Lưu trữ | Tháng Tám, 2012

Người con xa xứ và 80 tấm bản đồ – SGTT

31 Th8

Người con xa xứ và 80 tấm bản đồ

SGTT.VN

– Kể từ khi TS Mai Hồng (viện Nghiên cứu Hán – Nôm) công bố tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh (Trung Hoa) ấn hành năm 1904, với chi tiết điểm cực nam của lãnh thổ Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam, thì một người Việt khác đang sống ở Hoa Kỳ cũng bước vào cuộc tìm kiếm những tấm bản đồ tương tự ở hải ngoại. Anh là Trần Thắng, chủ tịch viện Văn hoá giáo dục Việt Nam (IVCE) tại Hoa Kỳ. Cuộc tìm kiếm của anh đã thu được những thành quả ban đầu.

 

 
Trần Thắng và cuốn Postal Atlas of China (1933) mà anh vừa mua được. Ảnh: do nhân vật cung cấp.

 

 

 

 

 

 

 

 

Thực ra từ năm 2010, Trần Thắng đã tiếp xúc với những tấm bản đồ liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lúc đó, tôi và các đồng nghiệp ở viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng đang triển khai đề tài nghiên cứu Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình nghiên cứu, tôi được biết một số thư viện ở Hoa Kỳ như thư viện đại học Princeton, thư viện Astor ở New York, thư viện đại học Columbia… đang lưu giữ những tấm bản đồ do phương Tây xuất bản trong các thế kỷ 16 – 19, có vẽ hoặc ghi chú các quần đảo Paracel, Pracel… (Hoàng Sa) và Spartly (Trường Sa) thuộc về chủ quyền của Việt Nam. Tôi nhờ Trần Thắng tìm đến những thư viện trên để xin sao chụp các bản đồ này gửi về cho tôi.

Đến ngày 25.8.2012, Trần Thắng đã mua được 80 bản đồ riêng lẻ được in ấn tại Anh, Ðức, Úc, Canada, Mỹ và Hong Kong trong khoảng thời gian 1626 – 1980. Những bản đồ này gồm hai nhóm: nhóm thứ nhất là những bản đồ Trung Quốc, trên đó, phần lãnh thổ của Trung Quốc luôn được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét, để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng và chung một đặc điểm là cương giới của Trung Quốc chỉ đến cực nam của đảo Hải Nam. Nhóm thứ hai là những bản đồ Việt Nam hoặc bản đồ khu vực Đông Nam Á, trên đó có thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Đặc biệt, Trần Thắng đã phát hiện ba tập atlas (tập bản đồ) do chính quyền Trung Quốc xuất bản trước đây, rất có giá trị trong việc phản biện những đòi hỏi chủ quyền vô lý của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn thứ nhất là Atlas of the Chinese Empire – Trung Quốc địa đồ, xuất bản năm 1908, in bằng tiếng Anh. Tập bản đồ này gồm một bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 22 bản đồ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ đều có kích thước 31 x 41cm. Ðây là tập bản đồ chính thức, được in lần đầu tại Trung Quốc với số lượng giới hạn. Tập bản đồ này do phái bộ The China Inland Mission, có trụ sở ở Thượng Hải, London, Philadelphia, Toronto và Melbourne, biên soạn và phát hành với sự giúp đỡ của tổng cục Bưu chính Thanh triều và sự trợ giúp kỹ thuật của một người Anh tên là Edward Stanford. Tập bản đồ này Trần Thắng mua từ một nhà sưu tập sách cũ ở Anh.

Cuốn thứ hai là Atlas Postal de Chine – Trung Hoa bưu chính dư đồ – Postal Atlas of China do tổng cục Bưu chính, thuộc bộ Giao thông Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh năm 1919. Sách được in bằng ba thứ tiếng: Trung – Anh – Pháp. Tập bản đồ này gồm một bản đồ tổng thể và 46 bản đồ các tỉnh, đều có kích thước là 61 x 71cm. Tập bản đồ này thuộc sở hữu của một nhà sưu tập ở Ba Lan và đang được rao bán với giá 5.000 USD.

Cuốn thứ ba cũng có tên Atlas Postal de Chine – Trung Hoa bưu chính dư đồ – Postal Atlas of China, cũng do tổng cục Bưu chính bộ Giao thông Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào năm 1933. Tập bản đồ này cũng in bằng ba thứ tiếng Trung – Anh – Pháp, gồm một bản đồ tổng thể và 29 bản đồ các tỉnh, bao gồm cả Tây Tạng và Mông Cổ. Các bản đồ được in với kích thước 61 x 71cm. Tấm bản đồ số 23 trong tập bản đồ này là bản đồ tỉnh Quảng Đông, bao gồm cả đảo Hải Nam. Vì đảo Hải Nam không nằm trọn trong bản đồ nên người ta in thêm phần đảo Hải Nam ở góc trái. Trần Thắng đã mua được tập bản đồ này từ một nhà sưu tập ở New York.

Các tập bản đồ này được đặt tên là Trung Hoa bưu chính dư đồ vì đây là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh vạch ra vào năm 1906 và được Chính phủ Trung Hoa dân quốc kế tục. Các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ các con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các tỉnh, thành của Trung Quốc. Vì thế, nơi nào không thuộc lãnh thổ Trung Quốc thì họ không đưa vào các tập bản đồ. Đây là những tài liệu chính thống do Nhà nước Trung Quốc phát hành vào nhiều thời điểm lịch sử khác nhau, và thể hiện rằng Trung Quốc luôn thừa nhận cương vực phía nam của họ chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam.

Hiện tại, Trần Thắng đang vận động bạn bè quyên góp tiền để mua cuốn Atlas Postal de Chine – Trung Hoa bưu chính dư đồ – Postal Atlas of China in năm 1919, vì đây là cuốn sách được in rất ít, có giá trị sử liệu cao.

Được biết, vào tháng 10 hoặc tháng 11 sắp tới, liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ tổ chức hội thảo quốc tế về Biển Đông. Vì thế, luật sư Trương Trọng Nghĩa, phó chủ tịch liên đoàn Luật sư Việt Nam, đã đề nghị Trần Thắng đưa toàn bộ số bản đồ mà anh mua được về Việt Nam, kết hợp với nguồn bản đồ của các nhà sưu tầm và nghiên cứu ở trong nước để tổ chức cuộc triển lãm chủ đề Bản đồ cổ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong khuôn khổ hội thảo này.

 

Bản đồ tỉnh Quảng Đông trong cuốn Postal Atlas of China xuất bản năm 1933. Phần lãnh thổ cực nam của Trung Quốc trong bản đồ này chỉ đến đảo Hải Nam.
Bản đồ tổng thể vẽ đế quốc Trung Hoa trong cuốn Atlas of the Chinese Empire xuất bản năm 1908.
Bản đồ tổng quát lãnh thổ của Trung Hoa dân quốc trong cuốn Postal Atlas of China xuất bản năm 1933.

Người Việt trẻ giỏi Toán đoạt giải thưởng Fulkerson – VOV

31 Th8

Người Việt trẻ giỏi Toán đoạt giải thưởng Fulkerson

GS Vũ Hà Văn: “Người trẻ Việt làm toán ở Mỹ rất triển vọng”.  

Giáo sư (GS) Vũ Hà Văn về nước dự Hội nghị Toán học tại Huế đúng dịp ở Berlin (Đức), một giải thưởng quốc tế lớn về toán học xướng tên anh – giải Fulkerson.

GS Vũ Hà Văn cho biết, mặc dù còn chưa nhiều nhà toán học người Việt nhận được những giải thưởng quốc tế, nhưng người trẻ Việt làm toán ở Mỹ rất triển vọng…

 

GS Vũ Hà Văn (ngoài cùng bên tay trái) cùng bố – nhà thơ Vũ Quần Phương, mẹ và vợ

 

PV: Thưa GS Vũ Hà Văn, anh có thể chia sẻ công trình mang đến giải thưởng Fulkerson cho mình?

GS Vũ Hà Văn: Bài toán mà tôi tham gia giải quyết được gọi là giả thuyết Shamir, do nhà toán học Israel Shamir nêu ra năm 1983, tổng quát hoá một mệnh đề của hai nhà toán học Hungary Erdos và Renyi từ năm 1966 và là một vấn đề trung tâm của lý thuyết đồ thị ngẫu nhiên.

Rất nhiều nhà toán học trong lĩnh vực toán rời rạc đã tiến hành giải bài toán Shamir nhưng kết quả đạt được vẫn còn tương đối xa giả thiết tối ưu.

Cách đây khoảng 10 năm, GS Johansson (Thụy Điển) viết một bài báo về một trường hợp con của giả thuyết Shamir. Nhưng bài đó không ai hiểu và có một số vấn đề chưa đươc giải quyết thoả đáng nên chưa được công bố.

Tôi mất nhiều tháng giải mã công trình này, và có cảm giác ý tưởng chung, nếu được trình bày bằng một phương pháp khác chính xác hơn, thì những vấn đề trên có khả năng giải quyết được.

Cùng với GS Kahn (một trong những nhà toán học xuất sắc nhất trong lĩnh vực toán rời rạc), khi đó là đồng nghiệp cùng trường Rutgers, bước đầu chúng tôi thành công trong việc hoàn thiện kết quả của Johansson.

Sau đó, chúng tôi nhận thấy phương pháp của mình có thể mở rộng ra trường hợp tổng quát của giả thuyết Shamir.

Mặc khác, nhờ áp dụng một số kết quả mới trong lý thuyết xác suất, chúng tôi có thể chứng minh giả thuyết này ở dạng mạnh hơn và đồng thời giải quyết hai bài toán liên quan được đặt ra bởi Erdos và Alon-Yuster.

Sau khi hoàn thành công trình dưới dạng tổng quát nhất có thể, chúng tôi đề nghị GS Johansson đứng tên chung, với nhan đề “Factors in Random Graphs”. Công trình này được xuất bản năm 2008.

 

GS Vũ Hà Văn sinh năm 1970, là con trai của nhà thơ Vũ Quần Phương. Những năm gần đây Vũ Hà Văn nổi danh trong giới làm toán Việt Nam  bởi anh là một trong số rất ít tài năng toán học người Việt được cộng đồng toán học quốc tế công nhận (thông qua các giải thưởng lớn có uy tín).

Vũ Hà Văn vốn là cựu học sinh chuyên toán của Hà Nội và học ĐH ở Hungary. Năm 1998 anh nhận học vị tiến sĩ tại ĐH Yale. Từ đó đến nay, anh từng làm việc tại nhiều ĐH và viện nghiên cứu của Mỹ như IAS, Microsoft Research, ĐH UC Sandiego, ĐH Rutgers.

Từ mùa thu năm 2011, anh trở thành giáo sư của ĐH Yale. Năm 2008 anh được tặng giải Polya, một giải thưởng lớn của Hội Toán học Công nghiệp và Ứng dụng Mỹ lập ra từ năm 1969.

Từ năm 2011, anh là thành viên của Hội đồng Khoa học của Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán, nơi GS Ngô Bảo Châu hiện làm lãnh đạo.

 

Sau công trình này tôi bắt tay vào nghiên cứu những đề tài khác. Bỗng tháng 6/2012, tôi nhận được thư từ hội đồng xét tặng giải thưởng Fulkerson, thông báo bài của chúng tôi được đánh giá là một trong những công trình xuất sắc nhất những năm gần đây (tính từ 6 năm trước ngày nhận giải).

Thời điểm đó, tôi không biết những công trình nào khác sẽ đoạt giải. Nhưng khi cập nhật thông tin lễ trao giải tôi được biết thầy giáo cũ của tôi, GS Lovász, cũng được tặng giải này qua một công trình làm chung với một nhà toán học trẻ Hungary.

PV:Trước đây đã bao giờ anh nghĩ sẽ nhận được giải này chưa? Khi nghe tin mình được giải, cảm xúc của anh thế nào?

GS Vũ Hà Văn: Cách đây 15 năm, hồi đó còn là nghiên cứu sinh, tôi có làm việc với một giáo sư trẻ (chỉ hơn tôi 6,7 tuổi) người Hàn Quốc tên là Jeong Han Kim.

Khi nghe tin anh ấy được giải Fulkersson năm 1997, tôi thấy rất ngưỡng mộ và tự hỏi, mình rồi có bao giờ được như anh ấy không nhỉ? Khi biết mình được giải tôi cũng lâng lâng và tự cho mình thư giãn vài ngày.

PV:Theo anh, nếu thay vì sang Mỹ, anh ở lại Hungary sau khi tốt nghiệp ĐH thì liệu có được giải thưởng Polya hay Fulkerson?

GS Vũ Hà Văn: Môi trường nghiên cứu khoa học ở Hungary cũng tương đối tốt. Nhưng nếu so với Việt Nam hay Thái Lan chẳng hạn thì sẽ rất khác nhau. Môi trường làm việc có ý nghĩa rất lớn.

Trong trường hợp của chúng tôi, văn phòng GS Kahn và tôi cách nhau có mấy bước chân. Khi có chủ đề cả hai cùng ưa thích thì gần như tuần nào, thậm chí ngày nào chúng tôi cũng có thể trao đổi trực tiếp.

Sự thuận lợi đó khiến cho công việc được thúc đẩy nhanh hơn. Nếu phải đến một nước khác qua một hành trình mệt mỏi, rồi chờ đợi mới gặp được một đồng nghiệp cùng chí hướng thì năng suất chắc sẽ giảm đi nhiều.

Ở Mỹ, nếu gặp nhau, khi hỏi về nơi anh làm việc thì người ta thường hỏi anh làm việc với ai. Một lý do quan trọng để người ta quyết định làm chỗ này hay chỗ khác là vì được làm việc với những con người rất cụ thể.

Môi trường làm việc tốt chính là nơi mà anh có đồng nghiệp giỏi, cùng hướng nghiên cứu, cùng niềm say mê.

Việt Nam hay một số nước khác chưa có nhiều môi trường làm việc tốt không phải chỉ vì điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn mà còn là vì ta còn chưa có nhiều những nhà khoa học tầm cỡ.

PV:Vậy cộng đồng toán học người Việt ở Mỹ thì sao, thưa anh?

GS Vũ Hà Văn: Theo tôi, cộng đồng này ngày càng đông hơn. Thế hệ trước tôi có một vài người nổi tiếng. Thế hệ tôi có chừng 10 người, trong đó tất nhiên nổi bật nhất là GS Châu.

Thế hệ 30 tuổi khá đông, và tôi nghĩ trong số họ có nhiều người sẽ rất khá. Ví dụ, một học trò làm tiến sĩ với tôi ở trường Rutgers là anh Nguyễn Hữu Hội. Anh Hội mới có bằng tiến sĩ 2 năm nay nhưng bây giờ đã được nhận làm GS trợ giảng của trường Ohio State, Columbus (khoa toán ở đây nằm trong tốp 25 của Mỹ).

Bình thường làm xong tiến sĩ cũng phải sau chừng 4 năm mới có được vị trí đó. Hoặc mới đây có GS trẻ Nguyễn Hoài Minh mới ở Pháp sang cũng làm việc rất tốt. Mỗi năm tôi tính phải có chừng 4,5 em ở tầm tuổi này tốt nghiệp nhận bằng tiến sĩ và tiếp tục làm việc ở các trung tâm lớn.

PV:Nghĩa là trong tương lai chúng ta sẽ tiếp tục được nhìn thấy nhiều người Việt nữa có mặt trong những giải quốc tế uy tín?

GS Vũ Hà Văn:Tôi tin như vậy. Các bạn thế hệ trẻ hơn chúng tôi khoảng 10 tuổi được đào tạo tốt hơn thế hệ chúng tôi, và cũng rất nhiệt huyết, đầy lòng say mê. Chắc chắn họ sẽ tạo nên một đội ngũ đông và mạnh hơn chúng tôi.

PV:Theo anh, làm thế nào để họ sẽ là những nhân tố tác động ngược trở lại một cách tích cực vào môi trường nghiên cứu khoa học và đào tạo trong nước?

GS Vũ Hà Văn: Từ trước đến nay, rất nhiều nhà khoa học về Việt Nam hàng năm và tham gia các hoạt động khoa học trong nước với tư cách cá nhân.

Tuy nhiên, nếu trong nước ngày càng chủ động tổ chức các hoạt động để lôi kéo các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài về tham gia cùng cộng đồng khoa học trong nước thì hiệu quả rõ ràng hơn. Việc thành lập Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán là một ví dụ.

Như ta đã biết, chất lượng trường ĐH phụ thuộc phần lớn vào chất lượng của người thầy. Đáng tiếc, hiện chất lượng giáo viên toán nói riêng ở ĐH Việt Nam còn khiêm tốn, nhiều trường phải dùng sinh viên mới tốt nghiệp vài năm để đứng lớp, rất ít giáo sư còn tham gia nghiên cứu một cách tích cực.

Vì vậy, cả về kiến thức và phương pháp tiếp cận vấn đề khó được cập nhật. Việc tạo cơ hội cho giảng viên ĐH, nhất là các bạn trẻ được cọ xát với môi trường nghiên cứu quốc tế như ở Viện Nghiên cứu cao cấp là một việc làm có ý nghĩa và có thể có ảnh hưởng lâu dài.

PV: Được biết lễ trao giải diễn ra tại một hội nghị toán học tổ chức ở Đức từ 18 đến 24-8 nhưng đó cũng là lúc GS đã có mặt ở Việt Nam. Tại sao GS lại không dự lễ nhận giải?

GS Vũ Hà Văn: Lễ trao giải được tổ chức rất trang trọng trong khuôn khổ cuộc khai mạc của đại hội toán tối ưu thế giới (tổ chức 3 năm/lần) tại Nhà hát lớn Berlin, và quả thật tôi cũng hơi tiếc là mình không có mặt tại đó.

Trong quãng thời gian đó, qua lời mời của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, tôi về tham dự phiên họp toàn thể hội nghị toán học phối hợp Việt-Pháp ở Huế từ 20 -24/8 vừa qua.

Đây là một hội nghị lớn của Toán học Việt Nam và là dịp gặp gỡ nhiều đồng nghiệp, nhất là các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào một con đường nhiều chông gai.

Sự có mặt của tôi ở đây có lẽ có chút ý nghĩa thiết thực hơn. Rất vui là thay vì lễ trao giải diễn ra ở Âu châu thì tôi được tham dự một cuộc giao lưu với các em học sinh yêu toán tại Huế, trong đó có rất nhiều em bé còn quàng khăn đỏ và mang vở dán nhãn gấu bông.

PV: Cảm ơn GS!./.

Quý Hiên/báo Tiền phong

Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ – HSP

31 Th8

Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ

Thử giải bài toán lôgic xã hội “Mọi nguồn rắc rối bắt nguồn từ đâu ?”

Mấy lời phi lộ: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi bỗng quên đi sự quá hạn hẹp về hiểu biết của mình mà cả gan lạm bàn chuyện ‘quốc gia đại sự’. Nhưng biết đâu nỗi bức xúc này lại chẳng là chung của nhiều người.

Xin được tiếp cận vấn đề từ góc nhìn qua những quy luật khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên. Bài viết chỉ có tính chất gợi mở, cung cấp một số nhận thức cơ bản để suy nghĩ, chưa giải quyết vấn đề gì cụ thể, trọn vẹn. Nếu từ bài viết có thể lọc ra một chút gì đó gọi được là cái ‘hạt nhân hợp lý’ thì đối với người viết đã là điều may mắn lắm rồi, nên xin miễn phi lộ dài dòng về những sai sót khó tránh khỏi.Tuy vậy người viết không thể giấu niềm hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo thêm, và cá nhân người viết xin nhận trách nhiệm trước mọi sự phán xét.

Những điều này nói ra hôm nay đã là quá muộn.

Tú Xuân HÀ SĨ PHU
Ngày 2 tháng 9 năm 1988

Hãy thử để cho Trí tuệ được vài phút hòan toàn tự do, xem nó có thể mách bảo ta điều gì. Sau đó, nếu không thấy có gì ích lợi thì xin mọi người cứ coi đây như những lời nhảm nhí mà loại nó ra khỏi ‘bộ nhớ’, tưởng cũng chẳng tốn kém là bao. Ít ra điều đó cũng chứng tỏ rằng chúng ta đã có sự trao đổi dân chủ thực sự.

Chúng ta hãy cùng nhau tham gia vào việc giải thử bài toán lôgic lớn của xã hội mà bấy lâu nay cứ ở trong tình trạng vừa như rất đơn giản vừa như quá thần bí không có lời giải : Mọi điều rắc rối bắt nguồn từ đâu ?
Bây giờ ta làm theo cách công khai và dân chủ. Mọi người hãy tạm thời thoát ly khỏi những nếp suy nghĩ mà ta đang có, kể cả những ‘tư duy’ đang được gọi là ‘đổi mới’ , tạm thời thoát ly khỏi những điều đang gắn chặt với quyền và lợi của ta hàng ngày, để cùng ngồi lên chiếc xe của tư duy lôgic. Trong thế giới của tư duy thì không có vùng nào là vùng cấm. Mọi hiện tượng, mọi phạm trù, mọi nhân vật, mọi chủ nghĩa… đều là những dữ kiện của bài toán, không hơn mà cũng không được kém.

Đi một vòng để quan sát toàn bộ bức tranh, ta có nhận xét tổng quát rằng hệ thống mà ta đang khảo sát chứa đựng quá nhiều ‘nghịch lý’ , nếu chưa muốn nói là cấu thành bởi toàn những ‘nghịch lý’:
– Hệ thống “dân chủ gấp triệu lần” lại vướng mắc chính vấn đề dân chủ.
– Hệ thống tiêu biểu cho Sự thật (có các nhà xuất bản Sự thật, và chúng ta thường nói chỉ chúng ta mới có dũng cảm nói sự thật) thì đang phải cố chữa cho được bệnh nói dối.
– Hệ thống tiêu biểu cho triết học duy vật thì lại là điển hình của bệnh duy ý chí.
– Hệ thống ưu việt (tức là tốt vượt hẳn lên) , tiêu biểu cho sự giải phóng Con người thì lại không ưu việt về Quyền Con người, luôn bị chỉ trích về Quyền Con người.
– Hệ thống tiêu biểu cho sự đề cao những giá trị tinh thần thì lại ‘xuống cấp những giá trị đạo đức’, đang cần làm lành mạnh trở lại những quan hệ xã hội và gia đình.
– Hệ thống tiêu biểu cho tính ‘nhân loại’, tính ‘tập thể’ thì lại xuất hiện rất nhiều ví dụ về tệ sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực vào tay một người, lấy một người trùm lên tất cả.
– Hệ thống tiêu biểu cho sức sáng tạo của trí thức (xem định nghĩa của Lênin về chủ nghĩa Cộng sản và người Cộng sản) thì vấn đề trí thức lại cứ cộm lên như một hạt nhân của toàn bộ cái hiện thực cần phải cải tổ.
– Chúng ta vẫn nói sự thắng thua giữa các chế độ rốt cuộc là ở năng suất lao động. Ta luôn nói về những “thắng lợi to lớn” nhưng chính về năng suất lao động thì ta lại thua quá xa.
– Hệ thống Xã hội chủ nghĩa được mô tả là đầy sức sống, còn chủ nghĩa Tư bản thì đang ‘giãy chết’. Vậy mà , trong tất cả những trường hợp quốc gia bị chia cắt làm hai thì dù chia theo kiểu nào, nửa thuộc phía ‘giãy chết’ cũng có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tốt hơn nửa kia ! …vv…

Trước thực tế ấy, nhiều luận điểm đã và đang được chúng ta đưa ra để giải thích. Ví dụ :
– Ta có đường lối ‘đúng đắn’ nhưng khi thực hiện thì có sai lầm. ‘Trên’ thì đúng đắn nhưng cán bộ trung gian quá yếu. Chủ nghĩa thì đúng đắn nhưng con đường quá mới mẻ nên ta chưa có kinh nghiệm.
– Đây là khó khăn tạm thời do chiến tranh để lại. Bè lũ Đế quốc và bọn Thực dân, Phong kiến phải chịu trách nhiệm về tình hình khó khăn này.
– Do có những cá nhân không chịu tu dưỡng rèn luyện nên thoái hóa biến chất. Chung qui chỉ tại cái chủ nghĩa Cá nhân !
– Do chế độ quan liêu bao cấp. Do thiếu sót về những ‘tư duy cụ thể’ như ‘tư duy kinh tế’, ‘tư duy đối ngoại’ …vv…

Trước một thực tế xã hội đầy những ‘nghịch lý’ lớn lao đã kể ở trên thì những luận điểm giải thích này dẫu có phản ánh được phần nào hiện thực cũng không đủ tầm để bao quát cả một thời kỳ của lịch sử nhân loại. Nó khác nào như đem dầu xoa, thuốc cảm để chữa ung thư vậy.

Từ khi có cuộc Cải tổ, Đổi mới trong toàn hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới đến nay, chúng ta đã làm được một việc là đem bày ra công khai trước mắt mọi người một số tư liệu để chúng ta nhìn cho đúng chân dung của mình, một chân dung mà tự mình cũng thấy không chấp nhận được. Những hiện tượng ‘tiêu cực’ rất cần được phơi bày, nhưng phơi bày mãi cũng không bao giờ hết, và nếu cứ sửa chữa theo kiểu ‘thợ vườn’ sai đâu sưả đấy thì sẽ chẳng khác nào chơi trò trốn tìm vòng quanh. Điều quan trọng là những hiện tượng tiêu cực đã nêu cần phải được hệ thống hóa lại, tìm mối liên hệ nhân quả giữa chúng, rồi theo mạch lôgic mà tìm tới nguyên nhân gốc rễ. Cái mạch lôgic tự nhiên ấy chẳng chóng thì chầy sẽ tự động diễn ra trong đầu mỗi người nên dẫu ta có sợ cũng không cản lại được. Vận mệnh lâu dài của hàng nghìn triệu người cũng đòi hỏi phải làm như vậy, nếu không mọi sự sửa chữa đều chỉ là sự đối phó nhất thời.

Những thông tin, nhất là thông tin từ công cuộc Cải tổ ở Liên xô, đã bộc lộ dần một vài hướng suy nghĩ. Chẳng hạn :
– Cần xem lại một số luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, hay ít ra là xem lại cách hiểu về những luận điểm cơ bản ấy (ý nghĩ này chẳng có gì mới lạ vì chính Mác và Lênin cũng khuyên như thế và cũng từng làm như thế).
– Chủ nghĩa Đế quốc có thật là ‘giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa Tư bản’ hay chỉ là một trong những bước đi ban đầu của chủ nghĩa Tư bản ? Và một khi chủ nghĩa Tư bản chưa ở giai đoạn tất yếu phải cáo chung thì điều đó có nghĩa là lịch sử chưa đòi hỏi và do đó chưa hề tạo tiền đề có một cuộc ‘cách mạng Xã hội chủ nghĩa’ đích thực …

Chưa nói nguyên nhân nào là đúng, nguyên nhân nào là sai, nhưng ít ra nguyên nhân cũng phải ở tầm cỡ như vậy mới có thể có sức chi phối ghê gớm đối với xã hội như chúng ta đã và đang thấy.

Song ta cũng không cần nói theo ai cả. Hãy dùng hiểu biết của chính mình mà rà soát lại toàn bộ vấn đề xem có tự phát hiện được điều gì không ?

Điều đầu tiên để hiểu một chủ nghĩa là xem xét MỤC ĐÍCH và PHƯƠNG TIỆN mà chủ nghĩa ấy đề cập tới. Lý tưởng Cộng sản là một lý tưởng hết sức tốt đẹp, vì đã gọi là ‘lý tưởng’ thì lý tưởng nào chẳng hướng tới hạnh phúc của con người, giải phóng con người khỏi những bất hạnh về vật chất, tinh thần và những bất công xã hội? Lý tưởng Cộng sản nhấn mạnh tính ‘xã hội’ của con người cũng như của tư liệu sản xuất, điều đó là khoa học, là xu hướng tiến hóa tất yếu của xã hội loài người, nhưng sự ‘xã hội hóa’ sẽ diễn ra cụ thể thế nào là thuận quy luật thì sẽ bàn sau.

“Một xã hội không còn người bóc lột người” , chính điều này còn gây tranh luận, vì nếu hiểu một cách chung chung là không còn áp bức bất công thì chẳng có gì để tranh luận, nhưng nếu hiểu chữ ‘bóc lột ‘ ở đây như một thuật ngữ chính trị-kinh tế học , là ‘bóc lột giá trị thặng dư ‘ , thì vấn đề lại không đơn giản chút nào. Tuy vậy vấn đề này cũng xin tạm xếp sang một bên, vì tự nó cũng chưa thể gây ra mọi chuyện.

Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với một lý tưởng không phải là lý tưởng ấy ước vọng điều gì mà lại là đi tới ước vọng đó bằng cách nào, bằng phương tiện hay công cụ gì. Luận điểm về con đường đấu tranh giai cấp và công cụ chuyên chính vô sản chính là “hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội khoa học” !Do tầm quan trọng như vậy mà ta hãy dừng lại lâu hơn một chút trên ‘hòn đá tảng’ này để xem xét cho kỹ, không thể vội vã cho qua được.

GIAI CẤP LÀ GÌ , VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG XÃ HỘI NHƯ THẾ NÀO ?

Để phân định điều phải trái và quyết định thái độ cũng như hành động của mình, con người có ba thứ căn cứ : tri thức, lòng tin, và quyền lợi.

Luôn lấy tri thức, lấy khoa học làm căn cứ, đó là chủ nghĩa DUY LÝ (1), cái gì trái với những quy luật khách quan mà mình nhận thức được thì không chấp nhận. Luôn lấy lòng tin làm căn cứ là chủ nghĩa DUY TÍN (2), cái gì trái với những điều mình tin, mình cho là thiêng liêng thì không chấp nhận. Luôn lấy lợi ích làm căn cứ là chủ nghĩa DUY LỢI (3), cái gì trái với những lợi ích của mình hay của những người chung lợi ích với mình thì không chấp nhận.

Theo mức độ duy lý, con người chia thành trí thức và không trí thức. Theo mức độ duy tín thì chia thành có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng. Người thực sự duy lý hay thực sự duy tín thì tự thân không có tính giai cấp rõ rệt, vì sự phân chia thành giai cấp chỉ là sự phân chia theo quyền lợi, chỉ thích hợp với những người duy lợi. ( Giai cấp là những tập đoàn người được phân chia theo sự chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, theo vai trò trong tổ chức sản xuất và theo sự phân phối của cải xã hội ; cả ba tiêu chuẩn này đều là quyền và lợi). Hiểu theo nghĩa đó thì người mang tính giai cấp rõ rệt là người duy lợi (tức là lấy lợi ích làm chuẩn, kể cả lợi ích chân chính, lợi ích của một giai cấp).

Vì vậy, sự phân chia con người theo giai cấp tuy có những ý nghĩa nhất định nhưng không thể là sự phân chia có ý nghĩa tổng quát, không bao hàm được hết mọi người trong xã hội. Tuyệt đối hóa lý thuyết giai cấp là rơi vào thuyết giai cấp cực đoan. Đem cái nhìn giai cấp trùm lên mọi hiện tượng của con người và xã hội sẽ không tránh khỏi làm méo mó xã hội, sẽ gặp lúng túng khi giải quyết vấn đề tri thức, vấn đề tôn giáo cũng như nhiều vấn đề xã hội khác.
—————————————————————————————————————————————————————————
(1) (2) (3) : Khái niệm ‘Duy lý’ ở đây không hoàn toàn trùng với khái niệm Duy lý của Descartes. Những chữ ‘Duy lý’, ‘Duy tín’, ‘Duy lợi’ là những thuật ngữ riêng của tác giả.
————————————————————————————————————————————————————————–

Vì quan niệm rằng người nào cũng phải có một ‘ thành phần giai cấp ‘ nên ta gặp lúng túng khi không biết xếp những người trí thức vào giai cấp nào, và gán luôn cho họ cái “bản chất lừng khừng, không kiên quyết cách mạng” (!). Nói về tính ‘kiên quyết’ thì thực tế cho thấy người duy tín cũng có thể “tử vì đạo” , người duy lợi có thể chết cho quyền lợi nào đó, và nhà bác học cũng có thể kiên quyết lên giàn lửa để bảo vệ chân lý khoa học, nhà khoa học cũng có thể ‘kiên quyết cách mạng’ đến mức trở thành lãnh tụ cách mạng khi nhận thức rằng sự vận động đó phù hợp với quy luật, phù hợp với căn cứ duy lý của mình.

Duy lý, duy tín và duy lợi tuy khác nhau ở xuất phát điểm nhưng muốn cho hành động đạt kết quả tốt thì lại cần sự hỗ trợ của nhau ; vì thế nếu phát triển đến độ hoàn hảo thì lại gặp nhau, thống nhất với nhau. Tuy vậy thực tế khó có sự hoàn hảo ; ở một phạm vi xác định, ở một con người cụ thể thì ba căn cứ ấy khó đạt được sự thống nhất hoàn thiện mà thường có tình trạng một trong ba căn cứ ấy nổi lên chiếm vai trò chủ đạo để dẫn dắt hành vi của con người. Ba yếu tố ấy đan vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau trong mối quan hệ tay ba vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, nên tách bạch ba yếu tố ấy trong một con người, trong một việc làm không phải là điều dễ dàng, và đó là nguồn gốc của biết bao hiện tượng rối rắm, nan giải của xã hội và của mỗi con người. Nhiều người đã tuyên bố chủ trương “kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp công nhân” , nói cách khác là chủ trương chung sống hài hòa giữa duy lý và duy lợi. Nhưng rồi trong thực tế trào lưu Cộng sản thì sự cân bằng lý thuyết này cứ bị chuyển dịch để cái duy lợi thôn tính dần cái duy lý.

Các-Mác rất coi trọng vấn đề ‘lợi ích’ và ở một nhà khoa học thì đây là một điều đáng quý. Nhưng là nhà khoa học, Mác đứng ở gốc duy lý mà tiếp cận sang duy lợi. Nhiều người khác đi theo chủ nghĩa Mác nhưng lại từ gốc duy lợi mà tiếp cận sang duy lý. Người càng ít hiểu biết thì tính duy lý càng ít ( nhân bất học, bất tri lý) , dễ thành duy lợi cực đoan, hoặc lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ duy tín, một thứ tôn giáo.

Trong ba căn cứ ấy thì Duy lý tiêu biểu cho khoa học, cho quy luật khách quan nên là căn cứ đúng đắn nhất, nó bao dung được cái Duy lợi và Duy tín hợp lý. Ngược lại, khi chủ nghĩa Duy lợi hay Duy tín mà nắm vai trò dẫn dắt xã hội thì nó rất dễ tiến đến cực đoan mà không chấp nhận nổi cái Duy lý. Giáo hội La mã ngày trước đã thiêu sống nhiều nhà bác học chỉ vì họ phát hiện những định luật khoa học. Những tên vua Trung quốc nào võ biền ít học thì “phần thư khanh nho” (đốt sách, giết nhà nho). Những hồng vệ binh nông dân mù chữ Trung quốc và những tên lính mù chữ Cămpuchia đã hành hạ những trí thức ưu tú của dân tộc mình. Phong trào Xô viết Nghệ tĩnh năm 1930 đã đặt trí thức lên hàng đầu trong khẩu hiệu ” Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ!” . Nhiều danh nhân văn hóa của Liên xô đã là nạn nhân điển hình của những sự đối xử tương tự…

Nhìn rộng ra nữa thì lịch sử tiến hóa của nhân loại thực chất là gì ?

Do biết sử dụng công cụ nên , khác với mọi sinh vật , con người không tiến hóa bằng cách biến đổi những cấu tạo của cơ thể mà bằng cách hoàn thiện không ngừng công cụ lao động . Cùng với sự cải tiến công cụ là cải tiến qui trình sản xuất, hoàn thiện kỹ năng … dẫn đến tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tất cả những biến đổi cơ bản ấy đều là biểu hiện của sự gia tăng tri thức của con người về các quy luật tự nhiên và các quy luật quản lý, tổ chức xã hội.

Vậy thì, cái lõi bên trong của dòng tiến hóa là dòng phát triển của tri thức nhân loại, còn sự đấu tranh giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, tức sự đấu tranh giai cấp, chỉ là cái vỏ, là những hiện tượng xã hội kèm theo mà thôi. Dòng gia tăng tri thức của xã hội là cái lõi, nó phản ánh bản chất của sự tiến hóa nên không thể thiếu và tồn tại xuyên suốt từ đầu đến cuối lịch sử loài người. Còn sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ bên ngoài, là một trong những hiện tượng xã hội kèm theo nên có tính chất tạm thời, luôn thay đổi màu sắc, và con người có khả năng sử dụng nó, hoặc giảm nhẹ hay loại trừ nó đi trong nhiều giai đoạn của dòng tiến hóa bất tận.

Khi nói : Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất (so với quan hệ sản xuất) thì sẽ là thiếu sót nếu không tiếp tục nói :Trong lực lượng sản xuất thì sự “năng động” ấy nằm ở yếu tố con người, trong con người thì sự “năng động” ấy nằm ở bộ óc tức phần lao động trí tuệ.

Bản chất của sự tiến hóa là như vậy. Tinh thần khoa học quan trọng nhất trong một học thuyết tiến hóa xã hội đáng lẽ phải là như vậy. Nhưng dưới ‘lăng kính giai cấp’ nhiều cuốn sách lại có lối mô tả dòng tiến hóa của xã hội như sau : ” …Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị luôn đối kháng nhau về quyền lợi nên sinh ra đấu tranh giai cấp. Nô lệ chống chủ nô làm chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã. Nông dân chống địa chủ phong kiến làm chế độ phong kiến tan rã. Giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản làm chủ nghĩa tư bản sụp đổ …”. Lối mô tả ấy xuất phát từ nhận thức sai lầm coi dòng tiến hóa là dòng đấu tranh của những giai cấp bị trị lật đổ các giai cấp thống trị, nên mỗi khi giai cấp bị trị không nắm được quyền lãnh đạo trong xã hội mới thì chúng ta coi là công lao của họ bị lợi dụng. Thế thì lịch sử là một chuỗi toàn những bất công vô lý, trong đó những kẻ ‘xấu bụng’ đi lợi dụng công lao người khác lại cứ được lịch sử cho kế tiếp nhau điều khiển xã hội. Đến khi có cách mạng vô sản thì mới phát sinh một ngoại lệ, giai cấp công nhân là giai cấp bị trị lên lãnh đạo xã hội, và ngoại lệ này mới chính là niềm mơ ước của nhân loại (?!).

Không, lịch sử có quy luật chứ không tùy tiện. Mỗi cuộc biến đổi được gọi là ‘cách mạng xã hội’ bao giờ cũng là sự cạnh tranh của hai thế lực lãnh đạo xã hội, tiêu biểu cho hai bậc thang về trình độ tổ chức xã hội, ứng với hai trình độ khác nhau của khoa học-kỹ thuật, của tri thức con người thời ấy. Thế lực lãnh đạo mới sẽ thắng vì có trình độ cao hơn (thế lực có trình độ cao hơn này không bao giờ nằm ở giai cấp bị trị, dù giai cấp bị trị có tạm thời đoạt được quyền bính thì trước sau họ cũng rơi vào quỹ đạo của những thế lực kia). Sự đấu tranh của giai cấp bị trị cũng như của quần chúng nói chung chỉ có tác dụng tạo ra áp lực to lớn của xã hội giúp cho chính quyền mau chuyển từ tay thế lực lãnh đạo cũ sang tay thế lực lãnh đạo mới, điều này đáp ứng yêu cầu phát triển chung của toàn xã hội.( điều này phù hợp với quy luật cạnh tranh sinh tồn chứ không phù hợp với thuyết đấu tranh giai cấp Mácxít ). Lôgic của lịch sử vốn là như vậy, bất chấp chúng ta vừa lòng hay không vừa lòng. Việc đưa giai cấp công nhân vào vị trí giai cấp lãnh đạo trong xã hội mới là một việc làm chỉ mang tính đạo đức, làm nức lòng số đông đang công phẫn nên có sức mạnh tập hợp to lớn trong thời kỳ đầu, nhưng không theo quy luật nên sẽ tự phát sinh mâu thuẫn trong những giai đoạn sau.

Nhiều người nhận xét rằng càng về sau việc thực thi chủ nghĩa Mác càng có xu hướng không đúng với những tinh thần nguyên lý ban đầu của Mác và chiều hướng của những sai lệch dường như có tính lôgic, tính quy luật.

Thực tế cũng bộc lộ một nhận thức sai lệch của nhiều người hiểu tinh thần chính của chữ ‘ cách mạng’ là ở ý nghĩa lật đổ , lật đổ người giàu lấy của chia cho người nghèo như các anh hùng hảo hán ngày xưa vẫn làm. Đây là biểu hiện chủ nghĩa bình quân của nông dân. Chủ nghĩa bình quân gắn chặt với tư tưởng lật đổ. Khi mình chưa có thì muốn lật đổ để cào bằng, cào bằng được rồi lại muốn mình giàu hơn người khác, lật đổ vua nhưng rồi mình lại thành vua. Chủ nghĩa Cộng sản giương ngọn cờ Công Nông không thể nào tránh được vết xe đó.

Muốn làm giảm tận gốc bất công xã hội và tăng hạnh phúc của nhân dân thì sự công bằng phải đặt trên cơ sở nâng cao cả nền sản xuất của xã hội. Động tác chính của ‘Cách mạng’ là động tác nâng cao chứ không phải động tác cào bằng. Cào bằng là động tác của bạo lực, nâng cao là động tác của tri thức khoa học, của năng lực tổ chức sản xuất và tổ chức xã hội. Chúng ta đấu tranh cho công bằng chứ không chấp nhận sự cào bằng vì cào bằng làm cho xã hội thấp đi và tạo ra sự bất công mới khốc liệt hơn. Kiểm điểm lại, nếu ta mới chỉ đạt ‘những thắng lợi to lớn’ trong những việc mang tính lật đổ và cào bằng mà chưa có những thắng lợi to lớn trong việc nâng cao một cách vững chắc thì thực chất là chưa có ‘cách mạng’ ! Cách mạng xã hội không đồng nghĩa với cướp chính quyền, cũng không đồng nghĩa với giải phóng dân tộc … mặc dù tất cả những hình thức đấu tranh chống áp bức, đòi công bằng xã hội (trong đó có những cuộc đấu tranh giai cấp) đều rất cần thiết, và còn luôn luôn cần thiết trong xã hội loài người, đều là những biểu hiện của đấu tranh sinh tồn, đều có giá trị riêng của nó và có liên quan mật thiết với nhau.

Giai cấp bị trị trong xã hội cũ không thể trở thành giai cấp thống trị trong xã hội mới vì bản thân giai cấp bị trị không thể tiêu biểu cho trình độ tiên tiến nhất của tri thức con người thời ấy. Chính vì thế mà khi muốn đưa giai cấp công nhân thành giai cấp lãnh đạo Mác đã phải đặt ra một điều kiện rằng đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp để có thể tiêu biểu cho nền sản xuất hiện đại để công nhân đồng thời là trí thức. Nhưng thử nhìn vào các nước tư bản đã có nền đại công nghiệp hiện nay thì ta thấy tầng lớp tiêu biểu cho khoa học, cho tri thức tiên tiến của các nước ấy không thể nào lại là công nhân của các nước ấy được, mặc dù trình độ công nhân của họ cao hơn của các nước khác rất nhiều. Xã hội càng phát triển thì sự chuyên hóa giữa công nhân và trí thức lại càng cần thiết, và hình như khi trình độ của những công nhân ấy được nâng cao lên (như ở Hoa kỳ, Nhật bản …) thì họ lại giảm đấu tranh đi, tức là giảm sự “giác ngộ giai cấp” , tức là giảm khả năng trở thành lãnh đạo cách mạng , tức là càng đi ngược lại điều kiện ước mong của Mác! Như vậy chính yêu cầu của Mác đề ra cũng còn bất cập , huống chi những người Cộng sản Nga và Đông Âu thì lại bất chấp cả yêu cầu tối thiểu ấy , chủ trương làm ‘cách mạng’ ngay trong khi giai cấp công nhân nước mình còn cách rất xa yêu cầu của Mác. Chưa kể trường hợp mà sự lãnh đạo thực chất còn nằm trong quỹ đạo nông dân thì đương nhiên còn tai hại hơn.

Phải chăng do ý thức được cái lỗ hổng này mà Lênin đã yêu cầu người cộng sản phải cấp tốc trau giồi tri thức, và tự Lênin đã nêu một tấm gương về sử dụng trí thức , kể cả trí thức của chế độ cũ. Lênin nói : “Chỉ có đem toàn bộ kho tri thức của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản”. Cái định nghĩa tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là định nghĩa về người trí thức, tức là chất Cộng sản và chất Trí thức phải trùng làm một ! Nếu mọi đảng viên cộng sản đều được kết nạp trên tinh thần ấy của Lênin thì đảng Cộng sản chính là đảng của trí thức -trí thức cách mạng !
Nhưng trong thực tế thì lời giáo huấn ấy có thể thực hiện được không ?

Xin kể ra đây một tình trạng có thật và khá phổ biến : “Chúng tôi là những con em công nhân và nông dân. Nếu chúng tôi chỉ học khoảng hết cấp 1 và ở lại địa phương sản xuất thì với lòng hăng say mà chúng tôi vốn có, dám chắc rằng chúng tôi đã thành đảng viên từ lâu rồi. Nhưng chúng tôi lại ham học. Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau dồi bao nhiêu tri thức về khoa học tự nhiên, về triết học Mác-Lê, vềchính trị … thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành tầng lớp trí thức tiểu tư sản bấp bênh ! Trở thành kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư … thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học ! …” .Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng ngược chiều với chất trí thức !

Đó là điều ‘nghịch lý’.

Nhưng ‘ nghịch lý’ này lại là nguyên nhân của một loạt các ‘nghịch lý’ tiếp theo.

Kết quả trực tiếp nhất và cũng cơ bản nhất là sản xuất không phát triển, sản phẩm hàng hóa ít, đời sống khó khăn. Đời sống tinh thần cũng bị hạ thấp do phải lùi bước trước những nhu cầu sinh tồn tối thiểu. Tính kém hiệu quả của tổ chức xã hội đã gây nên cái điều rất ‘vô lý’ (thực ra chẳng có gì là vô lý cả) là muốn xây dựng một hệ thống phát triển nhất trong lịch sử loài người thì lại thu được một hệ thống không phát triển, thậm chí chống lại sự phát triển.

Con người một khi không đủ tri thức để có điều kiện huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi xa thì nó huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi gần. Không tăng được sản xuất để gia tăng của cải chung của xã hội thì ‘cải tiến’ cách phân phối để chiếm được phần hơn trong cái tổng số còn ít ỏi. Sự ưu tiên đặc biệt này gắn chặt với chức quyền. Vì lợi mà phải chiếm quyền (vẫn từ cái gốc duy lợi mà ra) ! Có chức có quyền thì có lợi ! Người ta xô nhau chiếm chức quyền làm cho bộ máy chính quyền vốn đã ít hiệu quả lại cứ phình to ra mãi. Sự bao cấp đến mức thành đặc quyền đặc lợi cứ chất mãi gánh nặng lên vai nhà nước, lên vai nhân dân. Đến mức không chịu nổi nữa thì nhà nước buộc phải ‘chống bao cấp’ nhưng lại buông khỏi tay mình những bộ phận vốn cần được bao cấp chu đáo để phục vụ những nhu cấu công ích và chiến lược lâu dài. Điều ấu trĩ này làm cho nhà nước yếu đi, nhà nước yếu đi thì không còn chủ động điều khiển được sự chống bao cấp. Nạn bao cấp không thực sự mất đi mà tồn tại một cách không chính thức thì lại càng nguy hiểm hơn, nó mang tính bao cấp trá hình, bao cấp nhưng lại pha màu tự do cạnh tranh và chộp giựt.

” Giảm biên chế” là một nhu cầu sống còn nhưng nếu tiến hành giảm biên chế trong điều kiện cán bộ khung chưa được trong sạch từ trên xuống (mà điều này thì không thể thực hiện được) và ở bên dưới thì quần chúng không được thực sự làm chủ thì mỗi đợt giảm biên chế càng tạo điều kiện để những con ký sinh trùng bám chặt thêm vào ruột nhà nước mà sinh đẻ thêm và đẩy những người trung thực ra rìa, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng ‘tư hữu hóa’ cả cơ quan nhà nước.

Khi người chỉ huy không đủ tri thức để điều hành công việc và thuyết phục quần chúng thì họ bị giằng co giữa hai động cơ : một mặt rất muốn dùng những người trí thức, một mặt lại sợ trí thức. Để có thể che giấu sự kém cỏi của mình, để được yên thân tọa hưởng giữa nơi mập mờ bùng nhùng họ không dám thực sự nâng cao dân trí, không dám cho dân phát triển dân chủ, tự do. Ánh sáng trí tuệ đối với họ lúc này lại là điều bất lợi (và cái châm ngôn “kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp” lúc này chỉ còn là khẩu hiệu trên giấy thôi, chân lý khoa học không được tôn trọng đã đành, mà lợi ích cũng không còn là lợi ích của giai cấp).

Có ham muốn, có quyết tâm mà thiếu tri thức thì ắt sa vào vòng duy ý chí. Người chỉ huy sẽ trở thành kẻ độc tài dù tự giác hay không tự giác. Càng bất lực trước quy luật càng phải ngụy biện và áp đặt. Vì thế mà xuất hiện cái điều tưởng như rất vô lý là muốn xây dựng một hệ thống giàu Nhân tính nhất thì lại thu được một hệ thống mâu thuẫn với quyền Con người. Chúng ta không quên rằng Mác và Lênin đã từng phê phán kịch liệt thứ ‘xã hội chủ nghĩa kiểu trại lính’ , kiểu này là sản phẩm chung của mọi thứ ‘xã hội chủ nghĩa không tưởng’ (!).

Việc xây dựng Chuyên chính vô sản như các nước xã hội chủ nghĩa chúng ta đã làm ắt phải dẫn đến sự SÙNG BÁI CÁ NHÂN. Tại sao vậy ?

Từ trước tới nay con người bao giờ cũng coi giá trị Nhân đạo là giá trị cao nhất, là thước đo cao nhất, thước đo cuối cùng. Nhưng đùng một cái xuất hiện và lưu hành luận điểm rằng : “Không có sự nhân đạo chung chung ! Trong xã hội có giai cấp thì sự nhân đạo cũng mang tính giai cấp (!). Vì thế, trước hết phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp tiêu biểu cho thời đại nên lợi ích của giai cấp này cũng phù hợp với lợi ích chân chính của các giai cấp khác.” Thế là tính Nhân đạo được thay thế bằng tính Giai cấp. Cái giá trị tinh thần cao quý nhất mà con người bao đời đã dùng để dạy bảo nhau sống cho nên người bỗng bị đảo chính rất gọn để thay bằng một giá trị được gọi là mới, là cao hơn, nhưng chưa qua thử thách của lịch sử (và ngay về phương pháp luận nó đã tỏ ra không ổn, lấy cái riêng thôn tính cái chung). Nhưng ngay cả sự đề cao giai cấp công nhân ở đây cũng chỉ là sự nhân danh một cách hình thức, vì vấn đề không dừng ở chỗ này. Giai cấp phải được đại diện bởi ‘ đội tiên phong ‘ của mình là Đảng , tính Giai cấp được nâng thành tính Đảng. Đảng theo nguyên tắc ‘tập trung dân chủ ‘ ( mà điều quái lạ là trong thực tiễn thì tính dân chủ cứ thường xuyên bị vi phạm , còn tính tập trung thì bất khả vi phạm ). Đảng ‘tập trung ‘ vào Trung ương Đảng, Trung ương Đảng ‘ tập trung ‘ vào Bộ Chính trị … và cuối cùng ‘ tập trung ‘ vào một người nắm quyền cao nhất . Ai chống lại người này thực tế sẽ dễ dàng bị qui là chống Trung ương, chống Trung ương sẽ bị qui là chống Đảng, chống Đảng qui thành chống giai cấp , mà chống đúng vào cái giai cấp ‘ tiêu biểu ‘ của thời đại và của dân tộc thì hiển nhiên là chống dân tộc , hoặc chống cả nhân loại rồi còn gì ! Rốt cuộc, tình cảm thiêng liêng đối với dân tộc hay đối với toàn nhân loại lại được đo một cách đơn giản bằng sự trung thành đối với một con người cụ thể. Chuyện Stalin, Mao trạch Đông … dễ dàng qui nhiều đồng chí của mình trong Bộ Chính trị thành ‘ phản động ‘ đã chẳng là những ví dụ điển hình đó sao ?

Vì thế mà tồn tại cái điều rất ‘ vô lý ‘ (?) là muốn xây dựng một hệ thống đặc trưng bởi tính tập thể, tính thế giới đại đồng, tính toàn nhân loại, lại thu được một hệ thống rất dễ nảy sinh chủ nghĩa cá nhân cực đoan , ngược với tính Nhân loại.

Tiến hóa cũng là quá trình trong đó tính NHÂN từng bước lấn dần tính THÚ. Khi yếu tố NHÂN không được phát huy thì yếu tố THÚ sẽ vùng dậy. Biết bao vụ án đau lòng là biểu hiện lộng phát của thú tính. Con người dùng bạo lực để thống trị nhau, lấy việc hành hạ người khác làm điều thích thú, sinh sống bằng cách chiếm đoạt những giá trị có sẵn chứ không sáng tạo …

Con người là một ‘sinh vật xã hội’ nên sự phát triển tính NHÂN cũng đồng thời là sự phát triển tính XÃ HỘI, tính có tổ chức của nó. Tính XÃ HỘI là một biểu hiện cao của NHÂN TÍNH, còn chủ nghĩa QUÂN PHIỆT , CHUYÊN CHÍNH vô sản hay mọi thứ chuyên chính và mọi biểu hiện mất dân chủ về bản chất là di chứng của thú tính , nên hai thứ đó phải được xem là đối lập nhau như nước với lửa , chứ tại sao lại dùng CHUYÊN CHÍNH để thực hiện một chủ nghĩa mang tính ‘ XÃ HỘI ‘ ?

Chúng ta có trong tay mình một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược ; lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên, trong đó không có cái gì được ở đúng vị trí của nó cả ( tức là một hệ thống có khuyết tật cấu trúc) nên cứ người nọ thì phải làm việc của người kia.

Vì thế mà không một quy luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát huy được tác dụng. Ví như trong một vùng ‘phản vật chất ‘ thì những quy luật của thế giới vật chất thông thường không còn tác dụng vậy. Trong một ‘ không gian phản quy luật ‘ thì những nghịch lý sẽ hoạt động : cái tinh thua cái thô, cái trật tự thua cái lộn xộn, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ … và con người đi giật lùi !

Có phải rằng bấy lâu nay chúng ta lúng túng muốn cắt nghĩa cho mình mà không sao cắt nghĩa được ? Vì, hiện thực xã hội tuy có thế thật nhưng lý tưởng của chúng ta thì không thể nóo là không cao đẹp. Vì, thực tế khách quan tuy có thế thật nhưng chủ quan thì ai muốn như thế ? Vì, hiện nay tuy có thế thật, nhưng trước đây đâu có như thế ? Vì, tuy có những kẻ đồi bại thật nhưng còn bao tấm gương tuyệt vời trong sáng thì sao ? Vì, tạm thời tuy có thế thật nhưng rồi xã hội vẫn phải tiến lên chứ ? … Vâng , đúng như vậy, không có gì là bế tắc cả. Khi chúng ta đã gỡ được cái điểm nút cuối cùng trong mớ bòng bong ấy thì mọi điều rắc rối trái ngược đều được giải đáp thích đáng, trọn lý vẹn tình. Có tách bạch được tận gốc cái sai mới bảo vệ được các giá trị chân chính. Còn các lời giải nửa chừng thì tạm thời có thể dễ dung hòa nhưng rồi sẽ lại tiếp tục bế tắc.

Chỉ cần chúng ta thực sự phục thiện. Nhưng chúng ta sẽ thực sự là những người bế tắc nếu chúng ta cố thủ. Một bên là lý thuyết tốt đẹp, một bên là thực tế không chấp nhận được. Chúng ta bị nhốt ở giữa, lúng túng đối phó, mà bức tường hai bên cứ khép dần lại dưới sức ép của nhu cầu đổi mới.

Xuất phát từ lương tâm trong sáng, nhiều người bảo thủ trước đây nay đã dũng cảm tự phản bác mình để thành một ‘ chiến sĩ ‘ trong mặt trận ‘ Đổi mới ‘ . Nhưng nhiều người cố thủ thì đối phó với thực tiễn bằng cách CHIẾM HỮU CHỨC QUYỀN cho chắc, miệng thì NÓI DỐI, tìm mọi cách để NGỤY BIỆN, NGỤY TRANG.
Chiếm hữu quyền lực là biến tướng của chế độ chiếm hữu, nó khôn ngoan và triệt để hơn nhiều so với chiếm hữu trực tiếp tư liệu sản xuất.

Còn muốn dung hòa giữa hai thứ không thể dung hòa là là lý tưởng cứ tốt đẹp và thực tế cứ xấu thì có cách gì khác mà không phải nói dối, ngụy trang ? Ngụy trang và chống ngụy trang là cục diện đặc biệt của những cuộc đấu tranh chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa … ngày nay. Những tính cách vốn là ưu điểm như nhân hậu, chín chắn, có quan điểm lịch sử, biết chờ đợi nhau, có thái độ thực tế, biết thích nghi … nhiều khi lại được sử dụng một cách rất bệnh hoạn để che đậy những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cơ hội như : thái độ bạc nhược, quay mặt đi một cách vô trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền, trì hoãn, thậm chí độc ác, lì lợm, cố thủ … Một bộ phận của giới trí thức bị phân hóa đã rời khỏi sự duy lý chân thực mà đứng hẳn sang phía duy lợi cực đoan (như vậy thì về thực chất họ không còn là trí thức) đã góp phần rất đắc lực vào sự nói dối, ngụy biện này. Trong bức tranh chung về sự tha hóa, cái bệnh nói dối cứ như con bạch tuộc ôm ghì lấy toàn xã hội, chẳng để cho ai thoáy ra.

Nhưng không, nhất định chúng ta phải thoát ra !

Tất cả những điều đã trình bày ở trên có thể ‘ sơ đồ hóa ‘ bằng một sơ đồ dưới đây. Xin theo rõi sơ đồ theo thứ tự đánh số, theo chiều những mũi tên; gốc mũi tên chỉ nguyên nhân, đầu mũi tên chỉ kết quả. (xem sơ đồ).

Sau cùng, nhìn bao quát toàn sơ đồ để thấy một điều mấu chốt là dùng phương tiện (ô sồ 2) không thích đáng thì không tới được mục đích (ô số 1).
Ta tưởng tượng như có anh lái xe nọ phải đến một miền rất xa để kiếm lương thực về cho mọi người trong đó có anh ta. Nhưng chúng ta lại trao cho anh ta một phương tiện quá đặc biệt, một chiếc xe mà trên đó có đủ lương thực đến mức anh ta ăn cả đời không hết, thì chỉ cần đi một quãng là anh ta bắt đầu thay đổi ý định (sự thay đổi tất yếu mà chúng ta gọi là thoái hóa biến chất) : cứ ngồi lì trên xe mà tọa hưởng, chứ dại gì xông pha mưa gió đến nơi xa xôi nọ ! Dẫu có đến nơi thì cái phần mà anh sẽ được chia chắc gì đã bằng cái phần mà anh đang có sờ sờ trên chiếc xe này ? Thế là anh lái xe biến luôn cái PHƯƠNG TIỆN chung kia thành MỤC ĐÍCH. Anh ta ‘đến đích’ một mình, đến ‘thiên đường’ rất sớm, còn mọi người thì chẳng ai được ‘xơ múi’ gì cả. Khi chiếc xe chỉ nổ máy, chữa máy giữa đường mà không đi nữa thì người lái xe đâu cần phải biết lái xe ! Cái anh ta cần biết bây giờ là kỹ thuật gây ảo giác và làm tê liệt khả năng phản ứng của mọi người.

Ngày bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì cứu nước mưu hạnh phúc cho dân là mục đích. Chủ nghĩa Mác-Lênin được bác coi là “con đường”, tức là phương tiện giúp dân ta đi đến đích đó. Nhưng rồi dần dần lại phát sinh cái tín ngưỡng “dâng tất cả để tôn thờ Chủ nghĩa” (!). Lạ như vậy đấy, ‘chủ nghĩa ‘ với tư cách là con đường, là phương tiện thì nó là cái để ta dùng chứ sao lại là cái để ta “thờ” ? Động cơ ấy lúc đầu hẳn là do ta thành tâm và ấu trĩ quá đó thôi … Nhưng dù do gì đi nữa thì hậu quả nguy hiểm vẫn là ở chỗ : Khi cái phương tiện đã thành cái mục đích thì tự nhiên cái mục đích (ở đây là dân tộc) phải đổi chỗ để thành cái phương tiện (!). Như trong câu chuyện khôi hài ngày trước : khi đôi giày đã được đánh bóng và kẹp bên nách thì đôi bàn chân phải thay đôi giày mà đương đầu với gai góc. Lúc vấp ngã, chân tóe máu ra, ai cũng tưởng phen này anh ta phải tỉnh ngộ, bỏ giày xuống mà đi vào chân. Nào ngờ đây chính là dịp để anh ta ‘tự hào’ về sự thông minh của mình, rằng nếu anh không ‘kiên định’ thì cú vấp vừa rồi hẳn đã làm sứt mất đôi giày quý. Nghe chuyện khôi hài mà ứa nước mắt ! Nhưng anh ta có cái ‘ lý ‘ của anh ta đấy vì đối với anh ta thì cái để anh hy vọng trở nên sang trọng chính là đôi giày bóng, chứ đâu phải đôi chân ! Cố giữ lấy đôi giày cũng phải !

Đã có một thời, và thời đó còn tiếp đến ngày nay, chúng ta muốn giương ngọn cờ giai cấp làm tấm hộ chiếu quá cảnh , vượt qua mọi biên giới dân tộc để thống nhất toàn thế giới. Nhưng thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng ý muốn ấy chỉ là chủ quan (nên chăng giương ngọn cờ dân tộc để khắc phục dần mâu thuẫn giai cấp !) . Có một quy luật đã được chiêm nghiệm là nếu thống nhất với nhau chủ yếu bằng tiếng gọi của ‘ lợi quyền ‘ thì trước sau gì cũng lại chia ly chính do lợi quyền. Chỉ có một thứ thực sự là của chung của nhân loại, không thể chiếm hữu, không thể độc quyền, một thứ mà ngày nay cứ xuất hiện ở đâu là được quốc tế hóa ngay, đó là trí tuệ, là khoa học, là sự phát hiện những quy luật khách quan. Cái tài sản chung quý báu này luôn được đổi mới, bổ sung. Còn nói về ‘ chủ nghĩa ‘ thì đủ sức ôm cả cái loài người bất diệt có lẽ chỉ có và chỉ cần một chủ nghĩa, cái chủ nghĩa chẳng có gì mới nhưng bất diệt mà ta rất nên ‘ tôn thờ ‘ , là CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO ! Mọi ‘ chủ nghĩa ‘ khác chẳng qua chỉ là những hệ phương pháp ứng xử để ta sử dụng linh hoạt trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thôi !

Có hành động đúng theo quy luật thì mọi việc mới ‘ xuôi ‘ được. Hiện tượng ‘ xã hội lộn ngược ‘ với những nghịch lý đã nói trên chỉ có thể giải thích rằng ngay từ những điểm xuất phát chúng ta đã nghĩ và làm không đúng với những quy luật khách quan nên càng về sau càng chịu sự chóng trả quyết liệt của quy luật. Muốn ” làm chủ” như chúng ta thường nói , trước hết phải ‘ làm chủ ‘ được các quy luật. Muốn vậy, con người trước hết phải có sự học hành đầy đủ để tiếp thu những tri thức đã có của nhân loại, phải được suy nghĩ hoàn toàn tự do, và đặc biệt phải biết lấy thực tiễn để kiểm chứng mọi điều đã nghĩ, kể cả những điều mà một thời những tưởng đã ‘ đóng đanh ‘ vào lịch sử. Chính Mác đã khuyên mọi người ” Hãy hoài nghi tất cả !”. Thật là nhân cách một nhà khoa học lớn ! Chính Mác đã nêu tấm gương về sự tự hoài nghi, tự ‘ xét lại ‘ mình thì đương nhiên Mác không thể chấp nhận danh hiệu Mácxít cho những ai muốn biến Mác thành một thần tượng bất khả xâm phạm, để quy tội “xét lại” cho tất cả những ai không chịu răm rắp nghe theo mình ! Một khi chính Mác đã không chấp nhận để mọi người coi mình là thần tượng thì còn “học trò” nào của Mác được phép chấp nhận điều đó ? Từ khi Mác mất đến nay hơn một thế kỷ, con người lớn lên như vũ bão, khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hẳn bộ mặt loài người, kỹ thuật tin học ngày càng gắn cả loài người thành một chỉnh thể. Nếu chúng ta không nhìn nhận xã hội và lịch sử tinh tường hơn thời kỳ của Mác thì sao xứng đáng là những lớp con cháu của Mác ? Việc nhìn nhận lại một số điểm trong học thuyết của Mác không làm giảm đi sự tôn kính của ta đối với Mác, trái lại ta có thể tự hào đã có Mác là một người khổng lồ nhân từ cho ta được đứng lên vai.

Nhưng “hoài nghi” mới là điều kiện “cần”, chưa phải điều kiện “đủ” ! Hoài nghi có thể dẫn đúng hơn , cũng có thể dẫn đến sai hơn. Nếu lấy cớ ‘ hoài nghi ‘ Mác để “bổ sung”, để “nâng cao”, thậm chí để … “cứu học thuyết Mác khỏi rơi vào sự tầm thường” (Lênin) , mà đưa thêm vào những quan điểm thiếu khoa học, thiếu thực tế, đầy ý chí chủ quan của mình thì lại càng tai hại hơn.

Vấn đề đặt ra quá lớn, tầm suy nghĩ của một người lại quá nhỏ, khuôn khổ một bài viết lại càng nhỏ hơn, thiếu sót là điều không tránh khỏi. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ sẽ không phải là vô ích nếu chúng ta chân thành, nếu chúng ta nói thật. Nhiều người nói thật sẽ dần đến sự thật. Điều quan trọng là tìm được cái gốc của những sai lầm. Tuy từ đó đến chỗ xác định được cách đi đúng đắn cũng không dễ dàng ( và việc này không phải là nội dung đề cập của bài viết này), nhưng khi cái gốc của sai lầm đã được phơi bày thì cái hướng đúng cũng tự nhiên đã ló ra rồi.

Alexandr Bovin, nhà phân tích chính trị của tờ Izvestia (Liên xô), sau khi nói rõ quan điểm “kiên quyết chối bỏ loại xã hội chủ nghĩa quan liêu, thiếu thốn triền miên, xuống cấp những giá trị đạo đức, thay tự do bằng sự trấn áp dốt nát …” đã nêu ý kiến về cách sửa chữa là : ” Tất cả các đoạn trên con dấu toán học cần phải đổi ngược lại !”. (Tuần tin THANH NIÊN 8-8-1988).

Và nếu như trên trang giấy đã đổi ngược các dấu toán học thì trtên đường đi lẽ nào không phải quay ngược các tấm biển chỉ đường ?

Nhân loại, như lịch sử đã từng chứng minh, rốt cuộc vẫn dắt tay nhau, đi chung trên một con đường, con đường tiến hóa, thênh thang,dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ !

Ngày 2 tháng 9 năm1988
Tú Xuân HÀ SĨ PHU
Địa chỉ : PTS Nguyễn Xuân Tụ
4E Bùi thị Xuân, Đà lạt.

Nơi gửi :
– Bạn bè, những người hiểu biết, quan tâm và có trách nhiệm để xin ý kiến trao đổi
– Báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Tuổi trẻ

Lời chú thích:

” DẮT TAY NHAU ” TRONG MỘT CUỘC TRANH LUẬN KỲ LẠ
Sau khi báo Nhân dân (ngày 25&26/7/1990), báo Quân đội nhân dân (ngày 9 & 10/7/1990) và báo Tuổi trẻ (ngày 30/6 & 5/7/1990) đăng bài của các tác giả Thuận Thành và Lưu văn Kiền phê phán bài ” Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ ” (một bài chưa được đăng ở đâu cả), nhiều dồng chí cán bộ và sĩ quan quân đội biết, đã yêu cầu tôi cho mượn bài viết ấy để tham khảo, đối chiếu. Vì chưa có báo nào đăng nên tôi đành sao bài này ra một số bản để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và đối thoại (như tác giả Thuận Thành đã đề xuất) của một số bạn bè đồng thời là độc giả của các báo nói trên. Nếu tính đến giữa năm 1991 thì tổng số các bài và các tài liệu phê phán bài ” Dắt tay nhau…” đã vượt quá con số ba mươi !.

Có lẽ chưa có cuộc tranh luận nào kỳ lạ như cuộc ‘ tranh luận ‘ quanh bài ” Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ ” của tôi (mặc dù trong đó nghĩ mười mới viết được một ). Suốt nột năm rưỡi trời các giáo sư triết học, các nhà chính trị, tuyên huấn … của Viện Triết, trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, ban Văn hóa tư tưởng trung ương, báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân … đã viết liền mấy chục bài và sách, tập trung phê phán một bài tiểu luận mà bài này chỉ được chuyền tay chứ không được phép in ở đâu cả. Mấy chục võ sĩ ra sân khấu, đấu rất sôi nổi với một ‘ địch thủ ‘ chỉ được phép ở bên trong hậu trường. Trong cuốn “Nêu cao tính chiến đấu, chống mọi hoạt động phá hoại về tư tưởng ” , ban Văn hóa tư tưởng trung ương đã dành hầu hết các trang để chỉ trích những nội dung được trích một cách rời rạc từ bài “Dắt tay nhau …”. Thậm chí trong cuốn “Giới thiệu Dự thảo Cương lĩnh của Đại hội VII “, ủy viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng cũng đề cập tới bài đó như một ví dụ cụ thể duy nhất làm đối trọng ! Có tác giả đã gọi tôi là ” kẻ phát ngôn trong bóng tối” , ” cao ngạo hơn cả Duhring”, có tác giả dọa sẽ có biện pháp đối xử với tôi một cách “đúng mực” , “theo như yêu cầu đòi hỏi của quy luật đấu tranh giai cấp” (!). Và thực tế thì bài “Dắt tay nhau …” đã không phải không gây phiền phức cho tôi và nhà văn Dương Thu Hương trong những ngày được ‘ tiếp kiến ‘ Bộ Nội vụ !

Đấy là mặt không vui.Nhưng câu chuyện lại có mặt vui của nó. Bài ấy tôi viết hai năm trước khi có những sự cố ở Đông Âu và Liên xô, thực tiễn thế giới sau đó đã chứng thực cho dự đoán của tôi, các “tấm biển chỉ đường” lớn nhỏ đã được quay ngược lại hết. Việc Đại hội VII lấy “Trí tuệ” làm khẩu hiệu hàng đầu (mặc dù ngay trước đó nhiều nhà lý luận vẫn còn khẳng định rằng chủ nghĩa Mác Lêchính là Trí tuệ tối cao của nhân loại rồi, nói Trí tuệ nữa là thừa !) và không nói đến “Chuyên chính Vô sản” nữa thì điều ấy thực sự đã phù hợp với nội dung chính trong bài viết của tôi. Tôi lấy làm vui lắm, và tin rằng những nội dung khác của bài viết cũng sẽ chuyển rất nhanh từ trạng thái gây dị ứng, phải chống đến cùng, sang trạng thái mặc nhiên tự tại – “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” !

Là người làm công tác khoa học, dốt về chính trị, tôi chỉ nói những điều về nhận thức khoa học, những vấn đề có tính nguyên lý. Trong khoa học tự nhiên, Mác ‘ duy vật ‘ và ‘ biện chứng ‘ bao nhiêu thì khi vận dụng vào xã hội Mác lại ‘ duy tâm ‘ và ‘ siêu hình ‘ bấy nhiêu. Ai có thể phủ định chủ nghĩa Mác nếu không phải là phần này của tư tưởng Mác đã tự xung đột với phần kia của tư tưởng Mác ! Nhà duy vật biện chứng trứ danh trong khoa học ấy lại đồng thời là đại biểu cuối cùng và đặc sắc nhất của trào lưu ” xã hội chủ nghĩa không tưởng” mà ông đã kịch liệt phê phán và kế thừa.

Nhân loại đã phải trả giá cho sự ‘ không tưởng ‘ của mình và hôm nay đã vượt được qua nó , đó là một điều vĩ đại. Nhưng, vượt lên trên những máu và nước mắt, cuối cùng thì -nói theo cách hóm hỉnh của Mác- nhân loại vẫn muốn “từ giã quá khứ của mình một cách vui vẻ”. Chỉ có điều là trong màn hài kịch lớn này, lịch sử sẽ chọn ai làm tên lính hề cuối cùng rút lui khỏi sân khấu ? ..

Tháng 2 năm 1993
Hà Sĩ Phu

Mỹ tăng tốc, Trung Quốc lo âu – NLĐ

31 Th8

Mỹ tăng tốc, Trung Quốc lo âu

Mỹ tự ví mình là chiếc neo cho sự ổn định tại châu Á – Thái Bình Dương nhưng Trung Quốc không nghĩ thế


Trung Quốc cáo buộc Mỹ gia tăng tập trận tại châu Á để mưu đồ bá chủ. Trong ảnh: Một cuộc tập trận Mỹ – Hàn năm 2010. Ảnh: EPA/US NAVY
 
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton bắt đầu chuyến công du châu Á – Thái Bình Dương vào ngày 30-8. Đây là lần thứ ba kể từ tháng 5-2012, bà đến thăm châu Á trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng gây hấn với láng giềng.

Chuyến đi nhiều mục đích

Được chú ý nhất chuyến công du chính là điểm dừng chân tại Trung Quốc vào ngày 4-9. Dự kiến bà Clinton sẽ gặp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và các quan chức cấp cao để bàn về nhiều vấn đề khác nhau, dĩ nhiên không thể thiếu các điểm nóng tranh chấp trên biển.

Trong chuyến thăm châu Á lần trước vào tháng 7 của bà Clinton, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45 đã không thể đưa ra tuyên bố chung về tranh chấp trên biển Đông. “Chắc chắn bà Clinton sẽ tìm hiểu hậu quả của sự cố trên” – một quan chức cấp cao của Mỹ tiết lộ và cho biết bà sẽ bàn bạc về Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) cùng Indonesia và Brunei.

Ông Ernie Bower, Giám đốc chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược quốc tế (CSIS), nhận định chuyến công du của bà Clinton nằm trong nỗ lực “thể chế hóa” sự hiện diện của Mỹ tại châu Á, đặc biệt là khu vực Thái Bình Dương. “Một trong những mục tiêu chính của chuyến đi là kiềm chế Trung Quốc nhưng tôi cho rằng đó không phải là tất cả. Còn rất nhiều lợi ích tiềm tàng mà Mỹ muốn củng cố thông qua quan hệ hợp tác quân sự và kinh tế tại châu Á” – ông Bower nói.

Quan hệ “cơm không lành, canh không ngọt” của Nhật Bản và Hàn Quốc có thể sẽ được Ngoại trưởng Mỹ xoa dịu ở chặng cuối hành trình tại Hội nghị Thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) ở thành phố Vladivostok (Nga) ngày 8 và 9-9.

Trung Quốc răn đe trước

Báo giới Trung Quốc tỏ ra không mấy thân thiện trước chuyến công du của Ngoại trưởng Mỹ. Bài bình luận do Tân Hoa Xã đăng tải ngày 29-8 cho rằng chuyến đi của bà Clinton nhằm “kiềm chế” Bắc Kinh và cáo buộc Washington gây rối trong khu vực. “Một mục tiêu trong chuyến công du của bà Clinton là kiềm chế tầm ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc dù chính Mỹ đang cố bảo vệ địa vị thống trị cũng như quyền bá chủ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương” – bài báo nhấn mạnh.

Bài viết còn nhận định Mỹ “ghen tị trước xu hướng Trung Quốc thắt chặt hợp tác kinh tế với các nước châu Á – Thái Bình Dương” nên tìm cách chia rẽ. Từ đó, Tân Hoa Xã đúc kết Mỹ đang âm mưu hưởng lợi từ các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước châu Á và khiến các nước khác xa lánh Trung Quốc, qua đó khôi phục quyền bá chủ trong khu vực. “Mỹ không ngừng tăng cường quan hệ quân sự với các nước trong khu vực thông qua số lượng lớn các cuộc tập trận 2 năm gần đây. Cách tiếp cận của Washington không có lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp cũng như cho sự ổn định trong khu vực” – bài bình luận cáo buộc. Thậm chí, Tân Hoa Xã còn “khuyên” Mỹ nên chấp nhận sức mạnh của họ đang mai một và khẳng định Washington “không khôn ngoan” khi coi Bắc Kinh là đối thủ cũng như tìm cách chế ngự nước này.

Tuy nhiên, ông Ralph Cossa, chuyên gia phân tích an ninh của Diễn đàn Thái Bình Dương tại Hawaii, cho rằng Mỹ “để mắt” nhiều hơn không có nghĩa là muốn khống chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. “Trung Quốc nghĩ chúng tôi đang quấy rối nhưng chúng tôi chỉ thực hiện trách nhiệm của một cường quốc đối với đồng minh, tự do hàng hải và ổn định khu vực. Không lẽ Mỹ lại kìm hãm Trung Quốc bằng cách đầu tư hàng tỉ USD để giúp nước này trở thành nước công nghiệp hóa?” – ông Cossa phân tích trên Voice of America.

Mỹ Nhung

‘Mỹ nên từ bỏ mộng bá chủ châu Á’ – BBC

31 Th8

‘Mỹ nên từ bỏ mộng bá chủ châu Á’

Hillary Clinton trong chuyến công du châu Phi mới đây

Bà Clinton quay trở lại châu Á lần thứ ba trong vòng 4 tháng

Truyền thông chính thức của Trung Quốc vừa lên tiếng răn đe Mỹ ngay trước thềm chuyến Á du của ngoại trưởng nước này là Hillary Clinton, trong đó có hai ngày dừng chân ở Bắc Kinh, vào đầu tháng Chín.

Bà Clinton sẽ lên đường vào ngày thứ Năm 30/8 với trạm dừng đầu tiên là đảo Cook, một đảo nhỏ ở giữa Thái Bình Dương chỉ với 11.000 dân để tham dự vào diễn đàn các quốc đảo Thái Bình Dương.

 

Đây là phái đoàn cấp cao nhất của Mỹ từng đến tham dự diễn đàn đã có lịch sử hơn 40 năm này.

Trong lần Á du thứ ba kể từ tháng Năm, Clinton được dự đoán sẽ cảnh báo Trung Quốc về việc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp biển đảo, hãng tin Pháp AFP nhận định.

Trước đó, hôm thứ Ba ngày 28/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland đã phát biểu rằng Mỹ không muốn thấy các tranh chấp trên Biển Đông cũng như ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới được giải quyết bằng cách ức hiếp hay bằng sức mạnh.

“Chúng tôi muốn thấy giải quyết các bất đồng này tại bàn đàm phán,” bà Nuland nói với các phóng viên.

‘Mỹ đã suy yếu’

Trong một bài xã luận hôm thứ Tư ngày 29/8, hãng tin Tân Hoa Xã nhận định chuyến đi của bà Clinton là nhằm để ‘kiềm chế’ Trung Quốc và các buộc Washington ‘gây sự’ trong khu vực.

“Thực lòng mà nói, sức mạnh của Mỹ đang suy giảm và họ không có đủ sức mạnh kinh tế và phương tiện để làm bá chủ ở châu Á-Thái Bình Dương.”

Tân Hoa Xã

Tân Hoa Xã cũng bày tỏ quan ngại trước việc Hoa Kỳ chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

“Thực lòng mà nói, sức mạnh của Mỹ đang suy giảm và họ không có đủ sức mạnh kinh tế và phương tiện để làm bá chủ ở châu Á-Thái Bình Dương,” bài xã luận viết.

Tân Hoa Xã đưa ra dẫn chứng là Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản. Số liệu năm 2010 cho thấy thị trường Trung Quốc hiện chiếm đến 20% lượng hàng xuất khẩu của Nhật Bản, trong khi thị trường Mỹ giảm xuống còn 15%.

Mặt khác, Trung Quốc cũng đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Hiệp hội các quốc gia đông nam Á (Asean), hãng tin này cho biết.

Một lý do khác mà Tân Hoa Xã cho là Mỹ không nên làm bá chủ ở khu vực là ‘sẽ là thiếu không ngoan nếu Washington xem Trung Quốc là đối thủ để tìm cách khống chế’.

“Hoa Kỳ và Trung Quốc là các nền kinh tế số một và số hai của thế giới và hai nước này phải dựa vào nhau rất nhiều,” Tân Hoa Xã nhận xét.

Panetta và người đồng cấp Việt Nam Phùng Quang ThanhTrung Quốc bất bình vì Mỹ ‘tìm cách chia rẽ’ họ với các nước trong khu vực

“Quan hệ giữa hai nước không hề là mối quan hệ được ăn cả, ngã về không. Hai nước không nên xem nhau là mối đe dọa bởi vì nếu đấu nhau thì cả hai bên đều bị tổn thương,” bài xã luận viết.

“Hoa Kỳ cần phải từ bỏ tham vọng phi thực tế là làm bá chủ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng như thế giới.”

Hoa Kỳ trục lợi?

Tân Hoa Xã đã đưa ra một số lập luận chứng tỏ Washington đang tìm cách kiềm chế Bắc Kinh trong khu vực.

Một trong các lập luận đó là sự can thiệp của Mỹ trong vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các nước khác trong khu vực ‘đã làm tình hình xấu đi’.

“Hoa Kỳ tận dụng tối đa các tranh chấp lãnh thổ và biển đảo trong khu vực để trục lợi cho mình,” bài xã luận viết.

“Chẳng hạn như trong trường hợp Điếu Ngư Đảo, Mỹ từ chối làm rõ vấn đề. Thay vào đó, họ lại tuyên bố áp dụng hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật đối với quần đảo này.”

Tân Hoa Xã cũng bày tỏ sự bất bình trước việc Mỹ mời lực lượng phòng vệ Nhật cùng tham gia một cuộc tập trận kéo dài 37 ngày trên Thái Bình Dương giữa lúc căng thẳng gia tăng giữa Bắc Kinh và Tokyo về tranh chấp chủ quyền trên Biển Hoa Đông.

“Hoa Kỳ tận dụng tối đa các tranh chấp lãnh thổ và biển đảo trong khu vực để trục lợi cho mình.”

Tân Hoa Xã

Về tranh chấp trên Biển Đông, hãng tin nhà nước Trung Quốc lên án Mỹ cố tình làm cho các quốc gia trong vùng biển này xa lánh Trung Quốc.

Bằng chứng mà Tân Hoa Xã đưa ra là kể từ năm 2002 khi Trung Quốc và các quốc gia có tranh chấp ký bên Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) thì mọi việc đã vào guồng để giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hữu nghị song phương.

“Đột nhiên người Mỹ lại nói ‘có lợi ích’ trong vấn đề này. Họ đã nhiều lần phá rối để làm phức tạp thêm vấn đề,” bài xã luận chỉ trích.

“Rõ ràng, cách tiếp cận của Washington không giúp ích gì cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp cũng như hòa bình và ổn định trong khu vực.”

“Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng sự can thiệp từ bên ngoài để giải quyết các tranh chấp chủ quyền rốt cuộc sẽ chỉ dẫn đến thảm họa,” Tân Hoa Xã nhận định.

‘Tìm cách chia rẽ’

Một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa đang có tranh chấpBà Clinton được dự đoán sẽ cảnh báo Trung Quốc về việc sử dụng vũ lực trên Biển Đông

Ngoài ra, theo Tân Hoa Xã thì Mỹ cũng ‘sử dụng lá bài kinh tế’ để kiềm chế Trung Quốc.

“Trong những năm gần đây, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã thúc đẩy hợp tác kinh tế. Sự hợp tác hoàn toàn do thị trường chi phối trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.”

“Tuy nhiên, nước Mỹ lại cảm thấy ghen tức và tìm đến các phương tiện ngoại giao và kinh tế để chia rã Trung Quốc với các nước này,” Tân Hoa Xã lên án và đưa dẫn chứng là việc Washington đang rất nỗ lực để thúc đẩy Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và lên án đây là nỗ lực ‘tìm kiếm vị thế là nước cầm trịch sự phát triển kinh tế của khu vực’.

“Tóm lại, Washington có ý đồ trục lợi bằng cách khuấy động cãi vã giữa các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương để giành lại vai trò bá chủ trong khu vực.”

“Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng sự can thiệp từ bên ngoài để giải quyết các tranh chấp chủ quyền rốt cuộc sẽ chỉ dẫn đến thảm họa.”

Tân Hoa Xã

“Washington đã viện đến các phương tiện ngoại giao, kinh tế và chiến lược mà Ngoại trưởng Clinton gọi là ‘quyền lực thông minh’ để gây xáo trộn trong khu vực,” Tân Hoa Xã phân tích.

“Đó là cốt lõi của cái gọi là ‘quyền lực thông minh’ (của Mỹ),” bài xã luận kết luận.

“Thật sự là mục tiêu của chuyến Á du của Clinton là kiềm chế ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc, và cốt lõi trong chiến lược của Mỹ là duy trì sự thống trị và thế bá chủ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.”

Trong bối cảnh đó, Tân Hoa Xã nhìn nhận chuyến đi của bà Clinton đến đảo Cook là cũng nhằm để hạn chế ảnh hưởng đang lên của Bắc Kinh đối với các quốc đảo nhỏ giữa Thái Bình Dương.

 

Bắc Kinh sứt mẻ uy tín do áp lực chủ nghĩa dân tộc trong nước – RFI

31 Th8

Bắc Kinh sứt mẻ uy tín do áp lực chủ nghĩa dân tộc trong nước

Cựu trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á, Christopher R. Hill (DR)

Cựu trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á, Christopher R. Hill (DR)
 

Trong bài viết mang tựa đề « Sự chia rẽ trong nội bộ Trung Quốc » đăng trên trang diễn đàn của nhật báo Le Figaro hôm nay, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách Đông Á, ông Christopher R.Hill nhận xét, hình ảnh của Trung Quốc trên trường quốc tế đã bị tổn thương vì chính sách đối ngoại thiếu nhất quán.

 

Tác giả viết, trong những năm gần đây, sự suy tàn của Hoa Kỳ đã được bàn đến rất nhiều, mà hệ quả là Trung Quốc có thể giành được ngôi vị cường quốc số một thế giới. Nhưng cho dù Hoa Kỳ phải đối mặt với những vấn đề cần khẩn trương giải quyết, nếu Trung Quốc muốn mở rộng tầm vóc quốc tế, chưa nói đến việc qua mặt Hoa Kỳ, thì trước hết cần chỉnh đốn trong nội bộ. 

Gần đây Trung Quốc ngày càng dấn sâu vào những cuộc xung đột âm ỉ như hồi thế kỷ 19, với nhiều nước láng giềng Đông Nam Á, qua những yêu sách chủ quyền trên Biển Đông. Yêu sách « đường lưỡi bò 9 đoạn » này, chủ yếu nhằm chuyển toàn bộ Biển Đông thành vùng biển riêng của Trung Quốc, là thừa hưởng từ thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. 

Vì sao lại dựa vào ông thống chế này để làm cơ sở cho yêu sách ? Trung Quốc khẳng định Biển Đông thuộc về Trung Hoa từ nhiều ngàn năm trước, nhưng nguồn gốc các tranh chấp lãnh hải thì chỉ mới đây, liên quan đến việc quân phiệt Nhật chiếm đóng Đài Loan đến năm 1945. Thế là Trung Quốc mà nền văn hóa và những thành tựu được thế giới ngưỡng mộ, nay lại lao vào cuộc đấu võ mồm – có thêm vài chiến hạm hỗ trợ – với hầu như toàn bộ các nước láng giềng xung quanh, về một vấn đề lẽ ra cần phải là một tiến trình thương lượng quốc tế nghiêm chỉnh. 

Theo tác giả bài viết, thì thái độ vụng về của Bắc Kinh tại Biển Đông chủ yếu là do bộ phận dân tộc cực đoan trong nước đã lên án các nhà lãnh đạo là « mềm yếu », đòi họ phải cứng rắn hơn. Chẳng hạn có thể thấy rõ sự trỗi dậy của khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa trong số 500 triệu người Trung Quốc sử dụng internet, với những châm biếm về « sự nhu nhược » của chính quyền trong việc bảo việc lợi ích đất nước. 

Chính quyền Trung Quốc vô cùng nhạy cảm trước những chỉ trích này. Nếu một blogger đả kích chính phủ về việc đàn áp phong trào Pháp Luân Công, hay ủng hộ đối lập Tây Tạng, thì công an sẽ can thiệp ngay. Nhưng nếu giới blogger đưa ra lời kêu gọi sô-vanh nước lớn cho việc chinh phục các nguồn cung nguyên vật liệu mới, chính phủ hoan nghênh và tìm cách áp dụng. 

Áp lực từ bên trong cũng đã đặt Trung Quốc vào tình thế khó khăn, trong những trường hợp khác. Nhiều quan sát viên quốc tế có thể bỏ qua cho thái độ của Trung Quốc tại Biển Đông, vì nhiều nước khác lớn cũng như nhỏ cũng có những tranh chấp trên biển với các láng giềng. Nhưng các nhân tố cực đoan Trung Quốc, từ cư dân mạng cho đến các định chế chính thức, đã góp phần làm cho tổng thể các hoạt động quốc tế của Bắc Kinh bị thiên hạ chê cười, từ các nước lân bang nhỏ bé cho đến các cường quốc trên thế giới. 

Một ví dụ điển hình là sự ủng hộ không mệt mỏi của Trung Quốc đối với Bắc Triều Tiên – nước muốn sở hữu vũ khí nguyên tử. Không có bất kỳ quốc gia có trách nhiệm nào trên thế giới ngày nay có thể chấp nhận được thái độ của Bình Nhưỡng. Nhưng Bắc Kinh quan tâm quá nhiều đến chính sách đối nội, đến nỗi không thấy được cái giá phải trả cho việc không hề phản ứng trước làn sóng lên án sau mỗi hành động khiêu khích của Bắc Triều Tiên. Sự thản nhiên của Bắc Kinh trước vụ Bắc Triều Tiên tấn công quân sự vào Hàn Quốc năm 2010 chẳng hạn, đã khiến nước láng giềng này trở nên lạnh nhạt trong quan hệ song phương. 

Chính sách không nhất quán của Trung Quốc bắt nguồn từ sự bất lực trong việc xác định đường hướng nội trị : nhiều người Trung Quốc vẫn xem Bắc Triều Tiên là nước anh em đồng minh. 

Syria là sai lầm quốc tế gần đây nhất của Trung Quốc. Không ai chờ đợi Bắc Kinh có cùng quan điểm với châu Âu hoặc Hoa Kỳ trong hồ sơ này. Nhưng sự chọn lựa mặc nhiên đứng về phía đối địch – ngay cả khi điều này bất lợi cho lợi ích quốc gia – khiến người ta phải đặt câu hỏi, liệu Trung Quốc có đủ nội lực để đóng vai trò hàng đầu trên trường quốc tế ? 

Apple kiện Samsung : Táo nuốt không trôi

Cũng liên quan đến châu Á nhưng trên lãnh vực kinh tế, nhật báo cánh tả Libération có bài viết mang tựa đề « Seoul nuốt không nổi quả táo Apple ». Bản án phạt một tỉ đô la cho Samsung vì đã vi phạm bản quyền của tập đoàn Apple, Mỹ, đã đụng chạm đến lòng tự hào dân tộc của Hàn Quốc. 

Bị tòa án Mỹ buộc phải bồi thường 1,05 tỉ đô la cho đối thủ cạnh tranh vì đã vi phạm 6 bằng sáng chế đã đăng ký cho iPhone và Ipad, ngoài ra còn bị cấm bán 8 loại điện thoại Samsung trên thị trường Hoa Kỳ, tập đoàn Hàn Quốc không bó tay chịu hàng, và đã động viên đội ngũ của mình trong khi chờ đợi bản án phúc thẩm. Samsung tuyên bố sẽ huy động mọi phương tiện cần thiết để các sản phẩm này vẫn được bán tại Mỹ. 

Thông tín viên của tờ báo tại Seoul nhận định, đây là một đòn hết sức nặng nề cho tập đoàn Hàn Quốc. Một nhà phân tích cho biết, ngay cả những người thường hăng hái chỉ trích Samsung nhất như báo chí cánh tả cũng đã bày tỏ sự thất vọng trước bản án, như là lòng kiêu hãnh của chính họ cũng bị tổn thương. Tờ Korea Times nhắc nhở rằng Samsung đã đóng góp nhiều vào nền kinh tế Mỹ, và phiên tòa diễn ra chỉ cách Cupertino, trụ sở mang tính lịch sử của Apple, chỉ có vài cây số. 

Về mặt kinh tế, cho dù cổ phiếu của Samsung hôm thứ Hai đã bị sụt mất 7,5% trên thị trường chứng khoán Seoul, thiệt hại về tài chính của tập đoàn hàng đầu thế giới về điện thoại di động thật ra không nhiều lắm. Và tuy nhiều model bị tòa án Mỹ cấm bán trên thị trường nước này, nhưng các sản phẩm đó đã cũ. Còn với các kiểu điện thoại mới, Samsung từ nay sẽ quan tâm đến vấn đề bằng sáng chế hơn. 

Đáng lo ngại nhất là tiếng xấu « sao chép », và theo nhiều nhà phân tích, thì đây cũng là dịp để Samsung chỉnh đốn lại, trở thành cột trụ trong lãnh vực thay vì chạy đua theo các nhà sản xuất khác. Vốn là nhãn hiệu duy nhất dám cạnh tranh với iPhone, trong khi Nokia và Motorola đã quy hàng, Samsung có thể thành công nếu nỗ lực tối đa, vì tập đoàn này đang quy tụ các kỹ sư giỏi nhất nước. 

Thủ tướng Đức nổi bật trên trường quốc tế

Tại châu Âu, Le Monde chú ý đến bà Angela Merkel qua chuyến công du mới nhất tại Trung Quốc trong hai ngày 29 và 30/8. Theo tờ báo, bà Merkel đang đóng vai trò ngày càng nổi bật trên chính trường quốc tế, đại diện cho tiếng nói đối ngoại của Đức và của châu Âu. 

Đây là lần thứ sáu kể từ khi lên nắm quyền, và lần thứ hai trong năm bà Merkel đến thăm Trung Quốc, chứng tỏ quan hệ mật thiết giữa hai nước. Chuyến đi này trong khuôn khổ các cuộc gặp liên chính phủ Đức – Trung mỗi hai năm một lần, nhưng lần này chính Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đề nghị gặp gỡ sớm hơn, trước khi diễn ra Đại hội Đảng. Và địa điểm gặp không chỉ ở Bắc Kinh mà còn tại Thiên Tân, sinh quán của ông Ôn Gia Bảo. 

Tháp tùng bà Merkel có đến 9 bộ trưởng và khoảng hai chục doanh nhân, còn phía Trung Quốc thì đến 13 thành viên chính phủ đón tiếp, trong đó có Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và những nhân vật sẽ kế vị là Lý Khắc Cường, Tập Cận Bình, chứng tỏ sự quan trọng của chuyến công du. Theo phía Đức, Trung Quốc không tổ chức các cuộc gặp liên chính phủ tương tự với bất cứ quốc gia nào khác. Thông tín viên Le Monde tại Berlin nhận xét, kỹ nghệ Đức chuyên về máy công cụ và xe hơi hạng sang, bổ sung được cho một Trung Quốc muốn trưng ra sự giàu có của mình, và sản xuất được hàng cao cấp hơn. 

Bên cạnh đó, Đức và Trung Quốc đều xem nhau là đối tác chính trị chủ yếu. Việc đối thoại với Berlin giúp Bắc Kinh tránh đối mặt với Washington, còn Đức lấp đầy sự vắng mặt ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc bằng một chính sách đối ngoại năng động, chủ yếu dựa vào sức mạnh kinh tế của mình. 

Với trọng lượng của nền kinh tế Đức và sự yếu kém trong đối ngoại của Liên hiệp châu Âu, trong những chuyến công du, bà Angela Merkel thường lên tiếng nhân danh châu Âu. Còn đối với Nga, nếu Matxcơva vẫn là đối tác chiến lược của Berlin, thì quan hệ giữa bà Merkel với ông Putin vẫn căng thẳng. Bà cũng sẽ đến thăm Matxcơva vào tháng 11 tới, nhưng không lưu lại qua đêm, chỉ giữ quan hệ tối thiểu. Ngược lại với một nước nhỏ như Tunisia, mà Thủ tướng Đức cho là tấm gương cho Mùa xuân Ả Rập, thì bà sẽ công du vào tháng 10 với một đoàn doanh nhân khá hùng hậu, khiến một số nước có thể ganh tị, trong đó có Pháp. 

Syria : Lý do thái độ không khoan nhượng của Al Assad 

Nhìn sang Syria, Libération phân tích về thái độ không khoan nhượng của Tổng thống Bachar Al Assad, khi trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi mới đây, nhà độc tài hứa hẹn sẽ đập tan phe nổi dậy. 

Tờ báo nhận định, một vùng đệm để đón tiếp người tị nạn Syria không thể hình thành nếu không có vùng cấm bay. Mà vùng cấm bay không thể được thành lập nếu không có nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, trong khi Assad có thể trông cậy vào việc Nga và Trung Quốc sử dụng quyền phủ quyết – vốn đã được hai nước này sử dụng ba lần để vô hiệu hóa các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc trừng phạt Syria. 

Libération chú ý đến phát biểu của ông Assad trong cuộc phỏng vấn trên kênh truyền hình Ad Dounia : « Nói về vùng đệm, trước hết không phải là một chọn lựa trên bàn đàm phán, thứ đến là một ý tưởng siêu thực đối với các nhà nước thù địch với Syria ». Tờ báo cho rằng tuyên bố không khoan nhượng này của ông Assad nhắm đến người Nga. Đây có thể coi là câu trả lời cho tuyên bố đầy ngạc nhiên hôm 21/8 của ông Qadri Jamil, Phó thủ tướng Syria, rằng chế độ Damas sẵn sàng thảo luận về sự ra đi của ông Assad. 

Theo tờ báo cánh tả Pháp, thì ông Jamil, thành viên đảng Cộng sản Syria vốn liên minh với đảng Baas từ lâu, có thể là nhân viên tình báo Nga. Như vậy tuyên bố của ông có lẽ đã được Kremlin mớm lời, cho thấy Nga bắt đầu chán ngán Tổng thống Syria. 

Cũng theo Libération, nếu nhà độc tài cảm thấy đang ở thế mạnh, cũng là vì phe đối lập không thể vượt qua được những chia rẽ trong nội bộ cũng như bên ngoài, nên rất khó, nếu không nói là bất khả, hình thành được một chính phủ lâm thời có thể được phương Tây công nhận. Bên cạnh đó là sự can thiệp ngày càng sâu của Iran trong cuộc nội chiến Syria.

Nhà văn trước mặt trái của toàn cầu hóa

31 Th8

Nhà văn trước mặt trái của toàn cầu hóa

Arundhati Roy (Ấn Độ)

VanVN.Net

– Nhà văn và người nghệ sĩ phải đóng vai trò gì trong xã hội? Liệu chúng ta có thể định nghĩa được vai trò này không? Chúng ta có thể xác định nó, mô tả nó một cách rõ ràng không? Và chúng ta có nên làm như thế? Một nhà văn đích thực hoàn toàn không thể thoái thác trách nhiệm đó và phải đặc biệt quan tâm đến những giá trị đạo đức và mỹ học mà xã hội yêu cầu. Đành rằng để có được những tác phẩm lớn, nhà văn phải được tự do hoàn toàn trong suy nghĩ, nhưng nếu cứ lạm dụng sự tự do, anh ta sẽ biến thành một nghệ sĩ tồi. Nghề viết buộc nhà văn phải hài hoà giữa đạo đức, ý tưởng sáng tạo, tính xác thực và tinh thần trách nhiệm.

Làm thế nào để phân định được rạch ròi giới hạn của sáng tạo và tính xác thực? Làm thế nào để biết là ta đã vượt qua giới hạn đó? Theo tôi, đích thân nhà văn phải cảm nhận được điều này chứ không phải nhờ một ai khác. Thực tế là không một độc giả, nhà phê bình, nhà xuất bản, đồng nghiệp, bạn bè hay kẻ thù nào, lại có thể chỉ cho bạn điều đó một cách chính xác. Chính mỗi nhà văn là người phải tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời một cách trung thực. Và khi bạn đã định nghĩa được nó rồi, bạn không được phép bỏ qua. Lúc này, bạn chẳng có sự lựa chọn nào nữa, bạn phải sống với nó, phải sáng tác với sự phức tạp, sự đối lập, và những đòi hỏi của giới hạn đó. Mà điều này thì chẳng dễ tẹo nào. Những lời tán dương và những tràng pháo tay chẳng đảm bào được điều gì, và nó có thể đặt bạn vào trạng thái hoang tưởng. Trong khi đất nước bị đe dọa, liệu bạn có thể thờ ơ với thời cuộc để viết về chuyện con ong cái bướm, quan tâm đến cuộc sống bí mật của loài cá vàng trong bể kính, hay bực mình với tính khí trái khoáy của một bà già? Bạn không thể, một nhà văn đích thực không thể làm như vậy mặc dù đó cũng là những chủ đề của nghệ thuật. Một khi bạn đã hiểu rằng có một nguy cơ, bạn không thể và không được phép thờ ơ. Im lặng cũng là một hành vi chính trị chẳng khác gì chống đối. Bạn không thể là người vô tội đối với những gì xảy ra quanh mình.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, xã hội dân sự và các thể chế công tại những nước lớn mạnh nhất thế giới đang đấu tranh hết mình vì quyền tự do ngôn luận của các nhà văn. Bất cứ ai có ý định khiến người khác phải im lặng hoặc bịt miệng người nghệ sĩ đều bị phản đối kịch liệt. Nhà văn được bảo vệ và được bênh vực, đó là điều thật tuyệt vời. Nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ, người làm phim đang giữ vị trí trung tâm của nền văn minh hiện đại. Theo tôi, nghệ sĩ ngày nay được tự do hơn bao giờ hết. Bởi vì chưa bao giờ có nhiều nhà văn hành nghề đến như thế (thời đại Internet mà), chưa bao giờ chúng ta, những người nghệ sĩ, lại có thể được coi trọng như bây giờ. Chúng ta sống, phát đạt ngay giữa thị trường thế giới. Nhưng tôi lại băn khoăn tự hỏi, không biết điều này sẽ dẫn ta đến đâu? Phải chăng chúng ta cố tình không hiểu một sự trơ ì vô nghĩa? Nghệ thuật của chúng ta có bị sở thích của một nhóm người lắm tiền ảnh hưởng? Liệu sở thích của độc giả-những người nhờ có họ mà chúng ta sống và viết- có ảnh hưởng đến cái nhìn của chúng ta về thế giới không? Điều đó tách chúng ta ra khỏi thực tại đến mức nào?

Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi, cuốn Chúa của những điều bé nhỏ. Hồi đầu, mọi người nói về tôi như tác giả của tác phẩm đầu tay “thành công một cách kì lạ”. Nhưng giờ đây, người ta lại mô tả chính tôi là một người kì lạ. Có vẻ như tôi là cái mà trong thế kỷ XXI, người ta gọi là một “tác giả có định kiến”. Tại sao người ta lại nói tôi như thế, và tại sao điều đó lại khiến tôi cảm thấy đáng khinh bỉ, ngay cả khi nó được nói ra với vẻ tán dương, ngưỡng mộ? Tôi là một “tác giả có định kiến” chỉ bởi vì sau cuốn Chúa của những điều bé nhỏ, tôi đã viết ba cuốn tiểu luận chính trị: Sự kết thúc của trí tưởng tượng, về vụ thử vũ khí hạt nhân ở ấn Độ; Tài sản chung quý giá, chống lại chính sách vật cản; và Sự hoá thân của Rumpelstiltskin, nói về quá trình tư hữu hoá hạ tầng cơ sở chính như điện, nước…

Bây giờ, tôi mới tự hỏi tại sao bản thân tôi, tác giả cuốn Chúa của những điều bé nhỏ,  lại là một nhà văn, và tại sao tôi, tác giả của những cuốn chính luận, lại là một nhà quân sự. Hoặc là cuốn trước, với vai trò là một tiểu thuyết, chỉ mô tả một thế giới viễn tưởng, nhưng đó là một tác phẩm cũng có định kiến như những cuốn luận chính trị của tôi;  hoặc là những cuốn luận chính trị kia thể hiện một thực tế, chứ không phải viễn tưởng, nhưng từ khi nào các nhà văn lại phải từ chối nói về thực tại?

Thời gian gần đây xuất hiện một mối đe doạ mới trên phạm vi toàn cầu, đè nặng cuộc sống của tất cả các quốc gia – dân tộc. Đây không phải là một cuộc chiến tranh, một cuộc tàn sát, một sự thanh lọc sắc tộc. Về bề ngoài, chỉ có giới thương gia là có liên quan. So với một cuộc diệt chủng hay một cuộc chiến tranh, thì mối đe doạ này vẫn chưa đến mức bi thương, gay gắt lắm, nó bình thường thôi nhưng lại có sức huỷ diệt lớn hơn nhiều bom đạn. Nó liên quan đến những vấn đề quen thuộc như thuế má, buôn bán, điện, nước, tưới tiêu… Nhưng nó lại nằm trong một quá trình tước đoạt quyền sở hữu một cách dã man chưa từng có. Chắc chắn các bạn đã đoán ra là tôi muốn nói đến toàn cầu hoá.

Toàn cầu hoá là gì? Nó liên quan đến ai? Nó gây ra những hậu quả gì đối với một đất nước như ấn Độ, nơi bất bình đẳng xã hội đã được thể chế hoá bằng hệ thống đẳng cấp từ nhiều thế kỷ nay, nơi mà hàng trăm triệu người sống ở nông thôn, 80% khai thác nông nghiệp ở dạng trang trại nhỏ, 1/2 dân số không biết đọc, không biết viết? Thương mại hoá và Toàn cầu hoá nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, toàn cầu hoá việc phân phối điện, nước và hàng tiêu dùng phải chăng sẽ giúp các nước đang phát triển thoát khỏi khủng hoảng, đói nghèo, thất học và sự sùng đạo thái quá? Hay là sẽ khiến các nước này bị tan rã và sau đó bị bán cho những ai trả giá cao nhất những cơ sở hạ tầng được xây dựng và phát triển nhờ vào vốn của nhà nước? Toàn cầu hoá các doanh nghiệp liệu có thu hẹp khoảng cách giữa các nền kinh tế phát triển và chậm phát triển, giữa người giầu và người nghèo, giữa người được giáo dục và người không được giáo dục hay chăng? Liệu toàn cầu hoá có quan tâm đến việc giải quyết nạn đói nghèo trên thế giới hay chỉ là một hình thức đô hộ kiểu mới, điều khiển từ xa bằng kỹ thuật số? Đây là những câu hỏi lớn gây nhiều tranh cãi… và các câu trả lời rất khác nhau tùy vào tình hình cụ thể của từng nước, từng vùng, từng thể chế xã hội.

Ấn Độ chưa bao giờ sản xuất ra được nhiều đường, sữa và ngũ cốc như ngày nay. 42 triệu tấn ngũ cốc thừa, tức là 1/4 sản lượng hàng năm đã được chất vào kho của Chính phủ. Người nông dân thất vọng vì bỗng dưng mình sản xuất quá nhiều! Trong những vùng chiến lược quan trọng, Chính phủ đã chi rất nhiều tiền để mua lương thực dự trữ. Tuy nhiên, theo hợp đồng với WTO, Chính phủ ấn Độ đã buộc phải xoá bỏ những hạn chế về nhập khẩu của 1.400 mặt hàng tiêu dùng như sữa, ngũ cốc, đường, vải, chè, cà fê, cao su và dầu chà là, mặc dù trên thị trường nước mình đang tràn ngập chúng. Trong khi ngũ cốc đang nằm trong kho của Chính phủ thì vẫn có hàng trăm triệu người dân ấn Độ sống dưới mức nghèo khổ, thậm chí không có gì ăn, và số người chết đói vẫn ngày một gia tăng.

Điều này hoàn toàn là sự thực. Chính phủ ấn Độ đã phải dỡ bỏ những rào cản nhập khẩu của mình vì đã tham gia vào Toàn cầu hóa, gia nhập WTO. Vậy là thị trường nội địa của chúng ta đã bị sụp đổ hoàn toàn vì hàng nhập khẩu. Trên lý thuyết, ấn Độ có thể tự do xuất khẩu các hàng nông sản, nhưng trên thực tế, lại không thể làm được điều đó, vì chất lượng hàng nông sản không đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và bảo vệ môi trường.

Thông qua WTO, một số nước phát triển như Mỹ, những nước mà nền nông nghiệp nhận được trợ cấp rất lớn của chính phủ và chỉ có 2-3% dân số sống bằng nghề này, đã gây sức ép để các nước như ấn Độ phải ngừng trợ cấp cho nông dân, để thị trường “mang tính cạnh tranh” hơn. Các cơ sở sản xuất nông nghiệp lớn trên hàng nghìn hécta đất lại muốn cạnh tranh với những người nông dân chỉ trồng cấy trên mấy sào ruộng!

Nền kinh tế nông nghiệp của ấn Độ đã bị bóp nghẹt. Các chủ trang trại sản xuất quá nhiều cũng như những chủ sản xuất nhỏ đều bị đe doạ; còn công nhân nông nghiệp thì không có đất, họ lâm vào cảnh thất nghiệp, và như vậy là đói nghèo, nheo nhóc. Họ đổ về thành phố với hy vọng kiếm được việc làm.

Trong trường hợp này, tôi biết mình phải đứng vào hàng ngũ của những người nghệ sĩ dám đứng lên đấu tranh vì chân, thiện, mỹ. Chưa bao giờ tôi thấy cần phải đứng lên đấu tranh như bây giờ. Trong thời đại đôla hoá các quan hệ kinh tế, chính trị cũng như văn hoá – xã hội như hiện nay, giới nghệ sĩ phải là người đi đầu trong phong trào bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc. Nhà văn phải nói về sự thật, về những điều đang xảy ra quanh mình mà xã hội quan tâm. Tuy nhiên, những gì mà nhà văn thể hiện trên trang giấy không nên là một sự thật sống sượng phi nghệ thuật. Họ phải sáng tạo, phải “bịa”, nhưng sao cho người đọc vẫn cảm thấy đó là sự thật. Để làm được điều này, nhà văn phải khó tính, khó tính lắm, với chính bản thân mình. Nhà văn phải rèn cho mình tính chính xác, khả năng phân tích, lập luận và gạn lọc những gì tinh tuý nhất, đại diện nhất của cuộc sống thực tại để đưa lên trang viết. Nhà văn phải đi sâu vào cuộc sống, sống cùng cuộc sống khổ cực của người dân, họ vừa phải là một nhà chính trị, một nhà trí thức, một người công nhân, một người nông dân “nông dân” hơn ai hết. Sở dĩ tôi thấy nhà văn phải hiểu biết và sống nhiều cuộc sống như vậy là vì có như thế họ mới đề cập được chính xác và thuyết phục về những gì toàn xã hội quan tâm.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế và đồng nhất hoá về văn hoá như hiện nay, nhà văn phải dấn mình vào cuộc đấu tranh chống lại những biến động chính trị, kinh tế, xã hội không phải với tư cách một chiến binh chuyên nghiệp, mà là với tư cách một con người biết động lòng trắc ẩn vì chân, thiện, mỹ. Chiến đấu bằng ngòi bút là cách tốt nhất mà một nhà văn có thể làm. Phần lớn người dân còn chưa ý thức về những gì đang diễn ra đâu. Vì vậy chính nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, ca sĩ, và đạo diễn… phải là chiếc cầu nối người dân với các vấn đề xã hội nóng bỏng. Hiện nay, nhà văn đang phải đứng trước một thách thức lớn: sáng tạo ra một phong cách nghệ thuật biểu đạt mới. Một nghệ thuật có khả năng biến cái hữu hình thành cái vô hình, cái cụ thể thành cái trừu tượng, cái nhìn thấy được thành cái không nhìn thấy được. Một nghệ thuật có khả năng xác định được đối thủ vô hình để buộc chúng hiện nguyên hình rồi tiêu diệt tận gốc. Và chúng ta hãy cùng sáng tạo theo phong cách nghệ thuật này.

Ngô Vũ

(Theo Le courrier international

Nhạc điệu câu thơ trữ tình Nga – những vấn đề phương pháp luận – PBVH

31 Th8

Nhạc điệu câu thơ trữ tình Nga – những vấn đề phương pháp luận

                                                     B.M. Eikhenbaum[1]

Khi nghiên cứu câu thơ như vốn dĩ, người ta thường nghĩ tới tổ chức nhịp điệu và thanh điệu của nó. Nhưng cả nhịp điệu lẫn thanh điệu, tự bản thân chúng không quyết định đặc điểm của phong cách và không có khả năng xác lập các nguyên tắc kết cấu. Nhịp điệu và sự “phối” thanh chỉ xác định câu thơ nói chung, xác định bản chất của nó, và do đó không tạo ra cơ sở để nghiên cứu sự khác biệt mang tính đặc thù của phong cách này với phong cách kia. Lẽ cố nhiên, vì thế, muốn phân biệt sự khác nhau giữa các phong cách, ta đành  dựa vào nền tảng từ vựng như là chất liệu thường xuyên thay đổi tương ứng với những nguyên tắc tu từ của trường phái này hay trường phái kia. Nhưng làm như vậy, ta lại bỏ mất câu thơ như vốn dĩ và chỉ có thể tiếp xúc với ngôn ngữ thơ nói chung. Những yếu tố có thể xác định đặc điểm đích thị của câu thơ như vậy hiển nhiên là chưa đủ, tức là chưa đủ những yếu tố vừa gắn chặt với tổ chức nhịp điệu, lại vừa xác định sự khác biệt giữa phong cách này với phong cách khác. Cần tìm ra một cái gì đó vừa gắn với câu nói[2] của thơ, vừa không đưa ta lạc ra ngoài câu thơ[3] như vốn dĩ, tức là một cái gì đó nằm ở chỗ giáp ranh giữa ngữ âm và ngữ nghĩa.

“Cái gì đó” chính là cú pháp. Cú pháp thơ được tổ chức ở chỗ nối kết với nhịp điệu, tức là với dòng thơ, và với khổ thơ[4]. Đó là loại cú pháp mang tính ước lệ, đã biến thái. Từ một hình thức cú pháp thông thường, nó hoá thành một định dạng. Câu thơ (“cтихотворная фраза”.- ND) không phải là hiện tượng phi cú pháp nói chung, mà là hiện tượng cú pháp – nhịp điệu. Hơn nữa, cú pháp trong câu thơ (“стих”.- ND) không phải là hiện tượng ngữ cú, mà là hiện tượng ngữ âm: ngữ điệu khi đã được hiện thực hoá trong cú pháp có vai trò quan trọng không thua kém so với nhịp và phách, nhiều khi còn quan trọng hơn thế. Cú pháp hiện thực hoá ngữ điệu, nó không phân đoạn trong câu thơ (“стих”) theo các đơn vị nghĩa, mà phân đoạn theo đơn vị nhịp điệu, có lúc nó trùng khuýp với các đơn vị nhịp điệu (dòng = câu), có lúc nó lại khắc phục các đơn vị ấy (enjambement[5]). Bởi vậy, chúng ta nhận ra yếu tố nối kết ngôn ngữ với nhịp điệu ở ngay cú pháp, đơn vị được xem là cấu trúc ngữ điệu của câu văn.

 Trong khoa học, người ta đã nhiều lần thử nghiệm chia tác phẩm trữ tình thành một số phong cách. R. M. Meyer đã chỉ ra những đặc điểm khác nhau của các điệp khúc trong tác phẩm trữ tình điệu ca và tác phẩm trữ tình hội hoạ, hình tượng[6]. V.M. Zyrmunski xác định phong cách lãng mạn là phong cách điệu ca, còn phong cách cổ điển là phong cách lôgic – sự vật và chỉ ra các vai trò khác nhau của phép điệp và phép đảo trong mỗi loại ấy[7]. Iu. Verkhovski chia tác phẩm trữ tình thành ba phong cách: tạo hình, điệu cađiệu nói, xuất phát từ bộ ba nguyên hợp cổ sơ: âm nhạc – tạo hình – ngôn từ[8]. Cách chia thứ ba này rất gần với những nguyên tắc mà tôi đã phát hiện.

Nhưng bao giờ cũng vậy, quan điểm nguồn cội tự nó không giải thích các hiện tượng: tính nguyên hợp cổ sơ là hiện tượng lịch sử không thể trở thành cơ sở để xây dựng lí thuyết.Vì thế, điều đáng lưu ý là, khi chuyển từ thi sĩ – nhà tạo hình sang nhà thơ – ca sĩ, Verkhovski từ chối nghiên cứu các yếu tố điệu ca mang tính đặc thù của phong cách và làm như thế, ông đã phá vỡ sự cân đối, mạch lạc trong cách phân chia của mình: “Các tiêu đề “Lí thuyết, hình thức, “kĩ thuật” là hoàn toàn tự nhiên khi xác định đặc điểm của thi pháp tạo hình, nhưng ở những trường hợp khác, chúng lại gây trở ngại và điều cơ bản là không mấy tiêu biểu. Khi nói về thi sĩ – ca sĩ, chúng tôi thiên về tập hợp những bài thơ theo các môtip trữ tình”[9].  Các môtip được hiểu là những chủ đề (sự oai hùng, hào sảng, say sưa, ca ngợi tình yêu tuổi trẻ, tình yêu bi thương ngọt ngào, sùng bái tình bạn cao cả, tình yêu thiên nhiên dào dạt) mà tự chúng hoàn toàn không quyết định sự khác biệt của phong cách điệu ca với các phong cách khác – thế thì sao nó lại không xuất hiện cả ở thi sĩ – nhà tạo hình? Bởi vậy, khái niệm “điệu ca” đã được ẩn dụ hoá, và “các âm thanh của hợp âm” “vang lên” trên cây đàn lyre của thi sĩ hoá ra không phải là một thuật ngữ, mà chỉ là cách nói bóng thông thường.

Nhiệm vụ chính của công trình này là chỉ ra, rằng trong tác phẩm trữ tình, điệu ca, hay sự du dương là một cái gì đó rất đặc thù và hoàn toàn có thật, rằng có thể quan sát và nghiên cứu mà không cần viện tới ẩn dụ. Do đó, tôi sẽ thay đổi cách phân chia trên đại cục, nhưng vẫn cố duy trì sự thống nhất trong nguyên tắc của nó. Từ giác độ hình thái học thuần tuý, trữ tình có đặc điểm riêng ở ngữ điệu lời nói. Một bài thơ trữ tình có thể vừa mô tả, vừa trần thuật, vừa đối thoại, nhưng khác với tự sự và kịch, bao giờ nó cũng có một “ngữ điệu” trữ tình riêng biệt.  Ngữ điệu trữ tình ấy là một cái gì đấy hoàn toàn xác định và cực kì quan trọng ở bình diện ngữ nghĩa. Không phải ngẫu nhiên, các diễn viên đọc diễn cảm chuyên nghiệp, nếu được đào tạo đọc theo ngữ điệu của kịch, họ không thể đọc tác phẩm trữ tình thuần tuý[10].

So với ngữ điệu tự sự hoặc ngữ điệu kể chuyện chuyên nghiệp, đặc trưng của ngữ điệu trữ tình là sự luyến giọng rất đa dạng và sự truyền cảm cực kì du dương, réo rắt. Ngược lại, so với ngữ điệu của kịch và hùng biện, thì đặc trưng của nó lại là độc điệu, đơn thanh. Giữ vững nguyên tắc dựa vào ngữ điệu để phân chia, tôi phân biệt ba dạng sau đây trong tác phẩm trữ tình: điệu ngâm (điệu tu từ), điệu cađiệu nói[11].

Tự bản thân nó, ngữ điệu trữ tình, như một nhân tố ngôn ngữ đặc biệt (lĩnh vực ngữ điệu biểu cảm) thuộc lĩnh vực nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học – dĩ nhiên, tôi sẽ gạt nhiệm vụ này ra ngoài phạm vi nghiên cứu của mình. Việc thi pháp học đang xích lại gần ngôn ngữ học là đặc điểm nổi bật của ngữ văn học hiện đại, là xu hướng vận động đầy triển vọng, nhưng không nên vì thế mà lẫn lộn ranh giới giữa chúng với nhau. Tôi không nghiên cứu ngữ điệu như một hiện tượng ngôn ngữ, mà nghiên cứu nó như một hiện tượng phong cách thơ, và vì thế, tôi không nghiên cứu bản chất ngữ âm, mà nghiên cứu vai trò kết cấu của nó.

Ở từng dạng nói trên, tổ chức ngữ điệu trữ tình có ý nghĩa quan trọng, nhưng mức độ quan trọng thì hết sức khác nhau. Dạng đoản ca cổ điển Nga trong sáng tác của Lomonosov có sơ đồ ngữ điệu cách luật riêng, ví dụ, các câu nghi vấn tu từ bao giờ cũng được đặt ở một số chỗ nhất định, còn các câu cảm thán lại được đặt vào các chỗ khác. Nhưng ở đây, ngữ điệu không được đẩy lên bình diện thứ nhất – nó tựa như nhạc đệm cho phép tắc lôgic và chỉ tô điểm thêm cho sự phân chia đã chỉ ra ở trên. Có thể nhận ra trong trữ tình điệu nói (ví như thơ của Akhmatova), loại trữ tình thường phát triển trên cái nền suy giảm của trữ tình điệu ca và tự đối lập với nó, sự đa dạng và tính năng động của ngữ điệu, không có sự gò bó vào một hệ thống đơn nhất, khuynh hướng xích lại gần giọng điệu đàm thoại thường nhật và, vì thế, “hạ bớt” giá trị nhạc tính của nó. Điều này sẽ nhập vào hệ thống thủ pháp chung vốn có ở loại trữ tình này như là chất văn xuôi nghệ thuật. Cần lưu ý, nền móng tạo nên sự phát triển của trữ tình điệu nói thường là bước quá độ chuyển qua giai đoạn phồn thịnh của văn xuôi.

Dĩ nhiên, vai trò của ngữ điệu như một điệu giọng có ý nghĩa cực kì quan trọng trong trữ tình điệu ca. Ở đây, so với chức năng của các yếu tố kết cấu khác, năng động hơn, ngữ điệu vẫn là một cái gì đó có ý nghĩa lớn hơn rất nhiều. Tôi nghiêng về phía cho rằng, trong trữ tình loại này, ngữ điệu hoạt động như một nhân tố tổ chức kết cấu, vì bao giờ nó cũng chiếm giữ vị trí tối cao trong hệ thống tầng bậc phụ thuộc lẫn nhau của các yếu tố ngữ âm và tu từ khác nhau.  Tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng là kết quả của cuộc đấu tranh phức tạp giữa các yếu tố cấu thành khác nhau, bao giờ cũng là sự thoả hiệp ở một mức độ nào đấy. Các yếu tố ấy không chỉ đơn giản là cùng tồn tại và không chỉ đơn giản là cùng “tương thích” với nhau. Tuỳ thuộc vào đặc điểm chung của phong cách, yếu tố này hay yếu tố kia sẽ  có ý nghĩa của nhân tố chế ngự[12]về mặt tổ chức, nó vượt lên, thống trị các yếu tố khác, bắt các yếu còn lại phải phụ thuộc vào bản thân mình. Trong trữ tình điệu ca, nhân tố chế ngự ấy chính là ngữ điệu, nó được hiện thực hoá trong các đặc điểm này hay đặc điểm kia của cấu trúc cú pháp. Ở đây, chúng ta không chỉ nhận ra sự thay đổi giản đơn của các loại ngữ điệu lời nói, mà bắt gặp cả một hệ thống ngữ điệu hoá mở rộng, so với các chủ đề ngôn từ, nó có vai trò lớn hơn rất nhiều trong việc quyết định kết cấu của bài thơ. Liên quan tới hệ thống ngữ điệu hoá này, cần bàn về chữ “nhạc điệu” – một thuật ngữ thường được sử dụng theo ý nghĩa mở rộng, nhưng cũng vì thế mà thiếu xác định.

Các chữ “nhạc tính”, “nhạc điệu” thường được hiểu là âm vang, âm hưởng, là sự ngân nga nói chung, mà không tính tới việc, liệu có phải nó được tạo ra bởi sự phối nhạc phong phú, bởi tiết tấu đa dạng, hoặc vì một cái gì đó hay không. Kì thật, một hệ thống ngữ điệu phát triển hoàn toàn có thể tạo ra nhạc điệu thực sự cho câu thơ mà không cần phải kết hợp với hiệu quả phối nhạc và nhịp điệu. Ngoài ra, sự đa dạng của phối nhạc lại thường hiện hữu nhiều hơn ở tác phẩm trữ tình loại khác, ở loại trữ tình mà người ta nhận ra rất rõ cách thức cấu âm. Không phải ngẫu nhiên, khi miêu tả bài thơ của Puskhin Người đẹp ơi, khi có anh, xin đừng hát (“Chủ nghĩa tượng trưng”), A. Belyi đã nói rất nhiều về cách phối nhạc, nhưng lại không thấy cần phải nói gì về nhạc điệu. Sự linh hoạt của nhịp điệu cũng sẽ xung đột với nguyên tắc nhạc điệu hoá nhiều hơn là hỗ trợ cho nó. Không phải ngẫu nhiên mà trong lịch sử thể loại trữu tình của chúng ta, các thời kì phát triển của phong cách điệu ca thường trùng với sự phồn thịnh của thơ nhịp ba[13], tức là loại thơ có nhịp điệu không đa dạng như iambe. Puskhin là thi sĩ bậc thầy của thơ iambe 4 chân[14]. Fet là nghệ sĩ bậc thầy của thơ daktylos và anapaitos (xem chú thích 12.- ND). Xin trích một đoạn văn của Aristotel mà Verkhovski đã dẫn: các nghệ thuật ngôn từ “thực hiện việc bắt chước bằng tiết tấu, ngôn từ và sự hoà điệu, lại nữa, có thể bắt chước hoặc là bằng một trong số các phương tiện ấy, hoặc là phối hợp giữa chúng với nhau”. Điều thú vị ở đây là iambe được xem là “trữ tình điệu nói rõ nhất trong số tất cả các loại vận luật”. Dù có sự khác biệt giữa luật thơ cổ đại với luật thơ của chúng ta, nhưng trong tương quan với nhạc điệu, thì sự khác nhau về chất giữa iambe và thơ nhịp ba cũng vẫn giữ nguyên như thế. Iambe OneghinBá tước Nulin lấp lánh vẻ đẹp của những đoản ngữ văn xuôi, của lời hội thoại và lối nói nôm na, có vẻ như từ đó tất yếu sẽ chuyển qua Những câu chuyện của ông Belkin.

Tóm lại, tôi không xem nhạc điệu là sự ngân nga nói chung và mọi thứ ngữ điệu của câu thơ (mà bao giờ cũng vang lên “réo rắt” hơn lời nói nôm na, vì nó được phát triển trên bình diện ngữ điệu biểu cảm). Tôi xem nhạc điệu là một hệ thống ngữ điệu hoá mở rộng với những hiện tượng nổi bật ở phép đối giọng, phép điệp, ở cao trào, hay sự nhịp nhàng… Trong trường hợp này, các ngữ điệu riêng lẻ của lời nói chỉ là chất liệu được sử dụng để tổ chức các chu kì nhạc điệu. Quan sát quy luật của những tổ chức như vậy, ta có thể nói về các thủ pháp nhạc điệu hoá.

Hiểu giai điệu như vậy, tôi đã chuyển khái niệm ấy từ lĩnh vực ngôn ngữ học sang lĩnh vực thi pháp học, và nhờ thế, không rời bỏ các phương pháp của E. Sievers[15] và trường phái của ông. Ngay từ những năm 90, E. Sievers đã tung ra khẩu hiệu ngữ văn học “thính giác” (Ohrenphilologie) thay cho ngữ văn học “thị giác”, hay ngữ văn học “bằng mắt” (Augenphilologie). Khẩu hiệu ấy đã thu được những thành công lớn lao. Hàng loạt nhà nhà ngữ văn học Đức và Mĩ đã ngả theo E. Sievers, như: Saran, Reinhard, Luick, Eggert, Scripture, Jones. Hầu như tất cả những học giả ấy đã dựa hẳn vào E. Sievers và tiếp tục công việc nghiên cứu theo hướng này hay hướng khác do ông khởi xướng.

Quan điểm cơ bản của E. Sievers được ông phát biểu hết sức rõ ràng[16]: “Theo tập quán, tác phẩm thơ tạo ra sự tác động dưới dạng chuyển tải bằng văn viết, nhưng sự chuyển tải ấy chỉ có thể làm công việc của một vật thay thế kém cỏi với ngôn từ sống động. Muốn tác động đầy đủ, tác phẩm thơ bị đóng kín trong hình thức văn tự cần phải được trở về với đời sống qua con đường diễn giải bằng khẩu ngữ, bằng con đường nói to lên (Vortrag)… Bản thân tiết tấu và nhạc điệu cũng tồn tại với câu thơ được đọc to lên (Sprechvers) y như ca hát: chúng làm tăng thêm cho câu thơ một thuộc tính đặc biệt. Chỉ khi nào nắm bắt chính xác vận động tiết tấu và nhạc điệu của nó, khi ấy ta mới có thể xem là câu thơ (Sprechvers)  đã được phân tích đầy đủ… Trong lời nói sinh hoạt hồn nhiên (Alltagsrede), mối liên hệ giữa hình thức và nội dung thường là thế này: yếu tố nội dung giữ vị trí hàng đầu, còn phương diện hình thức chỉ giữ vị trí thứ yếu, cho nên, hình thức tiết tấu – nhạc điệu của cái được phát âm chỉ ở dạng của một thứ bổ vô tình, sung tự nhiên (ungesuchte) vào nội dung mong đợi. Sự việc sẽ khác đi khi lời nói đặt ra cho mình những mục đích tối thượng”. Franz Saran, nhà nghiên cứu thơ Pháp và thơ Đức nổi tiếng, học trò của E. Sievers, đã dựa vào những nguyên tắc trên khi ông viết như thế này trong lời tựa của cuốn sách Deutsche Verslehre (1907) của mình: “Không phải mắt, mà tai mới là công cụ của những ai muốn nghiên cứu hình thức nghệ thuật của bài thơ”.  E. Reinhard xác định sự khác nhau giữa hai khuynh hướng cũ và mới trong khoa học ngữ văn như sau: “Giờ đây, những thủ pháp nghiên cứu hình thức thơ phát triển theo hai khuynh hướng hoàn toàn khác nhau: trường phái cũ xem văn bản in là cơ sở của việc nghiên cứu, còn trường phái mới do E. Sievers khởi xướng lại xem cơ sở ấy là văn bản được đọc lên… Bài thơ in chỉ là kí hiệu để xướng âm (Sprechanweisung), tác phẩm nghệ thuật chỉ sống cho đến lúc và vào lúc nó được tiếp nhận. Mối quan hệ giữa các nốt nhạc và ca hát cũng hoàn toàn như vậy: các nốt nhạc chỉ tạo ra sự chỉ dẫn, dĩ nhiên là chính xác và cụ thể hơn, bởi vì hát đòi hỏi chuẩn mực hoá nghiêm nhặt hơn so với đọc to lên (Sprechvortrag)”[17]. Tuy không hoàn toàn tán thành trường phái Sievers, nhưng J. Tenner cũng lặp lại phép so sánh như vậy: “Thơ cần phải đọc lên, giống như người nhạc công đọc bản tổng phổ: không chỉ bằng mắt, mà còn cả bằng tai”[18]. Cả Е. Scripture cũng tán thành quan điểm ấy: “Câu thơ duy nhất – đích thực là câu thơ phát ra từ cửa miệng thi sĩ và đến với tai công chúng. Văn bản in chỉ là kí hiệu để đọc lên bằng miệng. Rõ ràng, con đường duy nhất để nghiên cứu câu thơ một cách khoa học là nắm bắt lấy nó như nó được đọc lên, rồi sau đó vận dụng các phương pháp đo lường và phân tích nó”[19].

Môn đệ của Sievers bị nguyên tắc ngữ văn học “thính giác” lôi cuốn mạnh mẽ tới mức khiến họ quên cả khả năng tiếp nhận âm vang của câu thơ trong trí tưởng tượng giống như các nhạc công đọc bản tổng phổ nhạc. Sievers rào đón: “Ở lời nói phát lên thành tiếng, nhạc điệu điệu lời nói có thể nghe rõ. Nhưng tự nó cũng có nghĩa, nhạc điệu ấy vẫn được duy trì cả ở câu chỉ tồn tại trong tư duy, chứ không đọc lên”. Cố nhiên, vấn đề không phải là đọc to lên thành tiếng, mà là ở nguyên tắc thính giác, ở sự thừa nhận các yếu tố ngữ âm và, trong trường hợp này, các yếu tố nhạc điệu của câu thơ không phải là bộ phận phụ thuộc vào các yếu tố ngữ nghĩa theo nghĩa hẹp của từ ấy, mà là nền tảng thực tế và đôi khi, thậm chí, nền tảng tổ chức tác phẩm nghệ thuật.

Sievers cũng như đa số môn đệ của ông là những nhà ngôn ngữ học. Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ học hiện đại là thiên về nghiên cứu ngôn ngữ thi ca như là một thứ “phương ngữ” độc đáo, mặt khác, đặc điểm nổi bật của thi pháp học hiện đại lại là xu hướng sử dụng các phương pháp của ngôn ngữ học để tránh lối diễn giải mang tính tâm lí – chủ quan và biến việc phân tích các văn bản thơ thành sự phân tích hình thái – khách quan. Giới ngôn ngữ học có lí khi chỉ trích sự ngây thơ của các nhà lí luận thơ, khi họ khẳng định khoa học về ngôn ngữ thơ “cho đến nay vẫn làm cái đuôi ngoe nguẩy phía sau ngôn ngữ học”[20]. Dĩ nhiên, để có được sự phục hưng như ngày nay, thi pháp học phải chịu ơn ngôn ngữ học nhiều nhất. Trong lịch sử khoa học, việc xích lại gần nhau giữa các bộ môn khác nhau, nhưng có quan hệ họ hàng gần cận với nhau, cũng có ý nghĩa tiến bộ chẳng kém gì so với việc chúng phân nhỏ chia tách thành nhiều cành nhánh. Những quá trình này luôn luôn diễn ra đồng thời như là những qúa trình chế định lẫn nhau. Chẳng hạn, khi tìm cách thoát khỏi sự bế tắc đã tạo ra, lịch sử văn học hiện đại đã tìm cách thoát khỏi sự lệ thuộc vào các môn khoa học mà nó vẫn xem là có mối quan hệ chặt chẽ với mình (xã hội học, tâm lí học) và, trong một phần lịch sử của bản thân, xích lại gần với các phương pháp lịch sử của các nghệ thuật tạo hình, còn ở những nền tảng lí thuyết, nó xích lại gần ngôn ngữ học.

Nhưng việc xích lại gần các bộ môn khoa học kề cận chỉ có thể thu được kết quả hữu hiệu khi nó không bị rơi vào tình trạng lệ thuộc mới. Gia nhập liên minh với ngôn ngữ học, thi pháp học phải giữ vững vị thế độc lập của mình. Với nhà ngôn ngữ học, tác phẩm thi ca là một “hiện tượng ngôn ngữ” cung cấp vật liệu lí thú để nghiên cứu các vấn đề ngữ âm, cú pháp, từ vựng ngữ nghĩa. Những điều ngôn ngữ học quan sát được về ngôn ngữ thi ca sẽ làm giàu cho khoa học về ngôn ngữ nói chung bằng những hiện tượng mới, những hiện tượng rất ít gặp trong lời nói “thực tế” thông thường. Cho nên, ngôn ngữ thơ được giới ngôn ngữ học nghiên cứu ngang hàng với các hiện tượng ngôn ngữ nói chung, chứ không phải trong hoạt động đặc thù của nó và trên cái nền của ngôn ngữ thực hành. Hệ thống phương pháp của ngôn ngữ học dẫu có hiệu quả đến đâu với các nhà lí luận thơ, thì  họ vẫn phải đặt mọi vấn đề theo cách thức hoàn toàn khác. Ở đây bộc lộ rất rõ sự khác biệt giữa các khái niệm của ngôn ngữ và phong cách, của hiện tượng ngôn ngữ và thủ pháp phong cách. Ngôn ngữ học đứng ngang hàng với các khoa học về tự nhiên, thi pháp học lại thuộc hàng ngũ của các các khoa học về tinh thần. Ngôn ngữ thơ được ngôn ngữ học phân loại như một biến thể; với nó, sự khác biệt theo mục đích chỉ có ích trong việc phân loại các hiện tượng ngôn ngữ như những chức năng. Thi pháp học lại bắt đầu từ chỗ tách ngôn ngữ thơ ra khỏi hàng ngũ các hiện tượng ngôn ngữ học nói chung, như một hoạt động nhắm tới một mục đích đặc biệt. Dẫu mục đích ấy có thể chưa được xác định chính xác, nhưng nó đã có đủ mọi dấu hiệu. Bởi vậy, thi pháp học được xây dựng trên nền tảng của nguyên tắc mục đích luận và vì thế, nó xuất phát từ khái niệm thủ pháp; trong khi đó, ngôn ngữ học, cũng như các khoa học tự nhiên, có quan hệ với phạm trù nhân quả và vì thế nó xuất phát từ khái niệm hiện tượng như vốn dĩ[21].

Cần phải làm trái đi như vậy để biện minh cho phương pháp làm việc của tôi và lí giải vì sao tôi khước từ các phương pháp của Sievers và trường phái của ông. Bản thân khái niệm nhạc điệu và lí thuyết nhạc điệu của tôi hoàn toàn khác. Sievers không phân biệt các khái niệm ngữ điệunhạc điệu. Trong quan niệm của ông, câu thơ nào cũng có “nhạc điệu” của nó. Ông hiểu nhạc điệu là sự luân chuyển của các giọng (“ton”.- ND) cao và giọng thấp. Ông quan sát bản thân hệ thống ngữ âm của sự vận động ấy và cố gắng nắm bắt nó thật chính xác từng trường hợp. Từ đây nảy sinh nhu cầu kiểm tra bằng con đường thực nghiệm đại trà, kiểu thực nghiệm mà làm thế nào cũng khó tránh khỏi sự chủ quan. Thực ra, ông cũng có nói bóng gió gần xa về hai loại vận động của nhạc điệu: tự do và liên kết (frei và gebunden): “Ở trường hợp thứa nhất, giọng sau nối tiếp giọng trước mà không bị một thứ luật lệ nào trói buộc ngoài độ cao của giọng phải phù hợp với ý nghĩa và tâm trạng. Ở trường hợp thứ hai, trạng thái của giọng (die Tonlagen) được phân bố một cách đều đặn”. Ở đây, sự khác nhau giữa ngữ điệu lời nói nói chung, tức là ngữ điệu kèm theo sau ý nghĩa một cách máy móc, và tổ chức nhạc điệu tựa như đã được phát hiện. Thật lí thú là trong những lời bình của mình về các bài thơ riêng lẻ, chính Reinhard cũng chỉ ra rằng, có một loạt bài thơ được tô điểm rất rõ bằng nhạc điệu, một loạt bài thơ khác lại vang lên nôm na như lời hội thoại, hoặc ông xác nhận một cách đơn giản: “mehr dynamisch als melodisch”, “nur dynamische, keine melodische Differenzierung”, “keine Melodie”[22] v.v… Nhưng cả Sievers lẫn Reinhard đều không nhận ra tầm quan trọng có tính nguyên tắc của sự khác biệt ấy, vì với họ, hoàn toàn không có sự khác nhau giữa ngữ điệu và nhạc điệu. Bản thân vấn đề nghiên cứu nhạc điệu câu thơ được trường phái Sievers đặc biệt quan tâm vì nó có quan hệ với vấn đề phê bình các văn bản cũ từ góc độ ngữ văn học, chứ không phải vì nó có quan hệ với thi pháp học.

Khi chuyển vấn đề về nhạc điệu câu thơ sang lĩnh vực đặc biệt của thi pháp học, cách đặt vấn đề cần phải thay đổi. Thực chất, chỉ có thể giữ lại nguyên tắc chung của phương pháp “thính giác”. Chúng tôi quan tâm tới việc nghiên cứu các thủ pháp nhạc điệu hoá như một nguyên tắc của kết cấu trữ tình, chứ không quan tâm tới việc nghiên cứu ngữ điệu lời nói ở chất liệu thơ. Chúng tôi xuất phát từ giả thiết cho rằng, trong các bài thơ điệu ca, ngữ điệu là nhân tố cơ bản và nó được sắp xếp thành một hệ thống nhạc điệu toàn vẹn mà người ta có thể quan sát cấu trúc của nó. Chúng tôi muốn nhập thêm một yếu tố nữa vào phạm vi các yếu tố ngữ âm và phong cách vẫn thường được nghiên cứu và chỉ ra rằng, nó có ý nghĩa nghệ thuật mang tầm quan trọng hàng đầu trong tác trữ tình của một điệu nào đó. Vấn đề âm sắc của giọng, tương quan độ cao giữa các nguyên âm, việc xác lập quãng… tất nhiên sẽ được gạt ra ngoài như những vấn đề ngôn ngữ học thuần tuý. Khác với  Sievers, tôi hiểu nhạc điệu phải là một hệ thống ngữ điệu, tức là sự kết hợp của những âm hình ngữ điệu cụ thể được hiện thực hoá trong cú pháp.

Sievers đã làm cho việc xác lập nhạc điệu một cách khách quan trong từng trường hợp riêng lẻ thành một vấn đề phiền phức. Ông tìm đến với thực nghiệm đại trà, chia người đọc thành hai loại: Selbstleser (tức là những người đọc tô điểm cho cách đọc của mình một cách chủ quan) và Autorenleser (tức là những người đọc cố gắng tái hiện ý đồ của tác giả) và tỏ ra có cảm tình với loại người đọc thứ hai hơn. Với mục đích của mình, chúng tôi thấy không cần phải làm những thực nghiệm như vậy. Cấu trúc cú pháp là thứ hoàn toàn khách quan, không lệ thuộc vào sắc thái cá nhân của việc đọc, còn ngữ điệu cú pháp, trong mức độ cần cho chúng ta, là nhu cầu bắt buộc chung. Diễn giải trong âm nhạc cũng mang tính chủ quan, nhưng chỉ đến một giới hạn nhất định[23].

Nhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu các âm hình nhạc điệu – cú pháp. Giả định vẫn là tiền đề cho rằng, trong thơ trữ tình điệu ca, cấu trúc cú pháp và sự phân bố các câu văn (фраза) chịu sự quy định của nguyên tắc nhạc điệu và bị lệ thuộc vào nó. Nhưng, thứ nhất, việc xây dựng lí thuyết đòi hỏi phải đặt ra giả định –  vì chỉ dựa vào các tiền đề, khoa học không thể phát triển; thứ hai, nếu ta xuất phát từ ý niệm về những loại hình khác nhau của trữ tình, giả định ấy sẽ hoàn toàn giống như thật. Tôi đã thấy trước, các nhà ngôn ngữ học sẽ phản đối: “Thế là ông nghiên cứu cú pháp, chứ có phải nhạc điệu đâu!”. Đúng vậy, dữ liệu tôi nghiên cứu là cú pháp, nhưng từ đó, chúng trở thành dữ liệu mang ý nghĩa – nghệ thuật, bởi vì, tôi nghiên cứu đối tượng từ góc độ ý nghĩa nhạc điệu của chúng. Nhìn chung, không thể có những dữ liệu tự nó. Hoặc, chính xác hơn, chúng có quá nhiều để có thể nhận ra sự khác nhau giữa chúng và làm cho nhóm này hay nhóm kia nổi trội hẳn lên. Hãy cho được quyền giả định và đừng lẫn lộn thi pháp với ngôn ngữ học. Nếu giả định rằng, ở một phong cách nào đó của trữ tình, việc sử dụng bình diện nhạc điệu của ngữ điệu lời nói là nhân tố cơ bản của kết cấu, thì điều đó trước hết được biểu hiện ở cú pháp, muốn nghiên cứu cơ sở ấy, chỉ có thể dựa vào các dẫn liệu cú pháp, sử dụng chúng như là bản ghi gần đúng, tựa như là những  chữ khó đọc. Việc chỉ ra rằng, cùng một bài thơ như thế mà người ta có thể đọc lên bằng những phương thức khác nhau chẳng liên quan gì tới những vấn đề được đặt ra ở đây. Chuyện đang được bàn không nói về các thủ pháp biểu diễn, mà nói về các thủ pháp nghiên cứu – trước khi biểu diễn, cần phải biết đọc. Văn bản in không phải là sự thực (“факт”.- ND), mà chỉ là vấn đề.

Còn một nhận xét nữa có liên quan tới các vấn đề phương pháp luận cơ bản. Trong những bài viết đầu tiên của mình, Sievers cho rằng, có thể nghiên cứu nhạc điệu bên ngoài nhịp điệu và vì thế, phần lớn, ông nói về các thuộc tính tiết tấu –nhạc điệu của câu thơ. Nhưng trong những bài viết của ông về sau này, nhịp điệu lại bị đẩy xuống bình diện thứ yếu. Tôi cũng khảo sát tổ chức nhạc điệu của cú pháp trong quan hệ với các dữ liệu phân đoạn nhịp điệu, tức là chủ yếu với mối quan hệ của câu văn (“фраза”) và dòng hoặc khổ thơ. Ngoài ra, nhiều hình thức nhịp điệu (chẳng hạn, khổ thơ có sự luân chuyển của cụm âm tiết 4 chân và 3 chân) có sơ đồ ngữ điệu cố hữu, không lệ thuộc vào cú pháp – kiểu như làn điệu có sẵn. Nhưng sơ đồ trừu tượng này chưa phải là hệ thống nhạc điệu, nó chỉ là cái sườn của bức tranh nhạc điệu nào đó. Bởi vậy, tôi phân biệt vấn đề về mối liên hệ giữa nhạc điệu với các hình thức phân đoạn tiết tấu và vấn đề về mối liên hệ giữa nhạc điệu với các hình thức của thể thơ này hay thể thơ kia. Vấn đề thứ nhất có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với việc nghiên cứu nhạc điệu, bởi vì dòng và khổ là sự phân đoạn đồng thời vừa là của nhịp điệu, vừa của cú pháp, vừa của nhạc điệu – cho nên, chính ở đây có thể quan sát mối quan hệ tương hỗ của chúng. Vấn đề thứ hai, tôi xem là không quan trọng, nên chỉ đôi khi tôi mới chú ý tới nó.

Ngữ điệu của lời nói trong giao tiếp thông thường sẽ thay đổi khi nó trở thành chất liệu của lời thơ, nhất là lời nói có nhịp điệu. Khi phân biệt lời ca (Singstimme) với lời nói (Sprechstimrne), Sievers chỉ ra rằng, nhà thơ bao giờ cũng “ít nhiều bị gò bó bởi các sắc thái tự nhiên mà chất liệu ngôn ngữ cung cấp cho anh ta dưới dạng truyền thống – có sẵn”, nhưng anh ta có thể “làm mềm đi hoặc làm mạnh lên”. Có thể nói về một giọng thơ đặc biệt (Versstimme, nếu có thể gọi thế) mà theo bài luật và âm vang của nó, thì nó khác biệt với cả điệu ca và điệu nói. Sự trượt giọng (Gleittönen) vốn là đặc trưng của ngữ điệu hội thoại được rút ngắn một cách đáng kể, làm xuất hiện điệu ca đơn thanh đặc biệt réo rắt, còn các khoảng cách trở nên hết sức cố định. Ngữ điệu sẽ có phẩm tính đặc biệt, vì nó trượt rất xa ra ngoài giọng ngữ nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện ở ngay cú pháp. Trong lời nói sinh hoạt của tiếng Nga, ta không thể nhận ra phép đảo cú pháp, vì sự phân bố các từ ở người nói hết sức tự do, trong lời thơ, do bị ràng buộc bởi luật lệ phân dòng, chia khổ, có thể cảm nhận rất rõ sự sắp xếp của các từ[24]. Cú pháp của lời thơ có cấu trúc ước lệ, các thành phần câu có các vị trí truyền thống, bản thân câu cũng được gắn kết bởi khuôn khổ của các kiểu phân chia nhịp điệu. Chúng ta có thể đoán trước các vị trí ấy, bởi vì trong ý thức của chúng ta luôn luôn có sơ đồ nhịp điệu – cú pháp của khổ thơ. Mỗi một sự chệch ra ngoài sơ đồ ấy đều có thể cảm nhận rất rõ – từ đây nẩy sinh hiện tượng enjambement. Scripture chỉ ra rằng, dù có sự đối lập giữa các khuynh hướng ngữ điệu lời nói của người Đức miền Bắc và người Đức miền Nam (do Sievers xác nhận), băng ghi âm mô hình ngữ điệu khi đọc bài Der Fichtenbaum steht einsam (Cây thông cô đơn.- ND.) của Heine bao giờ cũng cho ra những kết quả giống nhau: “Ở thời điểm người nói chuyển từ hội thoại sang ngâm thơ, nhìn chung, giai điệu không thay đổi”.

Đáng chú ý là đa số bằng chứng về việc đọc của bản thân các nhà thơ đều đặc biệt nhấn mạnh hình thức điệu ca – đơn thanh của nó[25]. Sự khác nhau giữa cách đọc thơ trữ tình truyền thống của các diễn viên ngâm thơ và cách đọc của các nhà thơ được xác định bởi ý thức của người nghe chính là ở chỗ: các nhà thơ thường đọc theo kiểu “độc điệu” và nhấn mạnh nhịp điệu mà coi thường sắc thái ý nghĩa (theo nghĩa hẹp của từ này). Nhiều nhà thơ không chỉ đọc, mà còn sáng tác tựa như trên nền của một bài hát có sẵn, nhất là những nhà thơ có quan hệ chặt chẽ với sáng tác dân gian. A.Ja. Golovacheva-Panaeva kể về Nhekrasov như sau: “Nhekrasov ngồi vào bàn, thậm chí nằm trên đi-văng để viết văn xuôi, nhưng khi làm thơ, ông thường đi tản bộ trong phòng và đọc to lên; khi làm xong toàn bộ bài thơ, ông ghi ngay vào bất kì mảnh giấy nào vừa vớ được… Nếu làm một bài thơ dài, ông đi bộ trong phòng liên tục hàng giờ và đọc bài thơ to lên bằng một giọng đều đều cố định”. Điều này chứng tỏ, rằng bản chất của câu thơ (nhất là thơ trữ tình) gắn bó hữu cơ với các phương diện đọc – thính giác, rằng ở đây, ngữ điệu lời nói thường bị mất màu sắc lôgic và ngữ nghĩa do biến thái của điệu ca. Nếu một người ngoại quốc nào đó nảy ra ý định học ngữ điệu tiếng Nga qua thơ, rồi vận dụng y như thế vào hội thoại thông thường, thì lời nói của anh ta chắc chắn sẽ tạo nên ấn tượng đặc biệt hài hước.

Xin quay trở lại với vấn đề trữ tình điệu ca. Thuật ngữ “nhạc điệu” gợi sự liên tưởng tới âm nhạc. Nhưng nếu không sử dụng nó theo nghĩa mở rộng – ẩn dụ, thì sự liên tưởng ấy là hoàn toàn bình thường. Nghệ thuật không chỉ chia tách, phân hoá, mà còn thường xuyên thu hút, ràng buộc lẫn nhau. Sự phát triển của trữ tình điệu ca chắc chắn là con đẻ của sự trau dồi “tinh thần âm nhạc”. Một đặc điểm nổi bật với các nhà lãng mạn Đức, ấy là thái độ xem âm nhạc như một loại ngôn ngữ tối thượng: người ta đề cao sự thiếu rành mạch trong tâm lí, sự “hợp nhất các mâu thuẫn”, khả năng khơi gợi những cảm xúc đa dạng, mơ hồ và cảm nhận chúng giữa “biển cả âm thanh” (Wackenroder đã nói như thế trong cuốn Về nghệ thuật và các nghệ sĩ). Sự hoà điệu của tình cảm theo tinh thần âm nhạc như thế đã trở thành lí tưởng của thi ca (Tieck, Werner và những người khác). Thậm chí, trong giới học giả cũng có một quan niệm phổ biến cho rằng, các ngôn ngữ cổ xưa, đặc biệt là ngôn ngữ trong kinh sách cổ xưa của Ấn Độ, hoàn hảo hơn vì giàu “nhạc tính” hơn ngôn ngữ hiện đại của chúng ta. Novalis viết trong Fragments:  “Về cái “n” phổ quát trong ngôn ngữ âm nhạc. Tinh thần hưng phấn một cách mông lung, tự do, với nó, điều ấy thật tuyệt vời, nó có cảm giác đó là sự thân thuộc, là quê hương tổ quốc, nó thấy mình đang thực sự ở trên đất nước Ấn Độ trong những khoảnh khắc ngắn ngủi này. Vạn vật thật đáng yêu và dịu hiền, cả quá khứ và tương lai đều thức dậy trong nó – hi vọng và đam mê (Những câu thơ nói bằng âm nhạc). Ngôn ngữ của chúng ta thoạt đầu rất giàu nhạc tính, chỉ về sau này nó mới hoá thành văn xuôi, thành vô thanh câm nín như thế (enttönt). Bây giờ nó đã hoá thành thứ gần như tiếng kêu leng keng, thành một âm thanh (Schallen, Laut), nếu có thể hạ nhục cái từ tuyệt vời ấy. Nó cần phải trở thành tiếng hát (Gesang)”. Việc đem Laut đối lập với Gesang chứng tỏ Novalis hiểu “nhạc tính” là giai điệu réo rắt du dương, chứ không phải là âm vang nói chung. Chính vì xem âm nhạc là ngôn ngữ cao nhất, nên các nhà lãng mạn đánh giá cao nhân tố trong lời nói đã làm cho nó thành một sự bóng gió mơ hồ, một sắc thái tinh tế. Tính tạo hình, lôgic rành mạch, sự cân đối chặt chẽ của cú pháp và sự chính xác trong trong việc sử dụng từ ngữ hoàn toàn không phải là lí tưởng của họ. A.W. Schlegel từng viết như thế này về ngôn ngữ của Tieck: “Ngôn ngữ đúng là đã thoát khỏi nhục thể của mình và hoá thành hơi thở; lời tựa như không phải được phát âm mà là vang lên dịu dàng hơn cả ca hát”.

Ngả theo lí tưởng âm nhạc cũng là đặc điểm của các nhà lãng mạn Nga: Zhukovski, Kozlov, V. Odoevski (bản thân ông này là một nhạc công xuất sắc), Gogol, Chiuchev, Fet, Turghenhiev – tất cả những người ấy thống nhất với nhau ở thái độ sùng bái đặc biệt với âm nhạc như tôn thờ một môn nghệ thuật tối thượng. Xin nhớ lại sự ngưỡng mộ của V. Odoevski với Bach, nhiều bài thơ của Fet là sự kết tinh của những ấn tượng âm nhạc (Quasi una fantasia, Chopin và những tác gia khác). Zhukovski khoái chá với âm nhạc du dương của Gluck và Weber –  ông không tán thành Marschner “ồn ào”. Trong nhiều thư từ, ông thường viết về âm nhạc thế này: “Sự quyến rũ lạ lùng, khó hiểu trong các âm thanh, chúng chẳng có gì quan trọng, nhưng quá khứ đã ăn ở và tái sinh trong đó[26]…  Trong các âm thanh có một cái gì đó thực sự bất tử, mặc dù bản thân chúng không hề có sự tồn tại”. Gogol đã so sánh âm nhạc với hội hoạ và điêu khắc (đây là chủ đề rất phổ biến thời ấy) để viết về nó: “Âm nhạc là tất cả – nó là sự bùng nổ, nó bất thình lình, vào cùng một lúc, nó nhấc bổng con người lên khỏi mặt đất, làm con người ù tai bằng những tiếng sấm âm thanh hùng mạnh và đồng thời nhấn chìm con người vào thế giới của mình. Nó dịu ngọt, vô hình, nó thâm nhập vào toàn vũ trụ, nó tràn đầy và phập phồng hơi thở trong hàng nghìn hình tượng khác nhau” (Bài Điêu khắc, hội hoạ và âm nhạc, 1831). Những lời sau đây trong bài Về những bài hát của tiểu Nga cũng rất đáng chú ý: “Bài hát được viết ra không phải bằng cây bút cầm trong tay, chẳng phải viết xuống trang giấy, cũng không phải bằng những tính toán nghiêm nhặt, mà là ở giữa cơn bão táp, trong sự quên lãng, khi tâm hồn réo sôi và mọi thành viên phá tan trạng thái bình thường, thờ ơ, lãnh đạm, trở thành tự do, đôi bàn tay bất giác vung lên trong không trung và những làn sóng hân hoan hoang dã nhấc bổng nó lên… Ta hiểu vì sao thơ trong những bài ca trở nên khó nắm bắt, quyến rũ, yêu kiều tựa như âm nhạc. Với mỗi người, tho tư tưởng quả là dễ hiểu hơn so với thơ âm thanh, hay nói rõ hơn, thơ của thơ”. Cuốn sách của  Wackenroder, trong đó có một phần dành riêng để viết về đời sống và những suy ngẫm của nhà soạn nhạc Berglinger ra đời đúng vào thời gian này (1826) với bản dịch tiếng Nga của S. Sevyrev, N. Melgunov và V. Titov[27]. Ở đây, âm nhạc được xem là “nghệ thuật duy nhất có thể quy mọi vận động xung đột của tâm hồn vào một bản hoà tấu, có thể vẽ ra trước mắt cả niềm vui, nỗi buồn, sự tuyệt vọng và lòng sùng kính… Bản thân sức mạnh tự nhiên của âm nhạc mang trong mình mầm mống của tinh thần vũ trụ: đó là điều ta không thể tìm thấy trong các nghệ thuật khác”.

Chúng ta cũng có thể bắt gặp một thái độ như thế với lời, như với nhạc điệu, và xu hướng ngả về “tinh thần âm nhạc” ở các nhà tượng trưng chủ nghĩa (Blok, Belyi). Tạp chí Tác phẩm và thời gian của các nhà tượng trưng có đặc điểm nổi bật là kết hợp các bài viết về thơ và về âm nhạc. Theo học thuyết của V. Ivanov, chủ đề thơ cần phải đứng ngoài lời – như một cái gì “không thể bộc lộ”, “không thể  nói hết”. Thơ chỉ có thể là “những lời bóng gió, là sự hoà điệu đầy quyến rũ, khơi gợi mạnh mẽ ở người nghe niềm xúc động tựa như không thể diễn tả bằng lời”. Tác động của thơ chỉ có thể là tác động mang tính ma thuật, sức mạnh của nó nằm ở “ma thuật của ngôn từ”. Nội dung của thơ, – như hồi nào đó A. Belyi từng định nghĩa, – là sự “du dương” của nó. Công thức sau đây của Verlaine đã trở thành phép tắc :

De la musique avant toute chose
……………
Car nous voulons la Nuance encor,
Pas la Couleur, rien que la Nuance![28]

               —————

Từ những gì đã trình bày ở trên, có thể đoán trước, rằng trong trữ tình phát triển trên nền móng của loại thi pháp này, chúng ta dứt khoát sẽ nhìn thấy sự tác động thực sự của ngữ điệu và nhạc điệu. Dĩ nhiên, cũng có thể đoán trước, để tạo ra sự tác động ấy, những loại ngữ điệu của lời nói có nhạc tính cao và có khả năng phát triển thành làn điệu do được chuyển sang khu vực của lời thơ, sẽ được ưu tiên sử dụng.  Nói cách khác, chúng tôi cho rằng, trong trữ tình điệu ca, một số ngữ điệu lời nói và một số kiểu kết hợp ngữ điệu chắc chắn giành được vị thế ưu trội, cụ thể là những ngữ điệu từ trong bản chất ngữ âm của nó có khả năng tạo ra sự biến đổi nhạc điệu, khai triển nhạc điệu. Mặt khác, chúng ta còn có thể thấy trước, rằng, thay vì những câu nói (фраза) đơn giản, hàm súc, chúng ta bắt gặp ở đây sự phân kì lưu chuyển không dựa trên quan hệ  lệ thuộc lôgíc giữa các phần, mà được tổ chức trên cơ sở của phép điệp và song hành cú pháp, trong đó, mỗi mô hình cú pháp, khi phát triển, biến đổi, kéo theo hàng loạt khổ thơ hoặc cả bài thơ. Bởi vậy, cũng có thể khẳng định trước hai thủ pháp giai điệu hoá luôn được sử dụng, cố nhiên là chúng có thể kết hợp với nhau: 1) sử dụng một số ngữ điệu chọn lọc hoặc sự kết hợp của chúng và 2) tổ chức các vòng hồi hoàn dựa vào song hành cú pháp.

Ngoài ra, xuất phát từ ý niệm về khổ thơ như là đơn vị tiết tấu –  nhạc điệu, có thể đoán trước  một số dạng kết cấu cơ bản. Ở đây, sự tương đồng với các hình thức âm nhạc cơ bản và, đặc biệt là, các hình thức ca nhạc, chẳng những có thể chấp nhận, mà còn còn là chuyện đương nhiên. Thứ nhất: những dạng thức âm nhạc từ trong lịch sử gắn chặt với các dạng thức thi ca[29], và dấu vết của những mối liên hệ ấy vẫn còn được duy trì cho tới tận ngày nay.  Thứ hai, – đó là mối liên hệ không ngẫu nhiên, được tạo ra bởi những điều kiện bên ngoài nào đó và do vậy chỉ đáng quan tâm từ khía cạnh nguồn cội,  mà quan hệ họ hàng được bộc lộ có tính chu kì đặc biệt rõ rệt. Một khi nền móng của kết cấu trữ tình là nhạc điệu, ta có thể đoán ra tác động của các quy tắc hình thức được thực hiện trong âm nhạc, thấy trước, rồi sẽ bắt gặp các hiện tượng gia tăng giai điệu, cao trào (apogée), hồi hoàn (reprise), sự nhịp nhàng(cadence) … Nói cách khác, trong trữ tình điệu ca, các khổ thơ phải cùng nhau tham gia vào một quan hệ không chỉ ở mặt ngữ nghĩa, mà còn có tính cách âm nhạc – khúc điệu. Hình thức đơn giản nhất của nó là liên khúc (couplet). Tất nhiên, với trữ tình loại cao, nó rất thô sơ, không vạch ra giới hạn cấu tạo, nên chẳng có gì lí thú. Nhưng đóng khung ở nguyên tắc sóng đôi, chúng ta sẽ có dạng hai phần dựa trên sự điệp lại hai lần của cùng một chuyển động giai điệu, thêm vào đó, với sự hỗ trợ của biến thể này hay biến thể khác, hoặc là sự chuyển động lặp lại sẽ tạo thành nhịp nhàng (cadence), hoặc là sự nhịp nhàng (cadence) sẽ giữ một vị trí đặc biệt.

Lại nữa, chúng ta thấy trước cả sự xuất hiện của dạng ba phần – dạng có chủ đề chính sẽ quay lại ở phần cuối với tư cách là sự hồi hoàn (reprise), ngắt quãng hoặc phụ trợ ở giữa (dạng ABA). Ở đây, sự nhịp nhàng (cadence) cũng có thể hoặc là trùng với sự hồi hoàn, hoặc là phát triển theo mạch riêng.  Nói một cách ước lệ, tương tự như các thuật ngữ âm nhạc, có thể gọi dạng này là điệu ca[30]. Cả hai dạng đều nghiêm nhặt, xác định. Bên cạnh hai dạng ấy, cần phải kể tới những một hình thức tương đối tự do không thể khuôn vào những sơ đồ chuẩn xác. Tất yếu cũng sẽ bắt gặp những cấu trúc chỉ dựa vào sự chuyển động liên tục – phát triển của một giai điệu, sau khi đạt tới điểm cao trào (apogée), bỏ qua hồi hoàn (reprise), chuyển sang nhịp nhàng (cadence), hoặc bản thân điểm cao trào biến thành sự nhịp nhàng. Chúng tôi gọi dạng này, theo kiểu hoàn toàn ước lệ, là tình ca (romance). Chúng tôi gọi như vậy là vì thấy trong âm nhạc, người ta vẫn xem thuật ngữ này (nhất là ở Nga) là một cái gì đó tương đối tự do, chẳng những thế, nó còn gắn với văn bản ngôn từ[31]. Chúng tôi có quyền làm như thế còn bởi vì rõ ràng, các bài thơ thuộc dạng này từng phát triển dưới ảnh hưởng trực tiếp của ca nhạc.

Cần nói thêm: sự phân kì cú pháp bị hệ thống điệp và song hành làm phức tạp hoá, trong đó, các khổ thơ, do không tự cô lập, nên tạo thành sự tăng cấp liên tục, chắc chắn là đặc điểm của các bài thơ thuộc dạng tình ca (Fet), ngược lại, việc triệt để khai thác các khuôn hình ngữ điệu xác định, được vạch rõ trong sự phát triển của mình, những khuôn hình khép kín trong giới hạn của khổ thơ và được lặp lại, dẫu có nhiều biến thể, sẽ là đặc điểm mà chúng ta thường bắt gặp trong trong các dạng liên cú và điệu ca (Zukovski).

Xin dừng Phần lí luận mang tính tiên nghiệm, lại ở đây.

Người dịch : Lã Nguyên

Nguồn : Эйхенбаум Б. Мелодика русского лирического стиха. — Пб.: ОПОЯЗ, 1922. Tr. 5 – 26.


[1] Boris Mikhailovich Eikhenbaum (1886 – 1959): nhà nghiên cứu văn học người Nga, một trong những chủ soái của “Hội nghiên cứu ngôn ngữ thơ”(ОПОЯЗ – 1916 – 1925). Chuyên luận Giai điệu câu thơ trữ tình Nga (Мелодика русского лирического стиха) xuất bản năm 1922, khảo sát sáng tác của Zukovski, Puskhin, Chiuchev, Lermontov, Fet, nhằm làm nổi bật sự hiện diện của các thủ pháp tổ chức giai điệu trong tác phẩm trữ tình thuộc ba khuynh hướng phong cách chính yếu: trữ tình điệu ngâm, điệu ca điệu nói. Đây là công trình có ý nghĩa phương pháp luận cực kì quan trọng. Những luận điểm phương pháp luận chính yếu được Eikhenbaum tập trung trình bày trong phần mà chúng tôi trích dịch giới thiệu với bạn đọc ở đây.- ND.

[2] Dịch từ chữ: “фраза”, nghĩa là “câu”, “câu văn”, “câu nói.- ND.

[3] Dịch từ chữ: “cтих”, nghĩa là “câu thơ”, dòng thơ”.- ND

[4] Nguyên tắc này lần đầu tiên được xác lập trong một công trình được đọc tại “OPOJAZ”, nhưng chưa xuất bản của O.M. Brik – Về các khuôn hình nhịp điệu – cú pháp. Nguyên tắc ấy còn được xem là dấu hiệu dùng để phân loại và được sử dụng làm nền móng cho cuốn sách cuối đời của V.M. Zyrmunski.- Kết cấu thơ trữ tình (Nxb. “OPOJAZ”, Peterburg, 1921).

[5] Tiếng Pháp: thơ “liên cú”.

[6] Die Formen des Refrains (Euphorion V, 1898).

[7] Xem cuốn sách đã nhắc tới ở trên, đồng thời, xem bài Khắc phục chủ nghĩa tượng trưng (“Tư tưởng Nga”, 1916, XII) và cuốn Valeri Briusov và di sản của Puskhin.

[8] Thoạt đầu, cách chia này được trình bày trong tham luận đọc ngày 18 tháng Giêng năm 1912 tại “Hội những người bảo vệ ngôn từ nghệ thuật” (thông báo trong tạp chí “Công trình và năm tháng”, 1912, số 2; sau đó được trình bày trong lời giới thiệu tuyển tập Các nhà thơ thời Puskhin (Moskva, Nxb. Sabasnhikov, 1919).

[9] Tlđd.: Tr. 33.

[10] Về đặc điểm này trong cách đọc diễn cảm ở Tây Âu, xem: R. Beringer— Über Hersagung der Gedichten (Jahrbuch f. d. geistige Bewegung“ 1911 г.) và bài viết của tôi: Về đọc thơ (“Đời sống nghệ thuật”, 1920, số 290).

[11] Tiếng Nga: “декламативный (риторический) напевный и говорный”. Ở việt Nam, GS Trần Đình Sử là người đầu tiên sử dụng các thuật ngữ “điệu ngâm” và “điệu nói” để dịch các chữ: “декламативный” và “говорный”. Xem: Trần Đình Sử.- Thi pháp thơ Tố Hữu. Nxb.: “Tác phẩm mới”, H., 1987. Tr. 233 – 298.

[12] Thuật ngữ của B. Christiansen (tiếng Nga: “домината”) – xem cuốn sách của ông: Triết học nghệ thuật (bản dịch tiếng Nga của G.P. Fedotov). Peterburg. 1911.

[13] Một nhịp có 3 âm tiết, trong đó có một âm tiết chứa trọng âm, tạo thành một phách mạnh và hai phách nhẹ. Có 3 kiểu thơ nhịp ba: daktylos (tiếng Hy Lạp, nghĩa là ngón tay): trọng âm thường rơi vào các âm tiết 1, 4, 7, 10, theo sơ đồ úuu/úuu/úuu, ví dụ: “ВЫрыта зАступом Яма глубОкая” – những chữ in hoa và in đậm là chữ chứa trọng âm; amphibrachys(tiếng Hy lạp: hai mặt hình vuông): trọng âm rơi vào các âm tiết 2, 5, 8, 11…, theo sơ đồ uúu/ uúu/ uúu, “ví dụ: “Не вЕтер бушУет над бОром” và anapaitos(tiếng Hy Lạp: phản ánh ngược lại phía sau): trọng âm thường rơi vào các âm tiết 3, 6, 9, 12, theo sơ đồ uuú, uuú, uuú… , ví dụ: “Там в ночнОй завывАющей стУже”. Iambe là thơ nhịp đôi, trọng âm thường rơi vào âm tiết chẵn: 2,4,6,8… ,theo sơ đồ: uú/uú/uú/uú, ví dụ: “Мой дЯдя сАмых чЕстных прАвил…”.- ND.

[14] Câu thơ có 4 âm tiết chứa trọng âm, ví dụ: “Мой дЯдя сАмых чЕстных прАвил…”.- ND.

[15] Eduard Sievers (1830 – 1952): Nhà ngữ văn học người Đức, chuyên nghiên cứu các ngôn ngữ cổ và ngôn ngữ Đức. Ông là một trong những nhà ngữ pháp học cánh trẻ thuộc “trường phái Leipzig”. Ông là nhà ngôn ngữ học có tầm ảnh hưởng vô cùng rộng lớn trong lịch sử ngữ văn học cuối thế kỉ XIX.- ND.

[16] Các bài viết của E. Sievers được tập hợp trong cuốn sách: Rythmisch-melodische Studien. Vorträge u. Aulsätze von E. Sievers. Germanische Bibliothek, hrsg. v. W. Streitberg. Zweite Abteilung. V. Band. Heidelberg. K. Winter. 1912.

[17] E. Reinhard. Der Ausdruck von Lust und Unlust in der Lyrik. „Archiv f. d. ges. Psychologie“, Bd. XII (1908). Đặc biệt:  „Zur Wertung der rhythmisch-melodischen Factoren in der neuhochdeutschen Lyrik.“ Diss. Leipzig. 1908.

[18] J. Tenner. Über Versmelodie. „Ztschr. f. d. Ästhetik u. allg. Kunstwissenschaft“. 1913, Bd. VIII, Hefte 2-3.

[19] E. Scripture. Researches in experimental Phonetics. The Study of Speech curves. 1906.

[20] R. Jakovson.- Thơ hiện đại Nga. Phác thảo thứ nhất (V. Khlevnhikov). Prague. 1921. Tr. 5.

[21] Vấn đề này đã nhiều lần trở thành đối tượng tranh luận giữa “Nhóm ngôn ngữ học Moskva” và “Hội nghiên cứu lí luận ngôn ngữ thơ” Peterburg (OPOJAZ). R. Jakovson, người có quan điểm tiêu biểu thể hiện ở công trình vừa trích ở trên, từng nhiều lần tranh luận với V. Sklovshki và V. Zyrmunski. Chính Zyrmunski đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc mục đích luận đối với cấu trúc của thi pháp học.

[22] Tiếng Đức: “năng động hơn so với nhạc điệu”, “chỉ có sự vận động, thiếu sự khác biệt về nhạc điệu”, “thiếu nhạc điệu”.- ND.

[23] Nhìn chung, cần phải nói rằng, trong các khoa học về tinh thần, tham vọng khách quan hoá theo tinh thần khoa học thường bị biến chất thành chủ nghĩa hoài nghi ngây thơ và giả dối, nó phá huỷ bản thân nền móng của sáng tạo khoa học. Người ta đang xem tính “chủ quan” là tất cả những gì gắn với chủ thể, dẫu từ trong bản chất của đối tượng, việc đi qua chủ thể hoàn toàn là một tất yếu. Cái “chủ thể” ( tức là cái yêu cầu sự thụ cảm)  tự bản thân nó không phải là “cái chủ quan”.

[24] Xin xem ý kiến của R. Jakovson  trong công trình nghiên cứu đã được nhắc tới ở trên: “Trong tiếng Nga, trật tự từ không phải là yếu tố biểu nghĩa. Nhưng trong thơ, sự thể hoàn toàn khác, do ngữ điệu của lời nói sinh hoạt đã được làm biến thái” (tr. 32).

[25] Xem bài đã dẫn ở trên của R. Beringer’a.

[26] Xin so sánh vơi Novalis: “cả quá khứ và tương lai đều thức dậy trong nó”.

[27] Về nghệ thuật và các nghệ sĩ. Suy ngẫm của một người ẩn dật yêu văn chương do Ludwig Tieck xuất bản. K.F. Nhekrasov tổ chức tái bản (1914), do P.N. Sakulin biên tập.

[28] Tiếng Pháp: trích từ bài Nghệ thuật thi ca (Art Poétique) của Paul Verlaine, tạm dịch: “Trên tất cả tất phải là âm nhạc <…> Vì Sắc Thái Riêng, chúng ta còn muốn. Không phải Sắc Màu, mà chỉ Sắc Thái riêng”.- ND.

[29] Về mặt này, thời trung đại đặc biệt thú vị – ở đây, các hình thức âm nhạc và thơ ca luôn luôn phát triển trong sự ảnh hưởng qua lại với nhau. Cả các nhà lịch sử âm nhạc lẫn các nhà ngữ văn học (xem cuốn sách của V.F. Sismarev.- Trữ tình và các làn điệu trữ tình trung đại. Spb. 1911). Quá trình tách văn bản ngôn từ khỏi âm nhạc bắt đầu diễn ra từ thế kỉ XIV, khi xuất hiện khuynh hướng phát triển của trữ tình điệu nói – loại trữ tình “để đọc”. Trong chương về Ballads, Sismarev viết: “Việc xoá bỏ lối giải thích hình thức theo kiểu âm nhạc tất nhiên có ý nghĩa quyết định, cơ bản. Nó hoàn toàn đúng với trật tự của sự vật: thơ thế kỉ XIV và XV được viết ra trước hết là để đọc. Nhưng người ta đã quen đòi hỏi ở ballads một cái gì lớn hơn thế: nhạc tính theo nghĩa rộng của từ ấy, nhất là sự êm ái, réo rắt trữ tình” (tr. 18).

[30] G. Riman (“Từ điển âm nhạc”) đưa ra định nghĩa như sau: “Cái được gọi là hình thức bài ca (vận dụng cả trong âm nhạc dụng cụ) bao hàm hai chủ đề được sắp xếp theo trật tự sau: I, II, I”.

[31] “Từ điển âm nhạc” của Riman viết về tình ca như sau: “Với tư cách là một dạng nhạc khí, tình ca là một cái gì đó lỏng lẻo và co giãn giống như ballads; ngoài ra, toàn bộ tình ca, từ thể nhỏ dành riêng cho dương cầm (Schumann), cho đến thể lớn dùng cho violon cùng dàn nhạc (Beethoven) đều có một đặc điểm chung là vị thế ưu trội thuộc về yếu tố giai điệu. Trong tiếng Nga, chữ tình ca được dùng để chỉ một bài ca được phát triển một cách nghệ thuật, là cái mà người Đức (theo sau người Đức là người Pháp) gọi là Lied. Trong tình ca, nhạc sĩ thâm nhập vào ý nghĩa của bài thơ sâu sắc hơn so với trong bài ca; ở đây, ông ta thường không giới hạn trong dạng liên khúc (couplet) giống như trong bài ca, mà tương ứng với ý nghĩa của văn bản, ông ta sẽ viết cho mỗi khổ một loại âm nhạc mới (durchkomponiertes Lied), điều đó tao ra khả năng dùng âm nhạc không chỉ để diễn tả nội dung chung của bài thơ, mà còn thâm nhập vào các chi tiết của nó, làm nổi bật đặc điểm, mô tả nó một ccsh sinh động. Nếu trong khổ mới của tình ca, với mục đích quay vòng, có sự lặp lại giai điệu của khổ cũ, thì nó thường lặp lại dưới dạng đã thay đổi (dẫu chỉ là nhạc đệm). Chính vì thế mà hình thức của tình ca thường tự do và phát triển năng động hơn rất nhiều so với hình thức của bài ca”.

Nguồn: Bản dịch giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

 

Cháy thơ thiền dỏm, lòi ra khuôn mặt văn học bao cấp nhem nhuốc – lethieunhon

31 Th8

 Cháy thơ thiền dỏm, lòi ra khuôn mặt văn học bao cấp nhem nhuốc

Vụ “mượn bút tiền nhân” của Hoàng Quang Thuận vừa qua quả là một cái tát trời giáng vào lâu đài cát văn học bao cấp mậu dịch đang còn bám trụ với lý do câu giờ biện hộ cuối cùng! Đó là một vết nhơ không thể cãi lại! Một nỗi nhục ê chề không cách gì gượng dậy! Là kết quả tất yếu của một nền văn học hà hít tem phiếu ưu tiên mãi mãi chỉ là “bé bự” không thể lớn được! Một môi trường chữ nghĩa với “thơ trí” lọ mọ, tối tăm, u mê, ú ớ, đồng cô bóng cậu nên mới bấu víu vào thần phật, mong muốn một bước hay một giấc mộng lên đời thành hiện thực. Có một điều giản dị thế này, những kẻ ăn mày dù có xin được cơm tám giò chả nhưng không thể nào trở thành sang trọng và vĩ đại.

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

Triết gia Nietzsche nói “Chúng ta không nên đón nhận mà phải sáng tạo, chúng ta không nghèo khổ đến mức phải xin bố thí của thần thánh”. Đây là nguyên lý duy nhất, bởi kẻ sáng tạo phải tạo ra cái của mình, cho dù hang núi có tạo ra tiếng sáo thì đó là thiên tạo chứ không phải nhân tạo, cho dù người mẫu có bán một đêm được vạn lạng bạc thì cũng không phải tài năng nhân tạo mà chỉ là “vốn tự có” . Nhân gian có câu nói lái rất hay “cái trời cho” chỉ là “trò chơi”. Và có một thước đo giá trị tiên quyết không thể cãi được khác “kinh thành La Mã không thể xây trong một ngày”. Chẳng lẽ HQT lại trở thành một ngoại lệ sao?

Có thể đúng đấy vì tất cả những kẻ lười biếng dốt nát muốn ăn may khi chơi sổ số thì đều mong mình được trở thành ngoại lệ. Và cả những người đẩy đít H Q T đi giật giải Nobel thì đều mong rằng đó là một ngoại lệ sẽ lách được qua kẽ hở. Than ôi, bốn câu thơ tứ tuyệt khác gì bốn hòn gạch, thôi cứ cho là bốn đống gạch đi làm sao xây thành lâu đài chứ? Hãy nhìn kia và đừng ảo mộng, ngay cả Đỗ Phủ, Lý Bạch sống lại, thì những mẩu thơ của các ông và hàng nghìn nhà thơ Đường xấp xỉ kia cũng không thể ứng cử giải Nobel đâu, mà hậu duệ của các ông chỉ gọi những mẩu bốn câu đó là “mảnh vụn lấp lánh” thôi. Ngay cả Lỗ Tấn là một tượng đài đồ sộ, cha đẻ của nền văn học Trung Quốc hiện đại còn chưa ẵm giải Nobel thì mấy mẩu vần vèo tức cảnh sinh hoạt của các ông có ý nghĩa gì? Văn hào Albert Camus cho rằng : cái vĩ đại của con người nằm ở bộ não kiến trúc chứ không phải ở vật liệu. Ông nói: “không có sự sắp đặt thì đống đá không thể trở thành lâu đài”. Vậy đấy, đống đá ngoài trời so với tòa lâu đài, chỉ khác nhau ở chỗ đống đá thì tự nhiên, còn lâu đài là những viên đá được sắp đặt. Nhìn vào bốn câu thơ tứ tuyệt dù có bằng trắc khúc mắc chăng nữa làm sao thấy được nhà kiến trúc vĩ đại ở đó mà hy vọng vào giải ăn may Nobel, thật ra trong trường hợp này là mong ban giám khảo giải Nobel cũng úm ba la, tối tăm, ấm ớ, ăn gian giống mình???

“Giết vua, giết cha không phải việc xảy ra trong ngày”, đó là phương ngôn của người Trung Quốc muốn nói rằng, việc gì lớn cũng không thể thình lình xuất hiện mà đó là kết quả được lên mầm hay âm mưu từ rất lâu trong quá khứ. Việc đạo thơ giả thánh thần của Hoàng Quang Thuận cũng vậy, nó không chỉ diễn ra vào tháng 8/2012, mà đó là kết quả tất yếu từ một nền văn học bao cấp ú ớ, bản năng, cục bộ, co kéo nhóm lợi ích, bảo hiểm sự bất tài bằng phe nhóm dưới cái mác “sáng tạo tập thể”, trình độ văn hóa công-nông-binh cây nhà lá vườn, trình độ văn thơ nghiệp dư, kiến thức là lớp tráng men của trạm cấp cứu văn hóa Nguyễn Du…, ấu niên hơi một tí lại đòi bú sữa cấp trên, hơi một tí là mách lẻo lãnh đạo… “Cái kim trong bọc mãi cũng bị lòi ra”, một trình độ và một đời sống văn học dựa trên bú mớm như vậy, tất yếu có ngày bị lòi kim ra. Một trình độ mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp gọi là vô học, hay “đám giặc già thơ phú lăng nhăng”. Dù bị mắng mỏ như thế, hàng trăm nhà thơ trong hội và hàng vạn nhà thơ trong nước tức tối lắm mà chẳng làm gì để phản bác được. Tại sao? Than ôi vì tầm vóc nhỏ bé quá, những hòn sỏi có chất đống lên nhau làm sao thành non bộ để đọ với người ta. Chẳng những thế rất nhiều kẻ trong đám này còn công kênh Nguyễn Huy Thiệp lên mây xanh rằng: “Nguyễn Huy Thiệp là bút pháp hậu hiện đại xuất sắc”. Hậu hiện đại ư? Nguyễn Huy Thiệp không nói tròn một câu, một chữ tiếng Tây, nhạc cổ điển cũng không hay, tân nhạc cũng không biết, chỉ có đàn nhị sáo trúc trong đầu, viết văn thi dùng nhiều dấu chấm ngắt thành câu đơn giản, liệu có bất cứ nền tảng nào để thấy N H T có bút pháp hiện đại hay hậu hiện đại không?

Sự tối tăm từ bản thân mình, dẫn đến sự tối tăm khi xem xét đánh giá người khác là lẽ đương nhiên. Và có đương nhiên không khi các hội đồng chấm giải cũng tối tăm? Vào cuộc thi nào, người ta cũng quảng bá, sẽ có những nhà văn, nhà thơ có uy tín chấm giải. Chẳng lẽ các nhà uy tín đó lại nhiều đến thế trong Hội, mà không cần nêu tên trước muốn tìm ra lúc nào thì tìm. Có một chuyện tức cười và điển hình của ban giám khảo rằng: có người trong HNV tố cáo, ban chấm giải văn học dịch kia, chẳng có ai biết ngoại ngữ cả. Liền được các vị trong ban đó đáp lại “chúng tôi không biết ngoại ngữ nhưng vẫn biết thưởng thức văn học dịch”. Trời ơi, thế có khác nào, người ăn món ăn lại đi chấm giải nấu bếp của các đầu bếp. Người lim dim nghe nhạc lại cho điểm nhạc sĩ. Học trò lại chấm điểm thầy giáo dạy mình? Không, người chấm điểm phải là người cao hơn như hội đồng thuộc ban giám hiệu. Có những người làm thơ cả đời không bằng người khác làm trong một đêm vậy mà cũng chấm giải người ta. Điều này hoàn toàn không có gì khó hiểu. Mao Trạch Đông từng nói : Liên Xô đã phóng tầu vũ trụ lên trời, trong khi đó chúng ta còn chưa phóng được một củ khoai tây. Cũng vậy, những người làm nghệ thuật bản năng như ngắt lá, gấp lại thổi, cho đó là hồn cốt của làng quê, làm sao có thể chạm đến những bản tổng phổ của dàn nhạc lớn. Làm thơ “bốn hòn gạch”, hoặc kéo dài thêm vài khúc, viết trường ca thì không có cốt truyện, chỉ là thứ nồi lẩu kéo dài vô tận, thì làm sao hình thành nổi một con phố, nói gì đến kinh thành La Mã trong nghệ thuật? Kết quả là người ta phát hiện ra các công thức cứng của các cuộc thi:
1- Người được giải phải là người của báo khác, vì như vậy, tôi đã gắp cho anh, thì lúc khác anh phải gắp cho tôi.
2-  Một anh già nào đó sắp về hưu, đó là giải dối già cho anh, coi như làm chính sách.
3- Một cô gái nào ở xa lắc xa lơ, coi như một phát hiện bút pháp quả đầu mùa. Loại này rất an toàn vì thân gái chân yếu tay mềm không thể uy hiếp trực tiếp đến lòng đố kỵ, chọn cái đứa gần nó vòi một chỗ thì rách việc.
4- Phải lại quả cho nhà tài phiệt đã đầu tư cho giải. Và (có lẽ) Hoàng Quang Thuận là người đầu tư trọn gói nên ẵm giải trọn gói cũng phình phường thôi???

Cái yếu kém duy nhất của nền văn học Việt Nam là thiếu lý trí. Vì thiếu lý trí nên người ta mới phải sống và sáng tác bằng cảm xúc, sau đó rêu rao về thiên bẩm như thể tuyên bố giá trị “thần thánh” nơi mình, đó cũng chính là câu chuyện của H Q T và mở rộng ra hội thảo. Trình độ của nền văn học chúng ta nói chung mới chỉ là thứ văn hóa quần chúng được vào hội của nhà nước có con dấu và tem phiếu. Nó mới nằm ở tầm “hát hay không bằng hay hát”. Có thể lấy câu chuyện này làm kiểu mẫu điển hình. Chúng ta mới gấp chiếc lá để làm kèn, mới cắt quả bầu để làm đàn. Lúc nhỏ, tôi nghe một anh bạn thổi sáo, đang thổi, anh ta chạy ra sân rúng cây sáo vào bể nước, tôi hỏi tại sao, anh trả lời “vì cây sáo khô quá, nhúng vào nước cho tiếng nó tươi”. Khi lớn lên, tôi gặp một ông thủ trưởng công tác lâu năm trên Tây Bắc, ông ta nói mỗi dịp hội diễn văn hóa quần chúng ông ta lại gảy đàn đỏ cả mũi, con gái thấy hay, chết mê chết mệt! Tại sao gảy đàn lại đỏ mũi? Vì ông ta gảy đàn mũi, lấy tay gảy thẳng lên mũi, mồm phát ra tiếng ứ ứ coi như hộp đàn. Nghệ thuật như thế chỉ làm vui lúc tranh tối tranh sáng thôi, chứ làm sao đòi tiếp quản thành phố hay đi xứ được? Cũng một lần chúng tôi ngồi nói chuyện khi thổi sáo cho nhau nghe, một anh bạn khoe mình thổi sáo, anh kia liền bảo, ngày bé đi thả trâu thằng nào chẳng biết thổi sáo, nói rồi anh ta cầm lấy sáo thổi liền. Một lần khác, chính người lên dây đàn piano của nhạc viện nói với tôi, “anh bảo anh hay nhất làng, hay nhất nước, nhưng anh hát xoan hát xẩm có độ vạn người nghe, ra thế giới lại chẳng có ai đọ với anh, anh nhất làng, cũng là nhất nước, cũng là nhất thế giới luôn. Trong đó nếu anh chơi piano nhất tức là anh là nhất của muôn triệu người. Đây này, ngay như đàn bầu mà trong nhạc viện còn bảo: “Đàn bầu chỉ có một giây/ Đánh mười lăm ngày đã đi tây”. Vậy thì câu chuyện H Q T muốn đem cái nhất của làng thơ ta mượn thần phật úm ba la đi tây có phải muốn mượn đàn bầu đi ẵm giải thế giới?

Nền văn học của ta yếu, không chỉ do các nhà văn, nhà thơ, mà còn do móng của cả nền văn học. Triết gia Nietzsche nói: “Một dân tộc không có thiên tài, không bằng cách chấp nhận thiên tài của dân tộc đó”. Âm nhạc cổ điển vào Việt Nam không có người nghe không phải nó dở mà do trình độ dân trí của ta còn thấp. Bằng chứng là ca nhạc tạp kỹ (cũng có nghĩa tạp pí lù), lại được giới bình dân mặc cả quần áo ngủ, áo hở nách đi xem rất đông. Vì sao? Vì nó hợp với thể tạng của họ. Vậy một số những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở ta chớ có quá tự tin vào việc mình nổi tiếng, có khi đó chỉ là vì văn chương của mình dễ dãi bình dân.

Người Việt nói chung rất ngại tư duy và phán xét bằng tư duy, cho dù họ có học nhiều học rộng chăng nữa, như tiến sĩ H Q T chẳng hạn, dù có học cao bao nhiêu cũng muốn lẩn trốn tư duy để chạy vào vần vèo cảm xúc, có cả nghìn tổng giám đốc cũng thế, sau khi có chức quyền rồi, dù đỗ bằng gì, cũng không muốn tư duy chuyên ngành mà chỉ muốn làm thơ. Nhưng tại sao chỉ có thơ mà không viết truyện ngắn hay tiểu thuyết? Bởi vì các ông còn lười, ham vui và thích nổi tiếng thật nhanh nữa. Còn lại rất nhiều trí thức Việt khác vẫn còn mang truyền thống “bánh trưng lại gạo”, học hành đỗ đạt bao nhiêu, đi tây đi tầu bao nhiêu, rút cục chỉ đòi hành quân về làng. Hãy xem kia, thánh Gandhi đã hành quân từ Nam Phi về quê hương mình với phong trào Bất bạo động đã làm rung chuyển cả Âu Mỹ. Tại sao ông làm được vậy? Vì ông đã thoát xác con người làng quê và cả dân tộc mình để trở thành công dân thế giới. Còn Lỗ Tấn trở thành cha đẻ của văn học hiện đại Trung Quốc vì mở màn đã sỉ vả cả dân tộc mình “người Trung Quốc chỉ giỏi ăn thịt người”, kể từ ông người Trung Quốc đã quẳng bút làm thơ từ nhiều thập niên mà chuyên tâm hơn vào việc viết văn.

Cả nước hiện có chưa đến chục vị viết phê bình văn học mà chủ yếu là U50, còn lớp trẻ, ngay gần đây, khi một đàn anh hỏi “tại sao các chú không có nhà phê bình cho thế hệ của mình?” thì không trả lời được. Còn lại đa số là dạng trí tuệ “comment”. Trong số này, có nhiều người chính đáng giúp ích cho sinh hoạt của nền văn, nhưng cũng không ít “nặc danh” nhảy ra khoe mẽ chút kiến thức ít ỏi nhưng chú mục của mình. Người Việt có câu “kẻ vô tình, người hữu ý”, muốn nói, khi anh đã chú mục vào việc gì thì anh rất dễ hơn người khác. Nhưng đó chỉ là cái chú mục của tiểu tiết như người Việt nói “tham bát bỏ mâm” hay “tham tiểu tiết mà bỏ mất đại cục”. Nhóm nặc danh không cần biết nguyên lý tiên quyết của tranh luận là “danh chính ngôn thuận” hoặc “oan có đầu, nợ có chủ”, cái chính kiến của mình mà còn giấu như “mèo giấu cứt”, đòi chơi du kích “ném đá giấu tay” thì còn gì để nói. Và cái chính họ làm là xăm soi vào lỗi chính tả. Có một phương ngôn rằng “chớ cúi nhìn xuống chân, bạn có thể không vấp ngã nhưng chẳng bao giờ thấy được những vì sao!” Ở đời, trèo nhiều ngã nhiều, trèo ít ngã ít, không chèo không ngã. Một bài tiểu luận chưa bao giờ viết được, viết có hai mẩu comments đã loanh quanh, tên thì giấu vì sợ (sợ cả quyền lực lẫn trí tuệ), thì đòi cao đàm khoát luận những thứ cao siêu làm gì?!

Dân tộc ta đã ngót trăm triệu người, đang trở thành cường quốc về dân số, rất cần thiết để chúng ta có một vài hoặc nhiều hơn những tác giả xứng tầm. “Dân hai nhăm triệu ai người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con” của thi sĩ Tản Đà vẫn là thách thức của chúng ta. Người Việt chưa nói đến tài năng, chỉ cần nói chúng ta trưởng thành chưa đã rất khó. Vì sao? Vì chúng ta dù học nhiều mà không có thói quen suy xét bằng lý trí. Không có lý trí thì học nhiều cũng chỉ là “ngăn kéo thông tin” thôi. Riêng tôi không ít lần đưa tay phải ra băt, thì người kia lại úp bàn tay trái đưa ra kiểu ban phát. Văn hóa của anh ta thấp thế à? Không, anh ta không bao giờ dám đưa tay trái cho lãnh đạo. Sau khi làm vậy chắc anh ta sẽ đắc ý, mình khôn ngoan đã hạ thấp được kẻ khác. Một lối khôn, một cách sống không bao giờ có thể thể trưởng thành.

Một bức toan trắng còn hơn một bức vẽ tồi, bởi vì bức toan trắng đó dự phóng cho một tác phẩm mới vĩ đại. Môi trường văn học của chúng ta toàn cỏ mọc le te đã ô nhiễm rất cần khai quang thành tấm toan trắng để những cây đại thụ văn học khác lớn lên. Những nhà văn, nhà thơ bao cấp đã khánh kiệt cả vốn liếng lẫn cơ hội rồi, chớ đứng bịt cửa chắn đường đòi “rót vốn” như doanh nghiệp đã phá sản đòi tái cơ cấu nữa. Rút cục có mấy vần thơ đã đánh vớt cả cuộc đời nhàn nhã mang danh chữ nghĩa, người Pháp có câu “không ai được tất cả, không ai mất tất cả”, cái may mắn tem phiếu đầu tiên đó không kéo dài mãi để trở thành con đường danh vọng vĩnh cửu đâu?! Hoàng Quang Thuận chính là tấm màn đã hạ rồi! Dù không nhìn thấy thứ phao nháy đó, chắc hẳn từ đây những ai đòi bày trò giải rủng hay hội thảo thì đều run cầm cập, bởi vì sự nhợt nhạt, mủn mục, tàn rã của nền văn học đòi ưu tiên bao cấp vô thời hạn đã phơi ra một lỗ thủng to tướng cuối cùng rồi. Người ta không dễ chơi trò ấp úng, úp mở, mê dụ bạn văn và bạn đọc mãi được.

                                                                30/08/2012

 

Ngày độc lập nghĩ về biển đảo – LĐ

31 Th8

 Ngày độc lập nghĩ về biển đảo

Ngày độc lập năm nay, toàn dân hướng về biển đảo, một vùng thiêng liêng của tổ quốc đang còn bị chiếm đoạt. Di ngôn của Đức Trần Nhân Tông rướm máu trong mỗi lòng người: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác!”. Lời thề độc lập từ Hồ Chí Minh: “Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng” lại âm vang.
Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đang đặt ra cho chúng ta một cuộc đấu tranh rất gay gắt và vô cùng phức tạp. Gay gắt là vì mưu đồ bành trướng thôn tính biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN của Trung Quốc là xuyên suốt, không đổi. Phức tạp là vì chúng ta vừa quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, vừa kiên trì giải quyết tranh chấp với Trung Quốc bằng phương pháp hòa bình, tuân theo luật pháp quốc tế, cố gắng giữ gìn quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Tuy nhiên dù gay gắt và phức tạp đến đâu, chúng ta tin rằng sự nghiệp của mình là chính nghĩa, phù hợp với lợi ích của khu vực và lương tri của nhân loại thì nhất định sẽ đạt được thắng lợi. Trung Quốc tuy có sức mạnh về kinh tế và quân sự hơn hẳn chúng ta, nhưng họ đang giẫm lên vết xe đổ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thực hiện đường lối bá quyền lỗi thời, khiến cho càng ngày càng có nhiều trí thức trong nước lên tiếng phản đối, và bị cô lập trong khu vực và trên thế giới.

Để thu hồi được từng tấc đất của tiền nhân để lại, thế hệ hôm nay có trách nhiệm góp sức mau chóng tăng cường nội lực theo mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bất cứ hành động nào làm phân tán, chia rẽ sức mạnh dân tộc đều là tội ác. Chấp nhận nhiều ý kiến khác nhau về phát triển đất nước, chỉ đòi hỏi một câu tuyệt đối phải giống nhau là: “Hoàng Sa, Trường Sa – Việt Nam!”.

Chúng ta chủ trương hợp tác cùng có lợi, nhưng không thể chấp nhận việc để cho Trung Quốc, đưa công nghệ lỗi thời, hàng dỏm, hàng kém phẩm chất, làm rối loạn kinh tế và an ninh nước ta. Kinh tế đối ngoại phải góp phần làm tăng nội lực của nền kinh tế theo hướng phát triển chiều sâu, tăng tính cạnh tranh và bảo vệ môi trường.

Toàn cầu hóa đã làm cho mọi quốc gia muốn phát triển đều phải thuận theo xu thế thời đại. Đại hội 11 có một nhận định rất xác đáng là phải “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”. Thời đại đang chứng kiến làn sóng dân chủ hóa lần thứ tư. Toàn dân hy vọng cuộc sửa đổi hiến pháp lần này sẽ tiếp thêm cho dân tộc ta sức mạnh mới của thời đại.

Tống Văn Công

 

 

BẢO VỆ BIỂN ĐÔNG: TỪ LỜI NÓI, SUY NGHĨ ĐẾN HÀNH ĐỘNG THỰC TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM – BS

31 Th8

BẢO VỆ BIỂN ĐÔNG: TỪ LỜI NÓI, SUY NGHĨ ĐẾN HÀNH ĐỘNG THỰC TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Quốc Thanh

Biển Đông Biển Đông, cái tên thân thương với người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, cái tên đã đi vào cả câu tục ngữ dân gian:

“Thuận vợ thuận chồng, Biển Đông tát cạn; thuận bè thuận bạn, tát cạn Biển Đông

“Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, đã không biết bao nhiêu lần người Việt Nam chúng ta được nghe những lời lẽ đanh thép ấy từ Người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam – tiếng nói chính thức của nhà nước Việt Nam, và cũng từng bấy nhiêu lần từng con dân nước Việt lại tự nhủ, lại thề nguyền sẽ quyết giữ lấy Hoàng Sa và Trường Sa cùng những vùng biển và hòn đảo nằm trong Biển Đông thuộc lãnh thổ của mình. Biết bao nhiêu phong trào thể hiện tình yêu Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của chúng ta đã được phát động.

 

Chỉ có điều, không hiểu bên cạnh lời tuyên bố chính thức cùng việc hô hào những phong trào rầm rộ ấy, nhà nước ta đã làm được những gì để góp sức bảo vệ Biển Đông, cũng như bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Xuất phát từ suy nghĩ ấy, tôi đã thử tìm hiểu xem nhà nước mình đã tạo dựng được vốn liếng về vấn đề Biển Đông ra sao.

Thì đây: Sau khi tra đi rà lại mãi trên mạng, chỉ tìm được “nhõn” có một trang mạng chính thức hiếm hoi, ấy là cái trang “Nghiên cứu Biển Đông” có đường link http://nghiencuubiendong.vn của Học viện quan hệ quốc tế (?!).

Vô vô cùng hy vọng là tôi đã lầm! 

Rồi lại với ý thức “xem người để ngẫm lại ta”, tôi đã thử tìm hiểu xem nhà nước Trung Quốc, đối tác tranh chấp chính của chúng ta, đã tạo dựng được những vốn liếng gì về vấn đề Nam Hải (tức Biển Đông), và rồi đã không khỏi giật mình vì cách triển khai đầy bài bản và vững chãi của họ.

Dưới đây, xin được điểm qua một lượt những thông tin mà tôi đã nắm được (Rất mong đây sẽ là một trong những căn cứ tham khảo để đối chiếu với nước mình) :  

1) Viện nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc (National Institute for South China Sea Studies,NISCS).

Cơ quan nghiên cứu trực thuộc chính quyền tỉnh Hải Nam lấy nghiên cứu Nam Hải làm đối tượng, đồng thời tiến hành các giao lưu học thuật có liên quan, được sự chỉ đạo từ Bộ ngoại giao và Cục biển quốc gia về mặt chính sách và nghiệp vụ. Tiền thân của Viện nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc là “Trung tâm nghiên cứu Nam Hải Hải Nam” thành lập năm 1996, khi ấy chỉ là một cơ quan nghiên cứu đặt trong Phòng thông tin Văn phòng ngoại sự tỉnh Hải Nam .

Là cơ sở nghiên cứu vấn đề Nam Hải của Trung Quốc do Bộ ngoại giao ấn định. Tháng 7.2004, Quốc vụ viện chính thức phê chuẩn việc đổi tên Trung tâm nghiên cứu Nam Hải Hải Nam thành Viện nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc. Tháng 10.2006, việc xây dựng Viện nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc đã nằm trong dự án của quốc gia.

Ngày 24.9.2011, lễ khánh thành trụ sở Viện nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc đã được báo Hoàn cầu đưa tin với dòng tít: “Kho tri thức vấn đề Nam Hải cấp quốc gia của ta:  Viện nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc đã hoàn thành”.

Các lĩnh vực và nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của Viện:

–  Lịch sử Nam Hải và chủ quyền các đảo Nam Hải; 

–  Địa-chính trị của Nam Hải và chính sách Nam Hải của các nước xung quanh;

–  Luật biển trong các nghiên cứu phù hợp về khu vực Nam Hải; 

–  Nghiên cứu mang tính đối sách việc giải quyết hòa bình tranh chấp Nam Sa[i]

–  Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường… Nam Hải; 

–  Đào tạo và dự trữ các nhân tài chuyên trách giải quyết vấn đề Nam Hải và làm công tác nghiên cứu khoa học biển.

Bộ máy:

Ban nghiên cứu 1 (Viện nghiên cứu luật pháp và chính sách biển). Nghiên cứu lịch sử và pháp lý Nam Hải; địa hình khu vực Nam Hải; chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự, nhân văn, lịch sử… các nước xung quanh Nam Hải.

Ban nghiên cứu 2 (Viện nghiên cứu kinh tế biển). Nghiên cứu địa lý, địa chất, hàng hải, khí hậu và thảm họa Nam Hải; môi trường, tài nguyên của Nam Hải sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế và xã hội tiếp theo… 

2)  Trang mạng Lý luận cầu thị http://www.qstheory.cn/  của Tạp chí “Cầu thị” Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc mở cổng riêng “Phối cảnh vấn đề Nam Hải” (http://www.qstheory.cn/special/5625/) rất bề thế, hoành tráng.

3)  Cổng Kho lưu trữ (wenku.baidu.com) của trang baidu.com có chuyên đề “Nghiên cứu vấn đề Nam Hải Trung Quốc” lưu trữ và cung cấp tham khảo miễn phí hầu hết đầy đủ mọi nghiên cứu về vấn đề Nam Hải, dưới dạng ảnh có nội dung đi kèm.

4)  Công trình nghiên cứu (luận văn):  “Tổng thuật các nghiên cứu về vấn đề Nam Hải trong nước từ thập kỷ 90 thế kỉ 20 đến nay”.

5) Đội nghiên cứu khoa học nghiên cứu vấn đề Nam Hải thuộc Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế, chủ yếu nghiên cứu khoa học và thu thập các thông tin khoa học có liên quan đến Nam Hải, trong đó chú trọng công tác thu thập tin tình báo về động thái và tin tức nghiên cứu khoa học về Nam Hải trong ngoài nước. Mỗi năm ra một “Báo cáo nghiên cứu hàng năm về mối quan tâm đến Nam Hải”.

6) Trang mạng “Quan hệ quốc tế miền Nam online”, thuộc Trung tâm nghiên cứu ngoại giao mạng Trung Quốc, chính thức khởi động cổng thông tin của “Viện nghiên cứu vấn đề Nam Hải” vào ngày 25.4.2012.

7) Đài truyền hình Trung Quốc ngày 1.6.2012 đưa tin:  24 môn học về nghiên cứu vấn đề Nam Hải Hải Nam được nhận tài trợ của Quỹ khoa học xã hội quốc gia.

8)  Một cổng riêng thuộc trang mạng news.shangdu.com được khởi động với chủ đề “Những tin tức mới nhất về tình hình Nam Hải”, cập nhật hàng ngày hàng giờ mọi động tĩnh có liên quan đến Nam Hải.

9)  Trang “Mạng chia sẻ tư liệu học tập   Chuyên gia tìm kiếm kho lưu trữ” 87994.com  có chuyên mục “Giáo dục chủ nghĩa yêu nước:  Các bài giảng về vấn đề Nam Hải”.

10)  Ngày 10.8.2012, khu Giang Hán mời giáo sư Thiệu Vĩnh Linh thuộc Học viện chỉ huy pháo binh 2 họp báo cáo giáo dục quốc phòng với chủ đề “Tranh chấp Nam Hải: Bế tắc và lối thoát của Trung Quốc”. 

11) Trang mạng chính thức của Bộ quốc phòng Trung Quốc đưa tin Ban tuyển sinh đào tạo Trường đại học giao thông Hoa Đông tích cực hướng dẫn học sinh quốc phòng nhận thức vấn đề Nam Hải về lý tính.

12)  “Diễn đàn mạng giáo dục tiếp tục cho giáo viên trung tiểu học toàn quốc” mở chủ đề “Vấn đề Nam Hải”để trưng cầu ý kiến.

 13)  Trang mạng “Ngũ hỉ tạp chí” mở một chuyên mục “Giây lát giáo dục ý thức biển – Vấn đề Nam Hải”.

14)  Đưa vấn đề Nam Hải vào chương trình giảng dạy của nhà trường phổ thông[ii]

15)  Trong bài viết “Vấn đề Nam Hải với việc giáo dục chỉ dẫn” ngày 8.7.2012 ở trang blog.zzedu.net.cn có đưa một thông tin đáng chú ý:  “Đề nghe ghi học kỳ cuối bậc tiểu học 4 năm của Trung Quốc năm nay là một tài liệu về vấn đề tranh chấp Nam Hải, đây là một loại giáo dục chỉ dẫn”. 

Q.T.

Canh bài giàn khoan nước sâu của Trung Quốc

31 Th8

Canh bài giàn khoan nước sâu của Trung Quốc

Khi Trung Quốc khánh thành giàn khoan nước sâu đầu tiên hồi tháng 5, Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí ngoài khơi quốc gia nước này (CNOOC) đã gửi một thông điệp tới cấp trên cùng nhân viên về ý nghĩa của giàn khoan đối với tham vọng của Bắc Kinh ở nước ngoài.

TQ lại mời thầu dầu khí ở Biển Đông

TQ đóng tàu khu trục, lập căn cứ giám sát biển

“Các giàn khoan nước sâu cỡ lớn là lãnh thổ quốc gia di động và là một vũ khí chiến lược”, ông Vương Dĩ Lâm nói. CNOOC đang sử dụng giàn khoan để khoan ba giếng trong năm nay ở Biển Đông – vùng biển diễn ra tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa Trung Quốc và nhiều nước khác, cũng là nơi “đụng độ” giữa Bắc Kinh và Washington.

Vương giờ đây đang tập trung vào thỏa thuận trị giá 15,1 tỉ USD của CNOOC để mua lại công ty Nexen của Canada – một hợp đồng “bom tấn” cần có sự phê duyệt của Mỹ vì các tài sản năng lượng của Nexen ở vịnh Mexico.

Đây cũng là thỏa thuận mới nhất trong một vai trò kép mà Vương thừa nhận kể từ khi nắm quyền ở CNOOC năm ngoái: điều hành công ty như một doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài theo định hướng lợi nhuận đa quốc gia, và thúc đẩy nó như một tài sản chính trị và chiến lược ở trong nước.

Xung đột giữa hai vai trò này làm dấy lên những lo lắng ở chính Trung Quốc – nơi thậm chí một số người trong công ty của Vương cũng e ngại rằng, các động thái mang tính chính trị của CNOOC ở Biển Đông có thể bị xem là quá gây hấn. Vương dẫn dắt CNOOC để khẳng định yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở đây, bất chấp cạnh tranh chủ quyền với một số nước khác.

Ngoài ra còn có những quan ngại trong ngành công nghiệp dầu khí Trung Quốc, gồm nỗi lo về việc CNOOC tuyên bố thỏa  thuận với Nexen trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ – nơi mà vấn đề Trung Quốc đã trở thành vấn đề tranh cãi chính trị nóng bỏng. “Thời điểm có vẻ không hợp lý”, một người có quan hệ mất thiết với các công ty dầu khí lớn của Trung Quốc nói. “Nếu không thành công, nguy cơ thực sự rất lớn” với những công ty khác của Trung Quốc có tham vọng tại Bắc Mỹ.

Khuếch trương chính trị?

Các động thái gần đây của CNOOC dưới thời các nhà điều hành trong đó có Vương là sử dụng những thỏa thuận ở nước ngoài để thúc đẩy sự tín nhiệm chính trị. Nó xuất hiện trong bối cảnh Trung Quốc yêu cầu các tập đoàn nhà nước tìm kiếm kinh doanh vượt ra ngoài phạm vi bờ biển Trung Quốc, và đúng vào thời điểm Trung Quốc đang tìm kiếm những nhà lãnh đạo trẻ tuổi hơn có hiểu biết quốc tế và năng lực kinh doanh.

“Nó sẽ là niềm tự hào chính trị” nếu Vương có thể thành công trong thỏa thuận với Nexen, người viết về các nhà điều hành dầu khí Trung Quốc tại Viện Brooking ở Washington – Erica Downs – cho biết. Vương, 55 tuổi, xem ra đang cạnh tranh cho một vị trí cao hơn, các nhà phân tích và người thông hiểu những hoạt động của CNOOC đánh giá.

Là một tập đoàn dầu khí ngoài khơi chính của Trung Quốc, CNOOC trở thành công ty Trung Quốc có dính líu nhiều nhất với Biển Đông.

CNOOC hồi tháng 6 tuyên bố mở vòng thầu mới các lô dầu khí cho những đối tác nước ngoài. Các lô này nằm trong phạm vi mà Việt Nam khẳng định thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình theo Công ước LHQ về Luật Biển.

 

Vương bắt đầu sự nghiệp của mình tại bộ Xăng dầu Trung Quốc sau khi có tấm bằng cử nhân ngành thăm dò và địa chất dầu khí tại Trung Quốc năm 1982. Sau khi bộ này giải tán và được thay thế bởi Tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC), Vương dành thời gian những năm 1990 và đầu 2000 ở cương vị điều hành CNPC tại khu vực giàu tài nguyên Tân Cương. Một quan chức CNPC cho biết, Vương “khá khiêm tốn” trong công ty nhưng được xem là người có thẩm quyền cao.

Sau khi thăng tiến lên vị trí thứ ba trong CNPC năm 2003, Vương đã đảm nhận vai trò dẫn dắt CNOOC năm ngoái trong cuộc tái cơ cấu ngành công nghiệp dầu khí Trung Quốc.

Vương được tin là có sự ủng hộ chính trị lớn. Một người nói rằng, công việc của Vương ở Biển Đông dường như là nỗ lực để “khuếch trương” sự tín nhiệm chính trị, thể hiện rằng ông có thể bảo vệ các lợi ích của Bắc Kinh ở một trong vùng tranh chấp nhạy cảm nhất của khu vực.

Thái An (theo Wall Street Journal)

Mỹ đối mặt với thách thức mang tên “Trung Quốc” – TVN

30 Th8

M đi mt vi thách thc mang tên “Trung Quc”

Bài phản hồi của thượng nghị sĩ James Webb đăng trên tờ Wall Street Journal có đưa ra một lời cảnh báo mạnh mẽ dành cho người sẽ làm ông chủ Phòng Bầu dục của Nhà Trắng sau ngày nhậm chức tháng Giêng, dù đó là tổng thống Obama đương nhiệm trong nhiệm kỳ thứ hai hay đối thủ Mitt Romney của đảng Cộng hòa trong nhiệm kỳ đầu tiên.

>>Mỹ nên làm gì ở biển Đông?/ “Công xưởng thế giới” đối mặt thách thức/ Giáo dục trước hết là tự giáo dục/ Tiền bị đổ xuống sông Potomac

Jim Webb, Đảng viên Dân chủ bang Virginia, người sẽ rời chiếc ghế tại Thượng viện sau cuộc bầu cử tháng 11, kêu gọi quan tâm tới việc Trung Quốc ngày càng quả quyết trong việc áp đặt các tuyên bố chủ quyền tại khu vực rộng lớn và xa xôi ở châu Á, bao gồm 200 đảo (trong nhiều trường hợp chỉ là những đảo đá nhỏ không người sinh sống nhưng quan trọng về chiến lược) và hai triệu km2 biển.

Vị nghị sĩ này viết: “Vì tất cả những mục đích thực tế, Trung Quốc đã đơn phương quyết định sáp nhập một khu vực trải rộng từ một bên của Đông Á là Philippine, kéo dài xuống phía nam, tới tận eo biển Malacca”. Yêu sách chủ quyền lãnh thổ “hoành tráng” này, bao gồm gần như toàn bộ Biển Đông, xung đột với tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng với Trung Quốc trong khu vực, bao gồm Việt Nam, Nhật Bản và Philippine.

Bất chấp những phản đối từ các bên, Trung Quốc đã thành lập một “thành phố” mới gọi là “Tam Sa”, với trụ sở đặt tại một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và chịu sự quản lý trực tiếp của chính quyền trung ương Trung Quốc tại Bắc Kinh.

Quần đảo Hoàng Sa cách phần cực nam của lãnh thổ Trung Quốc hơn 200 dặm (hơn 320km) về phía nam, và trong suốt nhiều thập niên Việt Nam luôn tuyên bố chủ quyền. Nhưng từ nay, các đảo này sẽ có tòa nhà văn phòng của 45 nghị sĩ Trung Quốc được bổ nhiệm quản lý cơ quan hành chính mới này, cùng với một Ủy ban thường trực gồm 15 thành viên, một thị trưởng và một phó thị trưởng.

Điều rủi ro ở đây chính là vấn đề khả năng kiểm soát các tuyến đường biển, quyền khai thác cá và trữ lượng khoáng sản lớn, cũng như vấn đề ai sẽ nắm ưu thế chiến lược trong khu vực. Trung Quốc dường như có xu hướng muốn giành giật sự thống trị chiến lược đó với Mỹ để có thể trở thành cường quốc chi phối khu vực. Và như vậy khả năng duy trì ổn định – và cả thịnh vượng – trong mấy thập niên gần đây của Mỹ trong khu vực sẽ biến mất.

 Ông Jim Webb không phải là người đầu tiên đưa ra một lời cảnh báo như vậy, nhưng bài viết của ông nhấn mạnh thực tiễn trung tâm trong vở kịch đang diễn ra này – nghĩa là, vở kịch đang diễn ra nhanh hơn đa số người Mỹ nhận ra.

Châu Á đang chờ xem liệu Mỹ, như cách nói của nghị sĩ Jim Webb, “có đáp ứng vai trò dù không dễ chịu những cần thiết là người đảm bảo ổn định cho Đông Á hay không, hay liệu khu vực sẽ một lần nữa bị chi phối bởi tình trạng gây hấn và đe dọa”.

Trung Quốc hiện nay thể hiện là mối đe dọa địa chính trị cơ bản nhất đối với Mỹ, và từ rất lâu rồi người ta mới thấy cần thiết Mỹ phải cứng rắn và lý trí như hiện nay trong vấn đề mối thách thức Bắc Kinh. Do vậy, vị tổng thống của năm tới không chỉ phải đối phó với thách thức này, mà ông còn phải trang bị cho đất nước sẵn sàng đương đầu với nó. Điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ phải thực hiện những yêu cầu chính sách cấp bách.

Thoát khỏi Afghanistan một cách êm đẹp: Khi nhậm chức, Tổng thống Obama đẩy cao sứ mệnh Afghanistan để tiến hành một nỗ lực chống nổi dậy có ý nghĩa quan trọng, nghĩa là tập trung vào xây dựng đất nước. Kể từ đó, ông đã hạ thấp dần sứ mệnh này theo khái niệm gọi là “Afghanistan đủ tốt”. Ý nghĩa chính xác của cum từ đó là gì không được vị tổng thống này công bố rõ, nhưng ông đã nói, đến cuối năm 2014, Afghanistan sẽ “chịu trách nhiệm hoàn toàn cho an ninh của mình”.

Vì mối đe dọa Trung Quốc, “Afghanistan đủ tốt” đã thực sự chưa đủ tốt. Và thời hạn 2014 mơ hồ, việc không có lời giải thích rõ ràng Mỹ sẽ tiếp tục nỗ lực như thế nào sau thời điểm đó, rõ ràng chưa thể mang đến sự minh bạch chính sách mà nước này cần. Trong cuốn sách về chính sách đối ngoại của Obama, Confront and Conceal (Đối đầu và Che giấu), tác giả David E. Sanger của tờ New York Times viết, trong vòng một chục năm tới, du khách ghé thăm đất nước này sẽ gần như không còn thấy dấu vết gì từ cuộc thí nghiệm của Mỹ tại đây – “ngoài những thiết bị và căn cứ quân sự”.

Tuy vậy, trên thực tế, Afghanistan gần như không cần các căn cứ Mỹ. Al Qaeda đã bị xóa sạch khỏi khu vực (mặc dù vẫn còn gây rắc rối ở một số nơi); Taliban không còn là mối đe dọa lớn đối với Mỹ; Afghanistan sẽ đi trên con đường của mình, như họ đã đi trong bao thế kỷ qua bất chấp những nỗ lực khuất phục đất nước của họ; và Mỹ không đủ sứ duy trì một nỗ lực như vậy về cả xương máu, tiền của và sự tập trung.

Thương lượng với Nga: Trong cuốn sách mới đây, The Revenge of Geography (Sự trả thù địa lý), Robert D. Kaplan viết, sở dĩ trung Quốc có khả năng triển khai lực lượng ra Thái Bình Dương là nhờ họ đã làm chủ được tình hình tại các biên giới đất liền Trung Á, “từ Mãn Châu Lý (Manchuria, thuộc Đông Bắc Á, một phần thuộc đông bắc Trung Quốc, một phần thuộc Viễn Đông của Nga) vòng ngược trở lại Tây Tạng”. Ông giải thích: “Chỉ cần tiến ra biển với một phong thái như vậy, Trung Quốc đã chứng tỏ vị thế lợi thế của mình trên đất liền tại trung tâm của châu Á”. Nhưng lợi ích của Nga sẽ không phải là cho phép Trung Quốc ung dung tự tại ở biên giới phía tây của mình, để mà thuận lợi tăng cường ảnh hưởng tại  Trung Á và kiểm soát việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên quý giá tại đó. Mỹ (và cả Nga) cũng không có lợi ích khi để Trung Quốc cứng rắn trong các yêu sách chủ quyền lãnh thổ tại Thái Bình Dương chỉ vì cảm thấy an toàn với tình hình đất liền của mình.

Do vậy, nếu Trung Quốc trở thành mối đe dọa chiến lược lớn nhất đối với Mỹ, một mối quan hệ vững chắc với Nga chính là yêu cầu chiến lược cấp bách nhất. Đã đến lúc Mỹ bỏ qua những sự không hài lòng với các vấn đề quản trị và nạn tham nhũng của Nga. Dù Nga có thể gây phiền toái, nhưng gần như không mang tính thách thức như thời kỳ Franklin Roosevelt và Winston Churchill trong chiến tranh thế giới thứ hai. Là một cường quốc khu vực, Nga có lợi ích khu vực chính đáng, và Mỹ nên thừa nhận chúng và lưu tâm trong nỗ lực thiết lập một mối quan hệ chắc chắn và đôi bên cùng có lợi với Nga – một mối quan hệ, nếu cần thiết, có thể giúp ích trong bất kỳ cuộc đối đầu nào trong tương lai với Trung Quốc.

Tránh chiến tranh với Iran: Mỹ hiện đang trên đường tham chiến với Iran, và đó là con đường được trải sẵn bởi Israel, nước đã đưa ra lời đe dọa về khả năng đơn phương tấn công chống lại Iran để khiêu khích lập trường của Mỹ đối với quốc gia Hồi giáo này. Cho đến nay, Thủ tướng Israel  Benjamin Netanyahu đã thuyết phục thành công Obama không cho Mỹ có bất kỳ ý định nào chấp nhận một Iran có vũ khí hạt nhân (không đồng nghĩa với một chính sách răn đe).

Điều đặt ra câu hỏi liệu Mỹ có nên cho phép – hay liệu Iran có chấp nhận – một mức độ làm giàu uranium thấp hơn chỉ phục vụ cho mục đích hòa bình. Netanyahu phản đối cách tiếp cận như vậy, và cho rằng cách tiếp cận như vậy chưa chắc sẽ mở đường cho việc giải quyết hòa bình vấn đề này trong mọi trường hợp. Nhưng những lệnh chừng phạt quyết liệt hiện nay sẽ không tự nó giúp đạt được một phản ứng như mong muốn từ phía Iran nếu phản ứng đó bị cho là một sự xỉ nhục đối với Iran.

Đó là lý do cách tiếp cận làm giàu uranium vì mục đích hòa bình sẽ giúp mở lối cho tư duy của Mỹ về vấn đề này, ngay cả khi nó có nghĩa là một sự đoạn tuyệt thẳng thừng với Netanyahu. Người Mỹ sẽ ủng hộ tổng thống trong những trường hợp như vậy nếu tổng thống có thể xóa đi những rủi ro liên quan. Các nhà lãnh đạo Mỹ không nên dấn sâu vào những hoạt động huyên náo của báo chí như trong trang bìa tuần trước của tờ The Weekly Standard, đăng một bức ảnh lãnh tụ tối cao của Iran Ali Khamenei dưới dòng tít: “Kẻ nguy hiểm nhất thế giới”. Nhưng thực tế, mối đe dọa lớn nhất của Mỹ ở cách xa con người này hàng nghìn dặm. Và Mỹ không nên cố đối đầu quân sự với Iran, nếu có thể tránh được, bởi một cuộc xung đột như vậy sẽ phá tan nền kinh tế toàn cầu và có khả năng gây bất ổn lan rộng trong khu vực.

Mỹ không nên giẫm chân lên đất Hồi giáo nữa: Trung Đông đang trong mớ bòng bong, cả khu vực đang trong nguy cơ bị bất ổn bởi nội chiến Syria. Các sự kiện tại đây có thể giáng một đòn mạnh vào lợi ích của Mỹ, phương Tây và phần lớn các nước công nghiệp. Hành động quân sự của Mỹ thực tế tỏ ra là cần thiết để ổn định khu vực nhưng Mỹ nên cố hết sức để tránh một biện pháp như vậy. Một sự can thiệp nữa của Mỹ vào khu vực sẽ gây kích động phong trào chống đối rất cao. Nhưng việc đứng ngoài và quan sát cũng không phải là một chính sách hợp lý. Tình hình hiện nay đòi hỏi những nỗ lực khôn khéo, sáng tạo và âm thầm, luôn phối hợp với các cường quốc hồi giáo trong khu vực, đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ, để tránh một kết cục tồi tệ nhất và giữ tình hình Iran dưới tầm kiểm soát tốt nhất có thể. nên hết sức hạn chế áp lực đòi Mỹ tham gia vào Syria vì lý do nhân đạo cũng.

Nhu cầu tăng trưởng kinh tế: Obama chưa phải là một tổng thống thành công trên mặt trận kinh tế. Tăng trưởng kinh tế yếu đuối trong gần như suốt giai đoạn ông làm tổng thống. Điều này đòi hỏi phải thay đổi lập tức. Nhưng giải quyết vấn đề tăng trưởng không gây trầm trọng thêm vấn đề nợ vốn rất gay gắt của nước này sẽ không dễ dàng. Đó là lý do tại sao nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo phải dành nhiều thời gian cho một cuộc cải cách tài chính toàn diện nhằm giải quyết tình trạng chi tiêu liên bang không kiểm soát và một cuộc cải cách thuế toàn diện để vừa giảm thuế vừa xóa bỏ phần lớn những ưu đãi thuế, bao gồm nhiều ưu đãi bị coi là không thể đụng chạm trong suốt nhiều thập niên. Chỉ có cách khôi phục lại sức mạnh tài chính Mỹ mới có thể đối phó với các thánh thức lớn kiểu như đang xuất hiện tại châu Á. Nhưng điều này đòi hỏi một sự ủng hộ rộng rãi cho vai trò lãnh đạo của tổng thống, một thứ lãnh đạo mà nước Mỹ đã không thấy từ lâu.

Như bài viết của Webb trên Wall Street Journal vừa làm rõ, Obama đã khôn ngoan khi kịp thời “chuyển hướng trọng tâm” về châu Á. Nhưng như vậy đơn giản là chưa đủ nếu chỉ chuyển trọng tâm, thiếu quyết liệt trong chính sách đối ngoại châu Á và những tuyên bố về các vấn đề. Như Webb viết, “Vấn đề là liệu Trung Quốc năm 2012 có thực sự muốn giải quyết các vấn đề thông qua các chuẩn mực quốc tế được chấp nhận, và liệu nước Mỹ năm 2012 có ý chí và khả năng khẳng định cách tiếp cận này chỉ là con đường dẫn tới ổn định hay không”.

Chính sách giải quyết thách thức này của Mỹ vẫn còn là câu hỏi còn bỏ ngỏ. Nó đòi hỏi ngoại giao khôn khéo, hợp lý, linh hoạt nhưng cũng cứng rắn, kết hợp với quyết tâm và hiểu biết rõ ràng về những rủi ro liên quan. Nhưng cũng cần phải nhận ra rằng Mỹ phải tập trung vào các ưu tiên, phải chấp nhận không thể làm mọi thứ ở mọi nơi trên thế giới, và phải tránh mất tập trung khi đối mặt với những thách thức khó khăn nhất. Trong số những thách thức, không có thách thức nào cấp bách cần giải quyết hiện nay hơn thách thức Trung Quốc.

Robert W. Merry. Đình Ngân dịch

Robert W. Merry là biên tập của tờ The National Interest và tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử và chính sách đối ngoại nước Mỹ. Tác phẩm mới nhất của ông là Where They Stand: The American Presidents in the Eyes of Voters and Historians.

 

TQ ‘bất an’ trước chuyến đi của Hillary Clinton – VNN

30 Th8

 TQ ‘bất an’ trước chuyến đi của Hillary Clinton

 Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đang bắt đầu cho chuyến công du châu Á, tới nhiều quốc gia từ một Trung Quốc trỗi dậy tới những đảo quốc nhỏ bé. Giới phân tích cho rằng, “sự thẳng thắn” của bà khi đề cập tới các điểm nóng trong khu vực sẽ làm gia tăng sự “khó chịu” của Bắc Kinh.

Giữa một chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ, cựu ứng viên phải đảm nhận sứ mệnh khó khăn với nỗ lực khắc họa Washington như “dây neo” của sự ổn định trong một khu vực mà Trung Quốc đang ngày càng có nhiều tranh chấp với các láng giềng.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Ảnh: Minh Thăng

Điểm đến đầu tiên của bà Clinton là quần đảo Cook – dân số chỉ có 11.000 người. Bà là Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên tham dự một hội nghị thượng đỉnh hàng năm của các đảo quốc Nam Thái Bình Dương – nơi ảnh hưởng Trung Quốc đang lan rộng.

Ngoại trưởng Clinton sẽ tới Trung Quốc hôm thứ ba tuần tới. Các trợ lý nói bà sẽ có cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và những quan chức hàng đầu khác của Trung Quốc; đề cập tới hàng loạt vấn đề giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, kể cả chuyện tranh chấp hàng hải.

Trong một tuyên bố mạnh mẽ khác thường, Mỹ gần đây đã chỉ trích Trung Quốc làm leo thang căng thẳng và cảnh báo sẽ chống lại chiến thuật “chia để trị” sau khi Bắc Kinh quyết định lập một đơn vị đồn trú trên một khu vực tranh chấp ở Biển Đông – vùng biển chiếm một nửa vận chuyển hàng hóa thương mại của thế giới.

Hãng Tân hoa của Trung Quốc đã cáo buộc Ngoại trưởng Clinton đang nỗ lực “kiềm chế ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc” và nói rằng, chiến lược cốt lõi của Mỹ là để “bảo vệ sự thống trị và bá quyền ở châu Á – Thái Bình Dương”.

Trước đó, Tân hoa xã còn dành những ngôn từ khó nghe hơn cho Mitt Romney – ứng viên chính thức của đảng Cộng hòa tranh cử tổng thống Mỹ vào ngày 6/11. Hãng này nói rằng, sự cứng rắn của ứng viên này khi đề cập tới vấn đề Trung Quốc, từ chuyện Đài Loan tới tỉ giá tiền tệ, có thể “đầu độc” quan hệ Mỹ – Trung.

Một quan chức cấp cao của Mỹ nói rằng, bà Clinton mong muốn tất cả các bên “tránh những hành động khiêu khích” và bà sẽ trao đổi với Indonesia, Brunei về những hành động ngoại giao tương lai hướng tới bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

Trước chuyến công du của Ngoại trưởng Hillary Clinton, quan chức Mỹ cho biết, tại châu Á, bà Clinton sẽ cảnh báo chống lại việc sử dụng vũ lực giữa Trung Quốc và các láng giềng giữa bối cảnh căng thẳng gia tăng xung quanh tranh chấp biển.

Ernie Bower của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế nói rằng, chuyến thăm của bà Clinton – chuyến thứ ba tới châu Á kể từ tháng 5 – là một phần nỗ lực để “thể chế hoá” sự hiện diện của Mỹ ở châu lục, đặc biệt là Thái Bình Dương.

Ngoại trưởng Mỹ trong chuyến đi lần này còn sẽ phải đối mặt với việc gia tăng căng thẳng vì tranh chấp lãnh thổ giữa Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. “Tôi phải nói rằng, căng thẳng bùng phát gần đây giữa Nhật Bản và Hàn Quốc khiến Mỹ lo ngại và chúng tôi lần nữa thúc giục các bên kiềm chế, bình tĩnh”, quan chức Mỹ nói. Mỹ hy vọng hai đồng minh quan trọng của mình ở châu Á sẽ cùng làm việc khi phải đối mặt với một Trung Quốc trỗi dậy và một Triều Tiên có vũ khí hạt nhân.

Ngoài việc là ngoại trưởng Mỹ đầu tiên tham dự Diễn đàn các đảo quốc Thái Bình Dương, bà Clinton sẽ là ngoại trưởng Mỹ đầu tiên thăm Đông Timor. Với chuyến công du tới Brunei, bà trở thành Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên tới thăm toàn bộ 10 nước ASEAN.

 

Thái An (theo Inquirer)

Chùa gần 1.000 tuổi trước và sau khi phá dỡ – VNE

30 Th8

Chùa gần 1.000 tuổi trước và sau khi phá dỡ

Toàn bộ dui mè, xà cột, ngói, bậc đá… của nhà Tổ, gác Khánh bị phá đi, thay mới đã khiến di tích chùa Trăm Gian (Hà Nội) mất đi vẻ cổ kính. Chiều nay, Hà Nội sẽ họp bàn hướng xử lý đối với di tích quốc gia này.
> Sai phạm khi tu bổ di tích chùa Trăm Gian / ‘Tu bổ chùa Trăm Gian gây thiệt hại không trầm trọng’

Gác Khánh mới được làm mới hoàn toàn và cao hơn trước. Công trình đang được phủ bạt chờ quyết định tu bổ lại sau đợt phá dỡ vừa qua.
Bậc đá dẫn lên tiền đường đã bị thay mới bằng đá xanh, chỉ có 2 tay vịn đầu và cuối bậc thang còn được giữ nguyên trạng.
Những phiến đá cổ (đẽo thủ công) còn khá nguyên vẹn sau khi được đào ra, vứt chỏng chơ ngay trước tiền đình.
Các gian thờ hai bên hành lang bị thay mới hoàn toàn với chân đá, cột kèo, hoa văn không còn như xưa.
Các hoa văn khắc gỗ trên kèo của gian thờ Tổ không hề giống với di tích cũ.
Một thanh kèo cũ trên gác mái còn rất tốt được dùng để kê xẻ cây gỗ mới phục vụ việc tu sửa chùa.
Các chi tiết trên gác mái hoàn toàn sai lệch và kém tinh xảo so với trước đây.
Chân cột bằng đá trong gác Khánh (bị chất đống sau vườn) được thay bằng chân đá mới với những hoa văn khác biệt hoàn toàn, mặc dù mới thay nhưng cũng đã sứt mẻ phần nào.
Các bức tranh tượng khắc gỗ trong chùa bị sơn lại lòe loẹt bằng sơn công nghiệp, hoặc được thay thế bằng những bức tranh mới.
Trong đống cột gỗ ngổn ngang được cho là đã mục ruỗng hết thì còn nhiều cây gỗ vẫn còn rất tốt và chắc nịch.
Những phiến đá được xẻ sẵn bằng máy bên cạnh đống đá cổ đã bị vụn nát sau đợt tu sửa chùa.

Anh Tuấn

 

Ý kiến bạn đọc ( 7 )
 

Quá đau xót

Quá đau xót. Những công trình gần 1000 năm tuổi bị tàn phá bởi những kẻ thiếu hiểu biết. Một ngày đến đây, chỉ cần được sờ, được chạm vào những văn hóa cổ xưa, ta sẽ thấy quí trọng, thấy được giá trị và sự thiêng liêng của cha ông xưa đã để lại. Không hiểu sao lại không lắp và kê giàn giáo hoặc các cột thép để chống và đỡ các cột và các mái. Vừa giữ được chùa, lại vừa giảm được chi phí, lại không phải phá rừng lấy gỗ. Hãy học cách bảo tồn các công trình xưa từ các chuyên gia nước ngoài. Thật đau xót quá.

 

Hoàng Nam   |   7 giờ 32 phút trước Thích   |   92

Thái độ quản lý di tích văn hóa quá kém!

Sáng nay tôi đọc được câu nói của một vị quan chức nào đó rằng “Mức độ như vậy là chưa nghiêm trọng”! Khi đọc xong tôi chỉ biết thở dài ngao ngán, trình độ quản lý “quá xuất sắc” như vầy chắc sẽ còn không ít các di tích cổ xưa bị tàn phá! Biết bao giờ thái độ trân trọng lịch sử của những nhà quản lý ở ta mới bằng được các nước khác nhỉ! Chưa cần bàn đến những kỹ thuật để bảo tồn, chỉ mới thái độ thôi cũng đã kém quá rồi! Buồn!

 

Hai Lúa chánh hiệu   |   7 giờ 27 phút trước Thích   |   75

Chùa trăm gian

đau xót khi nhìn vào các hình ảnh trên . nét trạm trên gỗ cách đây 1000 năm đã bị phá huỷ và vứt bỏ không thương tiếc và không có tiền nào mua lại được. xử lý nghiêm toàn bộ những người có liên quan trong vụ này và cố gắng phục chế lại toàn bộ những gì có thể của di tích cũ .

 

Ngô quang Mùi   |   7 giờ 28 phút trước Thích   |   53

tội lỗi với Tiền nhân cùng con cháu muôn đời sau

Nhìn những hình ảnh, thấy đau lòng quá. Đâu phải một cá nhân điên rồ nào làm ! Thật sự là hết biết nói gì với các bậc Tiền nhân cũng như với con cháu muôn dời sau !

 

trần kim lương   |   7 giờ 24 phút trước Thích   |   47

Không thể tưởng tượng

Thật là không thể tưởng tượng nổi, các ban , ngành liên quan đã làm những gì mà ra nông nỗi này? Các quan thì đã vậy, còn các sư thầy trụ trì ở đó thì sao? nếu phá đi tất cả và xây dựng lại, thì đó là chùa mới chứ có còn gì là lịch sử?

 

quang vinh   |   7 giờ 37 phút trước Thích   |   46

Xót xa quá!

Đến bao giờ mới có được những di tích lịch sử như vậy chứ!

 

ngô đình chung   |   7 giờ 36 phút trước Thích   |   40

Bức xúc

Thật không thể tưởng tượng nổi tại sao người ta lại có thể làm một việc như vậy. Bức xúc.

Condi Rice gây choáng tại hội nghị đảng Cộng hòa – VNN

30 Th8

Condi Rice gây choáng tại hội nghị đảng Cộng hòa

 

“Chúng ta không thể lãnh đạo từ phía sau”, cựu ngoại trưởng Condoleezza Rice đã làm chấn động hội nghị toàn quốc đảng Cộng hòa bằng bài phát biểu về chính sách ngoại giao và khiến nhiều người thắc mắc liệu bà có ý định trở lại chính trường.

 


Trong khi phần lớn sự tập trung sẽ được dồn vào ngôi sao mới của đảng Cộng hòa Paul Ryan sau bài phát biểu gây kích thích vào tối 29/8 của ông này, thì hai nhân vật kỳ cựu của đảng Cộng hòa cũng có màn thể hiện sôi nổi trên sân khấu là cựu Ngoại trưởng Rice và cựu ứng viên Tổng thống – thượng nghị sĩ John Mc.Cain.

Bài phát biểu của cả hai nhân vật trên đều tập trung vào chính sách ngoại giao và bài phát biểu của bà Rice ngay lập tức khiến nhiều nhà phân tích dự đoán liệu bà có đang định trở lại chính trường.

“Một trong hai thứ sẽ xảy ra nếu chúng ta không lãnh đạo. Không có ai lãnh đạo, hỗn loạn sẽ xảy ra hoặc ai đó lấp vào chỗ trống, người mà không chia sẻ các giá trị với chúng ta”, bà Rice nói và bổ sung Mỹ “không thể lãnh đạo từ phía sau – lời nói ám chỉ tới chính sách ngoại giao của Obama.

Rice bắt đầu bài phát biểu bằng việc nhắc lại các cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 và nói thêm có một mối đe dọa khác, đó là kinh tế, có thể hủy hoại vị thế của Mỹ trên thế giới.

“Khi thế giới nhìn vào chúng ta ngày hôm nay, họ sẽ thấy một chính phủ Mỹ không thể tự sống bằng tiềm lực. Thế giới biết rằng khi một nước đánh mất quyền kiểm soát tài chính, nó sẽ mất luôn sự kiểm soát vận mệnh của chính mình”.

Condoleezza Rice, Ngoại trưởng Mỹ thời Tổng thống George W. Bush, trước đó khẳng định Romney và Ryan sẽ biết phải làm gì trong chính sách ngoại giao và chấm dứt những yếu kém nguy hiểm dưới thời Obama.

Ngoài việc tiếp thêm sinh lực cho đám đông với những cam kết và chính sách, phần lớn hội nghị toàn quốc của đảng Cộng hòa được thiết kế để cử tri có thể nhìn thấu cuộc sống riêng tư và nền tảng những ngôi sao hàng đầu của đảng.

  • Hoài Linh (Theo Daily Mail)

An ninh biển Đông Nam Á: Cần quản trị tốt, liên thông

30 Th8

An ninh biển Đông Nam Á: Cần quản trị tốt, liên thông

Để tăng cường hợp tác, các nước trong khu vực phải xử lý bốn thách thức lớn.

>>Biển Đông: Khi Ấn Độ lên tiếng…/ Bầu cử Mỹ: Mùa đại hội bắt đầu/ Việt Nam giữa ba tầng tranh chấp Biển Đông/ Hành trình mới của SHB với Bianfishco?

 

Liên tục trong 6 tháng qua, chuỗi 4 hội thảo do Diễn đàn Thái Bình Dương thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (Mỹ) phối hợp với lần lượt các cơ quan nghiên cứu của Philipin, Việt Nam, Malaysia và Indonesia tổ chức đã diễn ra từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2012 với sự tham gia của hàng trăm lượt quan chức và học giả từ các nước ASEAN, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, New Zealand, Australia và Trung Quốc.

Nội dung thảo luận tập trung vào các chủ đề liên quan đến an ninh biển Đông Nam Á, chủ yếu đối với các vùng biển quan trọng như biển Đông, biển Sulu/Sulawesi, eo Malacca, Vịnh Thái Lan.

Đây là các lĩnh vực rộng lớn, phức tạp bao hàm một loạt các vấn đề như nhiều tranh chấp chủ quyền biển đảo chưa được giải quyết, nhu cầu hợp tác khu vực trong quản trị đại dương ngày càng trở nên cấp thiết, chiến lược và chính sách biển của nhiều bên không rõ ràng. Đó là chưa kể các vấn đề có liên quan khác như quyền và nghĩa vụ của quốc gia quần đảo, quy chế quần đảo, quản lý các eo biển, biển kín, biển nửa kín, hoạt động dầu khí, cơ chế giải quyết tranh chấp, khả năng khai thác chung tại một số vùng biển, xây dựng năng lực và các hoạt động chấp pháp tại các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.

Bối cảnh mới

Những chủ đề này càng thu hút sự tranh luận sôi nổi của giới học giả khu vực do những diễn biến mới về chính sách và trên thực địa.

Thứ nhất, gần đây nhiều diễn biến đã diễn ra trái với mong muốn của nhiều nước khu vực, từ những căng thẳng ngoại giao xung quanh sự kiện bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham đến những động thái nhằm tiếp tục cụ thể hóa “đường lưỡi bò” của “chín con rồng đói” Trung Quốc.

Thứ hai, trong khi đó Mỹ tiếp tục triển khai trên thực tế chiến lược tái cơ cấu lực lượng theo hướng dành ưu tiên chủ đạo cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương; Thượng viện thông qua Nghị quyết về biển Đông.

Thứ ba, bất chấp nhiều khó khăn nội bộ, các nước ASEAN đã đạt được nhất trí về các thành tố cơ bản cho DOC/COC, trong khi việc đàm phán với phía Trung Quốc phải chờ ít nhất đến tháng 9 năm nay.

 

Ảnh: Lê Anh Dũng

 

Thứ tư, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia và một số nước gần đây có những động thái sẽ tăng cường hợp tác an ninh với các nước ven biển ở Đông Nam Á, tiếp tục nới lỏng các thủ tục nội bộ về chuyển giao công nghệ và hỗ trợ xây dựng năng lực chấp pháp quốc tế.

Cuối cùng, trước những diễn biến mới đó, nhu cầu hợp tác an ninh biển tiếp tục trở nên ngày càng trở nên cấp thiết như bảo đảm an ninh năng lượng, chống cướp biển, bảo vệ môi trường, nghề cá, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, xác định các tuyến đường biển khu vực để giải quyết mâu thuẫn giữa quy định “qua lại vô hại” theo quy định của UNCLOS 1982 và việc xác lập các “vùng biển nhạy cảm” hay các “vùng biển được bảo vệ” (MPA), việc thực thi các quy định của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) về an toàn hàng hải và đặc biệt là tính phi lý của “đưỡng lưới bò”…

Rào cản hợp tác

Mặc dù vậy, để tăng cường hợp tác, một số đại biểu cho rằng các nước liên quan phải xử lý bốn thách thức cơ bản sau.

Trước hết là vấn đề năng lực của các nước ven biển. Do điều kiện hạn chế về tài chính, công nghệ, chấp pháp, nhiều nước chưa thể triển khai các cơ chế hợp tác quản trị đại dương và biển như mong muốn. Mặt khác, việc tăng cường năng lực của một quốc gia có thể dễ dẫn đến sự diễn giải như “chạy đua vũ trang”, tạo nên tình huống “lưỡng nan về an ninh” ngoài mong đợi.

Tiếp đến, việc “chính trị hóa” an ninh biển khiến khả năng hợp tác chung trở nên khó khăn hơn. Rõ ràng do chủ quyền quá quan trọng với nhiều bên nên môi trường biển đã không được bảo vệ và phát triển một cách thích đáng. Ví dụ các nước có thể tăng cường phối hợp nghiên cứu khoa học (trên thực tế, không chỉ trên giấy tờ) trong khi tiếp tục thương lượng chủ quyền. Nhưng vấn đề này lại không hề đơn giản vì trước hết các bên liên quan phải trả lời được các câu hỏi: khu vực khai thác ở đâu, với những đối tác nào, trong lĩnh vực gì và cơ chế hợp tác ra sao.

Chỉ riêng vấn đề xác định khu vực khai thác chung đã gây tranh cãi. Không nước nào nhất trí khai thác chung ở vùng biển mà họ cho là chỉ thuộc chủ quyền và quyền tài phán của họ.

Một thách thức khác là chưa tồn tại trên thực tế một mô hình quản trị chung hiệu quả. Liệu mô hình hợp tác đó sẽ là do một nước/nhóm nước lãnh đạo, hay một mô hình hài hòa chính sách giữa tất cả các bên liên quan, trên cơ sở các cơ chế sẵn có như DOC/COC, ARF, Diễn đàn An ninh hàng hải Đông Nam Á, mô hình quản trị cộng đồng hay dựa vào pháp trị quốc tế như UNCLOS 1982, IMO?

Thử thách cuối cùng là việc diễn giải luật pháp và tình trạng vừa thiếu vừa chồng chéo nhiều quy định chung ví dụ như “quyền qua lại” vô hại trong vùng đặc quyền kinh tế hay liệu các đảo đá, bãi san hô, bãi cạn có hay không quy chế thềm lục địa, liệu quy định tàu dài hơn 24m hoạt động theo luật hàng hải quốc tế có áp dụng đối với các tàu cá… Các đại biểu cho rằng tuy có nhiều vùng và eo biển quan trọng như biển Đông, biển Sulu/Sulawesi, eo Malacca, các nước trong khu vực vẫn thiếu một cơ chế đồng bộ, nhất quán trong quá trình quản lý. Nhiều nước viện dẫn nội luật hoặc diễn giải luật quốc tế theo cách riêng để khẳng định chủ quyền hoặc thực hiện các hoạt động liên quan.

Cần cơ chế quản trị mới

Sự phối hợp để quản lý một vùng biển cụ thể hiện còn chưa hiệu quả trong khi đó, nhiều đại biểu cho rằng đã đến lúc Đông Nam Á cần một chế quản trị mới, liên thông giữa các vùng biển, eo biển trong khu vực và giữa các cơ quan trong một nước, vì một số nguyên nhân sau.

Một là, các tuyến đường biển quốc tế quan trọng theo các hướng Bắc-Nam, Đông-Tây tại Đông Nam Á trong nhiều năm qua đã kết nối, tạo ra các vấn đề chung giữa các các bên liên quan như tiêu chuẩn tàu bè, an ninh cảng biển, chống gian lận thương mại.

Hai là, việc giải quyết một vấn đề giữa các bên tại một vùng biển/ eo biển/quần đảo cụ thể sẽ tạo ra hệ lụy/tiền lệ cả về luật pháp và chính trị quốc tế cho tất cả các bên, kể cả những bên “sử dụng” như Mỹ, châu Âu, bởi vậy tư duy liên thông là cần thiết.

Ba là, việc quản trị liên thông sẽ đem đến hiệu quả cao hơn/chi phí thấp hơn vì các nước có thể chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ, tập quán, luật ứng xử chung. Trường hợp của Indonesia cho thấy, với hơn 2 triệu km2 biển, nước này không thể quản lý một cách hiệu quả các vùng biển mà không có sự hợp tác với các nước láng giềng.

Về cách thức hợp tác, một số học giả lại cho rằng cần bắt đầu từ những dự án hợp tác khiêm tốn như chia sẻ thông tin, lập đường dây nóng, giao lưu giữa các lực lượng chấp pháp, tăng cường xây dựng lòng tin.

Ngoài ra, các đại biểu cũng nêu thực tế giữa các vùng biển có sự khác biệt nhất định, do đó không nhất thiết áp dụng một cách tiếp cận chung. Ví dụ Vịnh Thái Lan và biển Đông có đặc thù riêng. Về cấu trúc vật lý, Vịnh Thái Lan “nông” hơn nhiều so khu vực biển Đông. Hiện nay ở Vịnh Thái Lan các bên liên quan đã có ký hơn 10 Hiệp định hợp tác và quá trình hợp tác nhìn chung thuận lợi hơn so với biển Đông do các tranh chấp tại đây hầu như đã được giải quyết.

Nhìn chung, để góp phần bảo đảm an ninh biển Đông Nam Á, cùng với việc thể hiện thiện chí hợp tác và kiềm chế, các đại biều đề xuất các bên liên quan cần có cơ chế quản trị tốt, liên thông hơn nữa giữa các cấp địa phương, quốc gia và khu vực.

Mời các bạn đón đọc kỳ II: An ninh biển Đông Nam Á: Đi tìm giải pháp hợp lý

Thạch Hà, từ Jakarta

Vài ý nghĩ về Thơ Việt hôm nay và những cách ứng xử với Thơ. THD

30 Th8

Vài ý nghĩ về Thơ Việt hôm nay và những cách ứng xử với Thơ.

Lạm bàn về Thơ (Nhà báo – Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn) 

Là một người yêu thơ, và đang làm một công việc có thể nói là lấy thơ ca làm gốc, tôi xin mạnh dạn góp mấy lời lạm bàn về hiện trạng trên.
 
Lạm bàn về Thơ (Nhà báo - Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn)
   
Thời gian dài vừa qua, đời sống văn hóa & tinh thần nói chung, đời sống văn chương nói riêng đã diễn ra tình trạng loạn chuẩn tới mức báo động, và nổi lên những hiện tượng kỳ dị- nổi bật nhất là tình trạng “lạm phát thơ” ( như tên một bài viết), mà đỉnh cao (hay thực chất là biến tướng quái đản của nó) là hiện tượng người làm thơ dám tự nhận “mượn bút tiền nhân”…

Là một người yêu thơ, và đang làm một công việc có thể nói là lấy thơ ca làm gốc, tôi xin mạnh dạn góp mấy lời lạm bàn về hiện trạng trên.

Đúng là có sự thật: “Nhan nhản những tập thơ vô thưởng vô phạt xuất hiện trong các giải thưởng, trên quầy sách, trên bàn thờ tổ tiên hay trên những trang mạng cá nhân. Đó là thứ thơ sáo mòn, nhạt thếch và cũ rích, tưởng như vừa khai quật trong bãi thải của quên lãng…Nhưng cũng không ít người say mê với nó và tưởng mình không thua gì Nguyễn Bính, Xuân Hương khi được một số độc giả khen vuốt ve trên mạng ảo…” (“Hiện tượng vè hóa, văn xuôi hóa và cũ hóa Thơ…cần báo động” – Nguyễn Trọng Tạo – trieuxuan.info ). Quả thực có chuyện: “Thơ thập- diện- mai- phục… thơ làm tắc nghẽn mọi ngóc ngách, ngõ hẻm, đường sá, giao lộ tinh thần khiến cho thơ sạch không có lối đi.” ( “Vấn nạn thơ đầy đường”- trannhuong.com). Bản thân tôi cũng đã bày tỏ thái độ trước sự lạm phát thơ này trong vài bộ phim truyện truyền hình phát trên Văn nghệ chủ nhật, như phim “Trời cho- trò chơi”: một ông được đền bù đất đai đã vung tiền cho mình và vợ con làm sang- vợ mở phủ, con gái mua sắm, còn bản thân thì cho in thơ “con cóc” của mình để khoe và để biếu (do một cò mồi kích thích dẫn dắt mà diễn viên Xuân Bắc thủ vai rất đạt)
Nhưng, đó chỉ là một nửa của sự thật, đúng hơn, là cái mặt nổi của sự thật.

Lòng yêu thơ, có thể nói là cái phần tốt đẹp nhất trong những tình cảm tốt đẹp còn sót lại sau những cuộc tàn phá kinh hoàng của nền kinh tế thị trường méo mó đối với nhân tính và các mối quan hệ xã hội. Tôi rất tâm đắc với một ý kiến của tác giả Thi Thi: “ Nếu có một ngày toàn nhà thơ tham gia giao thông thì chắc chắn nạn tắc đường giảm đi rất nhiều, bởi dù đấy là nhà thơ ở cấp độ nào thì đều là những người có tâm hồn phong phú, có nhân tính, biết nhường nhịn nhau. Đặc biệt nếu có chút va chạm không tránh khỏi vì quá đông thì cũng không xảy ra xô sát lớn, vì ngoài các yếu tố trên, trong túi các nhà thơ nhiều nhất cũng chỉ có cây bút và cuốn sổ, không bao giờ có dao, kiếm, dùi cui điện hay súng… Còn nếu các nhà công quyền lại đồng thời là các nhà thơ thì lại tốt quá, người dân chắc không phải điêu đứng vì thói hống hách, quan liêu, cửa quyền, tham lam vô độ…(“Đất nước càng nhiều nhà thơ càng tốt”– nguyennguyenbay.com)

Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà thơ Hoàng Cầm có nói đại ý rằng: tính cách của người Việt rất gần gũi với thơ – đó là lối sống tình cảm đối với bạn bè, bà con làng xóm, nhường cơm sẻ áo trong hoạn nạn… Trải qua mấy nghề nghiệp, đi tới nhiều vùng đất, tôi đã tự mình kiểm nghiệm được cái đúc kết giản dị và lý thú trên của thi sĩ Hoàng Cầm… Xin kể một chuyện nhỏ. Dạo ấy, sau khi chuyển vùng từ Tây Bắc, tôi nhận công tác ở một trường cấp ba huyện ngoại thành Hà Nội. Cô tài vụ của trường có vẻ ác cảm với một kẻ tự ti lầm lỳ như tôi, hoặc coi thường anh giáo nghèo miền núi trở về, nên cứ vào kỳ lĩnh lương, cô thường để tôi phải đi tới đi lui dăm bẩy bận, đến phát khùng lên mới được lĩnh hết lương. Một buổi, tôi vào phòng tài vụ chờ rất lâu. Có cuốn sổ tay để mở, tôi tò mò cầm đọc. Hóa ra là sổ chép thơ tình, có cả mấy bài thơ dịch Puskin. Có nhiều câu chép sai, sai cả chính tả. Tôi liều mạng lấy bút ra sửa giúp. Khi cô tài vụ về, chưa kịp thoái thác với tôi là hôm nay chưa có tiền lương, cô chợt nhìn thấy tôi cầm cuốn sổ, bèn giật lấy nhìn, thấy mấy chỗ sửa. Tôi tái mặt lo lắng. Nhưng số tôi thực may mắn. Cô đọc một lúc, vẻ lạnh lùng khinh khỉnh dần biến mất, rồi nhẹ nhàng hỏi: “Anh sửa đấy à?” Tôi ấp úng gật đầu: “Tôi…Tôi là giáo viên văn mà…”. Cô dường như quên phắt cái sứ mạng là phải hành hạ một “ma mới” như tôi, hào hứng: “Anh thuộc nhiều thơ không? Chép hộ em với nhé?” Thế là hôm đó, lần đầu tiên sau hơn nửa năm chuyển vùng về, tôi được lĩnh lương đúng hạn…Mà công đầu là do Thơ; đúng hơn là do tâm hồn yêu thơ của một cô gái tuy có nhiều nét tính cách không dễ chịu gì cho lắm nhưng chỉ một cái đức yêu thơ đó cũng đủ thể tất nhân tình cho tất cả… Gần đây nhất, khi về làm phim tại thôn Duệ Đông- một trong 49 làng quan họ gốc Bắc Ninh, tôi được tặng một tập thơ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập CLB thơ Duệ Đông (15/8/ 1997- 15/8/2012) mà tác giả là những liền anh liền chị cao tuổi. Trong số những tác giả mà tôi được tiếp xúc, tôi đặc biệt chú ý tới bà Nguyễn Thị Ngọc Viên. Say mê tiếng hát quan họ cổ của bà, tôi còn rung động sâu sắc trước cuộc đời bà: chồng và cả ba người con đều lần lượt ra đi do tai nạn & bệnh tật bất ngờ, trong nhiều năm bà đã cắn răng để sống, để hát quan họ, truyền dạy hát quan họ cho lớp trẻ, và làm thơ. Thơ của bà dung dị, chân thật, đượm xót xa ngọt ngào và thấm như câu ca quan họ:

Cánh sen gọi nắng trưa hè
Mưa rào bất chợt, ướt nhòe thơ tôi…

Những câu thơ & những bài thơ như thế của bà, của cả CLB thơ Duệ Đông, và của rất nhiều CLB thơ trên toàn quốc đang lấp lánh trong biết bao tập thơ đã được in ra. Có thể nói, chúng là nguồn thơ ca dân gian vô tận để từ đó hình thành nên những đỉnh cao văn chương bác học- thời xưa là thế mà thời nay cũng chẳng khác mấy. Nếu có những tập thơ nào đó được sản xuất ra với mục đích ngoài thơ ca và có nguy cơ làm “tắc nghẽn mạch giao thông tinh thần”- thậm chí làm mọi người bị ngộ độc, thì đó chỉ là số ít!

Nhà thơ Trần Dần sinh thời đã có lần bênh vực loại thơ ca dân gian đó như sau:

“Con đường số 7 của tao/ Nó đi theo giặc tao đào nó đi. Hai câu thơ đó là đúng hay sai chính trị?… Cụ Hoài Thanh, anh Xuân Diệu bảo là sai chính trị…Tôi rất khen hai câu thơ đó. Tôi cho rằng nó đúng chính trị, đúng lập trường. Tình cảm nó gợi lên: mạnh mẽ, phong phú, chua xót mà chủ động. Người đào đường lớn hơn con đường, con người mạnh bạo, chủ động, chua xót, làm một việc bất đắc dĩ mà cần thiết. Đó là chính trị, là lập trường của hai câu thơ…Người thi sĩ có quyền nói tha hồ, nói sống nói chết, nói bừa nói bãi, nói sao thì nói rốt cục tình cảm đọng lại mạnh mẽ, phong phú, xốc người ta lên yêu ghét hành động. Cho nên thường khi người ta thấy người thi sĩ nói những điều rất phi lý: trèo trời đục đất. Có lúc người thi sĩ biến thành ánh trăng, một vì sao. Lúc biến thành con mãnh thú. Lúc biến thành chiến sĩ, thành Tiên, thành quả núi, con sông, v.v. Tất cả mọi chuyện thực là vô lý, có khi như sai chính trị, sai sự thực, như là duy tâm nữa. Nhưng nếu tình cảm đọng lại mạnh mẽ, thôi thúc, xô đẩy người ta lên thì không sai chút nào cả- như hai câu thơ trên kia…” ( “Thơ chính trị- thơ chính sách”- Tư liệu riêng của gia đình nhà thơ Trần Dần )

Không ít những lời tâm huyết nói về Thơ trong thời buổi lạm phát Thơ và chắc chắn tìm được đồng cảm của nhiều người thậm chí không hề làm một câu thơ, xin mạn phép được trích dẫn đôi dòng:

” Thường nhân làm thơ không phải để trở thành vĩ nhân hay để trở thành thánh nhân, mà mong mỏi trở thành hiền nhân…Niềm sáng tạo thi ca mệt mỏi trước nỗi ma lực chữ nghĩa đớn đau, chỉ khát khao góp cho khách tri âm chút đồng cảm nhỏ nhoi về số phận và phẩm giá từng con người trong xã hội. Tôi nghĩ, đó là những tiếng thở dài mơ hồ rất cần được lắng nghe và trân trọng…. Khoảng cách từ sự thăng hoa trên bàn viết nhà thơ đến tác phẩm trên tay độc giả, dường như càng ngày càng vời vợi hơn, mà nhiều toan tính và nhiều xao xác đã bắt đầu nhen nhóm. Thực trạng có vẻ bẽ bàng kia đã làm tôi ái ngại, nhưng không hề khiến tôi tuyệt vọng về sức mạnh cứu rỗi của thi ca. Tất nhiên, tôi không dự định kỳ diệu hóa năng lực nhà thơ, nhưng tôi dám chắc sự gặp gỡ ngỡ tình cờ giữa những tâm hồn, đôi khi có thể chở che không ít u uẩn, đôi khi có thể xoa dịu không ít đắng cay!” (“Phê bình thơ, nên khen hay nên chê?”- Lê thiếu Nhơn)

“Đúng là thơ hay – bao giờ cũng xuất phát từ những nỗi niềm sâu thẳm của tâm hồn, từ những trải nghiệm máu thịt và suy ngẫm giàu lòng nhân hậu về cuộc đời và phận người trong thế gian này – chứ đâu phải cứ băm bổ chạy theo nào là “hiện đại”, “hậu hiện đại”, nào là “hội nhập” với văn chương nhân loại,  rồi thì “đổi mới” bằng mọi giá… là có thơ hay đâu. Một bằng chứng hùng hồn và thực tế đáng buồn là bạn đọc yêu thơ đang quay lưng lại với thơ mới hôm nay…”(Triệu Lam Châu- thieunhon.com)

“Sao trước những sự kiện bức xúc của đời sống, thơ không lên tiếng, thơ lặng câm? Những bài thơ cất lên ở các dạ hội, đêm thơ, ngay cả của các nhà thơ Việt, hình như vẫn ở bên ngoài thời sự của cuộc sống hôm nay của người dân?   (“Nghĩ từ liên hoan thơ quốc tế Việt Nam lần thứ nhất” –Phạm Xuân Nguyên- lethieunhon.com)

“Theo ý tôi, cái truyền thống vinh quang của người thi sĩ là ở chỗ lúc nào họ cũng thấy có trách nhiệm gắn bó với cuộc sống. Họ là những người biết yêu ghét vui mừng hay căm giận ở một mức độ cao hơn mọi người. Họ là những người lúc nào cũng tha thiết với chính nghĩa và tự thấy như mình phải có một sứ mệnh: làm cái tiếng nói trong sáng nhất, can đảm nhất và tha thiết nhất của con người. Cũng chính vì có mang được cái truyền thống đó trong mình nên người làm thơ mới được xã hội cần đến.” (“Mấy Ý Nghĩ Về Thơ”- Quang Dũng  -Vanchuongviet.org)

“Bên cạnh đó thơ ca mang đến đời sống cho mọi người. Họ làm thơ không phải để thúc đẩy sự phát triển, mà để sống, chia sẻ, kêu gọi chống lại sự vô cảm, xấu xa trong xã hội. Mỗi giai đoạn có những nhà thơ xuất sắc, mở ra nhiều giọng điệu, làm cho ngôn ngữ tiếng Việt chứa đựng nhiều vẻ đẹp hơn.” (Toan Toan- tienphong.vn)

Petrov- một viện sĩ Viện Hàn lâm đã cho chúng ta thấy sự trăn trở về Thơ ở nước ta thực ra cũng là mối quan tâm của nhiều dân tộc trên thế giới, và chúng càng có giá trị thời sự với hôm nay: “Tôi không phải là nhà tiên tri, nên không thể đoán được thơ ca sẽ đi đến đâu, và tác động của nó như thế nào. Nhưng theo tôi nghĩ, thơ ca vẫn có thể là một cái gì đấy cứu vãn được con người.

Thơ ca xuất phát từ những suy nghĩ của những nhà tiên tri ngày xưa, suy nghĩ về cuộc đời, suy nghĩ về ý nghĩa của con người trên Trái Đất…Từ đó thơ ca dần phát triển và được người ta chú ý đến. Ngoài ý nghĩa trên, nó còn có tính hình tượng và đẹp nữa, mang những nghĩa ấn dụ, bóng gió để nói lên suy nghĩ về những vấn đề cốt lõi của cuộc đời…Đọc một bài thơ mà không hiểu cái gì cả, lại chưa chắc đã hay nữa, vậy thì người ta lại tìm đến cái đơn giản, cái cụ thể cho cuộc sống của họ. Một ngày nào đó, mọi người lại có nhu cầu, tìm kiếm một điều gì đó cần thiết để vươn lên, vượt lên, thì có một câu trả lời đang chờ người ta ở trong bài thơ. Đấy là chức năng thơ. Cái đó vẫn tồn tại.” (“Thơ ca, hay là câu chuyện “số đông – số ít”-  NNB.com)
Đạo diễn điện ảnh Tự Huy- cháu bốn đời của nhà giáo, nhà văn hóa, nhà thơ lớn Nguyễn Văn Siêu có kể cho tôi nghe một câu chuyện thú vị về nhà thơ Trần Dần. Nhà thơ vốn nổi tiếng là người chịu khó tìm tòi cách tân Thơ này có lần bảo ông Tự Huy: “Có một bài ca dao cổ tuy hay nhưng tôi không đồng tình lắm với nội dung lẫn hình thức của nó:

Tình cờ bắt gặp nàng đây
Đòi cắt cái áo đòi may cái quần
May rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng, anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Ba con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan tư tiền cưới lại đèo buồng cau…”
Nhà thơ Trần Dần đã làm lại bài ca dao. Và nhà thơ đã đọc cho đạo diễn Tự Huy nghe bài thơ đó, nguyên văn như sau:
Bao giờ em đi lấy chồng
Để anh sắm sanh quà cưới
Anh mừng em đôi chiếu mới
Em về trải kín giường đôi
Anh đi sang tận làng Ngòi
Tìm mua gạo cẩm
Xu xuê bánh cốm tự anh buộc lạt điều…
Em có cần anh đầu cỗ
Bảo người nhắn gọi anh sang
Giò lụa chạo nem, thịt quay xôi gấc
Vật bò mổ lợn
Con dao anh cắt, nuột lạt anh thắt
Giò thủ anh nén, nước xuýt anh nếm, nạc mỡ anh pha
Cỗ lòng anh thuốn, gỏi cuốn anh cuộn
Mâm son anh dọn, đĩa trúc anh so…
Hay em nhờ anh giúp về văn nghệ
Để anh sửa soạn chương trình
Máy hát anh mượn, trò vui anh chọn
Bạn bè anh đón
Tuyên bố lý do anh nói
Kèn tàu anh thổi.
Anh lưu tới cuối tiệc tan
Khách muộn anh tiếp, đèn rạp anh tắt
Thuốc lá thừa anh nhặt
Xong xuôi anh về!”

Tôi chợt nảy ý nghĩ: bài thơ làm lại đầy ý vị hóm hỉnh này của thi sĩ “thủ lĩnh trong bóng tối” (Phạm Thị Hoài) không ngờ đã giống như một nhát búa tạ phang vào cái thói “làm duyên làm dáng” (Lưu Trọng Lư) của nhiều nhà “hoạn quan trữ tình” (Maiakovski), giáng không thương tiếc vào cái thực chất trống rỗng về tư tưởng, nghèo nàn về vốn sống và kém cỏi về tiếng Việt nên đành phải mượn cái vỏ “hiện đại”, “hậu hiện đại” rất khụng khiệng để che lấp đi của không ít nhà thơ chúng ta hôm nay.

Đáng mừng là, giữa cái loạn chuẩn về giá trị Thơ, có một nhóm nhà thơ phía Nam đã tình nguyện đứng ra làm một loạt “tập thơ hay”, với tinh thần vô tư, không vụ lợi, nhằm góp phần chuẩn hóa, định giá chính xác về Thơ Việt hiện đại. Tập đầu tiên của công trình “Thơ Bạn Thơ” (gồm 5 tập – Nguyễn Nguyên Bảy & Lý Phương Liên chủ biên) đã ra đời đúng vào dịp Lễ Xá Tội Vong Nhân năm nay. Giá trị nội dung nghệ thuật chứa đựng trong những tập thơ đó ra sao, người đọc đông đảo sẽ có thời gian thẩm định; có điều, đó thực sự là những “tuyên ngôn” bằng thơ chân chính có tác dụng thanh tẩy những gì không phải là Thơ, hạ thấp Thơ, thậm chí giả Thơ… Công việc này có thể coi là một hồi chuông thức tỉnh, một sự mở đầu cần thiết nhằm phục hưng những giá trị thơ ca đích thực đã từng bị lem luốc một cách oan uổng trong những năm tháng vừa qua.
 

Đạo diễn- nhà báo Nguyễn Anh Tuấn

 

Tai nạn thơ nhớ đời – trannhuong

30 Th8

 

Tai nạn thơ nhớ đời

Nguyễn Vũ Tiềm

 

Nhân có sự cố thơ ở Đồng Nai, tôi lại nhớ vụ tai nạn thơ do tôi gây ra khiến bốn thầy cô giáo ở trường PTTH Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre phải mất việc. Bốn thầy cô đều là sinh viên Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh mới ra trường xung phong đến tỉnh xa hình như được một hai năm, đang rất nhiệt tình sôi nổi bỗng dưng bị kỷ luật nặng nề oan uổng và cay đắng!
Vụ này là vết thương đau của tôi và sự day dứt khôn nguôi của một số đồng nghiệp.
Nguyên do thế này, khoảng đầu thập niên 80 thế kỷ trước, tôi là phóng viên báo Giáo viên Nhân dân (nay là báo Giáo dục & Thời đại, Bộ Giáo dục & Đào tạo) tôi viết bài thơ và được báo nhà đăng. Bài thơ dưới đây:

CÔ GIÁO EM GIÀU NHẤT
 
Nếu tình thương là quý nhất trên đời
Cô giáo em là người giàu có nhất
Cô dành trọn tình thương cho học trò lớp lớp
Bao năm rồi không một chút cạn vơi.
Quý nhất nữa phải chăng là hiểu biết
Cô giáo em là người giàu có nhất
Năm tháng xếp cao giá sách trong nhà
Những chân trời, cô dẫn chúng em qua.
Nếu đời còn quý nhất nữa: niềm tin
Cô giáo em là người giàu có nhất
Cô tin chúng em, dù đứa hư, đứa nghịch
Vẫn là nguồn hy vọng của mai sau.
Cái quý nhất, cô đều giàu có nhất
Cái cần thiết hàng ngày lại thiếu thốn quanh năm
Bữa khoai sáng nhường mẹ già, con nhỏ
Cô lả trên bàn giữa tiết thứ năm.
Dìu cô về nhà, chúng em rửa xoong nấu cháo
Nổi lửa lên rồi, mở thùng gạo: trống trơn
Cả lớp thương cô òa lên khóc
Sự thật nay có ai biết hay không?

Khoảng nửa năm sau khi bài báo in, một hôm có một cô gái trẻ khoảng ngoài 20 đến 35 Lê Thánh Tôn, TP Hồ Chí Minh, cơ quan của Báo Giáo dục & Thời đại các tỉnh phía Nam gặp tôi. Mới thoáng nhìn, tôi biết ngay là cô giáo bởi phong thái khoan thai duyên dáng nói năng chuẩn mực, tự tin. Dáng cô thanh thoát, da trắng, mặt trái xoan, xinh đẹp.
-Em là giáo viên trường cấp 3 Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre, gặp nhà báo phản ánh một việc.
Tôi lắng nghe, ghi chép. Tóm tắt sự việc như sau.

Sắp đến ngày 20 tháng 11, lãnh đạo nhà trường có kế hoạch tổ chức buổi liên hoan văn nghệ. Bốn thầy cô giáo trẻ mới về (hai nam, hai nữ) được phân công tổ chức các tiết mục. Trong số đó có hoạt cảnh ngắn, (một màn hay hai màn tôi không nhớ rõ) lấy bài thơ trên làm nền. Một em gái cao gày chững chạc đóng cô giáo, một số em đóng học sinh, một hay hai em có giọng tốt đọc thơ. Một số câu các em đọc 2,3 lần rất xúc động kết hợp với cảnh diễn sinh động có hồn khiến nhiều người xem không cầm được nước mắt.

Bỗng mấy ngày sau, bốn thầy cô giáo trẻ được mời lên văn phòng bắt kiểm điểm với lý do là tiết mục “Cô giáo em giàu nhất” gây tâm trạng buồn nản, hoang mang, trong khi ta đang cần hun đúc tinh thần phấn khởi, tin tưởng, tự hào; rằng bài thơ ấy, tiết mục ấy có ẩn ý bôi đen chế độ trong khi chế độ ta rất tươi đẹp.
Bốn thầy cô giáo xin phát biểu, với lý do:
-Bài thơ đã đăng ở báo của Bộ Giáo dục, chứ họ không bịa ra. Mà báo của Bộ chắc là không bôi đen chế độ.
-Sự thật lương giáo viên hầu hết là không đủ sống. Muốn cầm cự trong một tháng, họ phải bươn chải bằng nhiều cách.
-Nhiều trường vẫn đang còn nợ lương giáo viên hai ba tháng, có khi hơn.
-Tiết mục ấy từ lúc tập, các em đã rất hào hứng và xúc động, có em khi tập đã rơi nước mắt. Tiết mục diễn xong được nhiều người khen ngợi.
Mấy ngày sau bốn thầy cô nhận được bốn quyết định cho nghỉ việc với lý do: không thành khẩn nhận khuyết điểm, tư tưởng không lành mạnh, không phù hợp công tác ở ngành giáo dục.
Cô lấy tờ quyết đinh kỷ luật cho tôi xem. Tôi lạnh toát cả người. Rồi cô rút tờ báo Giáo viên Nhân dân, mở trước mặt tôi bài thơ và hỏi:
-Anh có biết tác giả bài thơ này ở đâu không?
Tôi bủn rủn cả người, tự thấy mình như một tội phạm, nói:
-Tác giả bài thơ này, cái gã tội phạm ấy đang ngồi trước mặt cô.
Tôi hứa với cô là Báo sẽ có công văn đến Sở, đến trường kiên quyết đứng về phía bốn thầy cô, khẳng định các thầy cô và các em hoàn toàn trong sáng, động cơ tốt.
Ông Lê Khắc Hoan (hiện đang ở TP HCM) thay mặt lãnh đạo Báo có ngay công văn đến Sở Giáo Dục Bến Tre, trường PTTH Nguyễn Đình Chiểu khẳng định bài thơ có nội dung tốt, nêu cao tình thần khắc phục khó khăn của nhiều thầy cô dù thiếu thốn đến đâu, vẫn bám trường bám lớp, vì học sinh thân yêu… Tiết mục văn nghệ xây dựng từ bài thơ ấy có mục đích tốt. Đề nghị Quý Sở, Quý trưởng xóa kỷ luật, để bốn thầy cô giáo trở lại công tác bình thường…
Nhưng tiếc thay, án kỷ luật đó không được thay đổi.
Khoảng mươi năm sau, tình cờ tôi gặp một trong hai cô giáo ấy, cô vẫn rất yêu nghề, là thành viên của một tổ chức nhân đạo nuôi dạy trẻ không gia đình ở quận 8. Tôi hỏi thăm ba thày cô kia, cô cho biết mỗi người kiếm sống một nơi, nói chung là rất khó khăn vv…
Nhắc lại chuyện cũ mà xót xa. Không biết các bạn bây giờ ở đâu, nghề nghiệp, cuộc sống ra sao? Nếu đọc được bài này, mong các bạn liên lạc với tôi, người dự phần trong cuộc, số điện thoại: 0909 450 871, chúng ta cùng chia sẻ với nhau về một thời gian truân và ấu trĩ một cách… nực cười. Rất mong!

NGÂN HÀNG, CHÍNH QUYỀN PHÁ SẢN, NĂM 2013 TRUNG QUỐC SẼ XẢY RA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ – BS

30 Th8

 boxun.com

NGÂN HÀNG, CHÍNH QUYỀN PHÁ SẢN, NĂM 2013 TRUNG QUỐC SẼ XẢY RA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ

Người dịch:  Băng Tâm

[Trang mạng Tiếng nói nước Đức bằng tiếng Trung (ycwb.com)]    Năm 2013 Trung Quốc sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế?  Gần đây, bản báo cáo “Năm 2013 Trung Quốc sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế” của nhà kinh tế học Lý Tả Quân ở Trung tâm phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc trình bày tại cuộc họp báo cáo nội bộ đã bị lộ. Báo cáo cho rằng Trung Quốc hiện nay đang trong thế căng thẳng chờ chực bùng nổ, năm 2013 sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế, đồng thời dẫn đến các vấn đề xã hội.

 

Mới đây,  trang Phượng Hoàng ifeng.com Hongkong có đăng nội dung  bản báo cáo “Năm 2013 Trung Quốc sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế” của nhà kinh tế học Lý Tả Quân trình bày trong một cuộc họp nội bộ. Theo tìm hiểu của trang Tiếng nói nước Đức (Deutsche Welle), bản báo cáo lần này chắc là một bản báo cáo họp nội bộ của Lý Tả Quân theo lời mời của hội bạn hữu trường Trường Sa ở Trường đại học Hoa Trung vào ngày 19.7 năm ngoái, sau đó được truyền đi trong phạm vi hẹp, cách đây không lâu đột nhiên được cư dân mạng Trung Quốc phát tán rộng rãi.      

Trong bản báo cáo, Lý Tả Quân đưa ra quan điểm của mình: “Khủng hoảng kinh tế của Trung Quốc đang thai nghén, có khả năng nhất là xảy ra vào tháng 7, tháng 8 năm 2013, hình thức biểu hiện là một bộ phận doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản, một bộ phận ngân hàng phá sản, một bộ phận chính quyền địa phương phá sản”. Ông nêu nguyên do chống đỡ cho kết luận này của mình chủ yếu là từ mấy phương diện kinh tế, quốc tế, chính trị…, trong đó phương diện kinh tế bao gồm nguồn tài chính đất đai của chính quyền địa phương bị teo lại, thuế công thương nghiệp giảm, nhưng chi tiêu quốc phòng, chi tiêu giữ vững ổn định lại gia tăng, cộng thêm áp lực nhà nước phải trả các khoản nợ quốc gia, khủng hoảng bất động sản…, một bộ phận chính quyền địa phương có thể sẽ bị phá sản; còn nguyên nhân quốc tế là do một lượng lớn tiền nóng thế giới chảy vào Trung Quốc, thúc đẩy tạo ra bong bóng kinh tế Trung Quốc, rồi khi lượng tiền nóng thế giới rút đi sẽ làm nổ bong bóng kinh tế Trung Quốc.     

Ngân hàng sẽ phá sản? 

Khi giải thích nguyên nhân về phương diện chính trị, ông nói “năm 2013 là năm chuyển giao chính phủ, tư tưởng chỉ đạo tối cao trong năm nhiệm kỳ cuối của chính phủ khóa này là không để xảy ra chuyện gì, giữ vững ổn định, giữ sự phát triển bình ổn kinh tế bằng bất cứ giá nào, còn với lãnh đạo chính phủ khóa tới chỉ có một sự lựa chọn, tiếp nhận lấy bong bóng, chăm chút bảo vệ, liệu rồi sẽ bảo vệ được tới lúc nào? Chậm nhất cũng chỉ có thể bảo vệ được tới năm 2015, hoặc năm 2016, vậy thì khi ấy sẽ là một cuộc khủng hoảng lớn hơn”.
 “Khủng hoảng đã xảy ra từ lâu, nhưng thể chế hiện hành che đậy”

Từ ngày 21.8, bản báo cáo này đã liên tục được truyền nóng trên mạng, nhà kinh tế học Trung Quốc, giáo sư Học viện quản lý Đại học sư phạm Bắc Kinh Đổng Phiên Lực đề cao quan điểm này: “Tôi ngưỡng mộ Lý Tả Quân đã can đảm nói lên sự thật, thực sự nếu theo con mắt nhìn nhận của Phương Tây thì khủng hoảng đã xảy ra từ lâu, chỉ có điều thể chế hiện hành đã che đậy bằng rất nhiều thủ đoạn, cộng thêm sự phục hồi giao dịch bất động sản vào cuối tháng 4 đã có tác dụng kéo ngược trở lại, thì mới làm cho tình hình không đến nỗi bi đát. Muốn biết kinh tế ra sao, hãy nhìn vào tình hình đặt hàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tình trạng đói việc của các hộ cá thể, tình trạng xấu đi trong thu nhập tài chính ở các địa phương thì sẽ rõ.”        

Thị trường bất động sản sẽ sụp đổ?

Nhà hoạch định thanh toán qua mạng của Beijing Automotive Network cũng nói:  “Tôi đang đầy lo sợ và trông đợi cuộc khủng hoảng, lo sợ vì sẽ ảnh hưởng đến đất nước, doanh nghiệp và dân chúng xã hội, còn trông đợi là chỉ có khủng hoảng mới phá tan được thể chế hiện có, mới có thể tạo ra được cơ hội mới”. 

“Chính phủ sẽ ra tay cứu vãn cuộc khủng hoảng, nhưng hậu quả sẽ làm suy yếu sự cai trị của Đảng cộng sản”

Nhà kinh tế học nổi tiếng Trung Quốc Mao Vu Thức khi trả lời phỏng vấn Tiếng nói nước Đức đã tán thành về cơ bản quan điểm của Lý Tả Quân, ông nói vấn đề kinh tế của Trung Quốc là hết sức nghiêm trọng: “Rất có thể sẽ xảy ra sự biến đổi mang tính đột phá”. Mà việc nảy sinh vấn đề kinh tế sẽ dẫn đến nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội.   

Tuy nhiên, Mao Vu Thức cho rằng chính phủ Trung Quốc sẽ dùng biện pháp mạnh để ứng phó với cuộc khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra: “Trung Quốc khác với các nước Phương Tây, mọi vấn đề của Trung Quốc như nợ của ngân hàng, của chính quyền địa phương…cuối cùng chính phủ sẽ ra tay, trong tay chính phủ có rất nhiều tiền, dự trữ ngoại hối tới hơn 3 nghìn tỉ đô la Mỹ, tài sản thuộc sở hữu nhà nước, đất đai nắm hết trong tay, chính phủ Trung Quốc sẽ không để cho cuộc khủng hoảng xảy ra. Chính phủ các nước không có tiền, còn chính phủ Trung Quốc thì tiền nhiều không kể xiết.        

Ông cũng cho rằng chính phủ Trung Quốc sẽ huy động “quốc lực” để cứu vãn khủng hoảng kinh tế, kết quả là có thể khống chế không để khủng hoảng kinh tế xảy ra, nhưng sẽ làm suy yếu quyền lực của chính phủ, “vấn đề kinh tế không làm cho chính phủ gặp nạn, nhưng sẽ làm cho quyền lực của chính phủ bị suy yếu, bởi rất nhiều tài sản thuộc sở hữu nhà nước đã bị tiêu hết, một phần là chính phủ Trung Quốc dựa vào những tài sản thuộc sở hữu nhà nước này để bảo vệ uy tín của mình, duy trì các tập đoàn lợi ích đã có, bây giờ mà xử lý hết vốn, thì sự cai trị của Đảng cộng sản sẽ bị suy yếu”.      

Nguồn:  boxun.com

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thế giới 24h: Tàu sân bay TQ chỉ như hổ giấy – VNN

30 Th8

Thế giới 24h: Tàu sân bay TQ chỉ như hổ giấy

Tàu sân bay của Trung Quốc chỉ “hữu danh vô thực” theo nhận định của các nhà phân tích quân sự, LHQ thành lập lực lượng đặc nhiệm Iran…là các tin nóng trong ngày

Nổi bật trong ngày

Mặc dù dư luận ở Trung Quốc kỳ vọng chiếc tàu sân bay mà nước này nâng cấp từ con tàu cũ mua lại của Ukraine sẽ sớm trở thành tàu chính của lực lượng hải quân hùng mạnh thì các chuyên gia quân sự quốc tế vẫn cho rằng nó thiếu máy bay chiến đấu, vũ khí, thiết bị điện tử, những hỗ trợ về hậu cần và huấn luyện cần thiết để trở thành một tàu chiến thật sự.

“Hiện còn nhiều điều chưa chắc chắn song phải mất từ 3 tới 5 năm con tàu này mới sẵn sàng làm nhiệm vụ”, ông Carlo Kopp – nhà đồng sáng lập Air Power Australia, một tổ chức cố vấn quân sự độc lập tại Melbourne nhận xét.

Chiếc tàu sân bay được nâng cấp mà Trung Quốc gọi là Thi Lang, có tên nguyên thủy là Varyag, vừa có đợt chạy thử lần thứ 10. Một số nhà nghiên cứu quân sự Trung Quốc trước đó dự đoán, chiếc hàng không mẫu hạm này sẽ được biên chế vào lực lượng hải quân trong năm nay.

Tuy nhiên, các lãnh đạo cấp cao của Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc đã bác bỏ những kỳ vọng này và tuyên bố rõ chiếc tàu sân bay 60.000 tấn còn lâu mới sẵn sàng hoạt động và nó còn phải trải qua nhiều lần chạy thử và tập luyện.

“Vạn lý Trường thành không thể xây trong một ngày” đại tá Lin Bai thuộc cơ quan vũ trang chung cho biết sau khi tàu Thi Lang trở về cảng sau chuyến đi thử nghiệm lần thứ 9.

Theo nhận xét của các nhà phân tích quân sự, ngay cả khi chiếc Thi Lang (Varyag) đi vào hoạt động, nó cũng chỉ giữ vai trò hoạt động giới hạn, phần lớn là huấn luyện và đánh giá trước khi Trung Quốc tự chế tạo chiếc tàu sân bay đầu tiên sau năm 2015.

Các thông tin trên blog quân sự và website không chính thức của Trung Quốc cho hay, Bắc Kinh đang có kế hoạch đóng tàu sân bay tại xưởng đóng tàu Jiangnan, gần Thượng Hải.

Tuy nhiên, các nhà phân tích chuyên nghiệp lẫn không chuyên, vốn nghiên cứu ảnh chụp vệ tinh của xưởng đóng tàu trên, không tìm được bằng chứng nào về việc đóng tàu như các thông tin trên.

Tin đọc 30 giây

– Cơ quan giám sát hạt nhân LHQ đã thành lập Lực lượng đặc nhiệm Iran để đảm nhận các cuộc thanh tra và kiểm tra các hoạt động hạt nhân gây tranh cãi của quốc gia Hồi giáo này.

– Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc sẽ thăm Ấn Độ vào tuần tới nhằm siết chặt quan hệ quân sự giữa hai nước. Chuyến thăm hiếm này được coi là một dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh muốn ổn định biên giới được vũ trang cẩn mật ở khu vực Himalaya.

– Truyền thông sai lệch giữa một phi công của hàng không Tây Ban Nha Vueling và kiểm soát không lưu Hà Lan đã gây ra lo sợ rằng chuyến bay bị không tặc. Việc này khiến Hà Lan phải phái chiến đấu cơ F-16 đi chặn chiếc máy bay đang trên đường từ Malaga, Tây Ban Nha tới sân bay Schiphol.

– Các phái viên phương Tây đang thúc giục các nước Ả rập không “nhiếc móc” Israel về kho hạt nhân của nước này tại hội nghị thường niên của cơ quan hạt nhân LHQ vì sợ rằng nó ảnh hưởng tới các nỗ lực vì một Trung Đông phi vũ khí hạt nhân.

– Tòa án tối cao Ấn Độ xác nhận Mohammed Kasab – tay súng duy nhất còn sống sót trong vụ tấn công ở Mumbai năm 2008 làm 166 người thiệt mạng, đã bị kết án tử hình.

– Một tòa án dân sự cấp cao của Ukraine đã bác đơn kháng cáo của cựu Thủ tướng Yulia Tymoshenko, vốn phản đối kết án bà đã lạm dụng chức quyền. Như vậy, bà Tymoshenko sẽ tiếp tục ngồi tù và quan hệ giữa Ukraine với phương Tây sẽ tiếp tục căng thẳng trầm trọng.

– Thổ Nhĩ Kỳ đã kêu gọi Liên Hợp Quốc bảo vệ những người Syria phải chạy loạn ngay trong nước này nhưng Tổng thống Syria Bashar al-Assad – hiện đang chiến đấu chống lại những người muốn lật đổ mình, đã từ chối các cuộc thảo luận về một vùng đệm trong lãnh thổ Syria.

– Lo ngại dư luận công chúng trước thềm bầu cử, chính phủ Nhật hiện đang ngả về một mục tiêu là xóa bỏ năng lượng hạt nhân vào năm 2030. Đây là một bước thay đổi chính sách lớn với nền kinh tế, vốn dự định đẩy mạnh vai trò năng lượng hạt nhân trước khi thảm họa Fukushima xảy ra.

Thông tin trong ảnh


Chiếc xe chạy bằng chất thải của vật nuôi đầu tiên trên thế giới do công ty Toto của Nhật tạo ra có thể di chuyển tới 300km, nó có một bồn cầu ở chỗ ngồi bình thường và một cuộn giấy to ở phía sau. (Ảnh ANI)

Phát ngôn nổi bật


Tôi có thể tóm tắt trong một câu: Chúng ta đang tiến lên, tình hình trên chiến trường đang ổn hơn nhưng chúng ta vẫn chưa thắng. Cần có thêm thời gian. Quân đội Syria nhấn định cần thời gian để chấm dứt cuộc xung đột này“, Tổng thống Syria Assad nói về cuộc nội chiến đang xảy ra ở nước này.

Ngày này năm xưa

30/8/1963 – Đường dây nóng hoạt động 24h/7 ngày của Mỹ và Liên Xô đi vào hoạt động. Đường dây này giúp đẩy nhanh thông tin giữa chính phủ Mỹ và Liên Xô, giúp ngăn chặn một cuộc chiến bất ngờ.

  • Hoài Linh (Tổng hợp)

 

Lời cây dầu… và lời nhắn TRẦN THU HẰNG – lethieunhon

30 Th8

Lời cây dầu… và lời nhắn TRẦN THU HẰNG

Theo nhận định của cá nhân tôi, chỉ riêng với tiểu thuyết lịch sử “Đàn đáy” (NXB Hội Nhà văn 2005) thì Trần Thu Hằng đã xứng đáng được gọi là nhà văn. Cách đây vài năm, Trần Thu Hằng được kết nạp vào Hội Nhà văn bằng chính những tác phẩm của mình. Tôi không biết điều gì khiến Trần Thu Hằng “góp ý kiến” về bài thơ “Lời cây dầu…”? Tôi cũng không tiện hỏi và cũng không biết hỏi thế nào? Nhưng khi thấy nhiều người bảo, đại loại: Tôi chưa từng đọc gì của cô này…;Cô này chắc không phải là nhà văn; Là nhà văn thì không thể hành động như thế… tôi thực sự thấy có cái gì đó bất nhẫn. Tôi nghĩ những ai theo dõi sinh hoạt văn chương trên dưới 15 năm qua, không thể không biết đến cái tên Trần Thu Hằng, nhất là ở mảng văn chương lịch sử vốn không nhiều cây bút trẻ… Trong một bối cảnh xã hội mà “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”, thì việc sống thanh sạch, mà mạnh mẽ, sáng tạo; không bao giờ là dễ. Tôi, với tư cách bạn bè, chân thành mong Trần Thu Hằng vượt qua những khó khăn này…

TRẦN NHÃ THỤY

Tôi nghĩ cuộc này nên khép lại là vừa, vì cuộc sống còn biết bao điều đáng lo, đáng làm, đáng quan tâm hơn. Thế nhưng, đọc đâu đó, tôi thấy có nhiều người còn vô tình hay cố ý hiểu sai, đẩy vấn đề đi quá xa, hay thiển cận; nên tôi viết thêm một bài này, để nói rõ hơn đôi điều.

Trước hết, tôi xin được nói thêm về cuộc “đối thoại” giữa Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai với nhà thơ Đàm Chu Văn hôm đó. Ngoài Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai Huỳnh Văn Tới, còn có các khách mời là ông Bùi Quang Huy-GĐ NXB Đồng Nai; Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai Nguyễn Khánh Hòa; một số hội viên Hội Văn nghệ Đồng Nai; nhà văn Trần Thu Hằng…
Ngay từ đầu cuộc họp (khoảng 13h30), tôi gặp ông Huỳnh Văn Tới xin phép được dự, vì tôi muốn chứng kiến cách người ta “xử lý” bài thơ này như thế nào. Tuy nhiên, ông Huỳnh Văn Tới bảo rằng đây là cuộc họp mang tính chất nội bộ, không mời nhà báo. Tôi đành xin một cái hẹn phỏng vấn sau cuộc họp. Và từ đó trở đi, tôi đứng ngoài phòng họp chờ. Sau cuộc họp, tôi gặp ông Tới, ông nói: “Lúc nãy nói đây là cuộc họp nội bộ, nhưng thực chất là cuộc đối thoại. Chúng tôi dùng biện pháp mà Đảng vẫn thường làm, đó là đối thoại. Mọi người ai cũng có quyền nêu ý kiến của mình”… Do vậy, trong bài viết tôi dùng từ “đối thoại”, hoàn toàn không dùng từ “đấu tố” hay “thực chất đây là cuộc truy bức nhà thơ”… như trong một số bài viết khác.
Tôi cũng biết, trong cuộc đối thoại này, có cả những ý kiến góp ý lại với Trần Thu Hằng và bản thân Trần Thu Hằng cũng lắng nghe, không hề gay gắt. Cũng có những ý kiến “lên lớp” nặng nề và những ý kiến chia sẻ… Nhưng rốt lại, như trong bài viết tôi đã trích lời ông Huỳnh Văn Tới là “không có kết luận, không có kỷ luật hay phê bình gì cả, mà chỉ là rút kinh nghiệm”… Chính bản thân tôi khi nghe nói vậy cũng thở phào và nói rằng đây là “kết thúc có hậu”, mặc dù theo tôi cuộc “đối thoại” như thế thực sự không cần thiết.

Về chuyện nhà thơ Đàm Chu Văn bước ra cuộc họp với vẻ mệt mỏi, bơ phờ là thực tế tôi thấy, không hề bịa đặt. Trong cuộc phỏng vấn sau đó Đàm Chu Văn còn vô cùng bức xúc, bảo rằng anh đã không muốn đến cuộc họp này, nhưng không thể… “Nhà thơ có quyền không giải thích về bài thơ của mình”- đó là lời của Đàm Chu Văn, và tôi hoàn toàn chia sẻ điều đó.
Như vậy, cuộc họp suốt bốn giờ đồng hồ, đương nhiên là không vui vẻ gì, nhưng nếu bảo là cuộc “đấu tố”, hay “truy bức nhà thơ” là đã đi quá xa thực tế (tôi xin nhấn mạnh là trong bài viết của tôi hoàn toàn không có những từ như thế) Tiếc là tất cả những người viết bài về vụ này đều không hề liên lạc với tôi để hỏi han hay trao đổi thêm. Tất nhiên, mỗi người có cách tiếp cận thông tin khác nhau và viết với những góc nhìn khác nhau. Tôi chỉ muốn nói thêm ở điểm này: nếu như những ai đọc báo đều thấy, trước khi đến cuộc họp, Đàm Chu Văn đã thủ sẵn hai “bửu bối”, đó là thư Chủ tịch Hội Nhà văn VN Hữu Thỉnh gởi Ban Tuyên giáo TW và ý kiến của ông Hồng Vinh (chủ tịch hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật TƯ) rằng: rốt lại thì đây là “bài thơ tốt”. Và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai cũng thấy trước sự việc, nên họ không điên dại gì mà làm to chuyện. Sự việc “kết thúc có hậu” là vậy. Nhưng chúng ta thử đẩy lùi thời gian trước đó, thử hình dung Đàm Chu Văn lo lắng về chuyện bài thơ sẽ bị hiểu như thế nào và ông sẽ bị xử lý như thế nào, chúng ta sẽ chia sẻ hơn với ông.

Với cá nhân tôi, điều tôi quan tâm không phải là chuyện đấu đá nội bộ, động cơ nào dẫn đến việc quy chụp, mà tôi muốn thấy cách người ta ứng xử như thế nào đối với một tác phẩm văn học. Sao đánh nhau không bày trò gì cao siêu hơn mà lôi một bài thơ rất ư bình thường ra đánh? Tôi chỉ quan tâm đến mức độ đó, và phản ánh đến mức độ đó. Trước đó tôi cũng theo dõi những vụ suy diễn, quy chụp thơ ở những địa phương khác và lấy làm lạ cho đến bây giờ vẫn còn những vụ việc như thế.

Về Trần Thu Hằng, sau khi bài báo in, Hằng có gọi cho tôi, hỏi vì sao cuộc họp có rất nhiều người mà không nêu tên hết, lại nêu tên em với sếp Tới? Tôi trả lời là không cần thiết nêu hết, và không thể không nêu tên Hằng vì Hằng là người công khai đứng tên trong thư Góp ý kiến, dẫn tới vụ trên (ngoài thư của Trần Thu Hằng còn có một thư nặc danh với lời lẽ suy diễn kinh khủng). Thực ra điều tôi lấy làm ray rứt nhất trong bài viết chính là ở chỗ Trần Thu Hằng. Chúng tôi là bạn văn quen thân khá lâu, từ hồi còn sinh viên. Trần Thu Hằng là sinh viên giỏi, tốt nghiệp thủ khoa. Sinh thời các nhà văn Đồng Nai như Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Đức Thọ… rất quý mến Trần Thu Hằng.
Theo nhận định của cá nhân tôi, chỉ riêng với tiểu thuyết lịch sử Đàn đáy (NXB Hội Nhà văn 2005) thì Trần Thu Hằng đã xứng đáng được gọi là nhà văn. Cách đây vài năm, Trần Thu Hằng được kết nạp vào Hội Nhà văn bằng chính những tác phẩm của mình. Tôi không biết điều gì khiến Trần Thu Hằng “góp ý kiến” về bài thơ Lời cây dầu…? Tôi cũng không tiện hỏi và cũng không biết hỏi thế nào? Nhưng khi thấy nhiều người bảo, đại loại: Tôi chưa từng đọc gì của cô này…;Cô này chắc không phải là nhà văn; Là nhà văn thì không thể hành động như thế… tôi thực sự thấy có cái gì đó bất nhẫn. Tôi nghĩ những ai theo dõi sinh hoạt văn chương trên dưới 15 năm qua, không thể không biết đến cái tên Trần Thu Hằng, nhất là ở mảng văn chương lịch sử vốn không nhiều cây bút trẻ.
Có người nêu ý kiến rằng nên loại Trần Thu Hằng ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi thấy buồn cười, làm như Hội Nhà văn Việt Nam là ngôi đền thiêng, hội viên toàn là văn nhân tài năng đức độ rạng ngời. Cứ thử lướt văn học sử nước nhà, ai cũng có thể thấy biết bao cây đa cây đề cũng từng nhúng chàm, từng ngậm máu phun người, từng ám hại truy bức người khác đến thân bại danh liệt… Thì tôi nghĩ việc làm của Trần Thu Hằng chẳng qua cũng chỉ là nông nổi dại dột. Xin lưu ý rằng Trần Thu Hằng viết thư Góp ý kiến chứ không phải “đấu tố”, và đoạn cuối thư có câu: “Nếu có sai lệch về tư tưởng thì cần sâu sắc rút kinh nghiệm, còn nếu không thì cũng nên giải tỏa cho bản thân tôi và anh em hội viên Hội VNNT Đồng Nai”. Như vậy là Trần Thu Hằng đã không quy kết. Mặc dù, cá nhân tôi, khi đọc tới chỗ “sai lệch về tư tưởng” cũng băn khoăn ghê gớm, một khái niệm mà tôi chưa từng quan tâm, tiếp cận.

Không phải đợi đến bây giờ, mà ngay khi ngồi viết bài ở Biên Hòa, tôi đã nghĩ đến điều có thể phương hại đến Trần Thu Hằng. Nhưng giả như tôi không viết, thì có nghĩa là tôi tán đồng việc Trần Thu Hằng tham dự vào một việc như thế. Nếu tôi không viết, theo như một số người thì chuyện không có gì ầm ĩ, thì có nghĩa là vẫn tồn tại những điều ấm ức và cách hành xử tùy tiện. Nếu tôi không viết, không có nghĩa là hiện thực sẽ tự tốt đẹp hơn…
Điều khiến tôi suy nghĩ nhất bây giờ là sự đơn độc và yếu đuối của mỗi cá nhân nhà văn, đời sống cơm áo gạo tiền không bao giờ là chuyện đùa cợt… Trong một bối cảnh xã hội mà “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”, thì việc sống thanh sạch, mà mạnh mẽ, sáng tạo; không bao giờ là dễ. Tôi, với tư cách bạn bè, chân thành mong Trần Thu Hằng vượt qua những khó khăn này. Đường đời còn dài lắm…

Làng Mai 28/8

30 Th8

Vô Ngã

VỤ ÁN BẦU KIÊN “CÚ ĐẤM” CHIẾN THUẬT HAY “CÚ HÍCH” CHIẾN DỊCH ? 

Phạm Viết Đào.

Nếu quả thực vụ án này được sử dụng như là một vụ án mẫu, vụ án điểm để làm bàn đạp đầy lùi các tệ nạn, củng cố lại được lòng tin của nhân dân vào bộ máy lãnh đạo của Đảng và vai trò cá nhân các vị đang nhận lãnh trọng trách lớn trong bộ máy Đảng, Nhà nước, Chính phủ.Như vậy vụ án Bầu Kiên sẽ trở thành vụ án điểm, vụ án mẫu để chứng minh bản lĩnh và mang tính chất nêu gương, thiết lập lại kỷ cương, chấm dứt một giai đoạn rối loạn, làm loạn ? Hay…

 
Cơ quan Điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can, bắt giam Nguyễn Đức Kiên về tội “kinh doanh trái phép”. Cơ sở…

View original post 2 957 từ nữa

VỤ ÁN BẦU KIÊN “CÚ ĐẤM” CHIẾN THUẬT HAY “CÚ HÍCH” CHIẾN DỊCH ?

30 Th8

VỤ ÁN BẦU KIÊN “CÚ ĐẤM” CHIẾN THUẬT HAY “CÚ HÍCH” CHIẾN DỊCH ? 

Phạm Viết Đào.

Nếu quả thực vụ án này được sử dụng như là một vụ án mẫu, vụ án điểm để làm bàn đạp đầy lùi các tệ nạn, củng cố lại được lòng tin của nhân dân vào bộ máy lãnh đạo của Đảng và vai trò cá nhân các vị đang nhận lãnh trọng trách lớn trong bộ máy Đảng, Nhà nước, Chính phủ.Như vậy vụ án Bầu Kiên sẽ trở thành vụ án điểm, vụ án mẫu để chứng minh bản lĩnh và mang tính chất nêu gương, thiết lập lại kỷ cương, chấm dứt một giai đoạn rối loạn, làm loạn ? Hay…

 
Cơ quan Điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can, bắt giam Nguyễn Đức Kiên về tội “kinh doanh trái phép”. Cơ sở để điều tra ông Kiên xuất phát từ đơn tố cáo vi phạm pháp luật xảy ra tại ba công ty do ông Kiên làm Chủ tịch HĐQT gồm: Công ty CP Đầu tư thương mại B&B; Công ty CP Đầu tư ACB Hà Nội và Công ty TNHH Đầu tư tài chính Á Châu Hà Nội. Ông Kiên đã thành lập một số công ty để kinh doanh tiền tệ trái phép; Hành vi này nếu không được ngăn chặn kịp thời, sẽ gây “lũng đoạn” một số ngân hàng.
Theo báo Tuổi trẻ: “Đây là 3 công ty do bầu Kiên thành lập với vốn điều lệ 2.300 tỉ đồng. Từ cơ sở kinh doanh của 3 công ty này, cũng theo Tuổi trẻ, Bầu Kiên đã:”Lập phương án kinh doanh “khống” để vay tiền;”Mặc dù cả ba công ty nói trên không có chức năng đầu tư tài chính nhưng ông Nguyễn Đức Kiên vẫn sử dụng pháp nhân của chúng để tham gia vào lĩnh vực tài chính. Với khoản vốn điều lệ khổng lồ và uy tín của mình trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, ông Kiên đã xây dựng nên hình ảnh những công ty mạnh về kinh tế, khả năng kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ đó, ông Kiên lập các phương án kinh doanh lớn nhằm nâng giá trị tài sản của công ty lên, tạo ra uy tín về mặt tài chính. Hiện cơ quan điều tra tình nghi những phương án kinh doanh này đều là phương án “khống” được vẽ ra để lấy lòng tin của khách hàng, ngân hàng khi tham gia đầu tư vào công ty của ông Kiên cũng như để ông Kiên sử dụng trong việc đầu tư tài chính trái phép”.
Một dấu hỏi đặt ra: nếu Bầu Kiên chỉ phạm tội như vậy thì tội danh của Kiên cũng chỉ mang tính chất hình sự cá lẻ vì liên quan tới một số ngân hàng mà Bầu Kiên giao dịch, vay tiền.Nếu vậy, vụ bắt  Bầu Kiên chỉ là một vụ án “ gặp may “ của cơ quan chức năng: do có đơn tố cáo về hành vi kinh doanh trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng nên bắt giữ Bầu Kiên; Bầu Kiên vô tình trở thành “ vật thiết lễ “ cho cuộc vận động chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết 4 ?
Theo suy đoán của nhiều người: bắt giữ Bầu Kiên không đơn thuần là một cú ra đòn ngẫu hứng của cơ quan chức năng mà là một cú đột phá, mở màn giống như trận Buôn Ma Thuột 1975.Bắt bầu Kiên là một cú điểm huyệt vào hệ thống mafia tiền tệ đang khuynh loát nền kinh tài Việt Nam, cú hích này đã tạo ra những chấn rung tới thị trường chứng khoán, đã kéo nhiều ông lớn cả ngân hàng lẫn chính phủ phải lao vào cuộc để ” chữa cháy “…
Theo người viết bài này: bắt được bầu Kiên có giá hơn so với bắt Phạm Thanh Bình ( Vinashin) và Dương Chí Dũng ( Vinalines)…
Rất có khả năng: Bầu Kiên là một trong những mắt xích, vừa là “tác giả kịch bản” kiêm “ tổng đạo diễn” kiêm “ diễn viên” của nhiều màn ảo thuật từng lũng đoạn ngành ngân hàng-tài chính; Rất có thể Bầu Kiên là một trong những mắt xích quan trọng của cái đường dây biến ảo hàng trăm ngàn tỷ đồng tiền của nhà nước bấy lâu nay thành những đống sắt vụn, những khoản nợ khó đòi, những hợp đồng nợ xấu giời ơi đất hỡi đang được Thống đốc Nguyễn Văn Bình diễn đạt một cách nhàm tẻ, mệt mỏi, loanh quanh tại diễn đàn Quốc hội và các dự án ” âm phủ”…
Theo thông tin các báo: Bầu Kiên trưởng thành trên thương trường bắt đầu từ anh sinh viên buôn bán xách tay hàng từ Đông Âu về Việt Nam; gặp thời vận: Việt Nam trả nợ cho Hungari, nơi Kiên học đại học và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ chiến tranh bằng hàng hóa Việt Nam; Kiên được giao đứng ra thu gom và triển khai dịch vụ kinh doanh này và đã phất lên…
Theo một vài nguồn tin: Trong khi các các sinh viên khác đang mang hàng 2 chiều bằng phương thức xách tay thì Kiên đã nhanh chóng vượt họ; chở về Việt Nam hàng công tơ nơ thuốc từ Hungari về…Từ cái nền và điểm xuất phát cò con này mà Kiên phất lên:Từ năm 1994 đến 2006, bầu Kiên đảm nhận nhiều vị trí như Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng Á Châu, Chủ tịch HĐQT Công ty May thời trang MTT, Chủ tịch HĐQT Công ty Thiên Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Liên doanh nhựa đường Caltex, Chủ tịch HĐQT Công ty Thể thao ACB, Phó chủ tịch kiêm Chủ tịch Công ty liên doanh KFC Việt Nam, Phó chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần du lịch Chợ Lớn, thành viên HĐQT Công ty Cổ phần du lịch Thiên Minh…
Theo báo CATPHCM: Thế cho nên năm 2008, tài sản tính bằng cổ phiếu của bầu Kiên trong ngân hàng này là gần 1.000 tỷ đồng, nhưng đến năm 2010 chỉ còn khoảng 800 tỷ đồng. Tổng số tài khoản của gia đình ông Kiên tính theo thị trường chứng khoán năm 2010 là khoảng 2.000 tỷ đồng…
Thực ra những số liệu trên vẫn là những số liệu mang tính chất bề nổi, nhiều khi rất xa với sự thật bởi để kiểm đếm tài sản của những phần tử hoạt động kinh doanh trong bóng tối là việc chẳng khác gì đếm cá dưới sông. Điều này chắc cơ quan chức năng cũng đang hướng mục tiêu phá án này sau khi bắt Bầu Kiên?
Về cái gọi là “tội phạm thâu tóm ngân hàng” mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “yêu cầu điều tra, xử lý nghiêm minh bất kỳ đó là ai, thực ra suy cho cùng một kẻ như bầu Kiên, chỉ sử dụng tiền không thì cái giá để thâu tóm đâu có thấp, lãi suất chắc không cao; phải dùng quyền lực chính trị nhà nước thì mới lãi to, cái này Kiên đâu có được sở hữu…
Tóm lại cái tổ con chuồn, những mảng miếng giúp Bầu Kiên hốt bạc của thiên hạ vẫn chưa ai hình dung ra kể cả Thủ tướng; do vậy các thông tin ban đầu trên báo rất sơ sài và rất thiếu sức sống nếu không muốn nói là còn nhiều mâu thuẫn, “ đầu Ngô mình Sở”, vì vậy nên nó đang gây hoang mang dư luận…

Hiện nay tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng thường có mấy dạng đáng lưu ý như sau:
 
1/ Cò ngân hàng
 
Đây là loại tội phạm sử dụng quan hệ và phạm vi ảnh hưởng với giới chức ngân hàng và quan chức chính phủ để điều tiết các khoản vay lớn; loại tội phạm này tham gia vào đường dây chung chi khoản tiền vay được của ngân hàng; Hoạt động nầy thịnh hành vì nền kinh tế Việt Nam tuy đã được thị trường hóa nhưng vẫn bị tàn dư của cơ chế xin-cho ám ảnh, chi phối…Theo thông tin vỉa hè thì cái khoản chung chi này có khi lên tới 30 % trên tổng số tiền được vay; Mặc dù khoản chung chi cao nhưng lại phải chia năm sẻ bảy nên thu nhập của từng cò cũng có mức độ khó lòng giàu bốc lên được…
 
2/ Dựng lên các đề án “kinh doanh ma”, các “dự án âm phủ” để rút tiền ngân sách ra chia nhau; Hay nói cách khác: Cò dự án chính phủ…
 
Đây là loại tội phạm nguy hiểm và thường gắn với các dự án của chính phủ và các tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước, ví như trường hợp Vinashin, Vinalines? Bởi chỉ có những dự án mang danh Chính phủ và các tập đoàn kinh tế nhà nước có nhãn mác lớn, bắt mắt nên việc tiêu tiền chùa, việc rút ra tẩu tán, tiêu hóa nó rất nhanh; sau đó số tiền ăn gian này được đẩy vào loại nợ xấu, nợ khó đòi, kinh doanh ra ngoài ngành không hiệu quả…
Cái cỗ máy bày ra trò ảo thuật này đã tinh quái biến những hành vi bản chất là tham ô, biển thủ công quỹ trở thành hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm, do dốt nên gây hậu quả nghiêm trọng; hành vi cốc ý lam trái; những kẻ tham gia vào đường giây chung chi những khoản tiền gian này là bẫm nhất, an toàn hơn, ra tấm ra miếng hơn…
Bởi vì: nếu bị kết tội tham ô thì số tiền 1 tỷ theo Luật Hình sự đã có thể bị tử hình; Trong khi đó hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hay tội cố ý làm trái có thất thoát lên tới hàng tỷ USD nhưng Phạm Thanh Bình cũng chỉ bị kết án 20 năm tù…
Như chúng ta đều biết: Để vay được vốn ngân hàng; bất cứ ngân hàng nào khi ra quyết định cho vay cũng làm khá nghiêm ngặt khâu thẩm định dự án; tức phải là những dự án kinh doanh thật, mang lại hiệu quả thì mới được giải ngân. Riêng đối với các dự án nhất là của các tập đoàn kinh tế mang danh Chính phủ thì phần thủ tục này đôi khi chỉ cần căn cứ vào nghị quyết nọ kia, thậm chí đôi khi chỉ cần một cú phôn là có thể hợp thức xong cả công đoạn thẩm định dự án nhiêu khê loằng ngoằng và đầy các thủ tục ràng buộc pháp lý…
Việc “ bay hơi “ nhanh trong một vài năm, để lại rất ít vết tích những khoản tiền lên tới hàng tỷ USD trong các vụ án Vinashin, Vinalines và ở một số tập đoàn kinh tế nhà nước cho phép chúng ta suy đoán: nhất định đằng sau nó phải có cả một “dây chuyền công nghệ” được chế tác bởi các chuyên gia cự phách…
Liệu Bầu Kiên có chân trong cái “ dây chuyền công nghệ “ được các tập đoàn tội phạm lập ra để sản xuất ra các dự án “kinh doanh ma”, các “dự án âm phủ” để rút tiền ngân sách ? Cần nên hiểu do những nét đặc thù của loại hoạt động này: các vở kịch biến ảo này rất nhiều khi tác giả kịch bản kiêm đạo diễn, kiêm diễn viên lại cũng ảo nốt, ít khi giơ đầu chịu báng bởi chúng chỉ đứng sau hậu trường…Thành ra những kẻ chường mặt ra như Phạm Thanh Bình ( Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinashin ), Dương Chí Dũng ( Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines ) nhiều khi giá trị vật chứng pháp lý lại không khác mấy con rồi do kẻ khác lập trình các hành vi, do vậy nên sau khi vụ án xảy ra việc bắt tội và quy tội nhất là tội tham ô, tham nhũng thường rất khó; mặc dù số tiền thất thoát lớn nhưng lại không phát hiện ra được nó vào túi ai ? Và một nghịch lý: Có khi kẻ vớ bẫm lại không phải chịu trách nhiệm hình sự gì vì chúng nấp trong bóng tối, sau lưng kẻ có quyền lực; Kẻ có quyền lực đôi khi lại chỉ là kẻ hưởng xái vì thế thường nhận mức án: Thiếu tinh thần trách nhiệm ?! Đây cũng là một trong những căn bệnh mà báo chí quen gọi là “lỗi hệ thống”, “bệnh cơ chế” ?!
Vậy Bầu Kiên có chân trong những đường dây kể trên không? Đây là dấu hỏi mà nhiều người đang đặt ra với Ban Chuyên án trong kỳ án này; Bởi nếu không là Bầu Kiên thì nhất định phải có những kẻ như y tham gia vào loạt hoạt động tội phạm này. Đó là điều có thể giải thích vì sao có những kẻ tự nhiên giàu lên rất nhanh, trở thành đại gia mà mà không thấy sản xuất-kinh doanh mặt hàng gì ra hồn, đóng góp được một sản phẩm có giá trị gì cho xã hội…Sản phẩm kinh doanh của loại cò này thường là: những đống giấy lộn, những tạp dự án; những thiết bị sắt vụn nhưng được thanh khoản bằng những đống tiền tươi thóc thật rút từ trong kho nhà nước; Đấy mới chính là loại hình kinh doanh có lãi suất cao nhất, thời thượng nhất,tốn ít công sức nhất, ít rủi ro nhất, ngon lành nhất đám tội phạm này dựa một thế lực chính trị đang mạnh cánh…
Để bóc mẽ ra loại tội phạm này ngoài tài năng, nghiệp vụ sắc bén, sự kiên cường của cơ quan chức năng chỉ đạo còn cần đòi hỏi lực lượng đi phanh phui, chống lại loại tội phạm này phải mẫn cán, trung thành và cũng phải được hậu thuẫn bởi một thế lực chính trị mạnh cánh; Có như vậy thì may ra mới khoan phá được những ổ đề kháng, bonker kiên cố, những “bát trận đồ” ngăn cản, chống trả và đủ khả năng làm rối loạn mất phương hướng các mũi đột phá…
Trong cuộc ra quân lần này, được triển khai theo chiến dịch chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết 4, dư luận phần nào đặt niềm tin vào người đứng đầu TBT Nguyễn Phú Trọng, một nhà lãnh đạo cho đến thời điểm hiện tại chưa thấy tì vết gì, tai tiếng loằng ngoằng gì liên quan tới chuyện tiền nong, con cái; Về năng lực người ta có thể đặt những dấu hỏi về ông nhưng về phẩm chất cá nhân, hiện ông là người chưa bị điều tiếng gì; là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang một chính khách có bản lĩnh chính trị ngoan cường; Là Bộ trưởng Trần Đại Quang, một ủy viên Bộ chính trị trẻ, ông sinh 1956; người mà tiền đồ chính trị còn đang rất rộng mở…Nếu quả thực vụ án Bầu Kiên này được sử dụng như là một vụ án mẫu, vụ án điểm để làm bàn đạp đầy lùi các tệ nạn, củng cố lại được lòng tin của nhân dân vào bộ máy lãnh đạo của Đảng và vai trò cá nhân các vị đang nhận lãnh trọng trách lớn trong bộ máy Đảng, Nhà nước, Chính phủ.Nếu như vậy vụ án Bầu Kiên sẽ trở thành vụ án điểm, vụ án mẫu để chứng minh bản lĩnh và mang tính chất nêu gương, thiết lập lại kỷ cương, chấm dứt một giai đoạn rối loạn, làm loạn thì ắt sẽ tạo những tia hy vọng…
Vấn đề chuyên án có mở rộng đến cùng, tới đáy của vấn đề nhằm truy kích và thiết lập lại trật tự trong lĩnh vực cốt tử ngân hàng-tiền tệ này còn thuộc vào tài năng và sự kiên cường của ban chuyên án, những người trực tiếp tác chiến.
Để lần ra đường dây thao túng này, vẫn có thể tìm ra bằng nghiệp vụ ngân hàng tiền tệ mà các các cơ quan chức năng chống rửa tiền quốc tế vẫn áp dụng thì vẫn có thể tìm ra những nguồn gốc của những đồng tiền đen tiền bẩn, tiền phi pháp của những kẻ như Bầu Kiên…Nếu cơ quan chuyên án kết hợp với các cơ quan thanh tra chuyên ngành truy tìm ráo riết các nguồn tiền ra vào các tài khoản của Bầu Kiên và những kẻ tình nghi thì vẫn có thể lần tìm ra dầu vết vì: số tiền đó lên tới hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng chuyển qua lại của hệ thống ngân hàng…
Một con người thân cận, có khả năng vào ra cửa sau của nhiều quan chức chính phủ, ngân hàng như Bầu Kiên khó lòng bỏ qua mảng miếng làm ăn bự này; Chính mảng làm ăn này, mới có thể giải thích thỏa đáng cho những khoản tài sản lớn mà Bầu Kiên có được trong một thời gian ngắn, trong cái thời buổi người khôn của khó này ?! Còn những mặt hàng kinh doanh mà bầu Kiên kê khai trong giấy phép thì khi triển khai, lo được đủ lương cho công nhân, trả được nợ ngân hàng, lo được nghĩa vụ thuế đã là tài lắm rồi; lấy đâu ra tiền để đi những con xe mấy chục tỷ đồng ?
Tóm lại, vụ án Bầu Kiên nếu không được đẩy tới cùng, làm cho ra nhẽ và được bạch hóa thông tin thì dễ dẫn tới những hậu quả kinh tế-chính trị phản tác dụng, “phản lực” khó lường định; Vụ án Bầu Kiên đổ bể cũng giống như một lần thiết chế quản lý ngân hàng, tiền tệ được một lần tiêm chủng ngừa bệnh; Nếu sự tiêm chủng này không đủ liều, dẫn tới việc những virus ủ bệnh được miễn dịch, tất yếu chúng sẽ trở nên lỳ lợm, nguy hiểm và hung tợn hơn khi gặp thời cơ bùng phát bệnh ?!
 
P.V.Đ.

Trung Quốc xác nhận thử thành công tên lửa tầm bắn 14.000km – KT

30 Th8

Trung Quốc xác nhận thử thành công tên lửa tầm bắn 14.000km

– Những đồn đoán về việc Trung Quốc đã phát triển và bắn thử nghiệm thành công một tên lửa đạn đạo liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân DF-41 đã được các phương tiện truyền thông Bắc Kinh xác nhận.

Trung Quốc chính thức lên tiếng thông báo rằng quân đội nước này đã bắn thử nghiệm thành công một tên lửa đạn đạo liên lục địa mới có tầm bắn tới 14.000 km và có thể mang nhiều đầu đạn hạt nhân, tạo ra cho họ một “khả năng tấn công phủ đầu” vào các mục tiêu ở sâu bên trong nước Mỹ cũng như các mục tiêu trên toàn thế giới.

Xác nhận trên được kênh truyền hình nhà nước CCTV của Trung Quốc tuyên bố hôm thứ ba (28/8).

Theo CCTV, loại tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) mới được định danh là Dongfeng-41 hay DF-41, có khả tầm bắn xa tới 14.000 km và đã được Quân đoàn pháo số 2 của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) bắn thử nghiệm thành công vào cuối tháng trước.

“Tên lửa di động mới, kết hợp đường cong đầu đạn và chuyển động tuế sai tạo cho Trung Quốc khả năng tấn công đầu tiên”, kênh truyền hình CCTV nói.

CCTV cũng cho biết rằng, 10 đầu đạn hạt nhân có thể được tích hợp lên tên lửa mới của họ.

Tên lửa đạn đạo liên lục địa tầm xa DF-41
Tên lửa đạn đạo liên lục địa tầm xa DF-41

Trước đó, trang tin Washington Free Beacon của Mỹ trích dẫn lời các quan chức tình báo CIA cho biết, Trung Quốc bí mật phóng thử một tên lửa đạn đạo liên lục địa tầm xa ở Trung tâm thử nghiệm tên lửa và không gian Wuzhai. Tuy nhiên CIA không nói rõ vụ thử nghiệm này có thành công hay không.

Trung Quốc tuyên bố rằng họ sẽ không phải là người đầu tiên sử dụng vũ khí hạt nhân trong trường hợp xảy ra xung đột và nói các lực lượng hạt nhân PLA được thành lập để phản công chống lại một cuộc tấn công hạt nhân trên lãnh thổ của mình.

Theo các nhà phân tích, việc bắn thử thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa DF-41 của Trung Quốc cũng có ý nghĩa chiến lược với Ấn Độ trong bối cảnh New Delhi thử nghiệm thành công tên lửa đạn đạo tầm xa Agni-V có khả năng bắn tới thủ đô Bắc Kinh.

Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng tên lửa hạt nhân tầm xa của Trung Quốc đã gây ra nhiều mối quan ngại đối với các nước như Mỹ, Ấn Độ và các quốc gia khác trong khu vực châu Á.

Báo cáo chính thức của CCTV cũng nói rằng, Quân đoàn pháo số 2 được thành lập và phát triển từ năm 1966. Quân đoàn pháo số 2 bao gồm một vài sư đoàn đóng vai trò là các lực lượng tên lửa hạt nhân chiến lược mặt đất và lực lượng tên lửa chiến thuật thông thường cùng các đơn vị hỗ trợ.

Ngoài ra, các phương tiện truyền thông Trung Quốc cũng cho biết tàu sân bay đầu tiên của họ, Varyag đã bắt đầu chuyến thử nghiệm thứ 10 trên biển.

Yến Phạm (theo Brahmand)

 

TIN LIÊN QUAN

ASEAN+3 là động lực cho phát triển vững chắc tại Đông Á

30 Th8

ASEAN+3 là động lực cho phát triển vững chắc tại Đông Á

(VOV) – Kể từ năm 1997 đến nay, cơ chế hợp tác kinh tế của ASEAN+3 đã có những đóng góp to lớn đối với khu vực trong nhiều lĩnh vực quan trọng  

Để tiếp tục thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên, thành lập Cộng đồng Kinh tế vào năm 2015, ASEAN cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ và thiết thực hơn nữa từ các đối tác phát triển, đặc biệt là 3 đối tác quan trọng ở Đông Á gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Nội dung này một lần nữa được đề cập tại Hội nghị Tham vấn Bộ trưởng Kinh tế ASEAN+3 lần thứ 15 diễn ra chiều nay (29-08) tại Siem Reap, Campuchia.

 

Các đại biểu tham dự Hội nghị Tham vấn Bộ trưởng Kinh tế ASEAN+3

 

Hội nghị Tham vấn Bộ trưởng Kinh tế ASEAN cộng 3 (AEM+3) lần này đánh dấu kỷ niệm 15 năm hình thành và hoạt động của một trong cơ chế hợp tác kinh tế hiệu quả nhất tại Đông Á nói riêng và trên thế giới nói chung. Kể từ năm 1997 đến nay, cơ chế hợp tác kinh tế của ASEAN với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã có những đóng góp to lớn đối với khu vực trong nhiều lĩnh vực quan trọng, như thúc đẩy tự do hóa thương mại, khuyến khích đầu tư, hỗ trợ tài chính, an ninh lương thực, phát triển năng lượng…

Năm 2011, tổng giá trị thương mại của 10 nước ASEAN với ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tăng 26,2%, đạt hơn 678 tỉ USD. Đặc biệt, nhóm 3 nước này cũng là những nhà đầu tư quan trọng nước ngoài hàng đầu vào ASEAN. Đầu tư nước ngoài trực tiếp từ Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vào ASEAN năm 2011 đạt hơn 41 tỉ USD, chiếm gần một nửa tổng đầu tư nước ngoài vào ASEAN.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Thương mại Hàn Quốc Park Taeho nhận xét: “Khu vực Đông Á vẫn đang tiếp tục phát triển vững chắc, ngay cả trong khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay. Tôi tin rằng, chính cơ chế ASEAN+3 đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển bền vững này của khu vực. Đặc biệt, tôi ghi nhận sự tiến bộ trong hợp tác tài chính của khu vực, trong đó có thỏa thuận gần đây giữa các thể chế tài chính về việc mở rộng Sáng kiến Chiang Mai. Tôi cũng vui mừng ghi nhận Sáng kiến Dự trữ gạo của ASEAN+3 chính thức có hiệu lực từ tháng 7 năm nay, góp phần vào đảm bảo an ninh lương thực của khu vực”.

 

 

 

Tại Hội nghị, các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN+3 cũng thảo luận và xem xét các tiến bộ đạt được trong công tác chuẩn bị của một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc với cơ chế Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực của ASEAN. Các cuộc đàm phán của hai sáng kiến này sẽ chính thức bắt đầu ngay trong năm nay với kỳ vọng sẽ tiếp tục thúc đẩy sự hội nhập kinh tế sâu sắc hơn tại khu vực Đông Á./.

Tuấn Anh/VOV-Campuchia

Người Mỹ gốc Việt trước cuộc vận động tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2012

30 Th8

Người Mỹ gốc Việt trước cuộc vận động tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2012

Ứng viên Tổng thống Hoa Kỳ đảng Cộng hòa Mitt Romney (trái) và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama (phải)

 
Tin liên hệ
 

Đến ngày 6 tháng 11 năm nay, người dân Hoa Kỳ sẽ lại có cuộc bầu cử quan trọng để chọn người lãnh đạo quốc gia. Mặc dù tại Hoa Kỳ có nhiều đảng chính trị nhưng trên thực tế, chỉ có hai đảng thay phiên cầm quyền là đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hòa. Cuộc vận động tranh cử Tổng Thống và Phó tổng Thống Hoa Kỳ năm 2012 đang bước vào giai đoạn sôi nổi.

Đảng Dân Chủ là đảng đang cầm quyền và tổng thống Barack Obama và Phó tổng thống Joe Biden sẽ được Đảng chính thức đề cử ra tái tranh cử cho nhiệm kỳ 4 năm tới, tại Đại Hội toàn quốc của đảng Dân chủ vào ngày 3 tháng 9 năm 2012 tại thành phố Charlotte, tiểu bang North Carolina.

Còn Đại hội toàn quốc của đảng Cộng Hòa dự trù tổ chức vào ngày 27 tháng Tám tại thành phố Tampa, thuộc tiểu bang Florida để chính thức đề cử Thống đốc Mitt Romney và dân biểu Paul Ryan, đại diện cho đảng Cộng Hòa trong cuộc chạy đua vào tòa Bạch Ốc. Tuy nhiên, đại hội của đảng Cộng Hòa phải dời lại một ngày, vì ảnh hưởng của cơn bão Isaac đang đe dọa thành phố Tampa.

Trong quá khứ, vai trò của cử tri người Mỹ gốc Việt trong các cuộc bầu cử thường rất thầm lặng. Tuy nhiên trong kỳ tổng tuyển cử này, những cử tri người Mỹ gốc Việt hoạt động rất tích cực.

“Ủy ban Người Mỹ gốc Việt ủng hộ Tổng Thống Obama” – Vietnamese Americans For Obama – gọi tắt là VAFO, có trụ sở ở thủ đô Washington, D.C và nhiều tiểu bang khác. VAFO đang vận động ráo riết cho liên danh Dân Chủ Obama-Biden. Ông Đỗ Quang Tỏa, là một người tị nạn cộng sản và là một thành viên của VAFO tại tiểu bang Virginia, cho biết về tổ chức và mục đích của VAFO như sau:

“Tổ chức VAFO được thành hình hơn một năm nay và chúng tôi có những thành viên thuộc nhiều tiểu bang như là Cali, Oregon, Virginia, Maryland, Illinois, Florida.. VAFO thực sự có hai mục đích chính, mục đích thứ nhất là kêu gọi, cổ động đồng bào đi bầu cho thật đông để chúng ta có tiếng nói và điểm thứ nhì là cổ động đồng bào đi bầu đông và ủng hộ tổng thống Obama tái đắc cử nhiệm kỳ hai”.

Còn anh Hoàng Linh là một bạn trẻ lớn lên tại Hoa Kỳ và là một thành viên chính thức trong cử tri đoàn của Đảng Dân Chủ tại tiểu bang Virginia, thì nói là VAFO sẽ yêu cầu các cấp lãnh đạo trong đảng Dân Chủ tiếp tục ủng hộ các vấn đề Nhân Quyền, Tự do và Dân chủ cho Việt Nam:

“Chúng tôi sẽ có một cuộc tiếp tân và tiếp xúc với cấp lãnh đạo đảng Dân chủ để đưa vấn đề Nhân quyền, Tự do và Dân chủ cho Việt Nam. Đây là một cơ hiếm có để người Mỹ gốc Việt có thể dùng là phiếu của mình ở những tiểu bang với tỷ lệ thắng thua khít khao, như tiểu bang Virginia, Ohio, Pennsylvania và Nevada, thành những đòi hỏi thực tế với nhiều hy vọng được chấp thuận”.

Anh Linh nói rằng lý do nhóm VAFO ủng hộ tổng thống Obama vì chính sách của ông: “Chính sách của Tổng Thống Obama bảo đảm những phúc lợi cho các bậc cao niên, tạo cơ hội thăng tiến cho giới trẻ qua lãnh vực giáo dục và ủng hộ cuộc tranh đấu cho Nhân Quyền, Tự do cho Việt Nam”.

Anh nói thêm rằng sở dĩ anh tình nguyện vận động cho tổng thống Obama là để tiếp nối những nỗ lực của cha mẹ và anh tin tưởng là tổng thống Obama sẽ thành tâm giúp đỡ cộng đồng Việt Nam:

“Lý do căn bản nhất đã thúc đẩy tôi tình nguyện vận động cho Tổng Thống Obama là để tiếp nối những nỗ lực và sự hy sinh to lớn của ba mẹ tôi đã từ bỏ quê hương Việt Nam thân yêu, đi đến nơi đất khách quê người, tái tạo lại cuộc đời, làm việc cực nhọc để nuôi tôi có được ngày hôm nay. Đây cũng chính là cuộc đời của Tổng Thống Obama, do đó tôi thấy rất gần gũi và tin tưởng ông sẽ giúp đỡ một cách thành tâm đối với cộng đồng người Việt”.

Trong khi đó tổ chức Texas Asian Republican Club – Hiệp Hội Người Mỹ gốc Á Châu đảng Cộng Hòa tại Texas – có trụ sở chính tại Houston, cũng đang tích cực vận động cử tri đi bầu đông đủ và ủng hộ Liên Danh Romney – Ryan. Ông Hồ Thanh Nghị, chủ tịch của hội này, cho biết là Hội có trên dưới 1000 hội viên, trong đó có khoảng 30 phần trăm là doanh gia người Mỹ gốc Việt. Ông Nghị theo gia đình đến Mỹ tị nạn từ lúc 8 tuổi, và là một cựu đại úy Hải Quân Hoa Kỳ.

Là một nhà kinh doanh tại Houston, ông Nghị cũng là Ủy Viên Giáo Dục trong khu học chánh Alief, một khu vực phía tây nam Houston, với rất nhiều người gốc Việt cư ngụ. Ông chia sẻ lý do ông ủng hộ đảng Cộng Hòa là vì đảng Cộng Hòa chủ trương hệ thống kinh tế tự do, trong khi chính phủ của Tổng Thống Obama tạo quá nhiều luật lệ, thuế má, làm trở ngại cho việc phát triển kinh doanh, và không giải quyết được nạn thất nghiệp:

“Bây giờ nhiều thuế rồi, mình đi làm thì income tax, sale tax, property tax, cộng lên hết nhiều quá rồi.  Chính phủ họ cần giảm bớt luật, regulations nhiều quá, government spending nhiều quá”.

Ông nói thêm là Hoa Kỳ đã vay nợ quá nhiều, nếu không cắt giảm ngân sách thì không biết làm sao mà trả nổi:

“Cái debt của chính phủ là gần 16 ngàn tỷ đồng Mỹ kim, không biết mình sustain nổi không”.

Và ông tỏ ý quan ngại là thế hệ con cháu sẽ phải trả nợ quá lớn vì chương trình y tế của tổng thống Obama. Ông cho rằng cuộc bầu cử này là sự chọn lựa giữa hai đường hướng, một là cứ tiếp tục vay nợ như đảng Dân Chủ cho thế hệ tương lai phải trả; hai là tiết kiệm cắt giảm ngay từ bây giờ như đường hướng của đảng Cộng Hòa:

“Cái này quan trọng cho mấy đứa nhỏ, mấy đứa trẻ mai mốt sẽ trả cái debt này vì bây giờ mình xài tiền của tụi nó, mấy cái medicare, mình cho ai xài cũng được nhưng mai mốt mấy người trẻ sẽ phải trả lại cái debt nó nhiều quá rồi”.

Còn bà Thảo, phu nhân của ông Nghị thì cho biết là bà rất đồng ý với chồng và ủng hộ đảng Cộng Hòa trên các vấn đề ngân sách, kinh tế. Tuy nhiên bà nói rằng có những vấn đề khác, như luật phá thai, thì bà thấy là nữ giới phải có quyền quyết định cho chính bản thân họ:

“Cháu không đồng ý abortion nhưng mà cháu nghĩ đàn bà, we should have a choice. Thí dụ như ai có bị rape thì mấy chuyện đó thì we should have the right to decide.”

Sự quan tâm của người Mỹ gốc Việt về cuộc bầu cử cho thấy họ đang hòa đồng vào nhịp sống chính trị tại Hoa Kỳ như những người Hoa Kỳ chính gốc. Các bà nội trợ cũng như giới trẻ ngày càng am tường các vấn đề chính trị tại Hoa Kỳ. Họ công khai và tích cực tham gia vào các cuộc vận động chính trị dòng chính. Một số người thích đường lối của đảng Dân Chủ, một số khác lại thích chủ trương của đảng Cộng Hòa. Ngay trong một gia đình, đôi khi cũng có những quan điểm khác biệt.

Có một điều mà có lẽ đại đa số người Mỹ gốc Việt đồng ý là mọi người có quốc tịch Hoa Kỳ và đến tuổi đi bầu, đều phải đi bầu để nói lên nguyện vọng của tập thể người Mỹ gốc Việt và chế độ độc đảng thì không thể chấp nhận được, dù trong cùng một gia đình.

Nguyễn Phục Hưng, tường trình từ Houston, Texas

Houston: biểu tình phản đối Trung quốc xâm lấn Việt Nam – RFA

30 Th8

Houston: biểu tình phản đối Trung quốc xâm lấn Việt Nam

Hiền Vy, thông tín viên RFA

Hàng ngàn người Việt ở Houston đã rầm rộ xuống đường biểu tình phản đối sự xâm lăng của Trung Quốc vào trưa Chủ Nhật, ngày 26 tháng 8 năm 2012

Photo Hien Vy, RFA

Hàng ngàn người Việt đã đến trước Lãnh sự quán Trung quốc, biểu tình phản đối Bắc Kinh xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

 

Tải xuống – download

Trước sự đàn áp người dân yêu nước biểu tình phản đối Trung quốc xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam, thì cách đây vài tuần, một số nhân sĩ trong nước đã lên tiếng đề nghị nhà cầm quyền Việt Nam để cho các đoàn thể tổ chức biểu tình chống Trung quốc xâm lược. Trong khi người Việt trong nước chưa có câu trả lời từ nhà cầm quyền, thì người Việt hải ngoại tại nhiều nơi, đã xuống đường biểu tình phản đối sự xâm lăng của Trung Quốc.  “Ủy ban đấu tranh bảo toàn lãnh thổ Việt Nam” đã tổ chức một cuộc xuống đường rầm rộ tại Houston vào trưa Chủ Nhật, ngày 26 tháng 8 năm 2012

Không e ngại cái nắng gay gắt của buổi trưa Hè, hàng ngàn người Việt hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Liên Tôn Houston, đã đến trước Lãnh sự quán Trung quốc, biểu tình phản đối Bắc Kinh xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam. Không chỉ người Houston mà các cộng đồng người Việt quốc gia từ Galveston, Austin, San Antonio, Dallas, Tarrant… cũng tham dự.

Kêu gọi tinh thần Diên Hồng của người Việt

Hoà thượng Thích Huyền Việt  và LM Phạm hữu Tâm, thay mặt ban tổ chức đọc bản tuyên cáo, nói lên sự phản đối của người Việt trước sự bành trướng thế lực của Trung Quốc:

“Cực lực phản đối và tố cáo nhà cầm quyền Trung cộng về chủ trương lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và một phần lớn vùng biển Đông Nam Á.

Cực lực phản đối những yêu sách phi lý, ngang ngược của nhà cầm quyền Trung cộng đối với cái gọi là “đường lưỡi bò”, chiếm đến hơn 80% diện tích vùng biển được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Đòi hỏi nhà cầm quyền Trung cộng chấm dứt mọi hành động gây hấn, bách hại ngư dân Việt Nam. Lập tức rút lui các lực lượng ngư thuyền, đơn vị quân sự khỏi vùng biển đảo Việt Nam. Trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam …”

Linh mục Vũ Thành cho biết lý do Hội Đồng Liên Tôn kêu gọi biểu tình là để dấy lên tinh thần Diên Hồng trong lòng dân Việt, mà tiền nhân đã từng có trong những thế kỷ trước, khi Tầu xâm lấn Việt Nam:

Chúng tôi muốn tiếp nối 71 nhà trí thức hải ngoại và Việt Nam đã lên tiếng. Chúng tôi hy vọng nhóm lên tinh thấn Diên Hồng của toàn dân Việt Nam, đoàn kết với nhau mà đứng lên

Linh mục Vũ Thành

“Chúng tôi uất hận và đau xót cho đồng bào chúng tôi, nhất là những ngư dân vùng ven biển. Nước Việt Nam, một nửa là biển mà giờ đây Trung cộng mang hai mươi ba ngàn tàu đánh cá mà trong đó có vũ khí nữa, tràn ngập vào đó. Vì vậy mà có những khẩu hiệu “Ăn cắp cá”. Ngư dân Việt Nam không có đất sống. Chúng tôi muốn tiếp nối 71 nhà trí thức hải ngoại và Việt Nam đã lên tiếng. Chúng tôi hy vọng nhóm lên tinh thấn Diên Hồng của toàn dân Việt Nam, đoàn kết với nhau mà đứng lên”.

Linh mục Vũ Thành nói thêm là ngoài việc phản đối sự bành trướng của Trung quốc, “Ủy ban đấu tranh bảo toàn lãnh thổ Việt Nam” cũng phản đối nhà nước Việt Nam trước sự đàn áp người dân yêu nước, biểu tình chống Trung quốc tại Saigon và Hà Nội.

 

Cuộc biểu tình trước Lãnh sự quán Trung quốc ngày 26 tháng 8 năm 2012 ở Houston
Cuộc biểu tình trước Lãnh sự quán Trung quốc ngày 26 tháng 8 năm 2012 ở Houston. Photo Hien Vy, RFA

“Trước hết là chúng tôi chống Trung Cộng, và dĩ nhiên là chúng tôi chống sự đàn áp của nhà nước Việt Nam, không cho người dân biểu tình”. 

Ngoài khẩu hiệu “Trung Quốc! Hãy ngưng Ăn Cắp Cá” còn có những khẩu hiệu khác như: “Trung Quốc Xâm Lược! Hãy cút khỏi Việt Nam”, “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”, “Tẩy chay hàng hóa Trung quốc” …

Lẫn trong tiếng nhạc đấu tranh và tiếng reo hò của đoàn người biểu tình, LM Phạm Hữu Tâm xác nhận trách nhiệm của một tu sĩ:

“Là tu sĩ, là giáo sĩ, những người lãnh đạo tinh thần tôn giáo, không làm chính trị nhưng trách nhiệm của tôn giáo là soi sáng, hướng dẫn lương tâm của con người. Sự đúng, sự thiện, phải làm. Sự xấu phải tránh. Và nhất là phải chống lại sự ác. Vì vậy hôm nay, Tôi phản đối Trung quốc xâm lăng đất nước tôi, giết hại đồng bào tôi. Tôi kêu gọi mọi người có lương tâm chân chính, phản đối sự ác này …”

Quan tâm đến quê hương

Đứng cùng gia đình trong đoàn biểu tình, cô Minh Hoàng cho biết gia đình cô luôn luôn tham dự những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc và Hà Nội, để hỗ trợ cho người dân trong nước, khi thấy họ bị công an VietNam đàn áp, không cho thể hiện lòng yêu nước, trước đại họa ngoại xâm:

Người Việt Nam có tấm lòng yêu nước thì dù ở nơi đâu cũng có thể thể hiện được

Cô Minh Hoàng

“Đau lòng lắm! Đau lòng lắm! Mình làm được cái gì thì làm thôi chứ rất là đau lòng. Họ đánh đập người dân. Họ coi dân không là con người nữa …”

Cô Minh Hoàng cũng nói thêm là người Việt thì dù ở đâu cũng có thể biểu lộ lòng yêu nước:

“Người Việt Nam có tấm lòng yêu nước thì dù ở nơi đâu cũng có thể thể hiện được.”

Một người biểu tình khác, tên Thắng cũng đồng quan điểm:

“Ít nhiều gì thì mình cũng phải quan tâm tới quê hương Việt Nam. Những người bên Việt Nam không có được cơ hội đi biểu tình để nói lên sự bất công của Trung cộng đối với Việt Nam. Bên đây mình phải nói lên những lời nói mà bên Việt Nam không nói được”.

Có mặt trong đoàn biểu tình, Linh mục Nguyễn văn Khải, người đã từng cùng giáo dân Thái Hà xuống đường đòi công bằng cho người dân, vào những năm trước, so sánh sự đối xử khác biệt của cảnh sát với người biểu tình tại Việt Nam và Hoa Kỳ:

“Ở đây thì mọi người được tự do xuống đường, tự do giăng biểu ngữ và việc biểu tình thì được cảnh sát giúp đỡ và hướng dẫn rất trật tự. Ở Thái Hà hay Hà Nội, dân xuống đường biểu tình mà không cẩn thận là bị cảnh sát đàn áp. Đấy là sự khác biệt giữa một xứ sở tự do và một xứ sở độc tài toàn trị”.

Dù biết nhà nước Việt Nam không nương tay với những người biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và Sài gòn, nhưng anh Trần văn Bé Tư vẫn ao ước được một lần, cùng người dân trong nước xuống đường phản đối sự xâm lăng của phương Bắc:

“Nếu mình không lên tiếng thì người ngoại quốc họ không biết đâu! Mình phải lên tiếng. Lên tiếng thì giúp được trong nước. Trong nước đi biểu tình thì bị giam cầm, bị bịt miệng thì đâu có ai biết. Tôi thấy rất là giận dữ (với công an) mà rất là thương đồng bào trong nước. Mình cũng mong có cơ hội về đi biểu tình với đồng bào trong nước, cho dù họ bắt mình mình cũng chịu nữa…”

Hãy bay với hai cánh vào Hiện đại – VHNA

30 Th8

Hãy bay với hai cánh vào Hiện đại

Cao Huy Thuần

Thưa Quý Vị,
Thưa các bạn đồng nghiệp, trí thức, sinh viên thân mến,

Tây phương biết Phật giáo từ hồi đầu thế kỷ 19. Nhưng hồi đó chỉ mới một số ít học giả và triết gia khám phá ra sức thu hút của một tư tưởng đến từ phương Đông mà người ta không biết nên gọi là tôn giáo hay triết lý. Âm thầm, “ im lặng, Phật giáo lan ra xã hội, phát triển khắp nơi ở châu Âu ” (1) từ giữa thế kỷ 19 cùng với sự phát triển của trào lưu tiến hóa mà ngày nay ta gọi là hiện đại. Âm thầm, im lặng như thế cho đến đầu những năm 60 của thế kỳ 20 thì Phật giáo bỗng được tiếp nhận rộn ràng trong giới trẻ khi giới này phất lên một phong trào văn hóa phản kháng (contre-culture) chống lại văn hóa tôn sùng kỹ thuật, vật chất và tiền bạc. Giới trẻ khao khát một đời sống tâm linh mới giúp họ giải quyết những vấn đề tâm lý, hiện sinh, và họ nghĩ đã tìm được nơi Phật giáo. Đó là lúc mà nhiều trí thức trẻ tìm đến Tây Tạng như tìm đến miền đất hứa. Nhanh chóng, trong vòng hai mươi năm, tu viện và thiền viện mọc lên hàng trăm ngôi trên khắp Âu Mỹ. Giới trẻ – học thức và trung lưu – gặp một thứ hạnh phúc mới mà họ thực chứng được bằng kinh nghiệm tu học bản thân trong các thiền đường. Đến những năm 90 thì báo chí, truyền thông rộ lên cả một cao trào tin tức, bình luận, phóng sự, hình ảnh đầy cảm tình với Phật giáo. Cùng lúc, Hollywood nồng nhiệt đưa lên màn ảnh phim truyện về cuộc đời của đức Phật, về ngài Đạt Lai Lạt Ma, về Tây Tạng, nhiều ngôi sao màn bạc, nghệ sĩ, ca sĩ danh tiếng trở thành Phật tử, khiến dư luận, quần chúng, càng có cảm tình hơn. Bây giờ thì Phật giáo đã mọc rễ, đã phát triển trong xã hội, trong đời sống văn hóa ở Âu Mỹ. Phật giáo là môn học được ưa chuộng trong các trường đại học Mỹ danh tiếng, thu hút sinh viên ngày càng đông.
Thưa Quý Vị và các bạn thân mến, tôi rất vinh đự được nói chuyện với Quý Vị trong Tuần Lễ Văn Hóa này, và rất vui mừng được đặc biệt làm quen với các bậc trí thức và các bạn trẻ. Trong mấy câu nhập đề sơ lược ở trên, chắc quý vị và các bạn đã để ý : tôi nhấn mạnh đến giới trẻ và trí thức. Chẳng phải vì tôi thuộc vào thành phần ấy. Mà vì đó là khía cạnh mà tôi muốn hạn chế trong đề tài của tôi. Âu Mỹ đang mở lòng tiếp nhận một tư tưởng, một tôn giáo mà họ cho là rất trẻ và rất hiện đại. Hiện đại : đó là khía cạnh của đề tài rộng lớn mà tôi sẽ nói chuyện với quý vị hôm nay : tại sao Phật giáo bành trướng được ảnh hưởng trên Âu Mỹ ? Bài nói chuyện của tôi sẽ gồm 4 điểm vây quanh chủ đề hiện đại. Trong điểm thứ nhất, tôi sẽ cắt nghĩa thế nào là hiện đại. Trong điểm thứ hai, tôi trình bày : Phật giáo thích hợp với hiện đại như thế nào. Trong điểm thứ ba, tôi sẽ nói : thế nhưng chính hiện đại đang bị khủng hoảng. Trong điểm thứ tư, tôi trả lời : chính vì hiện đại bị khủng hoảng mà Phật giáo lại càng thích ứng. Trong suốt bài nói chuyện của tôi, và nhất là trong phần kết luận, các bạn sẽ nhận ra rằng tôi nói chuyện phương Tây mà thật ra là tôi nói chuyện Việt Nam. Mở cửa nhìn ra thế giới, chính là để biết mình là gì và biết mình phải làm gì.

Lễ Khai mạc Tuần Văn hoá Phật giáo tại TP Vinh – Nghệ An (8.2012)

I. Vậy thì, điểm thứ nhất : Thế nào là hiện đại ? Hiện đại là gì ?

Từ ngữ này đã trở thành quá phổ thông, đã bị pha loãng ra trong ngôn ngữ thường ngày, ở ta cũng như ở Âu Mỹ, cho nên phải trở về lại với lịch sử để tìm bản chất của nó. Thông thường, ta dùng từ hiện đại để nói cái gì là mới, ngầm ý tán thưởng : mới là hơn cũ, nay là hơn xưa. Thì cũng đúng thôi ! Nhưng có người sẽ nói trái lại : chắc gì mới đã hơn cũ, chắc gì nay đã hơn xưa ! Ở thời nào cũng vậy, và ở xã hội nào cũng vậy, hai khuynh hướng cứ đối chọi nhau : một muốn đi tới, một muốn kéo lui, một cách tân, một hoài cổ, bên nào cũng muốn biện minh khuynh hướng của mình, và nếu biện minh có hệ thống thì trở thành ý thức hệ, trở thành chủ nghĩa, “ chủ nghĩa hiện đại ” chống lại “ chủ nghĩa truyền thống ”. Để tránh cả hai cực đoan, cực đoan của phe mới cũng như cực đoan của phe cũ, tôi lần theo chiều lịch sử phân tích đâu là những yếu tố tạo thành cái mà ta gọi là hiện đại.
Yếu tố quan trọng nhất là tự chủ, là con người tự chủ, con người tự mình làm chủ mình. Làm chủ là thế nào ? Kant đã cắt nghĩa bằng một câu bất hủ khi được hỏi : “ Khai Sáng là gì ? ” Ông trả lời : “ Là con người bước ra khỏi tình trạng vị thành niên ”. Trước khi tư tưởng Khai Sáng bừng nở, con người hãy còn thơ ấu, phải vịn vào tay người lớn mà đi, bây giờ đi được một mình. Chữ Pháp, chữ Anh làm rõ hơn nghĩa đó. Autonomie có gốc Hy Lạp là autos (tự mình) và nomos (luật) : con người tự mình cai trị mình theo luật tự mình làm lấy, chứ không phải luật do người khác làm ra và bắt mình phải theo. Và luật do mình làm ra dựa trên cái gì ? Dựa trên lý trí, lý tính mà đã là người thì ai cũng có. “ Hãy có can đảm sử dụng lý tính của chính mình ! ” : đó là châm ngôn của Khai Sáng và cũng là châm ngôn của con người hiện đại. Đừng dựa nữa vào bất cứ cái gì ở ngoài con người, nhất là ở trên cao. Hãy đứng dậy, đừng vịn nữa vào Thượng Đế !
Từ yếu tố quan trọng nhất đó, từ tự chủ, cả một loạt các yếu tố khác sáng rõ ra, bắt đầu là sự giải phóng của lý tính phê phán, bởi vì phê phán là chức năng của lý tính. Không có gì được thoát ra khỏi phê phán, không có đối tượng nào được xem là Tuyệt Đối, là húy kỵ, kể cả Thượng Đế, kể cả Nhà Thờ. Kant hô to : “ Hãy dám tư tưởng ! ” Không có lĩnh vực nào là lĩnh vực riêng của bất cứ quyền uy nào : tất cả đều phải bước qua “ tòa án của lý tính ”.
Trước tòa án đó, bị cáo mà tư tưởng hiện đại nhắm đến trước tiên là lòng tin tôn giáo. Phải giải phóng lý tính ra khỏi lòng tin. Phải giải phóng Galilée ra khỏi lòng tin nô lệ, tin rằng mặt trời xoay chung quanh trái đất. Với lý tính, khoa học sẽ phát triển, và khoa học có khả năng vén những tấm màn bí mật của vũ trụ mà lòng tin cố cản. Khoa học, tư tưởng khoa học, đó là ánh sáng dẫn đường cho tính hiện đại, giúp con người tự mình biến đổi thế giới, làm thành thế giới của con người, đập tan mọi xiềng xích của mê muội. Khoa học sẽ phát triển không ngừng, do đó tiến bộ cũng đi tới không ngừng, tiến bộ giống như mũi tên bắn ra, chỉ bay thẳng phía trước, không ngoằn ngoèo, vòng vo.
Với tự chủ của con người trưởng thành, với lý tính được giải phóng ra khỏi lòng tin, với khoa học vén màn bí mật, các bạn thấy lịch sử của tư tưởng Âu châu cứ dần dần đi vào chiều hướng củng cố địa vị của con người, bắt đầu từ thời Phục Hưng (thế kỷ XIV-XVI). Chiều hướng đó, khuynh hướng đó, cao trào đó, tên của nó là nhân bản chủ nghĩa (humanisme). Không thể hiểu được tư tưởng Âu châu nếu không thấy cái hướng đi đó của chủ nghĩa nhân bản, và cũng không thể hiểu được hiện đại là gì nếu trước hết không hiểu sự giằng co, có khi âm thầm, có khi dữ dội, giữa Thiên chúa giáo và nhân bản chủ nghĩa (2). Cố gắng, cố gắng không ngừng để phát triển, phát triển không ngừng tất cả những khả năng của con người để đừng làm mất đi bất cứ cái gì làm con người lớn lên, làm con người vinh thăng. Lớn lên bằng cách nào trong lịch sử Âu châu ? Bằng cách làm bớt đi, làm nhỏ dần Thượng Đế. Cho đến thế kỷ 19 thì Nietzsche loan báo : “ Thượng Đế chết rồi ! Chúng ta đã giết ! ”
Sự thực là Thượng Dế vẫn còn đấy thôi, nhưng thay hình đổi dạng, không còn là Thượng Đế nhân dạng nữa. Mà cũng chẳng còn thống trị nữa trong tư tưởng, trong đời sống xã hội, trong luật pháp, trong chính trị, trong sinh hoạt thường ngày của người Âu châu. Thế kỷ 20 không còn đặt vấn đề giết Thượng Đế nữa, bởi vì người ta sống ngoài vòng cương tỏa của Thượng Đế, chẳng cần biết Thượng Đế là ai, có hay không, và chính thái độ dửng dưng đó làm các người bênh vực Thượng Đế bực mình còn hơn là thái độ chống đối Thượng Đế. Xã hội ngày nay ở châu Âu đi vào tình trạng mà các nhà xã hội học gọi là thế tục hóa. Thế tục hóa : đó cũng là một trong những yếu tố đặc trưng của hiện đại. Trên quá trình hiện đại hóa đó thì Tây phương gặp đạo Phật.

 II. Đạo Phật hiện đại như thế nào trước mắt Tây phương ?

Con người Tây phương khám phá ra rằng cách đặt vấn đề của đạo Phật đáp ứng nhu cầu của thời đại mới. Tây phương đang chối từ Thượng Đế thì đạo Phật giải thích không có Thượng Đế. Tây phương phải nhờ Darwin để cắt nghĩa rằng vũ trụ không phải do một Đấng nào sáng tạo ra cả trong bảy ngày thì đạo Phật đã nói cách đây hơn 2500 năm rằng thời gian là vô thủy vô chung, vũ trụ là vô cùng vô tận. Tây phương ngay ngáy lo sợ về ngày phán xét cuối cùng của Thượng Đế thì Phật giáo nói : không có ai phán xét ta cả, chỉ có con người phán xét con người thôi. Tây phương trăn trở về những vấn đề siêu hình thì Phật giao kể chuyện mũi tên : khi anh bị mũi tên độc bắn vào thân thì anh phải rút nó ra ngay hay anh ca vọng cổ hỏi mũi tên do ai bắn, lý lịch thế nào, hộ khẩu ở đâu. Rút mũi tên ra : đó là nhu cầu giải phóng con người ở Tây phương và họ thấy nơi Phật giáo một đáp số hợp với lý tính, đặt nặng trên kinh nghiệm, trên thực hành, và kiểm chứng được bằng kết quả bản thân, ở ngay đời này, chứ không phải đợi đến khi lên thiên đường, xuống địa ngục.
Hợp với lý tính : người Tây phương ngưỡng mộ nét đặc biệt đó của Phật giáo, làm Phật giáo khác với các tôn giáo khác. Phật giáo từ chối lòng tin nếu không đặt cơ sở trên trí tuệ. Bởi vậy, trong Phật giáo không có tín điều. Tây phương ngưỡng mộ kinh Kâlâma khi Phật dạy : Đừng vội tin một điều gì dù điều đó được ghi trong kinh điển hay sách vở. Hãy quan sát, suy tư, thể nghiệm, thực chứng rồi mới tin. Tinh thần đó xuyên suốt kinh kệ Phật giáo. Người trí thức Tây phương thấy tinh thần đó hợp với khoa học, hợp với đầu óc phê phán. “ Phật giáo là tôn giáo duy nhất thích ứng với khoa học hiện đại ”, Einstein đã phát biểu như vậy.
Tại sao Phật giáo hợp với khoa học ? Tại vì Phật giáo không nói điều gì mà không có kiểm chứng. Phật giáo nói : sự vật là vô thường. Hãy nhìn chung quanh với mắt của mình, kinh nghiệm của mình : có cái gì là thường còn đâu ? Cái thường còn duy nhất là khoảnh khắc này đây. Vậy thì tìm thiên đường ở đâu nếu không phải nơi chính cái khoảnh khắc này ? Hạnh phúc nằm ngay nơi mỗi khoảnh khắc : đó là bài học hiện đại quý giá nhất mà Phật giáo đem đến cho người Tây phương. Và hãy nhìn thêm nữa : mọi sự mọi vật đều tương quan lẫn nhau mà có và tương quan lẫn nhau mà diệt. Màu hồng nơi đóa hoa kia có phải tự nó mà có không ? Đâu phải ! Nếu không có mặt trời thì nó đâu có hồng thắm như vậy ? Nhưng mặt trời có phải là tác giả duy nhất của màu hồng kia không ? Không ! Vì nếu không có mưa thì làm sao hoa sống ? Nhưng mưa có cũng là do mây, mây có cũng là do hơi nước. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia cũng không. Đó là luật vô ngã của Phật giáo và cũng là luật tương quan tương sinh. Ai đọc sách của nhà vũ trụ vật lý học Trịnh Xuân Thuận đều biết : những luật đó có nhiều điểm hội tụ với khoa học vũ trụ vật lý. Áp dụng được luật đó vào đời sống bản thân, đời sống gia đình, đời sống xã hội, cam đoan không cần tìm thiên đường ở đâu xa. Đó là chưa kể đến luật nhân quả mà ai cũng có thể dễ kiểm chứng. Từ đó, người Tây phương đi đến một cái nhìn hiện đại hơn nữa vào bản chất của cuộc đời để hiểu chữ “ khổ ” trong Phật giáo. Họ chất vấn Thượng Đế : Nếu Thượng Đế là toàn năng thì sinh ra làm chi thiên tai, động đất, triều cường, dịch này dịch nọ giết hại phút chốc hàng trăm ngàn người như vậy ? Nếu Ngài là nhân từ thì sao con người khổ thế, con người khổ thế thì Ngài ở đâu ? Phải chăng, người Tây phương hỏi, khổ nằm ngay trong bản chất của cuộc đời như muối nằm trong biển, mà sinh lão bệnh tử chỉ là những khía cạnh dễ thấy nhất ? Từ đó, Tây phương hiểu chữ “ niết bàn ” của Phật giáo đúng hơn hồi thế kỷ 19 : niết bàn là hết khổ, mà hết khổ là tự mình. Bản thân tôi, mỗi khi tôi nghe ai cầu cho người chết được siêu thoát, tôi không khỏi cười thầm, bởi vì “ siêu ” là vượt lên, “ thoát ” là giải thoát, vượt lên trên tham sân si thì giải thoát, vậy thì nên cầu cho cả người sống được siêu thoát. Tôi không dám đùa đâu, người Tây phương hiểu điều đó hơn ta, bởi vì họ hiểu tư tưởng nhân bản của chính họ : nhân bản nghĩa là con người vượt lên trên con người, con người có đủ khả năng để vượt lên trên chính mình.
Nhưng vượt lên như thế nào, cụ thể bằng cách nào ? Đây là cái mới mà Phật giáo đem đến cho Tây phương và đem đến trong tinh thần khoa học. Trong lịch sử, Tây phương đã vượt quá ta hằng mấy thế kỷ nhờ khám phá thế giới bên ngoài. Nhưng đến một lúc họ bỗng giật mình thấy rằng khám phá thế giới bên ngoài không đủ để đem lại hạnh phúc như họ tưởng bởi vì con người còn có đời sống ở bên trong. Ngài Đạt Lai Lạt Ma nhắc họ : “ Những vấn đề của chúng ta, dù đến từ bên ngoài, như chiến tranh, như bạo lực, như tội ác, hay đến từ bên trong dưới hình thức khổ đau về tâm lý hay tình cảm, đều sẽ không tìm ra giải pháp chừng nào chúng ta còn không hiểu chiều sâu nội tâm của ta ” (3). Đó là lúc mà ngài và các vị sư đắc đạo của Tây Tạng đến Âu Mỹ, mang theo một ánh sáng khoa học mới rọi soi vào nội tâm của con người, để làm một cuộc cách mạng thứ hai mà người Tây phương gọi là “ cách mạng ở bên trong ”, bổ túc cho “ cách mạng ở bên ngoài ” mà Tây phương đã từng làm, từng biết với khoa học. Chìa khóa của hạnh phúc không nằm ở đâu khác hơn là trong nội tâm mỗi cá nhân. Mà muốn nhìn thấy cái chìa khóa đó thì phải rọi soi vào bên trong bằng những kỹ thuật thiền định mà các nhà sư Tây Tạng đã thực chứng do chính kinh nghiệm của họ. Trong lĩnh vực này, đừng hòng các lang băm đến làm ăn bịp bợm : khoa học Âu Mỹ đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc thám hiểm vào não bộ của con người. Các nhà sư Tậy Tạng đã đem chính bản thân để các máy móc tối tân trong các đại học danh tiếng nhất của Mỹ đo lường ảnh hưởng của thiền định trên não bộ. Họ không phải chỉ đem lời nói, họ đem thực hành, họ đem kỹ thuật, phương pháp cụ thể để các nhà khoa học quan sát, phán xét tính hiệu nghiệm của thiền định, góp phần lớn vào sự phát triển của ngành sinh học thần kinh. Tôi xin thú thực : bản thân tôi có tính đa nghi, khi đọc lịch sử đức Phật, tôi không hiểu làm sao Phật có thể ngồi thiền định dưới bóng cây bồ đề trong suốt 49 ngày. Bây giờ thì tôi hiểu : mỗi người chúng ta đều có một sức dự trữ tâm linh mà ta không ngờ bởi vì chưa bao giờ sử dụng. Tôi sẽ trở lui lại điểm này – cuộc hành trình của ta tìm ta để chữa bệnh cho chính ta và chữa bệnh cho thời đại.
Bây giờ, tiếp tục vấn đề nhân bản và khoa học, có phải sức quyến rũ của Phật giáo chỉ nằm ở tính khoa học của Phật giáo mà thôi hay không ? Tôi không nói đến chiều sâu của triết lý Phật giáo ở đây, cũng không nói đến tính minh triết mà Tây phương đang tìm lại. Tôi chỉ hạn chế trong một vấn đề nữa thôi : đạo đức. Đạo đức học ở Tây phương là những răn cấm, những mệnh lệnh. Người Tây phương hiện đại có cảm tưởng như có ngón tay chỉ vào trán và ra lệnh : mày không được thế này, mày không được thế kia, mày làm là phạm tội. Phạm tội với ai ? Tại sao như thế là phạm tội ? Tại sao tội đó phải nhờ một người khác giải tội với Trên Cao ? Đạo đức đó, con người hiện đại chối bỏ vì họ cảm thấy như vậy là hãy còn vị thành niên. Đạo đức của Phật giáo trái hẳn, bắt nguồn từ con người. Không ai ra lệnh, không ai răn cấm. Phật giáo nói : tham thì khổ, sân thì khổ, si thì khổ. Từ thì vui, bi thì vui, hỷ thì vui, xả thì vui. Từ bi hỷ xả, cứ thực hành sẽ thấy vui. Tham sân si, cứ mắc vào sẽ thấy khổ. Đừng giết hại, đừng nói dối, đừng trộm cắp, đừng tà dâm, đừng say rượu : đó là năm điều tôi tự nguyện với tôi, làm được đến đâu chính tôi nhẹ nhàng đến đó. Đạo đức của Phật giáo là thực nghiệm, nhắm mục đích làm cho con người tốt hơn đã đành, nhưng cốt nhất là làm nội tâm thanh thản, bởi vì thanh thản chính là hạnh phúc.
Hơn thế nữa, đạo đức Phật giáo còn thức tỉnh con người hiện đại ở Tây phương ở chỗ nới rộng lòng từ bi và ý thức liên đới ra khắp chung quanh, không những giữa người với người, mà còn giữa người với thú vật, với thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của tôn giáo cổ truyền của họ, Tây phương đã cổ vũ, huy động từ thế kỷ 17 mọi cố gắng để chinh phục, cai trị thiên nhiên. Chiến công đó, nhân loại cám ơn. Xẻ sông, lấp núi : cái gì con người cũng làm được, thiên nhiên đã bị nhân hóa. Nhưng thiên nhiên cũng đã bị khai thác, bóc lột đến kiệt quệ, rừng trọc đầu, mưa hóa chất, nước nhiễm độc, chúng ta biết rõ hơn ai hết. Và rốt cục, con người ăn trong miếng ăn những chất độc do chính con người thải ra. Đạo đức đối với thiên nhiên trở thành trách nhiệm của chính con người. Các tôn giáo khác nói : không được giết người. Phật giao nói : tôi nguyện không sát sinh, nghĩa là không giết sự sống, và sự sống đó, thú vật đều có, cây cối thiên nhiên đều có, vũ trụ, khí quyển, trái đất đều có, tất cả đều liên đới với con người, phải yêu thương nhau như một thì mới sống còn với nhau.
Tôi vừa động đến một vấn đề hiện đại có tính tiêu cực : vấn đề môi trường. Bởi vì hiện đại không phải cái gì cũng hay. Hiện đại cũng có lắm tiêu cực. Hiện đại cũng đang gặp khủng hoảng. Bởi vậy, sau khi tán thưởng hiện đại và giải thích Phật giáo hiện đại như thế nào, tôi bắt qua điểm thứ ba, trình bày những khủng hoảng của hiện đại.

 III. Khủng hoảng của hiện đại

Khủng hoảng quan trọng nhất của hiện đại là khái niệm về Tiến Bộ. Hồi thế kỷ 19, với sự phát triển thần kỳ của khoa học, ai cũng lạc quan về tương lai. Cha đẻ của môn xã hội học, Auguste Comte, xây dựng cả một hệ thống lý thuyết cắt nghĩa rằng lịch sử của nhân loại là lịch sử của tiến bộ, tiến bộ của đầu óc con người từ giai đoạn thần linh qua giai đoạn siêu hình để cuối cùng đến giai đoạn khoa học. Đó là một sự tiến bộ không ngừng và giai đoạn sau tốt đẹp cho con người hơn giai đoạn trước về phúc lợi, vật chất cũng như tinh thần. Lạc quan đó, Tây phương đã thấy đổ vỡ phũ phàng với chiến tranh thế giới thứ hai. Một nước văn minh như nước Đức trở thành một nước dã man, phi nhân, trong học thuyết cũng như trong hành động. Nước Đức quốc xã đưa ra hình ảnh ghê rợn của một phá sản tinh thần, khi phá sản đó xảy ra trong chính niềm tin vào “ tiến bộ đạo đức ” mà người ta chờ đợi ở hiện đại. Rồi bom nguyên tử, rồi Hiroshima, rồi chiến tranh lạnh, rồi leo thang vũ khí tận diệt nhân loại, đâu là Tiến Bộ, đâu là đạo đức của khoa học ? “ Khoa học mà không có lương tâm là đổ nát của linh hồn ”, câu nói ấy trở thành thời sự trước mắt. Khoa học là mục đích nhưng lương tâm phải là người bạn đồng hành. Nói là nói thế, nhưng trên thực tế người bạn đồng hành của khoa học lại là chiến tranh, buôn bán vũ khí, chiến tranh làm phát triển khoa học, khoa học phục vụ chiến tranh.
Khái niệm “ tiến bộ ” cũng được cảnh báo cả khi khoa học làm đúng nhiệm vụ của khoa học là tìm tòi, nghiên cứu, phát minh, vén màn bí mật của vũ trụ và đời sống. Không có gì quý hóa cho con người hơn là những phát minh càng ngày càng nhiều trong y khoa. Khám phá về tế bào gốc chẳng hạn là một trong những phúc lợi lớn mà nhân loại chờ đợi. Nhưng lương tâm có cho phép ta tạo ra đồng loạt vô số những người y chang giống nhau trong tương lai ? Chẳng lẽ khoa học cũng bắt chước Tôn Hành Giả nhổ một sợi lông, thổi một cái, để biến ra thành cả trăm con khỉ giống hệt nhau, chẳng biết con nào là khỉ gốc họ Tôn ? Hiện đại đang gặp phải vấn đề của “ đạo đức sinh học ”, mà đạo đức sinh học không thể không liên quan đến cái nhìn của tôn giáo.
Cuối cùng, khái niệm “ tiến bộ ” còn được đặt lại khi tiến bộ vật chất đưa đến xã hội tiêu thụ trong đó con người bị tha hóa, nghĩa là mất địa vị chủ. Đây là mê lộ trong đó con người Âu Mỹ nhởn nhơ sa vào. Muốn phồn thịnh kinh tế, phải sản xuất. Muốn sản xuất, phải có tiêu thụ. Muốn có tiêu thụ, phải kích thích nhu cầu, không có nhu cầu cũng phải kích lên cho có. Nhu cầu này được thỏa mãn, phải kích lên nhu cầu khác, nhu cầu phải luôn luôn mới để đáp ứng sản xuất phải mới luôn luôn. Hiện đại đòi hỏi những con người có lý tính. Đâu còn là lý tính nữa trước cuộc chạy đua không ngừng đuổi theo nhu cầu giả tạo, đuổi theo tiêu thụ phù du ? Con người trở thành nô lệ của quảng cáo, và quảng cáo, tuyên truyền, có đủ mánh lới để tước bỏ phê phán ra khỏi đầu óc người nghe. Lúc nhỏ, ở lớp 11, 12, tôi học câu thơ của Nguyễn Công Trứ : “ Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc ”. Biết đủ thì đủ, tìm đủ thì biết đến bao giờ mới thấy đủ ! Ấy là câu thơ dí cái chìa khóa vào tay ta để mở cửa thoát ra khỏi mê lộ tiêu thụ. Nhưng cái tài của quảng cáo là mê hoặc, đưa con người tiêu thụ vào siêu thị mà làm người ta tưởng vào chốn đào nguyên !
Tha hóa : con người hiện đại thoát ra khỏi tha hóa đối với Trên Cao thì lại rơi vào tha hóa ở dưới đất. Tha hóa trước sản phẩm, hàng hóa. Tha hóa trước thị trường. Bởi vì cái gì bây giờ cũng trở thành thị trường, cái gì cũng bị thị trường khai thác, kể cả lĩnh vực tâm linh. Phật giáo cũng bị thôi, và bị chính vì sự thành công của mình. Tôi chỉ lấy một ví dụ thôi : cái nhãn hiệu “Nirvana” trên một sản phẩm sắc đẹp của quý bà. Thoa kem ấy vào, lập tức thấy cực lạc ! Cực lạc bỗng trở thành nạn nhân của tha hóa. Tôi nhấn mạnh điểm này để giải thích cho các bạn về sự biến đổi của lòng tin ở Tây phương. Đúng là người Âu châu có vấn đề với Thượng Đế. Đúng là nhà thờ vắng tín đồ. Đúng là linh mục khan hiếm, phải cầu viện đến tận các linh mục Phi châu. Đúng là người Âu châu không đi tìm nữa trong tôn giáo truyền thống của họ câu giải đáp lớn cho những khắc khoải của tâm linh, mà đi tìm những phương thuốc tức thì trên hạ giới này, trên đời sống này, ở đây và bây giờ, here and now. Đúng như quy luật của thị trường, ở đâu có cầu thì ở đấy có cung. Hàng loạt tín ngưỡng lang băm, chính tà lẫn lộn, xuất hiện trên thị trường tâm linh, tranh nhau giành khách. Và khách ở đây là những người có đời sống vật chất đầy đủ, nhưng bơ vơ, cô đơn, mất tập thể, mất phương hướng, mất ý nghĩa sống. Ngày trước, con người Âu châu cũng yếu đuối trước Thượng Đế, nhưng họ có cái gì để tin, họ có cái chắc chắn. Bây giờ họ cũng yếu đuối, nhưng không có cái gì để tin nữa, họ mất chân đứng, họ mất quân bình, họ mất chiều cao lẫn chiều ngang, họ lung lay. Và vì họ lung lay, họ tưởng cần phải củng cố cái “ tôi ” của họ, cái “ tôi ” mà một chủ nghĩa cá nhân quá đà đã đề cao lên thượng đỉnh. Các bạn hiểu tại sao ngành phân tâm học phát triển như thế ở Âu Mỹ, tại sao các bác sĩ phân tâm học đông khách nhà giàu và trí thức : họ đi tìm cái “ tôi ” của họ ! Nhưng cái “ tôi ” của họ trốn ở đâu ? Một số người đi tìm trong cùng tận thâm sâu bí ẩn của ý thức dưới ánh đèn pin của ông Freud. Một số, nông cạn hơn, nghĩ rằng cái “ tôi ” của mình là cái thân này đây, phải làm cho nó mạnh, khỏe, đẹp, và nhất là trẻ mãi, để “ cực lạc ” mãi. Tất nhiên họ biết : cung cấp món ăn cho cái thân thì cũng phải cung cấp món ăn cho cái tâm, vì tâm không yên thì thân cũng khó khỏe. Nhưng họ ăn gì trên mâm cơm tinh thần của họ ? Ăn lẩu. Nghĩa là hổ lốn. Chút tôm, chút mực, chút thịt gà. Chút Chúa chút Phật. Bác ái lộn xà ngầu với từ bi. Lấy một chút chỗ này, một chút chỗ kia, cái gì mà cá nhân mỗi người thấy hoặc tưởng thích hợp cho riêng mình thì gắp bỏ chung vào cái lẩu nước xúp tâm linh. Người Pháp gọi cách thực hành tân thời này là “ bricolage ” – lắp ghép thủ công.
Trong chiều hướng đó, ngồi thiền phát triển khắp nơi tại Âu Mỹ. Tất nhiên là hay. Nhưng trong cái hay đó, coi chừng cái dở. Cái dở là thị trường tâm linh đánh đúng vào tâm lý con người thời đại, quảng cáo ngồi thiền như một kỹ thuật để gìn giữ sức khỏe và chỉ như một kỹ thuật mà thôi. Như một kỹ thuật, quảng cáo biến ngồi thiền thành một thứ kem xức mặt, xức vào thì da mặt mát ra, nhìn vào gương thấy cái “ tôi ” của mình như gái một con trông mòn con mắt. Chắc các bạn biết thần thoại Hy Lạp về anh chàng Narcisse. Anh chàng mê mình đến độ ngất ngây soi bóng mình trên mặt nước, soi gần, thật gần, môi chạm môi, và anh chàng lộn cổ xuống ao. Con người hiện đại ở Tây phương cũng mê cái “ tôi ” của mình như thế, ve vuốt nó, hôn nó, tưởng nó có thật trong một dòng sông ảo. Nhà sư danh tiếng Tây Tạng Chögyam Trungpa gọi đùa khuynh hướng đó là “ chủ nghĩa duy vật tâm linh ” (“ spiritual materialism ”). Nhưng đó đích thực là một vấn đề, một thách thức đối với hiện tại và tương lai của Phật giáo tại Âu Mỹ. Bởi vì ngồi thiền không phải chỉ là một kỹ thuật, lại càng không phải để phục vụ cho cái “ tôi ”. Ngồi thiền, chính là để thấy cái “ tôi ” là không có. Và như vậy là tôi bắt qua điểm thứ tư : Phật giáo trong thời hiện đại bị khủng hoảng.

IV. Phật giáo và khủng hoảng của hiện đại

Nhiều tác giả gọi thời đại này là “ hậu hiện đại ”. Tôi không đồng ý với khái niệm này nên chỉ đề cập ở đây hiện tượng khủng hoảng thôi. Và tôi cũng chỉ xin hạn chế vấn đề vào một khủng hoảng thôi là khủng hoảng của cái “ tôi ”.
Trước hết, tôi không phủ nhận phúc lợi của việc ngồi thiền, dù cho ngồi thiền chỉ để tăng cường sức khỏe. Ai đã ngồi thiền và ngồi thiền đúng kỹ thuật rồi đều nói : không phải chỉ sức khỏe được tăng cường, tâm hồn cũng được thư thái. Bản thân tôi không phải chỉ chứng nghiệm một lần mà cả ngàn lần : chỉ cần biết nén giận trong một giây thôi, đừng cho nó nổ ra, đã là khóa được cái cửa của địa ngục. Huống hồ ngồi thiền không phải chỉ trong một giây ! Bởi vậy, người Tây phương biết đưa việc ngồi thiền vào nhiều lĩnh vực : bệnh viện, nhà tù, trường học, công sở, xí nghiệp… Họ làm có phương pháp, bài bản, làm việc gì cũng phải làm cho đến nơi đến chốn.
Nhưng thiền không phải chỉ là thế. Thiền là tự biết mình, và tự biết mình là để quên mình. Quên mình là để nhập làm một với tất cả những gì hiện hữu. Đó là câu định nghĩa của Đạo Nguyên mà các thiền viện ở Âu Mỹ áp dụng như kinh nhật tụng. Thế nào là tự biết mình ? Tôi không muốn đưa các bạn vào lý thuyết xa xôi. Chỉ nói một hành động nhỏ nhặt, cụ thể, của một người Âu Mỹ khi lần đầu tiên bước vào thiền đường. Cử chỉ đầu tiên là cởi giày. Cởi giày, xếp ngay ngắn. Bước nhẹ vào thiền đường. nghe một mùi hương thoảng, gặp một im lặng thẳm sâu, đi trên một sàn gỗ sạch không một hạt bụi, thấy một không gian không chướng ngại mở rộng ra trước mắt. “ Cởi giày ”: đó là bài kinh đầu tiên của họ. Cởi vướng mắc ra, giải thoát cho hai bàn chân, hai bàn chân quý lắm, bao nhiêu nút thần kinh nằm ở trong đó, hai bàn chân quý lắm, nhờ nó mà mình đứng vững được, hai bàn chân quý lắm, hãy biết quý hai bàn chân như chưa bao giờ mình biết quý nó trước đây, hãy nghe hai bàn chân đang hạnh phúc khi gặp hơi mát của sàn gỗ, nó và cái sàn gỗ đang tan thành một, người bước vào phòng đang biến thành một với gian phòng trống, với im lặng mênh mông. Bàn chân quên nó. Người bước vào phòng quên mình, để cái “ tôi ” ngoài cửa, như để đôi dép.
Từ khi sinh ra, ta đã muốn chỉ huy cả thế giới, sai khiến mọi người chung quanh. Đói, khóc ầm lên, mẹ phải đưa ngay bầu sữa. Thèm hơi ấm, mếu máo để được người bồng. Muốn cái gì phải có ngay cái nấy, không thì la hét. Ta là trung tâm của vũ trụ, tất cả mọi người đều phải chiều ta. Lớn lên, ta cũng vậy thôi, 99% của cuộc đời ta được xài phí để lái thiên hạ, bắt thiên hạ phải thỏa mãn ý muốn của ta. Thậm chí, cái mà ta gọi là “ tình yêu ” suy cho cùng cũng chỉ là nhu cầu cần có một quan hệ gần gũi để ta cảm thấy sung sướng. Có lẽ ở đâu cũng vậy, nhưng trong văn hóa của cá nhân chủ nghĩa Âu Mỹ, nghĩ đến ta được xem là chuyện bình thường, tất nhiên. Ai lái người khác giỏi để phục vụ mình tốt, người ấy được xem là thành công. Thiền là trái ngược lại. Không nhắm tích tụ. Không nhắm chinh phục. Càng nhiều cái “ có ” càng ít cái “ là ”, cái tinh túy, cái bản chất, cái đem lại hạnh phúc. Và tôi “ là ” gì, chính là ở phút này đây. Ở phút này đây, tôi còn sống, còn thở, còn nói, còn có các bạn để nghe, còn có nắng đẹp ngoài kia, gió mát đang thổi, hạnh phúc vô biên, hạnh phúc được sống với cái khoảnh khắc này, được làm một với các bạn, được làm một với tất cả, được làm một với tờ giấy trước mắt tôi. Thiền không phải là ngồi yên. Thiền là không đi ăn mày nữa, không ngửa tay xin xu hào nơi người khác, nơi bên ngoài, bởi vì thiền là biết rằng cả một kho tàng châu báu nằm ở trong ta, hãy nhìn vào để thấy, và để chiêm nghiệm rằng ta càng trống đi cái “ tôi ” thì kho tàng ấy càng đầy.
Các thiền viện Âu Mỹ biết nhắm đến cái mục đích ấy. Kho báu trong tôi càng đầy, khả năng nhập thành một với mọi vật chung quanh càng nhạy bén, và khi ấy, tôi khổ với cái khổ của bạn, tôi vui với cái vui của bạn, tôi không còn nữa, bạn cũng không còn nữa, chỉ còn cái khổ chung, cái vui chung. Định nghĩa của chữ “ từ bi ” là như vậy, và ngồi thiền chính là để mở rộng lòng từ bi. Tôi đã là một với tất cả, làm sao tôi không thương tất cả, từ thiên nhiên đến loài vật, từ người gần đến người xa ?
Tôi biết : đó là lý thuyết rất cao mà không phải ai cũng đạt được hoặc hiểu được. Nhưng, tôi xin quả quyết : cứ bước dần đi mỗi bước rồi sẽ thấy : quên mình nhiều nhiều hơn một chút, nghĩ đến người khác nhiều nhiều hơn một chút, ấy là con đường đi đến hạnh phúc. Và xin các bạn hãy biết điều này : các người Âu Mỹ ngồi trong thiền đường phần đông là trí thức hoặc thuộc thành phần cao trong xã hội, đã nắm khá vững lý thuyết Phật giáo và có lòng hướng đến một cái gì cao hơn đời sống vật chất, vị kỷ. Tôi nói điều này là để nghĩ đến tương lai của Phật giáo ở Âu Mỹ. Phật giáo hạn chế ở tầng lớp trí thức hay mở rộng ra cho đại chúng ?
Tôi không có thì giờ để đi sâu vào câu hỏi này. Chỉ xin nói rằng : bộ não của con người gồm hai phần : khả năng lô-gích, trừu tượng, phân tích, tương ứng với não bộ phía trái ; khả năng nhận ra sự giống nhau giữa những cái khác nhau, trực giác, tổng hợp, tương ứng với não bộ phía phải (4). Tác giả Frédéric Lenoir cho rằng văn minh Tây phương chú trọng tác động trên vũ trụ, tương ứng với việc đặt ưu tiên trên não bộ phía phải. Phật giáo đến Tây phương đã đóng vai trò tích cực trong việc làm quân bình hai vùng trong não bộ con người Tây phương. Trong cái ý đó, câu nói nổi tiếng của nhà sử học Arnold Toynbee đã thành dễ hiểu : “ Sự gặp gỡ giữa Phật giáo và Tây phương là biến cố có ý nghĩa nhất của thế kỷ 20 ”.
Tôi cũng nhân cái ý đó để nói thêm rằng Phật giáo chính là sự quân bình và trước hết là quân bình giữa trí tuệ và lòng tin. Không có trí tuệ thì không hiểu được đức Phật. Nhưng không có lòng tin thì cánh cửa cuối cùng của trí tuệ vẫn không mở ra. Trí tuệ cũng như hoa mai. Lòng tin cũng như hơi ấm đầu tiên của mùa xuân. Chạm vào một điểm của hơi ấm đó thôi, hoa nở bung. “ Nhất điểm xuân quang xứ xứ hoa ” là vậy. Chỉ một làn gió xuân thoảng qua thôi, chốn chốn hoa mai bừng nở. Thiền là cây cầu bắt qua giữa trí tuệ và lòng tin. Đó là pháp môn – cánh cửa đạo – mở ra cho các bậc thượng thủ. Nhưng không phải ai cũng là thượng thủ cả, cho nên Phật giáo nói có đến “ bốn vạn tám ngàn pháp môn ” thích hợp với căn cơ của mỗi người. Ai giàu trí tuệ, như giới trí thức ở Âu Mỹ, đi vào Phật giáo bằng cửa thiền. Ai giàu lòng tin… Đây chính là tương lai của Phật giáo tại Tây phương. Bởi vì Phật giáo muốn lan tỏa ở đây phải biết rằng không phải ai cũng là trí thức. Vậy thì, có một nhánh Phật giáo nào ở Âu Mỹ có khả năng lan tỏa ra đại chúng chăng ? Có. Đó là Phật giáo Tây Tạng mà ngài Đạt Lai Lạt Ma là hình ảnh sống động. Phật giáo bám rễ được ở Tây phương là nhờ ngài và cả một loạt những nhà sư Tây Tạng xuất chúng qua giáo hóa tại đấy. Chỉ mỗi một việc xuất hiện của các vị đó thôi đã làm dấy động được lòng tin nơi quần chúng. Phật giáo Tây Tạng đáp ứng được những khắc khoải về tâm linh của quần chúng hơn là thiền tông đến từ các thiền sư Nhật Bản. Nhưng dù là thiền tông hay Phật giáo Tây Tạng, trí tuệ và lòng tin phải cùng bay với nhau như hai cánh của con đại bàng.
Các bạn đồng nghiệp trí thức và sinh viên thân mến, chính vì hai cánh của con đại bàng mà tôi chọn đề tài này để nói chuyện với các bạn hôm nay. Tôi đâu có nói chuyện bên Tây. Tôi nói chuyện bên ta ! Chúng ta đã lãng quên trí tuệ của thiền tông Yên Tử. Chẳng lẽ đạo Phật trí tuệ đã bay cả rồi qua bên Tây ? Chẳng lẽ Tây phương thừa hưởng hết tinh túy của Phật giáo ? May thay, chúng ta rất giàu lòng tin, nhưng buồn thay, lắm khi, lắm nơi, đó là tin nhảm, đó là mê tín, đó không phải là đạo Phật. Không, nhất quyết ta không để gãy chiếc cánh trí tuệ của con đại bàng Lý Trần. Nhất quyết ta củng cố lòng tin chân chính. Đó là nhiệm vụ của Tuần Lễ Văn Hóa hôm nay. Các bạn trí thức Nghệ An thân mến, hãy chắp lại hai cánh của con đại bàng lịch sử. Hãy bay với hai cánh vào hiện đại./.

Chú thích :
Câu nói của Nietzsche, trích trong Frédéric Lenoir, Le bouddhisme en France trang 9.
Fernand Braudel : Grammaire des civilisations, Arthaud-Flammarion, 1987, trang 371.
Dẫn trong Frédéric Lenoir, La rencontre du bouddhisme et de l’Occident, Albin Michel, 2001, trang 318.
Frédéric Lenoir, như trên, trang 353.

 NGUỒN : Bài phát biểu tại Tuần lễ Văn hóa Phật giáo tỉnh Nghệ An (Theo Diễn đàn)

 
 
 
 

Sự biện chứng của xã hội dân tộc và sự biện chứng của văn hoá dân tộc – VHNA

30 Th8

Sự biện chứng của xã hội dân tộc và sự biện chứng của văn hoá dân tộc

Cù Huy Chử (1)

VHNA: Tiến sĩ Cù Huy Chử quê ở làng Ân Phú, huyện Đức Thọ, nay là huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Trước đây ông đã từng là chuyên viên làm việc ở Phủ Thủ tướng Chính phủ, sau chuyển vào dạy học ở Trường Nguyễn Ái Quốc, khu vực II (TP Hồ Chí Minh). Ông là người gần gũi của triết gia Trần Đức Thảo. Ông đã được triết gia Trần Đức Thảo tin cậy giao cho gìn giữ kho tàng di sản triết học của mình. Những năm tháng gần đây, mặc dù bị bệnh ung thư nhưng ông vẫn bình tĩnh và cố gắng làm tất cả những gì có thể để giới thiệu những giá trị triết học của Trần Đức Thảo với bạn đọc.

Tiến sĩ Cù Huy Chử là cộng tác viên nhiệt tình của VHNA. Ông đã dành cho VHNA nhiều tình cảm, sự quan tâm, động viên và cộng tác. Nhân kỵ 49 ngày ông, chúng tôi trân trọng giới thiệu  bài viết này của ông và xin được coi là một nén tâm nhang gửi đến hương hồn ông.

 

Tiến sĩ Cù Huy Chử với giáo viên và học sinh trường THPT Vũ Quang

nhân dịp ông về dự lễ ra mắt Quỹ học bổng Cù Huy Cận(11/2010)

I

Những quan hệ dân tộc đã xuất hiện khi mà sự phát triển của sức sản xuất làm cho những quan hệ cộng đồng nguyên thủy tan rã và phân chia theo hai hướng đối lập.

Lịch sử đã diễn ra đến hết thời đồ đá mới, những công cụ đồng đỏ đầu tiên xuất hiện với kỹ thuật luyện quặng đồng nguyên chất. Trên đường trục của lịch sử, ở đất Lưỡng Hà, việc này mở đầu cho sự sinh nở của đời sống văn minh, vào thiên niên kỷ VI và V trước Công nguyên. Cùng với nghề đúc đồng, nghề gốm phát triển. Sự tiến bộ của nghề gốm tạo nên những lò nung đủ độ nóng để có thể khử oxy đồng. Nghề luyện đồng đỏ xuất hiện, tiếp tục phát triển ngày một tinh xảo hơn. Nghề đúc đồng đỏ ra đời, ở sơ kỳ của nó, đã làm cho kỹ thuật đồ đá và đồ mộc tiến lên và lôi cuốn các nghề khác. Do đấy, những trao đổi giữa các bộ lạc gia tăng, tạo nên sự phân công xã hội đầu tiên giữa các bộ lạc trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá và phơi cá, khai thác đá hay đồng. Sự phân công ấy thúc đẩy kỹ thuật phát triển, đẩy mạnh sự phát triển toàn diện của sức sản xuất, thỏa mãn nhu cầu trao đổi ngày càng lớn.

Năng suất lao động tăng thì sự tổ chức sản xuất trong nghề nông, bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, đã tập trung vào cái gia đình lớn, gồm ba hoặc bốn thế hệ. Nó trở thành đơn vị sản xuất căn bản thay cho cái công xã thị tộc. Đó là bước chuyển từ cái công xã thị tộc thành cái công xã nông thôn, với quyền lợi hưởng hữu ruộng đất của các gia đình lớn, có chia lại từng thời kỳ trong khuôn khổ quyền sở hữu cộng đồng bộ lạc hoặc công xã.

Kinh tế gia đình lớn có đủ năng suất để phát triển cái thặng dư sản phẩm trồng trọt hoặc chăn nuôi mang đi trao đổi và sự trao đổi lại đòi hỏi tăng cường hơn nữa số lượng hàng hóa. “Do đó, đẻ ra nhu cầu phải thu hút những sức lao động mới. Chiến tranh cung cấp những sức lao động mới đó: các tù binh bắt được trong chiến tranh bị biến thành nô lệ. Trong những điều kiện lịch sử lúc đó, sự phân công xã hội lớn đầu tiên, do năng suất lao động, tức là tăng của cải và do đó mở rộng lĩnh vực hoạt động sản xuất, nhất định phải đưa đến chế độ nô lệ”. ([2]).

Kinh tế gia đình phát triển, trong nghề nông đã tạo nên một thị trường đủ sức cho nghề thủ công phát triển, đưa đến việc hình thành những thị trấn đầu tiên, với giai cấp thợ thủ công. Đây là sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai, sự phân công giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, bước đầu nảy sinh quyền sở hữu cá thể.

Vẫn theo cái hình thái mẫu công xã, nghề thủ công được tổ chức theo phường hội. Nhưng trên thực tế, cái hình thái cá thể của sự lao động thủ công kết hợp với trao đổi sản phẩm, tất nhiên đã sinh ra quyền tư hữu động sản, gồm cả nhà ở, dựa trên lao động bản thân. Quyền tư hữu động sản cũng lan rộng về nông thôn, ở đấy chỉ có ruộng đất là thuộc quyền sở hữu cộng đồng công xã hoặc bộ lạc, còn động sản, kể cả nhà ở, là thuộc quyền tư hữu của cái gia đình lớn, coi như đơn vị tư nhân. “Sự phát triển của sức sản xuất tạo ra những quan hệ xã hội dựa trên chế độ tư hữu”. ([3])

Sự trao đổi thường xuyên giữa thị trấn với nông thôn về căn bản là tiến hành theo giá trị, tức là tính chất thường xuyên của những trao đổi ở đây làm cho các ngành nghề có thể kịp thời điều chỉnh sự sản xuất của họ theo quy luật cung cầu, tạo nên những giá cả gần sát với giá trị. “Để giá cả của những hàng hóa trao đổi với nhau gần phù hợp với chúng chỉ cần: 1) Sự trao đổi giữa các hàng hóa khác nhau không còn là hiện tượng thuần túy ngẫu nhiên hay đơn nhất nữa; 2) Trong chừng mực mà chúng ta xét sự trao đổi trực tiếp hàng hóa, thì những hàng hóa ấy của cả đôi bên đều phải được sản xuất ra với số lượng gần phù hợp với nhu cầu của nhau về hàng hóa; điều đó được xác định nhờ kinh nghiệm của cả đôi bên trong khi tiêu thụ và do đó là kết quả của một sự trao đổi đã tồn tại lâu dài; và, 3) Khi nói tới việc bán hàng, thì không có một độc quyền tự nhiên hoặc nhân tạo nào giúp cho các bên giao dịch có thể bán cao giá trị hay bắt họ phải bán thấp hơn giá trị”. ([4])

“Quy luật giá trị của Mác có hiệu lực phổ biến về mặt kinh tế đối với một thời kỳ kéo dài từ khi bắt đầu có sự trao đổi chuyển hóa sản phẩm thành hàng hóa, cho đến thế kỷ XV Công lịch. Nhưng sự trao đổi hàng hóa bắt đầu từ trước khi có lịch sử thành văn xa xưa, ở Ai Cập ít nhất là 2.500 năm, có lẽ là 5.000 năm, ở Ba-bi-lon từ 4.000 năm và có lẽ từ 6.000 năm trước Công nguyên” ([5])

Sự trao đổi ngang giá như thế đã bảo đảm sự phân công lao động bình đẳng giữa nông dân và thợ thủ công cùng với quyền tư hữu động sản dựa trên lao động bản thân, nó sinh ra từ một thứ tính ích kỷ hạn chế, đi đôi với tinh thần công lý bình quyền. Đấy là một đặc điểm của những người sản xuất hàng hóa nhỏ, như Ăngghen nói: “Họ phí nhiều thì giờ… vào một cuộc trao đổi mặc cả gay go và dai dẳng, để có được cái bù lại toàn bộ số thời gian lao động đã hao phí vào sản phẩm của họ” ([6])

Yêu cầu công lý bình đẳng ở đây, dù là gắn liền với tính cá nhân ích kỷ, nhưng cũng đã biểu hiện cái mặt tích cực của sự phân công lao động thông qua sự trao đổi sản phẩm, tạo ra cơ sở tinh thần cho một cộng đồng xã hội vượt ra khỏi giới hạn hẹp hòi của chế độ cộng đồng nguyên thủy, tức là các cộng đồng dân tộc.

Như vậy, một mặt những quan hệ cộng đồng nguyên thủy về các của cải động sản bị phủ định và chuyển thành quyền tư hữu động sản của các đơn vị gia đình, một mặt khác, thì cái hình thái cộng đồng chung lại được mở rộng, do sự trao đổi sản phẩm đã mở rộng một cách tự phát dưới hình thức gián tiếp, cái quy mô phối hợp lao động xã hội. Và như thế là cái địa bàn đất đai được tổ chức lại trên một phạm vi to lớn hơn, chuyển từ địa bàn bộ lạc thành địa bàn dân tộc, với cái cơ cấu hợp tác gián tiếp giữa nông thôn và thị trấn.

Đồng thời, chính những nghề thủ công lại có những nhu cầu nguyên liệu như quặng đồng hay đá mà buộc phải đi mua ở xa. Trong giai đoạn trước, vấn đề mua bán ở xa như thế là thuộc phạm vi kinh tế cộng đồng bộ lạc. Bấy giờ, những nghề thủ công chuyển thành tư nhân thì những nhu cầu nguyên liệu của họ cũng là nhu cầu tư nhân. Do nghề nông được tổ chức lại trên cơ sở gia đình lớn, những sản phẩm trồng trọt và chăn nôi cũng thuộc quyền sở hữu riêng của những gia đình ấy, tức là họ đưa ra trao đổi những sản phẩm đó theo tư cách tư nhân. Thời đó đất nước đang hình thành.

Còn trong phạm vi từng vùng xoay quanh một vài thị trấn, thì những sự trao đổi trong mỗi nước như thế được giải quyết trực tiếp giữa những người sản xuất với nhau, còn việc tiến hành những cuộc trao đổi với nước ngoài tất yếu phải đưa đến một sự phân công lao động thứ ba trong xã hội, tạo nên một nghề tư nhân mới là nghề đại thương, đưa xã hội loài người bước đến “ngưỡng cửa của thời đại văn minh”…

“Thời đại văn minh đã củng cố và phát triển tất cả những hình thức phân công đã có trước… đặc biệt bằng cách làm trầm trọng sự đối lập giữa thành thị và nông thôn (hoặc thành thị có thể thống trị nông thôn về mặt kinh tế, như trong thời cổ; hoặc nông thôn có thể thống trị thành thị như trong thời trung cổ). Và thời đại văn minh còn thêm vào đó một sự phân công thứ ba, một sự phân công riêng có của nó và có một ý nghĩa quyết định: sự phân công này sản sinh ra một giai cấp không tham gia sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là những thương nhân. Cho đến lúc đó, tất cả những nguyên nhân của sự sinh thành ra các giai cấp đều chỉ gắn liền riêng với sản xuất mà thôi; những nguyên nhân ấy đã dẫn tới chỗ phân chia những người tham gia sản xuất thành những người điều khiển và thừa hành, hay còn phân chia họ thành những người sản xuất đại quy mô hay tiểu quy mô. Ở đây, lần đầu tiên, xuất hiện một giai cấp, tuy không tham gia sản xuất một tí nào, nhưng lại chiếm toàn quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế; nó tự đứng ra làm kẻ trung gian không thể thiếu được giữa hai người sản xuất và bóc lột cả hai. Viện cớ là làm cho những người sản xuất khỏi phải khó nhọc và khỏi phải gặp những rủi ro trong trao đổi, viện cớ là mở rộng việc bán những sản phẩm của họ đến tận những thị trường xa xôi nhất, và do đó trở thành giai cấp có ích nhất trong dân chúng, một giai cấp những kẻ ký sinh, những kẻ thực sự ăn bám xã hội, đã hình thành, chúng hốt lấy phần tinh túy của sản xuất trong nước cũng như của sản xuất nước ngoài, coi đó là tiền công trả cho những sự phục vụ thực ra thì rất nhỏ, chúng đã nhanh chóng thu được những của cải kếch xù và một ảnh hưởng xã hội tương ứng, và chính vì vậy mà trong thời đại văn minh, chúng được người ta dành cho những danh dự luôn luôn mới, và một quyền thống trị càng lớn đối với sản xuất, cho đến khi chính chúng, cũng lại sinh ra một sản phẩm riêng của mình những cuộc khủng hoảng chu kỳ” ([7])

Như vậy là phương thức sản xuất hàng hóa giản đơn bao hàm hai loại trao đổi gắn liền với nhau, nhưng căn bản đối lập và đối kháng: trao đổi bình đẳng, theo giá trị, giữa những người sản xuất với nhau, và trao đổi bất bình đẳng giữa những người sản xuất với thương nhân. “Quy luật của thương nghiệp là mua rẻ, bán đắt. Như vậy, đây không phải là trao đổi ngang giá”. ([8]) Nghề lái buôn là cái phương thức bóc lột căn bản nhất xuất phát một cách tất yếu từ sự sản xuất hàng hóa giản đơn. Chính nó là nguồn gốc của tất cả các chế độ bóc lột thống trị trong lịch sử xã hội hàng hóa. Các giai cấp quý tộc thu cống dịch, chủ nô, địa chủ phong kiến và tư sản hiện đại nữa đều là những biến hình của nghề lái buôn.

Thương nhân nắm những quan hệ cung cầu ở xã thì đóng góp cho “những sự phục vụ… thực ra rất nhỏ”, nhưng nhân đấy “chúng hốt lấy phần tinh túy của sản xuất trong nước cũng như sản xuất nước ngoài”. Có của trong tay thì sinh ra lòng tham. Họ dựa vào cái di sản tiêu cực của chế độ cộng đồng nguyên thủy để tạo nên một nguồn sản phẩm rẻ mạt, để làm hàng hóa mang đi bán buôn. Những quan hệ nô dịch, cống dịch, tô dịch đã xuất phát từ những quan hệ khống chế giữa các bộ lạc đối lập ở thời nguyên thủy, do cái quyền sở hữu nguyên thủy hạn chế trong phạm vi bộ lạc. Mác đã phân tích điều đó như sau: “Điều kiện cơ bản của cái quyền sở hữu thiết lập trên cơ sở bộ lạc tức là người sở hữu phải là thành viên của bộ lạc, làm cho cái bộ lạc bị một bộ lạc khác chinh phục và khống chế thì trở thành người mất quyền sở hữu và như thế là cả bản thân nó cũng bị hạ xuống hàng những điều kiện vô cơ của sự tái sản xuất của nó, mà cái cộng đồng bộ lạc thống trị coi những điều kiện này là của mình. Do đấy thì chế độ nô lệ và chế độ nông nô chỉ là sự triển khai thêm cái quyền sở hữu thiết lập trên cơ sở bộ lạc” ([9]). Những quan hệ bóc lột như thế bước đầu triển khai với sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất giữa các bộ lạc đã được những thương nhân biến thành chế độ bóc lột thống trị, tức là sinh ra các giai cấp quý tộc thu cống dịch, chủ nô, địa chủ phong kiến; trong thời đại mà sự phát triển kinh tế hàng hóa còn tiến hành trên cơ sở cái di sản kéo dài của những quan hệ cộng đồng nguyên thủy ở nông thôn.

Cuối cùng, những thương nhân lại chiếm lấy quyền trực tiếp thống trị cái tổ chức sản xuất bằng cách mua sức lao động, tức là họ chuyển thành giai cấp tư sản hiện đại. Giai cấp tư sản nhìn bề ngoài có vẻ như xây dựng trên những quan hệ trao đổi phổ cập, chỉ bóc lột bằng biện pháp kinh tế. Nói một cách khác, về hình thức thì nó biểu hiện như đối lập với những biện pháp phi kinh tế, tức là những thủ đoạn khống chế của những hình thức bóc lột trước. Nhưng về thực chất, thì nó vẫn dựa trên những quan hệ khống chế và đàn áp, mà nguồn gốc chính là xuất phát từ cái di sản tiêu cực của thời bộ lạc tan rã. Cái thực chất ấy lộ rõ nguyên hình trong những thủ đoạn man rợ áp bức giai cấp công nhân, quần chúng lao động và các dân tộc, trong những cuộc chiến tranh đế quốc, trong chủ nghĩa thực dân cũ và mới, trong sự khống chế lực lượng các dân tộc chậm phát triển, trong chủ nghĩa chủng tộc với mọi màu sắc.

Tóm lại, sự biện chứng sinh ra dân tộc với tư cách là một cộng đồng phân chia thành những giai cấp đối lập gồm hai giai đoạn:

1) Sự phát triển của sức sản xuất, xuất phát từ kỹ thuật kim khí tạo nên một sự phân công lao động mới qua trao đổi sản phẩm ngang giá, giữa nông thôn với thành thị, do đấy mà quy định một địa bàn mới và một cộng đồng xã hội mới là địa bàn đất nước và cộng đồng dân tộc. Đấy là cái đoạn cơ bản tích cực của sự vận động.

Nhưng phương thức sản xuất hàng hóa giản đơn, lại sinh ra một cách tất yếu một ngành sản xuất mà chuyên môn trao đổi không ngang giá, tức là một ngành căn bản của bóc lột là đại thương, nó là cái điểm ngoặt biện chứng.

2) Thương nhân sẵn có của thì trở nên tham lam, do đấy mà phát triển bóc lột bằng tất cả mọi phương pháp có thể được, họ xây dựng thành giai cấp bóc lột thống trị. Như thế là xã hội dân tộc ngay trong sự hình thành của nó đã phân chia thành hai mặt mâu thuẫn đối kháng với nhau: quần chúng lao động bị áp bức bóc lột và giai cấp bóc lột thống trị. Đấy là cái đoạn tiêu cực, đối lập của sự vận động, nó xuất phát một cách tất yếu từ cái cơ bản tích cực.

Cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội dân tộc, nhà nước cũng đã ra đời và phát triển. Nhà nước là sự thú nhận rằng xã hội dân tộc bị lúng túng trong mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không sao bỏ được”. ([10])

 

II

Hai quá trình: hình thành quan hệ dân tộc và hình thành nên văn hóa dân tộc xoắn xuýt vào nhau không thể tách rời. Bởi nói đến văn hóa là nói đến con người và con người bao giờ cũng gắn với cộng đồng dân tộc. Văn hóa là một thực thể xã hội thống nhất hữu cơ các giá trị tinh thần của các cá nhân và cộng đồng chuyên biệt. Trong sự hoạt động ấy, con người đã và đang hiện thực hóa bản chất của mình.

Sự nảy sinh, hình thành dân tộc là cội nguồn của việc hình thành nền văn hóa dân tộc; đồng thời chính các thành tựu văn hóa lại từng bước thúc đẩy, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc. Hình thành dân tộc, xét về mặt văn hóa, là một bước phát triển lớn cái bản tính cộng đồng của con người. Sự ra đời của dân tộc là con người đã thoát ra khỏi phạm vi cảm thức và ý thức cụ thể, tương ứng với cái bản năng xã hội ở thời nguyên thủy, tiến lên phạm vi ý tưởng trừu tượng, tức ý thức về giá trị hàng hóa biểu hiện trong sự trao đổi. Một mặt, những quan hệ xã hội bình đẳng mở rộng làm tiêu chuẩn cho sự phân công lao động mới. Một mặt khác, những quan hệ xã hội bình đẳng vượt ra khỏi giới hạn hẹp hòi của cái bộ lạc, phác họa một địa bàn mới là địa bàn đất nước. Từ đó xuất hiện một tiếng nói chung và một nền văn hóa chung, biểu hiện những tâm lý chung. Đấy là cái quan hệ của cái cộng đồng dân tộc. Nó xuất phát từ sự phân công lao động lớn lần thứ hai, trong nhân dân các bộ lạc gần gũi nhau về điều kiện địa lý và lịch sử, nó tạo nên sự sở hữu cộng đồng dân tộc về địa bàn đất nước. Hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt đã sát nhập vào nhau đưa đến sự ra đời nước Âu Việt trong thời sơ sử của dân tộc ta là một ví dụ. Dĩ nhiên cái cộng đồng như thế còn là phôi thai, mới biểu hiện dưới hình thức quá độ của cái liên bộ lạc.

Ý thức về địa bàn đất nước tất yếu bắt nguồn từ nhận thức của con người về môi trường và nhịp độ sinh thái tự nhiên, rồi phát triển và nâng lên một chất mới trong quá trình sản xuất và trao đổi. Nền văn minh và văn hóa nông nghiệp của dân tộc Việt Nam chỉ có thể hình thành trên cơ sở hành vi nông nghiệp của những cư dân xa xưa trên bản địa này nhằm lập lại sự cân bằng giữa môi trường tự nhiên và nhu cầu cùng kích thước (dân số) của cộng đồng. Việc chuyển tiếp từ trồng trọt sơ khai, gồm cả trợ dưỡng, trồng củ, dâm cành ([11]) đến việc trồng cây có hạt mà chủ yếu là cây lúa nước, từ những chủ nhân xa xưa của văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn đến văn hóa Đại Việt và cho đến con người Việt Nam ngày nay là gắn bó mật thiết với việc nhận thức ngày càng phong phú, sâu sắc cái địa bàn sinh tụ và ý thức sở hữu cộng đồng dân tộc đối với non sông, đất nước, biểu hiện rực rỡ trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Từ đó đã nảy sinh vô vàn thần thoại, truyền thuyết, huyền thoại, thần phả, ngọc phả, ca dao, tục ngữ, truyện dân gian, những tác phẩm và giá trị văn hóa nghệ thuật bác học của dân tộc và những hội lễ, phong tục tập quán…

Hình thành quan hệ dân tộc là một bước phát triển lớn của cái bản tính cộng đồng của con người mà văn hóa là một trong các mặt căn bản của mối quan hệ ấy. Bởi vậy, văn hóa của mỗi dân tộc là một phân hệ trong cái hệ thống chung của văn hóa nhân loại. Quá trình các dân tộc xích lại gần nhau chính là quá trình làm phong phú nền văn hóa dân tộc, qua giao lưu và tiếp nhận văn hóa giữa các dân tộc. Dĩ nhiên, là sản phẩm của lịch sử, mỗi nền văn hóa có mặt tích cực và tiêu cực. Tự biết kêu gọi và phát triển bản sắc tốt đẹp, tích cực của văn hóa dân tộc mới có thể tiếp thu giá trị văn hóa của các dân tộc khác và văn hóa của nhân loại.

Quần tụ, phát triển trên một địa bàn đất nước, với những điều kiện lịch sử đặc thù, văn hóa là cách nhìn của dân tộc đối với sinh thái tự nhiên và xã hội-lịch sử, là toàn bộ các giá trị tinh thần để khu biệt dân tộc này với dân tộc khác. Trong quá trình phát triển sản xuất và trao đổi, mỗi dân tộc ngày càng củng cố, phát triển, khẳng định quan hệ dân tộc, đồng thời các dân tộc đã có thể cùng tồn tại nhờ hiểu biết lẫn nhau. Sự phát triển kỹ thuật sản xuất và toàn bộ giá trị văn hóa các dân tộc là điều kiện để họ có thể thay đổi đời sống và hoạt động trong môi trường tự nhiên, góp phần tạo ra các nền văn minh và trình độ văn minh nhân loại. Do năng lực sáng tạo, tức năng lực bản chất người, các lực lượng hoạt động đã tạo ra một cách khách quan thế giới đối tượng của con người. Cho nên, văn hóa với tính cách là tinh thần, ý thức của con người biểu hiện trong cảm quan và là sự phát triển của các lực lượng sáng tạo, tất yếu phải có hai nội dung phổ biến: một là, năng lực sáng tạo của con người – một sinh thể-xã hội; hai là, năng lực sáng tạo ấy biểu hiện và phát triển trong một cộng đồng dân tộc trong chiều sâu của không gian và thời gian văn hóa. Hai mặt phổ biến ấy của văn hóa, tức tính nhân loại và tính dân tộc là thống nhất biện chứng.

Dĩ nhiên văn hóa dân tộc được triển khai cụ thể thông qua sự biến thiên của giao lưu văn hóa, của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Điều kiện để phát triển văn hóa dân tộc, vì vậy còn chịu sự quy định của những tình huống được tạo nên trong các biến thiên ấy. Sự thống nhất của tính nhân loại, tính dân tộc, tính giai cấp chỉ được thực tại hóa trong điều kiện ấy mà thôi. Sự phục hưng văn hóa các dân tộc nói chung, Việt Nam nói riêng, đã chứng minh đầy thuyết phục điều đó. Nguyễn Trãi đã đưa nội dung nhân dân vào khái niệm “nhân”, “nghĩa” của Nho giáo, điều đó là gắn bó và thống nhất với lòng tự hào dân tộc và ý thức quốc gia của nhân dân ta thời ấy, mà tầng lớp trí thức phong kiến đã tiếp thụ và phát triển. Tấm lòng trắc ẩn, ưu ái của Nguyễn Du, của Nguyễn Gia Thiều, của Hồ Xuân Hương… đối với người phụ nữ tạo nên những hình tượng nghệ thuật giàu chất thẩm mỹ là kết quả của truyền thống văn hóa dân tộc xa xưa, là sự vang vọng của hiện thực xã hội phong kiến đen tối và cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt đương thời. Rồi đến lượt những giá trị thẩm mỹ ấy lại tiếp tục được phát triển trong các nhà văn hóa hậu thế. Ta có thể tìm thấy bóng dáng nàng Kiều của Nguyễn Du trong hình ảnh chị Dậu của Ngô Tất Tố.

Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa và anh hùng dân tộc mà cả loài người đã công nhận, là sự hội tụ, là điểm gặp gỡ của những giá trị văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Đông và những giá trị văn hóa Âu Mỹ, văn hóa thế giới. Đó là kết quả rực rỡ của cuộc đấu tranh giai cấp và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc quyết liệt của thời đại. Sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh lớn lao, lâu bền, suy cho cùng bởi có chiều sâu văn hóa cả không gian và cả thời gian, bởi hàm chứa trong đó những tiền đề cho sự phát triển năng lực bản chất người.

Quá trình phát triển của quan hệ cộng đồng dân tộc, trong đó gồm văn hóa dân tộc là một quá trình biện chứng, tồn tại và thống nhất các mặt đối lập, là những tình huống được tạo ra bởi các biến thiên của giao lưu văn hóa, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Bởi vậy, một dân tộc muốn phát triển, trong đó có văn hóa dân tộc, phải từ những tình huống ấy mà giải quyết, xử lý và kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống. Kế thừa văn hóa luôn luôn là điều kiện mà những tình huống ấy tạo ra, chỉ có như thế dân tộc và văn hóa dân tộc mới hòa nhập được vào nền văn minh của thời đại.

Nhưng nguồn gốc sâu xa, như Ăng-ghen đã tổng kết, từ khi loài người bước vào “ngưỡng cửa của thời đại văn minh” thì chính cái điều kiện ấy luôn luôn được triển khai trong sự phát triển của kỹ thuật sản xuất đưa đến phân công lao động xã hội và trao đổi hàng hóa và mọi giá trị.

 

 


[1] Nguồn: Kỷ yếu thông tin khoa học (Trường Nguyễn Ái Quốc khu vực II), số 3 (10/1991), tr. 37-41.

[2] Mác – Ăngghen, Tuyển tập, tập VI, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 247.

[3] Lênin, Toàn tập, tập 2, NXB. Tiến bộ, Matxcơva, 1974, tr. 7.

[4] C. Mác, Tư bản, Tập III, phần 1, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1986, tr. 215.

[5] Ph. Ăngghen, Phần bổ sung cho Tập III, Bộ Tư bản, trong Tư bản, Tập III, phần 2, NXB Sự thật, Hà Nội 1987, tr. 534-535.

[6] Ph. Ăng-ghen, Sách đã dẫn, tr. 533.

[7] Ph. Ăng-ghen: Mác-Ăngghen tuyển tập, tập VI, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 253-254.

[8] C. Mác, Tư bản, tập III, phần 1, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1986, tr. 400.

[9] C. Mác, Gründrisse, tr. 392.

[10] Ph. Ăng-ghen: Mác-Ăngghen tuyển tập, tập VI, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 260.

[11] Môi trường nhiệt đới của vùng Đông Nam Á tạo điều kiện thuận lợi cho các cây sinh sản vô tính hơn những vùng ôn đới hay á nhiệt đới. Do đó nên những vùng như Cận Đông hay Hoa Bắc, nền nông nghiệp bắt đầu ngay bằng việc trồng cây có hạt, thì vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam nền nông nghiệp trải qua theo mô hình phát triển hai giai đoạn: từ hái lượm chuyển sang làm vườn lên làm nông với thủy lợi và phân bón. Đó là một trong những điểm khu biệt nền nông nghiệp của ta với các trung tâm nông nghiệp cổ xưa khác trên thế giới.

 

 
%d bloggers like this: