Lưu trữ | 9:41 Chiều

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 11/6-17/6 – NCBĐ

17 Th6

dinh tuan anh

-(Bdv 14/6) Trung Quốc sẽ chờ Mỹ suy yếu: Với sức mạnh đang lên Trung Quốc có thể kiên nhẫn và chờ đợi cho đến khi Mỹ không còn có khả năng chi trả duy trì thống trị tại khu vực này; (RFI 14/6) Philippines sẽ đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền ở bãi đá Scarborough ra trước tòa án quốc tế

-(Nld 14/6) Mùa tập trận hải quân: Trung Quốc sẽ tập trận tại Tây Thái Bình Dương trong lúc cuộc tập trận 3 bên Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản sắp diễn ra ở vùng biển phía Nam bán đảo Triều Tiên; (RFI 14/6) Mỹ -Nhật – Hàn tập trận chung trên biển

-(VNN 14/6) Trung Quốc định tập trận ở tây Thái Bình Dương: Theo thông tin trên trang Tân Hoa Xã dẫn nguồn của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, cuộc tập trận này “không nhằm vào bất kỳ một quốc gia hoặc mục tiêu nào đặc biệt”; (DT 14/6) Mỹ muốn Thái Lan đóng vai trò lớn hơn trong khu vực

-(Phunutoday 14/6) Trung Quốc xét lại quan điểm ’Gác tranh chấp, cùng khai thác’? Ngày 17/5 tại Bắc Kinh, Báo Văn hối Hồng Kông đã tổ chức buổi tọa đàm về vấn đề Biển Đông, gồm 6 ông tướng “văn phòng” Trung Quốc tham gia; (Petrotimes 14/6) Xung đột Biển Đông sẽ gây hậu quả kinh tế gì?

-(RFI 13/6) Việt Nam đề nghị Nhật Bản cùng khai thác dầu khí ở Biển Đông: Tờ Nikkei trích dẫn cho biết là Petrovietnam vào đầu tháng 7 tới sẽ tiến hành chương trình xúc tiến đầu tư trực tiếp với các công ty Nhật Bản; (VOA 13/6) Ngư dân Philippines, Trung Quốc bị kẹt do tranh chấp ở Biển Đông

-(Bdv 13/6) Trung Quốc mời Đài Loan chia chác ‘chiếc bánh dầu khí’ Biển Đông: Đề nghị này quả là hấp dẫn nhưng cũng là một “quả bom chính trị” nguy hiểm đối với chính quyền của Tổng thống Mã Anh Cửu; Cam Ranh trong quan hệ Việt – Mỹ

-(Vnplus 13/6) Mỹ tính điều tàu chiến hiện đại nhất tới châu Á-TBD: tàu chiến Littoral Combat Ship (LCS-10) đầu tiên, loại tàu có thể hoạt động tại các vùng nước nông hiệu quả hơn mọi loại tàu hiện có, sẽ bắt đầu được triển tại Singapore; (BBC 13/6) Clinton sẽ tham dự hội nghị an ninh Asean

-(Toquoc 13/6) Xung đột Scarborough khó giải quyết vì liên quan Trường Sa: Chiến thuật nhượng bộ của Philippines không được Trung Quốc đáp trả. Vụ Scarborough vẫn bế tắc, vì nó liên quan cuộc tranh chấp Trường Sa; (Vnexpress 13/6) Philippines khốn đốn vì ‘cuộc chiến chuối’

-(VNN 13/6) Vũ khí của Mỹ có đủ mạnh với một Trung Quốc tham vọng: Việc phân bổ lượng không đồng đều giữa các hạm đội Đại Tây Dương và Thái Bình Dương – trên tỷ lệ 40/60 – sẽ là một khoảnh khắc quyết định chính trị quan trọng của bất kỳ tổng thống nào; (NCBD) Chiến lược “Xoay trục” của Mỹ đối với châu Á có đủ mạnh?

-(VNN 13/6) Trung – Nga: Cuộc hôn nhân vì lợi! Đây sẽ là họa hay phúc đối với các nước nhỏ đang bị Trung Quốc áp chế trên Biển Đông khi lần đầu tiên, đại sứ Nga tại Philippines phản đối Mỹ “can thiệp” vào khu vực ;(Gd 13/6) Đài Loan tổ chức trái phép hoạt động “kỳ nghỉ hè Trường Sa”

-(Vnplus 13/6) Mỹ định giúp Philippines theo dõi tàu ở Biển Đông: Quân đội Mỹ ngày 12/6 cho biết họ đang lên kế hoạch cung cấp cho Philippines một trạm radar triển khai trên đất liền; (Vnmedia 13/6) Indonesia bị “giằng xé” giữa Mỹ và Trung Quốc

-(VOA 12/6) Việt Nam chủ trì hội nghị thông tin khu vực ASEAN: Hội nghị lần thứ 13 của Tiểu ban Thông tin Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam, ASEAN, đã được khai mạc tại thành phố Đà Nẵng hôm thứ Ba; (Bdv 12/6) Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trả lời phỏng vấn về Cam Ranh

-(NLd 12/6) Mỹ đưa vũ khí tối tân nhất đến Thái Bình Dương: Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ cho biết như trên trong một phỏng vấn tại trụ sở của Hạm đội Thái Bình Dương ở Trân Châu Cảng (Hawaii) ngày 11-6; (Infonet 12/6) Bị “ghẻ lạnh” trên biển, Trung Quốc “bắt thân với hàng xóm trên cạn”

-(Bdv 12/6) Đọ sức giữa ‘kiến’ và ‘voi’ ở Scarbourough: Theo nhà phân tích Javad Heydarian, Manila sẽ không đơn độc trong cuộc đấu hoàn toàn không cân sức này;(Vnexpress 12/6) Trung Quốc ‘khoe’ lực lượng ở tập trận đa quốc gia

-(Gd 12/6) Nhật Bản-Ấn Độ tập trận chung chống bá quyền trên biển của Trung Quốc? Cuộc diễn tập quân sự liên hợp trên biển lần đầu tiên phản ánh Nhật-Ấn sẽ không khoan nhượng với bá quyền trên biển của Trung Quốc; (Ddk 12/6) Hội thảo biển đảo Việt Nam tại Đại học Harvard (Mỹ)

-(Petrotimes 12/6) Khi nào tranh chấp Trung Quốc-Philippines chấm dứt? Xem ra tranh chấp giữa Manila và Bắc Kinh trên Biển Đông khó mà kết thúc trước Đại hội đảng Trung Quốc; Một phiên bản NATO ở châu Á?

-(Bdv 12/6) Tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc chỉ để giữ thể diện: Tàu ngầm hạt nhân tối tân nhất của Trung Quốc không thể liên lạc với trung tâm khi lặn, chỉ hoạt động luẩn quẩn gần bờ, dễ bị tổn thương và chỉ để “giữ thể diện”; Trung Quốc: ‘Mềm’ với Nhật, ‘rắn’ với Philippines

-(TN 12/6) Tương lai hải quân Mỹ: Song hành cùng việc chuyển hướng trọng tâm về châu Á – Thái Bình Dương, Washington đang triển khai kế hoạch đóng mới tàu chiến tiêu tốn hàng trăm tỉ USD; (DT 12/6) Nhật – Trung cam kết hữu hảo trong các vấn đề nhạy cảm

-(Pltp 12/6) Trung Quốc muốn phối hợp với Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương: Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Thôi Thiên Khải cho rằng hai nước có thể phối hợp trong khu vực này vì lợi ích chung; (Gd 11/6) Quách Bá Hùng: TQ cần nâng cao khả năng tác chiến của Hải quân

-(Nld 11/6) Trung Quốc qua thời “đi nhẹ nói khẽ”: Sau hơn 3 thập niên sau, sức mạnh quân sự và tham vọng của Trung Quốc dường như không thể kìm nén được nữa; (RFI 11/6) Bắc Kinh muốn đẩy Việt Nam khỏi vòng ảnh hưởng của Mỹ

-(Bdv 11/6) Hiếu chiến, tờ Hoàn cầu bị kêu gọi đóng cửa: Việc đăng tải nhiều bài báo mang tính chất dân tộc chủ nghĩa, thậm chí “sặc mùi thuốc súng”, khiến người ta tự hỏi “Hoàn cầu Thời báo” của Trung Quốc sinh ra để làm gì?; (Phunutoday 11/6) Ấn Độ muốn đưa siêu chiến hạm ‘khủng’ ra Biển Đông?

-(Petrotimes 11/6) Mỹ thay đổi lập trường về Biển Đông: Mỹ muốn sử dụng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển để thương thảo với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Biển Đông, đồng thời vạch lằn ranh đỏ trong quan hệ với Trung Quốc; (Sgtt 11/6) Sân khấu nổi và tảng băng chìm

-(Phunutoday 11/6) Philippines: Mỹ sẽ mang vũ khí hạt nhân đến biển Đông? Phần lớn các tàu chiến của Mỹ sẽ được triển khai thường xuyên trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2020 có nhiều loại sở hữu vũ khí hạt nhân; (TT 11/6) “Một Trung Quốc đáng sợ”, Thời Báo Hoàn Cầu giới thiệu

-(VNN 11/6) Trung Quốc: Tập đoàn dầu khí thành công cụ chính sách hàng hải: Đôi khi tập đoàn dầu khí theo sau những lá cờ, đôi khi lá cờ theo sau họ – và đôi khi tự thân họ trở thành chính lá cờ mang đầy tính biểu tượng; (TT 11/6)“Chiến tranh chuối” giữa Manila và Bắc Kinh

-(DT 10/6) Trung Quốc dùng vũ khí kinh tế đối với Philippines: Cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Philippines trên Biển Đông nay đã chuyển sang lĩnh vực kinh tế, với những hậu quả không chỉ giới hạn trong cuộc “chiến tranh chuối” giữa hai nước; Nghị sĩ Nhật Bản thăm đảo tranh chấp với Trung Quốc

DANH NHÂN VIỆT NAM: TRẦN NHÂN TÔNG (1247 – 1308) MINH QUÂN VÀ ĐẠO SĨ. – VC+/BS

17 Th6
“Nhà ta vốn là dân hạ bạn,
  đời đời ưa chuộng việc hùng dũng..”
(Trần Nhân Tông)

Trong lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi giang cáng đáng và lãnh đạo nước trong những tình huống khó khăn. Trần Nhân Tông là một trong những vị vua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạn cực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lãnh đạo nước trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử Việt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổ reo rắc kinh hoàng ở khắp lục địa Á-Âu.

Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai và lần ba, ông đã cùng tướng sĩ và nhân dân đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở ra Hội nghị Diên Hồng hỏi ý kiến toàn dân và cùng nhân dân đối kháng địch. Trần Nhân Tông không những là vị vua cương chính và gần dân mà còn là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một trong ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.
1- Con người và sự nghiệp
(a)     Bản chất con người
Thái tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thay thế Thượng Hoàng Thanh Tông năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ý thức về nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng Tiên, như lời ông từng nói với con Trần Anh Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: “Nhà ta vốn là dân hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc hùng dũng… thích hình rồng vào đùi để tỏ ra không quên gốc.” Tục xâm hình rất phổ biến trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân Tông thì phát triển mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ xâm hình rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi. Lúc này người ta chẵng những quan niệm xâm hình rồng để khi xuống nước không bị giao long làm hại mà còn ngầm nhắc nhở nhau về một nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.
Tục này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa trông thấy gọi là “thái long” tức rồng vẽ. Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, thì mỗi người dân Đại Việt còn thích chữ “Nghĩa di quyền phụ, hình vu báo quốc” (Vì việc nghĩa mà liều thân, vì ơn nước mà báo đền). Điều này cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều một lòng và tụ tập quanh một ông vua có căn cơ là gốc dân.
(b) Tư cách lãnh đao
Nhân Tông là một vị vua anh minh, biết dùng và trọng dụng nhân tài. Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp nước, lòng người như một. Bên ông, về quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật .., về văn học có các văn thi sĩ uyên bác như Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như Hàn Dũ bên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông cho đổi tên là họ Hàn.
Sự hiểu người và dùng người của ông được thể hiện qua một câu chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con trai của Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục căm hờn điều động binh mã ở biên thùy để sửa soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến Bình Than có một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông và các tướng sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt nhìn ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền lớn chở đầy than theo dòng đổ về xuôi. Nhác thấy trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:
– Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?
Rồi lập tức sai quân cheo thuyền nhỏ đuổi theo. Nhưng lát sau chỉ thấy quân trở về không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy không chiu đến mà chỉ trả lời rằng:
– Lão già này là người bán than, có việc gì mà vua gọi đến!
Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngac nhiên và lo cho người bán than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm chục trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:
– Thế thì đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người thường không dám trả lời ta như thế!
Rồi sai nội thị đi gọi: lần này “lão ta” chịu đến. Vua quan nhìn ra thì đích thị không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc phếch, quần sắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẽ tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, vì nóng tính và trót phạm lỗi với triều đình nên bị cách chức và tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông tình cờ lại hóa hay
– Thế nào, liệu khanh còn đủ sức đánh giặc hay không? – Nhân Tông ướm hỏi.
Nghe thấy hai chữ “đánh giặc”, mắt Trần Khánh Dư vụt sáng:
– Dạ, thần còn đủ sức. Mấy năm nay vung rìu đẵn gỗ, cánh tay thần xern ra còn rắng rỏi hơn xưa.
Nhân Tông cười vui vẽ và ngợi khen:
– Quả là gan Trần Khánh Dư còn bền hơn sắt đá. Được rồi còn phải xem khanh lập công chuộc tội ra sao?
Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũ áo, phong làm phó tướng quân rồi cho ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc nước. Thế là triều đình lại có thêm được một người tài giỏi đứng ra phò vua giúp nước.
Sự dùng người của Nhân Tông như thế xứng đáng phong cách của một người lãnh đạo: hiểu và dùng người đúng chỗ.
          (c) Cách cư xử người
Trần Nhân Tông là một vị vua khí khái và nhân đức. Đối diện với bao phong ba bão táp, ông lãnh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để ý đến tình trạng của quân dân.
Khi quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quoc Tuấn vì kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp. Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:
– Thế giặc to như vậy, mà chống nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân?
Hưng Đạo Vương tâu rằng:
– Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã ­tắc thi sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng.
Nhân Tông nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.
Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết và Ô Mã Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết lòng với chúa, nên xúc động mới than rằng: “Làm bầy tôi nên như người này” rồi cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng cho tử tế.
Khi bóng quân Mông Cổ không còn trên đất Nam, triều đình bắt được một tráp chứa các biểu hàng của một số quan. Số là khi quân giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy má đi lại với chúng. Đình thần muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự hoà giãi dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi cho yên lòng mọi người và cùng nhau xây dựng lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng và hợp tác với giặc mới bị trị tội.
(d) Trị nước
Trách nhiệm giữ nước đã xong, Nhân Tông còn phải lo việc ngoại giao với giặc và xây dựng lại đất nước và con người. Với nhà Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự tàn phá của quân Mông Cổ thật nặng nề đến nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua không còn cung điện để ở mà phải tạm trú ở Lăng thị vệ. Trong tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đã phải viết: “đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ …”.
Hậu quả của chiến tranh tan khốc như vậy cho nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộc chiến,
Nhân Tông xuống chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá thì tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chổ khác thì xét miễn giảm theo thứ bậc khác nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nhìn xa này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở một đầu óc có tư tưởng đầu tư xây dựng lâu dài, đã được kể lại trong quyển “Long thành dật sự” như sau:
Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bị san bằng, vua Nhân Tông định hạ chỉ gấp rút xây lại thành
trì. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn can rằng: “Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều đình phải làm ngay không thể chậm trễ được là việcc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân giặc hai lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng, đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuết lộc, đi lính và đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là chú ý ngay đến dân, những nơi nào bị tàn phá, tuỳ tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế; nơi nào bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “chúng chí thành thành” nghĩa là ý chí của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay, xin nhà vua xử lý.”
Vua Nhân Tông vui vẽ nghe theo lời khuyên của Trần Quốc Tuấn. Đây cũng là một bài học quan trọng mà gần đây chúng ta đã không nắm mà nguy hơn nữa là đã làm ngược lại.
Cũng vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và thúc đẩy nền kinh tế giúp dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :
            ” Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan thế! “
Lại một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề mà hiện nay chúng ta đang trực tiếp đối diện
(e) Trung hiếu và gia huấn
Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàng đầu. Đối với thượng hoàng và các bề trên ông đều hết lòng đáp nghĩa. Ông thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơ của ông làm lúc về bái yết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn còn để lại trong sử sách.
Trượng vệ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông ..
(Qua nghìn cửa chào nghiêm túc,
Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)
Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần Anh Tông, ông để tự do nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức về phép trị dân. Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống rượu và lẽn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. Vì thế có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.
Thang năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định), nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về kinh sư, quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem khắp các cung điện, từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông ngoãnh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ở đâu?
Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh. Ông giận lắm, trở về Thiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học trò tên Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từ đó vua Anh Tông không uống rượu nữa.
2- Xuất thế và thơ văn
Sau khi quân xâm lăng Nguyên Mông Cổ không còn dám có tham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất thế. Trước lúc đó, ông đã là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi tiếng đời Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một giai đoạn khác, việc nước và gia đình đã xong giờ đến việc mình và đời sống tinh thần của bản thân.
Ông cùng các đệ tử của mình lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xây dựng các chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông là vị “tổ” đã có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật giáo ở vùng Yên Tử Sơn này. Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa và sư Huyền Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ vì chỉ riêng ở Việt Nam mới có.
Sự nhập thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêu cực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang một hinh thái nữa có nữa không, nữa thực nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phật giáo nhập thế mà tất cả mọi người dân đều có thể áp dụng theo đuổi ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải chỉ ở cửa chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn thông, quan điểm cơ bản của thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong ta, khi đốn ngộ thì ta là Phật và Phật là ta. Từ Yên Tử Sơn, lâu lâu Nhân Tông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh bình của quê hương mình. Lúc qua Thiên Trường vào một buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quê Việt Nam, dưới con mắt Thiền của mình, ông đã xúc cảm làm một bài thơ tựa đề “Thiên Trường vãn vọng”
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Xóm trước thôn sau tựa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không
Mục đồng sáo vẵng trâu về hết
Cò trắng từng đôi hạ xuống đồng)
Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽ và yên tỉnh như kia là một hiện thực, đã có từ nghin năm nay trong đời sống nhân dân, và đã tác động mạnh mẽ vào một tam hồn Việt cội rễ của đạo sĩ Trần Nhân Tông.
Danh tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang lừng khắp Đại Việt đến tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng có của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm Thành từ vua quan đến nhân dân một lòng tôn kính một hiền sĩ từ phương xa ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một nền văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng rào giã tạo đặt ra bởi sự không thông hiểu giữa con người. Ông đã nhin xa và muốn thắt chặt tình thân hữu anh em của hai dân tộc Việt-Chiêm. Ông đề nghị với vua Trần Anh Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái Trần Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từ sự kính trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này, đã hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III mà trước đây là thái tử Harijit đã cùng đồng minh Đại Việt chống quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đã tặng Đại Việt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sử này. Nhưng tiếc thay sau khi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại tái diễn giữa hai dân tộc.
Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Sư Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở kinh sư.
Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàng được rước về chôn ở làng Quý Đức, Phủ Long Hưng (Thái Bình). Khi nghe tin ấy, cả nước đều muốn tiễn linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết, tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp phát dãn, đã đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cả tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng không thể giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến bảo rằng: “Linh cửu sắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn như thế này thì làm thế nào ?”. Trọng Tử là người có tiếng là nhiều tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi về âm nhạc. Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Trì gọi quan Hải khấu và quan Hổ dực do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở thềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọi người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, linh cửu mới rước đi được. Long Ngâm khúc là một lối hát vãn, giọng bi ai, nghe rất cảm động … Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Long đến Thái Bình, Long Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Một ngôi sao sáng đã vụt tắt trên bầu trời nước Đại Việt. Mặc dầu thể xác ông không còn và đã tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng hồn ông vẫn còn trong lòng dân tộc Việt.
Lời bạt:
Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị vì vừa là một hiền triết. Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với các tác phẩm thiền “Khoá Hư lục”(1), “Thiền lâm thiết chủy ngữ lục”, “Tăng già toái sự” (5) không kém sâu sa.
Thiền Trúc Lâm Yên tử tuy không còn, nhưng dư âm vẫn còn vọng: cuối thế kỷ 18, Ngô Thì Nhậm mong tái lập lại dòng thiền này với tác phẩm  “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần đây chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng mong muốn khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đã được khám phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽ được hồi phục. Nguời người sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đãi yến, nơi linh cửu vua tạm quàn, hình dung cảnh quan và tưởng nhớ mùi hương thiền toả ngát sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng tượng trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với minh quân Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đã có cáp treo, nhưng đi hành hương đường dốc bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng hoàng Nhân Tông.
NGUYỄN ĐỨC HIỆP
(1) Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông là tác giả “Khóa hư lục” chứ không phải Trần Thái Tông
Tham khảo
(1)     Đại Việt Sử Ký toàn thư, Quyển 5 và 6, Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, 1993
(2)     Khuyết danh, Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990
(3)     Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html
(4)     Tạ Ngọc Liễn, Vài nhận xét về Thiền Tông và phái Trúc Lâm – Yên Tử đời Trần, Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (175), tháng 7,8/1977, p. 51-62
(5)     Nguyễn Duy Hinh, Yên Tử – Vua Trần – Trúc Lâm, Nghiên cứu Lịch sử, số 2 (173), tháng 3,4/1977, p. 10-21.

VỀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP TIỀN TỆ KHU VỰC ASEAN+3 – BS

17 Th6

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

V TIN TRÌNH HỘI NHẬP TIỀN TỆ KHU VỰC ASEAN+3

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 13/6/2012

TTXVN (Giacácta 11/6)

Bàn về kết qu của Hội nghị thường niên Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)tại Manila vừa qua và luận giải các bước đi quan trọng cn thiết tiếp theo vì hiệu quả ca tiến trình hội nhập tiền tệ khu vực, phát trin n định nn kinh tế – tài chính và nâng cao tiếng nói của ASEAN, tác giả Pradumna B.Rana – Giáo sư Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam (RSIS) thuộc Đại học Công nghệ Nanyang (Xinhgapo) mới đây có bài viết đăng trên tạp chí “Journal of Asian Economics”, nhan đề “Hội nhập tiền tệ khu vực ASEAN+3: Các bước đi quyết định tiếp theo Sau đây là nội dung chính của bài viết này:

 

Ngày 3/5/2012, bên lề Hội nghị thường niên Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Manila, các nước ASEAN+3 đã tiến hành một số bước đi quan trọng để thúc đẩy hơn nữa hội nhập tiền tệ khu vực.

Kết quả quan trọng nhất của Hội nghị Manila là việc nâng cấp Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN+3 (AFMM+3) thành Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương ASEAN+3 (AFMGM+3), với việc các thống đốc ngân hàng trung ương của 13 nước thành viên (cộng với khu hành chính Hồng Công – Trung Quốc) đã được mời tham gia. Trong quá khứ, tổ chứa ngăn chặn và giải quyết các cuộc khủng hoảng là công việc của các quan chức tài chính chịu trách nhiệm về chính sách thuế và chi tiêu, chứ không phải là của các quan chức chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái. Khoảng cách lớn này cuối cùng đã được lấp đầy.

APMGM+3 đã quyết định tăng gấp đôi qui mô của quỹ xử lý khủng hoảng khu vực – tức Sáng kiến đa phương Chiang Mai (CMIM) – lên 120 tỷ USD – dù trị giá của nó chỉ là một phần nhỏ so với quỹ cứu trợ tài chính ở châu Âu; qui định ranh giới phòng ngừa CMIM theo đó cho phép các quốc gia có các nền tảng kinh tế cơ bản mạnh mẽ vay số lượng lớn thanh khoản để ngăn chặn cuộc khủng hoảng; đánh giá cao thành công của Cơ quan Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 (AMRO) trong việc tuyển dụng nhân viên và giám sát các hoạt động tài chính – tiền tệ; hoan nghênh cam kết của nước chủ nhà Xinhgapo về cung cấp những hỗ trợ cần thiết cho AMRO.

Mặc dù vậy, AMRO đang đối mặt với một số thách thức:

Thứ nhất, AMRO phải tìm hiểu lý do tại sao giữa lúc cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lên cao, thì các nước như Hàn Quốc đã chọn vay tiền từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ, thay vì vay CMIM – quỹ xử lý khủng hoảng riêng của khu vực; và vấn đề đặt ra là cần nhanh chóng có các biện pháp đối phó với việc các dòng vốn tiêp tục chảy ra khỏi khu vực trước tình hình xấu đi nhanh chóng tại khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) liên quan đến khả năng “chia tay” eurozone của Hy Lạp.

Thứ hai, cần tìm ra phương thức phù hợp để AMRO có thể làm việc thuận lợi với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Mạng lưới an toàn tài chính khu vực nên bổ sung cho các mạng lưới tài chính toàn cầu và không làm suy yếu nó. về nội dung này, kinh nghiệm hợp tác tay ba giữa Liên minh châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu và IMF là đáng tham khảo.

Dù không nên để AMRO hoạt động quá sức, song chúng ta cần xem xét hai bước đi đòi hỏi tương đối ít nguồn lực sau đây:

AMRO nên bắt đầu giới thiệu Đơn vị Tiền tệ Khu vực (RMU) nhằm cung cấp các giá trị tiền tệ ổn định hơn và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám sát của AMRO, thông qua việc đảm bao rằng các quốc gia tránh cạnh tranh phá giá lẫn nhau và đang hội tụ các chính sách kinh tế vĩ mô để hội nhập sâu hơn. Cuối cùng, RMU có thể là một nguồn dự trữ tài sản quốc tế thay thế đồng đôla Mỹ đang ốm yếu, nhưng đây chỉ là một khả năng dài hạn.

Bước tiếp theo là mở. rộng thành viên của ASEAN + 3, trong đó bao gồm AMRO và CMIM, bởi vì điều này sẽ góp phần làm tăng qui mô của quỹ khủng hoảng khu vực. Hai năm trước đây, cựu Bộ trưởng Tài chính Thái Lan Chalongphob Sussangkarn – hiện là Chủ tịch Hội đồng Tư vấn AMRO – đã đề nghị rằng Ấn Độ, Ôxtrâylia, và Niu Dilân cần được tham gia với tư cách thành viên liên kết và đối tác đóng góp CMIM.

Bên cạnh đó, theo tác gia, mở rộng thành viên của ASEAN+3 có thể tăng cường tiếng nói của châu Á tại diễn đàn G-20. Các cuộc họp phối hợp chính sách chung của ASEAN + 3 mở rộng sẽ mang lại chương trình nghị sự khu vực mạnh mẽ cho Chủ tịch ASEAN tại Hội nghị cấp cao G-20. Với ý tưởng đó, cuộc họp AFMGM + 3 tiếp theo, dự kiến tại Niu Đêli – Ấn Độ vào tháng 5/2013 là thời điểm thuận lợi cho việc mở rộng thành viên./.

Các truyền thống VHNA

17 Th6

Hamvas Béla

(Trích tiểu luận triết học: Scientia sacra)

Từ lâu, khi người ta bắt gặp những tập quán, thói quen sống hoặc các toà nhà giống nhau ở Ai cập và Hy lạp, câu hỏi đầu tiên bao giờ cũng là: dân tộc nào tiếp thu từ dân tộc nào? Cái nào lâu đời hơn? Ai là kẻ sáng tạo và ai là kẻ bắt chước?

Có những trường hợp hoàn toàn chính đáng như của Ai cập hay Hy lạp, của India hay của Irán, nơi sự gần gũi về vị trí mang lại sự hợp lý về các giả định. Trong những trường hợp cách xa về địa lý như giữa Cămpuchia và Peru hoặc Ai cập và Azték thì tính chất họ hàng của đồ gốm và kiến trúc khiến người ta hoặc bất lực hoặc cố gắng tìm ra một nguồn chung.

Người ta cho rằng cấu trúc tòa nhà của Ai cập và của trung-Mỹ đều bắt nguồn từ hòn đảo bị đắm chìm Atlantic, mà Platón đã viết trong Timaios. Các tôn giáo, các tinh thần, tư tưởng cũng là các đối tượng cần tìm kiếm như các yếu tố của cuộc sống. Quan trọng là: tìm được kẻ sáng chế, được nguồn gốc.

Từ lâu, trong thời kỳ của chủ nghĩa duy lý khoa học (scientifizmus) người ta từng tin rằng sự giống nhau trong kiến trúc, trong các phong tục, trong các tôn giáo chỉ có thể hình dung nổi là các dân tộc thừa kế lẫn nhau. Ngày nay chúng ta đều biết đôi khi sự giống nhau, sự đồng nhất không thể giải thích từ tác động bên ngoài.

Giữa các dân tộc trên trái đất có một sự thống nhất vô hình, và càng quay lại thời kỳ xa xưa điều này càng rõ nét hơn.

Sự giống nhau không nên hiểu như kiến trúc chỉ từ một nguồn kiến trúc cổ, hay là mọi tôn giáo đều chỉ từ một tôn giáo cổ. Cái (gọi là) kiến trúc cổ, tôn giáo cổ, tinh thần cổ chưa bao giờ có, cũng giống như chưa từng có dân tộc cổ, giống nòi cổ, ngôn ngữ cổ. Trước thời gian lịch sử, tất cả các dân tộc trên quả đất đều tìm thấy mình từ cội nguồn cổ của sự sống.

Bởi vậy họ giống nhau, bởi đều tồn tại từ một tinh thần. Họ tách biệt nhau, đôi khi gần nhau, đôi khi cách xa nhau, đều là một dân tộc cùng giống loài, cùng ngôn ngữ, hoặc khác giống loài và ngôn ngữ, nhưng những tư tưởng cội rễ tất cả bọn họ đều nhận  từ sự biểu hiện của tinh thần cổ.

Sự biểu hiện của tinh thần cổ này là nền tảng của hệ thống các nhà nước; đây là nền tảng của sự giống nhau của các tôn giáo, các trật tự sống và các xã hội. Những thế hệ cao cả đã bảo vệ sự trong sáng của chúng và truyền lẫn cho nhau. Đây là sự siêu hình đồng dạng của tất cả các dân tộc cổ trên quả đất. Dân Kelta, Azték, Hindu, Tây tạng, Hê ber, Hy lạp đều từ tinh thần cổ tiếp nhận và tồn tại.

Người ta gọi siêu hình như một biểu hiện đồng nhất giữa tất cả các dân tộc trong thời cổ là: truyền thống.

Truyền thống chỉ có một; như chỉ có một nhân loại, một tinh thần và một Thượng đế. Nhưng cái một này ở tất cả mọi nơi đều như thế, được sử dụng và xuất hiện cùng với thời gian, với các dân tộc, với các ngôn ngữ.

Guénon cho rằng, sự biểu hiện cổ, sự siêu hình, cái có trong cội rễ của tất cả truyền thống, đó là kinh Veda của Ấn độ. Nhưng cho dù có hay không, chỉ truyền thống duy nhất xuất hiện trong sự đa dạng của các truyền thống, chính xác như chỉ một nhân loại duy nhất xuất hiện trong sự đa dạng của con người, của các giống loài, các dân tộc.

Tên của truyền thống này: sự thống nhất cổ. Sự tổng hợp cổ này thường gắn liền với thời đại, loài giống, dân tộc; có trường hợp, trong duy nhất một dân tộc có nhiều truyền thống. Truyền thống là người lính canh của tinh thần nhân loại, của ý nghĩa sự sống, của logos, của tri thức, của sự tỉnh táo. Không có tâm linh nằm bên ngoài truyền thống. Khi tâm linh chệch ra khỏi truyền thống- như (cái gọi là) khoa học ở châu Âu hiện đại-cuối cùng vẫn bắt buộc phải kết nối trở lại với truyền thống, bắt buộc phải sử dụng các di tích của truyền thống.

Truyền thống là tuyên ngôn của tinh thần cổ, là tri thức xác thực duy nhất. Chỉ duy nhất có một, và các tổng hợp truyền thống cổ là các bản sao của truyền thống. Các triết học trong thời gian lịch sử chỉ là các chất cặn bã đã đánh mất tính siêu hình học của nó, những thứ không mang lại tri thức tỉnh táo, mà chỉ giúp suy tư bằng những hình ảnh mộng đờ đẫn.

2.

Gần đây nhất người ta thường nói về thời cổ đại bằng ký hiệu thần thoại, và cho rằng hình thù gốc của thời cổ đại là thần thoại, thậm chí tinh thần cơ bản của nhân loại là huyền thoại.

Trong sự nhầm lẫn này thậm chí có cả những nhà tư tưởng ưu tú và tỉnh táo như Leopold Ziegler, với cuốn Überlieferung viết về truyền thống ông đã phân biệt nghi thức, huyền thoại và doxa như nhau, như ba cấp độ phát triển nối tiếp nhau.

Những người khác phân biệt rạch ròi huyền thoại và sự đắc đạo( Ngộ), hoặc huyền thoại với thần học, tôn giáo với giáo điều, họ cho rằng huyền thoại và tôn giáo là nền tảng cổ, còn sự đắc đạo( gnosis), thần học và sự giáo điều được giải thích bằng sự thoái hóa của tinh thần.

Giải thích như vậy rất duy lý, không toát lên bất cứ ý nghĩa gì. Nghi thức, huyền thoại, doxa chỉ không hiểu được với những ai không hiểu một trong ba hình thức nói trên, hoặc không hiểu bất cứ loại hình thức nào. Hay nói cách khác: mâu thuẫn chỉ dành cho kẻ đến một khía cạnh của mâu thuẫn cũng không hiểu rõ ràng. Kiểu tư duy như trên không hề thần bí, không đắc ngộ, chẳng mang tính tôn giáo, hoặc thần học mà chỉ là duy lý. Chỉ từ quan điểm khoa học kiểu này mới xuất phát (cái gọi là) mâu thuẫn giữa các thành phần tinh thần cổ với nhau.

Nhưng với câu hỏi cái nào cổ hơn, siêu hình học hay huyền thoại, có thể trả lời chắc chắn: siêu hình học. Bản chất chính của thời cổ đại không phải là thần bí mà là siêu hình. Huyền thoại sau này do thời đại dựng lên.

Nói về ý tưởng siêu hình có trước huyền thoại ai cũng lập tức hiểu ra ngay nếu suy luận cái nào là tài năng của trí tuệ con người, cái nào từ cái nào, và cái nào là cái nảy sinh từ cái kia. Buddhi, intuition intellectuelle, trực giác tâm linh; là khả năng cái TÔI siêu việt, không bao giờ bị cá nhân hóa, chỉ mở về phía hiện thực vũ trụ.

Trực giác tâm linh không có các khái niệm và các hình ảnh; siêu hình thể hiện trong các ý tưởng. Còn các ý tưởng là các hiện thực cổ của hiện thực siêu việt. Các hiện thực cổ không thể diễn dịch bằng ngôn từ. Ngày nay cũng vậy, sự vật nào càng có ý nghĩa, thì hy vọng diễn dịch nó ra càng ít, hiếm có khả năng định nghĩa khái niệm về các sự vật quan trọng nhất, còn về các sự vật tuyệt đối thì khả năng diễn dịch hoàn toàn bó tay.

Chỉ có một khả năng duy nhất để bám lấy các ý tưởng là hình ảnh tượng trưng. Hình ảnh tượng trưng thường bí ẩn, cần giải nghĩa, và điều này chính lại cần đến trực giác tâm linh, đến epopteia,csiszti,vidja, sự tỉnh táo.

Trong siêu hình học hình ảnh tượng trưng, sự thấy và hiện thực luôn luôn siêu hình, hay đúng hơn không thoát khỏi vòng siêu hình. Ý tưởng không thế tục hóa. Bởi vậy Guénon đã nói, bản chất của truyền thống không bao giờ có thể phổ biến hóa, giải thể, truyền bá, và đồng hóa nổi.

Điểm  ưu tiên của siêu hình là nó không chỉ có trước trong ý tưởng mà trong cả thời gian, cho dù về mặt lý thuyết không có bao nhiêu ý nghĩa, nhưng các dấu hiệu về nó thì đầy rẫy. Xác định sự kiện theo số liệu là bất lực. Nói đúng hơn bản chất của các sự kiện độc lập với các xác định dữ liệu. Nghĩa là số liệu hoàn toàn khác với bản chất sự vật. Ví dụ có những số liệu hiện đại trong đó hoàn toàn vắng bóng bản chất.

Tư duy của các hiện thực cổ siêu hình trùng với thời gian, khi các tôn giáo chưa biết đến nhà thờ và các thần linh, nghi thức và giáo hội. Khoảng thời gian này trùng với thời kỳ của ngôn ngữ, khi chưa biết đến các khái niệm và các hình ảnh, mới chỉ là các hình ảnh tượng trưng phổ quát. Đây là khoảng thời gian trùng với thời kỳ, nghệ thuật chưa biết đến khả năng tạo dựng trong các hình thức tự nhiên,  nghệ thuật lúc đó mang tên nghệ thuật hình học truyền thống.

Sau này chúng ta được biết đến các tác phẩm của ngành nghệ thuật này như các bức tượng thời Hy lạp cổ, Ai cập cổ, hoặc đồ gốm sứ thời đồ đá mới. Trong sự sống cổ nghệ thuật hình học, ngôn ngữ phổ quát, và khả năng trực giác tâm linh chính của con người xuất hiện song song cùng nhau.

Bên cạnh đó có một đặc điểm cơ bản, là nhân loại từ thời cổ đã biết phân biệt rành rọt hình vuông và hình tròn. Hình vuông và hình tròn là hình ảnh tượng trưng cổ tự nhiên trong thời kỳ con người còn tư duy bằng hình tượng. Hình ảnh tượng trưng này có thể tìm thấy trong tất cả các truyền thống, trong Ai cập, Azték, Kelta, Da đỏ, Hy lạp, ở hội Pitago, trong thuật giả kim.

Hình tròn tượng trưng cho trời, hình vuông cho đất. Sự xuất hiện của trời trên quả đất xảy ra tuân theo luật hình học, theo đo lường. Không được phép quên, là maja, lời tuyên ngôn, mater, các nguyên tắc sinh ra nhân vật và từ ngữ đo lường đều chung một gốc. Thiên luật của thế giới ảo là mức độ, và ý nghĩa của nó là:” Cái gì có ở trên đều phù hợp với cái có ở dưới.”bởi mức độ mang tính chất thiên luật.

Và điều này là nguyên nhân Ấn độ giáo Phạm Thiên Pura và Thánh địa Khải huyền mới (Apokalipsis Jeruzsálem) xây theo hình vuông. Hình vuông là ý tưởng của trái đất, là hình thức siêu việt, là trái đất nâng cao, được thể hiện bằng việc xây dựng các nhà thờ và các ngôi mộ hình vuông.

Đây là ý nghĩa của trật tự luật lệ không thể phá vỡ của quy luật thượng đế. Dấu hiệu thần bí về hình vuông đặt trên hình tròn không là gì khác ngoài là sự chuyển đổi đời sống nâng lên thành sự sống: khả năng tiên tri, sự thánh hóa linh hồn. Chiêm tinh học, lý thuyết số học, thuật giả kim và tất cả các thể tổng hợp truyền thống đều hiểu ý nghĩa này.

Trong lý thuyết số học số mười là số thượng đế vĩnh cửu, thể hiện ý nghĩa Một- TOÀN BỘ-TẤT CẢ; số mười hai là số của vũ trụ, của thời gian, của thế giới thời gian. Hình tròn và hình vuông có quan hệ với nhau như số mười và số mười hai: Như sự sống vĩnh cửu và đời sống trong thời gian, là tinh thần và thiên nhiên, là ý tưởng và thế giới vật chất.

Nghệ thuật số học phổ quát hơn nghệ thuật tự nhiên, ngôn ngữ phổ quát có sức biểu lộ mạnh hơn so với ngôn ngữ cá nhân, số mười đi trước số mười hai, và vì thế điều hiển nhiên tiếp theo là siêu hình có trước huyền thoại.

Lão tử đã chủ đích nói về điều này khi dạy: „Chừng nào Đạo còn trong Tĩnh, chưa có tên, chỉ khi Động mới bắt đầu có tên”. Đạo còn trong siêu hình, trong tĩnh (trong ý tưởng); nhưng huyền thoại đã là sự biểu hiện của các tên gọi, bằng hình ảnh và mang tính chất cá nhân; Trong toàn vẹn là vòng mười hai số của Pitago.

Huyền thoại với siêu hình có quan hệ như hình ảnh với bản chất, như hình ảnh tượng trưng với ý nghĩa của hình ảnh tượng trưng đó, giống như dãy số với số MỘT.

3.

Sự biểu hiện trực tiếp, được bảo tồn và truyền tiếp trong các hình dạng thống nhất cổ của các truyền thống khác nhau, lúc đầu mang tính chất mở. Đây là thời gian mà các truyền thống thống nhất với thời hoàng kim.

Tất cả mọi người đều có phần trong sự biểu hiện đó. Chưa có sự phân biệt đẳng cấp, giai cấp, sự khác biệt tri thức, chất lượng tài năng. Trong biểu hiện trực tiếp, ai cũng dự phần. Đấy là khoảng thời gian của vidja phổ quát hoặc của sự tỉnh táo, của csiszti, khi giữa sự sống và đời sống chưa có giới hạn ngăn cách.

Trong truyền thống đây là khoảng thời gian khi trời và đất hòa làm một. Ở Ấn độ người ta cho rằng, trong thời gian này kinh Veda là của tất cả mọi người. Đây là thời gian cổ siêu hình, là thời kỳ của ý tưởng, khi con người sống trong cộng đồng nhân loại và có quan hệ trực tiếp với hiện thực cổ.

Trong những thời kỳ tiếp theo sự biểu hiện trực tiếp không dành cho toàn bộ nhân loại nữa mà chỉ cho một đẳng cấp duy nhất. Ý nghĩa  xuất hiện của các đẳng cấp như sau: một người nào càng tham dự trực tiếp bao nhiêu vào sự biểu hiện, người đó càng có vị trí cao hơn trong các đẳng cấp.

Giờ đây trong ý tưởng siêu hình chỉ còn lại đẳng cấp tinh thần. Ở Ấn độ là Brahman, ở Ai cập là Toth, ở Iran là Zarathustra, ở Hy lạp là các Orphikus, mà hậu duệ của họ trước ngưỡng cửa của thời gian lịch sử là các nhà thần học cổ, palaioi theologoi.

Đẳng cấp tinh thần sống trong vòng siêu hình, đẳng cấp chiến sĩ- lãnh đạo (sankrit ksatrija)thu thập hiệu lực bằng các hoạt động của sự biểu hiện tinh thần ; đẳng cấp kinh tế (vaisjasúdra) đảm bảo duy trì đời sống vật chất. Kẻ nào không biết đến sự biểu hiện cổ, đấy là kẻ vô lại (avarna)

Trên ngưỡng cửa bước vào thời kỳ lịch sử, đẳng cấp đã không bảo vệ nổi sự biểu hiện cổ nữa. Chỉ còn những cá nhân cá biệt, các chủ thể thần thánh hiểu được ý nghĩa của siêu hình mà thôi. Trong thời gian lịch sử, biểu hiện cổ trực tiếp chỉ còn lại trong các khả năng của con người, trong trực giác tâm linh. Các thành phần của truyền thống cổ, theo sự nhận biết của con người ngày nay được chia ra như sau:

I.   Trung Quốc:

có năm cuốn sách thiêng

Đạo: (Lão tử, Trang tử)

Khổng tử, Mạnh tử, Lie-ce

II.                        Tây tạng:

Bön

Tử thư Tây tạng

Đạo Phật Tây tạng

III.                    Ấn độ

Veda, Védanta, Upanisadok

Sankhja

Patandzsali Joga-sutra

Mahábhárata (Bhagavad Gita)

Buddha( sankrit và Páli kánon)

IV.                    Iran

Mithrasz

Zarathustra (Zend Aveszta)

V.                       Ai cập

Tử thư Ai cập

Hermesz Trimegisztos (Toth)

VI.                    Héber

Kinh thánh truyền thống (Heber sruti)

Heber szmriti: Kabbala (phép thuật truyền thống)

Talmud( triết học truyền thống)

VII.                Kelta

Druida truyền thống

VIII.             Mỹ

Azték, Maja, Inka truyền thống

IX.                    Hy lạp

Orpheus

Herakleitos

Pitago (Platon)

X.                        Alexandria

Gnosis

XI.                     Kaldea:

Chiêm tinh học, thuật giả kim (Ả rập?)

Aritmologia (lý thuyết số học, thần học)

XII.                 Islam:

Kinh Coran

Sufi

4.

Đại đa số các thể thống nhất cổ hòa quyện với tôn giáo, cùng tồn tại và cùng duy trì tiếp tục. Bởi vậy ta cần phân tích đôi lời về mối quan hệ của các tổng hợp truyền thống cổ và tôn giáo.

Tất cả các thể thống nhất cổ là một khái niệm siêu hình mà các thành tố của nó cũng chứa đựng trong các thể thống nhất cổ khác. Nếu đặt song song các tổng hợp thống nhất cổ, có thể phân tích chính xác sự tương tự của chúng. Các tương tự (analogia) này nằm trong sự súc tích hoàn toàn, loại trừ tất cả những thành tố phi siêu hình, tất nhiên, bằng những hình ảnh huyền thoại đầu tiên có trong kinh Veda. Bởi vậy Guenon cho rằng cần phải coi kinh Veda là văn bản đáng tin cậy của sự biểu hiện cổ. Mọi siêu hình chỉ là phiên bản của Một (Veda) này.

Veda là một siêu hình học có trước và vượt tôn giáo. Cùng với truyền thống Trung quốc, Ai cập, với chủ nghĩa Pitago, với chiêm tinh học, với lý thuyết số học và thuật giả kim, Veda và Sankja là người lính canh tinh thần đi trước cả tôn giáo trong cả ý tưởng lẫn thời gian.

Ngoài ra giữa các truyền thống mà sự tương tự (analogia) đập ngay vào mắt, những cái tốt nhất nên đặt song song với nhau, nhất là khi con người đã nhận thức và chú ý đến tính chất của chúng-  ví dụ:những bình luận bản chất âm của Kinh Dịch, đối diện với bản chất dương của Pitago, Ai cập và Veda.

Sự xác định rõ ràng về sự vật chỉ có ngần này: sự phổ quát thể hiện một cách khác hẳn trong siêu hình học, một cách khác hẳn trong tôn giáo, một cách khác hẳn trong huyền thoại.

Sự biểu hiện trọn vẹn và đúng đắn nhất của  phổ quát là siêu hình học; nó đứng cao hơn hẳn những khác biệt giống loài, dân tộc, cao hơn hẳn những hạn chế tôn giáo, ngôn ngữ, thời gian, cao hơn hẳn những giới hạn tri thức, giữa các giai cấp, nó là tuyên ngôn tinh thần phổ quát tuyệt đối.

Tôn giáo và huyền thoại cũng mang tính phổ quát, nhưng còn chứa trong nó những thành tố khác nữa. Những thành tố đó mang tên: tập thể. Bởi vậy truyền thống vượt trên cả dân tộc và giống loài; còn tôn giáo và huyền thoại vẫn gắn liền với tập thể, hay nói cách khác vẫn gắn với dân tộc, giống loài, và thời gian.

Cũng như vậy cùng lúc, khi truyền thống phổ quát tiếp nhận những thành tố tập thể, một mặt nó tan hòa vào tôn giáo và huyền thoại, mặt khác quá trình cá nhân hóa bắt đầu và bắt đầu có sự thể hiện của tinh thần cá nhân trong sự biểu hiện cổ. Biểu hiện cá nhân bắt đầu ở châu Âu là tư tưởng triết học và thế giới quan của Thales và Parmenides, và vẫn tiếp tục như vậy cho đến tận ngày hôm nay.

Về mặt lịch sử, tất nhiên tôn giáo không chỉ là quá trình tập thể hóa các thành tố phổ quát, mà bởi vì nó tiếp nhận rất nhiều thành tố triết học và thế giới quan cá nhân, tôn giáo cũng bị cá nhân hóa nốt.

Về tổng thể, tôn giáo là một sản phẩm lịch sử, bởi vì siêu hình học của con người phổ quát đã tan hòa vào tinh thần của dân tộc, của đám đông, của thời gian, của loài giống, của triết học và thế giới quan. Bản thân nó có thể tiếp thu cả huyền thoại và đã từng như vậy.

Không có loại tôn giáo nào lại nghèo nàn về tài sản huyền thoại quý giá. Kể cả những tôn giáo Tin lành (protestáns) có gốc gác hiện đại, chứa bên trong nó cực kỳ ít thành tố phổ quát, gần như hoàn toàn chỉ chứa đựng các thành tố cá nhân-tập thể, cũng vậy. Buddha muốn thanh toán hoàn toàn với huyền thoại và tôn giáo, nhưng những lời dạy dỗ của ngài vẫn trở thành một tôn giáo, thậm chí là một tôn giáo thần bí mạnh mẽ.

Cội rễ của tôn giáo nằm trong truyền thống phổ quát, và mối quan hệ của chúng với truyền thống nói chung cũng giống như với huyền thoại; Mối liên quan của nhiều tôn giáo với siêu hình học cổ duy nhất, giống như hình ảnh với bản chất, như ý nghĩa với hình ảnh tượng trưng,  như dãy số với MỘT.

Tôn giáo đã từng có và đang có rất nhiều. Truyền thống đã từng có, đang có và sẽ chỉ có một, không có khả năng để có nhiều truyền thống. Sự thiếu hiểu biết về các tôn giáo, về bản chất và đặc trưng của truyền thống trong quá trình lịch sử đã mang lại rất nhiều hiểu lầm thô thiển. Việc nhận ra thể thống nhất phi thời gian của siêu hình học khiến nhiều người tưởng rằng, vì chỉ có một truyền thống, có thể tạo dựng một tôn giáo duy nhất gắn với toàn bộ nhân loại.

Bắt đầu từ Mani của Ba tư, đến một vài kẻ Gnostikus rồi đến Scotus Eriugena thời trung cổ cho đến các nhà thần học ngày nay đều tin tưởng vào sự quái gở này, như thể họ tin vào các ngôn ngữ trên thế giới vậy.

Họ thử tạo một tôn giáo thế giới, trong một niềm tin như thể tôn giáo là thứ có thể tạo ra được. Thứ tôn giáo thế giới cưỡng bức và nhân tạo tất nhiên không thể trở thành phổ quát, thậm chí cả tính chất tập thể hóa của nó cũng bị đánh mất; nó trở thành một âm thanh trừu tượng rỗng tuếch, như tiếng Esperanto- quốc tế ngữ.

Ngoài ra sự cố gắng này không chỉ chống lại tinh thần của truyền thống mà còn làm người ta hiểu nhầm về truyền thống rất nhiều. Nhiệm vụ của con người không phải là tạo dựng một thể thống nhất, mà chỉ là cách thức thực hiện sự hài hòa trong cái đa dạng. Kinh Dịch, Đạo, Veda, Toth và Pitago, và toàn bộ siêu hình học cổ đều  dạy dỗ về điều này.

Thể thống nhất, monasa của Pitago không cần tạo dựng, bởi vì nó đã : CÓ. Đây là một thể thống nhất, đã có, là thứ trong hình dạng mọi biểu hiện tinh thần từ thời cổ đại, mà nhân loại đã từng tiếp nhận một cách trực tiếp từ thượng đế, từ sự sống. Đấy là truyền thống.

Cái MỘT này trong đời sống xuất hiện như sự đa dạng, giống như có nhiều con người, nhiều thần linh, nhiều huyền thoại, nhiều tôn giáo. Nhiệm vụ của con người không phải từ một loại nào đó làm thành một, chỉ có sự mê muội cá nhân mới dám khởi sự đem cả chuỗi vô tận ra làm thành MỘT. Sự đa dạng của tôn giáo là cần thiết.

Và nếu nhân loại trong thời cổ đã bảo vệ tinh thần siêu hình phổ quát trong sạch, điều đó không có nghĩa là từng chỉ có một tôn giáo, mà điều đó có nghĩa là: nhân loại đã từng ở trạng thái siêu tôn giáo; Nếu trong tương lai sẽ có một giai đoạn sự thống trị của tinh thần siêu hình phổ quát quay trở lại, lúc đó nhân loại không phải đạt đến chỉ một tôn giáo, mà một lần nữa quay trở lại trạng thái siêu tôn giáo.

5.

Truyền thống hoàn toàn thống nhất, bởi vậy không có ngoại lệ, và trong mọi trường hợp truyền thống không chỉ là tư tưởng mà còn có tính chất ứng dụng nữa. Tính chất ứng dụng này trong vài trường hợp có vẻ dễ dàng đến nỗi người ta không chống đỡ nổi sự quyến rũ của nó. Đấy là các trường hợp của yoga-sankhja, của chiêm tinh học và thuật giả kim.

Không cần thiết điểm danh các hiện tượng này. Chỉ cần hiểu như sau: cái tinh thần đã bị khoa học hóa, (như Ziegler đặt tên) đã thất bại,  cần một định hướng mới. Một vài nỗ lực cá nhân và một vài nhóm bắt đầu sử dụng những sức mạnh tinh thần ẩn náu trong các thể thống nhất cổ, tuy ở họ thiếu một tư duy tĩnh lặng cần thiết.

Trước tiên trong môn chiêm tinh học, họ sử dụng cách phân tích cá tính, và lập tử vi; họ ứng dụng yoga-sankhja, ứng dụng phân tâm học để mong muốn thực hành lễ thụ pháp cổ đại, sau cùng là việc thực hành các trường, các nhóm học khác nhau, bắt đầu từ nhà thần học Annie Besant và Mme Blavatskaja, hoặc trường Darmstadt, những nơi người ta thực hành chủ nghĩa thần học bắt chước trường phái Pitago hoặc risik Hindu.

Những trào lưu này nói chung, giống như đầu công nguyên là bộ phận áp đảo của Alexandria và phái Gnosis Hellenistikus, không mang tính chất cách tân, mà chỉ là những hiện tượng đổ vỡ, không mang tính chất tổng hợp, chỉ là các hiện tượng thống nhất giáo phái (syncretic)

Đây là những nỗ lực hiện đại thiếu hiểu biết cơ bản muốn ứng dụng quá sớm, muốn cố gắng bóc lột năng lượng tinh thần trong toàn bộ các thể thống nhất cổ, lầm lẫn một cách cơ bản. Lầm lẫn vì những kẻ thực hành đã thò tay mang cái tinh thần (gọi là) khoa học vào những thể thống nhất cổ.

Nhưng sự thống nhất cổ không mang tính khoa học, mà mang tính tôn giáo siêu hình; Không có bất cứ một con đường nào dẫn dắt từ khoa học đến tôn giáo hết.

Con người bị khoa học hóa đã quen với việc ngay lập tức và một cách cơ bản sử dụng những sức mạnh tinh thần có thể : để biến thành kỹ thuật. Hành động vô luật này ở châu Âu một lần (trong thời kỳ của Pitago và Platon) đã thất bại thảm hại.

Cũng chỉ vì người ta đã muốn sử dụng những tri thức truyền thống quá sớm. Mặc dù đấy là dân Hy lạp, một dân tộc thượng đẳng đứng về mặt chất lượng con người. Pitago và Platon trên nền tảng truyền thống Ai cập và phương Đông muốn thay đổi con người Hy lạp. Cả hai đều đã thất bại. Quá trình này từ đó tới nay nhắc lại nhiều lần, và ngày nay thực sự  trở thành những cơn dịch bệnh.

Trong tay con người hiện đại việc ứng dụng những tri thức thống nhất cổ đã bị hạ thấp thành kỹ thuật phép thuật cơ bản. Họ không hiểu rằng sự thống nhất cổ không thể phá vỡ nổi, và thiếu sự đồng hóa hoàn chỉnh của siêu hình thống nhất không thể ứng dụng nổi, và nếu có thể đi nữa, từ đó chỉ đẻ ra một phô diễn vô thức của nhà ảo thuật rởm vụng về.

Những hoạt động phép thuật hấp tấp như vậy mà con người hiện đại trong sự ấu trĩ thô thiển gọi là kỹ thuật cần thiết, cho đến nay đã đẩy nhiều số phận con người vào sự rối loạn, thậm chí vào sự tăm tối, và không chỉ dẫn dắt một vài người đến sự khủng hoảng hoàn toàn.

Việc ứng dụng thiếu  hiểu biết về siêu hình đã giải phóng sức mạnh và thế giới tinh thần nằm trong tri thức siêu nhiên chứa đựng trong toàn bộ thể thống nhất cổ. Một lần và mãi mãi cần nhớ rằng ở châu Âu, con người chưa hề sống một cuộc sống tâm linh, để có thể tiếp nhận được sự giải phóng những sức mạnh tinh thần này, chưa nói đến chuyện họ mơ  sức mạnh tinh thần cổ được giải phóng sẽ khiến họ hoàn hảo hơn

Hàng trăm năm qua, các thế hệ được giáo dục một cách mù quáng, vật chất hóa ,bằng sự chế nhạo và coi thường sự  tiếp nhận siêu hình học, ý tưởng, hiện thực trừu tượng, trực giác tâm linh, biểu hiện của trực giác. Trong truyền thống cổ, con người không nhìn thấy gì khác ngoài những câu chuyện cổ tích vớ vẩn vượt trước nhân loại”tiến bộ „riêng của họ.

Nhưng những thế hệ sau này đã cay đắng rút kinh nghiệm từ hậu quả của sự mông muội trừu tượng và phi hiện thực của  hàng trăm năm, khi bằng các linh hồn chưa nhập định và đôi tay dơ bẩn, với sự tham lam tăm tối, chạm đến các bí mật của truyền thống tâm linh cổ để mong muốn lợi dụng sử dụng. Đã đến lúc những kẻ vô đạo bắt đầu nhận ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, qua việc chứng kiến nhiều số phận bị đẩy vào bất hạnh, hoặc sự tha hóa, đổ vỡ của chính cuộc đời họ.

Đã có nhiều ví dụ cảnh báo; những vô vàn trường hợp vẫn là bí ẩn, và nguyên nhân thực chất đổ vỡ của các số phận dường như không bao giờ tìm ra. Chừng nào tất cả mới chỉ là một trò chơi lý thuyết vô hại như (cái gọi là) sự nhập định của Hội Thần học hoặc Trường học Minh triết , chừng đó con người vẫn chỉ nhìn những phong trào này với con mắt thương hại, và cho rằng biết đâu sẽ có người tỉnh ngộ.

Con người cần nhìn thấy những phân tích số phận theo tử vi, thấy những động tác thực hành yoga của đám đông, thấy sự phân tích giấc mộng. Tất cả những hoạt động này đều có tác dụng vô tận trong nhân loại được chuẩn bị và được giáo dục cần thiết, đặc biệt nếu những hoạt động này được hướng dẫn bởi một người Thày tinh thần cần thiết.

Nhưng cũng cần phải biết rằng chưa bao giờ trên thế gian lại có một đời sống bị khóa kín trong vật chất như châu Âu, như người châu Âu hiện nay. Rơi vào tay những con người như vậy, các quá trình siêu đẳng có thể biến thành những kỹ thuật phép thuật mà tác dụng nguy hiểm của nó không lường trước được.

Nhiệm vụ của con người châu Âu ngày nay không phải bằng con mắt thèm muốn tiếp xúc, ứng dụng, thực hành, và thèm khát đạt tác dụng của các phương pháp một cách nóng vội, mà cần phải cố gắng hiểu tinh thần của các thể thống nhất cổ.

Những bước đi ban đầu quay lại truyền thống cổ không là gì khác ngoài sự nhún nhường học trò.  Bởi vì: không phải kỹ thuật làm biến đổi con người mà là tinh thần. Thời gian và cách thức ứng dụng, nếu tinh thần đã chín muồi, và cần đến điều đó, tự nó sẽ dẫn đến.

6.

Đứng về khía cạnh siêu hình, truyền thống chính là sự tỉnh táo, không là gì khác. Sự tỉnh táo. Thấy -đi kèm với sự tỉnh táo; người nào thấy, kẻ đó: biết.

Truyền thống cổ đã viết ra tri thức; người lính canh của tri thức này là sách cổ, là khách thể thánh thần, gọi là SÁCH THIÊNG, như Veda, Kinh Dịch, Đạo Đức Kinh, Tử thư Tây tạng, Hermes Trismegistos, Tử thư Ai cập, Bundahin, Zend Aveszta( Thiền tông Avesta), Zóhár, Szefer Jecira.

Tri thức có thể học được. Nhưng thấy- thì không. Còn khó hơn nữa điều kiện của cả hai: sự tỉnh táo. Kẻ tiếp tục truyền bá sự thấy và sự tỉnh táo cho các thế hệ mới là chủ thể thần thánh đã bị đánh mất. Chỉ tri thức sót lại cho chúng ta; từ tri thức này cần phải học thấy; và từ thấy cần học tỉnh táo.

Tri thức trong truyền thống là những biểu hiện cổ. Tuyên ngôn thời cổ đại sáng sủa, rõ ràng và dản dị đến vô tận : nguồn gốc của con người là thượng đế, và nhiệm vụ duy nhất của số phận con người là bảo vệ sự tương tự với thượng đế. Đời sống của con người không có nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ này.

Còn truyền thống: là sự duy trì sự thường xuyên  mối quan hệ giữa thế giới của thượng đế  và thế giới của con người. Tất cả những gì mà truyền thống đã dạy trong hình thức của các thể thống nhất cổ khác nhau, đều xuất phát từ duy nhất một lời tuyên ngôn cổ, một biểu hiện trực tiếp cổ. .Đây là hạt nhân của tri thức của truyền thống.

Sự thấy mà tri thức phát triển chỉ hợp lý nếu con người nhìn thấy những biểu hiện cổ và càng ngày càng thấy rõ hơn. Khi nào không nhìn thấy gì khác, chỉ duy nhất một hiện thực cổ độc nhất, lúc đó nó đã đạt đến sự tỉnh táo.

Sự tỉnh táo là một hoạt động có cường độ cao, thứ không chỉ của các cảm giác và của linh hồn, mà còn của tri thức, của bản năng và của tinh thần. Nhưng sự tỉnh táo cao nhất: cao hơn cả sự nhạy cảm cao nhất. Sự tỉnh táo Thượng đế không phải của cảm giác, của linh hồn và của tinh thần, mà là điều này: tình yêu thương.

Lão tử nói:” Kẻ nào trời muốn bảo vệ, trời sẽ bảo vệ kẻ đó bằng tình yêu thương.”

Thượng đế bảo vệ và gìn giữ thế gian bằng tình yêu thương. Mức độ cao nhất của sự tương tự đối với Thượng đế trong con người không phải là tinh thần mà là sự tỉnh táo của trái tim: tình YÊU THƯƠNG./.

Nguyễn Hồng Nhung dịch từ bản tiếng Hung

( Bp. 2011-11-18)

Nguồn: amvc

 

 

%d bloggers like this: