Lưu trữ | 10:23 Chiều

Chiến trường mới cho sự đối đầu Trung – Ấn

7 Th9

Chiến trường mới cho sự đối đầu Trung – Ấn

Một cuộc “ẩu đả” đáng lo ngại đang diễn ra liên quan đến biển Đông. Trung Quốc đang chuẩn bị đấu giá hai hạng mục vốn được thừa nhận rộng rãi là thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nằm trong khu vực dài 200 hải lý tính từ đường cơ sở, bất chấp việc Hà Nội đã dành quyền khai thác dầu khí tại đây cho Ấn Độ.

Tuần Việt Nam giới thiệu phân tích của ông Harsh V.Pant, giáo sư trường King’s College. Theo ông, bất đồng giữa Trung Quốc và Ấn Độ không chỉ giới hạn ở biên giới biển và các quyền khai thác tài nguyên, mà còn phản ánh “tình trạng đối đầu chiến lược giữa hai cường quốc đang nổi tại châu Á”.

Trong khi thế giới tập trung vào căng thẳng đang leo thang giữa Trung Quốc và Philippines tại biển Đông, Bắc Kinh và Delhi cũng lao vào một cuộc chiến thầm lặng tại các vùng biển đang tranh chấp. Bằng việc đem ra đấu giá quốc tế chín lô dầu khí mà Ấn Độ đã được Việt Nam cấp quyền khai thác, Trung Quốc đã thách đấu. Bằng việc quyết định kiện lô đã được ký hợp đồng khai thác, Ấn Độ khẳng định sẵn sàng nhận lời thách đấu của Trung Quốc.

Cuộc xung đột giữa Ấn Độ và Trung Quốc liên quan đến biển Đông đã hình thành từ hơn một năm nay. Ấn Độ đã ký một thỏa thuận với Việt Nam hồi tháng 10/2011 nhằm xúc tiến khai thác dầu tại biển Đông và hiện đã khẳng định lại quyết định của mình về việc này, bất chấp thách thức của Trung Quốc về tính pháp lý của sự hiện diện của Ấn Độ.

Với việc chấp nhận lời mời của Việt Nam khai thác dầu và khí đốt ở các lô 127 và 128, công ty dầu mỏ nhà nước Ấn Độ ONGC Videsh Ltd (OVL), không chỉ thể hiện mong muốn của New Delhi là làm sâu sắc thêm quan hệ bằng hữu với Việt Nam, mà họ còn thể hiện thái độ làm ngơ trước lời cảnh báo của Trung Quốc là phải tránh xa nơi này…

Trung Quốc phản đối các dự án khai thác của Ấn Độ trong khu vực, cho rằng phần lãnh thổ này thuộc chủ quyền của mình. Trong khi Ấn Độ tiếp tục khẳng định rằng các dự án khai thác này thuần túy mang tính thương mại, Trung Quốc lại coi các hoạt động đó là một vấn đề chủ quyền.

Các động thái của Ấn Độ khiến Trung Quốc lo lắng, Bắc Kinh vốn nhìn cam kết ngày càng lớn của Ấn Độ tại Đông Á một cách nghi ngại. Quyết định của Ấn Độ khai thác dầu khí với Việt Nam diễn ra sau một sự cố tháng 7/2011 trong đó, một tàu chiến không xác định danh tính của Trung Quốc đã yêu cầu tàu đổ bộ INS Airavat của Ấn Độ, khi đó đang có chuyến thăm chính thức tới Nha Trang và Hải Phòng, phải “báo danh” và giải thích sự hiện diện của mình tại khu vực ngay sau khi rời khỏi lãnh hải của Việt Nam. Thực tế là sau khi thăm cảng ở Việt Nam theo kế hoạch, tàu của Ấn Độ đã ra vùng biển quốc tế.

….Tháng 6/2012, Tập đoàn Dầu khí Hải dương quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã mời thầu quốc tế đối với 9 lô dầu khí nằm trong các vùng biển mà Việt Nam cũng đòi chủ quyền. Lô 128, nằm trong vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của Việt Nam theo UNCLOS, là một trong 9 lô trên. Bằng việc mời thầu quốc tế một lô dầu khí của Việt Nam đang được một công ty dầu lửa của Ấn Độ khai thác, Trung Quốc đã đẩy Ấn Độ vào chân tường.

Ấn Độ đã tỏ ra không sợ hãi trước các mánh lới của Trung Quốc. Tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Phnom Penh hồi tháng 7/2012, Ấn Độ lớn tiếng khẳng định ủng hộ không chỉ tự do hàng hải mà cả việc tiếp cận các nguồn tài nguyên phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

New Delhi, vốn thường thích ngồi ngoài lề và tránh tham gia vào các bên, hẳn cho rằng họ không thể tiếp tục thụ động như vậy nếu muốn bảo vệ uy tín của mình trong vai trò một tác nhân lớn ở cả Đông Á và Đông Nam Á.

Giống như các cường quốc khác, Ấn Độ cũng lo ngại về thách thức của Trung Quốc đối với việc tiếp cận tự do với các vùng biển của Đông Nam Á. Lối qua Biển Đông có vai trò rất quan trọng đối với thương mại và an ninh quốc tế nên không thể do một quốc gia đơn lẻ kiểm soát.

Trong khi đó, Trung Quốc cố gắng hết mình để khuấy đục nước biển Đông. Những lo ngại càng tăng liên quan đến yêu sách của Trung Quốc đòi sở hữu hầu hết diện tích biển Đông và hành vi mang tính xác quyết của Hải quân Trung Quốc trong khu vực. Trong một nỗ lực mới nhất nhằm khẳng định các yêu sách của mình đối với khu vực này, Trung Quốc đã quyết định thành lập một đơn vị quân đội trên Đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa. Bộ Quốc phòng Trung Quốc công khai cảnh báo về “tinh thần sẵn sàng chiến đấu” ấy: các đội tuần tra trên không và trên biển của Trung Quốc sẵn sàng “bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển của chúng tôi” tại biển Đông.

Trong một cuộc phô trương sức mạnh và với sự giúp đỡ của Campuchia, Trung Quốc đã ngăn cản ASEAN ra một thông cáo chung. Đây là lần đầu tiên ASEAN không thể ra thông cáo chung sau các hội nghị kể từ khi thành lập tổ chức này 45 năm qua. Trung Quốc thành công trong việc áp dụng chính sách “chia để trị”, từ đó đảm bảo rằng tranh chấp vẫn là vấn đề song phương giữa Bắc Kinh với từng nước có yêu sách.

Khi Trung Quốc gợi ý rằng họ muốn mở rộng các vùng lãnh hải của mình – vốn thông thường kéo dài 12 hải lý tính từ đường cơ sở – để bao chùm toàn bộ vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, rõ ràng họ đang thách thức nguyên tắc căn bản về tự do hàng hải. Tất cả các cường quốc biển, trong đó có Ấn Độ, đều có lợi ích quốc gia trong quyền tự do hàng hải, tự do tiếp cận với các vùng biển quốc tế tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế tại biển Đông. Nhiều tháng nay, Trung Quốc đã va chạm với Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Philippines liên quan đến các vấn đề khai thác dầu khí tại biển Hoa Đông và biển Đông.

Lợi ích của Ấn Độ trong việc tiếp cận với các nguồn năng lượng của Việt Nam đặt họ vào vị trí xung đột trực tiếp với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc. Vấn đề này không đơn thuần về thương mại và năng lượng. Nó liên quan đến sự đối đầu chiến lược giữa hai cường quốc đang nổi trên bản đồ châu Á. Nếu Trung Quốc có thể mở rộng sự hiện diện của mình tại khu vực Ấn Độ Dương, như New Delhi phỏng đoán, thì Ấn Độ cũng có thể làm điều tương tự ở biển Đông. Vì sức mạnh của Trung Quốc đang lên, họ sẽ thử thách quyết tâm của Ấn Độ trong việc duy trì sự hiện diện tại biển Đông.

Ấn Độ từ lâu đã là một quan sát viên thụ động đứng nhìn các căng thẳng biển  và các yêu sách lãnh thổ ngày càng gia tăng trong khu vực. Nhưng giờ đây, Trung Quốc đang dồn Ấn Độ vào chân tường, buộc nước này phải bảo vệ tự do hàng hải, luật pháp quốc tế, các mối quan hệ với các nước Đông Á khác và uy tín của mình trong vai trò một cường quốc đang nổi.

Các động thái khiêu khích của Trung Quốc, vươn tới tận Ấn Độ Dương trong khi đòi chủ quyền đối với biển Đông, có thể đi ngược lại với các lợi ích dài hạn của chính họ, gây ra tình trạng bất chắc và không tin tưởng trong lòng các nước láng giềng. Điều này chỉ có thể càng khẳng định tai tiếng rằng Trung Quốc là một kẻ bắt nạt trong khu vực và càng gắn kết các nước khác, khẳng định mong muốn hướng tới một biển Đông không xung đột. Thách thức đối với Ấn Độ là đạt tham vọng chiến lược bằng các nguồn lực và năng lực thích hợp.

Châu Giang (theo Gyaleglobal)

Không để Biển Đông ảnh hưởng quan hệ Việt-Trung

7 Th9

Không để Biển Đông ảnh hưởng quan hệ Việt-Trung

– Lãnh đạo cấp cao Việt – Trung khẳng định kiên trì thông qua đàm phán, đối thoại giải quyết thỏa đáng vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của quan hệ hai nước.

Bên lề Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần thứ 20 tại Vladivostok hôm nay (7/9), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có cuộc gặp song phương với Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. 

 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Ảnh: THX

Tại cuộc gặp, lãnh đạo hai nước nhất trí cho rằng, quan hệ hữu nghị truyền thống Việt – Trung được các thế hệ lãnh đạo tiền bối và nhân dân hai nước dày công vun đắp là tài sản quý báu của nhân dân hai nước, cả hai bên đều phải có trách nhiệm kế thừa, giữ gìn và phát huy.

 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định không ngừng tăng cường và củng cố quan hệ hữu nghị Việt-Trung là chủ trương nhất quán, lâu dài mang tầm chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng tình hữu nghị với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Ông bày tỏ vui mừng trong những năm qua, với sự nỗ lực của cả hai bên, quan hệ giữa hai nước không ngừng tiến lên phía trước. 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng bí thư, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cho rằng trong tình hình hiện nay việc không ngừng tăng cường sự tin cậy về chính trị, làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Hai vị lãnh đạo nhất trí về nhiều phương hướng lớn thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới như duy trì và tăng cường các chuyến thăm, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước; thúc đẩy hợp tác thực chất cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế – thương mại; tăng cường các hoạt động giao lưu nhân dân, nhất là giữa thế hệ trẻ hai nước; tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước; phối hợp chặt chẽ  tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.

Về vấn đề trên biển, hai bên cần kiên trì thông qua đàm phán, đối thoại giải quyết thỏa đáng vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của quan hệ hai nước.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nêu rõ trong quá trình giải quyết vấn đề Biển Đông, hai bên cần thực hiện nghiêm túc Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, giải quyết thỏa đáng mọi tranh chấp và những vấn đề mới nảy sinh thông qua đàm phán hòa bình, trên cơ sở Luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật Biển 1982, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và tiến tới Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Linh Thư

Giải mã bệnh “trúng gió” và những chuyện bi hài – NĐT

7 Th9

Giải mã bệnh “trúng gió” và những chuyện bi hài

(Nguoiduatin.vn) – Trong quan niệm dân gian, “trúng gió” được coi là bệnh vô cùng nguy hiểm với con người: Méo mồm, liệt…

Theo quan niệm dân gian, bệnh “trúng gió” gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người. Chính sự nhầm lẫn, quy chụp này là nguyên nhân dẫn đến những hậu quả vô cùng đáng tiếc đối với người bệnh.

Đánh đồng méo mồm, dễ đột tử do… “trúng gió”

Ngồi ở hành lang trước cửa các phòng khám và điều trị của một số bệnh viện: Bạch Mai, Viện châm cứu Trung ương, Viện Y học cổ truyền dân tộc…,chúng tôi gặp rất nhiều bệnh nhân với khuôn mặt méo mó, biến dạng tới khám và điều trị. Trong khi chờ đợi, chúng tôi được họ kể cho nghe những chuyện bi hài xung quanh việc “trúng gió”.

Một bệnh nhân nhí đang điều trị bệnh “trúng gió”

Cánh cửa phòng bệnh mở ra, với gương mặt mệt mỏi, chán nản tay trái cầm hồ sơ, tay phải buông thõng, anh N.V.V (34 tuổi, ở Thường Tín, Hà Nội), ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh nghỉ ngơi. Với gương mặt nhăn nhó, đăm chiêu, anh V. quay sang nói chuyện với tôi: “Cũng đi châm cứu à? Bệnh gì đấy”. Không đợi tôi nói thêm, anh tiếp tục than thở về cái họa “tai bay vạ gió” anh mắc phải. Theo lời anh V. kể thì anh bị “trúng gió” khiến cánh tay phải và nửa mặt bên phải bị liệt, không thể cử động. Bằng giọng bực dọc, anh V. cho biết: “Nghe bác sỹ nói bệnh này phải chữa trị lâu dài kết hợp với vật lý trị liệu mới trở lại trạng thái ban đầu. Cứ nghĩ bị trúng gió phải là những người yếu ớt, ai ngờ khỏe mạnh như mình cũng bị mới lạ. Bị thế này đi tong tour du lịch ba ngày nữa rồi”.

Theo bác sỹ, bệnh của anh V. đang trong giai đoạn phát triển nên chưa cảm nhận rõ rệt sự khó chịu. Khi bệnh phát triển hết, việc ăn uống của anh sẽ gặp khó khăn do nửa mặt trái không thể cử động (ăn bị rơi vãi, mắt không thể nhắm lại). Bên cạnh đó, khuôn mặt của anh V. bị biến dạng và giọng nói trở nên khó nghe…

Anh V. tâm sự: “Mặt méo mó, giọng nói không rõ thì sao đi làm được. Kiểu này phải làm đơn xin nghỉ lâu dài để trị bệnh. Nhưng làm nghề hướng dẫn viên du lịch mà nghỉ lâu như thế này, chắc tôi mất việc quá!”.

Thấy tôi tròn mắt nhìn, anh kể thêm về nguyên nhân dẫn đến “cơ sự méo mồm” của mình: Vì giành được hợp đồng dẫn tour khách nước ngoài với giá quá hời, anh mời mấy đồng nghiệp đi ăn. Sau khi ăn nhậu xong, trên đường về nhà, anh gặp mưa ướt hết người. Về đến nhà, không kịp tắm rửa, anh chỉ kịp thay bộ quần áo ướt trên người rồi leo lên giường ngủ. Sáng hôm sau tỉnh dậy, anh thấy tay và mặt tê tê khó chịu nhưng vẫn cử động được. Đến chỗ làm, anh phát hiện mắt trái của mình không thể chớp, liên tục chảy nước mắt. Tới bệnh viện khám, bác sỹ kết luận: Anh bị liệt dây thần kinh ngoại biên số 7 mặt trái.

Trước cửa phòng châm cứu của Viện Châm cứu Trung ương có rất nhiều bệnh nhân ngồi đợi tới lượt mình. Trong số đó, có cả trẻ em và thanh niên điều trị bệnh “méo mồm” do “trúng gió”. Theo khảo sát của PV, rất nhiều trường hợp bệnh nhân đã điều trị bệnh “méo mồm” tới gần hai năm nay mà vẫn chưa khỏi. Chị Phương (Sóc Sơn, Hà Nội), mẹ của bé Trâm Anh tâm sự: “Đúng vào hôm tết, tôi thấy mắt con bé chớp liên tục, đến bữa ăn, nó ăn uống rất khó khăn… Tôi mang con đi khám ở viện nhi, cho cháu uống thuốc nhưng cũng chưa khỏi hẳn. Đúng là gió độc, không biết đường nào mà tránh”.

Rồi chị kể thêm cho tôi nghe chuyện trúng phải gió độc thiếu chút nữa là chết của bà cô chồng chị: Cách đây ba năm, cô của chồng chị tên Nguyễn Thị Xuyến, lấy chồng ở Định Hóa, Thái Nguyên bị “trúng gió” gần chết. Hôm ấy, khi trời chưa sáng, vì “mót” quá, bà tỉnh dậy đi ra ngoài giải quyết. Vừa mở cửa bước ra ngoài, bà trúng ngay gió độc ngất luôn ngoài hè. Thấy mẹ ra ngoài khá lâu mà vẫn chưa vào nhà, con trai bà cất tiếng gọi. Gọi mãi không thấy me đáp lại, anh ra ngoài nhà tìm. Vừa bước ra nhà, anh giật mình khi thấy bà đang nằm dưới đất trong trạng thái hôn mê. Sau đó, bà được chuyển ngay ra viện huyện rồi đưa lên bệnh viện tỉnh điều trị.

Và những chuyện bi hài

Bị “trúng gió” dẫn tới “méo mồm”, Ngọc Mai (Gia Lâm, Hà Nội) gặp nhiều chuyện bi hài “cười ra nước mắt”. Vì đã mời họ hàng và đặt cỗ, đám cưới của cô không thể hoãn lại.

Trong ngày cưới (ngày vui và hạnh phúc nhất trong cuộc đời) thay vì được cười nói hạnh phúc, cô lại mang bộ dạng sầu thảm khiến nhiều vị khách cho rằng “cô dâu bị ép cưới nên mới có bộ mặt đưa đám kiểu kia”. Thấy mọi người nói rồi chỉ trỏ sau lưng mình, cô khóc không nổi, cười chẳng xong. Đã vậy, cô còn mang tiếng ác “coi thường cả họ nhà trai qua nụ cười đểu”. Nói đến đây, Mai cười cười: “Khi chụp ảnh kỷ niệm cùng với nhà trai, vì muốn thể hiện niềm vui và hạnh phúc của mình, tôi cố gắng cười. Ai ngờ khi vừa mở miệng cười, tôi bị cả nhà nhìn chằm chằm. Gặp những ánh mắt thiếu thiện cảm ấy, tôi giật mình nhớ tới bệnh “trúng gió” chưa khỏi của mình. Sau khi kết thúc đám cưới, tôi phải giải thích với cả họ nhà chồng mới được mọi người bỏ qua”.

Cùng hoàn cảnh như Ngọc Mai, Thu Thúy (Thanh Xuân, Hà Nội) cũng rơi vào cảnh dở khóc dở cười vì bệnh “trúng gió”. Đi châm cứu được vài tuần ở Viện Y học cổ truyền dân tộc gần khỏi, tranh thủ được nghỉ thứ bảy và chủ nhật, người yêu cô đưa cô về Quảng Ninh ra mắt.  Vừa về tới nơi, cô bị mẹ chồng tương lai nhìn chằm chằm, rồi lắc đầu. Biết mặt đang bị lệch về một bên do bệnh chưa khỏi nên cô ngại xuất hiện nhiều trước mặt bà. Hai ngày về, hầu như cô trốn trong phòng người yêu lên mạng và tranh thủ đốt ngải cứu hơ mặt (Bác sỹ nói khi không châm cứu nên hơ ngải cứu cho giãn cơ mặt để nhanh khỏi – PV). Không ngờ khi hơ ngải còn lại một ít, mẹ người yêu bước vào. Thấy mớ ngải cháy dở trên tay cô, bà lắc đầu đi ra. Vì bất ngờ nên cô không kịp giải thích. Sau tiếng đóng cửa, cô thấy bà to tiếng với con trai “sẽ không chấp nhận nó làm con dâu”, “không có liêm sỉ, dám ngang nhiên hút hít trong nhà này…”. Nói đến đây, Thúy cười: “Hôm ấy phải mất một lúc mẹ anh ấy mới tin là em đang bị bệnh. Sau lần ấy, bà có thiện cảm với em hơn”.

Cùng quan điểm đeo bạc để phòng trúng gió với chị Lam, chị Vân (Kim Mã, Hà Nội) cũng mua một sợi dây bạc 5 chỉ cho mẹ chồng đeo. Chị tâm sự: “Bố mẹ tôi già rồi, các cụ yếu thế, ra gió không may gặp phải cơn gió độc lấy ai chăm sóc. Tốt nhất phòng còn hơn chữa, mua về cho các cụ đeo còn hơn việc tốn tiền, tốn thời gian để chăm sóc nếu không may “trúng phong độc”. Không chỉ chị Lam, chị Vân, rất nhiều bậc phụ huynh khác cũng mua bạc về cho mọi người trong gia đình, đặc biệt là những em bé mới sinh đeo để tránh gió.

Vừa chào đời được một tháng, trên người bé Bi con gái anh Tuấn (Trương Định, Hà Nội) đeo trên người tới gần một cây bạc. Khi bé lớn hơn, những chiếc lắc tay, lắc chân được thay thế bằng chiếc dây chuyền bạc. Khi đã nhận thức được, bé Bi nhất quyết không chịu đeo vì không thích. Thế nhưng, không thích bé vẫn phải đeo với lý do chống gió độc. Nói đến đây, chị Quỳnh (mẹ bé Bi) tâm sự: “Ông nội Bi bị “trúng phong” do qua đêm mở cửa sổ “đi” mà chẳng kịp nhắn nhủ con cháu. Từ đó, mẹ chồng tôi rất sợ con cháu trong nhà có người nào đó mắc phải gió độc nên bắt con cháu phải đeo bạc để đề phòng”.         

Bạc sẽ khắc chế được… gió?

Trong quan niệm dân gian, chỉ có bạc mới trị được gió. Thế nên, để tránh mắc phải bệnh “trúng gió”, nhiều người đổ xô đi mua bạc về đeo. Chị Nguyễn Hương Lam (Bà Triệu, Hà Nội) cho biết: “Hôm vào Viện Y học cổ truyền châm cứu chứng đau lưng kinh niên của mình, tôi thấy nhiều người bị méo mồm do trúng gió đang điều trị. Về nhà, tôi ra ngay tiệm vàng bạc gần nhà để mua ít vòng tay, nhẫn về cho gia đình đeo để chống gió. Nhìn cảnh cô bé khoảng 10 tuổi châm kim đầy mặt do “trúng gió”, tôi thấy sợ vì con gái tôi cũng đang ở tầm tuổi ấy”.  Tuy nhiên, theo bác sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho rằng, đeo bạc chỉ có tác dụng chống lại bệnh cảm mạo thông thường do gió gây ra.

Hồng Mây

Con nhà nòi sân khấu họ Lê – TT

7 Th9

 

Con nhà nòi sân khấu họ Lê

 

TT – Khởi đầu từ những trí thức “Tây học” chơi kịch, kịch đã thành thể loại dẫn đầu nền kịch Việt hiện đại.Theo huyết thống gia đình, kịch Việt đã hưng thịnh cho đến nay.

 

Họ Lê của kịch sĩ Lê Ðại Thanh là một trong những gia đình nghệ sĩ ấy…

 

>> Kỳ 1: Ba tôi – NSND Thành Tôn
>> Kỳ 2: Nghệ sĩ Hữu Thoại: Nghề này bạc lắm
>> Kỳ 3: Gia đình bầu Thơ: sân khấu là chiếc nôi

 

 

 

Lê Vân trong phim Chị Dậu -Ảnh tư liệu

 

 

 

Sinh ra và lớn lên khi cuộc giao lưu văn hóa Ðông – Tây (Pháp – Việt) diễn ra sôi nổi, bồng bột trong các thành thị lớn ở Việt Nam, Lê Ðại Thanh (1907-1996) được Thế Lữ phát hiện tài năng kịch, được mời vào ban kịch Thế Lữ, Anh Vũ, hoạt động kịch suốt những năm 30,40 của thế kỷ 20.

 

Riêng Lê Ðại Thanh được Thế Lữ ấn tượng là người “mê làm thơ, nhưng rất sân khấu từ dáng dấp đến cử chỉ, sắm vai kịch hồn nhiên không bợn chút nhọc lòng, diễn kịch với khí chất biển của người trai đất cảng Hải Phòng”. Ông từng thủ vai Trần Thiết Chung xuất sắc trong vở Kim tiền, từng được giải thưởng báo Ngày Nay của Tự Lực văn đoàn. Ông từng lập đoàn kịch Lê Ðại Thanh – Lan Sơn và Gió Biển. Ông cưới bà Ðinh Ngọc Anh, con gái một thế gia vọng tộc người Hải Phòng, thời xuân sắc từng là kịch sĩ đoàn kịch Gió Biển. Năm 1956, bà là người đầu tiên đóng vai người con gái Ðất Ðỏ Võ Thị Sáu.

 

Hai ông bà sinh ra hai thế hệ nghệ sĩ hành nghề sân khấu, đã để con cháu tự hình thành tính cách nghệ sĩ, chứa đầy nội lực của bản năng nghệ sĩ.

 

 

 

Lê Khanh trong kịch ngắn Chỉ tại cái tai – Ảnh tư liệu

 

 

 

 

 

Nội lực “cha truyền con nối”

 

Lê Ðại Chúc, Lê Mai và Lê Chức là ba tia pháo hoa bùng nổ ở thế hệ nghệ sĩ con, sau điểm nổ của người cha. Có điều đặc biệt, người cha di truyền cho họ chất nghệ sĩ phong nhiêu và di truyền luôn cả bi kịch đời nghệ sĩ của mình.

 

Một thời dài, cha họ bị kết án liên đới vụ Nhân Văn – Giai Phẩm (1957) cùng một số văn nghệ sĩ đương thời, trong đó có Văn Cao. Cha bị thôi việc tại một cơ quan báo chí, tác phẩm không được xuất bản trong thời gian dài. Con gái Lê Mai bị đình chỉ diễn ở Ðoàn Kịch nói trung ương. Gần qua đời ông mới được muộn màng minh oan (gần đây nhất, ngày 10-8, báo Hải Phòng đưa tin sẽ có đường phố Lê Ðại Thanh được đặt tại phường Lâm Hà, quận Kiến An thuộc “thành phố biển” mà cả đời ông gắn bó).

 

Mang án di truyền ấy của cha, các con trai ông rất vất vả trong lập nghiệp, nhất là Lê Chức (sinh năm 1947). Theo nghề sân khấu của cha, phải 22 năm sau sự cố -1979, với nỗ lực cá nhân phi thường, Lê Chức mới được đi học ở Kiev, Liên Xô, ngành đạo diễn kịch. Lê Chức từng cùng đại gia đình vượt qua cảnh túng đói (cha ông đói triền miên và cố giấu sự thiếu đói trước mặt con). Người anh Lê Ðại Chúc phải bốc vác ở cảng Hải Phòng ròng rã hai năm trời. Lê Chức đẩy xe bò, làm công nhân sửa đường hơn một năm, rồi thi đậu vào Ðoàn Kịch Hải Phòng.

 

Song, người tiếp lửa cho những đứa con nghệ sĩ vượt qua cơn nguy biến, theo hồi tưởng của Lê Chức, lại chính là người cha. Lê Ðại Thanh đã viết Di chúc thơ năm 1965 như rút ruột để lại cho con cái, cho người đời mà chưa bao giờ ông hết thương yêu: Nếu tôi chết hỡi những người thân đừng nhỏ lệ/ Hãy ngâm với tôi một khúc ngắn thơ tôi/Chết là trở về với tinh thể sao trời/ Trả trái đất những gì vay mượn trước/ Chào những bộ hành tuổi xanh xuôi ngược/ Tôi xuống ga đời trả lại vé cho quê hương...Chính ông thương con trai lận đận mà bảo con bỏ bớt chữ Ðại trong tên ông đặt, chỉ còn là Lê Chức “cho con nhẹ hơn trong cuộc đời”.

 

10 năm cha mất, Lê Chức xuất bản tập thơ Lê Hoa, rưng rưng ghi tên ba cha con, trở về chữ “Ðại” trong tên mình: Lê Ðại Thanh – Lê Ðại Chúc – Lê Ðại Chức, để ghi ơn sinh thành dưỡng dục từ cha mẹ. Lê Chức cũng đã thành nghệ sĩ ưu tú, đạo diễn, thi sĩ và hiện đang rất “đắt sô” đạo diễn, giảng dạy, viết kịch, làm thơ… dù ông đương chức phó chủ tịch thường trực Hội Nghệ sĩ sân khấu VN.

 

Lê Ðại Chúc, sinh năm 1944, là tia pháo hoa rực rỡ khác, dù bùng nổ muộn. Là chuyên viên ngành hàng hải, đến tuổi ngũ tuần, theo ông tự sự, Thượng đế bất ngờ ra lệnh Lê Ðại Chúc bỏ nghề tàu biển làm họa sĩ. Như có phép lạ, Lê Ðại Chúc vẽ như… lên đồng suốt hai thập niên cuối thế kỷ 20, đầu 21. Nhẹ nhõm và bay bổng. Ông mê vẽ chân dung, hoa và phong cảnh. Ông hoan hỉ thú nhận có năm ông bán tranh tiền tỉ. Chân dung danh họa Nguyễn Gia Trí, vẽ chưa đầy một giờ, được mua 10.000 USD.

 

Trong hai chục năm, ông vẽ hàng ngàn tranh sơn dầu, hàng trăm chân dung người ruột thịt, bạn bè. Thật thú vị khi ông nhận ra mình in bóng người cha Lê Ðại Thanh. Nhà báo hỏi ông có chịu ảnh hưởng từ cha? Ông tự hào: “Sao lại không? Gen di truyền đấy, không lẫn được đâu…”.

 

 

 

Lê Vi trong Giai điệu tình yêu cùng bạn múa Anh Phương – Ảnh tư liệu

 

 

 

Ba nhan sắc nhà nòi: Lê Vân, Lê Khanh, Lê Vi

 

Có lẽ công lao lớn nhất dâng đời của cặp vợ chồng nghệ sĩ Lê Mai và NSND Trần Tiến là đã sinh hạ được ba nhan sắc cho nghệ thuật biểu diễn Việt: Lê Vân – nghệ sĩ múa và màn bạc, sinh năm 1958; Lê Khanh của kịch lẫn màn bạc, sinh năm 1963; Lê Vi – nghệ sĩ múa và màn bạc, sinh năm 1967. Cặp vợ chồng này cùng có công thăng hoa chùm tia đẹp bất ngờ nhất từ điểm nổ pháo hoa của ông ngoại Lê Ðại Thanh.

 

Song, Lê Mai mới thật là người mẹ tài năng. Tính cách quả cảm của bà trong nuôi dạy con mới thực là cội nguồn của ba cô con gái nghệ sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ, cha các cô, Trần Tiến, ông vua hài kịch thường vắng nhà đi diễn xa, một mình mẹ Lê Mai cáng đáng cả ba con nhỏ. Bị thôi việc ở Ðoàn Kịch nói trung ương, bà may mắn được nhận về Ðoàn kịch Hà Nội. Khi Lê Vân còn nhỏ, bà gửi con ở nhà trẻ nơi sơ tán của Bộ Văn hóa. Cứ tối thứ bảy, sau diễn kịch, bà lại đạp xe gần 30 cây số đón con và 3 giờ sáng thứ hai lại đạp xe về Hà Nội cho đúng giờ ở đoàn kịch. Rồi Lê Khanh ra đời, cân nặng 1,8 kg, bà lại khốn khổ vì con hay đau ốm, đi diễn một đêm chỉ đủ tiền mua vài viên thuốc cho con một ngày.

 

Bà kể có người dại miệng bảo con bé thế thì chỉ có nước “cho vào bánh quy mà đem chôn”. Thế mà bà nuôi mát tay, Khanh lớn phổng lên và rất thông minh! Con út Lê Vi ra đời, bà lại lo cho Vi, vừa lo tiếp tế cho Vân và Khanh theo bố sơ tán. Vi là con gái thứ ba, dù bà hi vọng con trai. Bố Trần Tiến hơi buồn, nhưng cả hai vợ chồng nghĩ con là lộc trời nên thương Vi nhất và Vi cũng gắn bó với mẹ nhất. Ði học cũng chỉ chực về với mẹ, lấy chồng cũng ở cùng mẹ, sang Pháp sống với chồng con nhưng quả quyết “con vẫn sẽ về với mẹ”.

 

Khi các con còn nhỏ xíu, vợ chồng bà chỉ nhắc khéo: Nhà mình có bố Tiến, mẹ Mai đều làm nghệ thuật, các con mà không biết đóng kịch, đóng phim thì phí quá! Có lẽ do gen nghệ thuật từ ông ngoại Lê Ðại Thanh, đến mẹ Lê Mai, rồi từ cha Trần Tiến đã lặn sâu vào các con mà Vân, Vi 11 tuổi đã theo học trường múa, Khanh 15 tuổi đã được tuyển vào Nhà hát Tuổi Trẻ, rồi cả ba tự đi trên con đường đã chọn, bố mẹ không cần can thiệp và tác động. Bản tính Lê Mai không thích phô trương, chưa một lần trong đời bà mang hoa lên sân khấu tặng con, dù bà không bỏ buổi diễn nào của các con.

 

Bây giờ đã tuổi thất thập, song bà Lê Mai vẫn đang mơ đến thế hệ thứ tư: bảy cháu ngoại do ba cô con gái sinh ra. Biết đâu chúng sẽ tự nhiên thành nghệ sĩ, như cụ ngoại, ông bà, chú bác, cha mẹ chúng đã là con nhà nòi ba đời, đến đời thứ tư thành nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, tại sao không? Như các dòng sông, bao giờ mà chẳng thao thiết chảy xuôi ra biển lớn?

 

 

 

Người mẹ hạnh phúc

Lê Mai tự cho mình là người mẹ hạnh phúc nhất thế gian, bởi có ba cô con gái nghệ sĩ, lại biết lo lắng cho mẹ. Bà bảo số bà được nhờ con, con giỏi hơn mẹ nhưng vẫn giống bố mẹ ở tính giản dị, yêu lao động nghệ thuật. Hôm nhận danh hiệu NSND, Khanh nói lời cảm ơn mẹ Lê Mai, vì “mẹ là người chèo lái con thuyền chở toàn nghệ sĩ đến bến bờ vinh quang”. Lê Mai đã không cầm được nước mắt.

Duy cuốn tự truyện Lê Vân yêu và sống đã khiến bà và gia đình phải ít nhiều nghĩ ngợi, khi NSƯT Lê Vân lục tung quá khứ của chính mình và cha mẹ, em gái, để giải đáp câu hỏi của đời mình, trong tình yêu và nghệ thuật, để cuối cùng là… sám hối. Bà Lê Mai không nỡ giận, chỉ xót thương, thấy Vân giống mẹ, mạnh mẽ, cứng cỏi, dám sống theo cách riêng.

Mặc lòng, dù tự truyện Lê Vân đã khuấy động quá khứ và hiện tại của một gia đình danh giá nghệ sĩ, phơi bày vài sự thật đắng lòng thì bà Lê Mai vẫn tỉnh táo và công bằng khi đánh giá: thông điệp của cuốn tự truyện là không người nào, gia đình nào hoàn hảo. Lê Vân đã đau đáu về điều không hoàn hảo ấy, chứng tỏ Vân có tấm lòng thành thực đáng quý!

 

Gia đình nghệ sĩ Lê Đại Thanh (từ trái qua): vợ chồng Lê Đại Thanh, Lê Mai, Lê Chức và Lê Đại Chúc – Ảnh tư liệu gia đình

 

 

 

 

NGUYỄN THỊ MINH THÁI

 

 

 

TT – Khởi đầu từ những trí thức “Tây học” chơi kịch, kịch đã thành thể loại dẫn đầu nền kịch Việt hiện đại.Theo huyết thống gia đình, kịch Việt đã hưng thịnh cho đến nay.

Họ Lê của kịch sĩ Lê Ðại Thanh là một trong những gia đình nghệ sĩ ấy…

>> Kỳ 1: Ba tôi – NSND Thành Tôn
>> Kỳ 2: Nghệ sĩ Hữu Thoại: Nghề này bạc lắm
>> Kỳ 3: Gia đình bầu Thơ: sân khấu là chiếc nôi

 

Lê Vân trong phim Chị Dậu -Ảnh tư liệu

 

Sinh ra và lớn lên khi cuộc giao lưu văn hóa Ðông – Tây (Pháp – Việt) diễn ra sôi nổi, bồng bột trong các thành thị lớn ở Việt Nam, Lê Ðại Thanh (1907-1996) được Thế Lữ phát hiện tài năng kịch, được mời vào ban kịch Thế Lữ, Anh Vũ, hoạt động kịch suốt những năm 30,40 của thế kỷ 20.

Riêng Lê Ðại Thanh được Thế Lữ ấn tượng là người “mê làm thơ, nhưng rất sân khấu từ dáng dấp đến cử chỉ, sắm vai kịch hồn nhiên không bợn chút nhọc lòng, diễn kịch với khí chất biển của người trai đất cảng Hải Phòng”. Ông từng thủ vai Trần Thiết Chung xuất sắc trong vở Kim tiền, từng được giải thưởng báo Ngày Nay của Tự Lực văn đoàn. Ông từng lập đoàn kịch Lê Ðại Thanh – Lan Sơn và Gió Biển. Ông cưới bà Ðinh Ngọc Anh, con gái một thế gia vọng tộc người Hải Phòng, thời xuân sắc từng là kịch sĩ đoàn kịch Gió Biển. Năm 1956, bà là người đầu tiên đóng vai người con gái Ðất Ðỏ Võ Thị Sáu.

Hai ông bà sinh ra hai thế hệ nghệ sĩ hành nghề sân khấu, đã để con cháu tự hình thành tính cách nghệ sĩ, chứa đầy nội lực của bản năng nghệ sĩ.

 

Lê Khanh trong kịch ngắn Chỉ tại cái tai – Ảnh tư liệu

 

 

Nội lực “cha truyền con nối”

Lê Ðại Chúc, Lê Mai và Lê Chức là ba tia pháo hoa bùng nổ ở thế hệ nghệ sĩ con, sau điểm nổ của người cha. Có điều đặc biệt, người cha di truyền cho họ chất nghệ sĩ phong nhiêu và di truyền luôn cả bi kịch đời nghệ sĩ của mình.

Một thời dài, cha họ bị kết án liên đới vụ Nhân Văn – Giai Phẩm (1957) cùng một số văn nghệ sĩ đương thời, trong đó có Văn Cao. Cha bị thôi việc tại một cơ quan báo chí, tác phẩm không được xuất bản trong thời gian dài. Con gái Lê Mai bị đình chỉ diễn ở Ðoàn Kịch nói trung ương. Gần qua đời ông mới được muộn màng minh oan (gần đây nhất, ngày 10-8, báo Hải Phòng đưa tin sẽ có đường phố Lê Ðại Thanh được đặt tại phường Lâm Hà, quận Kiến An thuộc “thành phố biển” mà cả đời ông gắn bó).

Mang án di truyền ấy của cha, các con trai ông rất vất vả trong lập nghiệp, nhất là Lê Chức (sinh năm 1947). Theo nghề sân khấu của cha, phải 22 năm sau sự cố -1979, với nỗ lực cá nhân phi thường, Lê Chức mới được đi học ở Kiev, Liên Xô, ngành đạo diễn kịch. Lê Chức từng cùng đại gia đình vượt qua cảnh túng đói (cha ông đói triền miên và cố giấu sự thiếu đói trước mặt con). Người anh Lê Ðại Chúc phải bốc vác ở cảng Hải Phòng ròng rã hai năm trời. Lê Chức đẩy xe bò, làm công nhân sửa đường hơn một năm, rồi thi đậu vào Ðoàn Kịch Hải Phòng.

Song, người tiếp lửa cho những đứa con nghệ sĩ vượt qua cơn nguy biến, theo hồi tưởng của Lê Chức, lại chính là người cha. Lê Ðại Thanh đã viết Di chúc thơ năm 1965 như rút ruột để lại cho con cái, cho người đời mà chưa bao giờ ông hết thương yêu: Nếu tôi chết hỡi những người thân đừng nhỏ lệ/ Hãy ngâm với tôi một khúc ngắn thơ tôi/Chết là trở về với tinh thể sao trời/ Trả trái đất những gì vay mượn trước/ Chào những bộ hành tuổi xanh xuôi ngược/ Tôi xuống ga đời trả lại vé cho quê hương...Chính ông thương con trai lận đận mà bảo con bỏ bớt chữ Ðại trong tên ông đặt, chỉ còn là Lê Chức “cho con nhẹ hơn trong cuộc đời”.

10 năm cha mất, Lê Chức xuất bản tập thơ Lê Hoa, rưng rưng ghi tên ba cha con, trở về chữ “Ðại” trong tên mình: Lê Ðại Thanh – Lê Ðại Chúc – Lê Ðại Chức, để ghi ơn sinh thành dưỡng dục từ cha mẹ. Lê Chức cũng đã thành nghệ sĩ ưu tú, đạo diễn, thi sĩ và hiện đang rất “đắt sô” đạo diễn, giảng dạy, viết kịch, làm thơ… dù ông đương chức phó chủ tịch thường trực Hội Nghệ sĩ sân khấu VN.

Lê Ðại Chúc, sinh năm 1944, là tia pháo hoa rực rỡ khác, dù bùng nổ muộn. Là chuyên viên ngành hàng hải, đến tuổi ngũ tuần, theo ông tự sự, Thượng đế bất ngờ ra lệnh Lê Ðại Chúc bỏ nghề tàu biển làm họa sĩ. Như có phép lạ, Lê Ðại Chúc vẽ như… lên đồng suốt hai thập niên cuối thế kỷ 20, đầu 21. Nhẹ nhõm và bay bổng. Ông mê vẽ chân dung, hoa và phong cảnh. Ông hoan hỉ thú nhận có năm ông bán tranh tiền tỉ. Chân dung danh họa Nguyễn Gia Trí, vẽ chưa đầy một giờ, được mua 10.000 USD.

Trong hai chục năm, ông vẽ hàng ngàn tranh sơn dầu, hàng trăm chân dung người ruột thịt, bạn bè. Thật thú vị khi ông nhận ra mình in bóng người cha Lê Ðại Thanh. Nhà báo hỏi ông có chịu ảnh hưởng từ cha? Ông tự hào: “Sao lại không? Gen di truyền đấy, không lẫn được đâu…”.

 

Lê Vi trong Giai điệu tình yêu cùng bạn múa Anh Phương – Ảnh tư liệu

 

Ba nhan sắc nhà nòi: Lê Vân, Lê Khanh, Lê Vi

Có lẽ công lao lớn nhất dâng đời của cặp vợ chồng nghệ sĩ Lê Mai và NSND Trần Tiến là đã sinh hạ được ba nhan sắc cho nghệ thuật biểu diễn Việt: Lê Vân – nghệ sĩ múa và màn bạc, sinh năm 1958; Lê Khanh của kịch lẫn màn bạc, sinh năm 1963; Lê Vi – nghệ sĩ múa và màn bạc, sinh năm 1967. Cặp vợ chồng này cùng có công thăng hoa chùm tia đẹp bất ngờ nhất từ điểm nổ pháo hoa của ông ngoại Lê Ðại Thanh.

Song, Lê Mai mới thật là người mẹ tài năng. Tính cách quả cảm của bà trong nuôi dạy con mới thực là cội nguồn của ba cô con gái nghệ sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ, cha các cô, Trần Tiến, ông vua hài kịch thường vắng nhà đi diễn xa, một mình mẹ Lê Mai cáng đáng cả ba con nhỏ. Bị thôi việc ở Ðoàn Kịch nói trung ương, bà may mắn được nhận về Ðoàn kịch Hà Nội. Khi Lê Vân còn nhỏ, bà gửi con ở nhà trẻ nơi sơ tán của Bộ Văn hóa. Cứ tối thứ bảy, sau diễn kịch, bà lại đạp xe gần 30 cây số đón con và 3 giờ sáng thứ hai lại đạp xe về Hà Nội cho đúng giờ ở đoàn kịch. Rồi Lê Khanh ra đời, cân nặng 1,8 kg, bà lại khốn khổ vì con hay đau ốm, đi diễn một đêm chỉ đủ tiền mua vài viên thuốc cho con một ngày.

Bà kể có người dại miệng bảo con bé thế thì chỉ có nước “cho vào bánh quy mà đem chôn”. Thế mà bà nuôi mát tay, Khanh lớn phổng lên và rất thông minh! Con út Lê Vi ra đời, bà lại lo cho Vi, vừa lo tiếp tế cho Vân và Khanh theo bố sơ tán. Vi là con gái thứ ba, dù bà hi vọng con trai. Bố Trần Tiến hơi buồn, nhưng cả hai vợ chồng nghĩ con là lộc trời nên thương Vi nhất và Vi cũng gắn bó với mẹ nhất. Ði học cũng chỉ chực về với mẹ, lấy chồng cũng ở cùng mẹ, sang Pháp sống với chồng con nhưng quả quyết “con vẫn sẽ về với mẹ”.

Khi các con còn nhỏ xíu, vợ chồng bà chỉ nhắc khéo: Nhà mình có bố Tiến, mẹ Mai đều làm nghệ thuật, các con mà không biết đóng kịch, đóng phim thì phí quá! Có lẽ do gen nghệ thuật từ ông ngoại Lê Ðại Thanh, đến mẹ Lê Mai, rồi từ cha Trần Tiến đã lặn sâu vào các con mà Vân, Vi 11 tuổi đã theo học trường múa, Khanh 15 tuổi đã được tuyển vào Nhà hát Tuổi Trẻ, rồi cả ba tự đi trên con đường đã chọn, bố mẹ không cần can thiệp và tác động. Bản tính Lê Mai không thích phô trương, chưa một lần trong đời bà mang hoa lên sân khấu tặng con, dù bà không bỏ buổi diễn nào của các con.

Bây giờ đã tuổi thất thập, song bà Lê Mai vẫn đang mơ đến thế hệ thứ tư: bảy cháu ngoại do ba cô con gái sinh ra. Biết đâu chúng sẽ tự nhiên thành nghệ sĩ, như cụ ngoại, ông bà, chú bác, cha mẹ chúng đã là con nhà nòi ba đời, đến đời thứ tư thành nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, tại sao không? Như các dòng sông, bao giờ mà chẳng thao thiết chảy xuôi ra biển lớn?

 

Người mẹ hạnh phúc

Lê Mai tự cho mình là người mẹ hạnh phúc nhất thế gian, bởi có ba cô con gái nghệ sĩ, lại biết lo lắng cho mẹ. Bà bảo số bà được nhờ con, con giỏi hơn mẹ nhưng vẫn giống bố mẹ ở tính giản dị, yêu lao động nghệ thuật. Hôm nhận danh hiệu NSND, Khanh nói lời cảm ơn mẹ Lê Mai, vì “mẹ là người chèo lái con thuyền chở toàn nghệ sĩ đến bến bờ vinh quang”. Lê Mai đã không cầm được nước mắt.

Duy cuốn tự truyện Lê Vân yêu và sống đã khiến bà và gia đình phải ít nhiều nghĩ ngợi, khi NSƯT Lê Vân lục tung quá khứ của chính mình và cha mẹ, em gái, để giải đáp câu hỏi của đời mình, trong tình yêu và nghệ thuật, để cuối cùng là… sám hối. Bà Lê Mai không nỡ giận, chỉ xót thương, thấy Vân giống mẹ, mạnh mẽ, cứng cỏi, dám sống theo cách riêng.

Mặc lòng, dù tự truyện Lê Vân đã khuấy động quá khứ và hiện tại của một gia đình danh giá nghệ sĩ, phơi bày vài sự thật đắng lòng thì bà Lê Mai vẫn tỉnh táo và công bằng khi đánh giá: thông điệp của cuốn tự truyện là không người nào, gia đình nào hoàn hảo. Lê Vân đã đau đáu về điều không hoàn hảo ấy, chứng tỏ Vân có tấm lòng thành thực đáng quý!

 

Gia đình nghệ sĩ Lê Đại Thanh (từ trái qua): vợ chồng Lê Đại Thanh, Lê Mai, Lê Chức và Lê Đại Chúc – Ảnh tư liệu gia đình

 

 

NGUYỄN THỊ MINH THÁI

 

Một chọn lựa khó khăn – VHNA

7 Th9

Một chọn lựa khó khăn

Đoàn Hưng quốc

“Nhà nước là công bộc của nhân dân. Nếu làm không được việc thì dân chúng phải thẳng tay đuổi mà không nên luyến tiếc chần chờ.” Tài tử điện ảnh Clint Eastwood đã nói như vậy trên truyền hình với hàng triệu dân Mỹ trong kỳ Đại Hội Đảng Cộng Hoà vào tuần qua.

Riêng với người viết việc chọn lựa bỏ lá phiếu cho ứng cử viên tổng thống trong năm 2012 không đơn giản. Trong hai vấn đề lớn, ưu tiên phải là kinh tế vì đây chính là nền tảng cho sức mạnh của Hoa Kỳ; sau đó mới đến quốc phòng và ngoại giao nhất là đối với Trung Quốc. 

Tổng thống Obama đã ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài chính và địa ốc năm 2007 không để lan tràn và làm sụp đổ nền kinh tế. Nhưng đến gần cuối nhiệm kỳ đầu tiên ông vẫn không giải quyết được hai mối nguy gồm nạn thất nghiệp tiếp tục ở mức rất cao trong lúc ngân sách thâm thủng với con số khổng lồ lên đến 15 ngàn tỷ USD. Sai lầm của Obama là thúc đẩy quá sớm các cải cách y tế thay vì tập trung vào hai mối quan tâm hàng đầu của dân Mỹ từ đó tạo ra làn sóng công phẫn và chống đối trong không ít quần chúng.

Không rõ Đảng Cộng Hoà có biện pháp gì để nhanh chóng làm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp ngoài những lời hứa, nhưng riêng về ngân sách sự hiện diện của ứng cử viên Phó Tổng Thống Paul Ryan đã hun nóng không khí bầu cử. Người ta có thể phê bình rằng lập trường cắt chi tiêu của ông quá khích trong lúc chính sách giảm thuế khoá chỉ làm lợi cho 1% nhà giàu. Bù lại, Paul Ryan là một người trẻ, nhiệt tình và đầy thuyết phục nên sự xuất hiện của ông trên diễn đàn buộc các chính trị gia không thể tránh né một vấn đề vô cùng quan trọng cho tương lai lâu dài của nước Mỹ .

Nền tảng của cuộc tranh hùng Mỹ-Trung là nơi sức mạnh kinh tế, và người viết tin rằng kết quả nước nào sẽ dẫn đầu trong thế kỷ 21 có thể tiên liệu được trong vòng 3 năm nửa. Như hai lực sĩ chạy đua không chờ phải vượt qua mức đến mà thắng thua vẫn có thể đoán trước được nếu người dẫn đầu lại bị hụt hơi, hay kẻ đang vọt lên bị vấp té. Riêng đối với cử tri gốc Việt dù ứng cử viên nào vào toà Bạch Ốc cũng không thể trông mong quá nhiều việc cùng một lúc: bảo hiểm xã hội tốt, công ăn việc làm bảo đảm trong lúc phải tăng cường quốc phòng để kiềm chế cả Trung Quốc lẫn Hồi Giáo quá khích – lý do vì nước Mỹ không đủ năng lực để cán đáng mọi công chuyện ngang nhau.

Nhiều báo đã đăng hàng tít lớn rằng đảng Cộng Hoà sẽ có chủ trương cứng rắn đối với Hoa Lục, nhưng các phát biểu của ứng cử viên Mitt Romney cho đến giờ này chỉ nhắm về mậu dịch và tỷ giá đồng  Nhân Dân Tệ thay vì chiến lược quốc phòng. Trong thực tế ngoại giao đang là đề tài vắng bóng khỏi cuộc tranh cử tổng thống năm 2012 do hai nguyên nhân: trước hết các đối thủ chính trị không muốn bị xao lãng ra khỏi chủ đề kinh tế; thứ nhì có lẽ chính sách ngoại giao của hai đảng sẽ không khác biệt gì nhau sau mùa tranh cử.

Tiến trình rút quân khỏi Apganixitan sẽ tiếp tục trong khi Hoa Kỳ chuyển trọng tâm từ Trung Á sang Đông Á. Áp lực lên Iran và Bắc Hàn có thể nặng hay nhẹ hơn đôi chút cho đến lúc các nước này hoặc sẽ phải thay đổi chính sách hay đến lúc một giải pháp quân sự không còn tránh được. Di sản ngoại giao lớn nhất của chính quyền Obama – và trên hết là của ngoại trưởng Hillary Clinton – là chuyển hướng không còn sao lảng vùng Đông Á như vị tiền nhiệm. Trong khi đó chuyến thăm viếng đầu tiên ra nước ngoài của ứng cử viên Cộng Hoà nhằm sang Âu Châu và Do Thái  nhưng không có đến Thái Bình Dương, phần nào cho thấy mối quan tâm chính của ông Mitt Romney. Người viết nghĩ rằng một nhiệm kỳ thứ hai của Obama sẽ tiếp tục con đường do ngoại trưởng Hillary Clinton vạch ra để đặt trọng tâm nhiều về Á Châu khi cần quyết định cân nhắc nặng nhẹ giữa Đông và Tây.

Tám năm đầu của thế kỷ 21 dưới thời tổng thống Bush khiến nước Mỹ bị sa lầy tại Iraq và Apganixitan đồng thời rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế vô cùng nghiêm trọng. Đến nhiệm kỳ Obama tình hình tạm bình ổn nhưng không giải quyết được tình trạng thất nghiệp và ngân sách nợ nần chồng chất. Việc chọn lựa hay thay đổi lãnh đạo sắp đến sẽ vô cùng quan trọng vì 4 năm tới sẽ đến lúc quyết định liệu Hoa Kỳ có tiếp tục là cường quốc hạng nhất trong tương lai hay không./.

 

Đặng Tiến – Hoài niệm Vũ Hoàng Chương (1915-1976) – DĐTK

7 Th9

Đặng Tiến – Hoài niệm Vũ Hoàng Chương (1915-1976)

 Đặng Tiến
 
Ngày 6/9 dương lịch là ngày giỗ Vũ Hoàng Chương, mất tại Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 1976 ; sau mấy tháng bị chính quyền bắt giam vào khám Chí Hoà anh bị trọng bệnh, đưa về nhà một thời gian ngắn thì qua đời, vì ho suyễn, thọ 62 tuổi.
 
Vũ Hoàng Chương năm 24 tuổi.
Vũ Hoàng Chương sinh tại thành phố Nam Định năm 1915 (giấy tờ ghi 1916) trong một gia đình khoa bảng giàu có ; tác giả của khoảng hai mươi tác phẩm, chủ yếu là thơ, rồi đến kịch thơ, hồi ký, bài nói chuyện. Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của đất nước, bắt đầu từ phong trào Thơ Mới, với các tập Thơ Say (1940), Mây (1943), qua những truân chuyên của dân tộc với Thơ Lửa (1948), Hoa Đăng (1959), Lửa Từ Bi (1963), và những biến chuyển trong thi ca hiện đại. Vũ Hoàng Chương là một tác gia lớn lao và quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà, chiếm một địa vị riêng biệt trong các trào lưu thi ca. Giữa những trầm luân của đất nước, tác phẩm của anh chưa được tìm hiểu toàn bộ và đánh giá đúng mức, ở miền Bắc cũng như miền Nam, trước 1975, và trong nước cũng như ngoài nước những năm gần đây.
 
Trong nước, từ chính sách đổi mới, 1986, đã có lối nhìn thoáng rộng hơn đối với phong trào Thơ Mới 1932-1945 và Vũ Hoàng Chương, ở một chừng mực giới hạn, cũng được đọc lại một cách công bình hơn. Mới đây (1996) một sinh viên đại học TPHCM đã trình tiểu luận tốt nghiệp về Vũ Hoàng Chương và giáo sư phản biện Hoàng Như Mai, nhà phê bình văn học (sinh năm 1917) đã phê  “ viết về nhà thơ Vũ Hoàng Chương không phải dễ, người viết vừa phải có trình độ uyên bác nào đó, vừa phải có năng khiếu nghệ thuật. Trên thực tế, khen thơ Vũ Hoàng Chương thì có đông đảo độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình, nhưng trực tiếp viết ra những lời đánh giá thì lại rất ít ai dám viết. Trên văn đàn, những bài, sách nghiên cứu, phê bình thơ Vũ Hoàng Chương có bao nhiêu đâu. Sinh viên viết được bài tiểu luận tốt nghiệp như thế này là đáng biểu dương. Tôi đánh giá như vậy là với tư cách một người yêu quý thơ Vũ Hoàng Chương, và là người bạn thân của nhà thơ “ (25/6/1996) .
Chúng tôi ghi nhận lời phê, viết tay trên luận án, vì nhiều lý do :
  • Dù bị vùi dập, Vũ Hoàng Chương vẫn có người yêu quí và ngay thẳng nói lên niềm yêu quý ấy.
  • Ngưòi ấy có thể là một trí thức cao tuổi, là Hoàng Như Mai, nhưng còn là những sinh viên trẻ tuổi.
  • Đoạn văn phản ánh đúng tình hình nghiên cứu về Vũ Hoàng Chương, với những khó khăn khách quan về nhiều mặt.
Nhưng cũng có người tâm huyết vượt qua những định kiến như Hoàng Thiệu Khang đã viết : “ cuộc nội sinh hoá văn học phương Tây, để có thể sản xuất ra một chất phương đông đậm đà, phải qua tay Vũ Hoàng Chưong, Huy Cận, Đoàn Phú Tứ, Thâm Tâm .. . và cả Xuân Thu Nhã Tập “1. Và Đỗ Đức Hiểu (tú tài 1944 tại Hà Nội) trong sách Đổi Mới Phê Bình Văn Học đã phân tích ảnh hưởng Baudelaire trong thơ Vũ Hoàng Chương ; hoặc Đỗ Lai Thuý (sinh 1948) đã có những trang về Vũ Hoàng Chương đào nguyên lạc lối 2 thật hay, chủ yếu giải thích chất say như một chìa khoá giải mã đi vào thi giới Vũ Hoàng Chương, như một yếu tố của mỹ học và thi pháp ; và tính cách suy đồi trong nghĩa văn học có mầm mống cách mạng và hiện đại. Dĩ nhiên cái nhìn theo phương pháp luận luôn luôn mang tính cách cục bộ, và tiếc rằng Đỗ lai Thuý chưa đọc nhiều thơ Vũ Hoàng Chương. Tuy vậy, những bài viết mới mẻ như thế còn hiếm và đáng biểu dương.
 
Đề hoa quỳnh, thủ bút VHC
Đồng thời, một số tác phẩm của Vũ Hoàng Chương trước 1945 đã được in laị 3. Những tác phẩm về sau, dường như chỉ in lại hồi ký Ta đã làm chi đời Ta (nxb Hội nhà Văn 1993 TPHCM).
 
Nhưng nói chung những thành kiến còn đè nặng trên sự nghiệp văn học của Vũ Hoàng Chương, có thể từ bài viết của Chế Lan Viên (tháng 4/1960) phê phán tập thơ Hoa Đăng, bất công và độc ác 4. Có thể nói, bài này, ở chừng mực nào đó – tôi cân nhắc – ở chừng mực nào đó, đã đưa đến thảm kịch Vũ Hoàng Chương năm 1976. Bài của Xuân Diệu ân cần với Vũ Hoàng Chương, trong mục Tiếng Thơ trên báo Văn Nghệ số 6/1948 không thấy in lại trong sách (NXB Văn Nghệ, 1954). Thỉnh thoảng lắm mới có người nhắc đến tình cũ nghĩa xưa như Tô Hoài trong Tự Truyện, hay mới đây trong Chiều Chiều 5. Còn lại là những phê phán gay gắt kể cả Lê Đình Kỵ, là người tương đối cởi mở với thơ tiền chiến, cũng đánh giá Vũ Hoàng Chương là “ bi quan , bế tắc, buông thả, tự huỷ, truỵ lạc “.... 6. Ở đây chúng tôi không nhắc tới Phan Cự Đệ vì sách Phong trào Thơ Mới viết đã lâu (1966), và từ ấy đến nay ông ta cũng có tiến bộ. Chỉ ghi nhận những lời mới đây (2/1989) của Hà Minh Đức, đương kim viện trưởng viện Văn Học, xem Vũ Hoàng Chương là «  cây bút có tài năng nhưng nằm trong dòng nước đục ( .. .) chẳng có gì để nói thêm về những câu thơ như một con thuyền bập bầnh trôi trên dòng nước đục “ 7. Hà Minh Đức chỉ muốn so sánh thơ Vũ Hoàng Chương những năm 1940, 1943 với những nguồn thơ khác, nhưng câu chữ vẫn không hợp với một đất nước đang hô hào đổi mới, mở cửa, giao lưu. Dù sao, «  đục trong thân cũng là thân « , cụ Nguyễn Du bảo vậy, và Tết Mậu Thân, 1968, Vũ Hoàng Chương cũng có bài thơ nhan đề như vậy.
 
Và dù sao, thời gian cũng sẽ gạn đục khơi trong.
 
Biết ai là đục biết ai trong . . .
 
Năm 1969, Vũ Hoàng Chương lên 55 tuổi, tự hào mình thọ hơn Khổng Minh . . . 1 tuổi, có bài thơ :
Chữ thọ vừa ăn đứt Ngoạ Long
Bến nằm dư biết đục hay trong . . .
(. . . ) Chỉ thương kiếp đá ai bày trận
Để ngấn vàng gieo chợt rối vòng . . .
Một ánh trăng giữa bát Trận Đồ. Trong cảnh đá chạy cát bay, đôi tiếng thị phi, hoặc lời ca tụng, có nghĩa lý gì?
 
Thủ bút chữ hán của VHC
Trước đây, nhà xuất bản An Tiêm, Paris, trong dự án dài hạn, muốn ấn hành một Tuyển Tập Vũ Hoàng Chương, có thể nhích lên Toàn Tập, yêu cầu tôi sưu tầm, biên tập và giới thiệu, với sự thoả thuận của chị Vũ Hoàng Chương. Nay anh Thanh Tuệ chủ trương An Tiêm đã qua đời. Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, thời giám đốc Nguyễn Văn Lưu có lúc cũng đánh tiếng, Nhưng việc không đến đâu, lý do, khách quan và chủ quan, thì nhiều.
 
Chút nghĩa cũ càng, nhân ngày giỗ anh Chương, mới có bài này để cập nhật hoá hoàn cảnh văn học của Vũ Hoàng Chương trong hiện tình đất nước.
 
Nén hương lòng. Xa xôi và cách trở. Không phải để nghị luận hay tranh luận với ai.
 
Đặng Tiến
Paris, nhân ngày giỗ Vũ Hoàng Chương
6/9/1999, cập nhật 2012
 
1 Hoàng Thiệu Khang, Cảm nhận và suy tưởng, nxb Văn Học, Hà Nội, 1994, trang 20.
2 Đỗ Lai Thuý, Con mắt thơ, nxb Lao Động, Hà Nội, 1992, tái bản nhiều lần
3 Lại Nguyên Ân, trên Tạp Chí Văn Học, số 2.1998, cho biết nxb Văn Học Hà Nội, 1991, có ra bộ sách 12 tập Thơ Mới đầu tiên trong đó có Mây của VHC. 1995 ra bộ sách Thơ Mới Tác Gia và Tác Phẩm gồm có 15 tập với 15 tác giả, có VHC.
Nxb Hội Nhà Văn, TPHCM 1992, có tái bản Mây của VHC trong 1 bộ gồm nhiều thi tập.
4 Chế Lan Viên, Phê Bình Văn Học, nxb Văn Học Hà Nội, 1962, trang 86-98.
5 Tô Hoài, Tự Truyện, 1985, trang 263. Cát Bụi Chân Ai, 1992, trang 153 . Chiều Chiều, 1999, trang 21 và 25
6 Lê Đình Kỵ, Thơ Mới những bước thăng trằm, nxb TPHCM, 1989, trang 83 và 122.
7 Hà Minh Đức, Khảo Luận Văn Chương, nxb KHXH, Hà Nội, 1997, trang 14 và 40
 

VN có thể phải xin IMF cứu trợ – BBC

7 Th9

VN có thể phải xin IMF cứu trợ

Ngân hàng VN

Hệ thống tài chính Việt Nam sẽ có thể cần đến gói vay cứu trợ khổng lồ để có thể khắc phục khó khăn

Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ phải xin cứu trợ từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF để giải quyết nợ xấu.

Như vậy Việt Nam sẽ là nền kinh tế lớn nhất Đông Á phải cầu viện tổ chức này từ sau những năm 1990.

 

Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 được Ủy ban Kinh tế của Quốc hội ‘đặt hàng’ và đăng tải trên trang web của ủy ban này ngày 4/9 cho thấy Việt Nam sẽ cần phải tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và hành động thật nhanh để giải quyết khối nợ xấu.

Theo bản báo cáo dài gần 300 trang, hệ thống tài chính của Việt Nam có thể sẽ cần phải vay vốn cứu trợ từ 250 nghìn tỷ đồng (12 tỷ đôla) đến 300 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên giới quan sát cũng đặt nghi vấn cho việc liệu chính phủ Việt Nam có thực sự lựa chọn cách cầu cứu IMF.

Ông Peter Ryder, giám đốc điều hành bộ phận quản lý quỹ và phát triển bất động sản của Indochina Capital, bình luận với hãng tin Bloomberg:

“Việt Nam đang ở trong tình thế phải tìm kiếm những con đường nhằm điều chỉnh vốn và tái cơ cấu nền móng của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, đối với người Việt Nam, nhất là khi nhìn vào lịch sử độc lập mãnh liệt của họ, việc phải tìm đến IMF trước khi đã cạn kiệt những cách khác là một điều đáng ngạc nhiên.”

Ngoài việc vay vốn IMF, nhóm kinh tế gia làm báo cáo còn gợi ý có thể phát hành trái phiếu thời hạn từ 3-5 năm, cắt giảm chi tiêu Nhà nước và thu hút vốn hoặc đầu tư từ các công ty nước ngoài.

Loại trái phiếu 3-5 năm này có thể sử dụng với mục đích huy động tiền dư thừa từ các ngân hàng thương mại chứ không phải để Ngân hàng Nhà nước mua lại và cần phải được trích từ việc cắt giảm khoản chi thường niên lên đến 20-21% GDP của ngân sách Nhà nước.

Bản báo cáo cho biết, nếu giảm tỷ lệ chi tiêu xuống mức cách đây 5-10 năm (16-17% GDP) thì có thể dư ra khoảng 3%, tức khoảng 70 nghìn tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước cũng nên lập một công ty để mua nợ xấu. Tuy nhiên bản báo cáo cho rằng công ty này phải sử dụng nguồn vốn từ nước ngoài.

“Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn đang ở mức báo động, trong lúc mức dự trữ nợ xấu của Ngân hàng là không thích đáng”, trích bản báo cáo.

Niềm tin đổ vỡ

Ngân hàng Nhà nướcNgân hàng Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm đẩy khối nợ xấu xuống dưới 3% trước năm 2015

Bloomberg trong tin ra ngày 6/9 nhận xét: “Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang lao đao trong việc khôi phục lại niềm tin tại Việt Nam sau khi vụ bắt nhà tài phiệt (Nguyễn Đức Kiên) hồi tháng trước làm lộ ra tính mỏng manh của hệ thống tài chính, bị làm khốn đốn thêm bởi khối nợ xấu cao nhất Đông Nam Á.”

“Tăng trưởng Việt Nam tụt xuống 4,4% trong nửa đầu năm so với mức 8,5% hồi năm 2007 khi các khoản vay bị đình trệ, kìm hãm doanh thu quốc gia và bẻ gãy khả năng giải cứu các ngân hàng của nước này.”

Nợ xấu hiện tại đang ở mức 8,6%-10% theo công bố mới nhất của Ngân hàng Nhà nước.

HSBC trong báo cáo ngày 4/9 cho rằng, khối quốc doanh đóng vai trò lớn trong việc gieo rắc gánh nặng lên nền kinh tế.

Từ năm 2009, khối tín dụng rẻ khổng lồ được bơm vào các Tập đoàn Nhà nước đã đẩy tăng trưởng tín dụng tăng lên đến mức chóng mặt.

Tuy nhiên các Tập đoàn Nhà nước, với sự quản lý yếu kém, thống kê thiếu minh bạch và những sai phạm nghiêm trọng trong đầu tư đã dẫn đến kinh doanh không hiệu quả, kèm những khoản thất thoát vốn Nhà nước và những khối nợ khổng lồ, góp phần tăng khối nợ xấu.

Hiện tại, Việt Nam đang có kể hoạch cắt giảm khối nợ xấu xuống dưới 3% trước năm 2015, đồng thời Ngân hàng Nhà nước cho biết đã sẵn sàng để ép buộc các ngân hàng yếu kém sát nhập.

HSBC cho biết ngân hàng này tỏ ra khá lạc quan về nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cải cách nền kinh tế nhưng cũng nhấn mạnh tính cần thiết của sự kiên nhẫn trong việc cải cách để dọn dẹp nợ xấu, đồng thời thiết lập một nền kinh tế đền đáp xứng đáng cho những hoạt động kinh doanh hiệu quả.

%d bloggers like this: