Lưu trữ | 8:59 Sáng

Hai hiện tượng bất thường: Một, mạo danh thơ Thiền Yên Tử. Hai, mạo danh Thiền của vua Trần Nhân Tông cần phải được báo động rộng rãi. – trannhuong

6 Th9

 

Hai hiện tượng bất thường: Một, mạo danh thơ Thiền Yên Tử. Hai, mạo danh Thiền của vua Trần Nhân Tông cần phải được báo động rộng rãi.

Minh Đức Triều Tâm Ảnh
 
 
Trong thời gian gần đây có hai hiện tượng được đài báo và nhiêu tạp chí truyền thông… Một là “hiện tượng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” của ông Hoàng Quang Thuận, và hai là hiện tượng “đạo sư” Duy Tuệ lập nhiều câu lạc bộ, nhóm, hội “ Thiền Minh Triết Trần Nhân Tông” trong và ngoài nước.

Hiện tượng nào cũng như sóng nổi ầm ào… và đúng sai, phải trái, chân ngụy – mọi người cũng đang bàn cãi, tranh luận…

Nhận thấy cả hai hiện tượng đều liên hệ đến vua Trần Nhân Tông, sơ tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Cả hai đều mượn danh nghĩa ngài. Một người làm thơ về Yên Tử, rồi cổ súy, ca ngợi trở thành “Thơ thiền non thiêng Yên Tử” để dự giải Nobel văn học! Một người lấy luôn tên hội của mình là “Thiền Minh Triết Trần Nhân Tông” để rao giảng “xuyên quốc gia” có nhiều tổ chức “nâng” và “đỡ”.

Nhận thấy đây là mối nguy hại cho Phật giáo nói chung và non thiêng Yên Tử, Hương Vân đầu đà nói riêng – nên tôi, là một tu sĩ, do có nghiên cứu thơ Thiền, và Thiền của đại sĩ nên tôi muốn đóng góp một tiếng nói chính quy từ cửa Thiền, cửa Phật không phân biệt Bắc Nam cùng mọi tông hệ trên toàn thế giới – hầu cùng chư vị thức giả, trí giả suy ngẫm để biết đâu là cái thực và đâu là cái giả, đâu là cái chánh, đâu là cái tà.
Dĩ nhiên, hai bài viết của tôi phải bám tựa vững chắc trên mảnh đất Phật học và Thiền học mang tinh yếu, cốt lõi nền tảng chung của giáo pháp.
Trân trọng,
Tỳ-khưu Giới Đức
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

 
 
Bài thứ nhất:
Hiện tượng “thơ Thiền” của Hoàng Quang Thuận

Hoa Tàn, Mưa Tạnh,
Non Yên Lặng

Hiện tượng thiên tài thơ, siêu việt thơ, thần thánh thơ… của GSTS Hoàng Quang Thuận – Viện trưởng Viện Công nghệ Viễn thông Việt Nam – qua hai tập “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” mà hội Nhà văn Việt Nam vừa tổ chức hội thảo với những bài tụng ca vi vút tận trời xanh, xem như “dòng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” và người ta đã gởi đi dự giải Nobel văn học, người ta đã tặng cho đất Phật Yên Tử cuốn sách độc bản với kích thước 125cm x 80cm x 16cm nặng 120 ký đạt kỷ lục châu Á; lại nghe tin hành lang là người còn dự định cho khắc chạm “thơ Thiền này” khắp núi non Yên Tử nữa!

Hiện tượng ấy như là một cái gì cần phải “chau mày suy nghĩ” đối với nền văn học nước nhà, nhất là văn học Phật giáo. Người ta muốn quảng cáo như thế nào, đạt được kỳ vọng gì là quyền của người ta, nhưng ca tụng thái quá hai tập thơ ấy như là “thơ Thiền non thiêng Yên Tử” là một cái gì thiếu nghiêm túc, thiếu cẩn trọng cần phải được báo động:
– Thơ của Hoàng Quang Thuận có phải là “thơ thiền”  hay không?
– Một người Phật tử hay là một người mộ Phật, cảm xúc về Yên Tử có thể làm được “thơ thiền” chăng?
– Thơ “nhập đồng” hay là kiểu mượn bút viện cớ là của tiền nhân có phải là tinh thần Phật giáo không?
– Làm thơ mà “đạo văn” của người khác – dù bạn bè đã gắng gượng đính chính chỉ là “mượn văn” – cái tâm ấy có thể sáng tác ra “thơ thiền” được chăng?

Hỏi, dường như đã có câu trả lời. Một người Phật tử bình thường cũng cảm nhận, cũng ý thức được đấy là chuyện “không thể”. Thế nhưng, tại sao, thiên hạ chẳng thấy đó là chuyện “không thể”, lại làm một trò đùa hơi quá đáng để “tụng ca, tán thán ca” bằng một bè hợp xướng, một giàn đồng ca ”tươi vui xôm trò” như thế?

Cái hiện tượng thơ Thiền ấy tạo nên một cao trào “rôm rả” mà ta có thể tóm lược như sau:
– Hai tập thơ đã được in và tái bản bốn lần bằng tiếng Việt và cùng ba thứ chữ Việt-Pháp-Anh với số lượng in lên đến 25.000 bản. Và người ta đã làm đầy đủ hồ sơ hai tập thơ và dịch ra tiếng Anh gửi tham dự giải Nobel văn học.
– Có một vị giáo sư mê say ngồi dịch nó mặc dù tuổi cao sức yếu vì không thể cưỡng lại “chất Thiền” ở trong đó.
– Có một ngài nguyên Tổng giám đốc đài nghe nhìn, đọc thơ của ông Thuận đã cảm hứng thốt lên bằng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tuy không đúng niêm luật, lại tán thơm: “Tôi tưởng theo anh thăm Yên Tử/ Nào ngờ lạc bước chốn thi vân/ Hoàng Quang cửa Phật soi câu chữ/ Thuận dòng rửa sạch chốn bụi trần”.

– Đến nay hiện đã có hàng chục tờ báo ở trung ương và địa phương, từ báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Sài Gòn Giải phóng đến các báo Hạ Long, Quảng Ninh, Thể thao – Văn hóa… đều đã có bài đăng tải về “hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận”. Thậm chí có người “cho lên mây xanh” nhưng dựa trên nền thực trạng bát nháo thơ Việt hôm nay: “Giữa thời buổi thơ in ra nhan nhản, chủ yếu xoay quanh đề tài tình yêu hoặc co vào suy tưởng chiêm nghiệm cá nhân, đôi khi rối mù tắc tị… thì  “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” như một áng mây lành, thoát tục, trong trẻo đến lạ lùng dắt người đọc vào chốn Bồng Lai, rũ bỏ bụi trần trở về với bản ngã thiện tâm trong mỗi con người…”

– Tập thơ đã có tiếng vang thật là “quốc tế”, có lẽ do không tiếc công quảng cáo, tiếp thị, “ưu thế quan hệ” và cả cái gì đó khó hiểu nữa – đến đổi Tổng Thống Pháp đã khen ngợi, Tổng Thống Mỹ gởi lời cảm ơn và hoàng cung Thụy Điển đánh giá là cao siêu và sâu sắc!

– Trước sự động viên cổ vũ của “giàn đồng ca”, ông Thuận đã tự mình – hay ai đó xúi giục – gửi hai tập thơ ấy đi tham dự giải Nobel văn học; và có người còn đẩy “giá trị thơ thiền” ấy đi quá xa, rằng là: “Được giải hay không chẳng quan trọng bằng việc hai tập thơ đã là sách gối đầu giường của nhiều bạn đọc hôm nay và mai sau, đặc biệt đối với những ai yêu thích ‘dòng thơ Thiền’ với những trải nghiệm tâm linh cực kỳ thú vị”.

Còn nữa, chúng ta còn có duyên may mắn ngàn năm một thuở được nghe khúc hòa tấu vang vọng lên tận non thiêng Yên Tử, nó động đến, làm giật mình những hồn thơ cổ xưa, cổ kính của sơ tổ Trúc Lâm, tam tổ Huyền Quang và cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Ngạn nữa…

Để có thêm tư liệu dẫn chứng, tôi xin nhắc đến bài “Thi vân Yên Tử – tác phẩm và dư luận” của GD&TĐ Online đã đúc kết đại lược là: Sau hội thảo “Hoàng Quang Thuận với Non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn – Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 8/8/2012, có rất đông người yêu thơ phản hồi bày tỏ tình cảm quan tâm, trân trọng những vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền. Đại diện cho Hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh nói rằng: “Thơ anh – Hoàng Quang Thuận – là một bức tranh tôn giáo trầm mặc mà sống động, thanh khiết mà run rẩy!”

Những ai quan tâm đến nội dung buổi hội thảo mà GD&TĐ đề cập để biết cái “thanh khiết mà run rẩy” của Hữu Thỉnh muốn nói là cái gì – thì có thể đọc bài của ông:  “Một hồn thơ sau những bức tranh tôn giáo”. Tiếp theo, những ai muốn nghe những “vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền” ấy ra sao thì cứ nhờ chú Google dẫn đường để xem thêm một số bài khác:

– Lạc đạo tùy duyên cùng Thi Vân Yên Tử (Đỗ Ngọc Yên). Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử (Hữu Việt). Cảm hứng thiền trong thơ Hoàng Quang Thuận (Ngô Hương Giang). Dấu tích vua Phật Trần Nhân Tông ở Yên Tử trong lòng thi nhân (Đặng Hiến). Vẻ đẹp cõi Phật trong Thi Vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận (Nguyễn Toàn Thắng). Cảm thức tâm linh trong thơ Hoàng Quang Thuận (Dương Kỳ Anh). Thiền vị trong Thi vân  Yên Tử  của Hoàng Quang Thuận (Trần Thị Thanh). Về Yên Tử đọc thơ Hoàng Quang Thuận (Đăng Lan). Cảnh vật trong cảm thức thiền tông (Phạm Quang Trung). Không gian “Thiền” trong Thi vân Yên Tử (TS. Hà Ngọc Hòa). Yên Tử qua thơ Hoàng Quang Thuận (Thu Phong). Chữ tâm trong Thi Vân Yên Tử (Mộc Lan). GS. Hoàng Quang Thuận: Tiền nhân mượn bút tôi viết thơ (Dương Tử Thành). Có một nhà thơ danh sơn Yên Tử (Trần Nhuận Minh). Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận – Một chân dung thơ –  Phật tính hiền truyền (Hoàng Trung Hiếu). Tình yêu đất nước và chất thiền Thi Vân Yên Tử (Thế Trung). Thi vân Yên Tử của tác giả Hoàng Quang Thuận như một hiện tượng văn học (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn).

Tuy nhiên, có điều đáng mừng là không phải ai cũng chạy theo phong trào ca tụng ấy, quả thật đã có những người đã tỏ vẻ hoài nghi thiên tài thơ thiền ấy, họ đã biết đặt những vấn đề:
– Thi vân Yên Tử “nhập đồng” hay “đạo” thơ? (SGGP Online). Trong đó nhà văn Võ Thị Xuân Hòa: “Hội Nhà văn Việt Nam sẽ làm rõ nghi án ‘đạo’ thơ”. Còn nhà phê bình Nguyễn Hòa: “Liệu nó có đúng là thơ không và có đúng với những gì mà ông Thuận nói là thơ của tiền nhân không, vì theo đánh giá của tôi, đó chỉ là văn bản thơ hạng xoàng!”

– “Thi vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận có phải là thơ nhập đồng? của luật sư Nguyễn Minh Tâm. Trong đó, người viết đã rất trung thực phân tích và chứng minh rõ, thơ ấy không phải là thơ nhập đồng, cũng không phải tiền nhân mượn bút – mà chính Hoàng Quang Thuận đã lấy ý từ quyển sách “Chùa Yên Tử, lịch sử – truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương để “biên soạn lại thành thơ”.

– “Hiện tượng thơ nhập đồng” hay là trò sao chép, lừa đảo? của Mai An đăng ở báo Dân Việt, trong đó tác giả nói trong ba đêm mà sáng tác 141 (sic) bài thơ và dự giải Nobel phải chăng là “giấc mơ quá cỡ”? Rồi Mai An trích câu nói của nhà thơ Trần Trương, hội Nhà văn VN: “Đây là một hành động lừa đảo…”

– Dấu hiệu đạo văn của “nhà thơ nhập đồng” – tác giả Nguyễn Việt Chiến đăng trong tạp chí Văn học và Ngôn ngữ.
– “Hiện tượng thơ nhập đồng”: Sớm làm rõ “nghi án” đạo văn; và “Ai tiếp tay cho nhà thơ nhập đồng Hoàng Quang Thuận dự giải Nobel” – Lê Tâm thực hiện. Trong đó tác giả bảo có nhiều người muốn biết ai viết giấy giới thiệu? Và nổi bật ý kiến: “Dự giải Nobel là một điều khôi hài”.

– Và mới đây là bài “Cái lưỡi… đa nhân cách và những phát ngôn” của Kỳ Duyên đăng tại Báo Mới.com – trong đó tác giả sau khi phê phán khá nặng nề … và viết lơ lửng “Xấu chàng, hổ… Tạp chí Nhà văn”, đã nói là ông Thuận phải trả giá đắt cho sự nông nổi của mình chỉ vì hai chữ lợi danh tai quái; ông muốn đạt tới “ngộ” nhưng có lẽ tục lụy còn quá nhiều, tham, sân si còn quá lớn nên “ngộ nhận” chăng? 

Có lẽ liệt kê như thế cũng tạm đầy đủ. 

Đầu tiên, tôi xin góp ý một cách đúng đắn và khách quan rằng, cả hai tập thơ của Hoàng Quang Thuận là loại thờ tả cảnh, tự sự, cổ tích, sử tích, huyền thoại vào loại bình thường. Tôi nói là bình thường – chớ không dám nói thẳng thừng như nhà phê bình Nguyễn Hòa gọi là “hạng xoàng!” Đối với tôi, nếu “được gọi là thơ” thì thơ Quang Thuận chưa phải là “thơ hay” vì nó thiếu “chất thơ”, tức là thiếu vắng ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. “Chất thơ” thì nó không nằm nơi ý nghĩa bề mặt câu chữ của văn bản mà nó phải ở ngoài hoặc ở phía sau bề mặt câu chữ của văn bản. Cố gắng đọc vài chục bài thơ của ông, tôi đã thấy chán, vì nó “chẳng có thơ” và dĩ nhiên, đích thực là “chẳng có Thiền”! Tôi thấy đâu đó chỉ là sự lắp ghép ý tứ, câu chữ, lựa dáng, tìm vần… nhưng mà cũng chưa chỉnh, chưa “giỏi”  lắm!  Và ý nghĩa của nó chỉ có một, nó nằm “chết”, nằm “bất động” nơi bề mặt câu chữ của văn bản mà thôi. Ta hãy khảo sát một số bài:

1. “Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nóng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chìm rừng líu lót với hương trời”.

2. “Viên gạch Hoa Cúc đời nhà Trần
Phù điêu sư tử sứ hoa vân
Vẫn ba gốc đại ngày xưa ấy
Bao năm xa cách vẫn thấy gần”.

3.“ Từ bỏ ngôi vua để tu hành
Từ cái nhất thời, cái hữu danh.
Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến
Yên Tử trường xuân hóa đất lành”.

4. “Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng
Vươn mình thế núi hướng biển Đông
Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất
Đầu rồng ngoảnh lại hướng Thăng Long”.

5. “Dựng xây cung điện đế triều nghi.
Định đế xưng vương lập thành trì.
Đại Hoàng cổ Việt Trương Yên phủ.
Hào sâu núi hiểm bất khả tri”

Cả năm bài tứ tuyệt, nếu là tứ tuyệt nghiêm túc thời trung đại thì bài nào ở đây cũng thất niêm luật cả (những chữ gạch đáy, đổi trắc thành bằng, bằng thành trắc mới đúng); và ý nghĩa của nó chẳng khác gì thông tin của một văn bản điện tử, hiểu ngay, nắm bắt được ngay! Đây là loại “văn xuôi có vần!” Rất tầm thường! Mới tập làm thơ cũng làm được. Nếu ai đó nói là có tâm thì đúng vậy, nó chỉ có tâm! Nhưng ngay cái tâm ấy cũng chưa nắm bắt căn bản tư tưởng Phật học khi nói “vĩnh hằng và trường xuân” ở nơi bài 3 – vì “vĩnh hằng” là cõi của nước Chúa, còn “trường xuân” là cảnh giới luyện tinh thành khí để đạt “trường xuân bất lão” của Đạo gia! Còn về thơ tứ tuyêt như trên thì nhà phê bình Nguyên Hòa cười mỉm: “Dù tác giả làm nhiều bài thơ tứ tuyệt hoặc ghép hai bài tứ tuyệt thành một bài thất ngôn bát cú cho có dáng dấp Đường luật thì ngay cái việc cố gắng ép thơ vần cũng đã đưa lại ý tứ khôi hài…”

Đấy là chúng ta khảo sát về cái gọi là thơ thì thơ Quang Thuận chỉ là “văn xuôi có vần!”, chưa phải là thơ thứ thiệt! Còn về cái mà người ta gọi là “thơ Thiền” của Quang Thuận, thì hãy nghe nhà phê bình Nguyên Hòa nhắc nhở: “Xin chớ nghĩ hễ trong bài thơ có hình ảnh chùa chiền, non cao, bóng núi, cây đá, mây trời, trăng treo, tiếng hạc… là bài thơ có chất Thiền! Xin hãy hiểu rành rẽ về Thiền và thơ Thiền rồi hãy viết, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘vẽ rắn thêm chân’!” Nói vậy, rõ là ông Nguyên Hòa đã rất thận trọng “về Thiền và thơ Thiền”. Thận trọng là đúng. Tuy nhiên, nếu là tôi, là một tu sĩ có học Thiền, có tu Thiền và cả dạy Thiền, tôi sẽ mạo muội xin phép viết lại mệnh đề cuối như sau:“Xin hãy tu tập Thiền, chứng nghiệm Thiền, sống Thiền rồi hãy làm thơ Thiền, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘đầu thượng trước đầu, tuyết thượng gia sương’! (1)” Vì vậy, hai tập thơ của Quang Thuận viết về Yên Tử mà được mọi người gọi là thơ Thiền thì quả là hơi nóng vội, có cái gì đó thiếu chân xác, cần phải đính chính lại.

Tại sao tôi lại dám nói vậy? Vì thật sự là thơ Thiền thì phải được cảm hứng từ trực giác tâm linh của những Thiền sư đạt ngộ, của những hành giả đã từng miên mật công phu định tuệ (2) trên non cao, động thẳm, trong những tu viện xa vắng, tịch liêu. Các vị ấy đã nhảy qua hố thẳm phạm trù của lý-trí-thức-tri-nhị-nguyên-sai-biệt, đã giải quyết trọn vẹn “tử sinh đại sự”, đã cất tiếng cười lạnh giá cả sao Ngưu, sao Đẩu, đã cởi bỏ tất thảy mọi xiềng xích buộc ràng của bản ngã với những mặt nạ hư dối, đã trang bị cho mình con mắt thứ ba của “tuệ nhãn” nhìn xuyên thủng hư vô bị che chắn dập dờn bởi khói sương mê lầm, vọng huyễn. Cuộc đời các vị ấy là một chân dung mô phạm khả kính. Họ có đời sống giới luật nghiêm túc, có đạo hạnh tôn quý, có tuệ giác khinh linh siêu thoát. Họ sống thiền trong từng hơi thở, từng sát-na nên mới có thẩm quyền về thiền, nói về thiền, mới có thể “thở ra thơ thiền” được. Còn tác giả của những tập thơ Yên Tử này là ai? Một Phật tử hay đơn thuần chỉ là một người mộ Phật? Hoặc chỉ là một người kính yêu non thiêng Yên Tử? Là một con người bình thường có gia đình vợ con? Một cư sĩ trí thức hay một vị quan đang “đại ẩn” tại triều trung? Và nếu gồm tất thảy những con người ấy, với những “hành trạng” như thế thì người ta chỉ có thể làm thơ tức cảnh, tức tình, về tự sự, về cổ tích, về danh thắng hay về huyền thoại… nhưng thơ ấy không thể gọi là thơ thiền! Tôi nghe biết tác giả là một GSTS, một viện trưởng, một nhà khoa học; tuy nhiên, cho dẫu một trí thức uyên bác cũng không thể nào với tới thế giới tâm linh trực giác, là lãnh địa ở ngoài mọi kiến thức và trí năng? Có thể nào trí thức bác học hiện nay trên thế giới ai cũng có thể liễu giác, chứng nghiệm thiền, sống thiền trong một vài sát-na tư duy đốn ngộ và có thể làm được thơ thiền cả thảy? Điều này là bất khả. Điều này là “vẽ lông cho rùa”, “chắp sừng cho thỏ” (3).

Còn nữa. Còn một chuyện nữa. Như người ta nói, và chính tác giả cũng có nói là mình làm trong ba đêm liền tập “Thi vân Yên Tử” gồm 143 bài trong trạng thái như “nhập đồng’, do tiền nhân mượn bút nên khó lý giải được. Đầu tiên, xin được đính chính, là cái kiểu “nhập đồng, mượn bút” kia không phải là tinh thần của nhà Phật chánh tông, nó hơi “tà” rồi đấy! Có người lại suy luận, có lẽ do nhập định sâu mới làm thế được. Xin thưa, “nhập định sâu” (4) thật sự thì phải đóng hết cả sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); trong trạng thái ấy, hành giả đâu có thể khởi tư duy mà làm thơ được?! Hàng ngàn người tu thiền định thứ thiệt họ biết rõ điều đó; nói chuyên môn một chút là phải xuống “cận hành định” mới khởi “tầm và tứ” tức là khởi ý niệm và suy nghĩ được! Riêng chuyện nhập thần, mượn bút thì có thể có – nhưng “tiền nhân” này là ai? Tiền nhân này sao lại có đọc quyển sách “ Chùa Yên Tử, lịch sử, truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương? Cứ dựa theo sách của người ta, đổi văn xuôi thành văn vần để biến ra cái gọi là thơ thiền? Tiền nhân này sao lại “mượn văn” của tác giả đang sống hiện nay một cách vô ngại thời gian như thế? Và nếu có thật chuyện đó thì tiền nhân này không phải là Phật, là thần, là Trần Nhân Tông, là các vị thiền sư, là các đại bút danh sĩ rồi! Tại sao? Vì Phật thần thì không có cái tâm xiêng xẹo, cong vênh như thế! Và nếu là các tác gia thời trung đại thì “đại bút” của các vị ấy đã rơi xuống “tiểu bút” rồi, thi hương cũng không đỗ đâu! Còn nếu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, các vị thiền sư giáng bút thì sao thơ quý ngài lại “xuống cấp” đến vậy, “tầm thường thơ” đến vậy, chẳng có tuệ, có thiền, có trao truyền mật chỉ tâm ấn gì cả?! Tiền nhân này là ai vậy? (5) Chúng ta phải tìm cho ra cái khuôn mặt của ông ta – để giải bớt cái oan khuất cho tất thảy thiền sư, danh sĩ thời Lý, Trần mà văn học sử thường xem như đấy là thời đại đỉnh cao của văn học, là cái “nôi” hàm tàng mọi giá trị mỹ học, thiền học cũng như tinh túy văn hóa bản sắc của cha ông. Tiền nhân nhập bút ấy là ai mà Nguyễn Hòa đã than: Nếu thực sự “tiền nhân mượn bút” của Hoàng Quang Thuận để “viết thơ” thì xem ra thơ của “tiền nhân” đã sa sút đến mức thê thảm… Với các bài thơ chưa đúng niêm luật … mà được gọi là “nghệ thuật Đường thi trác việt” thì đúng là hết thuốc chữa!
Quả đúng là hết thuốc chữa!
Vì “trăm năm duyên kiếp” như thế này mà cũng là thiền sao:
“- Trăm năm duyên kiếp còn lưu lại
Lối cũ đường xưa ngập cỏ cây”.
Và đây cũng gọi là thơ, là thiền sao:
“- Ba tên kẻ cướp nhảy chặn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương!”
Và đây nữa:
“- Hoa Lư kinh thành của Đế vương
 Mây bay phủ núi luỵ biên cương
Hoàng Long dậy sóng ngàn năm ngủ
Long Mã truy phong thượng đạo đường”.

Bài nào cũng thất niêm luật, không những không phải thơ, không phải thơ thiền mà còn không hiểu tác giá đưa thông tin “bí mật” gì ở nơi chỗ “lụy biên cương” và cái “thượng đạo đường”?
Vậy là quá đủ.
Xin chư vị thức giả thẩm định cái gọi là “tiền nhân nhập thần mượn bút” ấy cho!
Tôi không tu Thiền theo thiền phái Trúc Lâm, không phải là đệ tử, thân hữu, cũng không quen biết các ngài, các Sư, Ni ở trong tông môn đó. Tôi thuộc Theravāda, chỉ là một tu sĩ yêu thơ, có nghiên cứu thơ văn của Trúc Lâm tam tổ và các danh sĩ làm thơ có ảnh hưởng thiền thời Lý, Trần. Thơ, thơ thiền, thơ có tư tưởng thiền và thơ có liên hệ đến non thiêng Yên Tử của các vị ấy, vào thời trung đại ấy… tôi nghẹn chữ, không biết nóí sao. Tôi chỉ muốn ví von – dù biết ví von nào cũng khập khễnh – là nó như là hạt tuyết trắng trinh tuyền trên non cao. Nó là đóa hoa tinh khôi, diệu vợi u hương trên đầu núi. Mà bút khí, bút lực, bút trí, bút tâm của thế gian là bút của chợ triền, ở dưới này, thường không vói tới! Nó khác, nó rất khác, nó khác xa so với tất cả thơ mạo nhận là thơ thiền hiện nay. Tảng đá tịnh định, trầm mặc trong vườn thiền hôm kia cũng toát mồ hôi. Lau cỏ quê mùa dân dã, an nhiên sáng nay bên hiên chùa cũng run lẩy bẩy. Hiện tượng phẩm bình hơi quá bút về thơ thiền của Hoàng Quang Thuận làm cho “đá cỏ trong vườn thiền” cũng phải lên tiếng đính chính một vài chỗ cần thiết. Tuy nhiên, thật may mắn thay cho Phật giáo chúng ta, và cả cho những ai yêu non thiêng Yên Tử cùng cốt cách “cam lộ lưu phương (6)” của Hương Vân đầu-đà – là các nhà học giả nghiêm túc, các nhà nghiên cứu có đạo đức tri thức đã đồng loạt phản bác, phê phán nghiêm khắc, đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” của cái trò chơi hơi “quá đà” kia rồi! Chỉ một chút xíu “quá đà” thôi, chớ không nên nói khá nặng lời như ai đó đã xem như là một hiện tượng vĩ cuồng! 
Để kết luận, tôi xin trích bài tứ tuyệt thứ hai trong “Sơn phòng mạn hứng” có 2 câu đầu đối, hai vận, luật bằng nghiêm túc của thiền sư thi sĩ Trần Nhân Tông:

“ Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi, tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận, vũ tình, sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu, hựu xuân tàn”.
Tạm dịch (không lấy hết ý trong cặp đối):

“- Phải, trái niệm rơi hoa rạng sớm 
Lợi danh lòng lạnh mưa thâm đêm
Hoa tàn, mưa tạnh,  non yên lặng
Còn tiễn xuân tàn, một tiếng chim!”
 

Hy vọng rằng, những hiện tượng phù du như vậy rồi sẽ qua đi. Chuyện phải, chuyện trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi. Cái tâm về lợi danh nó lạnh ngắt giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi! Và ngay cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó tạnh hết rồi, chỉ còn lại non yên lặng mà thôi. Và ở nơi cái “thực tại non yên lặng” ấy, một tiếng chim vừa hót lên…Cũng vậy, cái gì không phải thơ, không phải thiền thì nó sẽ rơi, sẽ rụng đi – nhưng sự an tĩnh và thanh khiết của hồn thơ, hồn thiền non thiêng Yên Tử sẽ còn mãi với thời gian. Mong vậy thay!

Chú thích:
(1) Trên cái đầu, chồng thêm cái đầu, trên tuyết lại phủ thêm sương – tức là ý niệm chồng thêm ý niệm, che lấp cái thực!
(2) Định (Samādhi), Tuệ (Vipassanā).
(      3) Thuật ngữ Thiền: “ Thố giác” (sừng thỏ), “mao quy” (lông rùa). Hình ảnh này nói lên ý nghĩa, là người ta đã dùng cái “không thực có” để găm cắm lên “cái thực” – tức là lấy ý niệm, khái niệm (chỉ tồn tại trong tu duy lý tính) để vẽ, để chắp lên pháp như thực tánh, bản nguyên (sabhāva dhamma – paramattha dhamma).
 4) Tối thiểu phải sơ thiền trong bốn tầng (jhāna) thiền.
 (5) Theo nhà Phật, một người tu Phật có chánh kiến, không bao giờ tin việc nhập thần, giáng bút ấy là của thánh thần tiên Phật; nếu có, chúng chỉ là ma quỷ (ngạ quỷ, dạ-xoa, a-tu-la) mà thôi. Tin ba cái chuyện mê mê hoặc hoặc ấy là tà kiến. Vậy, nếu có, thì “tiền nhân mượn bút” ấy chỉ là ma quỷ.
 (6) Móc ngọt chảy mùi thơm.

”Trần Nhân Tông Hòa giải” : Giải thưởng quốc tế mang tên Việt – RFI

6 Th9

”Trần Nhân Tông Hòa giải” : Giải thưởng quốc tế mang tên Việt

 

Logo của Open Minds, nơi thai nghén ý tưởng Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải & Yêu thương (DR)

Logo của Open Minds, nơi thai nghén ý tưởng Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải & Yêu thương (DR)
 

Ngày 22/09/2012 tới Viện Trần Nhân Tông, vừa ra đời tại Boston (Hoa Kỳ), lần đầu tiên sẽ trao một giải thưởng quốc tế mang tên « Trần Nhân Tông Hòa giải và Yêu thương » và tổ chức một hội nghị về chủ đề này. Viện Trần Nhân Tông tự đặt cho mình sứ mạng tìm hiểu về cuộc đời và ảnh hưởng của một nhân vật, được coi là thuộc hàng kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam, và hy vọng mang lại các bài học, giải pháp để ngăn ngừa và hóa giải các xung đột đương đại.

Trần Nhân Tông là một hoàng đế của vương quốc Đại Việt nửa cuối thế kỷ XIII. Nhân vật lịch sử này được biết đến cùng một lúc như là người lãnh đạo vương quốc trong thời gian hai cuộc chiến tranh vệ quốc chống xâm lược Nguyên – Mông phía bắc, người kiến lập nền hòa bình với vương quốc Chăm pa ở phía nam. Trần Nhân Tông còn đặc biệt nổi tiếng như là người sáng lập dòng thiền Phật giáo mang tên Trúc Lâm Yên Tử. Trong vài thập niên gần đây ở Việt Nam, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được phục hồi và có xu hướng phát triển ngày càng mạnh. Theo đánh giá của một bộ phận công luận tại Việt Nam, Trần Nhân Tông được coi như một trong các vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, trị vì đất nước với một phong cách gần dân và một chủ trương khoan hòa.

Sự ra đời của một viện nghiên cứu và phổ biến giá trị gắn liền với tên tuổi một danh nhân Việt Nam tại Boston, một trung tâm văn hóa khoa học lớn của nước Mỹ, là một điều gây bất ngờ đối với nhiều người Việt Nam. Để đưa tới quý thính giả một số thông tin về các hoạt động và mục tiêu của Trần Nhân Tông Academy, chúng tôi có cuộc phỏng vấn qua điện thoại với ông Nguyễn Anh Tuấn, giám đốc điều hành Viện Trần Nhân Tông tại Boston, và là người, như chúng tôi được biết, đã khơi màn cho sáng kiến thành lập viện, cũng như cho nhiều hoạt động của Trần Nhân Tông Academy.
 
Tham gia vào tạp chí hôm nay còn có nhà thơ Trần Việt Phương từ Hà Nội, bà Nguyễn Thúy Hà, giám đốc công ty phi lợi nhuận Open Minds ở Hà Nội, phụ trách phát triển các hoạt động liên quan đến Trần Nhân Tông ở Việt Nam, nhà sử học Nguyễn Duy Chính và giáo sư Phạm Cao Dương (từ California – Hoa Kỳ).

Khởi nguồn của ý tưởng về một giải thưởng mang tên Hòa giải và Yêu thương có lẽ đã bắt đầu từ sáng kiến tổ chức một « ngày Hòa giải và Yêu thương » hàng năm 9-9 tại Việt Nam, của mạng kết nối tri thức mang tên Open Mind Network, theo sáng kiến của một số học giả Trung tâm báo chí chính trị và chính sách công Shorenstein (Đại học Havard). Cùng với sự lên ngôi của ngày Hòa giải và Yêu thương tại Việt Nam là một loạt các hoạt động nhằm tôn vinh Trần Nhân Tông. Như vậy là, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ý tưởng về một ngày Hòa giải và Yêu thương vào tháng 9 hàng năm đã được kết nối với biểu tượng « Vua Phật » Trần Nhân Tông để đưa đến “The Tran Nhan Tong Reconciliation Prize“, một trong các giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên một danh nhân Việt Nam, cũng được tổ chức trong tháng này.

 
Huy chương giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải và Yêu thương

 

Viện Trần Nhân Tông hay Trần Nhân Tông Academy, một cơ sở nghiên cứu khoa học về một danh nhân Việt Nam, truyền bá các giá trị và tìm kiếm các giải pháp cho các xung đột xã hội đương đại trên thế giới, đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà hoạt động chính trị và truyền thông, các nhà nghiên cứu về khoa học chính trị, pháp lý… , các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới, như : bà Ann L. McDaniel, phó giám đốc tập đoàn truyền thông The Washington Post, ông Michael Dukakis, nguyên ứng cử viên tranh cử tổng thống Mỹ năm 1988, cựu thống đốc bang Massachusetts, cựu tổng thống Latvia bà Vaira Vike– Freiberga, ông Thomas Pattterson, giáo sư về Chính trị và Báo chí tại Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy, thuộc Đại học Harvard, nhà toán học Hoàng Tụy, nguyên chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Văn An, nhà thơ Trần Việt Phương…
 
Nội dung các hoạt động và đường hướng của Trần Nhân Tông Academy, cũng như quá trình hình thành của Viện, sau đây xin mời quý vị nghe tiếng nói của ông Nguyễn Anh Tuấn, phụ trách Viện Trần Nhân Tông từ Boston :

 
Ông Nguyễn Anh Tuấn (Boston)

 
05/09/2012
 
 

 
 
 
 
 
 
 
RFI : Kính chào ông Nguyễn Anh Tuấn. Trước hết xin cảm ơn ông đã nhận lời nói chuyện với thính giả RFI. Xin được hỏi ông về các nội dung hoạt động chính của Viện Trần Nhân Tông/Trần Nhân Tông Academy.

Nguyễn Anh Tuấn : Xin cảm ơn anh, cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi. Viện Trần Nhân Tông hoạt động như một tổ chức xã hội, có nghiên cứu, có các hoạt động xã hội. Nghiên cứu thì chúng tôi sẽ phát triển, đẩy mạnh và tổ chức các nghiên cứu, để tìm hiểu kỹ hơn về những giá trị, những di sản của Trần Nhân Tông, và từ đó có thể quảng bá và giới thiệu đến bạn bè quốc tế. Đấy là công tác nghiên cứu và triển khai ứng dụng, làm sao để ứng dụng được nhiều các giá trị đó vào trong xã hội. Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải cũng là một hoạt động quan trọng. Một trong những tiêu chí của Viện Trần Nhân Tông là làm sao thúc đẩy, làm sao đem đến những giá trị, những giải pháp cho thế giới, để vừa ngăn ngừa, vừa giảm thiểu, làm sao cho xung đột trên thế giới bớt đi, Hòa giải yêu thương trở nên chủ đạo trong cuộc sống hàng ngày.

RFI : Xin ông cho biết các hướng nghiên cứu chính về Trần Nhân Tông và di sản của Trần Nhân Tông trong tương lai gần của Viện.

Nguyễn Anh Tuấn : Chúng tôi có những định hướng, chẳng hạn như nghiên cứu một cách sâu sắc, thấu đáo, đầy đủ, những giá trị di sản của Trần Nhân Tông, vì đã hơn 7 thế kỷ, những tư liệu không còn nhiều. Có nhiều bài báo, sách nói về thân thế và sự nghiệp Trần Nhân Tông, nhưng cần những nghiên cứu thấu đáo hơn, có sở cứ hơn, thuyết phục bạn bè quốc tế hơn.

Thứ hai là, tổ chức tập hợp các tư liệu còn tản mát, rải rác của Trần Nhân Tông, tiến tới xây dựng một bảo tàng về Trần Nhân Tông. Đây là sáng kiến của giáo sư Thomas Patterson, chủ tịch Viện Trần Nhân Tông. Ở Hà Nội, cần một bảo tàng có tầm quốc tế xứng đáng với thủ đô Hà Nội, và Trần Nhân Tông là một danh nhân rất lớn của Việt Nam xứng đáng với một bảo tàng lớn, xứng tầm quốc tế. Làm sao để bảo tàng đó có chất lượng, nội dung có giá trị để xứng tầm một bảo tàng lớn, được bạn bè thế giới trân trọng. Đây là các công tác nghiên cứu của Trần Nhân Tông Academy.

Ngoài ra là việc xuất bản các ấn phẩm qua các hội nghị, ví dụ như hội nghị về Hòa giải, 21/09 ở đây, tại đại học Havard. Sẽ có những báo cáo có chiều sâu, rồi chúng tôi sẽ tổ chức các ấn phẩm, các cuốn sách. Sau này sẽ có những hội nghị bàn tròn Trần Nhân Tông bàn về những giải pháp để giải quyết xung đột, ngăn ngừa xung đột chẳng hạn.

Academy không chỉ làm một mình. Chúng tôi tập hợp, liên kết, vận động nhiều nguồn lực trí tuệ, hợp tác trong và ngoài nước, làm sao để phối hợp cùng nhau để nghiên cứu, để đưa ra được các kết quả tốt. Những công việc này không phải ngày một ngày hai, mà còn rất dài hơi, khổ công lắm, không đơn giản tí nào.

Việt Nam là khu vực cần ưu tiên, dân tộc Việt Nam cần hòa giải

RFI : Về hướng nghiên cứu ứng dụng, được coi là một đặc điểm nổi bật của Viện Trần Nhân Tông, Viện có ưu tiến một khu vực địa lý nào không, và một loại hình xung đột nào không ?

Nguyễn Anh Tuấn : Những nơi được ưu tiên là các khu vực « nóng », đang xảy ra xung đột, hoặc tiềm ẩn những nguy cơ xảy ra xung đột lớn, thì tôi nghĩ Trần Nhân Tông Academy sẽ quan tâm.

Còn về vùng ưu tiên, tôi nghĩ rằng, ngay cả Việt Nam chúng ta cũng là một vùng cần ưu tiên. Dân tộc Việt Nam cũng cần hòa giải. Trong tương lai, làm sao để những khoảng cách, những khác biệt giữa nhóm người này và nhóm người khác trong dân tộc chúng ta, làm sao có một tiếng nói chung, có một sức mạnh tổng lực để đoàn kết, làm sao cho dân tộc chúng ta có một sức mạnh to lớn, để đoàn kết yêu thương nhau, quý mến nhau, cộng hưởng với nhau. Chúng tôi rất tâm niệm, rất tâm huyết, biết điều này nhiều trở lực, nhiều trở ngại. Nhưng chúng ta có thể quan tâm, có thể làm, làm từ đơn giản, từ những việc nhỏ, những vấn đề nhỏ, rồi chúng ta sẽ ra được những con đường lớn, những công việc lớn. Nhưng mà, thôi chúng ta hãy cứ thành tâm, hãy suy nghĩ, hãy trăn trở vì nó, thì đấy là… Làm sao để hàng ngày mỗi người chúng ta sống áp dụng được những cái minh triết, những cái giá trị sống yêu thương, nhân bản, nhân ái, vị tha, hòa giải của Trần Nhân Tông. Và (ứng dụng) cho chính cuộc sống hàng ngày, tôi nghĩ sẽ mang lại hạnh phúc cho chính chúng ta.

Viện Trần Nhân Tông : kết tinh tâm huyết trí tuệ trong nước và quốc tế

RFI : Thưa ông, bản thân tôi và có thể một bộ phận công chúng, rất là ấn tượng khi được nghe đến một viện nghiên cứu mang tên một danh nhân Việt Nam mà lại được đặt tại Hoa Kỳ, một quốc gia có quan hệ thăng trầm với Việt Nam. Vậy ông có thể cho biết về quá trình thành lập viện, mà theo tôi được biết, ông là một người chủ xướng và có vai trò quan trọng trong quá trình thành lập cũng như các hoạt động bước đầu của viện.

Nguyễn Anh Tuấn : Quá trình này là một sự trăn trở, có nhiều đóng góp, hợp lực của nhiều trí tuệ và tâm huyết trong xã hội, không chỉ riêng tôi. Vào thời điểm năm 2009, chúng tôi có những suy nghĩ, có nhiều mong muốn để làm một cái gì đó về Trần Nhân Tông, vì Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh của Việt Nam, nhưng mà phải qua trao đổi, chia sẻ với mọi người, và khi tôi có điều kiện sang Havard – Boston ở đây, tôi có điều kiện gặp gỡ và nói chuyện với các học giả ở Havard, đặc biệt là giáo sư Thomas Patterson, và các bạn bè của tôi ở đây. Tôi cũng có điều kiện nói chuyện và xin ý kiến của những người mà tôi rất quý trọng, như nhà văn hóa Việt Phương ở Hà Nội, người trước đây đã rất nặng lòng cố vấn cho Vietnamnet.

Qua các trao đổi chia sẻ như vậy, tôi thấy tự tin hơn, và đi đến quyết định : vậy là chúng ta có thể suy nghĩ làm một cái gì đó về Trần Nhân Tông để giới thiệu ra thế giới, làm sao để những giá trị của Trần Nhân Tông đi vào đời sống của người Việt Nam chúng ta. Tôi quyết định cùng nhau thành lập Trần Nhân Tông Academy ở đây. Nói tóm lại, đây là một quá trình trăn trở, học hỏi, chia sẻ, chiêm nghiệm và trao đổi với nhau. Tôi nghĩ rằng, đây là kết quả tâm huyết, trí tuệ của nhiều người Việt Nam nói chung, tôi chỉ là một người có lòng, có nhiệt tình, còn lại thì tôi nghĩ rằng, để có được ngày hôm nay, có được công việc đang triển khai thế này là kết tinh của rất nhiều tâm huyết trí tuệ trong nước, cũng như bạn bè quốc tế ở đây.

RFI : Vì sao Viện lại chọn giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải như là một trọng tâm hoạt động ?

Nguyễn Anh Tuấn : Để giới thiệu Trần Nhân Tông ra nhân loại, thì giải thưởng cũng là một điểm nhấn cho mọi người biết đến và cũng là xứng đáng để trân trọng những con người có các đóng góp, hoặc là có những giá trị đồng cảm, hoặc đang đi theo những giá trị tinh thần mà Trần Nhân Tông đã theo đuổi, đã tâm nguyện. Chúng tôi nghĩ đơn giản như vậy thôi. Tức là giải thưởng Trần Nhân Tông sẽ có sức cổ vũ, có sức lan tỏa, được mọi người quan tâm nhiều hơn, cũng là một sự khích lệ đối với người Việt Nam ở trong nước, khi chúng ta có được một giải thưởng quốc tế mang tên Trần Nhân Tông được bạn bè quốc tế trân trọng.

RFI : Ông có thể cho biết những khó khăn trắc trở để có được một cơ sở như ngày hôm nay với sự tham gia của nhiều nhân vật có uy tín, nhiều học giả thuộc các ngành nghiên cứu khác nhau.

Nguyễn Anh Tuấn : Khó khăn là khởi đầu từ số 0. Mọi người bắt đầu xây dựng bằng tâm huyết, tâm nguyện của mình thôi. Đúng là khi ở Việt Nam, khi còn là tổng biên tập vietnamnet, tôi có cả bao nhiên con người, có nguồn lực để làm, kể cả khả năng tài chính, còn sang đây thì đúng là từ số 0.

Nhưng tôi nghĩ, thôi thì, cái quan trọng nhất là mình có lửa, gọi là có lửa nhiệt tình, rồi có tâm, thì chắc chắn sẽ được sự đồng cảm, đồng hành của nhiều người, chẳng hạn như giáo sư Thomas Petterson đã tham gia làm chủ tịch, rồi một số học giả khác, một số nhà hoạt động xã hội có uy tín khác, như là Michael Dukakis (nguyên ứng cử viên tổng thống Mỹ), hoặc những người như Ann L. McDaniel (phó giám đốc tập đoàn truyền thông The Washington Post)… đã nhận làm cố vấn cho giải thưởng. Đấy là những người đó đã cảm nhận được cái giá trị của hòa giải, yêu thương con người của Trần Nhân Tông. Hoặc bà cựu tổng thống Latvia Vaira Vike– Freiberga từng đến Hà Nội để tham gia hội nghị đầu tiên 16-2.

Khó khăn vẫn còn chồng chất, anh ạ. Nhưng mà tôi nghĩ điều quan trọng nhất là có những người có uy tín, có trí tuệ, có nhân cách đồng hành, cùng chia sẻ, cùng giúp, mỗi người một chút thì đã có ngày hôm nay. Tôi nghĩ rằng, lý tưởng cao đẹp vì hòa bình, lý tưởng hòa giải, hòa bình, đem những điều tốt đẹp, yêu thương cho nhân loại, đã gắn tất cả mọi người với nhau. Tôi thật sự cảm thấy rất xúc động, và đẹp nhất, vui nhất cuộc đời mình, được đi làm, làm cùng với những giá trị rất cao đẹp như vậy, với những người rất cao đẹp, cao quý, để triển khai cùng. Cái đó làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc và tự tin. Chẳng hạn như tôi không thể nào quên được những tâm huyết, những trí tuệ, những chia sẻ, những dẫn dắt, mà nhà thơ Việt Phương đã đồng hành, giúp đỡ, đi cùng, đến giờ này cũng thế, nhà thơ Việt Phương luôn luôn dành tâm huyết, trí tuệ cho Trần Nhân Tông Academy. Nếu có tâm huyết, sẽ có những người đi cùng nữa.

Hòa giải là nền tảng cho Hòa bình ?

RFI : Như ông nói hiện nay, nhiều người và ở khắp mọi nơi có mối quan tâm đến vấn đề hòa giải và tình yêu thương, mà còn hơn cả sự quan tâm, mà có thể nói sự hòa giải trở thành một thách thức với nhân loại hiện nay, để khiến cho người ta phải đi tìm những biểu tượng mới, như hình tượng Trần Nhân Tông ở Việt Nam chẳng hạn, cho dù đã có không ít những biểu tượng cho hòa bình ?

Nguyễn Anh Tuấn : Tôi nghĩ rằng, Trần Nhân Tông là một giá trị của nhân loại chưa được giới thiệu nhiều, và nhân loại chưa biết đến nhiều. Bản thân tôi có một niềm tin là đó là một giá trị cao quý mà nhân loại trân trọng, nếu như chúng ta giới thiệu đúng lúc, đầy đủ. Tôi nghĩ rằng, có nhiều người cũng có niềm tin ấy cho nên đồng cảm với nhau.

Thứ hai, đúng là vấn đề xung đột của nhân loại luôn luôn không bao giờ dứt, khoa học, công nghệ phát triển mạnh, kinh tế phát triển mạnh, nhiều thành quả, và chúng ta đang sống trong thời đại « văn minh », thời đại thông tin internet, mobile, nhưng chưa bao giờ chúng ta có một thế giới yên bình, không có xung đột, không có bạo lực. Không có chiến tranh thì có bạo lực ở nơi này, nơi khác, giữa con người này, con người khác, nhóm này, nhóm khác. Đó là lý do khiến mọi người vẫn tiếp tục quan tâm, mặc dù có nhiều tổ chức xã hội, nhiều phong trào dấy lên ở nhiều nơi, đã làm rất nhiều, chứ không phải ngày nay chúng ta mới làm, nhưng mà có lẽ vẫn chưa đủ.

Thứ nữa là, HÒA GIẢI là một vấn đề rất đáng để quan tâm. HÒA BÌNH cũng là một giá trị, cũng là một mục tiêu, cũng là vấn đề, nhưng HÒA GIẢI cũng đặt ra nhiều vấn đề cho chúng ta làm. Phải chăng có HÒA GIẢI, có khoan dung, có lượng thứ nhau, có thông cảm, đồng cảm, chia sẻ với nhau, thì sẽ dễ dàng dẫn đến, hoặc nó là nền tảng để có được HÒA BÌNH vững chắc hay chăng ? Về sự yêu thương giữa con người với nhau, về sự chia sẻ độ lượng, để từ đó con người vượt qua được những hận thù, những đố kỵ, ganh ghét nhau, để có thể làm hạt nhân cho HÒA BÌNH, ổn định, tốt đẹp cho con người trong tương lai hay chăng ? Về cái này tôi cũng phải suy nghĩ, phải nghiên cứu thật nhiều. Tôi nghĩ về khía cạnh này, đặt vấn đề của anh cũng là chính xác, tôi cũng đồng cảm với cái nêu của anh như vậy.

RFI : Xin thay mặt RFI chúc ông và Viện Trần Nhân Tông nhiều thành công, và hy vọng có thời gian được chuyển tiếng nói của ông và các học giả trong viện tới thính giả của đài.

Nguyễn Anh Tuấn : Cảm ơn anh và qua đài, xin cảm ơn thính giả RFI. Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng tri ân đối với mọi nỗ lực, mọi tâm huyết, trí tuệ của mọi người trong thời gian vừa qua, đã giành cho Trần Nhân Tông Academy, rất nhiều, rất nhiều. Có thể nói đó là sự trân trọng lớn của tôi và của những người đã và đang xây dựng Trần Nhân Tông Academy và mong rằng trong thời gian tới sẽ nhận được những trí tuệ, những tâm huyết, những đóng góp ở khắp mọi nơi để xây dựng nên một viện Trần Nhân Tông có nhiều đóng góp cho nhân loại cho sự nghiệp Hòa giải và Yêu thương. Chúng tôi luôn đón nhận và trân trọng.

Cần thực sự chú ý đến các nghiên cứu cơ bản

Như quý vị đã biết, một trong các sứ mạng chính mà Trần Nhân Tông Academy tự đặt cho mình là tổ chức các nghiên cứu cơ bản về một nhân vật lịch sử cách nay đã 7 thế kỷ. Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề như người giám đốc Viện chia sẻ, vì số lượng các tư liệu về giai đoạn này là rất ít ỏi. Đây cũng là điều được nhà thơ Việt Phương, thành viên Ban Cố vấn của viện, cũng như các khách mời khác nhấn mạnh.

Nhà sử học Nguyễn Duy Chính lưu ý đến hai điểm yếu trong các nghiên cứu về lịch sử trung đại Việt Nam, thứ nhất là các văn bản đời sau thường lái quan điểm của cổ nhân và các sự kiện trong lịch sử theo ý mình, bên cạnh đó, tại Việt Nam, ít chuyên gia có thể cùng lúc làm việc trong hai lĩnh vực sử học và lịch sử văn học, đây là một cản trở lớn đối với việc tìm hiểu hành trạng và tư tưởng của Trần Nhân Tông, cũng như đời sống xã hội giai đoạn đó.
 
Cùng với vấn đề phục dựng lịch sử đầy thách thức, ông Trần Việt Phương nhấn mạnh đến việc cần cẩn trọng trong việc đề cao các giá trị tư tưởng độc đáo của hình tượng Trần Nhân Tông, khi chưa có trong tay đầy đủ các bằng chứng cho phép làm việc này, đồng thời khuyến khích nên nghiên cứu kỹ về môn phái Thiền Trúc Lâm, để xác định được các đặc điểm riêng, nếu có, của môn phái này.
 
Giáo sư Phạm Cao Dương hoan nghênh ý tưởng về một dự án Trần Nhân Tông, cho đây là một cơ hội tốt cho việc đẩy mạnh nghiên cứu, nhưng cũng đặc biệt lưu ý đến việc cần phải chú ý đến các nghiên cứu căn bản về lịch sử, dựa trên việc đào tạo và đầu tư lâu dài cho nghiên cứu, đặc biệt cho các nhà nghiên cứu trẻ (với gợi ý có thể trao một giải thưởng riêng cho nghiên cứu), nếu không muốn dự án này sau một thời gian ngắn sẽ bị hụt hơi và để lại những hậu quả đáng tiếc. Ông cũng lưu ý về giai đoạn nhà Trần, bên cạnh Trần Nhân Tông, còn có nhiều nhân vật khác rất đáng được quan tâm. Giáo sư Phạm Cao Dương bày tỏ lo ngại rằng, nếu các hoạt động của Viện Trần Nhân Tông thiên về các mục tiêu chính trị nhất thời, thì hình tượng Trần Nhân Tông có thể bị lợi dụng. Sau khi tham khảo thành phần ban cố vấn và điều hành của Trần Nhân Tông Academy, giáo sư Phạm Cao Dương có nhận xét là, việc gần như vắng bóng các nhà nghiên cứu sử học, lịch sử tôn giáo, triết học, cũng như việc dành ít nội dung cho các nghiên cứu cơ bản có thể khiến cho viện không đạt được sứ mạng đề ra. Giáo sư Phạm Cao Dương cũng đặt vấn đề về sự không phù hợp có thể có, giữa tôn chỉ của giải thưởng với bản chất của tư tưởng Trần Nhân Tông. 
 
Tìm hiểu di sản Trần Nhân Tông :
Cơ hội thức tỉnh hướng thượng cho xã hội Việt Nam
 
Trong báo cáo tham luận tại hội thảo về Trần Nhân Tông đầu năm nay, nhà sử học Dương Trung Quốc đưa chúng ta trở lại các vấn đề đương đại, với nhận định « sau những chiến thắng to lớn với tinh thần độc lập tự do (…) (người Việt Nam) lại không kế thừa được tiếp theo những tư tưởng của Trần Nhân Tông về khoan dung, tha thứ, trong sự hòa hợp, nhất là trong nước ». Một giải thưởng quốc tế về hòa giải và yêu thương mang tên Trần Nhân Tông, như vậy, có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam, như một cơ hội hướng thượng để chính xã hội Việt Nam, đặc biệt là những người cầm quyền, đối diện với một sự thực về các đối kháng, bất công trong xã hội, và đối diện với chính mình, hầu tìm cách hóa giải.
 
Một điểm quan trọng khác trong bài phát biểu của nhà sử học Dương Trung Quốc là : « không nên tôn giáo hóa việc này để thấy giá trị phật giáo được trải nghiệm trong thực tiễn Việt Nam qua nhân vật Trần Nhân Tông là giá trị chung mà ở nhiều tôn giáo khác, ở thiên chúa giáo, ở hồi giáo đều có hạt nhân ấy. Nếu chúng ta khai thác được tất cả những hạt nhân tích cực ấy trong mọi tôn giáo, tức là bản chất văn hóa của nó chắc chắn điều ta làm sẽ góp phần vào cái chung và thức tỉnh, dù bắt đầu thức tỉnh bằng sự nhỏ bé. »

Nguyên cục trưởng cục Hàng hải Dương Chí Dũng bị bắt ở nước ngoài – RFI

6 Th9

Nguyên cục trưởng cục Hàng hải Dương Chí Dũng bị bắt ở nước ngoài

Ông Dương Chí Dũng, nguyên cục trưởng cục Hàng hải Việt Nam (DR)

Ông Dương Chí Dũng, nguyên cục trưởng cục Hàng hải Việt Nam (DR)
 

Cơ quan Công an Việt Nam hôm nay 05/09/2012, thông báo nguyên chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty hàng hải Vinalines, nguyên Cục trưởng cục Hàng hải Việt nam Dương Chí Dũng đã bị bắt giữ sau hơn ba tháng trốn lệnh truy nã. Lệnh khởi tố đã được ký ngày 17/05/2012.

 

Ông Dương Chí Dũng, 55 tuổi, bị khởi tố về tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” liên quan đến vụ thất thoát tài chính lớn xảy ra tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, nơi Dương Chí Dũng làm Chủ tịch Hội đồng quản trị đến năm 2005, trước khi ông tiếp tục được bổ nhiệm lên lãnh đạo cục Hàng hải.

Lệnh khởi tố và bắt giam đã được ký ngày 17/05/2012 , nhưng ông Dương Chí Dũng đã bỏ trốn. Ngay hôm sau, công an đã phát lệnh truy nã đặc biệt toàn quốc đồng thời phối hợp với Interpol truy tìm đối tượng trên phạm vi quốc tế.

Bản tin của AFP hôm nay cho biết, ông Dương Chí Dũng đã bị bắt giữa ngày hôm qua 04/09/2012, tại một quốc gia trong khối ASEAN, tuy nhiên bản tin không nói cụ thể là nước nào.

Bê bối tham nhũng tại Vinalines chính thức bung ra từ đầu tháng 5 năm nay. Trong vụ này đã có 12 người bị bắt để điều tra trong đó cùng với ông Dương Chí Dũng, còn có hai lãnh đạo chủ chốt là ông Mai Văn Phúc, cựu Tổng giám đốc Vinalines và cấp phó là ông Trần Hữu Chiều. Theo cơ quan điều tra, các bị can trong vụ Vinalines đã cố tình làm trái và vi phạm các quy định quản lý kinh tế gây thất thoát tài chính lớn lên tới hàng trăm triệu đô la Mỹ.

Các quan chức liên quan trong vụ này đã cố tình làm trái các quy định để tham ô như nâng giá thành đầu tư, mua sắm thiết bị trong các dự án lớn của Vinalines lên mức cao gấp nhiều lần so với giá thực tế.

Các bị cáo đã thực hiện việc mua của nước ngoài 73 con tàu cũ nát, không sử dụng được, trong đó đặc biệt có việc quyết định phê duyệt mua ụ tàu nổi cũ, sản xuất từ cách đây 43 năm, không còn sử dụng được với vốn đầu tư 14 triệu đô la Mỹ. Sau khi đưa về Việt Nam, thiết bị này tiếp tục phải đưa vào sửa chữa, nâng chi phí lên trên 26 triệu đô la, nhưng cuối cùng vẫn là đống sắt phế liệu.

Vụ Vinalines gây nhiều bức xúc trong dư luận và đã được đưa ra trước Quốc hội. Nhiều đại biểu đã chất vấn chính phủ về việc bổ nhiệm thăng chức lên cục trưởng cục Hàng hải cho Dương Chí Dũng sau khi đã gây thất thoát lớn tại Vinalines, cũng như trách nhiệm của các cơ quan đã để Dương Chí Dũng bỏ trốn.

Báo chí tại Việt Nam hôm nay đồng loạt loan báo về vụ bắt Dương Chí Dũng như một tin nóng. Tờ Tuổi trẻ nói việc truy bắt đã được tiến hành khẩn trương theo « sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công an…. Cơ quan điều tra Bộ Công an đang khẩn trương điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật ». Cơ quan Công an kêu gọi, những ai đã che giấu, tiếp tay cho ông Dương Chí Dũng bỏ trốn ra đầu thú.

Vụ bê bối tại Vinalines là một nghi án tham nhũng lớn được phát giác sau vụ Vinashines, một bê bối tài chính lớn chưa tùng có khiến cho tập đoàn hàng đầu của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam vừa mới hình thành, đã lâm vào hoàn cảnh gần như phá sản vì những thất thoát tài chính dẫn đến nợ nần lên tới hơn 4 tỷ đô la. Tuần trước, các bị cáo trong vụ Vinashin, gồm toàn các quan chức lãnh đạo, đã được đưa ra xử phúc thẩm. Các bị cáo đều bị y án, trong đó lãnh đạo Vinashin chịu án 20 năm tù giam.

Chính phủ sẽ giải tán một số tập đoàn kinh tế – TBKTSG

6 Th9

 

Chính phủ sẽ giải tán một số tập đoàn kinh tế

Ngoc Lan
 
 

 

 

Chính phủ sẽ giải tán một số tập đoàn kinh tế

Ngoc Lan

Chính phủ sẽ giải tán bớt một số tập đoàn kinh tế. Ảnh: TL.

(TBKTSG Online) – “Hướng tới giảm các tập đoàn kinh tế nhà nước, sẽ chỉ còn 5 đến 7 tập đoàn đặc biệt quan trọng”, đó là tuyên bố của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam hôm 5-9.

Trả lời câu hỏi của báo giới xung quanh đề xuất mới đây của Bộ Xây dựng gửi Chính phủ mong muốn xóa bỏ mô hình tập đoàn ở tập đoàn công nghiệp xây dựng (gọi tắt là tập đoàn Sông Đà) và tập đoàn phát triển nhà và đô thị (gọi tắt là tập đoàn HUD) do hoạt động kém hiệu quả và mô hình không phù hợp, Bộ trưởng Vũ Đức Đam nói: “Chắc chắn từ 11 tập đoàn hiện nay sẽ còn lại 5 đến 7 tập đoàn”. Ông cũng bổ sung là phương án tổ chức lại HUD và tập đoàn Sông Đà đang được xem xét.

Lý do của nó là việc này nằm trong lộ trình tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được Chính phủ phê duyệt.

Theo đó, sẽ tăng cường trách nhiệm quản lý của Thủ tướng đối với các tập đoàn nhà nước cần nắm giữ độc quyền chi phối như tập đoàn điện lưc, tập đoàn dầu khí, tập đoàn bưu chính viễn thông.

Số tập đoàn còn lại sẽ tổ chức lại theo hướng giải tán bớt , tăng cường, giao về cho các bộ, ngành, ủy ban nhân dân địa phương trực tiếp quản lý (theo như tinh thần dự thảo Nghị định 132 về quyền chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước đang được sửa đổi).

Giảm thuế

“Từ nay đến 2020 Chính phủ sẽ đề xuất phương án giảm thuế trên một đơn vị hàng hóa để khuyến khích sản xuất kinh doanh”, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai đã nói như vậy sau khi Ủy ban kinh tế của Quốc hội đưa ra một bản đánh giá về kinh tế, vĩ mô, nhấn mạnh về gánh nặng thuế, phí.

Theo lời bà Mai nói tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ tháng 8 (ngày 5-9) thì tỷ lệ động viên từ thuế, phí vào ngân sách của Việt Nam có năm cao đến 29% (2007-2011) song chưa phản ánh hết thực tế vì mức thu này tính cả thuế đất và thuế dầu thô là những nguồn thu chủ lực.

Bà cho rằng các quốc gia tính thuế vào thu nộp ngân sách không tính phần thu từ dầu thô và đất đai. Có nước chỉ tính thu từ ngân sách trung ương, không tính thu ngân sách địa phương.

Do vậy, nếu bóc tách thuế thu từ dầu thô hay đất đai thì tỷ lệ động viên thuế vào GDP của Việt Nam chỉ ở mức trung bình, tức là khoảng 12% đến 14% GDP.

Con số của bà Mai khác rất xa so với nhận xét từ Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban kinh tế thực hiện, bởi theo đó, mức thu từ thuế và phí (không kể từ dầu thô) của Việt Nam khoảng 26,3%, là rất cao so với các nước trong khu vực.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cũng cho rằng thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của Việt Nam nay là 25%, tính bình quân thuế TNDN sau khi trừ đi các mức ân hạn, giảm theo các quy định đầu tư thì còn 16,32%. Trong khi 83 quốc gia khác có mức thuế bình quân 27%. Hay như Thái Lan, Philippines có thuế suất phổ thông 30%.

Bà cũng dẫn ra một loại thuế khác chứng minh cho tỷ lệ thuế, phí động viên vào ngân sách không cao. Như thuế giá trị gia tăng (GTGT) hiện nay từ 5% đến 10%. Thống kê từ 112 quốc gia khác hiện mức thuế từ 12% đến 25%. 24 quốc gia khác nữa có mức bình quân 10%.

Bà Mai nói rằng các sắc thuế của Việt Nam liên tục được rà soát, sửa đổi từ năm 2003 đến nay theo hướng giảm, bãi bỏ 243 loại thuế và lệ phi.

Và từ nay đến năm 2020, Chính phủ sẽ tiếp tục trình các dự thảo sắc thuế theo hướng giảm dần các nghĩa vụ cho người dân và doanh nghiệp, giảm thuế trên một đơn vị hàng hóa nằm khuyến khích sản xuất kinh doanh.

Mỹ – Trung chia rẽ? – BBC

6 Th9

Mỹ – Trung chia rẽ?

 

Họp báo giữa Hillary Clinton và ngoại trưởng Trung Quốc cho thấy quan điểm khác biệt về vấn đề biển Đông và bạo loạn ở Syria.

Xemmp4

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Bấm vào đây để tải Flash Player mới nhất

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Dương Khiết Trì, ngoại trưởng Trung Quốc, bày tỏ quan điểm khác biệt của hai nước về tranh chấp biển Đông và bạo loạn ở Syria.

Về tranh chấp biển Đông, đại diện của Hoa Kỳ tuyên bố không đứng về bất kỳ phía nào mà chỉ ủng hộ cho việc duy trì hòa bình, ổn định.

Còn ngoại trưởng Trung Quốc tuyên bố ‘cần có thương lượng trực tiếp và thân thiện’ về những lợi ích ‘chồng chéo’ của các quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền với đảo Nam Sa.

Phía Hoa Kỳ cho rằng động thái của Trung Quốc và Nga trong vấn đề Syria đã gây ‘khó khăn cho những nỗ lực tìm ra giải pháp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc’.

Đáp lại, ông Dương Khiết Trì nói, Trung Quốc tôn trọng giai đoạn ‘chuyển đổi chính trị ở Syria’, và cách giải quyết phải được xuất phát từ chính người dân Syria.

Cuối buổi họp báo bà Clinton cũng nói về ảnh hưởng tích cực của Trung Quốc tới Triều Tiên.

Ngoại trưởng Mỹ cho rằng có cơ hội để giới lãnh đạo mới của Triều Tiên cải thiện đời sống người dân.

Trước cuộc họp báo, bà Hillary Clinton đã gặp lãnh đạo tối cao của đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Hồ Cẩm Đào.

Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, người được trông đợi sắp lên lãnh đạo Trung Quốc, đã hủy cuộc gặp với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton mà không rõ nguyên do.

Tư liệu lưu trữ của Nhật Bản về quần đảo Hoàng Sa – Dzunglam/BS

6 Th9

 

Tư liệu lưu trữ của Nhật Bản về quần đảo Hoàng Sa

 
Tư liệu lưu trữ của Nhật Bản về quần đảo Hoàng Sa*
 
Le Minh Khai
 
Người dịch: Hà Hữu Nga
 
 
Tôi vừa mới được biết trên trang mạng do Trung tâm Hồ sơ Lịch sử Châu Á của Nhật Bản (Japan Center for Asian Historical Records – JACAR) quản lý có công bố nhiều tư liệu của chính phủ Nhật liên quan đến lịch sử Châu Á.
 
Để đọc được các tư liệu này, bạn cần download một DjVu plug-in, nhưng hiện có một đường link trực tiếp vào trang nhà JACAR như dưới đây.  
 
 
 
Tôi tìm các mục từ tiếng Anh “Vietnam” và “Annam” và thấy một số thông tin về Quần đảo Hoàng Sa được ghi trong trang này bằng tiếng Trung Quốc là Tây Sa Quần đảo.
 
Điều thu hút sự chú ý của tôi là một đầu đề ghi là “Quần đảo Tây Sa là vùng lãnh thổ và thuộc quyền sở hữu của Vương quốc An Nam”.
 
 
 
Sau đó tôi tìm mục từ Quần đảo Tây Sa [“Xisha Qundao”] và thu được một số kết quả. Nhưng không may là tôi không biết nhiều về tiếng Nhật. Thông tin cũng được viết theo một phong cách tư liệu có đôi chút khác với tiếng Nhật thông dụng. Vì vậy tôi không biết được chắc chắn các tư liệu này nói về cái gì.
 
Nhưng rõ ràng là các tư liệu này được viết từ cuối những năm 1930 cho đến sau Thế chiến Thứ hai. Sau khi chiến tranh nổ ra, hình như người Nhật đã nỗ lực tìm hiểu xem Quần đảo Hoàng Sa thuộc về nước nào, và các tư liệu này xem ra có các thông tin theo quan điểm của người Pháp khẳng định rằng trong thế kỷ 19, trước khi Pháp chiếm đóng thì các quần đảo này thuộc quyền của Vương quốc An Nam. 
 
 
 
Tôi biết rằng hiện nay người ta đang đi tìm “bằng chứng” vật chất kiểu này. Tôi không biết đã có ai tra cứu các hồ sơ tiếng Nhật chưa, nhưng nếu chưa thì các thông tin cung cấp ở đây sẽ giúp họ biết là hiện còn có những tư liệu liên quan đến chủ đề này.
 
がんばって!
 
Chúc các bạn may mắn!
 
 
 
* Ghi chú của người dịch: Xin thay mặt cho những người ham mê lịch sử Việt Nam, chân thành cảm ơn ông Le Minh Khai (Liam Christopher Kelly) về thông tin quan trọng và các chỉ dẫn chu đáo này.
 
 
Xin cám ơn GS. Liam Christopher Kelly và TS. Hà Hữu Nga về những thông tin này
 
Được đăng bởi vào lúc 05:05
 

BIỂN ĐÔNG: NÚT THẮT KHÓ GỠ TRONG QUAN HỆ MỸ – TRUNG – BS

6 Th9

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

BIỂN ĐÔNG: NÚT THẮT KHÓ GỠ TRONG QUAN HỆ MỸ – TRUNG

Thứ ba, ngày 4/9/2012

TTXVN (Hồng Công 28/8)

Báo Liên hợp Buổi sáng của Xingapo số ra ngày 19/8 đăng bài cho biết tranh chấp chủ quyền hải đảo và vùng biển ở Biển Đông không ngừng diễn ra, từ cuộc khẩu chiến năm 2010 đến việc chặn bắt tàu cá của đối phương năm 2011 và đối đầu giữa Trung Quốc và  Philippin ở đảo Hoàng Nham/bãi cạn Scarborough cùng việc Việt Nam thông qua Luật Biển và trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa trong năm 2012 này. Ngay cả Mỹ, nước nằm ở một cực khác của Thái Bình Dương cũng bị cuốn vào cuộc khẩu chiến liên quan tới Biển Đông.

Dư luận Trung Quốc cho rằng tiếng nói ủng hộ của Mỹ đã khích lệ các nước tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Mục đích của Mỹ là nhằm đưa trọng tâm quân sự trở lại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với lý do tình hình nơi đâymất ổn định. Mỹ biện hộ rằng do căng thẳng ở Biển Đông gia tăng, nhằm bảo vệ tự do hàng hải có lợi cho Mỹ cũng như cho lợi ích kinh tế của các bên, Mỹ đành phải can dự vào vấn đề Biển Đông. Ở một góc độ nào đó, trên thực tế, Biển Đông đang dần trở thành đấu trường của Trung Quốc và Mỹ và các nhà quan sát chính trị cho rằng trong tương lai gần, vấn đề Biển Đông sẽ trở thành nút thắt khó gỡ trong quan hệ giữa hai nước này.

Theo báo trên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Mỹ nhiều lần bày tỏ công khai rằng phải phá vỡ logic truyền thống trong lịch sử về sự đối kháng và xung đột lẫn nhau giữa các nước lớn, tìm kiếm câu trả lời mới cho con đường chung sống hòa bình giữa nước mới trỗi dậy và cường quốc hiện có. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào tình hình Biển Đông thì có thể thấy một điều rất rõ ràng rằng câu trả lời trên vẫn chưa xuất hiện và cũng không dễ để tìm được nó.

Trước khi Trung Quốc và Mỹ xây dựng được quan hệ mới giữa các nước lớn, e rằng tình hình Biển Đông khó có được một ngày bình yên theo đúng nghĩa.

Giống như định luật về lực và phản lực của nhà bác học Newton, các nước tranh chấp rầm rộ áp dụng các biện pháp phòng – chống lại nhau, khiến tình hình liên tục leo thang. Phe cứng rắn ở các nước thường kêu gào phải tiến hành chiến tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Khi trả lời phỏng vấn báo chí, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc Ngô Sĩ Tồn nói: Nam Hải (Biển Đông) vừa là vấn đề địa chính trị vừa là vấn đề quyền đi lại trên biển. Trong tương lai, ai khống chế được Biển Đông, người đó sẽ nắm trong tay chủ quyền và tài nguyên Biển Đông. Ngoài Mỹ, các nước lớn khu vực như Nhật Bản và Ấn Độ đều nối tiếp nhau can dự vào vấn đề Biển Đông thông qua các phương thức như khai thác tài nguyên dầu khí hay điều chỉnh chiến lược ở Biển Đông”.

Biển Đông dần trở thành đấu trường giữa Mỹ và Trung Quốc

Biển Đông được coi là “con đường tơ lụa” trên biển với khoảng 50% lượng hàng hóa chuyên chở bằng đường biển đi qua. Hàng năm, kim ngạch thương mại của Mỹ đi qua “con đường tơ lụa” này lên tới 1.200 tỉ USD. Ngoài ra, Biển Đông còn được biết đến là nơi có lượng tài nguyên dầu mỏ và khí đốt tự nhiên phong phú.

Do liên quan tới lợi ích thiết thân, nên dù không phải là nước tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông, nhưng Mỹ vẫn cao giọng bày tỏ sự quan tâm chú ý chặt chẽ đối với tình hình nơi đây. Ở một góc độ nào đó, trên thực tế, Biển Đông đang dần trở thành đấu trường của Trung Quốc và Mỹ: Một bên nỗ lực củng cố sức ảnh hưởng của mình trong khu vực; một bên tìm cách đẩy đối phương ra bên ngoài cửa nhà mình hoặc chí ít là không để đối phương bao vây mình.

Chủ nhiệm Cao cấp Chương trình An ninh Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Trung tâm an ninh Mỹ mới, ông Patrick Cronin chỉ rõ: Sở dĩ hải quân Trung Quốc thể hiện năng lực tại vùng biển bên ngoài Trung Quốc, một mặt là muốn cho thấy năng lực bảo vệ lãnh hải, nhưng mặt khác dường như còn muốn đẩy sức mạnh của hải quân Mỹ ra cách xa bờ biển của Trung Quốc. Cronin nói “Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, hải quân Mỹ luôn là lực lượng trên biển chủ yếu trong khu vực này. Nếu như Mỹ rút hoặc giảm bớt quân lực trong khu vực, quyền lực mới sẽ được bố trí  ra sao? Từng quốc gia trong khu vực sẽ tính toán chiến lược như thế nào? Các nhân tố không xác định này khiến các nước phải cạnh tranh và ai cũng đều muốn làm người chi phối quy tắc hành vi trong khu vực để nắm chắc diễn biến của tình hình Biển Đông”.

Theo Cronin, việc Mỹ công khai chỉ trích Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa làm gia tăng căng thẳng khu vực và lên tiếng ủng hộ nước đồng minh Philippin, chính là nhằm mục đích gây sức ép với Trung Quốc, bảo đảm việc xử lý tranh chấp Biển Đông sẽ dựa trên căn cứ luật pháp quốc tế. Cũng đúng vào lúc này Mỹ tuyên bố chuyển trọng tâm chiến lược quân sự sang phía Đông. Sự trùng hợp về thời gian đã khiến Mỹ bị cholaf “kẻ đầu têu” làm tình hình Biển Đông leo thang.

Tiếng nói ủng hộ của Mỹ đã khích lệ thái độ cứng rắn của các nước tranh chấp

Dư luận Trung Quốc phổ biến cho rằng tiếng nói ủng hộ của Mỹ đã khích lệ thái độ cứng rắn của các nước tranh chấp khác. Mục đích của Mỹ là nhằm đưa trọng tâm quân sự trở lại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với lý do tình hình nơi đây mất ổn định. Điều này cũng đảm bảo cho Mỹ không bị bỏ rơi khi kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cất cánh.

Ngô Sĩ Tồn thẳng thắn nói rằng cho dù Mỹ thực sự giữ thái độ trung lập, vấn đề Biển Đông cũng sẽ không thể giải quyết ngay tức khác. “Muốn giải quyết triệt để cần phải có thời gian. Nhưng nếu không có sự can dự của Mỹ, vấn đề Biển Đông sẽ không leo thang, trở nên phức tạp như hiện nay, từ điểm nóng khu vực biến thành điểm nóng toàn cầu. Mỹ luôn nói rằng họ không có ý kiềm chế Trung Quốc, nhưng theo tôi, đúng là Mỹ muốn bao vây Trung Quốc. Những từ mà Mỹ thường dùng như ngăn chặn và phòng chống rủi ro chỉ là sự khác nhau trong cách dùng từ tiếng Anh. Chính xác hơn là Mỹ đang ngăn chặn Trung Quốc”.

Mỹ phủ nhận đã can thiệp vào tình hình Biển Đông

Cronin cho rằng do tình hình căng thẳng ở Biển Đông gia tăng, nhằm bảo vệ tự do hàng hải có lợi cho lợi ích của Mỹ cũng như cho lợi ích kinh tế của các bên, Mỹ đành phải can dự vào vấn đề Biển Đông. Theo Cronin, trong quá trình bày tỏ sự quan tâm chú ý của mình đối với vấn đề Biển Đông, có lúc Mỹ cho thấy sự cứng rắn quá mức, có lúc Mỹ thiên về biện pháp quân sự, nhưng việc người dân Trung Quốc nói bất hòa là do Mỹ gây ra là không có căn cứ. “Quan hệ ngoại giao giữa hai nước lúc lên lúc xuống, luôn bất ổn định. Trong hoàn cảnh đó, thái độ ngoại giao mà mỗi nước đưa ra chắc chắn không phải là lần nào cũng chính xác”.

Nhưng dù Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông một cách chủ đọng hay bị động, có một điều không thể phủ nhận được là cuộc chiến giành giật Biển Đông của hai lực lượng lớn – Trung Quốc và Mỹ – trở thành nhân tố then chốt quyết định việc bố trí quyền lực biển ở Biển Đông có phải sắp xếp lại hay không. Nếu Mỹ và Trung Quốc không thể loại bỏ được sự nghi kỵ của đối phương về mục đích chiến lược của mình ở Biển Đông, quy tắc ứng xử của khu vực này sẽ khó đạt được nhận thức chung.

Tương lai tình hình Biển Đông không lạc quan

Cả Cronin và Ngô Sĩ Tồn đều cho rằng Trung Quốc và Mỹ sẽ không vì Biển Đông mà khai chiến với nhau, nhưng trong tương lai gần, vấn đề Biển Đông sẽ là một nút thắt không thể tháo gỡ.

Ngô Sĩ Tồn nói: Việc dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông xem xa thì dễ, nhưng trên thực tế không phù hợp với lợi ích của bất cứ bên nào. Do vậy, chỉ cần không đụng vào giới hạn của Trung Quốc, Bắc Kinh nhất định sẽ kiên trì cam kết giải quyết vấn đề Biển Đông thông qua biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, vì vấn đề Biển Đông liên quan tới lợi ích và sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ cho nên hai bên nhất định sẽ không nhượng bộ nhau. Cuộc đấu địa chính trị chắc chắn sẽ tiếp tục và cục diện tương lai của Biển Đông là không thể lạc quan, các nước chỉ có thể ra sức tìm cách ứng phó ổn thỏa, nhưng khó tìm kiếm biện pháp giải quyết triệt để.

Cronin cho rằng Trung Quốc và Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác, nhưng quan hệ cạnh tranh giữa hai bên vẫn tồn tại, các nước trong khu vực cũng sẽ tiếp tục tìm kiếm sự cân bằng kiểm soát về mặt quân sự ở một mức độ nào đó. Lý thuyết cân bằng kiểm soát và răn đe lẫn nhau đã xuất hiện cách đây vài thế kỷ 21 vốn đã trở nên phức tạp hơn này, lý thuyết này vẫn không thay đổi.

Vấn đề Biển Đông nới rộng hố ngăn cách giữa Trung Quốc và ASEAN

Bên cạnh việc trở thành nút thắt khó gỡ trong quan hệ Trung – Mỹ, vấn đề Biển Đông còn làm nới rộng hố ngăn cách giữa Trung Quốc và ASEAN. “Mô hình sinh tồn” – muốn hợp tác kinh tế thì tìm tới Trung Quốc, muốn hợp tác an ninh thì tìm tới Mỹ – đang dần hình thành trong các nước ASEAN. Vì thế, các học giả đã lên tiếng kêu gọi Trung Quốc mang đến cho ASEAN cảm giác an toàn hơn.

Nghiên cứu viên Ian Storey đến từ Viện Nghiên cứu Nam Á của Xinhgapo cho rằng là một tổ chức khu vực, ASEAN luôn cố gắng duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các nước đối tác. Tuy nhiên, 10 nước thành viên ASEAN  vẫn có những tính toán riêng của mình và không thống nhất lập trường trong vấn đề Biển Đông. Trong các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, xu hướng dựa vào Mỹ của Việt Nam và Philippin là tương đối rõ ràng. Hai nước này còn tiến hành diễn tập chung và tổ chức đối thoại cấp cao với Mỹ. Do đó, vấn đề Biển Đông không chỉ làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước ASEAN tuyên bố chủ quyền Biển Đông, mà còn khiến ASEAN tiếp tục bị chia rẽ. Đây là một chướng ngại đối với việc xây dựng niềm tin lẫn nhau và phát triển quan hệ lâu dài giữa Trung Quốc và ASEAN. Thực tế cho thấy tháng 7 vừa qua, chính vì không thể ký được thỏa thuận về vấn đề Biển Đông, Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN đã không thể ra được thông cáo chung. Dù sau đó các nước ASEAN đã bổ khuyết bằng việc ra nguyên tắc 6 điểm giải quyết vấn đề Biển Đông, nhưng cá biệt có một số nước thành viên vẫn tiếp tục vạch mặt và chỉ trích lẫn nhau.

Tình hình buộc các nước ASEAN phải lựa chọn đứng về bên nào

Kỳ thực, các nước ASEAN không luốn lựa chọn đứng về phía Trung Quốc hay Mỹ, nhưng theo Ngô Sĩ Tồn, tình hình hiện nay đã khiến một số nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam và Philippin, có xu hướng nghêng về một bên hoặc là Trung Quốc hoặc là Mỹ. Về mặt kinh tế, các nước này tìm kiếm sự hợp tác với Trung Quốc, về an ninh lại tìm kiếm sự bảo vệ của Mỹ. Ngô Sĩ Tồn cho rằng đây là hiện tượng hai mặt mà mọi người không muốn nhìn thấy và cũng là vấn đề khiến Trung Quốc phải suy nghĩ lại.

Ngô Sĩ Tồn cho biết: “Mười năm qua, quan hệ kinh tế song phương giữa Trung Quốc và ASEAN phát triển rất nhanh. Nhưng không vì hợp tác kinh tế phát triển mà quan hệ an ninh giữa hai bên trở nên sâu sắc hơn, và ASEAN giảm nghi ngại cũng như lo lắng đối với Trung Quốc. Bắc Kinh luôn thông qua các phương thức khác nhau cam kết và chứng minh với ASEAN và các nước xung quanh rằng mình sẽ tuân thủ đường lối phát triển hòa bình, không tìm kiếm bá quyền, nhưng muốn để các nước xung quanh tin phục, cần phải có một quá trình. Ngô Sĩ Tồn kiến nghị Trung Quốc cần phải học theo “Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ASEAN” ký năm 2003, đề ra một hiệp ước tương tự, cam kết không dùng vũ lực giải quyết tranh chấp để căng cường niềm tin an ninh lẫn nhau và để một số quốc gia nêu trên không cần phải tìm đến sự bảo vệ của Mỹ. Biển Đông là một trong những vấn đề trong quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, nhưng không phải là toàn bộ. ASEAN là hàng xóm quan trọng của Trung Quốc, tạo nên mối quan trọng giữa Trung Quốc và các nước xung quanh, do đó, Bắc Kinh nên tìm biện pháp xóa bỏ sự nghi ngại của ASEAN cũng như khỏa lấp hố ngăn cách giữa Trung Quốc và ASEAN.

Nhận thức chung hóa giải tranh chấp Biển Đông khó thành hiện thực

Con đường hóa giải tranh chấp Biển Đông đứng trước rất nhiều thách thức. Các nước vẫn chưa thể đạt được nhận thức chung về con đường giải quyết vấn đề Biển Đông. Hiện nay, có hai biện pháp chủ yếu để giải quyết tranh chấp Biển Đông. Một là đệ trình lên Tòa quốc tế để ra phán quyết. Hai là các bên tranh chấp trực tiếp đàm phán hiệp thương. Nhưng Storey cho rằng cả khả năng thực hiện hai biện pháp này ngày càng thấp.

Storey nói: “Việc đệ trình lên Tòa án quốc tế để ra phán quyết đòi hỏi phải có sự đồng ý của các bên, nhưng Trung Quốc thì luôn kiên quyết phản đối trọng tài quốc tế. Trong khi đó, do mấy năm gần đây lập trường về vấn đề Biển Đông của tất cả các nước tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông cũng ngày càng cứng rắn, nên dù muốn họ giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua hiệp thương thì cũng rất khó khăn”.

Ngoài ra, nếu sử dụng biện pháp hiệp thương thì nên áp dụng phương thức đàm phán song phương hay đa phương? Đây lại là một vấn đề gây tranh cãi nữa. Trong tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc luôn nhất quán chủ trương tiến hành đàm phán song phương với nước đương sự. Philippin, Việt Nam và Mỹ lại ủng hộ cơ chế đàm phán đa phương giải quyết vấn đề Biển Đông.

Theo Cronin, do giữa Trung Quốc và các nước xung quanh có sự chênh lệch về sức mạnh, nên việc lợi ích của nước nhỏ có được đảm bảo một cách công bằng hay không trong đàm phán song phương là vấn đề khiến người ta lo lắng. Trong cơ chế đàm phán đa phương, cái cần đạt được là những quy tắc mang tính lâu dài để giải quyết vấn đề mà các bên đều chấp nhận, nếu không các nước sẽ có cảm giác thiếu an toàn.

Nhưng Ngô Sĩ Tồn cho rằng trong cơ chế đa phương, thế lực bên ngoài khu vực sẽ thừa cơ tìm kiếm lợi ích, khiến mâu thuẫn phức tạp hơn. Lấy việc phân chia lãnh hải vịnh Bắc Bộ làm ví dụ, Ngô Sĩ Tồn nhấn mạnh sự thực đã chứng minh Trung Quốc sẽ không cậy lớn để ức hiếp bé, cộng đồng quốc tế nên có thêm niềm tin đối với Trung Quốc. Ngô Sĩ Tồn cho biết qua nhiều năm đàm phán, cuối cùng vào năm 2000, Trung Quốc và Việt nam đã dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển phân giới lãnh hải vịnh Bắc Bộ vốn tồn tại tranh chấp, theo đó, Việt Nam quản lý 53% còn Trung Quốc quản lý 47% diện tích.

***

TTXVN (Niu Yoóc 2/9)

Tạp chí “Chính sách Đối ngoại” của Mỹ ngày 27/8 nhận định các tuyên bố gần đây về tranh chấp chủ quyền Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) của phần lớn các nước Đông Nam Á và thậm chí cả Mỹ ngày càng nóng bỏng).

Đầu tháng 8/2012, Bộ Ngoại giao Mỹ áp dụng một biện pháp bất thường bằng cách công bố một thông cáo báo chí chỉ trích Trung Quốc thành lập một khu hành chính mới bao gồm hầu hết các hòn đảo tranh chấp ở Biển Đông. Ngay lập tức, các phương tiện truyền thông của Bắc Kinh đã đáp trả bản thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ bằng những lý lẽ công kích mạnh mẽ và làm tăng thêm tình cảm bức xúc trong công chúng Trung Quốc. Vấn đề xử lý các căng thẳng cũng như các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ vốn đã khó khăn nay càng khó khăn hơn, mặc dù Oasinhtơn không có ý định làm cho tình hình tranh chấp Biển Đông trở nên xấu đi vào lúc này. Nhưng năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton bỗng nhiên lên tiếng phản đối những hành động đơn phương ở Biển Đông và ủng hộ việc phát triển Bộ quy tắc ứng xử hiệu quả để quản lý hoạt động của các nước tranh chấp lãnh thổ trong khu vực. Dư luận cho rằng đây là hành động cần thiết nhằm chỉ trích Trung Quốc chấm dứt thái độ do dự trong việc thông qua Bộ quy tắc ứng xử và hạn chế những hành động quyết đoán của các ngư phủ cũng như các thợ khoan dầu khí của Trung Quốc. Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ được kèm theo các tuyên bố cho rằng Oasinhtơn không quan tâm đến tranh chấp lãnh thổ cụ thể, nhưng nhấn mạnh quyền tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế có nhiều tàu thuyền qua lại cũng như giải quyết các bất đồng một cách hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trung Quốc không muốn Mỹ thúc đẩy vấn đề bất đồng ở thời điểm khi nền ngoại giao Trung Quốc đang thực hiện “các mục đích riêng” ở biển Hoa Đông (Trung Quốc gọi là Đông Hải) cũng như trên bán đảo Triều Tiên. Nhưng cuối năm 2010, Trung Quốc đã cố gắng hơn để hợp tác với các nước láng giềng và lời cảnh báo của Ngoại trưởng Clinton dường như có tác dụng tốt. Gần đây hơn, Cố vấn An ninh Quốc gia của Mỹ Thomas Donilon đến thăm Bắc Kinh và được các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Chính phủ Trung Quốc tiếp đón và thảo luận các bất đồng giữa hai bên. Ngay sau chuyến thăm của Cố vấn An ninh Quốc gia Donilon, thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ được coi như một cú sốc tại Bắc Kinh.

Tình hình Biển Đông rất phức tạp do các tuyên bố chủ quyền mập mờ, đánh bắt cá bừa bãi, và cạnh tranh khai thác các nguồn dự trữ dầu lửa và khí đốt. Tấm bản đồ “đường đứt khúc chín đoạn”, trước kia 11 đoạn của Bắc Kinh nhằm hợp pháp hóa khoảng 80% Biển Đông và các vùng lãnh thổ của Trung Quốc. hai đoạn phân chia các tuyên bố của Trung Quốc và Việt Nam đã được hai bên giải quyết thông qua các cuộc đàm phán song phương cách đây nhiều năm. Điều này cho thấy đường đứt khúc chín đoạn còn lại có thể đàm phán tương tự. Nhưng Trung Quốc kiên quyết từ chối làm rõ cơ sở của các tuyên bố chủ quyền của họ hoặc dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế được Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) chấp nhận hoặc những bằng chứng lịch sử không được đa số dư luận chấp nhận. Việc từ chối làm rõ cơ sở tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông cho thấy Bắc Kinh muốn phát huy tối đa đòn bẩy pháp lý và chính trị riêng của họ, khi tốc độ tăng trưởng của các tài sản quân sự và hàng hải của Trung Quốc đạt được sức mạnh đáng kể so với các nước láng giềng yếu hơn. Nhưng không chỉ riêng Bắc Kinh mà Hà Nội đã thuê các công ty nước ngoài tiến hành thăm dò dầu khí ở các lô thuộc các vùng biển tranh chấp và hiện nay Manila cũng đang tìm cách làm tương tự. Trong khi đó, các cuộc chiếm đóng thuộc địa trước đây của các nước thực dân để lại hồ sơ tuyên bố chủ quyền lịch sử không liên tục, khiến các nước hiện nay có xu hướng chủ yếu dựa vào UNICO để quản lý các nguồn tài nguyên tranh chấp. Bên cạnh đó, các nước tranh chấp cũng khuyến khích và muốn lôi kéo Mỹ đứng về phía họ trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc.

Đây là khu vực Mỹ cần hành xử một cách thận trọng và chỉ hành động sau khi cân nhắc nhiều biện pháp. Mục tiêu chiến lược quan trọng nhất của Mỹ ở Châu Á là quản lý sự phát triển của Trung Quốc bằng nhiều biện pháp để không ảnh hưởng đến các lợi ích sống còn của Mỹ trong khu vực. Hướng tới giai đoạn chuyển tiếp đòi hỏi Mỹ phải có sức mạnh, nhất quán và công nhận những thực tiễn đang thay đổi. Các cuộc thử nghiệm nghiêm túc mối quan hệ Trung – Mỹ sẽ là: Oasinhtơn sẽ cố gắng thuyết phục Bắc Kinh chấp nhận các luật pháp quốc tế hiện hành và các nguyên tắc đã mang lại nền hòa bình lâu dài, ổn định và thượng vượng cho các bên tham gia, đặc biệt là Trung Quốc. Bắc Kinh có ý đồ khai thác sự khác biệt về sức mạnh nhằm chống lại chính sách của các nước có thái độ tích cực và tăng chi phí cho những nước có thái độ tiêu cực. Đây có thể là một toan tính dẫn đến lời cảnh báo gần đây của Bộ Ngoại giao Mỹ đối với Bắc Kinh. Nhiều người ở Oasinhtơn không chấp nhận các chiến thuật mạnh tay của Trung Quốc tại cuộc họp của Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN tháng trước đã ngăn cản Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đưa ra một thông cáo chung sau khi kết thúc hội nghị hàng năm lần đầu tiên trong 45 năm qua. Hơn nữa, Trung Quốc đã tăng cường triển khai lực lượng hải quân và bổ sung lực lượng cho các đội tàu dân sự khác nhau của Trung Quốc hoạt động trên Biển Đông. Tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa và đồn trú lực lượng quân sự tại khu vực tranh chấp của Chính phủ Trung Quốc dường như nhằm đẩy sự kiên nhẫn của Oasinhtơn vượt qua các giới hạn. Các quan chức Mỹ cho rằng các sĩ quan quân đội và những người theo chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc cần phải được dạy cho một bài học rằng các chính sách của họ là phản tác dụng.

Cuộc thử nghiệm một sáng kiến như vậy của Mỹ liệu có hiệu quả để đạt được mục tiêu chiến lược chủ yếu. Đánh giá sự giận dữ của Trung Quốc sau khi Việt Nam và Philippin tiến hành các biện pháp để khai thác các nguồn tài nguyên ở vùng biển tranh chấp mà không bị chỉ trích, tuyên bố của Mỹ dường như không đạt kết quả như mong đợi. Chỉ vài tuần trước khi xu hướng căng thẳng tăng lên, Chính quyền Obama tổ chức thành công chuyến thăm của Tổng thống Philippin Benigno S. Aquino III mà Manila hy vọng sẽ lôi kéo Oasinh tơn hợp tác chặt chẽ hơn với Philippin trong các tuyên bố chủ quyền Biển Đông.Tổng thống Obama nhẹ nhàng khẳng định với ông Aquino rằng Oasinhtơn ủng hộ liên minh mạnh mẽ và ngày càng tăng, nhưng Manila phải tự mình hoặc cùng các nước tuyên bố chủ quyền khác xử lý các tranh chấp ở Biển Đông. Mỹ sẽ ủng hộ các cuộc đàm phán mang tính chất nguyên tắc và một giải pháp hòa bình, nhưng không chỉ rõ các kết quả cụ thể. Hiện nay, bằng cách chỉ trích Bắc Kinh nhưng không chỉ trích các nước khác, các nhà quan sát Trung Quốc tin rằng Mỹ đã đứng về phía các nước chống lại Trung Quốc. Điều này đã phá hủy các khẳng định của Mỹ theo đuổi cách tiếp cận mang tính nguyên tắc trên cơ sở luật pháp quốc tế do thể hiện quan điểm không vô tư.

Các lợi ích trực tiếp của Mỹ ở Biển Đông không phải không có giới hạn. Mỹ không có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông. Hiện nay các công ty và công dân Mỹ không bị rủi ro. Tự do hàng hải rất quan trọng và trung Quốc coi nhẹ UNCLOS nên đã tuyên bố chủ quyền phần lớn Biển Đông.

Hoạt động thu thập tình báo của Mỹ trong khu vực sẽ thường xuyên gặp khó khăn khi Trung Quốc kiên quyết không cho phép các hoạt động như vậy. Hiện nay, nguồn gốc xung đột này đang được giới lãnh đạo chính trị của hai bên quản lý nhằm ngăn ngừa xảy ra các sự cố nghiêm trọng để ảnh hưởng không tốt đến toàn bộ mối quan hệ Mỹ – Trung. Do những tác động tiêu cực gây nên bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng như phản ứng của các nước láng giềng, hiện nay Mỹ quan tâm nhiều hơn đến giải pháp hòa bình. Hơn nữa, Mỹ thường chú trọng tăng cường các quy định của luật pháp quốc tế nhằm giảm bớt chi phí cho việc duy trì ổn định và quản lý sự thay đổi đang diễn ra trong khu vực. Hiện nay, Trung Quốc không quân sự hóa chính sách đối ngoại của họ và dường như không hành động như vậy trong thời gian dài. Hơn nữa, các nước láng giềng của Trung Quốc không thụ động và khi cần thiết họ có thể đoàn kết thành một khối để chống lại những hành động tiêu cực của Trung Quốc. Đáng chú ý, Trung Quốc và các nước láng giềng vẫn đang thúc đẩy các mối quan hệ thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác nhiều hơn bất đồng ở Biển Đông. Điều đó cho thấy tình hình Biển Đông có khả năng quản lý được, mặc dù các bất đồng đó không thể giải quyết trong một vài năm tới. Thực tế, các xã hội Châu Á khác nhau đã quen sống chung với các tranh chấp chưa được giải quyết trong nhiều thế kỷ. Từ thực tế đó, Mỹ sẽ hành động trên cơ sở quan điểm có nguyên tắc và ủng hộ một tiến trình công bằng cho tất cả các nước bất đồng cũng như các nước xung quanh bị ảnh hưởng. Để thực hiện điều đó, Oasinh tơn sẽ bảo vệ quan điểm không thiên vị và lập lại các tuyên bố gây hiểu lầm như tuyên bố vừa qua của Bộ Ngoại giao Mỹ./.

Xử lý tội phạm thâu tóm ngân hàng: Không có vùng cấm

6 Th9

Xử lý tội phạm thâu tóm ngân hàng: Không có vùng cấm

– Trả lời báo chí về hướng xử lý tội phạm thâu tóm ngân hàng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam khẳng định: “bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm, không có bất kỳ vùng cấm nào”.

‘Thủ tướng chỉ đạo rất sát vụ Dương Chí Dũng’

Phải làm sạch hệ thống ngân hàng

Chiều 5/9, Chính phủ đã họp phiên thường kỳ tháng 8. Trong phiên họp báo Chính phủ diễn ra cuối giờ chiều nay, các cơ quan báo chí đã đặt câu hỏi về việc bắt ông Nguyễn Đức Kiên liệu có tác động thế nào đến nền kinh tế và giải pháp xử lý tội phạm thâu tóm ngân hàng trong bối cảnh thực hiện tái cơ cấu.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho hay, trong phiên họp của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng vừa qua, Thủ tướng đã nhắc đến loại tội phạm thâu tóm ngân hàng. Ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế. Bất ổn của nền kinh tế trong những năm qua có nguyên nhân là hệ thống ngân hàng chưa thực sự vững mạnh, vì vậy tái cơ cấu ngân hàng là 1 trong 3 trọng tâm.

Không phải chỉ tới khi bắt ông Kiên việc này mới được nêu ra mà từ trước đó, Thủ tướng đã chỉ đạo các lực lượng chức năng từ thanh tra đến cơ quan điều tra phải đặt nhiệm vụ hết sức quan trọng với loại tội phạm này. Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, hiện nay có hiện tượng một tổ chức, cá nhân sở hữu số vốn ở ngân hàng nhiều hơn so với quy định. “Quan điểm của Chính phủ là phải làm sạch hệ thống ngân hàng để mạch máu của nền kinh tế được thông suốt. Bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm, không có bất kỳ vùng cấm nào”, ông Đam nói.

Theo ông Đam, việc bắt giữ ông Nguyễn Đức Kiên ban đầu cũng có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng ACB nhưng ngay sau đó mọi việc đã trở lại bình thường.

“Khi Chính phủ  chỉ đạo những vụ án dạng này, đã tính tới sự tác động. Chính phủ khi quyết định đã xem xét trên tổng thể để vừa nghiêm trị những người vi phạm, vừa bảo đảm hệ thống ngân hàng không bị ảnh hưởng. Ông Kiên không giữ bất kỳ nhiệm vụ lãnh đạo nào tại Ngân hàng ACB, nhưng tâm lý hoang mang vẫn xuất hiện trong người dân. Đó là do công tác tuyên truyền chưa bảo đảm. Nếu tới đây, còn những tổ chức, cá nhân nào trong loại tội phạm này bị xử lý, cần làm tốt hơn công tác tuyên truyền để hoạt động tín dụng không bị ảnh hưởng”, ông Đam nói.

Tạo đà gỡ khó cho doanh nghiệp

Thông tin nội dung phiên họp Chính phủ vừa diễn ra, ông Vũ Đức Đam cho hay, Chính phủ nhận định tình hình kinh tế – xã hội thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sau khi giảm liên tục trong 5 tháng đầu năm và có trị số âm (-) trong 2 tháng gần đây đã có mức tăng 0,63% so với tháng trước, là mức tăng cao nhất trong vòng 6 tháng gần đây. Dự kiến, cả năm, CPI được kiềm chế ở mức dưới 7%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng qua từng quý, tuy nhiên khó đạt mức 6% cả năm (phấn đấu GDP tăng 5,2%). Nhập siêu thấp, xuất khẩu ổn định. Các chỉ tiêu về cơ bản sẽ đạt kế hoạch, tạo đà tốt cho năm 2013.

Tuy vậy, tình hình kinh tế-xã hội vẫn tồn tại nhiều khó khăn trong đó nổi lên là, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thấp hơn so với tháng . Nợ xấu cũng như việc xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn chưa chuyển biến tích cực. Diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ vẫn khá phức tạp. Khu vực doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn, khả năng hấp thụ nguồn vốn thấp. Chỉ số hàng tồn kho vẫn ở mức cao; số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động vẫn tăng.

Năm 2013, Chính phủ tiếp tục ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, phấn đấu đạt tăng trưởng nền kinh tế ngày càng ổn định. Năm 2013, phấn đấu GDP đạt 6%, lạm phát thấp hơn mức 7%. Phấn đấu bội chi không cao hơn năm 2012.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nhấn mạnh, “Tăng trưởng tốt lên, các cân đối vĩ mô cũng tốt hơn để cuối nhiệm kỳ, kinh tế đất nước đi vào ổn định, tạo đà phát triển bền vững thực sự trong tương lai. Đây là cách tốt nhất để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp”.

 

 

Trước thông tin Bộ Xây dựng đề nghị ngừng thí điểm tập đoàn Sông Đà và Tập đoàn phát triển nhà ở và đô thị HUD, ông Đam nói, Chính phủ đang trong quá trình xem xét. “Chính phủ, Thủ tướng đã dành nhiều thời gian để xem xét việc tái cơ cấu lại các DNNN, trong đó có các tập đoàn kinh tế. Hiện ta đang có 11 tập đoàn kinh tế, hướng tới sẽ giảm xuống còn 5-7 tập đoàn có vai trò trọng yếu đối với nền kinh tế như điện lực, dầu khí.. Còn lại sẽ giao cho các bộ ngành quản lý”, ông Đam khẳng định. 

 

Lê Nhung 

%d bloggers like this: