Lưu trữ | 10:56 Chiều

Những kỳ án đất đai ở Nam Bộ thời khẩn hoang – Bài 1: Ai là ông già Ba Tri? – PLTP

19 Th6
Nguyên và bị đơn cùng kéo nhau đi bộ cả ngàn cây số để tìm công lý. Có người không liên quan cũng lót tót đi theo để… làm chứng!

Trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc, từ ông già Ba Tri là thành ngữ để chỉ người khẳng khái, cương quyết, không chùn bước trước bất công. Có tài liệu ghi: Lúc làm Kinh lược sứ trấn Vĩnh Long, Phan Thanh Giản đã giảng đi giảng lại cho nhiều người hiểu đúng rằng ông già Ba Tri là người già mà quắc thước, can đảm, người có công sửa làng, giúp nước, lập chợ, mở đường.

Giai thoại về ông già Ba Tri bắt nguồn từ ông Thái Hữu Kiểm ở phủ Hoằng Trị, tỉnh Long Hồ (huyện Ba Tri, Bến Tre bây giờ). Thời Gia Long tẩu quốc, ông Kiểm từng có công giúp Nguyễn Ánh nên được phong chức Trùm cả An Bình Đông, được dân gọi là Cả Kiểm.

Ngăn rạch cản đường

Nguyên đời Lê Cảnh Hưng, ông Thái Hữu Xưa (ông nội ông Kiểm) từ phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào ven rạch Ba Tri lập trại, lập làng, sinh cơ dựng nghiệp. Làng của dòng họ Thái lập ra có tên là Trại Già, là do xưa kia ở đây có rất nhiều cây già. Năm 1806, ông Kiểm khai kinh, mở đường nối rạch này với những con sông khác, dựng chợ gọi là chợ Ba Tri (thời ấy gọi là chợ Trong). Buổi đầu chỉ là một cái chợ chồm hổm nhưng nhờ giao thông thủy-bộ thuận tiện, người ta theo sông Hàm Luông, Cổ Chiên qua chợ Trong buôn bán thuận lợi nên dân các làng lân cận như Mỹ Chánh, Phú Lễ, Bình Tây kéo về buôn bán tấp nập. Khách thương hồ từ Mỹ Tho, Trà Vinh, Gia Định… cũng giong buồm tìm đến. Làng xã phát triển ngày càng phồn thịnh.

Ông Thái Văn Kiểm, người tạo ra giai thoại ông già Ba Tri. Ảnh tư liệu

Trước đó phía đầu rạch Ba Tri, ông Xã Hạc đã lập chợ Ngoài. Từ khi có chợ Trong, chợ Ngoài vắng khách. Ông Xã Hạc đắp đập trên rạch Ba Tri, không cho ghe thuyền từ sông Hàm Luông vào chợ Trong nữa. Lần này đến lượt chợ Trong ế khách. Ông Kiểm bất bình, đâm đơn kiện. Quan phủ xử “Mỗi làng đều có quyền đắp đập trong địa phận làng mình”. Chợ Trong coi như thua. Người xưa có câu ca dao nói về sự tranh chấp ấy, rằng:

Đố ai con rít mấy chưng

Cầu ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người

Chợ Dinh bán áo con trai,

Chợ Trong bán chỉ, chợ Ngoài bán kim.

Leo đèo vượt núi đi kiện

Không đồng tình với phân xử của quan phủ, ông Cả Kiểm đi bộ từ Ba Tri ra kinh đô Huế để đưa đơn nhờ vua phân xử. Thời đó từ Nam Bộ ra Huế chỉ có hai cách: đi bộ hoặc đi ghe bầu. Đi ghe bầu phải chờ tới mùa gió thuận. Đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường. Ông Cả Kiểm không chờ ghe bầu mà nhứt quyết đi bộ cả mấy tháng trời.

Lúc đó vua Minh Mạng vừa lên ngôi. Vua Minh Mạng cho tra xét, biết được gia đình Cả Kiểm biết khai kênh mở chợ nên phán “Dù là làng riêng nhưng rạch là rạch chung, là đường giao thông chung của cả chợ Ngoài lẫn chợ Trong. Phủ Huyện phải cho dẹp bỏ đập”… Vua Minh Mạng lệnh cho quan Phủ Hoằng Trị và tỉnh Long Hồ phá đập.

Câu chuyện trên đây đã lưu truyền trong dân gian và được ghi lại trong một số sách như: Monographie de la province de Bến Tre (Chuyên khảo tỉnh Bến Tre) do một người Pháp soạn năm 1929, Kiến Hòa xưa và nay của Huỳnh Minh (1965), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954) của Nguyễn Duy Oanh (1971).

Cũng như các truyện kể dân gian khác, chuyện này có nhiều dị bản khác nhau. Chi tiết các dị bản khác nhau là về nhân vật. Có chuyện chỉ ghi tên chung chung ông già Ba Tri mà không nêu tên cụ thể. Có chuyện ghi đích danh ông Cả Kiểm. Các chuyện cũng khác nhau về chi tiết ông Kiểm kiện, chuyện bảo đi một mình, chuyện bảo đi với hai người khác. Có chuyện xác định ông cùng hai ông bạn già là Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi nhưng có chuyện khẳng định ông Kiểm đi cùng với ông Cả Hạc và một người làm chứng.

Chợ Ba Tri ngày xưa và chợ Ba Tri hôm nay. Ảnh tư liệu và CTV

Ai là ông già Ba Tri?

Theo nhà báo Phan Tấn Hà, năm 1999, sau khi đăng bài báo về ông già Ba Tri, ông Thái Hữu Yến (ngoài 90 tuổi nhưng còn rất minh mẫn, sống tại phường 7, TP Bến Tre), hậu duệ đời thứ sáu của ông Kiểm, đã lên tiếng phản hồi, cung cấp nhiều thông tin thú vị, độc đáo về ông già Ba Tri.

Theo ông Yến thì chính Cả Hạc, chủ chợ Ngoài, là một trong hai người cùng đi với ông Kiểm ra Huế. Ông Kiểm và ông Cả Hạc vốn là bạn thân, sau vụ đắp rạch, về tình, hai người vẫn giữ được hòa khí nhưng về lý thì chẳng ai chịu ai. Quan phủ Vĩnh Long xử Cả Hạc thắng kiện nhưng ông Kiểm không chịu, đòi ra Huế nhờ vua phán xử. Cả Hạc muốn cho ông Kiểm “tâm phục khẩu phục” đã đồng ý hùn tiền để ra Huế nhờ vua xét xử coi ai đúng, ai sai. Hai người còn mời ông Trần Văn Tới cùng đi với vai trò làm chứng. Đằng đẵng gần trăm ngày đêm trèo đèo, lội suối, vượt qua bao gian truân vất vả, hai con người vừa là bạn, vừa là “bên nguyên – bên bị” đã ra tới kinh thành. Sau khi phân tích tình tiết một cách thấu tình đạt lý, vua phán xử ông Kiểm thắng kiện. Xong việc, cả ba lại quày quả đi bộ về quê.

Sau vụ kiện, hai ông Cả Kiểm và ông Cả Hạc vẫn sống tình nghĩa với nhau như thuở nào. Đó là một hành xử đẹp của người phương Nam thời mở cõi. Nhưng ngẫm lại, chuyện hai ông bạn tức lý nên phải lội bộ cả ngàn cây số đi kiện đã đành. Còn “người làm chứng”, chẳng dính dáng quyền lợi, chẳng tranh chấp với ai cũng lội bộ đi theo mới là chuyện lạ. Giữa ba người ai xứng với cái tên ông già Ba Tri hơn cả thật không dễ trả lời!

Vua Minh Mạng triệt để chống bè phái, lệ làng

Vua Minh Mạng chủ ý xây dựng nhà nước trung ương tập quyền. Thời Gia Long, đất nước chia làm Bắc Thành, Gia Định Thành do một tổng trấn trực tiếp cai trị. Sau loạn Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng xóa bỏ cơ chế này, chia cả nước ra làm 30 tỉnh và kinh thành do triều đình trực tiếp cai quản. Để chống tình trạng cát cứ, bè phái địa phương, nhà vua còn ra quy chế Hồi tị, theo đó:

Khi bố trí quan về trị nhậm tác các địa phương cần phải tránh những nơi: Quê gốc (quê cha) là nơi có quan hệ họ nội nhiều đời; trú quán là nơi bản thân đã ở lâu, học hành, sinh hoạt; quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ là nơi theo học trước đây). Triều đình không được bổ dụng quan lại về một trong những địa phương quy định trên. Nếu ai man trá sẽ bị nghiêm trị.

Các quan lại ở các nha môn, các bộ ở kinh đô và các tỉnh là bố con, anh em ruột, anh em con chú con bác với nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác. Các quan lại không được làm quan ở nơi cư trú (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình; thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi. Các lại mục, thông lại cũng không được làm việc ở phủ, huyện là quê hương của mình. Các lại mục, thông lại các nha phủ thuộc phủ huyện là người cùng làng cũng phải chuyển bổ đi nơi khác. Các quan viên từ tham biện trở lên ở các trấn, tỉnh về kinh đô dự đình nghị, song trong các cuộc họp có bàn việc liên quan đến địa phương mà mình trị nhậm thì không được vào dự…

Chính với quan điểm ấy thì việc xóa bỏ ngăn sông cấm chợ là điều tất yếu. Trong vụ án bên cạnh, ý chí triều đình phù hợp với nguyện vọng chính đáng của dân. Vì vậy, xung đột lợi ích đã không xảy ra.

LÊ ĐẠI ANH KIỆT

NHỮNG KỲ ÁN ĐẤT ĐAI Ở NAM BỘ THỜI KHẨN HOANG – BÀI 2: – PLTP

19 Th6

Ông thủ khoa mang án tử

Vì bút phê bênh vực người dân địa phương, ông quan huyện bị kết án tử hình. Người vợ từ miền Nam đi thuyền ra Huế đội đơn kêu oan, cứu mạng cho chồng.

Ông Bùi Hữu Nghĩa, người đậu thủ khoa kỳ thi hương ở Gia Định, được dân gọi là thủ khoa Nghĩa. Ông tập sự ở Bộ Lễ, rồi được bổ làm tri phủ Phước Long (Biên Hòa), sau bị giáng làm tri huyện Trà Vang (tỉnh Trà Vinh ngày nay) thuộc tỉnh Vĩnh Long, dưới quyền của Tổng đốc Trương Văn Uyển và Bố chính Truyện.

Tranh chấp rạch Láng Thé

Tại đây, có lần ông đánh đòn em vợ Bố chính Truyện bởi thói xấc láo gây hiềm thù và sau đó ông bị ghép tội tử hình từ vụ án rạch Láng Thé.

Nguyên Trà Vang là vùng cộng cư của các tộc người Kinh, Hoa, Khmer nhưng đông nhất là người Khmer. Năm 1783, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi đã về đây trú ẩn, được người Khmer giúp lương thực, theo phò. Khi lên ngôi, Nguyễn Ánh xuống chiếu miễn thuế, cho người Khmer độc quyền khai thác nguồn lợi thủy sản ở rạch Láng Thé. Thấy nguồn lợi lớn, một số người Hoa đem tiền lo lót Tổng đốc Uyển và Bố chính Truyện giành quyền khai thác cá tôm ở rạch này.

Tháng 10-1848, ông Nhêsrok, Trưởng Sóc và một số người Khmer đến khiếu kiện với tri huyện Bùi Hữu Nghĩa. Ông Nghĩa khẳng khái phê vào đơn: Việc tha thuế thủy lợi là ơn huệ của vua Thế Tổ ban cho dân Thổ, nay ai nhỏ hơn vua Thế Tổ mà dám đứng bán rạch ấy thì có chém đầu nó cũng không sao!

Tượng thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Ảnh tư liệu

Sau vụ này, những người dân Khmer và những người Hoa tranh cãi, xô xát làm chết tám người Hoa. Tổng đốc Uyển và Bố chính Truyện bắt những người Khmer gây án, đồng thời bắt luôn Bùi Hữu Nghĩa giải về Gia Định, đệ sớ lên triều đình quy tội ông đã kích động dân Khmer làm loạn và lạm phép giết người. Khi hay tin triều đình kết tội chết cho chồng, bà Nguyễn Thị Tồn, vợ thủ khoa Nghĩa, nhờ người em bạn dì là Quản Kiệm tìm cách lùi ngày thi hành án, chờ bà quá giang ghe bầu ra Huế kêu oan.

Kích cổ Đăng Văn

Thời đó, vua Minh Mạng phối hợp ba cơ quan là Bộ Hình (Tư pháp), Đô Sát viện (Viện Giám sát) và Đại Lý tự (Tòa Phá án) thành tòa án tối cao gọi là Tam Pháp ty, tức Tam Tòa, để giải quyết khiếu nại của dân. Cứ đến ngày mùng 6, 16, 26 hằng tháng, Tam Pháp ty mở hội đồng để xét xử. Trước Tam Pháp ty có một cái trống đại gọi là trống Đăng Văn.

Sách Đại Nam Thực Lục chép: “Phàm thần dân ở trong kinh và ngoài các tỉnh ai có oan khuất thì đưa đơn. Hội đồng nhận đơn cứ chiếu lý bàn xử, rồi hội hàm làm thành tập tấu dâng lên. Sau khi được chỉ, việc nào quan hệ đến nha nào thì chép đưa cho nha ấy làm theo. Khi tiếp được tờ tâu phong kín thì lập tức dâng trình, không được tự tiện phát đi. Còn những ngày khác, mỗi nơi cắt một thuộc viên đều thay phiên thường trực, nếu có người thần dân nào có tờ tâu phong kín tố cáo việc bí mật hoặc sự việc thật cần kíp khẩn thiết không thể đợi đến nhật kỳ nhận đơn thì cho bất kỳ lúc nào cũng được đánh trống Đăng Văn, đưa đơn kêu. Người thường trực nhận lấy đơn ấy, một mặt đem người kêu ấy giao cho lính thủ hộ coi giữ, một mặt trình lên Công chính đường. Còn tờ trạng phong kín ấy cũng lập tức được dâng trình. Các đơn khác thì trước hết tóm tắt lại chép thành phiến để tâu biết, rồi phải theo lý bàn kỹ đợi chỉ sẽ xử sự nghiêm ngặt…”.

Vua Tự Đức lại ra lệnh trong Thành Nội không ai được đánh trống để khỏi lầm với tiếng trống Đăng Văn. Người bị xử oan ức thì đến lầu đặt trống, đánh ba tiếng dõng dạc và một hồi vang vọng, Tam Pháp ty cử người trực ở chòi trống, hễ thấy ai đánh trống kêu oan thì nhận đơn rồi đưa vào.

Lăng mộ thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa ở phường An Thới, quận Bình Thủy, Cần Thơ. Ảnh: wikipedia.org

Cửa Thượng Tứ ở Huế, nơi ngày xưa đặt Tam Pháp ty và trống Đăng Văn để người dân đánh trống kêu oan. Ảnh: Internet

Nghe thấy tiếng trống, dù lúc ấy nhà vua đang làm gì cũng sẵn sàng nhận đơn kêu oan. Nhà vua đọc xong, phê trên đơn và đưa xuống Tam Pháp ty xét xử. Nhà vua phán quyết. Để đề phòng bọn gây rối đánh trống náo loạn, người đánh trống sẽ tự trói tay chân mình để khẳng định tiếng trống đúng là của mình đánh. Chính mình là nhân chứng của mình, mình phải chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của tiếng trống ấy.

“Tiết phụ khả gia”

Đến Huế, bà Tồn đã tìm gặp Phan Thanh Giản đang làm thượng thư Bộ Lại trình bày sự việc rồi đến Tam Tòa đánh ba hồi trống kích cổ Đăng Văn. Nhờ vậy, Bùi Hữu Nghĩa được vua Tự Đức tha tội chết, song phải chịu “quân tiền hiệu lực”, bị đày làm lính thú ở đồn Vĩnh Thông (Châu Đốc), đoái công chuộc tội.

Bà Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức) đã mời bà Tồn vào cung và ban hưởng tấm biển chạm nổi bốn chữ vàng Tiết Phụ Khả Gia.

Sau khi cứu được chồng, bà Tồn về đến quê hương ở Biên Hòa, lâm bệnh nặng rồi mất. Thủ khoa Nghĩa đang ở biên giới Châu Đốc nên về đến nơi thì việc tống táng đã xong, ông làm bài văn tế muộn, một cặp câu đối khóc vợ thống thiết:

“Ngã bần, khanh năng trợ; ngã oan khanh năng minh, triều dã giai xưng khanh thị phụ

Khanh bệnh, ngã bất dược; khanh tử ngã bất táng, giang sơn ưng tiếu ngã phi phu”.

(Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ/ Mình bịnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất; non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng).

Mối tình của ông và bà Tồn là nguồn cảm hứng cho ông viết tác phẩm Kim Thạch kỳ duyên, một kịch bản tuồng nổi tiếng sau này.

Một vụ phá án nhờ trống Đăng Văn

Một nhóm người Hoa ở phố Gia Hội (Huế) và Quảng Nam về quê Trung Quốc thăm nhà, bị quan quân tuần biển chặn lại giết người, cướp của. Nhóm tuần tiểu còn tâu lên triều đình xin thưởng công trừ giặc. Một người trong số quan quân nhà Nguyễn gần phố Gia Hội ăn nhậu không tiền trả, cầm chiếc nhẫn cho chủ quán. Mặt nhẫn có khắc tên người chủ nên vợ nạn nhân nhận ra và viết đơn, đánh trống.

Vụ án được sách Đại Nam Thực Lục chép như sau: “Nguyên mùa hè năm Tự Đức 4 (1851), Chưởng vệ Phạm Xích, Lang trung Tôn Thất Thiều quản suất thuyền Bằng Đoàn đi tuần biển, tâu trình gặp ba chiếc thuyền giặc ở hải phận Quảng Nam – Quảng Ngãi, họ bèn bắn chìm một chiếc, một chiếc chạy trốn về đông, còn lại một chiếc hư hại nặng; quan quân áp sát giết hết đồ đảng khoảng 70-80 tên, đưa thuyền về đảo Chiêm Dữ neo lại, xin triều đình ban thưởng! Sau khi nhận đơn kêu oan; vua Tự Đức xem lại tờ tâu trước, bấy giờ mới phát hiện rằng giặc nhiều thế sao lại kháng cự yếu ớt, dễ dàng bị tiêu diệt đến thế; sinh nghi, vua sai quan bộ binh đi khám xét điều tra lại. Viên đội trưởng trong vệ Tuyển Phong là Trần Hựu thú nhận rằng: Ngày 18-5 năm Tân Hợi (17-6-1851), thuyền quan đậu ở cửa biển Thị Nại, được tin có ba chiếc thuyền lạ ngoài hải phận đảo Thanh Dữ. Phạm Xích chẳng hỏi ất giáp gì, đuổi theo bắn, không gặp sự kháng cự nào; chúng chỉ một mực bỏ chạy về hướng đông. Khi Xích áp gần một chiếc, bắn một phát thì thuyền ấy cuốn buồm, 33 người tới thuyền nan trình thẻ, nói là nhà buôn ở phố Thừa Thiên xin về thăm quê (Trung Quốc) và đã được cấp phép, lại có quen biết với Tôn Thất Thiều. Nhưng Thiều lại sai bắt chém hết; Xích cũng sai bọn suất đội Dương Cù đem 76 người còn lại trên thuyền giết luôn, ném xác xuống biển. Quan Bộ Binh cho rằng bọn Xích giết càn để cướp của, lại mạo xưng công lao, tâu vua giao cho Tam Pháp ty tra xét. Án thành, Thiều là chủ mưu, bị đổi họ và cùng với Phạm Xích bị xử tội lăng trì, vợ con phải phát phối; Dương Cù xử tội trảm quyết, Trần Hựu biết thú nhận, được tha. Vua Tự Đức tức giận, phê chuẩn ngay bản án.

(Theo Xưa và nay số 391, tháng 11-2011)

LÊ ĐẠI ANH KIỆT

Bất cứ nơi nào sự đau khổ bị làm ngơ thì ở đó sẽ có mầm mống của xung đột…- VHNA

19 Th6

Aung San Suu Kyi

(Diễn từ Nobel hoà bình của  Aung San Suu Kyi, được trao giải năm 1991- đọc diễn từ ngày 16-6-2012 tại Oslo, Na-Uy)

Thưa Đức Vua và Hoàng hậu, thưa các vị trong Hoàng gia, thưa các vị khách quý, các thành viên của Ủy ban Nobel Na-Uy, và các bạn thân mến,

Nhiều năm trước, đôi khi tưởng như đã qua nhiều  cuộc đời, tôi đã từng nghe chương trình phát thanh “Desert Island Discs” (Bộ dĩa nhạc Hoang Đảo) với con trai nhỏ của tôi là Alexander ở Đại học Oxford. Đó là một chương trình nổi tiếng (mà theo tôi biết ngày nay vẫn còn đang tiếp tục),  ở đó có những người nổi tiếng từ mọi thành phần trong xã hội được mời để nói về tám đĩa nhạc, một cuốn sách, bên cạnh Kinh Thánh và bộ tác phẩm của Sheakspeare, với một vật xa xỉ mà họ muốn có bên mình nếu như họ bị bỏ lại ngoài một hoang đảo. Khi chương trình kết thúc, cả hai chúng tôi đều thích thú, Alexander hỏi tôi có nghĩ rằng một ngày nào đó mẹ có thể được mời nói chuyện trong chương trình này không. “Tại sao lại không?”, tôi đã nhẹ nhàng trả lời cháu. Vì Alexander biết rằng nói chung chỉ những người nổi tiếng mới tham gia chương trình này, cháu tiếp tục hỏi tôi với một sự quan tâm thành thật, rằng tôi nghĩ tôi có thể được mời vì lý do gì. Tôi nghĩ trong giây lát rồi trả lời; “Có thể vì mẹ sẽ được giải Nobel về văn chương”, và cả hai chúng tôi cùng cười. Dự đoán này nghe có vẻ thú vị nhưng rất khó thành hiện thực.

(Giờ đây tôi không nhớ nổi tại sao tôi lại trả lời như thế, có lẽ vì lúc đó tôi vừa đọc một quyển sách của một tác giả được trao giải Nobel, hay có lẽ vì danh nhân xuất hiện trong chương trình Hoang Đảo đã là một nhà văn nổi tiếng.)

Năm 1989, khi người chồng quá cố của tôi (Michael Aris) đến thăm tôi trong kỳ hạn đầu của quản thúc tại gia, anh ấy nói rằng một người bạn của anh là John Finnis đã đề cử tôi cho Giải Nobel Hòa bình. Lần đó tôi cũng cười. Ngay lúc đó, Michael có vẻ kinh ngạc, rồi anh nhận ra tại sao chuyện đó lại làm tôi cảm thấy buồn cười. Giải Nobel Hòa bình? Một viễn ảnh đẹp, nhưng hoàn toàn bất khả! Vậy thì tôi cảm thấy như thế nào khi tôi thực sự được trao giải Nobel vì Hòa bình? Câu hỏi này đã được đặt ra với tôi nhiều lần và đây chắc chắn là dịp thích hợp nhất  để xem giải Nobel có ý nghĩa như thế nào đối với tôi, và hòa bình có ý nghĩa gì đối với tôi.

Như tôi đã nói nhiều lần trong nhiều cuộc trả lời phỏng vấn, tôi đã nghe tin tức về việc tôi được chọn trao giải Nobel Hòa bình trên đài phát thanh vào một buổi tối. Tin tức ấy không đến với tôi cùng với sự ngạc nhiên bất ngờ vì tôi đã được nêu tên như một ứng viên được đề cử trong một số chương trình truyền hình trước đó vài tuần. Khi thảo bài nói chuyện này, tôi đã hết sức cố gắng nhớ lại xem phản ứng tức thời của tôi lúc nghe thông báo ấy là như thế nào. Tôi nghĩ, tôi không còn chắc chắn lắm, là một cái gì đại loại như: “Ồ! Vậy là họ đã quyết định trao giải thưởng ấy cho tôi”. Có vẻ như nó không hoàn toàn là thực, vì theo một nghĩa nào đấy tôi đã không cảm thấy chính tôi đang tồn tại hoàn toàn thực vào lúc đó.

Thường trong những ngày bị quản thúc tại gia, có cảm tưởng như tôi không còn là một phần của thế giới thực nữa. Đã có một căn nhà vốn từng là thế giới của tôi, đã có một thế giới của những người khác cũng không có tự do nhưng đã cùng sống chung nhau trong nhà tù như một cộng đồng, và có một thế giới của những người tự do; mỗi thế giới đó là một hành tinh khác biệt  theo đuổi đường đi của nó trong một vũ trụ dửng dưng. Điều mà giải Nobel Hòa bình đã làm là một lần nữa kéo tôi trở về thế giới của con người ngoài khu vực bị cô lập mà tôi đã sống; là khôi phục cảm giác về thực tại đối với tôi. Điều này tất nhiên không xảy ra ngay tức thì, nhưng khi ngày tháng trôi qua và tin tức về những phản ứng đối với giải thưởng đến tôi qua làn sóng phát thanh đã lắng xuống, tôi bắt đầu hiểu ý nghĩa quan trọng của giải Nobel. Nó đã làm tôi trở về thực tại một lần nữa; nó kéo tôi trở về cộng đồng con người rộng lớn. Và điều quan trọng hơn nữa là giải Nobel đã thu hút sự chú ý của thế giới vào cuộc đấu tranh cho dân chủ và quyền con người ở Miến Điện. Chúng tôi sẽ không bị quên lãng.

Bị quên lãng. Người Pháp nói rằng chia ly là đã chết đi một ít. Bị quên lãng cũng chính là chết đi một ít. Đó là sự mất mát những mối dây liên kết neo giữ chúng ta với nhân loại.  Khi tôi gặp những người Miến Điện là lao động nhập cư và tị nạn trong chuyến thăm gần đây của tôi tại Thái Lan, nhiều người đã khóc: “Xin đừng quên chúng tôi!”. Họ muốn nói rằng: “Xin đừng quên cảnh ngộ khốn cùng tuyệt vọng của chúng tôi, xin đừng quên làm những gì bà có thể làm để giúp chúng tôi, xin đừng quên chúng tôi cũng thuộc về thế giới của bà” . Khi Ủy ban Nobel trao giải Nobel Hòa bình cho tôi, họ đã nhận ra rằng sự đàn áp và cô lập của Miến Điện cũng là một phần của thế giới, họ đã nhận ra sự thống nhất của nhân loại. Bởi vậy đối với tôi nhận giải Nobel Hòa bình về mặt cá nhân có nghĩa là mở rộng mối quan tâm của tôi về dân chủ và quyền con người ra khỏi biên giới quốc gia. Giải Nobel Hòa bình đã mở ra một cánh cửa trong tim tôi.

Khái niệm hòa bình của người Miến Điện có thể được giải thích như hạnh phúc nảy sinh từ sự chấm dứt những yếu tố ngăn cản sự hài hòa và lành mạnh. Từ nyein-chan dịch theo nghĩa đen là cái mát lành đến từ một ngọn lửa đã bị dập tắt. Ngọn lửa của đau khổ và xung đột đang hoành hành dữ dội khắp nơi trên thế giới. Ở đất nước của tôi, thái độ thù nghịch và hành động chiến tranh vẫn chưa mất đi ở những vùng xa phía bắc; ở phía tây, bạo lực của các nhóm chủng tộc và tôn giáo đối lập đưa tới kết quả đốt phá và giết người chỉ mới xảy ra cách đây ít ngày trước khi tôi bắt đầu cuộc hành trình đưa tôi đến đây hôm nay. Tin tức về những hành động tàn bạo ở những vùng khác trên trái đất thì đầy dẫy. Những bài báo tường thuật về nạn đói, bệnh dịch, sự di tản, thất nghiệp, nghèo khổ, bất công, kỳ thị, thành kiến, cuồng tín; tất cả đều là tình trạng hàng ngày của chúng ta. Nơi nào cũng có những lực lượng tiêu cực gặm nhấm nền tảng của hòa bình. Nơi nào cũng có thể thấy sự phung phí vật chất và nguồn lực con người một cách thiếu suy nghĩ, những thứ cần cho sự bảo toàn hạnh phúc và sự hài hòa trong thế giới của chúng ta.

Thế chiến thứ nhất tiêu biểu cho sự lãng phí kinh khủng tuổi trẻ và tiềm năng, một sự hoang phí đầy tội ác đối với những sức mạnh tích cực trên hành tinh của chúng ta. Bài thơ về kỷ nguyên  này  có một ý nghĩa quan trọng đối với tôi khi tôi đã đọc nó lần đầu tiên vào lúc tôi bằng tuổi những người thanh niên trẻ phải đương đầu với viễn cảnh bị héo tàn trước khi bừng nở. Một người thanh niên Mỹ chiến đấu với lính lê dương Pháp đã viết trước khi bị giết năm 1916 là anh ta có thể gặp cái chết của mình “ở một chiến hào ghê tởm nào đó”, “trên triền dốc đầy vách đá ở một ngọn đồi mòn vẹt”, “vào nửa đêm ở một thành phố nào đó đang bốc cháy”. Tuổi trẻ và tình yêu, và cuộc sống đã chết mãi mãi trong những nỗ lực vô nghĩa để chiếm lấy những nơi chốn không tên, không ai nhớ tới. Và để làm gì? Gần một thế kỷ qua đi, chúng ta vẫn chưa tìm thấy một câu trả lời thỏa đáng.

Ở mức độ ít bạo động hơn, phải chăng chúng ta không cảm thấy tội lỗi về sự liều lĩnh, về sự phung phí liên quan đến tương lai của chúng ta và nhân loại? Chiến tranh đâu phải là đấu trường duy nhất nơi mà hoà bình bị giết chết. Bất cứ nơi nào sự đau khổ bị làm ngơ thì ở đó sẽ có mầm mống của xung đột, bởi vì đau khổ làm hạ thấp con người, gây ra cay đắng và làm người ta nổi giận.

Một điểm tích cực của cuộc sống trong sự cô lập là tôi có khá nhiều thời gian để suy tư về ý nghĩa của những ngôn từ và khái niệm mà tôi từng biết và từng chấp nhận trong cả cuộc đời. Là một Phật tử, tôi đã nghe về dukha, thường được dịch là sự đau khổ, từ khi tôi là một đứa trẻ nhỏ. Gần như ngày nào cũng thế, những người lớn, và có khi cũng chẳng phải là ngừơi già cho lắm, những người quanh tôi thầm thì “dukha, dukha” khi họ phải chịu đựng nỗi đau đớn thể xác hay nhức nhối tâm can, hay khi họ gặp phải điều gì đó rủi ro, bực bội nho nhỏ. Tuy nhiên, chỉ trong những năm bị quản chế tại gia, tôi mới nghiền ngẫm được rõ ràng bản chất của sáu điều gây đau khổ lớn. Đó là: sinh, lão, bệnh, tử, chia lìa với người thương, và bị bắt buộc phải sống giữa những người xa lạ không có tình yêu thương. Tôi suy ngẫm về từng thứ gây đau khổ ấy, không phải trong bối cảnh tôn giáo mà trong đời sống bình thường hàng ngày của chúng ta. Nếu như đau khổ là một phần không thể tránh trong sự tồn tại của chúng ta, chúng ta nên cố gắng làm giảm nhẹ nó hết sức có thể  theo những cách thực tiễn nhất. Tôi đã suy đi nghĩ lại về hiệu quả của những chương trình chăm sóc bà mẹ và trẻ em trước và sau khi sinh, về những điều kiện tương xứng cho số dân lớn tuổi; về chăm sóc sức khỏe toàn diện; về chăm sóc y tế và nhà tế bần cho người nghèo. Tôi đặc biệt chú ý đến hai loại đau khổ sau cùng: bị chia tách khỏi những người thân thương và bị buộc phải sống giữa những người xa lạ không có tình yêu thương. Những trải nghiệm nào mà Đức Phật của chúng ta có lẽ đã trải qua trong đời ngài khiến ngài đã bao gồm hai điều này trong sáu điều đau khổ? Tôi nghĩ về những người bị cầm tù và những người di cư, hay những công nhân xa xứ và nạn nhân của sự buôn người, nghĩ về những đám đông như những cái cây bị nhổ bật rễ, những người đã phải xa lìa xứ sở quê hương, bị chia cắt với gia đình và bạn bè, bị bắt buộc phải sống giữa những người xa lạ chẳng phải bao giờ cũng chào đón họ.

Chúng ta thật may mắn sống trong thời đại mà phúc lợi xã hội và trợ giúp nhân đạo được công nhận không chỉ là một điều ước mà là một sự cần thiết. Tôi có may mắn sống trong một thời đại mà số phận của những tù nhân lương tâm ở một nơi nào đó trở thành mối quan tâm của mọi người ở mọi nơi, một thời đại mà dân chủ và quyền con người là điều được công nhận một cách rộng rãi, cho dù không phải phổ quát trên toàn thế giới, là những quyền tự nhiên bẩm sinh của tất cả mọi người. Đã bao lần trong những năm bị quản chế tại gia, tôi đã lấy thêm sức mạnh cho mình từ đoạn văn tôi rất ưa thích trong lời nói đầu bản Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền:

…. Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động dã man làm xúc phạm lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó con người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên bố như là khát vọng cao nhất của con người bình thường.

…điều cốt lõi là,  để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức,  nhân quyền cần phải được bảo vệ bằng những quy định của luật pháp.”

Nếu người ta hỏi tôi vì sao tôi tranh đấu cho quyền con người ở Miến Điện, những đoạn văn trên đây sẽ đem lại câu trả lời. Nếu người ta hỏi tôi vì sao tôi tranh đấu cho nền dân chủ ở Miến Điện, thì đó là vì tôi tin rằng thiết chế dân chủ và sự thực hiện nó là cần thiết để bảo đảm cho quyền con người.

Trong năm qua đã có dấu hiệu về những nỗ lực của những người tin vào nền dân chủ và quyền con người đang bắt đầu kết trái ở Miến Điện. Đã có những thay đổi theo hướng tích cực, đã có những bước đi hướng về dân chủ hóa. Nếu tôi tán thành chủ nghĩa lạc quan thận trọng thì đó không phải là vì tôi không có niềm tin vào tương lai mà là vì tôi không muốn khuyến khích niềm tin mù quáng. Nếu không có niềm tin vào tương lai, không có sự thuyết phục rằng những giá trị dân chủ và quyền cơ bản của con người không chỉ là điều cần thiết mà còn là khả dĩ cho xã hội của chúng ta,  thì phong trào của chúng tôi đã không thể đứng vững trong những năm tháng hủy diệt này. Một số chiến binh đã ngã xuống tại vị trí chiến đấu của họ, số khác rời bỏ chúng tôi, nhưng nhóm nòng cốt tận tâm thì vẫn mạnh mẽ và gắn bó. Có lúc nghĩ về những năm tháng đã qua, tôi ngạc nhiên là đã có rất nhiều người vững vàng trong những hoàn cảnh nhiều thử thách nhất. Niềm tin của họ vào sự nghiệp của chúng tôi không hề mù quáng; nó dựa trên một sự đánh giá sáng suốt về sức mạnh của chính họ, về sự can trường và một sự tôn trọng sâu sắc trước những khát vọng của dân tộc chúng tôi.

Nhờ những thay đổi gần đây trong đất nước tôi mà tôi có mặt ở đây với các bạn hôm nay; và những thay đổi này đã đến bởi vì  các bạn và những người yêu tự do và công lý khác đã đóng góp vào sự nhận thức trên toàn cầu về hoàn cảnh của chúng tôi. Trước khi tiếp tục nói về đất nước tôi, tôi xin được nói về những tù nhân lương tâm của chúng tôi. Vẫn đang còn có những người tù như thế ở Miến Điện. Thật đáng lo ngại khi những người bị giam giữ nổi tiếng nhất đã được phóng thích, những người vô danh khác sẽ bị lãng quên. Tôi đứng ở nơi đây là vì tôi đã từng là một tù nhân lương tâm. Khi các bạn nhìn vào tôi và lắng nghe tôi nói, xin hãy nhớ một sự thật thường được lặp đi lặp lại rằng một người tù nhân lương tâm đã là quá nhiều. Những người chưa được trả tự do, những người chưa được tiếp cận với lợi ích của công lý trong nước tôi, con số đó lớn hơn con số một nhiều lắm. Xin hãy nhớ đến họ và xin hãy làm bất cứ cái gì có thể để tác động đến việc trả tự do cho họ sớm nhất và vô điều kiện.

Miến Điện là đất nước nhiều sắc dân và niềm tin vào tương lai của Miến Điện chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của tinh thần hợp nhất. Từ khi giành được độc lập năm 1948, chưa bao giờ có lúc nào chúng tôi có thể tuyên bố là cả nước đã có hòa bình. Chúng tôi đã chưa thể xây dựng lòng tin và sự hiểu biết cần thiết để xóa bỏ những nguyên nhân gây xung đột. Niềm hy vọng đã trỗi dậy qua cuộc ngưng bắn được duy trì từ đầu thập kỷ 90 cho đến năm 2010 thì bị phá vỡ qua một tiến trình vài ba tháng. Một hành động thiếu cân nhắc đã đủ để phá tan cuộc ngừng chiến đã kéo dài khá lâu. Trong những tháng gần đây, những cuộc thương lượng giữa chính phủ và các lực lượng người dân tộc đã và đang có tiến bộ. Chúng tôi hy vọng rằng thỏa thuận ngừng bắn sẽ dẫn đến những giải pháp chính trị được xây dựng trên nền tảng khát vọng của các dân tộc và  tinh thần hợp nhất.

Đảng Liên hiệp Quốc gia vì Dân chủ của tôi và tôi đã sẵn sàng và mong muốn giữ bất cứ vai trò nào trong tiến trình hòa giải quốc gia. Những biện pháp đã được khởi động bởi chính phủ của tổng thống U Thein chỉ có thể duy trì được với sự hợp tác sáng suốt của tất cả mọi lực lượng nội bộ: quân đội, các nhóm dân tộc quốc gia, các đảng phái chính trị, truyền thông, các tổ chức xã hội dân sự, cộng đồng doanh nghiệp, và quan trọng hơn hết là công chúng. Chúng tôi có thể nói rằng cuộc cải cách này là có hiệu quả chỉ khi cuộc sống của nhân dân chúng tôi được cải thiện và về mặt ấy, cộng đồng quốc tế có một vai trò không thể thiếu. Viện trợ nhân đạo và viện trợ phát triển, các thỏa thuận song phương và đầu tư phải được phối hợp và có cân nhắc đến việc bảo đảm tăng trưởng quân bình và bền vững về xã hội, chính trị và kinh tế. Tiềm năng của đất nước chúng tôi là hết sức to lớn. Điều này cần được nuôi dưỡng và phát triển để tạo ra một xã hội không chỉ thịnh vượng hơn mà còn hài hòa hơn, dân chủ hơn, nơi người dân của chúng tôi có thể sống trong hòa bình, an toàn và tự do.

Hòa bình của thế giới chúng ta là điều không thể chia cắt. Chừng nào mà những lực lượng tiêu cực còn mạnh hơn những lực lượng tích cực ở bất cứ nơi đâu, thì tất cả chúng ta đều bị đe dọa. Có lẽ ta có thể đặt câu hỏi rằng liệu có bao giờ tất cả những lực lượng tiêu cực sẽ bị loại bỏ? Câu trả lời đơn giản là: “Không!”. Bản chất của con người chứa đựng cả cái tích cực lẫn cái tiêu cực. Tuy nhiên con người cũng có khả năng tạo nên và làm mạnh thêm những cái tích cực và làm giảm đến mức thấp nhất hay trung hòa hóa những cái tiêu cực. Hòa bình tuyệt đối trong thế giới chúng ta là một mục tiêu không thể đạt được. Nhưng đó là thứ mà chúng ta phải hướng về trong cuộc hành trình mà chúng ta đang tiếp tục; đôi mắt chúng ta dán chặt vào mục tiêu đó như người đi trong sa mạc dán mắt vào ngôi sao dẫn đường sẽ đưa anh ta đến nơi giải thoát. Ngay cả nếu chúng ta không đạt được hòa bình hoàn hảo trên trái đất, bởi vì hòa bình hoàn hảo là thứ không có trên trái đất này,  thì những nỗ lực chung để giành lấy hòa bình cũng sẽ đoàn kết mọi cá nhân và mọi quốc gia trong lòng tin và tình hữu nghị; và giúp tạo ra một cộng đồng người an toàn hơn và tử tế hơn.

Tôi dùng từ “tử tế hơn” với sự cân nhắc thận trọng. Tôi có thể nói đó là sự cân nhắc thận trọng của nhiều năm. Trong những sự ngọt ngào của nghịch cảnh, và hãy cho tôi nói rằng những thứ ngọt ngào ấy chẳng có nhiều cho lắm, tôi đã tìm thấy cái điều ngọt ngào nhất, thứ quý giá hơn hết tất cả, là bài học mà tôi đã học được về giá trị của lòng tốt. Tất cả những sự tử tế mà tôi đã nhận được, dù nhỏ hay lớn, đều đã thuyết phục tôi rằng lòng tốt có thể không bao giờ đủ trong thế giới của chúng ta. Tử tế là đáp ứng với sự nhạy cảm và ấm áp của con người trước hy vọng và nhu cầu của người khác. Ngay cả cái chạm nhẹ nhất của lòng tốt cũng có thể thắp sáng một trái tim nặng trĩu. Lòng tốt có thể làm thay đổi cuộc đời của con người. Na-Uy đã cho thấy gương mẫu của sự tử tế trong việc cung cấp tổ ấm cho những người tha phương trên trái đất, bảo vệ những người đang bị tấn công, bị cắt đứt chiếc dây neo của an toàn và tự do với quê hương bản quán của họ.

Ở mọi nơi trên thế giới này đều có những người tị nạn. Khi tôi đến trại tị nạn Maela ở Thái Lan gần đây, tôi đã gặp những người tận tụy đang hàng ngày đấu tranh cho cuộc sống của những người tị nạn thoát khỏi khó khăn chừng nào hay chừng ấy. Họ nói về mối quan ngại của họ đối với “sự mòn mỏi dần những người tài trợ”, là điều có thể dịch ra thành “sự mòn mỏi lòng trắc ẩn”. Cụm từ “sự mòn mỏi dần những người tài trợ” tự nó đã diễn đạt một cách chính xác sự giảm sút nguồn tiền tài trợ. “Sự mòn mỏi lòng trắc ẩn” tự diễn đạt nó ít hiển nhiên hơn việc giảm sút đi lòng trắc ẩn. Cái này là hậu quả của cái kia. Liệu chúng ta có thể sống mãi được với việc tự cho phép mình mòn mỏi đi lòng trắc ẩn? Phải chăng cái giá của việc đáp ứng nhu cầu cho những người tị nạn lớn hơn cái giá của sự quay lưng, nếu không muốn nói là nhắm mắt lại trước sự đau khổ của họ? Tôi khẩn khoản kêu gọi những nhà tài trợ trên thế giới trong việc đáp ứng nhu cầu của những con người này, những người đang tìm kiếm, thường là cuộc tìm kiếm vô vọng, sự tị nạn trên một đất nước khác.

Ở Maela, tôi đã có những cuộc thảo luận quý giá với các viên chức Thái chịu trách nhiệm quản lý điều hành tỉnh Tak, nơi có trại này và nhiều trại khác. Họ cho tôi biết nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn liên quan đến các trại tị nạn: vi phạm luật bảo vệ rừng, sử dụng ma túy bất hợp pháp, cất rượu lậu, các vấn đề về kiểm soát bệnh sốt rét, bệnh lao phổi, sốt xuất huyết và bệnh dịch tả. Những quan ngại của cơ quan hành chánh là chính đáng cũng như những quan ngại của những người tị nạn. Các quốc gia chủ nhà cũng cần có sự xem xét và sự giúp đỡ cụ thể để đương đầu những khó khăn liên quan đến phần trách nhiệm của họ.

Mục tiêu tối hậu của chúng ta phải là tạo ra một thế giới thoát khỏi tình trạng có những người phải di tản, những người không nhà và tuyệt vọng, một thế giới mà từng góc nhỏ và tất cả mọi nơi đều là nơi trú ẩn thực sự mà những người sống ở đó đều có tự do và có năng lực sống trong hòa bình. Mọi ý nghĩ, mọi lời nói, mọi việc làm góp phần vào cái tốt và cái lành mạnh sẽ là một sự đóng góp cho hòa bình. Mỗi người và tất cả chúng ta đều có thể đóng góp như thế. Chúng ta hãy nắm tay nhau tạo ra một thế giới hòa bình, nơi chúng ta có thể ngủ trong an toàn và thức dậy trong niềm hạnh phúc.

Ủy ban Nobel đã kết luận tuyên bố của họ ngày 14 tháng 10 năm 1991: “Bằng cách trao giải Nobel Hòa bình cho Aung San Suu Kyi, Ủy ban Nobel Na-Uy muốn vinh danh người phụ nữ này vì những nỗ lực không mệt mỏi của bà, và thể hiện sự ủng hộ của giải Nobel đối với rất nhiều người trên khắp thế giới đang tranh đấu để đạt đến dân chủ, quyền con người và hòa giải dân tộc bằng những phương tiện hòa bình”. Khi tôi tham gia phong trào dân chủ ở Miến Điện chưa bao giờ tôi tự nghĩ rằng tôi có thể là người nhận bất cứ giải thưởng hay vinh dự nào. Cái giải thưởng mà chúng tôi đang làm hết sức mình cho nó, đó là tự do, an toàn, và chỉ là một xã hội mà con người có thể nhận ra được tất cả tiềm năng của mình. Vinh dự nằm trong những nỗ lực của chúng tôi. Lịch sử đã trao cho chúng tôi cơ hội để cống hiến những gì tốt nhất của chúng tôi cho một sự nghiệp mà chúng tôi tin vào. Khi Ủy ban Nobel chọn vinh danh tôi, con đường mà tôi đã chọn cho ý chí tự do của riêng tôi sẽ trở nên một con đường ít cô đơn hơn để theo đuổi nó. Vì điều ấy tôi xin cảm ơn Ủy ban và tất cả mọi người trên thế giới này, vì sự hỗ trợ của họ đã làm mạnh thêm niềm tin của tôi trên con đường chung tìm kiếm hòa bình. Xin cảm ơn quý vị.

Người dịch: Hoa Phượng

Nguồn: http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/peace/laureates/1991/kyi-lecture_en.html

Thực hư chuyện lá đu đủ chữa khỏi ung thư

19 Th6

 

Phụ nữ ngày nayBởi bee | Phụ nữ ngày nay – 21:10 ICT Chủ nhật, ngày 10 tháng sáu năm 2012

 

Vừa qua, tòa soạn đã nhận được thư của GS Nguyễn Xuân Hiền, nguyên Chủ nhiệm Khoa Da Liễu, Bệnh viện T.Ư Quân đội 108 công bố hướng dẫn 250 người chữa ung thư bằng lá đu đủ. Kết quả nhiều bệnh nhân khỏi bệnh hoặc đỡ, kéo dài sự sống tốt.

>> Thanh lọc “siêu tốc”
>> Biện pháp đơn giản chống táo bón
>> Thực phẩm chống lão hóa

 

Thực hư chuyện lá đu đủ chữa khỏi ung thư

 

 

Thực hư chuyện lá đu đủ chữa khỏi ung thư

 

 

 

Nhưng bằng sự thận trọng của một người từng làm trong lĩnh vực y khoa, ông vẫn mong muốn các bộ ngành liên quan nghiên cứu bài thuốc dân gian này. Phóng viên đã tiếp cận trực tiếp vấn đề này.

Dù đã 91 tuổi nhưng trên bàn làm việc của GS Nguyễn Xuân Hiền trong căn nhà Khu tập thể Dệt Kim Hà Nội vẫn bề bộn sách vở. Ông không chỉ viết các chuyên đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực của mình mà đi sâu nghiên cứu về lá đu đủ trị ung thư.

 
Ông tâm sự, từ khi nghỉ hưu ông sưu tầm nghiên cứu và hướng dẫn miễn phí cho các bệnh nhân ung thư có nhu cầu về bài thuốc này để giúp đỡ.

GS Nguyễn Xuân Hiền giới thiệu bài thuốc với phóng viên.
GS Nguyễn Xuân Hiền giới thiệu bài thuốc với phóng viên.

7/15 người uống có kết quả?

Câu chuyện bắt đầu từ năm 2005, khi ông được tin bà Lê Thị Đặng ở TPHCM đã dùng nước sắc lá đu đủ điều trị cho chồng bị ung thư lưỡi đã di căn chọc thủng một bên má. Sau vài tháng chỉ uống nước lá đu đủ đã khỏi bệnh và sống thêm được 9 năm rồi chết vì tuổi già (87 tuổi).

 
Bài thuốc này lại bắt nguồn từ ông Stan Sheldon (người Úc). Năm 1962, ông Stan Sheldon bị ung thư 2 lá phổi sắp chết, may có người thổ dân mách cho uống nước sắc lá đu đủ, sau vài tháng đã khỏi, 10 năm sau không tái phát, 16 bệnh nhân ung thư khác được mách uống nước sắc lá đu đủ cũng đã khỏi.

Theo GS Nguyễn Xuân Hiền, khi nhận được bài thuốc, ông cũng áp dụng cho người nhà bị bệnh nhưng do bệnh đã di căn lại không áp dụng triệt để nên không chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, ông vẫn kiên trì theo dõi các bệnh nhân khác.

Kết quả trong 2 năm (2005 – 2007), hướng dẫn cho 15 bệnh nhân cho thấy: 4 trường hợp (3 u phổi, 1 chửa trứng) uống được trên 5 – 6 tháng thì sức khoẻ ổn định, lên cân, u thu nhỏ, hết hạch cổ, đỡ ho, đỡ đau; 3 trường hợp bị u phổi khác uống được hơn 2 – 3 tháng thì u nhỏ đi, sức khoẻ tốt hơn; 1 trường hợp bị u phổi khác uống được 2 tháng, bệnh tiếp tục tiến triển, đau, ho nhiều; 3 trường hợp chết (1 u phổi, 1 u dạ dày, 1 u gan) chỉ uống chưa được 2 tháng sau đó chuyển thuốc Đông y khác; 1 trường hợp u đại tràng di căn chỉ uống chưa được 2 tháng, kết quả không mấy tiến triển.

 
Từ đó đến nay, ông tiếp tục nghiên cứu và hướng dẫn cho 250 người khác có đầy đủ số điện thoại, địa chỉ ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, kết quả có 9 người khỏi bệnh, hết u, sức khoẻ tốt.

GS Nguyễn Xuân Hiền.
GS Nguyễn Xuân Hiền.

Nhiều người trên thế giới khỏi bệnh?

Ngoài 16 trường hợp bị ung thư phổi được ông Sheldon mách uống lá đu đủ cũng khỏi bệnh, GS Nguyễn Xuân Hiền cũng cung cấp cho chúng tôi một bản dịch từ Mỹ trong đó cũng kể kinh nghiệm của 3 người bị ung thư phổi đã ở giai đoạn III, IV cũng nhờ uống nước lá này mà khỏi.

 
Tuy nhiên, bài viết chỉ nêu rất chung chung, không có tên và địa chỉ của người bệnh: Một người đàn ông 65 tuổi, đã bị cắt 1/4 lá phổi, ho ra máu và mủ nhiều, người kiệt sức chỉ nằm mà không ngồi được, bệnh viện trả về nhà chờ chết.
 
Ông này đã uống lá đu đủ chưa đầy 2 tháng mà bệnh tình thuyên giảm tới 80%, 4 tháng thì khỏi hẳn. Hay một người đàn bà 66 tuổi, bị ung thư phổi giai đoạn IV – to bằng bàn tay, tế bào ung thư đã ăn sâu vào xương sống, sau 3 tháng uống lá đu đủ, khối u teo nhỏ lại bằng đầu ngón tay, tháng thứ 6 thì chỉ còn là chấm nhỏ…

Khi được hỏi về tính xác thực của các kết quả ghi nhận những bệnh nhân uống lá đu đủ khỏi bệnh, GS Nguyễn Xuân Hiền cho biết, ông đã nghỉ hưu nên không đủ điều kiện nghiên cứu, chứng minh trên lâm sàng.

 
Ông chỉ là người truyền bá bài thuốc để giúp những người bị bệnh “tứ chứng nan y” vượt qua được bệnh tật. Các bệnh nhân khỏi bệnh là do họ gọi điện báo cho ông chứ ông cũng không thăm khám hay có các kết quả xét nghiệm từ Tây y.

Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Xuân Hiền, qua theo dõi nghiên cứu ông thấy, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu và ghi nhận lá đu đủ có thể chữa được ung thư.

 
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu của BS.TS Nam.H.Dang giáo sư Đại học Florida Mỹ đã công bố trên tạp chí dược học cho thấy, chất chiết xuất từ lá đu đủ có tác dụng tăng cường quá trình sản sinh các phân tử truyền dẫn tín hiệu chủ chốt có tên Th1-type cytokines.
 
Chúng đóng vai trò điều hòa hoạt động của hệ miễn dịch trong cơ thể đồng thời tạo hiệu quả tiêu trừ khối u ở một số loại ung thư, điều này mở ra những phương cách điều trị bệnh ung thư qua hệ thống miễn dịch.

Nghiên cứu đã dùng nước chiết lá đu đủ ở 4 độ mạnh khác nhau cho 10 mẫu ung thư khác nhau và đo hiệu quả sau 24 tiếng. Kết quả cho thấy, lá đu đủ đã làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư trong cả 10 mẫu thử ấy.

 
Đặc biệt là chất chiết xuất từ lá đu đủ không gây độc hại cho các tế bào bình thường, do đó, tránh được các tác dụng phụ thường gặp ở nhiều phương pháp điều trị hiện nay.

Chưa được khoa học công nhận

Theo GS Nguyễn Xuân Hiền, trước đây có nhiều người phản đối lá đu đủ chữa bệnh và cho rằng đó là một loại cây khác. Nhưng nghiên cứu của BS.TS Nam.H.Dang là cây Carica papaya. Đây là tên khoa học của cây đu đủ. Người Mỹ gọi đu đủ là papaya, người Úc và New Zealand gọi là pawpaw.

 
Không nên lẫn lộn “paw paw đu đủ” và “paw paw Bắc Mỹ”. Cây pawpaw Bắc Mỹ thân mộc, có tên khoa học là Asimina tribola và cũng được làm dùng thuốc trị ung thư hiện có bán trên trị trường. Còn đu đủ là cây thân thảo.

GS Nguyễn Xuân Hiền nhấn mạnh, nhiều người, đặc biệt với những người chưa qua phẫu thuật khối u, chưa chạy xạ, truyền hóa chất chống ung thư thì kết quả tốt và nhanh hơn. Các nghiên cứu cho thấy, trong lá đu đủ có men papain và trong men papain có chất carotenoid và Iso thyocyanotes có khả năng kích thích sản xuất Cytokin Th1 – type là yếu tố miễn dịch, do đó có thể ức chế tế bào ung thư mạnh gấp triệu lần các thuốc chống ung thư Tây y.

Một công trình nghiên cứu so sánh nước sắc lá đu đủ với 10 loại nước lá chống ung thư khác thì thấy, nước sắc lá đu đủ có tác dụng vượt trội mà giá thành lại rẻ bằng 1/2 – 1/3 với các loại khác. Hơn nữa, nước sắc lá đu đủ không gây tác dụng phụ.

Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Xuân Hiền, cho tới nay nước sắc lá đu đủ chữa ung thư vẫn chưa được khoa học công nhận, vì thế rất khó biết nó có tác dụng thực sự hay không, nếu có thì ở chừng mực nào và các phản ứng phụ có thể xảy ra. Vì vậy, ông thiết tha mong muốn Viện Đông y, Bệnh viện K, Bộ Y tế… quan tâm nghiên cứu vấn đề này một cách bài bản, khoa học.

Mỗi ngày lấy 4 – 5 lá đu đủ cả cuống, già càng tốt (có tài liệu hướng dẫn là lá bánh tẻ), lấy dao cắt nhỏ cho vào nồi đổ 2 lít nước, nấu khoảng 2 tiếng, cô lại thành 1 lít để nguội cho vào tủ lạnh, uống thành 2 ngày, mỗi ngày 500ml chia làm 3 lần lúc no. Sau khi uống, uống thêm 1 – 2 thìa cà phê mật mía hoặc mật ong. Uống liên tục 3 tháng trở lên mới thấy có tác dụng. Những người chưa qua phẫu thuật khối u, chưa chạy tia, truyền hóa chất thì kết quả tốt và nhanh hơn.

 

Thúy Nga

 

Hai nền phê bình – VHNA

19 Th6

Roland Barthes

Hiện thời ở Pháp, chúng ta có hai nền phê bình diễn ra song song: nền phê bình mà ta sẽ gọi cho đơn giản là đại học, lấy phương pháp thực chứng được kế thừa từ Lanson[1] làm căn bản, và nền phê bình lý giải mà những người đại diện của nótuyrất khác nhau–vì đó là J.-P. Sartre, G. Bachelard[2], L. Goldmann[3], G. Poulet[4], J. Starobinski[5], J. P. Weber, R. Girard[6], J.-P. Richard[7] – nhưng giống nhau ở chỗ cách tiếp cận các tác phẩm văn học ở họ có thể ít nhiều gắn một cách có ý thức với một trong các ý hệ lớn lúc này như: chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Marx, phân tâm học, hiện tượng học, đó là lý do tại sao ta có thể gọi nền phê bình này là lối phê bình ý hệ, đối lập với nền phê bình thứ nhất vốn không thừa nhận bất cứ một ý hệ nào và chỉ căn cứ theo một phương pháp khách quan.

Tất nhiên, giữa hai nền phê bình nói trên có những mối liên hệ: một mặt, nền phê bình ý hệ hầu như lúc nào cũng do các vị giáo sư thực hiện, bởi ở Pháp, như mọi người đều biết, vì lý do truyền thống và nghề nghiệp mà vị thế trí thức dễ bị lẫn lộn với vị thế đại học; mặt khác, phía Đại học cũng đã thừa nhận nền phê bình lý giải, bởi lẽ một số công trình viết theo lề lối phê bình ấy là những luận án tiến sĩ (quả thực đã được các hội đồng triết học công nhận một cách phóng khoáng hơn so với các hội đồng văn học). Tuy nhiên, chưa nói gì đến mối xung đột, trên thực tế giữa hai nền phê bình này có đường phân thủy. Tại sao vậy?

 

Roland Barthes (1915-1980)

Nếu nền phê bình đại học không có gì khác ngoài cương lĩnh mà nó đã tuyên bố là phải xác lập chặt chẽ các sự kiện tiểu sử hay các sự kiện văn học, thì nói cho thật tình, ta khó lòng biết được tại sao nó lại duy trì mối quan hệ ít căng bức nhất với nền phê bình ý hệ. Những kết quả thu được của thuyết thực chứng (positivisme), cả những sự đòi hỏi của nó, là không thể đảo ngược: ngày nay chẳngai còn nghĩ đến việc tranh cãi về sự cần thiết của kiến thức sâu rộng, lợi ích của việc soi sáng lại lịch sử, những lợi thế của cách phân tích tinh tế về những “hoàn cảnh” văn học cho dù họ có theo một thứ triết học nào, và nếu tầm quan trọng về vấn đề xuất xứ [tác phẩm] theo quan điểm của nền phê bình đại học đã hàm ý sẵn một ý niệm nào đó về việc thế nào là tác phẩm văn chương (ta sẽ trở lại vấn đề này sau), thì ít ra chẳng có ai lại đi phản đối việc xử lý chính xác vấn đề ấy một khi họ đã quyết định nêu vấn đề ấy ra; cho nên, mới thoạt nhìn, chẳng có lý gì để hai nền phê bình này không thừa nhận và cộng tác với nhau: nền phê bình thực chứng xác lập và phát hiện các “sự kiện” (vì yêu cầu của nó là vậy) và để cho lối phê bình kia tự do lý giải chúng [tức các sự kiện], hay nói chính xác hơn,“làm cho chúng biểu nghĩa ra” bằng cách quy chiếu đến một hệ thống ý hệ đã cho. Nhưng nếu cái nhìn hòa mục ấy là cái nhìn ảo tưởng thì đó là bởi trên thực tế giữa nền phê bình đại học với nền phê bình lý giải không có sự phân chia công việc, tức sự khác nhau đơn thuần giữa phương pháp và triết học, mà chỉ có sự cạnh tranh thực sự giữa hai ý hệ. Như Mannheim đã cho thấy, thuyết thực chứng thực ra tự thân nó cũng là một ý hệ như bao thuyết khác (nhưng điều này không hề làm mất đi tính cần thiết của nó). Và khi gây cảm hứng cho nền phê bình văn học, thuyết thực chứngbộc lộ rõ tính chất ý hệ của mình ít nhất ở hai điểm (thiết yếu).

Trước hết, khi tự ý giới hạn các hoạt động nghiên cứu của mình vào “những hoàn cảnh” của tác phẩm (ngay cả khi dó là những hoàn cảnh bên trong), nền phê bình thực chứng thực hành một ý niệm hoàn toàn có tính chất thiên vị về văn chương; vì từ chối không tra hỏi về sự tồn tại của văn chươngcũng chính là cách làm tăng uy tín cho ý niệm rằng sự tồn tại ấy là vĩnh hằng, hay nếu thích thì ta nói sự tồn tại ấy là tự nhiên, nói gọn là văn chương là điều dĩ nhiên. Nhưng thế nào là văn chương? Tại sao người ta lại viết? Racine viết có vì lý do giống như Proust không? Việc không đặt ra những câu hỏi này cũng đã là câu trả lời rồi, vì khi chấp nhận theo ý niệm truyền thống của ý thức con người bình thường (không nhất thiết phải là cảm thức lịch sử) thì điều đó có nghĩa là nhà văn viết hoàn toàn chỉ là để tự diễn tả mình, và sự tồn tại của văn chương nằm trong “sự chuyển dịch” [“traduction”] giữa sựnhạy cảm và những đam mê. Nhưng khổ nỗi, khi người ta đụng đến tính ý hướng của con người (và ta nói về văn chương thế nào được nếu không đụng tới cái này), tâm lý học thực chứng không còn đủ nữa: không chỉ vì nó còn sơ đẳng mà còn vì nó dấn mình vào một thứ triết học tất định luận đã hoàn toàn lỗi thời. Nghịch lý ở chỗ sự phê phán lịch sử ở đây lại phủ nhận lịch sử; lịch sử nói với chúng ta rằng không có một bản chất phi thời gian nào trong văn chương, mà dưới tên gọi là văn chương (vả lại, bản thân tên gọi này mới có gần đây), một sự biến dịch [devenir] của các hình thức, các chức năng, các định chế, các lý do [raisons], các dự án [projets] rất khác nhau, mà chính sử gia là người nói cho ta biết về tính tương đối của nó; nếu không như vậy, ông ta tự kết án mình không đủ năng lực giải thích “các sự kiện”: khi né việc nói cho ta biết lý do tại sao Racine viết (văn chương có thể là gì đối với người cùng thời), thì sự phê bình đã tự cấm chỉ mình phát hiện ra lý do tại sao vào một lúc nào đó (sau Phèdre) Racine không còn viết nữa. Tất cả đều có liên hệ với nhau: cái vặt vãnh nhất trong các vấn đề văn học, dù đó là giai thoại, có thể có chìa khóa của nó trong khuôn khổ tâm thức của một thời đại; và cái khuôn khổ này không phải là cái khuôn khổ của chúng ta. Nhà phê bình buộc phải thừa nhận rằng chính đối tượng của mình, dưới hình thức phổ biến nhất của nó, tức [hình thức] văn chương, mới là cái chống lại ông ta, hay trốn chạy khỏi ông ta, chứ không phải cái “bí mật” tiểu sử của tác giả của nó.

 

Điểm thứ hai ở đó nền phê bình đại học cho ta thấy rõ sự dấn thân về mặt ý hệ của nó, đó chính là cái mà ta có thể gọi là định đề về sự tương tự (postulate d’analogie). Ta biết rằng công việc của nền phê bình ấy chủ yếu được lập raqua sự nghiên cứu về “các xuất xứ”: luôn luôn phải đặt tác phẩm được nghiên cứu trong quan hệ với cái gì đó khác, một nơi khác của văn chương; cái nơi khác ấy có thể là một tác phẩm khác (trước đó), một hoàn cảnh tiểu sử hay thêm nữa, một “sự đam mê” được tác giả trải nghiệm thực sự mà ông ta “diễn tả” (luôn luôn là sự diễn tả) trong tác phẩm của mình ([nhân vật] Oreste chính là Racine ở tuổi hai mươi sáu, si tình và ghen tuông, v.v.); hơn nữa, giai đoạn thứ hai của mối quan hệ ít quan trọng hơn nhiều so với bản tính của nó, giai đoạn ấy luôn có trong mọi lối phê bình khách quan: mối quan hệ này luôn luôn là mối quan hệ tương tự; nó hàm ý sự biết chắc rằng viết bao giờ cũng là tái tạo, sao chụp, phỏng theo, v.v., ; những sự dị biệt giữa nguyên mẫu (modèle) và tác phẩm (và điều này ta cũng khó lòng tranh cãi) luôn luôn được giải thích bằng [ý niệm] “tài năng thiên bẩm”, đó là ý niệm mà khi đứng trước nó nhà phê bình ngoan cố nhất, ồn ào nhất cũng từ bỏ ngay cái quyền tham gia bàn luận (droit de parole) [của mình] và nhà duy lý cao ngạo nhất cũng tự biến mình thành nhà tâm lý học cả tin, tôn sùng thứ thuật giả kim huyền bí của sự sáng tạo, ngay cả khi sự tương tự không còn thấy được nữa: những sự giống nhau của tác phẩm, vì thế, thuộc về thuyết thực chứng nghiêm ngặt nhất, nhưng bằng một cách từ bỏ đặc biệt, những sự khác nhau của nó thì thuộc về ma thuật. Thế nhưng, đây là lại là một định đề đặc trưng; người ta có thể có quyền khẳng định rằng tác phẩm văn học khởi đầu từ chỗ nó làm biến dạng nguyên mẫu của nó (hay nói thận trọng hơn: xuất phát điểm của nó); Bachelard đã cho thấy rằng năng lực tưởng tượng của thi ca không phải ở chỗ tạo ra (former) các hình tượng, mà trái lại chính ở chỗ làm biến dạng (deformer) chúng; và trong bộ môn tâm lý học, một lĩnh vực đặc quyền của những lối giải thích loại suy (sự đam mê được viết ra dường như luôn đi từ một sự đam mê đã trải qua), giờ đây người ta biết rằng các hiện tượng chối nhận (dénégation) ít ra cũng quan trọng như các hiện tượng phục tùng: một sự ham muốn, một niềm đam mê, một tâm trạng bị tước đoạt rất có thể tạo ra các biểu tượng hoàn toàn trái ngược; một động cơ có thật có thể được đảo ngược trong một chứng cứ ngoại phạm dùng để bác bỏ nó; một tác phẩm có thể chính là sự kiến tạo tưởng tượng (fantasme) bù đắp cho đời sống tiêu cực thụ động: việc Oreste đem lòng yêu Hermione, đó có thể là Racine ngầm chán nàng Duparc: sự tương đồng không hề là mối quan hệ được ưu tiên như ở trường hợp sự sáng tạo đã duy trì với cái thực tồn. Sự mô phỏng (sử dụng từ này theo nghĩa rất rộng mà Marthe Robert[8] vừa gán cho nó trong tiểu luận của bà về tác phẩm Cái cũ và cái mới(1)), sự mô phỏng đi theo những con đường cong quẹo; cho dù người ta có định nghĩa nó bằng lời lẽ kiểu Hegel, phân tâm học hay hiện sinh chủ nghĩa, thì một biện chứng pháp đầy sức mạnh vẫn không ngừng xuyên tạc cái nguyên mẫu của tác phẩm, buộc nó phải phục tùng các sức mạnh như thôi miên, đền bù, chế nhạo, gây hấn, mà giá trị (tức là cái có giá trị cho [valant-pour]) của nó phải được xác lập, không phải theo bản thân nguyênmẫu, mà theo vị trí của chúng trong hình thức tổ chức tổng quát của tác phẩm. Ở đây, ta đã đụng đến một trong những trách nhiệm nặng nề nhất của nềnphê bình đại học: khi tập trung vào sự khởi sinh của tình tiết văn chương, nó có nguy cơ bỏ qua nghĩa chức năng (sens fonctionnel) của tình tiết ấy, mà nghĩa này là chân lý của nó: tìm – với sự khéo léo, nghiêm ngặt và miệt mài – xem có phải Oreste chính là Racine hay nam tước Charlus chính là bá tước Montesquieu hay không, tức là lúc đó ta đã phủ nhận rằng về cơ bản, Oreste và Charlus là những tên gọi (termes) của một mạng lưới hình tượng mang tính chức năng, cái mạng lưới chỉ có thể được nắm bắt theo cái mạch (tenue) bên trong tác phẩm, theo những sự việc xung quanh tác phẩm, chứ không theo các xuất xứ của tác phẩm; người giống với Oreste không phải là Racine, mà là Pyrrhus (theo một con đường hoàn toàn khác); người giống với Charlus không phải là Montesquieu, mà là người kể chuyện, mà ở đây người kể chuyện không phải là Proust. Nói tóm lại, chính tác phẩm mới là nguyên mẫu đích thực của nó; chân lý của nó không phải là việc tìm kiếm ở trong bề sâu, mà là ở trên bề rộng; và nếu có một mối quan hệ nào giữa tác giả và tác phẩm (ai có thể phủ nhận điều này? Tác phẩm không từ trên trời rơi xuống: chỉ có mỗi nềnphê bình thực chứng luận là còn tin vào Nữ thần thi ca (Muse)mà thôi), đấy không phải là mối quan hệ theo kiểu điểm họa (rapport pointilliste), tức là thêm vào những sự giống nhau từng phần, gián đoạn và “cực độ”, mà trái lại, là mối quan hệ giữa toàn bộ tác giả và toàn bộ tác phẩm, [tức là] mối quan hệ của các mối quan hệ, một sự tương ứng của cái cùng tính chất chứ không phải của cái tương tự.

Có vẻ như ở đây, ta đã tiến gần đến thực chấtcủa vấn đề. Bởi vì, nếu giờ đây, để đoán ra các nguyên do của vấn đề, ta xoay sang hướng ngầm chối rằng nềnphê bình đại học đối lập với nềnphê bình kia, lập tức ta sẽ thấy rằng sự khước từ này hoàn toàn không phải là nỗi lo sợ tẻ nhạt về cái mới; nền phê bình đại học không lạc hậu cũng chẳng lỗi thời (có thể là nó hơi chậm chạp chút đỉnh): nó biết cách thích ứng một cách hoàn hảo. Như vậy, cho dù trong nhiều năm, nó đã thực hành một thứ tâm lý học xu thờivề con người bình thường (được kế thừa từ Théodule Ribot[9], người cùng thời với Lanson), nó vừa “thừa nhận” bộ môn phân tâm học, bằng cách công nhận (bằng một học vị tiến sĩ được đón nhận một cách rất đặc biệt) lối phê bình của Ch. Mauron, hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Freud. Nhưng khi công nhận như vậy, thì đường hướng đối kháng lại nềnphê bình đại học đã lộ rõ: vì lốiphê bình phân tâm học vẫn còn là một thứ tâm lý học, nó đặt thành định đề (postule)một nơi khác của tác phẩm (đó là tuổi thơ của nhà văn), một điều bí mật của tác giả, một chất liệu phải giải mã, [tức là] cái vẫn còn lưu trong tâm hồn con người, cho dù điều này phải đổi lấy bằng một từ ngữ mới: một thứ tâm-bệnh học về nhà văn thì tốt hơn là một thứ tâm lý học về mọi chuyện; bằng cách đưa các tình tiết của tác phẩm và các tình tiết của đời sống vào mối quan hệ, lối phê bình phân tâm học tiếp tục thực hành một thứ mỹhọc(esthétique)về các động cơ hoàn toàn được xác lập trên mối quan hệ bên ngoài: đó là vì bản thân Racine là đứa trẻ mồ côi, thành thử trong kịch của ông mới có nhiều ông bố đến thế: cái thế trội [của lối viết] tiểu sử (transcendance biographique) hãy còn nguyên: có và bao giờ cũng sẽ có những cuộc đời của các nhà văn cần được “khai quật”. Tóm lại, thật là nghịch lý, nềnphê bình đại học lại sẵn sàng chấp nhận (một cách từ từ và sau những sự đối kháng liên tiếp) chính nguyên tắc của nềnphê bình lý giải, hay nếu thích thì ta có thể nói (cho dù từ này vẫn còn làm cho người ta e ngại) là nền phê bình ý hệ; nhưng điều nó không chấp nhận là sự lý giải ấy và ý hệ ấy lại có thể định đoạt việc vận hành trong một lãnh vực thuần túy ở bên trong tác phẩm; nói ngắn gọn, cái bị lên án là lối phân tích nội tại (analyse immanente): mọi thứ đều có thể chấp nhận, miễn sao tác phẩm có thể được đặt vào mối quan hệ với cái gì khác với bản thân nó, nghĩa là cái gì khác với văn học: sử học (ngay cả khi nó trở thành thứ sử học mác-xít), tâm lý học (ngay cả khi nó mang màu sắc phân tâm học), những nơi khác ấy của tác phẩm dần dần được chấp nhận; điều sẽ không được chấp nhận là công việc diễn ra trong tác phẩm và chỉ đặt ra mối quan hệ của nó với thế giới sau khi đã mô tả toàn bộ nó từ bên trong, trong các chức năng của nó, hay nói như ngày nay, trong cấu trúc của nó; như vậy, nhìn chung cái bị bác bỏ là lối phê bình hiện tượng học (lối phê bình làm sáng tỏ tác phẩm thay vì giải thích tác phẩm), lối phê bình chủ đề (lối phê bình cấu tạo lại các ẩn dụ bên trong của tác phẩm) và lối phê bình cấu trúc (lối phê bình xem tác phẩm là một hệ thống các chức năng).

 

Sao lại có sự từ khước cái nội tại này (mà nguyên tắc của nó, vả lại, cũng thường bị hiểu sai)? Hiện nay, ta chỉ có thể đưa ra những câu trả lời bất tất; có thể là bởi sự phục tùng quá lâu ý hệ tất định luận, tức cái ý hệ muốn rằng tác phẩm là “kết quả” của một “nguyên nhân” và các nguyên nhân bên ngoài là “nguyên nhân” [đích thực] hơn so với các nguyên nhân khác; cũng có thể là vì việc chuyển từ lối phê bình về các nhân tố quy định sang lối phê bình về các chức năng và các biểu nghĩa đã kéo theo một sự chuyển đổi sâu sắc các chuẩn mực của tri thức, do đó, của kỹ thuật, và của chính nghề nghiệp của giới đại học; ta không nên quên rằng hoạt động nghiên cứu vẫn còn chưa tách rời khỏi hoạt động giảng dạy, nền Đại học làm công việc nghiên cứu nhưng nó cũng trao các văn bằng; do đó, nó cần đến một ý hệ được nối khớp dựa trên một kỹ thuật đủ độ khó để tạo ra một công cụ tuyểnchọn; thuyết thực chứng mang lại cho nó bổn phận phải có một nền tri thức rộng, khó và bền bỉ; lối phê bình nội tại – ít ra cũng từa tựa như vậy – chỉ đòi hỏi một năng lực ngạc nhiên, khó có thể cân đong đo đếm được, khi đứng trước tác phẩm: ta hiểu rằng nó [tức nền phê bình đại học]ngập ngừng trước việc chuyển đổi các đòi hỏi của nó.

 

1963, ModernLanguage Notes.

 

ĐINH HỒNG PHÚC dịch

Hiệp Bình Chánh, 31-01-2012

Làn ranh đỏ tại Biển Đông – VHNA

19 Th6

Đoàn Hưng Quốc

Từ khi chính quyền Obama xem Thái Bình Dương là một trọng điểm chiến lược đã có nhiều tranh lụận sôi nổi và súc tích về chính sách của Mỹ tại biển Đông.

Một cách tổng quát người ta nhận thấy có ba khuynh hướng: (1) Hoa Kỳ tăng cường hiện diện và phối hợp với các nước trong khu vực để ngăn cản sự bành trướng của Trung Quốc (2) Mỹ-Trung cần phải thương lượng nhằm tìm ra một giải pháp thoả hiệp (3) Hoa Kỳ tránh không can thiệp vào biển Đông.

Lập trường thứ nhất đã được thể hiện rõ ràng qua lời nói và việc làm của chính quyền Obama trong hai năm gần đây. Tiêu biểu cho khuynh hướng thứ nhì gồm cựu ngoại trưởng Henry Kissinger của Mỹ[i] và TS Hugh White [ii]của Úc, theo đó Hoa Kỳ phải quan tâm đến lịch sử và ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc trong khi đi tìm một thế đứng chung cho hai cường quốc vùng Thái Bình Dương. Quan điểm thứ ba là Mỹ không nên can thiệp vào biển Đông để tránh đối đấu với Hoa Lục, mà đại diện là ông Tom Hayden [iii]tức nhân vật nổi tiếng trong thời chống chiến tranh Việt Nam.

Cách phân loại tổng quát như trên tuy dễ hiểu, nhưng khuyết điểm là đơn giản hoá nên không khỏi có những thiếu sót khi đi sâu vào lý luận súc tích của từng tác giả trước một vấn đề vô cùng phức tạp. Tuy nhiên nó phản ảnh một thực tế là Hoa Kỳ và các nước đồng minh chưa có một chính sách chung trước sự trổi dậy của Trung Quốc nên sách lược có thể thay đổi. Trái lại con đường của Bắc Kinh chỉ có một hướng là họ sẽ tiếp tục lấn lướt cho đến khi bị ngăn cản.

Trong Chiến Tranh Lạnh một bức màn sắt đã dựng lên làm ranh giới chia cách Âu Châu, nhưng  nhờ đó hai bên biết rõ vi phạm nào có nguy cơ dẫn đến chiến tranh toàn diện. Tại biển Đông ngày nay vấn đề tế nhị hơn nhiều vì không quốc gia nào muốn vẽ ra một làn ranh đỏ trong khu vực. Trọng lượng kinh tế của Trung Quốc ngày càng tăng nên các nước khó có thể cắt đứt những quan hệ thương mại. Giả sử Hoa Lục tiến chiếm bãi đá ngầm Scarborough hay một vài đảo ở Trường Sa, hoặc đơn phương khai thác dầu hoả trên những vùng đang có tranh chấp thì cho dù chiến tranh toàn diện không xãy ra nhưng cuộc chạy đua vũ trang và tình trạng căng thẳng sẽ tăng cấp. Riêng đối với hai nước Việt Nam và Trung Quốc lại kèm thêm một theo gốc độ phức tạp vì tranh chấp nếu xảy ra sẽ thổi bùng tinh thần dân tộc của đôi bên và thách đố lên nền tảng ý thức hệ của hai hệ thống nhà nước.

Một đặc điểm khác ở Đông-Á là cán cân – hay ít nhất là nhận thức về tương quan lực lượng – đang thay đổi. Nhật tuy vẫn đứng hàng đầu nhưng không còn là con hổ trong khu vực vì đang phải vất vã bảo vệ vị trí hiện tại chứ đừng nói gì đến tăng trưởng . Úc phân vân trước hai ngã rẽ cho tương lai, hoặc tiếp tục làm đồng minh thân cận với Hoa Kỳ do cùng chia xẻ các giá trị dân chủ, vân hoá và lịch sử, hay nhích lại gần với Đông Á vốn là khu vực kinh tế năng động nhất trong thế kỷ 21.

Quan trọng hơn hết vẫn là cán cân Mỹ-Trung. Liệu GDP của Trung Quốc có qua mặt Mỹ vào những năm 2025-40? Hay khi Hoa Lục sẽ trở thành đối tác thương mại lớn nhất cho những quốc gia trong khu vực vào một ngày không xa? Quân đội Trung Quốc dù không là đối thủ của Hoa Kỳ trên toàn vùng Thái Bình Dương rộng lớn nhưng liệu trong vòng 10-20 năm nữa có đủ lực lượng để đe doạ tàu chiến Mỹ ở khu vực cận duyên vùng Đông Á hay không?

Câu hỏi lớn vẫn là quyết tâm và sự kiên trì của Mỹ tại biển Đông dựa trên bài học của hai cuộc chiến Việt Nam và Trung-Á, điển hình là A Phú Hãn là nơi Hoa Kỳ đã rút lui vào thập niên 80, trở lại năm 2001 và sửa soạn rút lần thứ hai vào năm 2014. Đối với quần chúng Mỹ, họ hiểu rõ quan hệ thiết yếu với Âu Châu, Do Thái, Nhật, Úc và Nam Hàn nhưng về phía biển Đông thì phần đông mù mờ không rõ tại sao Hoa Kỳ phải can thiệp vào các tranh chấp trong khu vực. Do vậy luận điểm rằng Mỹ không cần đối đầu Trung Quốc tại biển Đông như của Tom Hayden cho dù nông cạn trong giới nghiên cứu chính trị lại có sức thu hút đối với quần chúng nhất là khi mà họ phải lo toan đến các vấn đề gần gũi hàng ngày như công ăn việc làm, giáo dục và hưu bổng.

Theo đánh giá của người viết thì trong 5-10 năm tới đây giữa Mỹ-Trung sẽ không vẽ ra một làn ranh đỏ rỏ rệt chia cắt biển Đông. Trái lại quyền lợi của Hoa Kỳ nằm theo 3 vòng đai chiến lược. Trong cùng gồm các nước bạn thân thiết với nền kinh tế hùng mạnh, quân đội trang bị tối tân, đồng thời chia xẻ những giá trị chung như Úc, Nhật, Nam Hàn (và có thể gồm cả Singapore) mà Hoa Kỳ sẽ không ngần ngại  trực tiếp bảo vệ. Vòng giữa có Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai: thế thuận lợi của các quốc gia này nhờ vào độc lập về chính trị đối với Trung Quốc, nhưng bên cạnh đó còn nhiều tham nhũng, độc tài, xã hội lại phân hoá giữa các khuynh hướng canh tân và bảo thủ Hồi Giáo nên chưa là các đồng minh bền vững. Ngoài cùng là vùng xôi đậu gồm Việt Nam và Miến Điện dù bị chi phối nhưng đang tìm cách thoát ra phần nào khỏi ảnh hưởng của Hoa Lục, cộng thêm Lào – Cam Bốt – Thái Lan là những quốc gia trái độn tìm cách lợi dụng tranh chấp để đòi quyền lợi từ hai phía.

Mỹ bị xem là một đồng minh không đáng tin cậy. Nhưng thực tế là từ sau Thế Chiến Thứ Hai họ chưa từng bỏ rơi một quốc gia nào cùng chung chia xẻ các giá trị với họ như Tây Âu, Nhật, Úc, Do Thái, và gần đây là thêm Nam Hàn. Trái lại đối với các nước mà  Mỹ chỉ hợp tác vì nhu cầu chiến lược thì ngược lại họ cũng sẳng sàng quay mặt khi tình hình thay đổi..

Các nước, nếu dựa vào sự tranh đua giữa các cường quốc để tìm đối trọng, thì ngược lại, trong các sự thương thảo các nước lớn cũng có thể đem quyền lợi của đất nước để trao đổi.


[i] Xem “On China” của Henry Kissinger

[ii] Xem “Avoiding a U.S.-China War” của Anatole LIEVEN trên báo New York Times ngày 12 tháng 6, 2012

[iii] Xem “Containment Risks Permanent Brinksmanship” của Tom Hayden trên báo New York Times ngày 02 tháng 05, 2012

 

“Nước mắt” – một tiểu thuyết cảm động về chiến tranh – trannhuong

19 Th6
Phạm Hồ Thu
ĐỌC SÁCH
(Tiểu thuyết của Đào Thắng – NXB Thanh Niên 2005)
Nhà  văn Đào Thắng trước khi trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, ông là một sĩ quan quân đội mang hàm đại tá, trưởng thành từ một lính chiến thật sự. Ông đã cho xuất bản 9 tập văn xuôi, trong đó có 7 cuốn tiểu thuyết. Với 7 cuốn tiểu thuyết ấy, ông đã hai lần giành giải thưởng của Hội Nhà văn và hai lần giành giải thưởng của Bộ Quốc phòng dành cho tác phẩm viết về lực lượng vũ trang; đó là tiểu thuyết Nước mắt và tiểu thuyết Dòng sông mía, những cuốn sách và giải thưởng đã đưa ông vào danh sách những nhà tiểu thuyết đáng chú ý của văn học đương đại. Lần tái bản này, cuốn tiểu thuyết Nước mắt in chung với tiểu thuyết Dòng sông mía. Được biết, Nước mắt ra mắt lần này là lần tái bản thứ năm kể từ khi nó xuất hiện lần đầu vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, với không ít ý kiến đánh giá khi nó giành giải thưởng. Chiến tranh đã đi qua gần 40 năm kể từ ngày 30 – 4 – 1975, đất nước liền một giải, nhưng chúng ta gần như chưa nguôi quên (hoặc không bao giờ nguôi quên) về cuộc chiến đấu oanh liệt và đặc biệt là những mất mát đau thương mà cuộc chiến tranh để lại. Tiểu thuyết Nước mắt  đáp ứng tình cảm này, và có thể nói rằng khi đọc Nước mắt, chúng ta sẽ không thôi cảm động về một chặng đường đất nước đi qua. Chúng ta đã đọc nhiều tác phẩm viết về chiến tranh như Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Nắng đồng bằng (Chu Lai),  Chim én bay (Nguyễn Tri Huân), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thuỵ), Thượng Đức (Nguyễn Bảo) v.v… mỗi tác phẩm một vẻ đẹp, một cuộc chiến đấu, ở những vùng đất khác nhau, nhưng chủ yếu đó là những cuộc chiến đấu trên giải Trường Sơn hoặc các vùng đất phía Nam – nơi mà quân và dân ta chiến đấu trực tiếp với Mỹ – ngụy. Riêng tiểu thuyết Nước mắt của Đào Thắng nói về cuộc chiến đấu với Mỹ ngay trên mảnh đất miền Bắc XHCN – cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên dải đất khu Bốn – nơi cửa ngõ tiếp viện cho chiến trường miền Nam. Cuốn sách đã cho ta thấy: cuộc chiến đấu với máy bay, bom đạn và pháo hạm của Mỹ khốc liệt, ghê gớm với bao mất mát, hy sinh đến không tưởng tượng nổi. Đây là một thực tế của cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ không phải ai ai cũng biết. Nhà văn Đào Thắng tâm sự rằng: Quyển sách này tôi viết về chính đại đội của tôi, đại đội 8, xê tám. Trong những năm Mỹ ném bom mang tính hủy diệt toàn bộ sự sống, đại đội tôi chốt tại đầu bắc phà Bến Thuỷ (Vinh, Nghệ An). Các nhân vật trong sách đều mang hình bóng của những con người có thật. Tôi đã lấy tên các liệt sĩ hy sinh trong các trận đánh ác liệt nhất đặt tên cho một số nhân vật trong tiểu thuyết nước mắt … Và đúng là như vậy – các nhân vật của Nước mắt chủ yếu là các chiến sĩ của đơn vị pháo binh xê tám của Đoàn pháo binh Sông Châu sống trong một không khí chiến trường đặt biệt: cuộc chiến tranh huỷ diệt quyết đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá của đế quốc Mỹ và những con người bé nhỏ mà gang thép, quyết đối đầu với thế lực huỷ diệt ấy, bảo vệ con đường tiếp viện cho mặt trận. Bên cạnh những người lính pháo binh là những cô gái thanh niên xung phong, là những người dân khu Bốn kiên cường và đặc biệt là những người phụ nữ và nhân vật mà Đào Thắng chú ý miêu tả chính là những người phụ nữ và thân phận tình yêu – một sức mạnh mỏng manh  nhưngbất tử luôn là đối kháng của chiến tranh, sự huỷ diệt và cái chết. Cách đây đã hai mươi năm. Chuyện xảy ra như đã cũ lắm rồi. Tôi đi tìm cái cũ để rao bán cho con người ư? Hay chỉ ghi lại cái gì tinh chất được sàng lọc qua thời gian và trong trí nhớ, để độc giả cùng sống lại một thời chiến tranh chúng tôi phải chịu đựng, thời chiến tranh mà ngoại bang muốn đưa dân tộc chúng ta trở về thời kỳ đồ đá … – nhà văn Đào Thắng đã bắt đầu cuốn tiểu thuyết của mình với một lời tự sự như thế. Và ta hiểu rằng chúng ta sẽ gặp một tự sự buồn … Câu chuyện mà Đào Thắng kể có thể nói rằng không có chuyện. Nó bắt đầu bằng hình ảnh của một đoàn xe kéo pháo nối nhau hành quân giữa một vùng đất chết – một vùng đất khu  Bốn bị bom đạn Mỹ huỷ diệt, nơi mà con chim cũng đang thỉu đi vì nắng nóng ghê gớm. Đó là cuộc hành quân của đơn vị pháo cao xạ của Thái – nhân vật chính. Đơn vị anh phải hành quân gấp thực hiện kế hoạch trấn giữ một trọng điểm giao thông trên con đường ra mặt trận – nơi mà bọn giặc Mỹ quyết thực hiện ý định biến tất cả trở về thời kỳ đồ đá, một ngã ba thị trấn không sinh vật nào sống nổi trên mặt đất, – “nơi có những bà mẹ vuốt mắt người chết đến thuần thục”. Trên mảnh đất hoang lạnh ấy, các chiến sĩ pháo binh hàng ngày phải đối mặt với hàng chục lần máy bay Mỹ đến ném bom, bắn phá, rải xuống hàng trăm loại vũ khí giết người, từ bom napan đến bom tấn, bom bi, bom từ trường, bom khoan … những người lính không chỉ phải sống, tồn tại, mà còn phải luôn ngẩng cao đầu để trinh sát bầu trời, ngồi trên mâm pháo đánh trả máy bay địch trong những cơn đói ngủ, thiếu thốn mọi bề. Ngòi bút của Đào Thắng không ngại ngùng miêu tả cái sự thật trần trụi, gớm ghiếc mà chiến tranh dội lên đầu những người lính pháo. Và nhiều người trong số họ đã hy sinh, hy sinh hết lớp này đến lớp khác; có cả những tiểu đoàn, trung đoàn pháo bị xoá sổ. Ở xê tám của Thái, những Xương đại đội phó; những Viên pháo thủ rồi Đăng – chiến sĩ đo xạ kiêm pháo thủ tính tình dễ thương lần lượt hy sinh. Rồi cuối cùng là Thái, nhân vật chính, quê Hải Phòng cũng đến ngày nằm xuống. Những người lính không phải chỉ chịu đựng gian khổ, hi sinh mà họ còn phải chứng kiến cả cái đê hèn của con người như hiện tượng đảo ngũ, hiện tượng cán bộ (tham mưu trưởng Đoàn Cung) coi thường sinh mạng người lính lấy cái chết của người khác làm vinh quang cho mình… tất cả tạo nên sự dữ dội của cuộc chiến. Cảm xúc bi thương là cảm xúc chủ đạo của cuốn tiểu thuyết viết theo một lối cổ điển – tiểu thuyết luận đề. Không còn cảm giác về cũ hay mới, bạn đọc bị cuốn đi trong cảm xúc bi thương kia, đặc biệt là thân phận tình yêu của hai nhân vật Thái và Lam Hồng. Thái – một pháo thủ và một trinh sát giỏi. Như nhiều thanh niên thời bấy giờ rời ghế nhà trường là ra mặt trận, Thái đã tham gia nhiều trận đánh máy bay Mỹ. Thái có người vợ vừa cưới vội là Hà và cô đã có thai. Người vợ tên Hà ấy xuất hiện trong cảnh tan hoang của chiến tranh: cô đạp xe hàng trăm cây số từ hậu phương vào khu Bốn thăm chồng, chỉ để được anh âu yếm và báo với anh rằng chị đã có con. Nhưng người đàn bà yêu chồng ấy đã bị máy bay Mỹ giết hại cùng với đứa con trong bụng ngay sau khi rời vòng tay cuống quýt của chồng. Nén đau thương, Thái tiếp tục chiến đấu. Còn Lam Hồng – cô nữ sinh thành phố Vinh có nhà ở gần nơi Thái đóng quân là một cô gái có giọng Vinh nằng nặng, ấm xiết vào lòng. Cái tiếng ấy đã cất lên vào một đêm như đêm nay cần nghe tiếng con người…”. Trước hy sinh, mất mát của những người lính, cô gái bỗng thấy từ trong trái tim mình trào lên một tình cảm lạ lùng. Tình cảm ấy không hẳn là tình yêu, nó bồng bột dâng trào và cô gái bỗng thấy mình lớn hẳn lên, lớn hơn anh rất nhiều. Anh cần được chở che, cần được nghe một lời nói dịu ngọt, cần được vỗ về, ôm ấp như trẻ thơ. Cô gái ấy đã bỏ học, bỏ nơi sơ tán quay về nơi bom rơi, đạn nổ, ra trận địa pháo, san sẻ với Thái và những người lính. Và đặc biệt, như ánh sáng mong manh nhất của sự sống chống lại cái chết, tình yêu và lòng thương của cô giúp các chiến sĩ vững long trên mâm pháo, giúp Thái chữa con bệnh tâm thần hoảng loạn, lấy lại sức sống, niềm tin để tiếp tục chiến đấu…. Nhưng chiến tranh huỷ diệt đã huỷ diệt cả tình yêu cuối cùng. Một trận bom tàn khốc đã giết cả Thái và Lam Hồng, trong một căn hầm bỏng cháy bom napan, với lời kêu cứu cuối cùng của người con gái: Tôi muốn đạp tung căn hầm này, đạp tung cả trái đất này! Trả người yêu cho tôi. Họ ôm lấy nhau trong giấy phút cuối của kiếp người… Kết thúc của cuốn tiểu thuyết dừng lại ở hình tượng bi thương này, với một lời kêu gọi: Chúng tôi sẽ chết, sẽ bị đốt cháy thành than. Các thiên tài của chúng ta hãy biết cách chấm dứt cuộc chiến tranh này … Dân tộc chúng tôi cần những thiên tài đưa đất nước thoát ra khỏi cả ngàn cuộc chiến tranh, chấm dứt toàn bộ những cuộc chiến tranh. Dân tộc chúng tôi xứng đáng hưởng cái quyền tối thượng: Được sống trong hòa bình”. Đó là lời trăng trối cuối cùng của tôi và người yêu của tôi trước loài người. Gấp cuốn sách lại, âm hưởng ấy vang lên. Tháng 5 năm 2012 P.H.T
%d bloggers like this: