Lưu trữ | 6:38 Chiều

Chùm thơ ĐẬU PHI HÙNG

12 Th8

HỎI

Ngẫm hình hài thủa núi sông
Thời gian in dấu mênh mông tật nguyền
Nước ơi, xưa đã cạn nguồn?
Dễ mai sau khát cả muôn dặm lòng

Hỏi trời, trời thẳm hay không?
Hỏi đất, đất dậy mấy dòng phù sa
Đồng xanh, cây, lá, muôn hoa…
Ngàn năm riêng chỉ lòng ta ngậm ngùi?
Nhân sinh ơi! Vạn kiếp người?
Dìm trong đất thở, vô hồi mang mang
Câu kinh hút giữa dặm ngàn
Đâu vòng tục lụy vắt ngang lưng đời?

Hỏi ta, ta lại hỏi người
Niềm tin hóa đá, sợ lời tri âm?
Sương sa đồi núi lạnh căm
Sương giăng ướt cả gốc phần chờ mong
Hỡi mây nước, hỡi núi sông
Đường xa gối mộng mắt trong ngậm ngùi
Hồn thiêng đau nhớ một thời
Súng, gươm, xương, máu nào rơi đất này?
Lệ cha chảy đã đầy tay
Còn dư lệ mẹ đêm dày ngóng trông
Gói niềm thương gửi đôi dòng
Sông ơi, con nước long đong còn dài?

Chuyện hôm nay hỏi ngày mai
Ngàn năm con, cháu hỏi ai vô tình?

LẼ NÀO

Giọt nước tan vào nhau
Xanh trong dòng suối mát

Tia nắng soi vào nhau
Ngày sáng bừng hoa thắm

Ngọn lửa soi vào nhau
Khơi than hồng tro ấm

Câu thơ tan vào nhau
Buồn vui nào trĩu nặng?

Lẽ nào khi cần nhau?
Lẽ nào khi cách xa?
Lẽ nào ta bên nhau???

CHIM CHƠ RAO VỀ ĐÂU?

Thác lũ dòng sông ngầu đỏ
Cắt cứa vào long mạch Tây Nguyên
Phá,nát
Không gian văn hóa cồng chiêng
Niềm tự hào của người dân Việt.
Giàng ơi!
Trời xanh ơi có biết?
Từ trong lòng đất ba zan
Nhức nhối một khối tủi hờn ung nhọt
Ngàn đời nay lẽ nào đánh mất
Con suối, con khe, núi rừng mùa chim chơ rao hót
Bài hát lứa đôi, hạnh phúc rừng già.
***
Con “hươu đen” giờ ngơ ngác với rừng khuya
Biết tìm chốn nao
Bốn bề cạm bẫy?
Bài học “nhân nghĩa” xa xưa còn đấy
Việc “yên dân” đâu phải chuyện bông đùa
Danh lợi phơi bày trước cuộc bán mua
Hậu quả khôn lường nào ai biết tránh
Một mai khoảng rừng xanh mọc cánh
Bay vào Hỏa Diệm sơn?
***
Đất nước thanh bình gấm vóc, núi sông
Mang trên mình máu xương tiền nhân ngã xuống
Từng thớ đất Đắc Nông oằn mình đau đớn
Tiếng máy thét gào, tóe máu đất thiêng
Tạo hóa bày trò ưu đãi thiên nhiên
Chất chứa bên trong muôn vàn quặng quý
Trầm tích hóa sinh hoài thai bô-xít
Bả tiền tài mèo, cáo thảy đều ham
Mùa rẫy động rừng ác thú tràn lan
Suối chảy đỏ ngầu, hoa pơ lang buồn không khoe sắc
Chim chơ rao về đâu một mai em lên rẫy?
Tháng ba vào mùa cây cỏ xác xơ.
ĐẬU PHI HÙNG
                     CAM RANH, KHÁNH HOÀ

ĐÊM THƠ HÀ LINH

12 Th8

ĐÊM THƠ HÀ LINH

Nguyên Hải

Post by: vonga1

Đêm 11 tháng 8 năm 2012, tại nhà riêng của Nghệ Sĩ ngâm Thơ Mộng Thu.

Gia đình cùng bè bạn và thi hữu của một số câu lạc bộ thơ đã tổ chức 

đêm Thơ của tác giả Hà Linh.

Nhà thơ Lê Đình Liệu,  Hội Viên Hội Văn Học Nghệ Thuật ĐakLak dẫn 

chương trình, và các nghệ sĩ diễn ngâm Ngô Đình Long, Vũ ban, Mộng Thu,

Trịnh Yến, Nhật Quỳnh… đã trình bày các tác phẩm thơ về tình yêu,

quê hương , nỗi niềm, thân phận, đời người  từng trải  trong yêu  thương,

khắc khoải, bất hạnh, và niềm tin để vượt lên mọi khổ đau,

tồn tại đến hạnh phúc hôm nay.

Tác Giả Hà Linh cảm nhận sự đồng điệu và chân thành cám ơn quý thi hữu,

bè bạn,cùng gia đình đã tạo điều kiện chotác giả có được đêm thơ 

hạnh phúc ngọt ngào.

NHÀ THƠ LÊ ĐÌNH LIỆU

TÁC GIẢ HÀ LINH

NGHỆ SĨ NGÔ ĐÌNH LONG

NGHỆ SĨ VŨ BAN

THI HỮU – BẠN BÈ – VÀ GIA ĐÌNH

 

EM ĐI

Chưa tàn một cuộc rong chơi

Mà em buông thả cho đời ngả nghiêng

Em đi về phía niềm riêng

Để hoa tím lặng nơi miền xót xa

Giữa đồng cô tịch bóng tà

Tìm đâu dáng dấp lụa là của em

Em đi để lại bên thềm

Nơi ngồi hóng gió tóc mềm thướt tha

Cành dương thất thểu la đà

Con ve lột xác đang ca nhạc sầu

Em khoan vội bước qua cầu

Em đi cả một bể dâu sóng cồn

Thuyền nan mưa gió dập dồn

Sợ e tan vỡ đắm hồn biển sâu.

 

EM VỀ

Em về lục bát cũng theo

Thất ngôn ở lại phận bèo đa doan

Em về sao chẳng tính toan

Để câu thơ ướt gió chan nước trời

Em còn buông lưới ra khơi

Để con cá lội chơi vơi ngược dòng

Trời đà chuyển gió sang đông

Thuyền em tách bến cho lòng biển chao

Làm sao vượt khỏi  ba đào

Để nghe lau sậy rì rào bờ hoang

Em đi chi giữa muộn màng

Dấu chân bờ cát còn loang nắng chiều

Em đừng dấn bước cô liêu

Nếm nhiều cay đắng chuốc điều gió trăng

Nữa đời tim lạnh giá băng

Mua thu rụng lá – em sang ngả nào ?

 

HÀ LINH

Nếu Như ! ! !

12 Th8

Nếu Như ! ! !

Kim Hoa

Tôi đang loay hoay bên cạnh Bác Hai với chén cháo còn nóng hổi trên tay. Điện thoại kêu lên inh ỏi . Bên kia đầu giây tiếng con gái nức nở…

Mẹ ơi !

Ba mất rồi…

Mới chin giờ sáng ,t ôi cứ tưởng mười một giờ đêm. Trước mắt tôi tối sầm, toàn thân tôi run rẩy như người bệnh sốt rét rừng vậy.

Nếu như ! Ngày ấy tôi không cố chấp, và xem cái   (Tôi) của mình lớn , bây giờ đâu ra nông nỗi như vậy.

Trong cuộc sống gia đình ai cũng có phần sai sót, và những tỵ hiềm, ích kỷ, nhỏ nhoi. Tôi và chồng tôi không bỏ qua cho nhau, nên cuộc sống vợ chồng,càng ngày, càng xa cách.

Ngày tôi và chồng tôi quyết định đưa nhau ra tòa ly hôn, tôi là người đau khổ nhất. Khi nghĩ đến cảnh chia tay, tôi thấy mình mất mát. Những tháng năm dài chung sống, bao nhiêu vui, buồn, sướng khổ. Ấý vậy mà đành phải xa nhau hay sao ?    Nếu không chọn giải pháp này, hằng đêm, hằng ngày tôi phải nhận những cái tát, cái đấm mỗi khi chồng tôi có hơi men. Tôi đã từng chịu đựng. Với người phụ nữ dù có mạnh khỏe  đến đâu vẫn là …..< Chân yếu ,tay mềm >…

Những trận đòn roi sau khi say xĩn đã un đúc và hằn sâu tự đáy tâm hồn.Tôi đã  khóc và than vãn khi nhìn lên di ảnh của Má tôi thốt lên thành tiếng… Má ơi! Nếu Má linh thiêng hãy phò hộ cho con thoát khỏi bàn tay hung thần ,ác quỷ. Mặc dù người ấy là chồng của con. Đã  từng đầu ắp ,tay gối, đã từng chia sẻ ngọt bùi.

Ngày ra tòa, chồng tôi luôn van xin ,” Hãy tha thứ cho anh “  Anh hứa từ đây và mãi mãi về sau, anh không bao giờ đánh đập em nửa,,, Tôi vẫn một mực không chịu nghe, vì đã nhiều lần tôi từng tha thứ chồng tôi hứa khi biết tôi có ý  quyết định, tôi bõ lơ vài hôm, bổn cũ soạn lại…

Ngày cầm tờ giấy  ly hôn trên tay, ngày ấy tôi thật sự hạnh phúc, cái hạnh phúc trong niềm đau khổ. Khi nghỉ đến con mình rồi sẽ sa sao?

Chồng tôi trở về nhà mẹ đẻ sống, còn tôi tần tảo, buôn bán nuôi con. Thỉnh thoảng  ghé qua nhà cho con vài trăm ,chút it quà.

Thời gian sau đó, chồng tôi buồn vì không có vợ con bên cạnh, nên nhậu nhẹt  liên miên. Cuối cùng mang bệnh phải vào Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Những ngày nằm viện tôi và con có đến thăm anh. Nhìn thấy chông tôi gầy sọp, giọng nói yếu ớt, tôi thật sự đau lòng. Lúc ấy tôi tự trách mình. Tại tôi tất cả.

Nếu như! Ngày ấy tôi cố chịu đựng, cố chịu đau đớn thể xác thêm một chút, thì ngay giờ phút này, chông tôi đâu ra nông nổi. Con tôi chịu mất mát nhiều là bởi tại ở tôi

Chiếc áo quan ôm trọn hình hài anh. Anh thật sự trở về cát bụi, tôi về dự lễ tang, vẫn chit khăn sô. Dù không còn tình ,vẫn con cái nghỉa.

Trời tháng mười hai se se lạnh. Cái lạnh bên ngoài không bằng nổi buốt  giá bên trong. Ngồi cạnh anh trong chiếc xe tang , nước mắt tôi rơi lần này không  đau đớn như những lần trước, bằng vạn lần đau nhói trong tim.. Tôi thủ thỉ trong lòng , mà cứ ngỡ tôi nói chuyện với anh,  Anhhãy yên nghỉ,,,,Em hứa lo cho con học hành đến nơi, đến chốn..

  Hãy tha thứ cho em …..Ngàn lần xin thứ tha

MÂY HẠ

GÒ VẤP

TRẦM THANH TUẤN: CẢM HỨNG THIỀN TRONG THƠ THIÊN NHIÊN ĐỜI TRẦN – VC+

12 Th8

TRẦM THANH TUẤN: CẢM HỨNG THIỀN TRONG THƠ THIÊN NHIÊN ĐỜI TRẦN

 
Thơ ca đời Trần là một nền thơ ca phát triển, đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành nền thơ ca cổ điển Việt Nam, nói như Phạm Thế Ngũ thì đây là đỉnh cao thứ nhất của thơ ca Hán học nước ta. Trong tiến trình văn học trung đại, thơ ca đời Trần có một vị trí đặc biệt quan trọng. Ngay từ các công trình khảo cứu, của các nhà nghiên cứu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX đã có những đánh giá rất cao về nền thi ca của giai đoạn này.
Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã nhận định “Thơ đời Trần tinh vi trong trẻo, đều có sở trường tột bật cũng như đời Hán, đời Đường bên Trung Hoa([i][1]) hay Lê Quý Đôn trong Quần thư khảo biệnThư kinh diễn nghĩa đã tự hào rằng: “Nước Nam ta, hai triều nhà Lý, nhà Trần ngang vào khoảng triều nhà Tống, nhà Nguyên. Lúc ấy tinh hoa, nhân tài cốt cách văn chương, không khác gì Trung Hoa” ([ii][2]). Như vậy chúng ta đang tiếp cận với một giai đoạn văn học có nhiều thành tựu. Trong đó mảng thơ thiên nhiên là mảng đề tài có vai trò quan trọng  trong việc góp phần khẳng định vị trí đặc biệt của thơ ca đời Trần trong diễn trình văn học cổ điển dân tộc.
 
1.   Thơ thiên nhiên đời Trần
 
Thời trung đại con người sống bằng nông nghiệp là chủ yếu, nên con người dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên mà sống. Do đó con người hòa nhập vào thiên nhiên, xem thiên nhiên với con người là một “Vạn vật nhất thể”. Con người chưa xem mình là một chủ thể đối lập với tự nhiên là khách thể để chiêm nghiệm, phân tích, lý giải… Như vậy đặc trưng của thế giới tự nhiên trong cái nhìn của con người trung đại là chúng có tính toàn vẹn không phân hoá, không tách bạch. Thế nên thơ ca phương Đông rất chú ý đến hình ảnh của thiên nhiên và xem đây là một đối tượng thẩm mĩ. Chúng tôi hiểu “thơ thiên nhiên” là một thể tài độc lập của thơ ca lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mĩ chủ yếu, thông qua miêu tả cảnh vật để bộc lộ tâm tình.
 
Thiên nhiên trong thơ ca đời Lý đa phần là những biểu tượng, là phương tiện để nói lên nội dung triết lý hay cảm quan Thiền đạo. Những hình ảnh thiên nhiên thường tượng trưng cho những thực tế siêu nhiên, trừu tượng của triết lý. Thiên nhiên trong thơ ca đời Trần có khác. Đầu đời Trần thiên nhiên còn có nét biểu hiện triết lý như trong thơ Trần Thái Tông, Tuệ Trung. Nhưng từ giữa đời Trần về sau, thiên nhiên đã trở thành đối tượng thẩm mĩ đích thực. Càng về cuối đời Trần, thi nhân tiếp xúc với thiên nhiên ngoại cảnh với nhiều cảm xúc, phong phú, đa dạng: từ tâm trạng bình lắng trước cảnh thiên nhiên cô tịch, xa vắng, đến những cảm khái nhẹ nhàng rồi bất mãn với thời cuộc. Thiên nhiên lúc này vừa là sự rung động của thi nhân biểu lộ cảm quan Thiền học vừa có cái phóng khoáng của tư tưởng Nho gia và cái nhàn dật của Lão Trang.
 
Có thể nói  thơ thiên nhiên đời Trần ảnh hưởng sâu sắc từ thơ sơn thủy của Trung Quốc, đặc biệt là thơ sơn thủy đời Đường. Không phải ngẫu nhiên mà Phan Huy Chú đã có hàng loạt những nhận xét thi phẩm của các thi nhân trong giai đoạn này trong thế đối sánh với Đường thi: thơ của Trần Thánh Tông “các bài đều có phong vị thơ Đường”,  còn thơ của Trần Minh Tông thì “lời thơ phần nhiều hào mại phóng khoáng, có khí phách và cốt cách Đỗ – Lăng”“thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì thời thịnh Đường” ([iii][3])
 
Thi nhân xưa thường cảm nhận thiên nhiên bằng thính giác và thị giác nên yếu tố nhạc và họa phát triển “thi trung hữu nhạc”, “thi trung hữu họa”. Thiên nhiên trong thơ đời Trần chỉ hiện lên như những nét phác họa của tranh thủy mặc. Đó là những nét bút chấm phá giản lược chứ không phải là nét cụ thể, tỉ mỉ. Nó không đáp ứng yêu cầu phân tích miêu tả nhưng lại gợi khả năng liên tưởng và đặc biệt gợi tình cảm sâu sắc hơn.
Thiên nhiên ở đây không hoàn toàn câm lặng nhưng cũng không ồn ã. Đó là những tiếng chim khuya, tiếng đỗ quyên khắc khoải canh trường, tiếng trùng nỉ non, tiếng mưa rơi ngoài hiên vắng,…Thi nhân mở lòng đón nhận cái vang vọng của những âm thanh thiên nhiên vào tận cõi sâu thẳm tâm hồn để cùng đồng điệu, cùng rung cảm chứ ít khi thấy họ miêu tả cụ thể những âm thanh ấy.
 
Thi nhân đời Trần hầu hết đều chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học của Nho –  Phật – Lão (Tam giáo đồng nguyên), thiên nhiên trong cái nhìn của Nho gia quan trọng hơn cả là đức sinh. Sự sống của thiên nhiên với muôn hình vạn trạng, vạn vật sinh sôi nảy nở: hoa nở, chim kêu, mưa tưới, cỏ tươi. Nó mang ý nghĩa tuyệt đối trong lành, vô tư, thanh cao, khác với cuộc sống phàm tục. Các nhà Nho quan niệm Đức lớn nhất của vũ trụ là đức sinh cho vạn vật, sự sinh hóa hanh thông của vạn vật là niềm vui lớn nhất của con người. Thiền gia cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn tĩnh tại, an nhiên, bởi họ cho rằng Bản thể của vũ trụ là trống không khi tâm đạt tới độ tĩnh tại tuyệt đối, tâm trong suốt vắng lặng thì có thể hòa nhập vào bản thể của vũ trụ vạn vật. Đạo gia tìm thấy thiên nhiên là nơi di dưỡng tinh thần. Họ có khát vọng muốn hòa nhập vĩnh viễn với thiên nhiên.
 
Thơ thiên nhiên đời Trần tập trung vào thể hiện cảm hứng thế sự, cảm hứng công dân và cảm hứng Thiền. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn chúng tôi xin bàn sâu vào một khía cạnh tiêu biểu cảm hứng Thiền trong thơ thiên nhiên đời Trần.
 
2.        Cảm hứng Thiền trong thơ thiên nhiên đời Trần
 
Khác với thời Lý, những hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong thơ như là những biểu tượng của lẽ Thiền, chất lí trí còn đậm. Đến thời Trần thì đa phần trong sáng tác của các thi nhân, thiền sư, thiên nhiên đã thực sự trở thành đối tượng thẩm mĩ thật sự.  Các thi nhân, Thiền sư đã thật sự trải lòng với cảnh núi cao sông dài, với ánh trăng trên đoá mộc tê, trải tầm mắt với cánh bạch âu lưng trời, theo đàn cò liệng xuống cánh đồng chiều vãn, rồi ngắm cảnh bướm xuân phơi phới trên những đóa hoa thắm tươi đầy hương sắc. Con người Thiền sống giữa thiên nhiên để thấy tâm hồn mình về với Chân Như, với những cảm xúc hồn nhiên không gợn niềm trần tục.
 
2.1.  Thiền gia cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn tĩnh tại, an nhiên, bởi họ cho rằng Bản thể của vũ trụ là trống không khi tâm đạt tới độ tĩnh tại tuyệt đối, tâm trong suốt vắng lặng thì có thể hòa nhập vào bản thể của vũ trụ vạn vật. Thiên nhiên qua cái nhìn của Thiền gia mặc dù bình dị nhưng lại thấm đẫm hơi hướng mỹ cảm Thiền. Đọc bài thơ Nguyệt của Trần Nhân Tông chúng ta có thể dể dàng nhận ra điều đó:
 
Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ ([iv][4]).
 
(Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường – Móc rơi trên sân thu, hơi trống không –  Tỉnh giấc tiếng chày nện không còn nghe thấy – Trên chùm hoa quế, trăng vừa mọc).
 
Bài thơ mở đầu bằng không gian hẹp – không gian của đời sống thường nhật từ đó mở rộng ra không gian vũ trụ. Một đêm thu lặng có thể nghe được tiếng sương rơi. Cái động nhờ cái tĩnh mà sinh ra. Âm thanh của tiếng sương rơi hẳn là rất nhỏ, không gian phải rất tĩnh lặng thì mới có thể nghe được. Ngược lại cái động nhờ cái tĩnh mà hiện hữu, không gian tĩnh mịch vắng lặng được nhận thức bởi tiếng sương rơi ngoài sân thu. Đây chẳng phải là thủ pháp dựng dậy những mối quan hệ đối lập gợi liên tưởng được dùng phổ biến trong Đường thi đó sao? Có thể nói không gian của bài thơ là không gian đặc trưng của thơ Thiền, một không gian bao la, khoáng đạt, trong trẽo và tĩnh lặng. Tất cả điều đó càng làm tăng cảm giác về sự bao la vô hạn của không gian. Đặc biệt là cái cảm giác về sự trống không, hư không. Nó biểu trưng cho cái “Không” của Thiền. Tâm Thiền là cái trống không, bình đạm, trong trẻo và lặng lẽ. Đây là không gian được lọc qua con mắt Thiền, là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh. Ta có thể bắt gặp cái không gian này ở nhiều câu thơ khác
 
–   Dạ khí phân lương nhập họa bình ([v][5])
 
(Khí đêm chia hơi mát vào bức rèm vẽ);
 
–   Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh ([vi][6])
–    
(Lòng thẹn với phong cảnh cùng trong trẻo, lạnh lẽo).
 
–   Khách khứ tăng vô ngữ
Tùng hoa mãn địa hương ([vii][7])
 
(Mưa tạnh trời một màu biếc
Mặt ao  lặng ánh trăng tỏa hơi mát).
 
Không gian của bài thơ này được bao trùm bởi trạng thái “hư” trống không – trạng thái tương thông giữa tâm Thiền tĩnh tại an nhiên với cái trống không của bản thể vũ trụ. Trong bài thơ này thi nhân – Thiền nhân tỉnh dậy, “thụy”, không phải bởi sự chi phối của những âm thanh thế tục mà đó là cái tỉnh giấc tự nhiên – sự ngộ lẽ Thiền. Thế nên thi nhân mới cảm nhận được ánh sáng của vầng trăng ngộ đạo tỏa chiếu trên đóa mộc tê. Bài thơ thể hiện cảm hứng Thiền qua những hình ảnh thiên nhiên rất đỗi bình dị: trên nền không gian hư tịch ánh trăng nhẹ đến trên đóa mộc tê – Một chi tiết nhỏ, rất bình thường của đời sống tự nhiên bổng trở nên huyền diệu, bừng lên ánh sáng của Thiền cảm.
 
Trong bài Tảo thu của Thiền sư Huyền Quang viết :
 
Trúc đường vong thích hương sơ tận ([viii][8])
(Mái tranh quên bẵng hương vừa tắt).
Ở đây ta có thể khái quát thành mô hình ngữ pháp của câu thơ:
 
Câu thơ đã khuyết chủ ngữ (hay nói cách khác đại danh từ chủ thể trong câu đã bị tỉnh lược) nên khiến cho người đọc có thể có nhiều cách hiểu. Bởi vì trạng ngữ phía trước đại danh từ cũng là một danh từ “trúc đường”. Như vậy nếu hiểu câu thơ bị tỉnh lược đại danh từ chủ thể thì ta có cấu trúc (1). Còn nếu như xem “trúc đường” là chủ ngữ thì ta có cấu trúc (2)  Chủ ngữ   /  Vị ngữ.
 
Nói như vậy để cho thấy sự tỉnh lược ở đây đã tạo cho câu thơ cái tính mơ hồ và đa nghĩa làm cho người đọc không xác định được đây là khoảnh khắc “quên” của thi nhân hay của chính mái tranh ? Chúng ta vẫn biết “trúc đường” thường biểu trưng cho chốn ẩn dật của Thiền nhân. Liên hội với những câu thơ trước nó và sau nó, chúng ta chỉ thấy hình ảnh “trúc đường” là hình ảnh duy nhất biểu thị sự có mặt của con người trong bức tranh thiên nhiên này. Nhưng con người đã ẩn đi, đã hòa nhập vào “trúc đường”, hòa nhập vào tạo vật. Như vậy bằng việc tỉnh lược, thi nhân đã góp phần khắc họa cái tĩnh lặng tuyệt đối của “trúc đường”- không gian Thiền. Đồng thời cùng với ánh trăng trên cây tùng “nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh” đã thể hiện sự hòa nhập trọn vẹn giữa con người và ngoại vật: tâm con người tĩnh – cảnh vật tĩnh. Cảnh vật và con người tương thông với nhau trong khoảnh khắc tâm linh kì diệu.
 
Ở một bài thơ khác, bài Ngọ thụy, vị tổ thứ ba của dòng Trúc Lâm Yên Tử viết
 
Phong lâm nhất mộng lương ([ix][9])
(Trong rừng phong ngủ một giấc mát mẻ).
 
Câu thơ chỉ gồm một danh từ và một ngữ danh từ hoàn toàn không có động từ để thực hiện chức năng ngữ pháp. Thế nên câu thơ không có động từ đã tĩnh vật hóa tất cả. Rừng phong và giấc ngủ của Thiền nhân được cố định trong một trạng thái tuyệt đối tĩnh lặng nhằm khắc họa không gian đặc trưng của Thiền. Đồng thời, chúng ta sẽ nhận thấy sự “bao hàm lẫn nhau” giữa các yếu tố: Rừng phong là không gian lớn dung chứa giấc ngủ an nhiên, thanh thản, thể hiện sự phá chấp đốn ngộ của Thiền nhân, môt khoảnh khắc “quên” đầy ý vị của Thiền học. Cái không gian tĩnh tại lớn bao hàm cái không gian tĩnh tại nhỏ từ đó làm bật nổi cảm thức: Tâm hồn con người đạt được sự bình lặng tuyệt đối hòa nhập vào cái không gian hằng thường, hòa nhập vào Bản thể của vũ trụ. Từ đó mà Thiền nhân đã ngộ được lẽ Chân Như. Như vậy ở câu thơ này, tuy không có sự tham gia của động từ nhưng bằng sự tương tác của các yếu tố, thi nhân đã tạo dựng nên một không gian thơ độc đáo đậm đà ý vị Thiền học.
 
2.2.  Trước thiên nhiên tươi đẹp, Thiền nhân chỉ “cảm” mà không trực tiếp “giãi bày” bằng lời. Con người Thiền thường “vô ngôn” trước cảnh sắc ngoại giới. Lời nói hữu hạn không thể nào diễn tả được hết cái biến thiên, cái hằng thường. Cái Hữu của lời nói không thể nào chiếm lĩnh cái Vô, cái Không tuyệt đối mang tính vĩnh hằng của Bản thể.
 
Một trong những đặc trưng thẩm mĩ cơ bản của thơ ca phương Đông là nghệ thuật biểu diễn cái không lời “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý” (Kinh Dịch),“ngôn vô ngôn” (Đạo đức kinh – Lão Tử), “Thính hồ vô thanh” (Nam hoa kinh – Trang Tử). Trong quy luật tâm lý cái không lời, vô ngôn bao giờ cũng dễ tác động đến chiều sâu tâm thức, cảm xúc con người hơn là cái phô bày, cái có lời. Cho nên tiếng đàn của người ca kĩ trên bến Tầm Dương đã đạt đến chỗ vi diệu “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh” (Tỳ bà hành – Bạch Cư Dị). Ta còn bắt gặp hình ảnh “con người vô ngôn” trước thiên nhiên trong khá nhiều bài thơ đời Trần. Trần Quang Triều, người sáng lập ra thi xã Bích Động nổi tiếng, đã từng viết:
 
Khách khứ tăng vô ngữ,
Tùng hoa mãn địa hương ([x][10]).
 
(Khách [chỉ ta] ra về, sư ở chùa trầm ngâm không nói – Hoa thông đầy đất ngát mùi hương).
Cảnh ấy tình ấy, còn cần gì phải nói nhiều hơn nữa. Vả lại, không gian đang hết sức trong sáng, yên tĩnh mát mẻ – một sự thanh khiết đến vô cùng vô tận. Trước không gian tuyệt diệu đó của đất trời con người tự nhiên lọc sạch hết mọi nghĩ ngợi ưu phiền, tự nhiên quên hết những lời cần tâm sự. Bởi khi chia tay kẻ ở, người về đều lặng yên. Sự yên lặng càng làm dậy lên mùi hương thông thơm ngát mặt đất “Tùng hoa mãn địa hương”. Bài hơ kết thúc bằng sự mở ra vô biên một trường giao cảm giữa  con người – cảnh vật trong một mùi hương nhẹ nhàng lan toả – một thông điệp không lời. Đến đây ta lại nhớ nhiều đến mấy câu thơ của Nguyễn Trãi:
 
Nhật mộ viên thanh cấp,
Sơn không trúc ảnh đường.
Cá trung chân hữu ý,
Dục ngữ bất hoàn vương (vong) ([xi][11]).
(Chiều hôm tiếng vượn kêu rộn – Núi trống bóng trúc dài ra – Trong cảnh ấy thực có ý – Ta muốn nói ra bỗng lại quên)
 
Phật hoàng Trần Nhân Tông đã từng có những trãi nghiệm với những giây  phút “vô ngôn” trước cảnh sắc tươi đẹp đất trười trong tiết xuân:
 
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Hoa đường thiềm ảnh mộ vân phi,
Khách lai bất vấn  nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi ([xii][12]) .
(Xuân Cảnh )
 
(Sâu trong khóm hoa dương liễu, chim hót chậm rãi – Dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay – Khách đến chơi không hỏi việc người đời – Cùng dựa lan can ngắm màu xanh của chân trời).
 
“Con người vô ngôn” là hình ảnh nổi bật trong thơ thiên nhiên đời Trần. Các thi nhân đề cao sự trực cảm, bác bỏ sự suy luận lí trí nên họ xem thường ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ hữu hạn không thể diễn đạt được chân lí vô cùng. Họ chủ trương con đường duy nhất đạt được chân lí là sự chứng nghiệm của bản thân chứ không thể thay thế bằng sự học hỏi qua những lời diễn giải, thuyết minh. Ở bài thơ này ta thấy khách và chủ vốn đều là những “con người vô ngôn”, họ không trò chuyện. Nhưng thực chất họ đã nói với nhau rất nhiều. Điều đó đã được thể hiện qua hư từ cộng. Cộng lúc này trở thành nhãn tự của cả bài thơ. Cộng thể hiện sự hoà nhập, hoà hợp giữa hai tâm hồn với nhau đồng thời giữa hai tâm hồn ấy với thiên nhiên tạo vật. Cả khách – chủ đều đã đạt được sự đại ngộ bởi khi họ đã cùng bình tâm, tâm đã tĩnh từ đó mà họ có thể chiêm nghiệm lẽ đời, những “nhân gian sự” từ thiên nhiên ngoại vật.
 
2.3.  Thơ thiên nhiên mang cảm hứng Thiền còn bộc lộ cái xao xuyến của tâm hồn thi nhân trước cảnh sắc thiên nhiên lung linh, huyền ảo, mơ hồ. Cái đẹp của thiên nhiên được tạo dựng bởi cái mơ hồ giữa Thực và Hư, giữa Sắc và Không, giữa Hữu và Vô, giữa Động và Tĩnh. Đăng Bảo Đài sơn của Trần Nhân Tông là một bức tranh thiên nhiên được khắc họa bởi những yếu tố đối lập đó:
 
Địa tịch đài du cổ,
Thời lai xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận,
Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm ngữ tâm.
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm ([xiii][13]).
 
(Đất vắng vũ đài thêm cổ kính – Theo thời tiết mưa xuân chưa về lâu – Ngọn núi phủ mây khi xa khi gần – Con đường hoa nửa sáng nửa tối – Muôn việc như nước trôi theo nước – Trăm năm lòng nói tới lòng – Đứng tựa lan can cầm ngang ống sáo ngọc – Trăng sáng rọi đầy cả ngực và bụng)
 
Về thời gian, bài thơ có sự đối lập giữa xưa (du cổ) – nay (thời lai). Về không gian là đối lập giữa xa (viễn) – gần (cận), sáng (tình) – tối (âm). Cảnh vật vừa như thực vừa như hư trong không gian cao rộng cô tịch. Nó tạo cảm giác về sự hiện hữu vô thường của vạn vật trong cái hằng thường của bản thể vũ trụ, trước bức tranh thiên nhiên ấy Thiền nhân đã lĩnh hội được chân lý:
 
Muôn việc như nước trôi theo nước,
Trăm năm lòng nói với lòng.
 
Từ chỗ ngộ được chân lý, Thiền nhân đứng lặng lẽ chiêm ngưỡng cảnh vật bằng cái tâm bình thản được phủ chiếu bởi ánh trăng huyền diệu – Ánh trăng của tâm linh đã được giác ngộ – đang chiếm lĩnh không gian ngoại cảnh. Như vậy, ở đây tâm cảnh – ngoại cảnh đã có sự tương thông đồng điệu, hòa nhập. Ta có thể nhận thấy Thiền quan, Thiền cảm đặc biệt này ở nhiều bài thơ khác:
 
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên ([xiv][14]).
 
(Thôn trước, thôn sau, lờ mờ dường như khói phủ – Nửa có, nửa không, trong bóng chiều hôm)
 
Đặc biệt, thơ thiên nhiên đời Trần thường sử dụng Vô – Hữu  nhằm để xác lập sự tồn tại. Khi giải thích bản thể của vũ trụ, Lão Tử đã sáng tạo ra cặp phạm trù Hữu – Vô và nó đã trở thành cặp phạm trù cơ bản nhất của lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại: “Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư ([xv][15]). Đồng thời đây cũng là cặp phạm trù trong Thiền học thời Lý – Trần:
 
Nguyệt sự chiếu nhân sự,
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu ([xvi][16]).
(Hạnh Thiên Trường hành cung – Trần Nhân Tông)
 
Câu thơ trên ta nhận thấy, tác giả đã dùng phép lặp (lặp từ hữu), phép đối liên, tiểu đối để tạo nên sự liên kết cả chiều ngang và chiều dọc mà có thể xem hai từ ở câu trên và hai từ hữu ở hai câu dưới như là bốn đỉnh của hình vuông liên kết ấy. Bên cạnh đó cùng với sự tương tác ngữ nghĩa của hai từ đối lập hữu đã tạo nên trường liên trường thú vị: khi con người và thiên nhiên đều ở trong trạng thái tĩnh tại an nhiên: nguyệt – nhân: vô sự, tâm của con người đã bình lặng, đã cởi bỏ hết những mê kiến, vọng niệm thì con người sẽ đạt tới sự hòa điệu với bản thể và từ đó sẽ phát hiện cái đẹp hằng thường của tạo vật, cái đẹp của bản thể: Trời mùa thu in sắc xuống dòng sông thu. Câu thơ đã thể hiện đặc sắc tinh thần mỹ học phương Đông: lấy hư diễn thực, cái có phát sinh từ cái không.
 
2.4.  Thiền nhân trong thời Trần, có những khoảnh khắc “quên”. Họ không muốn tìm quên trong tụng niệm mõ chuông mà tìm quên trong thiên nhiên:
 
Dạ khí phân lương nhập họa bình,
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh.
Trúc đình vong thích hương sơ tận,
Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh ([xvii][17]) .
 
(Khí đêm chia hơi mát vào bức rèm vẽ – Cây trước sân xào xạc báo tiếng thu – Dưới mái tranh quên bẳng hương vừa tắt – Mấy khóm cây cành giăng lưới vầng trăng sáng).
 
Nếu hơi đêm lạnh, tiếng cây lá thu nhắc nhở mọi người về sự trôi đi không ngừng của thời gian vô thủy vô chung, thì trạng thái “quên” bẳng nén hương vừa tắt là một sự hòa nhập trọn vẹn giữa tâm hồn người Thiền và ánh trăng sáng đã tràn ngập cỏ cây, hoa lá, tạo vật. Trạng thái “quên” này ta còn thường thấy ở nhiều bài thơ của các Thiền sư núi Yên Tử, các thi nhân của thi xã Bích Động:
 
Mộc tê song ngoại thiên cưu tịch,
Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư ([xviii][18]).
 
(Trên cây quế ngoài cửa sổ, ngàn con chim cưu vắng tiếng – Một chiếc gối trong gió mát, giấc mộng ban ngày chưa tàn)
 
Vương thân, vương thế dĩ đô vương (vong),
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương ([xix][19]).
 
(Quên mình, quên đời, quên hết cả – Yên lặng ngồi lâu, lạnh cả giường)
 
2.5.  Thơ thiên nhiên đời Trần có những vần thơ sự kết hợp giữa những rung cảm cá nhân và tư tưởng Thiền học. Đó là những lời tâm sự, một nỗi xao động giữa cảnh đời cảnh đạo, tâm hồn đơn côi và hoang lạnh giữa mịt mờ trời đất rộng lớn. Ý vị Thiền toát ra từ cảm giác hư không của cuộc đời con người. Tiêu biểu cho đặc điểm này trong thơ thiên nhiên mang cảm hứng Thiền là phong cách thơ của Huyền Quang, vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm. Thơ ca ông có cái “bay bướm, phóng khoáng” ([xx][20]) và thể hiện cái tôi đầy say đắm trước cảnh sắc thiên nhiên. Đến nỗi có lời dị nghị về ông và Lê Quý Đôn cũng nhận định: ” Tựa hồ chẳng phải lời nói của nhà tu hành” (Thi tuy giai phi tăng gia ngữ)([xxi][21]). Tuy nhiên dù gì đi nữa thì cội Thiền trong ông vẫn còn bền chặt do đó thơ ca của ông dù đậm dù nhạt vẫn phảng phất Thiền vị. Bài Phiếm chu là một trong những bài đặc sắc, tiểu biểu cho phong cách thơ của ông:
 
Tiểu đỉnh thừa phong phiếm diễu mang,
Sơn thanh, thủy lục, hựu thu quang.
Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại,
Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương ([xxii][22]).
 
(Chiếc thuyền theo gió lướt trên mặt nước bát ngát -Non xanh nước biếc lại thêm cảnh sắc mùa thu – Vài tiếng sáo chài văng vẳng ngoài rặng hoa lau – Trăng rơi vào lòng sông mặt sông phủ đầy sương)
 
Bài thơ là cả một không gian rộng lớn bao trùm, con thuyền như trở nên lẻ loi giữa cái không gian rộng lớn ấy. Núi xanh nước biếc như đang tô điểm thêm cho sắc thu, hay nó tạo thành sắc thu? Mấy tiếng sáo chài trong đám lau thưa, là thứ âm thanh duy nhất đánh động không gian, đánh động vào tâm hồn của cô nhân. Bài thơ được tạo dựng nên bởi những nét phác họa đặc trưng của cấu tứ Đường thi. Thoáng đọc ba câu thơ đầu, chúng ta những tưởng đấy là tâm sự của một thi nhân đang mang niềm trắc ẩn, đau đáu một nỗi niềm. Tuy nhiên đến câu cuối thì cảm hứng Thiền đã thăng hoa. Nếu mô hình hoá, chúng ta sẽ dể dàng nhận thấy bài thơ có ba tầng hình ảnh:
 
Hình ảnh con người cô đơn đang nằm trong khoảng sương phủ đầy mặt sông phía nửa trên là không gian lồng lộng trong sáng, nửa dưới là không gian mờ ảo. Sự kết hợp giữa ánh trăng đáy nước và “sương mãn giang” phủ màu sương tĩnh mịch hư ảo lên không gian rộng lớn của lòng sông thu. Ta vẫn nhận thấy trong thơ mang cảm hứng Thiền vì giữa hai yếu tố: hư – thực luôn hòa quyện chuyển hóa lẫn nhau. Đó là một trong những đặc trưng thẩm mĩ của thơ Thiền.
 
3.   Kết luận
 
Mãng thơ thiên nhiên đời Trần  đã để lại nhiều áng thơ vào hàng tuyệt tác trong nền thơ ca cổ điển dân tộc. Đằng sau những bài thơ ấy là những tâm tình với khát khao hoà nhập vào thiên nhiên, vào cuộc sống. Đồng thời các thi nhân cũng đã gửi gắm vào đó những chiêm nghiệm về lẽ vô thường của con người trước cái hằng thường của vũ trụ. Đó là chẳng phải là cái nhìn mang cảm hứng Thiền, tâm trạng Thiền, ý vị Thiền nhưng cũng thấm đẫm chất thế sự với những cung bậc tình cảm hết sức phong phú của con người đời thường đó sao?

TRẦM THANH TUẤN
Nguồn: VCV
_____________________ 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1.   Phan Huy Chú,  Lịch triều hiến chương loại chí (tập IV, phần Văn tịch chí), NXB Sử học, Hà Nội, 1961.
2.   Nguyễn Công Lý, Văn học Phật giáo thời Lý -Trần diện mạo và đặc điểm, NXB Đại học Quốc gia TPHCM, 2003
3.   Bùi Văn Nguyên, Lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỉ X -thế kỉ XVII, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1978
4.   Trần Lê Sáng (chủ biên), Tổng tập văn học Việt Nam (tập 2), NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1997
5.   Đoàn Thị Thu Vân, Khảo sát đặc trưng nghệ thuật thơ thiền Việt Nam từ thế kỉ thứ X – thế kỉ thứ XIV, Trung tâm nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 1996
6.   Đoàn Thị Thu Vân, Thơ thiền Lý -Trần, NXB Văn nghệ TPHCM, 1998
 
 
Chú thích
 

 
 

([i][1]) Phạm Đình Hổ, Vũ Trung tùy bút, NXB Văn nghệ TPHCM, 1998.
([ii][2]) Nguyễn Minh Tấn (chủ biên), Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981.
([iii][3])  Lịch triều hiến chương loại chí (tập IV, phần Văn tịch chí), NXB Sử học, Hà Nội, 1961
([iv][4]) Nguyên tác chữ Hán:
半窗登影滿床書
露滴秋庭夜氣虛
睡起砧聲無覓處
木棲花上月來初
([v][5]) Tảo thu – Huyền Quang
([vi][6]) Ký thanh phong am tăng Đức Sơn – Trần Thái Tông
([vii][7]) Đề Gia Lâm Tự – Trần Quang Triều
([viii][8]) Nguyên tác chữ Hán:
竹堂忘適香初盡
([ix][9]) Nguyên tác chữ Hán
風林一夢涼
([x][10]) Đề Gia Lâm Tự – Trần Quang Triều
Nguyên tác chữ Hán:
客去僧無語
松花滿地香
([xi][11]) Tiên Du Tự
Nguyên tác chữ Hán:
日暮猿聲急
山空竹影長
箇中真有意
欲語不還忘
([xii][12]) Nguyên tác chữ Hán
楊柳花深鳥語池
花堂簷影暮雲飛
客來不問人間事
共倚欄杆看翠微
([xiii][13]) Nguyên tác chữ Hán:
地寂臺逾古
時來春未深
雲山相遠近
花徑半晴陰
萬事水流水
百年心語心
倚欄橫玉笛
明月滿胸襟
([xiv][14]) Thiên Trường vãn vọng – Trần Nhân Tông
Nguyên tác chữ Hán:
村後村前淡似煙     
半無半有夕陽邊
 ([xv][15])  Dịch nghĩa: Vạn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ hữu, hữu sinh ra từ vô Đạo đức kinh(Chương 4)
([xvi][16]) Nguyên tác chữ Hán:
月無事照人無事
水有秋涵天有秋
([xvii][17]) Tảo thu – Huyền Quang
Nguyên tác chữ Hán:
夜氣分涼入畫屏
簫簫庭樹報秋聲
竹堂忘適香初盡
一一松之網月明
([xviii][18]) Trú miên – Huyền Quang
Nguyên tác chữ Hán:
木棲窗外千鳩寂
一枕清風晝夢餘
([xix][19]) Cúc – Huyền Quang
Nguyên tác chữ Hán:
忘身忘世以都忘
坐久簫然一榻涼
([xx][20]) Phan Huy Chú,  Lịch triều hiến chương loại chí (tập IV, phần Văn tịch chí), NXB Sử học, Hà Nội, 1961
([xxi][21]) Chuyển dẫn Bùi Văn Nguyên, Lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỉ X -thế kỉ XVII, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1978
([xxii][22]) Nguyên tác chữ Hán:
Nguyên tác chữ Hán:
小艇乘風泛渺茫
山青水綠又秋光
數聲漁笛櫨花外
月落波心江滿霜

Thi tài siêu đẳng, thi tâm siêu việt, hay thi sự siêu rùm beng ?

12 Th8

Thi tài siêu đẳng, thi tâm siêu việt, hay thi sự siêu rùm beng ?

Nhà thơ Hữu Kim từ Kon Tum nhiệt liệt chúc mừng: “Công nhận tâm thế thi nhân lúc này đây thật “an nhiên tự tại”. Một lần nữa tôi xin bái phục Hoàng Quang Thuận và cuộc hội thảo thành công tốt đẹp! Anh đúng là bậc kì tài, kiểu như Phạm Ngũ Lão trong “Người đan soạt làng Phù Ủng”, có điều cái soạt của tác giả “Thi vân Yên Tử” chắc chắn để đựng “hồn thơ lai láng”! Xin được ngâm ngợi lại một tuyệt phẩm “made in Hoàng Quang Thuận” được Chủ tịch Hội Nhà văn VN trích dẫn công khai tán tụng rộn ràng  ngay tại Hội thảo:  “Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc/ Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm/  Tiếng sáo thiền ca vui bất tận/ Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng”.  Chao ôi! Biển đảo Việt Nam đang “sôi lên sùng sục”, máu xương đã đổ và dường như sẽ còn phải đổ đấy! Đời sống vật chất và tinh thần, cả những áp bức, bất công của đại bộ phận dân chúng cần lao, còn khổ lắm đấy! Vậy mà thi sỹ Việt % lẽ nào lại có thể an nhiên tự tại với những vần thơ “ sung sướng” như vậy lúc này được chăng?!


THI TÀI SIÊU ĐẲNG, THI TÂM SIÊU VIỆT, HAY THI SỰ SIÊU RÙM BENG?!

HỮU KIM

Tôi chưa gặp ông Hoàng Quang Thuận, không được dự tọa đàm về thơ của ông, nhưng nghe nói chỉ một đêm mà ông cho ra hơn 140 bài thơ. Dư luận vừa “rùm beng” việc thơ của ông Hoàng Quang Thuận được Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức hội thảo, cùng những lời tâng bốc, ca tụng, tán dương đến tận “mây xanh”, cứ như có vẻ, bao hồn thiêng Yên Tử, bao núi non, sông suối, linh khí của của đất trời, lòng người và cả Ông Vua Trần Nhân Tông cũng phải “ngồi bật dậy” mà thưởng thức, mà ngỡ ngàng, phẩm bình và chiêm bái những áng thơ hay, những ý tưởng lớn lao của bậc kì tài Hoàng Quang Thuận ở thế kỷ hai mươi mốt… Tôi đọc và nghe thấy khá nhiều cử tọa có “chức sắc, hay đã từng có chức sắc” trong giới hoạt động  chính trị, kinh tế, văn hóa… có mặt trong hội thảo, hay viết bài và cả điện thoại để khen ngợi nồng nhiệt… điều đó cũng là lẽ thường tình!

Nhưng khốn nỗi, người ta cố ý, hay cố tình gán cho ông nhà thơ có tên Hoàng Quang Thuận với bao lời lẽ quá lên, vống lên, mà có khi chính ông tác giả “Thi vân Yên Tử” cũng cảm thấy “xấu hổ” nếu không muốn nói “ tự ái”, nếu còn chút lòng tự trọng! Thôi thì việc hội thảo, việc tôn vinh thi ca, hay tôn vinh ai đó có (hoặc… nếu có) thi tài siêu đẳng thi tâm siêu việt, có công trình lưu truyền hậu thế, âu cũng là “phải đạo”. Tuy nhiên, việc tổ chức hội thảo ồn ào và tốn kém (tiền túi của nhân vật ngạo nghễ đón nhận lời khen ngợi nức nở, hay tiền túi của mạnh thường quân giấu mặt?) cuối cùng để rút ra được điều gì? Bạn đọc có nhờ hội thảo mà có thêm tư duy thẩm mỹ không? Văn chương nước nhà có nhờ hội thảo mà có thêm kiệt tác văn chương hoặc khuynh hướng sáng tạo không? Cả cái được và chưa được đã hiện hữu, hay đang ở “tập mờ” của nền thi ca Việt cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai?!…

Việc ông Quang Thuận chỉ trong vòng có một đêm mà viết ra hơn 140 bài thơ ở một nơi và một chủ đề, viết tay, hay đánh máy có lẽ cũng không kịp! Thôi thì người sáng tác muốn viết theo cách nào, truyền thống có vần, có điệu, có niêm, có luật, hay thể tự do, các loại trường phái… nhưng không được “vô chính phủ”( ý nói miễn là thơ) có sao đâu. Nhưng tôi thực sự ngỡ ngàng và “ bái phục”! Chả thế mà có thông tin: Ông Phạm Khắc Lãm, Nguyên Tổng giám đốc Đài truyền hình Việt Nam đã tức cảnh sinh tình: “Tôi tưởng theo anh thăm Yên Tử/ Nào ngờ lạc bước chốn thi vân/ Hoàng Quang cửa Phật soi câu chữ/ Thuận dòng rửa sạch chốn bụi trần”. Cụ già Trung Nghĩa- 82 tuổi cho rằng “Thi Vân Yên Tử” bừng soi sáng- mở rộng hồn tôi với đất trời”,… Đến nay hiện đã có hàng chục tờ báo ở Trung ương và địa phương, từ báo Nhân Dân, Hà Nội Mới, Sài Gòn Giải Phóng đến các báo Hạ Long, Quảng Ninh, Thể thao- Văn hóa… đều đã có bài đăng tải về “hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận”. Thậm chí trên trang web Hội Nhà văn VN có người còn khẳng định chắc như đinh đóng cột: “Giữa thời buổi thơ in ra nhan nhản, chủ yếu xoay quanh đề tài tình yêu hoặc co vào suy tưởng chiêm nghiệm cá nhân, đôi khi rối mù tắc tị…thì “Thi Vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” như một áng mây lành, thoát tục, trong trẻo đến lạ lùng dắt người đọc vào chốn Bồng Lai, rũ bỏ bụi trần trở về với bản ngã thiện tâm trong mỗi con người…”

Công nhận tâm thế thi nhân lúc này đây thật “an nhiên tự tại”. Một lần nữa tôi xin bái phục Hoàng Quang Thuận và cuộc hội thảo thành công tốt đẹp! Anh đúng là bậc kì tài, kiểu như Phạm Ngũ Lão trong “Người đan soạt làng Phù Ủng”, có điều cái soạt của tác giả “Thi vân Yên Tử” chắc chắn để đựng “hồn thơ lai láng”! Xin phép ngâm ngợi lại một tuyệt phẩm “made in Hoàng Quang Thuận” được Chủ tịch Hội Nhà văn VN trích dẫn công khai tán tụng rộn ràng ngay tại Hội thảo:.
                 … Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc
                      Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm
                      Tiếng sáo thiền ca vui bất tận
                    Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng…

   Chao ôi! Biển đảo Việt Nam đang “sôi lên sùng sục”, máu xương đã đổ và dường như sẽ còn phải đổ đấy! Đời sống vật chất và tinh thần, cả những áp bức, bất công của đại bộ phận dân chúng cần lao còn khổ lắm đấy! Vậy mà thi sỹ Việt % lẽ nào lại có thể an nhiên tự tại với những vần thơ “ sung sướng” như vậy lúc này được chăng?!

Đúng là thơ và cách thẩm thơ của tầng lớp trên “tầng lớp thoát tục”- Có lẽ ông nhà thơ Hoàng Quang Thuận chả phải lo nghĩ gì về gia đình, con cái, làng mạc, xóm thôn, quê hương đất nước nữa… sướng thật! Tại sao các nhà thơ của Nước Nam ta  không học ông nhà thơ nầy rồi gửi dự giải NOBEN , rồi về “cưỡi mây” thả diều cho sướng nhẩy!?                                                                                                
                                                                                                   Tây Nguyên 10/8/2012

Biển Đông: Trung Quốc có lợi thế hơn trong tuyên bố chủ quyền? – BS

12 Th8

 

Thayer Consultancy

Biển Đông: Trung Quốc có lợi thế hơn trong tuyên bố chủ quyền?

Tác giả: Carl Thayer

Người dịch: Dương Lệ Chi

Ông Sourabh Gupta đã viết một bài báo có tựa đề: “Tuyên bố chủ quyền tài phán trên biển Đông của Trung Quốc: khi chính trị và luật pháp xung đột“, đăng trên Diễn đàn Đông Á (East Asia Forum), ngày 29 tháng 7 năm 2012. Bài viết được đăng kèm bên dưới. Trong bài viết này, ông khẳng định:

Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các yếu tố đất đai chủ yếu, nằm trong đường chín đoạn đứt khúc – quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – rõ ràng là thuận lợi hơn so với các đối thủ đòi chủ quyền của họ.

Một mình trong các nước tranh chấp, Trung Quốc có khả năng nối kết chuyện ‘chiếm đóng liên tục và hiệu quả’ các hòn đảo, đảo nhỏ và rặng san hô ngầm, với tuyên bố dựa theo luật pháp quốc tế hiện đại, mạnh mẽ, được hỗ trợ bằng các công cụ song phương và đa phương có liên quan.

Tôi đã đăng phần trả lời sau đây:

Tôi muốn hỏi ông Sourabh Gupta, nếu như tôi hiểu đúng lập luận của ông. Trung Quốc có lợi thế hơn trong tuyên bố chủ quyền đối với các vùng đất, đảo, đá… (features) ở Biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam) bởi vì: (a) các triều đại Hán/ Mông Cổ/ Mãn Châu đã làm ra các bản đồ, kết hợp chúng với khu vực mà họ kiểm soát, nhưng bằng cách và phần lớn các vùng đất, đảo, đá đó đều không có người ở và không ai quản lý; (b) Trung Hoa Dân Quốc (ND: tức Đài Loan) kế tục truyền thống này và chiếm đóng một số đảo nhỏ trong quần đảo Hoàng Sa và đảo Thái Bình, và có lẽ các vùng lân cận trong quần đảo Trường Sa (c) Pháp chiếm đóng và nắm quyền sở hữu nhiều vùng đất, đảo, đá ở biển Đông mà Đài Loan tuyên bố chủ quyền; (d) tất cả các nước đều bị mất quyền kiểm soát khi Nhật Bản tràn qua khu vực này trong chiến tranh thế giới thứ hai và (e) Nhật Bản từ bỏ chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông theo Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951.

Câu hỏi: Các vùng đất, đảo, đá… trước đây do người Pháp nắm giữ đã được trả lại quyền tài phán cho Pháp vào thời điểm đó phải không? Nếu Nhật từ bỏ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ năm 1951, vậy thì họ làm quái quỷ gì khi một năm sau đó [họ lại] từ bỏ “tất cả các quyền, giấy tờ xác nhận quyền sở hữu và việc đòi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa với Trung Hoa Dân Quốc” trong một hiệp ước với Đài Loan? Chẳng phải các chính phủ Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quốc Gia Việt Nam) có được lãnh thổ do Pháp nắm giữ khi Pháp rời khỏi khu vực năm 1954-1955? Vì sao Việt Nam hay Phillippines tìm kiếm sự nhượng lại hay điều khoản trao trả từ Nhật?

Tôi nghĩ rằng tuyên bố hơi quá lời một chút khi lập luận rằng Trung Quốc có lợi thế hơn trong tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các đảo, đảo nhỏ và các vùng đất, đá ở Biển Đông. Có thể tuyên bố của Trung Quốc thuận lợi hơn đối với một số hòn đảo và đất đai, nhưng lập luận rằng họ có thể chứng minh sự chiếm hữu và quản lý liên tục đối với từng nơi và mỗi nơi hiện đang nằm trên mặt nước khi thủy triều lên cao, thì vẫn chưa chứng minh được. Làm gì có thể có chuyện rất nhiều vùng đã bị chiếm hữu trong thập niên 1990 là không có người ở?

Cuối cùng thì, nếu điểm khởi đầu là thời kỳ tiền thuộc địa, liệu chúng ta có thể lập luận rằng Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền thuận lợi hơn đối với các đảo, đảo nhỏ và đá, [những nơi] cũng đã được các ngư dân Mã Lai và Việt Nam lui tới hay không? Bởi vì trong thời tiền thuộc địa không có vương quốc Philippines, vậy chúng ta có nên kết luận rằng các tài liệu đã được viết dưới thời các triều đại [phong kiến] Trung Quốc thì vượt trội hơn về các quyền tự nhiên lịch sử đối với các khu vực đánh cá truyền thống?

Tôi nghĩ chứng cớ rõ ràng là tuyên bố của Trung Quốc về việc chiếm đóng và cai quản liên tục là không xác thực đối với hầu hết các vùng đất, đảo, đá hiện do Việt Nam, Philippines và Malaysia chiếm giữ. Có thể lập luận thêm rằng trong một số trường hợp còn lại, Trung Quốc đã từ bỏ các vùng đất, đảo, đá này. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã chiếm phía Tây quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực hồi năm 1974. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không hề có mặt trên thực tế ở quần đảo Trường Sa cho đến năm 1988 khi họ tấn công và chiếm Đá Gạc Ma (Johnson South Reef). Giai đoạn kế tiếp của sự bành trướng của Trung Quốc là đầu thập niên 1990 khi Trung Quốc và Việt Nam tranh nhau để chiếm càng nhiều càng tốt các vùng đất, đảo, đá nằm trên mặt nước khi thủy triều lên cao.

Luật pháp quốc tế, trong trường hợp này là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, đã góp phần làm cho một giải pháp về tranh đấu trong các chấp lãnh thổ khó khăn hơn. Chủ quyền lãnh thổ trao quyền chủ quyền về tài nguyên trong vùng biển xung quanh và đáy biển. Đó là lý do vì sao Trung Quốc khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi trên Biển Đông.

Nguồn: Carlyle A. Thayer, “Biển Đông: Trung Quốc có lợi thế hơn trong tuyên bố chủ quyền?” Thayer Consultancy Background Brief, ngày 6 tháng 8 năm 2012.

———–

Độc giả đề xuất khẩu hiệu thay thế ‘Tiên học lễ…’

12 Th8

 Độc giả đề xuất khẩu hiệu thay thế ‘Tiên học lễ…’

Diễn đàn bỏ hay không bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” nhận được hàng ngàn góp ý. Bên cạnh nhiều ý kiến cho rằng không nên bỏ khẩu hiệu này, cũng có không ít người đề xuất khẩu hiệu thay thế khác.

Độc giả Tuan nêu quan điểm, nếu cần phải có 1 khẩu hiệu chân thực hơn, tự do hơn thì có thể thay bằng “Học tốt Văn Hóa – Ứng xử Văn Minh”.

 

Nhiều độc giả cho rằng, đến lúc cần dỡ bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ…” trong các trường học. (Ảnh có tính chất minh họa)

 

Khẩu hiệu cho ngành giáo dục Việt Nam chỉ cần lấy theo lời Hồ Chí Minh “Học – Học nữa -Học mãi” hay  “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Học tập tốt, lao động tốt. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” hoặc “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – một bạn đọc đề xuất.

Độc giả Trần Văn Giới thì cho rằng, nên thay bằng lời dạy của Hồ Chí Minh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. Khẩu hiệu này có ý nghĩa hơn…

Còn độc giả Lê Dũng Sỹ lại cho rằng nên chọn câu nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” hoặc “Học để làm người – Học để vào đời” để làm khẩu hiệu. 

Một bạn đọc khác nhìn nhận, hiện nay nên lấy câu nói của bác Phạm Văn Đồng về giáo dục là “Dù khó khăn gian khổ đến mấy cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”. Giai đoạn hiện nay thực sự khó khăn cho ngành giáo dục và cho sự học, nếu không cố gắng sẽ không vượt qua được. Đã có một số trường nêu khẩu hiệu này nhưng chưa thực sự có chiều rộng và chiều sâu.

Bạn đọc Hải Đườngthì ủng hộ khẩu hiệu của UNESCO cho thế kỷ 21: “Học để biết. Học để làm việc. Học để chung sống. Học để trở thành chính mình.” Khẩu hiệu này  đã được một trường THCS tại TP.HCM sử dụng song song với khẩu hiệu “Tiên học lễ- Hậu học văn”.

“Đã đến lúc chúng ta nên bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”” – là quan điểm của bạn đọc Phan Quốc Khánh. Nên thay bằng khẩu hiệu “Học tập tốt để ngày mai lập nghiệp”

Đồng quan điểm và Nhà nghiên cứu phê bình văn học Lại Nguyên Ân – bạn đọc huynhanhtuan cho rằng, nên dùng khẩu hiệu Việt. Theo đó nên dùng khẩu hiệu “Thi đua dạy tốt, học tốt” vừa đơn giản, dễ hiểu lại phù hợp với trường học.

Và một khẩu hiệu thuần Việt khác được độc giả Trường Hải đưa ra là “Học – học nữa – học mãi” để thay thế cho “Tiên học lễ – Hậu học văn”.

Là một giáo viên đang đứng trên bục giảng – độc giả Nguyễn Xuân Sơn nhìn nhận “Tiên học lễ – Hậu học văn” rất không phù hợp. Nó cũng chẳng để lại ấn bất cứ ấn tượng nào từ thời đi học. Nên thay bằng khẩu hiệu: “Học tập tốt là con đường đưa đất nước thoát nghèo”. Khẩu hiệu này có ý nghĩa hơn.

Độc giả Cao Anh Tùng mong muốn, nên thay bằng khẩu hiệu “Thầy ra thầy – Trò ra trò”. Khẩu hiệu này mang được nhiều ý nghĩa lại rất thuần Việt.

Còn độc giả Nguyễn Tiến Đạt thì tha thiết, các trường học cần xóa bỏ câu “Tiên học lễ – Hậu học văn” để thay bằng câu “Học để làm người thành đạt”.

  • Nguyễn Hiền (tổng hợp)

 

 


 

 

Ý kiến bạn đọc

(Đã xử lý 57/ 105bình luận)
  • Nên có nhiều khẩu hiệu đạo lý làm người trong trường học.
    Tiên học lễ- Hậu học văn, câu này tôi đã từng hỏi nhiều người trẻ, học sinh, sinh viên,…có nhiều người không hiểu nghĩa của cụm từ này nói gì. Chúng ta là người Việt Nam, nên nói theo ngôn ngữ Việt, chẳng hạn nên dịch những cụm từ đó ra nghĩa rõ ràng hơn ” trước tiên học cách ứng xử lễ phép, có văn hoá trong cuộc sống thường ngày rồi sau đó mới học kiến thức chuyên môn. và có thể treo những khẩu hiệu của Hồ Chí Minh dạy về đạo đức chẳng hạn ” Người có tài mà không có đạo đức là người vô dụng (là người bỏ đi)”, Suy nghĩ trước khi nói, Kiên quyết khi hành động, cẩn thận khi cầm bút, bình tĩnh khi gặp nguy nan, nhẫn lại ôn hoà khi tức giận”. Học nữa, học mãi, học suốt đời, người không học lễ nghĩa không hiểu được đạo lý,….
    Nguyen Doan Du Gửi lúc 09/08/2012 10:26
  • Không nên thay đổi
    Theo tôi không nên thay đổi khẩu hiệu và tranh luận làm gì, các cụ ngày xưa không bao giờ dạy sai con cháu, câu khẩu hiệu này hợp lý Cái chính là thế hệ sau ít người được thế hệ đi trước giảng giải cho hiểu được ý nghĩa sâu xa nên có cái nhìn không chính xác, mà ngay thế hệ đi trước cũng chưa chắc hiểu hết và giảng đúng. Mà có khi hiểu được nó rồi nhưng hành động và việc làm của mỗi người lại không khớp với lời nói và sự hiểu biết. Lỗi là ở chính ý thức tự giác của mỗi con người, không phải ở câu Khẩu hiệu và càng đừng đổ lỗi cho các cụ Cái gì cũng có nguyên nhân và kết quả của nó, muốn tránh kết quả xấu thì tự mỗi người hãy trồng nhân tốt từ ý nghĩ, lời nói, hành động ngay từ bây giờ đi. Khi quả xấu đến rồi phải đối diện, chấp nhận và vượt qua nó, không thể lẩn tránh được. Nên sớm đưa Nhân Quả của Phật giáo vào trong ngành giáo dục bới chính ngay nhà bác học lừng danh Albert Einstien cung đã phải thốt lên: “Khoa học kết thúc lúc Phật giáo bắt đầu”
    Hoang Son Gửi lúc 09/08/2012 10:19
  • Khẩu hiệu mới:
    Nên thay bằng khẩu hiệu: Trước học đạo đức, sau học tri thức! HOẶC Rèn luyện đạo đức, học hành tri thức!
    hiep Gửi lúc 09/08/2012 08:42
  • Nhiều khẩu hiệu hay và ý nghĩa
    Tôi thấy nhiều câu mà mấy bạn đọc đề xuất cũng ẩn chứa việc rèn luyện đạo đức… (tức là lễ) ở người học sinh đấy chứ. Đâu cần cứ phải nói toạc ra là phải học lễ trước. Cụ Phạm Văn Đồng ngày xưa bàn về sự trong sáng của tiếng VIệt cũng nhắc nhở việc dùng từ. Lâu ngày chắc mọi người quên bài học ấy rồi.
    Lê Nguyễn Gửi lúc 09/08/2012 08:26
  • Học để không trỏ thành Lê Văn Luyện
    Theo tôi, thế này mới hoành tráng: Học để không trở thành Lê Văn Luyện
    Nguyễn Văn Lý Gửi lúc 08/08/2012 07:41
  • xin hiểu đúng nghĩa.
    Càng tranh luận càng tối nghĩa. Chữ lễ bao gồm cả nhân cách con người và sự tôn trọng người khác. Đừng hiểu nghĩa một cách trần trụi đòi bỏ đi một câu hay như vậy. những người đòi bỏ đã hiểu thấu nghĩa của chữ lễ chưa? Học sinh ngày nay như vậy là do đâu, thật đau lòng!
    hương nguyên Gửi lúc 08/08/2012 06:36
  • Sao cứ phí công
    Nếu hiểu cho rộng câu ” Tiên học lễ, hậu học văn” thì ngày nay vẫn là câu chuyện nóng hổi và có ý nghĩa thợi sự sâu sắc. Sao lại có vị “Giáo dục, khoa học” nào lại cứ muốn đánh bóng mình bằng cách quay lưng, đạp lên các đúc kết của Cha ông chúng ta. Xin đứng vô bổ để bàn luận những chuyện không nên bàn.
    Hoàng Phi Phục Gửi lúc 08/08/2012 02:09
  • Độc giả đề xuất khẩu hiệu thay thế ‘Tiên học lễ…’
    KÍnh thưa quý vị , tôi đọc nhiều ý kiến của quý vị rất nhiều vị không đồng tình với ” Tiên học lễ, Hậu học văn ” . Tôi xin nói một điều như vầy. Có nhiều vị có con có cháu đang đi học, trước khi quý vị cho con, cháu mình đến trường quý vị phải dạy cho con, cháu biết ” Ông bà, Cha mẹ, Anh chi em….” phải biết kính trên nhường dưới, biết cảm ơn, biết xin lỗi, biết giúp đỡ mọi người……… đó là bài học đầu tiên trước khi con cháu mình bước vào trường học văn hóa , vậy chừng ấy việc có phải là “LỄ ” không !!!???, tại sao ta lại thiếu hiểu biết đến nỗi đề nghị bỏ ” Tiên học lễ , Hậu học văn ” nhỉ !!??, Ta là người lớn mà không hiểu hết nghĩa của chữ Lễ thì làm sao ta dạy con cháu ta được ?????. Kính chúc mọi người có nhiều con ngoan cháu giỏi để mọi người thấy rằng chữ lễ nó quan trọng như thế nào.
    Bùi Văn Được Gửi lúc 08/08/2012 01:36
  • Cần nghiêm túc xem xét
    Rất nhiều việc cần phải bàn và tranh luận. Song một câu đã đúc kết từ xa xưa của cha ông và tồn tại bao năm nay và hiện nay vẫn chưa lạc hậu hay lỗi thời. Nhiều ý kiến cho rằng lớp trẻ ngày nay vấn đề đạo đức có phần xuống cấp thì sao lại bỏ cấu ” Tiên học lễ, hậu học văn”. Bác Hồ dạy: ” Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó; có tài mà không có đức thì là người vô dụng”.
    Hoàng Phi Phục Gửi lúc 08/08/2012 11:23
  • Xin dừng việc tranh luận về khẩu hiệu lại thưa các vị.
    Xin dừng việc tranh luận về khẩu hiệu lại thưa các vị. LỄ bao hàm nhân cách con người. VĂN bao hàm tri thức mang ra giúp đời. Đơn giản vậy. Trẻ con chưa hiểu chứ giáo viên, phụ huynh, quan chức Giáo dục chả nhẽ không hiểu. Câu này hiện nay không phải để răn dạy các cháu, chính để răn dạy những người lớn…những người viết trên tờ giấy trắng tâm hồn các cháu. Chúng ta đã xứng đáng với chữ lễ đó chưa…đã từng đưa & nhận phong bì chưa, từng thiếu văn hoá từ những việc nhỏ chưa: vi phạm luật giao thông, xả rác bừa bãi, gian dối trong học tập, công việc, thờ ơ vô cảm..v.v. Chọn khẩu hiệu nào đi nữa cũng không bỏ được những bài học làm người cổ nhân dạy. Chữ Lễ khó hiểu hơn Cần Kiệm, Liêm Chính…, Công, Dung, Ngôn, Hạnh?….bỏ đi nốt? Hay khi ta không xứng với chữ Lễ .. ta tìm cách quẳng nó đi để rảnh tay làm những việc gọi nôm na là THEO KỊP THỜI ĐẠI. Có một câu của người xưa: “Thượng bất chính, hạ tất loạn” THƯỢNG là chúng ta, còn HẠ là con cháu chúng ta đó. Chỉ hiểu đến thế mà thôi.
    Nguoi Ha Noi Gửi lúc 08/08/2012 09:34
%d bloggers like this: