Lưu trữ | 1:00 Chiều

HS lê Thừa Khiển: Tranh Tỉnh vật – BIỀN BIỆT

18 Th8

chủ đề Biền Biệt – chất liệu son dầu – HS. Lê Thừa Khiển

GS.TS. Hoàng Quang Thuận được đề cử giải Nobel Văn học? – LĐ

18 Th8

 GS.TS. Hoàng Quang Thuận được đề cử giải Nobel Văn học?

Có người quen hỏi tôi có biết GS.TS. Hoàng Quang Thuận, Viện trưởng Viện Công nghệ Viễn thông ở thành phố Hồ Chí Minh? Tôi bảo, không quen và cũng chẳng hề nghe về ông ấy hay các công trình khoa học của ông ấy, dẫu viễn thông-công nghệ thông tin là lĩnh vực mà tôi rất quan tâm và để ý theo dõi.

GS.TS. Hoàng Quang Thuận được đề cử giải Nobel Văn học?

Họ bảo ông ấy được đề cử giải Nobel Văn học đấy! Văn học thì tôi mù tịt, nhưng sao nhà khoa học này lại được đề cử giải Nobel Văn học, tôi hỏi lại. Ông đúng là mù tịt về văn học thật, người kia đáp. Ông ấy là nhà thơ nổi tiếng đấy.

Sau lần bay về Hà Nội cùng nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và được rủ đến nghe thơ của một “nữ sĩ” có thể làm lu mờ Đoàn Thị Điểm và Hồ Xuân Hương, ít ra là về tốc độ làm đến mấy chục bài thơ trong một đêm, tôi đã phát hoảng rồi với các “thi sĩ” như vậy. Cho nên cũng chẳng quan tâm đến  GS.TS. Hoàng Quang Thuận và thơ của ông ta. Người quen bảo, thì cứ vào mạng mà xem.

Vào Google gõ “Hoàng Quang Thuận” ra ngay khoảng 140 ngàn đề mục. Lướt qua chẳng thấy nói gì về công trình khoa học của ông ta nhưng đầy rẫy các đề mục về thơ, về hội thảo thơ ông trên Sài gòn Giải Phóng, tạp chí Nhà văn, báo điện tử ĐCSVN, Công an Nhân dân với những lời ca ngợi lên tận mây xanh. An ninh Thủ Đô có bài “Hoàng Quang Thuận: Thơ Thiền dự giải Nobel”. Mít đặc về thơ nên tôi không dám lạm bàn về thơ ông, nhưng tò mò muốn biết ông làm thơ ra sao và ông được đề cử giải Nobel Văn học thế nào.

An ninh Thủ đô viết: “Hoàng Quang Thuận, một đêm làm 121 bài thơ đã được nhà thơ Dương Kỳ Anh kể lại rất ly kỳ”. Năng suất viết 121 bài một đêm, gấp hơn ba lần “nữ sĩ” nọ, thật đáng bái phục! Đó là chưa kể đến chuyện “rắn mào”, “nhập đồng”, “tiên giáng”.

Theo An ninh Thủ đô, “cả hai tập thơ của Hoàng Quang Thuận đều đã được gửi đi Thụy Điển tham dự giải Nobel Văn học. Nhưng đơn vị đề cử là… chứ không phải là tác giả. Ông bảo, … nếu được giải Nobel thì cũng thuộc về Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử”. Như thế ông không những biết việc đề cử mà cũng hy vọng được giải Nobel dù cho có “khiêm tốn” coi nó thuộc về Thiền viện!

Hãy xem quy chế đề cử và chọn người được giải Nobel Văn học thế nào?

Không bàn đến quy trình chọn ở đây mà chỉ xét việc đề cử. Theo quy chế này, Ủy ban Nobel gửi thư mời đến các cá nhân có đủ tư cách và mời họ đề cử; những người đủ tư cách nhưng không được mời cũng có thể đề cử. Như thế chỉ các cá nhân mới đủ tư cách đề cử, các tổ chức thì không.

Ai là những người đủ tư cách? Theo quy chế này có bốn loại cá nhân đủ tư cách: (1) viện sĩ của Viện Hàn lâm Thụy Điển và các tổ chức quốc gia tương tự; (2) giáo sư văn chương và ngôn ngữ tại các đại học; (3) những người đã đoạt giải Nobel Văn học; và (4) chủ tịch các hội của các tác giả sáng tác văn học của một quốc gia.

Thông tin về người đề cử và người được đề cử được giữ kín trong 50 năm.

Nếu An ninh Thủ đô đưa tin đúng rằng “đơn vị đề cử là…” nếu có, cũng vi phạm quy chế. Không đơn vị nào có quyền đề cử cả. Các cá nhân đại diện cho hai đơn vị này không đủ tư cách theo quy chế của Ủy ban Nobel. Một sự thiếu hiểu biết vô tình hay cố ý?

Ở Việt Nam chỉ có các giáo sư văn chương và ngôn ngữ (loại thứ 2) và ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn VN (loại thứ 4) là những người có đủ tư cách mà thôi. Không rõ có ai nhận được giấy mời của Ủy ban Nobel không? Tôi tin là không. Có ai tuy không được mời nhưng vẫn gửi đề cử đến Ủy ban Nobel không? Chỉ họ mới biết và con cháu chúng ta sau 50 năm nữa.

Như thế có thể thấy chuyện ì xèo về việc “cả hai tập thơ… đều đã được gửi đi Thụy Điển tham dự giải Nobel Văn học” là hết sức không bình thường.

GS.TS. Hoàng Quang Thuận không dại để tự đề cử, vì nếu làm thế thì tự động bị coi là không đủ tư cách, cho nên viết “nhưng đơn vị đề cử là… chứ không phải là tác giả” thì cái dốt lộ nguyên hình.

Bài báo còn cho biết, “dù đã là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhưng GS.TS Hoàng Quang Thuận chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ. “Tôi là một nhà khoa học”, đó là câu cửa miệng của ông với bạn bè thi hữu”.

Một người thật khiêm tốn!

Tôi phì cười nhớ lại một nhân vật trong bản thảo của tiểu thuyết “Dòng đời” mà tác giả Nguyễn Trung đã cho tôi đọc. Anh hỏi tôi có nhận ra ai không. Tôi quá biết nguyên mẫu của nhân vật đó: một nhà khoa học, giáo sư viện sĩ hẳn hoi, trở thành nhà chính trị. Tác giả mô tả đặc trưng nhân vật ấy thật khéo. Ông ấy cực giỏi: trước các vị lãnh đạo chính trị ông luôn nhận mình là nhà khoa học, dùng công thức toán và sơ đồ chứng minh sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội; trước các đồng nghiệp khoa học ông coi mình là nhà chính trị.

Ngẫm về các “nhân tài” như vậy mà não ruột!

Nguyễn Quang A

Hơn nghìn bạn trẻ Nghệ An “lặng người” trong tiếng ru pháp của sư cô Hương Nhũ – chuaphuclam

18 Th8

Hơn nghìn bạn trẻ Nghệ An “lặng người” trong tiếng ru pháp của sư cô Hương Nhũ

Với kinh nghiệm thuyết giảng và với một tình thương lớn dành cho giới trẻ; bằng lập luận, chứng minh, tự sự kết hợp cả nhạc và thơ… sư cô Hương Nhũ đã đưa cả ngàn bạn trẻ đi vào những giây phút suy tư thật nghiêm túc về lý tưởng, ước mơ và cả vấn đề tình yêu cho cuộc đời.

Nghệ An, mảnh đất nằm trên dải miền  Trung đầy nắng gió, cái nắng rát bỏng cháy của gió Lào, cái cuồng nộ phong ba của những cơn bão hàng năm cùng với địa thế đặc biệt của một vùng đất địa linh nhân kiệt. Người xứ Nghệ mộc mạc chân thành, tình cảm  thật là sâu sắc và đằm thắm.

Một dải quê hương của truyền thống hiếu học, có nhiều dòng họ và làng học nổi tiếng, đây cũng chính là cái nôi sản sinh cho đất nước nhiều tướng, lương thần, nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa có tầm cỡ quốc gia và quốc tế.

“Sông Lam Nghệ Tĩnh quê tôi đó! Gió Nam nồm, gió thổi suốt ngày đêm. Ghé quê tôi, dân chất phâc thảo hiền, Sông nước chảy Lam giang ôm Hồng Lĩnh, Vẫn muôn đời vang vọng tiếng trống xưa…”

Đó là truyền thống tốt đẹp của Nghệ An được sư cô Hương Nhũ nhắc lại bằng chất giọng dịu dàng, đằm thắm trong phần mở đầu pháp thoại có chủ đề “Tuổi trẻ tình yêu và lý tưởng” tại Nhà văn hóa lao động tỉnh Nghệ An tối 15-8, đã làm ấm lòng giới trẻ ở đây.

Pháp thoại diễn ra trong khuôn khổ Tuần Văn hóa Phật giáo Nghệ An từ ngày 12 – 18/8/2012. Tuy là chương trình giao lưu với hơn 1000 bạn trẻ Nghệ An nhưng vẫn có sự tham dự nhiệt tình của chư tôn đức tăng ni, các nhà học giả, nhà nghiên cứu và các bậc phụ huynh.

Với kinh nghiệm thuyết giảng và với một tình thương lớn dành cho giới trẻ; bằng lập luận, chứng minh, tự sự kết hợp cả nhạc và thơ… sư cô đã đưa cả ngàn bạn trẻ đi vào những giây phút suy tư thật nghiêm túc về lý tưởng, ước mơ và cả vấn đề tình yêu  cho cuộc đời.

Buổi pháp thoại càng trở nên hấp dẫn kéo theo những tiếng cười thật thoải mái, vui tươi bằng nhiều câu hỏi thông minh của các bạn trẻ Nghệ An đặt ra cho vị giảng sư của giới trẻ.

Tuần lễ văn hóa Nghệ An lần này cũng sẽ không thể nào quên được tiếng hát ấm áp mang tâm huyết của sư cô Hương Nhũ. Trong tiếng đàn guitar của nhạc sĩ Phật giáo Giác An, tiếng hát đầm ấm ngọt ngào của sư cô qua ca khúc “Một dời người, một rừng cây”  đã làm xúc động và nức lòng bao trái tim các bạn trẻ.

Buổi pháp thoại sao đi qua thật nhanh, sư cô đã ưu ái gửi tặng các bạn trẻ xứ Nghệ 1000 chuỗi tay niệm Phật, 1000 VCD Nhân quả trong đời sống và VCD Hương hoa đất Việt…

Cuối cùng thi cái gì sẽ lưu lại nơi đây? Phải chăng là tình yêu thương, là giòng nước mát mà quý thầy, quý sư cô đã tưới thắm đẫm cho hạt bồ đề nảy mầm trên vùng đất Nghệ An qua tuần lễ văn hóa Phật giáo lịch sử này.

Chưa đến ngày kết thúc mà đã có những giọt nước mắt lăn dài không chỉ nơi các bạn trẻ mà cả trên khuôn mặt nhăn nheo, chân chất của những bà mẹ hiền trên xứ Nghệ.

“Sư cô ơi! Sư cô hứa ra thăm và thuyết giảng nhiều lần cho giới trẻ Nghệ An nữa nhé…” – một bạn trẻ mong mỏi.

Các học giả và nhà nghiên cứu

GS.TS Cao Huy Thuần (giữa)

Nhạc sỹ Giác An

Tạm biệt sư cô Hương Nhũ kính yêu và chúng con luôn mong ngày gặp lại!

Bài Tịnh Tứ – Ảnh Tịnh Trường

Thư ngỏ gửi nhà văn Trần Thu Hằng (Đồng Nai) – trannhuong

18 Th8

 

Thư ngỏ gửi nhà văn Trần Thu Hằng (Đồng Nai)

Vũ Xuân Tửu
 
 
Tuyên Quang, 17 tháng 8 năm 2012
 
Bạn Hằng thân mến!

Tôi thật ngỡ ngàng, khi biết tin bạn gửi ý kiến góp ý lên cơ quan chỉ đạo địa phương, về bài thơ Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân, của nhà thơ Đàm Chu Văn. Một việc làm ngoài văn chương, phản văn chương. Bởi vì, theo cảm nhận của tôi, đó là một bài thơ hay, năm ngoái đã được đăng trên Tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Một tác phẩm văn chương hay, cần đa nghĩa, làm cho người này cảm thấy thú vị, kẻ khác thì giật mình, thức tỉnh.
Nếu bạn có thiện chí góp ý về văn chương, tại sao không trao đổi trực tiếp với tác giả đang cùng công tác, hoặc gửi bản báo, hoặc hội nhà, chẳng hạn? Tôi chưa được đọc tác phẩm của bạn. Đó là lỗi tại tôi, nhưng qua việc làm này, có thể lờ mờ hiểu được, tác phẩm của bạn minh họa cho cái gì rồi.
Bạn Hằng, tổ quốc lâm nguy! Các nhà văn chân chính đang trăn trở đồng hành cùng dân tộc. Nói theo cách của nhà văn Nguyễn Xuân Hưng, thì “nhà văn tham gia vào tiến trình xã hội bằng chính tác phẩm”. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần tổ thái độ của mình khi cần thiết. Với việc làm của bạn, tôi không thể hoan nghênh. Bạn vừa tố cáo bạn văn, bằng một ý kiến rất chủ quan, lại vừa ngồi xem người ta đấu bạn văn, với tư cách phóng viên! Có thể, bạn đã suy nghĩ, tính toán một cách sâu sắc khi hành động, nhưng người đời vẫn cảm thấy có sự nông nổi…
Năm vừa rồi, bạn mới được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, chúc mừng bạn. Nhưng xin hỏi, bạn xin vào hội nhà văn để làm văn chương, hay định làm gì?
Tôi cũng đã trao đổi và chia sẻ với nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và nhà thơ Văn Công Hùng, về câu chuyện buồn của giới văn chương Việt Nam, đầu thế kỷ hai mươi mốt như thế này, như thế này…

Trân trọng.

Vũ Xuân Tửu

Đài Loan trong “thế lưỡng nan Malacca”

18 Th8

Đài Loan trong “thế lưỡng nan Malacca” 

Đài Loan đang đứng trước áp lực lớn hơn trong quan điểm đối với vấn đề chủ quyền tại các vùng biển tranh chấp. Theo nhiều thông tin, để xoa dịu những người muốn Đài Loan thể hiện một thái độ quả quyết, nước này đã lên kế hoạch mở rộng một đường băng sân bay tại Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam).

>>Trung Quốc: Được – mất với quân bài “chơi rắn”/ Giới học giả ‘bắt bài’ Trung Quốc/ Trung Quốc sẵn sàng “chơi rắn”?

 

Đó chính là hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa (của Việt Nam) và là đảo duy nhất có nước ngọt sinh hoạt. Đài Loan đang chiếm đóng tại đảo này và lực lượng cảnh sát biển đồn trú tại đây.

Vùng biển quanh Ba Bình được Bắc Kinh và Đài Bắc tuyên bố chủ quyền toàn bộ, và Việt Nam, Brunei, Malaysia và Philippine tuyên bố một phần. Nơi đây được dự báo có trữ lượng lớn dầu mỏ và khí tự nhiên hay thậm chí đất hiếm (như mới xuất hiện trong một số công trình nghiên cứu khoa học). Bất kỳ ai kiểm soát Ba Bình một ngày nào đó sẽ không chỉ giành được những lợi thế kinh tế mà còn củng cố được cả các lợi ích chiến lược.

Nhưng do không được quốc tế công nhận, Đài Loan gần như không có tiếng nói trong các cơ chế giải quyết tranh chấp song phương và đa phương. Để khai thác nguồn tài nguyên có thể có hoặc không có ở đây, Đài Loan cũng thiếu các công cụ kỹ thuật như Trung Quốc, chẳng hạn giàn khoan nổi hay tàu lặn Gia Long, tàu vừa lập kỷ lục lặn ở độ sâu 7.000 met hồi tháng trước. Và Đài Bắc cũng chưa đủ tham vọng tiến hành một chiến dịch quân sự đối với bất kỷ các bên tuyên bố chủ quyền Biển Đông khác. Khi hợp tác tại vùng biển tranh chấp với Bắc Kinh còn là chủ đề quá nhạy cảm với Đài Loan, thì việc kiểm soát Ba Bình đơn giản chỉ càng đặt gánh nặng.

 

Ảnh minh họa

 

“Đảo thực sự không có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt đối với Đài Loan, bởi Đài Loan thiếu các nguồn lực để đảm bảo cho nó”, James Holmes, một phó giáo sư tại Đại học Chiến tranh hải quân Mỹ, nói trong bài phỏng vấn với Asia Times Online. “Và việc ‘không chơi với’ Trung Quốc (trong trường hợp này) có thể còn mang đến những ảnh hưởng tiêu cực cho Đài Loan”.

Trong khi việc sở hữu đảo Ba Bình mang lại cho Đài Loan những lợi ích gì còn chưa rõ ràng, thì dường như dễ thấy hơn chính là việc Bắc Kinh, sau khi làm nóng các trang báo trong thời gian gày đây với những lời lẽ thách thức Philippine và Việt Nam tại Biển Đông và Nhật Bản tại biển Hoa Đông, đang rất coi trọng tầm quan trọng của hòn đảo.

Theo Holmes, bối cảnh Biển Đông hiện nay, trong đó Ba Bình sẽ trở thành điểm quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc, không chỉ đơn thuần là việc quốc gia ven biển này hay quốc gia ven biển kia có thể vươn tới điểm nào trên Biển Đông, mà đúng hơn, đó giống như một “thế lưỡng nan Malacca”. Eo biển hẹp chia tách Indonesia, Malaysia và Singapore, tất cả được coi là rất thân thiết với Mỹ, luôn tấp lập các tàu chở công-ten-nơ mang đủ các loại nguyên liệu thô từ châu Phi và Vịnh Ba Tư tới nuỗi dưỡng cho nền kinh tế Trung Quốc, và các tàu mang hàng hóa Trung Quốc tới châu Âu và các thị trường khác, nên nếu Mỹ áp đặt lệnh phong tỏa eo biển Malacca thì quả thực đó chính là cơn ác mộng cho Trung Quốc.

“Theo tôi hiểu, đảo Ba Bình đủ lớn để trở thành một trung tâm hậu cần; nếu Trung Quốc giành được quyền kiểm soát nó, nghĩa là đã giúp quân đội Trung Quốc tiến được nửa đường tới eo biển Malacca – một chuyện không thể coi là nhỏ”.

Bắc Kinh từ lâu luôn kêu gọi Đài Loan cùng nhau “bảo vệ quyền lợi chung của tổ tiên”, và mới gần đây đã bắt đầu đề nghị khai thác chung các nguồn tài nguyên Biển Đông. Bắc Kinh hẳn đang coi lực lượng cảnh sát biển Đài Loan trên đảo Ba Bình là người bảo vệ cho hòn đảo, và xem tranh chấp chủ quyền ở cả Biển Đông và biển Hoa Đông là công cụ để buộc Đài Loan không coi Đại lục là kẻ thù, mà thay vào đó sẽ cùng hiệp lực thách thức các bên trong tranh chấp khác, đặc biệt là Việt Nam và Nhật Bản.

Để thao túng dư luận và hoạt động hoạch định chính sách Đài Loan, Bắc Kinh liên tục triển khai chiêu bài “Mặt trận thống nhất”, dựa vào những người được hưởng quyền đối xử ưu đãi kinh tế của Bắc Kinh ở Đài Loan để đạt được các công cụ chính trị tại đây. Minh chứng rõ ràng về hiệu quả của chiến lược này là việc Chiu Yi, chủ tịch ban giám đốc của Công ty dầu khí Đài Loan CPC Corp, mới đây vừa lên tiếng yêu cầu Đài Loan và Đại lục nên cùng nhau khai thác môi trường biển quanh đảo Ba Bình.

Albert Wu, chủ tịch Hội đồng Phát triển công nghiệp và thương mại, một tổ chức mà tổng sản lượng của các doanh nghiệp trong đó chiếm hơn 48% tổng sản phẩm nội địa của Đài Loan, cũng hối thúc Đài Loan mở cửa đảo Ba Bành cho hoạt động du lịch, mặc dù, sẽ không thu được nhiều lợi nhuân, và một cuộc thăm dò ý kiến cùng được tiến hành giữa tờ Thời báo hoàn cầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc và tờ China Times của nhà tài phiệt Đài Loan Tsai Eng-meng, cũng thể hiện điều đó.

Cuộc thăm dò đó gây bất ngờ lớn với kết quả, 51,1% số người Đài Loan tham gia cho biết ủng hộ hợp tác với Đại lục chống lại Nhật Bản tại quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, một nhóm đảo đang thuộc quản lý của Nhật tại biển Hoa Đông và được cả Bắc Kinh và Đài Bắc tuyên bố chủ quyền. Có đến 41,2% người Đài Loan thập chí còn ủng hộ sử dụng vũ lực.

Việc một số nghị sĩ Đài Loan cũng bắt đầu kêu gọi mạnh mẽ hơn cho việc quân sự hóa đảo Ba Bình càng chứng tỏ xu hướng trên. Một nhóm lớn tiếng xoay quanh nghị sĩ Lin Yu-fang đã nhiều lần phản đối cái mà họ gọi là sự “xâm nhập” của Việt Nam, và kêu gọi triển khai lính thủy đánh bộ, cùng với các vũ khí như súng cối, tên lửa đất đối không, và súng chống máy bay…  đến đảo Ba Bình.

Các tổ chức phi chính phủ cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc kêu gọi Đài Loan mạnh tay: Đầu tháng 7, nhiều nhà hoạt động Đài Loan thuộc phong trào Baodiao (Bảo vệ quần đảo Điếu Ngư) đã đi thuyền ra khu vực đảo tranh chấp và tham gia vào một cuộc đối đầu căng thẳng với tàu tuần tra Nhật Bản tại đây, và thay vì vẫy cờ Đài Loan, họ lại giương cờ của Trung Quốc đại lục.

Khi sự việc diễn này ra dưới sự theo dõi thận trọng của lực lược cảnh sát biển Đài Loan, lực lượng sau khi nhận được lệnh yêu cầu hộ tống cho các nhà hoạt động ra đảo Điếu Ngư, khiến có vẻ như Đài Bắc thực sự đang xem xét khả năng đứng về phe Bắc Kinh chống lại Tokyo, và đây chính là kết quả mà Bắc Kinh đã mường tượng ra ban đầu.

Kế hoạch mở rộng đường băng tại Ba Bình lên thêm 500m rất có thể chính là sự phản ứng trước áp lực đang gia tăng. Khi tờ Liberty Times bằng tiếng Hoa đưa thông tin, ngay lập tức bài viết đã được rất nhiều các cơ quan thông tin đối ngoại và các nhà bình luận trên khắp Biển Đông đăng tải lại. Trước tính chất nghiêm trọng của sự việc, Việt Nam sau đó đã liên tục cảnh báo Đài bắc không tiến hành kế hoạch trên.

Trước các thông tin về việc mở rộng đường băng, nhiều người cho rằng kế hoạch của Đài Bắc nhằm cho phép máy may tuần tra trên biển P-3C Orion, mà Đài Loan sẽ đưa vào sử dụng vào năm sau, có thể hoạt động tại đây. Máy bay P-3C cung cấp khả năng chống tàu ngầm và có thể giám sát phần lớn Biển Đông.

Đánh giá về kế hoạch trên, Steve Tsang, giám đốc Viện Chính sách Trung Quốc thuộc ĐH Nottingham, phân tích: “Tôi không có thông tin nội bộ tại sao đường băng được mở rộng. Nhưng có thể đó họ đang cố gắng tính toán khôn ngoan để vừa giải quyết áp lực từ những người muốn thấy một Đài Loan có quan điểm quả quyết hơn đối với những hòn đảo vừa có một chính sách hợp lý để không gây chiến với bất kỳ ai”.

Đình Ngân theo Atimes

Gạch nối giữa giáo dục và tự do – Alan Phan

18 Th8

Gạch nối giữa giáo dục và tự do

Hôm nay một cuộc khảo sát trên tờ tạp chí khoa học Health Affairs xác nhận “giáo dục” là yếu tố quan trọng trong dự đoán số tuổi của con người. Một người xong đại học có tuổi thọ khoảng 10 năm lâu hơn là một người chỉ mới học xong trung học (kiểu ra chợ mua bằng cấp ở VN không tính).

Tôi thường nghĩ là người làm việc lao động linh hoạt hơn với cơ bắp và không phải bận rộn với suy tư, áp lực từ trí tuệ chắc phải sống lâu hơn. Nhưng tôi lầm và cuộc khảo sát này cho thấy tiềm năng của giáo dục cao hơn chúng ta nghĩ. Ai cũng biết là “giáo dục” thường gia tăng lợi tức của một nhân viên ở Mỹ khoảng $6,000 cho mỗi năm học trên cấp đại học. Theo cảm nhận cá nhân, tôi nghĩ giáo dục cũng sẽ đem lại cho mình một tâm linh sâu đậm hơn, một tinh thần mạnh mẽ hơn (vì con người thường sợ hãi những điều họ không biết). Thêm vào đó, tôi nghĩ một người học thức thường cư xử văn minh hơn với đồng loại.

Tóm lại trong 6 yếu tố (sức khỏe, trí tuệ, tâm linh, tinh thần, xã hội, tài chánh) mà tôi cho rằng quan trọng trong cuộc sống hạnh phúc, trí tuệ đóng góp một phần đáng kể. Cái đòi hỏi của bao tử và hormone rất cần thiết (một người đói dài sẽ bỏ quên mọi thứ khác); nhưng muốn cuộc đời thăng hoa đúng nghĩa, chúng ta cần trí tuệ.

Cho nên khi Mao Trạch Đông gọi “trí thức là đống phân” hay khi Pol Pot diệt chủng để đưa đồng loại về thời ăn lông ở lỗ (vì giáo dục làm hư con người) hay khi chủ thuyết “tam vô” của đảng Lao Động TQ (vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo) được hô hào khắp năm châu, tôi đã nghĩ chắc mình sống nhầm thế kỷ. Mọi người thì đã phải im lặng ngao ngán vì quá sợ hãi trước cái ngạo mạn của bạo lực.

Tuy nhiên, trời sẽ lại sáng và giáo dục phải là vũ khí bén nhọn nhất của người yếu thế. Kiến thức trên đám mây của Google là ánh mặt trời đang soi sáng cho nhân loại. Tôi không tin vào một siêu nhân hay một anh hùng nào sẽ xuất hiện để thay đổi thời thế. Đây là việc làm của từng người, gieo rắc kiến thức, khoa học…mỗi ngày vào từng cá nhân một trong xã hội; bắt đầu với những người thân yêu và các bằng hữu. Chúng ta sẽ nói KHÔNG với sự ngu xuẩn, dối trá và bất nhân. Đó cũng là lý do tại sao tôi cho việc tiếp cận với kiến thức Internet của các trẻ vừa lớn quan trọng hơn bất cứ chương trình nào của quốc gia này.

Với giáo dục, chúng ta khỏe mạnh hơn (không ăn nhậu bừa bãi và tự đầu độc), chúng ta sáng suốt hơn (không bị những lời hoa mỹ bịp), thương người khác nhiều hơn (vì chúng ta biết so sánh chínhmình với thế giới) và gần với Thượng Đế hơn (khi biết đọc và tìm hiểu thêm về văn hóa nghệ thuật). Quên, chúng ta cũng giàu hơn (nếu không lúc này thì sẽ có một ngày). Trên hết, một người có “giáo dục” là một con người tự do đúng nghĩa.

Alan Phan

http://finance.yahoo.com/news/education-predictor-longer-life-161945519.html

Các tông phái trong Đại thừa và Tiểu thừa – VHNA

18 Th8

Các tông phái trong Đại thừa và Tiểu thừa

Trần Trọng Kim

Hiện nay xem kinh điển bằng chữ Nho thấy có ba tông thuộc Tiểu thừa và bảy tông thuộc Đại thừa, xin tóm tắt lại như sau:
 
CÁC TÔNG TIỂU THỪA
1. Câu-xá tông
Bồ-tát Thế Thân khi còn theo học bên Tiểu thừa, lấy ý nghĩa trong sách Mahavibhasa Castra mà làm sách Câu-xá luận, rồi theo sách ấy mà thành sau có Câu-xá tông.

Câu-xá tông chia vạn hữu ra làm Vô vi pháp và Hữu vi pháp. Vô vi pháp chỉ về cảnh giới thường trụ, không sanh diệt, tức là lý thể. Hữu vi pháp chỉ về vạn hữu trong hiện tượng giới, sinh diệt vô thường.

Theo thuyết của Hữu bộ bên Tiểu thừa thì pháp thể là hằng hữu trong ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Theo thuyết của Câu-xá tông thì chỉ có hiện tại là hữu thể, còn quá khứ, vị lai là vô thể.

Pháp thể gồm cả tâm và vật kết thành do sức của duyên và nghiệp, tức là nói pháp thể là kết quả của mê hoặc. Sức của hoặc và nghiệp tuần hoàn vô thủy vô chung, làm cho tâm thân cứ biến chuyển luân hồi mãi.

Câu-xá tông chia nhân ra làm sáu nhân, chia duyên ra làm bốn duyên, và chia quả ra làm năm quả.

Sáu nhân là: 1. Năng tác nhân là nhân phổ biến rất rộng, bao quát cả các nhân khác. 2. Câu hữu nhân là nhân của vạn vật đều phải nương tựa nhau, nhân quả đồng thời cùng có. 3. Đồng loại nhân là nhân chung cả hiện tượng trước và hiện tượng sau. 4. Tương ứng nhân là nhân khi tâm vương tác dụng thì có nhiều tâm sở đồng ứng. 5. Biến hành nhân là nhân cùng một loại với đồng loại nhân, nhưng đồng loại nhân thì phổ biến ở nơi vạn hữu, mà biến hành nhân thì chỉ ở trong phiền não, nơi tâm sở. 6. Dị thục nhân là nhân làm cho người ta phải chịu kết quả tốt xấu, lành dữ.

Bốn duyên là: 1. Nhân duyên là duyên làm cho nhân thành ra quả. 2. Đẳng vô gián duyên là duyên nói riêng về sự phát động của tâm. Tâm trước diệt thì làm cái duyên phát động của hiện tượng sau, không có gián cách ở khoảng nào cả. 3. Sở duyên duyên là nói khi tâm khởi lên thì dựa vào cảnh khách quan mà khởi. Cái khách quan ấy gọi là sở duyên, nghĩa là cái bởi đó mà thành duyên. 4. Tăng thượng duyên cũng như năng tác nhân nói trên, cũng gọi là công duyên.

Năm quả là: 1. Thị dục quả, là quả do thị dục nhân mà có. Do nghiệp lực quá khứ hoặc thiện hoặc ác thành ra. 2. Đẳng lưu quả là quả do đồng loại nhân hay do biến hành nhân mà có. Ấy là chỉ nhìn cái kết quả của hiện tượng nào cũng đồng đẳng, đồng loại với nguyên nhân của hiện tượng trước. 3. Ly hệ quả là quả không do sáu nhân, bốn duyên nói trên mà có, mà do trí chân thật vô lậu, thoát ly sự hệ phược của vô minh phiền não và chứng được cảnh Niết-bàn. 4. Sĩ dụng quả là quả do câu hữu nhân và tương ứng nhân nương dựa nhau mà thành, cũng như các thứ nghiệp dựa vào sự tác dụng của sĩ phu mà có. 5. Tăng thượng quả là quả kết thành bởi năng tác nhân và tăng thượng duyên.

Vạn vật do sáu nhân, bốn duyên hòa hợp mà sinh ra, nhưng xét đến cùng ngoài năm uẩn thì không có vật gì cả. Vậy nói rằng có cái “ngã” chi phối ta để chuyển biến qua đời sau là mê hoặc, là không tưởng. Cho nên không nên chấp có hữu vi vô thường, mà chỉ nên trông ở cõi Niết-bàn thường trụ.

Nhân sinh là khổ não, là ô trược, là mê hoặc, cho nên cần phải giải thoát. Phương thức giải thoát gồm có giới, định, tuệ. Giới là giới luật, ngăn không cho làm những điều tà vạy, bất chánh. Định là thiền định, là định tâm, để giữ tâm trí gom về một mối. Tuệ là trí tuệ, phân biệt thật tướng của sự vật, hiểu rõ lý nhân quả, Tứ diệu đế. Dùng ba môn học ấy mà đi tới giải thoát, tức là vào Niết-bàn.

2. Thành thật tông

Tông này đồng thời phát hiện với Câu-xá tông, do Ha-lê Bạt-ma lập ra, lấy thuyết của Không bộ bên Tiểu thừa làm gốc.

Thành thật tông chia thế giới quan ra làm hai môn: Thế gian môn và Đệ nhất nghĩa môn.

Thế gian môn có hai phương diện. Một phương diện là xét theo các pháp sinh diệt vô thường thì không có cái thật ngã. Nhưng xét theo phương diện khác thì cái thân ta hành động và cái tâm ta biết phân biệt, biết liên lạc những tư tưởng suy nghĩ trước sau, mà lại bảo là không có ngã thì thật là trái với chỗ hiểu biết thông thường.

Song lấy cái ngã tạm bợ kia mà phân tích cho đến chỗ vi tế, bỏ cả năm uẩn ra thì không thể nhận được một vật gì cả.

Đệ nhất nghĩa môn lấy lẽ rằng trước cho thế gian môn lấy chỗ biết thường thường làm chuẩn đích mà đặt ra bản ngã là tạm có, rồi do cái kết quả sự phân tích mà biết rằng pháp thực có kia cũng chẳng qua là do vọng tưởng của ta phân biệt là tạm có mà thôi.

Cái thật có đã không nhận, thì ngoài cái trí hư vọng phân biệt của ta ra, không có vật gì cả. Vọng, biết là mê, không phải là thật, cho nên hết thảy đều là không cả. Chân ngã không có, thật pháp cũng không có. Người và pháp cả hai đều không. Thành thật tông do đó chủ trương việc cấm dục để cầu tịch diệt.

3. Luật tông

Tông này chủ trương lấy Luật tạng mà tu đạo, cốt răn điều ác, khuyên điều thiện. Cho rằng nhờ có giới luật mới có thiền định, có thiền định thì trí tuệ mới phát khởi. Có trí tuệ mới tu được đến chỗ giải thoát.

Về phương diện đạo lý thì Luật tông dựa vào Câu-xá tông và Thành thật tông để làm căn bản.
 

CÁC TÔNG ĐẠI THỪA

1. Pháp tướng tông

Tông này phát khởi từ ba vị Vô Trước, Thế Thân và Hộ Pháp, lấy Thành duy thức luận làm gốc, cho rằng vạn pháp đều do thức biến ra.

Thức có tám loại là: nhãn thức, nhĩ thức, vị thức (hay tỉ thức), thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức. Trong tám thức ấy, a-lại-da thức là căn bản.

A-lại-da thức còn gọi là Tạng thức, bao tàng hết các chủng tử, rồi do những chủng tử ấy mà phát sinh ra vạn tượng. Vạn tượng tan thì các chủng tử lại mang nghiệp trở về a-lại-da thức. Chủng tử lại vì nhân duyên mà sinh hóa mãi. Vậy nhân duyên là nhân duyên của các chủng tử. A-lại-da thức thì chứa hết thảy các chủng tử để sinh khởi nhất thiết chư pháp.

Như thế là vạn pháp do thức mà biến hiện ra, cho nên nói rằng: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.”

Ngài Huyền Trang đời Đường sang Ấn Độ theo học với ngài Giới Hiền, rồi đem Pháp tướng tông về truyền ở Trung Hoa.

2. Tam luận tông

Tông này lấy Trung luận và Thập nhị môn luận của Bồ-tát Long Thụ và bộ Bách luận của Đề-bà làm căn bản, nên mới gọi là Tam luận.

Tam luận tông cho rằng hết thảy vạn hữu trong hiện tượng giới đều sanh diệt vô thường. Đã sanh diệt vô thường là không có tự tính, chỉ bởi nhân duyên làm mê hoặc mà biến hóa ra vạn hữu.

Kẻ phàm tục vì vọng kiến cho nên mới chấp lấy cái có tạm bợ ấy. Bậc chân trí thì không nhận cái tạm có mà thấy rằng hết thảy đều là không.

Các pháp tuy là hiện hữu nhưng không phải là thường có. Có mà không phải là thường có tức là chỉ tạm có. Tạm có nên tuy là có mà không phải là có. Có mà không phải là thật có thì cũng chẳng khác gì không. Vậy nên các pháp tuy là đều có, nhưng thật tướng là không.

Lý thể của chân như tuy là không tịch, bất sanh bất diệt, nhưng bởi nó sanh ra các pháp, cho nên nó là nguồn gốc của cái tạm có. Đã là nguồn gốc, thì lý thể của chân như là không. Như thế, chân như là không mà không phải thật là không, cho nên đối với có không khác gì. Vì thế chân như tuy là không tịch mà rõ ràng là có.

Có và không, không và có, thật chẳng khác nhau. Có là có do nơi không; không là không do nơi có. Có và không hai bên toàn nhiên hòa hợp với nhau. Thấy rõ chỗ ấy là Trung đạo, là không vướng mắc vào cả có lẫn không.

Vì sự nhận thức của ta sai lầm, mà thành ra có không và có. Vượt lên trên sự nhận thức thì mới đạt được cái thực tại bất khả tư nghị. Sự nhận thức của ta chỉ nhận thức được trong phạm vi hiện tượng mà thôi, không thể nhận thức được thực tại. Muốn đạt tới thực tại thì phải nhờ đến trực giác mới được.

Tam luận tông lấy kinh Bát-nhã làm gốc, cho nên còn gọi là Bát-nhã tông, khi đối với Pháp tướng tông thì gọi là Tánh tông hay là Không tông.

3. Thiên thai tông

Tông này khởi phát ở Trung Hoa, do thiền sư Tuệ Văn đời Tần, Tùy lập ra, dựa theo ý nghĩa sách Trí Độ luận và kinh Pháp Hoa làm gốc. Cho nên còn gọi là Pháp Hoa tông.

Thiên thai tông chủ trương thuyết “chư pháp duy nhất tâm”. Tâm ấy tức là chúng sanh, tâm ấy tức là Bồ-tát và Phật. Sanh tử cũng ở nơi tâm ấy, Niết-bàn cũng ở nơi tâm ấy.

Thiền sư Tuệ Văn chủ lấy Trung đạo mà luận cái tâm và lập ra thuyết “nhất tâm tam quán”. Tam quán là Không quán, Giả quán và Trung quán.

Trong Không quán có Giả quán và Trung quán, không phải tuyệt nhiên là không. Trong Giả quán có Không quán và Trung quán, không phải tuyệt nhiên là giả. Trung quán là dung nạp cả không và giả.

Chân như với tâm và vật quan hệ với nhau như nước với sóng. Ngoài nước không có sóng, ngoài chân như không có tâm, ngoài tâm không có vật.

Thiên thai tông lấy hiện tại mà tìm chỗ lý tưởng. Thiện ác chân vọng đối với tông này chỉ là một sự hoạt động của thực tại. Vì thế cho nên không cưỡng cầu giải thoát ra ngoài hiện tại giới sanh diệt vô thường. Trong hiện tượng giới gồm cả hai tính thiện và ác. Thiện hay ác cũng chỉ do một tâm tác dụng mà thôi. Hai cái, không có cái nào độc tồn. Cho nên Phật không làm lành mà cũng không làm dữ.

Sự giải thoát phải tìm ở nơi thấu suốt chân lý, thoát ly chấp trước. Chỗ cuối cùng đạt đến là phải triệt ngộ thực tướng của các pháp.

4. Hoa nghiêm tông

Tông này cũng như Thiên thai tông, phát khởi ở Trung Hoa, căn cứ ở kinh Hoa Nghiêm, do hòa thượng Đỗ Thuận và Trí Nghiễm đời Tùy Đường lập ra.

Tông này cho rằng các pháp có sáu tướng: tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại. Gọi chung là “tam đối lục tướng”. Vạn vật đều có sáu tướng ấy.

Khi sáu tướng ấy phát ra thì phân làm Hiện tượng giới và Thực tại giới, và khi sáu tướng ấy tương hợp nhau thì hiện tượng tức là thực tại, thực tại tức là hiện tượng.

Vạn hữu có “tam đối lục tướng” là do Thập huyền diệu lý duyên khởi. Thập huyền diệu lý và Lục tướng viên dung sinh ra cái lý “sự sự vô ngại”.

Sự sự vô ngại luận là chỗ đặc sắc nhất trong giáo lý của Hoa nghiêm tông.

Theo tông ấy thì phân biệt chân vọng, trừ khử điên đảo khiến cho tâm thanh tịnh, để cùng thực tại hợp nhất, thế là giải thoát.

5. Chân ngôn tông

Tông này căn cứ ở kinh Đại Nhật, lấy bí mật chân ngôn làm tông chỉ, cho nên gọi là Chân ngôn tông, hay là Mật tông.

Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim-cang-tát-đỏa. Kim-cương-tát-đỏa truyền cho Long Thọ, Long Thọ truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương Trí, Kim Cương Trí cùng với Bất Không vào khoảng đời Đường đem tông này truyền sang Trung Hoa.

Chân ngôn tông chủ trương các thuyết Lục đại là địa, thủy, hỏa, phong, không, thức, cho sáu đại này là thực thể của vũ trụ.

Lục đại xét về phương diện vũ trụ thì gọi là thể đại, hiện ra hình hài gọi là tướng đại, hiện ra ngôn ngữ, động tác gọi là dụng đại. Vạn hữu trong vũ trụ không có gì ra ngoài thể đại, tướng đại, dụng đại.

Gọi là chân như là lấy lý tính do sáu đại mà trừu tượng ra. Ngoài sáu đại ra, không thấy đâu là chân như.

Sự giải thoát của Chân ngôn tông là ở nơi “tự thân thành Phật”, cho nên bỏ hết chấp trược, theo cái hoạt động của Đại ngã. Phương thức giải thoát của tông này là ba mật, tức là thân, miệng và ý.

6. Thiền tông

Thiền tông không bàn luận về vũ trụ, chỉ chủ ở sự cầu được giải thoát mà thôi.

Cứu cánh của Thiền tông không trói buộc nơi văn tự, nên chỉ lấy tâm truyền tâm mà thôi. Thực tướng của vũ trụ thuộc về phạm vi trực giác. Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất là sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thật tướng được. Nếu không tọa thiền dùng trực giác thì không thể biết được thật tướng.

7. Tịnh độ tông

Tịnh độ tông lấy sự quy y Tịnh độ làm mục đích, và tụng những kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A-di-đà.

Tịnh độ tông khởi phát từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong các kinh điển nói các vị Bồ-tát Mã Minh, Long Thụ và Thế Thân đều khuyên người ta nên tu Tịnh độ.

Tịnh độ tông cho rằng mỗi người ai cũng có Phật tánh, đều có thể thành Phật được. Vì ở thế gian là dơ bẩn, cho nên cầu đến cõi trong sạch là cõi Tây phương Cực lạc.

 
%d bloggers like this: