Lưu trữ | 8:31 Sáng
28 Th8

Vô Ngã

Thư của nông dân Việt Nam gởi Bà Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra.

Hoàng Kim

( Kính nhờ Bauxite Việt Nam dịch và gửi giúp)

* “Là người Việt Nam lại yêu mến và kính trọng Bà Thủ tướng Thái Lan, mà không hề kính trọng và yêu mến Thủ tướng nước mình là một điều bất hạnh. Đau xót hơn nữa là bất hạnh này không phải của riêng tôi, mà của tất cả nông dân ViệtNam”.

Hoàng Kim

* Tác giả gửi bức thư này tới trang Bauxite Việt Nam với lời đề nghị dịch sang tiếng Thái Lan hoặc tiếng Anh. Trong khi chưa thể thực hiện việc dịch, chúng tôi xin đăng bản tiếng Việt để mong nhận được sự tri âm của bạn đọc xa gần đối với những lời “nhỏ máu” từ một nông dân chân chất của đồng bằng sông Cửu Long…

View original post 2 610 từ nữa

Thư của nông dân Việt Nam gởi Bà Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra. – Bauxite

28 Th8

Thư của nông dân Việt Nam gởi Bà Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra.

Hoàng Kim

( Kính nhờ Bauxite Việt Nam dịch và gửi giúp)

* “Là người Việt Nam lại yêu mến và kính trọng Bà Thủ tướng Thái Lan, mà không hề kính trọng và yêu mến Thủ tướng nước mình là một điều bất hạnh. Đau xót hơn nữa là bất hạnh này không phải của riêng tôi, mà của tất cả nông dân ViệtNam”.

Hoàng Kim

* Tác giả gửi bức thư này tới trang Bauxite Việt Nam với lời đề nghị dịch sang tiếng Thái Lan hoặc tiếng Anh. Trong khi chưa thể thực hiện việc dịch, chúng tôi xin đăng bản tiếng Việt để mong nhận được sự tri âm của bạn đọc xa gần đối với những lời “nhỏ máu” từ một nông dân chân chất của đồng bằng sông Cửu Long, nơi vựa lúa nuôi sống cả nước ta và làm giàu cho những nhóm lợi ích đang chễm chệ trên lưng họ.

Bauxite Việt Nam 

Kính thưa Bà Thủ tướngYingluck Shinawatra.

Là nông dân Việt Nam, nhưng nhìn thấy tấm lòng của Bà đối với nông dân Thái Lan tôi cảm thấy kính trọng và yêu mến Bà, tôi thường ao ước phải chi Bà là Thủ tướng Việt Nam thì nông dân Việt Nam đỡ khổ biết bao. Ước là ước vậy thôi, chứ người vừa có tài và vừa tận tâm với nông dân như Bà, nông dân ViệtNamchúng tôi có đốt hết đuốc tìm cũng không có.

Bà hiểu rõ: Muốn nâng cao đời sống cho nông dân phải tăng thu nhập cho nông dân, muốn tăng thu nhập cho nông dân phải tăng giá mua lúa. Chứ chẳng thể nâng cao đời sống của nông dân bằng mô hình nông thôn mới, hoặc chỉ có nghị quyết về tam nông.

Vì vậy, Bà đã nâng giá thu mua lúa của nông dân Thái Lan từ khoảng 10.000 bath lên 15.000 / bath / kg, tức lên khoảng 500 đô la Mỹ / tấn, chứ không làm như Chính phủ Việt Nam là cho tay chân bộ hạ Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua lúa của nông dân để đầu cơ (gọi là tạm trữ) có 4.500 đồng / kg, tức khoảng 225 đô la Mỹ / tấn, rồi lại mỵ nông dân rằng sẽ ra quy chế mua lúa tạm trữ để hỗ trợ cho nông dân.

Bà đã thể hiện đúng tư cách Thủ tướng của nước xuất khẩu gạo số 1 thế giới, là ấn định giá bán gạo cho thị trường, ai chấp nhận giá Bà ấn định thì mua không thì thôi, chứ không để những nước nhập khẩu gạo ép giá. Còn ở nước xuất khẩu gạo số 2 thế giới là ViệtNamngười ta bán gạo như bán vé số kiến thiết, tức phải đi năn nỉ mời từng khách hàng, cho nên bị khách hàng ép giá tận đáy mới chịu mua.

Bà nghĩ: Tổ chức Các quốc gia xuất khẩu dầu lửa (OPEC) có hơn 10 thành viên, khai thác khoảng 40% sản lượng dầu của thế giới, nhưng lại quyết định giá dầu trên thế giới, vì vậy, 2 nước Thái Lan và Việt Nam xuất khẩu khoảng 17 triệu tấn gạo hàng năm, chiếm khoảng 45-50% lượng gạo trên thị trường thế giới nên nếu hợp tác với nhau thì Thái Lan và Việt Nam có thể quyết định giá bán gạo trên thị trường thế giới.

Thế nhưng, trong nhiều năm nay, Bà thấy rất kỳ lạ: Nỗ lực của Thái Lan muốn thành lập liên minh xuất khẩu gạo với ViệtNam– để ấn định giá bán gạo cao có lợi cho nông dân hai nước –  lại luôn bị phía ViệtNamtừ chối.

Vì thế, năm 2011 và 2012 Bà đơn phương làm gương đi trước, bằng cách quyết giữ giá gạo 5% tấm ở mức cao trên 500 đô la Mỹ / tấn, và đưa ra giá mua lúa cho nông dân Thái Lan khoảng 500 đô la Mỹ / tấn.

Với sự đơn phương ấn định giá bán gạo xuất khẩu trên 500 đô la Mỹ / tấn, Bà đã gởi thông điệp rõ ràng cho Chính phủ Việt Nam trong việc ấn định giá bán lúa gạo cao, Bà tin chắc rằng ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ lo cho nông dân Việt Nam bằng cách bán gạo giá cao tiệm cận với giá gạo của Thái Lan.

 

Thế nhưng, Bà đã lầm: Chính phủ ViệtNam vẫn bán gạo xuất khẩu với giá dưới 400 đô la Mỹ / tấn.

 

Bà đã lầm: Vì ViệtNamchẳng hề trang bị đủ kho chứa lúa gạo, không có kho nên phải bán sang tay, tức là bán theo kiểu chụp giựt lấy lời đầu tấn, mặc kệ giá gạo xuất khẩu thấp nông dân thiệt. Chắc Bà không biết, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh làm 4 triệu tấn kho từ năm 2008 đến nay kho vẫn chưa có.

 

Bà đã lầm: Vì nghĩ rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng lo cho nông dân ViệtNamnhư Bà lo cho nông dân Thái Lan, thực ra Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chi lo chống lạm phát, tức lo cho uy tín của Chính phủ của ông ta mà thôi.

 

Các chuyên gia hàng đầu của Chính phủ Việt Nam đưa ra cái gọi là “rổ hàng hóa” gì đó khẳng định: mọi mặt hàng nhu yếu như: xăng dầu, điện nước, phân bón, thuốc trừ sâu,… cứ tăng thoải mái không làm tăng lạm phát bao nhiêu, nhưng giá lương thực tăng sẽ làm tăng lạm phát một cách phi mã.

 

Một nước xuất khẩu 7 triệu tấn gạo một năm, lúa gạo thừa bán chẳng ai mua, mà tăng giá lúa gạo là tăng lạm phát phi mã, thiệt không thể hiểu nổi, các ông chuyên gia này chẳng phân biệt được việc tăng giá lương thực ở một nước xuất khẩu gạo, với việc tăng giá lương thực ở một nước nhập khẩu gạo (?!)

 

Ứng dụng lý thuyết kinh tế của các chuyên gia chắc tốt nghiệp hệ tại chức hoặc chuyên tu này vào thực tế, năm 2008 khi giá gạo thế giới tăng cao, giá bán gạo của Việt Nam lên đến 935 đô la Mỹ / tấn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vội vã ký lệnh ngừng bán gạo để chống lạm phát. Để rồi… Sau đó… gạo không bán giá 935 đô la Mỹ / tấn mà được bán với giá dưới 400 đô la Mỹ / tấn mà không có người mua, nông dân mất trên 535 đô la Mỹ / tấn gạo (xin được giải thích cho Bà biết, ở Việt Nam có câu “dốt chuyên tu, ngu tại chức”).

 

Vậy là, từ năm 2008 đến giờ, nông dân Việt Nam phải đem cả xương và da của mình ra để đảm bảo an ninh lương thực cho Việt Nam và cho nhân dân thế giới (thịt đã bị Hiệp hội Lương thực Việt Nam bóc lột hết rồi).

 

Xin Bà làm ơn giải thích cho ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rõ: Bà làm cách nào mà tăng giá mua lúa cho nông dân Thái Lan lên đến 500 đô la Mỹ / tấn mà không sợ tăng lạm phát, để ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đừng khống chế giá lúa của nông dân Việt Nam chúng tôi nữa.

Ở Thái Lan, nếu Bà gây thiệt hại cho nông dân cỡ đó chắc Bà phải mất chức, còn ở Việt Nam ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm cho nông dân mất 535 đô la Mỹ / tấn gạo nhưng chỉ cần phân trần với Quốc hội là xong, chẳng hề nói lời xin lỗi nông dân là những người bị ông ấy làm mất cả đống tiền.

Ở Thái Lan, nếu Bà không thực hiện lời hứa nâng giá mua lúa cao cho nông dân khi Bà ra tranh cử – những nông dân đã bỏ phiếu cho Bà – thì Hội Nông dân sẽ tập trung nông dân để kéo biểu tình phản đối yêu cầu Bà thực hiện lời hứa.

Ở ViệtNam, Ngày 23-12-2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Nghị quyết số 63/NQ-CP “Về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia”. Trong đó, để khuyến khích nông dân giữ đất lúa, Nghị quyết quy định: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người sản xuất lúa gạo, đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất”.

Thế nhưng, năm 2010, khi giá lúa không đảm bảo cho nông dân lời 30% như Nghị quyết,  thì không hề có một hành động nào để thực hiện Nghị quyết số 63/ NQ-CP, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thản nhiên cho phép Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký Quyết định số 993/ QĐ-TTg “Về mua tạm trữ lúa, gạo hè thu năm 2010”. Quyết định này giao VFA mua tạm trữ 1 triệu tấn quy gạo vụ hè thu, bắt đầu thực hiện ngày 15-7-2010, nhưng không đưa ra giá thành sản xuất lúa, cũng như không ấn định giá thu mua lúa cho VFA, mà lại quy định: “Các doanh nghiệp thực hiện mua lúa, gạo tạm trữ theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh”.

Các doanh nghiệp mua “lúa, gạo tạm trữ theo cơ chế thị trường” nghĩa là họ muốn mua lúa giá bao nhiêu thì mua. Vì cơ chế thị trường lúa gạo là cơ chế mà trong đó Hiệp hội Lương thực ViệtNamđộc quyền lúa gạo của nông dân.

Khi giá lúa thấp hơn 30% so với giá thành Chính phủ không hề nâng giá mua lúa cho nông dân theo Nghị quyết, nhưng khi giá lúa gạo thế giới tăng cao giả sử nông dân lời trên 100% thì Chính phủ lại mặc nhận cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua lúa cho nông dân lời 30%, 70% còn lại Hiệp hội có quyền hợp pháp tước đoạt của nông dân.

Ở Thái Lan, hứa cuội kiểu đó, chắc chẳng yên thân với nông dân Thái Lan, còn ở Việt Nam, nông dân Việt Nam chẳng có cách nào có ý kiến trực tiếp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chứ đừng nói là gây áp lực, vì Hội Nông dân Việt Nam đâu phải của nông dân mà do các ông cán bộ của Chính phủ.

Đến đây, chắc Bà Thủ Tướng đã thấy rõ, điểm đặc thù – đặc biệt lạ – của Chính phủ Việt Nam là khống chế giá lúa gạo trong nước để chống lạm phát, và để khống chế giá lúa gạo trong nước, Chính phủ Việt Nam phải tìm mọi cách bán gạo xuất khẩu giá rẻ ra thị trường thế giới.

Thấy rõ bản chất khống chế giá lúa gạo của Chính phủ Việt Nam, Bà Thủ Tướng sẽ hiểu: vì sao nhiều năm nay Chính phủ Việt Nam không chấp nhận hợp tác với Chính phủ Thái Lan trong việc thành lập liên minh xuất khẩu gạo để ấn định giá gạo cao, và cũng giải thích vì sao trong năm 2012 này mặc dù Thái Lan cương Quyết bán gạo trên 500 đô la Mỹ / tấn, Việt Nam lại bán gạo cùng loại với giá từ 350 – 400 đô la Mỹ / tấn.

Tôi xin chia buồn và xin lỗi Bà vì Chính phủ nước tôi đã dùng 7 triệu tấn gạo mồ hôi nước mắt của nông dân chúng tôi, bán phá giá ra thị trường thế giới, gây khó khăn cho kế hoạch mua lúa giá cao cho nông dân Thái Lan của Bà.

Với tâm tình yêu mến và kính trọng Bà, với mong ước chính sách mua lúa cho nông dân giá cao của Bà được thành công – để làm sáng mắt Chính phủ ViệtNam– tôi xin được mạn phép hiến kế cho Bà.

Do bản chất của Chính phủ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là khống chế giá lúa trong nước và cả giá gạo trên thị trường thế giới nên Bà cần làm hai việc sau:

1/ Tranh thủ dư luận: Bà nên đưa vấn đề thành lập liên minh xuất khẩu gạo nhằm ấn định giá bán gạo cao, để mua lúa giá cao cho nông dân hai nước trong các cuộc hội đàm trực tiếp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và ở cả cấp Bộ trưởng Bộ Thương mại. Đồng thời cho các chuyên gia phân tích trên báo chí Thái Lan về những thuận lợi to lớn của liên minh trong việc xuất khẩu gạo của 2 nước. Dịch ra tiếng Việt Nam và gởi cho các báo Việt Nam đăng lại cho người Việt Nam đọc (có thể gởi cho Bauxite Việt Nam). Tôi nghĩ, chắc ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ không đồng ý lập liên minh, nhưng, biết đâu, có thể, trong Đảng Cộng sản Việt Nam còn có người có tài và có tấm lòng yêu mến nông dân như Bà, họ sẽ ủng hộ chính sách vì nông dân của Bà. Và một điều lợi nữa là nông dân chúng tôi hiểu rõ bản chất khống chế giá lúa gạo của Chính phủ, để, có thể, một ngày nào đó, chúng tôi đoàn kết lại gây áp lực lên Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, buộc ông ta phải thực hiện chính sách tốt đẹp của Bà.

2/ Mua gạo của Việt Nam để xuất khẩu: Chính phủ ViệtNam chỉ thích bán gạo xuất khẩu giá rẻ, vì vậy trước mắt Bà hãy cho thương nhân Thái Lan tìm mọi cách mua gạo ViệtNam rồi xuất qua các nước. Mua gạo của Việt Nam giá khoảng 350 – 400 đô la Mỹ / tấn, sau đó dán nhãn Thái Lan bán trên 500 đô la Mỹ / tấn, với 7 triệu tấn Bà sẽ lời tối thiểu 700 triệu đô la Mỹ, và điều lợi to lớn hơn là không bị 7 triệu tấn gạo của Việt Nam bán phá giá ra thị trường thế giới. Còn căn cơ lâu dài, Bà nên cho thương nhân Thái Lan vào Việt Nam thành lập công ty xuất khẩu gạo, nông dân chúng tôi đã quá chán ghét cách mua lúa tạm trữ với giá ăn cướp của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, nên nếu công ty Thái Lan mua lúa bằng giá của Hiệp hội Lương thực Việt Nam chúng tôi cũng bán cho công ty Thái Lan, nhưng tôi biết giá lúa mà các công ty Thái Lan đưa ra sẽ cao hơn giá tạm trữ ăn cướp của Hiệp hội Lương thực Việt Nam.

Kính thưa Bà Thủ Tướng, một lần nữa, tôi kính chúc chính sách nâng cao giá mua lúa cho nông dân Thái Lan của Bà thành công tốt đẹp, nhưng nếu chính sách mua lúa giá cao cho nông dân của Bà thất bại, bà đừng tự trách mình, vì lý do thất bại là do lượng gạo khoảng 7 triệu tấn mà Chính phủ Việt Nam bán phá giá ra thị trường gạo thế giới. Cho nên, sau này, Bà nên thận trọng đối với các chính sách liên quan đến nước khác, vì không phải chính phủ nào cũng lo cho nông dân như Chính phủ của Bà, không phải Thủ tướng nào cũng quan tâm bán lúa giá cao cho nông dân như Bà.

Tôi cố gắng để dành tiền sang thăm Thái Lan, để thấy tận mắt chính sách tốt đẹp của Bà và cũng để biết cảm xúc của nông dân khi an tâm sản xuất vì Chính phủ đã đặt mua lúa giá cao, ở Việt Nam đến kỳ thu hoạch là tim nông dân thót lên thót xuống vì giá hạ từng ngày.

Cuối cùng, xin Bà nhận nơi đây lòng biết ơn của tôi trong tư cách là một nông dân – dù bất hạnh thay – tôi không được diễm phúc làm nông dân của Bà.

MỘT NÔNG DÂN YÊU MẾN VÀ KÍNH TRỌNG BÀ!

 

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Tham nhũng đã trở thành “giặc nội xâm” – BV

28 Th8

Tham nhũng đã trở thành “giặc nội xâm” 

Tại cuộc hội thảo có tên “Vai trò của Quốc hội trong phòng, chống tham nhũng” do Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ QH tổ chức mới đây tại Quảnh Ninh , Tổ chức Minh bạch Quốc tế đánh giá: “Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng và nghiêm trọng hơn so với Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunei, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia”…Đánh giá cho biết, trong những năm gần đây, Việt Nam thường được 2,6 – 2,7 điểm trong thang điểm 10 về chỉ số cảm nhận tham nhũng, mà theo đó mức dưới 3 điểm được coi là tham nhũng nghiêm trọng.
 
Kết quả đánh gía quốc tế này đã được Phó chánh văn phòng Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng chống tham nhũng Lê Văn Lân và các đại biểu tham dự phía VN hoàn toàn tán thành. Các đại biểu cũng vạch rõ trước đây, tham nhũng chủ yếu chỉ xảy ra trong lĩnh vực kinh tế, nhưng nay đã lan sang các lĩnh vực vốn được coi trọng về đạo lý, như giáo dục, y tế, thực hiện chính sách xã hội, nhân đạo, từ thiện, phòng chống dịch bệnh… Thiết nghĩ, sự đánh giá như vậy là xác đáng, nhưng có lẽ chưa hoàn toàn đầy đủ nếu xét thêm đặc thù “tham nhũng tập thể”  như “chấy rận” khá  độc đáo có lẽ chỉ có ở VN nhưng chưa được phản ảnh trong các báo cáo và điều tra quốc tế. 
 
Dù sao đánh giá về tình trạng tham nhũng của Việt Nam của Tổ chức Minh bạch Quốc tế là một tiếng chuông báo động tuy chậm nhưng trước khi quá muộn đối với VN. Chậm là vì nó VN đã đánh mất cơ hội phát triển, nhưng sẽ là quá muộn nếu nó khiến VN lại rơi vào tình trạng mất độc lập tự chủ một lần nữa. Người VN hẳn còn nhớ, sau đai thắng tháng 4/1975 kết thúc 30 năm chiến tranh và hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc, một nước Việt Nam thống nhất với hình chữ S đầy đủ trên bản đồ thế giới . Lúc đó không chỉ người VN mà thế giới đều tin đất nước và dân tộc anh hùng này sẽ làm nên một kỳ tích kinh tế giống như Nhật Bản đã làm được sau thế chiến II. Một số chuyên gia thậm chí còn cho rằng sự tàn phá của chiến tranh là điều kiện thuận tiện để VN tiến thẳng lên công nghiệp hóa và hiện đại hóa.  Nhưng niềm hy vọng đó đã dần lùi xa và và xa mãi. Không biết đến nay sau 42 năm có còn ai hy vọng? Có một điều đáng tiếc rằng cho đến gần đây, mỗi khi nói về nguyên nhân, không chỉ giới lãnh đạo mà người dân VN có xu hướng cho là “do hậu quả chiến tranh” hoặc “các thế lực thù địch”, về phần mình nếu có chỉ là “sự yếu kém” chung chung của “cơ chế” và do kinh nghiệm…, trong khi coi nhẹ nguyên nhân tham nhũng, thậm chí có người còn coi là “chất bôi trơn cần thiết” (!?) 
 
Tuy nhiên, cùng với thời gian, tham nhũng đã cho thấy sức tàn phá ghê gớm của nó. Nó không chỉ ngăn cản sự phát triển kinh tế mà còn làm mất lòng tin của nhân dân vào uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước. Hàng loạt các vụ tham nhũng quy mô lớn có sự câu kết xuyên quốc gia, thậm chí được chỉ đạo từ cấp cao nhất trong hệ thống công quyền, cho thấy tham nhũng giờ đây đã trở thành là “giặc nội xâm”. Tình trạng này trùng hợp với nguy cơ “giặc ngoại xâm” đang đang lăm le với những thủ đoạn vô cùng trắng trợn và xảo quyệt. Hai kẻ thù này đang cùng lúc uy hiếp nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước./. 
 
 
 

Từ chỗ đứng người dân nhìn về thời sự đất nước – HDTG

28 Th8

Từ chỗ đứng người dân nhìn về thời sự đất nước

Vụ “bầu Kiên” là khúc dạo đầu cho một sự chuyển động. Nhưng chuyển động về hướng nào, là một câu hỏi với nhiều luận bàn ý kiến khác nhau, phát xuất từ nhiều chỗ đứng của các tầng lớp dân chúng trong nước và chính khách nước ngoài, trong mối liên hệ lùng nhùng giữa tình hình kinh tế và chính trị hiện nay.
Đấu tranh phe phái nội bộ của giới lãnh đạo chóp bu để tranh giành quyền lực, hay đấu tranh chống thế lực tiêu cực tham nhũng đang khuynh loát nền kinh tế quốc gia, cái nào là mục tiêu chính, do thế lực nào trong Đảng dẫn dắt, nó sẽ diễn biến tới đâu là điểm dừng, và chịu sự tác động nào trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước miệng hùm Bắc Kinh…là những câu hỏi cần được giải đáp ! Trước nhiều dự đoán và quan điểm khác nhau, người dân thì cũng có cái nhìn từ chỗ đứng của mình mặc dù các luồng thông tin đang bị khép chặt, bưng bít và tù mù, theo định hướng của nhà cầm quyền !
 
Dư luận từ phương Tây–Báo Wall Street Journal (qua BBC), đặt dấu hỏi về vụ bắt ông bầu Kiên, xem đây là sự kiện mở đầu cho : “ Sự thù địch với giới đại gia hay các thế lực chính trị đang đánh nhau ?” Bài báo đã đưa ra những lời lẽ sau đây : “làn sóng bức xúc với giới giàu có”, “sự khó chịu của dân chúng về giới có của”, từ các khu vực tập đoàn Nhà Nước, đang “lan ra khu vực tư doanh”, làm cho kế hoạch “tư nhân hóa chựng lại”. “Tranh chấp nội bộ làm hại cho cuộc cải cách giải quyết nợ xấu đang tác hại nghiêm trọng cho tương lai cuộc cải cách kinh tế, để bắt kịp nhịp tăng trưởng cần thiết nhằm đưa VN trở thành một thị trường hấp dẫn thế giới…” Và báo này kết luận : “ Các lãnh đạo chóp bu không thích nghi được với tình hình thực tế là nền kinh tế thị trường ngày càng trở nên toàn cầu hóa ở VN, (làm trở ngại) một số nỗ lực cải tổ các công ty quốc doanh và chống tình trạng địa phương cục bộ…”.  Hình như “sự giận dữ đang dồn về TT NTD, người có quá nhiều quyền lực trong tay mình, ưu ái một nhóm nhỏ các tập đoàn tư nhân và công ty NN”. Trong bài viết  ám chỉ nhẹ nhàng về TT Nguyễn Tấn Dũng như là người có công trong việc cổ xúy và thực hiện được một bước đổi mới kinh tế thị trường, chúng ta có thể cảm nhận qua bài báo, có vẻ không có cái nhìn tích cực lắm về cuộc vận động chống tiêu cực trong Đảng  nầy, ngoài vấn đề tiêu cực, phải chăng có e ngại nào đó về xu hướng chính trị  ngấp nghé đằng sau nó ? (ví dụ là co lại theo hướng bảo thủ hay hướng mở rộng hướng kinh tế thị trường).
 
Đúng vậy, một bộ phận nhân dân có ghi nhận điều nầy một cách công bằng, về ông Thủ tướng, trước khi xảy ra đợt suy thoái có tính chất trầm trọng đang diễn ra. Và chắc rằng những nhận định trên đây của bài báo không sai, cuộc đánh phá vào hệ thống tham nhũng không tránh khỏi những mặt trái gây nên trì trệ, có thể còn là tác động tiêu cực mức nào đó cho nền kinh tế, làm chậm đà hội nhập, thậm chí gây ảnh hưởng không tốt cho tiến trình dân chủ hóa đang vô cùng cần thiết đối với VN.
 
Nhưng trước hết, không thể trách cứ sự phẩn nộ của người dân, cũng giống như người dân ở bất cứ quốc gia nào, kể cả ở nước Mỹ. Có người dân nào lại hài lòng hay bàng quang trước sự làm giàu phi pháp, trắng trợn, đầy hãnh tiến của một bọn người tham lam cấu kết với các thế lực cầm quyền, luôn ưu ái dành riêng cho họ những đặc quyền bên trong, thậm chí bên trên của luật pháp ? Người dân không ganh ghét với những ai giàu có do làm ăn chân chính bằng tài năng của mình, trên cơ sở cạnh tranh công bằng, vốn là nguyên tắc căn bản của các thể chế dân chủ mà các nước có nền kinh tế phát triển hằng chủ trương. Người dân cũng không thể không bất bình trước cách hành xử thiếu công bằng, thiếu minh bạch và nhiều khuất tất  của tập đoàn cầm quyền, quản lý và điều hành cấp vĩ mô. Bài báo cũng trích lời ông Đặng Hùng Võ, như bày tỏ sự đòi hỏi xa hơn của một đợt chỉnh đốn : “Rất khó mà giảm được nạn tham nhũng bởi các nhóm có quyền lợi gồm cả các quan chức nhà nước, các lãnh đạo cấp tỉnh và các nhà đầu tư”.
 
Chính GS Carlyle Thayer, nhà nghiên cứu nổi tiếng, có xu hướng bênh vực, cổ xúy cho kinh tế thị trường hội nhập, đã nhận xét : “Không ai ở VN có được tài sản lớn mà không có quan hệ mật thiết với các thành viên quyền lực của Đảng CSVN” Như vậy, còn lý do gì để nghi ngờ tính chất cần thiết của cuộc chống tham nhũng nầy, dù nó có ẩn chứa một cuộc tranh giành quyền lực nội bộ, hoặc làm chựng lại sự phục hồi của nền kinh tế đi nữa ! Tình thế bắt buộc không con đường nào khác, người dân phải tích cực đứng lên, tham gia mạnh mẽ vào công cuộc chống bọn quan tham và nhóm “mafia” lợi ích, qua đó sức mạnh dân chủ của nhân dân có thể lớn mạnh, để rồi hy vọng một cơ may nào đó, thay vì chịu đựng nằm dài trong tấm chăn bùng nhùng của một thứ cơ chế ngột ngạt hiện hữu. Về mặt nầy, ông CTN Trương Tấn Sang có lý, như trong bài viết của ông : “Cố gắng như những năm vừa  qua không còn đủ nữa”. Phải “Đổi mới quyết liệt, theo kịp thời đại, giải pháp đồng bộ mọi lãnh vực. Bất cập về quản lý kinh tế có nguy cơ chuyển sang căn  bệnh khác nguy hiểm không kém, trong khi đó phải đối mặt với áp lực mới.” (bọn xâm lược Bắc Kinh?). Đấy là điều ông Chủ tịch viết, dân đọc, nói, dân nghe. Nhưng dân đòi hỏi phải nhìn thấy hành động cụ thể. Vì đã có quá nhiều lời nói sáo rỗng của các vị lãnh đạo, chỉ nói theo những từ ngữ giáo điều và tối nghĩa vòng vèo rất chán tai.
 
Hành động của nhà nước hay là sự tranh giành quyền lực? GS Carlyle Thayer  đưa ra nhận xét : “Kể từ khi theo đuổi chính sách đổi mới với mức tăng trưởng kinh tế cao, Nhà nước trở nên mạnh hơn Đảng. Tăng trưởng cao do TT NTD cổ xúy, kéo theo sự bùng nổ các hoạt động thương mại vượt quá tầm và khả năng quản lý hiệu quả. Sự suy yếu bộc lộ rõ, ít nhất là trong lãnh vực tài chánh, ngân hàng. Mặt trái đó của chính sách khiến nhiều người trong đảng sợ mất kiểm soát để ổn định chính trị. Đợt phê bình và tự phê bình hy vọng kéo lại quyền lực cho đảng để kiểm tra, giám sát chính quyền hiệu quả hơn”.
 
Nếu không phải là cuộc đấu đá của các cá nhân trong giới chóp bu, thì chính là sự đấu tranh quyền bính giữa các thế lực trong đảng và trong chính quyền.
 
Đương nhiên sự mâu thuẩn là có sẵn trong mọi sự việc, nói chi trong Chính quyền hay trong Đảng, đặc biệt khi chỉ có một đảng thì phải đấu tranh với nhau chứ còn với ai khác ! Các quốc gia trên thế giới đều có mâu thuẩn và đấu tranh nội bộ gay gắt, không nơi nào không có, thậm chí “đấm” nhau trong nghị trường, nhưng khác VN ở chỗ, nó diễn ra công khai, có cơ quan độc lập làm trọng tài, rộng hơn nữa là trọng tài dân chúng giám sát và  phản ánh qua lá phiếu tín nhiệm trong bầu cử. Họ đấu tranh với nhau trên những đường ray pháp lý thiết lập sẵn, không ai được phép đi trệch khỏi đường ray đó. Vì thế không sinh ra những tay sát thủ trong bóng tối, những cuộc thanh trừng hàng loạt của phe cánh, kéo theo các đổ vỡ xáo trộn xã hội. Động thời cũng không có sự nhập nhằng đổ vấy trách nhiệm cho nhau. Một quan chức cao cấp trong Đảng nói (cũng theo bài báo Wall Street Journal): “Khi kinh tế khó khăn, mọi người mất tiền, thì Đảng sẽ biết mình bị đổ lỗi”. Với nhân dân, thật sự không quan tâm việc quyền lực nằm trong tay ai, Đảng hay Chính quyền, vì một lẽ dễ hiểu, bởi dân không thể phân biệt là ai giữa “hai người” đó. Sự đổi chỗ cho nhau tùy tình huống, cũng có khi đó là một loại nghệ thật có tính toán. Lúc nào thì cũng có hai cụm từ đi đôi nhau : Đảng-Nhà nước / Nhà nước-Đảng. Và đảng lãnh đạo toàn diện. Vị quan chức cao cấp nào đó nói nghe hay! “Bị đổ lỗi” vì lẽ gì chứ, khi thắng lợi thì “vinh quang” và “lợi lộc” thuộc về ai ? Trong cuộc đấu tranh quyền bính giữa Đảng và Nhà nước, người dân không tham gia, đứng ngoài cuộc. Nhân dân chỉ đi theo lực lượng nào giữ được độc lập dân tộc và đưa đất nước đến dân chủ, tiến bộ .Việc đấu tranh chống tham nhũng luôn luôn đúng, đặc biệt là đối với người dân. Nhưng nó không thoát được ảnh hưởng của đấu tranh nội bộ. Bên trong và đằng sau của sự chỉnh đốn nầy là gì ? Cái khác nhau cơ bản của các phe phái trong bóng tối là gì ? Hay chỉ là sự đổi ngôi nhóm quyền lực cai trị ? Xu hướng nào đấu tranh cho độc lập và dân chủ ? Xu hướng nào có nguy cơ đưa đất nước đến độc tài lệ thuộc, mất chủ quyền vào tay ngoại bang ? Nếu không giải quyết dứt khoát về một cơ chế xã hội tiến bộ, thì cả xương máu của nhân dân đều đổ sông đổ biển, chỉ là thay nhóm nầy bởi nhóm tiêu cực khác không hơn kém. GS Adam Fforde, thuộc Đại Học Victoria(Australia) nêu lên nhận xét rất đáng chú ý : “Có một khoảng trống chính trị trong giới chóp bu Việt Nam và sự coi thường (của nhân dân và cấp dưới ?) đối với giới lãnh đạo, không dễ gì họ thoát khỏi tình thế nầy”.  Nhìn sang Trung Quốc, chúng ta cũng thấy một tình trạng rối rắm, có thể tương tự. Nhân dân TQ đang chịu đựng, đang đau khổ và không ngừng sự kháng cự mãnh liệt bộ máy cầm quyền độc tài của họ. Bộ máy cầm quyền đó, thêm nữa, hiện đang là kẻ thù xâm lược VN. Đó là phương hướng mà nhân dân VN quyết không đi theo.
 
Ông CTN Trương Tấn Sang, trong bài viết của ông, có ý như một thông điệp gởi gắm một cách kín đáo, người đọc có cảm nhận ông là người biết lắng nghe và có tinh thần đối thoại, không giáo điều, mang nhiều trăn trở thực tế, (khác với trăn trở trong mớ bòng bong lý luận giáo điều) : “những vướng mắc chằng chịt, níu bám, kìm giữ, căng kéo như tấm chăn…Lại có có tư tưởng rình rập mọi sơ hở để chống đối, thọc gậy bánh xe, thậm chí cỏng rắn cắn gà nhà..” Nhưng tiếc thay, tất cả những điều ông Chủ Tịch nói là tình hình, là não trạng có thật, từ cấp cao đến cấp thấp, trong mọi cơ quan ban ngành, và đã tồn tại từ lâu. Tình trạng xâu xé quyền lực không chỉ diễn ra ở VN, mà cả ở mô hình TQ từ khi Mao Trạch Đông lên nắm quyền đến ngày nay. Đó là hậu quả của một cơ chế không có pháp quyền. Mao đã nói gì, từ hội nghị Bắc Đới Hà ngày 21-8-1958 ? Rằng “Mỗi bản Nghị Quyết của chúng ta là luật, hội họp cũng là luật”. Thế mà các nghị quyết ấy chỉ có khả năng đem lại những cơn sóng thanh trừng bạo lực man rợ với cảnh đầu rơi máu chảy, vô hạnh thay khi thấy được nhân dân TQ chưa một ngày được sống trong tự do pháp quyền, dưới sự cai trị tàn khốc của đảng CSTQ. Ông Chủ Tịch TTS  nghĩ gì để thoát ra khỏi tấm mạng nhện “những vướng mắc chằng chịt…” đó không, khi mà cái màn chằng chịt nầy, người dân nghĩ có bàn tay gia cố của Bắc Kinh ?
 
Ông TBT Nguyễn Phú Trọng và ông CTN Trương Tấn Sang đều dùng từ “quyết liệt” và “kịp thời đại”. Sẽ quyết liệt tới đâu, và quan trọng hơn, là kịp “thời đại”nào ? Chắc chắn không phải là thời đại của quá khứ mà lịch sử đã bước qua !
 
Những “đau đớn” mà nhân dân cả nước đang phải gánh chịu từ sự suy thoái và đổ vỡ ngày hôm nay sẽ có được bù đắp bởi một tình hình sáng sủa hơn, trong chủ đích bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ,  tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ và phát triển bền vững ? Dân tộc và dân chủ là ý chí của toàn dân trong suốt lịch sử và càng bức thiết của thời đại hôm nay. Nếu không nhìn tận căn cơ của hai chữ thời đại và hội nhập toàn cầu, thì muôn lời nói đều trống rỗng, và cả cuộc đời còn lại của quý ngài cũng rỗng rang không kém.
 
Và, “không dễ gì họ thoát khỏi tình thế nầy”, như lời nhận xét ở trên của Adam Fforde./.
Hạ Đình Nguyên

‘Hoa Kỳ không nên đổi chác nhân quyền tại Việt Nam’ – VOA

28 Th8

‘Hoa Kỳ không nên đổi chác nhân quyền tại Việt Nam’

 

Giám đốc Chương trình Luật Quốc tế và Đối chiếu của Trường Luật Đại học Stanford (Hoa Kỳ), Giáo sư Allen Weiner

 Giám đốc Chương trình Luật Quốc tế và Đối chiếu của Trường Luật Đại học Stanford kêu gọi Mỹ nên nỗ lực cụ thể hơn nữa ngoài những lời lẽ bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam.

Trong bài xã luận đăng trên báo Washington Post ngày 26/8, Giáo sư Allen Weiner của Trường Luật đại học Stanford trình bày thực trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam với các vụ bắt bớ những nhà hoạt động, những người bất đồng chính kiến và cho rằng Hoa Kỳ không nên phát triển các mối quan hệ thương mại sâu hơn với VIệt Nam mà không cùng lúc thúc đẩy Hà Nội phải tôn trọng các cam kết của họ với quốc tế về tôn trọng nhân quyền.

1
7 nhà hoạt động Công giáo trẻ có liên hệ với Dòng Chúa Cứu Thế bị bắt vì bị tố cáo vi phạm các điều luật như ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ và ‘tuyên truyền chống nhà nước’
x

17 nhà hoạt động Công giáo trẻ có liên hệ với Dòng Chúa Cứu Thế bị bắt vì bị tố cáo vi phạm các điều luật như ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ và ‘tuyên truyền chống nhà nước’

Giáo sư Weiner đề nghị các giới chức Mỹ nên yêu cầu Việt Nam nên bắt đầu bằng việc phóng thích 17 nhà hoạt động Công giáo trẻ bị bắt giữ từ năm ngoái và những nhà tranh đấu nhân quyền khác bị giam cầm chỉ vì đã tìm một tiếng nói cho tương lai của đất nước.

Trong cuộc phỏng vấn với đài VOA giáo sư Weiner nhấn mạnh:

“Tôi là một người am hiểu về luật quốc tế. Tôi nghiên cứu và làm việc về luật quốc tế. Tôi cống hiến cả đời mình tìm hiểu về luật quốc tế. Tôi nhìn vào các trường hợp bị bắt giữ này tại Việt Nam và rõ ràng rằng đây là những vi phạm nhân quyền, vi phạm luật quốc tế. Những người như tôi, giảng dạy và nghiên cứu về luật quốc tế cũng phải có nghĩa vụ tìm cách đánh động sự lưu tâm của các chính phủ và tổ chức quốc tế đối với các trường hợp vi phạm những cam kết với quốc tế như chính phủ Việt Nam đang làm. Tôi cho rằng các luật lệ mà Việt Nam dựa vào để buộc tội những người thực thi các quyền này như điều 79 hay 88 ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’ hay ‘tuyên truyền chống nhà nước’ là các điều luật vô hạn, với câu chữ mơ hồ, không phù hợp với một nhà nước pháp quyền. Những gì mà chính quyền Việt Nam đang làm cho thấy chỉ vì không thích các quan điểm chỉ trích các chính sách của nhà nước, và thay vì giải quyết vấn đề, đáp ứng yêu cầu của người dân đòi được dân chủ hơn, thì nhà nước lại dùng quyền lực để bắt bớ họ. Luật quốc tế không cho phép làm như thế.”

Những gì mà chính quyền Việt Nam đang làm cho thấy chỉ vì không thích các quan điểm chỉ trích các chính sách của nhà nước, và thay vì giải quyết vấn đề thì nhà nước lại dùng quyền lực để bắt bớ họ. Luật quốc tế không cho phép làm như thế
Giáo sư Allen Weiner.

Giáo sư Weiner nói Hoa Kỳ không nên tưởng thưởng cho chính quyền Hà Nội bằng cách đồng ý để cho Việt Nam vào Đối tác Xuyên Thái Bình Dương trong khi mà Hà Nội vẫn tiếp tục sử dụng các luật lệ mơ hồ của họ để bóp nghẹt những tiếng nói bất đồng và  vi phạm nhân quyền của công dân.
 
Mới đây, Giáo sư Weiner vừa đại diện cho 17 nhà hoạt động trẻ đang bị giam cầm tại Việt Nam gửi thỉnh nguyện thư lên Ủy ban Điều tra về Giam giữ tùy tiện của Liên hiệp quốc (UNWGAD) trình bày về việc Hà Nội bắt giữ bất hợp pháp, giam giữ kéo dài các nhà hoạt động này và đề nghị cơ quan của Liên hiệp quốc kêu gọi Việt Nam phải phóng thích họ ngay lập tức.

17 người trẻ này bị bắt từ tháng 7 năm 2011, bị cáo buộc vi phạm các điều luật hình sự về ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’và ‘tuyên truyền chống nhà nước’ sau khi họ tham gia các hoạt động cổ võ cho nhân quyền, công lý, chống lại những sự đàn áp, bất công.

Nguồn: Washington Post, VOA’s Interview

Úc – Việt đẩy mạnh hợp tác quốc phòng – BBC

28 Th8

Úc – Việt đẩy mạnh hợp tác quốc phòng

 
 
Stephen Smith phát biểu tại cuộc họp thượng đỉnh an ninh Châu Á tại Singapore hồi tháng SáuÔng Stephen Smith nói tàu quân sự Australia sẽ thường xuyên tới thăm Việt Nam

Bộ trưởng Quốc phòng Australia Stephen Smith sẽ có chuyến thăm Việt Nam trong tuần này trong nỗ lực thúc đẩy quan hệ giữa quân đội hai nước, hãng thông tấn Australia AAP đưa tin.

Ông Smith rời Australia trong ngày thứ Ba 28/8 cho chuyến thăm thứ hai của ông tới Hà Nội với tư cách bộ trưởng quốc phòng.

 

Trong khuôn khổ chuyến đi, ông Smith sẽ hội đàm với người tương nhiệm Phùng Quang Thanh.

AAP trích tuyên bố của ông Smith: “Việt Nam đang chứng tỏ là nước có ảnh hưởng mạnh trong Asean và các diễn đàn liên quan.

“Khi Việt Nam tiếp tục phát triển, Australia hoan nghênh nước này có vai trò lớn hơn trong việc góp phần giữ an ninh và ổn định trong khu vực.

“Quan hệ quốc phòng và quân đội đang phát triển giữa Australia và Việt Nam dựa trên mối quan tâm chung tới an ninh khu vực và tăng cường quan hệ thông qua các liên hệ đa phương và khu vực.”

‘Thăm trường đặc công’

Theo APP, ông Smith cũng sẽ tới thăm một số trường trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam trong đó có Học viện Quốc phòng và Trường Sỹ quan Đặc công.

Vị bộ trưởng quốc phòng cũng sẽ khai trương trung tâm đào tạo tiếng Anh do Australia tài trợ tại Học viện Kỹ thuật Quân sự với mục tiêu đào tạo 700 sinh viên Việt Nam mỗi năm.

“Australia và Việt nam đã đẩy mạnh hợp tác hải quân trong đó có các chuyên thăm thường xuyên của tàu [quân sự].”

Bộ trưởng Quốc phóng Stephen Smith

Ông Smith được dẫn lời nói hợp tác quốc phòng với Việt Nam đã mở rộng sang cả việc tăng cường năng lực cho các sứ mạng gìn giữ hòa bình và quan hệ giữa lực lượng đặc nhiệm của hai nước.

Ông nói thêm: “Australia đã đào tạo cho 80 người Việt Nam trong quá trình chuẩn bị sẵn sàng cho các sự mạng hòa bình của Liên Hiệp Quốc.”

“Australia và Việt nam đã đẩy mạnh hợp tác hải quân trong đó có các chuyến thăm thường xuyên của tàu [quân sự].

“Tàu HMAS Sydney sẽ thăm Hà Nội vào tháng Mười.

“Australia dành 80 suất cho các quân nhân của Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia học tiếng Anh ở Australia mỗi năm.”

 

Việt Nam giữa ba tầng tranh chấp Biển Đông – TVN

28 Th8

Việt Nam giữa ba tầng tranh chấp Biển Đông

Tác giả: Lê Hồng Hiệp
 
 
 Vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay đang là thách thức lớn nhất về mặt an ninh – quốc phòng cũng như đối ngoại của Việt Nam, có ảnh hưởng to lớn đến tương lai hòa bình và phát triển của đất nước.

Việc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông đòi hỏi ở Việt Nam sự khôn ngoan, kiên trì về chiến lược lẫn sự khéo léo, kịp thời về sách lược, nhất là khi cuộc tranh chấp ngày càng trở nên phức tạp và không chỉ liên quan đến Việt Nam, Trung Quốc mà còn cả các nước khác trong và ngoài khu vực.

Ba tầng xung lực tranh chấp Biển Đông

Xét tổng thể, tranh chấp Biển Đông hiện đang diễn ra ở ba tầng nấc liên quan và tác động lẫn nhau. Ở tầng trong cùng, cuộc tranh chấp là sự cạnh tranh, đối đầu giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á có yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông, bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei. Ở tầng này, mặc dù Đài Loan cũng là một bên tranh chấp nhưng do đặc thù quan hệ Trung – Đài cũng như những dấu hiệu cho thấy Trung – Đài đang phối hợp với nhau trong việc đối phó các bên tranh chấp khác, thể hiện rõ nhất qua đề xuất Trung – Đài cùng phối hợp khai thác đảo Ba Bình của Việt Nam gần đây, nên có thể coi Trung Quốc và Đài Loan về bản chất chỉ là một bên tham gia tranh chấp mà thôi.

Trong số các nước Đông Nam Á tham gia tranh chấp, khác với Malaysia và Brunei, Việt Nam và Philippines không những là hai nước cùng có tuyên bố chủ quyền đối kháng với Trung Quốc liên quan đến toàn bộ quần đảo Trường Sa mà còn có những tranh chấp song phương riêng lẻ với Trung Quốc. Trong khi Việt Nam có tranh chấp song phương với Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa thì bãi cạn Scarborough cũng là một đối tượng tranh chấp song phương chỉ liên quan đến Philippines và Trung Quốc. Chính vì vậy, có thể nói ở tầng trong cùng của tranh chấp Biển Đông, sự đối đầu tập trung vào tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines.

Trong khi đó, tầng giữa của tranh chấp Biển Đông liên quan đến sự đối đầu giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á với tư cách là một khối, cụ thể là ASEAN. Mặc dù không phải tất cả các nước ASEAN đều liên quan đến tranh chấp nhưng bản thân ASEAN có lợi ích trong việc giải quyết thành công cuộc tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan với Trung Quốc nhằm bảo đảm hòa bình, an ninh, tự do hàng hải trong khu vực cũng như vị thế chính trị của ASEAN.

Ảnh Lê Anh Dũng

Sự vận động chiến lược ở tầng tranh chấp này cũng hết sức phức tạp khi bản thân các nước ASEAN không liên quan trực tiếp tới tranh chấp cũng có những lập trường khác nhau trong việc xử lý tranh chấp với Trung Quốc. Trong khi những nước như Indonesia và Singapore tỏ ra cương quyết hơn với Trung Quốc chủ yếu vì e ngại tham vọng của Trung Quốc ở khu vực thì những nước như Thái Lan, Myanmar, và đặc biệt là Campuchia, lại không thể hiện thái độ cứng rắn, nếu không muốn nói là có phần thỏa hiệp, đối với những yêu sách ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, nhìn chung với tư cách là một khối thì ASEAN vẫn đang cố gắng thể hiện một vai trò đoàn kết và chủ động trong việc xử lý cuộc tranh chấp Biển Đông lẫn quan hệ của cả khối với Trung Quốc, thể hiện rõ nhất trong việc ASEAN chủ trì đàm phán xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông với Trung Quốc.

Lâu nay, cuộc tranh chấp Biển Đông chủ yếu chỉ diễn ra ở phạm vi hai tầng vừa nêu. Tuy nhiên những diễn biến trong tình hình khu vực thời gian qua cho thấy hiện nay xung lực của cuộc tranh chấp còn xuất phát từ một tầng quan hệ mới được hình thành, đó chính là cuộc cạnh tranh mang tính chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ.

Mỹ mặc dù không phải là một bên trực tiếp tham gia tranh chấp nhưng tham vọng quá mức cũng như sự ngang ngược ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, vốn đe dọa hòa bình và ổn định của khu vực, mang lại cho Mỹ một lý do chính đáng để can dự vào cuộc tranh chấp. Điều mà Mỹ muốn đảm bảo thông qua sự can dự của mình không chỉ là hòa bình hay quyền tự do hàng hải trên Biển Đông, mà sâu xa hơn Mỹ dường như đang muốn sử dụng cuộc tranh chấp Biển Đông như một công cụ nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc ở phạm vi khu vực cũng như toàn cầu.

Sự can dự gia tăng của Mỹ

Để hiểu được chính sách của Mỹ ở Biển Đông chúng ta cần đặt nó vào bức tranh chiến lược rộng lớn hơn. Những thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã không ngừng trỗi dậy về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế và quân sự, khiến cho cán cân lực lượng toàn cầu hiện nay vốn đang có lợi cho Mỹ có thể bị thách thức và đảo ngược. Theo lập luận của các lý thuyết về quan hệ quốc tế, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực, thì nếu như sự trỗi dậy của Trung Quốc vẫn tiếp diễn tới một mức độ mà các lợi ích và vị thế toàn cầu của Mỹ bị đe dọa thì Mỹ sẽ phải hành động đáp trả bằng cách tìm cách ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc nhằm duy trì địa vị áp đảo của mình trong hệ thống quốc tế.

Vừa qua Mỹ đã quyết định tái cân bằng lực lượng toàn cầu của mình theo hướng ưu tiên khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Cụ thể, tại Singapore tháng 6 vừa qua Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã tuyên bố trong thời gian tới Mỹ sẽ điều chuyển tới khu vực Thái Bình Dương 60% năng lực hải quân của mình, thay vì cân bằng tỉ lệ 50-50 giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương như hiện nay. Biện pháp tái cân bằng chiến lược này cùng với một loạt động thái như luân chuyển quân tới Australia, củng cố quan hệ với các đồng minh trong khu vực… rõ ràng đều liên quan đến sự trỗi dậy của Trung Quốc và có thể được coi như những dấu hiệu đầu tiên của một chính sách ngăn chặn mà Mỹ đang manh nha hình thành đối với Trung Quốc.

Tương tự như vậy, ở khu vực Đông Nam Á, sự can dự ngày càng tăng của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là từ năm 2010 đến nay, cũng cho thấy Mỹ đang tìm cách ngăn chặn Trung Quốc hiện thực hóa các tham vọng biển quá mức và sử dụng “mối đe dọa Trung Quốc”, thể hiện qua yêu sách đường lưỡi bò và sự ngang ngược ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, làm “ngọn cờ chính nghĩa” tập hợp lực lượng khu vực phục vụ mục tiêu ngăn chặn Trung Quốc của mình.

Hệ lụy đối với Việt Nam

Sự can dự ngày càng tăng của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông chắc chắn tác động tới quan điểm chiến lược của Việt Nam trong việc đối phó với Trung Quốc trên Biển Đông. Là một nước nhỏ, tiềm lực hạn chế hơn Trung Quốc về mọi mặt, Việt Nam có lợi ích trong việc chuyển hóa tranh chấp của mình với Trung Quốc từ tầng trong cùng ra các tầng bên ngoài nhằm hóa giải tác động tiêu cực của tình trạng bất đối xứng trong sức mạnh giữa hai nước.

Rõ ràng sự can dự của Mỹ, dù mới chủ yếu dừng ở mức gián tiếp, sẽ có tác dụng khiến Trung Quốc hành động kiềm chế, thận trọng hơn, và có thể không dám sử dụng vũ lực trong hành xử của mình ở Biển Đông. Vai trò và tiếng nói của ASEAN với tư cách là một khối trong xử lý tranh chấp với Trung Quốc cũng có sức nặng lớn hơn khi có sự hậu thuẫn của Mỹ.

Ngoài ra, các ý định mang tính chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc cũng tạo điều kiện cho Việt Nam, một quốc gia có vị trí địa chiến lược và lịch sử quan hệ đặc biệt với Trung Quốc, trở nên quan trọng hơn trong mắt các nhà hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ. Việc lý giải sự quan tâm lớn hơn của Mỹ đối với Việt Nam cũng như sự phát triển ấn tượng của quan hệ Việt – Mỹ thời gian qua chính vì vậy cần phải dựa trên bối cảnh những chuyển biến trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và khu vực.

Mặc dù vậy, sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ cũng như việc Mỹ gia tăng can dự vào tranh chấp Biển Đông cũng mang lại cho Việt Nam một số rủi ro nhất định, trong đó rủi ro lớn nhất là việc Việt Nam có thể bị cuốn vào một cuộc Chiến tranh lạnh phiên bản 2.0. Nếu cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc trở nên khốc liệt hơn thì Việt Nam với tư cách là một nước láng giềng của Trung Quốc và là một bên tham gia tranh chấp Biển Đông sẽ gặp vô vàn khó khăn trong việc duy trì sự cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như tránh bị vạ lây bởi sự đối đầu giữa hai cường quốc.

Khi Mỹ tìm cách tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực với hàm ý nhắm vào Trung Quốc thì Trung Quốc chắc chắn sẽ không ngồi yên. Ví dụ, khi Mỹ gia tăng can dự vào Biển Đông và quan hệ Việt – Mỹ trở nên nồng ấm hơn thì Trung Quốc sẽ tìm cách răn đe Việt Nam, trên mọi phương diện: kinh tế, quân sự, ngoại giao… Các báo cáo về việc Trung Quốc hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam những tháng qua, lập đơn vị quân đội đồn trú tại cái gọi là “thành phố Tam Sa”, hay tác động vào Campuchia như tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 45 nhằm vừa phá vỡ áp lực của quốc tế nhắm vào Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, vừa gây chia rẽ quan hệ Việt Nam – Campuchia (vốn là một mối quan hệ không kém phần trọng yếu đối với an ninh của Việt Nam)… đều cần được lý giải dựa trên những vận động vừa qua trong tam giác quan hệ Mỹ – Việt – Trung lẫn vấn đề Biển Đông.

Đã từng là nạn nhân của cuộc Chiến tranh lạnh thế kỷ 20, Việt Nam sẽ cần thận trọng để không trở thành nạn nhân của một cuộc Chiến tranh lạnh mới. Tuy nhiên viễn cảnh về việc Việt Nam bị cuốn vào một cuộc Chiến tranh lạnh mới giữa Mỹ và Trung Quốc cũng không nên bị thổi phồng, bởi viễn cảnh này còn phụ thuộc vào sự phát triển của nhiều yếu tố khác nhau trong tương lai. Yếu tố quan trọng nhất chính là mức độ căng thẳng trong cạnh tranh chiến lược giữa hai cường quốc. Khác với thời kỳ Chiến tranh lạnh trước đây, tình trạng phụ thuộc lẫn nhau sâu rộng về kinh tế hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ khiến cho hai nước không muốn tham gia vào một cuộc đối đầu toàn diện tốn kém như giữa Mỹ và Liên Xô trước đây.

Ngoài ra, các phát triển trong chính sách đối ngoại của Mỹ, Trung Quốc, lẫn bản thân Việt Nam cũng sẽ có ý nghĩa quan trọng. Ví dụ, nếu Trung Quốc có nhượng bộ trong tranh chấp Biển Đông, như chấp nhận xem xét lại yêu sách đường lưỡi bò hay cùng ASEAN thông qua Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông, thì hình ảnh Trung Quốc sẽ trở nên bớt đe dọa hơn và vì vậy chính sách ngăn chặn Trung Quốc của Mỹ cũng sẽ trở nên ít thuyết phục hơn. Theo đó, nguy cơ đối đầu chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc cũng như việc các nước nhỏ bị cuốn vào cuộc đối đầu này cũng sẽ giảm xuống.

Tóm lại, tranh chấp Biển Đông với ba tầng xung lực đan xen đang dần mang một sắc thái mới với sự can dự ngày càng sâu sắc của các nước lớn bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, trong bối cảnh Mỹ dường như đang muốn sử dụng tranh chấp Biển Đông như một công cụ để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Bối cảnh này một mặt có thể khiến Trung Quốc buộc phải kiềm chế và giúp cho tranh chấp Biển Đông được giải quyết một cách hòa bình, mặt khác cũng có thể khiến cuộc tranh chấp thêm phần phức tạp nếu Trung Quốc tiếp tục cứng rắn và đối đầu chiến lược Trung – Mỹ trở nên sâu sắc hơn.

Tình hình đó mang lại cho Việt Nam những thuận lợi lẫn thách thức mới trong việc xử lý tranh chấp Biển Đông và giải quyết quan hệ với các nước lớn, đòi hỏi ở Việt Nam hơn lúc nào hết một sự bản lĩnh, khôn ngoan và khéo léo trong việc hoạch định và thực thi các chính sách chiến lược của mình.

Lê Hồng Hiệp là Giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TPHCM, và hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, Canberra.

 

%d bloggers like this: