Lưu trữ | 4:28 Chiều

Cần bắt giữ tàu xâm phạm chủ quyền VN – TN

7 Th8

Cần bắt giữ tàu xâm phạm chủ quyền VN

Việc bắt giữ các tàu cá xâm phạm chủ quyền sẽ giúp Việt Nam giữ vững lợi thế pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp. 

Trước việc tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền quốc gia trên biển của Việt Nam, các cơ quan chấp hành pháp luật Việt Nam cần tiến hành bắt giữ và thực hiện các quyền tài phán khác theo luật định. Điều này nhằm khẳng định chủ quyền của mình. Nếu không, hồ sơ pháp lý – lợi thế lớn nhất của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề biển Đông – sẽ bị tổn hại.

Đó là nhận định của một số chuyên gia khoa học chính trị, công pháp quốc tế về việc tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Trao đổi với Thanh Niên, tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng – Viện Nghiên cứu công nghệ và phát triển SENA – cho rằng: “Trước đây có dự đoán là Trung Quốc có thể thuê công ty “chân gỗ” nước ngoài vào nhận thầu trên biển Đông, rồi họ cho tàu hải giám đi theo lấy cớ bảo vệ để khiêu khích ta, nhưng nay họ đã bỏ qua các động tác giả ấy, trực tiếp ra mặt và ngang nhiên xâm phạm biển đảo của ta bằng việc cho hàng chục ngàn tàu cá tràn ra biển Đông. Đây rõ ràng là một bước leo thang nghiêm trọng”.

 
Tàu cá Trung Quốc tại cảng Tam Á, tỉnh Hải Nam, chuẩn bị cho một đợt đánh bắt trái phép trên biển Đông – Ảnh: China Daily

Đồng tình với nhận định này, tiến sĩ Lê Vĩnh Trương – thành viên Quỹ nghiên cứu biển Đông – cũng quan ngại về ý đồ khiêu khích quân sự dưới vỏ bọc dân sự của Trung Quốc: “Họ cố ý dùng các tàu dân sự, mà khả năng rất cao là có binh lính của họ điều khiển hoặc đi cùng, một mặt vẫn tỏ ra hòa bình, mặt khác khiêu khích phía Việt Nam. Đó là cái bẫy mà họ giăng ra”.

 

 
 
Điều mà Việt Nam có thể làm được là thực hiện quyền tài phán theo Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982 cũng như luật Biển mà Quốc hội mới thông qua tháng 6. Theo đó, Việt Nam có thể bắt giữ tàu của ngư dân Trung Quốc, yêu cầu họ nộp phạt.
 
Tiến sĩ luật học Lê Minh Phiếu
 

 

Điều đáng lo ngại là nếu không bắt giữ tàu cá Trung Quốc, lợi thế pháp lý của Việt Nam có thể bị tổn hại. Tiến sĩ Lê Vĩnh Trương nhận định: “Trong khi đưa tàu cá vào Việt Nam vừa để khiêu khích vừa để đánh bắt nguồn lợi hải sản, họ vẫn có thể ngang nhiên tuyên bố rằng vào thời điểm này, tại tọa độ này, tàu cá Trung Quốc đã tiến hành hoạt động khai thác bình thường mà phía Việt Nam chỉ phản đối chứ không ngăn chặn. Và điều này rất bất lợi cho phía Việt Nam”.

Bình luận về khía cạnh pháp lý của vụ việc, tiến sĩ luật học Lê Minh Phiếu cho rằng: “Điều mà Việt Nam có thể làm được là thực hiện quyền tài phán theo Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982 cũng như luật Biển mà Quốc hội mới thông qua tháng 6. Theo đó, Việt Nam có thể bắt giữ tàu của ngư dân Trung Quốc, yêu cầu họ nộp phạt”.

Bên cạnh đó, Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26.1.2008 cho phép lực lượng này kiểm tra, kiểm soát người và phương tiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia. Nếu phát hiện hành vi vi phạm, cảnh sát biển có thể xử lý vi phạm hành chính, buộc người và phương tiện đó phải rời khỏi vùng nước đang hoạt động hoặc vùng biển Việt Nam; tiến hành bắt, giữ người và phương tiện phạm pháp quả tang; và cưỡng chế, truy đuổi nếu các đối tượng này có hành vi chống đối hoặc cố tình bỏ chạy.

Theo ông Phiếu, nếu chỉ phản đối mà không có biện pháp thực thi quyền tài phán trên, ngư dân Việt Nam về lâu dài sẽ không đến được các ngư trường truyền thống nữa.

Xét về mặt tuyên truyền, tiến sĩ Lê Minh Phiếu cũng quan ngại về việc hình ảnh các đoàn tàu mang cờ Trung Quốc ngang ngược đi lại tự do trên vùng biển, đảo của Việt Nam.

 

Sri Lanka bắt 37 ngư dân Trung Quốc

Hôm qua, Tân Hoa xã dẫn lời trung tá Kosala Warnakulasuriya, phát ngôn viên hải quân Sri Lanka, cho hay vừa bắt giữ 37 ngư dân Trung Quốc vào đêm 5.8. Trong khi đó, đại diện ngoại giao của Trung Quốc ở Sri Lanka đang thúc giục chính quyền địa phương xử lý vụ việc đúng luật và sớm phóng thích ngư dân của họ. Theo ông Warnakulasuriya, 37 ngư dân Trung Quốc trên 2 tàu cá bị phát hiện khi đang đánh bắt trái phép tại vùng biển ngoài khơi thị xã Batticaloa, phía đông Sri Lanka. Sau đó, hải quân nước này đã bàn giao những người này cho cơ quan cảnh sát sở tại để điều tra. Ngoài ra, hai người Sri Lanka cũng đã bị bắt giữ trong vụ việc trên. Tới tối qua, có tin 37 người Trung Quốc đã được thả, theo Tân Hoa xã.

 Lê Loan

 

Thành Long

Từ đồng dao đến thơ hiện đại: Trường hợp Trần Dần – PBVH

7 Th8

Từ đồng dao đến thơ hiện đại: Trường hợp Trần Dần

Trần Ngọc Hiếu

Tóm tắt:

Trong khoảng thời gian 1963-1965, Trần Dần đã tiếp biến một cách sáng tạo mô thức của đồng dao để khởi đầu giai đoạn cách tân triệt để, quyết liệt nhất của mình. Đồng dao đã gợi ý cho Trần Dần một phương thức kiến tạo bài thơ mà theo đó, ngôn từ không đơn thuần chỉ là phương tiện để chuyển tải một ý nghĩa đã có sẵn, đã minh định. Ngôn từ trong bài thơ trở thành thứ ngôn từ hướng đến chính nó. Cụ thể hơn, đồng dao đã kích thích hứng thú của Trần Dần trong việc thể nghiệm để âm đi trước nghĩa, âm tạo nghĩa trong bài thơ. Cách xử lý nhịp và đặc biệt là vần trong sáng tác của ông ở giai đoạn này rất đặc biệt: từ chỗ chơi vần khó, ông đã đi đến thực hiện những biến tấu âm, xóa bỏ hẳn mọi quy chiếu trong bài thơ, khiến bài thơ trở thành một “tác phẩm mở”. Với những thể nghiệm này, Trần Dần trở thành người xác lập đồng thời là nhân vật trung tâm của dòng thơ ngôn ngữ trong thơ Việt hiện đại.

 

Tiểu luận tập trung khảo sát những thể nghiệm của Trần Dần trong khoảng thời gian 1963-1965 và lựa chọn phương pháp mô tả kết hợp với những đối sánh, liên hệ lịch sử cần thiết để làm nổi bật ý nghĩa quan trọng của những tìm tòi thi pháp này trong tiến trình vận động của thơ ca Việt Nam. Tiểu luận cũng ưu tiên phân tích thi phẩm Mùa sạch, thi phẩm tiêu biểu những tìm tòi thi pháp theo đường hướng tiếp biến đồng dao của Trần Dần, đồng thời cũng mở rộng khảo sát thêm một số sáng tác ở giai đoạn sau của ông nhưng vẫn nằm trong trường thi pháp mà ông đã xác lập trong khoảng thời gian này.

“Một VIẾT dãi dàu sinh ra một ĐỌC dãi dàu”[1]

(Trần Dần)

Sự đa bội của phong cách thơ của Trần Dần khiến việc nhận diện, mô tả toàn diện thi pháp của ông trở nên đầy thách thức. Hành trình sáng tạo của Trần Dần trải qua nhiều chặng; ở mỗi chặng ông đều ý thức tạo điểm nhấn, tạo đột phá về thi pháp. Sáng tạo, đối với Trần Dần, là sự tự phủ định không ngừng. Như ông đã tâm niệm: “Viết như xóa ngay cái mình vừa đưa ra”; “viết? giết một cái gì? đầu tiên là quan niệm viết? rồi luôn đó, một vài cái khác – trong ngoài mình? nếu không viết làm gì?”.

Bài viết này giới hạn phạm vi khảo sát vào những sáng tác của Trần Dần trong khoảng thời gian 1963-1965. Đây là giai đoạn như Dương Tường nhận định, Trần Dần đã “dứt khoát rũ bỏ ảnh hưởng của thơ bậc thang và khẩu khí Maiakovski mà ngay cả trong Bài thơ Việt Bắc và phần nào trong Cổng tỉnh, ta vẫn còn gặp ở đôi chỗ”, để “đắm mình vào suối nguồn ca dao- đồng dao”, “tạo nên một hôn phối kỳ thú giữa truyền thống và hiện đại. “ (Dương Tường, 1997: 119). Chính từ giai đoạn này đã xác lập nên Trần Dần trong “tư cách nhà các tân thơ số một”, đặt nền móng cho những tìm tòi thi pháp của ông ở những giai đoạn tiếp theo, kích thích đáng kể tư duy sáng tạo của nhiều cây bút – cùng thời hay thuộc thế hệ hậu sinh, bất chấp những hạn chế về phạm vi truyền bá những tác phẩm của ông trong một thời gian dài – để định hình nên một dòng thơ thường được gọi là “dòng Chữ” trong thơ Việt hiện đại, mà ở đó Trần Dần là một trung tâm[2].

Nhiệm vụ của bài viết này, trước hết, sẽ phân tích cách Trần Dần xử lý, tiếp biến những mô thức của đồng dao để tạo ra những hình thái mới cho thơ. Từ đó, tôi sẽ đưa ra cách lý giải: tại sao Trần Dần lại có thể tìm thấy những gợi ý từ mô thức của đồng dao để khởi đầu giai đoạn cách tân triệt để, quyết liệt nhất của mình.

*

Có thể bằng trực cảm để nhận ra hơi hướng của đồng dao trong thơ Trần Dần ở những bài mà nhìn bề ngoài, dường như sự thẩm thấu của mô thức đồng dao để lại dấu ấn khá rõ. Chẳng hạn:

Đi chởi! Đi chơi

Đầu trọc bình vôi

Hai tay hòn sỏi

Đi chơi! Đi chởi

Hai tay hòn sỏi

Đầu trọc bình vôi

Đi chởi! Đi chơi

Khóng khó để nhận thấy những dấu hiệu định tính của hình thức đồng dao ở bài thơ này: kết cấu vòng tròn – dạng thức kết cấu tiêu biểu của đồng dao; thể thơ bốn chữ – thể thơ phổ biến nhất của đồng dao Việt Nam; hình thức điệp… Thậm chí, ngay cả nhan đề của nó – “Bài hát người lớn” – cũng cho phép ta hình dung mối quan hệ liên văn bản khả hữu giữa bài thơ với thể thức đồng dao, vốn được coi là những “bài hát trẻ con”.

Ở một ví dụ khác, ta có thể nhận thấy thơ Trần Dần duy trì cơ chế bắt vần, tạo nhịp rất điển hình của đồng dao:

Công viên chiều sạch

thạch ngày…

thơm giày

mây mài – lai bùn- chun quần – thăn mần – gương trần – mâm đùi – mưa chùi – mui nhài – co cài – xoong nồi – vai mùi – dui kèo – kheo đồng hồ – thơ cờ – lơ rèm – tim phèn

bùn sen… men đèn

(“Sạch”)

Sẽ không là khiên cưỡng khi đọc đoạn thơ trên của Trần Dần, âm và nhịp của nó khiến ta liên tưởng ngay đến những bài hát nhi đồng trong những trò chơi chuyền, chơi chắt. Thử đối sánh:

Qua cầu – hầu thẻ – bẽ bàng – sang ngón – chọn tay – ngay giò – giò gì – giò chả – ả gì – ả mi – i gì – i ma[3].

Đáng chú ý, trích đoạn “Sạch” được dẫn ra ở trên được Trần Dần ghi chú là “một bài tập”. Có khả năng đây là một thí nghiệm thi pháp chuẩn bị cho Mùa sạch – thi phẩm được xem như kết tinh cho những tìm tòi, thể nghiệm theo đường hướng khai thác những gợi ý từ thơ ca dân gian để làm mới thơ của Trần Dần.

Có thể dẫn thêm nhiều ví dụ khác để thấy hình thái, thể thức của đồng dao đã được Trần Dần nhào nặn với tính chất là vật liệu nghệ thuật. Nhìn chung sự tích đọng của hình thức đồng dao trong thơ Trần Dần có thể được cảm nhận rõ nét nhất ở cơ chế tạo nhịp và bắt vần – yếu tố mà một nỗ lực cách tân trước ông, Nguyễn Đình Thi, tước bỏ. Cũng chính vần đã được độc tôn như một yếu tố mang tính thơ không thể loại trừ dưới áp lực của thơ ca đại chúng hóa thơ ca[4]. Tựa vào vần nhưng rõ ràng những thể nghiệm thi pháp của Trần Dần vẫn là phản đề so với thơ vần của dòng chính đương thời. Tại sao ông làm được điều này? Thực sự đây là điểm không khó nhận ra nhưng để chỉ ra được cách nhà thơ xử lý vần như thế nào thì đòi hỏi nhiều sự tinh tế.

*

Ta tạm quy ước gọi những bài thơ của Trần Dần được khảo sát ở đây là những bài thơ đồng dao. Đồng dao, theo một số quan niệm phổ biến, là những câu hát dân gian mà trẻ em thường hát khi chơi những trò chơi. Trong một công trình được xem là tập hợp dày dặn nhất về đồng dao Việt Nam – Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt – tuy còn một vài điểm lấn cấn trong việc nhận diện thể loại song nếu thống kê dựa trên những bài được đưa vào tuyển tập, nhìn chung, ta có thể nêu ra một số đặc điểm về hình thức được nêu ra một số đặc điểm hình thức của đồng dao được lặp đi lặp lại nhiều. Nói khác đi, có thể xác lập được mô thức (pattern) điển hình của nó. Theo đó, đồng dao thường tuân theo những thể thơ có số âm tiết không lớn, từ 2-5 tiếng, trong đó, đồng dao bốn chữ chiếm tỉ lệ lớn nhất; nhịp ngắt chủ yếu là nhịp chẵn hoặc đọc liền hơi; vần đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc liên kết chuỗi lời của bài đồng dao, đáng chú ý là việc gieo vần lưng – cách gieo vần được xem là đặc thù Việt Nam[5] – xuất hiện với tần số cao. Cố nhiên, những đặc điểm hình thức trên đây của đồng dao gắn bó chặt chẽ với chức năng sinh hoạt thực hành của thể loại: nhịp và thể tương ứng với nhịp điệu trò chơi của trẻ; vần vừa là yếu tố giúp khắc sâu trí nhớ trẻ, vừa là yếu tố thuận tiện để ứng khẩu.

Việc Trần Dần chú ý đến mô thức của đồng dao có lẽ khởi nguồn từ mối quan tâm thường trực của ông về nhịp điệu thơ. Hình thức câu thơ bậc thang chiếm ưu thế trong thơ Trần Dần ở giai đoạn trước đó, khi ông còn nằm trong vùng ảnh hương của Maiakovsky, là minh chứng. Quan niệm của Maiakovsky: “[nhịp điệu] là cái nền của bài thơ, nó đi qua bài thơ như một tiếng xốn xang (rumeur). Lần lần từ tiếng xốn xang này bắt đầu rút ra những từ… Cái nhịp – xốn xang này từ đâu đến – không rõ. Đối với tôi, đó là mọi sự lặp lại ở trong tôi một âm, một tiếng động, một sự lắc lư hoặc nói chung đó là sự lặp lại mỗi hiện tượng mà tôi diễn ra được bằng âm thanh… Sự cố gắng tổ chức sự vận động, tổ chức âm thanh xung quanh mình, sự tìm tòi, tính chất đặc điểm của những thứ này là một trong những công việc làm thơ chủ yếu – công việc dự trữ nhịp… Nhịp, đó là sức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của câu thơ…” (Hoàng Ngọc Hiến, 1984: 456-457) hẳn vẫn là điều mà Trần Dần tâm đắc cho dù ông đã bước qua bóng của Maia và điều này không có gì nghịch lý bởi phủ định ảnh hưởng không có nghĩa là xóa bỏ sạch trơn.

Là hình thức ngôn từ gắn liền với hoạt động trò chơi nên đồng dao có một thứ nhịp điệu chắc, mạnh, không phải thứ nhịp điệu buông chùng, lả lơi như nhiều hình thức bài hát dân gian khác. Thứ nhịp đồng dao ấy có sự đối ứng với cảm thức thơ của Trần Dần, cảm thức muốn hướng đến một thứ thơ tự nhiên, khoẻ khoắn, không có sự dàn trải của tiết tấu. Sức hấp dẫn của Mùa sạch, một phần quan trọng, nằm ở một thứ nhịp điệu sống động, được tái sinh từ đồng dao. Ở đây, Trần Dần đã lấy nhịp và âm chứ không phải nghĩa quy chiếu của từ làm bình diện thứ nhất của bài thơ. Nói một cách hình ảnh, nghĩa của từ ở đây bị làm dẹt đi, nhà thơ không bắt từ đóng vai trò làm những ẩn dụ, tượng trưng mà để âm và nhịp trở thành nhân tố thơ chủ đạo. Chính nhân tố này làm nên sức gợi của bài thơ, sức gợi về một nhịp sống đang sinh sôi, nảy nợ, rạo rực. Hãy thử đọc một đoạn trích:

Tôi qua sáng ngõ

Sáng ngõ trong sao

Tôi qua sáng cầu

Sáng cầu trong nhịp

Tôi qua sáng mít

Sáng mít trong gai

Tôi qua sáng nhài

Sáng nhài trong nụ

Tôi qua sáng vụ

Sáng vụ trong chiêm

Tôi qua sáng miền

Sáng miền trong gặt

(“Sáng chiêm sang sáng” – trích Mùa sạch)

Việc quan sát mô thức của đồng dao giúp cho Trần Dần phát hiện ra nguồn năng lượng tiềm ẩn của một yếu tố hình thức mà ngay khi đang được tôn sùng, nó cũng chưa được chú ý khai thác hơn là một công cụ: vần. Vần trong đồng dao, như đã nói ở trên, có khả năng kích thích sự ứng khẩu của trẻ, thực hiện chức năng liên kết và khai triển chuỗi lời ở trẻ. Vần như một điểm tựa để khơi dậy tức thời những liên tưởng về hình ảnh, về âm thanh, khiến bài đồng dao mang tính chất ngẫu hứng rõ nét. Khi tiếp biến mô thức của đồng dao, Trần Dần đã kế thừa đặc điểm này. Nương vào một yếu tố mang tính khống chế là vần như Trần Dần vẫn tạo được độ tung tẩy, tự do, tự nhiên trong mạch thơ. Dưới đây là một ví dụ:

Cấp cứu! Cấp cứu!

Ô tô chẹt lá chết

Một cặp đi ngang đường bẹt

Hãy để tôi đi tìm tia trăng vườn quít!

Điện thoại kêu thét

Con cốc đi xa

Chương ba tiểu thuyết

Hành trình!…Hành trình!

Không thấy sương bay thành vệt

(“Đoạn kết”)

Bài thơ ngắn trên đây khá điển hình cho cách chơi vần của Trần Dần. Có thể thấy Trần Dần đã dùng vần với tinh thần tự gây thách thức cho mình. Thứ nhất, ông chơi những vần rất khó gieo, lại gieo vần trắc, khả năng kết hợp hạn chế. Thứ hai, ông gieo vần liên tiếp, dồn dập, có cảm giác ông vắt kiệt những khả năng kết hợp của vần. “Đoạn kết” lấy vần “ết” – một âm có độ mở hẹp, luồng hơi phát ra ngắn – làm vần chủ; các tiếng “chết” -“bẹt” – “quít” – “thét” – “thuyết” – “vệt” đặt liên tiếp nhau, tạo ra ấn tượng về một trường âm thanh rít, nhói, một nhức buốt đòi được giải thoát, một mắc kẹt đòi được thoát ra, một dồn nén muốn được bùng vỡ, một hối thúc đòi được hoàn tất. Vần ở đây ám thị một quá trình nội tâm đang ở độ căng mãnh liệt. Trong khi chấp nhận luật chơi đầy thách thức của vần thì Trần Dần lại thả lỏng sợi dây liên kết logic: giữa các câu thơ có sự gián đoạn, có những khoảng hẫng; những quan hệ có thể giải thích được ngay một cách duy lý về ngữ nghĩa, về cơ chế liên tưởng bị làm mờ đi (ít nhất là trên bề mặt). Và bằng hành động này, Trần Dần đã làm thoái vị tính tự sự vốn là một đặc điểm chi phối rất lớn Thơ Mới và cả dòng thơ đương thời với ông – dòng thơ về cơ bản vẫn tiếp nối mạch chảy của Thơ Mới nếu xét về mặt hệ hình, cho dù tư tưởng hệ có thay đổi[6].

Cách tự tạo ra thách thức để chơi âm thanh như Trần Dần có thể khiến ta nghĩ đến những bài thơ toàn thanh bằng của Bích Khê thời Thơ Mới nhằm theo đuổi chủ trương của Mallarmé: “Thu hồi tài sản của thi ca từ âm nhạc”. Cái làm nên sự khác biệt của Trần Dần không phải ở chỗ ông cũng thực hiện “chiến lược thi pháp” bằng các thanh trắc, bằng những tử vận, mà đáng chú ý hơn ở chỗ: không như các nhà thơ theo khuynh hướng tượng trưng trước ông, Trần Dần đã không nhắm đến cái du dương, êm ái như là mục đích cao nhất . Ở Trần Dần, nhạc thơ trở nên gai góc hơn, nghịch nhĩ hơn. Hãy đọc lại “Chín bức thư mưa” của Trần Dần:

Em ơi!

Ai xui nhà ươm chín mái

Tơ ngâm chín vại

Dâu xanh chín bãi

Tằm ngã – chín nong

Ai xui cửa chín chấn song

Đường về phố em đèn lên chín ng

Thư đi ngỡ ngàng chín ngõ

Vườn hoa chín cửa

Đợi chờ – chín đêm…

Đoạn mở đầu của bài thơ này, về cơ bản, vẫn cho thấy cách gieo vần của Trần Dần được điều tiết hài hòa, nhịp nhàng, câu thơ khép lại chủ yếu bằng các âm tiết mở (được in đậm ở trên); cách chơi âm thanh của nhà thơ chưa có đột biến rõ nét. Có đáng kể chăng chỉ là mật độ dày các âm tiết có âm vực thấp khơi gợi một thứ nhạc điệu tương đối trầm lắng, u buồn.

Nhưng đến đoạn sau, cái mềm mại của nhạc thơ đã bị phá bỏ:

Ai xui chắn chín ngã tư?

Chậm giờ chín phút

Ai xui chín ô kính ướt

Ngoài trời lá bứt

Chín cản gió lốc

Chín dây đàn – đứt

Chín bông cúc – ngứt

Chín tờ giấy – vứt

Chín nông nỗi – nhứt

Chín khúc – lay lứt

Chỉn mảnh chai – sứt

Chín ngọn đèn – thức

Chín khuy áo – tức

Chín bình hoa – nứt

Chín bức thư – lạc

Chín trang mưa nhòe

Có thể thấy ngay ở đoạn này, cách gieo vần của nhà thơ đã “có vấn đề”. Trần Dần gieo vần trắc liên tiếp, cố gắng duy trì liên tiếp đến mức độ cao nhất một thanh điệu (thanh sắc), lấy âm “ứt” – một âm tiết khép, kết thúc bằng phụ âm tắc “t”, có khả năng kết hợp không hề phóng khoáng trong tiếng Việt – là âm cơ sở để tiến hành việc gieo vần. Bằng phương thức này, nhà thơ đã đẩy nhạc thơ vượt quá tính chất hài hòa, êm tai, thay vào đó là một âm điệu gắt, nhức, chói, được nhân bội lên ở năm đoạn tiếp theo. Cộng hưởng với điều này là sự láy đi láy lại các kết cấu “Ai xui… Anh về…Anh đi…Anh ngồi…Anh trèo”, là sự trùng điệp con số 9 khiến nó trở thành biểu trưng của một tình thế hiện sinh trớ trêu, phi lý mà mọi nỗ lực hành động để vượt qua nó của con người đều bị kiểm tỏa… tất cả như thể ám thị trạng thái thống cảm, đầy dằn vặt của chủ thể trữ tình, muốn thoát ra khỏi sự câm nín để được cất lời, được đồng vọng, mà rồi dường như vẫn bị tắc lại, nghẹn lại. Đoạn kết lại bài thơ: “Em ơi! Em ơi! Thư!…Thư!…Thư!… Địa chỉ mưa ướt – Chín lần thư mưa” tập trung nhiều hơn thanh bằng và các âm tiết có độ mở kết thúc câu thơ, trong đó từ “mưa…” dứt bài là âm tiết có độ mở lớn nhất trong toàn bài, bên cạnh tác dụng tạo sức gợi của dư âm, còn khiến ta liên tưởng đến một cõi mênh mang, trống trải, một cảm nghiệm về sự bất lực trong khát vọng giao cảm của nhân vật trữ tình. Chính nhạc tính ở đây góp phần hiệu quả, nếu không muốn nói là bình diện nổi bật nhất, trong việc biểu đạt sắc thái bi kịch của bài thơ.

Tại sao Trần Dân thích chơi vần khó? Tại sao Trần Dần lại có xu hướng đẩy nhạc thơ đi quá ngưỡng của sự du dương, hài hòa? Tôi cho rằng, sẽ vẫn chỉ là một quan sát thuần túy bề mặt nếu cho rằng đây là một trò chơi kỹ thuật của nhà thơ. Cách chơi âm thanh ở đây có lẽ có một liên hệ sâu kín vói tâm lý sáng tạo của tác giả. Ông chọn những âm tiết đóng, có độ mở rất hẹp, có khả năng kết hợp ngặt nghèo – những âm tiết có sức cản nhiều hơn là điểm tựa để khai triển việc gieo vần. Ông đã chọn chúng trong một tình thế dường như không thoái thác được. Những âm tiết tưởng chừng cằn cỗi, rất ít khả năng tạo sinh đó như thể là những vật liệu tối thiểu cấp cho kẻ làm thơ phải chịu án đi lưu đày, bị trục xuất ra khỏi không gian ngôn ngữ của vùng thơ ca trung tâm. Gieo vần, đối với ông, giống như một nỗ lực giải tỏa sự khống chế của ngôn ngữ, cũng chính là sự khống chế đối với tư duy. Ông đẩy những cách lặp, cách điệp, cách hiệp vần… ra khỏi lực hút của sự du dương, mượt mà thuận tai, không phải chỉ vì thế giới nội tâm gai góc, u uẩn, nhiều ẩn ức không thể biểu đạt được bằng một thứ giai điệu như thế. Sự quyết liệt, ráo riết trong việc triển khai thi pháp của ông còn có thể được lý giải bằng ý thức từ chối sự thỏa hiệp đối với thói quen của ngôn ngữ, với con đường dễ trong việc chọn lựa và xử lý chất liệu nghệ thuật. Làm thơ, với Trần Dần, là “tự rủ mình vào cửa khó.”

Xin được nói thêm, vần là một hứng thú mà Trần Dần say mê theo đuổi ngay cả trong những thể nghiệm không nương theo mô thức đồng dao hay những sáng tác ở giai đoạn sau này. Ví dụ:

“… thì kệ cái tát 1 bát sẹo 1 lẹo vú 1 bú đít 1 lít nách 1 jạch tóc 1 móc họng 1 nọng thở 1 hở jõn 1 nọm nín 1 mím ngực 1 chực cắn 1 nắn thẹn 1 đẹn kén 1 nén xác.

1 es píc 1 híc bẹn 1 lẹm ngúyt

1 quít háng 1 jạng sáng 1 tháng hóc

1 jọc đùi 1 mùi môi…”

(“Jờ Jọacx” -1963)

“Vô đồng hồ. Rồ tuần. Ngần chờ. Mờ tần. Thần. Lần thần. Vần vò người. Cười ngờ. Thờ mồ. Trăng mồ liềm. Xiêm y phi. Nghi. Ngờ đồng hồ rồ. Ngờ tuần rồ vồ đồng hồ. Thôg jờ. Khờ ngày. Bày đồng hồ khô. Bán cầu mờ. Quá bán cầu rồ. Toàn cầu chờ. Địa cầu mồ. Ồ! đồng hồ.”

(“Năm lũy thừa” – 1975)

Có thể thấy Trần Dần đã lấy vần làm nhân tố chủ chốt để triển khai tính liên tục của hành ngôn thơ. Ông “đập” vào vần đề từ vần mà bật ra chữ, bật ra hình ảnh gần như tự động, không hề vướng bận bởi những quy tắc tạo từ đã có, những phương thức tạo hình theo một logic khả đoán, những cách tổ chức cú pháp quen thuộc. “Lối viết bật âm” này, tạm định danh như vậy, chính là một kiểu diễn ngôn đặc trưng của Trần Dần. Lối diễn ngôn ấy đem lại cho người đọc thơ ông một khoái thú mà Phạm Thị Hoài đã gọi là “sướng nôm”, một thứ nôm rất hiện đại[7], cái khoái thú khi cảm nhận được khả năng tạo sinh bất ngờ và phong phú của tiếng Việt, mà điều này lại đến từ những yếu tố hay phương thức tưởng như có khả năng tạo sinh hạn chế nhất (chơi vần khó, chơi độc vận, độc thanh). Đó không đơn giản chỉ là một trò chơi nhất thời; sự kiên trì của ông trong cách ứng xử nghệ thuật này có lẽ còn ẩn chứa cả một tâm niệm, một triết lý về hành động sáng tạo: cho dù có thể bị tước đoạt tất cả, cho dù ngôn ngữ với những sức nặng, không chế, áp đặt của nó muốn bắt nhà thơ phải câm lặng thì với ý chí tự do, nhà thơ vẫn có thể cất lời, đồng thời giải phóng cho chính ngôn ngữ.

Đến đây, cần ghi nhận một điều: trong khi hứng thú với những khoái cảm thẩm mỹ của nhịp và vần mà mô thức đồng dao gợi ra thì trên thực tế, khi triển khai thi pháp, Trần Dần đã làm biến dạng mô thức này. Ông không dùng lại mô thức đồng dao như cách ứng xử của nhiều người trước và sau ông đã làm mà có thể nói, ông đã cá nhân hóa mô thức này. Những bài thơ đồng dao của ông trong khi vẫn có thể cảm nhận được hơi hướng của thể loại gốc thì cũng không thể lẫn được ở tính chất gây hấn với tai nghe thơ vốn quen với cái du dương, cái mượt mà của thẩm mỹ đại chúng. Với Trần Dần, mọi thứ đều có thể và cần phải được thử ở mức tới hạn của nó. Cố nhiên, mô thức đồng dao ở Trần Dần còn trở nên biến dạng bởi hình ảnh thấm đẫm cảm quan tạo hình của mỹ thuật hiện đại và nhất là đậm chất đô thị. Tuy nhiên, do cách xác định vấn đề trung tâm của bài viết, tôi sẽ không đi sâu bàn về đặc điểm này.

*

Những mô tả trên đây đã cho thấy cách xử lý mô thức đồng dao của Trần Dần. Song đồng dao đối với Trần Dần có ý nghĩa hơn là một vật liệu nghệ thuật. Tôi cho rằng, nó có tính chất như một nhân tố gợi ý, kích thích tư duy thơ Trần Dần, từ đó, khiến ông có thể tạo ra được những đột phá mạnh mẽ nhất so với những giai đoạn trước trong lộ trình sáng tạo của ông và so với cả tiến trình thơ ca hiện đại nói chung.

Đồng dao thường được xem là một tiểu loại của ca dao nhưng nếu theo đó xếp nó vào nhóm các tác phẩm trữ tình thì không tránh khỏi khiên cưỡng. Bởi lẽ đồng dao không thiên về biểu hiện một nội dung cảm xúc cụ thể, cũng không hàm chứa một cái lõi tự sự như ở nhiều bài ca dao khác. Đồng dao là một tiểu thể loại mang tính trò chơi rất rõ, không phải vì bản thân nó gắn với trò chơi trẻ nhỏ, mà vì nó chính là một trò chơi ngôn từ, được cấu tạo bởi sự tung hứng của nhịp và vần. Khoái cảm thẩm mỹ đầu tiên mà nó đem đến cho người ta chưa phải, thậm chí không phải, là một thông điệp hay một tư tưởng nào, mà là sự biến hóa của âm thanh, tiết tấu. Như bài đồng dao dưới đây mà trẻ nhỏ thường hát khi chơi nu na nu nống:

Nu na nu nống

Cái cống nằm trong

Con ong nằm ngoài

Củ khoai chấm mật

Phật ngồi phật khóc

Con cóc nhảy ra

Con gà ú ụ

Nhà mụ thổi xôi

Nhà tôi nấu chè

Tè he cống rụt…

Rất khó rút ra được một thông điệp, một nội dung cụ thể được biểu đạt nào từ bài đồng dao trên. Nghĩa (cái được biểu đạt) của bài đồng dao đã bị làm rỗng nhưng không vì thế mà khoái cảm thẩm mỹ từ hình thức tổ chức của lời (cái biểu đạt) biến mất. Đồng dao, có thể nói, là một hình thức tổ chức ngôn từ mang “tính thơ” ở dạng thuần khiết nhất. Tính thơ, theo những kiến giải của các nhà hình thức luận Nga, sau đó đuợc tiếp tục phát triển bởi các nhà cấu trúc luận, không nằm ở nội dung thông điệp, không nằm ở bình diện cảm xúc của chủ thể, không nằm ở đối tượng được biểu đạt, mà nằm ở tổ chức nội tại của ngôn ngữ, trong đó, vần và nhịp là những yếu tố quan trọng tạo nên tính đặc thù của sự tổ chức này. Chính ở điểm này mà hình thức của đồng dao có thể trở thành nhân tố gợi ý cho những thể nghiệm thi pháp của Trần Dần. Nó đã chạm vào mối quan tâm lớn của ông về CHỮ và NGHĨA, cũng chính là những băn khoăn về bản chất của thơ. Những suy tư về chữ và nghĩa là nội dung quan trọng nhất, và cũng gây tranh cãi nhiều nhất, trong quan niệm của các nhà thơ được xếp vào dòng thơ ngôn ngữ Việt Nam như Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng… và ở đây, có thể thấy được vai trò khai nguồn của Trần Dần đối với dòng thơ này.

Trần Dần quan niệm: “Thơ cổ lai đặt ở tứ lạ – lời hay – hình ảnh đẹp – âm điệu ru hồn. Tôi giản dị đồng nhất THƠ vào CHỮ… Tôi ưu tiên tác nghĩa? Con CHỮ được ưu tiên… bọn con NGHĨA phải sáu phía ruồi bu, à à vo ve quanh con CHỮ… Tôi viết – tức là tôi để con CHỮ tự mình làm NGHĨA“. Quan niệm trên của Trần Dần thực sự khó hiểu đối với cả một truyền thống sáng tạo và tiếp nhận thơ ca như một hoạt động biểu hiện, hay diễn đạt nôm na hơn, hoạt động “tải”. Ở thời phong kiến, đối tượng để thơ ca “tải” là “đạo”; ở thời kỳ Thơ Mới với sự thống trị của khuynh hướng lãng mạn, thay cho “đạo” là dòng cảm xúc; và đến dòng chính đương thời với Trần Dần, sứ mệnh mà thơ ca lãnh nhận là những thông điệp chính trị – xã hội. Có thể nói, trong truyền thống của thơ Việt Nam, cái được biểu đạt luôn là nhân tố gây áp lực và khi đó, mối bận tâm về nghĩa át đi những băn khoăn nhận thức về chữ.

Trần Dần xem chữ là bình diện thứ nhất của thơ, yếu tính của thơ kết tinh trong chữ. Chữ, trong quan niệm của Trần Dần, và rộng hơn là của các nhà thơ thuộc dòng thơ ngôn ngữ, là bình diện hình thức cảm tính của ngôn ngữ như âm lượng, hình ảnh thị giác, sức gợi cảm… Trong cách ứng xử thực dụng với ngôn ngữ, bình diện hình thức cảm tính thường bị vắt kiệt đi để trở thành một ký hiệu tải nghĩa. Chữ mang thân phận của một công cụ không hơn. Đề nghị của Trần Dần chính là đề nghị nhìn lại ngôn ngữ bằng thái độ của một nhà thơ không vụ lợi và công việc sáng tạo thơ ca thực thụ không thể không bắt đầu từ sự tự nhận thức của nhà thơ về ngôn ngữ. Không có sự tự nhận thức đó, người ta chỉ có thể viết theo những thói quen của ngôn ngữ, mà sáng tạo nghệ thuật thì không phải là lĩnh vực dành cho thói quen.

Trần Dần không chủ trương triệt bỏ nghĩa. Điều ông muốn khước từ trong thực hành thơ ca là việc xem chữ chỉ như một công cụ để tường giải, minh họa một thông điệp, một tư tưởng đã hoàn tất, đã có sẵn trong ý thức của tác giả. Chữ trong thơ, với ông, không phải là một thực thể đã thụ nghĩa xong xuôi, đã bị vít chặt vào một nghĩa nào đó; nó là một bản thể tự thân vận động và vận động một cách bất định. Nói như một câu thơ của ông: “Từ chữ thơ đi vào cuộc lữ”.  Trong “cuộc lữ” ấy, chữ “ám sát sự vật”, nó xóa bỏ áp lực của cái được biểu đạt, để “đẻ ra nghĩa mới”, một thứ nghĩa tạo sinh, luôn ở trạng thái đang triển diễn, đang kiến tạo chứ không đông kết lại, không khuôn vào sự yên ổn.

*

Những quan niệm thơ của Trần Dần trích dẫn ở trên được ông viết vào những năm 80. Tìm trong cuốn Trần Dần thơ mới xuất bản, không thấy những phát ngôn bày tỏ trực tiếp quan điểm thơ của Trần Dần trong khoảng thời gian những năm 1963-1965. Nhưng những suy tư về chữ-nghĩa rõ ràng đã chi phối những thể nghiệm thơ ca của ông ở giai đoạn này. Những bài thơ đồng dao của Trần Dần là một nỗ lực khám phá giá trị thẩm mỹ tự thân của chữ, đặc biệt là ở bình diện âm.

Mùa sạch (1964-1965) nằm trong số những tác phẩm của Trần Dần thường được nhắc đến như là một thực hành thơ ca ráo riết, triệt để nhất để trả lại cho chữ cái vị trí đứng trước nghĩa. Ông đã thể nghiệm một thứ thơ ngôn ngữ phi chiều sâu hiểu theo nghĩa ông đã gạt bỏ những ám ảnh về sự quy chiếu, về cái được biểu đạt, buộc người đọc phải chăm chú nhìn vào cái bề mặt của chữ, khám phá cái mỹ cảm bề mặt của chữ, của tiến trình chữ trong thi phẩm. Mùa sạch trước tiên là một nỗ lực để trả lại cho chữ sự tinh khiết của nó, là một đề nghị nhìn ngôn ngữ thi ca bằng một cảm nhận trẻ thơ – như những đứa trẻ khám phá ra mỹ cảm của ngôn ngữ khi hát những khúc đồng dao – không bị ý hướng diễn giải thô sơ chi phối, khiến người ta có xu hướng quy toàn bộ tác phẩm về một thông điệp nội dung.

Với cách thực hành ngôn ngữ như vậy, Mùa sạch quả thực là một thứ “thơ khách thể” theo định nghĩa của Roland Barthes, thứ thơ mà hành vi sáng tạo nó là “một bạo lực tự trị phá hủy hết mọi dung tải đạo đức học”, “một hành vi cưỡng bức”, thể hiện tham vọng của nhà thơ “đi đến cùng ý định của mình và đảm nhận thơ, không phải như một hoạt động tinh thần, một trạng thái tâm hồn hay một sự xác định chỗ đứng, mà như là vẻ rực rỡ và tươi tắn của một thứ ngôn ngữ mơ ước” (Roland Barthes, 1997: 88-89). Không còn là bản tự thú của cảm xúc, không còn là sự thỏa mãn nhu cầu giãi bày, tự sự – cái nhu cầu hiện sinh giấu kín ở mỗi con người, Mùa sạchvô ngã hóa cái tôi tác giả, tôn vinh vẻ đẹp tự thân của một thứ ngôn ngữ “sạch” với những kiến trúc song song, những phép trùng điệp, những kết hợp từ tự do, phóng khoáng, và đặc biệt là sự dồi dào, phong phiêu của vần và các từ láy, tạo nên một bố cục ấn tượng về vẻ đẹp tự nhiên của đời sống đang nảy nở, sinh thành, được phát hiện ngay trong những gì nhỏ nhặt, bình thường, đơn giản nhất:

Tôi nhất thích công tác ở Việt Nam mùa

Bò mùa lúc nhúc nông trường mùa

Ga mùa lục xục tàu mùa

Chiều mùa lục bục sấm mùa

Tình mùa lục tục gặt mùa

Mạ mùa gieo mùa

Sao mùa vằng vặc ngoại thành mùa

Xóm mùa lạc xạc cày mùa

Mùa Việt Nam trên quả đất mùa

Trích đoạn ngắn trên đây từ thi phẩm Mùa sạch là ví dụ cho thấy cách xử lý ngôn từ của Trần Dần. Ngôn từ trongMùa sạch không nhằm tạo nên một bức tranh tĩnh vật, ngược lại, nó là ngôn ngữ của sự vận động, sự vận động ấy được cảm nhận trên hết từ âm thanh. Sự trùng điệp của kết cấu lời và đặc biệt là các từ láy gần âm nhau ở ví dụ trên gợi cho ta cảm giác của về sự hô ứng, sự hòa nhịp của mọi vận động đang diễn ra, gợi âm hưởng náo nức của một không khí hội hè (carnival). Không khí hội hè toát lên từ những ý cảnh nhộn nhịp, trong những tấm lịch bừng bừng sức sống, mọi vật gọi nhau trỗi dậy: “Trong nén kén nảy tơ – Trong lò nảy thép – Trong máy ép nảy thầu dầu – Trong màu nảy ruộng – Trong luống nảy cày – Trong mày nảy hạt…”; “Tôi thích mùa ngâu gồm cả ngâu mùa – Gồm cả trầu mùa – Gồm cả nhịp cầu mùa – Gồm cả nước cầu mùa…- Gồm cả rể dâu mùa – Gồm cả cô dâu mùa – Gồm cả phù dâu mùa – Gồm cả phủ rể mùa – Gồm cả hai họ mùa – Gồm cả xóm mùa…”. Nhưng hơn hết, Mùa sạch là một ngày hội của ngôn từ, nơi mà sự áp đảo của nghĩa bị đẩy lùi, chữ hiện lên ở bình diện thứ nhất, tháo bỏ những quy phạm ngôn ngữ về cấu tạo, kết hợp và nhờ đó, chữ cho thấy còn rất nhiều nguồn năng lượng chưa được biết đến của nó.

Đọc đồng dao, không ít lần chúng ta bắt gặp những câu như vô nghĩa, không có một nội dung nào, những cách ghép vần lạ lùng nhưng vẫn có thể tạo ra khoái cảm ngôn ngữ như nghe vui tai, nghe ám ảnh, chẳng hạn: “Nu na nu nống”, “Chi chi chành chành”, “Chè la chè lít”, “Ô nô, ốc nốc”… Khoái cảm của thứ ngôn ngữ không quy chiếu này có lẽ cũng là một sự gợi ý cho cách chơi âm thanh của Trần Dần ở giai đoạn đang được nói đến.

Mùa sạch được hoàn thành năm 1965 nhưng như đã nói ở trên, để đi đến tác phẩm độc đáo này, Trần Dần có lẽ đã tiến hành một số thí nghiệm về thi pháp, đưa ra một số phác thảo ban đầu. Và ở những thí nghiệm, phác thảo đó, điều mà Trần Dần muốn thăm dò là tiềm năng chiều biểu âm của chữ. Ba bài tập “Quả đất” – “Quả đát” – “Quả đạt” nằm trong nỗ lực thăm dò ấy. Cách chơi vần của ông trong những thể nghiệm này không chịu áp lực của nghĩa nữa; ông đã chơi với những âm tiết còn chưa được thụ nghĩa – những “chữ rỗng” như cách gọi của Hoàng Hưng (Hoàng Hưng, 2004):

Tôi nhất thích công tác

Xột quả đất…

Khi thạt người lạt xà lạt xạt

Khi xột ngày xần xật…

(“Quả đất”)

Tôi thít quả đát

quả đoát quả đoạc

…quả đoác

Tôi thít côm tát nịt chít

Khít mít nuỵt chuỵt

huỵt… ở quả đoạt

(“Quả đát”)

Ở quả thoạt

tôi hát – tôi mát – tôi xạt

tôi ngạt – tôi thạt – tôi đạt

tôi phạt – tôi lạc đạc

tôi tác vác – tôi xốc lốc

tôi thúc – tôi múc – tôi xúc

tôi đúc – tôi khục – tôi pục…

(“Quả đạt”)

Trong ba bài tập này, Trần Dần đã thực nghiệm phép trượt âm, từ “quả đất” – có tính xác định về mặt quy chiếu – đến những biến âm “quả đát”, “quả đoát”, “quả đọac”, “quả đọac” – tính quy chiếu bị xóa bỏ, chữ chỉ còn lại vỏ âm thanh. Các chữ “hát” – “mát” – ”ngạt” – “thạt” – “đạt” – “phạt” – “tác vác” – “xốc lốc” – “đúc” – “khục” – “pục”… thay vì gợi ra ấn tượng về động thái cụ thể của “tôi” có lẽ lại đem đến cảm giác rõ hơn về chính hành động gieo vần kiên trì và quyết liệt của nhà thơ, mà ở đây, ngay cả áp lực của ngữ nghĩa cũng không thể khiến nhà thơ chấp nhận thỏa hiệp ý muốn theo đuổi đến cùng tiến trình của vần – cái tiến trình âm gọi âm, gợi ra một trường cảm giác chưa bị mòn hóa đi bởi những sự quy chiếu, tên gọi.

Trò chơi trượt âm này sẽ được Trần Dần thực nghiệm triệt để hơn trong một số sáng tác ở khoảng thời gian sau như “Con OEE” (1967), “Con I” (1975), “Hậu con OEE” (1988)… Không dễ để hiểu ngay cái lý, chưa nói đến cái thú, của trò chơi này khi đọc những câu thơ như:

Đ’én ngoét

X oẹt xoeèè em

Em v’oét

Th’oẹt th’oè em

Ưa mưa tia nhia nhia

Lột buồng cụng cựa

Hè sàn loe chân lia

Thênh em bềnh cửa ngửa

Phố líu nh”íu lìu nh”ìu người

Vivu đi ngò ngò thòi

Ngoáng chim loi ch”oi lòi ch”òi

Thi thoi tôi ngày vọt v”òi

(“Con OEE”)

Trên văn bản của Trần Dần lúc này không còn dấu ấn của cái nguyên bản, dấu ấn của gốc ngữ âm và ngữ nghĩa, chỉ còn những vết mờ của chúng, chỉ còn những âm nhòe, nghĩa nhòa, không khỏi làm ta liên tưởng đến những câu đồng dao rỗng nghĩa mà ở trên đã dẫn ra làm ví dụ. Tại sao Trần Dần dùng thứ ngôn ngữ nhòe, lại lao động thơ ở “vùng mù” (chữ của Trần Dần), vùng chưa xác định của ngôn ngữ? Trò chơi trượt ngôn ngữ của Trần Dần không chỉ nên xem đơn thuần là một dạng đánh đố độc giả. Một động thái tiếp nhận tích cực hơn có thể nhìn thấy trò chơi này như một sự phản tư đối với tư duy của chúng ta: nó gợi chúng ta về phía bên kia vùng đã biết của ngôn ngữ, nơi còn vô số những trạng thái, những xao động, những hiện tượng còn chưa được gọi tên, nơi mà những chuẩn mực, quy ước, nguyên tắc của ngôn ngữ có khi không biểu đạt chân thực những trạng thái, những xao động, những hiện tượng đó, nhất là khi một dấu phẩy văn phạm thôi còn ẩn chứa đầy bất trắc, đến nỗi “vuốt râu hùm xám còn đỡ sợ hơn” – để dùng lại một ý thơ của Trần Dần. Những thể nghiệm ngôn ngữ của Trần Dần, và rộng hơn là của các nhà thơ cùng chia sẻ ý hướng với ông, có vẻ như xa lạ, lập dị với số đông công chúng nhưng thực chất, có thể xem chúng như một nỗ lực của người viết và một đề nghị đối với người đọc: vượt qua một nỗi sợ cố hữu của con người – nỗi sợ đánh mất thói quen, nhất là thói quen trong tư duy, lệ thuộc vào những gì đã gọi tên, vào quán tính của ngôn ngữ.

Trần Dần tìm về suối nguồn của đồng dao sau khi cuộc đời ông trải qua những biến cố lớn. Trở về với đồng dao tức là trở về với tuổi thơ của đời nguời và điều này có thể ghi nhận như một động thái tự thanh lọc bản thân, tự xoa dịu tâm hồn đã chịu nhiều thương tổn. Nhưng đó cũng còn là hành trình trở về với tuổi thơ của chính ngôn ngữ, thời kỳ mà ngôn ngữ còn chưa khuôn lại thành chuẩn mực, phép tắc, luật lệ. Thứ ngôn ngữ trẻ thơ ấy bị dồn nén, bị trấn áp trong những thời kỳ phát triển tiếp theo, bị coi là thứ ngôn ngữ vô nghĩa, rỗng nghĩa, không đuợc cộng đồng hợp thức hóa, đưa vào trong hệ thống ngôn ngữ của mình. Hành động lựa chọn thứ ngôn ngữ bị gạt bỏ, khai thác nó để làm lung lay, bất ổn khuôn khổ rắn chắc của ngôn ngữ, làm mới thơ ca của Trần Dần có sự gần gũi với ứng xử nghệ thuật của nhiều nghệ sĩ theo khuynh hướng tiền phong thế kỷ XX. Trong một công trình nghiên cứu về khuynh hướng mỹ học ấu nhi (infantilistic aesthetics) của nghệ thuật tiền phong Nga giai đoạn 1930-1939, tác giả Sara Pankenier đã mô tả và phân tích chiến lược sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, nhãn quan trẻ thơ của một số nghệ sĩ Nga thời kỳ này nhằm tìm kiếm những phương thức nghệ thuật mới cũng như lách qua những ba-ri-e đối với sự tự do biểu hiện của nghệ sĩ[8]. Bà có nêu ra một nhận định cho phép ta có thể liên hệ ít nhiều đến thực tiễn sáng tác của Trần Dần: “Ở cấp độ ẩn dụ, ý niệm về chủ thể không mở lời, hay đứa ấu nhi, gián tiếp gợi ra những ẩn ý bị chính trị hóa về vị thế của ‘đứa trẻ thơ’ – chủ thể không mở lời thiếu tiếng nói. Không có ngôn ngữ đứa ấu nhi chỉ có thể giao tiếp bằng tiếng khóc; trong sự thiếu vắng những phương tiện được xã hội thừa nhận, đứa trẻ không có quyền để biểu hiện những ham muốn hay đòi hỏi của mình…Thiếu quyền được biểu hiện, chủ thể không mở lời tượng trưng kia không thể bộc lộ chính nó, lại càng không thể bộc lộ được quan điểm riêng, khác hay tính chủ thể nội tại của mình. Song, như ta sẽ thấy, chủ nghĩa nguyên sơ ấu nhi lại dẫn các nghệ sĩ các nghệ sĩ tiền phong đến với niềm hứng thú đối với góc nhìn và giọng điệu độc đáo của trẻ thơ, điều sẽ được thể hiện rõ nét trong thực hành nghệ thuật của khuynh hướng mỹ học ấu nhi. Khi bản thân phải đối diện những giới hạn đối với sự tự do biểu đạt ở những năm tháng sau này của quá trình phát triển, nghệ thuật tiền phong đã tìm thấy những biên độ và những hình thức biểu hiện mới bằng việc tiếp cận trẻ thơ như là chủ thể và chủ thể tính.” (Sara Pankenier, 2006:4).

Nhận định trên đây gợi ra một hướng suy nghĩ xa hơn: việc trở về với đồng dao, với ngôn ngữ trẻ thơ của Trần Dần có lẽ gắn với một sự tự ý thức sâu sắc về vị thế của chủ thể trữ tình: vị thế của kẻ ở ngoại vi, khả năng cất lời bị tỏa chiết, và do đó, dường như chỉ còn thứ ngôn ngữ bị gạt ra, không đuợc kết nạp vào trung tâm là dành cho mình. Thứ ngôn ngữ đó không những vẫn giúp cho chủ thể cất lời; quan trọng hơn, chính nó lại là nơi tích trữ nhiều nhất nguồn năng lượng để đổi mới. Đúng như một quy luật Y.Lotman từng khái quát mà Sara Pankenier sử dụng lại trong công trình nghiên cứu về nghệ thuật tiền phong Nga của mình: thứ ngôn ngữ bị xem là nhỏ/phụ, thuộc về ngoại biên này lại là khu vực năng động hơn cả trong ký hiệu quyển (semiotic sphere) và mang tính cách mạng nhiều hơn khu vực ở trung tâm. (Sara Pankenier, 2006:6). Chính thứ ngôn ngữ còn chưa bị khuôn theo áp lực của thứ ngôn ngữ chính thống, trung tâm, còn là một thực thể rỗng chưa thụ nghĩa này lại tiềm tàng khả năng phát nghĩa nhiều hơn cả.

*

Trở lên trên, bài viết đã mô tả sự tiếp biến mô thức đồng dao để đem đến cho thơ hiện đại một hình thái mới của Trần Dần. Một điều khá ngạc nhiên là dường như Trần Dần thực hiện đúng những chủ trương mà nền thơ ca đại chúng đang định hướng cho các nhà thơ đương thời: ông dựa vào truyền thống thơ ca dân gian, ông sử dụng vần. Nhưng thực sự, ông đã tạo ra một đứt gãy rất lớn với mạch chảy của thơ ca hiện đại, mà theo nhận xét của một số nhà phê bình, một tác phẩm như Mùa sạch có nhiều nét tương đồng với một số thực hành nghệ thuật thường được xếp vào trào lưu hậu hiện đại[9]. Trần Dần khai thác những mô thức, những yếu tố tưởng như rất cũ, nhàm nhưng ông đã xuất phát từ một nền tảng tư duy khác về thơ: đặt chữ (cụ thể ở đây là âm) lên trước nghĩa; thay đổi cách ứng xử với chữ chỉ như một công cụ để biểu nghĩa – cái “nghĩa” được xem là đã có sẵn, đã hoàn thành trước khi nhà thơ viết bài thơ của mình. Viết là một quá trình tạo nghĩa, trong quá trình đó, tác giả tự xóa bỏ chính mình, để các con chữ tự mình làm nghĩa. Trần Dần đã rẽ khỏi truyền thống coi mục đích cao nhất của thơ là biểu hiện, chịu áp lực của cái được biểu đạt.

Những thể nghiệm của Trần Dần ở giai đoạn này đã đặt nền móng cho sự hình thành của dòng thơ ngôn ngữ trong thơ Việt hiện đại. Một dòng thơ đã tồn tại suốt một thời gian dài như một mạch ngầm và khi được xuất hiện chính thức, lập tức những sáng tác của họ gây ra những tranh luận chưa đến hồi ngã ngũ. Nhưng rõ ràng cách đặt vấn đề về ngôn ngữ thơ của Trần Dần và những nhà thơ thuộc dòng thơ này đã thực sự trở thành một ám ảnh, hay có lẽ đúng hơn, đã kích thích tư duy của nhiều nhà thơ ở thế hệ sau. Có thể kể đến Nguyễn Hữu Hồng Minh với Vỉa từ, Từ Huy với Chữ cái Trần Nguyễn Anh với Mặc xanh áo em cùng những bài thơ hình ảnh, và gần đây nhất là Như Huy với Những câu phức[10]… những tác giả – tác phẩm tiếp nối dòng mạch này. Việc ngôn ngữ trở thành đối tượng trung tâm của hành động sáng tạo, của ý thức phản tư trong lao động thơ ca là biểu hiện quan trọng của sự chuyển đổi trong tư duy thơ Việt Nam từ sau thời kỳ Thơ Mới, thời kỳ mà trung tâm nhận thức của thơ ca là cái tôi cá nhân trong niềm tin rằng cái tôi đó đứng ở hàng thứ nhất trước ngôn ngữ. Và trong bước chuyển này, hoàn toàn không quá lời khi nói Trần Dần là khởi điểm của những khởi điểm.


Chú thích

[1] Các trích dẫn thơ Trần Dần trong bài viết này được lấy từ tuyển tập Trần Dần Thơ (Vũ Văn Kha [bs]. 2008. Hà Nội: Nxb Đà Nẵng và Công ty Truyền thông Nhã Nam). Có tham khảo thêm chuyên đề Trần Dần, trên website Tiền Vệ (Australia), địa chỉ: http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=700

Riêng các trích dẫn từ tác phẩm Mùa Sạch của Trần Dần được lấy từ Mùa sạch. 1997. Hà Nội: Nxb Văn học.

[2] “Dòng Chữ” là tên thường được dùng để gọi một khuynh hướng thơ đặt mục đích sáng tạo lên hàng thứ nhất. Cụ thể, các nhà thơ theo khuynh hướng này như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường…chú trọng khai thác các phương diện hình thức cảm tính của ngôn ngữ như âm, hình trong khi xem nhẹ, thậm chí phá hủy các mối liên hệ ngữ nghĩa. Theo quan sát của nhà thơ Hoàng Hưng, sự tìm tòi về thi pháp của các nhà thơ theo “dòng chữ” này có nét tương đồng với khuynh hướng thơ ngôn ngữ (language poetry) trong thơ Mỹ đương đại ở chỗ: “…ưng dùng những ‘chữ rỗng’ (empty words) thay vì những ‘chữ thụ nghĩa’, dùng những ám chỉ nhờ vào sức mạnh của ngữ âm thay vì nghĩa thông dụng của các chữ.” (Hoàng Hưng. 2004). Trong bài viết này, có chỗ chúng tôi sử dụng khái niệm “thơ ngôn ngữ” để nói đến những tìm tòi, thể nghiệm của Trần Dần vì thiết nghĩ tên gọi này có sức khái quát cao hơn đối với tư tưởng nghệ thuật và sự triển khai thi pháp của Trần Dần không chỉ ở giai đoạn 1963-1965. Điều này không có nghĩa là chúng tôi muốn đồng nhất những tìm tòi của Trần Dần và những nguời cùng chia sẻ ý hướng nghệ thuật của ông với khuyn hướng thơ ngôn ngữ ở Mỹ.

[3] Các bài đồng dao trích dẫn trong bài viết được lấy từ Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt (Nguyễn Thúy Loan và các tác giả khác [bs]. 1997. Hà Nội: Nxb Văn hóa Thông tin).

[4] Về vấn đề này, có thể tham khảo tư liệu về cuộc tranh luận xung quanh thơ Nguyễn Đình Thi năm 1948 được in lại trong Nguyễn Đình Thi – Về tác gia và tác phẩm (Hà Minh Đức [bs]. 2000. Hà Nội: Nxb Giáo dục). Trong cuộc tranh luận này, việc Nguyễn Đình Thi tước bỏ vần trong những sáng tác của mình bị nhiều tên tuổi lớn trong giới văn nghệ đương thời phê phán khá gay gắt. Chẳng hạn, Ngô Tất Tố phát biểu: “Tôi đề nghị thơ không vần thì đừng gọi là thơ” (Sđd. 220). Xuân Diệu cho rằng thơ có thể không vần nhưng đại đa số trường hợp thì nên có vần vì những ích lợi của nó: giúp nghỉ hơi dễ dàng; giúp câu thơ có điểm tựa vững chắc, làm bật ra tứ thơ; giúp khắc sâu trí nhớ; đáp ứng nhu cầu thưởng thức của quần chúng vì “quần chúng của ta rất yêu vần”, khai thác vần tức là khai thác lợi thế của tiếng Việt (Sđd. 217).

Ở đây có thể nhận xét thêm: việc Trần Dần tận dụng vần đúng là một biểu hiện của việc khai thác lợi thế của tiếng Việt, vần trong thơ của ông có sự liên đới chặt với việc tạo nhịp nhưng rõ ràng thơ vần của ông lại rất khó nhớ so với thơ vần chính thống, thậm chí so với cả đồng dao. Có lẽ chính việc chạy vần liên tục trong khi cố gắng tối đa việc duy trì độc thanh, cộng với những hình ảnh liên tưởng khá tân kỳ, không có móc nối logic khiến thơ ông đọng lại trong tâm trí độc giả như một cấu trúc thuần túy cảm giác hơn là những câu chữ cụ thể chăng?

[5] Tác giả Văn Tâm trong bài “Thể phách thơ Việt Nam – Khát vọng tự do” in trong cuốn Vườn khuya một mình, có dẫn một đoạn thư mà nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo gửi riêng cho ông, cho biết: “Suốt cả tuần tra đến bảy cuốn từ điển Ngôn ngữ học và Văn học, vẫn không có đâu nói gì về vần lưng, kể cả Từ điển bách khoa Ngôn ngữ học 10 tập (6.000 trang), nói về thi ca cả thảy 38 trang.” (thư gửi ngày 12/12/1999) (Văn Tâm. 2001. Hà Nội: Nxb Văn hóa thông tin. 249). Qua đó, có thể thấy vần lưng là cách gieo vần đặc biệt của thơ Việt.

[6] Về tính tự sự như một đặc trưng của Thơ Mới 1932-1945, có thể tham khảo những phân tích của Nguyễn Hưng Quốc trong chương “Cuộc hòa giải vô tận: Hình ảnh nhà thơ trong phong trào Thơ Mới” (Nguyễn Hưng Quốc. 1996. Hoa Kỳ: Nxb Văn nghệ. 173-174).

[7] Phạm Thị Hoài, 1997. “Thủ lĩnh trong bóng tối”, đăng lần đầu trên tạp chí Văn học, Hoa Kỳ: California. Đăng lại trong chuyên đề Trần Dần trên website Tiền Vệ (Australia), địa chỉ:http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=700 (truy cập ngày 17/01/2009).

[8] Công trình của Sara Pankenier là luận án tiến sĩ bảo vệ tại trường Đại học Stanford, Mỹ năm 2006. Công trình nghiên cứu việc khai thác những yếu tố như ngôn ngữ, giọng điệu, cảm quan trẻ thơ trong thực hành nghệ thuật của các nghệ sĩ tiền phong Nga giai đoạn 1936-1939 gồm có: hội họa của Mikhail Larionov, sáng tác văn học của Aleksei Kruchenykh và Daniil Kharms, lý thuyết văn học của Viktor Schklovsky.

[9] Xin đọc thêm các bài viết “Thu Trần Dần” (Đoàn Cầm Thi. 2003), bản in trên website Tiền Vệ (Australia), địa chỉ: http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=767 (truy cập ngày 17/01/2009); “Tác phẩm Mùa sạch của Trần Dần qua góc nhìn của nghệ thuật ý niệm” (Nguyễn Như Huy) in trong Trần Dần Thơ (Trần Dần. 2008. Hà Nội: Nxb Đà Nẵng và Công ty Truyền thông Nhã Nam.161-167).

[10] Vỉa từ (Nguyễn Hữu Hồng Minh. 2007), bản in trên website: http://www.talachu.org/tho.php?bai=170 (truy cập ngày 17/01/2009).

Chữ cái (Từ Huy. 2007. Hà Nội: Nxb Phụ nữ).

Mặc xanh áo em (Trần Nguyễn Anh. 2007), bản in trên website: http://www.talachu.org/tho.php?bai=152#story   (truy cập ngày 17/01/2009).

Những câu phức (Như Huy. 2008. Hà Nội: Nxb Hội nhà văn).

  

Tài liệu tham khảo

Barthes, Roland. 1997. Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch). Hà Nội: Nxb Hội Nhà Văn.

Trần Dần. 1997. Mùa sạch. Hà Nội: Nxb Văn học.

¾¾¾. 2008. Trần Dần Thơ. Hà Nội: Nxb Đà Nẵng và Công ty Truyền thông Nhã Nam.

Hà Minh Đức [bs]. 2000. Nguyễn Đình Thi – Về tác gia và tác phẩm. Hà Nội: Nxb Giáo dục.

Hoàng Ngọc Hiến. 1984. Maiacôpxki, con người, cuộc đời và thơ. Hà Nội: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

Hoàng Hưng. 2004. “Lịch sử hiện đại hóa thơ Việt trong mắt một nhà thơ”, Võ Sư Phạm dịch từ tiếng Anh, đăng trên website Talawas (Đức) 9/12/2004, địa chỉ: www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3391&rb=0301(truy cập ngày 17/01/2009).

Nguyễn Thúy Loan và các tác giả khác [bs]. 1997. Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt. Hà Nội: Nxb Văn hóa Thông tin.

Pankenier, Sarah. 2006. In Fant Non Sens: The Infantalistic Aesthetics of the Russian Avant – Garde 1930-1939. [Mỹ học ấu nhi trong nghệ thuật tiền phong Nga 1930-1939]. Luận án tiến sĩ. Đại học Stanford.

Nguyễn Hưng Quốc. 1996. Thơ, v.v và v.v. Hoa Kỳ: Nxb Văn nghệ.

Dương Tường. 1997. “Lời bạt”, trong Mùa sạch (Trần Dần. 1997. Hà Nội: Nxb Văn học. 119-121).

 NguồnNghiên cứu văn học Việt Nam-những khả năng và thách thức (Tuyển tập chuyên khảo do Viện Harvard-Yenching, Hoa Kỳ tài trợ). Nxb Thế giới, 2009

NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG: VÔ LỐI PHẢN LẠI THƠ CA (1) & (2) – VC+

7 Th8

NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG: VÔ LỐI PHẢN LẠI THƠ CA (1)

 
 
Vô lối manh nha và xuất hiện ở Việt Nam trên dưới nửa thế kỷ từ giữa thập kỷ 50 thế kỷ trước cho đến hôm nay. Nó bùng phát như nấm độc mọc sau mưa là từ thập kỷ 90 thế kỷ trước và nhất là khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho tập Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều. Và nó bị kết liễu khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho nó vào năm 2010 – 2011 với 4 tập Vô lối của Mai Văn Phấn, Từ Quốc Hoài, Đỗ Doãn Phương, Đinh Thị Như Thúy.
 
Nhà thơ Đỗ Hoàng
        Thơ mới thắng lợi huy hoàng – Tôn vinh thơ ca
         Phong trào Thơ mới xuất hiện chỉ độ trên dưới mười năm (1932 – 1942) nhưng đã để lại dấu ấn trên thi đàn Việt với sự thành công huy hoàng của nó, một thời đại thi ca làm dân tộc tự hào với những tên tuổi lưu danh hậu thế: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Tú Mỡ,  Lưu Trọng Lư, Bích Khê, Anh Thơ, Yến Lan, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, TT Kh, Đoàn Phú Tứ, Vân Đài, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Trần Huyền Trân, Bàng Bá Lân, Mộng Tuyết, Đông Hồ, Tương Phố… Sau 80 năm nhìn lại mới càng thấy tầm vóc lớn lao của Thơ mới. Phong trào thơ mới là cuộc cách mạng trong thi ca Việt, cuộc cách mạng đã đưa thơ Việt lên một tầm cao vượt khỏi khu vực, hội nhập với thế giới. Ngay sau đó và sau này có nhiều phong trào trường phái muốn vượt Thơ mới, thậm chỉ muốn “chôn” “Tiền chiến” – Thơ mới để thể hiện thời đại mình hiện hữu thì Thơ mới vẫn sừng sững, càng ngày càng sáng tỏ. Thơ mới, đấy là sự đổi mới cách tân toàn diện cả nội dung lẫn hình thức, đưa thơ ca Việt phát triển lên một đỉnh cao mà các nhà thơ lớp sau noi theo kế thừa và phát huy và đạt những thành tựu xuất sắc khác.
  Trước khi có Thơ mới ở nước ta chỉ có hệ thống thi pháp Trung Hoa làm chủ đạo. Thơ  Đường với các thể thơ thất ngôn bát cú, ngũ ngôn, cổ phong, lục ngôn, tứ tuyệt, từ…Thơ Việt gồm thơ Đường luật Việt hóa như : thất ngôn bát cú, lục ngôn, lục bát, song thất lục bát, bổ sung thêm các thể thơ còn có ca dao ngắn, ngâm khúc, hát nói, hát vui chơi, ca từ. Ca từ dùng để hát là chính. Ngoài ra còn có các loại hình gần với các kiểu thơ trên mà cha ông phân ra: Đối – câu nói ngắn có hiệp vần để thử tài trí và hoàn cảnh; Phú câu dài, câu ngắn (có thể kéo dài trên 20 từ) để diễn tả trạng thái tình cảm dồi dào của tác giả trước cảnh vật, con người, giang sơn; Cáo  – một loại văn tuyên ngôn dùng trong những trường hợp trọng đại của đất nước; Tế – dùng cho ai điếu tập thể, cá nhân có công huân lúc vĩnh biệt…
  Nói chung thơ Việt dù tiếp thu và ảnh hưởng Đường thi nhưng vần điệu, câu chữ chỉnh chu, toàn bích, ngôn ngữ trong sáng, hàm súc.
    Nguyên nhân thành công huy hoàng của Thơ mới thì rất nhiều, nhưng có thể chỉ ra những nguyên nhân lớn dẫn đến thành công này.
      Các nhà thơ Thơ mới trước hết là biết học tập và phát huy sáng tạo truyền thống thơ ca dân tộc. Các vị chủ soái, phó chủ soái, thành viên Thơ mới, đệ tử, fan hâm mộ Thơ mới đều đều biết làm nhuần nhuyễn và hay các thể thơ dân tộc như: lục bát, song thất lục bát, sáng tạo thơ tự do trên cơ sở phát huy thế mạnh của phú, đối, tế, hát vui chơi, nói lối, ca từ, ngâm, vè…
Về lục bát:
Trời thu xanh ngắt. Ơ kìa!
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai!
(Thế Lữ)
Ngủ đi em mộng bình thường,
Ru em có tiếng thùy dương mấy bờ
(Huy Cận)
Ai đi đây, ai về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồn nâu, cánh buồm!
(Nguyễn Bính)
 Khảo sát tác phẩm của các nhà thơ Thơ mới (Trong cuốn Thơ mới năm 1932 – 1945) – Lại Nguyên Ân tập hợp và biên soạn năm 1998 số bài viết theo thể lục bát là 153/1384 chiếm 11,1%. Trong đó, Nguyễn Bính là 30/78(38,5%). Riêng Nguyễn Bính, trong tuyển tập thơ Nguyễn Bính -1986 trong 60 bài đưa vào tuyển tập có 26 bài làm theo thể thơ lục bát (43%) chứng tỏ hình thức luôn là khuôn hình thích hợp cho một nội dung nhất định. Đó là trung tâm định hướng cho thể loại. Với Thơ mới nó không nằm ngoài các dạng thức khác nhau của kiểu con người cá nhân hiện đại. Cái mới của lục bát Thơ mới và sự đóng góp của thể loại Thơ mới là ở chỗ ấy!
  Thể thơ song thất lục bát các nhà thơ Thơ mới sử dụng rất nhuần nhuyễn, tài tình:
…Thấy gió là ôm ngang lấy gió
Tưởng chừng như trong đó có hương
Của người mình nhớ, mình thương
Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì!…
(Hàn Mặc Tử)
… “Hãy xích lại đưa tay ta nắm
Hãy buông ra đằm thắm nhìn nhau
Rồi trong những phút giây lâu
Mắt sầu gợn sóng, lòng đau rộn tình…”
(Lưu Trọng Lư)
Các thể khác như ca từ, hát ngâm:
Say đi em
Say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa,
Quên quên hết..
(Vũ Hoàng Chương)
Và nâng cao vè:
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên dừng lại
Dòng nước luôn trôi đi
(Hàn Mặc Tử)
   Thứ nữa, các nhà thơ Thơ mới biết học tập, kế thừa và phát huy các hình thức biểu hiện của thơ truyền thống thế giới (chủ yếu là Trung Hoa và Pháp).
. “Gặm một nối im lìm trong củi sắt
Ta nằm đây cho ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẫn ngơ
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ chịu nhọc nhằn tù hảm
Để làm trò lạ mắt thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Hay cặp báo buông bên vô tư lự…”
      ( Nhớ rừng – Thế Lữ)
 
..”Tầm dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân hạ mã, khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Túy bất thành hoàn thảm tương biệt
Biệt thời mang mang, giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà hành!…”
(Tỳ bà hành – Bạch Cư Dị đời Đường)
“Bến Tầm Dương đêm về tiễn khách
Hơi gió thu làm lay lau lách
Chủ nhân xuống ngựa khách ở thuyền
Nâng rượu rồi mà không sáo chuyền
Cuộc vui chưa nên, buồn cách biệt
Vầng trăng chia xa ngâm nước biếc
Bỗng nghe trên sóng tiếng tỳ bà!…”
                    ( Đỗ Hoàng dịch)
    Thể thơ và cách hiệp vần trắc trắc, bằng bằng ôm nhau nối tiếp liên tục thì Thế Lữ giống Bạch Cư Dị. Thế Lữ chỉ sáng tạo thêm là đưa số chữ trong câu lên 8 chữ (Bạch Cư Dị 7 chữ) để diễn tả rõ thêm tâm trạng đối tượng bày giải.
Học tập Đường thi,
 
Đảo y thiên (Trích)
Khuê lý giai nhân niên thập dư
Tần nga đối ảnh hận ly cư.
Hốt phùng giang thượng xuân ly yến
Hàm đắc vân trung xích tố thư
Ngọc thủ khai giam trường thán tức
Cuồng phu do thú Giao Hà bắc
……
Trích tận đình lan bất kiến quân
Hồng cân thức lệ sinh nhân uân
Minh niên cảnh nhược chinh biên tái
Nguyện tác Dương Đài nhất đoạn vân!
 
Lý Bạch
 
Bài ca đập áo (Trích)
 
Người đẹp mười năm trong lặng im
Giận nỗi phòng không chỉ một mình
Én xuân chợt thấy về trên sóng
Trong áng mây xa ngậm lá tình!
Tay ngọc mở thư lòng than tiếc
Lính thú sông Giao chàng biền biệt!
…..
 
Hái hết lan hoa chẳng thấy chàng
Khăn hồng lau mặt nước mắt chan.
Sang năm chàng còn đichinh chiến
Thiếp tới Dương Đài cưỡi mây sang!
(Đỗ Hoàng dịch)
 Chế Lan Viên cũng có những sáng tạo như Thế Lữ: Chế Lan Viên vẫn giữ nguyên số chữ trong câu (7 chữ) bài thơ Đảo y thiên, ông bỏ hai câu trong khổ thơ 6 chữ  thành khổ thơ chỉ có 4 câu. Chế thi sỹ đã có nhiều bài thơ học tập Đường thi thành công:
 Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Ai đem xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau
 
Ai đâu trở lại mùa xuân trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
Kể cả loài hoa muôn cánh rả
Về đây đem chắn nẻo xuân sang!
 
    Không chỉ Thế Lữ, Chế Lan Viên mà các nhà Thơ mới như : Xuân Diệu, Tế Hanh, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, Đinh Hùng, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, TT.Kh, Vân Đài, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương… đều học tập và sáng tạo Đường thi đạt những thành tựu mới.
      Vũ Hoàng Chương tiến lên một bước: tăng thêm một chữ (8chữ) và đổi mới cách hiệp vần: trắc, bằng, trắc, bằng ngoài hiệp vần bằng, bằng, trắc , bằng:
Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi, thuyền theo gió hãy lênh đênh
 
Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Suốt một đời ngươi  u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ!
                        (Phương xa)
      Các nhà Thơ mới ngoài học tập kế thừa và phát huy thơ ca Trung Hoa, họ còn học tập thơ Pháp. Nhiều người nói rằng các nhà Thơ mới trên đầu họ đội năm, ba nhà thơ Pháp. Đoàn Phú Tứ coi A. Musset là bậc thầy tư tưởng, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh tôn thờ P.Verlaine, A. Rimbaeu, các nhà thơ khác : Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Tú Mỡ… chịu ảnh của C, Baeudelaire, A. Lamartine, La pon ten…
Xuân Diệu chuyển nghĩa cho thơ mình:
Plus d’une espèce de fleurs a quitté les branches
Hơn một loài hoa đã rụng cành
  Từ một lời nói của Alfed de Musset với người tình George Sand: Dépêche-toi, George, notre amour est vieux (Nhanh lên em, George, tinh ta đã già rồi), Xuân Diệu đã sáng tạo ra tuyệt tác Vội vàng:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi!
Con chim hồng bé nhỏ của tôi ơi!
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!
Hay
      Bài Rondel de I’adieu của Edmond Haraucourt – Bài Rondel chia ly mãi mãi:
Partir c’est nourir un  peu,
Cest nourir à ce qu’on aime
On laisse un peu de soi-même
En toute heure et dans tout lieu
 
C’est toujours le deuil d’un voeu,
Le dermier vers d’un poème:
Patir, c’est mourir un peu!
Cest nourir à ce qu’on aime.
 
Etl’on part, et c’est un jeu
Et jusqu’a l’dieu suprêne
Cest son âme que l’on sème,
Que l’on sème à chaque adieu!
Patir c’est nourir un peu…
Xuân Diệu đã sáng tạo ra thi phẩm yêu tuyệt vời:
YÊU
Yêu là chết trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều song nhận chẳng báo nhiêu
Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết
 
Phút gần gủi cũng như giờ chia biệt
Tưởng trăng tàn hoa tạ với hồn tiêu
Vì mất khi yêu mà chắc được yêu
Yêu, là chết ở trong lòng một ít
 
Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt
Những người si theo dõi dấu chân yêu
Và cảnh đời là sa mạc cô liêu
Và tình ái là sợi dây vấn vít
 
Yêu là chết ở trong lòng một ít!
   Học tập các nhà thơ nước ngoài khi đã Việt hóa, các nhà thơ Thơ mới sử dụng khá nhiều thể thơ 7, 8 chữ. Về mặt tri giác nó hợp với tâm lý nhận thức của con người; cũng như trong xuất bản, người ta chọn khổ sách 13x 19 cm là hợp với nhãn quang đọc của con người.
   Thể thơ 7, 8 chữ là thể thơ phổ biến của Thơ mới. Thể thơ thất ngôn sắc gọn, cái giá của nó nằm ở cấu tứ, ở liên kết nội tại là một thể thơ đạt đến trình độ chuẩn mực, hoàn toàn không một kẻ hở, không một chữ thừa. Những bài thơ hay của phong trào Thơ mới:  Xuân không mùa, Đây thôn Vỹ Dạ, Tràng Giang, Trút linh hồn, Đà Lạt trăng mờ, Mùa xuân chín, Nhớ rừng, Lưu luyến đều là những thể thơ viết theo thể 7 và 8 chưc. Thể thơ 7, 8 chữ chiếm tỷ lệ kha lơn
         Trong sáng tác của các nhà thơ Thơ mới, thể thơ 7 chữ là 445/1384 bài chiếm tỷ lệ 32,2%, trong đó Hàng Mặc Tử 33/71 bài(46.5%), Bích Khê 40/80 bài (50%0, Xuân Diệu 42/105 bài (41%),Vũ Hoàng Chương 31/68 bài (45,6%).
    Thể thơ 8 chữ Anh Thơ 44/44 bài (100%),Chế Lan Viên 36/46 bài(78,3%), Xuân Diệu 35/105 bài (33,3%). Theo cuốn Thơ mới 1932 – 1945, Tác giả và tác phẩm của Lại Nguyên Ân. Hình thức Thơ mới là là một phương tiện nghệ thuật (thể thơ, hình tượng, vần nhịp…) nhằm biểu đạt một cách tốt nhất cảm nhận thế giới, cảm xúc về thế giới  và con người, chủ thể tác giả. Nó phản ánh xu hướng tìm tòi hình thức đạt chuẩn tối ưu trong thơ để phản ảnh trung thực con người trong thời đại mới và phù hợp với quan niệm thẩm mỹ của đương thời.
   Thành công nữa của Thơ mới là về sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ một cách sáng trong và Việt hóa tiếng nước ngoài một cách tốt nhất để tác phẩm truyền đến người đọc. Nói theo cách nói hiện đại là giữ gìn sự sáng trong tiếng Việt.  
“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang!…”
(Hàn Mặc Tử)
Hay:
“Trời xanh ới hỡi! Xanh khôn nói
Hồn tôi muốn hiểu chẳng cùng cho
Có cánh chim gì bay chới với
Chết rồi! Nó lạc giữa hư vô…”
(Chế Lan Viên)
 Cái mới nằm ở cách dùng từ, ở chất lượng, ở nội hàm ngữ nghĩa của từ mang tầm văn hóa thời đại. Đó là sự gặp gỡ giữa hai nền văn hóa Đông Tây mà các nhà thơ Thơ mới tiếp thu và sáng tạo được.
“Còn trời đất mà chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời…”
(Xuân Diệu)
   Và cuối cùng là nội dung mới mẻ của Thơ mới.
 Thơ mới đã nói đến cái tôi – cái tôi chuẩn mực, trong sáng cái tôi tình yêu cá nhân mà hàng nghìn năm trước thơ cũ chỉ nói nhiều đến cái ta hoặc cái ta hòa trong cái tôi. Các nhà thơ tuyên truyền phục vụ cho các chính thể độc tài chuyên chế cũng né tránh cái tôi bản ngã, ít đề cập đến cái tôi – bản ngã tuyệt đối của cá nhân. Thơ mới làm được điều đó:
Ta là một là riêng là thứ nhất
Không ai bè bạn nổi cùng ta!
(Xuân Diệu)
  Cái tôi lớn nhất của Thơ mới là cái tôi tình yêu đôi lứa. Đó là gần như điều kiêng dè của thơ trước đó:
“Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau mái tóc ngắn, tóc dài
(Xuân Diệu)
Hay:
Ta dắt em lên ngai thờ nữ sắc
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thờ lấy hồn trinh tiết
(Đinh Hùng)
  Trong phong trào Thơ mới cũng có nhiều nhà thơ tìm tòi các phương thức sáng tạo khác như làm thơ bằng tiếng Pháp, tiếng Hoa, tạo hình thức mới cho thơ như kéo gài câu thơ ra, có câu dài 27 chữ như của Nguyễn Thị Kiêm, thơ hình quả trám, hình con ngựa, hình cánh buồm. làm thơ toàn vần bằng:
“Chiều đi trên đồi êm như tơ
Chiều đi trong đời êm như thơ
Không gian ô, màu ngưng lưng trời
Lam nhung ô màu xanh nơi nơi
Vàng phai vàng phai ôm non gầy
Chim uyên nương mình trong râm cây
Đây mùa Hoàng Hoa mùa Hoàng Hoa…”
  Nhưng những thể nghiệm trên không tồn tại, nó đã bị thời gian đào thải!
    Phong trào Thơ mơi chỉ hoạt động vẹn vẹn trên dưới 10 năm trong vòng nô lệ, đất nước thuộc Pháp nhưng các nhà thơ dân tộc không một chính thể nào đỡ đầu, mà còn bị đàn áp nữa nhưng bằng nổ lực cá nhân  và sức mạnh dân tộc đã dựng nên một phong trào Thơ mới thành công còn mãi hơn thiên thu!
  Vô lối  – Phản lại thơ ca!
       Vô lối manh nha và xuất hiện ở Việt Nam trên dưới nửa thế kỷ từ giữa thập kỷ 50 thế kỷ trước cho đến hôm nay. Nó bùng phát như nấm độc mọc sau mưa là từ thập kỷ 90 thế kỷ trước và nhất là khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho tập Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều. Và nó bị kết liễu khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho nó vào năm 2010 – 2011 với 4 tập Vô lối của Mai Văn Phấn, Từ Quốc Hoài, Đỗ Doãn Phương, Đinh Thị Như Thúy.
  Thời gian Vô lối bùng phát đến nay đã trên dưới 20 năm (1992 – 2012) nhưng nó không gây được tiếng vang, không dấy lên một phong trào thơ ca nào cả. Nó có cách cảm, cách nghĩ tù mù, rối rắm, khập khà khập khễnh, kênh kiệu, lôm nhôm, loam nhoam, lộn xà lộn xộn… với một loại hình câu chữ dài dòng lê thê lếch thếch hoặc kể lể con cà con kê, hoặc nói năng lảm nhảm rối rắm, hoặc làm duyên làm dáng vô bổ, hoặc uốn éo da lươn, hoặc tịch mịch tối bưng, hoặc đen ngòm da gấu, hoặc đa ngôn đa quái, hoặc lai căng chữ nghĩa nước ngoài một cách thô thiển đàng điếm hoặc mê muội bệnh hoạn về tình dục thể hiện trong câu viết, trong tâm tưởng ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Nó bị đại đa số công chúng, bạn đọc của toàn dân tộc phản bác dù nó được báo chí chính thống, cục vụ viện chính thống, giáo sư, tiến sỹ văn chương, học giả đầu ngành, cánh hẩu lăng xê, tán tụng đưa lên mây xanh và dành không ít tiền thuế của dân đeo vòng “nguyệt quế” rởm cho nó! 
  Xin nhắc lại một vài nhận dạng Vô lối.
    Đó là một loại hình không có trong tất các loại thể văn học nước nhà và thế giới. Nó dịch không ra dịch, mô phỏng không ra mô phỏng, không phải phú, không phải tế, không phải hát nói, không phải kịch, không phải ca từ, không phải ngâm, không phải vịnh, không phải hát vui chơi, không phải hát ru em, không phải nói lối, không phải văn xuôi, không phải kể chuyện, nó là một loại quái thai của văn chương! Nó chính là Vô lối!
   Đặc điểm của Vô lối là: Thứ nhất là nó chối bỏ truyền thống thơ ca của dân tộc và nhân loại, chối bỏ thẩm mỹ của loài người; thứ hai là triệt tiêu một trăm phần trăm vần điệu; thứ ba là viết dài dòng văn tự, dây cà ra dây muống; thứ tư là tù mù, tịch mịch, rối rắm, đánh đố mình, đánh đố người đọc; thứ năm là đại ngôn, sáo rỗng, trống hơ, trống hoắc, hô khẩu hiệu; thứ sáu là dung tục bẩn thỉu và tình dục bệnh hoạn; thứ bảy là sính dùng chữ nước ngoài một cách tùy tiện, chưa Việt hóa…
  Gooki nhà văn Xô viết (Liên Xô cũ) đã từng nói: “Nhà văn không biết đến văn học dân gian là một nhà văn tồi”. Đến Kalinin lãnh tụ của Liên Xô cũ cũng nói đại ý: “ Nội dung và hình thức văn học dân gian là thiên tài, các tài năng lơn về văn học đều biết tiếp thu và học tập thành công văn học dân gian. Bao nhiều tài năng lơn trong nước và thế giới đã minh chứng điều đó: Puskin, Lecmongtop, Bairon, Oma Khayam, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ…
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai vẻ ngược xuôi hở chàng
Đưa nhau một bước lên đàng
Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa
(Ca đao)
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Đoạn trường tân thanh – Nghuyễn Du)
Sinh vi vạn nhân thê
Tử vi vô phu quỷ
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chống
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
 
         Những người viết Vô lối chổi bỏ truyền thống thơ ca của dân tộc và dân tộc, chối bỏ cách nói cách cảm của ông cha.  Trước tiên, Vô lối triệt tiêu 100% vần điệu nhưng câu viết thì cứng cỏi, khô khan, không có một chút truyền cảm, không rung động lòng người. giống như ông nói gà, bà nói vịt, tù mù, hủ nút. Đọc  nó có cảm giác lê thê, vô bổ:
 
“…Sự em có mặt cần thiết như những sớm mai
(nếu đời người không có những sớm mai)
anh trở dậy
đọc thơ Nguyễn Du
những câu lục bát buồn rưng rưng cuối đường của một ngày
chợt anh muốn viết tặng em
không thể được
em làm con tin ở một thế giới
(Thanh Tâm Tuyền)
Phan Rang, những năm ấy, có lẽ chị Ba không nhớ nữa
nhưng tôi kẻ từng chịu ơn chị, tôi không thể nào quên quá khứ.
Năm ấy, tôi đến từ phương xa
không giấy tờ, không người quen, không nhà không cửa
và tương lai tôi
tương lai ở trong tay những kẻ bố ráp bắt người đi đánh thuê cho quân xâm lược
tương lai buồn tênh như con đường bụi khô ngoài quán cà phê chiều hôm gió cuốn.
(Lê Văn Ngăn)
Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng
Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe tiếng chim đập cửa
Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi
(Nguyễn Quang Thiều)
Tôi đã làm khổ cô láng diềng niên
khóa cuối trung học trước khi làm lang
thang. Năm năm nàng chờ, thằng Wang nói
mầy quá tệ làm nó khổ mầy ngủ
ngon ăn khỏe còn nhăn răng cười như
khỉ. Ôi em còn hay đã thành ma,
hôm nay trời trăng nào biết? Tôi đã
chửi tệ bà nhà quê đáng tuổi mẹ
….
Ông không làm gì cả, đi loanh
quanh. Ông không đi đến đâu cả,
đi rồi về. Ông không làm gì
cả, ông suy nghĩ – không nghĩ ra
cái gì cả. Con cháu nói thứ
ăn hại, ông cười buồn. Lối xóm
bảo đồ lười biếng, ông nín lặng. 
(In ra sa ra)…
Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, cá vi dít, nắm đấm mi crô
Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường
Một mình một ba lô với xe đạp
Bây giờ gió gọi anh đi
Mặt trời đánh nhịp về tám hướng
Từ giã cà vạt, giày đen lời trịnh trọng
Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ
Hò hét một mình, đọc những gì mình yêu thích, ghi chép những gì cần ghi chép
(Nguyễn Khoa Điềm)
 
Thành đôi môi đẫm rượu
Lênh đênh qua hàng quán tàn phai
Với cái nhìn bạc màu kiêm ái
Anh nhận ra tro tàn kim cương
Sau chớp mắt chậm như vĩnh cửu
Còn nhớ chăng bầu trời quạnh hiu
Trong thân thể gầy gò nơi giam giữ phận anh thoáng chốc
Em hay vầng trăng khiến nó mịt mù
                      (Nguyễn Bình Phơng )
 
thanh tẩy (2)  mãi vẫn không thấy sạch
quay về tắm bằng ngọn đèn
 
thử đưa bờ vai về phía ánh sáng
rồi cả hai tay
bàn chân, cằm, đầu gối
cả đôi tròng mắt và tiếng ho khan
 
xối ánh sáng  vào từng góc khuất
gốc khuất  như lò thúc mầm  (3)
như thép nóng đem tôi vào nước
như quả trứng trong ổ đang ấp
rễ thân cành đã chết đâm ngang
(Mai Văn Phấn)
Trăng sáng
Ngư dân ở nhà chơi với vợ
đợi đêm còn ra với phong ba

Trăng sáng
ước bạc, lưới không sao giấu mắt
Cá băng tung tẩy từng đàn

Ngộp thở
Phố cổ oi, đèn lồng vàng và đỏ
Người đi từng đang đổ về phía bờ sông

(Phan Thị Vàng Anh)
      Vô lối viết câu dây cà ra dây muống, dài dòng văn tự mà lại không có một thông tin, một ý nghĩa, đọc lên như hủ nút, rối rắm, ngúc nga, ngúc ngắc, tâm thần, đa số các câu dài câu dài 30 , 40 chữ, thậm chí có câu dài đến 40, 50 chữ. Đặc biệt có câu dài 41, 58 chữ, như điển hình các câu sau: câu trong bài  “Sinh ngày 4 – 4”. Câu này đã vượt  câu thơ Nguyễn Thị Kiêm thời Thơ mới 15 chữ;
 Trò Domino với hiệu ứng lan truyền, đổ sang nhau những ăn năn – bất cần, trong sạch – vấy bẩn, ý nghĩa – vô bổ, cạn kiệt – lấp đầy, tuyệt vọng và ngộ nhận, đoàn tụ và lưu lạc, trấn tỉnh và hoảng loạn.
(Vi Thùy Linh)
  Câu của Nguyễn Quang Thiều trong Cây ánh sáng  đạt kỷ lục, vượt Nguyễn Thị Kiêm đến 31 chữ (!) tức là 58 chữ.
Cả những người đàn bà tội lỗi và thánh thiện vẫn vuốt ve con đỉa khổng lồ bám chặt bộ xương chàng và thì thầm run rẩy với con đỉa ấy, bị hành hạ vì con đỉa ấy, tự vẫn vì con đỉa ấy và tìm thấy một chút ý nghĩa đầy ảo giác với con đỉa ấy
                               (Nguyễn Quang Thiều)
  Người đọc nào kiên nhẩn đọc câu trên chắc cũng phải điên lên cùng kẻ viết!
  Trong khi đó thơ ca tinh hoa của thế giới phương Tây hay phương Đông chỉ một bài thơ 20 chữ đã sống mài hơn 2 000 năm và còn sồng lâu hơn nữa:
“Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai”
(Lưu Vũ Tích – Đời Đường)
Trước hoa giờ nâng chén
Mấy chén ngất ngư say
Chỉ buồn hoa lại nói
Không nở cho lão này!
(Đỗ Hoàng dịch)
  27 chữ của Nguyễn Thị Kiêm thời Thơ mới đã không còn thì câu 41 chữ của Vi Thùy Linh và câu 58 chữ của Nguyễn Quang Thiều thời Vô lối sẽ tan như bong bóng xà phòng!
  Những người làm Vô lối bây giờ ngoài việc chối bỏ truyền thống thơ ca của dân tộc và nhân loại, họ còn dấn thêm một bước là dung tục hóa câu viết mà các sách dâm thư cổ ( Nhục bồ đoàn) kim (các trang mạng đen bẩn thỉu ) hiện nay cũng còn thua, cái nhìn rất bệnh hoạn vào người khác giới:
Mặt hồ thủ dâm nỏi sóng
(Nguyễn Quang Thiều)
 
Một bài thơ viết ở Hà nội
 
Có một bài thơ tôi viết
Trong bóng tối
Của thành phố này
 
Đấy không phải là đêm
Tôi vẫn nhìn thấy những đám mây nặng
Bò trên những mái nhà thành phố
Và vẫn nhìn thấy
Một người đàn bà
Tắm trong một toilet không có rèm che
Kỳ cọ như tuốt hết da thịt mình
Và vẫn nhìn thấy
Cuộc làm tình ban ngày
Của những kẻ thất nghiệp
Trong chính công sở của họ
 
Viết lúc 10 giờ 13 phút
 
H ngủ muộn. 10h13 phút chưa dậy.
Những sự sống trôi qua chiếc giường.
Những cái chết trôi qua chiếc giường.
Và H nhìn thấy trong giấc ngủ
Một tấm thân đàn ông nóng rừng rực
Trôi qua chiếc giường và dừng lại
ở một khoảng trên đầu
 
lúc 10h13 một người đàn bà khác
khoả thân trong một chiếc giường
đặt ở giữa thành phố
(Nguyễn Quang Thiều)
 
NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG
(Tạp chí Nhà văn)
 
 NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG: VÔ LỐI PHẢN LẠI THƠ CA (2)

 
 Đúng là người viết bệnh hoạn và của một số cây viết bệnh hoạn, bị bệnh thị dâm rất nặng, đàn ông hay nhìn trộm phụ nữ tắm, đàn bà hay nhìn vào hạ bộ đàn ông để lấy cảm hứng “sáng tác”(!) . Số này cần phải đến bệnh viện tâm thần điều trị lâu dài, trước khi cầm bút viết lách!

 
Đỗ Hoàng, trưởng Tiểu ban Thơ Tạp chí Nhà văn nhận Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp báo chí

  

   Và rất nhiều, rất nhiều cách viết trắng trợn, ô trọc, súc vật:
Khỏa thân trong chăn thèm chồng, thèm Anh!
(Vi Thùy Linh)
 Đến như loài lục súc, con chó cái nó có nhu cầu bạn tình nó cũng chạy khắp vườn trên, xóm dưới đánh tín hiệu bằng cách kêu ăng ẳng, ngúc ngoắc cái đuôi thể hiện nhu cầu ái ân theo văn hóa kiểu chó, sạch sẽ hơn nhiều kiểu viết thô lậu trần truồng, không Việt hóa ở trên!
Sau một phút êm đềm trên ghế đá
Anh quên cài khuya áo của em
(Dư Thị Hoàn)
  Cái ghế đá thường đặt nới công cộng, công viên, hoặc vườn thú. Người đứng đắn có ai kéo nhau đến nơi công cộng làm cái truyền giống bao giờ.  Một “anh du côn tám thẹo gặp chị điếm giang hồ bảy da” mà còn đòi hạnh kiểm đạo đức thì lấy đâu ra khi rủ nhau vào nơi thanh thiên bạch nhật làm cái chuyện đực cái mà chỉ có loài lục súc mới làm trước mặt mọi người!
Hay kém thẩm mỹ, thô tục:
Nằm nghiêng ở trần thương kiếp nàng Bân 
ngón tay rỉ máu. 
Nằm nghiêng khe cửa ứa ra một dòng ấm cô đơn.
 Nằm nghiêng cùng sương triền đê đôi bờ ỡm ờ nước lũ 
Nămg nghiêng lạnh hơi lạnh cũ.
Ngoài đường khô tiếng ngày 
Nằm nghiêng.
Mùa đông nằm nghiêng trên thảm gió mùa.
Nằm nghiêng nứt nẻ khóe môi đã lâu không vồ vập răng lưỡi
Nằm nghiêng xứ sở bốn mùa nhiệt đới, tự dưng nhói đau sau lần áo lót có đệm mút dầy 
(Phan Huyền Thư) 
  Những người làm vô lối đã thổi phù cái tình dục bệnh hoạn phản cảm của mình một cách thô thiển trắng trợn làm băng hoại con người.
  Viết bẩn thỉu, dung tục dâm ô, ở thế giới phương Tây có nhiều nhà thơ lạm dụng. Nhưng những tài năng lớn họ thường biết hạn chế để làm đẹp trong sáng thơ ca.
  Apollinaire nhà thơ Pháp đầu thế kỷ XX nổi tiếng với câu thơ mà người Pháp nào cũng thuộc lòng: Sous le pont Mirabeau coule la Seine (Dưới cầu Mirabeau trôi dòng sông Seine…) khi viết bài thơ văn xuôi dài Vùng, bản thảo lúc đầu câu thơ có mấy chữ thô tục:  “Hôm nay tôi bước giữa Paris những người đàn bà vấy máu kinh nguyệt chảy đỏ các rảnh nước…”. Nhưng sau đó ông thấy không được viết bẩn như thế, nhà thơ liền sửa lại:
Hôm nay mi bước giữa Paris những người đàn bà vấy máu.
(Aujourd’hui tu marches dans Paris les femmes sont ensanglanteses)
 Những người viết vô lối Việt viết hết sức bẩn thỉu nói trắng ra là rất mất vệ sinh. Viết đến mức mà các bác sỹ khoa sản phụ cũng chào thua!
“Ngáp ngủ đêm đã qua
Chửi tục đêm đã qua
Gạ gẫm làm tình đêm đã qua
Âm hộ đêm đã qua
Dương vật đêm đã qua!”
(Nguyễn Quang Thiều)
  Ngoài ra họ còn`tắc tỵ hóa câu viết và nhiều kiểu khác phi văn chương nữa!
luật lệ
tử cung
sự giao l­uu hoang hoái ngực Mạ
một ngày mai tinh khôi vân tay
một ngày thơ cô đơn rực rỡ mai San Francisco
hao gầy
bóng Mỹ
nợ nần
lửa khói
hoe đáy mắt phù du Thiên Cầm
phù du kiếp biển
mùi n­uớc mắm vàng lên chân lời Hồng Lĩnh
(Văn Cầm Hải)  
  … bên kia,
về phía bên kia nơi bờ sông quê hương
tháng Tư đang hành Lễ tẩy trần.
Làm sao em song hành cùng tôi về đứng bờ sông đêm nay?
trong cơn đau hoan lạc
hát vang bài tụng ca của nước
chảy đi
chảy đi
chảy trôi đi
chảy trôi tất cả đi …
Giở một vòm trời khác. 
on ma nào đưa tôi ngồi quán
tôi rơi vào mắt cô gái Cham đầu tiên bán bia ôm
em ngồi sát vào khiến tôi rụt cái đầu con nít.
ồ tôi có thể dòm gì, làm gì em cũng được
nhưng tôi muốn dòm / làm gì!?
đôi mắt em chuyển màu suy nghĩ tôi
có gì liên quan giữa bắp chân tròn thô đậm rơm rạ em với cặp giò thon thả vũ nữ Apsara xưa?
(In ra sa ra)
Một nghìn ba trăm năm mươi mét cao ly hồng nở
đôi mắt bồ câu
 
vô biên im lặng
cơn mưa đồng phạm
con chó thảo hiền không biết sủa dẫn tôi đi cùng
 
bài thơ tình ăn theo mưa
ly thơm vào trưa
xấu hổ tôi cúi mặt
                     (Hoàng Vũ Thuật)
Những người làm Vô lối chối bỏ các phép tu từ: ẩn dụ, ngoa dụ, hoán dụ,  nói giảm, nói tăng (nghệ thuật thơ ca – thi pháp) của ông cha, viết một cách trần trụi, sống sượng kém truyền cảm,
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Vục cát lên
Tôi khóc
(Nguyễn Quang Thiều)
Khóc cho đoàn tàu dừng lại
Khóc cho tà vẹc vỡ đôi
Khóc cho núi đồi sụp lỡ
(Dư Thị Hoàn)
  Người viết Vô lối dùng hàng trăm chữ khóc, không một ai rớm lệ, dùng  hàng trăm chữ cười, chẳng có nhếch môi.
      Ngoài ra những người viết Vô lối còn đa quái,, sáo rống, trống huếch, rối rắm, tắc tỵ, hủ nút, chẳng có một thông tin nào:
Cát đã vơi
Lẹ làng
Yểu điệu
Như chú ong vừa bay vừa tan
 
Chưa kịp vắng
Đã lại dào dạt chữ
………
 
Tôi nhớ tiếng bản lề kèn kẹt
mở từ xa tới gần
và nhớ
trong mũi tiêm quấn quýt một đám mây
hứa hẹn những nổi trôi ngoạn mục
(Nguyễn Bình  Phương)
Vô lối còn lạm dụng dùng chữ nước ngoài, đối với âm Hán – Việt thì dùng vô độ những chữ chưa Việt hóa như: vô ngôn, thanh tẩy, cuồng thảo, khỏa thân, hàm ngôn, hoan ca, hoan lạc, bi ca, tuyệt ca. ngoạn mục; đối với tiếng Âu  – Mỹ thì để nguyên cả chữ như wifi, link, thanh you, hello, hercule:
  Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch
(Mái Văn Phấn)
Nhân loại đi qua
Vô ngôn
(Nguyễn Khoa Điềm)
 Link tháng tư
….
Hercule đâu thần tu­ợng muôn dân.
(Vi Thùy Linh)
    Mười năm đã đủ để khẳng định một phong trào thơ. Hai mươi năm càng đủ thời gian để khẳng định nhiều phong trào thơ. Vô lối đươc xuất hiện rầm rộ  hơn 20 năm, kể từ năm 1993 khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho tập Vô lối Sự mất ngủ của lửa đến hôm nay năm 2012, Hội Nhà văn Việt Nam lại tiếp tục trao giải cho 4 tập Vô lối khác là sự kết liễu của một cách viết Vô lối. Dù Vô lối được các cơ quan báo chí chính thống tung hô, được các học giả lăng xê, được ưu ái hưởng tiền thuế dân đóng ở những lần trao giải thưởng và nhiều lần khác. Vô lối là một loại mà dân tộc Việt và cả nhân loại tiến bộ không thể chấp nhận được. Thế hệ cha ông chúng ta, chúng ta và con cháu chúng ta hôm nay ai ai lớn lên đều ở trong tiếng ru của ca dao, dân ca, của câu kiều (câu ca, câu thơ hay)  – ca dao ru cháu, câu kiều ru con và cả câu Kiều của Nguyễn Du nữa.  Con cháu chúng ta mai sau không có thể đem cái thứ Vô lối này làm tiếng ru được! Đó là điều hoàn toàn sự thật! Nó được ru vô lối thì nó lớn lên chắc chắn không thể thành người!
     Thơ mới thắng lợi huy hoàng – Tôn vinh thơ ca
     Vô lối  – Phản lại thơ ca!
Hà Nội, ngày 1 – 8 – 2012
NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG
(Tạp chí Nhà văn)
 
 
2 nhận xét:
  1.  
    Nhà báo Lê Phương Dung.10:40 Ngày 06 tháng 8 năm 2012

    Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hoàng, bài viết của ông hay quá, vạch vòi rõ ràng thẳng thắn quá.
    Cổ nhân đã có câu ” Văn là Người ” quả là không sai, cũng phải thông cảm cho tác giả Lê vĩnh Tài khi ông lại dũng cảm trọn cái thứ ” bột mì ” đen hôi, mối mọt, để mà ” nặn bánh ” như thế thì làm gì ” sản phẩm ” của ông không bị bàn dân thiên hạ bài xích cho te tua, nói đi thì phải nghĩ lại, dù là ” chuyện gió trăng ai chả thích ” nhưng mà làm gì cứ phải hét lên ” giật đùng đùng ” như chỉ có ta là biết ” hưởng cái sự sướng ” ấy nhỉ .Thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam vốn ” kín đáo e ấp “, và mặc dù tôi có sống ở nước ngoài nhiều hơn thì tôi vẫn luôn giữ gìn mình theo bản sắc của người Việt cũ.
    Xin chúc NV Đỗ Hoàng những điều an lành tốt đẹp nhất.
    Trân trọng cảm ơn.

    Trả lờiXóa

     
     
  2.  

    @DoHoang
    Kính gửi nhà Đỗ Hoàng!
    Ngày trước ông cụ Huỳnh Thúc Kháng và trí thức Nho học hàng đầu Việt Nam cũng chê nát các “nhà thơ trẻ” thời Thơ Mới đó. Nhưng rồi Thơ Mới đã làm cuộc cách mạng.
    Sau đó ít lâu, Xuân Diệu & Tố Hữu chê be bét thơ Nguyễn Đình Thi đó. Vân vân…
    Còn ở nước ngoài, W Whitman bị cả xã hội Mỹ ruồng bỏ, xé thơ, đuổi khỏi xí nghiệp… Nhưng rồi 40 năm sau, ông được tôn là đại thgi hào đại biểu cho nền thơ Hoa Kỳ!
    Kính tặng bác thông tin nhỏ lẻ đó nhé.

    À, thêm nè: bác viết thơ VÔ LỐI “là một loại hình không có trong tất các loại thể văn học nước nhà và thế giới”.
    Nếu em hỏi bác: “bác đọc thơ (ở) thế giới nào”, thì bác trả lời sao đây!!!???

     
     

Mưu đồ “tích gió thành bão” trên biển Đông – BS

7 Th8

Foreign Policy

Mưu đồ “tích gió thành bão” trên biển Đông

Phương thức tiếp cận chậm rãi, kiên trì của Trung Quốc nhằm khống chế Châu Á

Tác giả: Robert Haddick

Người dịch: Nguyễn Tâm

Lầu Năm Góc gần đây đã đặt  Trung Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) đưa ra các khuyến nghị về kế hoạch bố trí các căn cứ quân sự của Mỹ trong vùng Thái Bình Dương. Bản báo cáo ngày 27/6 của CSIS đề nghị Lầu Năm Góc nên tái bố trí lực lượng ra khỏi Đông Bắc Á và hướng về khu vực biển Đông. Đặc biệt, CSIS yêu cầu Lầu Năm Góc tăng thêm các tàu ngầm tấn công đóng tại Guam, tăng cường sự hiện hiện của lực lượng Thủy quân lục chiến trong khu vực, và nghiên cứu khả năng bố trí một nhóm tàu sân bay tấn công ở phía Tây nước Úc.

Không nghi ngờ gì nữa, biển Đông đang nóng lên như một điểm ẩn chứa nguy cơ bùng nổ xung đột. Tranh chấp về lãnh thổ, quyền đánh bắt cá và đấu thầu dầu khí đã tăng nhanh trong năm nay. Một Hội nghị ASEAN gần đây tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia, nhằm đạt được tiến bộ về việc thiết lập Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông, đã sụp đổ trong cay đắng, vì lần đầu tiên trong 45 năm, khối ASEAN không thống nhất được việc ra thông cáo chung. Việt Nam và Philippines rất bực tức trước việc các nước láng giềng Đông Nam Á không tạo được tiến triển nào để có lập trường thống nhất chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc trên biển.

Sự gia tăng sức mạnh quân sự của Mỹ trong khu vực, được nêu lên trong bản báo cáo của CSIS và trong bài diễn văn của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta hồi tháng 6 tại Singapore, được hoạch định theo đó một phần nhằm ngăn chặn sự xâm lược công khai, chẳng hạn sự tái kích hoạt bất ngờ cuộc chiến Triều Tiên, hay một cuộc tấn công ồ ạt chớp nhoáng của Trung Quốc nhắm vào Đài Loan. Trong chừng mực nào đó, các kịch bản nói trên hiện được xem còn rất xa, sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực vẫn đang thực hiện nhiệm vụ này. Nhưng sẽ ra sao khi đối phương dùng sách lược “tích gió thành bão” (salami-slicing), tích lũy từ từ từng hành động nhỏ, không có gì mang tính gây chiến, nhưng qua thời gian, hiệu ứng của những hành động nhỏ sẽ cộng dồn lại, tạo thành một bước ngoặt chủ yếu mang tính chiến lược? Giới làm chính sách và hoạch định quân sự Mỹ nên xem xét khả năng Trung Quốc theo đuổi chiến lược “tích gió thành bão” ở biển Đông, điều có thể làm thất bại các kế hoạch quân sự của Washington.

Trong Phụ lục 4 của bản báo cáo thường niên của Lầu Năm Góc năm nay, về phần sức mạnh quân sự của Trung Quốc, có đề cập đến yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông, với cái gọi là “đường chín đoạn”, cùng với các tuyên bố chủ quyền nhỏ hơn do các nước chung quanh biển Đông đưa ra. Một bài viết gần đây trên BBC nêu vấn đề yêu sách lãnh hải của Trung Quốc khi đối chiếu với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý mà Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển cho phép đối với các nước tiếp giáp với vùng biển này. Mục tiêu của chiến thuật “tích gió thành bão” của Bắc Kinh là thông qua một loạt các hành động nhỏ nhưng bền bỉ, dần dần tích góp bằng chứng về sự hiện diện lâu dài của Trung Quốc trên các vùng lãnh thổ, lãnh hải mà Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền, với mục đích làm phai mờ các đặc quyền kinh tế được UNCLOS quy định, thậm chí có thể làm lu mờ quyền qua lại của tàu thuyền và máy bay, vốn được xem là những khái niệm phổ biến toàn cầu hiện nay. Với mưu đồ tiến hành từng bước tích lũy nhằm “tạo sự đã rồi”, Trung Quốc hy vọng thiết lập sự chiếm hữu trên thực tế (de facto) và hợp pháp (de jure) đối với các yêu sách chủ quyền của họ.

Hồi tháng 4, một sự giằng co giữa tàu hải quân Philippines và Trung Quốc xảy ra khi các tàu cá Trung Quốc bị bắt giữ trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, gần bãi cạn Scarborough. Cuộc giằng co kết thúc sau vài tuần mà không có giải pháp nào cho những vấn đề pháp lý cơ bản. Song song đó, Philippines hiện có ý định khởi sự việc khai thác khí tự nhiên tại bãi Cỏ Rong (Reed Bank), gần đảo Palawan, một chương trình bị phía Trung Quốc phản đối. Gần đây, một khu trục hạm của hải quân Trung Quốc lảng vảng cách đảo Palawan chỉ có 90 hải lý. Năm ngoái, các tàu chiến Trung Quốc đã đe dọa đâm vào một tàu thăm dò của Philippines gần bãi Cỏ Rong.

Cũng trên biển Đông, trong thời gian trước khi diễn ra Hội nghị thượng đỉnh tại Phnom Penh, Tập đoàn Dầu khí hải dương quốc gia Trung Quốc (CNOOC), một nhà khai thác dầu quốc doanh của Trung Quốc, đã đưa ra danh sách mời thầu các lô dầu khí trên biển cho các công ty khai thác dầu nước ngoài. Trong trường hợp này, các lô nói trên nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam – thực tế, một phần trong số các lô dầu khí này đã được Việt Nam cho đấu thầu khai thác và phát triển. Hiếm nhà phân tích nào lại cho rằng tập đoàn khai thác dầu khí nước ngoài cỡ như Exxon Mobil lại đi hợp pháp hóa hành vi chiếm đoạt trắng trợn của Trung Quốc đối với đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhưng động thái mời thầu dầu khí của CNOOC là một bước đi nữa trong toan tính của Trung Quốc nhằm đòi hỏi chủ quyền biển Đông, đi ngược lại với những ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế do UNCLOS quy định, vốn được hầu hết các nhà quan sát cho rằng không thể thay đổi.

Sau cùng, vào tháng 6, chính phủ Trung Quốc tuyên bố thành lập “thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, vốn bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ năm 1974. Tam Sa được cho là “trung tâm hành chính” đối với những vùng Trung Quốc có yêu sách chủ quyền trên biển Đông, bao gồm cả quần đảo Trường Sa gần bãi Cỏ Rong, đảo Palawan và bãi cạn Scarborough. Trung Quốc cũng công bố kế hoạch đưa quân đội đến đồn trú trong khu vực này.

Các hành động của Trung Quốc trông giống như nỗ lực nhằm từng bước thiết lập có hệ thống tính hợp pháp đối với các yêu sách chủ quyền của họ trong khu vực. Trung Quốc dựng nên chính quyền dân sự địa phương [tại “thành phố Tam Sa”], điều này đòi hỏi phải có quân đội đồn trú thường trực. Trung Quốc cũng đang xác lập các yêu sách kinh tế thông qua việc mời thầu khai thác dầu khí và tiến hành đánh bắt cá tại các lô nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác. Trung Quốc còn phái lực lượng hải quân đi cản trở các dự án khai thác dầu khí của những nước khác trong khu vực. Cuối con đường này hiện ra hai mục tiêu Trung Quốc đang nhắm tới: Tiềm năng dầu khí ở biển Đông đủ cung cấp cho Trung Quốc trong 60 năm, và khả năng trung lập hóa hệ thống liên minh quân sự của Mỹ trong vùng.

Sự thất bại của khối ASEAN khi nỗ lực thiết lập Bộ quy tắc ứng xử để giải quyết tranh chấp trên biển Đông đã tạo điều kiện thuận lợi cho sách lược “tích gió thành bão” của Trung Quốc. Một Bộ quy tắc ứng xử đa phương trên biển Đông sẽ tạo ra khung pháp lý để giải quyết tranh chấp, đặt mọi nước có đòi hỏi chủ quyền trong quan hệ bình đẳng. Không có Bộ quy tắc ứng xử như vậy, nên hiện nay Trung Quốc có thể tận dụng lợi thế sức mạnh nhằm chi phối các tranh chấp song phương với các quốc gia láng giềng nhỏ hơn, dùng sức mạnh mà không hề e ngại hậu quả chính trị từ việc hành động ngoài khuôn khổ luật lệ đã được các bên thống nhất.

Trong lúc ấy, Lầu Năm Góc dự định gửi lực lượng tăng cường đến khu vực và đang thiết lập các học thuyết chiến thuật mới nhằm triển khai lực lượng chống lại sức mạnh quân sự đang gia tăng của Trung Quốc. Nhưng giới làm chính sách ở Washington sẽ bị vướng vào rắc rối khi cố gắng áp dụng sức mạnh quân sự chống lại kẻ chuyên sử dụng kế sách “tích gió thành bão” thâm hiểm. Nếu sự việc xảy ra trong quy mô đủ nhỏ, sẽ không có hành động nào đủ kịch tính để biện minh cho việc khơi mào một cuộc chiến. Giới làm chính sách ở Washington sẽ lý giải thế nào trong việc vạch ra lằn ranh đỏ ngay trước dàn khoan dầu của CNOOC giả sử đang cắm sâu trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam, hay trường hợp tàu khu trục Trung Quốc rượt đuổi một tàu thăm dò của Philippines tại bãi Cỏ Rong, hay đối với tình huống một trung đội bộ binh Trung Quốc xuất hiện trên một bãi đá gần quần đảo Trường Sa? Khi cân nhắc một cuộc chiến cực kỳ tốn kém với một cường quốc chủ chốt, sẽ ngớ ngẩn nếu xem những sự kiện nhỏ như vậy là biến cố kích hoạt một cuộc chiến. Tuy nhiên, nếu những sự kiện nhỏ này dồn nén qua thời gian và không gian, chúng có thể tạo nên bước ngoặc cơ bản trong khu vực.

Mặc dù có vẻ chỉ là một đối thủ đến từ xa trong các biến cố trên biển Đông, lợi ích của Mỹ ở đây rất lớn. Cả nền kinh tế của Mỹ và thế giới đều phụ thuộc vào sự tự do đi lại trên vùng biển này; hàng hóa giao dịch trên toàn cầu lưu thông hàng năm qua biển Đông trị giá lên đến 5,3 nghìn tỷ USD, trong đó lượng hàng trị giá 1,2 nghìn tỷ USD được vận chuyển đến các hải cảng Mỹ. Thứ hai, Mỹ hết sức quan tâm đến việc ngăn chặn bất kỳ thế lực nào đơn phương viết lại luật biển quốc tế theo ý mình, vốn đã tồn tại từ lâu. Sau cùng, sự tín nhiệm đối với hệ thống liên minh của Mỹ và độ tin cậy của hệ thống này như một đối tác an ninh sẽ tùy thuộc vào những điều nói trên.

Kẻ theo kế sách “tích gió thành bão” sẽ đặt gánh nặng căng thẳng lên vai đối phương, khiến đối phương phải hành động một cách rối loạn. Đối phương sẽ ở vào thế không mấy dễ chịu khi dường như phải vạch ra những lằn ranh đỏ không thể biện minh, và lâm vào hoàn cảnh bên bờ vực chiến tranh mà không thể lý giải. Về phía Trung Quốc, họ chỉ đơn giản phớt lờ hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ và tiếp tục thực hiện chuỗi các hành vi nhỏ, với giả định hợp lý rằng thật khó hình dung Mỹ lại có thể đe dọa tiến hành một cuộc chiến lớn giữa các cường quốc chỉ vì một sự cố không đáng kể trên vùng biển xa xôi.

Nhưng những gì có thể xem là không quan trọng theo cách nhìn của Mỹ, có thể mang tính sống còn đối với các đối thủ như Philippines và Việt Nam, những quốc gia đang nỗ lực bảo vệ lãnh thổ và đặc quyền kinh tế của mình, chống lại sự chiếm đoạt công khai bằng vũ lực. Điều đó có thể tạo cho các nước này động lực lớn hơn, từ đó có thái độ cương quyết hơn Mỹ trong việc phòng thủ, chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Và nếu tiếng súng nổ ra giữa Trung Quốc với một trong các quốc gia nhỏ bé này, giới làm chính sách ở Bắc Kinh sẽ phải xem lại những hậu quả về uy tín và chính trị khi dùng vũ lực tấn công một nước láng giềng yếu hơn.

Cả Mỹ và các thành viên khối ASEAN rất muốn có Bộ Quy tắc Ứng xử được các bên thỏa thuận, nhất trí nhằm giải quyết các tranh chấp trên biển Đông. Nhưng nếu Trung Quốc lại chọn cách theo đuổi chiến lược “tích gió thành bão”, các nhà làm chính sách tại Washington có thể kết luận rằng, đối sách khả thi về mặt chính trị là khuyến khích các nước nhỏ bảo vệ các quyền của mình mạnh mẽ hơn, cho dù phải mạo hiểm với nguy cơ xung đột, với lời hứa hỗ trợ quân sự của Mỹ. Điều này có nghĩa là một sự thay đổi hoàn toàn chính sách hiện nay của Mỹ vốn tuyên bố trung lập đối với những tranh chấp biên giới trên biển.

Mỹ giữ thái độ trung lập vì họ không muốn tự mình cam kết trước về một loạt những sự kiện nào đó mà họ không kiểm soát được. Cách tiếp cận này có thể hiểu được nhưng sẽ gia tăng xung đột với những hứa hẹn an ninh mà Mỹ từng tuyên bố với các nước thân hữu trong khu vực, cũng như đối với mục tiêu giữ gìn những giá trị phổ quát trên toàn cầu. Các nhà chiến lược và hoạch định chính sách ở Washington sẽ phải cân nhắc về những gì, nếu có thể xảy ra, mà họ có thể đương đầu với một kẻ chuyên “tích gió thành bão” xảo quyệt như vậy.

Nguồn: Foreign Policy

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Bản tiếng Việt © Nguyễn Tâm

Mỹ-Trung: Hiệp đấu ngoại giao sẽ phá ‘thế lưỡng nan’? – VHNA

7 Th8

Mỹ-Trung: Hiệp đấu ngoại giao sẽ phá ‘thế lưỡng nan’?

Hoàng Dũng Nhân

 

Ngày 3/8 Mỹ tuyên bố sẽ theo dõi sát sao tình hình Biển Đông và kêu gọi các bên cần có những bước đi làm giảm bớt căng thẳng, theo đúng tinh thần DOC giữa Trung Quốc và ASEAN. Ngay sau đó, ngày 4/8, Trung Quốc đã triệu Phó Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh để phản đối việc Mỹ chỉ trích Trung Quốc.

Đây là lần đầu tiên trong vòng 3 năm nay, kể từ khi Trung Quốc tiến hành cuộc leo thang ngày càng công khai và quyết liệt trên Biển Đông, chính phủ Mỹ, thông qua hình thức người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã đưa ra một tuyên bố dài nhất từ trước đến nay. Bản tuyên bố gần 500 từ được giới phân tích cho là trình bày một cách đầy đủ và rõ ràng quan điểm hiện nay của chính phủ Hoa Kỳ về tranh chấp trên Biển Đông.

Như vậy, đây cũng là lần đầu tiên cả hành pháp và lập pháp Mỹ, hầu như trong cùng một thời điểm, đã bày tỏ lập trường của Hợp chủng quốc về vấn đề thời sự nóng bỏng nhất hiện nay trong khu vực.

Có gì mới trong lập trường của Mỹ?

Ngày 3/8, theo giờ Washington, Chính quyền Tổng thống Obama lần đầu tiên đã ra tuyên bố về Biển Đông, ngay sau khi Thượng viện Mỹ vừa thông qua Nghị quyết S.Res 524 vào tối 2/8 tái khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với bản tuyên bố DOC về vấn đề Biển Đông.

Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ do Phó Phát ngôn Patrick Ventrell nêu rõ, là một quốc gia trong khu vực Thái Bình Dương, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có “lợi ích quốc gia” trong việc duy trì hòa bình và ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế, tự do hàng hải và thương mại hợp pháp tại khu vực Biển Đông.

  Ảnh: Reuters

 

Bản tuyên bố tiếp tục nhắc lại lập trường trước đây của Mỹ là “không can thiệp vào việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và không có tham vọng tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Biển Đông”; đồng thời khẳng định: “Mỹ tin tưởng các quốc gia trong khu vực phối hợp chặt chẽ và sử dụng biện pháp ngoại giao để giải quyết các tranh chấp không sử dụng biện pháp ép buộc, dọa dẫm, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Mỹ quan ngại về sự gia tăng căng thẳng tại khu vực Biển Đông và đang theo dõi sát sao tình hình tại khu vực này”.

Theo đánh giá của bản Tuyên bố, những diễn biến gần đây trên Biển Đông bao gồm sử dụng lời lẽ căng thẳng, các hành động kinh tế cưỡng bức, và các sự việc xảy ra xung quanh bãi cạn Scarborough, đặc biệt việc Trung Quốc nâng cấp mức quản lý hành chính với “thành phố Tam Sa” và đặt đồn trú quân sự tại đây để quản lý khu vực Biển Đông đang tranh chấp, tất cả đã đi ngược lại với những nỗ lực ngoại giao mang tính hợp tác để giải quyết những bất đồng, đồng thời làm cho căng thẳng trong khu vực Biển Đông ngày càng gia tăng. 

Nghị quyết S.Res 524 của Thượng viện Mỹ được thông qua trước đó một ngày cũng đã nhất trí tái khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với tuyên bố DOC năm 2002. Nghị quyết S. Res 524 này do Thượng nghị sỹ Mỹ John Kerry, Chủ tịch Ủy Ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, cùng 6 thượng nghị sỹ Mỹ khác đồng bảo trợ. Nghị quyết về Biển Đông năm nay đưa ra vào đúng thời điểm vừa tròn một năm Nghị quyết về Biển Đông năm 2011 do Thượng nghị sĩ Jim Webb bảo trợ và được dư luận đánh giá cao về nội dung. Bên cạnh những tương đồng với lập trường cũ, Nghị quyết mới cũng ghi nhận một số điểm khác biệt.

Nghị quyết lần này đã đề cập nhiều hơn tới vai trò của ASEAN và khẳng định ủng hộ sự hợp tác của Chính phủ Mỹ đối với tổ chức này trên nhiều lĩnh vực. Đây có thể coi là thông điệp ủng hộ từ các nhà lập pháp đối với chính sách “chuyển hướng” tới châu Á của Chính quyền Obama, mà gần nhất thể hiện qua chuyến đi của Ngoại trưởng Clinton tới khu vực hồi đầu tháng Bảy.

Việc bản Tuyên bố của Chính phủ Mỹ gián tiếp lên án “các biện pháp ép buộc, dọa dẫm, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực” của Trung Quốc trên Biển Đông rõ ràng thể hiện những sắc thái mạnh mẽ hơn so với Nghị quyết trước đó của Thượng viện.

Phá vỡ “tình thế lưỡng nan”?

Tuyên bố của Chính phủ Mỹ kết thúc bằng việc thúc giục các bên cần có những bước đi làm giảm bớt các căng thẳng và giữ đúng tinh thần của Tuyên bố về Biển Đông của ASEAN năm 1992 và Tuyên bố giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên tại khu vực Biển Đông DOC năm 2002. Mỹ khuyến khích ASEAN và Trung Quốc có những bước tiến để đi tới thống nhất Bộ Quy tắc ứng xử (COC), tạo ra các quy định và nguyên tắc để giải quyết các bất đồng một cách hòa bình. Mỹ ủng hộ nguyên tắc 6 điểm gần đây của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Mỹ thúc giục tất cả các bên hãy làm rõ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ tuân theo luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển của LHQ.

Ngày 4/8, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã triệu tập Phó Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh Robert S. Wang lên để phản đối việc Mỹ chỉ trích Trung Quốc về việc họ thành lập lực lượng đồn trú đóng trên Biển Đông. Trung Quốc cáo buộc Washington khuấy động sóng gió trong khu vực(?!). Cùng ngày 4/8, Tân Hoa Xã dẫn lời Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao gọi việc Mỹ chỉ trích chuyện thành lập khu cảnh bị của Trung Quốc trên Biển Đông là “một thông điệp sai lạc” và đe dọa hòa bình tại vùng biển đang có tranh chấp nóng bỏng này (?!)

Trên trang mạng tiếng Anh của THX có bài xã luận gọi những chỉ trích của Mỹ là không có cơ sở; yêu cầu Mỹ “rút lại bàn tay can thiệp khỏi các tranh chấp” ở Biển Đông và cho rằng, việc Mỹ ủng hộ một vài nước đòi chủ quyền sẽ dẫn đến những hành động gây hấn và đối kháng (?!)

Trong bối cảnh giữa cuộc tranh cử cho nhiệm kỳ hai trước đối thủ Cộng hòa Mitt Romney, Tổng thống Barack Obama không thể tỏ ra mềm yếu trước Trung Quốc, nhất là vì ông Romney vẫn chỉ trích ông Obama nhượng bộ Bắc Kinh quá nhiều. Tuy nhiên, nếu chỉ trích Bắc Kinh quá nặng nề thì sẽ gây tổn hại đến quan hệ với cường quốc đang trổi dậy, nhưng nếu để mặc cho Trung Quốc “múa gậy vườn hoang” thì sẽ phá hỏng những nỗ lực ngoại giao nhằm tăng cường vị thế của Mỹ đối với các quốc gia Đông Nam Á đang bị Trung Quốc chèn ép. Đó chính là “tình thế lưỡng nan” của Mỹ trên vấn đề Biển Đông.

Trong một động thái không mấy ai chờ đợi, việc Bộ Ngoại giao Mỹ chính thức ra tuyên bố về Biển Đông, không chỉ gián tiếp bênh vực Philipin và Việt Nam đang bị Trung Quốc uy hiếp và chèn ép, chính phủ Mỹ trên thực tế còn muốn phá vỡ “tình thế lưỡng nan” nói trên. Thông điệp quan trọng nhất mà chính quyền Tổng thống Obama trong thời gian qua đã thường xuyên chuyển đến Trung Quốc qua nhiều cuộc đối thoại ở nhiều cấp độ khác nhau cả về quân sự cũng như thương mại với Trung Quốc, có thể đã được giải mã!

“Làn ranh đỏ” mà Trung Quốc phải dừng lại trong cuộc diễu võ dương oai ngoài khơi thềm lục địa của các nước Đông Nam Á có được chuyển đến nhà cầm quyền Trung Quốc với Tuyên bố của Chính phủ Mỹ và Nghị quyết của Quốc hội Mỹ lần này? Chỉ biết rằng, phá “tình thế lưỡng nan” nói trên cũng là để phá thế cờ hiểm mà Trung Quốc đang giăng trên Biển Đông đối với ASEAN và đối với cả Mỹ. Là một siêu cường thế giới, liệu Mỹ có đủ bài bản để đối phó với Trung Quốc, loại trừ được kịch bản mà chính quyền Obama từng né tránh, đó là tranh chấp chủ quyền Biển Đông không được đẩy các quyền lợi chiến lược của Mỹ vào thế đối đầu với Trung Quốc? Câu trả lời nằm ở những phối trí sau hiệp đấu ngoại giao lần này./.

Bản tác giả gửi cho VHNA

Thế giới 24h: Trung Quốc nổi khùng với Mỹ

7 Th8
 

Thế giới 24h: Trung Quốc nổi khùng với Mỹ

 

– Báo chí Trung Quốc dùng từ ngữ nặng nề chỉ trích tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ; Hải quân Sri Lanka bắt ngư dân Trung Quốc đánh bắt trái phép ở vùng biển Sri Lanka… là các tin nóng trong ngày.

Nổi bật trong ngày

Truyền thông Trung Quốc hôm qua đã đồng loạt chì chiết Washington gây rối, sau việc Bộ Ngoại giao Mỹ hôm 3/8 ra tuyên bố lên án những hành động gần đây của Bắc Kinh trên Biển Đông.

Tờ China Daily đăng bài xã luận, trong đó tác giả đã lớn tiếng nói rằng, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ về tranh chấp trên Biển Đông là một hành động gây rối trắng trợn và đáng bị phản đối.

Bài báo cho rằng, Mỹ chỉ trích việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” là nhằm phục vụ lợi ích riêng của Washington, thể hiện sự coi thường nguyên tắc không can thiệp nội bộ nước khác.

Tàu hải quân USNS Rappahannock của Mỹ có mặt trên Biển Đông hồi tháng 3/2012

Một bài bình luận khác trên ấn bản hải ngoại của tờ Nhân dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc thì thẳng thừng nói nước Mỹ “im miệng” đối với vấn đề Biển Đông.

“Chúng ta hoàn toàn có thể yêu cầu Mỹ ngậm miệng lại. Làm sao có thể dung thứ việc các nước khác xía vào những vấn đề nằm trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc?”, bài viết có đoạn.

Bài viết còn cho rằng, tuyên bố của Mỹ “phớt lờ sự thật, lẫn lộn đúng sai và phát đi tín hiệu sai lầm không có lợi cho hòa bình, ổn định ở Biển Đông cũng như khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.

Cũng liên quan tới tuyên bố từ Bộ Ngoại giao Mỹ, trước đó Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã triệu tập phó đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh để phản đối và yêu cầu Mỹ tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc.

Tin đọc 30 giây

– Tổng thống Syria Bashar al-Assad đã quyết định cắt chức Thủ tướng đương nhiệm Riyad Hijab, vì ông này bất ngờ bỏ trốn khỏi Syria.

– Một vụ nổ đã xảy ra tại tầng ba của tòa nhà Đài truyền hình và phát thanh quốc gia Syria tại thủ đô Damascus, làm ba người bị thương.

– Israel cho biết đã phát hiện thi thể của 8 tay súng đã tấn công chốt kiểm tra ở biên giới với Ai Cập, khiến 16 cảnh sát Ai Cập thiệt mạng.

– Ngoại trưởng Ai Cập Mohamed Amr khẳng định việc Israel cản trở ngoại trưởng một số nước tới Ramala là vi phạm luật pháp quốc tế.

– Cảnh sát Mỹ tuyên bố vụ xả súng tại đền thờ đạo Sikh thuộc Milwaukee, Wisconsin sáng 5/8 làm 7 người chết là vụ khủng bố nội địa.

– Khoảng 50.000 người Nhật tập trung ở công viên Hòa Bình của Hiroshima để tưởng niệm 67 năm Mỹ ném bom nguyên tử xuống đây.

– Hải quân Sri Lanka cho biết đã bắt 37 ngư dân Trung Quốc, do đánh bắt cá trái phép vào đêm 5/8 tại vùng biển phía Đông Sri Lanka.

– Giới chức Ấn Độ cho biết đã xảy ra đụng độ giữa lực lượng biên phòng nước này và Pakistan tại khu vực biên giới quốc tế ở Kashmir.

– Triều Tiên cho hay, những trận lũ lụt diễn ra gần đây đã cướp đi sinh mạng của 170 người, làm 400 người mất tích trên khắp đất nước.

Thông tin trong ảnh

Tổng thống Venezuela Hugo Chavez chơi ghita trong một cuộc vận động cử tri hôm 5/8. (Ảnh: THX)

Phát ngôn nổi bật

Cựu đặc phái viên hòa bình Kofi Annan. (Ảnh: AP)

Ông Kofi Annan cho rằng, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ Barack Obama cần chứng tỏ lòng can đảm, phẩm chất lãnh đạo, để cứu Syria khỏi tai họa.

Ông đã viết như vậy trong “Lời nhắn gửi cuối cùng của tôi”, trước khi rời bỏ cương vị đặc phái viên chung của Liên hợp quốc và Liên đoàn Arập về vấn đề Syria hôm 2/8.

Ngày này năm xưa

Rabindranth Tagore là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lỗi lạc của Ấn Độ. Ông sinh ngày 7/5/1861 và tạ thế ngày 7/8/1941.

Thanh Vân (tổng hợp)

 
 
 
 
 
 
 
 
 

TQ phân cực chiến lược tại Châu Á-Thái Bình Dương

7 Th8

TQ phân cực chiến lược tại Châu Á-Thái Bình Dương

 

Nhà kinh tế quốc tế Claude Myer nhận định: “Trên thực tế, sự đối đầu mà Bắc Kinh sẽ thực hiện là cuộc chiến đối đầu với Mỹ, cùng với sự phát triển tại khu vực châu Á lấy Trung Quốc là trọng tâm và sự sụt giảm tương đối của phương Tây mà Mỹ là trọng tâm. Một siêu cường đang được hình thành, đó là Trung Quốc với mục tiêu cuối cùng là nhằm ganh đua vị trí bá chủ của Mỹ và tác động đến trật tự thế giới theo hình thức đối thoại bình đẳng với Mỹ”.

Chiến lược của Trung Quốc đã thể hiện thông qua mục tiêu như đã chỉ ra ở trên một cách rõ ràng từ giữa thập niên vừa qua. Việc Trung Quốc sử dụng quyền lực mềm để gây ảnh hưởng với các nước châu Á láng giềng đã thu được lợi ích đáng kể trong phần lớn thập niên vừa qua. Điều này đã tạo ra một khoảng trống chiến lược nhấn chìm châu Á-Thái Bình Dương với sự sụt giảm về lực lượng quân đội Mỹ do diễn biến tại Ápganixtan và Irắc. Khoảng trống này cũng tạo thuận lợi cho Trung Quốc thực hiện một đường hướng về việc mở rộng quân sự không hạn chế và không có trở ngại.

Điều này đã tạo ra hai khía cạnh khác nhau của sức mạnh quân sự Trung Quốc. Điều đầu tiên đó là việc Trung Quốc nhận thấy là đối tác bình đẳng với Mỹ và kích động Trung Quốc tiếp tục thực hiện một cách dễ dàng những vấn đề còn tranh cãi như Đài Loan, Tây tạng và vấn đề biển Nam Trung hoa. Đây  là những vấn đề cốt yếu mà Trung Quốc sẵn sàng gây chiến tranh. Vấn đề thứ hai là Trung Quốc không bị hạn chế bởi Mỹ đã thành công khi tạo ra được cho các nước lân cận nhận thức rằng Hoa Kỳ không phải là đối tác chiến lược tin cậy của bất kể một nước châu Á nào khi phải đối mặt với Trung Quốc. Thủ đô của các nước châu Á được khuyến cáo rằng sức mạnh của châu Á nằm ở Bắc Kinh chức không phải ở Oasinhtơn. Trước khi làm rõ chủ đề của bài viết này hai nhận xét của tác giả nói trên cần phải được nghiên cứu đó là sự nổi lên của châu Á với Trung Quốc là trọng tâm và ý định của Trung Quốc là nhằm gây ảnh hưởng với trật tự thế giới theo cách đối thoại bình đẳng với Hoa Kỳ.

Tham vọng chiến lược của Trung Quốc về sự nổi lên của châu Á với Trung Quốc là trung tâm dường như sẽ được giải quyết khi có sự đánh giá chiến lược về khía cạnh môi trường an ninh châu Á. Sự chuyển đổi của Trung Quốc từ chiến lược lớn dựa vào quyền lực mềm sang việc sử dụng vũ lực (hard power) dường như tạo ra một sự phân cực về chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ý định của Trung Quốc sẽ không được môi trường an ninh châu Á nhìn nhận như ý định mang tính chất hòa bình. Sự thay đổi của Trung Quốc trong chiến lược lớn dường như đã tạo ra nhận thức về một sự đe dọa của nước này đang nhấn chìm  châu Á-Thái Bình Dương.


Ảnh minh họa

Sự gia tăng chủ nghĩa ôn hòa ở châu Á cần phải được xem xét như một vấn đề tập trung nhiều hơn vào nhận thức chiến lược châu Á về khả năng đe dọa của Trung Quốc hơn là sự nổi lên của châu Á do Trung Quốc lãnh đạo để chiến đấu chống lại sự thống trị của Mỹ và thay đổi cán cân quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương. Sự bình đẳng về mặt chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc về đối thoại bình đẳng là không bền vững và thực tế khi cán cân quyền lực ở châu Á và thế giới cần phải được xem xét. Trung Quốc chỉ có thể nổi lên như một sự bình đẳng chiến lược với Mỹ nếu nước này tập trung vào mặt chiến lược được hàng loạt các nước ở châu Á-Thái Bình Dương tạo thành liên minh do Trung Quốc đứng đầu đối đầu với mô hình an ninh của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, thật đáng buồn cho Trung Quốc là không có nước nào trong khu vực này muốn trở thành đồng minh với với nó trừ CHDCND Triều Tiên và Pakixtan vốn là đồng minh chiến lược. Ngoài ra, cũng có một sự khác biệt về mặt quân sự mà không thể thay đổi giữa Mỹ và Trung Quốc là về vũ khí hạt nhân, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân (ICBM) và khả năng điều quân.

Trở lại chủ đề chính về việc Trung Quốc đang thiết lập sự phân cực ở châu Á-Thái Bình Dương, cần phải nhấn mạnh rằng việc này là do Trung Quốc chứ không phải do Mỹ điều hành. Sự phân cực này cũng đã được thiết lập trong một khoảng thời gian và học thuyết của Tổng thống Mỹ Obama về trục chiến lược tại châu Á và việc tái cân bằng vị thế của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã bị chậm chễ. Mặc dù có những hệ quả tự nhiên của những động thái của Trung Quốc trong khu vực mang tính rất hùng hổ. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã bình yên về mặt chiến lược cho đến năm 2008 và châu Á cũng không thể hiện sự lo ngại trước việc nổi lên của Trung Quốc. Cho đến thời điểm đó có nhiều nước trung lập tại châu Á và họ không tin rằng liệu Mỹ có là một đối tác tin cậy hay không nếu như các vấn đề an ninh quốc gia của họ bị tác động bởi sự hiếu chiến đang nổi lên như Trung Quốc. Vào năm 2012 tình hình đã thay đổi rõ rệt, nhiều nước trung lập đã lựa chọn ngả theo Mỹ về mặt chiến lược. Tại sao lại có sự thay đổi về nhận thức về mặt chiến lược như vậy?

Chiến lược lớn của Trung Quốc dựa chủ yếu vào quyền lực mềm để đạt được mục tiêu chiến lược cuối cùng của nó dường như thực hiện trong giai đoạn từ 2006-2008. Sự hiếu chiến cũng như áp lực về mặt quân sự là con chủ bài lớn trong chiến lược của nước này.

Sau đó, Trung Quốc đã lợi dụng môi trường an ninh hiện có ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khủng hoảng tài chính toàn cầu và những giai đoạn phát triển nhanh về hiện đại hóa quân đội để tiến hành sử dụng một cách mạnh mẽ sức mạnh quân sự mới được hình thành. Điều này được thể hiện là quan điểm mang tính chất áp đặt và hiếu chiến của Trung Quốc đối với các nước đang tranh chấp vùng biển Nam Trung Quốc. Nó cũng được thể hiện thông qua việc trấn áp về mặt quân sự như vụ việc biểu tình ở Tây tạng diễn ra trước hội nghị Olympic ở Bắc Kinh năm 2008. Điều này cũng được thể hiện thông qua việc tàu ngầm Trung Quốc có mặt tại vùng biển Nhật Bản và  Trung Quốc không gây áp lực với CHDCND Triều Tiên để có phản ứng mạnh hơn đối với những hành động mang tính quân sự chống lại Nhật Bản và Hàn Quốc, hai nước vốn là thành viên chủ chốt của Mỹ trong mô hình an ninh tại châu Á-Thái Bình Dương.

Có những dấu hiệu thay đổi về quan điểm của các nước châu Á khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và Minama, hai nước có địa chiến lược quan trọng và rộng lớn nằm ở hai bên sườn khu vực châu Á-Thái Bình Dương và có nhiều tiềm năng như đã từng được niêu tả trong bài viết trước đây của tôi sẽ tao cho Mỹ một chỗ đứng ở châu Á ngoài Hàn Quốc. Rõ ràng Nhật Bản và Mỹ đã tăng cường quan hệ quân sự và Hàn Quốc cũng thay đổi thái độ không rõ ràng đối với Trung Quốc. Philippin sau nhiều năm phản đối Mỹ về việc sử dụng căn cứu không quân và hải quân quan trọng thì nay cũng đồng ý cho Mỹ tham gia đầy đủ trong bối cảnh nước này đang có tranh chấp đến cùng với Trung Quốc về vùng biển Nam Trung hoa.

Trung Quốc được cho là có tầm nhìn, kế sách và tính kiên nhẫn một cách chiến lược lâu dài. Trung Quốc dường như đã hiểu sai ý định cũng như quyết tâm mang tính chiến lược của Mỹ khi gắn kết một cách chiến lược tại khu vực này. Mỹ không chỉ tăng cường mô hình an ninh của nó ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mà hiện còn mở rộng ra khu vực xung quanh như Đông nam châu Á và tiểu lục địa Ấn Độ dưới các hình thức khác nhau như đối tác chiến lược và quan hệ chiến lược nhằm ám chỉ cho khu vực biết rõ mục đích mang tính uy lực và đe dọa của Trung Quốc.

Theo định hướng của Trung Quốc thì cuộc chiến đối đầu với Mỹ là không thể tránh khỏi, điều này sẽ đưa ra hai câu hỏi là liệu Mỹ hay Trung Quốc sẽ lẩn tránh cuộc chiến tranh? Câu hỏi thứ hai cần xem xét là trong cuộc chiến như vậy thì sự tổn thất của hai bên sẽ ra sao? Để trả lời câu hỏi thứ nhất tôi trích dẫn ý kiến của ông George Friedman -Giám đốc trung tâm nghiên cứu chiến lược Mỹ (Stratfor) viết trong cuốn sách mới xuất bản gần đây: “Mỹ đã tiến đến sức mạnh toàn cầu với cuộc chiến Tây Ban Nha-Mỹ vào năm 1898. Và đã duy trì đường hướng này trong một thế kỷ. Việc thay đổi về mức độ mà Hoa Kỳ sẽ thực hiện thì đó không phải là sự lựa chọn vì điều này rất kỳ quặc”. Tương quan về mặt tổn thất trong một cuộc chiến kéo dài thì Trung Quốc sẽ bị tổn thất nhiều hơn so với Mỹ và do vậy sẽ có sự bất lợi về mặt chiến lược hơn. Liệu điều này có cản trở Trung Quốc hay không? Dường như là không vì Trung Quốc với tham vọng lớn sẽ khó từ bỏ chiến lược toàn cầu. Lợi thế đối với Mỹ là thành công trong cuộc chiến tranh lạnh và trong mọi khía cạnh thì nó cũng sẽ thành công trong một cuộc chiến tranh lạnh thứ hai trong thời gian này. Riêng sức mạnh kinh tế thì không chuyển thành quyền lực mang tính chiến lược, đó là sức mạnh áp đặt về quân sự và chính trị và có khả năng điều hành quân sự mang tính toàn cầu.

Để kết luận thì có thể nhận thấy rằng vấn đề ngoại giao của Mỹ không thể đạt được trong thời gian trước đây về vấn đề phân cực mang tính chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương chống lại sự đe dọa của Trung Quốc, một chính sách hiếu chiến của Trung Quốc với sự thiếu kiên nhẫn và bất ngờ nhằm thể hiện quyền lực quân sự mới ở châu Á dường như đã tạo ra một cực chiến lược nổi bật tại châu Á-Thái Bình Dương chứ không phải sự bất lợi của Trung Quốc.

Mai Linh theo South Asia Analysis Group

%d bloggers like this: