Lưu trữ | 11:23 Chiều

Đi tìm thủ phạm – Alan Phan

9 Th8

Đi tìm thủ phạm

August 9, 2012 By 15 Comments

BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ NĂM 9/8/2012

Trong các truyện trinh thám Pháp, điều tra viên có một phương pháp rất hiệu lực cho mọi vụ án, “Cherchez la femme”. Đi tìm người đàn bà thì sẽ truy ra mọi nguồn gốc của tội phạm. Chỉ tiếc cho mấy anh si tình, gặp một femme fatale thì quên béng đi là mình đang điều tra cái gì đây?

Trong các tội lỗi về kinh tế tài chánh thì Alan tôi phải điều chỉnh lại là,” Đi tìm dòng tiền”. Dấu vết của nó sẽ đưa điều tra viên đến ngay cửa trước hay sân sau của thủ phạm. Dĩ nhiên những anh mê tiền (phong bì) thì cũng hay quên mục tiêu điều tra của mình.

Ở thời vàng son ngày xưa, các thủ phạm thường làm mất dấu các dòng tiền qua nhiều môi giới và qua hệ thống “cash” (tiền mặt) rất thông dụng trong mọi giao dịch. Ngày nay, Internet và các phần mềm cài sâu trong mọi máy tính khiến việc che giấu dòng tiền trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Phương thức truy tìm của các cơ quan cảnh sát và hệ thống ngân hàng của những quốc gia Âu Mỹ càng ngày càng tinh vi nên chi phí rửa tiền đã tăng đến 17% trong 5 năm vừa qua.

Lãi suất hưởng được từ các đầu tư thì quá thấp mà phí quá cao. Nhất là khi nghe lời xúi dại của bạn bè đổ vào các bong bóng tài sản ở Việt Nam. Do đó, tôi thông cảm và thương hại vô cùng cho những tay tham nhũng và tội phạm phải đem tiền cất giấu, nhất là xuyên quốc gia. Thời thế khó khăn thật. Khôg biết có vị nào đau tim khi nghe tin ngân hàng Standard Chartered vừa bị chánh phủ Mỹ điều tra về việc rửa tiền? Bọn FBI Mỹ rất thâm độc: cuộc điều tra đã diễn ra từ nhiều năm qua trong âm thầm; nhưng chúng đợi đến khi nhà cái và con bạc thảy tiền ra sòng cho thật nhiều rồi mới quăng lưới. 250 tỷ đô la cộng tiền phạt có thể phá sản Standard Chartered.

Cho nên tôi khuyên các đại gia này hãy tiêu xài thoải mái ngay bây giờ và ngay tại quốc gia họ kiếm được tiền. Nó sẽ kích thích kinh tế, giúp người nghèo và cho mình những hưởng thụ tuyệt vời…trước khi vào tù. Để lại cho con cái thì chúng sẽ hoang phí vào những chuyện vô bổ ngu xuẩn; hay dòng tiền sẽ không kịp đến tay bọn chúng.

Còn các bạn trẻ muốn khởi nghiệp, mở một tiệm giặt ủi ở Singapore, hay Cambodia hay Hong Kong có thể là vé tàu thượng hạng cho đời mới? Tình hình thế giới càng bấp bênh, doanh nghiệp của các bạn càng phát triển mạnh. Hễ kinh doanh tốt đẹp, nhớ đừng quên “chương trình 20 triệu máy tính” của bác Alan đấy.

Trỗi dậy và sụp đổ – Viet-studies/BS

9 Th8

Trỗi dậy và sụp đổ

Tống Văn Công

Giáo sư Đại học Quốc phòng Trung Quốc Lưu Minh Phúc tác giả quyển sách Giấc mơ Trung Quốc, được 10 nhà xuất bản lớn cạnh tranh mua bản quyền và được dư luận thế giới đánh giá cao về tư duy nước lớn, định vị chiến lược thời “hậu Mỹ”. Nhà chiến lược Lưu Á Châu viết lời tựa “Cuộc cạnh tranh thế kỷ giữa Trung – Mỹ mở ra thời đại mới trong lịch sử thế giới”.

Mở đầu sách, là những chương “Nhất thế giới là giấc mơ trăm năm của Trung Quốc”; “Đọ sức thế kỷ: Giành ngôi quốc gia quán quân”. Tác giả nhìn nhận cạnh tranh toàn cầu như là cuộc cạnh tranh giữa các nền văn minh. Từ đó, ông nêu ra những ưu thế có tính chiến lược mà Trung Quốc phải nắm lấy để có thể thuyết phục thế giới tôn vinh mình là ngọn cờ thời đại: “Trong thời đại toàn cầu hóa, Trung Quốc trỗi dậy, giương cao ngọn cờ hòa bình, phát triển, hợp tác, xây dựng thế giới hài hòa, làm cho các giá trị Trung Quốc đi ra thế giới”.“Xây dựng thế giới dân chủ, không có bá quyền là nội dung quan trọng của giá trị quan chủ yếu của Trung Quốc, có sức hấp dẫn lớn để vẫy gọi và dẫn dắt thế giới”. Văn hóa Trung Quốc là là văn hóa bảo vệ lục địa kiểu phòng ngự chứ không giành quyền trên biển kiểu tấn công của phương Tây.Tác giả cho rằng lịch sử cận đại đã từng chứng kiến các nước lớn trỗi dậy có đặc điểm chung là “Trỗi dậy về quyền trên biển”, “Trỗi dậy bành trướng”, “Trỗi dậy thực dân” và “Trỗi dậy chiến tranh”. Đó là những hành động theo luật rừng!

Tiếc thay, các nội dung có tính chiến lược để thực hiện Giấc mơ Trung Quốc đã không được nhà cầm quyền Bắc Kinh tiếp thu. Ngược lại, những lời tác giả chỉ trích các nước lớn thực dân xâm lược ở thế kỷ 19 nghe giống như những dòng tin và bình luận thời sự chỉ trích nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay: Mời thầu khai thác dầu trên thềm lục địa Việt Nam; Lập thành phố Tam Sa và đồn binh trên quần đảo của Việt Nam; xua hằng vạn tàu cá có tàu vũ trang đi kèm xông vào vùng biển Việt Nam; liên tục khiêu khích Ấn Độ, Nhật Bản, Phillipines… Hằng ngày báo chí Trung Quốc kích động thù hằn dân tộc, đe dọa dùng vũ lực đánh chiếm Việt Nam, gây chia rẽ các nước ASEAN, khiêu khích Mỹ.

Chương cuối của Giấc mơ Trung Quốc có tiêu đề “Kêu gọi Thuyết Trung Quốc sụp đổ”! Nếu xử lý không đúng thì “nước lớn trỗi dậy cách nước lớn sụp đổ chỉ có một bước”. Theo tác giả, “Hiện nay, chênh lệch giàu nghèo ở Trung Quốc quá lớn, số lượng người có kỹ năng thì ít, lại thiếu đất cho sáng kiến nảy nở, do đó trong cạnh tranh sau này sẽ ở vào phía bất lợi. Nền kinh tế không có sáng kiến, không có giá trị phụ gia, một khi đã suy sụp thì khó duy trì trật tự xã hội cơ bản. Trung Quốc đang có những tiêu cực vào bậc nhất thế giới. Theo “Tư liệu báo chí” số 10, của báo Giải Phóng Quân năm 2009: Trung Quốc có số quan tham cao nhất thế giới; số lượng quan lại đông nhất thế giới; giá thành việc hành chính cao nhất thế giới; chi phí công quỹ nhiều nhất thế giới; số người chết vì các loại tai nạn cao nhất thế giới; số vụ dối trá, lừa gạt, làm hàng giả, hàng nhái đứng đầu thế giới. Tác giả cho rằng nguy cơ chết người là “giới tinh anh chính trị” tài cán tầm thường, đặc quyền đặc lợi. Các Tổng thống Mỹ đều phải công khai tài sản, hi vọng quan chức Trung Quốc cũng sẽ phải đi qua cửa ải khai báo tài sản, một yêu cầu của trào lưu thế giới.

Tác giả nhận định, Trung Quốc phải giải quyết được 3 mâu thuẫn lớn: Thứ nhất là mâu thuẫn với thiên nhiên: ”Trung Quốc đang ăn hết cả thế giới và gây tai họa môi trường toàn cầu. Thứ hai là mâu thuẫn giữa người với người: Tình trạng căng thẳng giữa người giàu với người nghèo ngày càng tăng; căng thẳng giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ đã lên tới mức cao nhất kể từ thời lập quốc; thứ ba là mâu thuẫn với thế giới”: Trung Quốc đang bị toàn thế giới xem là một nước không có dân chủ, chưa có kinh tế thị trường, đang đe dọa khu vực và toàn cầu.

Nhân dân Việt Nam mong muốn nhà cầm quyền Bắc Kinh sớm nhận ra và có biện pháp khắc phục được 3 mâu thuẫn lớn trong Thuyết Trung Quốc sụp đổ, trở thành “giới chính trị tinh anh”, từ bỏ tham vọng bành trướng bá quyền, biết đâu là lợi ích chân chính của nhân dân Trung Quốc, biết phải làm gì để xây dựng được tình hữu nghị tốt đẹp với các nước láng giềng, tôn trọng “16 chữ vàng” đã cam kết với Việt Nam, thực hiện được “Giấc mơ Trung Quốc”.

 

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 8-8-12

Thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu: Báo động đỏ – TS

9 Th8

Thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu: Báo động đỏ

Trần Xuân Hoài
 
Những con số khách quan do Tổ chức sở hữu trí tuệ toàn cầu (World Intellectual Property Organization – WIPO thuộc LHQ) công bố tưởng như vô hồn đã nói lên rằng trí tuệ quốc gia Việt nam đang ngụp lặn ở nửa dưới của thế giới và với xu hướng ngày càng chìm sâu, thụt lùi xa so với láng giềng.

Hệ thống Đổi mới/Sáng tạo quốc gia – Nguồn gốc tạo nên  trí tuệ của đất nước

Khi người cha già yếu vẫn vắt sức làm cửu vạn, còn bà mẹ bệnh tật chạy bới từng thùng rác kiếm từng đồng lẻ, cắn răng để nuôi con ăn học, chỉ với một ước nguyện duy nhất là mong con có được trí tuệ để đổi đời, không còn phải bán thân, bán sức như đời bố mẹ chúng, thì ông bà già tội nghiệp đó hiểu hơn ai hết sức mạnh và sự cần thiết của trí tuệ đối với một con người. Một quốc gia muốn “đổi đời” cũng cần có trí tuệ. Nhưng trí tuệ của một quốc gia không phải đơn thuần là phép cộng của trí tuệ từng con người, nó là do cả một hệ thống tạo lập nên. Đó chính là Hệ thống đổi mới / sáng tạo của quốc gia (national innovation system -NIS), trong đó trí tuệ của từng con người là một thành tố. NIS được định nghĩa là hệ thống các chủ thể và các mối tương tác với nhau của các chủ thể đó, bao gồm tổ chức nhà nước, các cơ sở nghiên cứu, các doanh nghiệp công và tư (lớn hoặc nhỏ), các trường đại học và các cơ quan chính phủ, nhằm mục đích sản sinh các sản phẩm sáng tạo, các sản phẩm khoa học và công nghệ (S&T) trong khuôn khổ lãnh thổ một quốc gia. Các mối tương tác giữa các chủ thể này bao gồm các vấn đề thuộc về chính sách, kỹ thuật, thương mại, pháp lý, xã hội và tài chính của các hoạt động đổi mới /sáng tạo dưới các dạng thức như sự phát triển, bảo hộ, tài trợ hoặc quy phạm…

Từ năm 2007, WIPO đã cùng một số đại công ty, tổ chức phi chính phủ cho ra đời hệ thống Chỉ số Đổi mới/Sáng tạo toàn cầu – Global Innovation Index (GII) và lập ra bảng xếp hạng hằng năm của các quốc gia trên thế giới.

Định nghĩa của sự đổi mới/sáng tạo nay đã mở rộng, nó không còn giới hạn với các phòng thí nghiệm R&D hoặc với  việc xuất bản các bài báo khoa học, mà còn bao gồm cả những đổi mới/sáng tạo về tổ chức quản lý xã hội cũng như đổi mới/sáng tạo mô hình kinh doanh. Đổi mới /sáng tạo được thể hiện ở đầu vào và đầu ra của cả một quốc gia. Đó là một chỉ số đánh giá về trí tuệ, về hoạt động và thành quả của hoạt động trí tuệ con người, không phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, về tài sản thừa kế, vay mượn, cướp bóc hay những may mắn bất ngờ nào cả [1].

Đổi mới/sáng tạo là động lực quan trọng cho sự tiến bộ kinh tế và sức cạnh tranh đối với các nước đã phát triển cũng như đang phát triển. Nhiều Chính phủ đang đặt sự đổi mới/sáng tạo thành trung tâm của chiến lược phát triển.

Thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu

Năm 2011 chúng ta vui mừng trên bảng chỉ số Đổi mới/sáng tạo toàn cầu Việt Nam ngoi lên được trên trung bình đứng thứ 51 trong 125 nước. Niềm vui ngắn chẳng tầy gang, 2012 ta lại tụt sâu xuống nửa dưới của thế giới, thứ 76 trên 141 nước! Nhìn lại quá trình từ 2007 khi bắt đầu có sự đánh giá thì tình hình còn bi đát hơn, chẳng những kém cỏi mà xu hướng là suy giảm liên tục. Sự ngoi lên năm 2011 có thể là ngẫu nhiên, không phải là thực chất như sẽ phân tích về điểm số ở phần dưới. Thứ bậc đơn lẻ chưa nói lên điều gì nhiều, cần phải có sự so sánh với bạn bè xung quanh thì mới biết ta đang ở đâu. Bảng 1, liệt kê thứ bậc và điểm số đánh giá của Việt Nam và các nước lân bang [2,3].

Bảng 1: Thứ bậc, Điểm đánh giá Chỉ số Đổi mới /Sáng tạo của Việt nam và các nước xung quanh

Năm Số nước Điểm  cao nhất Việt Nam  Malaysia Singapore Thailand
Điểm Bậc Điểm Bậc Điểm Bậc Điểm Bậc
2008 153 5.8 2.38 65 3.47 26 4.1 7 3.01 34
2009 130 5.28 2.97 64 4.06 25 4.81 5 3.4 44
2010 132 4.86 2.95 71 3.77 28 4.65 7 3.06 60
2011 125 74.1 36.71 51 44.05 31 74.11 1 43.33 48
2012 141 68.2 33.9 76 45.9 64.8 64.8 3 36.9 57


Vì tổng số nước được đánh giá hàng năm là khác nhau,cho nên không thể lấy thứ hạng tuyệt đối hàng năm để so sánh sự lên xuống của một nước, mà phải có một thước đo thống nhất. Chúng ta sẽ chia thế giới làm hai nửa bằng nhau, lấy đường phân chia làm gốc số không,thứ hạng được tính là bao nhiêu bậc trên (+) hoặc dưới (-) trung bình (số không). Thế vẫn chưa ổn, vì mỗi nửa hàng năm có tổng số bậc khác nhau, nên ta phải quy ra thành mỗi nửa đều có 100 bậc, và thứ bậc của mỗi nước hàng năm được quy thành số phần trăm trên (+) hoặc dưới (-) trung bình. Nói một cách hình ảnh, nếu thường xuyên ngụp lặn ở dưới mức trung bình thì nguy cơ được xem là một quốc gia thiểu năng trí tuệ chắc khó tránh khỏi.

 


Trên hình 1 ta có thể thấy trực tiếp sự kém cỏi của ta so với Malaysia cũng như Thailand, còn Singapore thì ở mức quá cao, so sánh thứ bậc chẳng có ích gì nữa.

Thứ hạng chỉ số đổi mới/sáng tạo của các nước có lúc tăng lúc giảm, nhưng khuynh hướng là tăng và luôn luôn trên trung bình, còn Việt Nam ta chủ yếu là ở nửa dưới, nhấp nhổm ngoi lên trên trung bình đôi chút, mà khuynh hướng nói chung là càng ngày càng giảm. Sự tăng đột biến năm 2011 có lẽ là nhờ năm đó chỉ có 125 nước tham gia xếp hạng, thấp nhất trong các năm.

Thứ hạng cho ta sự so sánh với cộng đồng, và căn cứ để xếp hạng là điểm số. Chính điểm số đánh giá chất lượng của thứ hạng. Tuy nhiên, việc chấm điểm hàng năm có thể khác nhau, thang điểm cũng có thể khác nhau, cho nên không có cách nào định điểm trung bình làm gốc. Chúng ta chỉ có thể lấy một nước nào đó để làm mốc so sánh chúng ta với nước đó hàng năm. Singapore là nước luôn nằm trong tốp 10 thế giới và số 1 châu Á. Vì vậy, hãy so sánh điểm số của Việt Nam với Singapore, ít nhất cũng cho ta cảm nhận Việt Nam được bao nhiêu phần của Singapore và khoảng cách đó giảm hay tăng. Nhìn vào hình 2, thấy rõ trí tuệ sáng tạo của ta chỉ bằng trên dưới một nửa của Singapore, và càng ngày càng lùi xa. Ngay cả năm 2011 mà chúng ta vui mừng, thì qua cách đánh giá bằng điểm số, chất lượng của thứ hạng vượt lên trung bình năm đó cũng không thực chất, vì khoảng cách với Singapore về điểm số lại giãn ra chứ không thu hẹp như vị trí thứ hạng.

 


Thật là đáng buồn khi những con số khách quan, tưởng như vô hồn đó lại đã nói lên rằng trí tuệ quốc gia Việt Nam đang ngụp lặn ở nửa dưới của thế giới và với xu hướng ngày càng chìm sâu, thụt lùi xa so với láng giềng, nếu cứ đà này tiếp diễn thì nguy cơ dẫn đến mức Việt Nam trở thành quốc gia trí tuệ kém phát triển là nhãn tiền!

Phải chăng trí tuệ của con người và dân tộc Việt Nam thấp?

Như đã biết, Chỉ số đổi mới toàn cầu (GII- Global Innovation Index) được tính theo hai nhóm chỉ số con, là nhóm các chỉ số đổi mới/sáng tạo đầu vào và nhóm các chỉ số đầu ra. Có tổng cộng 7 tiêu chí (gốc) cơ bản.

Năm tiêu chí gốc tạo nên nhóm đầu vào (Innovation Input) đều gắn chặt với các yếu tố quản lý điều hành nhà nước và môi trường hoạt đông kinh tế quốc dân, tạo tiền đề cho các hoạt động đổi mới/sáng tạo. Đó là: (1) Các tổ chức nhà nước, (2) Nguồn lực con người, (3) Cơ sở hạ tầng, (4) Độ chín của thị trường, và (5)  Mức hoàn thiện của kinh doanh.

Hai tiêu chí gốc hợp lại thành nhóm Đầu ra của  đổi mới/sáng tạo (Innovation Output) [1]  gồm: (6) Kết quả khoa học (Scientific outputs), (7) Thành quả sáng tạo (Creative outputs) .
Để tìm hiểu xem, nguyên nhân nào làm cho trình độ Đổi mới /Sáng tạo của Việt Nam kém cỏi như vậy, ta hãy xem xét vài tiêu chí cơ bản có ảnh hưởng nhiều nhất.

Nhóm đầu ra gồm kết quả khoa học và các thành quả của sáng tạo. Đó là những tiêu chí phản ảnh trí tuệ cũng như cách vận dụng trí tuệ để tạo ra kết quả sáng tạo. Nếu những tiêu chí này thấp tức trình độ trí tuệ con người ở đó thấp. Trong các tiêu chí đầu vào, thì hai tiêu chí về Các tổ chức Nhà nước (Institutions) và Nguồn vốn con người (Human Capital/Capacity) là rất quan trọng. Chẳng hạn về tổ chức, người ta phải đánh giá 3 tiêu chí nhánh: Môi trường chính trị, Môi trường điều hành, Môi trường kinh doanh. Đây đều thuộc về trách nhiệm của tổ chức nhà nước. Về Nguồn vốn con người thì phải đánh giá đến Giáo dục phổ thông, Đào tạo Đại học và dạy nghề, Nghiên cứu và triển khai. Việc đầu tư và chăm lo cho những nhiệm vụ này cũng là trách nhiệm chính của các cơ quan quản lý nhà nước. Những tiêu chí này tạo tiền đề cho Đổi mới /sáng tạo. Nếu những tiêu chí này thấp, thì Chỉ số Đổi mới sáng tạo không những không cao mà còn bị kéo thấp xuống. Có nghĩa làm trí tuệ của đất nước thụt lùi. Bảng 2 là số liệu của thế giới đánh giá Việt Nam về mặt Tổ chức, Vốn con người và Đầu ra đổi mới/sáng tạo [2,3].

Bảng 2 : Việt Nam – Điểm và thứ hạng của các tiêu chí Tổ chức, Vốn con người và Đầu ra sáng tạo

Năm Số nước xếp hạng Tổ chức nhà nước Vốn về con người Đầu ra sáng tạo
Điểm Bậc Điểm Bậc Điểm Bậc
2009 130 3.38 99 3.82 69 2.52 63
2010 132 3.47 113 3.27 92 2.38 67
2011 125 54.9 84 31.7 85 33.34 42
2012 141 40.9 112 26.1 107 30.8 59

Chúng ta cũng sử dụng phương pháp chuẩn hóa số liệu như trình bày ở phần trên, và kết quả có một hình ảnh trực quan về ba yếu tố này như trình bày ở hình 3. Không khó khăn để nhận ra rằng chỉ số về Tổ chức và Nguốn vốn con người của Việt Nam chẳng những dưới trung bình mà có lúc còn nằm gần sát đáy nửa dưới. Trong lúc chỉ số đầu ra, đánh giá năng lực con người Việt Nam thì luôn nằm khá cao ở nửa trên của thế giới. Rõ ràng là trí tuệ của con người và dân tộc Việt Nam không hề thấp.

 

Nguyên nhân khiến chỉ số về trí tuệ của Việt Nam đang ngày càng thụt lùi không phải do con người Việt Nam kém cỏi mà là do sự bất cập của Tổ chức quản lý nhà nước và  sự yếu kém trong chăm lo đầu tư cho Vốn con người.

Thay lời kết

Cộng đồng quốc tế phải thu thập phân tích hàng vạn số liệu, và chúng ta phải nghiền ngẫm hàng ngàn trang giấy, xây dựng mô hình tính toán xử lý hàng ngàn con số vô hồn chỉ để đưa ra một kết luận giản đơn ai cũng biết cả, về nguyên nhân yếu kém của hệ thống Đổi mới / sáng tạo quốc gia của Việt Nam. Nhìn lại thấy việc làm này thật là “ngớ ngẩn”, vì chỉ cần liếc mắt đã có thể dễ dàng thấy hiện tượng này khắp nơi. Chẳng hạn như ở vùng sâu, tận cuối đồng bằng sông Cửu Long, thầy Hải cùng 3 học trò trường THPT An Lạc Thôn (Kế Sách, Sóc Trăng) mày mò tự bỏ tiền của công sức sáng tạo nghiên cứu thành công  công trình “Thu giữ dầu loang bằng thảm vỏ tràm”, rất hữu ích và đạt được giải thưởng. Không có tiền làm lộ phí đi nhận thưởng, thầy trò đăng báo xin tài trợ. Số tiền chắc không bằng một bữa nhậu của quan chức địa phương .Nhưng thầy trò chẳng những không nhận  được sự hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cũng như đi lại của chính quyền, thay vào đó là bị huyện yêu cầu kiểm điểm vì dám công khai xin tài trợ (làm xấu mặt quan chức) [4].

Đó chỉ là chuyện ở một nơi xa xôi hẻo lánh, dân trí và trình độ cán bộ còn thấp, bàn đến chuyện Đổi mới/Sáng tạo làm gì. Thế nhưng chuyện một vị giáo sư, Hiệu trưởng một trường Đại học hàng đầu ở Hà nội đã thở dài mà than “… Hà Nội vừa mới mua mấy trăm cái iPad thời thượng (hết hơn 3 tỷ!) để phát cho Đại biểu HĐND [5] mỗi người một cái (để làm gì…?). Trong khi đó cả năm nay, trường Đại học chúng tôi không được kho bạc Hà Nội giải ngân cho một xu để mua máy tính cho Sinh viên,Thầy giáo sử dụng cho học tập và nghiên cứu. Lý do họ bảo là phải tiết kiệm đầu tư công!”, thật đáng để suy ngẫm!

Khi một đất nước được xem là kém cỏi trong Đổi mới/Sáng tạo, thì đồng nghĩa với việc đất nước ấy không thể tự phát triển được. Nó chỉ tồn tại được bằng cách bán cho đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, vắt cho đến cùng cực sức cơ bắp để làm thuê cho người khác. Khi những thứ đó không còn nữa thì sao?

Tài liệu tham khảo:

[1] Thứ bậc của Trí tuệ Việt Nam trong bảng xếp hạng toàn cầu http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid= 111&CategoryID=2&News=4227

[2] 2012 Rankings  http://www.globalinnovationindex.org/gii/main/2012rankings.html

[3] Previous Editions http://www.globalinnovationindex.org/gii/main/previous/

[4] Nỗi buồn thầy giáo bị kiểm điểm vì ‘làm bẽ mặt’ địa phương http://www.tienphong.vn/xa-hoi/583547/ Noi-buon-thay-giao-bi-kiem-diem-vi-lam-be-mat-dia-phuong-tpp.html

[5] Đại biểu HĐND Hà Nội dùng iPad nghìn USD để làm gì? http://vtc.vn/2-340630/xa-hoi/dai-bieu-hdnd-ha-noi-dung-ipad-nghin-usd-de-lam-gi.htm

 
 

Nghĩ về vai trò Phật giáo trong cuộc sống của đất nước hôm nay (I) – VHNA

9 Th8

Nghĩ về vai trò Phật giáo trong cuộc sống của đất nước hôm nay (I)

Nguyễn Đình Chú

 

 

 I. Từ một thực tiễn trái chiều của đất nước

Không ai chối cãi được rằng: đất nước của vua Hùng hôm nay đang giàu lên, nhiều mặt văn minh lên, nhưng đồng thời cũng đang suy thoái về đạo đức. Cuộc tương tranh giữa cái Thiện và cái Ác đang diễn ra gay gắt chưa từng có trong lịch sử đất nước. Về cơ bản, cái Thiện, cái Tốt vẫn tồn tại nhưng lại đang hao hụt dần và không đủ sức mạnh để đè bẹp cái ác, cái xấu xuống. Không ngày nào, báo chí, các cơ quan truyền thông đại chúng không nói đến những hiện tượng vô đạo.

Ấy là chưa kể đến những thứ vô đạo còn được ngụy trang, ẩn núp sau những thứ đạo đức giả, có mặt ở mọi nơi mọi chốn, cả ở những nơi đáng ra phải thật trong lành, thánh thiện, làm đau lòng cả xã hội. Phải chăng, thực tiễn đất nước ta cũng ít nhiều đang là dẫn chứng cho điều mà thi sĩ Tản Đà trong Giấc mộng con tập I viết cách đây hơn chín mươi năm, đoạn thi sĩ đến chơi Cõi đời mới nhìn về Cõi đời cũ nơi mình sinh sống mà có nhận xét rằng: “sự văn minh càng tiến hóa bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hóa bấy nhiêu”. Nguyện vọng thiết tha, lớn lao và cháy bỏng của toàn dân là phải làm sao vãn hồi được đạo đức chưa nói là xây dựng đạo đức mới. Nhà nước cũng đã có nhiều chủ trương chính sách để bảo vệ đạo đức nhưng xem ra hiệu quả chưa là gì đáng kể trước đà suy thoái của nó. Năm 2000, người viết đã có bài: “Mối quan hệ cân đối giữa sự giàu có và đạo lý, bài toán khó của văn hóa Việt Nam ở thế kỷ XXI”(1). Trong đó, có nguyện vọng được Đảng Cộng sản Việt Nam ra một nghị quyết riêng về vấn đề đạo đức Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa để vào cuối XXI, con cháu Việt Nam sẽ reo lên: Đảng Cộng sản Việt Nam tài giỏi thật, vừa làm được cho đất nước cả ở hai phương diện giàu có và đạo đức. Muốn có nghị quyết đó, trước hết phải tách khái niệm đạo đức khỏi các khái niệm văn hóa văn minh đã được nói nhiều trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Bởi lẽ giữa các khái niệm đó tuy có nội hàm liên quan mật thiết với nhau nhưng không phải là một. Phải tách riêng khái niệm đạo đức để có nghị quyết riêng về đạo đức. Nghị quyết đạo đức muốn có sức sống thực sự thì dứt khoát phải đi qua con đường nghiên cứu khoa học đích thực. Trong đó, về mặt lý thuyết, nhận thức, phải tường minh và rất khách quan về các mối quan hệ giữa đạo đức với kinh tế, đạo đức với chính trị, đạo đức với pháp luật, đạo đức với tôn giáo… Mặt khác, cũng phải nhận thức lại cho tường minh về đạo đức truyền thống vốn có liên quan với các học thuyết Nho, Phật, Đạo…để biết rõ đâu là điều tốt lành cần cho sự sống hôm nay, đâu là chỗ chưa có mà hôm nay phải bổ sung, chứ không thể nói chung chung và nói những điều đã quá quen thuộc nhưng chưa đủ độ tường minh. Đặc biệt, cần có sự thức tỉnh trước sự mai một của đạo đức truyền thống do sự áp đảo khá tai hại của phương Tây đối với phương Đông trong đó có Việt Nam ta trên phương diện văn hóa và tinh thần(2) mà xem ra đến nay vẫn áp đảo nhưng chúng ta thì chưa tỉnh. Mặt khác, cũng phải nhận ra sự gián cách lịch sử do có sự thay chữ viết từ Hán Nôm sang chữ quốc ngữ, tuy cái được là to lớn nhưng cái mất cũng không nhỏ(3). Vị cố đạo Pháp là Pujinier, người từng rất hăng hái cổ động chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương nhanh chóng thay chữ Hán Nôm bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ, chẳng đã nói: thay chữ viết là thay cả một nền văn hóa. Về sau, vào năm 1943, Toàn quyền Đông Dương là Decoux còn nói trực tiếp hơn rằng: “Bỏ Hán Nôm, dạy chữ quốc ngữ là một tội ác vì nó cắt đứt con cháu với quá khứ văn hóa tinh thần dân tộc của họ”(4).

Để có phương hướng vãn hồi đạo đức, điều quan trọng nữa là phải tìm ra nguyên nhân sâu xa của sự suy thoái đạo đức vốn không phải là chuyện đơn giản. Bởi lẽ sự suy thoái này lại có liên quan tới nhiều qui luật mang tính chất hai mặt của cuộc sống hiện đại trên đất nước. Đó là:

1. Qui luật về sự hội nhập thế giới đang là một qui luật hàng đầu của sự sống hôm nay trong đó vừa là thuận lợi, cần thiết vừa là nguy cơ, bất lợi. Đã có khẩu hiệu tối ưu là “hòa nhập mà không hòa tan”. Nhưng thực tế hiện tượng hòa tan là điều khó chối cái. Trong sự hòa tan, có phần dẫn đến sự suy thoái đạo đức,

2. Qui luật về mối quan hệ giữa yêu cầu làm giàu và đạo đức mà thực tế đã có độ vênh như đã nói. Điều mà đạo Nho đã cảnh báo nhân loại từ mấy ngàn năm trước rằng “phi thương bất phú”, “vi phú bất nhân” không phải là sự thật ư, dù ít dù nhiều. Chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh các nhà doanh nghiệp đang ra sức làm giàu cho bản thân nhưng cũng là cho đất nước, đặc biệt có nhiều người còn làm từ thiện lớn lao. Nhưng sự vô đạo trong kinh tế thị trường thì ai dám chối cãi.

3. Qui luật về sự cạnh tranh sinh tồn vốn thuộc học thuyết Tiến hóa luận của Darwin, cũng là vừa khốn nạn vừa cần thiết. Khốn nạn là ở chỗ cá lớn nuốt cá bé, vô đạo. Nhưng muốn phát triển sự sống, lại không thể không đi theo qui luật cạnh tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua. Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô thất bại, nhìn từ góc độ triết học, chính là vì đã không chịu đi với qui luật này. Các chí sĩ yêu nước của Việt Nam ở đầu thế kỷ XX đã thừa nhận qui luật đó. Đến thời đại Mácxit, không thấy nói đến nó nữa. Nhưng có đúng là trên đất nước ta hôm nay, qui luật cạnh tranh sinh tồn đang làm mưa làm gió ở khắp mọi lãnh vực mà chính mặt trái của nó đã dẫn đến sự suy thoái đạo đức đó không?

4. Qui luật về sự trỗi dậy của con người cá thể, cái Tôi (L’individu), vốn cũng có hai mặt. Bởi từ một đối tượng là con người cá thể nhưng trong thực tiễn cuộc sống nhân loại, lại đã có hai trạng thái: a) cái Tôi chân chính vốn là tế bào làm nên các hình thức cơ thể xã hội, cần được chăm sóc cho nó khỏe để có các cơ thể khỏe, cho nên đang rất cần thắp hương cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy được ngày nào là đất nước được nhờ ngày ấy. b) Cái Tôi vị kỷ, ích kỷ (L’individualisme) chỉ biết vụ lợi cá nhân một cách vô đạo, cần tiêu diệt được sớm phút nào thì đỡ khổ cho nhân dân phút đó. Suy cho cùng, mọi thứ xấu xa vô đạo trong cuộc sống của đất nước hôm nay – điển hình nhất, vô đạo nhất – là sự tham nhũng đã được coi là quốc nạn – chính là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân phi nhân bản(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng đất nước bằng sự kết hợp đức trị và pháp trị trên cơ sở nền tảng là đức trị do đó đã rất quyết tâm chống chủ nghĩa cá nhân.

Đúng là “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán”(6), bắt nhân loại phải sống với những qui luật khắc nghiệt mang tính chất hai mặt như thế. Vấn đề đặt ra với nhân loại là vừa phải chấp nhận qui luật vừa phải biết phát huy vai trò chủ thể của con người để hạn chế bớt mặt trái của qui luật. Việc vãn hồi đạo đức cho đất nước phải được đặt trong trạng thái chung mang tính tất yếu khách quan, hai mặt và nghiệt ngã đó.

II. Nghĩ về vai trò của Phật giáo

Một thực tiễn trái chiều của đất nước đã diễn ra như thế và nguyên nhân dẫn đến sự trái chiều vốn phức tạp là như thế. Do đó, đã đến lúc phải làm sao để cả nước cùng ào ạt ra quân nhằm vãn hồi đạo đức. Trong đó, phải nói đến vai trò của những nhà lãnh đạo đất nước trước lịch sử dân tộc. Tiếp đó là sự tham gia của mọi người, mọi nhà, mọi tầng lớp, mọi ngành trong xã hội kể từ chính trị học cho đến văn hóa học, giáo dục học, khoa học, triết học, đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, phong tục học… bằng cả hai hướng vừa có lý thuyết vừa có biện pháp hữu hiệu và kết hợp lý thuyết với biện pháp sao cho đích đáng, và có hiệu quả. Đặc biệt cần nhớ cho rằng trong cuộc ra quân tổng lực nhằm vãn hồi đạo đức này, nhất thiết không được coi nhẹ vai trò của tôn giáo, mặc dù tôn giáo không thay thế được mọi chuyện. Từ cách đặt vấn đề như thế, ở đây, người viết bản tham luận này xin nói riêng về Phật giáo.

1, Hẳn mọi người đều đã nhận biết rằng trong muôn loài thì chỉ loài người có tôn giáo. Phải thấy rằng, tôn giáo nói riêng, tín ngưỡng nói chung là một năng lực người. Đã là một năng lực người thì con người phải biết cách đối xử tỉnh táo, khách quan, kể cả trân trọng nó. Chúng ta đều biết, bản chất sự sống của loài người là ham muốn. Không ham muốn là không còn sự sống. Người mất trí, người điên là vậy. Nhưng tạo hóa lại đã bắt loài người phải đương đầu với một sự thật nghiệt ngã mang tính khách quan, bất khả kháng, là giữa ham muốn và kết quả đạt được muôn đời vẫn là một khoảng cách. Chính từ khoảng cách này mà nảy sinh tín ngưỡng, cầu mong sự phù hộ của một lực lượng siêu nhiên nào đó ngoài sự sống trần gian. Từ đây mà có tín ngưỡng, mà tôn giáo lần lượt ra đời với giáo hội này giáo hội khác. Tôn giáo ra đời còn là bởi loài người với bản tính tự nhiên đều ham muốn hạnh phúc mà hạnh phúc chỉ có một khi có cái thiện. Nhưng thực tế không bao giờ có trọn cái thiện mà ngược lại vẫn có cái ác. Do đó loài người bằng năng lực người phải tạo ra tôn giáo để hướng con người vào cõi thiện, hạn chế cõi ác. Tôn giáo nào cũng có phần đạo và phần đời. Về phần đời thì cũng phức tạp, không đơn thuần là tốt đẹp cả. Nhưng phần đạo thì bản chất là tốt đẹp mặc dù vẫn có sự bất cập này khác trước yêu cầu của cuộc sống thiên hình vạn trạng của loài người.

Sự tồn tại của tín ngưỡng và tôn giáo, nói chung là đời sống tâm linh, giữa các cá thể người cũng như giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giời vốn không đồng đều nhau. Nếu so sánh phương Đông (trong đó có Việt Nam ta) với phương Tây ở thời cổ trung đại thì có thể nói rằng ở phương Đông thiên về duy linh, nên có đời sống tâm linh đặm đặc, bề thế hơn ở phương Tây thiên về duy lý, duy vật. Các sử gia thường nói đến sự khác nhau giữa phương Đông có truyền thống đức trị khác phương Tây có truyền thống pháp trị là từ sự khác nhau đó. Các khái niệm như chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần là sản phẩm của tư duy phương Tây chứ không phải của phương Đông. Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần truyền thống mà trên có nói tới đã làm cho chính người phương Đông trong thời hiện đại có nhiều điều tỏ ra không hiểu đúng giá trị tâm linh trong sự sống của tổ tiên xưa nữa. Một ví dụ: về khái niệm ông vua. Có đúng là người đời nay khi nói đến ông vua thì chỉ nghĩ đó là người có quyền uy tối thượng, ăn trên ngồi trốc thiên hạ. Tốt thì trăm họ được nhờ. Xấu thì muôn dân phải chịu. Như thế là lạc hậu so với ông Tổng thống cai quản đất nước bằng hiến pháp, luật pháp thuộc chính thể tư sản đại nghị. Cách hiểu đó là sai về cơ bản ví đã hữu ý hay vô tình vừa bỏ mất vừa hiểu sai một khái niệm quan trọng là thiên tử (con trời) và thiên tử là thế thiên hành đạo (thay trời thực hành đạo lý cho muôn dân trăm họ). Như thế, vua chưa hẳn là người có quyền uy tối thượng bởi quyền uy tối thượng là ở ông Trời. Và ông trời quả là một biểu tượng siêu hình nhưng không phải như ai đó xơi phải lý thuyết duy vật thô sơ, lý thuyết vô thần từ phương Tây đến mà cho rằng nó là vô nghĩa, là chuyện tạo thần quyền để tăng sức mạnh cho quân quyền. Trong khi, nó là siêu hình nhưng lại có ý nghĩa thực tiễn vô cùng lớn lao, thậm chí còn lớn lao hơn cả công năng của hiến pháp của chế độ tư sản đại nghị. Nó ngự trị thường trực trong tâm trí ông vua để theo dõi, để uốn nắn, không chỉ với hành động mà còn là ý nghĩ riêng tư thầm lặng của ông vua để hướng ông vua theo sứ mạng thế thiên hành đạo. Tác dụng lớn lao như thế sao lại bảo là vô nghĩa.

Nước Việt Nam ta trước khi có cuộc giao lưu với phương Tây đã có một đời sống tâm linh vô cùng bề thế, trong đó không phải không có mặt sai trái, lạc hậu nhưng mặt tích cực vẫn là chính. Khí quyển đạo đức đậm đặc có được ở thời cổ trung đại một phần cơ bản là nhờ có đời sống tâm linh đậm đặc đó. Còn sau này, không ít người đã nông nổi, cũng có thể nói là dại dột chạy theo những thứ lý thuyết vu vơ này khác, rồi nhân danh xây dựng đời sống mới, mà phá hoại nhiều phong tục cổ truyền tốt đẹp của đất nước, phá hoại đền chùa miếu mạo, coi rẻ đời sống tâm linh, ít nhiều kỳ thị tôn giáo, mà thực tế đã góp phần không nhỏ vào sự suy thoái đạo đức làm đau lòng như thế.

Câu chuyện tâm linh vốn là một vấn đề vô cùng phong phú, kể cả huyền diệu và bí ẩn nữa. Ở đây chỉ nói qua như thế để nói rằng, nếu thực sự muốn vãn hồi đạo đức cho đất nước, trong trăm phương ngàn kế, không thể không đặt lại vấn đề khai thác tính năng của các tôn giáo trên cơ sở nhận thức về đời sống tâm linh, về vai trò của tôn giáo một cách tường minh, sâu sắc hơn nhiều nữa. Đành rằng, chính sách của nhà nước về tôn giáo được ghi trên văn bản thì đã đúng đắn. Nhưng khoảng cách từ chủ trương đến thực tiễn vốn là điều không đơn giản. Phải có cảm hứng tôn giáo mãnh liệt hơn nữa để chính sách còn được cụ thể hóa thêm và có khả năng đi vào cuộc sống nhiều hơn nữa.

Còn nữa, kỳ sau đăng tiếp

 

Tình hình chính trị Trung Quốc và vấn đề biển Đông – PLTP

9 Th8

Tình hình chính trị Trung Quốc và vấn đề biển Đông

 
Các nhà lãnh đạo đảng ở Trung Quốc đang lo ngại mất dần quyền kiểm soát đối với các tướng quân đội trong khi các tướng đang muốn có ảnh hưởng nhiều hơn trong công tác chính trị và hoạch định chính sách quốc gia.

Báo New York Times (Mỹ) ngày 7-8 (giờ địa phương) đã nhận định như trên trong bài phân tích với nhan đề “Đảng tức giận vì quân đội muốn thêm quyền lực ở Trung Quốc”.

Bài viết dẫn nguồn tin từ nội bộ quân đội Trung Quốc thuật lại vào đầu năm nay, giới lãnh đạo quân đội Trung Quốc đã tổ chức một bữa tiệc chiêu đãi có Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tham dự.

Phó Tổng tham mưu trưởng Chương Tẩm Sinh trong lúc ngà ngà say đã đùng đùng nổi giận chỉ trích âm mưu cản trở đề cử ông vào Quân ủy trung ương. Thậm chí ông đã xô ra một sĩ quan cấp tướng đến nâng ly chúc sức khỏe ông. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã tức giận rời khỏi bữa tiệc.

Bài viết cho rằng đây chỉ là một trong hàng loạt sự kiện xảy ra trong năm nay cho thấy các tướng quân đội Trung Quốc muốn có tiếng nói nhiều hơn trong công tác chính trị.

Một học giả chính trị ở Trung Quốc giấu tên cho biết các nhà lãnh đạo đảng nhận ra rằng thái độ bày tỏ quan điểm của quân đội về các vấn đề chính trị đã lên đến mức báo động. Ví dụ như một số tướng quân đội và đô đốc hải quân đã lớn tiếng kêu gọi chính phủ cần phải khẳng định hơn nữa quyền kiểm soát ở biển Đông hoặc giả mối quan hệ đáng lo ngại giữa một số tướng lĩnh và nguyên bí thư Thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai.

Bài viết dự đoán Chủ tịch Hồ Cẩm Đào có thể sẽ tiếp tục giữ chức chủ tịch Quân ủy trung ương thêm hai năm nữa sau đại hội đảng sắp tới vì đảng cần duy trì ổn định đối với quân đội. Từ tháng 9-2004, khi ông Hồ Cẩm Đào bắt đầu phụ trách Quân ủy trung ương, ông đã thăng hàm đại tướng cho 45 người, trong đó có bốn người được cơ cấu vào Quân ủy trung ương.

Trong khi đó, bài viết ghi nhận một số tướng có thể cảm thấy gần gũi hơn với Phó Chủ tịch Tập Cận Bình. Trong quá trình thăng tiến, ông Tập Cận Bình gắn bó nhiều với quân đội.

Ông là con trai của Phó Thủ tướng Tập Trọng Huân, từng là thư ký cho Bộ trưởng Quốc phòng Cảnh Biểu. Bà Bành Lệ Viện, vợ ông, mang quân hàm thiếu tướng quân đội.

Trước khi được bổ nhiệm vào chức phó chủ tịch Quân ủy trung ương, ông Tập Cận Bình quan hệ khăng khít với nhiều tướng lĩnh, trong đó có tướng Lưu Nguyên, con của Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ và tướng Lưu Á Châu, con của Phó Chính ủy Cục Hậu cần quân khu Lan Châu, tỉnh Cam Túc.

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã thăng hàm đại tướng cho Lưu Nguyên và Lưu Á Châu lần lượt vào năm 2009 và 2012. Báo New York Times nhận định đây là một trong nhiều cách Chủ tịch Hồ Cẩm Đào kiểm soát các tướng lĩnh vốn là con cái các bậc lão thành cách mạng.

LÊ LINH

 

Căng thẳng Biển Đông ‘sẽ dai dẳng’ – VNE

9 Th8

Căng thẳng Biển Đông ‘sẽ dai dẳng’

Việc Bộ ngoại giao Mỹ ra tuyên bố về các bước đi của Trung Quốc đánh dấu mối lo ngại công khai của Washington trước nguy cơ khó kiểm soát các ngòi nổ đang ẩn nấp ở Biển Đông.

> Trung Quốc sôi sục, nói Mỹ ‘gây rối

Trong báo cáo tháng trước của Nhóm Khủng hoảng quốc tế (ICG), các học giả đã cảnh báo rằng nếu các bên không kiềm chế, xung đột có thể xảy ra trên Biển Đông. Tạp chí uy tín Foreign Policy cũng chỉ ra 5 điểm có thể gây bùng phát những xung đột quy mô nhỏ trên vùng biển giàu tài nguyên và là tuyến giao thương hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới.

Vậy nguy cơ tranh chấp biến thành xung đột ở Biển Đông đến đâu?

Tàu hải giám, lực lượng đắc lực của Trung Quốc trên Biển Đông. Ảnh: Xinhua

Nghiên cứu viên Michael Auslin của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) cảnh báo quyết định thiết lập cơ sở đồn trú của cái gọi là thành phố Tam Sa là một động thái nhằm nhấn mạnh sức mạnh quân sự, và vì thế gây lo ngại.

Theo học giả này, bằng việc thiết lập cơ sở quân sự đồn trú trên đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, Trung Quốc đã “gây căng thẳng” và khiến cho triển vọng giải quyết thông qua đàm phán về tranh chấp lãnh thổ thêm mờ mịt. Một hệ quả nữa là các nước láng giềng của Trung Quốc – vốn yếu hơn hẳn cường quốc này về mặt quân sự – sẽ chấp nhận ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á, làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột.

Minh chứng cho quan điểm này là phát biểu của nhiều học giả Trung Quốc theo phái “diều hâu”. Lý Hồng Mai, ký giả thường xuyên của mục Ý kiến bình luận của Hoàn Cầu thời báo, cho rằng kể từ sau hải chiến 1988 trên Biển Đông, Trung Quốc chưa từng tham gia xung đột lớn nào trên biển, nhưng “điều đó không có nghĩa là quân đội Trung Quốc không đủ sức tiến hành chiến tranh”, và còn khoe rằng nước này có đủ các vũ khí khí tài hiện đại.

Xu Zhirong, một thuyền phó của tàu hải giám Trung Quốc, viết trên China Eye, ấn bản tại Hong Kong của Ủy ban quỹ năng lượng Trung Quốc, rằng “Trung Quốc đang bị bao vây bởi các nước láng giềng và Mỹ”.

Cui Liru, chủ tịch Viện quan hệ quốc tế đương đại, một cơ quan nghiên cứu của Bắc Kinh có quan hệ mật thiết với giới tình báo, và thiếu tướng Luo Yuan, thiếu tướng quân đội từng công tác ở viện nghiên cứu quốc phòng đã nghỉ hưu, đều nổi tiếng với các lời lẽ rắn. Ông Sun Yun, chuyên gia chính sách an ninh về Trung Quốc làm việc tại Washington, cựu phân tích gia của ICG tại Bắc Kinh, nhận xét: “Tình hình ở Hoa Nam hiển nhiên khiến giới sĩ quan quân đội Trung Quốc tức giận. Bởi nếu PLA không bảo đảm được (cái họ tự cho là) chủ quyền ở ngay sát lãnh thổ, thì làm sao có chính danh để lượn lờ khắp thế giới?”

Va chạm hay chiến tranh?

Tuy nhiên theo Carlyle Thayer, thuộc học viện Quốc phòng Australia và là học giả uy tín về Biển Đông, quân đội giải phóng Trung Quốc (PLA) dù muốn khẳng định thêm vai trò của mình trong nền chính trị nước này, cũng không muốn kịch bản xung đột hay chiến tranh xảy ra ở Biển Đông.

“Lợi ích của Trung Quốc không nằm ở việc kích động một cuộc tranh chấp quân sự”, ông nói. Một cuộc xung đột sẽ phá tan hình ảnh mà Bắc Kinh dày công xây dựng bấy lâu về một Trung Quốc trỗi dậy trong hòa bình.

Đồng quan điểm này, Lora Saalman, nghiên cứu viên của Trung tâm Carnegie -Thanh Hoa về chính sách toàn cầu, nói: “Tôi không cho là sẽ xảy ra một cuộc chiến tranh lớn trong khu vực với sự tham gia của tất cả các bên. Nhưng tôi tin rằng nguy cơ xảy ra các va chạm hoặc xung đột quy mô nhỏ là rất có thể xảy ra”.

Trung Quốc đang mong muốn mở rộng sức mạnh quân sự để tương xứng với sức mạnh kinh tế đang vươn ra tầm toàn cầu của họ. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng với mức hai con số trong nhiều năm liền.

“Tôi cho rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển (lực lượng quân sự) nhanh, để ít nhất có thể không bị đẩy vào tình huống bất ngờ. Trung Quốc sẽ không muốn bị ở trong một cuộc khủng hoảng bất ngờ bởi họ chưa có được năng lực đối phó khủng hoảng tốt như Mỹ”, Saalman nói.

Nhà phân tíchStephanie Kleine-Ahlbrandt, giám đốc dự án Trung Quốc và Đông Á của ICG, bình luận rằng tình hình ở Biển Đông hiện nay “có quá nhiều nguy cơ gây xung đột”.

“Bắc Kinh ngày càng quyết tâm hơn bao giờ hết nhằm đảm bảo rằng các đối thủ ở Đông Nam Á không thể làm lay chuyển quyết tâm áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc

“Nguy cơ cao cộng với sự leo thang căng thẳng dẫn đến hệ quả là chỉ một bước đi sai lầm từ Trung Quốc hay các bên tham gia tranh chấp cũng sẽ dễ dàng đẩy tranh chấp lên những nấc thang mới không thể kiểm soát được”.

Trước những nguy cơ đó, tuyên bố ngày 3/8 của Bộ Ngoại giao Mỹ cho thấy “Mỹ ít nhất đã đưa ra một lời cảnh báo đến tất cả các bên không nên làm tình hình xấu thêm”, Alexander Huang, giáo sư về chiến lược tại Tamkang University ở Đài Loan, nhận xét. “Mỹ như muốn nói ‘Đừng làm gì ngu ngốc'”.

“Tất nhiên Trung Quốc sẽ không làm gì ngu ngốc”, Huang nói thêm. “Tôi không nghĩ là Trung Quốc sẽ chọn một cuộc chiến trong vòng 12 tháng tới”.

Kịch bản ‘cân bằng bấp bênh’

Theo Michal Meidan, nhà phân tích chuyên về Trung Quốc của Eurasia Group, tình trạng hiện nay sẽ kéo dài.

“Căng thẳng sẽ dai dẳng”, Meidan dự đoán. Động lực của các diễn biến trên thực địa xuất phát từ bối cảnh chuyển giao quyền lực ở Trung Quốc cũng như cuộc đua chính trị giành ghế tổng thống ở Mỹ, và cả từ dư luận bên trong Việt Nam, Philippines và các nước liên quan. Những động lực này sẽ giữ cho Biển Đông dậy sóng bởi “không một chính phủ nào muốn bị dư luận xem là yếu thế” trong cuộc tranh chấp này.

Ngoài vấn đề về chủ quyền, thì kinh tế là một trong những điều khiến Bắc Kinh đặc biệt quan tâm khi tiếp cận tranh chấp Biển Đông. Các công ty Trung Quốc muốn khai thác tiềm năng dầu và khí đốt dồi dào. Giới ngư nghiệp muốn thâu tóm các ngư trường xa bờ mới bởi các vùng nước ven bờ đang cạn kiệt. Hải quân Trung Quốc muốn sử dụng căng thẳng chủ quyền biển đảo để có được phần lớn hơn trong miếng bánh ngân sách. Các chiến lược gia “diều hâu” muốn khẳng định rõ ràng với các nước láng giềng, và cả công chúng trong nước, rằng quyền lợi của Trung Quốc không phải là thứ được đem ra bàn cãi.

Vì thế nguy cơ va chạm hoặc đụng độ đang ở mức cao, theo Meidan.

Tuy nhiên có nhiều lý do để tin rằng các đụng độ nếu có cũng sẽ được kiểm soát để không biến thành xung đột.

Thứ nhất là những cái đầu mát hơn dường như đang lấy lại trọng lượng. Các tướng lĩnh Trung Quốc sẽ ngần ngại nếu tình hình leo thang bởi điều đó sẽ đẩy các nước Đông Nam Á vào vòng tay của Mỹ. Các nước Đông Nam Á cũng hiểu rằng dù cần phải tỏ ra cứng rắn, nhưng đối đầu với Trung Quốc là điều quá nguy hiểm.

Thứ hai, những cái đầu nóng ở Trung Quốc nhận thức rõ rằng cái giá của một cuộc xung đột là quá cao, bởi nó ảnh hưởng đến kinh tế, thương mại và chính là “lời mời” Mỹ hiện diện quân sự mạnh hơn trong khu vực. Công ty dầu khí hải dương Trung Quốc, hãng có nhiều lợi ích ở Biển Đông, cũng đang đa dạng hóa địa bàn làm ăn khi mua Nexen của Canada mới đây.

“Khu vực xáo động này nếu duy trì được sự cân bằng bấp bênh thì đã là kịch bản tốt nhất cho tất cả các bên liên quan”, Meidan viết.

Sự bấp bênh thể hiện ở “một vòng xoáy hành động-phản đối trả miếng lặp đi lặp lại”, Rory Medcalf thuộc Viện chính sách Lowy, Australia, nhận xét. Theo báo cáo của Lowy, sự gia tăng quân sự hóa tranh chấp không chỉ làm cho việc giải quyết các va chạm trở nên khó khăn hơn, mà còn tăng nguy cơ xung đột vũ trang.

“Nguy cơ xung đột sẽ tăng lên nếu các tàu của lực lượng hành pháp và bán dân sự được trao thêm quyền hành trong các tranh chấp lãnh thổ, trong một môi trường thiếu các hành lang pháp lý”.

Thanh Mai

Thế giới 24h: Cảnh báo leo thang căng thẳng Biển Đông

9 Th8

Thế giới 24h: Cảnh báo leo thang căng thẳng Biển Đông

 

Indonesia cảnh báo khả năng leo thang căng thẳng trên Biển Đông nếu không có cách tiếp cận thống nhất, lụt lội vẫn hoành hành tại thủ đô Manila của Philippines, giao tranh tiếp diễn tại Syria…Đó là những tin tức nổi bật 24h qua.

Indonesia cảnh báo “nguy cơ leo thang căng thẳng” giữa các nước có cùng tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông nếu không nhất trí được một “cách tiếp cận thống nhất.”

Tuyên bố trên được đưa ra vào thời điểm Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì sẽ tới Jakarta vào ngày 10/8 tới để hội đàm với người đồng nhiệm nước chủ nhà Indonesia Marty Natalegawa về một loạt vấn đề song phương cũng như khu vực, nhiều khả năng nội dung hội đàm sẽ bao gồm tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông. 


 
Trả lời báo giới sau khi tham dự lễ kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa nói: “Hy vọng ngoài các vấn đề song phương, tôi sẽ có cơ hội trao đổi quan điểm liên quan tới vấn đề Biển Đông. Đó là một vấn đề đòi hỏi ASEAN và Trung Quốc phải có hành động cũng như cách tiếp cận chung và thống nhất, nếu không nguy cơ leo thăng căng thẳng là rất cao.”

Tin vắn

– Trung Quốc đang chuẩn bị cho vụ án xử bà Cốc Khai Lai, vợ của cựu Bí thư Trùng Khánh, ông Bạc Hy Lai, một trong những vụ án gây chấn động Trung Quốc. Bà Cốc Khai Lai bị cáo buộc giết một doanh nhân người Anh. Phiên tòa sẽ diễn ra vào thứ Năm 9/8 ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy.

– Mưa lớn gây úng lụt tiếp tục hoành hành thủ đô Philippines khiến ít nhất 7 người thiệt mạng.

– Tổng thống Ai Cập Mohamed Mursi ra quyết định sa thải trưởng cơ quan tình báo nước này và không lực Ai Cập oanh kích nhiều mục tiêu dọc biên giới với Israel.

– Thành viên một giáo phái Hồi giáo ở Nga đã bị buộc tội ngược đãi trẻ em khi bị phát hiện giam giữ nhiều trẻ dưới hầm trong nhiều năm.

– Nhiều cuộc giao tranh căng thẳng đã nổ ra giữa quân đội Chính phủ Syria và lực lượng đối lập tại thành phố lớn nhất nước này Aleppo.

– Mỹ đang lập kế hoạch cho Syria thời kỳ hậu al-Assad với hy vọng sẽ tránh được tình trạng bùng nổ bạo lực như từng xảy ra tại Iraq.

– Một thủ lĩnh phiến quân cánh tả ngày 8/8 đã bị lực lượng an ninh Philippines tiêu diệt tại tỉnh Sultan Kudarat, miền Nam nước này.

– Quân đội Ai Cập tiến hành cuộc đột kích lớn tiêu diệt 20 tay súng ở Sinai, sau khi xảy ra vụ tấn công mà chính quyền cho là hành động khủng bố.

– Lào và Triều Tiên ký 4 văn bản hợp tác quan trọng giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa, công nghệ thông tin, giáo dục và kinh tế.

Ảnh nổi bật


Một người đàn ông ngồi trên nóc nhà đợi cứu hộ tại Marikina, Metro Manila. Mưa lớn, dai dẳng, đã gây lụt lội hầu hết nội đô Manila và các vùng lân cận. Gần 270.000 phải sơ tán, cho đến nay ít nhất đã có 7 người thiệt mạng. Ảnh REUTERS/Erik De Castro

Phát ngôn ấn tượng

“Bộ Ngoại giao Mỹ ít ra cũng đã bắn một phát đạn cảnh báo các bên liên quan không nên làm cho tình hình trầm trọng thêm. Giống như kiểu nước Mỹ nói: đừng làm gì ngu ngốc”, Alexander Huang, Giáo sư môn nghiên cứu chiến lược tại đại học Tamkang, Đài Loan, bình luận tuyên bố của bộ Ngoại giao Mỹ về biển Đông.

Ngày này năm xưa

Vào ngày 9/8/1945, Mỹ thả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki của Nhật Bản khiến hàng chục nghìn người thiệt mạng, đa phần là thường dân, và để lại hậu quả dai dẳng.

Nagasaki đã từng là thành phố cảng lớn nhất của miền nam Nhật Bản và có vai trò hải quân rất quan trọng nhờ hoạt động công nghiệp đa dạng, từ việc sản xuất đạn dược, tàu bè, thiết bị quân sự đến các vật liệu chiến tranh khác.

Hồng Hà (Tổng hợp)

 

%d bloggers like this: