật còn nhằm luật hóa các hành vi con người trong một cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, các hành vi của con người luôn biến động, các giá trị được nhìn nhận chung của con người cũng luôn được vun đắp, tạo dựng mới, biến đổi liên tục.

Hành vi có thể sai và pháp luật cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp với chức năng xây dựng và bảo vệ cho đời sống người dân trong mỗi quốc gia. Để tránh tình trạng các điều khoản pháp luật được “vận dụng” có chủ ý để trục lợi cho một số nhóm lợi ích, Tòa án Hiến pháp là để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật.

Đây là vấn đề mới mà chúng ta cần có nghiên cứu thấu đáo để có giải pháp phù hợp với tình hình mới của đất nước. Và đây cũng chính là tư duy dám nhìn nhận rằng con người ai cũng có thể sai, pháp luật cũng có thể sai hoặc chưa phù hợp và làm sao để chúng ta luôn có cơ hội để nhận  ra sự thật, tôn trọng sự thật, tôn vinh “lòng trung thực” của cá nhân con người, và dám dấu tranh tới cùng cho công lý để bảo vệ hiến pháp, bảo vệ nhân dân.

Cải cách hành chánh dưới thời vua Minh Mệnh – VHNA

16 Th6

Hồ Bạch Thảo

  • DƯỚI thời Gia Long đất nước được chia thành dinh, trấn, và Tổng trấn. Từ Quảng Trị ra Bắc chia thành 2 dinh trực lệ, 3 trấn cận kỳ, và 11 trấn còn lại do Tổng trấn Bắc Thành coi; như vậy gồm có 1 Tổng trấn và 16 dinh, trấn. Quốc Sử Di Biên chép:

Năm Quí Hợi, Gia Long thứ 2 [1803], các đơn vị hành chánh từ kinh đô Huế ra đến miền Bắc được xếp đặt như sau:2 dinh trực lệ đô thành: Quảng Trị, Quảng Bình; 3 trấn cận kỳ: Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình. Tổng trấn Bắc Thành thống lãnh 11 trấn: Hải Dương, Sơn Nam, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Quảng Yên, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa (1).

Đến đời Minh Mệnh, nhà vua muốn cai trị trực tiếp, không đặt chức Tổng trấn làm trung gian; nhưng lúc mới lên ngôi thế lực của hai Tổng trấn Lê Văn Duyệt và Lê Chất tại Gia Định thành và Bắc Thành còn mạnh, nên vẫn e dè. Đến lúc nắm vững được uy quyền, tại miền Bắc vua thường làm việc thẳng với các trấn mà không thông qua Tổng trấn, nên Tổng trấn Lê Chất tự biết địa vị bị lung lay, bèn xin về hưu vào năm Minh Mệnh thứ 7 [1826]. Trước đó, nhân dịp yến tiệc,Tổng trấn Lê Chất gián tiếp tâm sự về địa vị suy yếu mình, bằng cách nói đùa với các quan dưới quyền về vị trí lông mày trên khuôn mặt như sau:

“Trên mặt con người ta có tam thần là mắt, mũi, và miệng, mỗi thứ đều có công việc riêng; nên chê lông mày vô dụng mà lại ở địa vị cao. Giả sử cạo sạch lông mày đi, thì khuôn mặt sẽ ra sao?”(2).

Sau khi Lê Chất từ chức, Phó Tổng trấn Trương Văn Minh lên thay thế, nhưng chỉ một năm sau [1829] thì bị tội bị phạt sung quân; rồi Phó Tổng trấn Phạm Văn Thúy tạm quyền cho đến khi chức Tổng trấn Bắc Thành bị dẹp bỏ.

Nhân việc bãi Tổng trấn Bắc Thành, nhà vua tham khảo cơ cấu chính quyền nhà Thanh để cải cách hành chánh; nội dung dùng chức Tổng đốc coi tỉnh lớn do 2, 3 tỉnh nhỏ gộp lại; riêng tỉnh nhỏ do do Tuần phủ trông coi. Việc cải cách được thi hành khá cẩn trọng, giai đoạn đầu [1831] chỉ thực hiện từ tỉnh Quảng Trị ra Bắc, riêng tại miền Nam phải đợi sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất mới cho thi hành. Nhà vua lại giao cho triều đình hội họp, nêu ra 15 điều lợi trước khi ban hành:

Ngày mồng 7 tháng 9, năm Minh Mệnh thứ 12 [1831] bãi ty Tổng trấn Bắc Thành, quyết định chia ra từng tỉnh, đặt chức quan. Trước đó nhà vua dụ rằng việc đặt quan dựng hàng rào để che chở, là việc chính trị lớn của triều đình, nhân thời đại mà ứng phó, cần hợp với  thực tế kinh lý. Quốc gia ta, cơ sở bắt đầu từ phương nam, các trấn hạt đều đặt ty để chuyên lo; đến đời vua cha ta, Thế tổ Cao Hoàng đế, thống nhất xa thư (3) toàn nước Việt Nam; các hạt lệ thuộc Bắc Thành gồm 11 trấn đất rộng việc phiền, nên lúc đại định đặc cách đặt một viên đại thần coi vùng này, lại phân đặt các tào (4) và trấn liên quan; đó là do nhu cầu tạm thời trong giai đoạn.

Ngưỡng trông thánh minh mưu đồ việc xa xôi, ý cũng muốn chấn chỉnh, nhưng việc khai sáng mới bắt đầu, nên chưa rảnh rỗi; nay Trẫm chỉ muốn kế thừa theo chí của người xưa. Nghĩ rằng địa phương này binh dân ngục tụng, tiền lương thuế khóa, thuộc loại phiền phồn, nên đặt ra từng hạt phân ty, để có sự chuyên trách. Nay các hạt thuộc miền Bắc như Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình….., cũng nên chia đặt cải định một lần, thì chức vụ và trách nhiệm không quá phiền, sự việc qui vào tiện lợi; như vậy mãi mãi không có mối tệ, vĩnh viễn yên ổn lâu dài ức vạn năm.

Nay các đình thần hãy tất tâm thương nghị, từ Quảng Trị ra phía bắc đến các trấn Bắc Thành, đáng chia từng hạt, đặt chức quan nên như thế nào; cần bàn cho kỹ, rồi dâng tấu triệp để đợi chiếu chỉ thi hành.

Đình thần bèn họp hội đồng thương nghị, phụng mệnh tra khảo: thời xưa (5) có phương Bá, Châu, Mục; tiếp xuống Hán, Đường, Tống đặt quan chức phần lớn không giống nhau; đến Minh, Thanh tham chước ngày thêm hoàn bị bèn phân ra thành các tỉnh; có Bố chánh (ty phiên), án sát (ty niết) phân nắm tài chánh, thuế, hình pháp; lại có Tuần phủ, Tổng đốc thống trị. Trong những  chức quan này, nhiệm vụ khinh trọng chế ngự lẫn nhau, lớn nhỏ ràng buộc lẫn nhau, là chính sách tốt cho việc giữ gìn trị an; nếu theo đó mà thi hành có được 15 điều lợi:

1.Từ trước Bắc Thành có 11 trấn, coi tổng quát bởi một viên quan lớn, quyền quá to, không thể không có cái lo, đuôi quá lớn.

2.Từ trước tới nay việc binh và dân, do một viên quan lớn tại Bắc Thành đảm nhiệm rất khó khăn, từ nay những kẻ được giao trách nhiệm không đến nỗi quá nặng nề không gánh nổi.

3. Từ trước tới nay quan Tào nhiều và phiền, từ nay dẹp chức này nên sự việc không trì trệ.

4. Từ trước đến nay từ thành chuyển vận đến các trấn, từ nay tại tỉnh có quan chuyên môn nên tiếp nhận trực tiếp.

5. Từ trước các trấn không có cơ quan thương biện, nay có ty chuyên môn,

6. Từ trước các quan tại trấn thường tránh nhường trách nhiệm, từ nay Tổng đốc Tuần phủ nắm tổng quát, Bố chánh, Án sát lãnh trách nhiệm cục bộ.

7. Từ trước tới nay quân tại Bắc Thành sai phái hoặc tầm nã, điều động mất hàng tuần hàng tháng; nay địa phương có sức để chế ngự, trộm cướp có thể tiêu diệt kịp thời.

8. Từ trước tới nay việc lùng bắt tra xét khó khăn, từ nay biền binh đóng trong địa phương nên rành việc hơn.

9. Từ trước tới nay việc cất nhắc quản lý binh đinh đều do Binh tào tại thành phụ trách; nay bổ khuyết cất nhắc dễ trong việc sung ngạch.

10. Từ trước tiền lương do trấn, do thành; từ nay việc chuyển vận không phiền phí.

11. Từ trước lương lính, dễ sinh bao mua(6); từ nay cấp phát tại hạt rất tiện lợi.

12. Từ trước nhân dân xin khiếu xét, đệ lên thành để phúc đáp; từ nay tra xét tại chỗ, không phiền sự chuyển tống.

13. Từ trước văn án do thành đệ lên; từ nay địa phương liệu biện xong, rồi đề đạt lên đầy đủ.

14. Từ trước các phủ huyện tùy loại án(7) mà nại cớ suy từ; nay không còn lấy cớ để phế bỏ việc.

15.Từ trước tới nay phàm mọi việc đều do tại thành, nay có ty chuyên trách nên có thể đề ra chỗ giấu, phát hiện chỗ gian.

Nay xin bàn, căn cứ vào Bắc Thành và các hạt Bắc Kỳ(8) xét theo gần xa, lớn nhỏ chia ra từng hạt; về quan chức xin đặt Tổng đốc, Bố chánh, Án sát, cùng Lãnh binh; mỗi chức có một chuyên trách; còn các quan Tổng trấn thành, các Tào, cùng Trấn thủ, Hiệp trấn, Tham hiệp nên bỏ(9).

Sau đó quyết định chia đất từ Quảng Trị ra Bắc thành 9 tỉnh lớn (hạt) cai quản 18 tỉnh, thông thường mỗi tỉnh lớn bằng 2 tỉnh cũ gộp lại, riêng tỉnh Sơn Hưng Tuyên do 3 tỉnh cũ gộp lại, còn tỉnh Thanh Hóa thì y như cũ; lấy phần đất phía bắc tỉnh Nghệ An đặt thêm tỉnh Hà Tĩnh, đổi trấn Sơn Nam thành 2 tỉnh Hà Nội và Hưng Yên:

Nay sửa định địa phận từng hạt, từ Quảng Trị ra bắc đến các trấn tại Bắc Thành, chia làm 9 tỉnh [lớn]:

– Thứ nhất Bình Trị [Quảng Bình, Quảng Trị]

– Thứ 2 An Tĩnh [Nghệ An, Hà Tĩnh]

– Thứ 3 Thanh Hóa

– Thứ 4 Hà Ninh(10) [Hà Nội , Ninh Bình]

– Thứ 5 Yên Định(11) [Nam Định, Hưng Yên]

– Thứ 6 Hải Yên(12) [Hải Dương, Quảng Yên]

– Thứ 7 Sơn Hưng Tuyên(13) [Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang]

– Thứ 8 Ninh Thái (14) [Bắc Ninh, Thái Nguyên]

– Thứ 9 Lạng Bình(15) [Lạng Sơn, Cao Bằng](16)

Trong 9 tỉnh lớn, ngoại trừ Lạng Sơn sát biên giới Việt Hoa được đặt riêng một viên Thượng thư cai trị, 8 tỉnh khác đều do Tổng đốc trông coi. Dưới quyền Tổng đốc có Tuần phủ coi tỉnh nhỏ, ngoài ra có Bố chánh, Án sát, Lãnh binh phụ giúp. Ví như tại tỉnh lớn Bình Trị, gồm 2 tỉnh nhỏ Quảng Trị và Quảng Bình; nhiệm vụ Tổng đốc Nguyễn Văn Trường lúc bấy giờ là cai trị quân dân, cầm đầu các quan văn võ, khảo hạch các quan lại, sửa sang bờ cõi trong tỉnh; ngoài ra Tổng đốc Nguyễn Văn Trường còn có nhiệm vụ chuyên coi tỉnh Quảng Bình, kiêm quản tỉnh Quảng Trị, nên còn gọi viên Tổng đốc này là chuyên hạt Quảng Bình, kiêm hạt Quảng Trị. Riêng Tuần phủ Quảng Trị Trần Danh Bưu thì chuyên hạt Quảng Trị mà thôi, nhiệm vụ chung vỗ về yên dân, coi giữ các việc chính trị giáo dục. Phần vụ các ty chuyên môn như: Bố chánh coi về thuế khóa tài chính toàn hạt; Án sát coi kiện tụng hình án, thanh tra các quan, chấn hưng phong hóa và lo về việc bưu chính dịch trạm trong địa phương; riêng Lãnh binh thi coi về an ninh, quân sự.

Xét ra đây là một cuộc cải cách lớn thay đổi cơ chế tại cấp tỉnh, bỏ chức Tổng trấn là cơ quan trung gian, nhà vua ban hành trực trị; không còn mối lo “cái đuôi lấn át cái đầu”, thực hiện những điều căn bản của chế độ quân chủ chuyên chế. Tuy trước khi ban bố triều đình đã đề ra 15 điều lợi được đề cập ở trên; nhưng cần phải đợi trải qua thực hành, căn cứ vào sự kiện lịch sử, rút ra được những ưu khuyết điểm sau đây:

– Ngoài việc phân chia quyền hạn, trách nhiệm; các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát còn đóng vai trò ràng buộc, kiểm soát lẫn nhau. Một khi nhà vua ban chỉ dụ xuống địa phương thường gửi cho 2 giới chức Tổng đốc, Tuần phủ; ngược lại Tổng đốc, Tuần phủ cũng có quyền tâu thẳng lên vua. Như vậy triều đình có thể kiểm soát từ hai nguồn báo cáo; không nói đến việc các quan Bố chánh, Án sát, Lãnh binh còn có thể báo cáo về các bộ liên hệ. Như vậy triều đình có được những cặp mắt nhìn xuống địa phương tỉnh rõ ràng hơn, và ý kiến từ nhiều nguồn cũng giúp cho triều đình có quyết định tương đối đúng đắn hơn.

– Dẹp bỏ tổng trấn, cơ quan trung gian, nên công việc được giải quyết nhanh chóng hơn. Ví như các vụ án trước đây, trấn và tổng trấn thường đùn đẩy cho nhau, khiến các tù phạm bị nhốt lâu ngày không được xét xử; sau khi cải cách, cấp tỉnh làm việc thẳng với triều đình nên được giải quyết nhanh hơn.

– Đường giao thông được cải tiến. Bởi nhu cầu liên lạc với triều đình, nên các tỉnh nằm xa đường quốc lộ nam bắc như Hưng Hóa, Nam Định vv… đường sá được cải tạo tốt hơn:

Đường khai báo trong hạt thông suốt, có trạm xe, dùng ngựa long phi hoặc lính lệ truyền văn thư, trang bị chuông treo làm hiệu lệnh; theo chế độ có: khẩn hành, khẩn thường hành, hoãn hành; phẩm chất nghi thức hoàn bị(17).

– Về bưu chính, trước kia cả nước có 100 trạm, sau khi cải cách đặt thêm 33 trạm. Dùng ống hiệu để chở văn thư, di chuyển bằng ngựa trạm; tỉnh lớn như Gia Định sử dụng 300 ống, tỉnh nhỏ như Hà Tĩnh sử dụng 150 ống (18).

– Về phương diện quân sự, tỉnh hạt mới dưới quyền Tổng đốc có binh lực lớn hơn tỉnh cũ, khoảng tương đương với 1 lữ đoàn hiện nay. Nên ngoài việc bảo đảm an ninh trong tỉnh, lúc hữu sự các tỉnh có đủ lực lượng lập thành chiến đoàn riêng, đi cứu viện các tỉnh khác. Ví như trong cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân tại Cao Bằng [1833-1835] các Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Lê Văn Đức, Tổng đốc Hải Yên Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc An Tĩnh Tạ Quang Cự đều mang quân đi đánh dẹp. Riêng cánh quân của Tổng đốc Hải Yên Nguyễn Công Trứ tham gia chiến dịch  4 lần: 2 lần ngược dòng sông Lô, sông Gầm lên Tuyên Quang , Bảo Lạc; 1 lần tiến theo hướng Lạng Sơn, Cao Bằng; lại 1 lần khác tiến theo hướng Thái Nguyên, Cao Bằng (19) để cuối cùng dẹp tan cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân.

– Về nhược điểm, thấy được trong các cuộc hành quân lớn cần điều động các vị Tổng đốc, để đối phó với những vấn đề trọng đại như cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương tại Ninh Bình [1833], hoặc Nông Văn Vân tại Tuyên Quang, Cao Bằng [1833-1835]; các vị Tổng đốc ngang quyền với nhau, không có thống lãnh chỉ huy chung, nên thiếu sự phối hợp, khiến công việc chậm hoàn thành. Triều đình cũng hiểu điều đó, nên trong một vài trường hợp, thường cử một viên Đại thần thống suất, được gọi là Khâm mệnh; tuy nhiên các Tổng đốc dưới quyền không nằm trong biên chế chặt chẽ với Khâm mệnh đại thần, nên vấn đề phối hợp chỉ huy cũng không mấy hiệu quả.

———————-

1. Dịch từ Phan Thúc Trực, Quốc Sử Di Biên. HongKong: Southeast Asia Studies Section, 1965, trang 25.

2.Quốc Sử Di Biên, sđd, trang 160.

3. Xa thư: do điển “thư đồng văn, xa đồng quĩ” nghĩa là đồng chữ viết, đồng trục xe; ý chỉ thống nhất.

4.Tào: cơ quan chuyên môn phụ giúp Tổng trấn, như “binh tào”.

5.Thời xưa: ý chỉ tham khảo thể chế Trung Quốc thời xưa.

6.Bao mua:do từ “bao mãi ” . Tệ trạng bao mua có thể hiểu rằng lính nghèo lại ham cờ bạc, nên thường bị người có tiền dụ dỗ mua bao lương trước với giá rẻ, theo lối bóc lột; nay phát lương trực tiếp thì không xảy ra tệ nạn đó.

7.Tùy loại án mà nại cớ suy từ: ý nói trước kia các trọng án do Tổng trấn tại thành thụ lý, nên các án tại tỉnh đều đổ lên cho thành, nay các tỉnh phải thụ lý nên không còn chậm trễ.

8.Bắc Kỳ dùng tại đây được hiểu là Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình; để phân biệt với đơn vị hành chánh lớn tại miền Bắc, trước năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], được gọi là Bắc Thành.

9.Quốc Sử Di Biên, sđd, trang 207-209.

10.Hà Ninh: đại để gồm Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình ngày nay.

11.Yên Định: đại để gồm Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình ngày nay.

12.Hải Yên: đại để gồm Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay.

13. Sơn Hưng Tuyên: đại để gồm các tỉnh Sơn Tây cũ, và Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ,Vĩnh Phúc ngày nay.

14.Ninh Thái: đại để gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên.

15.Lạng Bình: đại để gồm Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn.

16. Quốc Sử Di Biên, sđd, trang 210.

17. Quốc Sử Di Biên, sđd, trang 211-212.

18. Đại Nam Thực Lục, tập 3, Quốc sử quán triều Nguyễn, viện Sử Học dịch, NXB Giáo dục: Hà Nội, 2006, các trang 267,327.

19.Xem Đại Nam Thực Lục, sđd, tập 3 và 4.

 

Khi nào và Tại sao Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ – NCBĐ

16 Th6

Tại sao và Khi nào Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ là cơ sở quan trọng giúp dự đoán hành vi của nước này. Bài nghiên cứu của GS. Fravel Taylor, Viện Công nghệ MIT chỉ ra rằng: khi ưu thế thương lượng suy giảm là lúc Trung Quốc thường sử dụng vũ lực nhất.

Khi sức mạnh quân sự của Trung Quốc gia tăng thì các quan ngại về khả năng Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ của các nước khác cũng gia tăng theo. Những quan ngại này cho thấy sự bất ổn và lo ngại luôn song hành cùng với sự dịch chuyển sức mạnh. Trong lịch sử, phát triển nhanh chóng bên trong thường thúc đẩy các nước xác định lại và mở rộng lợi ích của mình ra bên ngoài.[1] Hơn nữa, phát triển kinh tế giúp các nước đầu tư tăng cường tiềm lực quân sự để theo đuổi lợi ích của mình, đặc biệt là các yêu sách về lãnh thổ dài hạn. Phản ánh những lo ngại này, Ủy ban Đánh giá Quan hệ Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung của Quốc hội Mỹ, kết luận rằng Trung Quốc có thể “lợi dụng sức mạnh quân sự tiên tiến hơn để đe dọa sử dụng vũ lực, hoặc sử dụng vũ lực nhằm hỗ trợ các giải pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ theo hướng có lợi cho mình”.[2]

Tuy nhiên, cách thức Trung Quốc sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh thổ kể từ năm 1949 đến nay hết sức đa dạng. Trung Quốc có tổng cộng hai mươi ba tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia khác, nhưng cho đến nay họ mới chỉ sử dụng vũ lực trong sáu trường hợp.[3] Một số tranh chấp, đặt biệt là tranh chấp với Ấn Độ và Việt Nam, rất khốc liệt; những tranh chấp khác, như tranh chấp giữa Trung Quốc và Liên Xô, từng có nguy cơ chuyển thành chiến tranh hạt nhân. Mặc dù Trung Quốc luôn sẵn sàng sử dụng vũ lực trong một số xung đột, nhưng Trung Quốc chỉ chiếm thêm rất ít lãnh thổ mà Trung Quốc không kiểm soát trước khi xảy ra xung đột. Ngoài ra, Trung quốc thỏa hiệp nhiều hơn là sử dụng vũ lực, và đã nhượng bộ tới mười bảy trong số hai mươi ba tranh chấp lãnh thổ.[4]

Nếu chiếu theo các lý thuyết chính về quan hệ quốc tế thì so với các quốc gia có đặc điểm tương tự, Trung Quốc là nước ít hiếu chiến hơn. Đối với các học giả theo thuyết chủ nghĩa hiện thực về gây chiến trước (offensive realism), Trung Quốc hiếm khi khai thác ưu thế quân sự của mình để mặc cả quyết liệt nhằm đòi các vùng lãnh thổ mà Trung Quốc có yêu sách hoặc dùng vũ lực chiếm các vùng lãnh thổ này. Mặc dù sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quốc đã mạnh hơn rất nhiều kể từ năm 1990, nhưng Trung Quốc cũng không tỏ ra hiếu chiến hơn khi xử lý các tranh chấp lãnh thổ. Đối với các học giả nghiên cứu các tác động của chủ nghĩa dân tộc, Trung Quốc sẵn sàng nhân nhượng về lãnh thổ. Điều này cho thấy không hẳn Trung Quốc lợi dụng quá khứ lịch sử là nạn nhân của nước ngoài và bị chia cắt lãnh thổ để có thái độ cứng rắn trong các tranh chấp về lãnh thổ. Các học giả chuyên nghiên cứu về vai trò của các thiết chế chính trị Trung Quốc cho biết Trung Quốc chỉ sử dụng vũ lực trong một số tranh chấp lãnh thổ, mặc dù hệ thống chính trị của Trung Quốc là độc tài, tập quyền và ít bị kiểm soát về sử dụng vũ lực.

Phân tích về việc Trung Quốc sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh thổ trong quá khứ sẽ là cơ sở giúp chúng ta đoán biết khả năng xảy ra các xung đột bạo lực ở Đông Á. Trong hệ thống quốc tế bao gồm các quốc gia có chủ quyền, hành vi của một quốc gia trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ là một yếu tố quan trọng để xác định quốc gia đó muốn duy trì nguyên trạng hay tìm cách thay đổi đường biên giới quốc gia của mình. Trong lịch sử, lãnh thổ là vấn đề dễ đẩy các quốc gia đi đến chiến tranh nhất.[5] Hiện nay, các tranh chấp của Trung Quốc đối với Đài Loan và quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) với Nhật đang làm tăng nguy cơ chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ, vì Mỹ có quan hệ an ninh mật thiết với cả Đài Bắc và Tokyo. Mặc dù nhiều nghiên cứu chứng minh rằng Trung Quốc sử dụng vũ lực chủ yếu trong các tranh chấp lãnh thổ, nhưng chưa có một nghiên cứu mang tính hệ thống, phân tích kỹ lưỡng Trung Quốc thường sử dụng vũ lực trong những hoàn cảnh nào.[6]

Các nghiên cứu hiện tại mới chỉ xác định được những tranh chấp dễ có nguy cơ dẫn đến chiến tranh nhất. Các quốc gia theo chế độ dân chủ và đồng minh của họ ít có khả năng đánh nhau để tranh giành lãnh thổ hơn các quốc gia khác. Trái lại, các quốc gia có thiên hướng dùng sử dụng vũ lực để tranh giành lãnh thổ là các quốc gia được đánh giá cao về vị trí chiến lược, tiềm năng kinh tế và tính biểu tượng, hoặc mạnh hơn đối phương về mặt quân sự.[7] Nghiên cứu này đã giúp hiểu rõ hơn bản chất của tranh chấp lãnh thổ, nhưng lại không giải thích được về mặt lý thuyết quyết định sử dụng vũ lực của các quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu về lãnh thổ. Các nghiên cứu này chủ yếu làm sáng tỏ biến số có tính quyết định trong việc giải quyết tranh chấp, xác định các tranh chấp dễ có khả năng bùng nổ thành chiến tranh. Mặc dù các yếu tố như giá trị của từng vùng lãnh thổ đang tranh chấp có khác nhau, nhưng trong hầu hết các tranh chấp cụ thể thì đó lại là những nhân tố bất biến và do điều này khiến cho việc lý giải quyết định sử dụng vũ lực của các quốc gia khó khăn hơn.

Tranh chấp Đài Loan của Trung Quốc là ví dụ cụ thể về hạn chế của phương pháp tiếp cận này. Các nghiên cứu hiện tại đều dự đoán tranh chấp Đài Loan rất dễ xảy ra xung đột. Tranh chấp Đài Loan là tranh chấp lãnh thổ quan trọng nhất của Trung Quốc, vừa gắn với chủ nghĩa dân tộc hiện đại của Trung Quốc và tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), vừa có tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế. Kể từ sau năm 1949, Trung Quốc đã đủ mạnh về mặt quân sự để tấn công các đảo hoặc vùng lãnh thổ mà Trung Quốc kiểm soát, và trong chế độ độc tài của Trung Quốc chỉ có một số ít thiết chế có nhiệm vụ kiểm soát và cân bằng quyền lực liên quan đến việc sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, việc sử dụng vũ lực trong tranh chấp Đài Loan của Trung Quốc đã thay đổi theo thời gian, bắt đầu bằng việc Trung Quốc gây ra các cuộc khủng hoảng lớn vào tháng 9 năm 1954, tháng 8 năm 1958, và tháng 7 năm 1995. Các nhân tố như tầm quan trọng của Đài Loan, các biện pháp gây sức ép, và thể chế chính trị của Trung Quốc chỉ giải thích một phần câu chuyện này, và các nhân tố này không thể lý giải được nguyên nhân tại sao Trung Quốc lại sử dụng vũ lực ở ba thời điểm nêu trên, chứ không phải là những thời điểm khác.

Để giải thích tại sao và khi nào các quốc gia sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ, tôi chuyển trọng tâm phân tích từ kết quả giải quyết tranh chấp sang quyết định của từng quốc gia. Kết hợp các hiểu biết từ lý thuyết chiến tranh phòng ngừa, tôi cho rằng sự suy giảm sức mạnh của quốc gia nêu yêu sách, tạm gọi là sự suy giảm ưu thế thương lượng của quốc gia đó trong cuộc tranh chấp, là nguyên nhân chính giải thích cho việc quốc gia đó sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Ưu thế thương lượng này bao gồm hai thành tố: phần lãnh thổ tranh chấp mà quốc gia đó chiếm hữu và khả năng sử dụng sức mạnh quân sự chống lại đối thủ trong khu vực tranh chấp. Khi nhận thấy đối phương đang tăng cường vị thế trong cuộc tranh chấp, thì nhiều khả năng quốc gia kia sẽ sử dụng vũ lực để ngăn chặn hoặc đảo ngược sự suy giảm sức mạnh của mình, hoặc chiếm luôn lãnh thổ tranh chấp nếu họ thấy cần thiết.

Việc suy giảm ưu thế thương lượng lý giải chính xác nhất việc Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Trung Quốc đã từng sử dụng vũ lực để chống lại những địch thủ có đủ sức mạnh quân sự thách thức sự kiểm soát của Trung Quốc đối với lãnh thổ tranh chấp. Trung Quốc cũng từng sử dụng vũ lực trong các tranh chấp mà Trung Quốc chỉ chiếm rất ít hoặc không chiếm các vùng lãnh thổ mà họ có yêu sách. Khi Trung Quốc phải đương đầu với một đối thủ đang tìm cách mở rộng phần lãnh thổ tranh chấp mà nước đó chiếm giữ hoặc tìm cách thay đổi cán cân quân sự khu vực có lợi cho họ, thì Trung Quốc thường đáp trả bằng vũ lực để thể hiện quyết tâm duy trì các yêu sách của mình, hoặc cũng có lúc Trung Quốc chiếm luôn một phần lãnh thổ đó.

Các mô thức sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc có một số tác động đối với lý thuyết quan hệ quốc tế. Trước hết, việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc củng cố thêm lý thuyết chiến tranh phòng ngừa và chứng minh tính hữu dụng của lý thuyết này trong việc lý giải các xung đột lợi ích cụ thể, chẳng hạn như tranh chấp lãnh thổ. Thứ hai, hành vi của Trung Quốc thách thức các lý thuyết về dịch chuyển quyền lực trong thời kỳ quá độ, trong đó khẳng định rằng một quốc gia đang lên có nhiều khả năng sử dụng vũ lực hơn một quốc gia đang trên đà suy yếu.[8] Tuy nhiên, trong các tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc thường sử dụng vũ lực khi sức mạnh của mình yếu đi chứ không phải mạnh lên.

Bài viết này bắt đầu bằng lập luận cho rằng sự suy giảm ưu thế thương lượng khích lệ các quốc gia sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Sau đó bài viết phân tích các biến số về việc Trung Quốc sử dụng vũ lực sáu, trong tổng số hai mươi ba tranh chấp lãnh thổ và nhận thấy các biến số này cho kết quả giống nhau, đó là Trung Quốc chỉ sử dụng sức mạnh quân sự trong tranh chấp lãnh thổ khi họ yếu đi. Ba phần tiếp theo của bài viết xem xét vai trò của sự suy giảm sức mạnh đối với quyết định sử dụng vũ lực trong tranh chấp Đài Loan, biên giới Trung – Ấn, và quần đảo Hoàng Sa khi Trung Quốc suy yếu đi. Bài viết kết thúc bằng cách xem xét các tác động từ những kết quả của nghiên cứu này đối với sự ổn định ở Đông Á sau khi nghiên cứu một số trường hợp Trung Quốc sử dụng vũ lực, cũng như các cách giải thích khác về hành vi của Trung Quốc.

Suy giảm quyền lực và Sử dụng Vũ lực Trong Các Tranh chấp Lãnh thổ

Các nghiên cứu về tranh chấp lãnh thổ thường coi sức mạnh quân sự là một biến số quan trọng khi giải thích sự leo thang xung đột lên cấp độ bạo lực cao nhất là chiến tranh. Ở mức độ nào đó, phát hiện này không có gì mới vì một trong những mục đích của quân sự là để chiếm và bảo vệ lãnh thổ trước lực lượng đối phương. Chỉ các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh mới có thể sử dụng vũ lực để chiếm lãnh thổ tranh chấp. Đồng thời, phát hiện này vẫn còn nhiều khúc mắc chưa lý giải được về nguyên nhân sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Mặc dù các quốc gia mạnh hơn có thể dễ dàng sử dụng vũ lực để đạt được các mục tiêu về lãnh thổ, nhưng cũng chưa rõ tại sao và khi nào họ lại làm điều đó và liệu có phải lòng tham hay mối bất an thôi thúc họ làm điều đó không.

Áp dụng kiên thức có được từ lý thuyết chiến tranh phòng ngừa, tôi cho rằng sự suy giảm sức mạnh của quốc gia nêu yêu sách, tạm gọi là sự suy giảm ưu thế thương lượng của họ trong tranh chấp, là nguyên nhân chính dẫn đến việc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ. Chiến tranh phòng ngừa được định nghĩa là “cuộc chiến hiện tại nhằm tránh nguy cơ buộc phải tham chiến trong môi trường xấu hơn trong tương lai.”[9] Khi sức mạnh tổng thể của một quốc gia suy giảm, các nhà lãnh đạo quốc gia đó bắt đầu lo lắng về hậu quả lâu dài khi vị thế quốc gia họ bị suy yếu trong hệ thống quốc tế, ưu thế thương lượng trong tương lai suy giảm, và khả năng là họ buộc phải tham chiến trong những tình huống xấu hơn. Như Jack Levy đã chỉ rõ, những lo ngại này tạo ra “động lực phòng ngừa” bằng cách sử dụng vũ lực, tiến hành chiến tranh sớm còn hơn là muộn đã trở thành một giải pháp ngày càng hấp dẫn nhằm giảm bớt tác động của việc quốc gia đó yếu đi hoặc chỉ để duy trì ảnh hưởng của mình[10]. Quan trọng hơn, chiến tranh có thể xảy ra ngay cả khi không tồn tại bất cứ sự xung đột lợi ích cụ thể hoặc biến cố khai mào nào, mà có khi chỉ là sự bất an về tương lai. Trong nghiên cứu thực nghiệm, suy giảm sức mạnh khiến một bên dễ gây chiến trước thường được gọi là “lỗ hổng dễ tổn thương”.[11]

Để lý giải việc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ, tôi chuyển trọng tâm từ sự mơ hồ chung chung về vị thế tương lai của một quốc gia trong hệ thống quốc tế sang mối quan tâm cụ thể về ưu thế thương lượng của một quốc gia khi xảy ra sự xung đột lợi ích. Ưu thế thương lượng này được cấu thành bởi hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất là phần lãnh thổ tranh chấp mà một quốc gia chiếm hữu được. Phần lãnh thổ tranh chấp mà quốc gia đó chiếm được càng lớn thì quốc gia đó càng có vị thế mạnh hơn, nếu tính đến cái giá mà đối phương phải trả để thay đổi hiện trạng lãnh thổ bằng vũ lực. Yếu tố thứ hai là khả năng mở rộng sức mạnh quân sự để chống lại đối phương trong các khu vực tranh chấp, gồm cả những khu vực mà quốc gia đó có yêu sách nhưng không cai trị. Ngay cả khi quốc gia đó chỉ nắm giữ một phần nhỏ của vùng lãnh thổ tranh chấp, thì họ vẫn có thể mở rộng sức mạnh ra toàn bộ khu vực tranh chấp và cả ngoài khu vực đó. Trong bối cảnh đó, việc mở rộng sức mạnh liên quan đến cân bằng quân sự khu vực, chứ không phải do vị thế tổng thể của quốc gia đó trong hệ thống quốc tế. Các quốc gia có rất nhiều mục tiêu an ninh khác nhau nên mỗi thành tố quân sự được gắn với một nhiệm vụ cụ thể, chẳng hạn như bảo vệ các yêu sách về lãnh thổ.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Fravel, M. Taylor

Quách Huyền, Trần Quang (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

Bản gốc: Power Shifts and Escalation Explaining China’s Use of Force in Territorial Disputes, đăng trên Project Muse


[1] Ví dụ, xem Robert Gilpin, War and Change in Politics (New York: Cambridge University Press, 1981); và AFK Organski, Worl Politics (New York: Alfred A. Knopf, 1958).

[2] 2006 Báo cáo Quốc hội của Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung (USCC), số 109, mục 2d, tháng 11 năm 2006, tr.130, http://www.uscc.gov/annual_report/2006/annual_report_full_06.pdf.

[3] Tranh chấp lãnh thổ được định nghĩa là một tuyên bố đối lập bởi hai hoặc nhiều quốc gia về quyền sở hữu và kiểm soát lãnh thổ, bao gồm cả đảo nhưng không bao gồm các tranh chấp phân giới đối với vùng đặc quyền kinh tế. Xem Paul K. Huth và Todd L. Allee, The Democratic Peace and Territorial Conflict in the Twentieth Century (Cambridge: Cambridge University Press, 2002), tr. 298.

[4] M. Taylor Fravel, “Regime Insecurity and International Cooperation: Explaining China’s Compromises in Territorial Disputes, Tạp chí An ninh Quốc tế, Tập 30, số 2 (Mùa Thu 2005), tr. 46-83.

[5] Ví dụ, xem Kalevi J. Holsti, Peace and War: Armed Conficts  and International Order, 1648–1989 (Cambridge: Cambridge University Press, 1991); và John A. Vasquez, The War Puzzle (New York: Cambridge University Press, 1993).

[6] Về vai trò của các tranh chấp lãnh thổ trong hành vi của Trung Quốc, xem Alastair Iain  Johnston, “China’s Militarized Interstate Dispute Behaviour, 1949–1992: A First Cut at the Data,” China Quarterly,  Số 153  (Tháng 3  1998), tr. 1–30. Những nghiên cứu về việc Trung Quốc sử dụng vũ lực bao gồm Thomas  J. Christensen,  “Windows and War: Trend Analysis and Beijing’s Use of Force,” Alastair Iain Johnston và Robert S. Ross biên tập, New Directions in the Study of China’s Foreign Policy (Stanford, Calif.: Stanford University Press, 2006), tr. 50–85; Melvin Gurtov và Byung-Moo Hwang, China under  Threat: The Politics of Strategy and Diplomacy (Baltimore, Md.: Johns  Hopkins University Press, 1980); Andrew Scobell, China’s Use of Military Force: Beyond the Great Wall and the Long March (New  York: Cambridge University Press, 2003); Gerald Segal, Defending China  (Oxford: Oxford University  Press, 1985); Allen S. Whiting, The Chinese Calculus of Deterrence:  India and Indochina (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1975); và Allen S. Whiting, “China’s Use of Force, 1950–96, and Taiwan,” International Security, Tập 26, Số 2 (Mùa thu 2001), tr. 103–131.

 

[7] Ví dụ, xem Giacomo Chiozza and Ajin Choi, “Guess Who Did What: Political Leaders and the Management of Territorial Disputes,  1950–1990,” Journal of Conflict  Resolution, tập 47, Số  3 (Tháng 6 2003), tr. 251–278; Gary Goertz and Paul F. Diehl, Territorial Changes and International Conflict (New York: Routledge, 1992); Paul R. Hensel, “Contentious Issues and World Politics: The Management of Territorial Claims in the Americas,  1816–1992,” International Studies Quarterly, tập  45, Số 1 (Tháng 3 2001), tr. 81–109; Paul R. Hensel và Sara McLaughlin Mitchell, “Issue Indi- visibility and Territorial Claims,” GeoJournal, Tập. 64, Số 6 (Tháng 12 2005), tr. 275–285; Paul K. Huth, Standing Your Ground: Territorial Disputes and International Conflict (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1996); và Huth and Allee, The Democratic Peace and Territorial Conflict in the Twen- tieth Century.

[8] Ví dụ, xem Organski, World Politics.

[9]Jack S. Levy, “Declining Power and the Preventive Motivation for War,” World Politics, Tập 40, Số 1 (Tháng 10 1987), tr. 82 (nhấn mạnh trong bản gốc). Xem thêm Dale C. Copeland, Origins of Major War (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 2000); và Stephen Van Evera, Causes of War: Power and the Roots of Conflict (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1999), tr. 73–104.

[10] Levy, “Declining Power and the Preventive Movation for War.”

[11] Van Evera, Causes of War, tr. 74. Đối với các ứng dụng, xem Copeland, Origins of Major War, tr. 56–117; và Stephen Van Evera, “The Cult of the Offensive and the Origins of the First World War,”

International Security, tập. 9, số 1 (Mùa hè 1984), tr. 58–107. Xem thêm Victor D. Cha, “Hawk En-

gagement and Preventive Defense on the Korean Peninsula,” International Security, Tập. 27, Số 1 (Mùa hè 2002), tr. 40–78; và Jack S. Levy and Joseph R. Gochal, “Democracy and Preventive War: Israel and the 1956 Sinai Campaign,” Security Studies, Tập 11, số 2 (Mùa đông 2001/02),  tr. 1–49. Về Trung Quốc, xem Christensen, “Windows and War”, tr. 50-85. Bài viết của Christensen đã tác động đến suy nghĩ của tôi về hành vi của Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ, mặc dù các nguyên nhân của tư duy phòng ngừa  mà tôi mô tả như leo thang trong tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc tập trung vào khả năng thương lượng trong xung đột, chứ không phải vào vị trí tổng thể của Trung Quốc trong hệ thống quốc tế.

%d bloggers like this: