Lưu trữ | 10:38 Sáng

“Thể thao trường học ở VN kém nhất Đông Nam Á” – TT

15 Th8

“Thể thao trường học ở VN kém nhất Đông Nam Á”

TT – Đó là chia sẻ của giáo sư Dương Nghiệp Chí, nguyên phó tổng cục trưởng Tổng cục TDTT, nguyên viện trưởng Viện Khoa học thể dục thể thao, xung quanh thất bại của thể thao VN tại Olympic London.

Tại Olympic London, võ sĩ taekwondo Diệu Linh (phải) thua chóng vánh ngay vòng đầu tiên – Ảnh: AFP

Ông Chí nói:

– Trước Olympic London, dù hi vọng nhưng tôi nghĩ việc thể thao VN đoạt huy chương gần như không thể xảy ra. Xét dưới góc độ khoa học, nguyên nhân dẫn tới việc trắng tay tại Olympic xuất phát từ những yếu tố sau:

1. VĐV không được đào tạo căn bản, khoa học từ nhỏ nên mất cơ bản về tố chất thể lực và khả năng tiếp thu kỹ thuật, ý chí thi đấu. Ngoài ra, thể thao trường học ở VN yếu kém nhất Đông Nam Á khi không có CLB thể thao nào tại trường học.

2. Toàn bộ hệ thống tuyển chọn VĐV năng khiếu VN chưa có quy chế, tiêu chuẩn, phương tiện kỹ thuật.

3. Tuyển chọn VĐV không tốt, công tác huấn luyện lại càng kém. Thể thao VN đã đầu tư quá dàn trải trong khi lẽ ra chỉ nên tập trung đầu tư tối đa 10 VĐV cho Olympic. VN làm gì có nhiều người tài nhưng mỗi năm hiện nay vẫn tập trung từ 1.500-2.000 VĐV quốc gia tại tất cả trung tâm đào tạo. Từ xưa đến nay ngành thể thao chưa bao giờ có kiểm tra, đánh giá về công tác huấn luyện. Do vậy không ít tiền của Nhà nước đầu tư cho thể thao đã bị lãng phí vì không có ai đánh giá, kiểm định chất lượng để biết xem họ đã tiêu tiền nhà nước thế nào. Nếu chỉ đầu tư 2-3 tháng mà đòi có huy chương Olympic, VĐV chỉ có thể là “thánh sống” mới làm được.

Theo tôi dự đoán, chắc chắn trong 10-15 năm tới thể thao VN còn tiếp tục phải trả giá cho đầu tư sai lầm và những yếu kém suốt thời gian qua. Việc thể thao VN đề ra chỉ tiêu Olympic 2016 tại Brazil sẽ có HCV là điều không tưởng. Nếu ngay lập tức bắt tay vào làm lại từ bây giờ cũng phải mất một thế hệ nữa, đến khoảng năm 2025-2030 thể thao mới hi vọng có thể vực dậy được.

 

* Theo ông, quan niệm về phát triển thể thao thành tích cao ở VN như thế nào?

 

– Nếu chỉ coi đến Olympic để lấy huy chương thì không đúng tinh thần và hiến chương Olympic. Sai lầm của thể thao VN là không đào tạo VĐV từ nhỏ và đưa thể thao vào học đường.

* Viện Khoa học thể dục thể thao đã có công trình nghiên cứu môn thể thao nào phù hợp với thể chất người Việt?

– Chưa làm vì không có tiền. Tiền nhà nước cung cấp cho khoa học thể thao có nhưng ít và không yêu cầu tập trung cụ thể vào cái gì cả. Như năm 2012 viện chỉ được cấp 8 tỉ đồng, trong đó chỉ có 4 tỉ đồng làm khoa học thể thao… Cũng vì thiếu tiền, chưa VĐV nào được kiểm tra để biết chỉ số cơ thể như thế nào, xem có phù hợp với môn nào, khả năng phát triển ra sao… nên việc tuyển chọn VĐV của VN chỉ dựa trên chủ quan, kinh nghiệm. Dụng cụ, khoa học kỹ thuật để đánh giá, kiểm tra VĐV càng không có nên huấn luyện đôi khi cũng không rõ đúng sai thế nào.

* Theo ông, thể thao VN nên phát triển thể thao thành tích cao theo hướng luyện “gà nòi” hay từ thể thao học đường?

– Từ trước đến nay VN có vẻ như làm theo kiểu luyện “gà nòi”, còn thể thao học đường là số 0. Theo quan điểm của tôi, muốn phát triển thể thao thành tích cao phải kết hợp cả hai phương pháp là đào tạo “gà nòi” và phát triển thể thao học đường. Trong đề án phát triển thể lực, tầm vóc người Việt từ năm 2011-2030 đã được Chính phủ phê duyệt có chương trình 3 nói rất kỹ phải làm và làm như thế nào để phát triển thể thao học đường. Tuy nhiên đề án đã được phê duyệt hai năm nhưng chưa làm được gì. Nhìn bảng tổng sắp huy chương Olympic thì thấy nước nào phát triển thể thao học đường mạnh như Mỹ, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Nhật Bản… đều thành công.

* Học sinh, sinh viên VN cũng có các cuộc thi để thi thố tài năng như Đại hội thể thao sinh viên, Hội khỏe Phù Đổng?

– Các VĐV tham gia các cuộc thi này đều là VĐV ăn lương của các sở, ngành và là kiểu “gà chọi nửa mùa”. Do vậy bản chất của các cuộc thi này để phát triển thể thao học đường không thực hiện được.

* Ngành thể thao nhìn thấy sự tụt hậu từ bao giờ?

– Từ những năm 1970-1980 thể thao VN đã biết mình tụt hậu rồi. Nhưng lúc ấy có ba lý do không thể làm được là: nghèo, khoa học công nghệ kém, tri thức hạn chế. Hiện nay đã tốt hơn trước đây nhiều nhưng do đội ngũ cán bộ quản lý từ cơ sở đến cấp cao yếu nên không làm được. Họ không có khát vọng, dũng khí, dám làm dám chịu, quyết tâm thực hiện để thay đổi và phát triển thể thao VN.

KHƯƠNG XUÂN

 

Cần cải tổ thể thao Việt NamSau hai bài “Câu chuyện không nằm ở chỗ trắng tay” (Tuổi Trẻ 13-8) và “Thể thao VN đã gần chạm đáy của sự tụt hậu” (Tuổi Trẻ 14-8) nói về thất bại của thể thao VN ở Olympic London, 74 bạn đọc đã gửi phản hồi cho Tuổi Trẻ với mong muốn phải chấn chỉnh ngay công tác quản lý của ngành thể thao VN.

Bạn đọc Thanh Huynh viết: “Thảm họa không ở chỗ không đạt huy chương mà nằm ở chính bộ phận quản lý thể thao và ở chính cơ quan quản lý cao nhất. Từ khi để xảy ra lùm xùm chuyện ở lại hay về của đội bơi lội tập huấn tại Mỹ, ngay khi đó tôi đã thấy không hi vọng gì ở bộ phận quản lý cấp cao của thể thao VN”.

Còn theo bạn đọc Trương Trà: “Muốn có chiến lược tốt, nhà quản lý phải có tư duy tốt và định hướng đúng ngay từ đầu, nếu không sẽ chạy theo sửa những thứ không đúng do chiến lược và định hướng sai. Chẳng người VN nào vui khi hết VĐV rồi đến quan chức ngành thể thao cứ thi nhau đổ thừa với hàng trăm ngàn lý do mà không bao giờ dám nhìn thẳng vào năng lực quản lý yếu kém của mình, từ đó tìm cách khắc phục, cải thiện để ngày một tốt hơn”.

Từ đây, bạn đọc phanvany57@… đề xuất VN cần xem xét điều chỉnh chiến lược phát triển con người, trong đó có thể thao. Theo đó, chiến lược phát triển con người phải quan tâm nhiều đến thể chất, thể hình, và công tác thể thao ở mọi cấp độ theo một lộ trình nhất định với các mục tiêu cần phải đạt theo chiến lược phát triển đất nước, có so sánh với các nước khu vực và thế giới. Từ đây, Nhà nước nên xem xét lại từ gốc rễ sâu xa thất bại này để tìm những giải pháp trước mắt và lâu dài cho chiến lược phát triển con người VN nói chung và thể thao nói riêng.

Bên cạnh sự yếu kém từ lãnh đạo, HLV, bạn đọc dungle32@… cũng đặt lại trách nhiệm của các VĐV: “Chúng ta đã thất bại ngay trong tư tưởng, thất bại về ý chí, khát vọng chiến thắng. Hãy nhìn những VĐV tham dự Olympic mà xem, có người cụt hai chân vẫn thi đấu được tại Olympic. Trong khi đó, VĐV VN chỉ đặt ngưỡng là các giải quốc gia hoặc cao lắm là SEA Games. Từ đó họ không tạo được động lực phấn đấu cho những mục tiêu cao hơn”.

Bạn đọc dudo777@… bày tỏ bức xúc với cách hành xử của các quan chức thể thao VN khi nhắc lại câu chuyện: “Olympic mùa đông lần trước, chủ tịch Ủy ban Olympic Nga đã phải xấu hổ từ chức khi đoàn Nga không đạt chỉ tiêu về số huy chương. VN mình quá thiếu cái gọi là văn hóa từ chức và khi thất bại thì chỉ “họp” lấy lệ, không bao giờ mổ xẻ đến tận gốc vấn đề. Tôi rất nản lòng với cách làm của các lãnh đạo ngành thể thao”.

H.V. tổng hợp

Thêm những hình ảnh trích đoạn từ bức thư – họa “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”. – trannhantong.net

15 Th8

Thêm những hình ảnh trích đoạn từ bức thư – họa “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”.

 Tác giả:

Một cuộc đấu giá về bản phục chế cuộn thư họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ tại Trung Quốc đã gâ y xôn xao dư luận trong thời gian vừa qua.

Bức tranh được hoàn thành vào năm 1363 bởi họa sư Trần Giám Như, sau đó được các danh sĩ đời Minh viết nốt thêm lời bình dẫn, tôn vinh Trúc Lâm đại sĩ. Thư pháp đặc sắc của họ hợpcùng họa phẩm tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật thư – họa, có tổng chiều dài lên đến 3m.

Nhân vật chính trong bức họa là Phật hoàng Trần Nhân Tông. Bức họa miêu tả lúc Phật hoàng Trần Nhân Tông từ động VũLâm xuất du xuống núi. Đại sĩ ngồi trên cáng, còn các tùy tùng đều khoá cáo tăng. Voi trắng chở kinh đi ở sau cùng. Phía trước voi có người đội mũ vàng, cưỡi trâu, ấy hẳn là đạo sĩ Lâm Thời Vũ. Cung nghênh trên đường chính là con củaTrúc Lâm đại sĩ, người nối ngôi, thay cha trị nước, tức là vua Trần Anh Tông.

Số phận của bức tranh chìm nổi theo thời gian. Từ  đời Minh sang đời Thanh nó vẫn được lưu giữ như quốc bảo. Năm 1922, hoàng đế cuối cùng nhà Thanh là Phổ Nghi tuy đã thoái vị nhưng vẫn ở trong Tử cấm thành, nhân đó bí mật “tuồn” ra ngoài hơn 1.300 bảovật, trong đó có cả bức thư họa này. Lưu lạc trong chiến cuộc, đến năm 1949, số báu vật này mới được đưa vào Bảo tàng Đông Bắc (nay là Bảo tàng Liêu Ninh) lưu giữ, công chúng không mấy dịp được chiêm ngưỡng nữa. Bức Trúc Lâm đại sĩ cũng vì thế mà biệt tích. Năm 2004, Bảo tàng Liêu Ninh triển lãm và công bố các báu vật bị thất tán thời Phổ Nghi, nhưng cũng phải đến cuộc đấu giá vào tháng 4-2012 vừa qua, công chúng mới được thấy hình ảnh của Trúc Lâm đại sĩ đăng tải rộng rãi trên Internet.

Sau những phát hiện trên của nhà nghiên cứu Nguyễn Nam về bức tranh cổ quý giá này( phiên bản cao cấp) được bán đấu giá ở Trung Quốc vừa qua, nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Huy, một người cũng theo dõi về các cổ vật thời Trần, đã cung cấp thêm một số chi tiết về Trần Giám Như – tác giả bức tranh quý hiếm này. Trần Giám Như là họa sư đời Nguyên và cũng là người dòng tộc họ Trần, sang Trung nguyên sinh sống lâu dài.

Ngoài bức tranh nổi tiếng trên, Trần Giám Như  còn là tác giả một số chân dung các nhân vật người Việt và người Cao Ly (TriềuTiên), phải sống lưu vong ở Trung Quốc thời kỳ đó.

Để độc giả có cơ hội tìm hiểu và chiêm ngưỡng các chi tiết cuả bức tranh quý, xin cung cấp thêm những hình ảnh trích đoạn từ bức thư họaTrúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, mà Trần Phước Huy gọi là một ” cuộn tranh” dài tới 3 mét này. Một số hình ảnh khắc họa rõ nét hơn như Đạo sĩ người Trung nguyên Lâm Thời Vũ cưỡi trâu đi trước, hình ảnh voi trắng chở kinh đisau cùng, các nhà sư mặc y phục đặc trưng là người phương Nam, khác với sư ở Trung nguyên. Còn có hình ảnh nghiên mực bằng đá, xung quanh có khắc các trích đoạn tranh “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ”. Tác phẩm được chế tác vào đời Vĩnh Lạc nhà Minh ( 1402 – 1424), sau này còn được phỏng tác lại nhiều lần, đến tận đời Càn Long nhà Thanh còn được làm bằng gốm sứ.

Sau đây là một số ảnh trích đoạn:

Trúc Lâm đại sĩ ngồi trên cáng cùng các nhà sư và đồ đệ, đi dưới vòm tùng cổ thụ Yên Tử.

Voi trắng chở kinh đi sau cùng. Các nhà sư mặc y phục đặc trưng là người phương Nam, khác với sư ở Trung nguyên.

                                                                                              Đạo sĩ người Trung nguyên Lâm Thời Vũ cưỡi trâu đi trước.

Vua Trần Anh Tông, con của Thượng hoàng Trần Nhân Tông cùng các tùy tùng cung nghinh Thượng hoàng, lúc này đã là Phật hoàng,  khi Người xuống núi ( Vua Trần Anh Tông là người đứng ở giữa, chắp tay cung kính).

Nghiên mực bằng đá, xung quanh có khắc các trích đoạn tranh ” Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ”. Tác phẩm được chế tác vào đời Vĩnh Lạc nhà Minh ( 1402 – 1424 ), sau này còn được phỏng tác lại nhiều lần, đến tận đời Càn Long nhà Thanh còn được làm bằng gốm sứ…

Hoàng Lan (tổng hợp và sưu tầm)
Tiếp tục đọc

Kinh ngạc về một vị quan ở Hà Tĩnh – trannhuong

15 Th8

 

Kinh ngạc về một vị quan ở Hà Tĩnh

Vương Công Kiên
 
 
Tôi là một đoàn viên Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh, là con em của Hà Tĩnh, hiện đang làm việc trong một nhà máy ở Nhật Bản, những lúc rỗi, tôi hay mở mạng tìm hiểu tình hình quê hương. Khi đọc bài viết của nhà báo Võ Minh Châu “Có chuyện gì giữa ông giám đốc Đài PT-TH và nữ phóng viên?” trên http://www.tienphong.vn/xa-hoi/587694/co-chuyen-gi-giua-ong-giam-doc-dai-pt-th-va-nu-phong-vien-tpp.html, tôi thật sự kinh ngạc và bức xúc về lời nói và việc làm của ông Đinh Văn Thiềm, Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Tĩnh trong vụ “xử lý” nhà báo Phan (Phạm?) Thuý Hằng.  
 
 Nếu như những gì mà nhà báo Võ Minh Châu thông tin trong bài viết là sự thực thì thật là không còn đạo trời, phép nước gì nữa. Không biết ông Đinh Văn Thiềm ăn phải gan hùm hoặc vừa “đập đá” xong hay sao mà dám ngang ngược phát biểu và hành động như vậy, trong khi toàn Đảng đang phát động cuộc chỉnh đốn quyết liệt, sống còn theo tinh thần Nghị quyết 4 mà Trung ương vừa mới ban hành. Không biết quá trình “phấn đấu”, “trưởng thành” của ông Thiềm như thế nào mà ông dám phát biểu “Bí thư chi đoàn là cái gì? To tát chi cái chức vụ ấy mà đưa ra đòi ưu tiên để giữ lại”. Có lẽ, ông là kẻ “rách trời rơi xuống” hoặc từ dưới đất “nứt ra” hay sao mà dám ăn nói như thế. Nghĩ mà đau xót cho tổ chức Đoàn, cánh tay phải của Đảng ta. Từ khi Đảng chưa ra đời đã có tổ chức “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” (1925), một tổ chức của những người thanh niên yêu nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh giác ngộ lý tưởng cách mạng, tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê nin, xây dựng thành hạt nhân cho Đảng sau này. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ khi được chính thức thành lập đến nay (1931), Đoàn Thanh niên CS Đông Dương và sau này là Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị – xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam đã có nhiều phấn đấu hy sinh to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Tổ chức Đoàn đã bồi dưỡng và giới thiệu cho Đảng biết bao cán bộ, đảng viên ưu tú, nắm giữ những cương vị quan trong trong hệ thống chính trị – xã hội. Trong tình hình hiện nay, đứng trước những khó khăn, thách thức của thời đại, tổ chức Đoàn cũng như các tổ chức chính trị – xã hội khác đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức lớn của riêng mình, đang cần được sự hỗ trợ, động viên, dìu dắt của Đảng để nổ lực phấn đấu vượt lên đóng góp thật nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì một cán bộ có tầm cỡ của Đảng như ông Đinh Văn Thiềm với lời phát biểu “xanh rờn” và những ứng xử vô lối của mình đã dội xuống nhiệt huyết của họ không phải là gáo nước lạnh mà là một tảng băng khiến họ nhức buốt, tái tê và chán nản.
 Được biết, ông Đinh Văn Thiềm từng là một sinh viên ngành sử, từng là Chánh văn phòng Tỉnh uỷ Hà Tĩnh. Với ít nhiều những tri thức sử học, với những gì mà Đảng đã cho ông ăn học, bồi dưỡng cho ông từ những trường học cao cấp nhất của Đảng cho đến biết bao lớp tập huấn chính trị, không rõ ông nhận thức như thế nào về vai trò của thanh niên, của tổ chức Đoàn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc mà ông lại phát ngôn bừa bãi, hành xử vô lối đến thế. Khi mà trong Đảng còn có những cán bộ như vậy thì liệu công cuộc chỉnh đốn, thanh lọc để làm trong sạch và phát huy sức mạnh của tổ chức Đảng sẽ đi đến đâu? Cuộc vận động sâu rộng và lâu dài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” sẽ có kết quả như thế nào?
 Hình như văn hào Lỗ Tấn từng nói: từ huyết quản phun ra là máu. Và đương nhiên, từ vò nước lạnh bị vỡ thì chảy ra chỉ toàn là nước lạnh. Tư tưởng, phẩm chất của ông Thiềm như thế nào thì nó đã bộc lộ hai năm rõ mười qua câu nói được “phun ra” trước bàn dân thiên hạ và qua cách xử trí độc đoán, chuyên quyền của ông. Vấn đề là do động cơ nào và từ chổ dựa nào mà ông dám cả gan nói và làm như vậy? Về động cơ thì khỏi phải bàn, chắc chắn bạn đọc sẽ đoán được là nó xuất phát từ chổ tăm tối nhất của tâm địa ích kỷ hại nhân, hại nước; cái chổ mà chỉ có đồng tiền mới lấp lánh phát sáng được mà thôi. Còn về chổ dựa thì ngoài lời đồn đoán rằng ông được ông này bà nọ che chở, chắc chắn là môi trường hoạt động, tình hình tổ chức chính trị – xã hội nơi ông công tác ắt là rất “thuận lợi” để ông có thể nói và làm được thế. Một cán bộ chính trị, không có chuyên môn, nghiệp vụ, không có thẻ nhà báo lại được bố trí đứng đầu ngành phát thanh – truyền hình địa phương, đã không ý thức được sự yếu thế của mình mà tu tỉnh, thu phục nhân tâm, ưu ái người có năng lực để hoàn thành nhiệm vụ, ông Thiềm lại còn phát biểu một cách phách lối và buồn cười “Tôi là Tỉnh ủy viên… cô đừng đưa nhà báo…?ra dọa tôi. Tôi sẽ ký quyết định điều cô đi… sai đâu tôi chịu đó, kể cả xuống làm chuyên viên tôi cũng làm!”. Bản thân được Đảng cử phụ trách một cơ quan báo chí quan trọng của địa phương mà nói như thế; biết sai mà vẫn làm, lại còn lên giọng “cùn” thách thức mọi người. Thật hết chổ nói.
Hà Tĩnh quê ta xưa nay là một tỉnh nghèo, đang cố vươn lên để thoát nghèo. Để thực hiện được lý tưởng xây dựng quê hương giàu mạnh, vấn đề con người, vấn đề tổ chức cán bộ là trọng yếu, then chốt. Do đó, tỉnh đã có chủ trương, chính sách thu hút nhân tài. Tuy nhiên, muốn người có tài hăng hái trở về xây dựng quê hương, trước hết phải làm sạch môi trường, “khử” hết những kẻ bất tài, kém đức đang nắm những vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị – xã hội địa phương, “khử” sạch cái thói đố kỵ, ích kỷ hại người của lực lượng cán bộ cơ hữu thì mới mong thực hiện được chủ trương, chính sách tốt đẹp đó. Chúng ta phải biết bình tĩnh suy ngẫm đạo lý của cha ông từ trong những câu ví tuyệt vời của xứ sở để có tư tưởng, lời nói và việc làm cho đúng đắn:
   Nghèo tiền, nghèo bạc chẳng lo,
  Nghèo NHÂN, nghèo NGHĨA mới cho là nghèo
    
  Địa chỉ: Vương Công Kiên,    
Nhà máy sản xuất điện tử Sony, quận Isahaya, tỉnh Nagasaki, Nhật Bản

Lời trăn trối của Nàng Thơ – trannhuong

15 Th8

 

Lời trăn trối của Nàng Thơ

Nguyễn Vũ Tiềm
 
 
Đến lúc thần thánh và thơ ca
Được sử dụng làm công cụ lừa gạt
Em còn góc nào để trú ẩn nữa không?
*
Bị xảo trá dồn đuổi
Bằng lăng xê quảng cáo om xòm
Phô mông phô ngực
Tử tế thiện lương đến mấy
Cũng thành dị tật dị hình.
*
Nhân phẩm bị khủng bố
Truy lùng những giá trị thiêng liêng
Nhân tính nhân văn bị thải loại
Những khối u ác tính rình rập thay vào…
*
Nữ tính của thơ như gấm như hoa
Đào tơ phong nhụy
Bao tao nhân mặc khách tôn thờ
Đắm say theo đuổi
Hơn ngọc ngà châu báu bấy lâu nay…
*
“Than ôi, thời mỹ lệ nay còn đâu”?
*
Thơ bị nhiễm nặng nề ma túy
Cả điôxin và HIV
Họ kéo cả linh thiêng thần thánh
Trà trộn vào thơ để lừa gạt cộng đồng.
Em còn góc nào để trú ẩn nữa không?
May còn nơi trú ngụ cuối cùng:
Cõi chết!

Học giả Lý Lệnh Hoa: Trung Quốc có nguy cơ thành kẻ thù chung của thế giới – TP

15 Th8

Học giả Lý Lệnh Hoa:

Trung Quốc có nguy cơ thành kẻ thù chung của thế giới

> Nguy cơ xung đột Trung-Nhật tại đảo tranh chấp

TP – Học giả Trung Quốc Lý Lệnh Hoa (Trung tâm Thông tin Hải dương Trung Quốc) phân tích những điều sai trái, ngang ngược, vô lý trong lập trường, chủ trương, yêu sách của chính phủ Trung Quốc về biển Đông.

Bộ đội hải quân Việt Nam giúp ngư dân neo đậu trong âu tàu đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa
Bộ đội hải quân Việt Nam giúp ngư dân neo đậu trong âu tàu đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 13-8, học giả Trung Quốc Lý Lệnh Hoa (Trung tâm Thông tin Hải dương Trung Quốc), người có nhiều bài viết phê phán những quan điểm sai trái của Trung Quốc về vấn đề biển Đông, bác bỏ Đường lưỡi bò, đăng trên blog của ông loạt bài viết của một học giả Trung Quốc khác có bút danh “Bao Phác Tiên Nhân”. 

Học giả này cũng phân tích những điều sai trái, ngang ngược, vô lý trong lập trường, chủ trương, yêu sách của chính phủ Trung Quốc về biển Đông. Tiền Phong trích dịch một số đoạn:

Vấn đề Nam Hải (biển Đông)

Cái gọi là vấn đề Nam Hải, bao gồm vấn đề Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa), chủ yếu là vấn đề Nam Sa, rốt cục là như thế nào? Ai là người đầu tiên tuyên bố Nam Hải là lãnh hải của Trung Quốc? Căn cứ vào đâu mà tuyên bố?

Hoàng đế Thanh triều đến lãnh thổ trên bộ còn không giữ được, thật khó nói có biết đến chuyện lãnh hải hay không, đương nhiên không biết yêu cầu về quyền lợi biển.

Sau khi chính phủ Dân quốc thành lập, chẳng được mấy ngày bình yên, hết nội chiến lại đến ngoại họa, sau đó là Đại chiến thế giới, may mà đứng về phía bên chiến thắng, nên mới có vấn đề Nam Sa. Nếu đứng về bên thua trận thì ngày nay làm gì có tư cách bàn đến vấn đề này.

Năm 1946, Lâm Tuân dẫn hạm đội đi thu phục các đảo. Nói là thu phục, nhưng theo tôi, đúng ra là tiếp thu tài sản của kẻ thất bại. Có một số đảo thực ra không biết là của ai, Nhật Bản chiếm, rồi thua trận đem dâng cho ta, dĩ nhiên ta vui vẻ nhận.

Đi cùng hạm đội có một ông quan cấp vụ trưởng ở Bộ Địa chất Khoáng sản vung bút vẽ đại một Đường đứt khúc 9 đoạn hư ảo thành cái túi to tướng. Cái túi đó lớn đến mức bản đồ của ta phải vẽ thêm một ô phụ ở góc để thể hiện nó. Sau khi quay về, in vào bản đồ chính phủ Dân quốc, đem công bố, thế là ra đời một đường biên giới…

Nhưng cái Đường 9 đoạn hư ảo đó thực tình vẽ quá mức, cơ bản đều vẽ sát vào bờ biển nhà người ta. Người ta giải quyết xong chuyện trong nhà, đương nhiên phải ra mặt có ý kiến.

Thế là vấn đề Nam Hải càng ngày càng gay gắt. Cái Đường 9 đoạn hư ảo ấy rốt cục là đường gì? Nó không phải là đường cơ bản lãnh hải, cũng không phải là đường lãnh hải.

Rút cục nó có ý nghĩa pháp lý gì? Trong nhà chúng ta cũng thấy rất khó xử, cho nên năm 1995 khi công bố đường cơ bản lãnh hải đã không hề đề cập đến nó…

Quan điểm của tôi là: thực chất của vấn đề Nam Sa là tranh. Về mặt pháp lý, quả thực có vấn đề. Nhưng mạnh thì ra tay trước, tranh được bao nhiêu hay bấy nhiêu…

Trung Quốc thực sự có quyền lợi không thể tranh cãi ở Nam Hải không?

Nói đến quyền lợi ở Nam Hải, chúng ta thường thích nói một câu là: từ xưa đến nay thế này thế nọ, có lúc hứng lên còn thêm vào hai chữ “thiêng liêng”.

Đó chính là cái gọi là chứng cứ lịch sử… Nhưng những chứng cứ đó có ý nghĩa ngày càng nhỏ trong luật quốc tế hiện đại… Chứng cứ thật sự có sức thuyết phục chính là sự kiểm soát thực tế.

Anh nói chỗ đó là của anh, vậy anh đã từng quản lý nó chưa? Người ở đó có phục tùng sự quản lý của anh không? Có phải người khác không có ý kiến gì không? Nếu đáp án của những câu hỏi này đều là “có” thì anh thắng là điều chắc. Ở Nam Sa, chúng ta đã không có được điều đó…

Vào thời nhà Thanh (đời Hàm Phong hoặc Đồng Trị), có một chiếc tàu hàng Pháp chở đồng đi qua vùng biển Tây Sa thì gặp cướp biển, bị cướp sạch.

Theo quy tắc vận tải hàng hóa trên biển, họ phải đến gặp chính quyền sở tại để trình báo, đề nghị giúp bắt bọn cướp, đồng thời xin chính quyền nơi đó xác nhận làm bằng cứ để khi về báo cáo với chủ hàng và đòi hãng bảo hiểm bồi thường.

Viên thuyền trưởng người Pháp đưa tàu chạy đến cảng gần nhất là Du Lâm ở đảo Hải Nam, trình báo với tri phủ (có lẽ là tri huyện) địa phương.

Viên quan địa phương đó nói với thuyền trưởng Pháp: “Nơi chúng ta đứng đây có tên là Thiên Nhai Hải Giác (chân trời góc biển). Đất của Thiên triều đến đây là hết rồi. Chuyện ông bị cướp ngoài biển biết là ở chỗ nào? Ông bị cướp, chúng tôi không chịu trách nhiệm, không quản được và cũng không muốn quản”.

Thế rồi tống cổ tay thuyền trưởng bị cướp ra khỏi nha môn. Nhưng sự kiện đó cần phải có cái kết, nếu không về Pháp biết ăn nói ra sao? Viên thuyền trưởng đành phải cho tàu chạy vào cảng Hải Phòng.

Quan chức địa phương ở đó rất tốt, xác nhận cho ông ta, lại còn cho tàu ra chạy lòng vòng, coi như đã truy bắt cướp.

Đó là chứng cứ gì? Đó chính là chứng cứ về kiểm soát và quản lý thực tế. Chứng cứ này nói lên: chính phủ Trung Quốc ngay từ thời triều Thanh đã không thừa nhận Tây Sa là lãnh thổ của mình, cũng không đảm trách công tác trị an ở đó.

Còn chính quyền Việt Nam khi đó không những đã cho rằng Tây Sa là lãnh thổ của họ, mà còn thực thi công tác giữ gìn trật tự ở đó.

Điều đó chả phải đã chứng minh Tây Sa từ xưa đến nay đều thuộc về Việt Nam hay sao? Nếu bạn là đại biểu đàm phán của Trung Quốc, được huấn luyện đầy đủ về luật biển và luật quốc tế, trước những chứng cứ như thế thì phải làm thế nào? Thật là muốn có cỗ máy thời gian để quay trở lại thời đó bóp chết viên tri phủ kia!…

Cái Đường đứt khúc 9 đoạn kia rốt cục có ý nghĩa thế nào về pháp luật? Là lãnh hải? Là vùng biển quần đảo? Hay là vùng biển lịch sử? Chẳng ai biết được! Trước hết, có thể là lãnh hải không? Không thể! Quyền lực của một quốc gia đối với biển bắt nguồn từ lục địa (đất liền), cũng tức là quyền về biển bắt nguồn từ quyền về lục địa.

Muốn xác định lãnh hải, trước hết cần xác lập đường cơ bản lãnh hải. Muốn có đường cơ bản, trước tiên phải xác định các điểm cơ bản, đó phải là các đảo và lục địa không có tranh cãi về chủ quyền, khoảng cách giữa các điểm cơ bản không được quá 24 hải lý.

Điểm chặt chẽ nữa là trên đảo phải có đủ điều kiện để con người sinh sống. Vậy Nam Sa có điểm nào phù hợp? Sách giáo khoa của ta nói đến “các đảo Nam Hải” đều có một câu “phía Nam kéo dài đến bãi cát ngầm Tăng Mẫu”.

Bãi cát ngầm, bãi đá ngầm không nhô khỏi mặt nước, đất còn chả có, nói gì đến quyền về biển? Câu đó về mặt pháp lý là không trụ vững được. Thế nhưng từ khi triều đại hiện nay lập quốc, chúng ta đã cứ giáo dục quốc dân như thế.

Nay đột nhiên nói câu đó không ổn về mặt pháp lý, quốc dân không chấp nhận được, chúng ta đành phải chơi trò rùa rụt đầu lại, không nêu lên nữa là xong.

Vùng nước mà Đường đứt khúc 9 đoạn bao bọc chắc chắn không phải là lãnh hải. Vậy thì phải tìm lý do khác. Nhiều đảo như thế, liệu có thể gọi là vùng biển quần đảo được không? Indonesia được thì chúng ta cũng là một quốc gia ngàn đảo được chứ! Vùng biển quần đảo là vùng biển chủ quyền được Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 thừa nhận.

Căn cứ Công ước, cấu thành vùng biển quần đảo cần phải hội đủ mấy điều kiện. Thứ nhất, tỷ lệ diện tích vùng nước và diện tích lục địa (bao gồm các bãi san hô) phải đạt được từ 1:1 đến 9:1.

Thứ hai, độ dài đường cơ bản không được quá 100 hải lý, cho phép quá 3% thì cũng không được quá 125 hải lý. Các đảo Nam Sa vừa nhỏ, lại cách nhau quá xa, không thể đạt được hai tiêu chí đó.

Nếu chúng ta cứ cố tuyên bố đường cơ bản thì một rắc rối nữa lại xuất hiện: sau khi xác định đường cơ bản thì vùng biển phía trong nó trở thành nội thủy, phía trên nội thủy là vùng trời chủ quyền.

Về nguyên tắc, tàu thuyền nước ngoài, trong đó có tàu quân sự đều không được tự do qua lại. Muốn qua lại phải thông báo trước, phải được phép, phải nổi trên mặt nước, treo cờ, đi nhanh, không được dừng máy, không được thả neo, căng thẳng ra thì bắt giải giáp vũ khí.

Muốn tránh những rắc rối đó thì phải thiết lập hành lang hàng hải và hàng không để tàu thuyền, máy bay nước ngoài qua lại…

Chúng ta có thể tuyên bố Nam Sa là “vùng biển lịch sử” của mình. Nhưng làm sao các nước xung quanh lại không có phản ứng? Mấy cường quốc biển và vận tải biển như Mỹ, Nhật Bản sẽ đều chất vấn: “Nghe nói các ông muốn tuyên bố đây là vùng biển lịch sử? Thế từ nay về sau, chúng tôi qua đây đều phải báo cáo, xin phép các ông à?”.

Nơi này vốn là tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, mỗi ngày có hàng ngàn tàu thuyền qua lại. Nếu tuyên bố đây là vùng biển lịch sử, việc quản lý nó giống như quản lý nội thủy, không chỉ quản mặt biển mà còn phải quản cả vùng trời, lại còn phải quản lý theo luật trong nước, mọi quyền sinh quyền sát đều trong tay ta, muốn bắt thì bắt, muốn xử thì xử; không nói đến tàu quân sự, các tàu hàng, tàu khách đi qua đều không yên tâm… Nếu cứ cố tuyên bố thì chắc chắn ta sẽ trở thành kẻ thù chung của cả thế giới.

 

Trung – Nhật sắp xung đột ở Điếu Ngư/Senkaku?

Ngày 14-8, Thời báo Hoàn cầu, phụ bản của Nhân dân Nhật báo (Trung Quốc), đăng bài bình luận Nhật Bản đang tự tìm đến chỗ chết.

Bài báo viết: “Chúng ta kiên quyết phản đối Nhật sử dụng lực lượng phòng vệ để đối phó các nhân sĩ dân gian Trung Quốc. Nếu đầu óc người Nhật Bản phát sốt đến mức sử dụng chiêu thức đó, có nghĩa là buộc Trung Quốc phải đưa tàu chiến đến vùng biển đảo Điếu Ngư.

Khu vực này sẽ trở thành nơi va chạm của các chiến hạm hai bên. Đó sẽ là thảm họa đối với cục diện Đông Á…

Phía Nhật phải bảo đảm an toàn tính mạng cho các nhân sĩ Trung Quốc bảo vệ Điếu Ngư. Nếu hành động ngăn cản của Nhật gây nên hậu quả ngoài ý muốn, chính phủ và nhân dân Trung Quốc sẽ tiến hành báo thù, bắt Nhật Bản phải trả giá…

Biện pháp và sức mạnh trả thù của Trung Quốc cao hơn nhiều so với Nga và Hàn Quốc. Trung Quốc quyết không để Nhật Bản trút lên đầu mình sự bực tức do phải chịu nhục ở chỗ khác…

Sự cô lập của Nhật Bản đã rõ, bên cạnh Trung Quốc còn có sự tương trợ của Hong Kong, Đài Loan, cuộc khủng hoảng Điếu Ngư bùng phát, Nhật Bản không thể có lợi thế…

Mong người Nhật Bản hãy tỉnh táo, Trung Quốc không phải là quả thị để họ bóp nát. Nếu họ muốn leo thang trong cuộc khủng hoảng Điếu Ngư thì Trung Quốc nhất định sẽ chơi tới cùng!”.

Theo hãng tin Hoa ngữ DWNews ngày 14-8, trước việc phía Nhật Bản chuẩn bị các tàu tuần tra để ngăn cản, những người chủ trương đổ bộ lên đảo Điếu Ngư/Senkaku đã yêu cầu tàu chiến Trung Quốc hộ tống họ. Có tin trên tàu Khải Phong 2 có một số lính Trung Quốc cải trang.

 

Thu Thủy trích dịch

VAI TRÒ CỐT YẾU CỦA BIỂN ĐÔNG ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA TRUNG QUỐC – BS

15 Th8

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VAI TRÒ CT YU CỦA BIN ĐÔNG ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC ĐỊA CHÍNH TRỊ CA TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Bài viết trên tờ “Tín báo ” (Hồng Công) ngày 5/8 của Giáo sư Cúc Hi Long thuộc Học vin Quan hệ Quốc tế, Đại học Ký Nam Trung Quốc.

Sau mấy chục năm cải cách mở cửa, Trung Quốc không những đã nắm trong tay đội tàu viễn dương đẳng cấp thế giới mà còn xây dựng mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế toàn cầu; sự vươn dài toàn cầu của đời sống kinh tế đã khiến Trung Quốc đương đại trở thành một nước mang nhiều kiểu đời sống kinh tế văn hóa xã hội, đã thâu gom được đặc trưng văn minh biển. Ngày nay, Trung Quốc chưa phải là một cường quốc biển nhưng đã có đầy đủ điều kiện cơ bản để trở thành quốc gia biển.

 

Chiến lược của Trung Quốc: Hai ngả lựa chọn

Con đường trở thành cường quốc biển của Trung Quốc vẫn đang đối mặt với những sự lựa chọn khó khăn. Nhìn từ lịch sử, máu và bạo lực thấm đẫm lịch sử phát triển của các cường quốc biển truyền thống; phân tích từ góc độ hiện thực, “quyền lực là hành động, lợi ích là mục đích” được viết để viết lại trong tuyên bố của các nước bá quyền biển thế giới đương đại và các nước đi sau. Trung Quốc là cường quốc nằm sát biển cũng có mô hình tiến lên trước tất sẽ gặp phải các kiểu xung đột. Việc Trung Quốc tìm tòi hướng chiến lược mới sẽ không tránh khỏi sức ép ứng phó của các nước trên thế giới dựa theo mô hình chiến lược quyền lợi biển truyền thống.

Cho dù dự đoán phản ứng của các nước khác với nguyện vọng lương thiện tới mức nào, Trung Quốc cũng không thể tránh khỏi những cái nhìn thù địch và áp lực địa chính trị. Xung quanh Trung Quốc hiện nay, phía Tây Bắc, tiếp giáp với Tân Cương là khu vực Trung Á thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Nga; phía Tây Nam là Ấn Độ – nước luôn luôn cảnh giác với Trung Quốc – phía Đông Bắc là bán đảo Triều Tiên có tình hình không mấy lạc quan và Nhật Bản với tội ác lịch sử không suy nghĩ hối cải; phía Đông Nam là các nước Đông Nam Á có quan hệ thương mại lớn với Trung Quốc nhưng do tranh chấp Biển Đông nên quan hệ còn hạn chế.

Trung Quốc cơ bản rơi vào hoàn cảnh chiến lược địa chính trị bế quan, bị bao vây. Hoàn cảnh chiến lược này mang đến cho Trung Quốc hai sự lựa chọn cực đoan trong suy tính, quyết định sách lược – phải chấp nhận hiện thực, chấp nhận sự lãnh đạo của cường quyền thế giới, nhân nhượng vì lợi ích toàn cục trong hoàn cảnh khó khăn chiến lược địa chính trị; nếu muốn mưu cầu phát triển, phải phá vỡ tình trạng địa chính trị bị bao vây, trở thành cường quốc khu vực.

Đương nhiên, nhân nhượng vì lợi ích toàn cục cũng có thể mang lại cho Trung Quốc không gian phát triển, nhưng có thể mang lại không gian phát triển lớn mức nào thì cũng đáng để suy nghĩ kỹ càng. Hiện nay, dưới áp lực của Mỹ môi trường chiến lược quốc tế ổn định của Trung Quốc, quan hệ Trung – Nga khá ổn định dưới áp lực của Mỹ, nhưng quan hệ Trung – Nga không phải không có biến số. Do áp lực của châu Âu, Nga thực sự cần Trung Quốc, nhưng nếu giả thiết rằng có một ngày Nga trở thành cường quốc lãnh đạo châu Âu thì quan hệ Trung – Nga sẽ ra sao? Giả thiết mạnh hơn nữa rằng nếu Trung Quốc thất bại trong cuộc cạnh tranh chiến lược trong vòng 10 năm tới, Nhật Bản trở thành cường quốc Đông Á hoàn toàn dẫn dắt châu Á thì quan hệ Trung – Nga sẽ như thế nào? Khi Nga thành công ở châu Âu, Nhật Bản thành công ở Đông Á, Trung Quốc sẽ đi đâu về đâu?

Mỹ đối vi Trung Quốc: vừa kéo vừa đánh

Chiến lược địa chính trị không phải là toàn bộ chiến lược quốc gia, nhưng là trụ đỡ quan trọng cho chiến lược quốc gia toàn diện. Cho dù có thực lực kinh tế, có sức dẫn dắt chính trị và có năng lực truyền bá văn hóa, nếu không có ảnh hưởng quân sự và địa chính trị thì một đất nước cũng khó trở thành một cường quốc khu vực thực sự. Trước tiên, Trung Quốc nên phà bỏ áp lực địa chính trị bao vây đất nước hiện nay, xem xét kỹ mối quan hệ với Nga. Hướng phát triển chiến lược địa chính trị của Trung Quốc không phải ở phía Bắc cũng chẳng phải ở phía Tây, mà ở phía Đông Nam.

Trong lịch sử, bán đảo Trung Nam (bán đảo Đông Dương) là thuộc địa của Pháp, sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Mỹ và Liên Xô lần lượt khống chế bán đảo Trung Nam, đó chính là gông cùm khiến các nước như Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay khổ có thể tự tìm kiểm mô hình phát triển mang tính độc lập. Mỹ ngày nay lại đưa vai trò chiến lược vào khu vực bán đảo Trung Nam, áp lực chiến lược khu vực cả trên biển và trên đất liền phía Nam Trung Quốc vì thế tăng lên.

Biển Đông nằm ở giữa Thái Bình Dương và lục địa Đông Á. Vùng biển này được tạo nên bởi những đảo và chuỗi quần đảo nằm bên ngoài lục địa chia cắt với khu vực biển Tây Thái Bình Dương. Xét từ góc độ địa chính trị, đảo và chuỗi quần đảo này là bức màn phòng ngự tự nhiên của lục địa Đông Á, song cũng là lô cốt đầu cầu tự nhiên dùng để tấn công vào lục địa Đông Á của các quốc gia của Nhật Bản đã từng coi “chiến lược biển” là cái gốc lập nước để kinh doanh.

Thực tế, cho dù hiện đất nước không mấy khởi sắc, nhưng Nhật Bản vẫn không ngừng các bước đi của họ từ nước lớn kinh tế hướng tới nước lớn quân sự và nước lớn chính trị. về chiến lược biển, sự phòng thủ chiến lược đối với Trung Quốc của Nhật Bản sẽ là thách thức lớn nhất đối với chiến lược biển của Trung Quốc. Thách thức này không chỉ sẽ thấm sâu đến trụ cột các mặt của an ninh địa chính trị trên biển của Trung Quốc, mà còn thể hiện ngày càng rõ hơn ở các kỹ thuật khoa học quân sự nhằm vào Trung Quốc.

Trong tương lai, Trung Quốc vẫn còn 10-15 năm cơ hội chiến lược tốt nhất ở bán đảo Triều Tiên và bán đảo Trung Nam, cũng còn cơ hội tốt để kinh doanh và thúc đẩy quyền lợi biển ở Biển Đông và quan hệ hai bờ. Trong thời kỳ này, Trung Quốc sẽ đối mặt với sự đối lập và điều chỉnh trong quan hệ với Mỹ, cũng sẽ đối mặt với sự thách thức ngày càng cứng rắn và lộ rõ của Nhật Bản. Trung Quốc không thể dự đoán tương lai xa sẽ thay đổi như thế nào. Trung Quốc chỉ có thể biết rằng cần nắm chắc hiện tại thực hiện sự kết nối tốt giữa chiến lược lâu dài và chính sách cụ thể.

***

(Đài RFA 8/8)

Vừa qua, tại miền Nam California đã có một cuộc hội thảo về “Vấn đề tranh chấp Biển Đông” với bốn diễn giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, như địa lý và luật pháp công, lịch sử và chính trị hoặc kinh tế và an ninh.

Trong số diễn giả có chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa với bài phân tích những nhược điểm kinh tế và mục tiêu sâu xa của lãnh đạo Trung Quốc khi bành trướng vào vùng Biển Đông. Mục “Diễn đàn Kinh tế” tuần này sẽ tìm hiểu về những động lực đó của Trung Quốc.

– Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong cuộc hội thảo trưa ngày 4/8 vừa qua tại miền Nam California, ông có được mời lên trình bày khía cạnh kinh tế của các động thái gần đây của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị ông triển khai những ý ông đã phát biểu ngắn gọn tại cuộc hội thảo này. Nhưng trước hết, xin ông tóm lược cho biết về cuộc hội thảo đó.

+ Thái độ của Trung Quốc và tình hình căng thẳng gần đây tại vùng Biển Đông khiến dư luận thế giới quan tâm. Cộng đồng người Việt ở bên ngoài cũng ưu lo về quyền lợi lâu dài của Việt Nam vì thế nhiều đoàn thể hay diễn đàn đều cố tìm hiểu chuyện này. Ban tổ chức cuộc hội thảo vừa qua là một đoàn thể đấu tranh chính trị, họ mời các chuyên gia ở ngoài tổ chức đến trình bày nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề cho công luận cùng biết rõ.

Không là thành viên của một tổ chức chính trị nào, tôi nhận lời phát biểu như một bổn phận và qua đó còn học hỏi được nhiều ý kiến khác. Một diễn giả đáng chú ý là học giả Vũ Hữu San. Ông là sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa, nguyên thuyền trưởng của tàu khu trục Trần Khánh Dư HQ 4 đã tham chiến với Hải quân Trung Quốc trong trận hải chiến hồi tháng 1/1974 để báo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Sau 1975, ông đi học lại và nghiên cứu thêm về đặc tính hải dương và chủ quyền của Việt Nam trên vùng Biển Đông. Với tôi, ông là một học giả am tường với mấy chục năm cẩn trọng tìm hiểu sâu xa về một vấn đề sinh tử cho Việt Nam.

Nghịch lý

– Thưa ông, trên diễn đàn này từ nhiều năm qua, ông đã phân tích các vấn đề kinh tế của Trung Quốc nhằm cảnh báo Việt Nam về nhiều khó khăn tương tự. Tại cuộc hội thảo vừa qua, ông phổ biến một bài tham luận rất dài nhưng tóm lược vào một số điểm chính trong phần phát biểu trước cử tọa, mà truyền thông Việt ngữ đánh giá là chăm chú theo dõi. Hôm nay, xin đề nghị ông trình bày những ý đó.

+ Được mời trình bày một đề tài phức tạp nên tôi cố thu gọn vào khoảng 20 phút phát biểu để nhấn mạnh đến đặc tính sâu xa của Trung Quốc rồi đến yêu cầu về kinh tế và an ninh ngày nay khiến lãnh đạo nước này mới là vấn đề của thế giới. Tôi xin trình bày cho rõ hơn ở đây. Trước hết, Trung Quốc chỉ là một “ốc đảo”, thiếu đất, thiếu nước, đói ăn và khát dầu cho nên đang tìm cách giải quyết những bài toán này của họ.

– Hình như ông lại nói ra nghịch lý. Trung Quốc có lãnh thổ gần 10 triệu km2, với dân số hơn 1,3 tỷ người có sản lượng kinh tế chỉ đứng sau Mỹ và còn là chủ nợ số một của nước Mỹ mà ông lại gọi là ốc đảo thiếu đất thiếu nước đói ăn và khát dầu…. Xin ông lần lượt giải thích cho những vấn đề đó.

+ Nếu tôi có nêu ra nghịch lý thì chẳng vì lập dị hay kích thích sự chú ý. Vấn đề là cách tiếp cận một bài toán khách quan từ nhiều giác độ và trong thế động chứ không do cảm quan thù ghét hoặc cứ nhắc lại ấn tượng của nhiều người.

Trước hết, về địa hình, khu vực cốt lõi của Trung Quốc thật ra chỉ là một “ốc đảo” bên Thái Bình Dương. Ngoài hướng Đông là biển cả, ba hướng kia đều bị bao vây bởi núi rừng hiểm trở, sa mạc và thảo nguyên bất lợi cho sự vận chuyển và sinh hoạt. Ý nghĩa ốc đảo là như vậy, xin hãy nhìn vào bản đồ tự nhiên hay dân số của họ thì thấy.

Thứ hai, khu vực phì nhiêu đó là ở miền Đông gần biển, nơi có độ ẩm nhờ nước mưa, đủ cao cho canh tác và có châu thổ của hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử. Khu vực “ốc đảo” này hiện gồm 11 tỉnh và ba thành phố lớn với 500 triệu dân, nhưng diện tích có thể canh tác bình quân cho một người chỉ bằng một phần ba trung bình thế giới, nên ta mới gọi là “thiếu đất”.

Thứ ba, trên diện tích lãnh thổ gần 10 triệu km2, diện tích có nước nhờ ao hồ sông suối thật ra chỉ chiếm 0,28%, thấp hơn các nước lớn trên thế giới. Lượng nước ngọt cho một đầu người của Trung Quốc cũng thuộc loại thấp nhất châu Á, vốn dĩ đang là lục địa thiếu nước nhất địa cầu. Vì thế Trung Quốc mới đòi cướp nguồn nước của thiên hạ, từ đỉnh Himalaya đến các con sông lớn cua châu Á và sông Mê Công quen thuộc của người Việt.

Thứ tư mới là vấn đề đói ăn. Do khan hiếm đất và nước bên trong mà chưa biết cải tiến, dù có sản lượng lương thực lớn nhất thế giới, Trung Quốc vẫn phải nhập nông sản và giới lãnh đạo sợ nhất là chuyện dân chúng nổi loạn thiếu ăn như đã tửng xay ra nhiều lần trong lịch sử.

Thứ năm, không chỉ thiếu ăn mà Trung Quốc còn khát dầu, vì thiếu nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa đang khởi sự. Vì hiệu năng tiêu thụ kém, nước này sử dụng lãng phí và từ cả chục năm nay phải nhập khẩu dầu thô và khí đốt từ nhiều nơi để bổ sung cho than đá ở trong nước.

Một quốc gia có 3 nền kinh tế

– Như vậy, ông cho là vì những khan hiếm và không nuôi nổi một dân số quá đông ở trong nước, Trung Quốc mới muốn bành trướng ra ngoài để tìm tài nguyên cần thiết cho một nước đang công nghiệp hóa hay sao?

+ Nhiều người lý luận như vậy, nhưng tôi nghĩ sự tình còn nguy hiểm hơn vậy vì nhiều lý do khác.

Chúng ta không quên các nước láng giềng của Trung Quốc còn gặp hoàn cảnh tài nguyên bất lợi hơn nhiều, như Hàn Quốc và Nhật Bản. Nhưng trong thể kỷ 21 nếu mà cứ thiếu thì lại đi ăn cướp sao? Nhật Bản từng gặp bài toán đó nên giải quyết bằng xâm lăng và bành trướng quân sự như đã thấy vào các năm 1910, 1931 rồi 1941 với kết quả là chiến tranh và tàn phá cho cả châu Á và nước Nhật. Cho nên từ năm 1945 họ đã chuyển sang hướng hợp tác trong hòa bình để phát triển.

– Vì sao lãnh đạo Trung Quốc không giải quyết theo hướng đó? Trong cuộc hội thảo, ông có nói đến sự sợ hãi và đặc tính mà ông gọi là “nhất quốc tam kinh”, một quốc gia có ba nền kinh tế. Thưa ông chuyện ấy là gì?

+ Tôi thiển nghĩ Trung Quốc là nơi mà nỗi sợ hãi bị ngoại xâm đã thành một phần bản chất của lãnh đạo mọi thời. Nó được định chế hóa và xây dựng lên như một kiến trúc có thể thấy từ Mặt Trăng, đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc và mở rộng rồi củng cố vào đời Tần Thủy Hoàng và thời Minh. Nền văn hoá duy chủng và độc tôn của Hán tộc khiến họ khinh miệt các chủng tộc xung quanh mà họ coi là “tứ di”, bốn hướng đều là man rợ. Thực tế thì Hán tộc ở Trung Nguyên vẫn bị các dị tộc tấn công và làm chủ nhiều lần trong mấy thế kỷ. Vì vậy mới có phản ứng phòng thủ bằng thành lũy ngay từ trong đầu.

Thứ nữa là yếu tố “tam phân”. Do địa hình, lãnh thổ Trung Quốc có ba khu vực với đặc tính kinh tế khác biệt và đấy là bài toán của lãnh đạo ngày nay. Thứ nhất là ốc đảo tương đối trù phú và “hướng ngoại” của 11 tỉnh tiếp cận với biển và mở ra thế giới bên ngoài. Thứ hai là khu vực “nội địa” gồm tám tỉnh bị khóa trong lục địa, nơi sinh sống của 450 triệu dân nghèo hơn. Khu vực này khô cằn và có ít tuyến đường vận chuyển nên vẫn bị lạc hậu dù lãnh đạo đã nhiều lần ra sức đầu tư để khai khẩn. Khu vực thứ ba gồm 11 tỉnh bao trùm lên một nửa diện tích lãnh thổ cũng là vùng hoang vu hiểm trở ở hướng Tây và hướng Bắc. Với diện tích bạt ngàn và dân cư thưa thớt, đây là đất biên vực gồm cả lãnh thổ nước khác mà lãnh đạo mọi thòi đều muốn kiểm soát để biển thành vùng đệm quân sự nhằm bảo vệ các khu vực kia, nhất là Trung Nguyên của Hán tộc.

Vì chưa có dân chủ và không theo thể chế liên bang, Trung Quốc chưa thể phát triển ba khu vực này một cách công bằng và hài hòa. Lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thực quyền kinh tế và kinh doanh trong tay nhà nước và thân tộc, nước này không giải quyết được bài toán kinh tế và thường bị nguy cơ nội loạn. Thí dụ gần đây nhất không chỉ là Trùng Khánh, Ô Khảm hay Ôn Châu, mà còn xung đột giữa tư doanh và quốc doanh về dầu khí tại huyện Tĩnh Biên của tỉnh Thiểm Tây.

– Khi bên trong có đầy mầm loạn như vậy thì tại sao lãnh đạo Trung Quốc còn gây thêm vấn đề với những quyết định về ngoại giao, quân sự và kinh tế ở ngoài Biển Đông của Việt Nam?

+ Ta đi vào một khía cạnh tâm lý của lãnh đạo Trung Quốc thời nay là họ rất tinh vi trong sự lỗi thời, lại một nghịch lý khác mà chúng ta cố hiểu ra.

Trong mấy ngàn năm huy hoàng của văn hoá Trung Hoa, lãnh đạo Trung Quốc cho thần dân sống với ảo tưởng rằng mình là trung tâm của thiên hạ, tên nước của họ có phản ảnh tâm lý đó. Nhưng đấy là ảo giác vì các chư hầu xung quanh đều cứng đầu và gây tốn kém khiến triều đình ở trung ương nhọc lòng không ít. Họ cứ phải ra sức trấn áp hoặc đồng hóa dị tộc và củng cố vùng đệm quân sự bên trong. Trung Quốc là một cường quốc lục địa quay lưng ra biển chứ chưa bao giờ là cường quốc biển.

Xưa nay, nước này sống trong chế độ tự cung tự cấp và ít lệ thuộc thế giới bên ngoài, cần gì thì đã có Con Đường Tơ Lụa qua Trung Á. Ngày nay, và lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc không thể quay lưng ra bên ngoài vì phải phụ thuộc vào các nước để có thị trường xuất khẩu, có nguồn cung cấp năng lượng và kỹ thuật cho kinh tế ở bên trong.

Vì đến 90% lượng hàng hóa trao đổi giữa các lục địa ngày nay đều qua đường hàng hải, là cách rẻ nhất, việc tự do vận chuyển qua đại dương là nhu cầu sinh tử cho thế giới và được quốc tế công nhận, được siêu cường biển số một là Mỹ bảo vệ. Khi mở cửa ra ngoài, lãnh đạo Trung Quốc lại muốn kiểm soát quyền tự do đó, trước hết là trên vùng biển cận duyên.

Bành trưng và ngang ngược

– Qua phần trình bày phải nói là rất cô đọng vừa rồi, người ta thấy ra ít nhất hai vấn đề với lãnh đạo Bắc Kinh. Trước hết là quyền khai thác tài nguyên ngoài biển mà Trung Quốc lại coi là thuộc chủ quyền của mình ở Biển Đông. Thứ nữa là quyền tự do hàng hải mà lãnh đạo nước này lại muốn kiểm soát và thực ra là hạn chế. Có phải là như vậy không?

+ Ngoài biển Hoa Đông tức là vùng Biển Đông Bắc Á, nước này gặp phải các nước láng giềng phú cường và không sợ hãi. Tại Biển Đông, tức là vùng Biển Đông Nam Á, Trung Quốc gặp các quốc gia nhỏ yếu hơn nên mới tính trò hung hãn và ly gián. Đã vậy, vùng Biển Đông còn có vị trí chiến lược cho luồng vận chuyển từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, từ Đông Bắc Á xuống đến châu Đại Dương nên cũng là vùng sinh tử cho kinh tế Trung Quốc, là điều chưa hề có bao giờ, nên họ muốn kiểm soát.

Cho nên, ngoài việc vẽ ra cái lưỡi bò chín khúc để tranh đoạt tài nguyên ngoài Biển Đông, chiếm lấy các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, rồi đưa hải quân vào vùng tranh chấp chủ quyền với các nước Đông Nam Á, lãnh đạo Bắc Kinh còn muốn biến vùng Biển Đông thành vùng đệm quân sự của mình.

Tôi muốn được nhấn mạnh đến sự kiện là Trung Quốc không chỉ muốn cưỡng đoạt tài nguyên thủy sản hay năng lượng và kim loại dưới Biển Đông mà còn đòi xây dựng khu vực này thành vùng đệm quân sự tương tự như Tây Tạng, Tân Cương, hay Nội Mông. Nếu thế giới không có phản ứng thì sẽ có ngày Bắc Kinh gọi đây là khu vực quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc.

– Như vậy hình như dự báo của ông lại còn bi quan hơn cái nhìn của nhiều người vì không thu hẹp vào chuyện tước đoạt tài nguyên dưới đáy biển.

+ Tôi sẽ lại nói ngược nữa! Chính là thái độ ngang ngược của nước này khi họ chưa có một lực lượng hải quân hùng mạnh lại là điều may vì sẽ khiến thế giới chú ý và các nước có liên quan phải có phản ứng. Các nước có liên quan không chỉ là Việt Nam hay Philippin bị cướp mất lãnh hải và tài nguyên ở dưới mà còn có các nước bị hạn chế vận chuyển qua các dòng hải lưu hay các tuyến đường trọng yếu ngoài biển. Chúng ta đã thấy và sẽ thấy phản ứng đó của quốc tế.

Nếu Bắc Kinh chấp nhận luật lệ quốc tế như đa số các nước về quyền khai thác tài nguyên và quyền tự do hàng hải thì còn có đàm phán nhằm giải quyết các mâu thuẫn. Vì đa nghi và chủ quan, họ không tôn trọng điều ấy nên mới là vấn đề cho thế giới chứ không là vấn đề riêng của Việt Nam. Còn vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, có lẽ nó nằm trong đảng Cộng sản và vấn đề ấy thì người Việt phải tự giải quyết để có thể hợp tác cùng các nước để giải quyêt vấn đề Trung Quốc của thế giới./.

Mỹ – Trung: Lại tranh cãi vì Nhân dân tệ – vef.vn

15 Th8

Mỹ – Trung: Lại tranh cãi vì Nhân dân tệ

Tuần qua, Trung Quốc phát đi tín hiệu về việc sẽ giảm giá đồng NDT để cứu vãn nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn của nước này. Điều này lại dấy lên những tranh cãi giữa hai nước Mỹ – Trung về một vấn đề đã kéo dài nhiều năm chưa ngã ngũ.

Con bài thúc đẩy tăng trưởng

Theo số liệu do Tổng cục Thống kê Trung Quốc mới đây công bố, trong tháng 7, CPI của nước này chỉ tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước, và giảm mạnh so với mức đỉnh của 3 năm trước là 6,5%. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn cao hơn mức dự báo 1,7% mà giới quan sát đưa ra trước đó.

Theo các chuyên gia, lượng đơn đặt hàng từ châu Âu và các đối tác thương mại giảm khiến xuất khẩu của Trung Quốc sa sút, kết hợp với bất động sản trong nước giảm nhiệt đã làm nhịp độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia này trong quý 2 năm nay chỉ tăng 7,6%, thấp nhất kể từ quý I/2009.

Theo dự báo của ông Patrick Chovanec, Phó Giáo sư trường Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc, thì nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có khả năng chỉ đạt mức tăng trưởng từ 4 – 5% trong năm nay: “Tôi nghĩ chúng ta sắp phải chứng kiến tình trạng suy giảm sâu. Nguyên nhân là bởi ngày càng có nhiều khoản nợ xấu, làm ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư”.

Hãng tin Bloomberg mới đây cũng công bố kết quả một cuộc khảo sát rất thú vị liên quan tới sự chững lại của nền kinh tế số 2 thế giới. Theo hãng này, doanh số đồng hồ đeo tay đắt tiền tại Trung Quốc đang giảm. Trong số 13 cửa hiệu chuyên bán các loại hàng hóa đắt tiền tại Hồng Kông được khảo sát, thì có tới 11 cửa hiệu cho biết lượng khách Trung Quốc từ đại lục mua hàng của họ trong tháng 7 đã giảm xuống mức rất thấp. Theo số liệu thống kê của Trung Quốc công bố chính thức hôm 4/8, doanh số bán đồng hồ đeo tay, đồng hồ treo tường và đồ trang sức tại Hồng Kông chỉ tăng 3,1% trong tháng 6, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng 59% cùng kỳ năm ngoái.

Chuyên gia ngân hàng HSBC, ông Frederic Neumann cho rằng, số lượng đồng hồ đeo tay đắt tiền tại các cửa hiệu là thước đo cho sức khỏe của kinh tế Trung Quốc: “Nếu chúng không được trưng bày, có nghĩa là kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu chững lại”.

 

 
“Thực tế này sẽ thúc đẩy cho chính sách nới lỏng tiền tệ của Trung Quốc. Đến nay, đã thấy khá rõ là CPI của Trung Quốc năm nay sẽ tăng dưới mức mục tiêu 4%. Bởi thế, trọng tâm chính sách của Chính phủ Trung Quốc có thể hướng vào tăng trưởng”, ông Zhang Zhiwei, chuyên gia kinh tế trưởng về Trung Quốc của ngân hàng Nomura tại Hồng Kông, nhận xét. Cũng theo các chuyên gia, để vực dậy nền kinh tế trong thời điểm hiện tại, không còn cách nào khác Chính phủ Trung Quốc sẽ phải giảm giá đồng nội tệ để hàng hóa nước này tăng sức cạnh tranh trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đó sẽ không phải là một quyết định dễ dàng bởi chắc chắn Mỹ và các nước châu Âu sẽ lên tiếng.

Mỹ không thể ngồi nhìn

Tạp chí Chứng khoán Trung Quốc, mới đây công bố thông tin, Chính phủ Trung Quốc có thể sắp đưa ra quyết định hạ giá đồng nhân dân tệ, rẻ đến mức “chấp nhận được”, để đẩy mạnh xuất khẩu trong bối cảnh nền kinh tế đang yếu đi. Động thái này có thể gây ra những xung đột thương mại mới giữa Trung Quốc với Mỹ và các nền kinh tế khác.

Theo nhiều chuyên gia, Trung Quốc đang đứng ở thời điểm quyết định, phải chọn giữa tăng trưởng cao và điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhanh hơn, chứ không thể vừa tăng trưởng vừa điều chỉnh cơ cấu. Nhưng đối mặt với sự phát triển chậm lại của nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc phải có biện pháp ứng phó một cách thích hợp với môi trường kinh tế đang thay đổi. Dẫu biết việc hạ giá đồng NDT sẽ có khả năng dẫn tới nguy cơ đối đầu với Mỹ, nhưng trong tình thế hiện tại dường như Chính phủ Trung Quốc không có nhiều lựa chọn.

Còn nhớ vào dịp tháng 5 vừa qua, trong báo cáo nửa năm một lần về tỷ giá hối đoái gửi Quốc hội Mỹ, Bộ Tài chính Mỹ còn khẳng định NDT của Trung Quốc vẫn “được định giá thấp hơn đáng kể nhưng chính sách của Bắc Kinh không nhằm thao túng đồng NDT” để hưởng lợi thế thương mại không công bằng. Bộ này cho biết, họ sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ quá trình tăng giá của đồng NDT. Trong báo cáo, Bộ Tài chính cũng nhấn mạnh: “Bằng chứng sẵn có cho thấy NDT vẫn bị định giá thấp hơn đáng kể, nhưng chúng tôi tin rằng đồng NDT chắc chắn sẽ tiếp tục tăng giá so với đồng USD và các đồng tiền mạnh khác”.

Do vậy, quyết định hạ giá đồng NDT lần này của Chính phủ Trung Quốc rất có thể sẽ là một đòn đánh thẳng vào những nhận định của Bộ Tài chính Mỹ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, những động thái từ phía Trung Quốc đang cho thấy, họ đã sẵn sàng chấp nhận mọi sự chỉ trích để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình vào thời điểm chuyển giao quyền lực tại Trung Quốc.

Điều này đồng nghĩa với việc cán cân thương mại của Mỹ – Trung sẽ tự động tăng vọt và các công ty Trung Quốc được hưởng lợi tại thị trường Mỹ và châu Âu. Các phản ứng tiếp theo nhất định sẽ diễn ra. Chắc chắn, Mỹ sẽ tăng cường chỉ trích Trung Quốc. Thậm chí những chỉ trích này không chỉ về mặt kinh tế, nhất là nước Mỹ cũng đang bước vào những tháng quyết định của bầu cử.

Không chỉ có nguy cơ đối đầu về kinh tế liên quan tới đồng NDT, tháng 3/2012, Lầu Năm Góc lần đầu tiên tiết lộ, Mỹ sẽ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu của mình trong đó có châu Á – Thái Bình Dương với các tên lửa đánh chặn bố trí tại các căn cứ trên biển và các căn cứ ở khu vực bờ Tây nước Mỹ. Tiết lộ này đã khiến quốc gia đông dân nhất thế giới “điên đảo”, nhiều tướng lĩnh quân đội lập tức kêu gọi Trung Quốc phát triển năng lực hạt nhân để tạo sức răn đe với Mỹ.

Là hai nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau, Trung Quốc thậm chí còn là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Tuy nhiên, việc “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” giữa hai cường quốc này dường như là những câu chuyện không có hồi kết.

Đăng Linh (Theo Bild, Reuter)

 

 

%d bloggers like this: