Lưu trữ | 5:20 Chiều

Hồn của nước – VHNA

20 Th8

Hồn của nước

Cao Huy Thuần

 

Dù đêm tăm tối bao nhiêu, mặt trời vẫn lại mọc. Sự thực đó, thế giới đang thấy ở Myanmar. Nhưng có một sự thực khác nữa thế giới cũng vừa thấy qua con người của bà Aung San Suu Kyi: cường bạo đàn áp bao nhiêu, sức mạnh tinh thần vẫn thắng. Bà nói như thế từ lâu, nghe khó tin. Nhưng sự thực đã là sự thực. Ai cho bà sức mạnh đó? Cái hồn của nước bà. Cái hồn ấy, ai cũng biết: đạo Phật của bà.

Tất nhiên, bà còn có niềm tin mãnh liệt về dân chủ. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn nói ở đây. Tôi chỉ muốn tìm hiểu tại sao một nước theo Phật giáo nguyên thủy như Myanmar, trong đó các sư sãi thường ít lo lắng đến chuyện xã hội bằng chuyện tu hành bản thân, lại diễn ra những quang cảnh tấn công chùa chiền, bắt bớ tăng ni, làm như thử Phật giáo ở Miến Điện đã “dấn thân” tự bao giờ trong chính trị. Có thật thế chăng? Và nếu có liên hệ thì tôn giáo và chính trị đã liên hệ với nhau như thế nào trong lịch sử? Tôi không có tham vọng trả lời câu hỏi có tính nghiên cứu đó trong một bài báo xuân ngắn ngủi. Tôi chỉ xin kể, và kể rất giản lược, vài chuyện có liên quan đến câu hỏi đó để điểm lại quá khứ và suy đoán tương lai.

Chuyện đầu tiên mà tôi muốn kể là từ bao giờ dân tộc Miến Điện mang cái hồn ấy. Từ xa xưa. Và bởi vì quá xa xưa nên sự thực lịch sử nhiều khi trộn lẫn với truyền thuyết. Người dân Miến Điện kể rằng đức Phật đã đến đất của họ lần đầu bằng tóc của Ngài. Chuyện này có thật trong kinh. Sau khi đức Phật thành đạo và đang tĩnh tọa dưới cây bồ đề thì có hai thương nhân từ phương xa đi qua đó. Họ cung kính dâng thức ăn cho Ngài và xin quy y. Đó là hai đệ tử đầu tiên của Phật. Khi về lại xứ, họ xin Ngài vài sợi tóc để thờ. Nhà vua xây tháp để thờ tám sợi tóc. Tháp ấy bây giờ là ngôi chùa vàng danh tiếng Shwedagon ở cựu thủ đô Yangon.

Lần thứ hai, đức Phật đến bằng chân. Một thương nhân khác, tên là Punna, đã đến tận Savatthi, nơi đức Phật đang thuyết giảng, và được Ngài thâu nhận vào tăng chúng. Sau một thời gian tu học, ông xin Phật cho đi giáo hóa. Phật nói: dân xứ ấy dữ lắm, ông giáo hóa bằng cách nào? Ông thưa: con sẽ không bao giờ giận dù cho họ giết con. Chuyện này cũng có thật trong kinh. Nhưng chi tiết tiếp theo thì tôi chưa thấy ở đâu. Punna giáo hóa thành công, xây được một tu viện, và mời Phật đến thăm. Ngài đến với 500 vị tăng. Khi trở về, đức Phật dừng chân bên sông Nammada, gần dãy núi Saccabandha. Một vết chân của Ngài in dấu không phai gần bờ sông, một vết chân khác in dấu trên núi. Hai vết chân bây giờ là hai thánh tích, ngày xưa được vua thờ, ngày nay là đất hành hương của dân chúng.

Bài học mà đức Phật đã dạy: từ bi đi đôi với vô úy. Đừng sợ! Và bởi vì không sợ cho nên không giận. (…) “Bởi vậy tôi chưa hề bao giờ nghĩ rằng con đường phía trước là phải đi qua giận dữ và cay đắng, mà phải đi qua hiểu biết lẫn nhau, cố gắng hiểu phía kia, và đi qua khả năng thương thuyết với những người suy nghĩ hoàn toàn khác với ta, đi qua khả năng đồng ý trên bất đồng ý nếu cần thiết, để làm thế nào rút ra hòa hợp từ những cách suy nghĩ khác nhau”. Một bài học dân chủ và một bài học Phật giáo.

Đức Phật còn để lại cả hình ảnh của Ngài.

Truyềnthuyết ghi rằng bức tượng thờ ở chùa Mahamuni cho đến năm 1784 là do vua và dân tạc sau khi được đón rước Phật tại vương quốc Dhannavati. Tượng ấy sau đó được thỉnh về chùa Arakan ở Mandalay.

Tất cả những sự kiện, vừa lịch sử vừa truyền thuyết đó, nói lên một điều: người dân Miến Điện hãnh diện về nước của mình như là đất của Phật, Phật đã đến đó và đã để lại xá lợi cho dân. Hơn ở đâu hết, đất đó còn là đất Phật vì gần 90% dân số cùng thờ một đạo. Hơn ở đâu hết, người dân dù nghèo đến bao nhiêu cũng thực hành công đức như một nếp sống bình thường, cúng dường chư tăng, tô điểm chùa chiền. Người bên ngoài, Tây phương và cả không Tây phương, đều không hiểu tại sao dân chúng nghèo như thế mà vẫn chắt chiu dành dụm để kiếm chút vàng làm rực rỡ thêm tượng Phật. Họ không hiểu, nhưng chính điều không hiểu đó đã làm người Miến Điện thành người Miến Điện. Hành trì công đức là lẽ sống của người dân Miến. Tạo công đức ở kiếp này làm họ vui. Càng nhiều công đức càng vui. Kiếp này họ vui, kiếp sau họ hưởng. Sống là như vậy. Không phải ăn, mặc, nhà cao cửa rộng là căn bản. Tu ấy là tu phước, nhưng cũng là tu hạnh, hạnh ấy là bố thí, là biết cho, không phải dễ đâu. Thú thực, bản thân tôi cũng không hiểu nổi người Miến cho đến khi tôi đọc bà Aung San Suu Kyi. Bà nói: “Quan tâm đầu tiên của tôi là theo sát những nguyên tắc của đức Phật trong mọi hành động của tôi trên đời. Như vậy là bởi vì tôi tin rằng tất cả chúng ta, như là người, đều có một bề sâu tâm linh không thể lơ đãng được”. Phong trào dân chủ của bà, bà xem đó như là một “cách mạng tâm linh” mọc rễ từ trong những nguyên tắc Phật giáo. Và khi người ta hỏi bà “đức tính gì nằm tận trong thâm sâu của phong trào ấy”, bà nói không ngần ngại: “Sức mạnh bên trong. Chính là sự vững chãi tâm linh đến từ tin tưởng rằng cái gì ta làm là đúng, dù cho điều đó không mang đến lợi lộc cụ thể tức thì. Chính là sự kiện này: điều ta đang làm giúp ta củng cố sức mạnh tâm linh của ta. Sức mạnh này ghê gớm lắm”.

Bởi vậy, trong khi ở nơi khác, phát triển kinh tế là kinh nhật tụng, ở Miến Điện, phát triển kinh tế chỉ là phương tiện, mục đích là đời sống tâm linh của người dân. Tranh đấu cho độc lập trước đây cũng vậy. Tại sao phải độc lập? Tại vì, như một câu hát của các người làm cách mạng thời 1930, độc lập là để phục hồi lại phồn vinh của ngày xưa, “để người nghèo cũng có thể xây dựng chùa chiền”. Đó là mục đích của đời sống, đó là hạnh phúc của người dân.

Tôi nói thêm một điều nữa về đặc tính của Phật giáo Miến Điện trước khi bắt qua chuyện thứ hai: trên đất Phật ấy cũng có một tín ngưỡng lâu đời của dân gian, gọi là Nat, thờ thần, tin bùa chú, phù phép, ưa nhảy múa. Tín ngưỡng ấy hồn nhiên chung sống hòa bình với Phật giáo, nhưng Phật là Phật, thần là thần, đâu có hồn nhiên lẫn lộn được, lát nữa tôi sẽ nhắc lại vấn đề này. Bây giờ, xin bắt qua chuyện thứ hai

Chuyện thứ hai là chuyện liên hệ giữa quyền lực và giáo hội tăng già. Một tác giả có uy tín đã viết thế này: “Miến Điện có lẽ là nước hạnh phúc nhất thế giới trước khi người Anh đến… không có quý tộc, không có tăng lữ, không có Nhà Thờ, không có quân đội, không có nghèo khổ, đẳng cấp, địa chủ, ngân hàng”. Một xã hội bình đẳng, từ thiện. Đúng hay không, tôi không dám nói, nhưng không có Nhà Thờ thì quá đúng. Không có Nhà Thờ trong cái nghĩa của Tây phương, nghĩa là một uy quyền tôn giáo duy nhất, tập trung, tập quyền, đối chọi với nhà nước, có khi ngang ngửa, có khi trội hơn. Tôi tạm dùng chữ “giáo hội tăng già” để dịch chữ sangha, nhưng sangha không phải là một tổ chức tập trung, tập quyền, tôn ty trật tự, đẳng cấp phân minh, dưới phục tùng trên, trên chỉ huy dưới. “Giáo hội” ở nước ấy chưa bao giờ ra khỏi mẫu mực tương quan nguyên thủy trong lịch sử, nghĩa là tương quan giữa tín đồ và chư tăng, trong đó tín đồ là người cúng dường và chư tăng là người thọ lãnh. Người cúng dường cung cấp phẩm vật, người thọ lãnh cung cấp phước đức. Trong ý nghĩa đó, ông vua chỉ là người đứng đầu của một tập thể cúng dường, có trách nhiệm duy trì hòa bình, phồn vinh, để ai ai cũng có thể thực hiện công đức. Trách nhiệm đó trao cho ông một quyền: gìn giữ cho đạo Phật được “tinh khiết”. Với quyền đó, ông là trọng tài khi cần thiết để xử những tranh chấp xảy ra liên quan đến giáo lý. Với quyền đó, ông là người bảo vệ đạo Phật.

Nhưng như vậy là ông có quyền can thiệp vào nội bộ của giáo hội. Ông can thiệp thông qua một “tăng thống” mà ông bổ nhiệm. Thế nhưng giáo hội đã không phải là một khối đồng nhất thì tăng thống có thực quyền gì trên các chi, các nhánh, sinh hoạt tự trị trong các làng xã, có trường riêng, tự viện riêng, do làng xã địa phương lập nên? Rốt cuộc, dù ông vua có nắm được “giáo hội” ấy, tập thể chư tăng vẫn sinh hoạt độc lập với đời sống riêng, và tăng thống chỉ là chiếc cầu lỏng lẻo giữa vua với một giáo hội chủ yếu là tự trị.

Để cụ thể hóa hình ảnh chiếc cầu lỏng lẻo ấy, ví dụ sau đây rất lý thú. Suốt cả thế kỷ XVIII, ông vua và tăng thống không giải quyết nổi một tranh chấp để “tinh khiết” giới luật. Đầu thế kỷ, vài vị tăng đi khất thực, khoác y như khi đi trong chùa, nghĩa là một vai để trần. Đừng tưởng đây là chuyện chơi trong một nước Phật giáo nguyên thủy, giữ giới luật như giữ con ngươi. Để trần một vai như vậy có đúng luật không? Hết vua này đến vua khác, vua này nói được vua kia nói không. Cả trăm năm không xử nổi một chiếc vai!

Tình trạng tự trị trong giáo hội lại càng phát triển vào những giai đoạn loạn lạc, ngay cả trước khi người Anh xâm chiếm. Phe phái xuất hiện, thiết lập kỷ luật riêng, tòa án riêng, thậm chí “tăng thống” riêng. Vua Mindon (1853 – 1878) cố tăng cường can thiệp trực tiếp vào nội tình giáo hội, nhưng người Anh đã đến, Miến Điện bị chia hai, Hạ Miến Điện lọt ra khỏi chủ quyền của vua. Chính sách tôn giáo của người Anh, áp dụng trên cả nước, khi cai trị toàn thể Miến Điện, là không cần biết đến giáo hội nữa, tôn giáo với chính quyền là hai, giống như luật lệ ở mẫu quốc. Các tôn giáo ở phương Tây tràn đến, Phật giáo không còn có ông vua nào nữa để đóng vai bảo vệ. Nhưng như thế mà hay, vì các ông sư bây giờ, sống ngoài vòng cương tỏa, đóng vai bảo vệ độc lập của nước. Họ là những người đầu tiên thắp lên ngọn đuốc tranh đấu, những người đầu tiên liên kết với cư sĩ, với trí thức, để tạo thành mạng lưới chính trị chống đế quốc đầu tiên trong những năm 1920, 1930. Và như vậy tôi bước qua chuyện thứ ba.

Chuyện thứ ba là chuyện ông U Nu, thủ tướng đầu tiên của nước Miến Điện độc lập. Một nhân vật xuất chúng. Một lãnh tụ lỗi lạc. Một nhà chính trị được thế giới kính nể. Một con người dân chủ. Một Phật tử sùng đạo. Tham gia tranh đấu trong mạng lưới đầu tiên của trí thức trẻ Phật giáo (YMBA), ông là lãnh tụ của đảng chính trị đầu tiên tranh đấu chống phát xít (AFPFL) sau khi Aung San bị ám sát. Độc lập vãn hồi, ông chủ tâm phục hưng lại Phật giáo. Một mặt, ông lồng Phật giáo vào hệ ý thức mới mang màu sắc xã hội của thời đại và gọi đó là “xã hội chủ nghĩa Phật giáo”. Trung thành với văn hóa truyền thống, chủ nghĩa xã hội của U Nu nhằm thực hiện lý tưởng cổ truyền: hạn chế tham lam của người giàu, tạo thì giờ rảnh rỗi cho người nghèo, để ai cũng có thể tích cực thực hành công đức. Mặt khác, ông không ngại can thiệp vào nội bộ Phật giáo, thành lập các tòa án của giáo hội để chấn chỉnh kỷ luật, tổ chức lại hệ thống giáo dục mà chùa chiền đảm nhận từ xưa, thành lập viện hóa đạo, chỉnh đốn đại học Phật giáo, kiết tập đại hội Phật giáo thế giới để nâng cao vai trò của Phật giáo Miến Điện trên thế giới Phật giáo, xây dựng chùa chiền… Ý thức rằng Phật giáo là yếu tố tinh thần duy nhất để kết hợp và hòa nhập các chủng tộc ít người trong một nước đa chủng bấp bênh hiểm họa ly khai, ông cố thiết lập một giáo hội lan tỏa ra tận các chủng tộc sát biên giới. Tóm lại, U Nu hành động như một vị quân vương ngày xưa trong mối liên hệ giữa Phật giáo và lãnh đạo chính trị: người lãnh đạo bảo vệ Phật giáo, giáo hội ban cấp tính chính đáng cho chính quyền.

Nhưng giáo hội bây giờ đã quen chia thành khuynh hướng, phe nhóm rồi, ai cũng trọng ông U Nu như một thánh vương, nhưng người này trách ông bảo vệ Phật giáo như vậy là chưa đủ, người kia lại cho rằng ông đi như vậy là quá xa. Tình trạng trở nên trầm trọng khi ông đặt vấn đề Phật giáo là quốc giáo vào trung tâm của tranh cử năm 1960. Đảng của ông đã tách ra làm hai trên những tranh chấp khác lại càng chia rẽ hơn trên vấn đề quốc giáo này. Kết quả là đảng của phe U Nu đại thắng trong tuyển cử vì dân chúng ủng hộ chủ trương của ông. Nhưng đại thắng này không đủ giúp ông ở lại chính quyền lâu dài. Cùng với những khó khăn về kinh tế, chống đối của các chủng tộc, hiểm họa ly khai, bất an ninh ở biên giới, những biện pháp ủng hộ Phật giáo của ông như cấm giết bò, áp dụng lịch Phật giáo, chuyển đổi án tử hình, hòa giải với phe cộng sản… tạo cơ hội cho quân đội làm đảo chánh, dựng lên một chế độ độc tài tàn bạo dài dằng dẵng từ 1962 cho đến gần đây.

Tôi bắt đầu bài viết này với tóc của Phật. Là bởi vì chế độ độc tài ấy không có cách nào để lấy lòng quần chúng hiệu nghiệm hơn là khai thác lòng sùng kính của dân đối với xá lợi Phật. Do đó, chính sách rước răng Phật từ Trung Quốc đưa về được tổ chức cực kỳ hoành tráng trong cả nước suốt 45 ngày. Cũng vậy, tín ngưỡng Nat với bùa chú phù phép được khích lệ tối đa, đẩy lùi Phật giáo vào thời tiền hiện đại. Rồi cũng vậy, tướng tá xây chùa tráng lệ không thua gì những ngôi chùa tráng lệ nhất, ông này xây một chùa thì ông kia xây hai. Ta đây sùng đạo có thua ai! Chắc chắn là không thua ai về khoản tiếp thị: hình ảnh các ông tướng mộ đạo xuất hiện bên cạnh các sư sãi, chùa chiền, rước Phật, hành hương tràn đầy trên màn ảnh, báo chí. Riêng cái khoản giáo hội tăng già, các ông tưởng nắm chắc trong tay, hóa ra chỉ nắm cái bóng, cái hình đã phân tán thành nhánh, thành cành, âm thầm tỏa bóng xuống khắp xã hội, vừa an ủi vừa duy trì sức mạnh.

Tương lai là chuyện thứ tư xin kể. Chắc chắn Phật giáo Myanmar sẽ không có một ông U Nu thứ hai. Nhưng Phật giáo ấy cần gì quốc vương khi đã là cái hồn của dân tộc? Vấn đề là: hình hài của dân tộc Miến đã lớn mạnh rồi, đã hấp thụ những món ăn tư tưởng mới, thở không khí của thời đại mới, tắm trong dòng sông có nhiều con nước mới đổ vào, vậy thì cái hồn ấy có hằng thường được chăng? Tôi đang thấy hồn ấy nhập vào hình hài dân chủ nơi một người phụ nữ mảnh khảnh mà sáng ngời trí tuệ và lòng tin Phật. Tôi muốn được cùng với bạn bè Myanmar đọc vài câu đã thốt ra từ miệng người phụ nữ tự nhận mình là một Phật tử bình thường ấy.

Lạ thật, từ một người tranh đấu chống bạo lực, tôi nghe nhấn mạnh bao nhiêu lần lòng từ bi: “Phật giáo đại thừa đặt nặng từ bi hơn Phật giáo nguyên thủy. Tôi cảm nhận sâu xa điều đó, bởi vì chúng ta cần rất nhiều từ bi trên thế giới này. Tất nhiên, từ bi cũng là một phần của Phật giáo nguyên thủy. Nhưng tôi muốn nhiều người hơn nữa trong dân tộc chúng tôi mang từ bi vào hành động”.

Từ bi trong chính trị? Chính vậy! “Khi đức Phật muốn ngăn cản hai phe sắp chiến tranh, Ngài đến và đứng giữa hai bên. Hai bên có thể làm hại Ngài trước khi giết nhau. Nhưng như thế, Ngài bảo vệ cả hai. Ngài bảo vệ người khác bằng cách hy sinh thân mạng của Ngài”.

Nhưng sợ đã thành thói quen rồi trong xã hội. Làm sao bảo người ta từ bi? “Mọi chuyện đã xảy ra chỉ vì không đủ tích cực từ bi. Có một liên hệ trực tiếp giữa tình thương và sợ hãi. Kinh từ bi dạy: “Như mẹ hiền yêu thương con một”. Đó là từ bi đích thực. Bà mẹ có thể hy sinh thân mạng vì thương con mình. Tôi nghĩ chúng ta cần thứ tình thương đó nhiều hơn nữa chung quanh chúng ta”.

Nếu những lời trên đây xuất phát từ một ông thầy tu, tôi không ngạc nhiên. Xuất phát từ một người đã từng đứng trước mũi gươm làn đạn, đó là bài học cho cả thế giới về sức mạnh của tâm linh. Bài học mà đức Phật đã dạy: từ bi đi đôi với vô úy. Đừng sợ! Và bởi vì không sợ cho nên không giận. Đức Phật dạy bà đừng giận. Bà không hề giận trong khi chống lại đối thủ của bà. Mới đây thôi, trong cuộc viếng thăm của ngoại trưởng Hillary Clinton, bà nhắc nhở lần nữa: “Khi tôi bắt đầu đi vào chính trị, tranh đấu cho dân chủ, tôi luôn luôn khởi đi với ý nghĩ rằng dân chủ là một quá trình sẽ mang lại hạnh phúc lớn hơn, hòa hợp lớn hơn, và hòa bình lớn hơn cho dân tộc tôi. Và điều đó không thể thực hiện được nếu chúng tôi bị trói chặt trong giận dữ và ý muốn trả thù. Bởi vậy tôi chưa hề bao giờ nghĩ rằng con đường phía trước là phải đi qua giận dữ và cay đắng, mà phải đi qua hiểu biết lẫn nhau, cố gắng hiểu phía kia, và đi qua khả năng thương thuyết với những người suy nghĩ hoàn toàn khác với ta, đi qua khả năng đồng ý trên bất đồng ý nếu cần thiết, để làm thế nào rút ra hòa hợp từ những cách suy nghĩ khác nhau”. Một bài học dân chủ và một bài học Phật giáo.

Cuối cùng bà đã chiến thắng. Nhưng ngay cả trong đêm tối mịt mù của đàn áp, bà vẫn quả quyết: “Trong đạo Phật, có bốn yếu tố để thành công, để chiến thắng. Ý muốn tốt, hành động đúng, dõng mãnh tinh tấn, trí tuệ bát nhã. Các nguyên tắc đạo đức đó là căn bản, tránh cho ta khỏi lạc đường. Với những nguyên tắc đó, ta sẽ đi đến được bất cứ nơi nào ta muốn. Chúng tôi không cần gì thêm”.

Trong đau khổ chung của dân tộc Myanmar, Phật giáo Miến Điện ngàn xưa đã hiện đại hóa với người phụ nữ ấy. Đạo Phật đó, ngôn ngữ hiện đại ngày nay gọi là “đạo Phật dấn thân”.

Giáo dục học sinh qua những câu danh ngôn – VHNA

20 Th8

Giáo dục học sinh qua những câu danh ngôn

Quang Hiển

“Trong thành lũy tâm hồn, những câu danh ngôn là những người lính phòng thủ cho khôn ngoan và lẽ phải” (Platon). Danh ngôn là một sản phẩm văn hóa góp phần làm phong phú thêm hành trang tinh thần của giới trẻ.

Thời gian gần đây, các giáo viên môn ngữ văn có sự quan tâm nhiều hơn đến danh ngôn trong giảng dạy phần nghị luận xã hội do nhiều đề thi môn ngữ văn yêu cầu học sinh giải thích, bình luận các vấn đề xã hội hoặc tư tưởng được thể hiện qua các câu danh ngôn. Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn ít quan tâm đến danh ngôn, không giới thiệu cho học sinh về danh ngôn, không khuyến khích học sinh sưu tầm danh ngôn và vận dụng danh ngôn vào học tập và đời sống. Theo chúng tôi, đây là một điều đáng tiếc và là một thiệt thòi đối với học sinh, không chỉ trong việc học tập môn nghị luận xã hội mà còn trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống. Sự cần thiết và quan trọng của danh ngôn đối với việc giáo dục học sinh có thể được giải thích bằng các nguyên nhân sau:        

Thứ nhất, danh ngôn (câu nói nổi tiếng) là những lời nói hay, có ý nghĩa sâu sắc được người đời truyền tụng. Đó có thể là một câu ngạn ngữ, ca dao, tục ngữ của người bình dân truyền lại từ xa xưa, là lời nói của một nhà chính trị, nhà khoa học, nhà văn hóa nổi tiếng hoặc được trích dẫn từ kinh sách tôn giáo…Kho tàng danh ngôn kết tinh tri thức, kinh nghiệm sống; tình cảm, đạo lý; truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc và nhân loại. Từ những điều giản dị trong đời sống gia đình như “Cá không ăn muối cá ươn – Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư” hay “Tu đâu lại bằng tu nhà – Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu” (Ca dao Việt Nam) cho đến tình yêu Tổ quốc “Tổ quốc chính là điểm mà trái tim của chúng ta được buộc vào” (Voltaire), hay quan niệm về tình bạn “Tình bạn nhân lên niềm vui và chia bớt đau buồn” (Thomas Fuller), tình yêu “Tình yêu nơi hai trái tim hòa nhập tạo nên cùng một ý nguyện” (Edmund Spenser), tôn giáo “Chúa viết nên Phúc âm không chỉ ở trong Kinh thánh mà còn ở trên cỏ cây, trong những nụ hoa, mây và sao trời” (Martin Luther)…cho đến các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…đều được đúc kết qua những câu danh ngôn Đông Tây kim cổ.             

Thứ hai, đặc điểm của tri thức trong danh ngôn là sự kết tinh ở mức độ cao và ở sự độc đáo trong cách nhìn, cách tiếp cận vấn đề cũng như cách diễn đạt. Theo quy luật của tình cảm và tri giác, người ta chỉ ấn tượng và ghi nhớ những gì đặc sắc, độc đáo và bổ ích. Sự độc đáo, hàm súc tạo nên sức sống, sức hấp dẫn trường tồn của những câu danh ngôn. Ví dụ: câu “Hai người cùng nhìn xuống, một người chỉ thấy vũng nước, còn người kia lại nhìn thấy những vì sao” (Dovjenko) cho thấy trí tuệ, tâm hồn mỗi người quyết định cái nhìn của anh ta đối với thế giới. Nhiều câu danh ngôn có cách diễn đạt giàu hình ảnh, gợi nên những liên tưởng sâu xa, khiến người ta phải suy nghĩ và xúc cảm. Ví dụ: “Mất tiền là mất ít, mất danh dự là mất nhiều, mất niềm tin là mất tất cả” (khuyết danh) hay “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển” (kinh Phật) hoặc “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con” (Trần Đăng Khoa), “Ai bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào kẻ đó bằng đại bác” (R.Gamzatov)… Do đó, đến với danh ngôn, học sinh không chỉ học tri thức, đạo lý, mà còn học cách nhìn, cách nghĩ, cách tiếp cận, giải thích thế giới.                                                 

Thứ ba, trong thế giới danh ngôn, một vấn đề được nhìn nhận từ nhiều góc độ, có thể đối lập, hoặc bổ sung cho nhau, giúp học sinh sắc sảo hơn trong tư duy, cởi mở hơn trong quá trình tiếp cận chân lý, giúp rèn luyện tư duy phản biện, tránh cực đoan, độc quyền chân lý. Ví dụ khi bàn luận về hai câu tục ngữ: “Học thầy không tầy học bạn” và “Không thầy đố mày làm nên”, học sinh sẽ nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc hơn về vai trò của người thầy cũng như phương pháp tự học, tương tác giữa người học với nhau trong giáo dục. Hoặc về lời nói, có rất nhiều cách tiếp cận, lý giải khác nhau, trước hết là ở phương diện tích cực: “Khởi thủy là lời” (Kinh Thánh Cơ đốc), “Quyền lực của lời nói là vô biên” (ngạn ngữ Nga), “Lời nói có hiệu quả hơn mười vạn khẩu súng thần công” (Napoléon), “Một lời nói có thể làm hưng thịnh một quốc gia” (Khổng Tử)….Nhưng ở góc độ tiêu cực, lời nói được nhìn nhận: “Bệnh từ miệng vào, vạ từ miệng ra”, “Lời nói đọi máu” (Tục ngữ Việt Nam), “Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn” (Nguyễn Trãi)…Im lặng có khi được định nghĩa “Im lặng là vàng”, nhưng cũng có người quan niệm: “Im lặng là một điều tồi tệ: Mọi chân lý không được nói ra đều trở thành độc ác” (Niezsche).                            

Từ những lí do trên, thiết nghĩ các nhà giáo nên vận dụng danh ngôn để giáo dục học sinh. Vấn đề đặt ra là vận dụng, lồng ghép như thế nào? Theo chúng tôi, vấn đề đầu tiên là mỗi nhà giáo, đặc biệt là các nhà giáo dạy các môn khoa học xã hội thấy được vai trò, tác dụng của danh ngôn đối với giáo dục học sinh. Các nhà giáo có thể sử dụng danh ngôn trong các giờ lên lớp để mở bài, lấy ví dụ, nhấn mạnh hay mở rộng nội dung bài học hoặc sử dụng trong giờ sinh hoạt lớp, trong giao tiếp, hoạt động tập thể. Có thể sử dụng danh ngôn trong các đề bài, câu hỏi kiểm tra, thi cử của phân môn nghị luận văn học, nghị luận xã hội. Khuyến khích học sinh tìm đọc sách danh ngôn, sưu tầm danh ngôn theo chủ đề, tổ chức một số giờ ngoại khóa về danh ngôn. Nhiều câu danh ngôn gắn liền với các danh nhân, vì vậy, cần khuyến khích học sinh tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của danh nhân gắn liền với câu danh ngôn. Ngay cả các giáo viên môn khoa học tự nhiên cũng nên khuyến khích học sinh tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp các nhà khoa học nổi tiếng và những câu nói để đời của họ như Einstein (Vật lý), Darwin (Sinh học), Marie Curie (Hóa học), René Descartes (Toán)…Giáo viên nên gợi mở, trao đổi cùng học sinh về nội dung, ý nghĩa của danh ngôn, nhất là những câu hàm súc, khó hiểu, hoặc có nội dung trái ngược nhau, rèn cho học sinh kĩ năng huy động, vận dụng danh ngôn vào những tình huống phát ngôn hoặc ứng xử. “Kẻ ngu làm kinh ngạc bằng tiếng gào, người thông minh làm kinh ngạc bằng câu tục ngữ dẫn ra đúng lúc” (Gamzatov), nếu biết vận dụng danh ngôn vào giảng dạy, nhà giáo sẽ có thêm một phương tiện giáo dục hấp dẫn và có hiệu quả không tồi./.           

 

Nhận diện chân tướng Thời Báo Hoàn Cầu – TT

20 Th8

Nhận diện chân tướng Thời Báo Hoàn Cầu

TT – Chân tướng của Thời Báo Hoàn Cầu đang bị các chuyên gia nước ngoài và một số học giả Trung Quốc vạch trần, như một công cụ kinh doanh chủ nghĩa dân tộc của người dân Trung Quốc…

 

Thời Báo Hoàn Cầu ấn bản tiếng Anh và tiếng Hoa – Ảnh: Reuters – Huanqiu.com

 

Thời Báo Hoàn Cầu được thành lập ngày 1-3-1993, có hai sản phẩm là báo giấy và điện tử bằng tiếng Trung (huanqiu.com) và tiếng Anh (Global Times) với nội dung tương tự nhau. Đây là tờ báo đứng thứ ba ở Trung Quốc với 2,4 triệu người đọc báo in mỗi ngày và 10 triệu lượt độc giả đọc báo mạng.

 Trụ sở của Thời Báo Hoàn Cầu nằm trong tổng hành dinh của Nhân Dân Nhật Báo. Tổng biên tập tờ báo Hồ Tích Tiến từng học về đối ngoại quốc phòng ở Nam Kinh và có bằng thạc sĩ văn học Nga của Đại học Bắc Kinh. Từng là phóng viên chiến trường và chuyên viết xã luận.

Thời Báo Hoàn Cầu là ai?

Ngay từ năm 2011, tạp chí Foreign Policy của Mỹ số tháng 10-2011 đã dẫn lời nhà bình luận Michael An Thế, người Mỹ gốc Trung Quốc, cho rằng “Thời Báo Hoàn Cầu lấy chủ nghĩa dân tộc làm mốc định vị trên thị trường để thu lợi nhuận”. An Thế còn so sánh Thời Báo Hoàn Cầu không khác gì các báo lá cải của trùm truyền thông Mỹ Rupert Murdoch và về cơ bản giống Đài truyền hình Fox News của Mỹ trong chuyện bảo vệ các quan điểm bảo thủ và thành kiến chính trị.

Chuyên gia về báo chí Trung Quốc Jeremy Goldkorn – người sáng lập trang báo mạng Danwei.org ở Mỹ, trang mạng chuyên điểm tin về Trung Quốc – phân tích phong cách gây hấn trong các bài xã luận của Thời Báo Hoàn Cầu là sản phẩm của hai xu hướng: Thứ nhất là cổ xúy cho chủ nghĩa dân tộc. Thứ hai là do tính chất cấp bách phải tìm kiếm lợi nhuận từ số báo phát hành và quảng cáo vì chính phủ đã cắt giảm ngân sách bao cấp cho báo chí. Ông Hồ Tích Tiến đã tận dụng triệt để hai xu hướng này.

Không chỉ giới học giả Hoa kiều, một số học giả Trung Quốc cũng đang dần nhận ra bản chất của Thời Báo Hoàn Cầu. Học giả Lý Lệnh Hoa, cựu thành viên Trung tâm Tin tức hải dương Trung Quốc, trong một bài viết đăng trên blog cá nhân ngày 16-8 với nhan đề “Không thể lấy đường chín đoạn để bàn chuyện Nam Hải (tức biển Đông)”, ông đã phản bác một bài viết trên tờ Thời Báo Hoàn Cầu cho rằng “những khu vực thuộc đường chín đoạn là của Trung Quốc, hải quân Trung Quốc phụ trách”. Ông Lý Lệnh Hoa chỉ trích bài viết đã thể hiện thái độ vô trách nhiệm, lý luận vô lối và gây hại nghiêm trọng cho việc giải quyết vấn đề trên biển Đông. Các bài viết dạng này chẳng giải quyết được gì mà chỉ “làm loạn đất nước thêm”.

Báo Asia Sentinel của Hong Kong từng đăng bài viết so sánh Thời Báo Hoàn Cầu như “cái máy ủi về chính sách đối ngoại của Trung Quốc”. Báo phân tích ngoài mục đích lợi nhuận, Thời Báo Hoàn Cầu còn đóng vai trò như van xả an toàn, cho phép những dồn nén của chủ nghĩa dân tộc cực đoan có nơi để giải tỏa.

Tạp chí Nhân Vật của Trung Quốc từng dẫn lời trưởng ban xã luận của Thời Báo Hoàn Cầu Vương Văn thừa nhận: “Thời Báo Hoàn Cầu bán chạy nhờ thúc đẩy và cổ xúy chủ nghĩa dân tộc”.

Thời Báo Hoàn Cầu viết như thế nào?

Chỉ trong vòng không đầy hai tháng, từ tháng 6 đến tháng 7-2012, người Trung Quốc đã bị nhồi nhét bình quân hơn 10 bài báo về vấn đề tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc với các nước xung quanh theo một góc nhìn hiếu chiến, xuyên tạc của Thời Báo Hoàn Cầu.

Từ tháng 4 đến nay, Trung Quốc liên tục có những hành động khiêu khích trên biển Đông. Căng thẳng leo thang khởi sự từ sự kiện tàu Trung Quốc và tàu Philippines đối đầu ở bãi cạn Scarborough. Thời gian này, Thời Báo Hoàn Cầu liên tục đăng tải phỏng vấn, bài xã luận để chứng minh “Trung Quốc chỉ là kẻ bị hại và bị ức hiếp”. Bằng giọng điệu “tôi là người vô tội, các người đừng chèn ép tôi nữa”, Thời Báo Hoàn Cầu đã xuyên tạc sự thật, kích động chủ nghĩa dân tộc của người dân Trung Quốc, hướng dư luận đến một quan điểm sai lệch là “người bị hại”.

Trong bài phỏng vấn về tình hình biển Đông đăng ngày 28-6, Thời Báo Hoàn Cầu lại dẫn lời cựu thiếu tướng hải quân Trung Quốc Trịnh Minh cáo buộc Philippines “vì tham tài nguyên biển mà đâm đầu vào tranh chấp với Trung Quốc ở biển Đông”. Liên tục những ngày sau đó, báo này hết đe nẹt Philippines rồi kể khổ với công chúng rằng “lãnh thổ cố hữu và lịch sử” của mình đã bị Philippines xâm chiếm.

Cũng trong vấn đề biển Đông, Trung Quốc đã có hàng loạt hành động gây hấn, khiêu khích như thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đưa quân đến đồn trú ở đây, xua tàu cá cùng tàu hải giám, tàu ngư chính xuống biển Đông, gọi thầu trong thềm lục địa Việt Nam…

Thế nhưng, Thời Báo Hoàn Cầu đã viết gì? Ngày 3-7-2012, báo này đăng bài của Chu Mã Liệt với giọng điệu xuyên tạc và bịa đặt cho rằng “Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ Nam Hải của Trung Quốc nhiều nhất, tới 29 đảo và bãi đá”. Bên dưới là hàng loạt tít phụ như “Đánh người, bắt thuyền, cướp của, lấy cá”, “Lợi dụng cháy nhà hôi của”…

Trong khi Trung Quốc gây hấn, lấn chiếm trên biển Đông thì Thời Báo Hoàn Cầu luôn rêu rao Trung Quốc là bị hại, một nước mạnh bị một nước yếu đe dọa! Bài báo đưa tin tàu cá Trung Quốc thường xuyên bị các tàu chiến Việt Nam truy đuổi, phun vòi rồng, bắn chỉ thiên xua đuổi. Song, hình ảnh vệ tinh từ Nhật Bản hay thậm chí do Trung Quốc cung cấp thì ngược lại!

Trong những bài báo khác, Thời Báo Hoàn Cầu còn đưa ra thống kê lượng dầu mỏ đang có ở vùng biển quần đảo Trường Sa và lu loa lên rằng các nước trong khu vực đang “hút dầu của Trung Quốc” để ngụy biện cho việc Trung Quốc kêu mời thầu chín lô dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam ngày 13-6. Để rồi bằng giọng điệu hiếu chiến, báo này đã kêu gọi quyết chiến ở biển Đông vì cho rằng “hiện nay Trung Quốc có tiền, có súng, có thị trường và tình hình tất sẽ phát triển theo hướng khó tránh khỏi xung đột”.

Cứ như thế, tờ báo này luôn chơi trò tung hứng với những luận điệu kích động chủ nghĩa dân tộc trong nước bằng cách xuyên tạc sự thật.

MỸ LOAN

Xung đột voi và rồng tại biển Đông

20 Th8

Xung đột voi và rồng tại biển Đông

SGTT.VN – Biển Đông dường như đang trở thành một “chiến trường” lợi ích mới giữa hai quốc gia lớn nhất châu Á: Trung Quốc và Ấn Độ.

Trước là lợi ích của biển Đông

Va chạm giữa New Delhi và Bắc Kinh tại biển Đông khởi đầu bằng việc một tàu chiến không xác định danh tính của Trung Quốc đã yêu cầu tàu tấn công INS Airavat của Ấn Độ, khi đó đang có chuyến thăm chính thức tới Nha Trang và Hải Phòng, phải “báo danh” và giải thích sự hiện diện của mình tại khu vực ngay sau khi rời khỏi lãnh hải của Việt Nam. Sự việc trên có thể cho thấy rõ sự khó chịu của Bắc Kinh khi New Delhi bắt đầu có những hiện diện quân sự, mặc dù hạn chế tại khu vực mà Trung Quốc luôn coi là “sân nhà” của mình.

 

 
Tàu chiến INS Airavat của Ấn Độ đã có chuyến thăm Nha Trang, Hải Phòng và sau khi ra đến vùng biển quốc tế, nó đã bị Trung Quốc “làm phiền”.

 

Thế nhưng vụ việc sau đó dường như lại nhạy cảm hơn rất nhiều, đó là khi Ấn Độ quyết định ký kết các thỏa thuận nhằm tăng cường hợp tác dầu khí và năng lượng với Việt Nam. Những thỏa thuận trên được cụ thể hóa bằng việc công ty Dầu khí quốc gia Ấn Độ ONGC Videsh Ltd (OVL) chấp nhận lời mời của thăm dò dầu khí tại các lô 127 và 128 nằm trên thềm lục địa của Việt Nam.

Các hành động của Ấn Độ không những thể hiện mong muốn nhằm tăng cường hợp tác hơn nữa với Việt Nam, quốc gia được New Delhi coi là hạt nhân trong Chính sách hướng Đông của mình, mà còn phớt lờ hoàn toàn những cảnh bảo của Trung Quốc. Bắc Kinh cho rằng việc thăm dò và khai thác dầu khí tại các lộ 127 và 128 cần được sự “cho phép” của Trung Quốc và rằng những việc làm của Ấn Độ nếu xảy ra sẽ hoàn toàn “bất hợp pháp”. Trong tháng 6.2012, tập đoàn dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) gây ra căng thẳng mới bằng cách mời thầu 9 lô dầu khí nằm trong thềm lục địa của Việt Nam (trong đó có lô 128). Và ngay sau đó vào ngày 18.7, một quan chức cao cấp giấu tên thuộc OVL đã khẳng định với tờ Hindustan Times của nước này rằng OVL đã nhận lời đề nghị của PetroVietnam tiếp tục thăm dò và khai thác dầu tại lô 128 ở khu vực biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam thêm hai năm nữa.

Sau là vị trí nước lớn

Sự va chạm của Ấn Độ và Trung Quốc tại biển Đông chắc chắn không chỉ liên quan đến vấn đề tài nguyên hay tự do hàng hải thông thường, nó còn liên quan đến các tranh chấp địa chiến lược cũng như vị thế nước lớn của hai cường quốc châu Á này. Ai cũng biết Trung Quốc đang khát tài nguyên đến mức nào khi họ vung tiền ra khắp nơi trên thế giới nhằm mang về nhiều nguyên liệu nhất có thể. Với một vị trí địa lý mà 80% nguồn cung năng lượng phải đi qua biển Đông và Ấn Độ Dương, Trung Quốc không còn cách nào khác phải tăng cường bảo vệ tuyến đường huyết mạch này, đồng thời tìm kiếm các con đường năng lượng khác thông qua Nga và Trung Á.

 

 
Tàu INS Ranvir (trái) của Hải quân Ấn Độ cùng hai tàu USS Fitzgerald (Mỹ) và JDS Kurama (lực lượng phòng vệ Nhật Bản) trong một cuộc tập trận chung Malabar.

 

“Chuỗi ngọc trai”, một chuỗi các căn cứ quân sự trải dọc từ phía Nam lục địa Trung Hoa cho đến tận phía Đông Châu Phi dường như là giải pháp khả thi nhất lúc này. Căn cứ Tam Á, rồi đến Hoàng Sa, các căn cứ quân sự mà Trung Quốc thuê và dự tính thuê tại Myanmar, Bangladesh, Sri Lanka, Maldives, Pakistan hay Kenya… sẽ là những tiền đồn quan trọng giúp Bắc Kinh bảo vệ an toàn cho tuyến đường máu của mình. Thế nhưng nhìn vào có thể thấy rằng hầu hết những căn cứ quân sự này lại được đặt tại các nước Nam Á, khu vực mà Ấn Độ từ xa xưa vẫn luôn coi là khu vực ảnh hưởng truyền thống của mình.

Mối căng thẵng giữa hai bên cùng không phải chỉ mới xuất hiện gần đây. Là hai trong bốn nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới, sự giao thoa văn hóa đã xảy ra trong suốt chiều dài của lịch sử. Tuy nhiên điều đó không ngăn cản được tham vọng cũng như sự đối đầu, khi hai nước đã từng xảy ra chiên tranh biên giới hồi năm 1962. Bên cạnh đó, mối quan hệ hai nước bao trùm nhiều vấn đề phức tạp khác như mối quan hệ đồng minh giữa Trung Quốc và Pakistan, địch thủ truyền thống của Ấn Độ; vấn đề Tây Tạng; cạnh tranh kinh tế, năng lượng và các vấn đề địa chính trị như đã nói ở trên.

Ấn Độ được xem như một nền văn minh ôn hòa hơn rất nhiều so với Trung Hoa. Là cái nôi của của đạo Phật và đạo Hindu cho nên tư tưởng của người Ấn cũng hòa quyện cùng với các triết lý vị nhân sinh của Phật và các vị thánh Hindu. Các chính sách ôn hòa từ “bất bạo động” của Gandhi cho đến “không liên kết” của Jawaharlal Nehru như khẳng định thêm chân lý đó. Chính vì thế sự phát triển của Ấn Độ tỏ ra mềm mại và nhẹ nhàng hơn so với Trung Quốc. Đã từ lâu New Delhi đã không tỏ rõ mình đứng về phía nào trong tranh chấp biển Đông, nhưng việc CNOOC mời thầu lô 128 đã tạo ra một thế khó cho Ấn Đô. Cùng với sự can thiệp quá sâu của Trung Quốc vào Ấn Độ Dương, việc Ấn Độ có những động thái ủng hộ Việt Nam cho thấy New Delhi cũng có khả năng làm điều tương tự, đó là hiện diện tại nơi mà Trung Quốc cho là “ao nhà” của mình. Sự gia tăng về sức mạnh tổng thể của Trung Quốc sẽ là một phép thử quan trọng cho quan điểm và vị thế của Ấn Độ tại châu Á. Liệu Ấn Độ có khả năng cân bằng với Trung Quốc hay không, và liệu họ có khả năng duy trì một sự hiện diện tương đối tại biển Đông cũng như tham gia nhiều hơn với tư cách là một nước lớn tại các điểm nóng hay không.

“Một ngọn núi không thể có hai hổ”, người ta vẫn thường dùng câu thành ngữ này để ám chỉ cuộc đối đầu giữa “rồng” và “voi”. Ấn Độ chắc chắn sẽ phải đối mặt với một Trung Quốc đang mạnh lên về mọi mặt. Điều quan trọng ở đây là New Delhi sẽ cân bằng giữa mục tiêu và các nguồn lực của mình như thế nào.

Nguyễn Thế Phương

Cuộc chiến Mỹ-Trung: Các phương án tác chiến – NCBĐ

20 Th8

Cuộc chiến Mỹ-Trung: Các phương án tác chiến

dinh tuan anh
 

Các máy bay ném bom tàng hình và tầu ngầm của Mỹ sẽ triệt hạ các hệ thống ra đa và các hệ thống tên lửa của Trung Quốc nằm sâu trong đất liền. Tiếp đó là một cuộc tấn công quy mô lớn bằng không quân và hải quân của Mỹ.

 

 

 

 

Hồi đầu năm nay khi Tổng thống Barack Obama chỉ thị cho quân đội Mỹ chuyển trọng điểm sang châu Á, nhà tương lai học 91 tuổi từng làm việc 40 năm tại Phòng đánh giá tình hình của Lầu Năm Góc, ông Andrew Marshall đã có sẵn một quan điểm về những gì phải làm. Căn phòng làm việc nhỏ của Marshall trong tòa nhà Lầu Năm Góc đã dành trọn hai thập kỷ gần đây để lập kế hoạch về một cuộc chiến tranh chống một nước Trung Quốc ngày càng hiếu chiến và vũ trang hiện đại. Không ai có ý tưởng về cách thức mà cuộc chiến sẽ bắt đầu. Tuy nhiên, phản ứng của Mỹ là rõ ràng, như được đặt vấn đề trong tài liệu nghiên cứu của Marshall, đó là “Cuộc chiến không-biển” theo đó các máy bay ném bom tàng hình và tầu ngầm của Mỹ sẽ triệt hạ các hệ thống trận địa ra đa trinh sát tầm xa và các hệ thống tên lửa có độ chính xác cao của Trung Quốc nằm sâu trong đất liền. Chiến dịch “đánh mù mắt” khởi đầu này sẽ được tiếp nối bằng một cuộc tấn công quy mô lớn bằng không quân và hải quân của Mỹ.

Bản tài liệu mà chi tiết của nó được liệt vào diện tuyệt mật này đã khiến giới quân sự Trung Quốc tức giận. Một số sỹ quan lục quân và lính thủy đánh bộ Mỹ cho rằng ASB là quá tốn kém và thiên lệch. Một số chuyên gia phân tích châu Á lo ngại một cuộc tấn công bằng vũ khí thông thường nhằm vào Trung Quốc có thể thổi bùng một cuộc chiến tranh hạt nhân. Học thuyết “Trận chiến không quân-hải quân” ít được chú ý khi binh lính Mỹ đang tham chiến và chết chóc với số lượng lớn ở Irắc và Ápganixtan. Nay, thập kỷ sử dụng quân đội để chống lại các cuộc nổi dậy đang kết thúc và ngân sách quân sự đang bị cắt giảm, các quan chức cấp cao của quân đội Mỹ được lệnh chuyển trọng điểm sang châu Á và họ đang tìm kiếm các ý tưởng từ căn phòng làm việc của Andrew Marshall. Trong vài tháng qua, hai quân chủng không quân và hải quân Mỹ đã nêu ra hơn 200 sáng kiến mà họ cho là cần thiết để hiện thực hóa học thuyết “Trận chiến không quân-hải quân” của Marshall. Danh mục các sáng kiến này một phần được rút ra từ các trò chơi chiến tranh đã được thực nghiệm trong căn phòng làm việc của Marshall , trong đó gồm cả các loại vũ khí mới cũng như các đề xướng tăng cường phối hợp giữa hải quân và không quân.

Là một cựu chiến lược gia về vũ khí hạt nhân, Andrew Marshall đã dành 40 năm qua để điều hành Phòng đánh giá tình hình của Lầu Năm Góc, phân tích và mổ xẻ những nguy cơ tiềm tàng đe dọa ưu thế nổi trội của quân đội Mỹ. Trong quá trình nghiên cứu này, ông đã xây dựng được một mạng lưới hùng mạnh các đồng minh trong Quốc hội, trong ngành công nghiệp quốc phòng, giới nghiên cứu và Lầu Năm Góc. Trong khi, những người ủng hộ ca ngợi phòng làm việc của Marshall là nơi để các quan chức tìm kiếm các quan điểm lâu dài, các nhà chỉ trích lại nhìn thấy một chiều hướng nguy hiểm phóng đại nguy cơ Trung Quốc nhằm cổ vũ cho việc tăng chi phí quốc phòng. Barry Posen, Giám đốc chương trình nghiên cứu an ninh MIT cho biết từng có những câu nói đùa rằng nên đổi tên Phòng đánh giá tình hình của Lầu Năm Góc thành “Phòng lạm phát nguy cơ vì họ thường vượt quá giới hạn để đi sâu tìm kiếm các kịch bản xấu nhất. Họ thường thuyết phục người khách hành động như thể các tình huống xấu nhất này là không thể tránh khỏi”. Tuy nhiên, trong một cuộc trả lời phỏng vấn mới đây, ông Andrew Marshall đã bác bỏ lời chỉ trích cho rằng văn phòng của ông chú tâm quá mức vào Trung Quốc, coi họ như một kẻ thù tương lai. Theo lập luận của ông Marshall , một trong những nhiệm vụ của Lầu Năm Góc là phải tính tới những kịch bản xấu nhất, do vậy “thiên hướng của chúng tôi là nhìn vào những tương lai không mấy lạc quan”.

Cho dù bắt đầu quan tâm tới học thuyết “Trận chiến không quân-hải quân” của Marshall, nhưng Lầu Năm Góc vẫn cố tìm cách giải thích để không thổi bùng mối quan hệ vốn đã căng thẳng với Trung Quốc. Tuy nhiên, giữa hai nước đã bùng nổ cuộc cãi vã và cáo buộc lẫn nhau. Một số quan chức cấp cao quân đội Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo rằng nỗ lực mới của Lầu Năm Góc có nguy cơ thổi bùng một cuộc chạy đua vũ trang. Năm ngoái, phát biểu tại một cuộc hội thảo do Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) tổ chức, Đại tá Gaoyue Fan thuộc Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) cảnh báo rằng nếu quân đội Mỹ phát triển tư tưởng chiến tranh không quân-hải quân của Marshall để đối phó với quân đội Trung Quốc thì PLA sẽ buộc phải có một chiến lược để đối phó lại học thuyết “Trận chiến không quân-hải quân” của Mỹ. Các quan chức Lầu Năm Góc ngay lập tức giải thích rằng các quan điểm trong “Trận chiến không quân-hải quân” chỉ thuần túy nhằm đánh bại các hệ thống tên lửa có độ chính xác cao, chứ không nhằm vào bất kỳ đối tượng hoặc một chế độ cụ thể nào”. Tuy nhiên, những người đứng đầu quân chủng không quân và hải quân Mỹ lại cho biết tư tưởng của học thuyết “Trận chiến không quân-hải quân” có ý nghĩa vượt qua cả tầm chiến trường. Đô đốc Jonathan Greennert, Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ cho biết ASB có thể giúp quân đội Mỹ đi vào các vùng Bắc Cực băng giá hoặc tới hiện trường nhà máy hạt nhân bị tan chảy ở Nhật Bản. Trong các cuộc nói chuyện riêng tư, một số quan chức Lầu Năm Góc thừa nhận mục tiêu của ASB là giúp các lực lượng Mỹ phòng ngừa một cuộc tấn công của Trung Quốc, đồng thời phản công để triệt phá các hệ thống ra đa tinh vi và các hệ thống tên lửa có độ chinh xác cao mà Trung Quốc xây dựng nhằm giữ cho tầu chiến Mỹ phải neo đậu và hoạt động cách xa bờ biển Trung Quốc.

Mối lo của Lầu Năm Góc càng gia tăng khi chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đã tăng lên mức trung bình 180 tỷ USD mỗi năm, bằng gần 1/3 ngân sách của Lầu Năm Góc cộng với các hành động ngày càng hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông. Một sỹ quan hải quân giám sát chương trình hiện đại hóa quân chủng này cho biết mục tiêu của ASB là thuyết phục Trung Quốc hiểu rằng Mỹ sẽ chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này và rằng “chúng tôi muốn tạo ra một tình trạng không chắc chắn đủ mức trong suy nghĩ của giới hoạch định chính sách quân sự của Trung Quốc rằng họ đừng bao giờ nghĩ tới chuyện vượt qua mặt chúng tôi”. Tuy còn những tranh cãi trong nội bộ quân đội Mỹ, nhất là những ý kiến từ phía quân chủng lục quân và lính thủy đánh bộ cho rằng ASB quá ưu tiên phát triển không quân và hải quân tới mức có nguy cơ làm suy yếu hai quân binh chủng còn lại, nhưng ASB lại phù hợp với chủ trương của Chính quyền Barack Obama chuyển trọng điểm quân sự về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chủ trương này đi kèm với hàng loạt chương trình vũ khí hiện đại cũng đã nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ tại Quốc hội Mỹ. Thượng nghị sỹ độc lập nghiêng về đảng Dân chủ Joseph Lieberman và Thượng nghị sỹ đảng Cộng hòa John Cornyn đã đưa vào dự luật ngân sách quốc phòng 2012 một điều khoản yêu cầu Lầu Năm Góc trong năm 2012 này phải có một báo cáo nêu chi tiết các kế hoạch và dự kiến chi phí cho việc thực thi học thuyết “Trận chiến không quân-hải quân”./.

Theo Washington Post 

VĂN TẾ THAM QUAN

20 Th8

 VĂN TẾ THAM QUAN

Kha Tiệm Ly

Hởi ôi!

Nước chảy lạnh lùng,

Mưa bay lất phất!

“Cây trong núi ngàn tuổi dễ tìm,

Người ở đời trăm năm khó gặp!”

Lúc sống, nhà còn ở mấy tầng,

Khi chết, thây cũng vùi ba tấc! 

 

Nhớ linh xưa,

 

Quyền thế ngang trời,

Uy phong lệch đất!

Đi nửa bước, hộ vệ bám kè kè,

Ho một tiếng dân đen run lập cập!

 

Rõ là:

 

Trôn con trẻ trây cứt trây phân,

“Miệng nhà quan có gang có thép!”

Mánh mung rút bòn vật liệu, mà cầu, đường nhà nước xuống cấp ào ào,

Lập lờ cắt xén đất đai, nên nhà, xe quan ngài lên đời tới tấp!

Mặc người đi đường té xuống té lên,

Thây kẻ qua cầu rớt tim rớt mật!

Nói sao xuể, bao điều vô sỉ từ nhỏ đến to,

Ghi khôn cùng, đủ lối gian manh từ A tới Z!

Xem báo viết, thiếu điều nhức óc nhức xương,

Mở “web- sai”, càng thêm tối mày tối mặt!

 

Thế mà,

 

Vào công vào việc, lơ mơ tựa giống cù lần,

Thấy của thấy tiền, lít xích như con lật đật!

Thời làm lính, học lem nhem ba chữ i tờ,

Lúc lên quan, “đậu” lủ khủ một lô bằng cấp!

Ruộng tốt trăm vuông,

Vàng ròng thiên dật!

Cược ván cờ vài tỉ, việc tưởng như đùa,

Đặt canh bạc vạn “đô”, không dè chuyện thật!

Châu đầu châu mặt cố moi dự án trên trời,

Quơ tay quơ chân cứ nhét bạc vàng đầy túi.

Là trưởng giả ai lại xài thứ bèo Phú Lễ, Gò Đen.

Đã nhàquan thì phải chơi hàng hiệu “Mạc- Ten”, “Cô Nhắc!”

Tiền “chùa” đem bỏ vào tráp vào rương,       

Xe công mang đi sờ đùi sờ nách!          

Của chùa của miễu, xài hoang vung thẳng hai tay;

Thằng cu thằng đen, chạy thuế lòi đom một khúc!

Bất lương đâu kém đám Tần Cối, Tần… Chày,

Vô sỉ chẳng thua lũ Hòa Thân,  Hòa… Thiết! (!)

 

Lạ chi,

 

Tai trâu mặt lợn, nào dè muôn tiếng thị phi,

Mồm thép miệng gang, chẳng tiếc trăm điều hống hách!.

Báo ngày tốn bao nhiêu mực, xem chừng đàn khảy tai trâu,

Báo mạng mất bấy nhiêu công, nào khác nước ngoi đầu vịt!

 

Chỉ vì,

 

Cái óc cái tim đen cỡ mực tàu ,

Cái mặt cái mày, dày như tấm thớt!

 

Để rồi hôm nay,

 

Khi thân tại chức, chẳng xì được tiếng thơm tho,

Lúc xác ém sâu, vẫn bốc ra mùi thúi hoắc!

Ngán uy sợ thế, bao người trước mặt cúi đầu,

Miệt đức khi tài, khối kẻ sau lưng đấm c…*

Con thơ nhóc nheo mấy hệ, mặc người xưng bố, xưng ba,

Vợ trẻ mơn mởn dăm bà, mạnh kẻ đổ lờ đổ lọp!

Tim gan dơ tợ máu cùi,

Tiếng tăm thúi hơn cóc chết!

Ngưu đầu mã diện đành cúi mặt chào thua,

Quỉ sứ ma vương cũng dập đầu bái phục!

 

Những tưởng,

 

Sống, tiếng nổi lẫy lừng,

Chết, người thăm chật ních!

 

Nào dè,

 

Từ lúc xuôi tay,

Tới khi liệm xác.

Ngoài vợ con thì khóc hu hu,

Còn ai nấy đều cười khặc khặc!

 

Hôm nay,

 

Rặn dăm câu dăm chữ, thảo điếu văn thống thiết một bài,

Quệt chút ớt chút tiêu, cho làng xóm xốn xang đôi mắt!

Đã không cửa đi đến Tây Thiên,

Thì chắc ăn tìm về Địạ Ngục!

Thành kính dâng ngài,

Nói nhiều không tốt!

 Ô hô! Có linh xin hưởng!

 

Kha Tiệm Ly

 

 

Chú Thích: * Thành ngữ :  “cúi đầu trước mặt, đấm c… sau lưng”.

Nan đề tam phương Nhật – Trung – Hàn

20 Th8

Nan đề tam phương Nhật – Trung – Hàn

SGTT.VN – Không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tất cả các nước trong quan hệ tam phương đang đối mặt các cuộc bầu cử (hay thay đổi lãnh đạo, như ở Trung Quốc) trong những tháng tới, và các bên đều muốn tỏ bày sự tận tuỵ bằng các tuyên bố quan trọng.

 

 
 
Hai cô y tá Trung Quốc phất cờ trong một cuộc biểu tình chống Nhật tại Thâm Quyến hôm 19.8. Ảnh: Reuters

 

Cuộc bầu cử ở Hàn Quốc dự định vào tháng 12 và Tổng thống Lee Myung-Bak không thể tái cử nhiệm kỳ 2, nhưng ông chắc chắn muốn làm mọi thứ dễ dàng hơn cho đảng của mình. Bầu cử ở Nhật chưa được xác định nhưng dự kiến vào tháng 10. Cùng tháng, Quốc hội Đảng Cộng sản Trung Quốc họp để chọn ra thế hệ lãnh đạo kế tiếp.

Và như vậy, các đảo nhỏ, bất kể nhỏ thế nào, sẽ vẫn nằm trong vùng biển động.

Nhật – Hàn và những thoả thuận bất thành

Mối quan hệ Nhật – Hàn đã xuống đến mức thấp trong nhiều năm. Sự cố khiêu khích ngày 10.8 liên quan đến đảo Dokdo/Takeshima không phải là điều khó chịu duy nhất giữa hai nước láng giềng, mà trước đó là thất bại ngoại giao trong các thoả thuận cho phép các lực lượng vũ trang Hàn Quốc và Nhật chia sẻ thông tin tình báo và an ninh.

Washington ủng hộ việc ký kết thoả thuận với tên gọi chính thức là thoả ước Thông tin quân sự an ninh chung. Ý tưởng cơ bản là góp phần mở đường cho hợp tác quân sự chính thức gia tăng giữa Nhật, Hàn và Mỹ để đáp lại những mối đe doạ tăng lên, cuối cùng dẫn đến một “liên minh tay ba”. Cho dù hải quân Hàn Quốc, Nhật và Mỹ đã tiến hành tập trận chung, đáng chú ý là sau vụ tàu Cheonan của Hàn Quốc chìm vào năm 2010 và vụ nã pháo một hòn đảo ngoài khơi, đã không có hợp tác chính thức giữa các nước. Hàn Quốc là một đồng minh hoàn toàn của Mỹ, trong khi Washington ràng buộc với hiệp ước bảo vệ Nhật.

Tuy nhiên, Hàn Quốc đột nhiên rút lui chỉ một giờ trước buổi lễ ký kết thoả thuận vào 29.6. Ở Hàn Quốc, thoả thuận được đề nghị trở nên có hại khi phe đối lập nắm lấy nó như một ví dụ cho thấy chính phủ bảo thủ ve vãn kẻ thù lâu đời. Bộ trưởng phụ trách thương lượng phải từ chức. Có lẽ Tổng thống Lee cảm thấy phải viếng thăm đảo tranh chấp Dokdo để củng cố lòng tin của dân chúng đối với bản thân và đảng của mình.

Rắc rối leo thang theo nhiều cách. Những vụ tấn công sứ quán Hàn Quốc ở Hiroshima, và người ta còn lo ngại là trận bóng tranh huy chương đồng Olympic London giữa Hàn Quốc và Nhật diễn ra sau chuyến đi của Lee có thể biến thành một tranh cãi ầm ĩ, gợi nhớ cuộc chiến bóng đá nổi tiếng giữa Hungary và Nga tại Olympic 1956 ở Melbourne.

Điều đó đã không xảy ra, nhưng sau trận đấu, một cầu thủ của đội Hàn Quốc thắng đã giơ khẩu hiệu tiếng Hàn “Dokdo là của chúng tôi”. Cầu thủ này không xuất hiện trên bục huy chương và ban tổ chức Olympic đang điều tra xem liệu anh ta có phá vỡ quy định là không phát biểu chính trị.

Nhật đáp trả chuyến viếng thăm đảo Dokdo của Tổng thống Lee bằng cách triệu hồi đại sứ, trì hoãn những trao đổi cấp cao dự định như là chuyến thăm viếng của Thủ tướng Yoshihiku Noda đến Hàn Quốc vào tháng 9. Tokyo tuyên bố sẽ đưa vụ tranh chấp đảo ra Toà án Quốc tế. Đây có lẽ là đe doạ suông, bởi vì cả hai phía sẽ phải tuân theo quyết định phân xử, và không bên nào sẵn lòng với một quyết định bất lợi.

Quan hệ Nhật – Trung và cơ hội khó nắm

Sự ngang ngược của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông có vẻ đem lại cho Nhật một cơ hội để thể hiện mình là một thay thế của Trung Quốc, nhưng khả năng nắm giữ cơ hội này của Tokyo xem ra khó thành công do triển vọng kinh tế mơ hồ và sự chia rẽ bên trong ASEAN.

Bằng cách trục xuất nhanh chóng 14 nhà hoạt động Trung Quốc lên một hòn đảo trong quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, Nhật rõ ràng cố gắng dập tắt một khủng hoảng ngoại giao ngay khi mới manh nha. Các viên chức Trung Quốc cũng tỏ ra muốn sự cố không leo thang thành một xung đột lớn, cho dù yêu cầu thả ngay lập tức 14 người.

Trong khi thương mại Nhật – ASEAN tăng nhanh, người dân địa phương cũng bất bình nhiều hơn khi kinh tế Nhật hiện diện ngày càng nhiều. Bài diễn văn của Thủ tướng Nhật Fukuda trước Quốc hội Philippines vào năm 1977 được xem như sự khởi đầu nỗ lực thu hút khu vực của Nhật.

Cho dù bị thu hút bởi những thành công kinh tế, khoa học và văn hoá của Nhật, các thành viên ASEAN vẫn có thái độ nước đôi về ảnh hưởng chính trị của Nhật. Một cuộc khảo sát của bộ Ngoại giao Nhật năm 2008 cho thấy hợp tác kinh tế và công nghệ là lĩnh vực hàng đầu mà người dân trong sáu nước ASEAN (Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Việt Nam) thích thấy Nhật tích cực hơn, với 66% người tham gia chọn. Chỉ 6% sẵn sàng nhìn thấy Nhật củng cố sự hiện diện quân sự.

Khảo sát sáu nước như trên cho thấy một sự chia rẽ bên trong nội bộ ASEAN: người dân Singapore, Malaysia và Thái Lan xem Trung Quốc như đối tác quan trọng nhất và tiếp tục tin sẽ như vậy trong tương lai. Trong khi đó, người dân Indonesia, Philippines và Việt Nam xem Nhật như là đối tác quan trọng nhất và cũng tin là sẽ tiếp tục như thế.

Võ Phương (Foreign Policy, Diplomat, Asia Sentinel)

%d bloggers like this: