Lưu trữ | 10:55 Chiều

Tư liệu quý liên quan đến Phan Thanh Giản NGUYỄN THÔNG / BS

24 Th6

Tư liệu quý liên quan đến Phan Thanh Giản

Lời giới thiệu: Sau khi dư luận lên tiếng phê phán kịch liệt cuốn sách Danh nhân và thời đại (NXB Đồng Nai) bịa đặt, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ danh nhân, nhất là xúc phạm nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, đã có nhiều bài báo làm rõ vụ việc. Một người bạn tôi ở LB Nga, nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng cũng rất bức xúc. Anh gửi cho tôi một tư liệu quý của nhà nghiên cứu Trần Giao Thủy (Pháp) về Đoàn sứ giả Việt Nam tại Paris năm 1863, trưởng đoàn (chánh sứ) là cụ Hiệp biện đại học sĩ Phan Thanh Giản.
Về nhân vật nổi tiếng vùng Nam kỳ này, lịch sử đương đại đã có sự nhìn nhận lại để đánh giá đúng đắn, khách quan (sau bao quy chụp một cách hồ đồ, cố ý, nhất là những năm 60-70 thế kỷ trước ở miền Bắc). Tôi nghĩ rằng cái gì của lịch sử phải trả lại cho lịch sử, mà việc đầu tiên là khôi phục lại tên đường Phan Thanh Giản tại những đô thị lớn hoặc ở quê hương ông (thị xã Vĩnh Long). Điều này, chính quyền Sài Gòn trước kia rõ ràng tiến bộ hơn chính quyền cộng sản hiện thời. Nguyễn Thông
Đoàn sứ giả Việt Nam tại Paris năm 1863 TRẦN GIAO THỦY

Năm 1863, vua Dực Tông (Tự Đức) cử quan Hiệp biện Đại học sĩPhan Thanh Giản làm Chánh sứ sang Pháp thương nghị về việc xin chuộc ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường đã nhường đứt cho Pháp năm trước đó trong khoản 2, Hòa ước Nhâm Tuất 1862.
Trong dịp này, rất một số nhân vật của đoàn sứ giả Việt Nam có ảnh chụp tại Paris. Có lẽ đây là lần đầu tiên một đoàn ngoại giao nước Việt Namđược chụp ảnh; những hình ảnh này mang tính khoa học nhiều hơn là ngoại giao hay chính trị. Hình chụp quan chánh sứ Phan Thanh Giản, tương đối khá phổ quát trong sách in cũng như trên mạng. Bài viết sau đây nhằm giới thiệu môt số hình ảnh trong bộ ảnh đã số hóa của Thư viện Quốc gia Pháp. Đây là một phần ảnh chụp của tác giả Jacques-Philippe Potteau trong Bộ ảnh Nhân chủng học do Thư viện ảnh của Viện bảo tàng Nhân loại (Paris) phát hành trong khoảng 1860-1869. Đa số trong năm trăm tấm do Jacques-Philippe Potteau chụp là ảnh bán thân chụp nghiêng và chụp trước mặt. Một số nhỏ là ảnh chụp người mặc quốc phục hay triều phục bản xứ.
Về tác giả: Jacques-Philippe Potteau là một nhà tự nhiên học thuộc Bảo tàng Lịch sử tự nhiên tại Paris. Tuy không phải là người chụp ảnh chuyên nghiệp, ông đã thuyết phục được viện bảo tàng cho phép lập một phòng chụp ảnh ở khu Vườn Thực vật. Tại đây Jacques-Philippe Potteau đã bắt tay vào việc thực hiện bộ ảnh nhân chủng học; ông chụp ảnh tất cảnhân viên của các đoàn sứ giả viếng thăm Paris và Viện Bảo tàng. Bắt đầu từ năm 1861 đến 1862 Jacques-Philippe Potteau ghi lại hình ảnh của các đoàn sứ giả từ Siam (nay là Thái Lan), Nhật Bản. Đến năm 1863, Jacques-Philippe Potteau đã ghi lại hình ảnh một số nhân vật trong đoàn sứ giảViệt Nam tại Paris mà chánh sứ là Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản.
Ngoài hình ảnh của Chánh sứ Phan Thanh Giản, trong bộ ảnh chụpđoàn sứ giả Việt Nam còn có Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản. Bộ ảnhđã số hóa này gồm 47 khung chụp các nhân vật trong đoàn sứ giả Việt Nam năm 1863 tuổi từ 17 đến 75 thuộc nhiều thành phần, từ học sinh, lính hầu, người giúp việc, đến các quan văn võ từ hàng thất phẩm đến nhất phẩm triều đình. Đặc biệt là những tấm hình vợ, con trai và con gái của một đại quan triều Gia Long là ông Philippe Vanier (1762-1842), một sĩ quan Hải quân Hoàng gia Pháp.
Một số hình trong tập ảnh Đoàn sứ giả Việt Nam tại Paris, Pháp (1863)
 
 PPHAN THANH GIẢN
(xem tiếp phần dưới, do lỗi kỹ thuật, chưa xóa được khoảng trống)
 
 PHẠM  PHÚ THỨ

Chú thích ảnh theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.

1.Chánh sứ đoàn sứ giả Việt Nam, Phan Thanh Giản, Hiệp biện Đại học sĩ, Kinh lược sứ Nam Kỳ, 68 tuổi, quê ở Vĩnh Long. 2. Phó sứ đoàn sứ giả Việt Nam Tả tham tri bộ Lại Phạm Phú Thứ, 44 tuổi, quê ởQuảng Nam, quan văn, Tòng nhị phẩm. 3. Bồi sứ đoàn sứ giả Việt Nam Án sát sứ tỉnh Quảng Nam Ngụy Khắc Đản, 48 tuổi, quê Nghệ An, quan văn, Tòng tam phẩm. 4. Quan văn, Chánh thất phẩm bộ Hình Hàn Tế [Trần Tề] 39 tuổi, quê ở Nam Định 5. Thừa vụ lang bộ Lại Tạ Hữu Kế, 50 tuổi, sinh tại Huế, quan văn, Chánh lục phẩm. 6. Quan văn Hồ [Ngô] Văn Nhuận, 42 tuổi. 7. Quan võ Hồ Văn Huân, 50 tuổi 8. Phòng ngự sứ Nguyễn Hữu Thần, 30 tuổi, sinh tại Huế, quan võ, Tòng ngũ phẩm. 9. Quan văn Chánh thất phẩm bộ Lại Phạm Hữu Độ, 31 tuổi, quê ở Quảng Bình. 10. Võ công đô úy Lương Văn Thể (Thái), 43 tuổi, quê ở Quảng Nam, quan võ, Tòng ngũ phẩm. 11. Michel Vanier, 51 tuổi, sinh tại Huế, con của bà Sam Diam (?) và ông Philippe Vanier, đại quan triều Gia Long. 12. Nho sĩ Quảng Nam tên Tân, 30 tuổi. 13. Bà Sam Diam, 75 tuổi, con quan, mẹ của ông Michel, vợ (góa) của ông Philippe Vanier 14. Bà Marie Vanier, 40 tuổi con bà Madeleine Seu Dong và ông Philipple Vanier. 15. Hạ sĩ Nguyên, 36 tuổi, quê ở Thừa Thiên, tóc dài 1m58. 16. Ông Hiếu, 45 tuổi, sinh tại Huế, trong quân phục của lính hầu.
Nhận xét
Kỹ thuật chụp ảnh vào cuối thế kỷ 19 vẫn còn ở thời kỳ phôi thai – phương pháp chụp ảnh bằng collodion mới phát triển trong những năm 1850; như thế, các tác phẩm của Jacques-Philippe Potteau có thể xem như những tấm hình chụp đầu tiên và còn lưu lại, của quan viên triều đình nhà Nguyễn ở cùng giai đoạn lịch sử. Tập ảnh đoàn sứ giả của Việt Nam năm 1863 tại Paris cho thấy một số chi tiết về nhân dạng, quốc phục, lễ phục, quân phục, và triều phục của Việt Nam lúc đó. Trước ngực triều phục của quan văn có thêu hình chim (cò, hạc), và ngực áo của quan võ thêu hình con hổ không như John Crawfurd tưởng lầm là con lợn rừng như đã ghi trong “Journal of an Embassy from the General Governor of India to the Courts of Siam and Cochi-China; exhibiting a View of the Actual State of those Kingdoms”, năm 1928.
Thành phần đoàn sứ giả năm 1863 đa số là quan viên người miền Trung hay ở kinh thành, ở nhiều phẩm trật (từ thất phẩm đến nhất phẩm cả văn giai và võ giai), chuyên ngành khác nhau (bộ Lại, bộ Hình, nho sĩ) và cả người giúp việc, lính hầu cận.
Một điểm không được tác giả Jacques-Philippe Potteau ghi chú là vai trò và chức vụ của ba nhân vật thuộc gia đình ông Philippe Vanier. Trong tập ảnh này, Michel Vanier là người Việt Nam duy nhất mặc âu phục. Gia đình ông Vanier tham gia với đoàn sứ giả Việt Nam là điểm đáng chú ý vì Philippe Vanier, vài năm sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, đã cùng bạn là Jean-Baptiste Chaigneau Nguyễn Văn Thắng về lại Pháp (1824). Theo Mark W. McLeod, trong The Vietnamese response to French intervention, 1862–1874, trang 210 (1991) thì Jean-Baptiste Chaigneau Nguyễn Văn Thắng có một con trai hai dòng máu Viêt-Pháp tên Michel Duc Chaigneau (hay Nguyễn Văn Đức), người đã có ảnh hưởng đến chuyếnđi của đoàn sứ giả Việt Nam sang Pháp năm 1863. Nguyễn Văn Đức hẳn nhiên biết Michel Vanier và Marie Vanier vì cha họ là bạn thâm giao cùng sống tại Việt Nam và làm quan dưới triều vua Gia Long, và cảhai đều có vợ người Việt Nam.Đây, The French Connection, có thể chính là lý do tại sao gia đình của Philippe Vanier có hình chụp trong tập ảnh của đoàn sứ giả Việt Nam.
Philippe Vanier tên tiếng Việt là Nguyễn Văn Chấn (1762-1842), được vua Gia Long trao quyền chỉ huy tàu chiến Đồng Nai, Bồng Thước, Phi Phụng. Ông Vanier sau đó được thăng chức Khâm sai chưởng cơ, tước Chấn Oai hầu (quan võ, Tòng nhị phẩm), và trở về Pháp vào năm 1824. (theo Nguyễn Công Tánh, Việt sử Tân khảo, trang 953. 2003). Theo Trần Tuyết Nhung và Anthony Reid thì ông Vanier có một người vợ Việt Nam theo đạo Ki-tô tên là Madeleine Seo Dong (Việt Nam: borderless histories, trang 16. University of Wisconsin Press. 2006). Hai người có vài người con trong đó có bà Marie Vanier như tác giả Potteau đã chú. Bà Madeleine Seo Dong mất tại Lorient ngày 6 tháng tư, 1878 (Salles, André (2006). Un Mandarin Breton au service du roi de Cochinchine, trang 202, Les Portes du Large). Tuy nhiên, theo như ghi chú của Potteau thì ông Philippe Vanier Nguyễn Văn Chấn còn có một người vợkhác là bà Sam Diam (hình số 13), mẹ của Michel Vanier. Năm 1863, bà Sam Diam 75 tuổi: bà sinh năm 1788, nhỏ hơn ông Nguyễn Văn Chấn 26 tuổi. Ông Chấn và bà Madeleine Seo Dong sinh bà Marie năm ông 61 tuổi. Ông Chấn và bà Sam Diam sinh ông Michel năm ông Chấn 50 tuổi.
Theo Nguyễn Duy Oanh trong Chân dung Phan Thanh Giản (Bộ Văn Hóa Giáo dục và Thanh niên, 1974) thì Đoàn sứ giả Việt Nam sang Pháp năm 1863 gồm tất cả 63 người. Trong danh sách đó không có tên hai con và vợ của Philippe Vanier; cũng trong tập ảnh này, tác giả lầm lẫn khi kể là thành viên Sứ đoàn Việt Nam hai học sinh trường Giám mục d’Adran: một là là Trần Văn Luông (Trần Tử Long), 17 tuổi, sinh ở Sài Gòn, con trai của Trần Tử Ca -Tri huyện Bình Long (Hóc Môn ngày nay), hai là Simon Của, 18 tuổi, người miền Nam, cùng thông ngôn hạng hai Petrus Nguyễn Văn Sang, và người hầu Pedro Trần Quang Diệu. Đây là 4 trong 9 người trong phái bộ Pháp của Cochinchine (Nam Kỳ)sang Paris cùng lúc nhưng không thuộc Sứ đoàn Phan Thanh Giản. Những người còn lại trong phái bộPháp của Cochinchine (Nam Kỳ), không có hình trong tập ảnh, là các ông Petrus Trương Vĩnh Ký – thông ngôn hạng nhất, Tôn Thọ Tường – nho sĩ hạng nhất, Phan Văn Hiếu – nho sĩ hạng nhì, và 2 người giúp việc khác dưới sự hướng dẫn của hai sĩ quan hải quân người Pháp biết nói tiếng Việt là trung tá Gabriel Aubaret và trung tá Henri Rieunier.
Chuyến đi sứ sang Pháp bắt đầu ngày 27.6.1863 từ Huế; Sứ đoàn rời Sài Gòn ngày 4.7 bằng tàu Européen đến Suez (Egypt) ngày 17.8 đi xe lửađến Alexandria và ở lại đến cuối tháng 8 lên tàu Labrador sang Toulon, qua Marseille trước khi đến Paris vào ngày 13.9. Sau gần hai tháng chờ đợi, ngày 5.11 Sứ đoàn Việt Namđược Đại đế Napoleon III tiếp tại điện Tuileries. Sứ đoàn Phan Thanh Giản sauđó ghé Tây Ban Nha (Spain) thương thảo 12 ngày, từ 10-22.11.1863, với chính phủtại đây. Trên đường về nước sứ đoàn đã ghé lại Ý. Ngày 18.3.1864 sứ đoàn về đến Sài Gòn và có mặt tại kinh đô sau đó 10 ngày.  Chín tháng công du, sứ đoàn Phan Thanh Giản không đạt được mục tiêu xin chuộc lại ba tỉnh miền đông Nam Kỳ: Biên Hòa, Gia Định,Định Tường.
Tập ảnh lịch sử của Jacques-Philippe Potteau, tuy không nhiều và vẫn còn khuyết điểm, đã giúp cho người đọc hình dung được một cách chân thực hơn về nhân dạng, ngoại hình và cách phục sức của quan, lính, văn nhân, võ tướng Việt Nam ở cuối thế kỷ thứ 19. Mặt khác, sử liệu này cho thấy những hình ảnh minh họa nhân vật lịch sử Việt Nam vẽ ở thế kỷ 20 hay những cảm nhận về lịch sửcó nhiều phần lãng mạn, không đi sát với thực tế như bộ ảnh nhân chủng học đã trưng bày.
Trần Giao Thủy

4 nhận xét:

  1. Ông Phan Thanh Giản là một người yêu nước.Đó là một điều chắc chắn. Ông có 2 người con trai anh hùng:Phan Tôn và Phan Liêm.Đó cũng là một điều chắc chắn.Nhưng suy tôn ông ấy thì phải hiểu làm sao lời nói của vị anh hùng dân tộc Trương Định:Phan, Lâm mãi quốc.Triều đình khí dân .?Chữ ký của ông hợp thức hóa 6 tỉnh miền tây nam bộ cho Pháp.Nếu một mai cái ông  ký mất 1/2 thác Bản Giốc cũng dược suy tôn sao?Ký xong hòa ước ông Phan Thanh Giản tự vẫn.Cái chết ấy cũng ngang với cái cái chết oai hùng của Hoàng Diệu, vị anh hùng tử thủ giữ Hà nội với bài biểu bi tráng Sống chết với đất đế đô sao bác Thông?

    Trả lờiXóa

  2. Hòa ước Nhâm Tuất cắt nhượng 3 tỉnh miền đông để đổi lấy việc Pháp trả lại Vĩnh Long là chủ trương của cả triều đình đứng đầu là Tự Đức chứ đâu phải tội của Phan Thanh Giản. Nếu cứ lập luận vậy thì sẽ ăn nói ra sao với công hàm của Phạm Văn Đồng? Nếu Hoàng Diệu được đặt tên đường thì cớ gì Phan Thanh Giản lại không được đặt? Nhân dân cũng sẽ không chỉ lên án cái ông ký vào bản bán thác Bản Giốc mà lên án cả cái triều đình mà ông ấy đại diện cơ.

    Xóa

  3. “Tôi nghĩ rằng cái gì của lịch sử phải trả lại cho lịch sử, mà việc đầu tiên là khôi phục lại tên đường Phan Thanh Giản tại những đô thị lớn hoặc ở quê hương ông (thị xã Vĩnh Long)” Bác Thông, theo cháu thì quê của cụ Phan hiện tại phải là Ba Tri, Bến Tre. Cháu là người Ba Tri, nhà rất gần mộ phần của cụ Phan (xã Bảo Thạnh)

    Trả lờiXóa

  4. Đúng như bác nói, ở Ba Tri có nhà thờ cụ Phan Thanh Giản nhưng Ba Tri chỉ là nơi cụ sinh ra chứ không phải quê. Còn Vĩnh Long là nơi cụ Phan trưởng thành, đỗ đạt và làm quan, nơi này cũng có miếu thờ.

Học giả Trung Quốc bác bỏ ‘đường lưỡi bò’ – TP/BS

24 Th6

> Yêu sách đường lưỡi bò đe dọa hòa bình khu vực

TP – “Đường 9 đoạn trên Nam Hải là một đường hư ảo. Tiền nhân của chúng ta vạch ra Đường 9 đoạn không hề có kinh độ hay vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp luật…”- học giả người Trung Quốc Lý Lệnh Hoa nói.

Ngày 14-6, hội thảo “Nam Hải tranh đoan, quốc gia chủ quyền dữ quốc tế quy tắc” (Tranh chấp Biển Đông, chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế) được Viện nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc và báo điện tử Sina.com tổ chức tại Viện NCKT Thiên Tắc.

Chủ trì hội thảo là ông Dương Tuấn Phong, giảng viên ĐH Công an TQ. Hai vị khách mời đăng đàn chính là Lý Lệnh Hoa, Nghiên cứu viên Trung tâm thông tin hải dương Trung Quốc và Thời Đoàn Hoằng, Giáo sư ĐH Nhân dân, Tham sự Quốc vụ viện (cố vấn của Chính phủ – người dịch).

Tham dự còn có nhiều giáo sư, học giả nổi tiếng ở các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tạp chí nghiên cứu. Tại hội thảo đã xảy ra tranh luận gay gắt giữa các quan điểm được báo chí Trung Quốc gọi là “phái bồ câu” và “phái diều hâu”.

Ngày 21 – 6, trên các trang báo điện tử, các diễn đàn mạng, các blog Hoa ngữ đã đăng tải các ý kiến phát biểu tại hội thảo.

Đáng chú ý là ý kiến của ông Lý Lệnh Hoa (sinh năm 1946, tác giả của hơn 90 bài báo về vấn đề biển và luật biển đăng trên các báo chí Trung Quốc), một trong những người được coi là có quan điểm “bồ câu”. TPCN xin trích dịch.

Tàu Hải giám Trung Quốc
Tàu Hải giám Trung Quốc.

“Tôi đã nghiên cứu biển hơn 20 năm tại Trung tâm thông tin Hải dương. Hôm nay rất vui mừng được thảo luận với mọi người về vấn đề Nam Hải (cách gọi của người Trung Quốc về Biển Đông – người dịch).

Tôi có đem tới đây một số kết quả nghiên cứu mới nhất của giới học thuật về vấn đề phân định Nam Hải, như “Các sự kiện luật quốc tế Trung Quốc”, “Văn tập nghiên cứu quốc sách hải dương”, “Tranh chấp Nam Hải”, “Vấn đề hải dương”… Khi nói về vấn đề Nam Hải, tôi rất chú ý đến quan điểm của những người này.

Tôi có cảm giác, từ hơn 1 năm qua, đặc biệt từ tháng 4 năm nay sau khi xảy ra xung đột giữa ta với Philippinnes, vấn đề Nam Hải rất nóng.

(…) Hiện nay, nhiều học giả trong nước khẳng định về “Đường 9 đoạn” (tức Đường biên giới biển theo yêu sách của Trung Quốc được thể hiện bằng 9 đoạn, còn gọi là Đường Lưỡi bò, hay Đường hình chữ U – Người dịch); nhưng trên toàn thế giới từ xưa đến nay không hề có đường biên giới trên bộ hay trên biển hư ảo.

Ông Lý Lệnh Hoa, người chủ trương cần giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông theo
            “Công ước Biển Liên Hợp Quốc”
            và các quy tắc quốc tế
Ông Lý Lệnh Hoa, người chủ trương cần giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông theo            “Công ước Biển Liên Hợp Quốc”            và các quy tắc quốc tế.

 

Đường 9 đoạn trên Nam Hải là một đường hư ảo. Tiền nhân của chúng ta vạch ra Đường 9 đoạn không hề có kinh độ hay vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp luật.

Tháng trước, khi thuyết giảng cho các nghiên cứu sinh về Nghiên cứu hải dương và biển giới Trung Quốc tại Đại học Vũ Hán, tôi cũng đã nói: căn cứ pháp luật thực sự phải là “Công ước Biển Liên hợp quốc” năm 1982.

Huống hồ, nước ta là quốc gia đã ký và phê chuẩn “Công ước”. Đường 9 đoạn chiếm tới hơn 80% diện tích vùng nước Nam Hải.

Đường ranh giới của quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam – Người dịch) được tạo nên bởi 28 điểm cơ bản, được các chuyên gia Cục Hải dương vẽ nên trước năm 1995.

Nó bao gồm nhiều mỏm đá, với diện tích biển rộng tới trên 12.000 dặm vuông. Sau khi công bố đã bị các chính phủ Việt Nam và Philippinnes phản đối và phê phán. Việc xác định 28 điểm cơ bản này vốn đã có rất nhiều chỗ không chuẩn xác, cũng không đạt cả về chỉ tiêu kỹ thuật.

Bản đồ hình lưỡi bò phi lý do Trung Quốc đặt ra
Bản đồ hình lưỡi bò phi lý do Trung Quốc đặt ra.

 

Hiện nay lại vẫn muốn làm kiểu hoạch định mơ hồ như thế ở quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam – Người dịch). Tài nguyên Nam Hải rất phong phú, nước ta có tranh chấp với  5 quốc gia như Việt Nam, Philippinnes…

Chúng ta cần chủ trương giải quyết tranh chấp bằng phương pháp đàm phán hoà bình theo tinh thần của Công ước, không được sử dụng vũ lực giải quyết.

Căn cứ xu thế phát triển của Luật biển quốc tế hiện nay và kinh nghiệm thực tiễn của quốc gia, các nước ven bờ Nam Hải trước hết cần hoạch định Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và biên giới Thềm lục địa…

Tương lai cần căn cứ Điều 74 và 83 về Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và Thềm lục địa để hoạch định lại biên giới biển của Nam Hải.

Philippinnes được bao nhiêu, Brunei được bao nhiêu, Việt Nam được bao nhiêu, Indonesia được bao nhiêu… chắc chắn không thể căn cứ hoàn toàn theo chủ trương hoạch định của từng quốc gia như hiện nay.

Các nước trong cuộc phải thống nhất về lý luận và phương pháp hoạch định, lấy cơ sở là các nguyên tắc thông dụng về hình dạng và độ dài bờ biển để tính ra tỷ lệ, thông qua đàm phán hoà bình, hữu nghị song phương hoặc đa phương để giải quyết vấn đề biên giới Nam Hải.

Thịnh Hồng (Viện trưởng Viện NCKT Thiên Tắc, Giáo sư ĐH Sơn Đông): Đường màu xanh là hoạch định 200 hải lý của các nước phải không?

– Đúng vậy! Đường màu xanh trên bản đồ là phân định Vùng đặc quyền kinh tế theo Luật Biển. Đảo Hoàng Nham nằm ở đây. Theo Khoản 3, Điều 121 của “Công ước Biển Liên hợp quốc”, Trung Quốc chúng ta chỉ có vùng biển lãnh hải 12 hải lý.

Thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippinnes ở đây, cho nên dù tàu cá hay tàu chiến của chúng ta khi đến Hoàng Nham đều đi vào Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của người ta.

“Công ước Biển Liên hợp quốc” đã là công ước thì bất cứ quốc gia nào cũng phải bị chế tài. Tất cả đều phải xử lý theo công ước.

Thịnh Hồng: Căn cứ của Đường 9 đoạn mà chúng ta vạch ra là gì?

– Chả có căn cứ gì! Đó chỉ là tuyên bố đơn phương năm 1947 mà thôi!

Thịnh Hồng: Không được các nước khác thừa nhận ư?

– Cũng có, nhưng đó chỉ là chuyện trong lịch sử. Hiện nay, đặc biệt là những năm gần đây, các nước xung quanh Nam Hải đều không để ý đến nữa.

Thời đại đang tiến lên, khi hoạch định ranh giới biển chúng ta cần phải làm theo tinh thần “Công ước Biển Liên hợp quốc” và quy tắc quốc tế, chứ không thể nói là căn cứ theo những cái gọi là nhân tố lịch sử, nước giàu hay nghèo, người đông hay ít, địa chất địa mạo đáy biển. Những thứ đó đều không phải là căn cứ để phân định biên giới.

Theo tôi, căn cứ vào Luật Biển mà làm thì nhân dân các nước ven bờ Nam Hải, nhân dân Trung Quốc đều có vùng biển 200 hải lý rộng rãi, có đủ không gian để phát triển nghề cá, khai thác tài nguyên đáy biển.

Trong tương lai, các nước láng giềng kinh tế phát triển thì chúng ta cũng được hưởng lợi. Nhìn vấn đề từ góc độ toàn nhân loại, chúng ta cần có quan điểm toàn cục, cần tiến cùng thời đại.

Bãi đá Scarborough tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines. Khi triều lên chỉ có một mỏm đá màu vàng nhô lên
Bãi đá Scarborough tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines. Khi triều lên chỉ có một mỏm đá màu vàng nhô lên.

 

(…) Cách nói “Quần đảo Nam Sa và vùng biển phụ cận” của chính phủ ta thật quá mơ hồ. Phụ cận bao nhiêu hải lý đều không thể nói rõ được. Đó không phải là thứ ngôn ngữ pháp luật. Chúng ta cần phải tôn trọng các điều văn của “Công ước Biển Liên hợp quốc”.

Chỉ có các cách nói về 12, 24, 200 và 350 hải lý. Do các đảo Nam Sa diện tích nhỏ hẹp, cách xa Đại lục, không đủ điều kiện cho con người sinh sống, nên nước ta không thể xác định các điểm cơ sở lãnh hải ở đó.

Vì vậy, ta không thể có được Vùng nước đặc quyền kinh tế rộng lớn ở phía Nam của Nam Hải…

Chính phủ ta xưa nay chưa hề chính thức tuyên bố về Đường 9 đoạn. Nhưng nhiều sách giáo khoa và báo chí lại coi Đường 9 đoạn là biên giới biển chính thức của Trung Quốc, nên dẫn đến việc dân chúng coi Nam Hải thành vùng biển của Trung Quốc.

Lại có một số cơ quan truyền thông không làm rõ ngọn ngành về vấn đề này, động một tý là kêu phải đưa tàu chiến đi đánh. Tôi cho rằng cần phải sớm xác định rõ địa vị pháp luật của Đường 9 đoạn. Không làm rõ ràng thì tương lai rất dễ xảy chuyện (…)

Trương Thử Quang (Chủ tịch Hội đồng Học thuật Viện NCKT Thiên Tắc, Giáo sư Viện KHXH Trung Quốc): Ông nói Đường 9 đoạn là do nước ta vạch ra năm 1947. Vậy dựa vào đâu để vạch ra cái đó?

– Đường 9 đoạn không hề có chỗ dựa (căn cứ) về pháp luật! Trong nước có các nhà luật học, cả các đồng nghiệp ở Đài Loan cũng có chung nhận thức như thế. Hồi đó, các nước ven bờ có nước còn chưa độc lập, nó chỉ do Trung Quốc đơn phương tuyên bố mà thôi.

Tôi xin tổng kết một chút: tôi cho rằng vấn đề chủ yếu nhất trong nội hàm của “Công ước biển LHQ” là phân định và bố cục lại vùng biển, để mỗi quốc gia ven biển đều có thể có 200 hải lý (hoặc vùng biển tương đối rộng rãi), Thềm lục địa và Vùng biển kinh tế, thuận tiện cho các nước khai thác, sử dụng và quản lý biển, để toàn nhân loại đều hướng tới con đường cùng nhau giàu có.

Đó cần phải là căn cứ cơ bản để chúng ta và các nước xung quanh giải quyết tranh chấp Nam Hải. Nước ta là quốc gia đã ký “Công ước Biển Liên hợp quốc”, thì chúng ta cần phải xử lý mọi việc theo tinh thần “Công ước”, tỏ cho thiên hạ thấy sự thành tín của mình”.

Thu Thủy trích dịch

PHAN CHÂU TRINH: Người rèn chìa khoá mở cửa thiên đàng – HNC/BS

24 Th6

vonga1, nguyên hải,PHAN CHÂU TRINH: ,Người rèn ,chìa khoá ,mở cửa, thiên đàng
Phan Thanh Minh
(Quảng Nam)

                       

Thuốc nào đây chữa lúc ốm đau bệnh tật?
Khi đất nước lao lung
trầm luân nước mắt
Đâu chỉ hạng thứ dân làm thân trâu ngựa
mà cả đức vua
Hủ nhà Nho đâu còn hạn dùng là thứ thuốc Thánh hiền
chữ nghĩa văn chương cửa Khổng sân Trình đâu cứu được bá tánh muôn dân
Thì đây, thẻ bài Trước tác* xin gởi lại
mở cửa ra và rước dân quyền
tìm thuốc hay trị chứng nan y ngàn năm u muội
Thanh niên ơi, hãy nhớ điều này!

Dũng khí nào đây khi “đất nước đắm chìm, nòi giống mỏn”? **
Cắt phăng búi tóc
gửi bức điều trần
học chút văn minh
Đổi chức tù “xiềng gông cà kệ” **
Hộ Thành
Côn Lôn
Dépôt
hay Santé – Paris, cũng thế
Dễ chi giam cầm dũng khí Duy tân!

Hào khí ngàn năm để đâu rồi
và chẳng lẽ hào kiệt đời này chết hết
hởi ông vua ngớ ngẩn?
Sung sướng chi mà vung phí của dân
tội lỗi nào hơn làm nhục quốc thể
cung điện nguy nga hay lăng tẩm hào đào
đâu có thể làm rạng danh dân tộc
Thì vua ơi, đạp quách ngai vàng
may ra quốc dân ta thương tình tha thứ!

Xưa, khí phách Chu An dâng thất trảm sớ, nhắc nhà vua trị tội các lộng thần, mong sơn hà xã tắc: thái bình!
Nay, khẳng khái Tây Hồ viết thất điều thư, báo “thiên tử” kịp hối lỗi lố lăng, để quốc tuý quốc hồn: văn hiến!
PHAN THANH MINH

*: chức quan của Phan Châu Trinh khi còn làm việc ở Bộ Lễ.
**: lời bài thơ khẩu chiếm của PCT, được cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch ra chữ quốc ngữ.

(Bài do tác giả gởi đến)

 

NHỮNG CHÍNH SÁCH SAU BẦU CỬ CỦA MỸ ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC – BS

24 Th6

THỐNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NHỮNG CHÍNH SÁCH SAU BẦU CỬ CỦA MỸ ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 21/6/2012

TTXVN (Luân Đôn 19/6)

Viện Nghiên cứu Hoàng gia các vấn đề Quốc tế (Chatham House) đăng bài phân tích của tác giả Xenia Dormandy, chuyên gia nghiên cứu cấp cao của Chatham House về xu hướng chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trong nhiệm kỳ thứ hai của Chính quyền Barack Obama hoặc Chính quyền của Mitt Romney, và khả năng ảnh hưởng quốc tế của những chính sách này. Dưới đây là nội dung chính của bài phân tích:

Giới thiệu

Trung Quốc đã từ lâu được coi là “hộp đen” đối với Mỹ. Mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc được bao trùm bởi sự thiếu tin cậy chiến lược và không rõ ràng. Về phía Mỹ, sự trỗi dậy của Trung Quốc mang lại cả cơ hội và mối đe dọa. Việc hoạch định chính sách ở Oasinhtơn còn phức tạp hơn do thiếu sự rõ ràng về sự cân bằng quyền lực giữa chính phủ dân sự của Trung Quốc và giới quân sự của nước này cũng như mục tiêu và lợi ích tương ứng của họ. Điều này dẫn đến chính sách hiện nay của Mỹ là vừa muốn có sự tham gia của Trung Quốc nhưng lại vừa có thái độ đề phòng. Còn quan điểm của Trung Quốc là Bắc Kinh cũng thấy có sự không ổn định trong chính sách của Mỹ và không chắc liệu Mỹ đang thực hiện biện pháp đề phòng rủi ro hay nhằm kìm chân mình.

 

Nhìn từ bối cảnh mối quan hệ hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc, dưới đây là các chính sách của Mỹ với Trung Quốc nếu Tổng thống Barack Obama tái đắc cử:

Chính quyền Obama đã tiếp tục duy trì chiến lược “đối trọng và can dự” trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống George W Bush với trọng tâm đặt vào vế thứ hai. Chính quyền hiện nay đã làm việc với Trung Quốc về một loạt các vấn đề, tham gia nhiều cuộc đối thoại từ Đối thoại kinh tế và chiến lược đến việc gần đây mở rộng đối thoại từ những vấn đề về hợp tác châu Á – Thái Bình Dương đến hỗ trợ nhân đạo và ứng phó với thảm họa thiên tai. Nhiệm kỳ thứ hai của Obama có thể sẽ tiếp tục nhấn mạnh vào sự can dự, tập trung vào các lĩnh vực phối hợp hợp tác hơn là những vấn đề mà Mỹ lo ngại, từ vấn đề kinh tế đến môi trường.

Mặc dù khái niệm có ý nghĩa mở rộng hơn, nhưng đối với Trung Quốc, chính sách châu Á của Mỹ (và đặc biệt gần đây là “trục chiến lược” chuyển trọng tâm sang châu Á) là trực tiếp chĩa vào Trung Quốc. Thực tế, chính sách đối với Trung Quốc sẽ tiếp tục chỉ là một yếu tố trong chính sách tổng thể về châu Á của Mỹ và được xử lý trong bối cảnh mở rộng hơn. Trong khi chính sách “trục” chuyển hướng sang châu Á sẽ tiếp tục được thực hiện, trong tương lai Mỹ sẽ cố gắng để đảm bảo chiến lược này không bị coi là nhằm trực tiếp chống lại Trung Quốc.

Có hai lĩnh vực có thế sẽ giành được sự chú ý nhiều hơn trong nhiệm kỳ hai của Chính quyền Obama. Lĩnh vực đầu tiên liên quan đến sự can dự của Trung Quốc vào các thể chế quốc tế, nhất là WTO và G20. Vì Obama có quan điểm đa phương hơn người tiền nhiệm của ông ta, nên có khả năng chính quyền của ông sẽ tiếp tục cố gắng lôi kéo Chính phủ Trung Quốc vào những vũ đài này, nơi có thể nuôi dưỡng sự ủng hộ dành cho họ về những chuẩn mực quốc tế rộng lớn hơn về các vấn đề như Bắc Triều Tiên, Mianma và Xyri. Nhóm nghiên cứu của Obama cũng sẽ tiếp tục khuyến khích các đối tác khác, đặc biệt là châu Âu, mở rộng tầm nhìn của họ về Trung Quốc, cân nhắc các vân đề an ninh và chiến lược rộng hơn chứ không chỉ tập trung đơn thuần về thương mại.

Lĩnh vực thứ hai là an ninh không gian và an ninh mạng. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton gần đây đã bày tỏ Mỹ sẵn sàng tham gia tích cực hơn trong việc xây dựng một bộ qui chuẩn cho không gian vũ trụ. Chính quyền Obama cũng sẽ hợp tác với các nước khác cùng quan tâm để ràng buộc Chính phủ Trung Quốc vào các chuẩn mực nhằm hạn chế tin tặc và gián điệp bắt nguồn từ nước này.

Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc nếu Mitt Romney thắng cử:

Những lời lẽ to tát mạnh mẽ về Trung Quốc của ứng cử viên Romney tập trung chủ yếu vào vấn đề kinh tế mà ít chú ý vào quân sự, địa chính trị hoặc quyền lực mềm của nước này. Do Romney có kinh nghiệm về các vấn đề thương mại và kinh tế nên nếu trở thành tổng thống Mỹ, chính sách đối với Trung Quốc của ông có khả năng tập trung vào những lĩnh vực này. Tuy nhiên, mức độ rộng lớn của các mối tương tác và lợi ích giữa hai nước chắc chắn sẽ dẫn đến một nền tảng chính sách rộng lớn hơn mà bao gồm cả các yếu tố đa dạng khác của mối quan hệ song phương.

Romney đã tuyên bố ông sẽ gắn mác “nước thao túng tiền tệ” cho Trung Quốc ngay trong ngày đầu trờ thành tổng thống Mỹ. Đây chủ yếu chỉ là công cụ hùng biện vì điều này chỉ cần tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc. Trong khi đó Trung Quốc có thể sẽ phản ứng lại với tuyên bố chính trị này, nhưng tác động thực tế là rất hạn chế. Các mối quan hệ căng thẳng lâu năm của nhiều người trong nhóm chính sách đối ngoại của Romney với các quan chức Trung Quốc sẽ được kiềm chế để bảo đảm không có tác động lâu dài hoặc đáng kể tới mối quan hệ song phương.

Tuy không phải là phần chính của chiến dịch tranh cử, nhưng do có nền tảng về khu vực tư nhân, nên điều này sẽ làm cho Romney nhạy cảm hơn với các lo ngại về vấn đề tin tặc, quyền sở hữu trí tuệ và gián điệp của nhiều doanh nghiệp trong các cộng đồng kinh doanh ở Mỹ. Làm việc để hướng tới một sân chơi bình đẳng hơn cho các công ty nước ngoài ở Trung Quốc và hỗ trợ các lợi thế cạnh tranh của Mỹ, sẽ là một ưu tiên cao của Chính quyền Romney. Romney đã tuyên bố rằng ông sẽ làm cho Trung Quốc có cùng các giá trị và chuẩn mực như các nước khác, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và thương mại.

Trong lĩnh vực an ninh và địa chính trị, Romney kêu gọi Mỹ phải có thái độ chủ động hơn hoặc chính sách ngoại giao và an ninh của Mỹ phải quyết đoán hơn, và tăng ngân sách cho quân đội. Nếu được thực hiện, điều này có thể có tác động trở lại đáng kể đến quan hệ song phương. Hiện Romney ít đề cập đến các điểm nóng tiềm năng ví dụ như Đài Loan.

Cuối cùng, Romney đã đề nghị rằng ông sẽ tập trung nhiều hơn vào các hành động của Trung Quốc tại các tổ chức quốc tế và sự hỗ trợ của nước này cho các qui chuẩn quốc tế, đặc biệt là về nhân quyền. Do bản thân là người có nền tảng về tôn giáo mạnh mẽ, nên điều này có khả năng sẽ là một vấn đề quan tâm đặc biệt của Romney, nhưng còn chưa rõ liệu Romney có coi đó là một ưu tiên trong mối quan hệ này không.

Khả năng ảnh hưởng quốc tế

Quĩ đạo của Trung Quốc và mức độ can dự vào cộng đồng quốc tế của nước này là mối quan tâm của toàn cầu. Chúng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể bởi mối quan hệ với Mỹ: hợp tác thì sẽ có khả năng dẫn đến một vai trò tích cực hơn của Trung Quốc, trong khi cạnh tranh sẽ dẫn đến việc Trung Quốc không khoan nhượng và làm ảnh hưởng đến sự tiến bộ của các vấn đề toàn cầu, từ môi trường đến vũ trụ và an ninh mạng cũng như các vấn đề phát sinh trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, đến thương mại và phát triển. Nó cũng sẽ đặt các quốc gia (mà phụ thuộc vào cả Mỹ và Trung Quốc về kinh tế/hoặc các lý do an ninh) vào một tình thế khó khăn vì họ phải cân bằng với cả hai nước này. Vậy nên việc có chỗ cho sự tăng trưởng và tham gia của Trung Quốc sẽ là điều rất quan trọng.

Nhưng có hai nhân tố làm cho việc xử lý trỗi dậy này đặc biệt khó khăn. Trước hết là sự thiếu minh bạch ở Trung Quốc đã được đề cập trước đó: hiểu biết không đầy đủ về lợi ích và những mối quan ngại của Trung Quốc có thể dẫn đến sự hiểu lầm và các xung đột có thể xảy ra. Nhân tố thứ hai liên quan đến sự căng thẳng giữa việc Mỹ biểu hiện quan tâm đến những lợi ích của Trung Quốc và việc trong mắt của Trung Quốc, họ coi biểu hiện đó là sự yếu kém của Mỹ.

Vì những lý do này, sẽ là quan trọng để bất kỳ Chính quyền Mỹ nào cùng phải nỗ lực hết sức để tham gia các cuộc đối thoại cởi mở và minh bạch với Trung Quốc và cho thấy rằng những ý định của Mỹ là rõ ràng. Bảo đảm sự rõ ràng đó và sự thận trọng có thể giúp được nhiều trong việc duy trì các mối quan hệ trong một quĩ đạo tích cực, hoặc ít nhất, để chúng không vượt khỏi tầm kiểm soát. Trong khía cạnh này, tính tiếp nối của Chính quyền Obama nhiệm kỳ hai trong việc theo đuổi một thái độ tương tự sẽ là hữu ích, đặc biệt khi Trung Quốc kết thúc thời kỳ chuyển giao chính trị ở nước này.

Những ưu tiên và việc làm tăng căng thẳng trong lĩnh vực kinh tế của Chính quyền dưới thời Romney sẽ có hai tác động chính trên thế giới. Trước tiên, nó có thể dẫn đến hành động trả đũa của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế, chẳng hạn như đảo ngược thái độ hiện nay tương đối hợp tác bằng cách làm đình trệ sự linh hoạt về tiền tệ, làm chậm sự tiến bộ về hội nhập quốc tế hơn nữa trong lĩnh vực tài chính, hoặc tăng các rào cản thương mại hoặc thuế quan. Thứ hai, nó có thể thúc đẩy Trung Quốc tiếp tục giảm sự phụ thuộc lẫn nhau của Trung Quốc với Mỹ, khiến Trung Quốc quay sang đầu tư nhiều hơn vào châu Âu và các khu vực khác và gắn bó chặt chẽ hơn với các mối quan hệ thương mại, làm cơ sở cho Trung Quốc ngày càng can dự sâu hơn vào nhiều nước ở châu Âu.

Ngoài ra, nếu tìm cách hợp tác với Trung Quốc có thể thuyết phục nước này đẩy mạnh tốc độ tự do hóa tài khoản vốn của nó, cho phép tỷ giá đồng nhân dân tệ linh hoạt hơn cũng như cải cách sâu sắc hơn trong lĩnh vực tài chính trong nước. Kết quả có thể sẽ là tăng dòng vốn từ Trung Quốc để đầu tư sang các nước khác, nhưng quan trọng hơn là có nhiều cơ hội to lớn hơn và tiếp cận thị trường vốn quốc tế dễ dàng hơn để đầu tư vào thị trường nội địa của Trung Quốc.

Trong khi sự suy giảm trong guan hệ Mỹ – Trung có thể có tác động về kinh tế, các nước ở châu Á – Thái Bình Dương, cũng quan ngại về ảnh hưởng an ninh. Căng thẳng tăng cao giữa hai nước làm cho sự cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc trở nên khó hơn. Nếu nhận thấy mình là kẻ gây ra tình trạng căng thẳng như vậy, thì sự rút lui của Mỹ có thể xảy ra trong khu vực (trái ngược với những gì đã xảy ra trong những năm gần đây sau khi Trung Quốc có thái độ hung hăng).

Một thái độ quân sự “quyết đoán” hơn của Mỹ, như Romney kêu gọi sẽ làm cho Trung Quốc càng lo ngại “chính sách ngăn chặn” của Mỹ, và củng cố vị trí của phái diều hâu trong bộ máy quân sự và dân sự Trung Quốc những người ủng hộ tăng ngân sách quốc phòng và có thể bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực.

Cả Romney và Obama có thể sẽ tiếp tục tái cân bằng trọng tâm chiến lược của Mỹ sang châu Á. Điều này không nhất thiết cho thấy có khoảng cách với châu Âu. Tuy nhiên, mức độ các lực lượng của Mỹ ở châu Âu có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi dự kiến cắt giảm ngân sách quốc phòng của Tổng thống Obama trong nhiệm kỳ hai so với dưới Chính quyền Romney, do Romney có ý định duy trì hoặc thậm chí tăng chi tiêu quốc phòng.

Cả hai chính quyền tiềm năng trong những năm tới có thể sẽ chú ý nhiều hơn đến mối quan ngại ngày càng gia tăng liên quan đến an ninh trong không gian mạng và tên miền không gian. Đây sẽ là những lĩnh vực khó khăn để đối phó với Trung Quốc, do đó cả hai chính quyền đều sẽ có thể lôi kéo các đối tác khác thông qua các tổ chức đa phương. Giải quyết những lĩnh vực mới có nhiều khả năng gây ra căng thẳng này là điều quan trọng sống còn không chỉ đối với Mỹ và Trung Quốc mà còn đối với cả cộng đồng quốc tế nói chung./.

“Tự ra khỏi Đảng” lặng lẽ – PLTP/BS

24 Th6

Mời tham khảo thêm về một kẻ cũng “Tự ra …” theo kiểu đó: 01. Đảng viên hay Ông chủ.

Pháp luật TPHCM

“Tự ra khỏi Đảng” lặng lẽ

24/06/2012 – 01:55

Đinh Văn Quế

Bà Hoàng Yến bị Quốc hội khóa XIII bãi nhiệm tư cách đại biểu vì đã không trung thực khi khai lý lịch ứng cứ đại biểu Quốc hội.

Bà từng là đảng viên nhưng không khai điều này. Bà ra khỏi Đảng với hình thức khi chuyển sinh hoạt Đảng bà đã không nộp hồ sơ về địa phương, vì bà “tự thấy mình không còn là đảng viên”. Hình thức ra khỏi Đảng này tạm gọi là “tự ra khỏi Đảng”.

 

Tình trạng “tự ra khỏi Đảng” theo cách này không phải cá biệt. Tuy chưa có thống kê số lượng trên cả nước là bao nhiêu nhưng nếu thống kê đầy đủ, tôi tin không phải là hai con số. Trước đây, đảng viên bị khai trừ hoặc bị xóa tên mới không còn là đảng viên nữa. Không ai muốn ra khỏi Đảng, vì hai chữ “đảng viên” đối với công dân Việt Nam rất thiêng liêng, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ. Còn bây giờ, một bộ phận đảng viên không còn thiết tha với Đảng nữa, khi hai chữ “đảng viên” không còn có tác dụng đối với họ thì họ tự ra khỏi Đảng. Phải chăng đây cũng là một biểu hiện của sự “suy thoái” đối với một bộ phận đảng viên?

Tự ra khỏi Đảng bằng cách không nộp giấy sinh hoạt Đảng và hồ sơ đảng viên cho tổ chức Đảng nơi mà đảng viên được giới thiệu đến sinh hoạt, gồm nhiều đối tượng như công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước; cán bộ, nhân viên trong các tổ chức xã hội, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an và quân đội…

Trước đây, đảng viên chuyển sinh hoạt Đảng từ nơi này đến nơi khác chỉ được mang theo “Giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt Đảng”. Thậm chí giấy giới thiệu cũng không được mang theo người vì lý do bí mật hoặc đề phòng đảng viên bị hy sinh, bị bắt…, còn hồ sơ đảng viên thì được chuyển qua đường công văn. Khi nhận được hồ sơ đảng viên, tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị mới sẽ tiến hành các thủ tục tiếp nhận đảng viên về sinh hoạt tại cơ quan, đơn vị mình. Có trường hợp đảng viên chưa kịp về cơ quan, đơn vị mới đã hy sinh…

Hiện, không biết theo quy định nào mà đảng viên chuyển sinh hoạt Đảng từ nơi này đến nơi khác được mang cả giấy giới thiệu cùng với hồ sơ “gốc” của đảng viên. Vậy là đến cơ quan, đơn vị mới hoặc về địa phương nơi nghỉ hưu, nếu không muốn là đảng viên nữa hoặc “tự thấy không còn là đảng viên nữa”, họ không nộp giấy sinh hoạt và hồ sơ đảng viên là xong! Về nguyên tắc, tổ chức Đảng ở đơn vị, cơ quan mới không nhận được giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng thì dù biết chắc người này là đảng viên cũng không được công nhận là đảng viên. Còn tổ chức Đảng ở đơn vị, cơ quan cũ đã chuyển sinh hoạt Đảng cho đảng viên do mình quản lý thì hết trách nhiệm. Quản lý đảng viên như thế thì tình trạng “tự ra khỏi Đảng” sẽ ngày càng nhiều, bởi lẽ: Đảng viên đã nhiều năm công tác, nay được nghỉ hưu có tâm lý không muốn tham gia sinh hoạt Đảng; đảng viên chuyển từ cơ quan, tổ chức nhà nước ra ngoài kinh doanh cũng không muốn là đảng viên nữa, nhất là đối với những người làm việc cho các công ty, tổ chức nước ngoài! Việc “tự ra khỏi Đảng” bằng hình thức này không gây ồn ào, bởi họ không “mang tiếng” bị xóa tên hay khai trừ.

Không nộp giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng là hình thức tự ra khỏi Đảng “trong sạch” và dễ dàng nhất mà nhiều đảng viên đang áp dụng.

Đành rằng việc vào Đảng hay ra khỏi Đảng là quyền của mỗi người nhưng khi ra khỏi Đảng cũng nên đàng hoàng, minh bạch. Nếu khi vào Đảng, chi bộ làm lễ kết nạp với đầy đủ thủ tục thì thiết nghĩ, khi một đảng viên muốn ra khỏi Đảng vì lý do sức khỏe hay vì hoàn cảnh cũng nên tổ chức đàng hoàng để ghi nhận những năm cống hiến của đảng viên đó. Cạnh đó, công tác quản lý đảng viên trong trường hợp chuyển sinh hoạt Đảng cũng cần xem lại để tổ chức Đảng nắm được đảng viên khi chuyển sinh hoạt từ nơi này đến nơi khác, không nên để tình trạng đảng viên “tự ra khỏi Đảng” bằng cách không chuyển sinh hoạt Đảng như hiện nay.

Đ.V.Q.

Nguồn: Pháp luật TPHCM

%d bloggers like this: