Lưu trữ | 10:22 Chiều

Bài Ca Ngất Ngưỡng của Nguyễn Công Trứ: Từ văn bản đến hướng tiếp cận – VHNA

23 Th6

Nguyễn Thanh Tùng

Nói đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ, người ta không thể không nhắc đến thơ hát nói. Nói đến thơ hát nói Nguyễn Công Trứ, người ta lại không thể không nhắc đến Bài ca ngất ngưởng. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho cá tính và phong cách văn chương (thơ ca) Nguyễn Công Trứ. Bởi vậy, tác phẩm được tuyển, dẫn trong hầu hết các công trình biên soạn, nghiên cứu về ông. Nó cũng được đưa vào giảng dạy chương trình Ngữ văn ở phổ thông trung học (Ngữ văn 11). Tuy nhiên, từ văn bản cho đến hướng tiếp cận bài thơ vẫn chưa phải đã ổn đáng. Khỏi phải dẫn lại rất nhiều ý kiến khác nhau về các vấn đề đã nêu, chúng tôi xin trình bày ý kiến của mình để độc giả tự so sánh và lựa chọn cho mình cách hiểu hợp lí nhất.

1. Vấn đề văn bản và chú giải Bài ca ngất ngưởng

Theo Nguyễn Thị Lâm[1], Bài ca ngất ngưởng hiện có 4 dị bản chính: bản Gia phả tập biên (GPTB)[2]; “bản Lê Thước” (LT)[3]; bản Đỗ Trọng Huề, Đỗ Bằng Đoàn (ĐTH)[4]; bản Thái Kim Đỉnh (TKĐ)[5]. Trong đó, theo Đoàn Lê Giang, hai bản LT và bản ĐTH là quan trọng hơn (không thấy ông nói đến bản TKĐ). Đoàn Lê Giang cũng đã tiến hành biện giải văn bản và đề xuất một “thiện bản” cho Bài ca ngất ngưởng[6]. Tuy nhiên, đó là một giải pháp. Ở đây, chúng tôi muốn trình bày một giải pháp khác. Căn cứ vào 4 dị bản này chúng ta sẽ lần lượt biện giải và xác lập văn bản Bài ca ngất ngưởng.

1.1. Tiêu đề tác phẩm

Bản GPTB và bản ĐTH chỉ ghi tiêu đề là Ngất ngưởng, bản LT và TKĐ ghi như tiêu đề hiện nay sử dụng là Bài ca ngất ngưởng. Vậy tiêu đề nào đúng và gần nguyên tác hơn? Xét tiêu đề các bài thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ hiện còn chúng tôi nhận thấy, không có bài nào có tên chỉ thể loại của tác phẩm (như bài ca, bài hát, bài thơ,…) mà chỉ đơn giản là nêu nội dung của tác phẩm như: Chí nam nhi, Luận kẻ sĩ, Kiếp nhân sinh, Con tạo ghét ghen,… Những cái tên như thế tuy không đúng với quy luật đặt tên tác phẩm của thời trung đại nhưng phản ánh quan niệm văn chương của thời hậu kì văn học trung đại và của thể loại hát nói: mọi quy chuẩn đều bị phá vỡ, ngay từ cách đặt tên. Như vậy, hoàn toàn có thể tin được rằng cái tên ghi trong bản Nôm GPTB là có lí nhất. Nguyễn Thị Lâm cũng tán thành với cách lựa chọn này. Cái tên Bài ca ngất ngưởng là do người đời sau đặt (có lẽ bắt đầu từ Lê Thước) mà có lẽ khi dùng cái tên này phải được đánh dấu là “bài ca Ngất ngưởng”.

1.2. Nội dung tác phẩm

1) Câu 1 + 2

Hầu hết các bản ghi “Vũ trụ nội mạc phi phận sự/…”. Riêng bản TKĐ ghi là “Vũ trụ giai nho chi phận sự/…”. Chúng ta không rõ Thái Kim Đỉnh dùng theo nguồn nào. Chỉ riêng tính thiểu số của nó đã không thuyết phục. Ý nghĩa của câu cũng quá cụ thể và hơi tối nghĩa: “Vũ trụ đều là phận sự của nhà Nho”. Câu “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” có tính khái quát, tầm vóc hơn. Hơn nữa, về mặt âm luật, cấu trúc câu này bất ổn! Hai câu này được viết bằng cặp câu thất thường thấy trong thể song thất lục bát, trong đó có hai yếu tố bắt buộc: một là về nhịp, nhịp của 2 câu phải là 3/4; hai là về khởi cú và đối, chữ thứ 3 của câu 1 phải là vận trắc, chữ thứ ba của câu 2 phải là thanh bằng. Câu “Vũ trụ giai nho chi phận sự/…” rõ ràng không đáp ứng được hai yêu cầu trên. Bên cạnh đó, cách nói hai lần phủ định “mạc phi” (không gì là không) hay hơn hẳn cách nói khẳng định thuần túy “giai” (đều). Nó là tiếng nói khẳng định một cách mạnh mẽ, dứt khoát, hào hứng. Cách nói trốn chủ ngữ (chủ thể) cũng là cách nói thường thấy của thơ ca trung đại, vừa hàm súc vừa có tính khái quát cao.

Ở câu thứ hai, có vấn đề phiên âm: “vào lồng” hay “vào nhòng”? Các văn bản đều viết/ phiên là “vào lồng”. Nhưng Trần Ngọc Vương lại đặt vấn đề nghi ngờ “lồng” hay “nhòng”?[7] Không rõ ông căn cứ vào tư liệu nào? Phải chăng, vì trong Bích Câu kì ngộ (truyện thơ) có câu: “Vào nhòng Lí Đỗ, nức danh Tô Tào (câu 62)? “Vào nhòng” có nghĩa là “vào hạng”, “vào loại”. Nhưng, l/nh là hiện tượng ngữ âm ở ngoài Bắc chứ không hề có ở miền Trung, vậy nên sự hoài nghi nhòng> lồng có lẽ là chưa có căn cứ vững chắc. “Vào lồng” ở đây cũng có nghĩa là “vào guồng”, vào guồng máy quan chức khi Nguyễn Công Trứ xuất chính. Tuy nhiên, nếu là “vào nhòng” cũng có cái hay của nó, nhất là đặt trong văn cảnh (xem phần sau).

2) Câu 3 + 4:

Các bản đều thống nhất với nhau. Ở đây cần chú thích thêm về “Tổng đốc Đông”: chỉ việc Nguyễn Công Trứ  giữ chức tổng đốc Hải Yên: tổng đốc kiêm coi hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên (tức Quảng Ninh ngày nay). Chế độ coi kiêm này khá thịnh hành thời Nguyễn, chẳng hạn như: Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên, Tổng Đốc Hà – Ninh – Thái,… Đông chính là chỉ Hải Dương, vì tên thường gọi của tỉnh Hải Dương thời Nguyễn là tỉnh Đông. Hơn nữa, trước đó, trấn Hải Dương còn bao gồm cả Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh ngày nay. Từ thời Trần lộ Hải Dương còn gọi là lộ Hải Đông, tên này vẫn thường được dùng sau đó. Chẳng hạn, Ngô Thì Nhậm có tác phẩm Hải Đông chí lược viết về tiểu sử các danh nhân, chính trị, quân sự của tỉnh Hải Dương. Như vậy, “tổng đốc Đông” là một chức vụ khá quan trọng, quản lĩnh một vùng rộng lớn, trọng yếu của đất nước.

3) Câu 5 + 6

Câu 5 đa số các bản ghi là “Lúc bình Tây, cờ đại tướng/…”, riêng GPTB lại chép “Lúc bình Tây, cầm cờ đại tướng”. Câu thơ 7 chữ đầy đủ, rõ nghĩa. Chữ “cầm” thể hiện tư thế chủ động, hăng hái của nhà thơ; nó thống nhất với cách viết ở câu 6: “Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên”. Câu này nói rõ cái ý: Nguyễn Công Trứ khi tại chức chỉ làm Thự Phủ doãn phủ Thừa Thiên, tức mới là Quyền Phủ doãn. Năm 1848, khi ông dâng sớ xin về nghỉ hưu, vua Tự Đức mới cho ông được thực thụ chức Phủ doãn, như một sự gia ân để khi về hưu trí cho thêm vang vẻ. Câu thơ của Nguyễn Công Trứ đã nói rõ điều đó: “có khi về” (về đây là về hưu).

4) Câu 7 + 8:

Câu 7 đa số các bản chép “Đô môn giải tổ chi niên”, riêng bản TKĐ chép “giải tỏa”. “Giải tổ” là một thành ngữ, chỉ người bỏ quan về nghỉ. Vi Ứng Vật có câu thơ: “Giải tổ ngạo viên lâm” (Bỏ quan về, sống ngạo ở chốn vườn, rừng). Câu 8 đa số các bản chép “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”, riêng bản GPTB chép “Lạc ngựa…”. Nếu muốn dùng “lạc” thì thường người ta dùng “lục lạc”. Vì vậy, ở đây “đạc ngựa” thích hợp hơn. Theo Đoàn Lê Giang, đây là việc có thực chứ không phải là tương truyền. Việc này cũng diễn ra ngay tại kinh đô Huế trong ngày ông treo ấn từ quan, theo lệ trí sĩ, để về quê. Hai dòng: “Đô môn giải tổ chi niên/ Đạc ngựa, bò vàng đeo ngất ngưởng” chính là để diễn tả ý đó. Dòng trên chính là trạng ngữ chỉ thời gian cho dòng dưới với tư cách là nòng cốt.

5) Câu 9 + 10

Câu 9 đa số các bản chép “Kìa núi nọ phau phau mây trắng” riêng bản TKĐ chép “Kìa lĩnh thượng lơ thơ mây trắng”. Chữ “lĩnh thượng” bị lạc phong cách trong câu thơ này (phong cách thuần Nôm). Chữ “lơ thơ” lại làm cho ý câu thơ trở nên tầm thường. Chữ “núi nọ” các sách đều giải thích là núi Đại Nài gần thị xã Hà Tĩnh, quê hương của Nguyễn Công Trứ; “mây trắng” là mây ở núi này. Tuy nhiên, cả dòng thơ còn gợi nhớ đến một điển tích rất hay xuất hiện trong văn học trung đại. Theo sách Đường thư, Địch Nhân Kiệt đời Đường đi làm Tham quận ở Tinh Châu mà mẹ thì ở Hà Dương. Một hôm, ông lên núi Thái Hàng, thấy một đám mây trắng bay xa xa, bảo với những người cùng đi rằng: “Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng ấy”. Điển tích này chỉ nỗi lòng nhớ cha mẹ, cũng chỉ nỗi nhớ quê hương. Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du có dùng điển tích này: Bốn phuơng mây trắng một màu/ Trông với cố quốc biết đâu là nhà. Bởi nhớ nhà nên cũng muốn về. Trương Hàn ngày xưa nhớ rau thuần cá vược nơi quê nhà mà từ quan về. Ngày nay, Nguyễn Công Trứ phải chăng cũng có tâm sự ấy?

Câu 10: Bản LT chép “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi”. GPTB chép “…nên dáng từ bi”, TKĐ chép “mà dạng từ bi”. “Dạng” hay “dáng” có lẽ cũng chỉ do cách phiên Nôm khác nhau. Hơn nữa, nó cũng không ảnh hưởng đến nghĩa của cả câu.

6) Câu 11 + 12:

Các bản đều khá thống nhất: “Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

7) Câu 13 + 14

Câu 13 có một vấn đề đặt ra là: “Người tái thượng” hay “người thái thượng”? Thái thượng và tái thượng đều có nghĩa hay.

“Thái thượng” được Từ hải giải thích gồm 4 nghĩa: 1) “cũng gọi là ‘tối thượng”, sách Kinh Lễ (phần Khúc Lễ) chép “Người đời thái thượng quý cái đức, tiếp đó là thi hành việc báo đáp” (Thái thượng quý đức, kì thứ vụ thi báo), sớ chú: “thái thượng dùng để chỉ đời Tam hoàng, ngũ đế”, cũng có sách viết là “đại thượng”. Tả truyện (Tương công nhị thập tứ niên) chép: “đời thái cổ có việc lập đức” (đại thượng hữu lập đức), chú rằng: “Thời Hoàng đế, Nghiêu Thuấn, chữ đại có âm là thái”. Sớ rằng: “đại thượng, nói cái cao nhất của con người, tức là người có đức của thánh nhân”; 2) Chỉ người ở ngôi vị chí tôn, Khuông Hành truyện trong sách Hán thư chép “nói người bề trên, đó là cha mẹ của dân” (ngôn thái thượng giả, dân chi phụ mẫu); 3) chỉ “thái cổ”, Ưng Trinh truyện trong Tấn thư chép: “thời thái cổ xa xăm, dân rất là giản dị” (du du thái thượng, nhân chi quyết sơ); 4) Niên hiệu (năm 405) của Mộ Dung Siêu nước Nam Yên thời Tấn[8].

Về “tái thượng”, thiên Nhân gian sách Hoài Nam tử  có chép: “Trong số những người ở trên vùng biên ải, có một người khá tài giỏi, có con ngựa vô cớ mất vì đi sang đất Hung Nô, người ta đều đến chia buồn, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là phúc? Mấy tháng sau, con ngựa mất quay về dắt theo một con ngựa tốt gốc Hung Nô, người ta đều đến chúc mừng, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là họa. Nhà có nhiều ngựa, người con trai thích cưỡi, bị ngã gãy cả chân, người ta lại đến chia buồn, bố anh ta nói: Biết đâu đó chẳng phải là phúc? Một năm sau, người Hung Nô tràn qua biên giới, những kẻ trai tráng đều phải tham chiến, người ở trên biên ải, mười phần chết mất chín, chỉ con trai ông già vì chân gãy mà hai bố con bảo toàn được tính mạng, vì thế trong phúc có họa, trong họa có phúc, biến hóa không cùng, sâu không thể lường được vậy” (Tái thượng chi nhân, hữu thiện thuật giả, mã vô cố vong nhi nhập Hồ, nhân giai điếu chi, kì phụ viết: Thử hà cứ bất năng vi phúc hồ?’ Cư số nguyệt, kì mã tương Hồ tuấn mã nhi quy, nhân giai hạ chi, kì phụ viết: ‘Thử hà cứ bất năng vi họa hồ?’ Gia phú lương mã, kì tử hiếu kị, trụy nhi chiết kì bí, nhân giai điếu chi, kì phụ viết: ‘Thử hà cứ bất năng vi phúc hồ?’. Cư nhất niên, Hồ nhân đại nhập tái, đinh tráng giả khống đạn nhi chiến, tái thượng chi nhân, tử giả thập cửu, thử độc dĩ bí chi cố, phụ tử tương bảo, cố phúc chi vi họa, họa chi vi phúc, hóa bất khả cực, thâm bất khả trắc dã)[9].

Rõ ràng, câu thơ của Nguyễn Công Trứ phải là “Được mất dương dương người tái thượng”. GPTB chép  rõ như vậy. “Được”, “mất” trước hết nhắc chuyện mất ngựa, được ngựa, rộng ra là chuyện được mất; “người tái thượng” là dịch cụm “tái thượng chi nhân” trong sách Hoài Nam tử.

Câu 14: Đa số các bản chép: “Khen chê phơi phới ngọn Đông phong”, riêng GPTB chép “… trận thu phong”. “Trận thu phong” không hợp lí, thậm chí tối nghĩa (gió thu lạnh lẽo làm sao phơi phới!).

“Đông phong” là gì? Các sách đều giải thích “Đông phong” là gió xuân, chỉ ngọn gió ấm áp. Ở đây xin được cung cấp thêm một số kiến giải để hiểu rõ hơn câu thơ của Nguyễn Công Trứ:

+ Nếu hiểu “Đông phong” là gió xuân, thì cũng cần biết thêm quan niệm của nguời xưa về “gió xuân”. Sách Lễ kí, Nguyệt lệnh chép: “Tháng Giêng, gió xuân làm tan băng lạnh” (Mạnh xuân chi nguyệt, Đông phong giải đống)[10]. Như vậy, gió xuân chỉ sự ấm áp.

+ Liên quan đến nghĩa này, trong văn học cổ còn có điển “Gió xuân thổi tai ngựa” (Đông phong xuy mã nhĩ), dùng để ví với việc không quan tâm đến sự việc, thản nhiên không nghe. Bài thơ Đáp Vương Khứ Nhất của Lí Bạch có câu: “Thế gian nghe việc này đều lắc đầu/ Cũng giống như gió xuân thổi qua tai ngựa” (Thế gian văn thử giai điệu đầu/ Hữu như đông phong xuy mã nhĩ)[11]. Nguyễn Huy Quýnh (1734 – 1785) có câu: “Trước thôn lắm chuyện làm ngựa gió Đông/ Bên bãi tùy duyên làm trâu sông Dĩnh” (Thôn tiền đa sự Đông phong mã/ Chử bạn tùy duyên dĩnh thủy ngưu) [Họa Giang trung mục phố thi][12].

+ “Đông phong” còn là tên một loại hoa (hoa cúc). Bài phú Ngô đô của Tả Tư có câu: “Đông phong, phù lưu” (cây cúc và cây trầu), trong Bản thảo cương mục của Lí Thời Trân cũng có chép tên loài cây này. “Đông phong” tên khoa học là Aster scaber, thuộc loài cúc, sống nhiều năm thì sinh rễ, cao khoảng 4, 5 tấc, lá ở dưới to, lá ở trên nhỏ, hình quả trứng mà nhọn, mùa thu thì hoa nỏ, màu trắng. Hoa này sống ở đầm phẳng vùng Lĩnh Nam, lá dày mà mềm, có lông tơ, luộc lên ăn khá ngon. Cây này mọc vào đầu xuân, nên được mệnh danh là “đông phong”[13].

Nếu xét ý cả câu của Nguyễn Công Trứ thì cả hai kiến giải sau không phải không có lí, nhất là điển “Đông phong xuy mã nhĩ”. Chúng tôi nghiêng về hướng cho rằng “Đông phong” ở đây chính là từ từ điển “Đông phong xuy mã nhĩ”. Nếu hiểu như vậy, thì hai chữ “phơi phới” có lẽ cần được phiên âm lại là “phây phẩy”, “phảy phảy” với nghĩa chính là “phe phảy” (bên tai ngựa) chẳng đáng quan tâm.

8) Câu 15 + 16

Câu 15: GPTB chép là “Khi thi khi rượu lúc trà thung”; TKĐ chép “Khi cầm kì, khi thi tửu, khi cắc, khi tùng”. Câu trong bản GPTB khá hiền lành, thanh khiết, không nổi rõ cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ. Câu trong bản TKĐ thì trùng lặp, dài dòng. Tóm lại, câu trong bản LT, ĐTH là hay nhất.

Câu 16: Đa số các bản chép “Không Phật, không Tiên không vướng tục”, hoặc “Chẳng Phật, chẳng Tiên” (bản TKĐ), riêng GPTB chép “Không Bụt,…”. “Không” nghe hợp âm luật và chắc chắn hơn “chẳng”. Theo hệ thống các từ dùng ở đây đều là Hán Việt (tiên, tục), thì chữ “Phật” thích hợp hơn (Khác với chữ “Bụt” ở câu 12).

9) Câu 17 + 18

Câu 17:  các bản LT, TKĐ chép “Chẳng Trái Nhạc cũng vào phường Hàn Phú”. Riêng GPTB, ĐTH chép “Chẳng Hàn, Nhạc cũng vào phường Mai Phúc”. Theo chúng tôi, GPTB, ĐTH đã chép đúng. Mai Phúc đúng hơn vì như thế mới hiệp vần: tục/ phúc. Cả bài này dùng vần “liên châu” (vần chân, vần liền chứ không cách câu): lồng/ đông; ngưởng/ tướng; thiên/ niên; bi/ dì; ngưởng/ thượng; phong/ tùng; tục/ phúc; chung/ ông. Không lẽ nào đến câu này lại không vần. Hơn nữa, ở đây ông muốn nói là không phải bậc danh thần nhập thế (Hàn, Nhạc) thì cũng là danh nho xuất thế (Mai Phúc), như thế mới có ý nhấn mạnh, tăng tiến, và cũng hợp với hoàn cảnh về trí sĩ lúc bấy giờ của Nguyễn Công Trứ. Sự xuất nhập chữ “vào” không đáng kể. Tuy nhiên, theo chúng tôi không cần thiết phải có chữ này.

10) Câu 19

Các bản đều chép “Trong triều ai ngất ngưởng như ông” (hoặc “bằng ông”), riêng bản ĐTH chép: “Đời ai ngất ngưởng như ông”. Theo chúng tôi, câu “Đời ai ngất ngưởng như ông” hay hơn và đúng hơn vì hai lẽ: một là, đáp ứng đúng cấu trúc thường thấy của bài hát nói: câu cuối 6 chữ; hai là, “đời ai” rộng hơn “trong triều”. Vả lại, lúc này Nguyễn Công Trứ đã “giải tổ”, cưỡi bò vàng mà về quê hương, nơi “phau phau mây trắng”! Ông còn lưu luyến gì triều đình mà còn phải nói “trong triều”. Câu cuối “Đời ai…” mới ứng hợp với câu đầu tiên: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Nguyễn Công Trứ nói đến cả cuộc đời ngất ngưởng của ông chứ đâu chỉ nói chuyện “trong triều” và ở đây, ông đâu chỉ ngông, chỉ ngạo với “trong triều” mà rộng hơn là với đời. Đó mới là bản lĩnh Nguyễn Công Trứ. Chữ “đời ai” mới tôn Nguyễn Công Trứ lên thành một bản ngã cao, một con người cá nhân triệt để; ông sánh mình vời cuộc đời rộng lớn, muôn thưở chứ đâu chỉ “trong triều” đầy chật hẹp, cụ thể. Ông nói câu chuyện về quan hệ giữa cá nhân (“ông”) với “vũ trụ”, với “đời” (thế gian) đấy chứ.

2. Hướng tiếp cận Bài ca ngất ngưởng

Sau khi đã tiến hành biện luận, hiệu khảo, chúng ta tạm có được một văn bản bài Ngất ngưởng để phân tích như sau:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cầm cờ Đại tướng,

Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phẩy phẩy ngọn Đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không Tiên, không vướng tục.

Chẳng Hàn, Nhạc cũng phường Mai Phúc,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Đời, ai ngất ngưởng như ông.

Bài ca Ngất ngưởng là nói về cuộc đời từ khi làm quan đến khi về trí sĩ. Theo chú thích của GPTB, Nguyễn Công Trứ làm bài này khi ông đã về hưu, đi chơi chùa Cảm Sơn (ở phường Đài Nài, Thành phố Hà Tĩnh ngày nay). Có thể xem đây là bản tổng kết cuộc đời của Nguyễn Công Trứ (chủ yếu là nửa phần đời sau khi đỗ Giải nguyên, ra làm quan của ông). Có thể nói, cả bài thơ đều xoay quanh chủ đề “ngất ngưởng”. Cấu trúc của bài thơ có thể chia làm 4 phần và cả bốn đều xoay quanh từ “ngất ngưởng”, xuất hiện 4 lần trong 4 phần và đồng quy về chữ “ngất ngưởng” ở cuối bài:

Phần I: Cuộc đời quan trường “ngất ngưởng”.

Phần II: Hành động từ quan về trí sĩ “ngất ngưởng”.

Phần III: Cuộc sống trí sĩ “ngất ngưởng”.

Phần IV: Tổng kết lại toàn bộ cuộc đời “ngất ngưởng”.

Quan niệm về ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ có sự thay đổi theo thời gian và cũng có nhiều sắc thái diễn biến. Chúng ta hãy theo dõi từng giai đoạn “ngất ngưởng” của ông.

2.1. Cuộc đời quan trường “ngất ngưởng”

Đọc đoạn thơ:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

Ông Hi Văn tài bộ đã vào nhòng.

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gốm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ Đại tướng,

Có khi về, Phủ doãn Thừa Thiên.

Trước hết cần hiểu từ “ngất ngưởng” ở đây có nghĩa gì? Theo chúng tôi, có thể hiểu “ngất ngưởng” là ở vị trí cao, nếu không muốn nói là cao nhất (tất nhiên là trong những phạm vi, giới hạn nhất định). Người ta hay nói cao “ngất ngưởng” là vì vậy. Nguyễn Công Trứ cũng đã nói rõ cái giới hạn đó. Mở đầu, ông nói “trong trời đất không có gì không phải là phận sự (của mình, của người nam nhi đại trượng phu,…)” song ông cũng tự giới hạn “vào lồng” (vì sự nhập thế, thi hành phận sự). Vì thế, “ngất ngưởng”, cao ngất ở đây cũng trong giới hạn. Hãy để ý, Nguyễn Công Trứ liệt kê các vị trí, chức quan ông đã trải qua. Hóa ra, chúng đều là những vị trí cao nhất trong phạm vi của nó: Thủ khoa (đứng đầu khoa thi Hương, tức Giải nguyên), Tham tán (đứng đầu đội quan văn tham chiến: Tham tán quân vụ, Tham tán đại thần), Tổng đốc (Đứng đầu một tỉnh hoặc vài ba tỉnh), Đại tướng (cầm đầu đội quân bình Trấn Tây), Phủ doãn (Đứng đầu ở kinh đô). Vậy là, ở đây, ông muốn nói đến tài khí cao vút của mình. Ngất ngưởng ở đây là theo ý đó, chứ không, như ai đó vẫn hiểu ngất ngưởng là ông làm một ông quan ngất ngưởng, “lên voi xuống chó”, ngông nghênh, điệu bộ. Tiểu sử cho biết, Nguyễn Công Trứ là một viên quan cần mẫn, thẳng thắn, tận tụy vì công việc và lập được nhiều công tích. Vì vậy, không thể coi ông làm quan một cách tài tử, ngông nghênh được! Cũng không nên hiểu “vào lồng” là sự bó buộc đối với tài năng của ông. Trái lại, “vào lồng” là chỗ để Nguyễn Công Trứ thể hiện khả năng của mình. Nên chăng cần hiểu là ông nói đến cái tài “kinh bang tế thế” (“vào lồng” “phận sự”) cao ngất của mình. Đó chính là biểu hiện của “ông Hi Văn tài bộ” (chứ không phải là đối lập với nó[14]) và là một nét quan niệm về “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ (“Tài thao lược đã nên tay ngất ngưởng”).

2.2. Hành động từ quan về trí sĩ ngất ngưởng

Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

“Ngất ngưởng” ở đây có hai nghĩa. Một là, tả cái thế của cái đạc ngựa, thế “ngất ngưởng”, cao, rung rinh. Sở dĩ nó “ngất ngưởng” bởi đáng nhẽ đạc ngựa để đeo lên ngựa, đằng này lại đeo lên con bò, cho nên tạo ra cái thế chênh vênh, có vẻ không chắc chắn như thế. Cái thế đó tạo nên một hình ảnh khá hài hước, khá nghịch ngợm của ông quan Nguyễn Công Trứ (nhưng với ý nghĩa sâu xa là chứng minh sự thanh bạch và thái độ bình thản khi về hưu). Thứ hai, “ngất ngưởng” cũng để chỉ cái hành động khác người của ông, chỉ tính cách ngông của ông, dám treo đạc ngựa lên con bò, cưỡi nó trong ngày treo ấn từ quan về nghỉ lão. Phần này bắt đầu đi vào cái “ngất ngưởng” cá tính rất độc đáo của ông.

Ở đây, ta cũng nên chú ý đến hai dòng thơ chữ Hán trong bài: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” “Đô môn giải tổ chi niên”. Thông thường hai dòng chữ Hán thường được đặt ở giữa bài hát nói, hoặc đặt ở đầu bài. Theo Nguyễn Đức Mậu, đó là cách để cân bằng, để tạo ra sự hài hòa hai yếu tố: bác học, điển nhã và đời thường, lệch chuẩn. Cách đặt hai dòng thơ chữ Hán của Nguyễn Công Trứ cũng tạo ra sự lệch chuẩn so với thông thường, và cũng là một biểu hiện của sự “ngất ngưởng” chênh vênh mà ngạo nghễ về mặt hình thứ nghệ thuật.

2.3. Cuộc sống trí sĩ “ngất ngưởng”

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi.

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không Phật, không Tiên, không vướng tục.

Đây là đoạn thơ thể hiện rõ quan niệm “ngất ngưởng” với ý nghĩa là ngông, là tài tử, khác thường của Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Công Trứ thể hiện sự ngất ngưởng của mình ở cái nghĩa: ông là người kiêm gồm những mâu thuẫn, những mặt đối lập mà ở đời mấy ai (rất ít người) có thể làm được được: văn (Thủ khoa, Tổng đốc, Phủ doãn) >< võ (Tham tán, Đại tướng). Bài Luận kẻ sĩ của ông nói rõ điều này.

Đó còn là sự kiêm gồm cả: tay kiếm cung (dữ dội) >< dáng từ bi (hiền lành); gót tiên (thoát tục, già lão) >< một đôi dì (đầy trần tục, trẻ trung); Bụt (Phật với triết lí khổ hạnh, nghiêm trang) >< nực cười (con người lạc quan, hài hước, bao dung); được >< mất; khen >< chê; ca, tửu, cắc tùng (hành lạc, phóng lãng) >< Phật Tiên (thoát tục, tiết dục); ca, tửu, cắc tùng (hành lạc, tao nhã) >< tục (đời thường); Phật Tiên (thoát tục) >< tục (đời thường); Hàn, Nhạc (quan võ, nhập thế) >< Mai Phúc (quan văn, ẩn sĩ xuất thế); vua >< tôi; sơ >< chung. Như vậy, ngất ngưởng đối với Nguyễn Công Trứ không phải là lệch chuẩn, là phá bỏ mà chính là sự đa tài, đa nghệ và bản lĩnh cao cả của mình; là sự xuất chúng, quảng bác của bản thân. Điều đó lí giải những mâu thuẫn trong cuộc đời Nguyễn Công Trứ mà người ta đã từng đặt ra đối với ông. Không ôm gồm “mâu thuẫn” không phải Nguyễn Công Trứ!

2.4. Tổng kết lại toàn bộ cuộc đời “ngất ngưởng”

Chẳng Hàn, Nhạc cũng phường Mai Phúc,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Đời ai ngất ngưởng như ông.

Để tổng kết cuộc đời mình, một mặt, Nguyễn Công Trứ lấy những tấm gương trong lịch sử; mặt khác, khẳng định trực tiếp. Cái cách nói “chẳng … cũng…” cho thấy Nguyễn Công Trứ muốn khẳng định cả hai phương diện sự nghiệp (văn, võ), tức là vẫn cái mạch khẳng định sự “kiêm toàn” của mình ở các mặt tưởng chừng mâu thuẫn. Sự kiêm toàn đó còn được khẳng định bằng  sự trọn vẹn của các cặp khái niệm: vua – tôi; “sơ” (ban đầu) – “chung” (cuối cùng). Đó là hiện tượng cho thấy ông đã thực sự “đắc đạo” (theo cách nói của Thiền tông là không câu chấp vào những cặp đối lập, cũng như không câu chấp cả việc có câu chấp hay không, như Ỷ Lan nguyên phi từng nói: “Sắc không đều không câu chấp/ Mới lĩnh hội được chân tông” (Sắc không câu bất quản/ Phương đắc khế chân tông). Hay theo cách nói của Lão Trang là “tề vật luận”, vô chấp). Chính vì “đắc đạo” như vậy cho nên ông hoàn toàn có thể sống một cách “ngất ngưởng” và bộc lộ niềm tự hào (thậm chí tự phụ) về điều đó ở câu cuối bài thơ. Như trên đã trình bày, câu cuối này có hai dị bản “Trong triều ai ngất ngưởng như ông” và “Đời ai ngất ngưởng như ông” và có lẽ Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng với cả “đời” (thế gian) chứ không chỉ “trong triều”. Cái ngất ngưởng này là cái ngất ngưởng của ba cái ngất ngưởng trên cộng lại: tài cao (sự nghiệp) ngất ngưởng, về hưu ngất ngưởng, sống đời sống ngất ngưởng. Đó là chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ.

*

*           *

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về văn bản và cách tiếp cận bài thơ. Nói về văn bản, dù ý kiến người đọc (dẫu chuyên nghiệp hay không) có chứng lí đến mấy thì nó cũng không thay thế được “thủ cảo” (nếu có) của tác giả. Nhưng, cho đến khi tìm được “thủ cảo” đó thì độc giả có quyền tạo dựng cho mình một văn bản lí tưởng nhất, tối ưu nhất. Văn bản chúng tôi xác lập chỉ là một phương án đề xuất với hi vọng đó. Nói về hướng tiếp cận bài thơ, cũng không thể có một tiếng nói cuối cùng cho một tác phẩm văn học đích thực, có giá trị. Đó là một hành trình khám phá. Hướng tiếp cận của chúng tôi cũng là một kiểu khám phá: xuất phát từ tiêu đề bài thơ/ cũng là từ từ ngữ xuất hiện với tần số dày nhất trong tác phẩm, coi đó là “mã khóa” để mở cánh cửa đi vào thế giới nghệ thuật tác phẩm. Nếu có thể giúp chạm tới một trong những “ý tứ” của thế giới đó, thì ấy là một trong những điều lí tưởng của bài viết này./.

Hà Nội, tháng 9/2010 – tháng 9/2011

                                    N.T.T


[1] Trong Nguyễn Công Trứ trong dòng lịch sử, Đoàn Tử Huyến chủ biên, Nxb Nghệ An & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2008.

[2] Nguyên bản Nôm duy nhất ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A.3075, ước chép vào quãng cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.

[3] Trong Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Tân xuất bản, Hà Nội, 1928; Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn hóa, Hà Nội,1958 (soạn chung với Hoàng Ngọc Phách, Trương Chính).

[4] Trong Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1962. Theo Đoàn Lê Giang thì thực chất văn bản trong Việt Nam ca trù biên khảo là theo văn bản của Văn đàn bảo giám (Trần Trung Viên biên soạn), xuất bản lần đầu từ 1926 đến 1938.

[5] Trong Năm thế kỉ văn Nôm người Nghệ, Nxb Nghệ An, Vinh,1994.

[6] Đoàn Lê Giang, Vấn đề văn bản bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2/2006.

[7] Xem Báo cáo đề dẫn, trong Kỉ yếu hội thảo Danh nhân văn hóa Nguyễn Công Trứ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐH Quốc gia Hà Nội và Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Hà Tĩnh, Hà Tĩnh, 2008.

[8] Thư Tân Thành, Thẩm Di, Từ Nguyên Cáo, Trương Tương (cb), Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), Trung Hoa Thư Cục, Thượng Hải, 1947, trang 354.

[9] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 327.

[10] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 676.

[11] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 679.

[12] Lại Văn Hùng. Tác giả Nguyễn Huy Quýnh và mười bài thơ họa thập cảnh Quan Lan sào, Tạp chí Hán Nôm, số 4/2003.

[13] Từ hải (chính tục biên hợp đính bản), trang 676.

[14] Vì thế, cách hiểu “vào nhòng” cũng không phải không có lí.

Một người mù vượt khó làm giàu – PLTP/BS

23 Th6

Từ nguôn vôn vay 3 triệu đông, ngươi cha mù gà trông nuôi con thành người, xây nhà cửa cơ ngơi ổn định. Hiện nay thu

nhập mỗi năm trên trăm triệu đông.

Ông Phan Văn Mẹt, 57 tuổi, ở ấp 8, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre, sinh ra trong gia đình nghèo đông anh em, ngay từ nhỏ đã làm đủ thứ chuyện để phụ giúp gia đình. Năm 15 tuổi, khi đi cuốc khoai mướn, ông bị trái M79 nổ hư hết một mắt phải, mắt còn lại cũng bị ảnh hưởng nên chỉ thấy lờ mờ. Tuy vậy, ông vẫn đi đăng cá, tép và chất chà bắt tôm ở ngoài sông cái (sông Hàm Luông) để giúp đỡ gia đình. Năm 27 tuổi, ông lập gia đình, vợ chồng cất một cái chòi lá gần ngoài sông cái tiếp tục nghề đăng cá. Qua năm sau, vợ chồng ông có cô con gái. Bất ngờ, con mắt còn lại của ông mù hẳn, ông đi lại, làm việc khó khăn hơn nhưng vẫn là lao động chính. Từ sáng đến tối ông quần quật chạy gạo lo bữa cơm gia đình. Trong khi đó, vợ ông tính ít lo, hay tiêu xài, số tiền dành dụm ít ỏi của ông vô những việc không đâu. Hai năm sau, cô vợ bỏ nhà theo người đàn ông khác, để lại đứa con mới ba tuổi, ông một mình lùi lủi làm thuê, sờ soạng bắt cá nuôi con.

Ông Mẹt một thân một mình chăm sóc đàn heo. Hằng ngày ông nạo cơm dừa trộn cám cho heo ăn. Ảnh: Văn Tâm

Khởi nghiệp từ con heo nái

Hơn 10 năm trước, được Hội Người mù huyện cho vay 3 triệu đồng, ông “khởi nghiệp” nghề nuôi heo giống. Số tiền vay ông xây một cái chuồng nhỏ và mua một con heo cái con làm giống. Phần ít tiền còn lại ông để dành mua thức ăn cho heo và dứt khoát không đụng vô. Hằng ngày, ông đi làm thuê, hễ ai mướn chuyện gì bồi vườn, bồi mía, vét mương ở đâu ông cũng làm, vừa kiếm tiền nuôi sống bản thân vừa lo cho đứa con gái học hành. Ngoài giờ làm thuê, ông xách nước dội chuồng heo, nạo dừa khô lấy cơm dừa trộn cám cho heo ăn và chăm sóc tỉ mỉ bầy heo con. Lúc nào rảnh thì ông đi chài tép, bắt cá để phụ thêm cho cuộc sống. Đến lúc con heo đẻ bầy đầu được tám con, ông bán đi bảy còn giữ lại một heo cái con và tiếp tục làm giống. Chăm chút tích lũy dần. Hiện giờ ông có 12 con nái mỗi năm cho ra khoảng trăm heo con.

Ông nói trong niềm vui: “Đời tôi vui nhất là được chăm sóc đàn heo. Nhất là mấy bầy heo con, nếu sơ hở một chút là con heo mẹ nằm lên mình con nào đó một cái là chết toi. Có một lần tôi đi đám giỗ, gặp người bạn ở xa lâu ngày không gặp, vui quá nên uống ít rượu. Bữa đó tôi ngủ quên một lúc, khi tỉnh dậy hoảng hồn vì bỏ bê mấy con heo không biết chúng có sao không. Tôi nghe chúng kêu ỉ ê ngoài chuồng nên vội chạy theo quán tính một mạch ra chuồng rồi mò mẫm từng con một. Thấy chúng vẫn ổn tôi thở phào. Từ đó đến giờ, tôi không bỏ chúng đêm nào”.

Gà trống nuôi con

Anh Nguyễn Văn Bé Hai, gần nhà ông Mẹt, cho biết: “Lúc trước, ở đây có chuyện gì ai cũng mướn anh Mẹt làm hết. Anh Mẹt thật thà, siêng năng, chăm chỉ, làm việc gì cũng không chê vào đâu được. Tuy không nhìn thấy nhưng bồi mía, bồi vườn anh vét bùn dưới mương sạch trơn, trên bờ thì thoa láng bóng trông đẹp con mắt. Còn nói đến chài tép, bắt cá thì anh là số một ở xứ này. Con gái anh có phước, không phải ăn mắm, ăn muối, không mặc đồ rách hay lem luốc như những đứa trẻ nghèo khác. Nó mà đi một mình ra đường, sẽ không ai nghĩ nó là con của người mù gà trống nuôi con như anh Mẹt”.

Con gái anh được học đến tốt nghiệp cấp 3, đã có chồng ở Long An và vẫn thường xuyên về thăm anh.

Anh Trần Văn Chí, người bỏ thức ăn heo cho ông Mẹt, nói: “Thấy anh một mình mù lòa, một số người muốn ngỏ ý giúp đỡ nhưng anh kiên quyết trừ chối. Ngoài việc hỗ trợ về kỹ thuật chăn nuôi ra, anh Mẹt cương quyết không chịu sự giảm giá hay bất kỳ sự giúp đỡ nào khác”.

Khoảng bốn năm trước, dành dụm được gần trăm triệu đồng, ông xây nhà và hoàn tất hết các công đoạn, chỉ duy nhất còn lại cái nền đất do thiếu tiền lót gạch. Anh Chí vận động mấy anh em đại lý thức ăn khác gom góp được 13 triệu đồng đưa cho ông lót nền nhưng ông cũng từ chối. Qua năm sau, ông bán được bầy heo nữa rồi tự mua gạch về lót hoàn tất căn nhà hơn trăm triệu đồng của mình.

Họ đã nói

Ông Mẹt tuy ốm yếu nhưng rất siêng năng và tiếp thu khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi heo rất nhanh. Anh biết cách chăm sóc tốt cho đàn heo và phòng ngừa dịch bệnh kịp thời. Những khi dịch tai xanh xảy ra, đàn heo của anh vẫn khỏe mạnh.

Ông PHAN VĂN NUÔI, Chủ tịch Hội Nông dân xã Minh Đức

***

Trường hợp của anh Mẹt là một người mù đặc biệt nhất tỉnh về cách làm kinh tế. Đây là một con người giàu nghị lực, tấm gương cho xã hội.

Ông NGUYỄN VĂN BÉ TƯ, Chánh Văn phòng Hội Người mù tỉnh Bến Tre

VĂN TÂM

Sau 50 năm, Hoa Kỳ và Việt Nam lại nghiên cứu chung về hải dương học – TS/BS

23 Th6

 

PV
Roger Revelle là một tàu nghiên cứu hiện đại
Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cho biết, tàu nghiên cứu Roger Revelle đang ở thăm Đà Nẵng trong chương trình nghiên cứu chung về hải dương học giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ (ONR). Lần cuối cùng hai nước có nghiên cứu chung trong lĩnh vực này là cách đây 50 năm.
“Khoa học mở rộng kiến thức của chúng ta về thế giới và làm chúng ta hiểu nhau sâu sắc”, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David B. Shear nói. “Chương trình này sẽ tăng cường mối quan hệ giữa cộng đồng khoa học Hoa Kỳ và Việt Nam và cung cấp những thông tin chính yếu để giúp Việt Nam giải quyết những thách thức môi trường cấp bách như biến đối khí hậu”.
“Chúng tôi hy vọng cùng làm việc với các nhà khoa học Việt Nam trên những con tàu nghiên cứu như tàu Revelle để tìm hiểu thêm về những biến đổi động lực học hải dương phức tạp ngoài vùng biển Việt Nam và xung quanh các dòng chảy ra của sông Mê Kông”, Scott Harper, Giám đốc dự án thuộc chương trình ONR nói. “50 năm đã trôi qua kể từ lần cuối cùng hai nước có nghiên cứu chung lớn về hải dương học. Sẽ thật thú vị khi biết được sự thay đổi toàn cầu có ảnh hưởng đến hải dương học không và những điều gì có thể xảy ra trong tương lai”.
Chương trình nghiên cứu hải dương học kéo dài năm năm sẽ tập hợp các nhà khoa học Hoa Kỳ đến từ các trường đại học và các viện nghiên cứu hàng đầu, bao gồm trường Đại học Bang Oregon, Viện Hải dương học Scripps, Đại học Washington, và Viện Hải dương học Woods Hole cùng với các nhà khoa học Việt Nam đến từ Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và các cơ quan, các trường đại học về khoa học khác ở Việt Nam.
Bên cạnh nghiên cứu chung, chương trình sẽ bao gồm các hoạt động đào tạo; trao đổi giữa các sinh viên đại học và các nhà khoa học Hoa Kỳ và Việt Nam; và cùng xuất bản những kết quả nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế có bình luận của giới khoa học.
Tàu Roger Revelle, thuộc sự vận hành của Viện Hải dương học Scripps của trường Đại học California, San Diego, sẽ ở Đà Nẵng từ ngày 22 đến 29/6, thông cáo của Đại sứ quán Hoa Kỳ cho biết.

 

Quốc tế ‘bực mình’ với Hải giám Trung Quốc – BS

23 Th6

Báo Đất Việt – Quốc phòng

Đã 3 năm kể từ ngày Trung Quốc thất bại trong nỗ lực yêu cầu tàu USNS Impeccable của Mỹ rời khỏi khu vực biển Đông.

 

(ĐVO) Đây không phải là lần đầu, cũng không phải lần cuối, các tàu Trung Quốc có hành động “bất lịch sự” trên vùng biển quốc tế. Vậy mà giờ đây, Trung Quốc đang không ngừng phát triển Hải giảm, lực lượng tàu khoác áo dân sự tham gia vào các vụ tranh chấp trên biển.

Ba tuần trước Bộ ngoại giao Philippines đã bày tỏ “sự lo lắng sâu sắc” của mình tới Đại sứ quán Trung Quốc sau khi một hạm đội tàu Trung Quốc được cử đến khu vực bãi đá Scarborough và đe dọa các tàu cá bản địa đánh bắt trong khu vực. Căng thẳng chỉ tạm chấm dứt khi cả 2 nước rút tàu của mình khỏi khu vực tranh chấp vì lý do thời tiết. Một trong những nhân tố tham gia “tích cực” vào vấn đề tranh chấp như vậy chính là Hải giám Tàu của lực lượng này thường là những tàu lớn, có nhiều dáng dấp của tàu chiến Mỹ hồi những năm đầu thế kỉ 20. Trong đó, tàu lớn nhất của lực lượng này chỉ kém tàu chiến USS Caroline 20m chiều dài. Tuy chỉ được trang bị những loại vũ khí hạng nhẹ, nhưng những chiếc tàu này cũng đủ để đe doa các tàu cá và sẽ rất có tác dụng trong trận chiến chống lại các mục tiêu lớn hơn trong tương lai. Tháng 3/2012, báo chí Trung Quốc rầm rộ “khoe” tàu Hải giám đã giám sát thành công những phi vụ khai thác dầu khí trái phép trên vùng biển Hoa Đông, ngoài khơi của quần đảo Senkaku mà nước này tranh chấp với Nhật Bản. Trước đó, tháng 5/2011, tàu của lực lượng này gây rối với tàu thăm dò địa chất của Việt Nam trên vùng lãnh thổ ngoài khơi Việt Nam.

Tàu hải giám Trung Quốc.

 

Tuần trước, The Hindu của Ấn Độ đưa tin một tàu hộ tống INS Shivalik (Foxtrot-47) của Hải quân Ấn Độ rời Philippines đến Hàn Quốc thì nhận được thông điệp từ tàu Trung Quốc rằng: “Chào mừng các bạn đã đến biển Hoa Nam (cách Trung Quốc gọi tên biển Đông)”.

Theo bản báo cáo này thì những tàu Trung Quốc này đã “hộ tống” 4 tàu Ấn Độ trong vòng 12 giờ khi họ đang di chuyển trên 1 trong những tuyến đường biển quan trọng nhất trên thế giới. “Giọng điệu của thông điệp đó vừa có vẻ chào đón, vừa như có ý nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi đang đi vào vùng biển của Trung Quốc”, một quan chức đã nói với tờ The Hindu như vậy. Động thái đầy hung hăng này khiến nhiều quan chức Hải quân Ấn Độ ngạc nhiên bởi sắp tới, cả 2 nước sẽ tiến hành những cuộc đối thoại hải quân lần đầu tiên và sau đó có thể đẩy mạnh hợp tác thông qua những cuộc tập trận chung chống hải tặc tại vùng vịnh Aden, Ấn Độ Dương.

Nhiều chuyên gia thắc mắc rằng rồi chuyện gì sẽ đến sau đây? Với số lượng lớn tàu mới đưa vào sử dụng của hải quân và hải giám, Trung Quốc đã hoạch định những gì cho tương lai?

Theo The Telegraph, đến năm 2015, Hải giám Trung Quốc có khoảng 16 máy bay, 350 tàu mới và đến năm 2020, lực lượng này sẽ được bổ sung thêm khoảng hơn 15.000 người. Trong những năm tới, lực lượng này sẽ có khả năng tiến hành nhiệm vụ giám sát trên toàn khu vưc biển Đông. Lực lượng này đã theo dõi hải trình của khoảng 1.303 tàu nước ngoài và 214 máy bay trong năm 2010. Một chuyên gia hải quân Mỹ cho rằng với số lượng 350 tàu, bằng tổng số tàu đang hoạt động của Hải quân Mỹ, Hải giám Trung Quốc sẽ có khả năng theo dõi và hộ tống hầu hết số tàu đi lại trong khu vực”.

>> Chùm ảnh Trung Quốc hạ thủy tàu 5.000 tấn cho Hải giám >> Hải giám Trung Quốc tiếp nhận tàu 5.000 tấn >> Trung Quốc sắp triển khai ồ ạt tàu hải giám ở Biển Đông

Hiền Thảo

Đến thăm khu nhà xã hội lâu đời nhất thế giới – PHANBA/BS

23 Th6

Đến thăm khu nhà xã hội lâu đời nhất thế giới

Nhà ba phòng 60 mét vuông, tiền thuê là một đồng Gulden vàng của vùng sông Rhein cho một năm. Thêm vào đó, mỗi ngày 3 lần phải cầu nguyện cho linh hồn của người chủ nhà.

Khu nhà xã hội Fuggerei

Khu nhà xã hội Fuggerei. Ảnh: Phan Ba

Vâng, thật ra còn phải là người Công giáo của thành phố Augsburg ở miền Nam của nước Đức, có hoàn cảnh khó khăn và thanh danh thật tốt thì mới vào ở được trong một “căn hộ nhân từ” đó. Nhược điểm: tiền điện nước phải tự trả và ai về nhà lúc đã quá nửa đêm thì phải thiếu nợ người gác cổng một euro. Ngoài ra lúc nào cũng có khách du lịch dòm ngó qua cửa sổ.

Jakob Fugger Giàu (1459-1525) và hai anh em của ông ấy là Ulrich và Georg đã hiến khu nhà xã hội lâu đời nhất thế giới này. Có phải chăng dòng họ Fugger cảm thấy lương tâm cắn rứt vì họ không những chỉ buôn bán vải vóc với gia vị, kim loại bạc và đồng mà còn buôn cả nô lệ nữa? Chỉ có điều chắc chắn là khi Jakob Fugger bắt đầu có kế hoạch xây dựng khu nhà xã hội Fuggerei thì người ta đã gọi ông là Jakob Giàu và khi nhà xây dựng Thomas Krebs bắt đầu công trình vào năm 1512 thì tiền bạc không hề thiếu.

Tượng Jakob Fugger trong khu nhà Fuggerei

Tượng Jakob Fugger trong khu nhà Fuggerei. Ảnh: Phan Ba

Năm 1532 đã có 52 căn nhà nối tiếp nhau trật tự trong các ngõ hẻm, giữa những quảng trường và vườn hoa nhỏ, bao gồm 147 căn hộ. Bị phá hủy phần lớn trong Đệ nhị thế chiến, khu nhà xã hội Fuggerei được tái xây dựng và mở rộng thêm một phần ba sau đó. Trong một ngõ, Mittlere Gasse, có ngôi nhà duy nhất còn giữ được nội thất nguyên thủy – trưng bày như một nhà bảo tàng cuộc sống trước đây 500 năm.  200 dân cư ngày nay của khu nhà xã hội này sống tiện nghi hơn thời đấy rất nhiều.

Một phòng bếp trong khu nhà xã hội cách đây 500 năm

Một phòng bếp trong khu nhà xã hội cách đây 500 năm. Ảnh: Phan Ba

Jakob Fugger Giàu là người giàu nhất và nhiều quyền lực nhất trong thế kỷ 16. Jakob và Anton, người kế thừa ông ấy, đã đút lót các vua chúa và hoàng đế, đúc tiền cho Tòa Thánh Vatican, chi trả cho Đội vệ binh Thụy Sĩ của Tòa Thánh, tài trợ cho các cuộc chinh chiến của Hoàng đế Đức, chi tiền để Karl được bầu làm hoàng đế. Họ thống trị các thị trường bông vải, hàng vải vóc và gia vị, buôn bán khắp châu Âu, Đông Ấn Độ, châu Phi và Tân thế giới. Anton Fugger cũng vẫn là người giàu nhất thế giới theo thước đo của ngày nay.

Dòng họ Fugger bắt đầu suy sụp trong cuộc Chiến tranh 30 năm (1618-1648). Song ngày nay vẫn còn một ngân hàng Fugger và con cháu vẫn còn quản lý nhiều lâu đài và tài sản – và vẫn còn tiếp tục duy trì khu nhà xã hội Fuggerei. Sau 500 năm tồn tại, giá thuê nhà vẫn còn là một đồng Gulden (0,88 euro cent).

Bài và ảnh: Phan Ba

Bấm vào đây để xem thêm hình

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ TẾT ĐOAN NGỌ (5/5 ÂM LỊCH) – NXD

23 Th6

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ TẾT ĐOAN NGỌ (5/5 ÂM LỊCH)

 Chuyện về Tết Đoan Ngọ
Đỗ Đức
 Ngày mai mồng 5 tháng 5, gọi là tết Đoan Ngọ. Những ngày này trời thường oi nồng. Trước đây vào ngày này, ông lang vườn thường dậy trước 5h sáng đi hái cây thuốc. Đến chỗ có cây thuốc phải căm hơi (nín thở) cách cây thuốc 7 bước chân. Hái cây thuốc xong rồi ra 7 bước mới được thở. Làm như thế thì thuốc khi dùng mới hiệu nghiệm.
Có lần tôi đã thấy bố cắt về cả một lượm lúa, bó gọn rồi gác gác bếp. Hạt thóc lấy ngày hôm ấy được sao rang cháy xém rồi đun sôi làm nước uống chữa cảm sốt.
Những nhà có cây ăn quả như mít, bưởi, dâu da… đã lớn mà chưa ra hoa trái người ta thường cho trẻ con sắp sắn cái vồ gỗ để canh gốc. Tinh mơ, đứa lặng lẽ trèo lên cây, đứa kia vác vồ lẩm bẩm câu chú chúng tự nghĩ ra: Dâu dả dâu da, ra quả cho bà, không bà đánh chết...Mồm nói, tay vung vồ đập mạnh gốc cây. Đứa trên cây ra giọng sợ hãi: xin bà nhẹ tay, năm nảy năm nay, con xin ra quả.
Tưởng chuyện đùa nhưng khảo gốc khá hiệu nghiệm. Thường là sau khi bị gõ trầy da rách vỏ thì năm ấy cây trổ hoa. Nhà anh rể tôi có cây dâu da trên sáu năm không ra quả bị hai đứa con khảo vào ngày 5 tháng 5, thế là cuối hạ hoa trổ dày như lộc vừng. Năm ấy bói mà có đến dăm chục kí quả. Những năm tiếp theo cây ra quả đều đều. Nhiều nhà cũng đi khảo mít bưởi khế đều hiệu nghiệm.
Lời hứa của đứa bé trèo trên cây giả làm lời của cây hứa với chủ nhân ở gốc xem ra hiệu nghiệm hơn lời hứa của các ngài bộ trưởng trước Quốc hội.
Với dân gian, cây cối cũng có chữ tín dù nó chẳng được ai dạy dỗ làm người!
Nguồn: FB Đỗ Đức.

Bài đọc thêm:
Thử diệt mụn cơm (mụn cóc) vào ngày 5-5
Nhân Hòa
Ngày nay, việc chữa trị mụn cơm (mụn cóc, vùng tôi gọi là ránh) trên người đã có nhiều phương cách hiệu nghiệm, nhưng cũng không quá rẻ và đơn giản. Cách đây trên 5-60 năm thì không. Hồi ấy, ai mách thế nào thì làm thế hoặc tự sáng kiến!.
Tôi bị một mụn cơm (ránh) ở ngón giữa tay trái, phía ngón áp út. Rất khó chịu và bất tiện. Nào là dùng dao cắt gọt, dùng hạt tía tô cuốn giấy đốt, nào là bôi nhựa pin… Đau lặng người, nhiễm trùng, sưng vù cả tháng. Đâu vẫn hoàn đấy. Rồi thì mụn mẹ đẻ mụn con lốm đốm trên các ngón khác và mu bàn tay.
Một ngày mùa Xuân, có một bà bán chè búp dong ngang qua. Ông tôi xem hàng để mua. Tôi tò mò ngồi cạnh hóng hớt. Tình cờ bà bán chè thấy cái ránh (mụn cơm) trên tay tôi, bà bảo: đến đúng ngày 5 tháng 5 này, cháu cho tay vào rá đỗ (đậu) xanh, xát đi xát lại một lúc. Đừng cho ai biết. Khỏi đấy!. Tôi đáp, thế ạ!, bụng thì chả tin lắm. Đã có không ít người mách, và tôi đã không ít lần chịu đau, chịu cháy khét. Tuy thế vì nó đơn giản với vùng quê có bãi bồi trồng đỗ (đậu), lại vô hại, tôi lẳng lặng lưu tâm, thử nghiệm. Đến đúng ngày 5 tháng 5 (Âm lịch), tôi vào buồng khép hờ cửa, sục tay vào rá đỗ, (hình như khoảng nửa cân), xát lấy xát để một lúc, khoảng dăm mười phút rồi thôi. Đúng là không ai biết, và tôi làm xong cũng quên khuấy. Bẵng đi một thời gian (chả nhớ bao lâu), chả hiểu sao, tôi không hề nghĩ gì đến cái mụn cơm. Rồi một ngày xòe tay ra nhìn, mụn cái, mụn con lặn hết sạch. Gần 60 năm qua cũng không thấy cái nào mọc lên.
Ngày 5 tháng 5 (Âm lịch) ở ta là ngày ‘giết sâu bọ’, ngày xưa thuộc loại Tết lớn. Ở Trung quốc có Tết Đoan Ngọ, gắn với sự tích Khuất Nguyên nước Sở, can vua u tối không nổi, ôm đá nhảy xuống sông Mịch La chết chìm. Ngày trùng nhau nhưng cội nguồn chả có liên đới gì. Dân ta xuất phát từ trải nghiệm của chính mình. Giới nhà Nho làm sang, thích gọi nó theo tên Tàu Đoan Ngọ. Trong dân gian có nhiều truyền khẩu về hái thuốc. Đại thể, các loại cây thuốc, lá thuốc (dâu, ngải cứu, sen, vông, mã đề, cối xay…) hái vào lúc mặt trời mọc ngày 5-5 là tốt nhất vì tích lũy được cả Âm Dương trời đất. Có tài liệu lại nói, hái thuốc vào giờ Ngọ là tốt nhất vì Dương khí mạnh nhất, công lực mạnh nhất. Chưa làm thực nghiệm, không dám khẳng định đúng sai. ‘Len lét như thằn lằn mồng năm’ thì có lẽ đúng rồi. Ngày ấy, tôi chả thấy con rắn hay thằn lằn nào phơi nắng. Chúng trốn biệt tăm. Việc tôi xát đỗ xanh diệt sạch mụn cơm vào ngày 5-5 là sự thật, nhưng không tuyệt đối hóa, không loại trừ các yếu tố khác. Ví dụ, biết đâu đó là kết quả tích lũy của bôi nhựa pin, đốt hạt tía tô… tôi đã làm trước đó. Rồi có nhất thiết phải xát đỗ xanh vào mụn cơm đúng ngày 5-5? và có nhất thiết phải không ai biết?. Mọi kết luận đều phải thực nghiệm khoa học, công phu, không thể cẩu thả như mấy ông…, thực nghiệm đâu hỏng đấy nhưng vẫn khẳng định, cách làm của họ là tốt nhất.
Tôi thấy kinh nghiệm này không nguy hại, xin ghi lại, nếu ai tò mò thì thử nghiệm.
Nhân Hòa.
*Bài do tác giả gửi trực tiếp cho Tễu-Blog. ___________________
Tễu:  Liên quan đến Tết Đoan Ngọ, Tễu được nghe kể Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có nghiên cứu về Tháp Bút và Đài Nghiên ở Hồ Hoàn Kiếm: hàng năm, cứ đúng giờ Ngọ (12h00) thì bóng ngọn Tháp Bút sẽ chấm vào giữa Đài Nghiên. Và mỗi năm chỉ một khoảnh khắc ấy.
Tễu chưa tới Tháp Bút vào lúc 12h ngày Đoan Ngọ, và cũng chưa tìm được đoan văn, bài báo hoặc sách có công bố nghiên cứu ấy của Cụ Hoàng Xuân Hãn. Nếu có vị nào biết được, xin chỉ giùm! Đa tạ! Đa tạ!

Lục bát Cung Trầm Tưởng, một đóng góp lớn cho văn học Wednesday, June 20, 2012 1:50:36 PM – BS

23 Th6
Lục bát Cung Trầm Tưởng, một đóng góp lớn cho văn học Wednesday, June 20, 2012 1:50:36 PM


Bookmark and Share

 Du Tử Lê

Giữa thập niên (19)90, trong một buổi ra mắt sách ở quán café Tao Nhân, nằm trên đường Westminster, thành phố Garden Grove, miền Nam tiểu bang California, mở đầu phần phát biểu của mình, cố nhà văn Mai Thảo đã làm một so sánh chói gắt về sự xuất hiện của tác giả thi phẩm được giới thiệu trong đêm, với sự xuất hiện của hai tác giả nổi tiếng rất sớm, trong sinh hoạt văn chương miền Nam, trước tháng 4, 1975.

Từ trái qua: Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy, Ngy Cao Uyên. (Hình phamduy.com)

 

Ðại ý tác giả “Ta thấy hình ta những miếu đền” nói rằng, vào những năm cuối thập niên (19)50, có hai tiếng thơ đã tạo chấn động vang dội, ngay khi những bài thơ thứ nhất.

Trừ những người trẻ, tham dự buổi giới thiệu tác phẩm vừa kể, vốn không có cơ hội biết nhiều về sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam những năm (19)50, (19)60; kỳ dư, các tân khách còn lại, khi nghe nhắc tới Cung Trầm Tưởng, đa số đã liên tưởng tới thơ bốn chữ, năm chữ và, lục bát của họ Cung. (1)

Liên tưởng tức thì này, không có nghĩa tất cả những vị đó đều đọc, nhớ thơ Cung Trầm Tưởng qua tạp chí Sáng Tạo. Họ biết, nhớ, thuộc và, yêu mến tiếng thơ này, qua một số ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ thơ Cung Trầm Tưởng. Thí dụ, ca khúc “Mùa thu Paris,” hay “Tiễn em” (Phạm Duy đổi từ nhan đề gốc “Chưa bao giờ buồn thế”…

Nếu ký ức chưa tệ hại đến mức phản bội tôi thì, tôi nhớ đó là năm 1959, giữa bối cảnh hiu hắt, “thiếu niềm tin” của độc giả trong lãnh vực thi ca, thi phẩm “Tình Ca” của Cung Trầm Tưởng ra đời.

“Tình Ca” của Cung Trầm Tưởng chỉ có tổng cộng 13 bài mà, hết 6 bài được nhạc sĩ Phạm Duy soạn thành ca khúc; với bìa, phụ bản rực rỡ, mới lạ của họa sĩ Ngy Cao Uyên (cũng về từ Pháp, như Cung Trầm Tưởng,) đã là một xuất hiện “lộng lẫy,” như khi lục bát Cung Trầm Tưởng xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo vậy. (2)

“Tình ca” Cung Trầm Tưởng còn “lộng lẫy” hơn nữa trong đêm ra mắt ở nhà hàng Anh Vũ. Với con số 3+1 là Cung Trầm Tưởng, Ngy Cao Uyên, Phạm Duy và, tiếng hát Thái Thanh, buổi ra mắt tựa dự báo một bình minh khác, cho sinh hoạt thi ca miền Nam, thời đó.

Không biết tôi có quá lời chăng, khi nói rằng, đó là thời điểm họ Cung “đánh cắp” tất cả mọi ngọn đèn rực rỡ nhất của tiền trường sân khấu sinh hoạt thi ca miền Nam. Tất cả mọi ngợi ca đổ dồn về ông, như nước chảy về chỗ trũng. Những vòng nguyệt quế tìm đến ông, tựa đó là điều gì không thể tự nhiên hơn…

Cùng lúc, hiện tượng hay phong trào khát khao có được một lần được thấy “mùa thu Paris” (như trong thơ Cung Trầm Tưởng,) trở thành cơn sốt trên 40 độ C. trong tâm tưởng của nhiều người trẻ thành phố:

 

Mùa thu đêm mưa

Phố cũ hè xưa

Công trường lá đổ

Ngóng em kiên khổ phút, giờ

 

Mùa thu âm thầm

Bên vườn Lục-Xâm

Ngồi quen ghế đá

Không em buốt giá từ tâm

 

Mùa thu nơi đâu?

Người em mắt nâu

Tóc vàng sợi nhỏ

Mong em chín đỏ trái sầu…

(Trích “Mùa Thu Paris, CTT)

 

Hay ước nguyện cuối cùng trước khi nhắm mắt, không chỉ của giới trẻ mà, của rất nhiều văn nghệ sĩ thời đó là, một lần được đứng dưới những ngọn đèn vàng của ga Lyon! Ðược thấy sông Seine (qua thơ Nguyên Sa,) hay được đặt chân vào một quán rượu ở Paris. Khi Paris qua thơ của hai nhà thơ này trở thành những mơ ước khôn cùng…

Paris càng trở nên quyến rũ hơn nữa, khi ca khúc “Tiễn em” phổ cập quần chúng:

 

Lên xe tiễn em đi

chưa bao giờ buồn thế

trời mùa Ðông Paris

suốt đời làm chia ly

(……)

Ga Lyon đèn vàng

tuyết rơi buồn mênh mang

cầm tay em muốn khóc

nói chi cũng muộn màng

(……)

khóc đi em. khóc đi em

hỡi người yêu xóm học

để sương thấm bờ đêm…”

(Trích “Chưa bao giờ buồn thế,” CTT)

 

Những hình ảnh lãng mạn, mới mẻ như những khối thuốc nổ cực mạnh, gây chấn thương nặng nề tâm thức người nghe/đọc, như “Người em mắt nâu / Tóc vàng sợi nhỏ,” hay “Ga Lyon đèn vàng / tuyết rơi buồn mênh mang”… đã nhức nhối “bám trụ” trong sâu, kín tâm tư của nhiều người.

Hoặc chỉ với bốn chữ “người em xóm học,” lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Việt Nam, tự thân cũng đã đủ làm thành cơn bão mang tên những mơ ước nghìn trùng, hạnh ngộ hãn hữu, của những người một đời chưa bước khỏi biên cương đất nước.

Nhưng với văn giới miền Nam thời đó, đỉnh điểm tài hoa thi ca Cung Trầm Tưởng vẫn là những bài thơ lục bát của ông.

Nói tới lục bát Cung Trầm Tưởng, tôi không rõ họ Cung có biết, những người bạn một thời Sáng Tạo, đã gọi ông một cách yêu mến là …“Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới”?

Người kể lại chuyện này là cố nhà văn Mai Thảo. Sinh thời, trong những cuộc họp mặt văn nghệ giới hạn tại nhà riêng một vài thân hữu, dù không ai hỏi, chủ nhiệm Sáng Tạo vẫn thường nhắc tới những bằng hữu trong nhóm Sáng Tạo của mình. Nhất là những người bạn còn trong tù. Hơn một lần, ông kể:

“…Anh em Sáng Tạo thích lục bát Cung Trầm Tưởng lắm. Dù nó chỉ làm được ít bài rồi thôi. Chúng tôi từng gọi nó là ‘Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới’…”

Mọi người lắng nghe. Bất ngờ. Thích thú. Cũng trong bất ngờ, tôi hỏi tác giả “Ðêm giã từ Hà Nội,” khi anh em Sáng Tạo “sắc phong” cho Cung Trầm Tưởng là một thứ “Bà Huyện Thanh Quan thời đại mới” thì họ y cứ trên những tương đồng nào, giữa hai cõi giới thi ca đó?

Vẫn nụ cười móm mém hóm hỉnh và, cái nheo mắt tinh quái, cố nhà văn Mai Thảo lúc lắc đầu, trước khi trả lời:

“…Ờ… thì anh em thấy lục bát của nó mượt mà, óng ả như nhung lụa vậy mà…”

Có thể tác giả “Mười đêm nhà ngọc” không chờ đợi nơi tôi một câu hỏi, như thế! Như số anh em có mặt buổi tối vừa kể, cũng không chờ đợi nhà văn Mai Thảo trả lời, như vậy!

Tôi không biết số bằng hữu hiện diện trong họp mặt kia, cảm nhận ra sao về lục bát Cung Trầm Tưởng. Tuy nhiên, tôi nghĩ, ai đó, nếu có một kiến thức căn bản về thể thơ lục bát, cùng sự hiểu biết thấu đáo về những biến chuyển, vận hành trải qua nhiều giai đoạn của thể thơ truyền thống này, sẽ phải nhìn nhận rằng, đóng góp vào sự đổi mới lục bát của Cung Trầm Tưởng, những năm (19)50 là một đóng góp lớn cho văn học miền Nam, nói riêng, Việt Nam, nói chung.

Du Tử Lê

(Kỳ sau, “Phác họa mấy thời kỳ lục bát và, thơ Cung Trầm Tưởng”)

 

Chú thích:

1. Theo tuyển tập “Cung Trầm Tưởng một hành trình thơ (1948-2008)” do nhà Tiếng Quê Hương, Hoa Kỳ, ấn hành 2012 thì, nhà thơ Cung Trầm Tưởng tên thật là Cung Thúc Cần, sinh ngày 28 tháng 2, 1932 tại Hà Nội. Ông là cựu sĩ quan cấp tá của quân chủng Không Quân VNCH cũ. Sau 10 năm tù cải tạo và 3 năm bị quản chế, ông cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1993.

2. Họa sĩ Ngy Cao Uyên, tên thật Nguyễn Cao Nguyên, tốt nghiệp ngành Cơ Khí Không Quân tại Pháp, như Cung Trầm Tưởng. Ông là chủ tịch đầu tiên của Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, Saigon, 1966. Ngy Cao Uyên hiện cư ngụ tại tiểu bang Virgina, Hoa Kỳ.

%d bloggers like this: