Lưu trữ | 9:11 Sáng

Thử định vị Tự lực văn đoàn – VHNA

22 Th8

Thử định vị Tự lực văn đoàn

Nguyễn Huệ Chi

Trước khi phát biểu mấy ý kiến trong bản tham luận ngắn này – giới hạn vào hai đặc điểm thuộc tính theo tôi là cốt lõi của Tự lực văn đoàn với tư cách một tổ chức văn học, chứ không bàn sâu đến thành tựu sáng tác của họ – xin được nói vài lời phản biện với bản Báo cáo đề dẫn mở đầu Hội thảo, trong phần điểm lại hai mặt: con người tiến bộ và con người phản động của Nhất Linh, nhân người đề dẫn có mời gọi sự phản biện của đại biểu “để cho ý kiến đề dẫn sáng tỏ hơn”.

Tôi nhắc lại một câu bất hủ trong lá thư tuyệt mệnh của nhà văn Nhất Linh: “Đời tôi để cho lịch sử xử”. Nhất Linh tin chắc lịch sử sẽ phán xử công bằng với mình. Nhưng lịch sử mà ông hiểu là cả một thời đoạn dài, đủ sức sàng lọc mọi giá trị và vén xong các lớp mây mù để lộ diện quy luật vận hành khách quan của nó. Lịch sử quyết không phải là phát ngôn của quyền lực ở bất kỳ thời điểm nào đấy, càng không phải là phát ngôn của những ai ảo tưởng rằng mình chính là tiếng nói cuối cùng của chân lý. Nếu chấp nhận với nhau trên một cách nhìn như thế, tôi nghĩ, câu nói của Nhất Linh phải được coi là nguyên tắc phương pháp luận then chốt của cuộc hội thảo khoa học tại địa điểm Cẩm Giàng hôm nay, cũng như mọi cuộc hội thảo về Nhất Linh và Tự lực văn đoàn rồi đây sẽ còn được tiến hành ở những vùng miền khác. Có nhiều con đường yêu nước khác nhau chứ không phải chỉ một, và sự so sánh hơn kém đúng sai giữa chúng, thông qua một góc nhìn thường là chật hẹp, nặng tính chất thời sự, bao giờ cũng chỉ rút ra được những giá trị hết sức tương đối, đôi khi là giá trị ảo. Chưa biết con đường nào đã hay hơn con đường nào nhưng nếu nhà yêu nước nuôi dưỡng trọn đời một lý tưởng trong sáng, không có mưu đồ đem giang sơn Tổ quốc mà mình giành được ra chia chác, “xã hội hóa” vô vàn đất đai béo bở thành của riêng của bè cánh mình, họ hàng con cháu mình, làm cho đất nước lại có nguy cơ lâm vòng hiểm họa, thì trước sau, hình bóng họ sẽ vẫn ghi đậm trong lòng dân chúng.

1. Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học đầu tiên của nước ta mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại. Hội đoàn ấy bắt đầu bằng một tờ báo, đấy là tờ Phong hóa bộ mới mà số đầu tiên phát hành vào ngày 8 tháng Chín năm 1932 – tức số 13 – đã lập tức biến một tờ báo vốn đang ế ẩm thành một hiện tượng đột xuất trong làng báo Hà Nội lúc ấy. Theo Nguyễn Vĩ, ngay số đầu tiên, tờ báo đã “bán chạy như tôm tươi” (Văn thi sĩ tiền chiến) báo hiệu một cái gì thật mới mẻ đang xuất hiện trên đất Hà thành. Hội đoàn ấy chính thức tuyên bố thành lập vào tháng Ba năm 1934([1]), với một tôn chỉ gồm 10 điều mà chúng ta có thể tổng hợp lại trong 4 điểm, thể hiện bốn phương diện nhận thức liên quan khăng khít, tự thân chúng có ý nghĩa đối trọng ngay lập tức với hiện tình sáng tác và thực trạng xã hội đương thời: 1. Về văn học, tôn chỉ nhắm tới 3 mục tiêu lớn: a. Dấy lên một phong trào sáng tác làm cho văn học Việt Nam vốn đang nghèo nàn có cơ hưng thịnh (“Tự sức mình làm ra những cuốn sách có giá trị về văn chương… mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước”/ trước 1930 sự vắng vẻ của văn đàn vẫn là một tâm trạng mặc cảm của giới cầm bút, mặc dầu văn học miền Nam đã sản xuất vô số tiểu thuyết văn vần và văn xuôi theo hình thức lục bát và chương hồi); b. Xây dựng một nền văn chương tiếng Việt đại chúng (“Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam”/ ngôn ngữ của tạp chí Nam phong đại diện cho tiếng nói văn chương thuở ấy vẫn là ngôn ngữ đệm nhiều danh từ Hán Việt và dành cho tầng lớp học thức cao trong xã hội); c. Tiếp thu phương pháp sáng tác của châu Âu hiện đại để hiện đại hóa văn học dân tộc (“Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam”/ ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây đã đến miền Nam khá sớm nhưng hình thức lại bị “lại giống” do “lai” với tiểu thuyết cổ Trung Quốc). 2. Về xã hội, đề cao chủ nghĩa bình dân và bồi đắp lòng yêu nước trên cơ sở lấy tầng lớp bình dân làm nền tảng (“Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái” / cho đến cuối những năm 20, các khái niệm “chủ nghĩa bình dân”, “nết hay vẻ đẹp bình dân” và “yêu nước một cách bình dân” hãy còn là quá mới lạ, chưa hề xuất lộ trong tư duy của tầng lớp sĩ phu được gọi là “tiên tri tiên giác”, và cũng chưa hiện hình thành quan điểm ở một người vốn đã thực hiện chủ nghĩa bình dân trong thực tiễn như Nguyễn Văn Vĩnh); 3. Về tư tưởng, vạch trần tính chất lỗi thời của những tàn dư Nho giáo đang ngự trị trong xã hội (“làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa” / công khai chống lại lễ giáo phong kiến Tự lực văn đoàn đã gây một cú “sốc” ý thức hệ, chấn động hết thảy mọi thành phần còn dính dáng ít nhiều đến Nho học, thậm chí vẫn để dư chấn đến tận Hội thảo này); 4. Về con người, lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm của mọi sáng tác (“Tôn trọng tự do cá nhân”, “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ” / văn chương trước 1930 chưa bao giờ đưa con người cá nhân lên vị trí trung tâm, không những thế, giọng điệu chung của nó là bi ai sầu thảm. Tự lực văn đoàn tuyên chiến với thứ tâm trạng xã hội nặng nề đó; với nó “cái bi” cũng phải được đối xử, vượt qua, bằng niềm vui sống).

Với 4 điểm như đã tóm tắt, cái hội đoàn do Nguyễn Tường Tam thành lập rõ ràng đã hiện ra trong tư cách một trường phái văn học hoàn chỉnh, khu biệt với mọi kiểu tổ chức văn học xuất hiện trước mình. Trở về trước, các thi xã truyền thống trong lịch sử thường phải dựa vào thế lực của một tầng lớp bên trên như vua quan, hay lãnh chúa một vùng, chẳng hạn Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông, Chiêu Anh các của Mạc Thiên Tích. Hoặc là tập hợp của một đám thượng lưu quý tộc, chẳng hạn Mặc Vân thi xã của Anh em Miên Thẩm. Các loại thi xã đó đều lấy việc ngâm vịnh văn chương để chơi làm mục đích, nên rất ít mở rộng ảnh hưởng ra ngoài thi xã. Tính khép kín là đặc điểm hiển nhiên của chúng. Tự lực văn đoàn trái lại, là sự tập hợp những con người không có quan tước, cũng không có thế lực nào bảo trợ. Họ gồm 7 người là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu (không có Trần Tiêu) ([2]). Đứng về mặt xã hội phải nói họ đều là “chân trắng”. Nhưng họ lại tập hợp nhau lại vì một lý tưởng muốn cống hiến cho văn học, thông qua văn học mà đóng góp cho xã hội, và cùng chung sức nhau xã hội hóa hoạt động sáng tác của họ, trong sự vận hành của cơ chế thị trường văn học nghệ thuật đang dấy lên từ Nam ra Bắc thuở bấy giờ. Nghĩa là họ chấp nhận sự cạnh tranh để sống còn bằng nghề văn của mình. Họ không chỉ biết đến tiểu thuyết, thơ ca mà còn ràng buộc với nhau trong việc sống nhờ vào hai tờ báo và một nhà xuất bản. Họ không hy sinh mục đích văn chương cao quý cho việc kiếm kế sinh nhai bằng mọi giá, nhưng việc kiếm kế sinh nhai lại chính là điều kiện để họ giữ vững thiên chức văn học như một “mục đích tự thân” ([3]), điều mà có lẽ, từ 1945 đến nay, chưa một văn đoàn nào trên đất Việt làm nổi và có ý thức, có gan làm (còn nhớ cách đây vài năm, khi có ý kiến đề xuất chuyển các hội sáng tác văn học nghệ thuật trở về đời sống dân sự đúng nghĩa, bỏ hẳn cơ chế “xin cho”, thì chính các vị lãnh đạo ở các hội ấy đã đồng loạt lên tiếng khẩn thiết đòi bảo vệ quyền thiêng liêng của mình là… vẫn được sống dựa vào Nhà nước)([4]). Cũng khác với các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, để có thể tổ chức được một nhóm cầm bút với mục đích truyền bá cái mới của Âu Tây cũng như bước đầu xây dựng nền văn chương quốc ngữ, đều không tránh khỏi phải núp bóng Nhà nước Bảo hộ, Tự lực văn đoàn là một đoàn thể văn học hoàn toàn mang tính chất tư nhân, không ve vãn, nhân nhượng bộ máy đương quyền và không hề phát ngôn cho quyền lực dù lâm vào tình huống o ép khó xử nhất.

Như vậy, có thể nói, Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học chưa có tiền lệ trong văn học Việt Nam. Những mặt ưu trội kể trên đưa lại cho nó một sức hấp dẫn đặc biệt, không tiền và nếu tính đến nay thì cũng là khoáng hậu, đẩy nó lên địa vị gần như tuyệt đối trên văn đàn trong vòng 8 năm nó tồn tại trên thực tế. Sự ra đời của nó có tác dụng kích thích phong trào sáng tác văn học của cả nước như là một tất yếu, một nhu cầu nội tại, với tư cách một sự tìm kiếm và tự thực hiện của khát vọng tự do. Đó là phương diện chủ chốt vạch rõ sự khác biệt bản chất giữa nó với các hội đoàn văn học từ 1945 về sau mà ta không thể mượn tiêu chí này kia làm những cột mốc so sánh([5]).

2. Bên cạnh đặc điểm quan trọng như đã nói, một phẩm chất khác cũng không kém nổi bật là Tự lực văn đoàn thể hiện cái khát vọng dân chủ trong đời sống văn học nghệ thuật. Dân chủ trước tiên chính ở nề nếp sinh hoạt rất có tính nguyên tắc của một tổ chức văn học được xây dựng theo những chuẩn mực mới mẻ của Âu Tây. Không chỉ đề xuất ra 10 tôn chỉ mà thôi, để luôn luôn quán triệt 10 tôn chỉ trong hoạt động thực tế, mọi công việc của văn đoàn, nhất là công việc ra từng số báo, in từng cuốn sách, đều được bàn bạc tập thể, đều có tranh luận sôi nổi với nhau và cuối cùng có sự nhất trí của cả nhóm. Tư cách rất đáng trọng của Nhất Linh khiến ông làm tròn vai trò hạt nhân của văn đoàn cho đến khi nó tan rã là ở chỗ, mặc dù quyết đoán, ông không bao giờ lạm dụng uy thế một ông bầu và một ông chủ báo, hay cố giữ một “khoảng cách” với người cộng sự, như hầu hết các ông chủ báo cốt dùng tờ báo để khoe danh và thăng quan tiến chức. Ông hòa hợp mật thiết với anh em đồng đội, nhận số lương ngang như anh em, gánh vác tất cả mọi việc không khác gì anh em. Chính vì thế, tình nghĩa giữa 7 con người trong văn đoàn, như Tú Mỡ thừa nhận, giữ được thắm thiết sâu bền. Quan trọng hơn nữa, nếu như Đông Dương tạp chí cũng có cả một tòa soạn song rốt cuộc mọi cá nhân khác đều dường như lu mờ đi sau cái bóng của Nguyễn Văn Vĩnh; nếu như Bộ biên tập của Nam phong tạp chí còn hùng hậu hơn Đông Dương tạp chí mà vẫn không ai nổi đậm bằng hoặc hơn so với Phạm Quỳnh, thì Tự lực văn đoàn toàn toàn khác. Nói đến văn đoàn ấy không thể chỉ nói một mình Nhất Linh. Trọng lực của văn đoàn phân đều cho mỗi thành viên và chỉ cần thiếu đi một, sáu “ngôi sao” còn lại đã không thể hội tụ thành nguồn ánh sáng tiêu biểu của văn đoàn. Đông DươngNam phong dù sao cũng chỉ mới là sự thăng hoa tài năng của một vài cá nhân, còn đến Tự lực văn đoàn thì đã thật sự có một đột biến về chất: một sự thăng hoa tập thể, nó là kết quả của ý thức dân chủ từ người đứng đầu chuyển hóa sang đồng đội. Tất nhiên, cũng không phải vì thế mà uy tín người thủ lĩnh của Nguyễn Tường Tam bị hạ thấp hay xem nhẹ. Là một nghệ sĩ đa tài, một con người giàu tâm huyết và có tầm nhìn xa, Nhất Linh đã biết đoàn kết cả nhóm lại trong một ý hướng chung do mình xướng xuất, biết truyền niềm say mê mãnh liệt của mình cho người khác, nhất là có con mắt tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người để mỗi tác giả trong văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể loại. Như Khái Hưng, được ông khuyến khích chuyển từ lối viết luận thuyết trên các báo Văn học tạp chí, Duy tân (dưới bút danh Bán Than) sang viết tiểu thuyết; Tú Mỡ được ông gợi ý chuyên làm thơ trào phúng; Trọng Lang được ông cổ vũ đi hẳn vào phóng sự; còn Thế Lữ dưới con mắt Nguyễn Tường Tam phải là người mở đầu cho “thơ mới”… Có ai ngờ được rằng bấy nhiêu lời chỉ bảo tưởng chừng bâng quơ như thế cuối cùng đều có một đáp án chính xác: chỉ sau chưa đầy 3 năm kể từ ngày thành lập, Tự lực văn đoàn nghiễm nhiên là một hàn lâm văn học sang trọng, phát ngôn cho mọi chuẩn mực giá trị của văn học được công chúng xa gần thừa nhận. Và mỗi thành viên của nó cũng nghiễm nhiên đóng vai trò ông tổ của cái hình thức sáng tác mà Nhất Linh đã phó cho mình cầm chịch. Không ai còn có thể tranh ngôi vị cây bút tiểu thuyết tài danh của Khái Hưng. Nói đến giọng thơ trào phúng kế sau Tú Xương ai cũng phải nhường Tú Mỡ. Còn Thế Lữ thì được cả làng “thơ mới” thừa nhận là chủ soái thi đàn. Cũng không thể quên Thạch Lam với những kiệt tác truyện ngắn trữ tình mà về sau ít người sánh kịp. Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn thắng cho “thơ mới”, phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say quyến rũ. Riêng Nhất Linh không những không nhường Khái Hưng về tiểu thuyết, ông còn là nhà văn luôn luôn tìm tòi không ngừng, không mỏi. Vừa cho ra mắt một loạt tiểu thuyết luận đề làm cả một thế hệ thanh niên mê thích, ông lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết không cốt truyện, lấy việc phân tích các biến thái tâm lý nhân vật làm chủ điểm (Đôi bạn), rồi lại thoắt chuyển sang dạng tiểu thuyết khơi sâu vào những miền khuất tối, không dễ nhận biết của cái “tôi”, cái thế giới bí mật nhất trong mỗi con người, kể cả sự mò mẫm vô thức trên quá trình cái “tôi” phân thân, tự hủy, ít nhiều mang dáng dấp hiện sinh (Bướm trắng)… Có thể nói từ sinh hoạt dân chủ trong nội bộ, thấm vào tình cảm của mỗi thành viên rồi tác động qua lại lẫn nhau, tinh thần dân chủ đã như một chất men kỳ lạ kích thích niềm phấn hứng sáng tạo của từng cá nhân trong văn đoàn, bắt người nào cũng gắng sức đua tranh không chịu kém thua người khác, khiến họ đều vươn tới vị trí đỉnh cao trên đàn văn cũng như bộc lộ hết tài hoa của họ. Tác động liên hoàn giữa khát vọng dân chủ đến bùng nổ sức sáng tạo chính là như vậy([6]).

Nhưng là một tổ chức văn học và báo chí có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng, tinh thần dân chủ nhen nhóm trong văn đoàn Tự lực cũng đã lan tỏa dần ra ngoài, đúng hơn, nó được cả văn đoàn sử dụng như một nguyên tắc thẩm mỹ và một nguyên tắc hành nghiệp linh hoạt mà bất biến, trong bất kỳ mọi sáng tạo văn học nghệ thuật cũng như mọi hoạt động xã hội nào của họ.

Dân chủ ở ngay cách đối xử với cộng tác viên nhiệt tình, trân trọng và hết mực chu đáo, kể cả với người lần đầu cầm bút, nâng hẳn tầm thước của họ lên trong chính mắt họ, đặt họ ngang hàng sòng phẳng với mình, gieo vào lòng họ niềm tin ở thiên hướng nghệ thuật mà họ thực sự có tài năng và đang tận tâm đeo đuổi([7]). Tự lực văn đoàn là nơi phát hiện ra Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển, Thanh Tịnh… Cũng Tự lực văn đoàn lần đầu tiên trình diện các bậc danh họa Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, xướng lên cuộc cải cách y phục với kiểu áo “Lơ muya” của họa sĩ Cát Tường, và công bố trên tờ báo của văn đoàn những bài tân nhạc của Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương… Dân chủ còn ở cách họ tổ chức các giải thưởng văn học đầy uy tín, như những trọng tài tận tụy, công tâm, mà một điều khoản hệ trọng được đặt lên đầu là Hội đồng Giám khảo không bao giờ lại đồng thời là ứng viên dự giải – chuyện tưởng chừng “sơ đẳng”, đến phong kiến cũng có luật “hồi tị”, mà hóa ra trong nền văn học nghệ thuật của chúng ta suốt bằng ấy năm đã bị đảo ngược và cái đảo ngược đã trở thành “thông lệ”, đến nỗi ở thời điểm 1956 học giả Phan Khôi không sao hiểu được phải lên tiếng phê bình, oái oăm thay là sự thẳng thắn đó đã giáng tai họa lên đầu ông. Bởi thế, khi xác nhận công lao của Tự lực văn đoàn như một hội đoàn có vị trí khai sáng trong văn học hiện đại ta không nên quên rằng chính cái văn đoàn ấy, với đích nhắm nghệ thuật vô tư, trong sáng, với văn hóa ứng xử đàng hoàng, mẫu mực, phương pháp điều hành minh bạch, quy tụ được rộng rãi tinh hoa văn nghệ trong cả nước, đã khai sáng ra cùng với nó những hình thức thể loại mũi nhọn trong văn học hiện đại Việt Nam và cả trong nghệ thuật hiện đại Việt Nam như hội họa, ca nhạc mà nó là nơi thể nghiệm, nơi ghi dấu ấn của những đại biểu tiên phong.

Vài chục năm qua kể từ sau đổi mới, chúng ta đã dành nhiều giấy mực để luận bàn nhằm từng bước giải tỏa nhiều thành kiến khắt khe, cố chấp, cố gắng trả về cho lịch sử văn học những giá trị đích thực của khối lượng tác phẩm do Tự lực văn đoàn để lại([8]). Ta đề cập tới trong sách vở của họ các khuynh hướng đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, khuynh hướng lãng mạn, ca ngợi tình yêu và hạnh phúc cá nhân, khuynh hướng nghiêng mình xuống số phận những con người cơ cực, bần cùng, cho đến khuynh hướng không bằng lòng với cuộc sống trưởng giả, tẻ nhạt cũ kỹ, quyết dấn thân vào con đường gió bụi, “mê man trong hành động”, tuy chưa biết hành động sẽ đi đến đâu nhưng ít nhất cũng là sự giải thoát cho mình khỏi nỗi mặc cảm đau xót của thân phận người dân mất nước v.v… Ta cũng không quên cuộc cách tân văn xuôi to lớn của họ, cấp cho họ một giọng văn trong trẻo, chuẩn mực, giàu sức biểu cảm tuy có lúc còn đơn điệu, và một cấu trúc thể loại mới mẻ, trong đó quy luật tâm lý thay cho trục diễn tiến đường thẳng theo trình tự thời gian và cái nhìn đa chiều trong soi chiếu nhân vật thay cho lối trần thuật một giọng của người kể chuyện; là sự có mặt của thiên nhiên như một đối tượng thẩm mỹ. V.v…

Nhưng điều có dễ chưa mấy ai lưu ý là từ tất cả những bình diện khác nhau kia, tác phẩm của Tự lực văn đoàn hình như đã đúc nên được một phong vị khó lẫn, nó là cái yếu tố ẩn sâu dưới tầng ngôn bản, kết nối các giá trị ấy lại với nhau. Theo tôi, đó chính là vẻ đẹp của tinh thần dân chủ mà mỗi thành viên đã thấm nhuần sâu sắc và chuyển tải vào tác phẩm theo cách riêng. Chính nó đã gây ra cho người đọc đương thời biết bao nhiêu bâng khuâng thắc thỏm về một điều gì mới lạ mà mình không lý giải nổi khi đọc văn chương của nhóm Tự lực; cũng chính nó bắt người đọc nhập thân vào thế giới nghệ thuật của Tự lực văn đoàn không giống như đi vào thế giới của các nhà văn hiện thực phê phán, một bên là cái thế giới bắt mình có sự nghiệm sinh trong đấy, bên kia là cái thế giới để mình phẫn nộ, lên án, nhưng không nhất thiết có mối liên lạc với mình. Phải chăng khi đến với những trang viết của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam… bao giờ người ta cũng phải bắt mình đối diện với chính cái “tôi” một cách bình đẳng, nghiền ngẫm tra vấn nó, tức là nhìn vào thế giới sâu thẳm bên trong mình. Dân chủ trong tiếp nhận văn học trước hết là ở đấy. Dù ngày nay ngôn ngữ văn chương không ít tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã bộc lộ sự mòn sáo thì âm hưởng “tự nghiệm” của chúng vẫn không cũ.

Tuy nhiên, điều rất cần nhấn mạnh ở đây còn là một phương diện khác, một cách biểu hiện dân chủ bằng sự vận dụng hữu hiệu ngôn ngữ trào phúng. Với tờ báo Phong hóa, ngay từ buổi đầu thành lập, Tự lực văn đoàn đã biết nắm lấy một vũ khí lợi hại là tiếng cười. Ai cũng biết tiếng cười là một liều thuốc hóa giải được mọi khổ đau. Về mặt mỹ học, xin mượn một câu nói của Hegel: nó “trình bày cái thế giới hư hỏng như là đang giãy giụa chống lại tình trạng hư hỏng của mình, tình trạng này biến mất do tính chất vô nghĩa lý ở bản thân nó” ([9]). Tiếng cười còn thần kỳ ở chỗ, chỉ trong phút chốc, mọi địa vị xã hội bị nó đảo lộn, thằng hóa ra ông, ông hóa ra thằng. Tận dụng được các phương cách này, đúng như Vu Gia nói, tờ báo Phong hóa có sức công phá như một “trái bom nổ giữa làng báo” ([10]). Dưới ngòi bút của họ, cả một xã hội gồm những ông tai to mặt lớn trong giới quan trường, học thuật, báo chí, văn chương, uy thế đến như Toàn quyền Brévié, Thống sứ Châtel, Khâm sứ Graffeuil, Hoàng đế Bảo Đại, Thượng thư Phạm Quỳnh, Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, Đốc lý Virgitti, cho đến cả những nhân vật hủ lậu ở nông thôn mà biểu tượng là Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh… đều bị đem ra chế giễu, bị ngòi bút châm chọc của họ làm cho điêu đứng. Bằng tiếng cười của mình, Tự lực văn đoàn đã khéo léo hạ bệ các thần tượng phong kiến và thực dân, đưa các vị xuống đứng cùng hàng với đám chúng sinh khổ ải. Mặt khác, lại cũng phải nói như Vũ Bằng, sự chế giễu tuy thế vẫn biết giữ ở chừng mực của học vấn và trí tuệ, ngoại trừ một số trường hợp nào đó, nó không đi quá đà đến đả kích cay cú, “cười cợt người ta mà không thóa mạ ai” ([11]). Tuy cùng thời với Nhóm Tự lực cũng có khá nhiều tờ báo tìm nhiều cách gây cười cho độc giả, nhưng phải đến báo Phong hóa thì cái cách cười hóm hỉnh thông minh của nó mới đủ hiệu lực biến một xã hội già nua lụ khụ thành một thế giới vui nhộn trẻ trung. Lần đầu tiên, báo chí giành được cho mình cái quyền trao đổi công khai mọi chuyện nghiêm trang nhất, biến nó thành những chuyện để cười, thành một sinh hoạt bình thường, hợp pháp, lành mạnh, được xã hội thừa nhận. Thử hỏi, báo chí chúng ta cho đến đầu thế kỷ XXI này đã dám đem những chuyện nghiêm trang ra trao đổi một cách dung dị từ góc nhìn bình đẳng – đùa vui với nó – mà không có gì phải e ngại, hay là mỗi khi muốn cười cợt đôi chút vẫn phải nhìn trước ngó sau xem đã đi đúng “lề đường bên phải” mà quyền lực dành cho mình? Vậy nên, phải nói trào phúng là đóng góp lớn lao của Tự lực văn đoàn vào việc dân chủ hóa đời sống xã hội, một đóng góp từ trước chưa hề có và từ sau 1945 đến nay, báo chí cách mạng cũng dễ đâu đã theo kịp.

*

*   *

Tự lực văn đoàn đã chấm dứt hoạt động thực tế kể từ sau năm 1940, tính đến nay đã 68 năm, gần bằng tuổi đời của kẻ viết bản tham luận này. Một khoảng thời gian không phải là ngắn, kèm theo biết bao sóng gió của một thời không chút bình yên về mọi mặt. Nhưng có điều rất lạ: càng lùi xa thì độ sáng của hiện tượng văn học mà ta đang xem xét dường như lại sáng hơn lên, diện mạo của những nhân vật nòng cốt trong Nhóm Tự lực lại càng hằn bóng nơi tâm trí chúng ta. Đó là bằng chứng chắc chắn của những giá trị đã biết cách tự khẳng định, không để cho quy luật sinh tồn đào thải. Điều may mắn là chúng ta còn một địa chỉ để tìm lại ít nhiều những dấu vết cũ: mảnh đất Cẩm Giàng, nơi xưa kia từng có trại Cẩm Giàng của dòng họ Nguyễn Tường. May mắn, bởi vì với tốc độ của công cuộc công nghiệp hóa ào ạt – và cả lộn xộn – hiện tại trên hầu khắp làng thôn Việt Nam, giữ được nguyên trạng mảnh đất trại Cẩm Giàng xưa quả thực là hy hữu. Thiết tưởng, đã đến lúc tỉnh Hải Dương và huyện Cẩm Giàng đón lấy thời cơ để biến mảnh đất gọi là “cố trạch” ấy thành một di tích lịch sử đúng nghĩa. Đó là việc làm hợp lẽ tiến hóa và là niềm mong mỏi không phải chỉ của Cẩm Giàng hay Hải Dương mà còn của giới văn học và khách tham quan văn hóa trong cả nước, hơn thế, cả nhiều người Việt ở nước ngoài và nhiều nhà Việt Nam học thế giới. Năm nay, sau 74 năm chính thức xuất hiện bản tuyên ngôn thành lập Tự lực văn đoàn, Hội thảo về Tự lực văn đoàn ở Cẩm Giàng tổ chức. Hy vọng không phải đợi đến dịp kỷ niệm 80 năm ra đời bản tuyên ngôn đó mà sớm hơn, khi trở về lại Cẩm Giàng, những người yêu mến Tự lực văn đoàn sẽ nhìn thấy một trại Cẩm Giàng được phục chế đúng như nguyên trạng, bên cạnh đó là một Thư viện Tự lực văn đoàn khang trang nhằm mở mang kiến thức cho bà con trong vùng. Đó là cách thiết thực nhất kỷ niệm Tự lực văn đoàn và cũng là sự tiếp nối tích cực tôn chỉ của họ: “Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân”.


([1]) Lâu nay nhiều sách báo đã dựa vào tư liệu của Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Tập III, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1965; tr. 433) và Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Quyển hạ, Nxb Trình bày, Sài Gòn, 1967; tr. 623-624), ghi ngày công bố 10 tôn chỉ của Tự lực văn đoàn là 2-III-1933, nhưng theo bản tham luận của Nguyễn Huy Cương có tên Vấn đề thời điểm ra đời tuyên ngôn, tôn chỉ của Tự lực văn đoàn ngay tại Hội thảo này thì số 87 báo Phong hóa thực ra ra ngày 2-III-1934 (tham luận có kèm theo 3 trang chụp số báo Phong hóa 87). Sở dĩ có nhầm lẫn là do các học giả trên đã sơ suất in nhầm con số 4 thành con số 3, nên đến cuốn Phê bình văn học thế hệ 1932 (Quyển I, Phong trào văn học, Sài Gòn, 1973; tr. 27-29) chính Thanh Lãng đã điều chỉnh lại. Vì vậy, trong tham luận này, chúng tôi dựa vào số liệu của  Nguyễn Huy Cương.

([2]) Trong cuốn Trần Tiêu, nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn (Nxb. Thanh niên in tại Bến Tre năm 2006), Vu Gia dựa vào ý kiến của Tú Mỡ trong hồi ký Trong bếp núc của Tự lực văn đoàn (viết năm 1969, in lần đầu trên Tạp chí văn học số 5 và 6-1988 và 1-1989) và ý kiến Lê Thị Đức Hạnh trong bài Trần Tiêu có phải là thành viên trong tổ chức Tự lực văn đoàn hay không (Tạp chí văn học, số 5-1990), đã mạnh dạn đưa ra lời khẳng định: Trần Tiêu là thành viên của Tự lực văn đoàn. Tuy nhiên, có nhiều chứng cứ cho thấy Trần Tiêu cũng như Trọng Lang… là những cộng tác viên thân tín chứ chưa bao giờ được kết nạp vào Tự lực văn đoàn như thành viên chính thức: 1. Trần Tiêu chỉ sống tại Kiến An mà không ở Hà Nội nên không có điều kiện sinh hoạt chung để thường xuyên bàn bạc trao đổi với nhau hàng tuần trong việc thực thi tôn chỉ của văn đoàn trên tờ báo Phong hóa. 2. Sách của Trần Tiêu trước 1945 như tôi nhớ, không hề ghi mấy chữ  “trong Lự lực văn đoàn” ở dưới tên ông  (Thư viện gia đình Mộng Thương thư trai tôi đọc hồi nhỏ thấy thế, mà Cù Huy Hà Vũ trong hội thảo này cũng cho biết, tủ sách cũ của Huy Cận Cù Huy Hà Vũ được đọc cũng là thế). 3. Ngoài ra, có hai người là Nhất Linh trong “Mấy lời nói đầu” sách Đời làm báo điểm tên các nhân vật trong Tòa soạn Phong hóaNgày nay không nhắc đến Trần Tiêu (theo Vu Gia, sđd, tr. 11), và Nguyễn Tường Bách, người con út của dòng họ Nguyễn Tường, sau này chủ trì Ngày nay kỷ nguyên mới (1945), trong hồi ký Việt Nam một thế kỷ qua, Tập I, đề tựa năm 1980, Nxb. Thạch ngữ, Califorrnia, 1999, ở chương 11: “Thăm chùa cổ Bắc Ninh. Tự lực văn đoàn”, cũng viết: “Cùng một hoài bão về văn hóa và cải cách xã hội, mấy anh đã tổ chức một tập hợp trên chủ trương tự lực, cả về tinh thần lẫn vật chất, không ỷ lại, không khuất tất. Có chí hướng cao thượng, lại tập hợp được những nhân tài xuất chúng, đó là nguyên nhân tại sao Tự lực văn đoàn đã thành công và gây được ảnh hưởng sâu xa trong xã hội Việt Nam. Lúc đó, còn là học sinh mới mười bảy tuổi, tôi phải chuyên chú về thi cử. Tự lực văn đoàn gồm sáu người tức Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thạch Lam, Thế Lữ – Anh Gia Trí không ở trong văn đoàn, tuy góp nhiều về tranh vẽ và ý kiến. Sau này cũng chỉ thêm một thành viên là Xuân Diệu, cộng thành Thất tinh hay Thất hiền”. Bản thân Tú Mỡ tuy quả quyết Tự lực văn đoàn có cả Trần Tiêu, ở phần cuối bài viết đã dẫn của mình cũng vô tình nói một điều ngược lại, rằng đây là “Thất tinh hội”. Chính vì những băn khoăn như vậy, trong mục từ “Tự lực văn đoàn” của Từ điển văn học bộ mới (2005), tôi đã không xếp Trần Tiêu vào danh sách các thành viên chính thức.

([3]) “Nhà văn không hề xem công việc của mình như là một kế sinh nhai. Đó là một mục đích tự thân, nó không phải là một kế sinh nhai đối với anh ta cũng như đối với người khác, đến nỗi nhà văn hy sinh sự tồn tại của mình cho sự tồn tại của nó nếu cần” (C. Mác. Về văn học và nghệ thuật. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977; tr. 66).

([4]) (5) Chúng tôi chưa đủ tư liệu để so sánh với các hội đoàn văn học tại miền Nam từ 1955 đến 1975 nhưng theo tôi, hình như cũng chưa một hội đoàn nào có tôn chỉ rõ ràng, đầy đủ, đủ khả năng “tự lực” gắn kết sáng tác với mưu sinh mà trước sau chưa bao giờ thoát ly tôn chỉ như Tự lực văn đoàn.

 

 ([6]) “Trước đây, lúc chuẩn bị ra báo, tôi đã thấy các anh làm việc không biết mệt. Nay báo Phong hóa ra hàng tuần với nội dung súc tích như vậy, tôi lại càng thấy các anh có một sức làm việc ghê gớm, đáng phục, làm ngày làm đêm, nhất là làm đêm, tốn khá nhiều cà phê, thuốc lá, làm việc đến rạc người, hom hem, xanh xám như Khái Hưng ai không biết cứ tưởng là “dân làng bẹp” (nghiện thuốc phiện)” (Tú Mỡ, bđd; số 5 và 6-1988, tr. 106); “Mỗi năm, làm số báo Tết là cả một sự nhộn nhịp phi thường; làm việc chúi mũi chúi tai, nhưng vui thực là vui, vui quên cả mệt. Có một lần, tôi cùng với Thế Lữ làm chung phần thơ ca cho số Tết 1939, tại nhà riêng anh ở phố Thái Hà, làm hì hục suốt cả một đêm cho kịp ngày mai báo lên khuôn, làm xong mới thấy phờ người… Nhưng bao nhiêu công khó nhọc được đền bù bằng sự vui sướng, thấy cảnh tấp nập của ngày báo phát hành: Tòa báo bận rộn như một nhà có việc vui mừng; các trẻ em bán báo đến lĩnh báo vui ríu rít như một bầy chim sẻ, rồi tản vù đi các phố, tiếng rao lanh lảnh “Ngày nay số mùa xuân ơ…!” Các bạn đọc săn đón món quà Tết hàng năm không thể thiếu…” (như trên, số 1-1989, tr. 74).

([7]) Xem hồi ức của Bùi Hiển về việc gửi tập truyện Nằm vạ cho Nxb. Đời nay và cách đối xử lịch thiệp, tận tình của Tự lực văn đoàn đối với bản thảo của ông, trên tạp chí Cửa Việt số 16, 1992. Chuyển dẫn theo Vu Gia trong Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1995; tr.100-101.

([8]) Đáng kể nhất là chùm công trình nghiên cứu của Vu Gia gồm 6 tập: Khái Hưng nhà tiểu thuyết, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1993; Thạch Lam thân thế và sự nghiệp, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1994; Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, Sđd; Hoàng Đạo nhà báo – nhà văn, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1997; Trần Tiêu nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn, Nxb. Thanh niên, Bến Tre, 2006; Tú Mỡ -người gieo tiếng cười, Nxb. Thanh Niên, Bến Tre, 2008.  

([9]) Hegel. Mỹ học. Phan Ngọc dịch. Nxb. Văn học và Trung tâm Văn hóa Đông Tây,  Hà Nội, 2005; tr. 499-500.

([10]) Vu Gia. Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, Sđd; tr. 67.

([11]) Vũ Bằng. Những cây cười tiền chiến, dẫn theo Vu Gia, Sđd; tr. 73.

 

Hoa Lư Thi Tập cũng có dấu hiệu sao chép của người khác ? – lethieunhon

22 Th8

Hoa Lư Thi Tập cũng có dấu hiệu sao chép của người khác ?

Một độc giả vừa cung cấp thông tin: trên blog của Giao (ảnh), một người tham gia thế giới mạng chỉ với mục đích “ghi chép linh tinh lúc rảnh việc cày ruộng và đọc sách” đã phát hiện “Hoa Lư thi tập” cũng Hoàng Quang Thuận cũng có nhiều câu na ná như cuốn sách “Bái Đính ngàn năm tâm linh và huyền thoại” của Trương Đình Tường, do NXB Thế Giới ấn hành, đã được tái bản lần thứ ba. Giao viết: “Liên quan đến “Thi vân Yên Tử”, chúng ta thấy nó được sao chép từ sách của một ông Trương (là nhà nghiên cứu Trần Trương ở Yên Tử). Bây giờ, nhân lướt qua tập “Hoa Lư thi tập” (gọi tắt) có cả nguyên bản tiếng Việt và bản dịch tiếng Anh trên website của dịch giả Thái Bá Tân, tôi tựa như thấy bóng dáng của một ông Trương khác!”. Xin phép blogger Giao, lethieunhon.com mang về trang nhà để bạn đọc khắp nơi cùng tham khảo!

HOA LƯ THI TẬP  tựa như cũng lại được nhập đồng từ sách của một ông Trương khác

GIAO

Liên quan đến “Thi vân Yên Tử”, chúng ta thấy nó được sao chép từ sách của một ông Trương (là nhà nghiên cứu Trần Trương ở Yên Tử). Bây giờ, nhân lướt qua tập “Hoa Lư thi tập” (gọi tắt) có cả nguyên bản tiếng Việt và bản dịch tiếng Anh trên website của dịch giả Thái Bá Tân, tôi tựa như thấy bóng dáng của một ông Trương khác.

1.
Hoa Lư thi tập được David viết lời tựa, trong đó có những câu như: “Tôi vui mừng được góp sức đưa tập thơ tuyệt vời này, một tập thơ hay cả về khía cạnh lịch sử lẫn văn học, đến với độc giả tiếng Anh. Một tập thơ, theo tôi, thực sự xứng đáng được đọc trên toàn thế giới”.

2.
Tập thơ Hoa Lư này, theo nhân chứng là ông Dương Kỳ Anh, thì nó được thi sĩ Hoàng Quang Thuận sáng tác ra trong một đêm vào năm 2009. Chú ý đến “năm 2009” (bài báo của ông Dương Kỳ Anh thì lên mạng năm 2010). Đại khái ông Dương cho biết thế này:
“Tôi sang phòng Hoàng Quang Thuận định đọc cho anh nghe, chợt nhìn thấy ngoài cửa căn nhà sàn bóng ai đi lại như người mộng du trong làn sương sớm. Tôi gọi. Hoàng Quang Thuận giật mình. Rồi anh kêu lên : Anh Dương Kỳ Anh …Em làm được 121 bài thơ đêm qua, lạ lắm! Lạ lắm anh ạ!
Thuận chạy vội vào phòng mang ra một tập dấy khổ A4 đã kín chữ. Tôi nhận ra chữ ký của mình ở phía dưới góc mỗi tờ giấy. Chúng tôi vào nhà. Cả một tập thơ mới viết. Vợ chồng tôi ngồi nghe  Thuận đọc thơ. Những bài thơ về vị hoàng đế đầu tiên của nước ta, vừa lên ngôi đã khẳng định chủ quyền  dân tộc. Những bài thơ về các địa danh lịch sử, những chốn linh thiêng, những hang động như tiên cảnh … “ Cờ lau, tập trận ở thung lau, ai biết làm vua kẻ chăn trâu …”/ “ Bỏ luôn niên hiệu của Bắc Phương, trời Nam một cõi đấng quân vương /Thái Bình niên hiệu vua Đinh đặt…”/…Tôi xin chép nguyên một bài thơ bốn câu, bài 101 của anh :
Xiêm y tiên nữ bỏ quên rồi
Bầu vú căng tròn, sữa vẫn rơi
Sư Tử chầu bên, không lay động
Voi thiền, mắt nhắm, nước sông trôi
Cao hứng, Thuận bốc máy điện thoại di động gọi chị Lan , gọi cả vợ anh đang ở Sài Gòn dậy, đọc thơ cho họ nghe …”

3.
Thử đọc một bài bất kì trong tập thơ kì lạ của thi sĩ Hoàng Quang Thuận xem sao. Tôi vào trang Thái Bá Tân ngẫu nhiên lấy bài sau:
“GIẾNG NGỌC
Mắt rồng long mạch hiện thiên cơ (1)
Giếng nước ngàn xưa mãi đến giờ
Trai giới lễ tiên dùng giếng Ngọc
Xanh trong không cạn tự khai sơ

Khói sương huyền ảo thật lạ lùng (2)
Nắng hè hơi mát giữa không trung
Mùa đông ấm áp đầy sinh khí
Long lanh đáy nước tận cửu trùng

(1.) Sinh thời, Đức Thánh Nguyễn đào giếng lấy nước, đồ xôi cúng Phật và nấu thuốc chữa dân lành. Giếng Ngọc đường kính rộng 30m, nước trong suốt có độ sâu 6m. Đây là một cái giếng cổ lớn nhất Việt Nam.”

4.
Tôi đang viết bài tham dự một hội thảo về tín ngưỡng dân gian Việt Nam sắp tới, nên tìm xuống từ trên giá sách nhiều cuốn để tham khảo. Trong đó, có một cuốn đã in lần thứ nhất năm 2008 (tái bản nhiều lần sau đó). Chú ý đến “năm 2008”.
Đó là cuốn sách về chùa Bái Đính, tôi đã mua vào tháng 4 năm 2011 nhân một lần ghé thăm khu vực Bái Đính – Tràng An một cách tranh thủ (đang trên đường vào xứ Thanh, tạt ngang qua đó).
Sách ấy mua của một bà cụ bán sách dạo. Bà cắp một cái mẹt hay cái rổ to, trong đựng sách và băng đĩa. Lúc ấy, trời đã nhá nhem, tôi nhặt từ trong mẹt/rổ ra khoảng 4 cuốn gì đó. Ghi ấn tượng này lại để thấy là cuốn sách được bán rất rộng rãi ở khu vực Hoa Lư – Ninh Bình.

5.
Hãy chú ý đến 3 câu sau ở khổ thứ hai trong bài Giếng ngọc nói trên:
“Khói sương huyền ảo thật lạ lùng
Nắng hè hơi mát giữa không trung
Mùa đông ấm áp đầy sinh khí”

để thấy nó rất giống, đến lạ lùng, với dòng văn xuôi của ông Trương ở Ninh Bình như sau (trang 42, đoạn có dòng kẻ màu đỏ):

                            

6.
Mai tôi lại đi du lãng từ sáng sớm rồi, và vốn không có được thời gian, để thử đối chiếu tiếp. Vậy bạn nào, hay Thường vụ của Hội Nhà văn Việt Nam, có được điều kiện về thời gian, xin mời đọc đối sánh HOA LƯ THI TẬP với cuốn sách sau

                            

Đoạn trích ở trang 42 ở trên là lấy ra từ cuốn sách của nhà nghiên cứu họ Trương ở Ninh Bình.
Không biết ông Trương ở Ninh Bình này có phản ứng như thế nào, không biết sẽ là giống hay là không giống với ông Trương ở Yên Tử.

Nguồn: Giao‘Blog

 
| Thảo luận(10)|

Địa chỉ trích dẫn
Chú ý Địa chỉ này vần có hiệu lực trước 23:59:59

 
Khánh Hoà Email

21/08/2012 22:46
Ối thiên địa ơi! Bác Mạnh Hảo ơi! Phải khen ông Hoàng quang Thuận dám Đi Ngược mặt trời mặt trăng để phóng tác thơ Loben cũng như có tay Nhà Tiểu Thuyết đi ngược Đất Trời để Vần Vũ biến Lời Nguyền 200 năm của ông Khôi Vũ thành của mình rồi… còn được Hội Nhà Văn tặng giải Khuyến Khích tiểu thuyết nữa đó bác Hảo ạ, chị Nha Báo Phương Dung a! Vụ này ông Bùi công Thuấn đã lên tiếng các vị nhớ không?

 
 
Nguyễn Thu Trang 83 Email Homepage

21/08/2012 21:43
Thưa bác Vũ Đức Tân! Cháu rất thích các comments của bác, nó vừa nhạy bén, vừa sâu sắc, giúp cho những độc giả ít tuổi như cháu có thêm nhiều cách nhìn về sự việc hiện tượng. Comment này của bác cũng thế! Nhưng mà có một điều cháu thắc mắc với bác ở cuối comment này bác viết “Sự loạn chuẩn là có thực và bây giờ nó còn trở nên nguy kịch hơn khi định hướng của văn học bị đánh mất”. Cháu không hiểu lắm ý của bác, vì theo cháu được biết thì văn học nước ta từ xưa đến nay đã có ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA rồi cơ mà. Bác giải thích thêm cho cháu hiểu bác nhé! Cám ơn bác nhiều!

 
 
Thơ chống tiêu cực

21/08/2012 19:59
Thật đáng xấu hổ! Buồn quá! CHỢHàng hoá… vô hình không bảng giáNgười mua, kẻ bán gật đầu… vui. Kẻ được đổi thay như… phép lạGhế trên khua mép… dạy khôn đời.Mảnh giấy thân giun bò luẩn quẩnVệt bầm nhoè nhoẹt, rận… lên ngôi. Thế sự giữa đời chung mảnh đậyChợ khuya rận vui ấm… bên người. PHÙNG TRUNG TẬP – ĐAỊ HỌC LUẬT HÀ NỘI

 
 
Nhà báo Lê Phương Dung. Email

21/08/2012 17:55
Dạ, kinh thật, kinh thật thưa Đại huynh Trần Mạnh Hảo, em có ối chiện hay về những phi vụ KHỦNG của cái thằng Hoàng Quang Thuận này Bác ạ. Dưng mà em cũng cứ chờ nó kiện em vì tội sỉ vả nó sa sả mấy hôm nay thì em mới có cơ hội móc hết, bới hết ra một thể đấy ạ, mà có đầy đủ nhân chứng sống,to, nhỡ vừa… sẽ sẵn sàng cùng với em đứng ra vạch rõ cái bộ mặt của thằng này đấy Bác Hảo nhớ. Hi hi, Bác cũng đừng chửi em là cái con dở ” Chó cậy gần Nhà, gà cậy gần chuồng “tinh vi, vì cũng đúng là có tí ti đấy, hi hi. Mà hôm trước Bác khen dưng mà ở ngoài nhìn em te gái hơn, chắc tại Mẹ em là gái Nam Định Bác nhỉ. Kính Bác ạ.

 
 
Lê Bình Dân Email

21/08/2012 16:54
Tôi thật không ngờ ông Dương Kỳ Anh lại dễ bị “mắc lừa” đếnvậy! Một người dân quê mùa như tôi nếu đêm đó được ông Thuận khoe: một đêm có thể “xuất khẩu thành chương” nhữnghơn trăm bài thơ,thì tôi cũng có thể suy diễn ra cái “kế”rất trẻ con để có thể lòe người của ông Th.Có khó gì đâu:Ông Th. học thuộc cả những bài thơ có sẵn từ lâu ,rồi đêm đó cứ việcchép ra thế là bỗng chốc trở thành “thánh thơ”trước sự”‘ngâythơ cả tin” của ông Kỳ Anh. Quả là cả hai “thi nhân” đều “kỳ”thật !Nếu có giải Nô Ben về “Sự lừa đảo” thì cả 2 “thi đĩ” nênđứng “liên danh”mới “xứng”!?

 
 
Vô Tận Email

21/08/2012 16:21
Bác TMH nói chỉ có đúng! Hê hê… khi mà mọi thứ trần gian này đã bị lừa bịp hết ráo thì bọn “lưu manh có tri thức” của cái xã hội “quá độ” đã lớn mạnh. Chúng bắt đầu phản Chúa, lừa Phật dùng chiêu “nhập đồng” kinh doanh tâm linh, đàn áp, hăm dọa dân lành.

Thời gian khá dài một số vị quan quyền đã bị đồng tiền bẩn thôi miên, trở thành công cụ mà bọn này sai khiến như một tín đồ (chi cần cấp cho các vị này một chiếc điện thoại xịn là đủ để “A lô, anh 23456789…cứ làm như vậy đó anh nha! Chị nhà đồng ý rùi”. Và đã đến lúc dân chúng bất bình khi nhận diện “bọn lưu manh có tri thức” rùi đó.

HQT chi tiền USD vào “từ thiện” để có những bức ảnh của hắn bên cạnh người nổi tiếng rồi thực hiện chiêu bài lừa đảo. Bên cạnh HQT có DKA…là cặp bài trùng chi “TIỀN ĐÔ mua TIỀN ĐỒ”. (HH trái cấm mặt đất).

Mong các vị quan đương thời hãy thức tỉnh với chiêu lừa đảo của bọn người này. Hãy cùng các văn nghệ sĩ chân chính xóa bỏ tất cả sảm phẩm bẩn của chúng tung ra đời sống tinh thần của dân tộc thời gian qua. Các vị hãy tin và Phật vào Chúa đừng nghe lời “nhập đồng” loại ma quỷ lợi dụng mà hại dân.

 
 
Trần Mạnh Hảo Email

21/08/2012 15:21
Chính cơ chế thiếu minh bạch, thiếu dân chủ, cơ chế XIN-CHO của xã hội nhố nhăng này đã đẻ ra hàng trăm, hàng nghìn kẻ mang đầy học hàm học vị, mang đầy chúc vụ cao sang như Hoàng Quang Thuận để thành ma cô chính trị, ma cô kinh tế, ma cô văn hóa…Chúng làm nghề lừa đảo siêu hạng, chuyên đi cửa sau nhà các quan phụ mẫu, nhà các quan đại thần công hầu khanh tướng để buôn quan bán tước :
CHẠY CHỨC CHẠY QUYỀN, CHẠY DỰ ÁN, CHẠY CÔ TA, CHẠY ÁN…để đút lót các quan lớn mà thu lợi bất chính hàng nghìn tỉ đồng. Chúng làm nghề “đưa người cửa trước rước người cửa sau”…buôn bán các mối quan hệ, làm con thoi nối các đại gia với CỬA SAU nhà các quan đầu triều đặng buôn bán chức vụ từ bộ trưởng đến các chức tổng giám đốc công ty…Chúng buôn thần bán thánh, bịa ra cả chuyện chúng là người của Trời Phật sai xuống để thống trị xã hội này…Những hạng người này đang phá nát đất nước, dân tộc, sẵng sàng vì tiền mà làm tay sai cho giặc Tầu…
Hoàng Quang Thuận từng khoe cả chính phủ, cả Bộ chính trị nằm trong tay hắn…Kinh khủng chưa ?

Trần Mạnh Hảo

 
 
vũ đức tân Email

21/08/2012 14:12
Hiện tượng” thơ Hoàng Quang Thuận hóa ra lại có ý nghĩa lớn hơn nhiều những cái gì bạn đọc tưởng.
Lần đầu tiên trên văn đàn Việt Nam một quy mô lừa đảo công phu được xảy ra như thế. Vụ lừa đảo xảy ra lặng lẽ cho đến khi có cuộc hội thảo về thơ Hoàng Quang Thuận.
Kết luận đưa ra từ giới chuyên môn mà ông Nguyễn Hữu Sơn là người đại diện cho đây là một “hiện tượng”.
Và khi trang Web Lê Thiếu Nhơn vào cuộc dư luận âm ỉ mới vỡ bung ra.
Lúc đó mọi người mới rõ Hoàng Quang Thuận có chân tướng là một kẻ lừa đảo.Vốn là cố vấn của Tăng Minh Phụng, đưa chiêu bài mê tín vào sự nghiệp của nhà doanh nghiệp bất hạnh kia, ông thoát được vụ trên, trở thành một “nhà khoa học”, “một nhà lãnh đạo” và cuối cùng là “một nhà thơ”.
Con đường của ông đi không có chiêu gì mới. Nó chỉ dưạ vào sự cả tin và tham lam của người đời để lòe bịp thiên hạ thôi.
Và cũng bất hạnh thay, nhiều người đã bị lừa ngay ở sân của mình.
Điều khó hiểu là những vần thơ không thực sự hay ho lại được bốc thơm ở tầm cỡ quốc gia, và cả tầm cỡ thế giới.Những người được đặt lòng tin của giới văn nghệ lại trở thành một bức bình phong cho một kẻ lừa đảo.
Nếu người ta hiểu ông Thuận hơn chắc đã chẳng mấy người mắc lỡm.
Nhưng vụ việc Hoàng Quang Thuận cũng mở mắt cho công chúng một sự thực là bấy lâu nay người ta không đánh giá văn chương theo đúng giá trị chân thực của chúng. Phần lớn sự đánh giá chạy theo kênh thương mại và lăng-xê bằng cách này hay cách khác. Và như vậy văn học đã không còn tồn tại đúng ý nghĩa của nó.
Sự “loạn chuẩn” là có thực và giờ đây nó còn trở nên nguy kịch hơn khi định hướng của văn học bị đánh mất.

 
 
Phương Quang

21/08/2012 12:34
Ôi, thơ nhập đồng! Hay quá, Dương Kỳ Anh ơi
Ôi, tiền nhân mượn bút! Hội thảo nữa đi, Hữu Thỉnh ơi…

 
 
Pham Phu Thang

21/08/2012 12:07
Toi cung que voi anh va Ong Giap day
Toi qua xau ho vi anh la dua an cap co he thong Cuop xe hoi cua Tang Minh Phung khi bi tu hinh .Cuop tren tay nguoi khac trang tron ve mot loat bai tho ve Yen Tu va Hoa Lu
Troi oi . Ong mang ham giao su Tien si chac chan cung phai an cap hoac lot tay moi duoc hoc hamva hoc vi nhu vay
Den nhu Ly Bach  hay Nguyen Du mot dem khong lam noi 10 bai tho . Anh lai boc phet nho tien nha ma mot dem lam 141 bai tho thi qua la phai dua len nhung dien hinh  sieu viet day

 
 

TƯỜNG THUẬT CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA BỘ TNMT VÀ BÀ CON VĂN GIANG – Phần I – Tễu

22 Th8

TƯỜNG THUẬT CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA BỘ TNMT VÀ BÀ CON VĂN GIANG – Phần I

 
 
TƯỜNG THUẬT CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỚI NGƯỜI DÂN VĂN GIANG

Phần Một

Sáng ngày 21/08/2012 đã diễn ra cuộc đối thoại giữa đại diện những người nông dân bị thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark – Văn Giang – Hưng Yên với Bộ Tài Nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT)  tại trụ sở của Bộ TN-MT số 83 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội.
 
Từ 8h, hàng nghìn bà con Văn Giang – Hưng Yên đã có mặt tại trụ sở Bộ TN-MT. Tuy nhiên, chỉ có 100 người dân đại diện cho các hộ được vào hội trường tham gia buổi đối thoại.

 
 
 
 
 

8h15’, luật sư Trần Vũ Hải, luật sư Hà Huy Sơn và 03 trợ lý thuộc VPLS Trần Vũ Hải – được các hộ dân ủy quyền, đã có mặt để tham dự buổi đối thoại.

 
 

Buổi đối thoại còn có sự chứng kiến của hàng chục nhà báo.

Đúng 8h30’, buổi đối thoại được bắt đầu, một cán bộ của Bộ TNMT lên khai mạc và thông báo thành phần buổi đối thoại. Thành phần tham gia buổi đối thoại gồm có:Ông Chu Phạm Ngọc Hiển – Thứ trưởng Bộ TN-MT ( được Bộ trưởng Bộ TN-MT ủy quyền chủ trì buổi đối thoại); Ông Đặng Minh Ngọc – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên; Ông Nguyễn Duy Lượng – Phó Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam; và nhiều cán bộ của Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, các bộ phận của Bộ TN-MT, các sở ban ngành của tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang. 

 

 
 

Ông Hiển, Thứ trưởng phát biểu khai mạc, đề nghị bà con chọn cách thức đối thoại, cho biết đã nhận được thông báo đại diện các hộ dân Văn Giang ủy quyền cho luật sư Trần Vũ Hải.

Luật sư Hải phát biểu, yêu cầu Bộ TN-MT cung cấp bằng văn bản  trả lời 12 nội dung trong Kiến nghị số 02 vì VPLS Trần Vũ Hải và các hộ dân chưa nhận được văn bản trả lời này.
Ông Hiển cho biết, trong buổi đối thoại ngày 21/08/2012 sẽ trả lời ngay những vấn đề có thể trả lời được, còn những vấn đề chưa thể trả lời, Bộ TN-MT sẽ có văn bản trả lời luật sư sau.
Luật sư Hải cho rằng, những vấn đề nêu trong Bản kiến nghị rất quan trọng, nếu Bộ không trả lời được thì sự việc sẽ còn kéo dài và phức tạp. Vậy nên buổi đối thoại ngày hôm nay sẽ đi vào từng nội dung từ 1 đến 12 như đã nêu trong bản Kiến nghị số 02, nếu những vấn đề nào Bộ trả lời ngay được thì yêu cầu trả lời, còn nếu chưa trả lời được thì có thể trả lời sau bằng văn bản. Ông Hiển cho biết ông hoàn toàn nhất trí với những nội dung mà luật sư nêu. Sau đây là 12 nội dung được đối thoại:
1. Bộ TN-MT cần cung cấp Toàn văn Tờ trình số 14/TTr-BTMMT ngày 12/3/2004 và Tờ trình số 99/TTr-BTNMT ngày 29/06/2004  gửi Thủ tướng Chính phủ (liên quan đến các Quyết định 303/QĐ – TTg  ngày 30/03/2004 và Quyết định số 742/QĐ – TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ)
Ông Hiển cho biết, về nguyên tắc, Bộ TN-MT không có trách nhiệm phải cung cấp 2 tờ trình trên, Bộ chỉ có trách nhiệm tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ để Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản. Tuy nhiên,sau khi ông Sơn – một đại diện hộ dân Văn Giang trích dẫn Luật phòng chống tham nhũng về nghĩa vụ cung cấp thông tin của cơ quan Nhà nước, ông Hiển đã đồng ý cung cấp bản sao 02 tờ trình này (sau buổi đối thoại này).
2. Tại sao Bộ TN–MT trình Thủ tướng Chính phủ Tờ trình số 99/TTr-BTNMT ngày 29/06/2004 ngay trước khi Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001)  hết hiệu lực? Việc trình này có theo đúng thủ tục hành chính hay được rút  ngắn công đoạn để có lợi cho chủ đầu tư (đề nghị Quý Bộ kiểm tra văn thư việc đi đến của công văn  liên quan từ UBND tỉnh Hưng Yên đến Quý Bộ và tờ trình  của Quý Bộ đến Thủ tướng Chính phủ)?
Ông Hiển trả lời rằng Dự án đổi đất lấy hạ tầng xây dựng Khu đô thị Văn Giang là đúng quy định pháp luật hiện hành theo đúng thủ tục hành chính. Trình tự được rút ngắn, UBND tỉnh Hưng Yên  trình Bộ TNMT vào ngày 28/6, Bộ trình Thủ tướng Chính phủ vào 29/6 về mặt thời gian không có vấn đề gì, và vẫn theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật. Thực ra dự án này được Thủ tướng Chính phủ đồng ý về mặt chủ trương từ năm 2003. Từ 2003 đến 6/2004, các Bộ ngành có liên quan đã phối hợp với UBND tỉnh Hưng Yên để tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án này theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy đã có một thời gian rất dài để các bộ ngành liên quan tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ. Việc đẩy nhanh các thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian là chủ trương của Chính phủ, đáng được biểu dương.
Ý kiến củaLuật sư Trần Vũ Hải: Ngày 30/6 là ngày cuối cùng của luật Đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001) còn hiệu lực. Theo luật Đất đai mới không có việc đổi đất lấy hạ tầng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nghi ngờ về khả năng tài chính của Chủ đầu tư, Bộ Giao thông vận tải chưa có ý kiến về dự án đường giao thông. Về vấn đề này chúng tôi sẽ có ý kiến có buổi làm việc riêng với VPCP và Bộ GTVT. Như vậy chưa thể nói đã tham khảo ý kiến đầy đủ các bộ ngành liên quan. Chúng tôi và ngươi dân rất hoan nghênh việc đẩy nhanh thủ tục hành chính, nhưng đề nghị cơ quan Nhà nước cũng cần giải quyết nhanh gọn các yêu cầu của bà  con nông dân Văn Giang, đối xử công bằng như đối với Chủ đầu tư, không nên giải quyết chậm trễ như hiện nay, khiến người dân nghi kỵ về động cơ làm nhanh của những cơ quan này cho Chủ đầu tư.
3.  Tại sao Bộ TN–MT không đệ trình và tham mưu Chính phủ thông qua những vấn đề nêu tại Quyết định 303/QĐ – TTg  ngày 30/03/2004 và Quyết định số 742/QĐ – TTg ngày 30/06/2004? Vì theo quy định của Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001), những nội dung này thuộc thẩm quyền của Chính phủ, không thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ?
Ông Hiển khẳng định đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ dựa trên cơ sở Điều 23 Nghị định số 04/2000/NĐ-CP của Chính phủ. Luật sư Hải cho rằng ông Hiển đã viện dẫn một văn bản cũ đã được sửa đổi, không phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy đề nghị ông Hiển sẽ trả lời nội dung này bằng văn bản,phía luật sư sẽ có kiến nghị và đề nghị vị đại diện Văn phòng Chính phủ trả lời về nội dung này.
Tuy nhiên, ông Hiển nói Bộ TN-MT mời các vị đại biểu đến tham dự buổi đối thoại hôm nay chứ không có trách nhiệm trả lời những câu hỏi của luật sư cũng như người dân.
Luật sư Hải đã viện dẫn Nghị định 66/2001/NĐ-CP là văn bản sửa đổi, bổ sung Nghị định số 04/2000/NĐ-CP nêu trên, đã xác định thẩm quyền trên thuộc Chính phủ (không thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ như Nghị định 04/2000/NĐ-CP) và đề nghị Ông Hiển đính chính, xin lỗi bà con về việc trích dẫn không đúng văn bản.
Ông Hiển cho rằng thẩm quyền giám sát các văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên nếu có thắc mắc, đề nghị luật sư và bà con gửi kiến nghị lên Quốc hội.
Về phía luật sư và người dân cho rằng, họ đã nhiều lần gửi kiến nghị lên Quốc hội nhưng không hề nhận được câu trả lời, nên Bộ TN-MT cần tham mưu cho Chính phủ trả lời cho bà con được rõ về vấn đề này, nếu Ông không trả lời được cần mời ông Đặng Hùng Võ – Nguyên Thứ trưởng Bộ TN-MT, một chuyên gia hàng đầu về đất đai trả lời vấn đề này.
Cuối cùng, ông Hiển đưa ra ý kiến là sẽ trả lời vấn đề này bằng văn bản.
4. Dựa vào quy hoạch nào và được cơ quan có thẩm quyền nào phê duyệt, Bộ TN–MT tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 quyết định nêu trên? Nếu có quy hoạch đó, đề nghị Bộ TN–MT cung cấp. Nếu không có quy hoạch nào, đề nghị Quý Bộ giải thích.
Ông Hiển cho biết căn cứ vào Quyết định của UBND tỉnh Hưng Yên ngày 25/03/2004 việc phê duyệt quy hoạch xây dựng dự án KĐT Văn Giang, Bộ đã tham mưu cho TTCP ban hành 2 quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg của Thủ tướng.
Luật sư Hải cho biết đã nghiên cứu quy hoạch về xây dựng dự án KĐT Văn Giang, nhưng không thể coi quy hoạch này là quy hoạch sử dụng đất đai, Thủ tướng cũng không thể căn cứ vào quy hoạch của UBND tỉnh để quyết định.
Ông Hiển lại dẫn chiếu quy hoạch sử dụng đất đai được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 06/04/2002.
Luật sư Hải đề nghị ông Hiển cung cấp cho luật sư và người dân Văn Giang  quy hoạch sử dụng đất đai năm 2002?
Ông Hiển nêu: Chúng tôi ko chỉ căn cứ vào quy hoạch đất đai mà còn căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị. Việc điều chỉnh KH sử dụng đất để thực hiện dự án là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại Quyết định số 438/2002 ngày 06/04/2002.

 

Ông Trương Công Kính (Nông dân Văn Giang): khẳng định không có quy hoạch trên và đề nghị Phó chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên trả lời rõ.

Ông Hiển một lần nữa khẳng định, các đại biểu được mời đến đây để tham dự chứ không có trách nhiệm trả lời và đồng ý sẽ trả lời vấn đề này bằng văn bản sau.
5. Đề nghị Quý Bộ cho biết 02 Quyết định này của Thủ tướng là quyết định hành chính hay văn bản quy phạm pháp luật?  Nếu là quyết định hành chính có giá trị buộc thi hành đối với các hộ dân tại sao không được giao trực tiếp cho họ ngay sau khi ban hành? Nếu là văn bản quy phạm pháp luật tại sao lại không đăng tải trên công báo theo quy định của pháp luật? (Nếu Quý Bộ không trả lời được nội dung này, đề nghị tham khảo ý kiến của Văn phòng Chính phủ và/hoặc ý kiến của Bộ Tư pháp).
– Ý kiến trả lời của ông Hiển: Chúng tôi đối thoại với dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của Bộ. Vấn đề này không thuộc trách nhiệm của Bộ, nên đề nghị bà con hỏi Văn phòng Chính phủ hoặc Bộ Tư pháp.
– Luật sư Hải cho rằng: Bộ nói không có trách nhiệm là không đúng vì 2 văn bản này Bộ có trách nhiệm tham mưu, Văn phòng Chính phủ và Bộ tư pháp chúng tôi đã hỏi nhưng chưa được trả lời, cho đến nay Bộ cũng không dám khẳng định đây là văn bản pháp quy hay Quyết định hành chính (QĐHC)?
– Ông Hiển cho biết: chức năng của Bộ không phải là trả lời các văn bản quy phạm pháp luật là văn bản gì? Xét trên góc độ cá nhân, tôi trả lời với luật sư văn bản này là QĐHC.

 

– Ông Đàm Văn Đồng (xã Xuân Quan): tôi đã được tiếp xúc với ông 01 buổi vào buổi tiếp dân, hoàn toàn nhất trí với ý kiến của luật sư, phải trả lời công khai minh bạch cho dân biết.

– Luật sư Hải: cá nhân ông khẳng định rằng QĐHC, vậy tại sao không giao trực tiếp cho các hộ dân sau khi ban hành mà lại giao cho chủ đầu tư vào ngày 05/7/2004, còn các hộ dân nói họ không nhận được văn bản này? Nếu không giao họ không có trách nhiệm thi hành.
Ông Hiển: Đây là QĐ của Thủ tướng Chính phủ, đã ghi rõ tổ chức, cá nhân nào thực hiện QĐ của Thủ tướng, trách nhiệm này không thuộc trách nhiệm của Bộ TN-MT.
Ông Sơn (dân VG): Nói như vậy, người dân chúng tôi không có trách nhiệm thi hành vì trong QĐ không ghi tên chúng tôi.
Ông Hiển nói: UBND có trách nhiệm thi hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nên UBND tỉnh phải có trách nhiệm triển khai với nhân dân thi hành QĐ này.
Luật sư Hải: Theo luật Hành chính,các QĐHC giao cho đối tượng nào thì đối tượng ấy phải thi hành, nhưng QĐ trên không giao cho các hộ dân, nhưng lại giao cho UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) cho chủ đầu tư. Chúng tôi đề nghị ông trả lời bằng văn bản về vấn đề này.
6. Tại sao Bộ TN–MT tham mưu cho quyết định 303/QĐ – TTg  xác định quỹ đất để tạo vốn xây dựng công trình cơ sở hạ tầng (1.650 ha, trong đó có 500 ha đất sau này được coi là đất của dự án Ecopark) là đất chuyên dùng, trong khi thực tế theo chủ đầu tư dự án Ecopark 30% của 500 ha đất này được dùng làm đất ở (tức không phải đất chuyên dùng)?
Ông Hiển có trích dẫn Nghị định 04/2000 Ngày 11/2/2000 của CP về dự án xây dựng nhà ở để bán.  Theo QĐ 303/QĐ-TTg đã xác định 500 ha là quỹ đất để tạo vốn xây dựng hạ tầng, còn việc xác định cụ thể các loại đất thì phải thực hiện theo quyết định phê duyệt do UBND tỉnh Hưng Yên là cơ quan phê duyệt.

 
– Bà Đỗ Thị Dơi (Phụng Công): Hỏi Bộ TN-MT có tư vấn cho Thủ tướng bán đất của dân trước 02 năm mà chúng tôi không biết?, năm 2002 tỉnh có quy hoạch cho nông dân chúng tôi dồn thửa đổi ruộng, vườn cây, ao cá. Vậy ông cho chúng tôi biết, dự án KĐT Văn Giang áp dụng luật đất đai mới hay cũ?
– Luật sư Hải khẳng định đất chuyên dùng không phải là đất ở, nếu giao cho Chủ đầu tư đất chuyên dùng, chủ đầu tư không được sử dụng làm đất ở, tức không được xây biệt thự, chung cư như hiện nay. Đề nghị ông Hiển trả lời bằng văn bản.
PV.
Còn tiếp Phần 2.

13 nhận xét:

  1.  

    Doc bai tuong thuat cua Anh ma xuc dong qua.
    Rat vui va xuc dong vi trong thoi buoi nay van co nhieu con nguoi van mot long vi chan ly va su that, hy sinh rat nhieu vi loi ich cua dong bao ta. Cac Anh la tam guong sang cho lop lop the he di sau!
    That dang tran quy biet bao!
    Kinh can!

    Trả lờiXóa

     
     
  2.  
    Bắt được Gà chết20:44 Ngày 21 tháng 8 năm 2012

    Trong phiên trả lời chất vấn chiều nay,

    21/08, Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã trả lời về việc ông Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) bị bắt.

    Buổi chất vấn được truyền hình trực tiếp trên đài Truyền hình Việt Nam, nội dung nhằm mục đích trấn an dư luận trong thời điểm vụ bắt giữ đang gây ra làn sóng hỗn loạn.

    http://www.youtube.com/watch?v=E4Tg0BOJ_io

    Trả lờiXóa

     
     
  3.  

    Hoan hô luật sư Trần Vũ Hải, luật sư Hà Huy Sơn cùng các trợ lý thuộc VPLS Trần Vũ Hải và bà con Nông dân Văn Giang- Hưng Yên. Trong tôi luôn có một niềm tin cháy bỏng rằng: Những ý kiến đanh thép và yêu cầu xác đáng trên cơ sở pháp luật của các luật sư và đại diện bà con Nông dân Văn Giang, trong những buổi đối thoại với lãnh đạo bộ TNMT và Tỉnh Hưng Yên. Sẽ là một trong những căn cứ để các vị lãnh đạo đảng- nhà nước- quốc hội phải xem xét lại các quyết định thời gian qua của thủ tướng chính phủ trong lĩnh vực Quản lý và điều hành Kinh tế vĩ mô. Và trong lĩnh vực sử dụng, khai thác TNMT. Trong đó sử dụng tài nguyên đất đai là một trong những vấn đề “nóng bỏng” nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng vạn hộ nông dân, đẩy họ vào sự bế tắc cùng cực trắng tay cho những tham vọng ích kỷ của “nhóm lợi ích” trong giới kinh doanh và Lãnh đạo cấp cao. Chúng ta đòi hỏi pháp luật trả lại công bằng cho Nông dân Việt Nam nói chung và Nông dân Văn Giang nói riêng. Chân thành cảm ơn Tễu- blog thực hiện bài tường thuật và giành diễn đàn này cho độc giả.

    Trả lờiXóa

  4.  

    Rồi cũng chìm xuồng thôi, chóng mắt mà xem nhé

    Xóa

     
     
  5.  
     
     
  6.  

    Cám ơn tác giả , Cảm ơn Luật sư Trần Vũ Hải và các cộng sự . Cám ơn chủ Bloc

    Trả lờiXóa

     
     
  7.  

    Chúc các Luật sư,trí thức và nhân dân lời chúc sức khoẻ,kiên định,cuộc chiến đấu còn lâu dài nhưng nhất định thắng lợi

    Trả lờiXóa

     
     
  8.  

    Một Thứ trưởng mà đối thoại với dân cứ ấp a ấp úng như gà mắc tóc . đã bị dồn tới cùng không thể trả lời được một câu .
    Rõ chán

    Trả lờiXóa

  9.  

    Phải rồi. Cuối cùng cũng chỉ “đợi trả lời bằng văn bản”, vì sự thật ông Hiển này nắm luật không vững như nông dân- một nghịch lý chỉ có trong xhcnVN.

    Xóa

     
     
  10.  
     
     
  11.  

    cảm ơn tác giả, chúc tác giả chân cứng đá mòn

    Trả lờiXóa

     
     
  12.  

    Cảm ơn Anh đã tường thuật buổi đối thoại này.

    Trả lờiXóa

     
     
  13.  

    Học hành không bao nhiêu,trí tuệ kém cỏi cộng thêm tính tham gian độc ác mất tính người thì là như vậy đấy !!!

    Trả lờiXóa

     
     
  14.  

    Cảm ơn chủ blog Tễu và LS Hải nhiều lắm. Thời buổi nhiễu nhương hỗn loạn này có các anh, những con Người thông minh và dũng cảm đúng bên bà con nông dân hiền lành một nắng hai sương lúc khó khăn chúng tôi cũng thấy an tâm. Chúc các anh và bà con sức khỏe, chân cứng đá mềm vì cuộc đấu tranh cho chính nghĩa còn dài.

    Trả lờiXóa

     
     
  15.  

    Chúc các nông dân Văn Giang đòi được công bằng. Trong thời kỳ bão giá thế này mà tốn kém tiền của, chầu chực để được đối thoại với công bộc của dân, thương quá. Ai chịu trách nhiệm cho tốn kém của bà con trong khi đợi công bộc của dân trả lời. Đề nghị luật sư Hải và Sơn hỏi luôn.

    Trả lờiXóa

     
     
 
 

Hoàng Sa ơi còn đây bằng chứng máu! – DLB/BS

22 Th8

Hoàng Sa ơi còn đây bằng chứng máu!

 
Sau Hiệp Định Genève 1954
Hoàng Sa thuộc Miền Nam quản lí
Nó là một Hải Đồn trên Biển Đông
Của Quân Lực Cộng Hòa
Có lẽ cuối thập niên 50
Miền Bắc đã dự định dùng tàu đưa vũ khí
Bằng đường biển vào Nam
Nên rất ngại Hoàng Sa!
 
Chắc vì thế họ muốn đuổi hải quân của VNCH
Ra khỏi các hải đồn trên biển đảo
Và có lẽ đó cũng là lí do của bức công hàm “giao hảo” (1)
“Ghi nhận và tán thành” tuyên bố của Trung Hoa
“Về lãnh hải 12 hải lý và chủ quyền của Bắc Kinh
“Trên các quần đảo Tây Sa, Nam Sa…”
Nhằm lợi dụng hải quân Trung Quốc ngoài hải đảo
Bảo vệ tàu bè Miền Bắc chở vũ khí vào Nam
Mưu chiếm cả sơn hà!
 
Nhưng phải chi vì “con hổ giấy” Mỹ có cái nanh nguyên tử
Đã làm nhụt chí lúc bấy giờ của bè lũ Trạch Đông?
Hay vì Mao thâm hiểm cố ngồi chờ để Hà Nội
Đánh Mỹ đến người Việt cuối cùng?
Nên dẫu có bức công hàm của cu Đ. trong tay
Mà A Mao vẫn chưa xuất quân vội
Đợi đến đầu 1974, sau Hiệp Định Paris (2)
Khi quân đội Mỹ ở Biển Đông vừa rời khỏi
Bắc Kinh mới đem quân cưỡng chiếm Hoàng Sa
Và xâm lấn Biển Đông!
 
Hẳn ai cũng còn nhớ
Vào dịp đó Việt Nam CH la to:
“Tại sao Việt Nam DCCH không lên tiếng?”
Có lẽ Hà Nội ngần ngừ vì biết lên tiếng bảo vệ ai?
Giữa một bên là Bắc Kinh “cùng phe”
Còn bên kia là Sài Gòn “theo con đường tư bản”
Là kẻ thù không đội chung trời của Miền Bắc cộng sản
Và bức công hàm 1958 hãy còn đây!
 
Đau đớn thay
Nay Trung Quốc
Lại vin vào bức công hàm này
Để xâm phạm Biển Đông!
Sao chính phủ Việt Nam nay không biết dùng
Máu của Việt Nam Cộng Hòa trước đây để chống lại?
Phải chi máu của các anh hùng đã đổ tại Hoàng Sa
Linh thiêng quá làm cho các người sợ hãi?
Hay vì máu của Hải Chiến Hoàng Sa
Đã bị vùi chôn bởi bức công hàm
Bán nước của ông Đồng?
 
Mặc cho thời cuộc đổi thay
Thì nước Việt Nam mãi muôn đời là Một!
Người Việt khắp bốn phương vẫn con Lạc cháu Hồng!
Nay đất nước gặp nguy nan sao không đoàn kết lại?
Để xiết chặt tay gìn giữ lấy non sông!
 
Hỡi những nhà lãnh đạo Việt Nam
Vẫn còn biết đặt Tổ Quốc lên trên hết!
Mỗi khi nước nhà bị đe dọa bởi ngoại bang
Hãy mở “Hội Nghị Diên Hồng” đón anh hùng hào kiệt
Từ bốn phương tụ về nhằm đánh đuổi xâm lăng!
 
Hoàng Sa ơi
Còn đây bằng chứng máu!
Máu của những người lính VNCH trên biển đảo của Việt Nam
Sao các người không chịu đưa ra Tòa Trọng Tài Quốc Tế?
Để phán xử bè lũ Bắc Kinh quân bành trướng dã man
Mồm leo lẻo “16 chữ vàng” tình anh em đồng chí
Tay xâm phạm Biển Đông và hải đảo Việt Nam
 
Thời thế đã đổi thay rồi
Mà lẽ nào các người vẫn còn coi dân Việt là thù
Còn bọn bành trướng bá quyền từ Bắc Kinh là bạn?
Các người vì lợi quyền riêng hay vì đất nước Việt Nam?
Phải chi nay công an bắt bớ người biểu tình chống Tàu
Là để bày tỏ “lòng thủy chung vô hạn”
Với kẻ thù xâm lược truyền đời
Của dân tộc Việt Nam?
 
Lẽ ra bấy lâu nay, lịch sử nước nhà đã phải công khai thừa nhận
Những đóng góp lớn lao của VNCH trên biển đảo của Việt Nam
Cùng sự hiện diện của hải quân Mỹ làm giặc Tàu nể sợ
Đã giữ được Hoàng Sa và Biển Đông đến 1974
Trước kẻ thù truyền kiếp
Bốn ngàn năm!
 
Hà Nội, 18/8/2012


 
________________________________________

(1) Ngày 14/9/1958, thủ tướng Phạm Văn Đồng của chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã gửi thủ tướng Chu Ân Lai của chính phủ TrungQuốc một bức công hàm “ghi nhận và tán thành” bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của chính phủ Trung Quốc về “bề rộng lãnh hải 12 hải lý được áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ của Trung Quốc bao gồm cả quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa…”, trong đó Tây Sa và Nam Sa chính là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 
(2) Hiệp định Paris về Việt Nam kí ngày 27/1/1973 đã buộc quân đội Mỹ phải rời khỏi Việt Nam trong năm 1973. Sang năm sau, ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã dùng một lực lượng hải quân đồ sộ cưỡng chiếm Hoàng Sa từ Quân Lực VNCH. Trong trận Hải Chiến Hoàng Sa đẫm máu đó đã có 74 chiến sĩ hải quân VNCH anh dũng hi sinh.

RA MẮT TÁC PHẨM: GIẢI THOÁT DÂN TỘC VIỆT – BS

22 Th8

RA MẮT TÁC PHẨM: GIẢI THOÁT DÂN TỘC VIỆT

 
SƠ LƯỢC VỀ TÁC PHẨM
Tác phẩm gồm 5 phần. Phần I: Không thể đi theo Chủ nghĩa cộng sản. Phần II: Việt Nam nên đi theo con đường nào?. Phần III: Những tử huyệt của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Phần IV: Những thủ đoạn của đảng CSVN. Phần V: Giải pháp cho dân tộc.

Nội dung tác phẩm đi vào những vấn đề xương sống, có đầu đuôi, có lý lẽ nhưng không lan man, không quanh co dông dài. Tác phẩm gồm tổng cộng hơn 40 trang (A4). Tập trung nhiều nhất vào phần giải pháp (phần chính) với 20 trang.
Nội dung cốt lõi:
Việt Nam đang đứng trước vấn nạn độc tài cộng sản và giặc Tàu xâm chiếm HS-TS. Dân chủ là khát khao của loài người tiến bộ. Lịch sử đã chỉ ra nền dân chủ sẽ thúc đẩy phát triển, hạn chế đói nghèo và lạc hậu. Trong thể chế dân chủ, nhân quyền được tôn trọng. Đấu tranh đòi nhân quyền là con đường đi đến dân chủ. Sự tồn tại chế độ độc tài ở VN gắn kết với chế độ độc tài cộng sản ở TQ. Đấu tranh chống giặc Tàu sẽ cắt đứt được liên kết giữa hai đảng độc tài ở hai đất nước Trung_Việt. VN là một nước nhỏ, muốn chống lại bọn giặc Phương Bắc khổng lồ, VN phải dựa vào quốc tế. Nước nào có thể giúp chúng ta? Đó chính là ASEAN, Liên minh Châu Âu, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, Úc, Hàn Quốc…nhìn vào những quốc gia tiến bộ này, ta thấy hầu hết họ có thể chế dân chủ đa nguyên đa đảng.

Hoàng Sa-Trường Sa là chủ quyền thiêng liêng, quyết định sự hùng mạnh và thịnh vượng của đất nước Việt Nam trong tương lai. Hiện tại, HS-TS là vùng biển đảo mà hàng triệu con tim người Việt đang hướng về. Giải cứu cho HS-TS cũng là giải cứu cho tương lai của dân tộc Việt Nam. Sự đấu tranh thúc đẩy Đảng hành động bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng này cũng là cơ hội chắc chắn cho một nền dân chủ tiên tiến của Việt Nam đang đến gần. Đây là sự hóa giải thần kỳ, ghi dấu lịch sử mà những người trí thức yêu nước đang viết nên những trang sử đầu tiên cho một thời kỳ mới của dân tộc, thời kỳ mà truyền thống yêu nước tiếp tục được gìn giữ còn sự giả dối phải ra đi.

Giải pháp được khẳng định từ sự nhận thức của những người trí thức đấu tranh, kéo theo phong trào đấu tranh đang trào dâng ý chí và gia tăng số lượng. Đảng CSVN không thể tiếp tục ‘đá thùng rác về phía cuối con đường’, cũng không thể ‘đá quả bóng trách nhiệm cho người kế nhiệm’. Họ phải hành động gấp rút theo ý chí nhân dân.
Sơ đồ cơ sở đấu tranh:
“Ý thức dân tộc chuyển biến –> Phong trào đấu tranh, biểu tình dâng cao –> Cao trào, xung đột leo thang tại biển đông –> Quốc tế can thiệp vào tranh chấp –> Sự thật được làm sáng tỏa tại nghị trường quốc tế –> Chân lý được thực thi –> Sự giả dối ra đi, giặc ngoại xâm bị cô lập –> Chủ quyền đích thực được trao trả cho người sở hữu –> Việt Nam bảo vệ được chủ quyền HS-TS và thiết lập nền dân chủ thực sự”.

Mời các bạn đón đọc các phần tiếp theo, đăng tải liên tục hàng ngày tại http://giaiphapdanchu.com và http://gtdtv.blogspot.com như sau:

Ngày 22.8.2012 đăng PHẦN I VÀ II
  • PHẦN I: KHÔNG NÊN ĐI THEO CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN
  • PHẦN II: VIỆT NAM NÊN ĐI THEO CON ĐƯỜNG NÀO?
Ngày 23.8.2012 đăng PHẦN III VÀ IV
  • PHẦN III: NHỮNG TỬ HUYỆT CỦA CHẾ ĐỘ CSVN
  • PHẦN IV: NHỮNG THỦ ĐOẠN CỦA CSVN
Ngày 24-25.8.2012 đăng PHẦN V
  • PHẦN V: GIẢI PHÁP CHO DÂN TỘC
 
GIỚI THIỆU PHẦN I VÀ II:
PHẦN I: KHÔNG THỂ ĐI THEO CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

I. TÍNH BẤT KHẢ THI CỦA CNCS

1/ Bất khả thi từ định nghĩa
2/ Bất khả thi từ thực tiễn ở VN
II. TẠI SAO MỘT CHỦ NGHĨA BẤT KHẢ THI MÀ CÓ ĐẾN MỘT NỬA NHÂN LOẠI TỪNG THEO NÓ?

PHẦN II. VIỆT NAM NÊN ĐI THEO CON ĐƯỜNG NÀO?

1. Tất yếu phải đi theo con đường CNTB
2) Tại sao phải đa nguyên đa đảng?
3) Lý giải những băn khoăn
a) Tại sao một số nước đa đảng vẫn còn đói nghèo?
b) Khi cải cách chính trị hoặc có những biến cố để chuyển sang thể chế đa đảng, liệu VN có gặp bất ổn, thậm chí là xảy ra đấu đá giữa các phe phái hay không?
 

SƠ LƯỢC TÁC GIẢ:
 
NGUYỄN THIỆN NHÂN
  • Sinh năm 1977           CMND: 280629713
  • Quê quán: Thị xã Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
  • Thường trú: 160, Tổ 73, Khu 8, Phường Chánh Nghĩa, Tx Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
  • Số điện thoại: 0650.3836192       DĐ: 0989 021 456
  • Đảng phái: không tham gia đảng hay tổ chức chính trị nào.
  • Tốt nghiệp Đại học kinh tế Tp.HCM năm 1999 (K21: 1995-1999, khoa Kinh tế phát triển)
  • Công việc mưu sinh đã làm: Bán vé số dạo, culi, phụ hồ, tiếp thị, gia sư, thanh tra ngân hàng, tín dụng.
  •  Là chủ nhân các blog: 
  • http://www.giaiphapdanchu.com/ ;   http://www.giaiphapdanchu.wordpress.com/http://www.gtdtv.blogspot.com
  • Email : Canhchimkhongmoi1977@gmail.com  
 
          

“Tất cả những gì tôi muốn cho đất nước tôi là xây dựng một môi trường mà cái tốt có điều kiện phát huy và cái xấu phải chùn bước. Trong môi trường đó tham nhũng bị đẩy lùi; tội ác bị kìm chân; giáo dục phải trung thực; nhân quyền được tôn trọng; nhân tài được đãi ngộ; người nghèo, người tàn tật, người bị tai nạn, đau ốm, trẻ em mồ côi, cơ nhỡ và người già neo đơn được chăm sóc chu đáo. Thực tế mấy mươi năm qua đất nước tôi không được như vậy, nguyên nhân sâu xa là do Việt Nam có thể chế chính trị không phù hợp. Tôi nhận thức được tình hình đất nước lâm nguy trước vấn nạn giặc Tàu và trước sự cai trị độc tài của Đảng CSVN, tôi nhận định không thể để đất nước tiếp tục bị tổn thất mà phải có bàn tay con người can dự vào, vì thế tôi đấu tranh”– Nguyễn Thiện Nhân 

 

 
 

Cụ Phan Châu Trinh với phương châm nổi tiếng 

“khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”

Phía trên bức ảnh còn có dòng chữ nhỏ: 

Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi kể chuyện con con
Chí sỹ Phan Châu Trinh mãi mãi là tấm gương sáng chói cho trí thức đấu tranh noi theo.
(Ghi chú: Phan Châu Trinh cũng chính là Phan Chu Trinh)

‘TQ sử dụng dân quân gây hấn trên biển’ – VNN

22 Th8

‘TQ sử dụng dân quân gây hấn trên biển’

Theo Kyodo, quân đội Trung Quốc đã sử dụng dân quân để tiến hành các cuộc tấn công mạng và hoạt động gây hấn trên biển.

Điều này được ghi trong một tài liệu của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) mà Kyodo thấy được ngày 21/8, đã bất ngờ hé lộ các hoạt động từ trước đến nay không được đề cập của dân quân Trung Quốc, với khoảng 8 triệu người trên toàn quốc.


Tàu cá Trung Quốc trên Biển Đông

Tài liệu trên cho thấy dân quân Trung Quốc có thể đã tham gia các cuộc tấn công mạng nhằm vào các cơ quan chính phủ cũng như doanh nghiệp Nhật Bản trong những năm qua.

Dân quân Trung Quốc có các đơn vị đặc biệt phụ trách công nghệ máy tính và các đơn vị hoạt động theo lệnh của quân đội.

Tuy nhiên, Chính phủ Trung Quốc vẫn một mực bác bỏ cáo buộc nước này dính líu tới các cuộc tấn công mạng.

Tài liệu của PLA, hướng dẫn luyện tập chiến thuật dành cho dân quân, cũng ám chỉ rằng dân quân Trung Quốc đã giả làm ngư dân trong các vụ gây hấn trên biển.

Theo tài liệu này, Bộ Tổng tham mưu PLA chịu trách nhiệm huy động các dân quân.

Cũng theo tài liệu, có các đơn vị dân quân nằm trong số ngư dân ở các khu vực duyên hải và vũ khí sẽ do Hải quân cung cấp. Các đơn vị này có thể nhận lệnh của quân đội để tham gia các hoạt động tấn công kẻ thù.

Tài liệu còn nói dân quân Trung Quốc có các lực lượng đặc biệt đảm trách về vũ khí sinh học và hóa học cũng như gây nhiễu hệ thống thông tin của kẻ thù.

Theo Vietnam+

TỰ TRÀO PHÚ

22 Th8

TỰ TRÀO PHÚ

Kha tiệm Ly

 

Trộm nghe,

 

Lấy gương soi mặt giai nhân,

Lấy tâm soi lòng kẻ sĩ.

Đem gian nan thử bậc cao tài,

Đem lửa đỏ thử vàng đúng tuổi.

 

Cười cho mỗ,

 

Một đời múa bút, chữ “sĩ” lăm le,

Bao bận khoa gươm, chữ “hùng” lấp ló.

Chỉ vì bút nghiên chệch choạt, mà văn chẳng ra văn,

Cũng tại chân cẳng quều quào, mà võ không ra võ!

Ngũ kinh lập bập, rặn ba bài phú mà đọ với Dương Hùng,

Tam lược nghêu ngao, lượm mấy cơ mưu, lại sánh ngang Tôn Vũ!

 

Lại cười cho mỗ:

 

Dốt không chịu dốt, bày trò thi phú búa xua,

Hèn chẳng chịu hèn, giao kết đệ huynh lố nhố.

Muốn trương buồm ngâm câu Thiên Địa, rượu rót tràn ly,

Thích tuốt kiếm ca khúc Lương Sơn, ngựa phi thẳng vó.

Chí tồi mà muốn vọt thấu mây,

Guơm sét lại đòi bung khỏi vỏ!

 

Chẳng nhớ câu:

 

Giao long lỡ vận nào khác tép tôm,

Mèo chó đắc thời tuồng như báo hổ!

Mỉa mai câu nói “sinh bất phùng thời”,

Chua xót lời khuyên “đức năng thắng số”!

 

Thì thôi,

 

Thân đã ở nhà lá nhà tranh,

Miệng ráng ăn rau đay rau ngổ!

Đã cam tâm ngậm cục bồ hòn,

Thì mơ tưởng chi hơi cam lộ!

Thênh thang năm dài tháng rộng, tội mỗ đây lấy nhục làm vinh,

Chắt chiu bữa muối bữa dưa, xót mẹ đĩ chịu thương chịu khó!

Trong cơn dâu bể, hữu bằng đầy dẫy Lý Thông,

Sau trân phong ba, đồ đệ có bao Tử Lộ?

Quăng đuốc danh, lòi mặt kẻ hai lòng,

Nhá  lửa lợi, đổi màu vàng bốn số!

Chưa chứng Thiên Nhãn mà thấy tâm can kẻ đứng sau tường,

Chưa chứng Tha Tâm, mà biết thức thần người nằm dưới mộ!

 

Thương cho,

 

Vợ ăn cháo hoa lỉnh bỉnh, lại chịu ngày đói ngày no,

Con mặc áo khính thùng thình, còn vá miếng xanh miếng đỏ!

Vải dỏm loang màu, giặt một nước, lông lá bèo nhèo,

Chuối chát độn cơm, ăn một miếng, lưỡi môi ngờ ngợ!

Dù lành dù rách, gìn nếp riêng, chẳng mở lời than,

Dù đói dù no, noi phép cũ, không châu miệng ngó!

 

Nay thì,

 

Vinh nhục như đã hết duyên,

Văn thơ xét ra vẫn nợ.

Năm xe kinh điển, quyển mất quyển còn,

Mấy lố bạn văn, đứa đi đứa ở.

Miệt mài trên báo, xem “thơ tự do” mà bụng dạ hãi hùng,

Lang thang trên mạng, coi “thơ Đường luật” làm mặt mày mắc cỡ!

 

Chỉ vì.

 

Thẹn cho tài, dẫu gọt hết trúc rừng làm bút, mà chẳng thành danh,

Tủi cho phận,  dù mài vơi nước sông làm mực, cũng chưa tiệm ngộ!

Luật niêm trớt lớt, nào dám xưng văn nọ văn kia,

Đối chác lem nhem, đâu dám vô hội nầy hội nọ!

Thơ viết người không muốn đọc, mà ca ù tai hơn tiếng ve kêu,

Sách in mối chẳng thèm ăn, lại bốc điếc ráy còn hơn bom nổ!

Mùi chưa dậy mà mắc buồn nôn,

Bụng không chửa lại lên cơn ói!

 

Làm thơ mà:

 

 

Cho không ai nhận, thì đem về nhóm lửa nấu cơm.

Đọc chẳng người nghe, cứ để dành gói xôi gói đỗ!

Những tưởng, tay nắm tay cùng dắt lên mây,

Dè đâu, mặt đưa mặt thay phiên trét lọ!

 

Ôi thôi!

 

Thà đành há miệng chờ sung,

Chẳng chịu trói voi bỏ rọ.

Kệ miệng người nói thẳng nói xiêng,

Mặc trôn đĩ đóng ngang, đóng dọc!

 

Kha Tiệm Ly

%d bloggers like this: