Lưu trữ | 10:41 Chiều

THƯ PHÁP – Lê Thừa Khiển

27 Th6

Gia đình – vấn đề lớn của quốc gia – VHNA

27 Th6

Vĩnh Khánh

CHƯA bao giờ vấn đề gia đình lại trở nên gay gắt như hiện nay. Công nghiệp  hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa làm biến đổi cấu trúc, chức năng và các mối  quan hệ của gia đình; Nhiều giá trị có ý nghĩa truyền thống, bản sắc văn hóa, đạo đức gia đình đã bị tác động sâu sắc.

 Bên cạnh những thành quả do kinh tế thị trường mang lại, nhiều khó khăn bất trắc đang tồn tại, gây ra sự bất ổn cho gia đình và xã hội. Sự khác biệt về kinh tế khiến cho các gia đình nghèo rơi vào tình trạng không đáp ứng được các điều kiện sống tối thiểu để tồn tại, chưa nói đến phát triển bền vững. Mức độ tăng thêm số lượng hộ gia đình chậm lại, quy mô gia đình ngày càng nhỏ đi. Vấn đề bình đẳng giới, chăm sóc người già, trẻ em mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn đang còn nhiều bất cập. Những biến động về kinh tế – xã hội cùng với lối sống công nghiệp khiến các thành viên trong gia đình ngày càng có ít thời gian bên nhau dẫn đến các mối quan hệ trong gia đình đang có xu hướng lỏng lẻo hơn. Vai trò làm cha mẹ trong cuộc sống hiện đại đang có biểu hiện bị suy giảm ở nhiều gia đình vì những lo toan thái quá trong làm kinh tế mà ít chú ý đến việc giáo dục nhân cách đối với con cái. Bạo hành, cô đơn và bị bỏ rơi vẫn còn tồn tại với khá đông phụ nữ, người già và trẻ em. Đời sống gia đình đang xảy ra nhiều mâu thuẫn với mức độ ngày càng phức tạp và diễn biến dưới nhiều hình thức. Tình trạng kết hôn bất hợp pháp, bạo lực gia đình, ly thân, ly hôn… đang có chiều hướng gia tăng. Các kiểu sống gia đình không bình thường so với lối sống truyền thống đang nảy sinh và trở thành vấn đề xã hội nan giải, như sống chung không kết hôn, không muốn sinh con, lối sống thử, sống độc thân hoặc kết hôn đồng tính để lại nhiều hậu quả tiêu cực đối với việc ổn định thiết chế gia đình. Lối sống thực dụng ích kỷ, đề cao cuộc sống hưởng thụ, cổ súy cho tư tưởng tự do phát triển cá nhân… đang là nguy cơ làm mai một, xói mòn nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Gia đình, dòng họ có vị trí đặc biệt trong tổ chức xã hội trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa… của người Việt Nam. Nếu gia đình, dòng họ có sự rạn nứt nhất định sẽ ảnh hưởng đến đời sống của cả cộng đồng. Sự chuyển biến về cấu trúc, chức năng của gia đình truyền thống Việt Nam là đương nhiên trong sự vận động phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Song sự biến đổi các giá trị gia đình tốt đẹp trong xã hội đương đại Việt Nam là một nguy cơ có thật cần được nhận rõ để khắc phục.

Thách thức lớn nhất đối với gia đình Việt Nam hiện nay là cùng với việc tiếp thu những giá trị nhân văn mới trong xu thế hội nhập với cộng đồng quốc tế, đồng thời vẫn phải giữ được bản sắc văn hóa dân tộc và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, tạo điều kiện cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.

Để hóa giải, vượt qua được những thách thức đó, nhất thiết phải bắt đầu từ nội lực lao động, nội lực văn hóa của mỗi người, mỗi gia đình. Mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế, một không gian văn hóa. Nếu có đời sống kinh tế ổn định và ngày càng sung túc, nhất định các giá trị văn hóa, đạo đức của mỗi gia đình sẽ được tôn vinh, gìn giữ và phát huy trong lòng sự vận động phát triển của xã hội hiện đại. Muốn vậy, Nhà nước cần có vai trò định hướng giá trị và tạo điều kiện để mọi người vun đắp các giá trị gia đình và qua đó vun đắp các giá trị mới tốt đẹp của cộng đồng xã hội.

Chuyện gia đình không chỉ là chuyện của một người, một nhà, đó là chuyện của cả nước, chuyện mang tầm quốc gia, có ý nghĩa bền lâu của đất nước.

Đứt dây mà xót thương bầu bí ơi – trannhuong

27 Th6
Đứt dây mà xót   thương bầu bí ơi
Lâm Xuân Vi

  (bình   bài thơ Nói với con chồng của nhà thơ Nguyễn Thị Mai nhân ngày Gia đình Việt   Nam)

Nói   với con chồng

Sao con không nói một câu
Như lời nũng mẹ từ lâu chẳng còn
Sao con chẳng thể xưng con
Cho dì cảm thấy ấm hơn căn nhà?
Cứ lầm lũi bước vào, ra
Cho dù tủi phận mẹ gà con…ngan

Đời gì quá buổi chợ tan
Nhà con sảy nghé tan đàn khổ đau
Dì không hoa trắng cài đầu
Về nhà con chỉ cơi trầu nồng say
Con là con gái thơ ngây
Đàn ông, cha chẳng bù đầy được đâu
Dạy con kết tóc, gội đầu
Nấu ăn, giặt giũ, vá khâu áo quần

Bàn tay hiền dịu tảo   tần
Bưng cơm rót nước ân cần trước sau
Dì không mang nặng đẻ đau
Đứt dây mà xót thương bầu, bí ơi!
Kệ cho bánh đúc mấy đời
Người ăn người lại nói lời nghiệt cay

Sang ngang một chuyến   đò đầy
Sông sâu run cả vòng tay đôi bờ
Đêm nay cánh cửa khép hờ
Dì không ngủ được nằm chờ bước con.
Nguyễn   Thị Mai

Lời   bình:

Thường lời chúc phúc   trong buổi thành hôn của những lứa đôi, dẫu thuật ngữ mỗi thời một khác,   nhưng tựu trung vẫn là Bách niên giai lão hạnh phúc trăm năm. Song vì sinh có   hạn tử không kỳnên nhiều người phải chịu nỗi bất hạnh, đứt gánh giữa đường ,   hoặc do duyên phận, sống với nhau không hợp không thành, đành phải chia tay .   Dù mức độ đớn đau khác nhau nhưng đều là tổn thương mất mát, mà đau khổ và   thiệt thòi lớn nhất vẫn là những đứa con côi cút chịu mất mẹ, mất cha. Ở đời   thường Con chăm cha không bằng bà chăm ông và vì nhiều lẽ khác nhau của hạnh   phúc lứa đôi, của tổ ấm gia đình mà hầu hết những thân phận cơ nhỡ ấy cũng sẽ   tìm được nhau để lập lại gia đình, đó cũng là lẽ rất thường tình. Những trở   ngại lớn nhất, thường cơm không lành canh chả ngọt của những gia đình ấy là   trường hợp những người đã có con riêng, con anh, con tôi. Hạnh phúc của họ   đến đâu là tuỳ thuộc vào mối quan hệ tình cảm của dì ghẻ với con chồng. Định   kiến ngàn đời của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa con chồng với người mẹ   kế. Nó đã trở thành tiềm thức của con người, thành ca dao, tục ngữ truyền   tụng trong dân gian: Mấy đời bánh đúc có xương/Mấy đời dì ghẻ lại thương con   chồng, mà biểu hiện đỉnh cao của mâu thuẫn đó là câu chuyện khuyết danh Tấm,   Cám.
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai đã rất thành công với đề tài này trong bài thơ Nói với   con chồng. Nói với con chồng, bài thơ được giải nhì( không có giải nhất)trong   cuộc thi thơ viết về đề tài gia đình do báo Phụ nữ Việt Nam tổ chức năm 1994   của thế kỷ trước.
Người mẹ kế trong bài thơ: Nói với con chồng của nhà thơ Nguyễn Thị Mai thật   điển hình trong cách giải quyết mâu thuẫn muôn thuở dì ghẻ con chồng . Một   người mẹ kế được hiện lên dưới ngòi bút nhân hậu đầy nữ tính của nhà thơ :   chất phác, thật thương cảm, chân thành, khéo léo, rất đáng được nể trọng, đề   cao. Sự khéo léo xuất phát từ khao khát thương yêu thật lòng mà có. Câu mở,   cũng là một câu hỏi nghe thật ấm lòng : Sao con không nói một câu/Như lời   nũng mẹ từ lâu chẳng còn. nũng mẹ có thể nói đây là mê thuật đầy thán phục   của phép dùng từ. Tưởng dì ước ao chi, chứ chỉ ước ao được nghe con nói một   lời nũng nịu. Thật bất ngờ, bất ngờ đến lạ lùng, sự bất ngờ ấy có lẽ không   chỉ ở bạn đọc mà ngay cả với đứa con vốn chưa chịu chấp nhận, chưa có thiện   cảm với dì. Bởi nếu khi con biếtnũng với dì như với mẹ thì dì đã là nơi có   thể gửi gắm tin yêu, là chỗ dựa của đời con rồi. Từ nũng thật lạ, như biết mở   ra nhiều chiều tâm trạng. Câu thơ như biết dung hoà, như kéo được chùng xuống   mọi căng thẳng nơi lòng dì lòng con vốn đang xa cách, nặng nề, con luôn tìm   cách lảng tránh. Nào đâu dì đã dám đòi hỏi điều chi to tát, chỉ mong mỏi chờ   đợi ở con một tiếng xưng con. Nhưng chắc dì cũng hiểu tiếng con đang như một   cửa ải phải vượt qua, một trướng ngại lớn trong mặc cảm, trong dèm pha định   kiến của người đời, vì vậy vượt qua nó phải kiên nhẫn bền bỉ không thể một   sớm một chiều. Bởi nếu con chấp nhận xưng con sẽ là một biến cố lớn, rất hệ   trọng, nó sẽ xoá đi những mặc cảm ghẻ lạnh cách ngăn để căn nhà mình trở nên   ấm áp thân gần. Càng tinh tế trong cách nhìn cách cảm, thì những bước chân   lầm lũi nặng nề của con đã gieo vào lòng dì nỗi buồn tủi xa lạc – cảnh mẹ gà   con… ngan . Vẫn bằng những lời thủ thỉ ân cần như phân trần với con làm   người nghe đến buốt ruột mủi lòng: Đời gì quá buổi chợ tan/Nhà con sảy nghé   tan đàn khổ đau. Dì về nhà con nào có lọng tía xe hoa mà chỉ đơn sơ cơi trầu   lễ mọn. Dì thương yêu bố con cũng vì thương cảnh sảy đàn tan nghé, về nhà con   là muốn cùng bố con chung tay chia sẻ khổ đau bù đắp cho nhau mất mát trong   đời. Song có lẽ nguyện vọng lớn nhất của bố con cần ở dì là người biếtthay   thế xứng đáng mẹ con trong việc dạy dỗ nuôi con khôn lớn nên người. Mà con là   con gái thơ ngây đang hình thành nhân cách, phải ân cần tỷ mỷ từ tết tóc, gội   đầu, và mọi việc thuộc nữ công gia chánh làm sao cha đàn ông có thể làm được?Dì   không mang nặng đẻ đau/Đứt dây mà xót thương bầu bí ơi! Tấm lòng dì là vậy,   là muốn cùng bố vun đắp cho con để hạnh phúc nhà mình sum suê tươi tốt như   bàu bí chung dànchứ đâu dám để bố vì dì mà xao nhãng việc chăm xóc lo lắng   cho con. Có lẽ những lời gan ruột chân thành của dì cũng đã xúc động cảm hoá   được tình con. Bằng trực cảm, Linh cảm tinh nhạy do kinh nghiệm trường đời   mách bảo, con đã tin dì nhưng vẫn còn chút băn khoăn e ngại về những dè bỉu   đố kỵ của xóm giềng. Nắm bắt được tâm lý, những do dự nghi ngại này, dì đã   thẳng thắn, quyết liệt hơn: Kệ cho bánh đúc mấy đời/Người ăn người lại nói   lời nghiệt cay. Thật thú vị khi câu thơ mang hơi hướng ca dao. Ở trạng huống   này có lẽ chỉ ca dao phản ca dao thì lời khuyên mới thấm thía và có tác động tâm   lý mạnh mẽ hơn.
Dẫu thơ chưa một lời khảng định ngã ngũ cuối cùng về quyết định của con, song   bạn đọc có thể gặp sự thanh thản tràn đầy hy vọng cùng Dì ở khổ kết:
Sang ngang một chuyến đò đầy
Sông sâu run cả vòng tay đôi bờ
Đêm nay cánh cửa khép hờ
Dì không ngủ được nằm chờ bước con
Tôi võ đoán, có thể tai Dì chắc chưa nghe rõ tiếng con, bởi lần đầu xưng hô   như vậy thì lời con đâu đã dễ tròn vành rõ chữ. Nhưng còn con tim Dì thì đã   nghe được rất rõ rồi. Có thế, Dì mới khái quát được việc thuyết phục con, ví   như một chuyến đò đầy sông sâu, mong manh đầy bất trắc run cả vòng tay đôi bờ   nhưng đã sang ngang , đã cập bến. Và cặp câu: Đêm nay cánh cửa khép hờ/ Dì   không ngủ được nằm chờ bước con. Có lẽ Dì không ngủ được đêm nay không chỉ lo   con đi tối về khuya, mà còn hồi hộp phấp phỏng để được nghe rõ hơn tiếng con   như lòng dì hằng mong đợi.
Nói với con chồng là một bài thơ có những diễn biến tâm lý vừa nhiều chiều   vừa là những khúc quanh tâm trạng rất khó nắm bắt. Chỉ với lối độc thoại giãi   bày của dì , bằng thể thơ lục bát thẫm đẫm hồn vía ca dao, rồi xử dụng ca dao   phản ca dao, mang lại thành công không ngờ với một đề tài tưởng dễ mà khó.   Trong đời thực cổ kim, đã có mấy bà mẹ kế biết thắng nổi chính mình để thắng   những định kiến xã hội . Dưới ngòi bút của nhà thơ Nguyễn Thị Mai đã xuất   hiện bà mẹ kế như mong mỏi của những ông chồng, của những đứa con riêng trong   hoàn cảnh rổ xề cạp lại . Bài thơ chinh phục được nhiều thế hệ bạn đọc, là   tiếng nói nhân văn, cũng là sự phản kháng mạnh mẽ với những định kiến ích kỷ   hẹp hòi từng tồn tại tự bao đời. Nó đã ra đời và được trao giải thưởng văn   học gần 30 năm, giờ vẫn được nhiều người ngưỡng mộ tìm đọc. Đồng thời còn   nguyên tính thời sự, trong đóng góp xây dựng kết cấu gia đình đang có những   xộc xệch lỏng lẻo do những tác động của mặt trái cơ chế thị trường. Đó là giá   trị đích thực, sức sống bền lâu của một tác phẩm văn học – niềm mơ ước của   mọi nhà văn.

Ninh   Bình, Ngày 08 tháng 6 năm 2012
Lâm Xuân Vi

Thế cân bằng an ninh tại châu Á – TVN/BS

27 Th6

Tuần Việt Nam

Những thời điểm quan trọng trong lịch sử hiếm khi được báo trước. Và khi thay đổi đó mang tính hệ thống, thì quy luật này càng đúng hơn. Tuy nhiên, có những dấu hiệu rõ ràng tại Đông Á cho thấy trật tự cũ do Mỹ chế ngự có thể không còn kéo dài nữa trước thách thức ngày càng lớn của Trung Quốc và sự yếu đi tương đối của cả Mỹ và Nhật Bản.

 

Một sai lầm trong chính sách ngoại giao của Mỹ khi chỉnh sửa thực tế quyền lực mới này, hoặc một sai lầm của Trung Quốc trong việc thích nghi với các lợi ích lâu nay của Mỹ và Nhật, đều có thể gây nguy hiểm cho tương lai hứa hẹn của kỷ nguyên châu Á đã được tiên liệu, và đưa Đông Á trở lại quá khứ đẫm máu và chia rẽ. Và điều gì sẽ xảy ra trong khu vực quan trọng này cũng sẽ gây hậu quả tới toàn cầu.

Các trọng tâm quyền lực kinh tế và quân sự chắc chắn đang thay đổi từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, rõ ràng Đông Á chưa bao giờ quan trọng đến như vậy trong trật tự quốc tế. Trước đây, thế giới chưa bao giờ chứng kiến ba cường quốc ưu việt nhất – Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc – cùng nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Việc này khiến mọi người đều cá cược rằng Trật tự thế giới cũ sẽ sụp đổ nhanh chóng.

Trong gần bảy thập kỷ, trật tự ấy đã gắn với sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ, kể từ thất bại của Nhật Bản sau chiến tranh Thế giới II và được củng cố 55 năm sau đó bởi sự tan rã của Liên bang Xô Viết. Trong thời Chiến tranh Lạnh, vai trò bá chủ của Mỹ ở Đông Á bị lu mờ bởi nỗi ám ảnh và thực tế về sức mạnh quân sự của Liên Xô. Nhưng sau đó, trong một thời gian ngắn “đơn cực”, Mỹ dường như có thể chẳng cần phải lo ngại đến việc có một đối thủ cạnh tranh nào ngang tầm hoặc liên minh nào đủ sức đối trọng.

Nhìn lại quá khứ, nhiệm kỳ đầu của Tổng thống George W. Bush có thể được xem là thời cực thịnh của Nền hòa bình kiểu Mỹ (Pax Americana). Sau đó, nó đã hầu như tụt dốc vì nước Mỹ bị yếu đi sau 10 năm tham chiến ở khắp nơi, một hệ thống chính trị tắc nghẽn và hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Việc chính quyền Tổng thống Obama đặt trọng tâm vào châu Á, và ý định của ông “cách ly” khu vực này khỏi những cắt giảm ngân sách quốc phòng, cũng không thể che giấu thực tế rõ ràng rằng khả năng Mỹ định hình Đông Á không còn như trước nữa.

Một thời từng được xem là cái “mỏ neo” phương Bắc đáng tin cậy của hệ thống liên minh của Mỹ tại Đông Á và được tán dương về khả năng tự chủ và năng động của mình, nay Nhật Bản sau hai mươi năm vật vã với “căn bệnh” chính trị và kinh tế lại trở thành nguyên nhân chính dẫn tới sự yếu đi của Trật tự cũ.

Việc nhà máy điện hạt nhân Fukushima gần sụp đổ sau trận sóng thần kinh hoàng năm 2011 có thể được xem là một bằng chứng cho thấy sự ăn mòn của bộ máy chính trị ngày càng hướng nội của Nhật Bản. Nước này thiếu niềm tin và bị bủa vây bởi một loạt các vấn đề trong nước. Bế tắc lãnh đạo đã khiến Mỹ gặp khó khăn trong việc củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, cũng như muốn đảm bảo rằng đất nước Mặt trời mọc đang tiến về phía trước. Điều này được phản ánh trong việc hai nước không thể đạt thỏa thuận về tái bố chí căn cứ hải quân quan trọng của Mỹ trên đảo Okinawa của Nhật Bản.

Trong khi Nhật Bản vẫn là một nền kinh tế lớn, GDP của họ lại không tăng trưởng trong 20 năm qua, và nước này phải chịu sự nhục nhã của việc bị Trung Quốc vượt mặt, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào năm 2011. Trong khi đó, dân số Nhật Bản tiếp tục già đi và bị thu hẹp, khiến nước này phải đối mặt với tương lai bị tụt xuống vị trí thứ hai trong bảng xếp hạng các nước trung lưu ở Đông Á.

Nhưng sự nổi lên của Trung Quốc là lý do chính dẫn tới sự mất khả năng từng một thời vô song của Mỹ đối với các vấn đề trong khu vực. Với dân số 1,4 tỷ người, hơn toàn bộ phần còn lại của Đông Á và Mỹ cộng lại, Trung Quốc là một nước trung tâm có tới nghìn năm chế ngự châu Á và giờ đang âm thầm muốn giành lại quy chế này. Giấc mơ của họ không hề viển vông, bởi nước Trung Quốc hiện đại có các nền tảng chiến lược để thực hiện điều đó.

Dân số và nền kinh tế của họ vượt xa Đức Quốc xã, Phát xít Nhật và cả Liên Xô – trước đây là những đối thủ bị sức mạnh Mỹ đánh bại. Sự tái nổi lên của Trung Quốc đặt ra những thách thức chiến lược của một tình thế phức tạp và quy mô lớn chưa từng thấy đối với Mỹ, cũng như phần còn lại của Đông Á.

Điều quan trọng còn chưa được biết rõ là con đường mà giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ đi theo, được đặt ra như một sự lựa chọn giữa việc là một quốc gia theo chủ nghĩa xét lại hay một cổ đông có trách nhiệm. Trên thực tế, Trung Quốc có thể là cả hai, phù hợp với các chuẩn mực của hệ thống quốc tế trừ khi các lợi ích cốt lõi của họ xung đột với các chuẩn mực này.

Trong khi được tiên liệu từ lâu – thực tế là các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã cảnh báo về các tác động chiến lược này từ giữa những năm 1990 – vai trò chế ngự mới của Trung Quốc tại Đông Á còn được thúc đẩy bởi hai sự kiện mới xảy ra gần đây, một về tài chính và một về địa chính trị.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khiến nhiều người ở Trung Quốc tin rằng Mỹ đang suy yếu, kết quả của việc tiêu sài quá mức kiếm được. Niềm tin này có thể đã bị cường điệu quá, nhưng việc sở hữu hơn 1.000 tỷ USD đối với Trung Quốc rõ ràng đã đặt Mỹ vào vị trí không hề thoải mái khi bị coi là một “người ăn xin” đối thủ cạnh tranh chính của mình.

Quan niệm về sự suy yếu tài chính của Mỹ rõ ràng đã khuyến khích giới lãnh đạo Trung Quốc tìm các lợi thế địa chính trị so với Mỹ trong các không gian cạnh tranh đặc biệt là tại Đông Á. Đáng quan tâm nhất là sự kiên quyết của Bắc Kinh trong việc bảo vệ các yêu sách của mình đối với các vùng biển đảo và tài nguyên đang tranh chấp tại biển Hoa Đông và biển Đông.

Trong quan hệ với các nước lớn khác ở châu Á, như Nhật Bản và Ấn Độ, Trung Quốc tỏ ra ngày càng hay gắt gỏng, và nhiều quốc gia Đông Nam Á lo ngại rằng Trung Quốc sẽ chỉ hứa hão về chủ nghĩa công bằng khu vực khi họ trở nên hùng mạnh hơn về kinh tế và quân sự. Trong hai năm qua, Trung Quốc tuyên bố biển Đông là một “lợi ích cốt lõi” và nhiều lần nêu rõ rằng sẽ tiếp tục bảo vệ chính quyền của Triều Tiên bất chấp các khiêu khích liên tiếp của Bình Nhưỡng.

Trung tâm những nỗi lo của Mỹ và khu vực về các ý định quân sự của Trung Quốc trong tương lai là các tham vọng chiến lược “bảo vệ biển xa”, nhằm đẩy Hải quân Mỹ ra xa bờ biển Trung Quốc nhất có thể. Trung Quốc có “khiếu” biến ba hạm đội bảo vệ bờ biển của mình thành một lực lượng hải quân biển xa có khả năng kiểm soát Tây Thái Bình Dương và cả việc phô trương sức mạnh biển đáng kể tự Trung Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Mục đích chiến lược của Bắc Kinh dường như là một Học thuyết Monroe kiểu Trung Quốc, và họ đang nhanh chóng tăng cường các năng lực để thực hiện mục tiêu đầy tham vọng này. Từ một viễn cảnh Trung Quốc, việc này có ý nghĩa chiến lược đầy đủ. Rốt cuộc, nếu một nước Mỹ nổi lên có thể tạo ra một Học thuyết Monroe trong thế kỷ 19 thì tại sao một Trung Quốc đang lên trong thế kỷ 21 lại không tìm kiếm một kết cục giống như vậy ở Tây Thái Bình Dương? Vấn đề là quyết tâm của Bắc Kinh đẩy lùi Hải quân Mỹ ra xa lại đang làm xáo trộn cán cân quyền lực tại khu vực và leo thang căng thẳng không chỉ với Mỹ mà cả với Nhật Bản.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản vốn đã đầy những căng thẳng. Chẳng bên nào có khả năng vượt qua những thù hằn trong lịch sử đang ảnh hưởng tới cách hành xử hiện tại của họ và ngăn cản mọi khả năng xích lại gần nhau, bất chấp thực tế là thương mại song phương đang “bùng nổ” và họ ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.

Những căng thẳng rõ ràng này cứ đến hẹn lại lên, cho thấy những đường hướng sai lầm sâu sắc giữa hai nước và nguy cơ tính toán nhầm. Ví dụ nghiêm trọng nhất gần đây xảy ra ngày 7/9/2010, khi căng thẳng lên cao liên quan đến quyền sở hữu quần đảo đang tranh chấp mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku trên biển Hoa Đông dẫn tới một sự đối đầu nghiêm trọng sau khi một tàu cá Trung Quốc va chạm với tàu của Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản trong một vụ rượt đuổi. Vụ việc đã kéo tụt quan hệ Trung – Nhật xuống mức thấp hơn thời hậu chiến tranh Lạnh. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy người dân hai nước rất không hài lòng về nhau: 87% người Nhật và 79% người Trung Quốc coi nước kia là “không đáng tin cậy”; 79% người Nhật coi Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự.

Có thể là sai khi suy diễn từ các hành động này rằng Trung Quốc đang có ý định đối đầu quân sự với Mỹ và Nhật Bản, hay cho rằng họ sắp thay thế Mỹ là cường quốc có ảnh hưởng nhất trong khu vực. Nhưng thái độ xác quyết mới đây của Trung Quốc cho thấy căng thẳng về thể chế tất yếu xảy ra khi một cường quốc mới nổi thách thức trật tự đang tồn tại, và như vậy, thách thức vị trí của quốc gia đang bá chủ trước đó.

Giáo sư Richard Rosecrance (trường Đại học Harvard, Mỹ) và giáo sư Jia Qingguo (trường Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc) phân tích rằng trong 500 năm qua, sáu trong số bảy thách thức lớn đối với trật tự đang tồn tại đã dẫn tới xung đột nghiêm trọng. Chúng ta đều biết rằng các mối liên hệ kinh tế và thương mại giữa các cường quốc muốn chế ngự và đang chế ngự không thể giảm bớt nguy cơ xung đột, như trường hợp Anh và Đức một thế kỷ trước, khi sự phụ thuộc sâu sắc vào nhau về kinh tế cũng không giúp họ tránh phải lao vào chiến tranh năm 1914. Vì vậy, sẽ là một sai lầm lớn nếu kết luận rằng quan hệ mật thiết giữa Mỹ và Trung Quốc khiến cuộc xung đột quân sự là điều không tưởng.

Còn tiếp

VỀ NHỮNG ĐỘNG THÁI NHẰM CỦNG CỐ LIÊN MINH MỸ – THÁI LAN – BS

27 Th6

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VỀ NHỮNG ĐỘNG THÁI NHẰM CỦNG CỐ LIÊN MINH MỸ – THÁI LAN

Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 21/6/2012

TTXVN (Băngcốc 18/6)

Sau chuyến thăm Thái Lan gần đây của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Martin Dempsey, và tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta về việc trọng tâm của Mỹ chuyển sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại Đối thoại an ninh Shangri-La ở Xinhgapo, Thái Lan và Mỹ đang có nhiều động thái nhằm củng cố mối quan hệ giữa hai bên.

Tại cuộc hội thảo quốc tế do Học viện nghiên cứu quốc phòng quốc gia của Mỹ và trường Đại học Thammasat của Thái Lan đồng tổ chức, các nhà hoạch định chính sách của hai nước đã cho thấy cả Thái Lan và Mỹ đang muốn điều chỉnh và làm mới lại các chiến lược chung của hai bên nhằm khôi phục lại liên minh giữa hai nước khi trọng tâm của Oasinhtơn đang hướng nhiều hơn về khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

 

Theo tờ “Bưu điện Băngcốc” số cuối tuần trước, phía Mỹ đã ủy nhiệm cho giáo sư Catharin Dalpino, nguyên là một nhà ngoại giao và hiện là Trưởng khoa Quan hệ quốc tế trường Simmon, thăm dò các khả năng làm thế nào để hiện đại hóa và củng cố quan hệ hợp tác giữa Mỹ và Thái Lan.

Bà Dalpino đã trình bày các ý tưởng của mình tại hội thảo trên rằng hai bên cần tăng cường trao đổi các chuyến thăm cấp cao, thiết lập đối thoại song phương về sự tác động của việc Trung Quốc trỗi dậy, phát triển sân bay quân sự U-tapao thành trung tâm khu vực về cứu trợ thảm họa và nhân đạo, mở rộng thành viên tham gia cuộc tập trận quân sự chung hàng năm mang tên Hổ mang vàng và tự do hóa hơn nữa quan hệ thương mại song phương cũng như khu vực.

Bà Dalpino cũng cho biết giữa lúc sự cân bằng chiến lược trở lại của Mỹ được mở rộng hơn đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương và sự thay đổi nhanh chóng của môi trường an ninh khu vực châu Á, việc làm mới liên minh Mỹ-Thái sẽ là nhân tố then chốt trong việc Mỹ can dự vào khu vực này.

Liên minh Mỹ – Thái, được coi là mối quan hệ chiến lược lâu năm nhất của Mỹ tại châu Á, tỏ ra rất chậm chạp trong việc thích ứng với các thách thức của thế kỷ 21. Nhưng hai bên sẽ có cơ hội mở ra một kỷ nguyên hợp tác mới sau khi cùng cam kết làm hồi sinh liên minh này.

Bước chuyển tiếp của liên minh này từ khuôn khổ Chiến tranh Lạnh trong kỷ nguyên Chiến tranh Việt Nam sang giai đoạn uyển chuyển hơn đã vấp phải khó khăn trong những năm gần đây do sự thiếu quan tâm từ cả hai phía, do quan điểm khác biệt trong nhận thức về mối đe dọa và do mục tiêu mở rộng quan hệ chính trị, kinh tế và an ninh của hai nước trong khu vực này.

Cuộc chiến tại Ápganixtan và Irắc đã đưa quan hệ hợp tác an ninh Mỹ – Thái vượt khỏi khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong khi việc gia tăng các mối đe dọa an ninh phi truyền thống sau Chiến tranh Lạnh – gồm cả chủ nghĩa khủng bố – lại mở rộng cơ sở của liên minh này. Chủ nghĩa khu vực của châu Á, đặc biệt là của ASEAN, cho phép liên minh này hướng vào khu vực nhiều hơn, vì vậy, cần có thêm đối thoại thường xuyên giữa cả hai bên nhằm đẩy mạnh tiến trình củng cố liên minh.

Quan hệ liên minh với Thái Lan rất khác so với các đối tác khác của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia hay Philippin vì nó không xuất phát từ một thỏa thuận yêu cầu cập nhật và chính thức hóa và khi Thái Lan không còn có yếu tố căn bản của Chiến tranh Lạnh trong thời gian liên minh được kiêm nghiệm, liên minh Thái – Mỹ đã trở nên mang tính toàn cầu và chuyển sang các lĩnh vực liên quan tới an ninh phi truyền thông.

Cuộc tập trận Hổ mang vàng là một cánh cửa ngoại giao đưa các quan sát viên khu vưc vào tiến trình này, trong đó không thực hiện các mục tiêu của hiệp ước nhưng lại thực hiện các hoạt động trợ giúp nhân đạo.

Ngoài ra, làm cách nào tốt nhất để nối Hổ mang vàng với các cơ chế khu vực khác như Diễn đàn khu vực ASEAN và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN cộng các đối tác đối thoại còn là một vấn đề để ngỏ cần phải thăm dò.

Khi gợi ý cả hai bên cần tăng cường các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao, bà Dalpino cho rằng không thể tưởng tượng rằng Tống thống Mỹ Barack Obama, được mời tới Hội nghị thượng đỉnh Phnôm Pênh vào tháng 11, lại không đi thăm Thái Lan.

Vụ trưởng Vụ Mỹ và Thái Bình Dương của Thái Lan, Chirachai Pankrasin, cho biết Băngcốc hoan nghênh sự trở lại cân bằng của Mỹ vì tin rằng nó sẽ đóng góp cho sự ổn định của khu vực. Năm tới, hai nước sẽ kỷ niệm 180 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương và chào đón việc đẩy mạnh thương mại cũng như đầu tư vào Thái Lan cung khu vực ASEAN. Vị trí chiến lược của Thái Lan, với sự phát triển cảng biển nước sâu Dawei (ở Mianma) được gắn với bờ biển phía Đông (tại Thái Lan), sẽ tạo ra một sự kết nối tốt cho toàn khu vực ASEAN.

Ông Kavi Chongkittavorn, một chuyên gia tại Học viện an ninh và nghiên cứu quốc tế, nhận xét Thái Lan nên phác thảo một ranh giới rõ ràng trong liên minh với Mỹ tương tự như cách mà Ôxtrâylia đã làm. Việc sử dụng sân bay hải quân U-tapao phải được giám sát một cách rõ ràng. Nếu đúng nó được sử dụng cho các mục đích nhân đạo thì rất tốt.

Tướng Surasit Thanadtang, Giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược, cho biết Thái Lan muốn nhìn thấy Mỹ mở rộng vai trò đa phương của họ, đặc biệt là tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và các diễn đàn cứu trợ thảm họa và nhân đạo.

Ông Daniel Unger của trường đại học Northern Illinois thì nói Mỹ đang bị các nhóm quan chức cao cấp mới nổi tại Thái Lan coi là thiếu nhiệt tình. Hai bên cần thăm dò các cách thức mà cả Mỹ và Thái Lan có thể phối hợp hiệu quả như chống chủ nghĩa khủng bố và các vấn đề an ninh phi truyền thống.

Tuy nhiên, Thái Lan có thể chưa phải là đối tác có ảnh hưởng của Mỹ về địa chính trị sau Ápganixtan và sau Irắc so với Ấn Độ, Việt Nam hay Xinhgapo. ông Unger tỏ ra nghi ngờ về việc làm thế nào Thái Lan có thể tái lập được vai trò lãnh đạo trong ASEAN, trừ phi họ có một tầm nhìn được chia sẻ về những gì cần thiết cho vấn đề chính trị nội bộ.

Theo ông Chulacheep Chinwanno của trường Thammasat, Thái Lan nên tiếp tục nuôi dưỡng quan hệ hợp tác quốc phòng song phương với cả Trung Quốc và Mỹ, trong khi vẫn tiếp tục các cơ chế khu vực như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và Diễn đàn khu vực ASEAN.

***

Vị trí chiến lược của Thái Lan tại Đông Nam Á đang khiến họ trở nên cần thiết đối với Mỹ khi người Mỹ muốn giành được quyền kiểm soát căn cứ không quân và căn cứ hải quân tại U-tapao trên Vịnh Thái Lan.

Với chính sách kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ rất cần củng cố mối quan hệ quân sự của họ với Thái Lan cũng như các đồng minh khác trong khu vực. Rõ ràng Chính phủ của bà Yingluck Shinawatra đã ưng thuận theo yêu cầu của Mỹ muốn được sử dụng căn cứ U-tapao để đổi lại sự ủng hộ về chính trị.

Tại khu vực này, Xinhgapo đóng vai trò như một tiền đồn quân sự nếu không muốn nói là trung tâm đầu não cho các lực lượng của Mỹ. Philippin thực hiện vai trò của một “đứa trẻ ngỗ ngược” nhằm chọc giận Trung Quốc. Việt Nam, mặc dù có lịch sử về cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn bắt tay với Mỹ trong liên minh chiến lược này nhằm chống lại Trung Quốc. Inđônêxia, nhận thức được sức mạnh khu vực của mình, đang cố gắng chơi hai con bài cùng một thời điểm. Ôxtrâylia đã gia tăng đáng kể mối quan hệ quân sự của họ với Mỹ. Ở Bắc Á, nhờ sự hiện diện của những căn cứ quân sự Mỹ trên đất nước của mình, Nhật Bản và Hàn Quốc tự đặt vào một vị trí phải đối đầu với Trung Quốc mà không có bất kỳ khoảng không nào cho ngoại giao mềm dẻo.

Bộ trưởng Quốc phòne Mỹ Leon Panetta đã nói rõ ràng rằng Mỹ đang chuyển phần lớn khả năng hải quân của mình sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Các quan chức Mỹ sử dụng từ “can dự” để phản ánh sự chuyển đổi này trong các chính sách an ninh và quân sự của Mỹ tại châu Á và Thái Bình Dương, hiện đang nổi lên như một khu vực năng động nhất thế giới, với sự bùng nổ của các nền kinh tế trong khu vực và nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ.

Nhưng mục tiêu cơ bản nhất vẫn là kiềm chế Trung Quốc, nơi đang tạo ra thách thức như một siêu cường mới trước một nước Mỹ đang vỡ nợ về tài chính.

Theo tờ “Bưu điện Băngcốc”, liên quan tới quan hệ an ninh của Thái Lan với Mỹ, có hai diễn biến chính:

Đầu tiên, NASA muốn sử dụng U-tapao như một căn cứ không quân để từ đó sẽ tiến hành nghiên cứu điều kiện thời tiết tại Đông Nam Á. Đề xuất này chỉ vừa mới được tiết lộ vào đầu tuần trước. Nó được biết như là một chiến dịch khoa học hàng không phức tạp và tham vọng nhất của NASA trong năm nay, mang tên Nghiên cứu tổng họp điều kiện khí hậu, mây mưa ở khu vực Đông Nam Á (SEAC4RS).

Với sự hỗ trợ của Tổ chức khoa học quốc gia và Phòng thí nghiệm nghiên cứu hải quân, chiến dịch trên sẽ tập hợp dữ liệu và kết quả quan trắc từ các vệ tinh, các máy bay nghiên cứu và một loạt địa điểm trên mặt đất và trên biển của NASA. Dự kiến chiến dịch sẽ được bắt đầu từ đầu tháng 8/2012.

Thứ hai, là đề xuất thiết lập trung tâm hoạt động cứu trợ nhân đạo tại U-tapao. Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, khi thăm Thái Lan mới đây đã xác nhận rằng Mỹ muốn hợp tác với Thái Lan về việc sử dụng U-tapao như một Trung tâm cứu trợ thảm họa nhân đạo. Ông đã từ chối xác nhận việc Mỹ muốn sử dụng U-tapao như một căn cứ quân sự toàn diện, nhưng không loại trừ khả năng về lâu dài nó sẽ được phát triển theo hướng đó. Theo tướng Dempsey, dự án của NASA và Trung tâm cứu trợ thảm họa nhân đạo là hai đề xuất hoàn toàn riêng rẽ.

Tiến sĩ Panithan Watanayangkorn, một chuyên gia về các vấn đề an ninh của Thái Lan, cảnh báo rằng dự án của NASA nhằm nghiên cứu các điều kiện thời tiết có thể gồm cả các vệ tinh do thám hỗ trợ cho các máy bay không người lái. Lực lượng quân sự Mỹ đã sử dụng máy bay không người lái ngày càng nhiều tại Nam Á và Trung Đông. Vì thế U-tapao có thể được sử dụng như một trạm mặt đất để kết nối với các vệ tinh Mỹ, giúp dẫn đường cho các máy bay không người lái tấn công.

Trung Quốc đã kín đáo bày tỏ mối lo ngại về ý định của Mỹ nhằm sử dụng căn cứ U-tapao. Nếu Thái Lan chấp nhận đề nghị của Mỹ, mối quan hệ giữa hai nước có thể sẽ không thuận lợi. Trong trường hợp có xung đột quân sự Mỹ – Trung, Thái Lan chắc chắn sẽ trở thành kẻ thù của Trung Quốc. Theo đuổi một chính sách chống Trung Quốc sẽ đi ngược lại với các lợi ích của Thái Lan.

Tờ “Dân tộc” ngày 16/6 bình luận rằng đề nghị sử dụng U-tapao như một trung tâm khí tượng học của NASA và một trung tâm cứu trợ tham họa nhân đạo đang thu hút mối quan tâm của công luận và báo chí quốc tế. Chính phủ Thái Lan nên bảo đảm rằng tiến trình thông qua đề nghị này được thực hiện theo đúng trình tự và một quyết định khi được đưa ra là phục vụ các lợi ích của Thái Lan.

Đề nghị trên xuất hiện ngay sau khi Mỹ tiết lộ chi tiết các kế hoạch nhằm xây dựng và tăng cường sự hiện diện quân sự của họ tại Đông Nam Á trong một phần của cái gọi là “tái cân bằng quân sự của Mỹ tại châu Á”.

Trường hợp đề nghị của Mỹ được thông qua, nhân viên và các thiết bị quân sự Mỹ sẽ được đưa trở lại U-tapao lần đầu tiên kể từ sau khi Mỹ rút khỏi cuộc Chiến tranh Việt Nam hơn ba thập kỷ trước đây.

Trên thực tế, công chúng vẫn biết rằng Mỹ là một đồng minh lâu nay của Thái Lan. Người dân vẫn nhớ rõ cảnh tượng nhân viên quân sự Mỹ cung cấp cứu trợ nhân đạo cho các nạn nhân trong trận lụt lịch sử tại Thái Lan vào năm ngoái.

Chính phủ của đảng Vì nước Thái sẽ không khó khăn trong việc thúc đẩy một thỏa thuận nếu đề nghị của Mỹ được đưa ra thảo luận tại Quốc hội, nơi đảng Vì nước Thái chiếm đa số. Nhưng việc tranh luận là điều cần thiêt vì không chỉ cho người Thái biết chính xác mục tiêu sử dụng, mà còn bảo đảm với một số nước láng giềng ASEAN và Trung Quốc, những mức cảm thấy không thoải mái về việc Mỹ tăng cường sự hiện diện của họ tại khu vực này./.

%d bloggers like this: