Lưu trữ | 4:14 Chiều

Người con xa xứ và 80 tấm bản đồ – SGTT

31 Th8

Người con xa xứ và 80 tấm bản đồ

SGTT.VN

– Kể từ khi TS Mai Hồng (viện Nghiên cứu Hán – Nôm) công bố tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh (Trung Hoa) ấn hành năm 1904, với chi tiết điểm cực nam của lãnh thổ Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam, thì một người Việt khác đang sống ở Hoa Kỳ cũng bước vào cuộc tìm kiếm những tấm bản đồ tương tự ở hải ngoại. Anh là Trần Thắng, chủ tịch viện Văn hoá giáo dục Việt Nam (IVCE) tại Hoa Kỳ. Cuộc tìm kiếm của anh đã thu được những thành quả ban đầu.

 

 
Trần Thắng và cuốn Postal Atlas of China (1933) mà anh vừa mua được. Ảnh: do nhân vật cung cấp.

 

 

 

 

 

 

 

 

Thực ra từ năm 2010, Trần Thắng đã tiếp xúc với những tấm bản đồ liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lúc đó, tôi và các đồng nghiệp ở viện Nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng đang triển khai đề tài nghiên cứu Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình nghiên cứu, tôi được biết một số thư viện ở Hoa Kỳ như thư viện đại học Princeton, thư viện Astor ở New York, thư viện đại học Columbia… đang lưu giữ những tấm bản đồ do phương Tây xuất bản trong các thế kỷ 16 – 19, có vẽ hoặc ghi chú các quần đảo Paracel, Pracel… (Hoàng Sa) và Spartly (Trường Sa) thuộc về chủ quyền của Việt Nam. Tôi nhờ Trần Thắng tìm đến những thư viện trên để xin sao chụp các bản đồ này gửi về cho tôi.

Đến ngày 25.8.2012, Trần Thắng đã mua được 80 bản đồ riêng lẻ được in ấn tại Anh, Ðức, Úc, Canada, Mỹ và Hong Kong trong khoảng thời gian 1626 – 1980. Những bản đồ này gồm hai nhóm: nhóm thứ nhất là những bản đồ Trung Quốc, trên đó, phần lãnh thổ của Trung Quốc luôn được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét, để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng và chung một đặc điểm là cương giới của Trung Quốc chỉ đến cực nam của đảo Hải Nam. Nhóm thứ hai là những bản đồ Việt Nam hoặc bản đồ khu vực Đông Nam Á, trên đó có thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Đặc biệt, Trần Thắng đã phát hiện ba tập atlas (tập bản đồ) do chính quyền Trung Quốc xuất bản trước đây, rất có giá trị trong việc phản biện những đòi hỏi chủ quyền vô lý của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn thứ nhất là Atlas of the Chinese Empire – Trung Quốc địa đồ, xuất bản năm 1908, in bằng tiếng Anh. Tập bản đồ này gồm một bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 22 bản đồ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ đều có kích thước 31 x 41cm. Ðây là tập bản đồ chính thức, được in lần đầu tại Trung Quốc với số lượng giới hạn. Tập bản đồ này do phái bộ The China Inland Mission, có trụ sở ở Thượng Hải, London, Philadelphia, Toronto và Melbourne, biên soạn và phát hành với sự giúp đỡ của tổng cục Bưu chính Thanh triều và sự trợ giúp kỹ thuật của một người Anh tên là Edward Stanford. Tập bản đồ này Trần Thắng mua từ một nhà sưu tập sách cũ ở Anh.

Cuốn thứ hai là Atlas Postal de Chine – Trung Hoa bưu chính dư đồ – Postal Atlas of China do tổng cục Bưu chính, thuộc bộ Giao thông Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh năm 1919. Sách được in bằng ba thứ tiếng: Trung – Anh – Pháp. Tập bản đồ này gồm một bản đồ tổng thể và 46 bản đồ các tỉnh, đều có kích thước là 61 x 71cm. Tập bản đồ này thuộc sở hữu của một nhà sưu tập ở Ba Lan và đang được rao bán với giá 5.000 USD.

Cuốn thứ ba cũng có tên Atlas Postal de Chine – Trung Hoa bưu chính dư đồ – Postal Atlas of China, cũng do tổng cục Bưu chính bộ Giao thông Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào năm 1933. Tập bản đồ này cũng in bằng ba thứ tiếng Trung – Anh – Pháp, gồm một bản đồ tổng thể và 29 bản đồ các tỉnh, bao gồm cả Tây Tạng và Mông Cổ. Các bản đồ được in với kích thước 61 x 71cm. Tấm bản đồ số 23 trong tập bản đồ này là bản đồ tỉnh Quảng Đông, bao gồm cả đảo Hải Nam. Vì đảo Hải Nam không nằm trọn trong bản đồ nên người ta in thêm phần đảo Hải Nam ở góc trái. Trần Thắng đã mua được tập bản đồ này từ một nhà sưu tập ở New York.

Các tập bản đồ này được đặt tên là Trung Hoa bưu chính dư đồ vì đây là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh vạch ra vào năm 1906 và được Chính phủ Trung Hoa dân quốc kế tục. Các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ các con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các tỉnh, thành của Trung Quốc. Vì thế, nơi nào không thuộc lãnh thổ Trung Quốc thì họ không đưa vào các tập bản đồ. Đây là những tài liệu chính thống do Nhà nước Trung Quốc phát hành vào nhiều thời điểm lịch sử khác nhau, và thể hiện rằng Trung Quốc luôn thừa nhận cương vực phía nam của họ chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam.

Hiện tại, Trần Thắng đang vận động bạn bè quyên góp tiền để mua cuốn Atlas Postal de Chine – Trung Hoa bưu chính dư đồ – Postal Atlas of China in năm 1919, vì đây là cuốn sách được in rất ít, có giá trị sử liệu cao.

Được biết, vào tháng 10 hoặc tháng 11 sắp tới, liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ tổ chức hội thảo quốc tế về Biển Đông. Vì thế, luật sư Trương Trọng Nghĩa, phó chủ tịch liên đoàn Luật sư Việt Nam, đã đề nghị Trần Thắng đưa toàn bộ số bản đồ mà anh mua được về Việt Nam, kết hợp với nguồn bản đồ của các nhà sưu tầm và nghiên cứu ở trong nước để tổ chức cuộc triển lãm chủ đề Bản đồ cổ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong khuôn khổ hội thảo này.

 

Bản đồ tỉnh Quảng Đông trong cuốn Postal Atlas of China xuất bản năm 1933. Phần lãnh thổ cực nam của Trung Quốc trong bản đồ này chỉ đến đảo Hải Nam.
Bản đồ tổng thể vẽ đế quốc Trung Hoa trong cuốn Atlas of the Chinese Empire xuất bản năm 1908.
Bản đồ tổng quát lãnh thổ của Trung Hoa dân quốc trong cuốn Postal Atlas of China xuất bản năm 1933.

Người Việt trẻ giỏi Toán đoạt giải thưởng Fulkerson – VOV

31 Th8

Người Việt trẻ giỏi Toán đoạt giải thưởng Fulkerson

GS Vũ Hà Văn: “Người trẻ Việt làm toán ở Mỹ rất triển vọng”.  

Giáo sư (GS) Vũ Hà Văn về nước dự Hội nghị Toán học tại Huế đúng dịp ở Berlin (Đức), một giải thưởng quốc tế lớn về toán học xướng tên anh – giải Fulkerson.

GS Vũ Hà Văn cho biết, mặc dù còn chưa nhiều nhà toán học người Việt nhận được những giải thưởng quốc tế, nhưng người trẻ Việt làm toán ở Mỹ rất triển vọng…

 

GS Vũ Hà Văn (ngoài cùng bên tay trái) cùng bố – nhà thơ Vũ Quần Phương, mẹ và vợ

 

PV: Thưa GS Vũ Hà Văn, anh có thể chia sẻ công trình mang đến giải thưởng Fulkerson cho mình?

GS Vũ Hà Văn: Bài toán mà tôi tham gia giải quyết được gọi là giả thuyết Shamir, do nhà toán học Israel Shamir nêu ra năm 1983, tổng quát hoá một mệnh đề của hai nhà toán học Hungary Erdos và Renyi từ năm 1966 và là một vấn đề trung tâm của lý thuyết đồ thị ngẫu nhiên.

Rất nhiều nhà toán học trong lĩnh vực toán rời rạc đã tiến hành giải bài toán Shamir nhưng kết quả đạt được vẫn còn tương đối xa giả thiết tối ưu.

Cách đây khoảng 10 năm, GS Johansson (Thụy Điển) viết một bài báo về một trường hợp con của giả thuyết Shamir. Nhưng bài đó không ai hiểu và có một số vấn đề chưa đươc giải quyết thoả đáng nên chưa được công bố.

Tôi mất nhiều tháng giải mã công trình này, và có cảm giác ý tưởng chung, nếu được trình bày bằng một phương pháp khác chính xác hơn, thì những vấn đề trên có khả năng giải quyết được.

Cùng với GS Kahn (một trong những nhà toán học xuất sắc nhất trong lĩnh vực toán rời rạc), khi đó là đồng nghiệp cùng trường Rutgers, bước đầu chúng tôi thành công trong việc hoàn thiện kết quả của Johansson.

Sau đó, chúng tôi nhận thấy phương pháp của mình có thể mở rộng ra trường hợp tổng quát của giả thuyết Shamir.

Mặc khác, nhờ áp dụng một số kết quả mới trong lý thuyết xác suất, chúng tôi có thể chứng minh giả thuyết này ở dạng mạnh hơn và đồng thời giải quyết hai bài toán liên quan được đặt ra bởi Erdos và Alon-Yuster.

Sau khi hoàn thành công trình dưới dạng tổng quát nhất có thể, chúng tôi đề nghị GS Johansson đứng tên chung, với nhan đề “Factors in Random Graphs”. Công trình này được xuất bản năm 2008.

 

GS Vũ Hà Văn sinh năm 1970, là con trai của nhà thơ Vũ Quần Phương. Những năm gần đây Vũ Hà Văn nổi danh trong giới làm toán Việt Nam  bởi anh là một trong số rất ít tài năng toán học người Việt được cộng đồng toán học quốc tế công nhận (thông qua các giải thưởng lớn có uy tín).

Vũ Hà Văn vốn là cựu học sinh chuyên toán của Hà Nội và học ĐH ở Hungary. Năm 1998 anh nhận học vị tiến sĩ tại ĐH Yale. Từ đó đến nay, anh từng làm việc tại nhiều ĐH và viện nghiên cứu của Mỹ như IAS, Microsoft Research, ĐH UC Sandiego, ĐH Rutgers.

Từ mùa thu năm 2011, anh trở thành giáo sư của ĐH Yale. Năm 2008 anh được tặng giải Polya, một giải thưởng lớn của Hội Toán học Công nghiệp và Ứng dụng Mỹ lập ra từ năm 1969.

Từ năm 2011, anh là thành viên của Hội đồng Khoa học của Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán, nơi GS Ngô Bảo Châu hiện làm lãnh đạo.

 

Sau công trình này tôi bắt tay vào nghiên cứu những đề tài khác. Bỗng tháng 6/2012, tôi nhận được thư từ hội đồng xét tặng giải thưởng Fulkerson, thông báo bài của chúng tôi được đánh giá là một trong những công trình xuất sắc nhất những năm gần đây (tính từ 6 năm trước ngày nhận giải).

Thời điểm đó, tôi không biết những công trình nào khác sẽ đoạt giải. Nhưng khi cập nhật thông tin lễ trao giải tôi được biết thầy giáo cũ của tôi, GS Lovász, cũng được tặng giải này qua một công trình làm chung với một nhà toán học trẻ Hungary.

PV:Trước đây đã bao giờ anh nghĩ sẽ nhận được giải này chưa? Khi nghe tin mình được giải, cảm xúc của anh thế nào?

GS Vũ Hà Văn: Cách đây 15 năm, hồi đó còn là nghiên cứu sinh, tôi có làm việc với một giáo sư trẻ (chỉ hơn tôi 6,7 tuổi) người Hàn Quốc tên là Jeong Han Kim.

Khi nghe tin anh ấy được giải Fulkersson năm 1997, tôi thấy rất ngưỡng mộ và tự hỏi, mình rồi có bao giờ được như anh ấy không nhỉ? Khi biết mình được giải tôi cũng lâng lâng và tự cho mình thư giãn vài ngày.

PV:Theo anh, nếu thay vì sang Mỹ, anh ở lại Hungary sau khi tốt nghiệp ĐH thì liệu có được giải thưởng Polya hay Fulkerson?

GS Vũ Hà Văn: Môi trường nghiên cứu khoa học ở Hungary cũng tương đối tốt. Nhưng nếu so với Việt Nam hay Thái Lan chẳng hạn thì sẽ rất khác nhau. Môi trường làm việc có ý nghĩa rất lớn.

Trong trường hợp của chúng tôi, văn phòng GS Kahn và tôi cách nhau có mấy bước chân. Khi có chủ đề cả hai cùng ưa thích thì gần như tuần nào, thậm chí ngày nào chúng tôi cũng có thể trao đổi trực tiếp.

Sự thuận lợi đó khiến cho công việc được thúc đẩy nhanh hơn. Nếu phải đến một nước khác qua một hành trình mệt mỏi, rồi chờ đợi mới gặp được một đồng nghiệp cùng chí hướng thì năng suất chắc sẽ giảm đi nhiều.

Ở Mỹ, nếu gặp nhau, khi hỏi về nơi anh làm việc thì người ta thường hỏi anh làm việc với ai. Một lý do quan trọng để người ta quyết định làm chỗ này hay chỗ khác là vì được làm việc với những con người rất cụ thể.

Môi trường làm việc tốt chính là nơi mà anh có đồng nghiệp giỏi, cùng hướng nghiên cứu, cùng niềm say mê.

Việt Nam hay một số nước khác chưa có nhiều môi trường làm việc tốt không phải chỉ vì điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn mà còn là vì ta còn chưa có nhiều những nhà khoa học tầm cỡ.

PV:Vậy cộng đồng toán học người Việt ở Mỹ thì sao, thưa anh?

GS Vũ Hà Văn: Theo tôi, cộng đồng này ngày càng đông hơn. Thế hệ trước tôi có một vài người nổi tiếng. Thế hệ tôi có chừng 10 người, trong đó tất nhiên nổi bật nhất là GS Châu.

Thế hệ 30 tuổi khá đông, và tôi nghĩ trong số họ có nhiều người sẽ rất khá. Ví dụ, một học trò làm tiến sĩ với tôi ở trường Rutgers là anh Nguyễn Hữu Hội. Anh Hội mới có bằng tiến sĩ 2 năm nay nhưng bây giờ đã được nhận làm GS trợ giảng của trường Ohio State, Columbus (khoa toán ở đây nằm trong tốp 25 của Mỹ).

Bình thường làm xong tiến sĩ cũng phải sau chừng 4 năm mới có được vị trí đó. Hoặc mới đây có GS trẻ Nguyễn Hoài Minh mới ở Pháp sang cũng làm việc rất tốt. Mỗi năm tôi tính phải có chừng 4,5 em ở tầm tuổi này tốt nghiệp nhận bằng tiến sĩ và tiếp tục làm việc ở các trung tâm lớn.

PV:Nghĩa là trong tương lai chúng ta sẽ tiếp tục được nhìn thấy nhiều người Việt nữa có mặt trong những giải quốc tế uy tín?

GS Vũ Hà Văn:Tôi tin như vậy. Các bạn thế hệ trẻ hơn chúng tôi khoảng 10 tuổi được đào tạo tốt hơn thế hệ chúng tôi, và cũng rất nhiệt huyết, đầy lòng say mê. Chắc chắn họ sẽ tạo nên một đội ngũ đông và mạnh hơn chúng tôi.

PV:Theo anh, làm thế nào để họ sẽ là những nhân tố tác động ngược trở lại một cách tích cực vào môi trường nghiên cứu khoa học và đào tạo trong nước?

GS Vũ Hà Văn: Từ trước đến nay, rất nhiều nhà khoa học về Việt Nam hàng năm và tham gia các hoạt động khoa học trong nước với tư cách cá nhân.

Tuy nhiên, nếu trong nước ngày càng chủ động tổ chức các hoạt động để lôi kéo các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài về tham gia cùng cộng đồng khoa học trong nước thì hiệu quả rõ ràng hơn. Việc thành lập Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán là một ví dụ.

Như ta đã biết, chất lượng trường ĐH phụ thuộc phần lớn vào chất lượng của người thầy. Đáng tiếc, hiện chất lượng giáo viên toán nói riêng ở ĐH Việt Nam còn khiêm tốn, nhiều trường phải dùng sinh viên mới tốt nghiệp vài năm để đứng lớp, rất ít giáo sư còn tham gia nghiên cứu một cách tích cực.

Vì vậy, cả về kiến thức và phương pháp tiếp cận vấn đề khó được cập nhật. Việc tạo cơ hội cho giảng viên ĐH, nhất là các bạn trẻ được cọ xát với môi trường nghiên cứu quốc tế như ở Viện Nghiên cứu cao cấp là một việc làm có ý nghĩa và có thể có ảnh hưởng lâu dài.

PV: Được biết lễ trao giải diễn ra tại một hội nghị toán học tổ chức ở Đức từ 18 đến 24-8 nhưng đó cũng là lúc GS đã có mặt ở Việt Nam. Tại sao GS lại không dự lễ nhận giải?

GS Vũ Hà Văn: Lễ trao giải được tổ chức rất trang trọng trong khuôn khổ cuộc khai mạc của đại hội toán tối ưu thế giới (tổ chức 3 năm/lần) tại Nhà hát lớn Berlin, và quả thật tôi cũng hơi tiếc là mình không có mặt tại đó.

Trong quãng thời gian đó, qua lời mời của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, tôi về tham dự phiên họp toàn thể hội nghị toán học phối hợp Việt-Pháp ở Huế từ 20 -24/8 vừa qua.

Đây là một hội nghị lớn của Toán học Việt Nam và là dịp gặp gỡ nhiều đồng nghiệp, nhất là các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào một con đường nhiều chông gai.

Sự có mặt của tôi ở đây có lẽ có chút ý nghĩa thiết thực hơn. Rất vui là thay vì lễ trao giải diễn ra ở Âu châu thì tôi được tham dự một cuộc giao lưu với các em học sinh yêu toán tại Huế, trong đó có rất nhiều em bé còn quàng khăn đỏ và mang vở dán nhãn gấu bông.

PV: Cảm ơn GS!./.

Quý Hiên/báo Tiền phong

Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ – HSP

31 Th8

Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ

Thử giải bài toán lôgic xã hội “Mọi nguồn rắc rối bắt nguồn từ đâu ?”

Mấy lời phi lộ: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi bỗng quên đi sự quá hạn hẹp về hiểu biết của mình mà cả gan lạm bàn chuyện ‘quốc gia đại sự’. Nhưng biết đâu nỗi bức xúc này lại chẳng là chung của nhiều người.

Xin được tiếp cận vấn đề từ góc nhìn qua những quy luật khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên. Bài viết chỉ có tính chất gợi mở, cung cấp một số nhận thức cơ bản để suy nghĩ, chưa giải quyết vấn đề gì cụ thể, trọn vẹn. Nếu từ bài viết có thể lọc ra một chút gì đó gọi được là cái ‘hạt nhân hợp lý’ thì đối với người viết đã là điều may mắn lắm rồi, nên xin miễn phi lộ dài dòng về những sai sót khó tránh khỏi.Tuy vậy người viết không thể giấu niềm hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo thêm, và cá nhân người viết xin nhận trách nhiệm trước mọi sự phán xét.

Những điều này nói ra hôm nay đã là quá muộn.

Tú Xuân HÀ SĨ PHU
Ngày 2 tháng 9 năm 1988

Hãy thử để cho Trí tuệ được vài phút hòan toàn tự do, xem nó có thể mách bảo ta điều gì. Sau đó, nếu không thấy có gì ích lợi thì xin mọi người cứ coi đây như những lời nhảm nhí mà loại nó ra khỏi ‘bộ nhớ’, tưởng cũng chẳng tốn kém là bao. Ít ra điều đó cũng chứng tỏ rằng chúng ta đã có sự trao đổi dân chủ thực sự.

Chúng ta hãy cùng nhau tham gia vào việc giải thử bài toán lôgic lớn của xã hội mà bấy lâu nay cứ ở trong tình trạng vừa như rất đơn giản vừa như quá thần bí không có lời giải : Mọi điều rắc rối bắt nguồn từ đâu ?
Bây giờ ta làm theo cách công khai và dân chủ. Mọi người hãy tạm thời thoát ly khỏi những nếp suy nghĩ mà ta đang có, kể cả những ‘tư duy’ đang được gọi là ‘đổi mới’ , tạm thời thoát ly khỏi những điều đang gắn chặt với quyền và lợi của ta hàng ngày, để cùng ngồi lên chiếc xe của tư duy lôgic. Trong thế giới của tư duy thì không có vùng nào là vùng cấm. Mọi hiện tượng, mọi phạm trù, mọi nhân vật, mọi chủ nghĩa… đều là những dữ kiện của bài toán, không hơn mà cũng không được kém.

Đi một vòng để quan sát toàn bộ bức tranh, ta có nhận xét tổng quát rằng hệ thống mà ta đang khảo sát chứa đựng quá nhiều ‘nghịch lý’ , nếu chưa muốn nói là cấu thành bởi toàn những ‘nghịch lý’:
– Hệ thống “dân chủ gấp triệu lần” lại vướng mắc chính vấn đề dân chủ.
– Hệ thống tiêu biểu cho Sự thật (có các nhà xuất bản Sự thật, và chúng ta thường nói chỉ chúng ta mới có dũng cảm nói sự thật) thì đang phải cố chữa cho được bệnh nói dối.
– Hệ thống tiêu biểu cho triết học duy vật thì lại là điển hình của bệnh duy ý chí.
– Hệ thống ưu việt (tức là tốt vượt hẳn lên) , tiêu biểu cho sự giải phóng Con người thì lại không ưu việt về Quyền Con người, luôn bị chỉ trích về Quyền Con người.
– Hệ thống tiêu biểu cho sự đề cao những giá trị tinh thần thì lại ‘xuống cấp những giá trị đạo đức’, đang cần làm lành mạnh trở lại những quan hệ xã hội và gia đình.
– Hệ thống tiêu biểu cho tính ‘nhân loại’, tính ‘tập thể’ thì lại xuất hiện rất nhiều ví dụ về tệ sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực vào tay một người, lấy một người trùm lên tất cả.
– Hệ thống tiêu biểu cho sức sáng tạo của trí thức (xem định nghĩa của Lênin về chủ nghĩa Cộng sản và người Cộng sản) thì vấn đề trí thức lại cứ cộm lên như một hạt nhân của toàn bộ cái hiện thực cần phải cải tổ.
– Chúng ta vẫn nói sự thắng thua giữa các chế độ rốt cuộc là ở năng suất lao động. Ta luôn nói về những “thắng lợi to lớn” nhưng chính về năng suất lao động thì ta lại thua quá xa.
– Hệ thống Xã hội chủ nghĩa được mô tả là đầy sức sống, còn chủ nghĩa Tư bản thì đang ‘giãy chết’. Vậy mà , trong tất cả những trường hợp quốc gia bị chia cắt làm hai thì dù chia theo kiểu nào, nửa thuộc phía ‘giãy chết’ cũng có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tốt hơn nửa kia ! …vv…

Trước thực tế ấy, nhiều luận điểm đã và đang được chúng ta đưa ra để giải thích. Ví dụ :
– Ta có đường lối ‘đúng đắn’ nhưng khi thực hiện thì có sai lầm. ‘Trên’ thì đúng đắn nhưng cán bộ trung gian quá yếu. Chủ nghĩa thì đúng đắn nhưng con đường quá mới mẻ nên ta chưa có kinh nghiệm.
– Đây là khó khăn tạm thời do chiến tranh để lại. Bè lũ Đế quốc và bọn Thực dân, Phong kiến phải chịu trách nhiệm về tình hình khó khăn này.
– Do có những cá nhân không chịu tu dưỡng rèn luyện nên thoái hóa biến chất. Chung qui chỉ tại cái chủ nghĩa Cá nhân !
– Do chế độ quan liêu bao cấp. Do thiếu sót về những ‘tư duy cụ thể’ như ‘tư duy kinh tế’, ‘tư duy đối ngoại’ …vv…

Trước một thực tế xã hội đầy những ‘nghịch lý’ lớn lao đã kể ở trên thì những luận điểm giải thích này dẫu có phản ánh được phần nào hiện thực cũng không đủ tầm để bao quát cả một thời kỳ của lịch sử nhân loại. Nó khác nào như đem dầu xoa, thuốc cảm để chữa ung thư vậy.

Từ khi có cuộc Cải tổ, Đổi mới trong toàn hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới đến nay, chúng ta đã làm được một việc là đem bày ra công khai trước mắt mọi người một số tư liệu để chúng ta nhìn cho đúng chân dung của mình, một chân dung mà tự mình cũng thấy không chấp nhận được. Những hiện tượng ‘tiêu cực’ rất cần được phơi bày, nhưng phơi bày mãi cũng không bao giờ hết, và nếu cứ sửa chữa theo kiểu ‘thợ vườn’ sai đâu sưả đấy thì sẽ chẳng khác nào chơi trò trốn tìm vòng quanh. Điều quan trọng là những hiện tượng tiêu cực đã nêu cần phải được hệ thống hóa lại, tìm mối liên hệ nhân quả giữa chúng, rồi theo mạch lôgic mà tìm tới nguyên nhân gốc rễ. Cái mạch lôgic tự nhiên ấy chẳng chóng thì chầy sẽ tự động diễn ra trong đầu mỗi người nên dẫu ta có sợ cũng không cản lại được. Vận mệnh lâu dài của hàng nghìn triệu người cũng đòi hỏi phải làm như vậy, nếu không mọi sự sửa chữa đều chỉ là sự đối phó nhất thời.

Những thông tin, nhất là thông tin từ công cuộc Cải tổ ở Liên xô, đã bộc lộ dần một vài hướng suy nghĩ. Chẳng hạn :
– Cần xem lại một số luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, hay ít ra là xem lại cách hiểu về những luận điểm cơ bản ấy (ý nghĩ này chẳng có gì mới lạ vì chính Mác và Lênin cũng khuyên như thế và cũng từng làm như thế).
– Chủ nghĩa Đế quốc có thật là ‘giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa Tư bản’ hay chỉ là một trong những bước đi ban đầu của chủ nghĩa Tư bản ? Và một khi chủ nghĩa Tư bản chưa ở giai đoạn tất yếu phải cáo chung thì điều đó có nghĩa là lịch sử chưa đòi hỏi và do đó chưa hề tạo tiền đề có một cuộc ‘cách mạng Xã hội chủ nghĩa’ đích thực …

Chưa nói nguyên nhân nào là đúng, nguyên nhân nào là sai, nhưng ít ra nguyên nhân cũng phải ở tầm cỡ như vậy mới có thể có sức chi phối ghê gớm đối với xã hội như chúng ta đã và đang thấy.

Song ta cũng không cần nói theo ai cả. Hãy dùng hiểu biết của chính mình mà rà soát lại toàn bộ vấn đề xem có tự phát hiện được điều gì không ?

Điều đầu tiên để hiểu một chủ nghĩa là xem xét MỤC ĐÍCH và PHƯƠNG TIỆN mà chủ nghĩa ấy đề cập tới. Lý tưởng Cộng sản là một lý tưởng hết sức tốt đẹp, vì đã gọi là ‘lý tưởng’ thì lý tưởng nào chẳng hướng tới hạnh phúc của con người, giải phóng con người khỏi những bất hạnh về vật chất, tinh thần và những bất công xã hội? Lý tưởng Cộng sản nhấn mạnh tính ‘xã hội’ của con người cũng như của tư liệu sản xuất, điều đó là khoa học, là xu hướng tiến hóa tất yếu của xã hội loài người, nhưng sự ‘xã hội hóa’ sẽ diễn ra cụ thể thế nào là thuận quy luật thì sẽ bàn sau.

“Một xã hội không còn người bóc lột người” , chính điều này còn gây tranh luận, vì nếu hiểu một cách chung chung là không còn áp bức bất công thì chẳng có gì để tranh luận, nhưng nếu hiểu chữ ‘bóc lột ‘ ở đây như một thuật ngữ chính trị-kinh tế học , là ‘bóc lột giá trị thặng dư ‘ , thì vấn đề lại không đơn giản chút nào. Tuy vậy vấn đề này cũng xin tạm xếp sang một bên, vì tự nó cũng chưa thể gây ra mọi chuyện.

Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với một lý tưởng không phải là lý tưởng ấy ước vọng điều gì mà lại là đi tới ước vọng đó bằng cách nào, bằng phương tiện hay công cụ gì. Luận điểm về con đường đấu tranh giai cấp và công cụ chuyên chính vô sản chính là “hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội khoa học” !Do tầm quan trọng như vậy mà ta hãy dừng lại lâu hơn một chút trên ‘hòn đá tảng’ này để xem xét cho kỹ, không thể vội vã cho qua được.

GIAI CẤP LÀ GÌ , VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG XÃ HỘI NHƯ THẾ NÀO ?

Để phân định điều phải trái và quyết định thái độ cũng như hành động của mình, con người có ba thứ căn cứ : tri thức, lòng tin, và quyền lợi.

Luôn lấy tri thức, lấy khoa học làm căn cứ, đó là chủ nghĩa DUY LÝ (1), cái gì trái với những quy luật khách quan mà mình nhận thức được thì không chấp nhận. Luôn lấy lòng tin làm căn cứ là chủ nghĩa DUY TÍN (2), cái gì trái với những điều mình tin, mình cho là thiêng liêng thì không chấp nhận. Luôn lấy lợi ích làm căn cứ là chủ nghĩa DUY LỢI (3), cái gì trái với những lợi ích của mình hay của những người chung lợi ích với mình thì không chấp nhận.

Theo mức độ duy lý, con người chia thành trí thức và không trí thức. Theo mức độ duy tín thì chia thành có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng. Người thực sự duy lý hay thực sự duy tín thì tự thân không có tính giai cấp rõ rệt, vì sự phân chia thành giai cấp chỉ là sự phân chia theo quyền lợi, chỉ thích hợp với những người duy lợi. ( Giai cấp là những tập đoàn người được phân chia theo sự chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, theo vai trò trong tổ chức sản xuất và theo sự phân phối của cải xã hội ; cả ba tiêu chuẩn này đều là quyền và lợi). Hiểu theo nghĩa đó thì người mang tính giai cấp rõ rệt là người duy lợi (tức là lấy lợi ích làm chuẩn, kể cả lợi ích chân chính, lợi ích của một giai cấp).

Vì vậy, sự phân chia con người theo giai cấp tuy có những ý nghĩa nhất định nhưng không thể là sự phân chia có ý nghĩa tổng quát, không bao hàm được hết mọi người trong xã hội. Tuyệt đối hóa lý thuyết giai cấp là rơi vào thuyết giai cấp cực đoan. Đem cái nhìn giai cấp trùm lên mọi hiện tượng của con người và xã hội sẽ không tránh khỏi làm méo mó xã hội, sẽ gặp lúng túng khi giải quyết vấn đề tri thức, vấn đề tôn giáo cũng như nhiều vấn đề xã hội khác.
—————————————————————————————————————————————————————————
(1) (2) (3) : Khái niệm ‘Duy lý’ ở đây không hoàn toàn trùng với khái niệm Duy lý của Descartes. Những chữ ‘Duy lý’, ‘Duy tín’, ‘Duy lợi’ là những thuật ngữ riêng của tác giả.
————————————————————————————————————————————————————————–

Vì quan niệm rằng người nào cũng phải có một ‘ thành phần giai cấp ‘ nên ta gặp lúng túng khi không biết xếp những người trí thức vào giai cấp nào, và gán luôn cho họ cái “bản chất lừng khừng, không kiên quyết cách mạng” (!). Nói về tính ‘kiên quyết’ thì thực tế cho thấy người duy tín cũng có thể “tử vì đạo” , người duy lợi có thể chết cho quyền lợi nào đó, và nhà bác học cũng có thể kiên quyết lên giàn lửa để bảo vệ chân lý khoa học, nhà khoa học cũng có thể ‘kiên quyết cách mạng’ đến mức trở thành lãnh tụ cách mạng khi nhận thức rằng sự vận động đó phù hợp với quy luật, phù hợp với căn cứ duy lý của mình.

Duy lý, duy tín và duy lợi tuy khác nhau ở xuất phát điểm nhưng muốn cho hành động đạt kết quả tốt thì lại cần sự hỗ trợ của nhau ; vì thế nếu phát triển đến độ hoàn hảo thì lại gặp nhau, thống nhất với nhau. Tuy vậy thực tế khó có sự hoàn hảo ; ở một phạm vi xác định, ở một con người cụ thể thì ba căn cứ ấy khó đạt được sự thống nhất hoàn thiện mà thường có tình trạng một trong ba căn cứ ấy nổi lên chiếm vai trò chủ đạo để dẫn dắt hành vi của con người. Ba yếu tố ấy đan vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau trong mối quan hệ tay ba vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, nên tách bạch ba yếu tố ấy trong một con người, trong một việc làm không phải là điều dễ dàng, và đó là nguồn gốc của biết bao hiện tượng rối rắm, nan giải của xã hội và của mỗi con người. Nhiều người đã tuyên bố chủ trương “kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp công nhân” , nói cách khác là chủ trương chung sống hài hòa giữa duy lý và duy lợi. Nhưng rồi trong thực tế trào lưu Cộng sản thì sự cân bằng lý thuyết này cứ bị chuyển dịch để cái duy lợi thôn tính dần cái duy lý.

Các-Mác rất coi trọng vấn đề ‘lợi ích’ và ở một nhà khoa học thì đây là một điều đáng quý. Nhưng là nhà khoa học, Mác đứng ở gốc duy lý mà tiếp cận sang duy lợi. Nhiều người khác đi theo chủ nghĩa Mác nhưng lại từ gốc duy lợi mà tiếp cận sang duy lý. Người càng ít hiểu biết thì tính duy lý càng ít ( nhân bất học, bất tri lý) , dễ thành duy lợi cực đoan, hoặc lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ duy tín, một thứ tôn giáo.

Trong ba căn cứ ấy thì Duy lý tiêu biểu cho khoa học, cho quy luật khách quan nên là căn cứ đúng đắn nhất, nó bao dung được cái Duy lợi và Duy tín hợp lý. Ngược lại, khi chủ nghĩa Duy lợi hay Duy tín mà nắm vai trò dẫn dắt xã hội thì nó rất dễ tiến đến cực đoan mà không chấp nhận nổi cái Duy lý. Giáo hội La mã ngày trước đã thiêu sống nhiều nhà bác học chỉ vì họ phát hiện những định luật khoa học. Những tên vua Trung quốc nào võ biền ít học thì “phần thư khanh nho” (đốt sách, giết nhà nho). Những hồng vệ binh nông dân mù chữ Trung quốc và những tên lính mù chữ Cămpuchia đã hành hạ những trí thức ưu tú của dân tộc mình. Phong trào Xô viết Nghệ tĩnh năm 1930 đã đặt trí thức lên hàng đầu trong khẩu hiệu ” Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ!” . Nhiều danh nhân văn hóa của Liên xô đã là nạn nhân điển hình của những sự đối xử tương tự…

Nhìn rộng ra nữa thì lịch sử tiến hóa của nhân loại thực chất là gì ?

Do biết sử dụng công cụ nên , khác với mọi sinh vật , con người không tiến hóa bằng cách biến đổi những cấu tạo của cơ thể mà bằng cách hoàn thiện không ngừng công cụ lao động . Cùng với sự cải tiến công cụ là cải tiến qui trình sản xuất, hoàn thiện kỹ năng … dẫn đến tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tất cả những biến đổi cơ bản ấy đều là biểu hiện của sự gia tăng tri thức của con người về các quy luật tự nhiên và các quy luật quản lý, tổ chức xã hội.

Vậy thì, cái lõi bên trong của dòng tiến hóa là dòng phát triển của tri thức nhân loại, còn sự đấu tranh giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, tức sự đấu tranh giai cấp, chỉ là cái vỏ, là những hiện tượng xã hội kèm theo mà thôi. Dòng gia tăng tri thức của xã hội là cái lõi, nó phản ánh bản chất của sự tiến hóa nên không thể thiếu và tồn tại xuyên suốt từ đầu đến cuối lịch sử loài người. Còn sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ bên ngoài, là một trong những hiện tượng xã hội kèm theo nên có tính chất tạm thời, luôn thay đổi màu sắc, và con người có khả năng sử dụng nó, hoặc giảm nhẹ hay loại trừ nó đi trong nhiều giai đoạn của dòng tiến hóa bất tận.

Khi nói : Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất (so với quan hệ sản xuất) thì sẽ là thiếu sót nếu không tiếp tục nói :Trong lực lượng sản xuất thì sự “năng động” ấy nằm ở yếu tố con người, trong con người thì sự “năng động” ấy nằm ở bộ óc tức phần lao động trí tuệ.

Bản chất của sự tiến hóa là như vậy. Tinh thần khoa học quan trọng nhất trong một học thuyết tiến hóa xã hội đáng lẽ phải là như vậy. Nhưng dưới ‘lăng kính giai cấp’ nhiều cuốn sách lại có lối mô tả dòng tiến hóa của xã hội như sau : ” …Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị luôn đối kháng nhau về quyền lợi nên sinh ra đấu tranh giai cấp. Nô lệ chống chủ nô làm chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã. Nông dân chống địa chủ phong kiến làm chế độ phong kiến tan rã. Giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản làm chủ nghĩa tư bản sụp đổ …”. Lối mô tả ấy xuất phát từ nhận thức sai lầm coi dòng tiến hóa là dòng đấu tranh của những giai cấp bị trị lật đổ các giai cấp thống trị, nên mỗi khi giai cấp bị trị không nắm được quyền lãnh đạo trong xã hội mới thì chúng ta coi là công lao của họ bị lợi dụng. Thế thì lịch sử là một chuỗi toàn những bất công vô lý, trong đó những kẻ ‘xấu bụng’ đi lợi dụng công lao người khác lại cứ được lịch sử cho kế tiếp nhau điều khiển xã hội. Đến khi có cách mạng vô sản thì mới phát sinh một ngoại lệ, giai cấp công nhân là giai cấp bị trị lên lãnh đạo xã hội, và ngoại lệ này mới chính là niềm mơ ước của nhân loại (?!).

Không, lịch sử có quy luật chứ không tùy tiện. Mỗi cuộc biến đổi được gọi là ‘cách mạng xã hội’ bao giờ cũng là sự cạnh tranh của hai thế lực lãnh đạo xã hội, tiêu biểu cho hai bậc thang về trình độ tổ chức xã hội, ứng với hai trình độ khác nhau của khoa học-kỹ thuật, của tri thức con người thời ấy. Thế lực lãnh đạo mới sẽ thắng vì có trình độ cao hơn (thế lực có trình độ cao hơn này không bao giờ nằm ở giai cấp bị trị, dù giai cấp bị trị có tạm thời đoạt được quyền bính thì trước sau họ cũng rơi vào quỹ đạo của những thế lực kia). Sự đấu tranh của giai cấp bị trị cũng như của quần chúng nói chung chỉ có tác dụng tạo ra áp lực to lớn của xã hội giúp cho chính quyền mau chuyển từ tay thế lực lãnh đạo cũ sang tay thế lực lãnh đạo mới, điều này đáp ứng yêu cầu phát triển chung của toàn xã hội.( điều này phù hợp với quy luật cạnh tranh sinh tồn chứ không phù hợp với thuyết đấu tranh giai cấp Mácxít ). Lôgic của lịch sử vốn là như vậy, bất chấp chúng ta vừa lòng hay không vừa lòng. Việc đưa giai cấp công nhân vào vị trí giai cấp lãnh đạo trong xã hội mới là một việc làm chỉ mang tính đạo đức, làm nức lòng số đông đang công phẫn nên có sức mạnh tập hợp to lớn trong thời kỳ đầu, nhưng không theo quy luật nên sẽ tự phát sinh mâu thuẫn trong những giai đoạn sau.

Nhiều người nhận xét rằng càng về sau việc thực thi chủ nghĩa Mác càng có xu hướng không đúng với những tinh thần nguyên lý ban đầu của Mác và chiều hướng của những sai lệch dường như có tính lôgic, tính quy luật.

Thực tế cũng bộc lộ một nhận thức sai lệch của nhiều người hiểu tinh thần chính của chữ ‘ cách mạng’ là ở ý nghĩa lật đổ , lật đổ người giàu lấy của chia cho người nghèo như các anh hùng hảo hán ngày xưa vẫn làm. Đây là biểu hiện chủ nghĩa bình quân của nông dân. Chủ nghĩa bình quân gắn chặt với tư tưởng lật đổ. Khi mình chưa có thì muốn lật đổ để cào bằng, cào bằng được rồi lại muốn mình giàu hơn người khác, lật đổ vua nhưng rồi mình lại thành vua. Chủ nghĩa Cộng sản giương ngọn cờ Công Nông không thể nào tránh được vết xe đó.

Muốn làm giảm tận gốc bất công xã hội và tăng hạnh phúc của nhân dân thì sự công bằng phải đặt trên cơ sở nâng cao cả nền sản xuất của xã hội. Động tác chính của ‘Cách mạng’ là động tác nâng cao chứ không phải động tác cào bằng. Cào bằng là động tác của bạo lực, nâng cao là động tác của tri thức khoa học, của năng lực tổ chức sản xuất và tổ chức xã hội. Chúng ta đấu tranh cho công bằng chứ không chấp nhận sự cào bằng vì cào bằng làm cho xã hội thấp đi và tạo ra sự bất công mới khốc liệt hơn. Kiểm điểm lại, nếu ta mới chỉ đạt ‘những thắng lợi to lớn’ trong những việc mang tính lật đổ và cào bằng mà chưa có những thắng lợi to lớn trong việc nâng cao một cách vững chắc thì thực chất là chưa có ‘cách mạng’ ! Cách mạng xã hội không đồng nghĩa với cướp chính quyền, cũng không đồng nghĩa với giải phóng dân tộc … mặc dù tất cả những hình thức đấu tranh chống áp bức, đòi công bằng xã hội (trong đó có những cuộc đấu tranh giai cấp) đều rất cần thiết, và còn luôn luôn cần thiết trong xã hội loài người, đều là những biểu hiện của đấu tranh sinh tồn, đều có giá trị riêng của nó và có liên quan mật thiết với nhau.

Giai cấp bị trị trong xã hội cũ không thể trở thành giai cấp thống trị trong xã hội mới vì bản thân giai cấp bị trị không thể tiêu biểu cho trình độ tiên tiến nhất của tri thức con người thời ấy. Chính vì thế mà khi muốn đưa giai cấp công nhân thành giai cấp lãnh đạo Mác đã phải đặt ra một điều kiện rằng đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp để có thể tiêu biểu cho nền sản xuất hiện đại để công nhân đồng thời là trí thức. Nhưng thử nhìn vào các nước tư bản đã có nền đại công nghiệp hiện nay thì ta thấy tầng lớp tiêu biểu cho khoa học, cho tri thức tiên tiến của các nước ấy không thể nào lại là công nhân của các nước ấy được, mặc dù trình độ công nhân của họ cao hơn của các nước khác rất nhiều. Xã hội càng phát triển thì sự chuyên hóa giữa công nhân và trí thức lại càng cần thiết, và hình như khi trình độ của những công nhân ấy được nâng cao lên (như ở Hoa kỳ, Nhật bản …) thì họ lại giảm đấu tranh đi, tức là giảm sự “giác ngộ giai cấp” , tức là giảm khả năng trở thành lãnh đạo cách mạng , tức là càng đi ngược lại điều kiện ước mong của Mác! Như vậy chính yêu cầu của Mác đề ra cũng còn bất cập , huống chi những người Cộng sản Nga và Đông Âu thì lại bất chấp cả yêu cầu tối thiểu ấy , chủ trương làm ‘cách mạng’ ngay trong khi giai cấp công nhân nước mình còn cách rất xa yêu cầu của Mác. Chưa kể trường hợp mà sự lãnh đạo thực chất còn nằm trong quỹ đạo nông dân thì đương nhiên còn tai hại hơn.

Phải chăng do ý thức được cái lỗ hổng này mà Lênin đã yêu cầu người cộng sản phải cấp tốc trau giồi tri thức, và tự Lênin đã nêu một tấm gương về sử dụng trí thức , kể cả trí thức của chế độ cũ. Lênin nói : “Chỉ có đem toàn bộ kho tri thức của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản”. Cái định nghĩa tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là định nghĩa về người trí thức, tức là chất Cộng sản và chất Trí thức phải trùng làm một ! Nếu mọi đảng viên cộng sản đều được kết nạp trên tinh thần ấy của Lênin thì đảng Cộng sản chính là đảng của trí thức -trí thức cách mạng !
Nhưng trong thực tế thì lời giáo huấn ấy có thể thực hiện được không ?

Xin kể ra đây một tình trạng có thật và khá phổ biến : “Chúng tôi là những con em công nhân và nông dân. Nếu chúng tôi chỉ học khoảng hết cấp 1 và ở lại địa phương sản xuất thì với lòng hăng say mà chúng tôi vốn có, dám chắc rằng chúng tôi đã thành đảng viên từ lâu rồi. Nhưng chúng tôi lại ham học. Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau dồi bao nhiêu tri thức về khoa học tự nhiên, về triết học Mác-Lê, vềchính trị … thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành tầng lớp trí thức tiểu tư sản bấp bênh ! Trở thành kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư … thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học ! …” .Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng ngược chiều với chất trí thức !

Đó là điều ‘nghịch lý’.

Nhưng ‘ nghịch lý’ này lại là nguyên nhân của một loạt các ‘nghịch lý’ tiếp theo.

Kết quả trực tiếp nhất và cũng cơ bản nhất là sản xuất không phát triển, sản phẩm hàng hóa ít, đời sống khó khăn. Đời sống tinh thần cũng bị hạ thấp do phải lùi bước trước những nhu cầu sinh tồn tối thiểu. Tính kém hiệu quả của tổ chức xã hội đã gây nên cái điều rất ‘vô lý’ (thực ra chẳng có gì là vô lý cả) là muốn xây dựng một hệ thống phát triển nhất trong lịch sử loài người thì lại thu được một hệ thống không phát triển, thậm chí chống lại sự phát triển.

Con người một khi không đủ tri thức để có điều kiện huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi xa thì nó huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi gần. Không tăng được sản xuất để gia tăng của cải chung của xã hội thì ‘cải tiến’ cách phân phối để chiếm được phần hơn trong cái tổng số còn ít ỏi. Sự ưu tiên đặc biệt này gắn chặt với chức quyền. Vì lợi mà phải chiếm quyền (vẫn từ cái gốc duy lợi mà ra) ! Có chức có quyền thì có lợi ! Người ta xô nhau chiếm chức quyền làm cho bộ máy chính quyền vốn đã ít hiệu quả lại cứ phình to ra mãi. Sự bao cấp đến mức thành đặc quyền đặc lợi cứ chất mãi gánh nặng lên vai nhà nước, lên vai nhân dân. Đến mức không chịu nổi nữa thì nhà nước buộc phải ‘chống bao cấp’ nhưng lại buông khỏi tay mình những bộ phận vốn cần được bao cấp chu đáo để phục vụ những nhu cấu công ích và chiến lược lâu dài. Điều ấu trĩ này làm cho nhà nước yếu đi, nhà nước yếu đi thì không còn chủ động điều khiển được sự chống bao cấp. Nạn bao cấp không thực sự mất đi mà tồn tại một cách không chính thức thì lại càng nguy hiểm hơn, nó mang tính bao cấp trá hình, bao cấp nhưng lại pha màu tự do cạnh tranh và chộp giựt.

” Giảm biên chế” là một nhu cầu sống còn nhưng nếu tiến hành giảm biên chế trong điều kiện cán bộ khung chưa được trong sạch từ trên xuống (mà điều này thì không thể thực hiện được) và ở bên dưới thì quần chúng không được thực sự làm chủ thì mỗi đợt giảm biên chế càng tạo điều kiện để những con ký sinh trùng bám chặt thêm vào ruột nhà nước mà sinh đẻ thêm và đẩy những người trung thực ra rìa, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng ‘tư hữu hóa’ cả cơ quan nhà nước.

Khi người chỉ huy không đủ tri thức để điều hành công việc và thuyết phục quần chúng thì họ bị giằng co giữa hai động cơ : một mặt rất muốn dùng những người trí thức, một mặt lại sợ trí thức. Để có thể che giấu sự kém cỏi của mình, để được yên thân tọa hưởng giữa nơi mập mờ bùng nhùng họ không dám thực sự nâng cao dân trí, không dám cho dân phát triển dân chủ, tự do. Ánh sáng trí tuệ đối với họ lúc này lại là điều bất lợi (và cái châm ngôn “kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp” lúc này chỉ còn là khẩu hiệu trên giấy thôi, chân lý khoa học không được tôn trọng đã đành, mà lợi ích cũng không còn là lợi ích của giai cấp).

Có ham muốn, có quyết tâm mà thiếu tri thức thì ắt sa vào vòng duy ý chí. Người chỉ huy sẽ trở thành kẻ độc tài dù tự giác hay không tự giác. Càng bất lực trước quy luật càng phải ngụy biện và áp đặt. Vì thế mà xuất hiện cái điều tưởng như rất vô lý là muốn xây dựng một hệ thống giàu Nhân tính nhất thì lại thu được một hệ thống mâu thuẫn với quyền Con người. Chúng ta không quên rằng Mác và Lênin đã từng phê phán kịch liệt thứ ‘xã hội chủ nghĩa kiểu trại lính’ , kiểu này là sản phẩm chung của mọi thứ ‘xã hội chủ nghĩa không tưởng’ (!).

Việc xây dựng Chuyên chính vô sản như các nước xã hội chủ nghĩa chúng ta đã làm ắt phải dẫn đến sự SÙNG BÁI CÁ NHÂN. Tại sao vậy ?

Từ trước tới nay con người bao giờ cũng coi giá trị Nhân đạo là giá trị cao nhất, là thước đo cao nhất, thước đo cuối cùng. Nhưng đùng một cái xuất hiện và lưu hành luận điểm rằng : “Không có sự nhân đạo chung chung ! Trong xã hội có giai cấp thì sự nhân đạo cũng mang tính giai cấp (!). Vì thế, trước hết phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp tiêu biểu cho thời đại nên lợi ích của giai cấp này cũng phù hợp với lợi ích chân chính của các giai cấp khác.” Thế là tính Nhân đạo được thay thế bằng tính Giai cấp. Cái giá trị tinh thần cao quý nhất mà con người bao đời đã dùng để dạy bảo nhau sống cho nên người bỗng bị đảo chính rất gọn để thay bằng một giá trị được gọi là mới, là cao hơn, nhưng chưa qua thử thách của lịch sử (và ngay về phương pháp luận nó đã tỏ ra không ổn, lấy cái riêng thôn tính cái chung). Nhưng ngay cả sự đề cao giai cấp công nhân ở đây cũng chỉ là sự nhân danh một cách hình thức, vì vấn đề không dừng ở chỗ này. Giai cấp phải được đại diện bởi ‘ đội tiên phong ‘ của mình là Đảng , tính Giai cấp được nâng thành tính Đảng. Đảng theo nguyên tắc ‘tập trung dân chủ ‘ ( mà điều quái lạ là trong thực tiễn thì tính dân chủ cứ thường xuyên bị vi phạm , còn tính tập trung thì bất khả vi phạm ). Đảng ‘tập trung ‘ vào Trung ương Đảng, Trung ương Đảng ‘ tập trung ‘ vào Bộ Chính trị … và cuối cùng ‘ tập trung ‘ vào một người nắm quyền cao nhất . Ai chống lại người này thực tế sẽ dễ dàng bị qui là chống Trung ương, chống Trung ương sẽ bị qui là chống Đảng, chống Đảng qui thành chống giai cấp , mà chống đúng vào cái giai cấp ‘ tiêu biểu ‘ của thời đại và của dân tộc thì hiển nhiên là chống dân tộc , hoặc chống cả nhân loại rồi còn gì ! Rốt cuộc, tình cảm thiêng liêng đối với dân tộc hay đối với toàn nhân loại lại được đo một cách đơn giản bằng sự trung thành đối với một con người cụ thể. Chuyện Stalin, Mao trạch Đông … dễ dàng qui nhiều đồng chí của mình trong Bộ Chính trị thành ‘ phản động ‘ đã chẳng là những ví dụ điển hình đó sao ?

Vì thế mà tồn tại cái điều rất ‘ vô lý ‘ (?) là muốn xây dựng một hệ thống đặc trưng bởi tính tập thể, tính thế giới đại đồng, tính toàn nhân loại, lại thu được một hệ thống rất dễ nảy sinh chủ nghĩa cá nhân cực đoan , ngược với tính Nhân loại.

Tiến hóa cũng là quá trình trong đó tính NHÂN từng bước lấn dần tính THÚ. Khi yếu tố NHÂN không được phát huy thì yếu tố THÚ sẽ vùng dậy. Biết bao vụ án đau lòng là biểu hiện lộng phát của thú tính. Con người dùng bạo lực để thống trị nhau, lấy việc hành hạ người khác làm điều thích thú, sinh sống bằng cách chiếm đoạt những giá trị có sẵn chứ không sáng tạo …

Con người là một ‘sinh vật xã hội’ nên sự phát triển tính NHÂN cũng đồng thời là sự phát triển tính XÃ HỘI, tính có tổ chức của nó. Tính XÃ HỘI là một biểu hiện cao của NHÂN TÍNH, còn chủ nghĩa QUÂN PHIỆT , CHUYÊN CHÍNH vô sản hay mọi thứ chuyên chính và mọi biểu hiện mất dân chủ về bản chất là di chứng của thú tính , nên hai thứ đó phải được xem là đối lập nhau như nước với lửa , chứ tại sao lại dùng CHUYÊN CHÍNH để thực hiện một chủ nghĩa mang tính ‘ XÃ HỘI ‘ ?

Chúng ta có trong tay mình một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược ; lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên, trong đó không có cái gì được ở đúng vị trí của nó cả ( tức là một hệ thống có khuyết tật cấu trúc) nên cứ người nọ thì phải làm việc của người kia.

Vì thế mà không một quy luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát huy được tác dụng. Ví như trong một vùng ‘phản vật chất ‘ thì những quy luật của thế giới vật chất thông thường không còn tác dụng vậy. Trong một ‘ không gian phản quy luật ‘ thì những nghịch lý sẽ hoạt động : cái tinh thua cái thô, cái trật tự thua cái lộn xộn, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ … và con người đi giật lùi !

Có phải rằng bấy lâu nay chúng ta lúng túng muốn cắt nghĩa cho mình mà không sao cắt nghĩa được ? Vì, hiện thực xã hội tuy có thế thật nhưng lý tưởng của chúng ta thì không thể nóo là không cao đẹp. Vì, thực tế khách quan tuy có thế thật nhưng chủ quan thì ai muốn như thế ? Vì, hiện nay tuy có thế thật, nhưng trước đây đâu có như thế ? Vì, tuy có những kẻ đồi bại thật nhưng còn bao tấm gương tuyệt vời trong sáng thì sao ? Vì, tạm thời tuy có thế thật nhưng rồi xã hội vẫn phải tiến lên chứ ? … Vâng , đúng như vậy, không có gì là bế tắc cả. Khi chúng ta đã gỡ được cái điểm nút cuối cùng trong mớ bòng bong ấy thì mọi điều rắc rối trái ngược đều được giải đáp thích đáng, trọn lý vẹn tình. Có tách bạch được tận gốc cái sai mới bảo vệ được các giá trị chân chính. Còn các lời giải nửa chừng thì tạm thời có thể dễ dung hòa nhưng rồi sẽ lại tiếp tục bế tắc.

Chỉ cần chúng ta thực sự phục thiện. Nhưng chúng ta sẽ thực sự là những người bế tắc nếu chúng ta cố thủ. Một bên là lý thuyết tốt đẹp, một bên là thực tế không chấp nhận được. Chúng ta bị nhốt ở giữa, lúng túng đối phó, mà bức tường hai bên cứ khép dần lại dưới sức ép của nhu cầu đổi mới.

Xuất phát từ lương tâm trong sáng, nhiều người bảo thủ trước đây nay đã dũng cảm tự phản bác mình để thành một ‘ chiến sĩ ‘ trong mặt trận ‘ Đổi mới ‘ . Nhưng nhiều người cố thủ thì đối phó với thực tiễn bằng cách CHIẾM HỮU CHỨC QUYỀN cho chắc, miệng thì NÓI DỐI, tìm mọi cách để NGỤY BIỆN, NGỤY TRANG.
Chiếm hữu quyền lực là biến tướng của chế độ chiếm hữu, nó khôn ngoan và triệt để hơn nhiều so với chiếm hữu trực tiếp tư liệu sản xuất.

Còn muốn dung hòa giữa hai thứ không thể dung hòa là là lý tưởng cứ tốt đẹp và thực tế cứ xấu thì có cách gì khác mà không phải nói dối, ngụy trang ? Ngụy trang và chống ngụy trang là cục diện đặc biệt của những cuộc đấu tranh chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa … ngày nay. Những tính cách vốn là ưu điểm như nhân hậu, chín chắn, có quan điểm lịch sử, biết chờ đợi nhau, có thái độ thực tế, biết thích nghi … nhiều khi lại được sử dụng một cách rất bệnh hoạn để che đậy những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cơ hội như : thái độ bạc nhược, quay mặt đi một cách vô trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền, trì hoãn, thậm chí độc ác, lì lợm, cố thủ … Một bộ phận của giới trí thức bị phân hóa đã rời khỏi sự duy lý chân thực mà đứng hẳn sang phía duy lợi cực đoan (như vậy thì về thực chất họ không còn là trí thức) đã góp phần rất đắc lực vào sự nói dối, ngụy biện này. Trong bức tranh chung về sự tha hóa, cái bệnh nói dối cứ như con bạch tuộc ôm ghì lấy toàn xã hội, chẳng để cho ai thoáy ra.

Nhưng không, nhất định chúng ta phải thoát ra !

Tất cả những điều đã trình bày ở trên có thể ‘ sơ đồ hóa ‘ bằng một sơ đồ dưới đây. Xin theo rõi sơ đồ theo thứ tự đánh số, theo chiều những mũi tên; gốc mũi tên chỉ nguyên nhân, đầu mũi tên chỉ kết quả. (xem sơ đồ).

Sau cùng, nhìn bao quát toàn sơ đồ để thấy một điều mấu chốt là dùng phương tiện (ô sồ 2) không thích đáng thì không tới được mục đích (ô số 1).
Ta tưởng tượng như có anh lái xe nọ phải đến một miền rất xa để kiếm lương thực về cho mọi người trong đó có anh ta. Nhưng chúng ta lại trao cho anh ta một phương tiện quá đặc biệt, một chiếc xe mà trên đó có đủ lương thực đến mức anh ta ăn cả đời không hết, thì chỉ cần đi một quãng là anh ta bắt đầu thay đổi ý định (sự thay đổi tất yếu mà chúng ta gọi là thoái hóa biến chất) : cứ ngồi lì trên xe mà tọa hưởng, chứ dại gì xông pha mưa gió đến nơi xa xôi nọ ! Dẫu có đến nơi thì cái phần mà anh sẽ được chia chắc gì đã bằng cái phần mà anh đang có sờ sờ trên chiếc xe này ? Thế là anh lái xe biến luôn cái PHƯƠNG TIỆN chung kia thành MỤC ĐÍCH. Anh ta ‘đến đích’ một mình, đến ‘thiên đường’ rất sớm, còn mọi người thì chẳng ai được ‘xơ múi’ gì cả. Khi chiếc xe chỉ nổ máy, chữa máy giữa đường mà không đi nữa thì người lái xe đâu cần phải biết lái xe ! Cái anh ta cần biết bây giờ là kỹ thuật gây ảo giác và làm tê liệt khả năng phản ứng của mọi người.

Ngày bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì cứu nước mưu hạnh phúc cho dân là mục đích. Chủ nghĩa Mác-Lênin được bác coi là “con đường”, tức là phương tiện giúp dân ta đi đến đích đó. Nhưng rồi dần dần lại phát sinh cái tín ngưỡng “dâng tất cả để tôn thờ Chủ nghĩa” (!). Lạ như vậy đấy, ‘chủ nghĩa ‘ với tư cách là con đường, là phương tiện thì nó là cái để ta dùng chứ sao lại là cái để ta “thờ” ? Động cơ ấy lúc đầu hẳn là do ta thành tâm và ấu trĩ quá đó thôi … Nhưng dù do gì đi nữa thì hậu quả nguy hiểm vẫn là ở chỗ : Khi cái phương tiện đã thành cái mục đích thì tự nhiên cái mục đích (ở đây là dân tộc) phải đổi chỗ để thành cái phương tiện (!). Như trong câu chuyện khôi hài ngày trước : khi đôi giày đã được đánh bóng và kẹp bên nách thì đôi bàn chân phải thay đôi giày mà đương đầu với gai góc. Lúc vấp ngã, chân tóe máu ra, ai cũng tưởng phen này anh ta phải tỉnh ngộ, bỏ giày xuống mà đi vào chân. Nào ngờ đây chính là dịp để anh ta ‘tự hào’ về sự thông minh của mình, rằng nếu anh không ‘kiên định’ thì cú vấp vừa rồi hẳn đã làm sứt mất đôi giày quý. Nghe chuyện khôi hài mà ứa nước mắt ! Nhưng anh ta có cái ‘ lý ‘ của anh ta đấy vì đối với anh ta thì cái để anh hy vọng trở nên sang trọng chính là đôi giày bóng, chứ đâu phải đôi chân ! Cố giữ lấy đôi giày cũng phải !

Đã có một thời, và thời đó còn tiếp đến ngày nay, chúng ta muốn giương ngọn cờ giai cấp làm tấm hộ chiếu quá cảnh , vượt qua mọi biên giới dân tộc để thống nhất toàn thế giới. Nhưng thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng ý muốn ấy chỉ là chủ quan (nên chăng giương ngọn cờ dân tộc để khắc phục dần mâu thuẫn giai cấp !) . Có một quy luật đã được chiêm nghiệm là nếu thống nhất với nhau chủ yếu bằng tiếng gọi của ‘ lợi quyền ‘ thì trước sau gì cũng lại chia ly chính do lợi quyền. Chỉ có một thứ thực sự là của chung của nhân loại, không thể chiếm hữu, không thể độc quyền, một thứ mà ngày nay cứ xuất hiện ở đâu là được quốc tế hóa ngay, đó là trí tuệ, là khoa học, là sự phát hiện những quy luật khách quan. Cái tài sản chung quý báu này luôn được đổi mới, bổ sung. Còn nói về ‘ chủ nghĩa ‘ thì đủ sức ôm cả cái loài người bất diệt có lẽ chỉ có và chỉ cần một chủ nghĩa, cái chủ nghĩa chẳng có gì mới nhưng bất diệt mà ta rất nên ‘ tôn thờ ‘ , là CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO ! Mọi ‘ chủ nghĩa ‘ khác chẳng qua chỉ là những hệ phương pháp ứng xử để ta sử dụng linh hoạt trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thôi !

Có hành động đúng theo quy luật thì mọi việc mới ‘ xuôi ‘ được. Hiện tượng ‘ xã hội lộn ngược ‘ với những nghịch lý đã nói trên chỉ có thể giải thích rằng ngay từ những điểm xuất phát chúng ta đã nghĩ và làm không đúng với những quy luật khách quan nên càng về sau càng chịu sự chóng trả quyết liệt của quy luật. Muốn ” làm chủ” như chúng ta thường nói , trước hết phải ‘ làm chủ ‘ được các quy luật. Muốn vậy, con người trước hết phải có sự học hành đầy đủ để tiếp thu những tri thức đã có của nhân loại, phải được suy nghĩ hoàn toàn tự do, và đặc biệt phải biết lấy thực tiễn để kiểm chứng mọi điều đã nghĩ, kể cả những điều mà một thời những tưởng đã ‘ đóng đanh ‘ vào lịch sử. Chính Mác đã khuyên mọi người ” Hãy hoài nghi tất cả !”. Thật là nhân cách một nhà khoa học lớn ! Chính Mác đã nêu tấm gương về sự tự hoài nghi, tự ‘ xét lại ‘ mình thì đương nhiên Mác không thể chấp nhận danh hiệu Mácxít cho những ai muốn biến Mác thành một thần tượng bất khả xâm phạm, để quy tội “xét lại” cho tất cả những ai không chịu răm rắp nghe theo mình ! Một khi chính Mác đã không chấp nhận để mọi người coi mình là thần tượng thì còn “học trò” nào của Mác được phép chấp nhận điều đó ? Từ khi Mác mất đến nay hơn một thế kỷ, con người lớn lên như vũ bão, khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hẳn bộ mặt loài người, kỹ thuật tin học ngày càng gắn cả loài người thành một chỉnh thể. Nếu chúng ta không nhìn nhận xã hội và lịch sử tinh tường hơn thời kỳ của Mác thì sao xứng đáng là những lớp con cháu của Mác ? Việc nhìn nhận lại một số điểm trong học thuyết của Mác không làm giảm đi sự tôn kính của ta đối với Mác, trái lại ta có thể tự hào đã có Mác là một người khổng lồ nhân từ cho ta được đứng lên vai.

Nhưng “hoài nghi” mới là điều kiện “cần”, chưa phải điều kiện “đủ” ! Hoài nghi có thể dẫn đúng hơn , cũng có thể dẫn đến sai hơn. Nếu lấy cớ ‘ hoài nghi ‘ Mác để “bổ sung”, để “nâng cao”, thậm chí để … “cứu học thuyết Mác khỏi rơi vào sự tầm thường” (Lênin) , mà đưa thêm vào những quan điểm thiếu khoa học, thiếu thực tế, đầy ý chí chủ quan của mình thì lại càng tai hại hơn.

Vấn đề đặt ra quá lớn, tầm suy nghĩ của một người lại quá nhỏ, khuôn khổ một bài viết lại càng nhỏ hơn, thiếu sót là điều không tránh khỏi. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ sẽ không phải là vô ích nếu chúng ta chân thành, nếu chúng ta nói thật. Nhiều người nói thật sẽ dần đến sự thật. Điều quan trọng là tìm được cái gốc của những sai lầm. Tuy từ đó đến chỗ xác định được cách đi đúng đắn cũng không dễ dàng ( và việc này không phải là nội dung đề cập của bài viết này), nhưng khi cái gốc của sai lầm đã được phơi bày thì cái hướng đúng cũng tự nhiên đã ló ra rồi.

Alexandr Bovin, nhà phân tích chính trị của tờ Izvestia (Liên xô), sau khi nói rõ quan điểm “kiên quyết chối bỏ loại xã hội chủ nghĩa quan liêu, thiếu thốn triền miên, xuống cấp những giá trị đạo đức, thay tự do bằng sự trấn áp dốt nát …” đã nêu ý kiến về cách sửa chữa là : ” Tất cả các đoạn trên con dấu toán học cần phải đổi ngược lại !”. (Tuần tin THANH NIÊN 8-8-1988).

Và nếu như trên trang giấy đã đổi ngược các dấu toán học thì trtên đường đi lẽ nào không phải quay ngược các tấm biển chỉ đường ?

Nhân loại, như lịch sử đã từng chứng minh, rốt cuộc vẫn dắt tay nhau, đi chung trên một con đường, con đường tiến hóa, thênh thang,dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ !

Ngày 2 tháng 9 năm1988
Tú Xuân HÀ SĨ PHU
Địa chỉ : PTS Nguyễn Xuân Tụ
4E Bùi thị Xuân, Đà lạt.

Nơi gửi :
– Bạn bè, những người hiểu biết, quan tâm và có trách nhiệm để xin ý kiến trao đổi
– Báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Tuổi trẻ

Lời chú thích:

” DẮT TAY NHAU ” TRONG MỘT CUỘC TRANH LUẬN KỲ LẠ
Sau khi báo Nhân dân (ngày 25&26/7/1990), báo Quân đội nhân dân (ngày 9 & 10/7/1990) và báo Tuổi trẻ (ngày 30/6 & 5/7/1990) đăng bài của các tác giả Thuận Thành và Lưu văn Kiền phê phán bài ” Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ ” (một bài chưa được đăng ở đâu cả), nhiều dồng chí cán bộ và sĩ quan quân đội biết, đã yêu cầu tôi cho mượn bài viết ấy để tham khảo, đối chiếu. Vì chưa có báo nào đăng nên tôi đành sao bài này ra một số bản để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và đối thoại (như tác giả Thuận Thành đã đề xuất) của một số bạn bè đồng thời là độc giả của các báo nói trên. Nếu tính đến giữa năm 1991 thì tổng số các bài và các tài liệu phê phán bài ” Dắt tay nhau…” đã vượt quá con số ba mươi !.

Có lẽ chưa có cuộc tranh luận nào kỳ lạ như cuộc ‘ tranh luận ‘ quanh bài ” Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ ” của tôi (mặc dù trong đó nghĩ mười mới viết được một ). Suốt nột năm rưỡi trời các giáo sư triết học, các nhà chính trị, tuyên huấn … của Viện Triết, trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, ban Văn hóa tư tưởng trung ương, báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân … đã viết liền mấy chục bài và sách, tập trung phê phán một bài tiểu luận mà bài này chỉ được chuyền tay chứ không được phép in ở đâu cả. Mấy chục võ sĩ ra sân khấu, đấu rất sôi nổi với một ‘ địch thủ ‘ chỉ được phép ở bên trong hậu trường. Trong cuốn “Nêu cao tính chiến đấu, chống mọi hoạt động phá hoại về tư tưởng ” , ban Văn hóa tư tưởng trung ương đã dành hầu hết các trang để chỉ trích những nội dung được trích một cách rời rạc từ bài “Dắt tay nhau …”. Thậm chí trong cuốn “Giới thiệu Dự thảo Cương lĩnh của Đại hội VII “, ủy viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng cũng đề cập tới bài đó như một ví dụ cụ thể duy nhất làm đối trọng ! Có tác giả đã gọi tôi là ” kẻ phát ngôn trong bóng tối” , ” cao ngạo hơn cả Duhring”, có tác giả dọa sẽ có biện pháp đối xử với tôi một cách “đúng mực” , “theo như yêu cầu đòi hỏi của quy luật đấu tranh giai cấp” (!). Và thực tế thì bài “Dắt tay nhau …” đã không phải không gây phiền phức cho tôi và nhà văn Dương Thu Hương trong những ngày được ‘ tiếp kiến ‘ Bộ Nội vụ !

Đấy là mặt không vui.Nhưng câu chuyện lại có mặt vui của nó. Bài ấy tôi viết hai năm trước khi có những sự cố ở Đông Âu và Liên xô, thực tiễn thế giới sau đó đã chứng thực cho dự đoán của tôi, các “tấm biển chỉ đường” lớn nhỏ đã được quay ngược lại hết. Việc Đại hội VII lấy “Trí tuệ” làm khẩu hiệu hàng đầu (mặc dù ngay trước đó nhiều nhà lý luận vẫn còn khẳng định rằng chủ nghĩa Mác Lêchính là Trí tuệ tối cao của nhân loại rồi, nói Trí tuệ nữa là thừa !) và không nói đến “Chuyên chính Vô sản” nữa thì điều ấy thực sự đã phù hợp với nội dung chính trong bài viết của tôi. Tôi lấy làm vui lắm, và tin rằng những nội dung khác của bài viết cũng sẽ chuyển rất nhanh từ trạng thái gây dị ứng, phải chống đến cùng, sang trạng thái mặc nhiên tự tại – “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” !

Là người làm công tác khoa học, dốt về chính trị, tôi chỉ nói những điều về nhận thức khoa học, những vấn đề có tính nguyên lý. Trong khoa học tự nhiên, Mác ‘ duy vật ‘ và ‘ biện chứng ‘ bao nhiêu thì khi vận dụng vào xã hội Mác lại ‘ duy tâm ‘ và ‘ siêu hình ‘ bấy nhiêu. Ai có thể phủ định chủ nghĩa Mác nếu không phải là phần này của tư tưởng Mác đã tự xung đột với phần kia của tư tưởng Mác ! Nhà duy vật biện chứng trứ danh trong khoa học ấy lại đồng thời là đại biểu cuối cùng và đặc sắc nhất của trào lưu ” xã hội chủ nghĩa không tưởng” mà ông đã kịch liệt phê phán và kế thừa.

Nhân loại đã phải trả giá cho sự ‘ không tưởng ‘ của mình và hôm nay đã vượt được qua nó , đó là một điều vĩ đại. Nhưng, vượt lên trên những máu và nước mắt, cuối cùng thì -nói theo cách hóm hỉnh của Mác- nhân loại vẫn muốn “từ giã quá khứ của mình một cách vui vẻ”. Chỉ có điều là trong màn hài kịch lớn này, lịch sử sẽ chọn ai làm tên lính hề cuối cùng rút lui khỏi sân khấu ? ..

Tháng 2 năm 1993
Hà Sĩ Phu

Mỹ tăng tốc, Trung Quốc lo âu – NLĐ

31 Th8

Mỹ tăng tốc, Trung Quốc lo âu

Mỹ tự ví mình là chiếc neo cho sự ổn định tại châu Á – Thái Bình Dương nhưng Trung Quốc không nghĩ thế


Trung Quốc cáo buộc Mỹ gia tăng tập trận tại châu Á để mưu đồ bá chủ. Trong ảnh: Một cuộc tập trận Mỹ – Hàn năm 2010. Ảnh: EPA/US NAVY
 
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton bắt đầu chuyến công du châu Á – Thái Bình Dương vào ngày 30-8. Đây là lần thứ ba kể từ tháng 5-2012, bà đến thăm châu Á trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng gây hấn với láng giềng.

Chuyến đi nhiều mục đích

Được chú ý nhất chuyến công du chính là điểm dừng chân tại Trung Quốc vào ngày 4-9. Dự kiến bà Clinton sẽ gặp Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và các quan chức cấp cao để bàn về nhiều vấn đề khác nhau, dĩ nhiên không thể thiếu các điểm nóng tranh chấp trên biển.

Trong chuyến thăm châu Á lần trước vào tháng 7 của bà Clinton, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45 đã không thể đưa ra tuyên bố chung về tranh chấp trên biển Đông. “Chắc chắn bà Clinton sẽ tìm hiểu hậu quả của sự cố trên” – một quan chức cấp cao của Mỹ tiết lộ và cho biết bà sẽ bàn bạc về Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) cùng Indonesia và Brunei.

Ông Ernie Bower, Giám đốc chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược quốc tế (CSIS), nhận định chuyến công du của bà Clinton nằm trong nỗ lực “thể chế hóa” sự hiện diện của Mỹ tại châu Á, đặc biệt là khu vực Thái Bình Dương. “Một trong những mục tiêu chính của chuyến đi là kiềm chế Trung Quốc nhưng tôi cho rằng đó không phải là tất cả. Còn rất nhiều lợi ích tiềm tàng mà Mỹ muốn củng cố thông qua quan hệ hợp tác quân sự và kinh tế tại châu Á” – ông Bower nói.

Quan hệ “cơm không lành, canh không ngọt” của Nhật Bản và Hàn Quốc có thể sẽ được Ngoại trưởng Mỹ xoa dịu ở chặng cuối hành trình tại Hội nghị Thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) ở thành phố Vladivostok (Nga) ngày 8 và 9-9.

Trung Quốc răn đe trước

Báo giới Trung Quốc tỏ ra không mấy thân thiện trước chuyến công du của Ngoại trưởng Mỹ. Bài bình luận do Tân Hoa Xã đăng tải ngày 29-8 cho rằng chuyến đi của bà Clinton nhằm “kiềm chế” Bắc Kinh và cáo buộc Washington gây rối trong khu vực. “Một mục tiêu trong chuyến công du của bà Clinton là kiềm chế tầm ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc dù chính Mỹ đang cố bảo vệ địa vị thống trị cũng như quyền bá chủ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương” – bài báo nhấn mạnh.

Bài viết còn nhận định Mỹ “ghen tị trước xu hướng Trung Quốc thắt chặt hợp tác kinh tế với các nước châu Á – Thái Bình Dương” nên tìm cách chia rẽ. Từ đó, Tân Hoa Xã đúc kết Mỹ đang âm mưu hưởng lợi từ các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước châu Á và khiến các nước khác xa lánh Trung Quốc, qua đó khôi phục quyền bá chủ trong khu vực. “Mỹ không ngừng tăng cường quan hệ quân sự với các nước trong khu vực thông qua số lượng lớn các cuộc tập trận 2 năm gần đây. Cách tiếp cận của Washington không có lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp cũng như cho sự ổn định trong khu vực” – bài bình luận cáo buộc. Thậm chí, Tân Hoa Xã còn “khuyên” Mỹ nên chấp nhận sức mạnh của họ đang mai một và khẳng định Washington “không khôn ngoan” khi coi Bắc Kinh là đối thủ cũng như tìm cách chế ngự nước này.

Tuy nhiên, ông Ralph Cossa, chuyên gia phân tích an ninh của Diễn đàn Thái Bình Dương tại Hawaii, cho rằng Mỹ “để mắt” nhiều hơn không có nghĩa là muốn khống chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. “Trung Quốc nghĩ chúng tôi đang quấy rối nhưng chúng tôi chỉ thực hiện trách nhiệm của một cường quốc đối với đồng minh, tự do hàng hải và ổn định khu vực. Không lẽ Mỹ lại kìm hãm Trung Quốc bằng cách đầu tư hàng tỉ USD để giúp nước này trở thành nước công nghiệp hóa?” – ông Cossa phân tích trên Voice of America.

Mỹ Nhung

‘Mỹ nên từ bỏ mộng bá chủ châu Á’ – BBC

31 Th8

‘Mỹ nên từ bỏ mộng bá chủ châu Á’

Hillary Clinton trong chuyến công du châu Phi mới đây

Bà Clinton quay trở lại châu Á lần thứ ba trong vòng 4 tháng

Truyền thông chính thức của Trung Quốc vừa lên tiếng răn đe Mỹ ngay trước thềm chuyến Á du của ngoại trưởng nước này là Hillary Clinton, trong đó có hai ngày dừng chân ở Bắc Kinh, vào đầu tháng Chín.

Bà Clinton sẽ lên đường vào ngày thứ Năm 30/8 với trạm dừng đầu tiên là đảo Cook, một đảo nhỏ ở giữa Thái Bình Dương chỉ với 11.000 dân để tham dự vào diễn đàn các quốc đảo Thái Bình Dương.

 

Đây là phái đoàn cấp cao nhất của Mỹ từng đến tham dự diễn đàn đã có lịch sử hơn 40 năm này.

Trong lần Á du thứ ba kể từ tháng Năm, Clinton được dự đoán sẽ cảnh báo Trung Quốc về việc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp biển đảo, hãng tin Pháp AFP nhận định.

Trước đó, hôm thứ Ba ngày 28/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland đã phát biểu rằng Mỹ không muốn thấy các tranh chấp trên Biển Đông cũng như ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới được giải quyết bằng cách ức hiếp hay bằng sức mạnh.

“Chúng tôi muốn thấy giải quyết các bất đồng này tại bàn đàm phán,” bà Nuland nói với các phóng viên.

‘Mỹ đã suy yếu’

Trong một bài xã luận hôm thứ Tư ngày 29/8, hãng tin Tân Hoa Xã nhận định chuyến đi của bà Clinton là nhằm để ‘kiềm chế’ Trung Quốc và các buộc Washington ‘gây sự’ trong khu vực.

“Thực lòng mà nói, sức mạnh của Mỹ đang suy giảm và họ không có đủ sức mạnh kinh tế và phương tiện để làm bá chủ ở châu Á-Thái Bình Dương.”

Tân Hoa Xã

Tân Hoa Xã cũng bày tỏ quan ngại trước việc Hoa Kỳ chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

“Thực lòng mà nói, sức mạnh của Mỹ đang suy giảm và họ không có đủ sức mạnh kinh tế và phương tiện để làm bá chủ ở châu Á-Thái Bình Dương,” bài xã luận viết.

Tân Hoa Xã đưa ra dẫn chứng là Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản. Số liệu năm 2010 cho thấy thị trường Trung Quốc hiện chiếm đến 20% lượng hàng xuất khẩu của Nhật Bản, trong khi thị trường Mỹ giảm xuống còn 15%.

Mặt khác, Trung Quốc cũng đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Hiệp hội các quốc gia đông nam Á (Asean), hãng tin này cho biết.

Một lý do khác mà Tân Hoa Xã cho là Mỹ không nên làm bá chủ ở khu vực là ‘sẽ là thiếu không ngoan nếu Washington xem Trung Quốc là đối thủ để tìm cách khống chế’.

“Hoa Kỳ và Trung Quốc là các nền kinh tế số một và số hai của thế giới và hai nước này phải dựa vào nhau rất nhiều,” Tân Hoa Xã nhận xét.

Panetta và người đồng cấp Việt Nam Phùng Quang ThanhTrung Quốc bất bình vì Mỹ ‘tìm cách chia rẽ’ họ với các nước trong khu vực

“Quan hệ giữa hai nước không hề là mối quan hệ được ăn cả, ngã về không. Hai nước không nên xem nhau là mối đe dọa bởi vì nếu đấu nhau thì cả hai bên đều bị tổn thương,” bài xã luận viết.

“Hoa Kỳ cần phải từ bỏ tham vọng phi thực tế là làm bá chủ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng như thế giới.”

Hoa Kỳ trục lợi?

Tân Hoa Xã đã đưa ra một số lập luận chứng tỏ Washington đang tìm cách kiềm chế Bắc Kinh trong khu vực.

Một trong các lập luận đó là sự can thiệp của Mỹ trong vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các nước khác trong khu vực ‘đã làm tình hình xấu đi’.

“Hoa Kỳ tận dụng tối đa các tranh chấp lãnh thổ và biển đảo trong khu vực để trục lợi cho mình,” bài xã luận viết.

“Chẳng hạn như trong trường hợp Điếu Ngư Đảo, Mỹ từ chối làm rõ vấn đề. Thay vào đó, họ lại tuyên bố áp dụng hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật đối với quần đảo này.”

Tân Hoa Xã cũng bày tỏ sự bất bình trước việc Mỹ mời lực lượng phòng vệ Nhật cùng tham gia một cuộc tập trận kéo dài 37 ngày trên Thái Bình Dương giữa lúc căng thẳng gia tăng giữa Bắc Kinh và Tokyo về tranh chấp chủ quyền trên Biển Hoa Đông.

“Hoa Kỳ tận dụng tối đa các tranh chấp lãnh thổ và biển đảo trong khu vực để trục lợi cho mình.”

Tân Hoa Xã

Về tranh chấp trên Biển Đông, hãng tin nhà nước Trung Quốc lên án Mỹ cố tình làm cho các quốc gia trong vùng biển này xa lánh Trung Quốc.

Bằng chứng mà Tân Hoa Xã đưa ra là kể từ năm 2002 khi Trung Quốc và các quốc gia có tranh chấp ký bên Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) thì mọi việc đã vào guồng để giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hữu nghị song phương.

“Đột nhiên người Mỹ lại nói ‘có lợi ích’ trong vấn đề này. Họ đã nhiều lần phá rối để làm phức tạp thêm vấn đề,” bài xã luận chỉ trích.

“Rõ ràng, cách tiếp cận của Washington không giúp ích gì cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp cũng như hòa bình và ổn định trong khu vực.”

“Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng sự can thiệp từ bên ngoài để giải quyết các tranh chấp chủ quyền rốt cuộc sẽ chỉ dẫn đến thảm họa,” Tân Hoa Xã nhận định.

‘Tìm cách chia rẽ’

Một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa đang có tranh chấpBà Clinton được dự đoán sẽ cảnh báo Trung Quốc về việc sử dụng vũ lực trên Biển Đông

Ngoài ra, theo Tân Hoa Xã thì Mỹ cũng ‘sử dụng lá bài kinh tế’ để kiềm chế Trung Quốc.

“Trong những năm gần đây, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã thúc đẩy hợp tác kinh tế. Sự hợp tác hoàn toàn do thị trường chi phối trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.”

“Tuy nhiên, nước Mỹ lại cảm thấy ghen tức và tìm đến các phương tiện ngoại giao và kinh tế để chia rã Trung Quốc với các nước này,” Tân Hoa Xã lên án và đưa dẫn chứng là việc Washington đang rất nỗ lực để thúc đẩy Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và lên án đây là nỗ lực ‘tìm kiếm vị thế là nước cầm trịch sự phát triển kinh tế của khu vực’.

“Tóm lại, Washington có ý đồ trục lợi bằng cách khuấy động cãi vã giữa các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương để giành lại vai trò bá chủ trong khu vực.”

“Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng sự can thiệp từ bên ngoài để giải quyết các tranh chấp chủ quyền rốt cuộc sẽ chỉ dẫn đến thảm họa.”

Tân Hoa Xã

“Washington đã viện đến các phương tiện ngoại giao, kinh tế và chiến lược mà Ngoại trưởng Clinton gọi là ‘quyền lực thông minh’ để gây xáo trộn trong khu vực,” Tân Hoa Xã phân tích.

“Đó là cốt lõi của cái gọi là ‘quyền lực thông minh’ (của Mỹ),” bài xã luận kết luận.

“Thật sự là mục tiêu của chuyến Á du của Clinton là kiềm chế ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc, và cốt lõi trong chiến lược của Mỹ là duy trì sự thống trị và thế bá chủ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.”

Trong bối cảnh đó, Tân Hoa Xã nhìn nhận chuyến đi của bà Clinton đến đảo Cook là cũng nhằm để hạn chế ảnh hưởng đang lên của Bắc Kinh đối với các quốc đảo nhỏ giữa Thái Bình Dương.

 

Bắc Kinh sứt mẻ uy tín do áp lực chủ nghĩa dân tộc trong nước – RFI

31 Th8

Bắc Kinh sứt mẻ uy tín do áp lực chủ nghĩa dân tộc trong nước

Cựu trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á, Christopher R. Hill (DR)

Cựu trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á, Christopher R. Hill (DR)
 

Trong bài viết mang tựa đề « Sự chia rẽ trong nội bộ Trung Quốc » đăng trên trang diễn đàn của nhật báo Le Figaro hôm nay, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách Đông Á, ông Christopher R.Hill nhận xét, hình ảnh của Trung Quốc trên trường quốc tế đã bị tổn thương vì chính sách đối ngoại thiếu nhất quán.

 

Tác giả viết, trong những năm gần đây, sự suy tàn của Hoa Kỳ đã được bàn đến rất nhiều, mà hệ quả là Trung Quốc có thể giành được ngôi vị cường quốc số một thế giới. Nhưng cho dù Hoa Kỳ phải đối mặt với những vấn đề cần khẩn trương giải quyết, nếu Trung Quốc muốn mở rộng tầm vóc quốc tế, chưa nói đến việc qua mặt Hoa Kỳ, thì trước hết cần chỉnh đốn trong nội bộ. 

Gần đây Trung Quốc ngày càng dấn sâu vào những cuộc xung đột âm ỉ như hồi thế kỷ 19, với nhiều nước láng giềng Đông Nam Á, qua những yêu sách chủ quyền trên Biển Đông. Yêu sách « đường lưỡi bò 9 đoạn » này, chủ yếu nhằm chuyển toàn bộ Biển Đông thành vùng biển riêng của Trung Quốc, là thừa hưởng từ thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. 

Vì sao lại dựa vào ông thống chế này để làm cơ sở cho yêu sách ? Trung Quốc khẳng định Biển Đông thuộc về Trung Hoa từ nhiều ngàn năm trước, nhưng nguồn gốc các tranh chấp lãnh hải thì chỉ mới đây, liên quan đến việc quân phiệt Nhật chiếm đóng Đài Loan đến năm 1945. Thế là Trung Quốc mà nền văn hóa và những thành tựu được thế giới ngưỡng mộ, nay lại lao vào cuộc đấu võ mồm – có thêm vài chiến hạm hỗ trợ – với hầu như toàn bộ các nước láng giềng xung quanh, về một vấn đề lẽ ra cần phải là một tiến trình thương lượng quốc tế nghiêm chỉnh. 

Theo tác giả bài viết, thì thái độ vụng về của Bắc Kinh tại Biển Đông chủ yếu là do bộ phận dân tộc cực đoan trong nước đã lên án các nhà lãnh đạo là « mềm yếu », đòi họ phải cứng rắn hơn. Chẳng hạn có thể thấy rõ sự trỗi dậy của khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa trong số 500 triệu người Trung Quốc sử dụng internet, với những châm biếm về « sự nhu nhược » của chính quyền trong việc bảo việc lợi ích đất nước. 

Chính quyền Trung Quốc vô cùng nhạy cảm trước những chỉ trích này. Nếu một blogger đả kích chính phủ về việc đàn áp phong trào Pháp Luân Công, hay ủng hộ đối lập Tây Tạng, thì công an sẽ can thiệp ngay. Nhưng nếu giới blogger đưa ra lời kêu gọi sô-vanh nước lớn cho việc chinh phục các nguồn cung nguyên vật liệu mới, chính phủ hoan nghênh và tìm cách áp dụng. 

Áp lực từ bên trong cũng đã đặt Trung Quốc vào tình thế khó khăn, trong những trường hợp khác. Nhiều quan sát viên quốc tế có thể bỏ qua cho thái độ của Trung Quốc tại Biển Đông, vì nhiều nước khác lớn cũng như nhỏ cũng có những tranh chấp trên biển với các láng giềng. Nhưng các nhân tố cực đoan Trung Quốc, từ cư dân mạng cho đến các định chế chính thức, đã góp phần làm cho tổng thể các hoạt động quốc tế của Bắc Kinh bị thiên hạ chê cười, từ các nước lân bang nhỏ bé cho đến các cường quốc trên thế giới. 

Một ví dụ điển hình là sự ủng hộ không mệt mỏi của Trung Quốc đối với Bắc Triều Tiên – nước muốn sở hữu vũ khí nguyên tử. Không có bất kỳ quốc gia có trách nhiệm nào trên thế giới ngày nay có thể chấp nhận được thái độ của Bình Nhưỡng. Nhưng Bắc Kinh quan tâm quá nhiều đến chính sách đối nội, đến nỗi không thấy được cái giá phải trả cho việc không hề phản ứng trước làn sóng lên án sau mỗi hành động khiêu khích của Bắc Triều Tiên. Sự thản nhiên của Bắc Kinh trước vụ Bắc Triều Tiên tấn công quân sự vào Hàn Quốc năm 2010 chẳng hạn, đã khiến nước láng giềng này trở nên lạnh nhạt trong quan hệ song phương. 

Chính sách không nhất quán của Trung Quốc bắt nguồn từ sự bất lực trong việc xác định đường hướng nội trị : nhiều người Trung Quốc vẫn xem Bắc Triều Tiên là nước anh em đồng minh. 

Syria là sai lầm quốc tế gần đây nhất của Trung Quốc. Không ai chờ đợi Bắc Kinh có cùng quan điểm với châu Âu hoặc Hoa Kỳ trong hồ sơ này. Nhưng sự chọn lựa mặc nhiên đứng về phía đối địch – ngay cả khi điều này bất lợi cho lợi ích quốc gia – khiến người ta phải đặt câu hỏi, liệu Trung Quốc có đủ nội lực để đóng vai trò hàng đầu trên trường quốc tế ? 

Apple kiện Samsung : Táo nuốt không trôi

Cũng liên quan đến châu Á nhưng trên lãnh vực kinh tế, nhật báo cánh tả Libération có bài viết mang tựa đề « Seoul nuốt không nổi quả táo Apple ». Bản án phạt một tỉ đô la cho Samsung vì đã vi phạm bản quyền của tập đoàn Apple, Mỹ, đã đụng chạm đến lòng tự hào dân tộc của Hàn Quốc. 

Bị tòa án Mỹ buộc phải bồi thường 1,05 tỉ đô la cho đối thủ cạnh tranh vì đã vi phạm 6 bằng sáng chế đã đăng ký cho iPhone và Ipad, ngoài ra còn bị cấm bán 8 loại điện thoại Samsung trên thị trường Hoa Kỳ, tập đoàn Hàn Quốc không bó tay chịu hàng, và đã động viên đội ngũ của mình trong khi chờ đợi bản án phúc thẩm. Samsung tuyên bố sẽ huy động mọi phương tiện cần thiết để các sản phẩm này vẫn được bán tại Mỹ. 

Thông tín viên của tờ báo tại Seoul nhận định, đây là một đòn hết sức nặng nề cho tập đoàn Hàn Quốc. Một nhà phân tích cho biết, ngay cả những người thường hăng hái chỉ trích Samsung nhất như báo chí cánh tả cũng đã bày tỏ sự thất vọng trước bản án, như là lòng kiêu hãnh của chính họ cũng bị tổn thương. Tờ Korea Times nhắc nhở rằng Samsung đã đóng góp nhiều vào nền kinh tế Mỹ, và phiên tòa diễn ra chỉ cách Cupertino, trụ sở mang tính lịch sử của Apple, chỉ có vài cây số. 

Về mặt kinh tế, cho dù cổ phiếu của Samsung hôm thứ Hai đã bị sụt mất 7,5% trên thị trường chứng khoán Seoul, thiệt hại về tài chính của tập đoàn hàng đầu thế giới về điện thoại di động thật ra không nhiều lắm. Và tuy nhiều model bị tòa án Mỹ cấm bán trên thị trường nước này, nhưng các sản phẩm đó đã cũ. Còn với các kiểu điện thoại mới, Samsung từ nay sẽ quan tâm đến vấn đề bằng sáng chế hơn. 

Đáng lo ngại nhất là tiếng xấu « sao chép », và theo nhiều nhà phân tích, thì đây cũng là dịp để Samsung chỉnh đốn lại, trở thành cột trụ trong lãnh vực thay vì chạy đua theo các nhà sản xuất khác. Vốn là nhãn hiệu duy nhất dám cạnh tranh với iPhone, trong khi Nokia và Motorola đã quy hàng, Samsung có thể thành công nếu nỗ lực tối đa, vì tập đoàn này đang quy tụ các kỹ sư giỏi nhất nước. 

Thủ tướng Đức nổi bật trên trường quốc tế

Tại châu Âu, Le Monde chú ý đến bà Angela Merkel qua chuyến công du mới nhất tại Trung Quốc trong hai ngày 29 và 30/8. Theo tờ báo, bà Merkel đang đóng vai trò ngày càng nổi bật trên chính trường quốc tế, đại diện cho tiếng nói đối ngoại của Đức và của châu Âu. 

Đây là lần thứ sáu kể từ khi lên nắm quyền, và lần thứ hai trong năm bà Merkel đến thăm Trung Quốc, chứng tỏ quan hệ mật thiết giữa hai nước. Chuyến đi này trong khuôn khổ các cuộc gặp liên chính phủ Đức – Trung mỗi hai năm một lần, nhưng lần này chính Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đề nghị gặp gỡ sớm hơn, trước khi diễn ra Đại hội Đảng. Và địa điểm gặp không chỉ ở Bắc Kinh mà còn tại Thiên Tân, sinh quán của ông Ôn Gia Bảo. 

Tháp tùng bà Merkel có đến 9 bộ trưởng và khoảng hai chục doanh nhân, còn phía Trung Quốc thì đến 13 thành viên chính phủ đón tiếp, trong đó có Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và những nhân vật sẽ kế vị là Lý Khắc Cường, Tập Cận Bình, chứng tỏ sự quan trọng của chuyến công du. Theo phía Đức, Trung Quốc không tổ chức các cuộc gặp liên chính phủ tương tự với bất cứ quốc gia nào khác. Thông tín viên Le Monde tại Berlin nhận xét, kỹ nghệ Đức chuyên về máy công cụ và xe hơi hạng sang, bổ sung được cho một Trung Quốc muốn trưng ra sự giàu có của mình, và sản xuất được hàng cao cấp hơn. 

Bên cạnh đó, Đức và Trung Quốc đều xem nhau là đối tác chính trị chủ yếu. Việc đối thoại với Berlin giúp Bắc Kinh tránh đối mặt với Washington, còn Đức lấp đầy sự vắng mặt ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc bằng một chính sách đối ngoại năng động, chủ yếu dựa vào sức mạnh kinh tế của mình. 

Với trọng lượng của nền kinh tế Đức và sự yếu kém trong đối ngoại của Liên hiệp châu Âu, trong những chuyến công du, bà Angela Merkel thường lên tiếng nhân danh châu Âu. Còn đối với Nga, nếu Matxcơva vẫn là đối tác chiến lược của Berlin, thì quan hệ giữa bà Merkel với ông Putin vẫn căng thẳng. Bà cũng sẽ đến thăm Matxcơva vào tháng 11 tới, nhưng không lưu lại qua đêm, chỉ giữ quan hệ tối thiểu. Ngược lại với một nước nhỏ như Tunisia, mà Thủ tướng Đức cho là tấm gương cho Mùa xuân Ả Rập, thì bà sẽ công du vào tháng 10 với một đoàn doanh nhân khá hùng hậu, khiến một số nước có thể ganh tị, trong đó có Pháp. 

Syria : Lý do thái độ không khoan nhượng của Al Assad 

Nhìn sang Syria, Libération phân tích về thái độ không khoan nhượng của Tổng thống Bachar Al Assad, khi trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi mới đây, nhà độc tài hứa hẹn sẽ đập tan phe nổi dậy. 

Tờ báo nhận định, một vùng đệm để đón tiếp người tị nạn Syria không thể hình thành nếu không có vùng cấm bay. Mà vùng cấm bay không thể được thành lập nếu không có nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, trong khi Assad có thể trông cậy vào việc Nga và Trung Quốc sử dụng quyền phủ quyết – vốn đã được hai nước này sử dụng ba lần để vô hiệu hóa các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc trừng phạt Syria. 

Libération chú ý đến phát biểu của ông Assad trong cuộc phỏng vấn trên kênh truyền hình Ad Dounia : « Nói về vùng đệm, trước hết không phải là một chọn lựa trên bàn đàm phán, thứ đến là một ý tưởng siêu thực đối với các nhà nước thù địch với Syria ». Tờ báo cho rằng tuyên bố không khoan nhượng này của ông Assad nhắm đến người Nga. Đây có thể coi là câu trả lời cho tuyên bố đầy ngạc nhiên hôm 21/8 của ông Qadri Jamil, Phó thủ tướng Syria, rằng chế độ Damas sẵn sàng thảo luận về sự ra đi của ông Assad. 

Theo tờ báo cánh tả Pháp, thì ông Jamil, thành viên đảng Cộng sản Syria vốn liên minh với đảng Baas từ lâu, có thể là nhân viên tình báo Nga. Như vậy tuyên bố của ông có lẽ đã được Kremlin mớm lời, cho thấy Nga bắt đầu chán ngán Tổng thống Syria. 

Cũng theo Libération, nếu nhà độc tài cảm thấy đang ở thế mạnh, cũng là vì phe đối lập không thể vượt qua được những chia rẽ trong nội bộ cũng như bên ngoài, nên rất khó, nếu không nói là bất khả, hình thành được một chính phủ lâm thời có thể được phương Tây công nhận. Bên cạnh đó là sự can thiệp ngày càng sâu của Iran trong cuộc nội chiến Syria.

Nhà văn trước mặt trái của toàn cầu hóa

31 Th8

Nhà văn trước mặt trái của toàn cầu hóa

Arundhati Roy (Ấn Độ)

VanVN.Net

– Nhà văn và người nghệ sĩ phải đóng vai trò gì trong xã hội? Liệu chúng ta có thể định nghĩa được vai trò này không? Chúng ta có thể xác định nó, mô tả nó một cách rõ ràng không? Và chúng ta có nên làm như thế? Một nhà văn đích thực hoàn toàn không thể thoái thác trách nhiệm đó và phải đặc biệt quan tâm đến những giá trị đạo đức và mỹ học mà xã hội yêu cầu. Đành rằng để có được những tác phẩm lớn, nhà văn phải được tự do hoàn toàn trong suy nghĩ, nhưng nếu cứ lạm dụng sự tự do, anh ta sẽ biến thành một nghệ sĩ tồi. Nghề viết buộc nhà văn phải hài hoà giữa đạo đức, ý tưởng sáng tạo, tính xác thực và tinh thần trách nhiệm.

Làm thế nào để phân định được rạch ròi giới hạn của sáng tạo và tính xác thực? Làm thế nào để biết là ta đã vượt qua giới hạn đó? Theo tôi, đích thân nhà văn phải cảm nhận được điều này chứ không phải nhờ một ai khác. Thực tế là không một độc giả, nhà phê bình, nhà xuất bản, đồng nghiệp, bạn bè hay kẻ thù nào, lại có thể chỉ cho bạn điều đó một cách chính xác. Chính mỗi nhà văn là người phải tự đặt ra câu hỏi và tự trả lời một cách trung thực. Và khi bạn đã định nghĩa được nó rồi, bạn không được phép bỏ qua. Lúc này, bạn chẳng có sự lựa chọn nào nữa, bạn phải sống với nó, phải sáng tác với sự phức tạp, sự đối lập, và những đòi hỏi của giới hạn đó. Mà điều này thì chẳng dễ tẹo nào. Những lời tán dương và những tràng pháo tay chẳng đảm bào được điều gì, và nó có thể đặt bạn vào trạng thái hoang tưởng. Trong khi đất nước bị đe dọa, liệu bạn có thể thờ ơ với thời cuộc để viết về chuyện con ong cái bướm, quan tâm đến cuộc sống bí mật của loài cá vàng trong bể kính, hay bực mình với tính khí trái khoáy của một bà già? Bạn không thể, một nhà văn đích thực không thể làm như vậy mặc dù đó cũng là những chủ đề của nghệ thuật. Một khi bạn đã hiểu rằng có một nguy cơ, bạn không thể và không được phép thờ ơ. Im lặng cũng là một hành vi chính trị chẳng khác gì chống đối. Bạn không thể là người vô tội đối với những gì xảy ra quanh mình.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, xã hội dân sự và các thể chế công tại những nước lớn mạnh nhất thế giới đang đấu tranh hết mình vì quyền tự do ngôn luận của các nhà văn. Bất cứ ai có ý định khiến người khác phải im lặng hoặc bịt miệng người nghệ sĩ đều bị phản đối kịch liệt. Nhà văn được bảo vệ và được bênh vực, đó là điều thật tuyệt vời. Nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ, người làm phim đang giữ vị trí trung tâm của nền văn minh hiện đại. Theo tôi, nghệ sĩ ngày nay được tự do hơn bao giờ hết. Bởi vì chưa bao giờ có nhiều nhà văn hành nghề đến như thế (thời đại Internet mà), chưa bao giờ chúng ta, những người nghệ sĩ, lại có thể được coi trọng như bây giờ. Chúng ta sống, phát đạt ngay giữa thị trường thế giới. Nhưng tôi lại băn khoăn tự hỏi, không biết điều này sẽ dẫn ta đến đâu? Phải chăng chúng ta cố tình không hiểu một sự trơ ì vô nghĩa? Nghệ thuật của chúng ta có bị sở thích của một nhóm người lắm tiền ảnh hưởng? Liệu sở thích của độc giả-những người nhờ có họ mà chúng ta sống và viết- có ảnh hưởng đến cái nhìn của chúng ta về thế giới không? Điều đó tách chúng ta ra khỏi thực tại đến mức nào?

Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi, cuốn Chúa của những điều bé nhỏ. Hồi đầu, mọi người nói về tôi như tác giả của tác phẩm đầu tay “thành công một cách kì lạ”. Nhưng giờ đây, người ta lại mô tả chính tôi là một người kì lạ. Có vẻ như tôi là cái mà trong thế kỷ XXI, người ta gọi là một “tác giả có định kiến”. Tại sao người ta lại nói tôi như thế, và tại sao điều đó lại khiến tôi cảm thấy đáng khinh bỉ, ngay cả khi nó được nói ra với vẻ tán dương, ngưỡng mộ? Tôi là một “tác giả có định kiến” chỉ bởi vì sau cuốn Chúa của những điều bé nhỏ, tôi đã viết ba cuốn tiểu luận chính trị: Sự kết thúc của trí tưởng tượng, về vụ thử vũ khí hạt nhân ở ấn Độ; Tài sản chung quý giá, chống lại chính sách vật cản; và Sự hoá thân của Rumpelstiltskin, nói về quá trình tư hữu hoá hạ tầng cơ sở chính như điện, nước…

Bây giờ, tôi mới tự hỏi tại sao bản thân tôi, tác giả cuốn Chúa của những điều bé nhỏ,  lại là một nhà văn, và tại sao tôi, tác giả của những cuốn chính luận, lại là một nhà quân sự. Hoặc là cuốn trước, với vai trò là một tiểu thuyết, chỉ mô tả một thế giới viễn tưởng, nhưng đó là một tác phẩm cũng có định kiến như những cuốn luận chính trị của tôi;  hoặc là những cuốn luận chính trị kia thể hiện một thực tế, chứ không phải viễn tưởng, nhưng từ khi nào các nhà văn lại phải từ chối nói về thực tại?

Thời gian gần đây xuất hiện một mối đe doạ mới trên phạm vi toàn cầu, đè nặng cuộc sống của tất cả các quốc gia – dân tộc. Đây không phải là một cuộc chiến tranh, một cuộc tàn sát, một sự thanh lọc sắc tộc. Về bề ngoài, chỉ có giới thương gia là có liên quan. So với một cuộc diệt chủng hay một cuộc chiến tranh, thì mối đe doạ này vẫn chưa đến mức bi thương, gay gắt lắm, nó bình thường thôi nhưng lại có sức huỷ diệt lớn hơn nhiều bom đạn. Nó liên quan đến những vấn đề quen thuộc như thuế má, buôn bán, điện, nước, tưới tiêu… Nhưng nó lại nằm trong một quá trình tước đoạt quyền sở hữu một cách dã man chưa từng có. Chắc chắn các bạn đã đoán ra là tôi muốn nói đến toàn cầu hoá.

Toàn cầu hoá là gì? Nó liên quan đến ai? Nó gây ra những hậu quả gì đối với một đất nước như ấn Độ, nơi bất bình đẳng xã hội đã được thể chế hoá bằng hệ thống đẳng cấp từ nhiều thế kỷ nay, nơi mà hàng trăm triệu người sống ở nông thôn, 80% khai thác nông nghiệp ở dạng trang trại nhỏ, 1/2 dân số không biết đọc, không biết viết? Thương mại hoá và Toàn cầu hoá nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, toàn cầu hoá việc phân phối điện, nước và hàng tiêu dùng phải chăng sẽ giúp các nước đang phát triển thoát khỏi khủng hoảng, đói nghèo, thất học và sự sùng đạo thái quá? Hay là sẽ khiến các nước này bị tan rã và sau đó bị bán cho những ai trả giá cao nhất những cơ sở hạ tầng được xây dựng và phát triển nhờ vào vốn của nhà nước? Toàn cầu hoá các doanh nghiệp liệu có thu hẹp khoảng cách giữa các nền kinh tế phát triển và chậm phát triển, giữa người giầu và người nghèo, giữa người được giáo dục và người không được giáo dục hay chăng? Liệu toàn cầu hoá có quan tâm đến việc giải quyết nạn đói nghèo trên thế giới hay chỉ là một hình thức đô hộ kiểu mới, điều khiển từ xa bằng kỹ thuật số? Đây là những câu hỏi lớn gây nhiều tranh cãi… và các câu trả lời rất khác nhau tùy vào tình hình cụ thể của từng nước, từng vùng, từng thể chế xã hội.

Ấn Độ chưa bao giờ sản xuất ra được nhiều đường, sữa và ngũ cốc như ngày nay. 42 triệu tấn ngũ cốc thừa, tức là 1/4 sản lượng hàng năm đã được chất vào kho của Chính phủ. Người nông dân thất vọng vì bỗng dưng mình sản xuất quá nhiều! Trong những vùng chiến lược quan trọng, Chính phủ đã chi rất nhiều tiền để mua lương thực dự trữ. Tuy nhiên, theo hợp đồng với WTO, Chính phủ ấn Độ đã buộc phải xoá bỏ những hạn chế về nhập khẩu của 1.400 mặt hàng tiêu dùng như sữa, ngũ cốc, đường, vải, chè, cà fê, cao su và dầu chà là, mặc dù trên thị trường nước mình đang tràn ngập chúng. Trong khi ngũ cốc đang nằm trong kho của Chính phủ thì vẫn có hàng trăm triệu người dân ấn Độ sống dưới mức nghèo khổ, thậm chí không có gì ăn, và số người chết đói vẫn ngày một gia tăng.

Điều này hoàn toàn là sự thực. Chính phủ ấn Độ đã phải dỡ bỏ những rào cản nhập khẩu của mình vì đã tham gia vào Toàn cầu hóa, gia nhập WTO. Vậy là thị trường nội địa của chúng ta đã bị sụp đổ hoàn toàn vì hàng nhập khẩu. Trên lý thuyết, ấn Độ có thể tự do xuất khẩu các hàng nông sản, nhưng trên thực tế, lại không thể làm được điều đó, vì chất lượng hàng nông sản không đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và bảo vệ môi trường.

Thông qua WTO, một số nước phát triển như Mỹ, những nước mà nền nông nghiệp nhận được trợ cấp rất lớn của chính phủ và chỉ có 2-3% dân số sống bằng nghề này, đã gây sức ép để các nước như ấn Độ phải ngừng trợ cấp cho nông dân, để thị trường “mang tính cạnh tranh” hơn. Các cơ sở sản xuất nông nghiệp lớn trên hàng nghìn hécta đất lại muốn cạnh tranh với những người nông dân chỉ trồng cấy trên mấy sào ruộng!

Nền kinh tế nông nghiệp của ấn Độ đã bị bóp nghẹt. Các chủ trang trại sản xuất quá nhiều cũng như những chủ sản xuất nhỏ đều bị đe doạ; còn công nhân nông nghiệp thì không có đất, họ lâm vào cảnh thất nghiệp, và như vậy là đói nghèo, nheo nhóc. Họ đổ về thành phố với hy vọng kiếm được việc làm.

Trong trường hợp này, tôi biết mình phải đứng vào hàng ngũ của những người nghệ sĩ dám đứng lên đấu tranh vì chân, thiện, mỹ. Chưa bao giờ tôi thấy cần phải đứng lên đấu tranh như bây giờ. Trong thời đại đôla hoá các quan hệ kinh tế, chính trị cũng như văn hoá – xã hội như hiện nay, giới nghệ sĩ phải là người đi đầu trong phong trào bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc. Nhà văn phải nói về sự thật, về những điều đang xảy ra quanh mình mà xã hội quan tâm. Tuy nhiên, những gì mà nhà văn thể hiện trên trang giấy không nên là một sự thật sống sượng phi nghệ thuật. Họ phải sáng tạo, phải “bịa”, nhưng sao cho người đọc vẫn cảm thấy đó là sự thật. Để làm được điều này, nhà văn phải khó tính, khó tính lắm, với chính bản thân mình. Nhà văn phải rèn cho mình tính chính xác, khả năng phân tích, lập luận và gạn lọc những gì tinh tuý nhất, đại diện nhất của cuộc sống thực tại để đưa lên trang viết. Nhà văn phải đi sâu vào cuộc sống, sống cùng cuộc sống khổ cực của người dân, họ vừa phải là một nhà chính trị, một nhà trí thức, một người công nhân, một người nông dân “nông dân” hơn ai hết. Sở dĩ tôi thấy nhà văn phải hiểu biết và sống nhiều cuộc sống như vậy là vì có như thế họ mới đề cập được chính xác và thuyết phục về những gì toàn xã hội quan tâm.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế và đồng nhất hoá về văn hoá như hiện nay, nhà văn phải dấn mình vào cuộc đấu tranh chống lại những biến động chính trị, kinh tế, xã hội không phải với tư cách một chiến binh chuyên nghiệp, mà là với tư cách một con người biết động lòng trắc ẩn vì chân, thiện, mỹ. Chiến đấu bằng ngòi bút là cách tốt nhất mà một nhà văn có thể làm. Phần lớn người dân còn chưa ý thức về những gì đang diễn ra đâu. Vì vậy chính nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, ca sĩ, và đạo diễn… phải là chiếc cầu nối người dân với các vấn đề xã hội nóng bỏng. Hiện nay, nhà văn đang phải đứng trước một thách thức lớn: sáng tạo ra một phong cách nghệ thuật biểu đạt mới. Một nghệ thuật có khả năng biến cái hữu hình thành cái vô hình, cái cụ thể thành cái trừu tượng, cái nhìn thấy được thành cái không nhìn thấy được. Một nghệ thuật có khả năng xác định được đối thủ vô hình để buộc chúng hiện nguyên hình rồi tiêu diệt tận gốc. Và chúng ta hãy cùng sáng tạo theo phong cách nghệ thuật này.

Ngô Vũ

(Theo Le courrier international

%d bloggers like this: