Lưu trữ | 11:08 Chiều

Nhận xét ban đầu về Luật Biển Việt Nam – BBC/BS

25 Th6

Nhận xét ban đầu về Luật Biển Việt Nam

Dương Danh Huy

Gửi cho BBC từ Oxford, Anh quốc

 

Cập nhật: 10:22 GMT – thứ hai, 25 tháng 6, 2012
Lính hải quân Việt Nam tuần tra ở Trường SaLuật Biển 2012 có vẻ toàn diện và và kỹ lưỡng hơn các luật và tuyên bố trước đây

Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển. Với tình hình tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông, đây là đạo luật mà nhiều người Việt Nam mong đợi. Trên cơ sở đạo luật này còn có thể thay đổi trước khi được ban hành, đây là một số nhận xét ban đầu về văn bản Luật Biển.

Luật Biển 2012 có vẻ toàn diện và và kỹ lưỡng hơn các văn bản và tuyên bố trước đây của Việt Nam về chủ quyền và chế độ pháp lý các vùng biển. Có lẽ ba yếu tố đã dẫn đến điều đó.

Thứ nhất, sau khi Công ước Luật Biển của LHQ ra đời cách đây 30 năm thì trật tự đại dương trên thế giới ngày càng trở thành rõ ràng hơn. Vì Quốc Hội Việt Nam đã phê chuẩn Công ước năm 1996, Việt Nam cũng phải có luật pháp thích hợp cho việc hoàn thành những nghĩa vụ của mình đối với Công ước và để bảo đảm sự tôn trọng đối với Công ước.

Thứ nhì, Việt Nam ngày càng hội nhập hơn với thế giới, cho nên phải áp dụng luật quốc tế nhiều hơn, và chắc chắn là khả năng của Việt Nam trong lãnh vực luật quốc tế ngày càng được phát triển hơn.

Thứ ba, trong bốn năm qua, các động thái của Trung Quốc, bắt đầu từ việc gây áp lực với BP, đã làm cho tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông trở thành một trong những vấn đề an ninh hàng đầu cho Việt Nam – vì thế Việt Nam phải đầu tư nhiều hơn vào việc soạn thảo Luật Biển để làm sáng tỏ thêm quan điểm của mình.

Điểm đặc biệt

Điểm đặc biệt nhất là Điều 1 ghi cụ thể quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là thuộc chủ quyền Việt Nam và Điều 2 ghi nếu quy định của Luật Biển khác với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Hai điều lệ đầu tiên đó phản ảnh chiến lược của Việt Nam về biển đảo: về đảo thì giữ vững quan điểm đảo là của Việt Nam, về biển thì tuân thủ Công ước Luật Biển của LHQ, một điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Điều đáng chú ý là đạo luật có uy quyền nhất về chế độ pháp lý của các vùng biển Việt Nam đã tự đặt mình dưới các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, mà liên quan nhiều nhất trong văn cảnh này là Công ước Luật Biển của LHQ. Điều đó nói rất nhiều về Việt Nam có nhận định thế nào về Công ước Luật Biển của LHQ. Chúng ta có thể so sánh với luật của Trung Quốc về vùng đặc quyền kinh tế trong đó họ thòng thêm một câu để bảo lưu cái họ gọi là quyền lịch sử, mở ngỏ cửa cho việc Trung Quốc không tuân thủ Công ước Luật Biển của LHQ.

So sánh với luật biển cũ và với Công ước về Luật Biển của LHQ

“Việc Điều 1 ghi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam, tuy không phải là một điều mới, nhưng là điều người Việt nào cũng mong muốn trong tình hình căng thẳng về biển đảo, và có lẽ phần lớn sẽ tán thành việc nó được làm sáng tỏ một cách cụ thể ngay trong điều lệ đầu tiên.”

Việc Điều 1 ghi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam, tuy không phải là một điều mới, nhưng là điều người Việt nào cũng mong muốn trong tình hình căng thẳng về biển đảo, và có lẽ phần lớn sẽ tán thành việc nó được làm sáng tỏ một cách cụ thể ngay trong điều lệ đầu tiên.

Luật Biển này khắc phục một số điểm trong luật và tuyên bố cũ không phù hợp với Công ước Luật Biển,thí dụ như về quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải 12 hải lý và quyền tự do hàng hải trong vùng tiếp giáp lãnh hải, nhưng không khắc phục hoàn toàn. Thí dụ như Luật Biển quy định tàu thuyền quân sự nước ngoài phải thông báo với Việt Nam trước khi sử dụng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, trong khi Công ước Luật Biển LHQ không đòi hỏi phải thông báo.

Luật Biển không công nhận quyền đi qua không gây hại cho tàu thuyền quân sự của nước ngoài trong nội thủy Việt Nam, một quyền có trong Công ước Luật Biển LHQ, nhưng cũng có ghi nhận trừ trường hợp Công ước Luật Biển LHQ có quy định khác và tàu thuyền quân sự nước ngoài phải hoạt động phù hợp với lời mời của hoặc thỏa thuận với Việt Nam.

Điều đáng chú ý mà có thể có ảnh hưởng đến Hoàng Sa, Trường Sa, là Luật Biển nói cụ thể rằng các đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đó là một điều khoản của Công ước Luật Biển và có nghĩa là Việt Nam sẽ không đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho một số đơn vị địa lý ở Hoàng Sa, Trường Sa. Ngược lại, Việt Nam vẫn có thể cho rằng những đảo “thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” là có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Luật Biển ghi Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam

Luật biển này tiếp tục dùng hệ thống đường cơ sở thẳng Việt Nam tuyên bố năm 1982, mặc dù hệ thống đó là không phù hợp với Công ước Luật Biển LHQ và đã bị nhiều nước phản đối. Cần nói thêm là Việt Nam không phải là nước duy nhất có đường cơ sở thẳng không phù hợp với Công ước Luật Biển và bị nhiều nước phản đối. Vấn đề là Điều 2 (nếu quy định của Luật Biển khác với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó) sẽ có nghĩa gì cho việc đường cơ sở thẳng của Việt Nam không phù hợp với Công ước Luật Biển.

Phản ảnh Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, Luật Biển không còn cho rằng kinh độ 108 là ranh giới biển Việt Nam-Trung Quốc trong Vịnh.

Dù Việt Nam không phải là một quốc gia quần đảo, Luật Biển cũng sử dụng định nghĩa “quần đảo” trong phần về các quốc gia quần đảo của Công ước Luật Biển trong việc đòi chủ quyền đối với quần đảo để đòi “bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau”.

Tóm lại, Luật Biển đi sâu sát với Công ước Luật Biển hơn các luật và tuyên bố cũ, nhưng chưa tuân thủ hoàn toàn. Ngoài ra, Luật Biển còn một số điểm chưa hoàn toàn rõ ràng, và chưa biết có sẽ có thay đổi gì trước khi được ban hành hay không.

Trong nhận xét sơ khởi thì các điều lệ khác cho việc quản lý các vùng biển Việt Nam có vẻ như hợp lý và dựa nhiều trên Công Ước Luật Biển. Trong đó cũng có một số điều lệ khoản phản ảnh nhu cầu đặc thù của Việt Nam.

“Luật Biển vừa được thông qua là một bước tiến pháp lý lớn và có chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc bảo vệ và quản lý biển, cũng như cho việc tiếp xúcvới thế giới trên biển. Tuy nhiên điều quan trọng là Luật đó sẽ được áp dụng thế nào trên thực tế.”

Một thí dụ là, trong khi nghĩa vụ tất nhiên của mọi nhà nước là bảo vệ các hoạt động hợp pháp của công dân, Luật Biển quy định cụ thể việc bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân, và đầu tư bảo đảm hoạt động của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển. Luật biển cũng quy định chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo.

Luật Biển quy định giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công Ước Luật Biển, luật pháp và thực tiễn quốc tế. Như vậy là bao gồm nhiều biện pháp hơn “kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị” trong thỏa thuận Việt-Trung về “các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” năm ngoái. Có lẽ đây cũng là lần đầu tiên luật Việt Nam quy định cụ thể giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.

Chờ thời điểm thích hợp hơn

Các chuyên gia của Việt Nam biết rõ một số điểm trong các luật và tuyên cố cũ không tuân thủ Công ước Luật Biển của LHQ. Họ đã sửa một số trong những điểm đó, nhưng với một số điểm còn lại thì có lẽ họ đang chờ thời điểm khác thích hợp hơn. Việc Điều 2 có nghĩa với những trường hợp Luật Biển quy định khác với Công Ước Luật Biển của LHQ thì áp dụng Công Ước Luật Biển, là một cách khôn khéo để Việt Nam “chờ thời điểm khác thích hợp hơn”.

Với nhận xét sơ khởi thì văn bản Luật Biển vừa được thông qua là một bước tiến pháp lý lớn và có chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc bảo vệ và quản lý biển, cũng như cho việc tiếp xúc với thế giới trên biển. Tuy nhiên điều quan trọng là Luật đó sẽ được áp dụng thế nào trên thực tế.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Dương Danh Huy, một nhà nghiên cứu về Biển Đông, dựa trên văn bản luật mà tác giả có được, trong khi luật này chưa được chính thức công bố toàn văn.

KỶ NIỆM LẦN THỨ 91 NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC: TÍNH HỢP PHÁP CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẢNG ĐÃ PHẢI CHỊU SỰ NGHI NGỜ CHƯA TỪNG THẤY – BS

25 Th6

Boxun

KỶ NIỆM LẦN THỨ 91 NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC: 

TÍNH HỢP PHÁP CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẢNG ĐÃ PHẢI CHỊU SỰ NGHI NGỜ CHƯA TỪNG THẤY

Tác giả: Bành Đào

Người dịch: Quốc Thanh

23-06-2012

1 tháng 7 năm nay là ngày kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc. Trong ngày kỷ niệm này, món quà hấp dẫn nhất mà người dân đại lục tặng cho Đảng cộng sản Trung Quốc là những cuộc biểu tình chống đối liên tục không ngừng và những hoạt động bảo vệ nhân quyền ào ào như vũ bão. Đối với Đảng cộng sản Trung Quốc thì năm 2012 thực sự đáng gọi là một năm đầy xáo động và khiến cho người ta phải bấn loạn. Qua các sự kiện Bạc-Vương, sự kiện Trần Quang Thành, sự kiện “bị bức tự sát” hoặc “bị mưu sát” của Lý Vượng Dương và những người khác cùng một loạt những sự kiện làm tổn thương nghiêm trọng đến quyền con người…, tính hợp pháp của Đảng cộng sản Trung Quốc và chính phủ cùng những hành vi điều hành của mình đã phải chịu sự nghi ngờ chưa từng thấy, hình ảnh cầm quyền của Đảng bị sa sút thê thảm. “Nhân dân làm chủ” liền trở thành một sự nhạo báng cho hiện thực chính trị của Đảng cộng sản Trung Quốc.

 

Giữ ổn định bằng thối nát và bạo lực làm mất sạch lòng người

Vào 2 tháng trước năm nay, phó thị trưởng Trùng Khánh Vương Lập Quân đã xông vào lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô, khiến cho cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai rớt đài và bị giam giữ thẩm vấn. “Sự kiện Bạc-Vương” đã phơi bày những hành vi bỉ ổi tham lam cực độ và phạm pháp nghiêm trọng của các quan chức cấp cao Đảng cộng sản Trung Quốc, đã gây chấn động trong ngoài nước và dẫn đến sự nghi ngờ căn bản của dân chúng đại lục đối với Đảng cộng sản Trung Quốc cùng thể chế. Sự kiện Bạc-Vương là một hình ảnh thu nhỏ, là một góc tảng băng nền chính trị mờ ám của Đảng cộng sản Trung Quốc, nó phản ánh sự bất hợp lý và không công bằng của thể chế chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc cùng những hành vi điều hành của mình. Sự kiện Bạc-Vương là sản phẩm của nền “chính trị quyền quý mới” trong Đảng cộng sản Trung Quốc. Các quan chức Đảng cộng sản Trung Quốc với tư cách là những bậc quyền quý mới, ỷ vào quyền lực mình nắm trong tay, đã chà đạp lên cả luật pháp để tước đoạt và biển thủ của cải của nhân dân cùng tài nguyên của quốc gia một cách không thương tiếc, trở thành những bậc “thái thượng hoàng” hống hách cưỡi trên đầu trên cổ người dân. Với những bậc quyền quý mới này, thối nát và lạm dụng chức quyền đã không còn trở thành một vấn đề nữa rồi, mà từ lâu đã là chuyện “hợp lý hợp pháp”. Cách đây không lâu, “Hoàn cầu thời báo”, tờ báo chính thống của Đảng cộng sản Trung Quốc đã cho đăng bài “Nên cho phép Trung Quốc thối nát vừa độ, mọi người cần phải hiểu”, ngang nhiên “tìm vị trí hợp pháp cho sự thối nát của Đảng cộng sản Trung Quốc”. Có thể thấy, các bậc quyền quý mới của Trung Quốc đã thối nát sa đọa tới mức nào. Họ còn phục vụ nhân dân gì nữa đây?

Tháng 4 năm nay, vị luật sư nhân quyền mù Trần Quang Thành ở Sơn Đông đã chạy trốn thành công sau mười mấy tháng bị giam cầm phi pháp ở nhà mình để tị nạn vào lãnh sự quán Mỹ ở Bắc Kinh. Sự kiện Trần Quang Thành chạy trốn đã bộc lộ hành động tàn bạo “giữ ổn định” phi pháp của Đảng cộng sản Trung Quốc, đã phơi bày hết bộ mặt phản nhân quyền phản pháp lý của chính quyền Bắc Kinh ra trước thế giới. Sự kiện Trần Quang Thành khiến cho chính quyền Bắc Kinh bị mất mặt với quốc tế, dẫn đến sự bất bình mạnh mẽ của người dân ở trong và ngoài nước, đồng thời làm dấy lên làn sóng chống đối của các nhà hoạt động nhân quyền. Ngày 5.6, nhà hoạt động dân chủ “4.6” Lý Vượng Dương ở Hồ Nam đã có cái chết đầy bí ẩn ở bệnh viện Thiệu Dương, mà người nhà và bạn hữu cho là “bị bức tự sát”. Sau phong trào dân chủ Thiên An Môn năm 1989, Lý Vượng Dương đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc giam cầm tới 22 năm. Sự kiện Lý Vượng Dương lại là một bức chân dung nữa về hành vi tàn bạo “giữ ổn định” phi pháp.

Sau khi Lý Vượng Dương “bị bức tự sát”, ở đại lục gần đây lại xuất hiện sự kiện hàng loạt các nhà hoạt động nhân quyền bị mưu sát và mất tung tích, chẳng hạn: Ngày 16.6, khi ứng cử viên độc lập Quản Quế Lâm ở Hồ Nam đang lái xe, đột nhiên bị một người tấn công bằng hòn đá nặng 4 kg, kính chắn gió của xe bị vỡ vụn và lái phụ bị thương. Quản Quế Lâm cho đây là Đảng cộng sản Trung Quốc cố ý mưu hại. Ngày 12.6, nhà hoạt động nhân quyền dân oan Mao Khởi Bình ở Phúc Châu đã bị 7 người không rõ nhân thân đánh cho ngã ngất, rồi còn bị tiêm thuốc không rõ tên. Tối đó, Mao Khởi Bình đã bị chết do bệnh viện không cấp cứu nổi. Cách đây không lâu, dân oan Vu Nhũ Pháp 76 tuổi người huyện Hiến, thành phố Thương Châu, tỉnh Hà Bắc đến đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh kêu oan đã bị bắt, sau đó được giao cho chính quyền Thương Châu, Hà Bắc áp giải về nguyên quán. Ngày 17.6, thi thể Vu Nhũ Pháp bị một kẻ không rõ nhân thân quẳng trước cổng làng Đại Quách của ông lão. Người nhà và dân địa phương cho đây là sự sát hại có chủ ý. Ngày 1.6, vợ chồng Tần Vĩnh Mẫn mất tung tích, đến nay chưa rõ sống chết ra sao. Sau đó cảnh sát nói vợ chồng ấy đang trong tay họ. Năm ngoái, khi Lý Vượng Dương ra tù, Tần Vĩnh Mẫn từng hết sức quan tâm đến cuộc sống của anh. Ngày 21.6, nhà hoạt động nhân quyền của Trung Quốc đại lục là Hồ Giai cho biết, vào ngày 20 khi anh vừa ra cửa thì bị 3 nhân viên an ninh đánh bị thương, đồng thời cấm được rời khỏi chỗ ở. Hồ Giai từng phải chịu án hơn 3 năm vì tội “lật đổ chính quyền”.

Đảng cộng sản Trung Quốc dùng bạo lực và mưu sát để “giữ ổn định” cho thấy chính quyền của Đảng đã bị rơi vào trạng thái bất ổn đến thế nào, cho thấy nỗi sợ hãi người dân của các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc đã tới mức độ nào, cho thấy tâm trạng của các quan chức Đảng cộng sản Trung Quốc đã yếu ớt và tuyệt vọng đến thế nào.

Bạo lực và khủng bố trắng không thể cứu vãn nổi Đảng cộng sản Trung Quốc, không thể uy hiếp nổi người dân đã giác ngộ, không thể ngăn cản nổi dòng nước lũ của phong trào nhân quyền, mà trái lại sẽ chỉ làm dấy lên làn sóng phản kháng và phẫn nộ lớn hơn, sẽ chỉ kết thúc chế độ độc tài của Trung Quốc nhanh hơn. Nói theo câu nói của nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông trước đây, “ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh”. Một chính quyền coi dân như kẻ thù thì chỉ có thất bại thảm hại.

Phong trào nhân quyền của Trung Quốc đang ào ào như vũ bão

Đối mặt với sự giữ ổn định bằng đàn áp mạnh của Đảng cộng sản Trung Quốc, các dân oan, các nhà hoạt động nhân quyền và các nhà bất đồng chính kiến ở đại lục đã không những không thoái lui, mà trái lại còn tăng cường đấu tranh phản kháng và các hoạt động nhân quyền hơn. Các nhà hoạt động nhân quyền như Trần Quang Thành và Lý Vượng Dương… chính là những ví dụ rõ nét. Dũng khí và tinh thần ngoan cường của họ đã khích lệ các nhà hoạt động nhân quyền khác dũng cảm theo đuổi tự do và bảo vệ công lý.

Sau sự kiện Lý Vượng Dương “bị bức tự sát”, 25 000 người dân Hongkong đã phá hủy các văn phòng liên lạc, giận dữ lên án sự tàn ác của Đảng cộng sản Trung Quốc, hơn 30 tổ chức phát động cuộc vận động lấy chữ ký toàn cầu, thúc đẩy điều tra nguyên nhân cái chết của Lý Vượng Dương. Sự phẫn nộ của người dân Hongkong đã buộc các đại diện của Đảng cộng sản Trung Quốc ở Hongkong (bao gồm Tằng Âm Quyền và Lương Chấn Anh hiện và được chỉ định là trưởng đặc khu hành chính Hongkong) phải lần lượt tỏ thái độ dịu hơn về sự kiện Lý Vượng Dương. Tổ chức Mặt trận nhân quyền dân sự Hongkong còn kêu gọi người dân Hongkong xuống đường biểu tình vào 1.7, hối thúc Bắc Kinh phải điều tra triệt để về nguyên nhân cái chết của Lý Vượng Dương.

Nhằm vào sự kiện Lý Vượng Dương “bị bức tự sát”, các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động nhân quyền ở các nơi trên đất Trung Quốc cũng đã lần lượt tung lên mạng lời tuyên bố “Không đời nào tôi tự sát”, để ngăn chặn Đảng cộng sản Trung Quốc tiếp tục mưu hại các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động nhân quyền khác theo cách thức giống như với Lý Vượng Dương. Đầu tiên là nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng Hồ Giai tung lên Twitter lời tuyên bố “Không đời nào tôi tự sát”, sau đó nhà kinh tế học Hạ Diệp Lương cũng tung lên trang weibo.com lời tuyên bố tương tự. Tiếp đến, ngày 15.6, nhà hoạt động nhân quyền Thượng Hải là Kim Nguyệt Hoa cũng viết lời tuyên bố “Không đời nào tôi tự sát”. Ngòai ra, cư dân Cát Chí Tuệ, nhà hoạt động nhân quyền Quách Vĩnh Phong ở khu Phong Đài Bắc Kinh và nhà hoạt động nhân quyền Lưu Chính Hữu cùng những người khác ở Tự Cống Tứ Xuyên cũng lần lượt ra lời tuyên bố “Không đời nào tôi tự sát”. Tiếp theo đó, làn sóng lời tuyên bố “Không đời nào tôi tự sát” đã nhanh chóng lan ra khắp thế giới.

Ngoài sự đấu tranh phản đối của các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động nhân quyền ra, hoạt động phản đối bảo vệ nhân quyền của dân chúng ở các nơi trên đại lục cũng liên tục không ngừng và ào ào như vũ bão. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm nay, hàng vạn dân chúng ở các khu Vạn Thịnh và Song Kiều thuộc Trùng Khánh cũng liên tục ra chặn đường, phản đối chính quyền Trùng Khánh cưỡng bức sát nhập, khiến cho mức sống của cư dân bị sụt giảm nhanh chóng. Ngày 18.6, 3000 công nhân ở Công ty Citizen Precision Co, Ltd của Nhật Bản ở Quảng Châu đã bãi công đòi tăng lương. Ngày 18 và ngày 19.6,, hàng trăm công nhân của hai nhà máy bông quốc gia ở Thanh Đảo đã ra chặn đường để phản đối công ty mua lại giá rẻ sa thải công nhân. Ngày 19.6, ở khu Việt Tú Quảng Châu có hơn 1000 người da đen ra chặn đường phản đối cảnh sát bắn chết 1 người da đen, cảnh sát huy động hàng trăm cảnh sát chống bạo động đến trấn áp. Ngày 20.6, trước cổng trụ sở chính phủ Thượng Hải của Đảng cộng sản Trung Quốc, hơn 2000 người dân bị bức hại như “bị chính quyền cướp đất đai, cưỡng chế nhà cửa, đánh đập dã man, giam giữ, lao động cải tạo, giam trong ngục tối, đưa vào bệnh viện tâm thần, công nhân bị sa thải…” đã tổ chức phản đối. Dân chúng phản đối bày tỏ, họ “đã đi kêu lên trên từ lâu rồi mà chẳng ai thèm nghe”, “thất vọng tột độ với chính quyền”, đồng thời “dọa sẽ đi đến cùng với bọn quan chức tham nhũng trong tập đoàn thối nát cầm quyền”. Ngoài ra, tuần nào cũng có hàng trăm người dân bị xâm hại quyền lợi kéo lên kêu ở Cục văn thư của chính quyền Thượng Hải. Ngày 23.6, gần 2000 bà con nông dân ở thôn Vọng Cảng, đường Gia Hòa, khu Bạch Vân, Quảng Châu đã xuống đường biểu tình, phản đối những hành vi phạm pháp của các cán bộ thôn như lạm dụng chức quyền, bán và cho thuê đất nông nghiệp giá rẻ, biển thủ khoản tiền rất lớn của tập thể thôn, thao túng bầu cử…” (VOA). Những hoạt động chống đối bảo vệ nhân quyền như thế ngày nào cũng xảy ra ở khắp nơi trên đất Trung Quốc. Sự bất bình của người dân đại lục đối với chính quyền Đảng cộng sản Trung Quốc đã chuyển dần từ “kêu oan” thụ động thành xuống đường biểu tình phản đối chủ động. Sự xung đột giữa những người dân bị xâm hại quyền lợi với chính phủ đã trở nên ngày càng trực tiếp, gay gắt, thường xuyên và công khai hơn.

Tự đổi mới hay là đợi cách mạng?

Năm 2012 là một năm nhiều sự biến và như tuổi già lay lắt của Đảng cộng sản Trung Quốc, đồng thời cũng là một năm phong trào nhân quyền và bất đồng chính kiến phát triển mạnh mẽ. Trong năm này, sự tệ hại của chế độ độc tài Đảng cộng sản Trung Quốc được bộc lộ cạn kiệt, chính quyền Đảng cộng sản Trung Quốc bị rơi vào trạng thái bất ổn chưa từng thấy, mọi mâu thuẫn của xã hội Trung Quốc gay gắt và nghiêm trọng hơn bao giờ hết.

Năm 2012 nhắc nhở Đảng cộng sản Trung Quốc rằng sự chuyên chế một đảng thực sự là khó lòng tái diễn, “giữ ổn định bằng bạo lực” không thể giữ nổi giang san màu đỏ của Đảng cộng sản Trung Quốc, “thể chế quyền quý mới” sẽ chôn vùi chính Đảng cộng sản Trung Quốc, đàn áp ngôn luận và giết chết tự do chỉ sẽ làm dấy lên làn sóng phản đối của công dân sôi sục hơn.

Năm 2012 cảnh báo Đảng cộng sản Trung Quốc rằng, chỉ có “tự đổi mới” thì mới có đường ra, chỉ có thay đổi căn bản thể chế chính trị hiện tồn và thực hành nền dân chủ lập hiến thì mới có thể tự cứu vãn được mình, chỉ có trả lại chính quyền về cho nhân dân, bảo đảm mọi quyền lợi công dân và thiết lập công bằng xã hội thì mới là chính đạo, còn nếu không thì chỉ có cách đợi người dân phất cờ nổi dậy, dùng phương thức cách mạng xã hội để lật đổ chế độ hiện tồn của Đảng, thiết lập nên trật tự dân chủ và bảo đảm công bằng xã hội.

Lòng người không thể bị làm nhục, khát vọng và nhu cầu của người dân muốn quyền lợi muốn tự do muốn sinh tồn là không thể dập tắt. Đảng cộng sản Trung Quốc mà không thay đổi, thì người dân sẽ buộc Đảng phải thay đổi. Hỡi Đảng cộng sản Trung Quốc, giờ đã đến lúc ngươi phải thay đàn đổi dây.

Nguồn: Boxun

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Cậu bé ve chai và ngôi sao Minh Cảnh – NLĐ/BS

25 Th6

 

Năm 11 tuổi, Minh Cảnh phải đi lượm ve chai, bán chuối chiên… kiếm tiền giúp gia đình. Mê vọng cổ từ vài lần nghe dĩa hát của NSND Út Trà Ôn, cơ duyên đưa đẩy Minh Cảnh đến đoàn Kim Chung và vụt sáng từ đó

Nghệ sĩ (NS) cải lương Minh Cảnh đã sang Mỹ định cư sau khi kết hôn với một phụ nữ ở tiểu bang Texas. Mới đây, tại TP Garland, các nhóm cổ nhạc đã tổ chức vinh danh người NS dù 73 tuổi nhưng vẫn còn xuất hiện trên sân khấu và nhất là vẫn trung thành với trường phái ca vọng cổ hơi dài từng làm nên tên tuổi NS Minh Cảnh.

“Thần đồng”… 21 tuổi

NS Minh Cảnh (tên thật Nguyễn Văn Cảnh, SN 1939) xuất hiện trên sân khấu khá muộn, năm 21 tuổi. Ông nhớ lại: “Với dáng người nhỏ nhắn, đôi vai gầy guộc, nhìn tôi lúc ấy giống một bé trai. Tôi còn nhớ ký giả Nguyễn Ang Ca khi đó đã gọi tôi là “thần đồng” sau suất diễn tạo làn sóng người hâm mộ trên sân khấu Đoàn Cải lương Kim Chung”.

Nghệ sĩ Minh Cảnh trong chương trình Những cánh chim không mỏi do HTV tổ chức tại Nhà Văn hóa Thanh niên TPHCM năm 2001

Quê nội của NS Minh Cảnh ở tận Quảng Bình. “Cha tôi vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề đạp xích lô, sau đó chạy taxi. Mẹ tôi là người phụ nữ hiền thục, mua gánh bán bưng phụ giúp chồng nuôi đàn con. Bà sanh đến 20 lần nhưng 12 người vì nghèo khó, bệnh tật mà mất đi, chỉ còn lại 8 người, trong đó tôi lớn nhất” – ông cho biết.

Năm 11 tuổi, Minh Cảnh về sống với bà ngoại ở góc đường Nguyễn Thiện Thuật – Điện Biên Phủ (quận 3 – TPHCM). “Năm đó, tôi phải nghỉ học để đi lượm ve chai ở các bô rác; buổi trưa còn tranh thủ bán chuối chiên, bánh cam. Chỗ tôi nhận chuối, bánh nằm trong con hẻm sau lưng nhà NSND Út Trà Ôn. Bữa nào đến sớm, tôi cũng ngồi tựa vào vách nhà ông để nghe máy dĩa bên trong phát ra những bài vọng cổ, riết rồi mê luôn. Vì thế, hôm nào tôi cũng ráng lượm ve chai, bán bánh để kiếm thêm tiền mua bài vọng cổ” – NS Minh Cảnh hồi tưởng.

Khi bà ngoại Minh Cảnh dọn nhà về quận 8, cậu bé mê vọng cổ được một anh thợ hớt tóc dạy ca theo đờn. “Dịp giỗ tổ sân khấu năm 1960, tôi bán bánh gần rạp Aristo trên đường Lê Lai. Tình cờ làm quen nhạc sĩ Năm Được, đàn violon trong ban cổ nhạc Đoàn Cải lương Kim Chung, tôi được anh dẫn vào hậu trường chơi. Sau đó, tôi được giới thiệu ca 6 câu vọng cổ Lá thư người tình. Không ngờ, ông bầu Long chấp nhận cho tôi vào đoàn, ký hợp đồng 2 năm. Nghệ danh Minh Cảnh của tôi là do vợ nhạc sĩ Năm Được đặt” – ông kể.

NS Minh Cảnh nổi tiếng trong giới cải lương vì vận dụng hơi ca dài để sáng tạo trường phái mới. Cách ca hơi dài, vô câu vọng cổ 53 chữ, chêm vào bài hò Huế trong tuyệt phẩm đầu tiên Quán gấm đầu làng (soạn giả Loan Thảo) đã tạo nên “thương hiệu” Minh Cảnh.

Nếu các NS khác nổi danh trên sân khấu rồi mới được các hãng dĩa mời mọc thì ngược lại, Minh Cảnh chưa làm kép một ngày nào đã là ngôi sao làng dĩa nhựa với số lượng phát hành vượt trội. “Tôi không được đào tạo qua trường lớp mà chỉ có giọng ca trời cho. Tôi cũng không phải làm kép con, quân sĩ… để đi lên kép chính, chỉ nhờ giọng ca mà nên danh phận” – ông tự hào.

Gặp tướng cướp Điền Khắc Kim

Sau khi tạo dựng tên tuổi trên sân khấu gánh Kim Chung, NS Minh Cảnh đứng ra lập Đoàn Cải lương Minh Cảnh và Đoàn Thiên Cảnh.

NS Minh Cảnh cho biết trước năm 1975, các băng nhóm thế giới ngầm hoạt động rộng, công khai ở Sài Gòn, chia nhau lãnh địa để bảo kê nhà hàng, sòng bạc, đâm thuê, chém mướn… Nhiều “đại ca” khét tiếng thời đó như Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Long “trăng”, Tạ Tình, Vũ Thế Hùng, Tín Mã Nàm, Điền Khắc Kim… tuy bản chất tàn ác nhưng cũng có nhiều tay mê cải lương. Trong đó, tướng cướp Điền Khắc Kim là một khán giả trung thành của NS Minh Cảnh.

“Mỗi lần đi xem hát, tay này đều mua tặng tôi lẵng hoa với dòng chữ “Một khán giả vô cùng ái mộ Minh Cảnh”. Ban đầu, tôi đâu biết Điền Khắc Kim là ai, cứ ngỡ đó là một khán giả bình thường và cũng chỉ mấy lần sơ giao. Một hôm, tôi bỗng thấy hình ảnh gã trên báo đăng kèm tin tức một vụ cướp tiệm vàng táo tợn. Tôi giật nảy mình nhưng rồi sau đó vẫn thấy gã đi xem hát và tiếp tục tặng hoa” – NS Minh Cảnh nhớ lại.

“Một lần, khi vãn hát, tôi mời gã đi ăn khuya và hỏi thẳng chuyện báo đăng. Điền Khắc Kim cười cười, giải thích: “Vụ này em làm để kiếm tiền cứu đám đàn em bị bắt quân dịch. Đại ca yên tâm, lo lót xong vụ này, em giải nghệ xin theo đoàn hát làm quân sĩ”. “Không rõ lời Điền Khắc Kim có chính xác hay không, tôi chỉ biết ký tặng gã bài ca cổ Tu là cội phúc của soạn giả Viễn Châu như một lời gửi gắm” – NS Minh Cảnh ngậm ngùi.

Trước đây, cố NS Lê Vũ Cầu từng xuất thân từ một băng nhóm xã hội đen ở Quy Nhơn – Bình Định và cũng được NS Minh Cảnh ra tay cưu mang, rứt ra được hang ổ đó rồi theo đoàn của ông và trở thành NS. “Bài học ở đời mà tôi luôn ghi nhớ là lấy chữ tâm của nghề để hướng thiện con người” – ông chiêm nghiệm.

Kỳ tới: Thanh Tú và cuộc tình sóng gió

Khóc cười sau bức màn nhung

Khán giả biết đến Minh Cảnh, Minh Vương, Thanh Tú, Văn Chung, Mỹ Châu, Ngọc Giàu… với những hào quang của các nghệ sĩ cải lương tài danh. Song, để đạt được danh vọng đó, con đường của họ không ít thăng trầm, buồn vui.

Khuất phục “đại ca” miệt vườn

NS Minh Cảnh tiết lộ khi đã có tên tuổi, ông quyết học võ, không phải phục vụ cho diễn xuất mà để… làm bầu. Ông từng chọn những vùng quê xa xôi để đưa gánh hát của mình đến lưu diễn và thường bị quậy phá bởi những kẻ côn đồ miệt vườn khoái xem hát nhưng không muốn tốn tiền mua vé.

“Một lần, đoàn của tôi diễn ở Bình Định, có đám thanh niên do một tên để râu quai nón đến quậy phá. Tôi dùng vài đường quyền hạ đo ván gã ngay trước rạp. Không ngờ, gã đó lại là chủ một lò võ, sau đêm hát đã mang gà, rượu tới xin kết nghĩa đệ huynh với tôi. Lần khác, khoảng năm 1969-1970, khi lưu diễn ở Phan Rí, chúng tôi bị một đám lính đến gây sự. Khi ra hòa giải, tôi bị 2 tên gí súng vào đầu dọa bắn. Không thể nhịn được nên tôi xuất chiêu, tước hết vũ khí và khống chế chúng. Thấy sự việc nghiêm trọng, tôi quyết định hạ phông màn để chuyển bến, ai dè “đại ca” của nhóm này đã tìm đến xin lỗi…” – ông nhớ lại.

 

Bài và ảnh: THANH HIỆP

ĐÃ TIM RA TÁC GIẢ “ĐẾ HỆ THI” TRIỀU NGUYỄN – BS

25 Th6

ĐÃ TIM RA TÁC GIẢ “ĐẾ HỆ THI” TRIỀU NGUYỄN

alt
Bản thảo ĐẾ HỆ THI CỦA Đinh Các học sĩ Đinh Hồng Phiên được vua Minh Mạng sửa và phê chuẩn ( chữ mực đỏ)

 

           ĐÃ TÌM RA TÁC GIẢ BÀI THƠ  ĐẾ HỆ THI

TRIỀU NGUYỄN

                                                                        Ngô Minh

            Sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng có cho soạn bài Đế hệ thi và 10 bàiPhiên hệ thi để đặt chữ lót trước tên cho con cháu trực hệ vua (đế hệ) cùng con cháu của mười hoàng tử anh em (phiên hệ). Đế hệ thi được soạn theo thể thức thơ tứ tuyệt có nội dung một bài thơ hoàn chỉnh. Bài thơ 4 câu, mỗi câu 5 chữ, thành 20 chữ: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo Quý Định Long Trường/ Hiền NăngKham  Kế Thuật / Thế Thụy  Quốc Gia  Xương (Từng chữ có nghĩa như sau : HƯỜNG: Oai hùng ; ƯNG: Nên danh, ; BỬU: Bối báu; VĨNH: Bền chí; BẢO: Ôm lòng; QUÝ: Cao sang; ĐỊNH: Tiên quyết ; LONG: rồng tiên ; TRƯỜNG: Vĩnh cửu; HIỀN: Tài đức, phúc ; NĂNG: Gương ; KHAM: Đảm đương; KẾ: Kế sách ; THUẬT: ghi chép ; THẾ: trường thọ ; THỤY: Ngọc quý ; QUỐC:  giang san ; GIA: Muôn nhà ; XƯƠNG: Phồn thịnh  . 10 bài phiên hệ thi mỗi bài cũng 4 câu, mỗi câu 5 chữ, thành 200 chữ. Sau khi đế hệ thi và phiên hệ thi được vua ban, các hệ con cháu đời này qua đời khác của triều Nguyễn cứ thế mà đặt chữ lót trước tên cho thống nhất.

         Theo đế hệ thi, thì tên của các vua Nguyễn từ Minh Mạng trở lui là : Nguyễn Phúc + chữ lót trong Đế hệ thi + tên : vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Miên Tông, Tự Đức là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm; Dục Đức là Nguyễn Phúc Ưng Chấn; Hiệp Hòa tên là Nguyễn Phước Hường Dật; Kiến Phúc là Nguyễn Phước Ưng Ðăng ;Hàm Nghi là Nguyễn Phước Ưng Lịch ; Đồng Khánh tên là Nguyễn Phước Ưng Đường; Thành Thái là Nguyễn Phước Bửu Lân; Duy Tân là Nguyễn Phước Vĩnh San; Khải Định là Nguyễn Phước Bửu Đảo; Bảo Đại là Nguyễn PhướcVĩnh Thụy . Nhưng người cùng thế hệ  Miên, Hường… dù không làm vua cũng có chữ lót như nhau. Triều Nguyễn chấm dứt vị vì từ  tháng 8-1945, thời vua Bảo Đại. Từ năm 1945 đến nay, nhà Nguyễn không còn , nhưng con cháu của họ vẫn theo Đế hệ thi và  phiên hệ thi mà đặt chữ lót cho con cháu từ đời này sang đời khác. Chứng tỏ bài Đế hệ thi là vô cùng quan trọng để nhận ra người trong Hoàng tộc Nguyễn.

             Lâu nay các học giả, nhà báo trên các sách vở, báo chí, thường cho rằng thơ Đế hệ thi là do vua Minh Mạng sáng tác. Vua Minh Mạng là  một ông trí tuệ uyên bác. Vua đúc Cửu Đỉnh để khẳng định chủ quyền quốc gia,    vua Minh Mạng là thi sĩ chính hiệu, làm rất nhiều thơ ca ngơi cảnh sản xuất nông thôn. Vua Minh Mạng chính là kiến trúc sư của  quần thể di tích Cô Đô Huế được cộng nhận là Di  sản thế giới.  Nên nói vua soạn Đế hệ thi ai cũng cho là có lý. Không ai biết  vua đã sai người soạn 11 bài thơ cốt tử này. May sao , sách “ Nghiên cứu Huế” do nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan chủ biên, tập 8, ấn hành tại Huế  quý I/2012 , do NXB Thuận Hóa và Trung Tâm nghiên cứu Huế xuất bản, đã cung cấp cho độc giả một tư liệu rất quý, làm sáng tỏ việc  ai là tác giả của Đế hệ thi. Anh Nguyễn Hữu Châu Phan cho điện cho Ngô Minh biết, cách đây  5 năm, một người tên là Đinh Văn Niêm gửi cho Nghiên Cứu Huế một bài viết về tác giả khởi thảo Đế hệ thiPhiên hệ thi chính là Đông các học sĩ Đinh Hồng Phiên , quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tư liệu thật quý , nhưng bài viết đơn giản, nên phải  kiểm tra xác minh suốt năm năm ròng. Phải nhờ người lục tìm, tham khảo và chụp ảnh tài liệu Châu bản triều Nguyễn ở Trung tâm lưu trữ Quốc gia . Khi có đủ tàu liệu chính xác , Nghiên cứu Huế mới công bố bài viết của anh Đinh Văn Niên vào đầu năm 2012. Chúng tôi xin cung cấp vài tình tiết trong Nghiên Cứu Huế để bạn đọc rõ hơn tư liệu lịch sử thú vị này.

                Ở Hà Nội hiện nay có ông  Đinh Văn Niêm, hậu duệ của Đinh Các học sĩ Đinh Hồng Phiên ( gọi ông Phiên là cụ tổ) đã gửi cho Ban biên tập Nghiên cứu Huế bài viết về việc năm 1820, Đông các học sĩ Đinh Hồng  Phiên được vua giao làm Ngọc phả. Vua phán:” hoàng khảo ta lập pháp luật, định chế độ, rất lauu tâm đến việc kế thuật. Các khanh làm Ngọc phả nên xét kyc thế thứ trong sách vở cũ , liệt kê đầy đủ để dâng trình , đợi chỉ sử định” ( Đại Nam thực lục, tập 2 ). Trong gia phả họ Đinh Văn, Kim Khê, Nghi Long, Nghi Lộc có ghi :” Đông các học sĩ Đinh Phiên nhậm chức soạn định thể thức cáo văn , sắc văn, tu soạn Liệt Thánh Thực lục, đồng thời được giao việc hệ trọng là sáng tác đế hệ thi và phiên hệ thi” ( Đinh Văn tộc gia phả ). Ban biên tập sách Nghiên cứu Huế đã tìm trong “Mục lục Châu bản triều Nguyễn” của Viện Đại học Huế xuất bản năm 1962, ở tập 2 triều Minh Mạng một bản tâu có nội dung liên quan : “Đông các học sĩ Đinh Nguyễn Phiên tâu chỉ soạn các chữ Ngọc phổ, tất cả 11 bài, mỗi bài 4 câu 20 chữ, tổng cộng 220 chữ”, đề ngày 29/11, năm Minh Mạng thứ nhất (1820). Ông Đinh Văn Niêm đã đến Trung tâm Lưu trữ quốc gia I ở Hà Nội, xin được bản sao in màu Châu bản quý giá đó .

           Theo tác giả Đinh Văn Niêm, Đinh Hồng Phiên sinh năm 1764 tại làng Ông La Giáp, tổng Kim Nguyên, huyện Chân Lộc, phủ Đức quang ( nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Ông đậu Hương Cống thứ hai, khoa thi Quý Mão, Cảnh Hưng năm thứ 44( 1783) đời vua Lê Hiển Tông. Khoa này Nguyễn Du Tiên Điền đậu sinh đồ. Năm 1787, đi thi Hội ông Phiên đậu Tam  trường trúng cách ( ngang Phó bảng thời Nguyễn ). Ông được bổ Toản tu Quốc sử quán triều Lê.. Thời Nguyễn, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã vời ông ra lám quan với triều Nguyễn. Năm Gia Long thứ 14 ( 1815) ông được vua bổ Đốc học Quảng Nam, Năm Kỷ Mão, Gia Long thứ 18 ( 1819) ông được bổ Đông các học sĩ, sung vào đoàn đi sứ nhà Thanh, Trung Quốc. Ông có tập thơ Hán Cao Tổ và một số câu đối truyền lại đến nay. Đi sứ Trung Hoa, ông có một số bài thơ được in vào các loại đồ sứ Trung Hoa. Như câu Nghêu ngao vui thú sơn hà / Mai là bạn cũ  hạc là người thân, được in nguyên chữ Nôm vào đồ gốm, mà người đời sau cho là của Nguyễn Du. Vì Đinh Hồng Phiên và Nguyễn Du là bạn đồng hương, đồng khoa thi. Con trai Đinh Hồng Phiên là tiến sĩ Đinh Văn Phác, lấy Nguyễn Thị Tiềm là con gái Nguyễn Du. Đến thời vua Minh Mạng, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng ở triều đình. Nhiều năm làm giám thị các kỳ thi Hương Trường thi Quảng Đức, Sơn Nam của Triều Nguyễn. Đinh Hồng Phiên có con trai là Đinh Văn Phác đã đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ  tại kỳ thi Hội  năm Nhâm Ngọ, Minh Mệnh thứ 3 ( 1822). Nhưng quan trọng nhất là chức “soạn định thể thức cáo văn, sắc văn”- chức này đã giúp cho Đinh Hồng Phiên có điều kiện để  soạn cho vua Minh Mạng Ngọc Phổ bài đế hệ thi và 10 bài phiên hệ thi, được vua “châu phê”

            Năm Minh Mệnh thứ nhât, ngày 20 tháng 11 năm 1820, Nguyễn Đình Phiên đã tâu lên vua Minh Mạng :” Bề tôi Đông các học sĩ Nguyễn Đình Phiên cứu đầu, rập đầu trăm lạy  kính tâu về việc : Nay kính vâng chủ kiếm soạn các chữ trong Ngọc Phổ . Hãy kính đấy. Kinh cẩn xếp thành  11 bài 4 câu 20 chũ, cộng 220 chữ kính cẩn trình bày theo thứ tự. Kính chờ Thánh thượng xét đoán” ( bản dịch từ chữ Hán, Châu bản triều Nguyễn, tở 223 đến 235). 11 bài trong Ngọc Phổ ấy, bài đầu là Đế hệ thi và 10 bài  sau là Phiên hệ thi. Bài Đế hệ thi , Đinh Hồng Phiên  viết : Miên hồng khai bửu tộ/ Bảo định ứng trinh tường/ Toản tự di nhân viễn/ Gia hy tích dận trường. Đọc bài thảo, “vua Minh Minh Mạng ban đầu sửa chữKhai thành chữ Ưng .Câu thứ hai vua sửa lại là Long quý định bảo trường. Câu ba, Toản tự di nhân viễn, vua sửa lại là Hiền năng kham kế thuật. Câu bốn : các chữ hy tích dận trường vua sửa thành Thụy Quốc gia xương. Rồi vua lại sửa câu bốn một lần nữa, thành Thọ Thế Quốc Gia Xương, sau đó vua lại lấy lại Thế Thụy. Rồi  vua tham khảo ý kiến  anh em mình và các  trí thức trong triều,  một lần sửa nữa mới chính thức thành: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo  Quý Định Long Trường/ Hiền Năng Kham  Kế Thuật / Thế  Thụy  Quốc  Gia  Xương .  Bài Đế hệ thi không chỉ để đặt tên, mà còn là một bài thơ hoàn chỉnh .Tạm dịch nghĩa theo vần lục bát như sau :

  Huân nghiệp lớn Tổ Tiên gầy dựng.

Gắng giữ gìn cho xứng ân sau:

Phồn vinh thịnh đạt dài lâu,

Anh tài, hiền đức cùng nhau bảo toàn.

Đời đời nối nghiệp tiền nhân,

Nước nhà hưng vượng muôn phần phát huy.

              Về 10 bài Phên hệ thi mà Đinh Hồng Phiên trình tấu, vua Minh Mạng cũng sửa rất kỹ như thế, nhưng số chữ  sửa ít hơn. Ví dụ, theo Đinh Văn Niêm, Bài Phiên hệ thi 1, vua Minh Mạng thêm vào đầu bài hai chữ   Anh Duệ, sửa câu câu nhất  Tế mỹ duy phiên tráng thành Mỹ Lệ Phiên Cường Tráng . Còn câu 2,3,4 vua giữ nguyên . Thành ra bài thơ như sau : Mỹ Lệ Phiên Cường Tráng / Liên huy vĩnh thế xương/ Lệnh nghi sùng tốn thuận/ Vỹ vọng biểu khiêm quang. Bài phiên Hệ thứ 2, vua thêm đầu bài là hai chữ Kiến An. Câu thứ nhất Hữu Đắc Giao Lương Quý vua sửa lại là  Lương Khiên Giai Hữu Thức. Thành bài : Lương Khiên Giai Hữu Thức/  Du hành suất nghĩa phương/ Dung di tương thức hảo/ Bính diệu trác vi chương.v.v..Nói chung 10 bài Phiên hệ thi bài nào do Đinh Hồng Phiên  thảo tấu, bài nào cũng được vua  đọc rất kỹ , thêm hai chữ đầu bài , nhưng vua sửa chữa chỉ một câu hoặc vài ba chữ. 10  bài  Phiên hệ thi sau đó còn được anh em vua, các Hoàng tử con vua Minh Mạng ( là những nhà thơ cự phách như Miên Thẩm, Miên Trinh…) góp ý sửa chữa, chính thức như sau :

  1. Anh Duệ hệ : Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng /Liên Huy Phát Bội Hương? Linh Nghi Hàm Tốn Thuận / Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang

2. Kiến An hệ:  Lương Kiến Ninh Hòa Thuật/ Du Hành Suất Nghĩa Phương/ Dưỡng Di Tương Thực Hảo/ Cao Túc Thể Vi Tường

3. Định Viễn hệ:  Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái/ Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha/Nghiễm Khác Do Trung Đạt/ Liên Trung Tập Cát Đa

4. Diên Khánh hệ: Diên Hội Phong Hanh Hiệp / Trùng Phùng Tuấn Lãng Nghi/Hậu Lưu Thành Tú Diệu / Diễn Khánh Thích Phương Huy

5. Điện Bàn hệ: Tín Diện Tư Duy Chánh/ Thành Tôn Lợi Thỏa Trinh/ Túc Cung Thừa Hữu Nghị / Vinh Hiển Tập Khanh Danh

6. Thiệu Hóa hệ:  Thiện Thiệu Kỳ Tuần Lý / Văn Tri Tại Mẫn Du / Ngưng Lân Tài Chí Lạc/ Địch Đạo Doãn Phu Hưu

7. Quảng Oai hệ: Phụng Phù Trưng Khải Quảng / Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ / Điển Học Kỳ Gia Chí / Đôn Di Khắc Tự Trì

8. Thường Tín hệ: Thường Cát Tuân Gia Huấn/ Lâm Trang Túy Thạnh Cung/Thận Tu Dy Tấn Đức / Thọ Ích Mậu Tân Công

9. An Khánh hệ: Khâm Tùng Xưng Ý Phạm / Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy/ Khải Dễ Đang Cần Dự / Quyên Ninh Cộng Tráp Hy

10. Từ Sơn hệ: Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm / Phu Văn Ái Diệu Dương / Bách Chi Quân Phụ Dực / Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương

Đó là tên phiên hệ dùng cho thứ tự  các Hoàng Tử. Chữ lót của mỗi đời dùng một chữ trong bài thơ.

            Qua tư liệu mà  Nghiên Cứu Huế trình bày ở trên, ta thấy tác giả khởi thảo  Đế hệ thịPhiên hệ thi là Đông các học sĩ Đinh Hồng Phiên. Nhưng vua Minh Mạng cũng giống như  người “đồng tác giả” vì đã góp công sữa chữ, thay đổi câu chữ nhiều lần để đi đến hoàn chỉnh. Nhất là bài Đế hệ thi. Theo Nghiên Cứu Huế dẫn Đại Nam thực lục, vào tháng tư năm Minh Mạng thứ 4 (1823), Vua bansách bằng vàng ngự chế về đế hệ dành cho trực hệ của vua và sách bạc về phiên hệ dành cho con cháu các anh em của vua . Lễ tuyên đọc và ban sách được tổ chức ở sân điện Thái Hòa. Nhà vua nói với các hoàng tử rằng: “Trẫm nghĩ tôn thống là quan trọng, muốn thực hiện chí của tiên hoàng, bèn soạn 20 chữ hay, lưu để cho người nối ngôi về sau, chia ra dòng đế, dòng phiên để phân biệt thân sơ… Trẫm chỉ giơ tay lên trán cầu trời cho từ nay về sau con cháu ta nhận nối cơ đồ lớn sẽ được hưởng 500 năm, hưởng đời hơn 20 đời. Cũng không dám mong nhiều đâu…”. Nhưng triều Nguyên từ vua Gia Long đến Bảo Đại, 13 đời vua chỉ tồn tại 143 năm, được một câu đầu trong đế hệ thi MIÊN HƯỜNG ƯNG BỬU VĨNH.

            Cuộc đời Đông các học sĩ Đinh Hồng Phiên thật bi hài. Ông đã cùng vua Minh Mạng soạn Đế hệ thi và Phiên hệ thi, được vua ghi vào sách vàng, sách bạc triều Nguyễn, nhưng chính vua Minh Mạng lại là người ra lệnh giết Đinh Hồng Phiên, vì những năm sau đó ông đã theo Lê Văn Khôi (  coi nuôi Lê Văn Duyệt)  khởi binh đánh chiếm thành Gia Định , kêu gọi khôi phục sự nghiệp nhà Lê ở Đằng Ngoài. Nhưng đó là một vấn đề khác, không ở phạm vi bài viết này.

Primakov – Kissinger: Hoa Kỳ đang lặp lại sai lầm của chúng tôi – BS

25 Th6

Primakov – Kissinger: Hoa Kỳ đang lặp lại sai lầm của chúng tôi

Примаков – Киссинджеру: США повторяют нашу ошибку

Andrew MOISEENKO

Nguồn: kp.ru

Kichbu posted on 24.06.2012

Cựu Thủ tướng Nga tại Diễn đàn kinh tế St Petersburg đã công khai tranh luận với “người bạn không đội trời chung” của mình – cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ.

Cuộc gặp gỡ của hai nhà ngoại giao danh tiếng nhằm bàn những thách thức địa chính trị của thế kỷ XXI. Các lực sĩ hạng nặng chính trị đã thảo luận về mối quan hệ không đơn giản hiện nay giữa Nga và Hoa Kỳ và các cuộc cách mạng Ả Rập.

Trong lời mở đầu của mình, Henry Kissinger lưu ý rằng đối với Hoa Kỳ duy trì một mối quan hệ đáng tin cậy, tốt đẹp với Nga rất quan trọng. Nhưng Yevgeny Primakov ngay lập tức phản đối rằng có những vấn đề mà chúng hiện đang gây trở ngại cho sự phát triển của chính những quan hệ này.

Chúng tôi cùng các vị luôn luôn tìm thấy tiếng nói chung – ông Yevgeny Maximovich (Primakov) nói. – Các tổng thống của chúng ta đang tìm thấy tiếng nói chung. Tuy nhiên, nó đang bị giới hạn bằng những cuộc trao đổi. Và bây giờ ở chúng ta có những quan hệ rất đáng ngờ. Hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu của Hoa Kỳ được xây dựng, và, tôi nghĩ, tất cả mọi người cần phải hiểu được mối tương quan giữa xây dựng hệ thống này và quá trình chế tạo các vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược. Có lẽ, ai đó ở Hoa Kỳ nghĩ rằng bằng cách đó chúng tôi bị lôi kéo vào cuộc chạy đua vũ trang?! Liên Xô không còn tồn tại, và một trong những nguyên nhân chính là người ta buộc nó phải tham gia vào cuộc chạy đua vũ trang Nhưng bây giờ không cần chạy đua vũ trang. Bởi chính chúng ta sẽ bắt đầu nó không phải từ zero.

Tuy nhiên, đề tài hệ thống phòng thủ tên lửa nhanh chóng bị tắt. Cả hai chính khách đã đồng ý: “trọng tâm” bây giờ đã chuyển sang khu vực Châu Á. Và chúng ta cần phải cùng nhau làm việc để giảm sự căng thẳng ở lò lửa của cuộc xung đột. Tuy nhiên, ở đây hóa ra rằng các nhà ngoại giao nhìn nhận tình hình theo cách khác nhau.

Primakov nói về tính chất bịa đặt rằng Iran chế tạo vũ khí hạt nhân. Nếu nó được chế tạo, thì điều này cũng không dẫn đến chiến tranh ngay lập tức.

– Vũ khí hạt nhân dựa vào cái gì? Đó là sự tiêu diệt được đảm bảo như một công cụ kiềm chế! Nhưng ở Trung Đông – chồng chéo. Ở đó không thể sử dụng vũ khí hạt nhân bởi cả Iran, hoặc thậm chí Israel, bởi vì, chẳng hạn, những người Hồi giáo sống ở khắp mọi nơi – trong đó có cả ở Israel. Theo như tôi biết, người Mỹ không có những thông tin rằng Iran đã quyết định để tạo vũ khí hạt nhân.

Từ Iran chính khách quay sang Libya. Theo lời ông, Nga và Liên Hiệp Quốc đã trở thành nạn nhân của cuộc phiêu lưu.

– Người ta đã lừa dối chúng tôi. Họ đã lừa dối những người bạn Mỹ của chúng tôi. Bởi vì họ đã nói với chúng tôi rằng ở Libya sẽ đóng cửa bầu trời, máy bay sẽ không ném bom dân thường. Và chúng tôi hiểu tầm quan trọng của điều này. Chúng tôi đã làm theo yêu cầu của người Mỹ. Còn sau đó trở nên rõ ràng rằng lực lượng không quân bắt đầu ném bom Gaddafi. Chúng tôi đang học. Và theo Syria, chúng tôi sẽ hành động, ghi nhớ kinh nghiệm của Libya.

Đối lại Kissinger đã phản bác rằng Mỹ sẽ không theo đuổi lợi ích riêng của họ và hành động vì lợi ích của công dân của những quốc gia nơi xảy ra các cuộc xung đột.

– 95% dân số Mỹ không biết Libya, Syria và Iran nằm ở đâu – Kissinger thừa nhận. – Khi ở đất nước tương tự bắt đầu cuộc nội chiến, người Mỹ theo bản năng muốn chấm dứt. Syria trong ý nghĩ nào đó là một nhà nước nhân tạo được thành lập vào cuối Chiến tranh thế giới thứ I. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ điều gì sẽ xảy ra sau sự sụp đổ của quốc gia này. Ở đây chúng ta đánh giá một cách khác nhau về những hậu quả. Chúng tôi ở Mỹ và các vị ở Nga, cần chấm dứt hình dung điều này như cuộc xung đột các lợi ích của Hoa Kỳ và Nga.

– Ở chúng tôi, vào những năm 20s, những người trotskist cũng cho rằng có thể xuất khẩu cách mạng mà không phụ thuộc vào các điều kiện trong các nước mà cách mạng xuất khẩu đến, – Yevgeny Maximovich nói. – Hoa Kỳ đang lặp lại sai lầm của chúng tôi. Dân chủ cần phải phát triển từ bên trong.

Kissinger hóa ra đồng ý với điều này – ông cũng không thích khi dân chủ được gieo rắc bằng bạo lực. Mặc dù vậy đã cười mĩm: “Với những nhận xét như vậy ông đang làm cho việc trở về nhà của tôi trở thành không thể!”

– Như nhà nghiên cứu lịch sử, tôi cho rằng sự tiến hóa của xã hội phải tuân theo nhịp điệu của lịch sử của nó. Tôi đánh giá khả truyền bá dân chủ bằng các cuộc chiến tranh khá là thấp so với một số đồng hương của mình. Tuy nhiên, tôi đồng ý – các mục tiêu của họ gần gủi với tôi. Một số phần tử tân bảo thủ ở Hoa Kỳ hành xử khác đi và thảo luận với tôi. Nhưng cuộc tranh luận đó nên như thế và chỉ ở lại trong nước.

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 18/6-24/6 – NCBĐ

25 Th6

dinh tuan anh

  -(Ld 22/6) Trung Quốc đưa siêu giàn khoan tới vùng biển tranh chấp? Giới chuyên gia năng lượng Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc cuối cùng sẽ di chuyển giàn khoan dầu khổng lồ cấp siêu sâu của nước này tới những vùng biển sâu hơn và giàu dầu mỏ ở phía nam biển Đông; (Nld 21/6) Philippines sẽ điều tàu trở lại bãi đá ngầm Scarborough

-(Gd 21/6) Philippines công bố video giằng co với tàu TQ ở Scarborough: Lúc này 4 tàu công vụ Trung Quốc kéo đến án ngữ ngay lối vào đầm phá bãi đá Scarborough trong khi 4 chiếc khác cũng đang bám theo tàu MCS -3008; Phản ứng hết sức vô lý của TQ khi không quân VN tuần tra Trường Sa

-(RFI 21/6) Việt Nam thông qua Luật Biển khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa. Trung Quốc cực lực phản đối: Hôm 21/06/2012 Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển, trong đó khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam; (VOA 21/6) Trung Quốc phản đối Luật Biển Việt Nam vừa thông qua

-(Toquoc 21/6) Công ước Luật Biển và chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam với các vùng biển, hải đảo: Công ước Luật Biển năm 1982 xác định quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển; (CP 21/6) Tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 21/6/2012

-(VOV 21/6) Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam: Sáng 21/6, với 495/496 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt 99,2%), Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam; (Vnexpress 21/6) Philippines có thể điều tàu trở lại bãi cạn tranh chấp

-(Gd 21/6) Phản ứng hết sức vô lý của TQ khi không quân VN tuần tra Trường Sa: Ngày 19/6 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng phản đối hoạt động thị sát một số đảo trong khu vực quần đảo Trường Sa của không quân Việt Nam; Scarborough sẽ nóng hơn sau cơn bão thật trên Biển Đông?

-(Nld 21/6) Philippines sẽ điều tàu trở lại bãi đá ngầm Scarborough: Tổng thống Philippines Benigno Aquino hôm 20-6 cho biết sẽ yêu cầu điều tàu trở lại bãi đá ngầm Scarborough khi thời tiết thuận lợi nếu khi đó tàu của Trung Quốc không rời khỏi khu vực này; (TN 21/6) Đối thoại Chính trị – An ninh – Quốc phòng Việt – Mỹ

-(Bdv 20/6) Việt-Mỹ khẳng định lợi ích chung nâng tầm quan hệ đối tác: Trong Đối thoại Chính trị – An ninh – Quốc phòng Việt – Mỹ lần thứ 5  tại Hà Nội, hai bên đã trao đổi về các vấn đề song phương, khu vực và toàn cầu cùng lợi ích và quan tâm; (Vnplus 20/6) ASEAN và Mỹ tăng cường quan hệ đối tác chiến lược

-(VNN 20/6) Không dùng vũ lực giải quyết tranh chấp Biển Đông: Việt Nam và Mỹ chia sẻ quan điểm rằng các tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình; (Ddk 20/6) Những nội dung cơ bản trong tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

-(DT 20/6 ) Biển Đông “lặng sóng” nhờ… bão: Cơn bão chính trị dai dẳng hơn 2 tháng qua trên Biển Đông đang tạm lắng dịu nhờ… một cơn bão nhiệt đới đang hình thành; (Phunutoday 20/6) Vì sao Trung Quốc chưa dám bước qua vạch đỏ Biển Đông?

-(VOV 20/6) Không gây sức ép hay sử dụng vũ lực ở Biển Đông: Điều này được nhấn mạnh trong Đối thoại Chính trị – An ninh – Quốc phòng Việt Nam – Mỹ lần thứ 5, diễn ra ngày 20/6, tại Hà Nội; (Nld 20/6)Đóng tàu có sân đỗ trực thăng đầu tiên cho Cảnh sát biển VN

-(Vnplus 20/6) Philippines sẽ điều tàu trở lại bãi đá ngầm tranh chấp: Tuyên bố trên đã thắp lên hy vọng chấm dứt cuộc đối đầu giữa Manila và Bắc Kinh tại khu vực này trong hơn hai tháng qua; (BBC 20/6) ‘Tránh bất lợi cho luật biển Việt Nam’

-(Vnplus 20/6) “Tàu TQ hiện diện tại vùng Biển Đông tranh chấp”: Bắc Kinh không có kế hoạch ngay lập tức rút tàu ra khỏi bãi đá ngầm Scarborough;(TVN 20/6) Triệu chứng Trung Quốc

-(Gd 20/6) Hậu Shangri-La Bộ trưởng Quốc phòng Singapore đi TQ bàn về biển Đông: Bộ trưởng Quốc phòng nước này ông Ng Eng Hen đã có chuyến công du Bắc Kinh từ ngày 18 đến ngày 21/6; Trung Quốc sẽ có 106 tàu chiến cỡ lớn trong 10 năm tới

-(TVN 19/6) Nước cờ mới trong ngoại giao quân sự của Trung Quốc: Trong bối cảnh căng thẳng trong nước, giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc muốn bên ngoài an toàn; (Vnplus 19/6) Nhật, Indonesia hợp tác về Triều Tiên và Biển Đông

-(TT 19/6) TQ điều thêm tàu cứu hộ đến đảo tranh chấp: Tàu cứu hộ Nan Hai Jiu 115 sẽ làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho các tàu cá Trung Quốc khi cơn bão nhiệt đới Guchol đang hoành hành ở biển Đông;(Ld 19/6) Các cơ chế giải quyết tranh chấp về biển hiện nay

-(Dân trí 19/6) Trợ lý quân sự của Ngoại trưởng Mỹ đến Việt Nam: Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay, ông Andrew Shapiro, Trợ lý Ngoại trưởng về Chính trị và Quân sự đến Việt Nam trong hai ngày 19 và 20/6; (Gd 19/6) Hồng Lỗi: Philippines nên cẩn trọng trong phát ngôn, hành động

-(Dân trí 19/6) Biển Đông “lặng sóng” nhờ… bão: Lấy lý do thời tiết xấu, cả Trung Quốc và Philippines đều ra lệnh rút các tàu của mình khỏi khu vực bãi đá cạn tranh chấp Scaborough/Hoàng Nham; (VTC 19/6) “Trung Quốc vẫn duy trì tàu ở Hoàng Nham/Scarborough”

-(VNN 19/6) Nguy cơ chiến tranh lạnh khi TQ tăng chi tiêu quân sự: Hạm đội tàu ngầm của Trung Quốc có thể chứng minh mối đe dọa lớn với các tàu Mỹ; (VOA 18/6) Việt Nam, Campuchia sắp khánh thành các cột mốc phân định biên giới biển

-(RFI 18/6) Philippines và Trung Quốc rút tàu ra khỏi vùng bãi đá Scarborough: Thời tiết xấu có thể là một lý do tốt để làm giảm căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc trong vụ tranh chấp chủ quyền tại bãi đá Scarborough ở Biển Đông; (Gd 18/6) Thăm “vua” Đinh Tiên Hoàng tại quân cảng Cam Ranh

-(TN 18/6) Đấu tranh chủ quyền hiệu quả: Vào ngày 27 và 28.6 tới, Viện Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ dự kiến tổ chức Hội nghị “Biển Đông và châu Á – Thái Bình Dương trong chuyển đổi: Khám phá những chọn lựa quản lý tranh chấp”; (Sggp 18/6) Lá cờ gốm khổng lồ ở Trường Sa Lớn – Tình yêu với biển đảo quê hương

-(Vnplus 18/6) Philippines và Mỹ lập trung tâm giám sát Biển Đông: Quân đội Philippines cho biết Manila và Washington đã bắt đầu triển khai kế hoạch lập một trung tâm giám sát ở Biển Đông; (Vnexpress 18/6) Việt Nam giải quyết bất đồng trên biển Đông bằng hòa bình

-(TN 18/6) Công ước luật Biển năm 1982: Hiến chương của thế giới về biển và đại dương: Kể từ khi được thành lập cho đến nay, LHQ đã dành sự ưu tiên đặc biệt cho hoạt động pháp điển hóa và phát triển tiến bộ các quy phạm và nguyên tắc của ngành luật biển quốc tế.; (Vneconomy 18/6) Quốc hội thông qua Luật Biển trước khi bế mạc kỳ họp thứ ba

THẾ GIỚI TRONG NĂM 2012 – BS

25 Th6

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

THẾ GIỚI TRONG NĂM 2012

Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 23/6/2012

(Jessica Tuchman Mathews – Carnegie Endowment for International Peace)

Sự thay đổi trong năm 2011 đã đi vào lịch sử. Sau một năm diễn ra hàng loạt sự kiện như Sự thức tỉnh Arập, cuộc khủng hoảng đồng euro, thảm họa hạt nhân ở Nhật Bản, việc tiêu diệt Osama bin Laden và phản ứng không thể đoán trước được đối với các cuộc bầu cử Quốc hội Nga gần đây, vẫn còn nhiều câu hỏi chưa trả lời được để lại cho năm 2012.

Chủ đề của năm 2011 là sự ngạc nhiên và thay đổi nhanh chóng và điều này dường như sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2012.

 

Năm 2011 sẽ được nhớ đến như thế nào?

Không nghi ngờ gì, năm 2011 sẽ được nhớ đến với Sự thức tỉnh Arập, và có lẽ – vẫn còn quá sớm đế biết chắc chắn cả một sự thức tỉnh chính trị ở Nga.

Câu chuyện duy nhất có thể so sánh với Sự thức tỉnh Arập là cuộc khủng hoảng đồng euro. Nếu khu vực đồng euro hoặc Liên minh châu Âu tan rã, các sự kiện này sẽ có thể so sánh được về ý nghĩa lịch sử với những gì đã xảy ở Trung Đông.

Việc tiêu diệt Osama bin Laden và thậm chí trận động đất và sóng thần tàn phá cũng như cuộc khủng hoảng hạt nhân xảy ra sau đó của Nhật Bản cũng không vươn lên ngang tầm lịch sử như vậy. Sự cố ở Fukushima đã đặt một dấu hỏi lớn về khả năng của một cuộc phục hưng hạt nhân. Tình trạng ấm lên toàn cầu vẫn có thể đưa thế giới hướng tới năng lượng hạt nhân như một dạng điện năng không phát thải khí cácbon – và vẫn còn quá sớm để nói như vậy. Nhưng đó là một sự kiện lớn khi Nhật Bản và các nơi khác với các nước lớn như Đức lựa chọn hủy bỏ từng bước các nhà máy hạt nhân và các nước khác làm chậm lại các kế hoạch phát triển hạt nhân. Việc làm chậm lại các kế hoạch này có thể là một điều tốt, đặc biệt ở Trung Quốc và Ấn Độ, khi mà các kế hoạch hạt nhân được hình dung đang phát triển cực nhanh. Sự tăng trưởng chậm hơn sẽ làm tăng khả năng phát triển an toàn hơn.

Năm 2011 hóa ra là một bât ngờ lớn. Mọi thứ xảy ra mà không ai có thể dự đoán chúng sẽ xảy ra trước đó hai tuần. Sự bất ngờ là nét chủ đạo của năm 2011 và sẽ là sáng suốt khi chúng ta cho rằng điều không mong đợi sẽ lại tái hiện trong năm 2012.

Những vấn đề toàn cầu chủ yểu nào sẽ định rõ tính chất năm 2012?

Năm 2012 sẽ lại là một năm lịch sử nữa. Điều đầu tiên để nhìn vào là những vấn đề xảy ra ở Trung Đông – Irắc, Xyri và Iran.

Trong khoảng thời gian sau khi kết thúc cuộc chiến tranh ở Irắc và quân Mỹ rút đi, Thủ tướng Nuri Kamal al – Maliki đã có những động thái đáng ngạc nhiên chống lại các nhà lãnh đạo Sunni – ngay sau khi những người lính Mỹ cuối cùng vượt qua biên giới, vẫn còn quá sớm để nói liệu Irắc có sẽ được tháo gỡ hay không, nhưng tôi sẽ chẳng ngạc nhiên chút nào nếu tình hình trở nên xấu hơn nhiều.

Vào thời điểm này năm tới, Bashar al – Assad sẽ là một cựu tổng thống và chế độ Xyri hiện nay sẽ không còn nữa. Nhưng các câu hỏi đặt ra là nó sẽ kết thúc như thế nào, mức độ bạo lực trong tiến trình này ra sao, và có bao nhiêu người thiệt mạng. Liệu cộng đồng quốc tế có đóng một vai trò mang tính xây dựng hay không và liệu Liên đoàn Arập sẽ đẩy mạnh hoạt động như liên đoàn này đã từng làm ở Libi và tỏ ra có hiệu quả hơn so với trước tới nay hay không? Có những hậu quả lớn – ít nhất là – đối với Libăng, Iran, Ixraen và Thổ Nhĩ Kỳ.

Chúng ta đang bước vào một giai đoạn đặc biệt nguy hiểm ở Iran. Tin tức tình báo mới nhất cho biết Iran đang có kế hoạch mở rộng các hoạt động làm giàu urani ở một cơ sở ngầm dưới mặt đất gần Qom. Ixraen đã tham gia một cuộc tranh luận về việc liệu nước này có tấn công trước khi một cơ sở như vậy hoàn toàn đi vào hoạt động hay không? Hoạt động chính trị kiểu này đối với Chính phủ Mỹ trong một năm bầu cử thật là đáng sợ. Đây sẽ là một cuộc chiến tranh mà Ixraen có thể mở đầu nhưng không thể kết thúc. Trong khi đó, các ứng cử viên Cộng hòa đang tìm cách vượt lẫn nhau về độ hiếu chiến đối với Iran. Mỹ có thể bị lôi kéo vào hành động quân sự sẽ làm cho giá dầu toàn cầu tăng vọt và tất cả khả năng dẫn đến một sự bùng nổ chủ nghĩa khủng bố Shiite.

Tại nơi khác, cuộc khủng hoảng đồng euro có thể nhấn chìm thế giới vào suy thoái, vẫn còn chưa rõ liệu có thể giải quyết được cuộc khủng hoảng này hay không và liệu khu vực đồng euro có tiếp tục tồn tại hay không?

Cũng có một câu hỏi tiếp tục về Ápganixtan và Pakixtan. Mọi việc ở Pakixtan đang chuyển từ tồi tệ sang khủng khiếp. Căng thẳng hiện có xu hướng gia tăng giữa giới quân sự đầy quyền lực và chính phủ dân sự nước này, và có thể hình dung rằng một cuộc đảo chính quân sự có thế châm dứt một kỷ nguyên cai trị dân sự nữa trong năm 2012. Và tất cả điều này đã trở nên phức tạp hơn bởi cuộc chiến tranh ở Ápganixtan, vốn đang diễn biến không tốt. Trong cuộc chiến kéo dài tới một thập kỷ này, hai năm khối NATO có con số thương vong cao nhất là năm 2010 và 2011.

Ở trong nước, do thất bại của cái gọi là siêu ủy ban trong việc nhất trí về các giải pháp giảm bót thâm hụt hồi mùa Hè vừa qua, có một mối lo ngại thực sự về viêc cắt giảm ngân sách được cho là sẽ diễn ra sau đó. Việc cắt giảm sâu rộng toàn diện chi tiêu quốc phòng thay vì cắt giảm được đưa ra để phù hợp với môi trường chiến lược bên ngoài có thể đang gây tổn hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm lẩn tránh đòi hỏi cắt giảm tự động ngân sách trong năm 2013 chỉ nhấn mạnh sự bất lực của Mỹ trong việc ổn định nền tài chính của mình vào một thời điểm khi mà nhiều nước khác đang phải giải quyết những vấn đề vô cùng khó khăn hơn. Bức tranh hoạt động chính trị rạn nứt bế tắc của Mỹ đang có một tác động lớn ở nước ngoài đối với những nhận thức của các nước khác về ảnh hưởng và quyền lực Mỹ – và dĩ nhiên, đối với điều đáng ước ao của tấm gương Mỹ. Điều này tai hại theo những cách thức khó mà định rõ hoặc xác định số lượng nhưng không thể phủ nhận về mặt ảnh hưởng.

Các cuộc bầu cử quốc hội Nga vừa qua cho thấy tầng lớp trung lưu mới và các thế hệ trẻ hơn ở Nga sẽ đứng lên và nói rằng “thế là quá đủ” . Trong các cuộc biểu tình trên đường phố suốt tháng 12/2011, những người đối lập nói rằng “Chúng tôi muốn có một tiếng nói trong bộ máy cầm quyền, chúng tôi nhất định phải được coi trọng, và chúng tôi không muốn 12 năm nữa dưới thời Vladimir Putin.” Giao ước xã hội cũ giữa nhà nước và xã hội có thể không còn chấp nhận được nữa đối với đại đa số dân chúng. Nếu điều này xảy ra, chúng ta không biết liệu Putin sẽ đối phó như thế nào, và tôi chắc chắn rằng ông ta cũng không biết phải đối phó ra sao. Một sự suy yếu mạnh mẽ tính hợp pháp của Putin cũng không thể giúp được gì ngoài việc có những tác động lớn đến chính sách đối ngoại của Nga.

Tất cả điều này mới chỉ chạm nhẹ đến bề mặt những gì mà năm 2012 sẽ lưu giữ lại cho thế giới.

Liệu Sự thức tỉnh Arập sẽ vẫn tiếp tục?

Đúng vậy, nó sẽ tiếp tục. Năm 2012 sẽ là một năm khó khăn, nhung đây không phải là điều bất ngờ. Mùa Xuân Arập là một sự dùng từ sai. Đó không phải là một mùa, hoặc thậm chí là một quá trình thay đổi kéo dài cả năm. Còn hơn thế, 2011 là năm khởi đầu một thập kỷ hoặc một giai đoạn nhiều thập kỷ với sự thay đổi sâu sắc trong thế giới Arập.

Người ta phải nghĩ về Sự thức tỉnh Arập trong những điều kiện này và không nên tin rằng một cuộc bầu cử ở một nước là thời điểm xác định rõ ràng mà từ đó không có sự quay trở lại. Tất cả sự quá khích trước việc những người Hồi giáo lên cầm quyền ở Ai Cập là một ví dụ cho kiểu suy nghĩ này. Trên thực tế, chế độ dân chủ sẽ có thể là một ảnh hưởng ôn hòa lên những người Hồi giáo qua thời gian vì việc cầm quyền đòi hỏi khắt khe hơn nhiều so với sự chống đối. Các cuộc bầu cử đầu tiên không phải là cuối con đường, mà chỉ là một sự bắt đầu.

Tuy nhiên, năm 2012 sẽ là một thời kỳ khó khăn cho các chính phủ mới vì họ sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc đem lại tiến bộ về kinh tế. Người dân trên khắp khu vực này đang đòi có những thành tựu kinh tế, nhưng trong bối cảnh hiện nay khó có thể thấy các chính phủ có thể đem đến tiến bộ đó như thế nào.

Liệu cuộc khủng hoảng đồng euro có đe dọa tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2012 hay không? Liệu hồi kết của đồng euro đang đến gần?

Người ta luôn quên rằng Liên minh châu Âu là một thực thể kinh tế lớn hơn so với Mỹ. Những gì xảy ra ở châu Âu có những ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu, nhưng quy mô của tác động này sẽ được quyết định bởi việc khu vực đồng euro sẽ thay đổi ra sao và liệu nó có bỗng nhiên nổ tung hoặc tìm ra cách nhanh chóng tiến tới sự tồn tại hay không.

Châu Âu dường như đã cam kết sẽ cứu đồng euro. Vấn đề đặt ra là áp dụng những bước cần thiết để làm điều đó đòi hỏi một mức độ ý chí chính trị lớn của từng chính phủ. Để có được sự tán thành chính trị ở trong nước, các nhà lãnh đạo cần phải chờ cho đến khi các nền kinh tế đi đến bờ vực thăm, ở từng giai đoạn, tiến trình chính trị chỉ có thể được đẩy lên trước một bước khi không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải hành động. Tiến trình này được lặp đi lặp lại.

Vấn đề đặt ra với việc này là nó có nghĩa rằng chi phí để cứu đồng euro tiếp tục gia tăng. Người châu Âu không thể vượt trước các thị trường. Nếu các nhà lãnh đạo có khả năng làm những gì mà đưa nền kinh tế toàn cầu đi đến bờ vực thẳm hiện không phải là cách dễ chịu để tiến lên phía trước.

Thật không may, khó có thể thấy được bất kỳ sự lựa chọn thay thế nào. Mối quan hệ khủng khiếp giữa hoạt động chính trị và kinh tế sẽ tiếp diễn khi các bước kinh tế cần thiết không được chấp nhận ở trong nước nếu nền kinh tế không ở bên bờ vực thẳm.

Cho đến nay, đã có một quyết tâm mạnh mẽ nhằm duy trì đồng euro, nhưng người ta còn phân vân liệu khi nào thì tình trạng kiệt sức sẽ bắt đầu. Hơn nữa các thị trường sẽ không để cho vũ điệu này diễn ra mãi mãi. Bất chấp hậu quả ra sao, tình hình này sẽ được giải quyết trong năm 2012. Tuy nhiên, công cuộc phục hồi sẽ phải mất nhiêu năm.

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sẽ định hình chính sách đối ngoại của Mỹ như thế nào?

Có ba khu vực mà hoạt động chính trị sẽ tác động rõ ràng nhất đến chính sách. Trước tiên đó là Trung Quốc. Mỹ có một lịch sử lâu dài trong đó đảng không nắm quyền – bất kể là đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa – chỉ trích quyết liệt đảng cầm quyền về việc tỏ ra quá tử tế với Trung Quốc.

Năm nay sẽ không phải là trường hợp ngoại lệ. Trung Quốc sẽ trải qua một sự chuyển giao ban lãnh đạo của chính nước này. Sẽ có một cuộc bầu cử ở Đài Loan, và nếu chính phủ hiện nay ở đó, chính phủ ủng hộ việc thiêt lập lại quan hệ hữu nghị với Bắc Kinh, bị thay thế, có một khả năng căng thẳng có thể tăng lên nhanh chóng ở hai bờ eo biển Đài Loan, gây mất ổn định cho cả khu vực này. Bất kể việc này diễn ra như thế nào, Chính phủ Mỹ sẽ nghe thấy những yêu cầu lớn tiếng đòi cứng rắn với Trung Quốc theo cách nước này không thể làm khác được. Quả thực, việc gần đây Tổng thống Obama nói về sự chuyển hướng của Mỹ sang châu Á có thể là một động thái ưu tiên trước chống lại các cuộc tấn công đúng như vậy.

Vấn đề tiếp sau đó là Ixraen. Tổng thống Obama sẽ phải chịu nhiều sức ép đòi chứng tỏ rằng ông yêu quý Ixraen nhiều như những người Cộng hòa, đồng thời Chính phủ hiện nay của Ixraen, nói một cách lịch sự, không hoàn toàn là một lực lượng có tính xây dựng vì hòa bình. Với việc Ixraen tiếp tục xây dựng các khu định cư và không ngừng đánh trống khua chiêng sẽ có hành động chống lại Iran, vấn đề này có thể đặt ra một thách thức lớn cho Chính phủ Mỹ.

Lĩnh vực thứ ba, có thể là một trọng tâm chính của chiến dịch tranh cử, là cuộc thi xem ai là người tỏ ra cứng rắn nhất đối với Iran. Sự thật là thế giới cuối cùng có thể cần phải chung sống với một nước Iran có khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân – một cái gọi là “gần như có thể”. Nếu người Iran tỏ ra thông minh, đây sẽ là mục tiêu của họ.

Mối đe dọa lớn nhất từ vũ khí hạt nhân Iran không phải là các nhà cầm quyền Iran là những người điên rồ sẽ phát động một cuộc chiến tranh hạt nhân, mà là nó sẽ tạo ra cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân ở một trong những khu vực nguy hiểm nhất trên thế giới và là nơi mà các chính phủ có tiền để trang trải cho cuộc chạy đua đó.

Điều hết sức quan trọng là Mỹ đã làm tất cả những gì mà nước này có thể để ngăn không cho việc này xảy ra. Chính quyền Obama đã nỗ lực hết sức mà không đạt được thành công. Cánh tay dang rộng của vị tổng thống này đã bị Têhêran từ chối. Tuy nhiên, các biện pháp trừng phạt đã có hiệu quả và hoạt động ngoại giao để có được sự hợp tác của Nga và Trung Quốc trong lĩnh vực này đang có những bước tiến chậm chạp. Tuy vậy, chúng ta không thể quên rằng nếu chế độ Assad sụp đổ ở Xyri, Iran sẽ mất một đồng minh quan trọng nhất của mình. Các chính phủ suy yếu ở nước ngoài thường có những động thái ở trong nước để chứng tỏ dũng khí của họ và làm sao lãng người dân của họ khỏi sự thất bại đó.

Giai đoạn chuyển giao ban lãnh đạo của Trung Quốc có ảnh hưỏng gì đến tầm nhìn toàn cầu của nước này hay không? Điều đó có ý nghĩa gì đối với sự cân bằng quyền lực ở châu Á?

Trong khi đây là một sự thay đổi ban lãnh đạo mang tính thế hệ ở Trung Quốc, chúng ta rất có thể sẽ chứng kiến sự tiếp nối về chính sách. Nhưng hiện vẫn còn nhiều câu hỏi đặt ra về Trung Quốc ngay cả dưới thời các nhà lãnh đạo hiện nay.

Đặc biệt là vẫn không chắc chắn về mức độ Trung Quốc sẽ hiếu chiến và có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa như thế nào trong việc sẽ khẳng định những tuyên bố lãnh thổ của mình, nhất là ở khu vực Biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc đã có những bước đi hiếu chiến trong năm 2010, nhưng dường như đã nhận ra sự thiếu khôn ngoan trong những hành động đó và đã lùi bước đáng kể trong năm nay. Bắc Kinh cũng sẽ phải xử lý việc chuyển giao ban lãnh đạo ở Bắc Triều Tiên, luôn là một thời điểm khó đối phó nhất với đất nước bất ổn và nguy hiểm đó.

Đồng thời, Trung Quốc phải đối mặt với các vấn đề kinh tế của riêng mình. Bắc Kinh cần đẩy mạnh mức chi tiêu trong các hộ gia đình, nhưng việc này đặt ra mọi dạng căng thẳng ở trong nước cho một thế hệ lãnh đạo mới. Trong khi Trung Quốc sẽ phải vật lộn với những vấn đề đặt ra sau đó và tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại đáng kể, tôi không coi điều này có thể trở thành một cuộc khủng hoảng.

Việc Mỹ rút quân có ý nghĩa gì đối với Irắc và khu vục này? Cuộc chiến tranh Irắc kết thúc có ảnh hưỏng như thế nào đến quyền lực của Mỹ ở Trung Đông?

Khi một nhà lãnh đạo độc tài bị loại bỏ – có thể bởi một cuộc cách mạng hoặc bởi lực lượng bên ngoài – sẽ bỏ lại một khoảng trống quyền lực. Chỗ trống này gần như luôn được lấp đầy bởi các phe phái đấu đá lẫn nhau nhằm phân chia quyền lực, và trước đây tôi đã cảnh báo rằng sự hiện diện của đội quân chiếm đóng Mỹ ở Irắc đã làm trì hoãn cuộc đấu tranh này nhưng cuối cùng cũng không thể ngăn được điều đó sẽ xảy ra.

Việc kết thức cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm ở Irắc đã giúp Mỹ có cơ hội bỏ lại đằng sau một số trách nhiệm. Nhưng điều này có nghĩa gì trong những điều kiện cụ thể hoàn toàn phụ thuộc vào những gì đang diễn ra trong hoạt động chính trị ở Irắc. Nếu cuộc tranh chấp giáo phái tăng lên, sẽ có một loạt vấn đề hoàn toàn mới đặt vào tay mỗi người, đặc biệt nếu ảnh hưởng của Iran tăng lên.

Chính phủ Irắc cần giữ cam kết phân chia quyền lực như đã được thỏa thuận giữa những người Shiite, người Sunni và người Cuốc. Nếu được như vậy, vẫn còn có hy vọng. Hiện còn quá sớm để nói rằng việc này sẽ diễn ra như thế nào, nhưng người ta phải nói rằng việc Al – Maliki chọn cách cáo buộc vị Phó tổng thống của ông về tội phản quốc trong vòng vài giờ Mỹ rút quân chẳng mang tính khích lệ chút nào.

Cộng đồng quốc tế sẽ đối phó ra sao trước những lo ngại ngày càng gia tăng về tham vọng hạt nhân của Iran?

Tin tức tình báo cho rằng người Iran đang lên kế hoạch mở rộng các đợt làm giàu urani trong một cơ sở ngầm dưới mặt đất ở gần Qom. Mỹ đã nói rõ với Têhêran rằng đây là một vạch đỏ không nên vượt qua.

Người Ixraen dường như đang nôn nóng đôi chút, nói rằng đây là một mối đe dọa đang tồn tại và không thể chấp nhận được và rằng họ sẽ cần phải hành động trước khi cơ sở này hoàn thành và vận hành. Nếu Ixraen hành động đơn phương trước tiên, Mỹ chắc chắn sẽ bị lôi kéo và chia sẻ mọi trách nhiệm với Ixraen, nhưng sẽ chẳng có được bất kỳ một sự thúc đẩy chính trị tích cực nào ở trong nước mà nước này lẽ ra được hưởng nếu đảm nhận vai trò dẫn đầu.

Điều đáng lo là hoạt động chính trị đó sẽ đẩy Chính phủ Mỹ đến chỗ phải hành động quyết liệt. Điều đầu tiên xảy ra sẽ là giá dầu tăng mạnh. Với một nền kinh tế toàn cầu mong manh, điều này sẽ khủng khiếp. Cũng sẽ có chủ nghĩa khủng bố Shiite, do Iran đã chuẩn bị cho kịch bản này diễn ra trong nhiều năm và sẽ kích hoạt các phần tử khủng bố. Cuối cùng, tôi tin rằng Mỹ sẽ hối tiếc sâu sắc trước một hành động leo thang quân sự.

Năm 2012 giữ lại ấn tưọng gì về cuộc chiến tranh ở Ápganixían và sự ổn định ở Pakixtan?

Quân đội Mỹ nói rằng họ đang giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh ở Ápganixtan, nhưng tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào của điều này – thực tế còn hoàn toàn trái ngược. Có trở ngại rất lớn để đáp ứng thời hạn rút quân cuối cùng vào năm 2014 và để lại một đất nước ổn định không chịu sự khống chế của quân Taliban.

Vấn đề cần được xác định rõ ở Ápganixtan là thời điểm rút quân của Mỹ. Một mặt, thật dễ dàng để nói rằng sẽ là khôn ngoan khi định ra ngày rút quân, nhưng mặt khác dư luận Mỹ thiếu kiên nhẫn trong việc chấm dứt cuộc xung đột dai dẳng này cũng như đặt ra một câu hỏi chính đáng liệu một cuộc chiến khác kéo dài 10 năm hoặc 20 năm nữa ở đất nước đó có thực sự làm cho mọi việc trở nên tốt đẹp hơn hay không.

Tuy nhiên, thời hạn cuối cùng đang hiện ra. Có ít dấu hiệu cho thấy NATO và Ápganixtan có thể xây dựng các lực lượng an ninh có khả năng giữ cho đất nước này bình an vô sự đồng thời bảo vệ Ápganixtan chống lại sự trỗi dậy của quân Taliban. Chính phủ, vốn yếu kém và đầy rẫy tham nhũng, và các lực lượng Ápganixtan sẽ đòi tài trợ nhiều hơn mức mà bản thân nước này có thế đáp ứng. Điều này làm cho họ trở thành nơi được cộng đồng quốc tế bảo vệ trong một tương lai không hạn định – vẫn chưa có ai tập trung vào thực tế này nhưng rõ ràng đó không phải là một kết quả lành mạnh.

Cùng lúc đó, tình hình ở Pakixtan chỉ đang ngày càng xấu đi và nước này nằm ở thứ hạng cao trong danh sách những mối lo ngại trong năm 2012. Có những dấu hiệu cho thấy có động thái được khôi phục lại của quân đội chống lại các nhà lãnh đạo dân sự. Mọi chính phủ dân sự trong lịch sử Pakixtan đều bị hạ bệ thông qua hành động quân sự và nền kinh tế nước này đang ở trong một tình trạng hết sức tồi tệ.

Quan hệ Mỹ-Pakixtan bị sa sút nghiêm trọng. Oasinhtơn sẽ cần cân nhắc lại mối quan hệ của mình với Ixlamabát. Cho đến nay, cách Mỹ chi tiền của mình ở Pakixtan đã vô tình khích lệ Pakixtan chi tiêu quá mức cho quân đội và làm cho nước này bị ám ảnh với Ấn Độ theo cách tiêu cực. Mỹ luôn định hình các chính sách của mình đối với Pakixtan với một mục tiêu khác lớn hơn trong đầu – trong trường hợp này là Ápganixtan. Với rất ít sự lựa chọn tỏ ra hứa hẹn, Oasinhtơn cần tìm ra cách tạo nên tác động mang tính xây dựng hơn đối với tiến trình của những sự kiện này.

Phải chăng năm 2012 sẽ là mội năm thất bại nữa trong cuộc chiến toàn cầu chống biến đổi khí hậu?

Vâng, tôi nghĩ như vậy. Rất ít điều sẽ xảy ra trong năm nay. Mỹ là một vấn đề, và với cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra vào tháng 11 tới, sẽ không có động thái gì trong Quốc hội. Trung Quốc hành động sẵn sàng hơn, nhưng nước này có một thách thức lớn hơn. Ấn Độ sẽ chờ đợi Mỹ và Trung Quốc. Và Nga, một nước đóng góp lớn, chưa được đánh giá đúng mức đối với vấn đề khí thải cácbon, còn lâu mới sẵn sàng có hành động tích cực.

Giới khoa học đang lo sợ. Chúng ta cần có hành động nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu trong vòng 5 năm tới dù là hành tinh này vẫn ở mức nhiệt độ an toàn. Không có lý do gì để lạc quan rằng hành động lớn sẽ bắt đầu trên một quy mô cần thiết mà không có sự rối loạn về khí hậu đáng kể để thúc đẩy các nước hành động.

Chúng ta đang cố trì hoãn để chờ cơ hội do Mỹ từ chối hợp tác trên lĩnh vực khí hậu. Tôi không tin rằng sự từ chối này thực sự có liên quan gì đến những nghi ngờ về mặt khoa học. Đó là về mặt tư tưởng và kinh tế: mọi người biết rằng cần có hành động và sự lãnh đạo chủ yếu của chính phủ để đối phó vấn đề khí hậu và người thắng và kẻ thua hiện nay trong nền kinh tế sẽ là khác nhau.

Mỹ cần hành động vì sự tiến bộ trên phạm vi toàn cầu và cuối cùng chúng ta sẽ phải định giá khí thải cácbon. Ngay khi khí cácbon được định giá, sẽ có sự thay đổi. Rốt cuộc chúng ta sẽ hành động, nhưng các câu hỏi được đặt ra là sẽ phải mất bao lâu, tốn kém bao nhiêu và thiệt hại không thể đảo ngược gây ra cho hành tinh này sẽ ở mức độ nào. Có một điều chắc chắn là: chúng ta càng chờ đợi lâu thì sẽ lại càng đau đớn hơn./.

%d bloggers like this: