Lưu trữ | 11:33 Chiều

Thơ: GIÃ BIỆT

8 Th9

GIÃ BIỆT

Kha Tiệm Ly

 

Đò vô thường luôn neo bến đợi,

Rồi một mai ta cũng phải đi về.

Bao đắng cay, phủi tay để lại,

Mặc cho người ai tỉnh, ai mê!

 

Chẳng lợi, chẳng danh, chẳng gì sợ mất,

Chẳng bạn tình chung, chẳng xót xa nhau.

Ta thư thả, dù nắng hong, mưa bấc,

Cho dù Nại Hà nhịp thấp, nhịp cao!

 

Ta giã biệt tên Lý Thông, Tần Cối,

Mặc các ngươi mê đắm bã hư danh,

Mặc lặn hụp trong đê hèn, tội lỗi,

Để một ngày cũng qua bến tử sanh.

 

Xin giã biệt những người em lỗi hẹn,

Chúc các em vui một cõi phù hoa,

Với mắt lạnh, với tiếng cười nhọn bén,

Không có một ngày như em đã phụ ta!

 

Ta tiếc chi ta, cái thân hàn sĩ,

Mà tiếc thơ ta chẳng có mộ phần!

Tiếc cho ta chưa hồng nhan tri kỉ,

Dù hoađời không thiếu bóng giai nhân!

 

Ta lại tiếc một đời chánh khí,

Gươm anh linh chưa thỏa chí một lần.

Dù mở kinh luân, đệ tử mấy ngàn,

Dù khua chèo nghĩa, đệ huynh vô số.

Mà gươm báu vẫn nằm im mấy độ,

Nhớ Lương Sơn mà thẹn với Tống Giang!

 

Và lại tiếc sao tình em đến muộn,

Đàn sai cung nên lỡ một bài ca.

Trót rơi xuống thành giọt sương buổi sớm,

Nên suốt đời vẫn nợ một loài hoa!

 

Kha Tiệm Ly

NIỀM VUI CUỘC SỐNG – Tâm Sáng

8 Th9

NIỀM VUI CUỘC SỐNG

 

Niềm vui cung cấp nguồn năng lượng cùng sức đề kháng của cơ thể. Thái độ lạc quan yêu đời giúp con người tìm thấy vô vàng niềm vui trong cuộc sống, từ những niềm vui bình dị nhất đến những niềm vui lớn lao nhất.

Niềm vui có thể đến từ ý nghĩ hàng ngày mình được sống bên cạnh những người thân yêu, được có một cuộc sống an lành, được ăn một bữa cơm ngon do chính tay người mẹ hay vợ nấu, được bạn bè và đồng nghiệp cảm thông, hỗ trợ, được vui đùa với con trẻ sau một ngày làm việc mệt nhọc, được làm những việc yêu thích khi rảnh rỗi… Tuy vậy không phải ai cũng tìm được niềm vui từ những điều bình dị ấy. Nếu chỉ có được niềm vui khi đạt điều gì lớn lao thì niềm vui đó dù lớn đến đâu cũng chỉ là niềm vui lẻ loi, ngắn ngủi, trong khi phần lớn thời gian còn lại trong cuộc đời rất tẻ nhạt.

  Niềm vui giúp con người hưng phấn trong công việc. Con người không thể chọn chỉ số thông minh và nền tảng di truyền cho mình, nhưng hoàn toàn có thể lựa chọn công việc thích hợp với sở thích của mình để nỗ lực hết mình nhằm đạt kết quả mong muốn, và gặt hái niềm vui sống. Chỉ có thể có niềm vui trong công việc khi hết lòng yêu quý công việc của mình. Khi vật lộn với công việc mà không có chút niềm vui thì kết quả đạt được thường ít ỏi. Vậy trong cuộc đời ngắn ngủi hãy chọn công việc mà mình yêu thích, chứ không phải miễn cưởng chấp nhận công việc theo ý muốn của người khác trái với sở thích hay mục đích sống của mình, để luôn thoải mái và đạt hiệu suất.

Niềm vui không thể vay mượn mà chỉ có thể có được qua thái độ sống tích cực, lạc quan yêu đời và hành động để đạt được những kết quả thiết thực trong hành trình hiện thực hóa ước mơ.  Niềm vui trọn vẹn nhất trong cuộc đời có được khi sống tràn đầy nhiệt huyết và đạt được mục tiêu, khát vọng của mình. Chỉ có thể tìm thấy giá trị đích thực của cuộc sống khi sống hết mình và biết tận hưởng những niềm vui mà cuộc sống mang lại.

Niềm vui sẽ đến với người biết hòa mình vào nhịp điệu cuộc sống và tận hưởng hương vị cuộc sống. Niềm vui đi liền với cảm nhận mình có ích và được tin tưởng, thương yêu bởi những người xung quanh. Không ít gia đình dù có cuộc sống nghéo khó vẫn sống trong niềm vui và hạnh phúc, trong khi nhiều gia đình giàu sang lại bất hạnh. Niềm vui thật sự và lâu bền không phải do tài sản hay địa vị mang đến, mà có được từ nhân sinh quan lành mạnh, từ những việc làm tốt đẹp, nhân ái.

Trời chiều một người thanh niên dáng vẻ giàu có nhìn thấy đôi giày cũ kỹ của người nông dân bên vệ đường. Người nông dân đang cố bổ những nhát cuốc cuối cùng xuống ruộng. Người thanh niên này ra ý định giấu đôi giày để xem người nông dân sẽ có biểu hiện thế nào khi không tìm được giày. Ông cụ đầu bạc phơ ngồi phía bên kia đường thấy vậy liền nói với người thanh niên: “Niềm vui chính đáng của con người có được khi mang lại niềm vui cho người khác chứ không phải khi gây ra đau khổ cho người khác. Là người giàu cháu hãy thử bỏ vào mỗi chiếc giày đó một đồng tiền vàng, rồi núp sau bụi cây chờ xem sự việc diễn ra thế nào”. Người thanh niên làm theo lời khuyên của cụ già. Một lát sau người nông dân ra về, khi xỏ chân vào chiếc giày ông ta nhận thấy có vật gì cộm trong đó. Ông ta liền nhặt lên và vô cùng ngạc nhiên nhận ra đồng tiền vàng. Xỏ chân tiếp vào chiếc giày kia, ông ta cũng tìm thấy một đồng tiền vàng nữa. Vô cùng xúc động, người nông dân quỳ lạy trời phật đã cứu giúp gia đình trong cơn khốn khó, đói khổ. Anh thanh niên lặng người và những giọt nước mắt chảy dài trên má, anh  đã học được một bài học quý giá về niềm vui chính đáng.

Mang niềm vui đến cho người khác sẽ tạo thêm cho mình niềm vui sống. Niềm vui có thể lan truyền sang những người xung quanh, tạo không khí vui tươi phấn chấn. Nhà văn, triết gia Đức, Johann Wolfgang von Goethe nói thêm: “Niềm vui được chia sẻ, niềm vui sẽ nhân đôi”.

Văn học lịch sử: Đâu là hư cấu, đâu là xuyên tạc? – TT&VH

8 Th9

Văn học lịch sử: Đâu là hư cấu, đâu là xuyên tạc?

(TT&VH) – “Nhà văn giải mã lịch sử chứ không làm nô lệ của lịch sử. Biên độ của hư cấu trong sáng tác là không giới hạn, nhưng phải hư cấu để hướng đến sự thật”, nhà văn Hoàng Quốc Hải nêu ý kiến về văn học lịch sử.

Hội thảo “Sáng tác văn học về đề tài lịch sử” diễn ra sáng 7/9 tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội. Đây là một trong những hội thảo lớn, có chủ đề hấp dẫn của Hội trong năm nay.

Sau 50 năm mới nên coi là lịch sử

Nhiều nhà văn đi đến thống nhất về quan niệm: một đề tài, sự kiện phải trải qua ít nhất 50 năm mới nên coi là lịch sử. Vì đó là quãng thời gian tạm đủ để người ta nhìn nhận và đánh giá thấu đáo về một sự kiện, nhân vật lịch sử.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, tác giả Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn, coi đó là mốc “lịch sử gần”, bên cạnh những “lịch sử xa” cách đây hàng thế kỷ, thiên niên kỷ. Nhà văn đầu thế kỷ 20 Nguyễn Triệu Luật cũng nhắc đến tiêu chí này trong lời đề dẫn cuốn tiểu thuyết Bà chúa chè. Đây là một quan niệm du nhập từ phương Tây, và đến nay vẫn thể hiện được tính đúng đắn.

Phân biệt vai trò của nhà chép sử và nhà văn viết về lịch sử, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói đầu buổi hội thảo: “Việc chép sử dừng lại ở việc ghi chép, tổng hợp các tư liệu, chi tiết lịch sử, còn nhà văn tái hiện toàn bộ con đường, ý chí, khát vọng của con người dẫn đến sự kiện, giai đoạn lịch sử đó. Văn học dựng nên nhân cách và tinh thần con người làm nên lịch sử. Nếu không làm được điều đó thì nhà văn kém cỏi và vụng về”.

Theo tiêu chuẩn đó, đề tài biển Đông, như nhiều người nhắc đến trong hội thảo nhưng chưa đào sâu, rõ ràng là đề tài lịch sử, không những thế còn là một đề tài lớn, cực kỳ bao quát bởi nó trải dài suốt từ thời cận đại đến hiện đại và hiện nay vẫn còn nóng hổi. Việc thiếu các tác phẩm văn học viết đích đáng về đề tài biển Đông cũng là vấn đề đáng quan tâm.


Toàn cảnh hội thảo sáng 7/9. Ảnh: Hạ Huyền.

Có đất cho người trẻ?

Khi được hỏi câu này, cả hai nhà văn lão làng về tiểu thuyết lịch sử là Nguyễn Xuân Khánh và Hoàng Quốc Hải đều khẳng định ngay: “Có chứ”. Lớp nhà văn đi trước tỏ ra rất tin ở lớp trẻ, nhưng mọi việc xem ra không đơn giản.

Bởi viết tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi nhiều thời gian. “Nhà văn phải làm việc như một nhà khoa học, như một học giả. Phải đọc rất nhiều, nghiên cứu thật kỹ lưỡng về đề tài mình viết. Phải về thăm các di tích, tìm lại những dư ảnh của thời đã qua, hỏi chuyện ông bà, cha mẹ, những người đi trước”, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói. Công việc của nhà viết tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi nhiều thời gian, mà với thời gian thì trẻ cũng thành già.

Trong hội thảo, các cây bút như Lưu Sơn Minh (38 tuổi) hay thậm chí Sương Nguyệt Minh (54 tuổi) vẫn được các nhà văn lớn tuổi hơn giới thiệu như là “những gương mặt trẻ” trong sáng tác mảng đề tài lịch sử.

Vậy, trong việc sáng tác văn học lịch sử, hoặc có thể nói là không có đất cho người trẻ, hoặc phải xem lại khái niệm “trẻ”. “35 tuổi vẫn được coi là trẻ”, nhà văn Hoàng Quốc Hải khẳng định. “Người ta có thể xác định sẽ theo con đường này từ trước tuổi 20, bắt tay vào nghiên cứu, ít ra là sau 10-15 năm tích lũy là có thể viết được”.

Hu cấu để hướng đến sự thật

Trong hội thảo, xảy ra sự va chạm giữa hai khái niệm về “hư cấu” và “xuyên tạc” của nhà văn khi sáng tác về đề tài lịch sử. Đến đây phải nhắc lại lời nhà văn Hoàng Quốc Hải khẳng định: “Biên độ của hư cấu trong sáng tác là không giới hạn”.

Sau đó, có ý kiến của nhà văn Lưu Sơn Minh đặt câu hỏi: “Quyền hư cấu hay quyền hư vô?” và khẳng định, anh đặt bút viết vì sự nghi ngờ đến ám ảnh với những câu chuyện lịch sử mà theo anh là “không công bằng”. “Người ta đã biến Nguyễn Bặc, Đinh Điền trở thành kẻ bán nước để tôn vinh Dương Vân Nga. Hay bà Thái hậu Thượng Dương hiền lành bị biến thành một phụ nữ lăng loàn để hình ảnh bà Ỷ Lan thêm đẹp.

Lịch sử không phải là con rùa để hết người này đến người kia lật ngửa để thể hiện bản lĩnh hay cá tính của mình”, nhà văn Lưu Sơn Minh nói.

Nhưng, cũng giống như nhiều loại hình nghệ thuật khác, văn học dựa trên hư cấu nhưng để nói lên sự thật. “Hư cấu để đạt tới giá trị chân thực của cuộc sống, còn xuyên tạc là áp đặt cho lịch sử cái mà nó không có. Phải phân biệt giữa hai khái niệm đó”, ông nói tiếp.

Chẳng hạn, bộ ba truyện ngắn lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa và Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp từ khi ra đời đến nay vẫn gây tranh cãi về độ chân thực lịch sử và sáng tạo của nhà văn. Nhưng theo nhà phê bình Phong Lê, có tranh luận mãi thì các ý khen chê vẫn thế. Ông tổng kết một câu: “Trước hết không phải là xét đúng sai, mà là tâm thế của con người trước thịnh suy đất nước”.

Mi Ly

Sách “Địa dư đồ khảo” của nhà Thanh – Trung Quốc:Khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam – SK&ĐS

8 Th9
Sách “Địa dư đồ khảo” của nhà Thanh – Trung Quốc:

Khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam

Những ngày tháng 8, trong dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công và 67 năm Quốc khánh 2/9, những người Việt Nam lại thêm một lần nữa cảm thấy vững tin vào chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam thông qua một cuốn sách được viết chính thức bởi triều đình nhà Thanh Địa dư đồ khảo.

Linh cảm nghề dẫn đường tìm sách

Mấy năm gần đây, khi những xáo trộn trên biển Đông mang tính chất biên giới, lãnh thổ, cương vực, biên hải… gây nên sự “đôi co” giữa các quốc gia thì những tư liệu mang tính lịch sử, địa lý của các nước trở nên những tài liệu quan trọng để chứng minh chủ quyền lãnh hải của mình. Và với riêng Việt Nam, ngày càng nhiều những tài liệu có từ các thế kỷ trước được công khai với quốc tế về sự chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Nhưng có lẽ những tài liệu đó đều của Việt Nam làm ra nên sức thuyết phục chưa cao, chưa tạo nên thế vững chắc để chứng minh chủ quyền hai quần đảo này. “Và thấy nước lớn ỉ mạnh hiếp yếu mà không chịu được” – Trần Đình Sơn.

 

Trong cuốn Địa dư đồ khảo do triều đình nhà Thanh biên soạn vào đời vua Quang Tự (1875-1908) không có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (ảnh chụp từ cuốn sách).

 

Nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử Trần Đình Sơn nguyên là cháu nội đời thứ tư của cụ Trần Đình Bá (1867 – 1933) Thượng thư bộ Hình dưới triều vua Khải Định. Theo những suy đoán và linh cảm của một nhà nghiên cứu lịch sử, ông đã bỏ nhiều công sức tìm kiếm trong tủ sách của cụ cố… Và không phụ lòng người có công hay là do tình yêu Tổ quốc mách bảo, ông đã tìm thấy cuốn Địa dư đồ khảo do triều đình nhà Thanh biên soạn vào đời vua Quang Tự, ở ngôi vua từ năm 1875 – 1908, trong đó có nhiều bản đồ được vẽ tay trên một loại vải lụa đặc biệt, qua cả trăm năm mà không hề bị phai màu hay mục rách.

Trong cuốn sách này, triều đình nhà Thanh đã công khai lãnh địa cương thổ và biên hải của mình. Và tuyệt vời nhất ở cuốn sách này là việc xác định vùng đất cực Nam, địa điểm cuối cùng về phía Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông, được thể hiện trên bản đồ. Không có quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.

Ông Trần Đình Sơn cho biết, nguyên cuốn Địa dư đồ khảo nằm trong tủ sách Phước Trang của ông cố nội, là cụ phó bảng Trần Đình Bá. Do cụ từng giữ chức Thượng thư bộ Hình triều vua Khải Định nên trong tủ sách có một số sách về luật lệ từ đầu thời Nguyễn đến thời kỳ người Pháp có mặt ở Việt Nam.

Vì thế, cụ cố nội Trần Đình Bá do giữ trách nhiệm về luật lệ thời ấy ở triều đình nhà Nguyễn chắc chắn phải quan tâm đến vấn đề biên giới, cương thổ và lãnh hải của đất nước nên cụ cùng các quan cộng sự của mình sẽ phải có trong tay tài liệu hợp pháp của triều đình nhà Thanh để nghiên cứu tham khảo và làm bằng chứng cũng như để tiện cho việc vẽ địa chí cương vực lãnh thổ Việt Nam. Và Địa dư đồ khảo đã được tìm thấy trong tủ sách của cụ.

“Địa  dư đồ  khảo”

Sách do nhà Thanh xuất bản thời kỳ đầu triều Quang Tự (1875- 1908) ở Trung Quốc. Sách đã được cụ Thượng thư bộ Hình triều Khải Định (1916- 1925) sao chép lại.

Sách được viết trên giấy xuyến loại đặc biệt, rộng 16cm, dài 27cm, bên ngoài có bìa cứng, bọc lụa đỏ, kế đến là bìa giấy cũ màu nâu. Tổng cộng có 65 tờ viết chữ Hán hai mặt, chữ còn rõ đẹp, gồm 20 mục khảo cứu và 20 bản đồ đính kèm. Đặc biệt, trong sách có nhiều bản đồ được vẽ bằng tay rất chi tiết và rõ nét trên lụa, loại lụa rất đặc biệt, không hề bị mủn, rách.

Đọc trong sách thấy ghi các sự kiện từ năm Quang Tự thứ hai trở về trước nên có thể suy đoán tập sách được biên soạn và hoàn thành như một văn bản chính thức của triều nhà Thanh trước năm 1876. Đây chính là cơ sở để nghiên cứu các vùng cương giới những nước láng giềng của Trung Quốc đã được triều Thanh xác nhận, trong đó có Việt Nam.

Đặc biệt, Địa dư đồ khảo có phần bản đồ chi tiết về các tỉnh phía Nam Trung Quốc, đặc biệt là các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông có chung đường biên giới với Việt Nam. Và trên bản đồ được vẽ trong sách thì đảo Hải Nam (hay còn gọi Quỳnh Châu) thuộc tỉnh Quảng Đông được thể hiện là vùng đất cực Nam, địa điểm cuối cùng ở phía Nam của Trung Quốc (ngày nay, ở Du Lâm, cực Nam của đảo Hải Nam vẫn còn các tảng đá lớn ghi hàng chữ rất to: Thiên nhai hải giác – Chân trời góc biển, Hải khoát thiên không – biển rộng vô bờ bến).

Điều đặc biệt hơn nữa, trong Địa dư đồ khảo không hề có chi tiết nào nói về hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa. Điều đó có nghĩa là triều đình nhà Thanh cho đến đầu thời Quang Tự đã không kể đến các quần đảo trên thuộc về lãnh thổ của mình. Trong lúc đó, việc quản lý của triều đình nhà Nguyễn hồi ấy đối với Hoàng Sa và Trường Sa được ghi lại rõ ràng qua sử liệu.

Ông Trần Đình Sơn tâm huyết: “Lâu nay, chúng ta đã công bố được rất nhiều bản đồ do các giáo sĩ phương Tây, các nhà hàng hải vẽ có ghi chú quần đảo Trường Sa – Hoàng Sa của đất nước Việt Nam. Các cứ liệu lịch sử Việt Nam trải qua các thời kỳ Trần – Lê – Nguyễn đều có ghi chép việc quản lý, khai thác Trường Sa – Hoàng Sa rồi.

Đến nay, người Việt Nam trong và ngoài nước vẫn đang tiếp tục nỗ lực tìm kiếm thêm bản đồ, tư liệu để chứng minh chủ quyền của nước ta ở hai quần đảo này và đó chính là động lực để gia đình chúng tôi đem tập Địa dư đồ khảo trong tủ sách gia bảo ra công bố như một cứ liệu minh chứng cho việc Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam”.

Trong cuộc họp báo, có nhiều ý kiến hỏi về cuốn sách, nhất là việc đề nghị chủ nhân cuốn sách này có thể “nhân bản”, dịch ra tiếng Việt và một số ngôn ngữ được dùng thông dụng ở Liên hợp quốc, để việc phổ biến được rộng hơn. Có lẽ đó cũng là mong muốn chung của những người Việt Nam yêu nước, luôn quan tâm đến chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, nhất là những vùng lãnh thổ thuộc biên cương, hải đảo.

Bài và ảnh: Hoài Hương

NGUYỄN HIẾU CÓ THỂ BỊ… SỨT LƯỠI KHI NGỬA CỔ CHỬI THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU, MAI VĂN PHẤN VÀ ĐỖ DOÃN PHƯƠNG !? – VC+

8 Th9

NGUYỄN HIẾU CÓ THỂ BỊ… SỨT LƯỠI KHI NGỬA CỔ CHỬI THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU, MAI VĂN PHẤN VÀ ĐỖ DOÃN PHƯƠNG !?

 
Tôi viết bài này đã lâu, cũng chẳng muốn đăng làm gì vì thiết nghĩ dù sao tôi cũng nghĩ đến cái tình anh em. Nhưng khổ một nỗi có thể do trình độ tôi có hạn nên tôi không hiểu vì sao Hội Nhà văn lại tán tụng thứ thơ “lai căng như kiểu người nước ngoài nói tiếng Việt không sõi”, làm hỏng thẩm mỹ của người đọc thơ, làm băng hoại ngôn ngữ Việt Nam muôn ngàn yêu quí của chúng ta, nên sau đôi hồi nghĩ ngợi, tôi quyết định cho Bà Đầm xòe công bố bài viết này. Có thể đúng, có thể sai về những ý kiến của tôi, rất mong anh em  xa gần góp ý, dậy bảo. Vẫn biết là một hội viên Hội Nhà văn, bài viết này sẽ có thể ít nhiều làm một số vị lãnh đạo hội không hài lòng. Nhưng vì tồn vong của thi ca, sự trong sáng của tiếng Việt, tôi quyết định cho đăng. Cám ơn những ai đọc bài này.

LẠM PHÁT THƠ VÀ CỐ TRAO GIẢI THƯỞNG CHO THƠ
 Vì sao thơ bung ra đến độ lạm phát?
Có một mệnh đề trong lí luận kinh điển theo chủ nghĩa đang bao trùm lên thể chế  này mà bất kì một ông cán bộ nào có chút địa vị của xã hội ta mặc dù chả biết gì về triết học, kinh tế học nhưng rất thích nhắc đến đó là “hạ tấng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc”- Diễn nôm ra, tức là cơ sở vật chất tác động quan trọng đến suy nghĩ, tư duy. Chả biết câu này đúng sai thế nào nhưng nhìn vào sự phát triển thơ đối chiếu với nền kinh tế nứơc ta thì quả là như vậy. Gần chục năm nay nưóc ta đi vào cơn khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy biểu hiện qua chỉ số lạm phát kỉ lục. Chưa đầy một thập kỉ mà giá trị đồng tiền giảm tới hơn mười lần khiến giá cả tăng vọt, dân tình điêu đứng. Vậy mà trong thời gian này, thơ – một thứ sản phẩm trí tuệ ra đời từ những bộ óc siêu việt trong thời thịnh trị, dân an quốc vượng thì trong thời lạm phát mọi mặt của nước ta, thơ bỗng nhiên trở thành sản phẩm gia tăng vùn vụt của đủ hạng người, trong đó có thứ người no cơm ấm cật đang cần một cái danh mang tính hào hoa, phong nhã. Vì lẽ đó thơ cũng theo kinh tế mà rơi vào tình trạng lạm phát ghê gớm.
Ngoài nguyên nhân do ham muốn của số người thích mua danh ba vạn thì còn thêm hàng loạt nguyên nhân khiến sự lạm phát thơ ngày càng mạnh mẽ. Thứ ngưòi gọi là “nhà thơ”sinh sôi nhanh hơn cả chuột – giống động vật đẻ vô tội vạ – đến độ có người đã báo động cầm một hòn sỏi ném vu vơ ra ngoài đường thì thể nào cũng trúng một nhà thơ. Sự lạm phát này đã làm thơ, một thể loại cao quí, bị tầm thường hóa đến độ không ít người phát sợ.
Có người khi vui miệng đã đề nghị nên thành lập một trại “cai nghiện thơ”, và trước cửa nhà người,  không muốn bị làm phiền vì thơ ca, đã để tấm biển “đề nghị để giầy, dép và thơ ở ngoài”.
Nguyên nhân thứ hai khiến thơ trở thành lạm phát phải kể đến là đặc trưng ngôn ngữ xứ ta dễ bắt vận, dễ nói thành vần – không phải ngẫu nhiên những kẻ tâm thần, đầu óc không bình thường hay nói vần, thích đọc vè là vì vậy.
Một tác động làm thơ tăng như một đại nạn là cơ chế bỏ tiền ra in thơ. Thời mọi sự còn tử tế để in một tập thơ thì chí ít phải là nhà thơ đàng hoàng có môn bài, có danh là Hội viên Hội Nhà văn. Nay thì bất kì một vị nào có tiền khi đã no chán mọi thứ chơi vật chất như chó cảnh, chìm muông …lại có đôi chút khả năng biết bắt vần viết ra những câu có đôi chút nhịp điệu là loay hoay thế nào cũng chôm một ít tiền vợ mang đến các nhà xuất bản xin giấy phép in thơ mình. Ông nào rủng rỉnh tài chính còn thuê một vài cây bút đôi chút có danh để viết bài giới thiệu. Và, nếu chỉ căn cứ vào những bài tựa các tập thơ này thì dân An nam ta sẽ hí hửng tưởng xứ ta đang được ông Hoàng Mười phù hộ nên mới mọc ra nhiều đệ tử của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm , Puskin, Gớt đến thế.
Trong sự cấp giấy phép in thơ này thì Nhà xuất bản Hội Nhà văn – một nhà xuất bản có một thời danh giá nay trở thành một tổ hợp thủ công chuyên cấp giấy phép để in thơ.
Một nguyên nhân nữa để thơ bung ra như mối gặp trời mưa là hai ông chánh, phó chủ tịch, ông Trưởng ban Tổ chức Hội Nhà văn đều là nhà thơ.
Ông chủ tịch Hội thì với thơ ai cũng đều có câu khen rất tài hoa trong ngôn từ, mặc dù hình như ông chẳng đọc thơ của ai bao giờ, trừ những tập ông được mời viết lời tựa.
Câu bình cửa miệng của ông mỗi khi nói về thơ ai cũng hao hao như nhau “Nhan sắc lắm, lay động lắm”.
Làm thơ và đựơc gọi là nhà thơ trong thời lạm phát dễ như thế nên người ta đổ xô làm những thứ gọi là thơ. Viết một truyện ngắn, một vở kịch và cao hơn cả là một tiểu thuyết thì cực khó, còn để đẻ ra một bài văn vần gọi là thơ thì quá dễ. Vì vậy thơ bung ra nhan nhản, từ ông thứ trưởng đương chức đến các sinh hoạt hội người cao tuổi, đều ngày ngày cặm cụi gò lưng làm thơ để hi vọng đựơc gọi và đựơc tự phong là nhà thơ.
Thơ lạm phát kéo theo sự gia tăng khủng khiếp một thứ, đó là ngưòi đựơc gọi là nhà thơ. Vì nhà thơ có vai vế trong hội nghề như vậy nên những đợt kết nạp và những giải thưỏng hàng năm đầu nghiêng về ngưòi làm thơ và thơ.
Với tình trạng này, danh hiệu và giải thưởng một thời cao quí là Hội viên , giải thưỏng Hội Nhà văn Việt Nam bỗng bị hạ thấp rất nhiều, nếu không muốn nói là rẻ rúng khi chỉ cần có trong tay hai ba tập thơ tự in, chất lượng nhàng nhàng, nhưng được sự chiếu cố của ông trưỏng ban, ông Chủ tịch hội thì sớm muộn sẽ được vào hội.
Còn giải thưỏng thì thật tuỳ hứng, nếu không muốn nói là giải thưỏng này đã được chỉ đạo theo kiểu chỉ định thầu trong kinh tế.
Tôi không tin dư luận cho rằng, vì yếu tố kinh tế nên năm nào Hội Nhà văn cũng kết nạp hàng đống các vị làm thơ chỉ ở trình độ nghiệp dư vào hội viên.
Nếu đây là sự thật thì nó có khác gì sự mua quan bán tước đang hoành hành ở nứơc ta.
Và như để chứng minh cho sự đúng đắn trong chiến lược phát triển hội viên Hội viên Hội Nhà văn Việt Nâm nên trên dưói một thập niên vừa qua, giải thưởng hàng năm, nhiều tập thơ xoàng xoàng đựơc các vị có chức quyền trong Hội Nhà văn để mắt tới, đã trúng giải.
Hiện trạng này đến năm 2011 vừa qua đã trở thành điển hình.
Ngoài hai tác phẩm cũng chẳng lấy gì làm đặc sắc lắm của hai ông Ủy viên Ban chấp hành thì có không ít các tập thơ của đám viết thơ trẻ.
Về thơ trẻ tôi xin mượn cách đánh giá của nhạc sĩ Văn Dung khi nói đến nhạc trẻ “đó là kiểu thơ chỉ để ý đến hình dáng, điệu bộ. trang phục mà quên đi nội dung, chất giọng”.
 Cũng trong động tác để nhấn thêm sự khẳng định đúng đắn trong sự phát triển hội viên, sự phát triển đáng tự hào của phong trào thơ nước nhà của các vị lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam, ngưòi ta đã tổ chức hàng loạt các cuộc hội thảo để tôn vinh một vài nhà thơ, xem như một biểu tượng, một thứ “đề can” cho hiện trạng thơ phát triển ầm ĩ đến lạm phát như hiện nay (sự hội thảo này có lẽ chỉ đúng nhất khi nói đến thơ của Đồng Đức Bốn- một tài năng vượt trội trong thể thể lục bát đặc sản của thi ca Việt Nam).
Thử bàn về cái gọi là hiện tượng thơ Mai Văn Phấn .
Như trên tôi đã nói, số lượng các tập thơ ra đời hàng năm, từ khi có cơ chế tự in cùng với sự dễ dãi, mất công bằng trong việc kết nạp người làm thơ vào Hội Nhà văn thì hàng năm cả nứơc ta không dưới hai, ba ngìn tập thơ được xuất bản, và mỗi năm có hàng nghìn người tham gia vào đội ngũ làm thơ (đọc thơ dễ hơn đọc văn (vì nó phù hợp với sự lười đọc đang bao phủ toàn bộ nền văn hoá đọc của xứ ta). Vì thế, người ta không lấy làm lạ khi Nhà văn Tuyết Sương TPHồ Chí Minh, tác giả 5 cuốn tiểu thuyết trong đó có cuốn “Cô y tá nhỏ” khá nổi tiếng, rồi nhà văn Trần Chiến, tác giả cuốn tiểu thuyết vào hàng xuất sắc bao năm vẫn không được các vị trong Ban chấp hành để mắt tới).
Không gì dễ hơn khi tự tạo lập cho mình danh hiệu nhà thơ. Tôi biết có một người không hề có chút thiên bẩm nào trong sáng tác văn nghệ, nhưng có thể cho ra đời mọi tác phẩm đủ mọi thể loại: cầm kì, thi, họa, trừ tiểu thuyết.
Thời buổi thưong mại này,l khi người ta có tiền thì muốn thành nhà gì cũng được, trừ thành một tiểu thuyết gia, huống hồ làm một nhà thơ.
Trên số lượng về thơ và nhà thơ mà hai ông nhà thơ chánh phó, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã cố tạo ra vài cái đỉnh khẳng định sự thắng lợi của sự bội thu thơ. Sự biểu dương và tôn vinh cố ý thơ Mai Văn Phấn là một trường hợp như thế.
Phải công nhận về mặt phương pháp luận thì Mai Văn Phấn tỏ ra khôn ngoan khi chọn một kiểu thơ “không phải là thơ”, một thứ văn xuôi cắt ngắn, một cách viết giống hệt bản dịch ra tiếng Việt từ tiếng nứơc ngoài của người đang ở độ tuổi trí tuệ còn chưa lú lẫn. Trong khi hầu hết những người viết thơ đang sáng tác theokiểu cú pháp, hình thức thơ cũ kĩ, mà trong chiều sâu của tâm hồn và nhận thức của họ, cũng thấy không mấy hấp dẫn thì Mai Văn Phấn quả là khôn ngoan đi theo một lối đi tưởng như mới trong làng thơ ta hiện nay.
Nhưng đọc kĩ một chút thì thơ Mai Văn Phấn là sự lặp lại hiện tượng giống như thơ của Nguyễn Quang Thiều cách đây trên dưới hai mươi năm. Hồi đó Nguyễn Quang Thiều đang sung sức, cũng bắt đầu nhàm chán cáí lối thơ và tư duy thơ cổ lỗ của các bậc đàn anh đi trứơc, lại sẵn có khả năng ngoại ngữ nên Thiều đã chọn con đưòng mô phỏng thơ nứơc ngoài, chủ yếu là thơ tiếng Anh mà ít nhiều tôi nhìn thấy tựa tựa cách viết theo những bài thơ lừng lẫy trong tập lá cỏ của Witman.
Thơ Thiều thủa sung sức giống hệt như những bản dịch từ thơ nứơc ngoài.
Cũng xin nói thêm khi Nguyễn Quang Thiều làm những bài thơ này, cũng là lúc nền văn chương nước ta đã bắt đầu đổi mới. Các cây bút đã chán ngấy một kiểu văn chương minh hoạ, những câu thơ cũ kĩ nặng chất truyền thông, thì Thiều quả là khôn ngoan khi đem đến cách viết mới mà thực ra là sự mô phỏng lối nghĩ, lối cấu trúc của thơ nứớc ngoài.
Thời đầu đổi mới đó văn xuôi còn để lại Nguyễn Huy Thiệp trong sự phá phách lật đổ các thần tượng, giải thiêng những điều húy, kị;  còn trong thơ thì ồn lên sự làm mới của thơ Thiều .
Tôi chỉ hơi lạ, trong văn xuôi, Thiều có những cách viết có cảm hứng hướng về làng quê thôn giã (tiêu biểu là truyện ngắn “‘mùa hoa cải bên sông”), thì trong thơ Thiều “sự cách tân” lại hướng ngoại mà thực chất là sự mô phỏng thơ nước ngoài.
Hơn hai hai mươi năm sau, Mai Văn Phấn lại rập lại cách đi đó của đàn anh.
Điều này cắt nghĩa, vì sao hai ông nhà thơ chức dịch của Hội Nhà văn bỗng nhiên lại tán tụng thơ Mai Văn Phấn và kéo theo hàng đống các vị, một là theo voi ăn bã mía, hai là sợ mình bị đánh giá là ngu dốt khi không tán dưong thơ Mai Văn Phấn theo kiểu Trạng Quỳnh đã từng diễu “địt mẹ thằng nào bảo thằng nào”.
Ngôn ngữ, tư duy của ngưòi Việt ta khác hẳn ngôn ngữ, cách tư duy của người nứơc ngoài. Vậy mà, Nguyễn Quang Thiều và nay Mai Văn Phấn lại tung ra những đoạn chữ mà ngưòi ta gọi là thơ cùng những suy nghĩ gần như rập lại cách nói, cách tư duy của ngưòi nước ngoài, cụ thể là tư duy của dân đất mới châu Mỹ. Trong suy nghĩ người Việt rất kiêng kị khi nói về quạ (theo quan điểm cổ xưa đó là loài chim chuyên mang điều gở ), nay Mai Văn Phấn lại mô phỏng cách nghĩ nứơc ngoài, cũng nói về con quạ với những câu gọi là thơ, giống như thơ dịch, với kiểu tư duy và cách đặt câu xa lạ với ngôn ngữ, cách tư duy truỳên thống của người đọc xứ ta
“Con cá nhẩy vào đám mây tự vẫn”-  Biến tấu con quạ.
Rồi lảm nhảm, loằng ngoàng nói về mái nhà như một người ngớ ngẩn đang học nói tiếng Việt:
Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mặc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh …- Chạy theo mái nhà.
Trời ạ! Thế mà ngưòi ta dám gọi là thơ thì thật là liều.
Tôi còn nhớ Chế Lan Viên đã từng có ý định cách tân hình thức thơ bằng kéo dài câu thơ một cách bất thường. Dạo đó ta gọi là thơ văn xuôi. Đọc lại bài thơ tiêu biểu cho sự cách tân này của ông là bài : những cành phong lan bể:
“ xanh biếc mùa thu bể như hàng nghìn mùa thu còn tâm hồn nằm đọng lại/ Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh thôi không trở lại làm trời/ Nếu núi làm con trai thì bể là mùa thu đã biến thành con gái , mỗi đêm ngày da thịt sóng sinh sôi”.
Ta vẫn thấy một cách nghĩ Việt Nam, những âm điệu của ngôn ngữ Việt cực kì thơ ẩn dấu trong hình thức văn xuôi mang đặc trưng mà chỉ có thơ mới có.
Còn đọc thơ Mai Văn Phấn chỉ thấy những câu văn không ra văn, thơ không ra thơ, mang đủ thứ suy nghĩ vớ vẩn, theo kiểu bạ đâu nói đó. Tối nghĩa và hạ thấp rất nhiều, chẳng những thể loại thơ, mà còn làm mất đi vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt.
Tôi nhớ trong làng thơ xứ ta hiện nay, không ít vị làm thơ muốn đổi mới sự thể hiện thơ. Điều này là một yêu cầu chính đáng, cần khuyến khích. Nếu Lê Đạt muốn cách tân bằng sự đảo lộn cú pháp, trật tự ngữ pháp để tạo ra sắc thái mới của thơ, Lê Huy Quang cũng đi theo hứơng này và cũng có ít nhiều thành công, hay Nguyễn Đình Chính cách tân bằng đưa ngôn từ trầm tục vào thơ ..
Nhưng, dù tôi không tán thành việc dung tục hoá trong thơ Chính, nhưng vẫn phải công nhận NguyễnĐình Chính, ngoài tư cách là một tiểu thuyết gia ưa tìm tòi, thì ông là một nhà thơ đầy nội lực thi ca. Nội lực này lại càng đựơc đẩy lên khi chất công dân của ông được thể hiện một cách dữ dội và bản lĩnh trong những câu thơ muốn phá bung khuôn khổ …
Hoặc ca từ trong những ca khúc tài danh của Trịnh Công Sơn. Trong những ca từ mang nặng chất thơ của Trịnh Công Sơn, nếu tách ra từng dòng hay để hiểu trực diện nghĩa thì thật khó, nhưng ở những ca từ đó tràn ngập sự hư ảo, lung linh, cao siêu của triết ly thiền, nên tạo ra quá nhiều tầng nghĩa mà ngưòi đọc chỉ cảm chứ không thể diễn thành lời một cách rành mạch.
Trở lại thơ Mai Văn Phấn. Để chứng minh thơ Mai Văn Phấn là hiện tượng đổi mới thơ ca, Hội Nhà văn không ngần ngại tiến hành một loạt hoạt động để ghi nhận hiện tượng này. Làm hội thảo, rồi trao giải thưởng cho Mai Văn Phấn và trao giải cho các cây bút trẻ có lối viết hao hao như Mai Văn Phấn, là Đỗ Dõan Phương.
Xin đọc mấy câu mà ngưòi ta cố gọi là thơ của cây bút trẻ này:
“Bây giờ là quãng đường dài nhất/ mọi ngưòi giúp cô tiền đò, tiền đường/ và bắc những cây cầu bằng vải đỏ / hát những câu an ủi dặn dò…/ khắc ghi vào đầu khuôn mặt già nua của cô để từ nay nhớ hoặc sợ – Thăm vườn nhà cũ.
Kì quặc thật. Thế này mà người ta gọi là thơ thì tôi nghĩ, một là ngưòi đó bị nhiễm sự lai căng dở dang của kẻ quá yêu tiếng nứơc ngoài chê bai tiếng mẹ đẻ, hai là cái đầu đó có vấn đề về tâm thần.
Tôi có cảm thấy một chu kì đã thành qui luật là mỗi khi ngưòi ta tôn vinh thứ thơ lai căng này thì cũng là lúc các nhà thơ của ta đang đi vào bế tắc, cả trong tư tưởng và cách biểu hiện.
Thơ Mai Văn Phấn và một số tập thơ nhận giải thưởng của Hội Nhà văn năm 2011 không chỉ là những ví dụ cho sự bế tắc mà còn vô tình tạo ra một thứ sai lầm khi làm hỏng thẩm mỹ về thơ của ngưòi đọc Việt nam, làm rối ngôn ngữ nước ta, trong khi đáng ra với chức phận nhà thơ phải làm cho ngôn ngữ này ngày càng đẹp hơn,dân tộc hơn và trong sáng hơn.
Khi viết đến thơ Mai Văn Phấn tự nhiên tôi lại nghĩ đến đề xuất thu phí phượng tiện giao thông cá nhân của ông Bộ trưởng Bộ GTVT- Đinh La Thăng: vô lý, cửa quyền, tai hại cho đời sống của ngưòi dân. Nó cũng hao hao giống Hội Nhà văn cố trao giải cho những tập thơ này, như là sự cưỡng ép thiên hạ phải công nhận thơ lai căng như thơ của Mai Văn Phấn và một số nhà thơ trẻ như là thành tựu của nền thơ Việt Nam đưong đại. Buồn thay!
Quỳnh mai 6/4/2012
NGUYỄN HIẾU (ĐT: 091 35 35 270)
Nguồn: Bà Đầm Xòe

‘Sống trong sợ hãi’ vì động đất dồn dập – VNE

8 Th9

‘Sống trong sợ hãi’ vì động đất dồn dập

Người dân ngày không dám lên rẫy, ban đêm phập phồng; nhiều giáo viên tính đến chuyện chuyển trường, gửi con về quê để phòng tránh nguy hiểm vì động đất mạnh liên tiếp xảy ra ở thủy điện Sông Tranh 2.
> Hàng nghìn học sinh Quảng Nam hoảng loạn vì động đất

Những ngày này, về huyện Bắc Trà My và một số khu vực lân cận công trình thủy điện Sông Tranh 2, người dân luôn than thở về nỗi lo động đất đang làm xáo trộn cuộc sống. “Đi cũng dở, ở cũng không xong” là tâm trạng chung của nhiều hộ dân.

Động đất liên tiếp xảy ra khiến nhiều nhà dân, trụ sở cơ quan, trường học ở huyện Bắc Trà My tường bị nứt nẻ, hư hỏng. Ảnh: Trí Tín.
Động đất liên tiếp xảy ra khiến nhiều nhà dân, trụ sở cơ quan, trường học ở huyện Bắc Trà My tường bị nứt nẻ, hư hỏng. Ảnh: Trí Tín.

Ông Hồ Văn Ánh ở xã Trà Tân, thở dài: “Lo sợ khiến vợ chồng tôi không thể đi xa làm ăn vì ở nhà còn các con. Cứ quanh quẩn thế này biết làm gì để kiếm tiền nuôi sống gia đình. Năm ngày qua mỗi lần lòng đất phát nổ, mặt đất rung chuyển là cả nhà mất ăn, mất ngủ đến phờ phạc”.

Mỗi khi động đất xảy ra, nhà nào khá giả có bộ phản nằm thì chui dưới gầm. Một số hộ khác thì chui xuống dưới gầm giường trốn phòng tránh ngói rơi trúng đầu, nguy hiểm đến tính mạng. “Cứ đêm nào nghe lòng đất phát nổ, rung chuyển là cả nhà ùa chạy ra sân. Gặp lúc trời mưa giữa đêm khuya thì vơ vội tấm bạt xanh. Chồng cầm một đầu, vợ níu giữ một đầu căng bạt che cho 3 con hoảng hốt co cụm lại một chỗ vì sợ sệt”, anh Phạm Văn Thương ở thôn 3, xã Trà Đốc kể.

Dư chấn động đất trong vòng năm ngày qua đã làm nứt tường ở nhiều cơ quan nhà nước, trường học ở huyện Bắc Trà My. Riêng xã Trà Đốc có ít nhất 5 nhà bị nứt tường, hư hỏng nặng. Chủ tịch xã Hồ Văn Lợi lo ngại: “Động đất liên hồi làm nhiều người không dám lên rẫy sản xuất. Con trẻ cứ nghe tiếng nổ, mặt đất rung chuyển là khóc thét lên vì sợ hãi. Lo nhất là tập tục của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây, hễ chỗ ở mà bị “động” là họ tính chuyện di dân đến nơi khác”.

Cô giáo Trần Hằng Minh, Phó Hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Du, huyện Bắc Trà My chỉ tay lên bức tường của phòng Ban giám hiệu nhà trường bị nứt kéo dài do dư chấn động đất những ngày qua. Ảnh: Trí Tín.
Cô giáo Trần Hằng Minh, Phó Hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Du, huyện Bắc Trà My chỉ tay lên bức tường của phòng Ban giám hiệu nhà trường bị nứt kéo dài do dư chấn động đất những ngày qua. Ảnh: Trí Tín.

Nỗi lo này còn phổ biến cả chính quyền địa phương huyện Bắc Trà My, Nam Trà My… Theo họ, động đất kéo dài không chỉ gây ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội mà còn gây “dư chấn” tinh thần nặng nề đến trẻ em, học sinh từ bậc học mầm non đến trung học cơ sở.

Cô giáo Trần Hằng Minh, Phó Hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Du (huyện Bắc Trà My) cho biết, trong vòng hai ngày qua mặt đất cứ rung chuyển, phát nổ vào giữa tiết học nên thầy trò lo sợ, ùa chạy ra sân. Do đặc thù vùng cao, mặt bằng chật hẹp nên trường có 10 phòng học trên tầng hai. Mỗi lần xảy ra động đất các em chui tọt dưới gầm bàn trốn hoặc chen nhau chạy xuống cầu thang ra ngoài sân vì lo lớp học sập”.

Cô giáo Minh cũng lo ngại, học trò trong lứa tuổi dậy thì, tinh thần còn non nớt nếu cứ sợ hãi như những ngày qua dễ tạo “dư chấn” tâm lý. 6 giáo viên của trường quê ở TP Tam Kỳ, Phú Ninh, Thăng Bình… đã bày tỏ ý định chuyển trường về xuôi vì lo động đất.

Đến sáng nay, cô giáo Trần thị Hồng Mạnh, giáo viên dạy Ngữ Văn trường THCS Lê Hồng Phong (xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My) còn cảm thấy ê ẩm vì trận động đất giữa tiết học sáng 7/9 khiến cô ngã chúi vào tấm bảng đen. “Đang say sưa giảng bài thì bỗng dưng bốn bức tường rung chuyển mạnh, tôi ngã chúi vào bảng trong khi học trò chạy tán loạn ra sân, số còn lại chui dưới gầm bàn lẩn trốn”, cô Mạnh kể.

Còn thầy Nguyễn Thanh Tú, Hiệu trưởng trường THPT huyện Bắc Trà My bộc bạch, điều các thầy cô giáo lo ngại nhất là cách thức ứng phó với động đất chưa được triển khai trong các trường học. Nên mỗi khi mặt đất rung chuyển, trường, lớp lắc lư thì thầy trò lúng túng, ùa chạy ra sân. “Động đất mà xảy ra với cường độ lớn hơn 4,2 độ ritcher như vừa qua dễ gây nguy hiểm cho giáo viên, học sinh”, thầy Tú nói.

Mỗi khi xảy ra động đất, các giáo viên trường THCS Lê Hồng Phong ở xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My hướng dẫn học sinh chui dưới gầm bàn trốn đề phòng nguy hiểm cho tính mạng. Ảnh: Trí Tín.
Mỗi khi xảy ra động đất, các giáo viên trường THCS Lê Hồng Phong ở xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My hướng dẫn học sinh chui dưới gầm bàn, đề phòng nguy hiểm cho tính mạng. Ảnh: Trí Tín

Trước tình hình động đất xảy ra với mật độ dày đặc trong 5 ngày qua, nhiều hộ dân, cán bộ ở huyện Bắc Trà My cũng băn khoăn tính chuyện gửi con về quê ở với ông bà. Trao đổi với VnExpress.net, ông Đặng Phong, Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My cho biết, mấy ngày qua đã xảy ra 13 trận động đất khiến người dân địa phương lo lắng lên đỉnh điểm.

“Sau khi nghe ý kiến của các nhà khoa học của Viện địa chất, Viện vật lý địa cầu trong buổi làm việc hôm nay, chúng tôi sẽ tính toán, xem xét đến phương án ứng phó với động đất cho người dân. Có thể phải tổ chức diễn tập sơ tán, di dân trong tình huống khẩn cấp trước mùa mưa lũ năm nay”, ông Phong nói

Trí Tín

Quyền lực chính trị và văn hoá chính trị với sự phát triển đất nước ta hiện nay – VHNA

8 Th9

Quyền lực chính trị và văn hoá chính trị với sự phát triển đất nước ta hiện nay

Hồ Bá Thâm – Phan Thắng

VHNA: Toàn Đảng ta đang thực hiện NQĐH XI và nhất là TW 4, khóa XI và các NQ khác của Đảng. Nhiệm vụ đổi mới hệ thống chính trị, cải cách thể chế đồng bộ với đổi mới, tái cấu trúc nền kinh tế là nhiệm vụ hết sức quan trọng và khó khăn. Trong đó việc xây dựng văn hóa chính trị khi sử dụng quyền lực chính trị có ý nghĩa nền tảng để tạo động lực thực hiện  đổi mới và phát triển tạo lập nền văn minh chính trị dân chủ pháp quyền. Nhân dịp này, VHNA đã có cuộc trao đổi với  tiến sĩ HỒ BÁ THÂM, nguyên Vụ trưởng, giám đốc chi nhánh NXB Chính trị quốc gia tại Tp Cần Thơ, Trưởng Ban Triết học và Khoa học chính trị, Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM về một số nội dung có liên quan nói trên. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Quyền lực chính trị, thể chế chính trị và văn hóa chính trị

PV: Chính trị là quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội, hiểu một cách đơn giản như vậy có được không, thưa anh?Mà sử dụng quyền lực này thì thường dẫn tới những kết quả, hệ quả gì?

TS. HBT: Chính trị có thể hiểu nôm na như vậy. Nhưng trong thực tế hiện nay, việc sử dụng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đang đặt ra nhiều vấn đề nóng, cấp bách phải nghiên cứu, giải đáp, và cần hiểu căn cơ, thấu đáo hơn về chính trị, văn hóa chính trị. Cho nên ta cần nhìn nhận toàn diện hơn, chính xác hơn, vì chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, cộng đồng, dân tộc, quốc gia cũng như giữa công dân và nhà nước. Việc tạo dựng và sử dụng quyền lực nhà nước là trung tâm của chính trị, đời sống chính trị. Mà sử dụng quyền lực chính trị ấy bao giờ cũng gắn với năng lực, trách nhiệm, quyền và lợi ích. Nhưng quyền lực nhà nước chỉ là quyền lực đại diện cho một giai cấp nào đó hay đa số nhân dân. Đó là bản chất, là gốc và nền tảng của chính trị…

Nếu quyền lực nhà nước mà đi ngược lại quyền lực, quyền lợi giai cấp, quốc gia, và nhân dân thì chính là sự suy thoái một phần hay cơ bản quyền lực nhà nước và cũng là phản văn hóa (văn hóa theo nghĩa chân -thiện -ích- mỹ). Mà điều này (quan liêu, lạm dụng, ích lỷ, vụ lợi) khi hành động sử dụng quyền lực người cầm quyền hay “quên”, một “sự quên” cực kỳ tai họa!!  Ngược lại, nếu sử dụng quyền lực chính trị đúng qui luật và hợp lòng dân thì sẽ tạo động lực cho sự phát triển, tiến bộ, nhân văn.

 PV: Vậy, mối tương quan giữa văn hoá và chính trị như thế nào? Chính trị có phải là một thành tố văn hoá? Nó đứng trên, đứng dưới hay song song tồn tại với văn hoá? Hay các kết quả nó tạo ra mà phù hợp với quy luật và đáp ứng nhu cầu của con người, và xã hội, tức là các giá trị tiến bộ, mới là văn hoá? Vai trò văn hóa chính trị có tác dụng gì trong việc sử dụng quyền lực lãnh đạo, quản lý?

 TS.HBT:  Văn hóa rộng hơn chính trị nhiều lắm. Theo nghĩa rộng nhất (văn hóa là cái nhân tạo) thì chính trị cũng như là kinh tế và là một lĩnh vực của văn hóa. Nhưng theo nghĩa hẹp, thì chính trị và văn hóa không phải là một, khi chính trị (quyền lực chính trị) như một hiện tượng khách quan/khách thể, song khi ta (chủ thể) sử dụng nó, thì ý thức, hiểu biết, thái độ, cách thức, mục đích, lợi ích sử dụng nó thì đó là văn hóa chính trị. Mà cái chủ quan này ở con người, cụ thể là người cầm quyền hay công dân/ nhân dân sử dụng quyền lực chính trị có thể đúng hay không đúng, lợi hay bất lợi thì có thể làm cho quyền lực trở nên chính đáng, có văn hóa, có đạo đức hay tha hóa quyền lực, phản văn hóa, phi đạo đức. Theo nghĩa trên  thì chính trị chính đáng, có văn hóa, có đạo đức là các kết quả mà nó tạo ra phù hợp với quy luật và đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội. Như thế thì chính  trị và văn hóa, đạo đức ở đây là một. Nhưng cần nhớ rằng sự tương tác giữa chính trị và văn hoá chính trị, văn hóa đạo đức thường được thể hiện rất mâu thuẫn, rất  là phức tạp.

Như đã nói, khi mà chính trị/ quyền lực chính trị đứng trên văn hóa, đứng ngoài văn hóa, hay trái với văn hóa thì nó suy thoái. Xét về mục đích thì văn hóa, đạo đức cao hơn chính trị và cùng tồn tại với chính trị, và chính trị như vậy là song hành song cùng với văn hoá. Nhưng văn hóa nào, nó như thế nào, tiến bộ hay lạc hậu? Trong nhà nước pháp quyền thì hiến pháp, luật pháp (hay là cơ sở của văn hóa pháp quyền, đạo đức pháp quyền) cao hơn quyền lực nhà nước, quyền lực đảng phái. Nếu ngược lại, thì thành nhà nước đảng quyền, nhà nước toàn trị, trở thành nhà nước phi văn hóa, phi đạo đức, phi pháp quyền dân chủ (dù có thể mức độ rất khác nhau). Lực cản, lực phá và tại họa ấy đối với lợi ích dân tộc – quốc gia và sự phát triển bền vững sẽ bị de dọa nghiêm trọng.

Cần chú ý rằng, trong văn hóa chính trị thì quan trọng nhất là văn hóa quyền lực. Nhưng văn hóa chính trị có thể tiến bộ, hợp thời và cũng có lạc hậu, sai lệch. Nên văn hóa chính trị tác động đến chính trị, cũng dẫn đến những kết quả, hệ quả, thấp cao, xấu tốt khác nhau về chính trị và qua chính trị đến các mặt khác của đòi sống xã hội… Sức mạnh chính trị là tập trung sức mạnh của kinh tế. Nhưng quyền lực chính tri, quyền lực kinh tế là quyền lực cứng, còn quyền lực văn hóa là quyền lực mềm. Nếu quyền lực chính trị kết tinh được cả quyền lực văn hóa thì nó có sức mạnh cấp số nhân, sáng suốt, minh bạch, trong sạch và mang tính nhân văn cao.

PV: Nhà nước là sự hiện diện, là phương tiện, là công cụ hay là mục tiêu của của một nền chính trị? Biểu hiện cao nhất của chính trị là gì? Quan hệ giữa chính trị và thể chế chính trị?Người đại diện của chính trị trong các cộng đồng xã hội, dân tộc – quốc gia là ai?

TS.HBT: Nhà nước là công cụ, phương tiện quan trọng bậc nhất của nền chính trị và của xã hội nói chung. Nó cũng là một lĩnh vực, nơi thể hiện tập trung bản chất của chế độ chính trị (có dân chủ hay không dân chủ, có đạo đức hay không đạo đức).

Biểu hiện cao nhất của chính trị là dân chủ, chẳng hạn ở nước ta, thể hiện ra ở chỗ nó tồn tại vì/ phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích của nhân dân như là sứ mệnh và mục đích của nó. Nói cách khác quyền và lợi ích của  tổ quốc và của nhân dân phải được phát huy cao nhất. Nhà nước nói chung, có thể là một nhà nước có đạo đức ít hay nhiều, hoặc là phi đạo đức. Nhà nước pháp quyền thì pháp quyền là cao nhất, chi phối nhưng pháp quyền cũng không tách rời lĩnh vực đạo đức, vì nó bao giờ cũng gắn với hành vi của con người, nhất là những người hoạt động trong hệ thống đó, đại diện của nó.

Ta thấy người đại diện cho chính trị trong các cộng đồng xã hội, dân tộc – quốc gia chính là đảng cầm quyền nhưng nhà nước trong xã hội ta thì toàn bộ quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân, nhân dân chủ thể của quyền lực ấy. Trong nhà nước dân chủ pháp quyền thì nhân dân bầu ra những người tiêu biểu đại diện cho mình, tức nhân dân ủy quyền cho họ-họ là các nhà chính trị, từ đó họ tổ chức ra bộ máy nhà nước. Vấn đề là làm sao họ đại diện được  quyền, lợi ích, lương tri và tinh hoa dân tộc.

Quyền lực chính trị và thể chế của nó tạo nên nền chính trị hay hệ thống chính trị. Quyền lực chính trị được thể hiện ra ở hình thức, hình thái của nó là thể chế chính tri và tác động đến xã hội, con người thông qua thể chế của nó. Cho nên, thường người ta đánh giá quyền lực chính trị thông quan thể chế. Giữa thể chế, cơ chế chính trị và quyền lực chính trị có thể thống nhất và có thể mâu thuẫn, lệch pha, qui định nhân quả lẫn nhau (kiểu quan hệ nội dung- hình thức) trong một môi trường văn hóa và tương quan lực lượng nhất định. Nếu thể chế chính trị có mặt không thích hợp, lạc hậu hay lệch pha thì phải đổi mới, cải cách thể chế vì chính thể chế, cơ chế tác động đến quyền lực chính trị và trực tiếp qui định hành vi con người, dù con người đề ra nó vận hành nó. Từ đó nhìn vào hành xử của  con người vận hành quyền lực chính trị, thể chế chính trị mà đánh giá thể chế chính trị, vì chúng có quan hệ nhân quả với nhau. Cho nên khi tìm nguyên nhân tham nhũng, suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên hiện nay thì cần thì tìm nguyên nhân cả trong thể chế và trong sự tu dưỡng của họ như thế nào.

Việc tạo lập thể chế quyền lực chính trị, vận hành, thực hiện nó ở nước ta hiện nay vẫn thấy bộc lộ những non kém, lệch lạc như lạm quyền, độc quyền và cả thiểu quyền. Có nguyên nhân cả người thực hiện và nguyên nhân thể chế, cả mặt lịch sử và mặt hiện thời.

Thời kỳ mới và những đòi hỏi về thể chế chính trị và văn hóa chính trị

PV. Mọi người đều biết, dân tộc ta đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng để bảo vệ chủ quyền và độc lập và khôi phục suy thoái kinh tế, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Có gì cần cảnh báo? Nền văn hoá chính trị của chúng ta cần phải làm gì, bổ sung những phẩm chất gì để hướng tới mục tiêu giữ nước, phát triển đất nước trong bối cảnh mới?

 TS.HBT: Mỗi dân tộc có một nền văn hoá, một truyền thống văn hoá; Mỗi quốc gia có mỗi truyền thống chính trị mang dấu ấn văn hoá của dân tộc – quốc gia đó rát cần phát huy những mặt tốt, hợp thời. Nhưng sự hình thành nền chính trị và văn hóa chính trị ngày nay phải đặt nó trong sự tác động của xu thế toần cầu hóa và hội nhập, tiếp thu, tiếp biến nên văn minh chính trị nhân loại.

Nhìn từ lịch sử và thực tiễn Việt Nam, chúng ta nhận thấy đặc điểm chính là dựng nước và giữ nước, nhưng chỉ thành công khi dựa trên nền tảng văn hóa yêu nước, thương dân, dựa vào dân, đoàn kết một lòng vì sự nghiệp chung. Ở đó có điểm gặp nhau, đồng thuận giữa văn hoá và chính trị, nhà cầm quyền và nhân dân. Nhưng khi ta thấy có lúc nào đó, do sai lầm, lạc hậu, nên có độ chênh và thậm chí đối nghịch giữa chính trị và văn hoá, giữa nhà cầm quyền và nhân dân, nếu không kịp thời điều chỉnh, hậu quả là suy thoái chính trị và thường là “mở đường” cho ngoại xâm và mất nước… Những năm cuối của nhà Lê là vậy. Đó là những bài học về văn hóa chính trị, văn hóa quyền lực. Suy thoái văn hóa chính trị, cái nền tảng tinh thần, sinh khí của chính trị thì chính trị và đất nước khủng hoảng, suy thoái.

Sự trường tồn và phát triển của dân tộc VN là kết quả cao nhất của sự tương tác, tương hợp, tương sinh giữa văn hoá và chính trị, giữa nhân dân và giới cầm quyền. Đó là là điều tiên quyết và hệ trọng.

Thực tế văn hóa sử dụng quyền lực, hay văn hóa quyền lực có nhiều điều cần cảnh báo.

Chẳng hạn, ở không ít địa phương, khi xảy ra khiếu kiện đất đai, khiếu kiện về ô nhiềm môi trường diễn ra nhiều hơn thì có hiện tượng quan liêu, lạm quyền, hách dịch, cưỡng bức dân vô lối, đổi lỗi xấu cho dân, hoặc cho “lực lượng thù địch” (như vụ Tiễn Lãng, văn Giang…).  Chúng ta tế nhị ngoại giao với nước ngoài nhưng không hay ít tế nhị với nhân dân, nội giao bị xem nhẹ. Hoặc việc xây dựng và thực hiện các dự án ở cả cấp trung ương và địa phương, bộ ngành không những kém về mặt tính khoa học, tính dân chủ, tính hiệu quả, và cả mất cảnh giác, hoặc thờ ơ với cả những kẻ trục lợi từ bên trong và cả từ bên ngoài. Hoặc tệ tham nhũng, lãng phí còn xảy ra nghiêm trọng và xử lý chưa nghiêm…. Những hiện tương nói trên nếu tiếp tục kéo dài, kết quả là càng mất lòng dân, rất đáng báo động. Nếu không sớm khắc phục cơ bản thì nguy cơ từ bên trong này (xuất phát từ suy thoái quyền lực, tư tưởng chính trị, đạo đức ở một phận không nhỏ cán bộ đảng viên có chức quyền) đáng sợ hơn nhiều so với nguy cơ từ bên ngoài.

PV:Những đòi hỏi cần thiết nhất về phẩm chất văn hoá của một nền chính trị hiện đại là gì? Và yêu cầu về phẩm chất của các đại diện của nền chính trị? Điều kiện tiên quyết để xây dựng và phẩm chất đó là gì? Tại sao?

 Khi chúng ta thực hành một xã hội và nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân thì cần nhà nước này, nói rộng ra nền chính trị này, văn hóa chính trị này và cả cán bộ, viên chức, nhân viên của hệ thống này phải như thế nào? Tôi có một bài tham luận tại hội thảo thực hiện nghị quyết TW 4, (do Ban Tổ chức TW, Tạp chí Cộng sản, Thành ủy TPHCM, đồng tổ chức), bản tham luận đó có tiêu dề “Thể chế nào phòng, chống được tham nhũng”? Có lẽ đó cũng là các yêu cầu, phẩm chất đặc trưng của một nền chính trị hiện đại có văn hóa cao. Có 9 nội dung: 1)- Là thể chế mà ở đó toàn bộ quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, quyền lực công cộng của đa số đúng thực chất. Các cơ quan đại diện và quản lý hành chánh, tư pháp của nhà nước và các tổ chức xã hội thực sự đại biểu trung thành cho quyền và lợi ích của nhân dân. 2)- Là thể chế mà các chủ thể quyền lực rõ ràng, các chủ thể có tính độc lập, tính trách nhiệm cao, gắn trách nhiệm với lợi ích rõ ràng. Nghĩa là các chủ thể kinh tế phài có tư cách pháp nhân xét từ góc độ sỡ hữu và quyền hoạt động kinh doanh. Các chủ thể chính trị-hành chính có tư cách pháp nhân, tự chịu trách nhiệm và dễ dàng qui trách nhiệm.3)- Là thể chế mà quyền lực có sự cân bằng, bình đẳng tương đối, trong đó không có quyền lực nào là cao nhất và tuyệt đối. Đó là quyền lực bị giới hạn và bị kiểm soát, bị giám sát… Quyền lực bị giới hạn, có giám sát, kiểm soát (bên trong và bên ngoài) thực sự thì không hay ít có tham nhũng tràn lan, nghiêm trọng. 4)- Là thể chế mà quyền lực dân chủ thật sự của nhân dân được đảm bảo và  phát huy cao độ. Cơ chế phản biện, giám sát xã hội, giải trình được thực thi.  5)- Là thể chế minh bạch, công khai, không che giấu thông tin, cơ hội phát triển. Do đó, cán bộ công chức  không giám  dấm dúi,  tự tung tự tác và người dân cũng khó mà tranh thủ hối lộ để có lợi ích riêng cho mình. 6)- Là thể chế mà các thủ tục hành chính đơn giản, nhất quán, liên thông, nhất là ở các lĩnh vực nhạy cảm  liên quan với tài sản lớn qua đó công chức có động lực phục vụ nhân dân, cơ quan công quyền như là cửa hàng dịch vụ và nhân dân là khách hàng, là “thượng đế”.7)- Là thể chế cơ chế cạnh tranh lành mạnh, không có cơ chế bao cấp, xin cho… các doanh nghiệp dù công hay tư trong lĩnh vực kinh doanh cũng cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Các cơ quan và cán bộ công quyền cũng cạnh tranh và thi đua bằng tài năng, uy tín và hiệu qủa công việc thực tế chứ chủ yếu không phải là băng cấp, danh vị hình thức, hay bằng các mối quan hệ. 8)- Là thể chế năng động, có khả năng tạo nên động lực huy động được đa số nhân dân chống tham nhũng và có cơ chế, chế tài bảo vệ, tôn vinh  được người chống tham nhũng, những người “có cơ hội…” mà không tham nhũng. 9)- Là thể chế mà ở đó nguyên tắc tối cao nhất không phải là chỉ thị, pháp lệnh… mà là hiến pháp. Thể chế này chủ yếu là nhà nước vì nhân dân, phục vụ nhân dân, nhà nước trong lòng dân mang tính tôn dân và là công bộ phục vụ nhân dân…

Nhìn chung ở tầm vĩ mô là như vậy, còn về vi mô cần cụ thể hóa hơn nữa, và nhất là chú trọng hơn về mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch, xây dựng cơ chế để quyền lực phải được phân lập, đảm bảo tính độc lập, không được vừa đá bóng vừa thổi còi, nó phải được giám sát, kiểm soat..; hoặc mọi thông tin phải công khai (trừ bí mật quốc gia), thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân và chế độ giải trình…

Phải chủ động vừa đổi mới thể chế chính trị vừa xây dựng văn hóa chính trị mới, thì mới thực sự có văn hóa trong sử dụng quyền lực. phải chủ động xây dựng văn minh chính trị hiện đại, một nền chính trị dân chủ pháp quyền, và cũng từ đó mới có CNXH. Điều kiện tiên quyết để có nền chính trị ấy phải xây dựng một đảng cầm quyền có văn hóa, văn minh. Có lẽ cuộc vận động chỉnh đốn, xây dựng Đảng hiện nay là khởi động theo xu hướng đó.

PV: Đảng ta, trong NQTW 4, khóa XI vừa rồi có nêu:  Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống….. Vậy có phải đó là sự xuống cấp về văn hóa của Đảng ta và của nền chính trị VN đương đại?Phải ngăn chặn và  đổi mới thế nào? Các giải pháp mà NQ TW 4 đề ra có phải là cứu cánh cho văn hóa chính trị VN hiện thời? Và có chắc chắn đảm bảo các phẩm chất văn hóa đã có, đang còn của Đảng, của bộ máy nhà nước, của các cán bộ đảng viên sẽ đảm bảo cho việc thực hiện thành công các nhóm giải pháp đó?

TS. HBT: Đúng, thực trạng đó là sự xuống cấp của văn hóa, trước hết là văn hóa chính trị. Sự suy thoái đó có nguồn gốc cũ từ văn hóa truyền thống tiểu nông, phong kiến lỗi thời, có từ tác động mặt trái kinh tế thị trường, từ lệch lạc của thể chế chính trị (gồm cả thể chế công tác cán bộ) và sự kém tu dưỡng của một bộ phận không nhỏ ấy. Tất nhiên, qua thời kỳ đổi mới thì văn hóa chính trị cũng có nhiều mặt đổi mới, bổ sung, phát triển, tiến bộ hơn trước, nhưng chưa căn bản vì thể chế chính trị của thời tập trung bao cấp còn chậm thay đổi, còn bấp cập, nhiều mặt lỗi thời, hoặc chưa tiên tiến, chưa ngang tầm. Trong khi đó, hiện nay bên cạnh sự phân hóa kinh tế lại bắt đầu có sự phân hóa về chính trị – xã hội, nên cần sáng suốt xử lý cho đúng, kịp thời, tránh bị động…

Đảng ta đang chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, thể chế chính trị theo hướng dân chủ pháp quyền cho phù hợp đổi mới kinh tế, xây dựng nền dân chủ văn minh XHCN và đổi mới văn hóa, xây dựng nên văn hóa tiên tiến đậm đà, giàu bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững. Hiến pháp 1992 đang được sữa đổi là một sự kiện cơ bản, rất quan trọng. Về mặt chỉnh đốn xây dựng Đảng, NQ TW 4 đã đưa ra hệ các giải pháp cả về mặt giáo dục và mặt thể chế (trực tiếp là thể chế công tác cán bộ). Nhưng đây là những đột phá mang tính mở đầu cho công cuộc đổi mới thể chế chính trị, xây dựng văn hóa chính trị nói trên. Thực ra cần cơ cấu lại hệ thống quyền lực chính trị, đổi mới toàn diện và căn cơ hơn về thể chế chính trị, hệ thống chính tri và văn hóa chính trị. Có lẽ yêu cầu phức tạp, nhạy cảm này còn đang nghiên cứu, đề xuất và ý kiến có thể khác nhau. Thận trọng, thực hiện từng bước nhưng phải cương quyết, không có lựa chọn nào khác. Từ đó mới có một nền dân chủ pháp quyền thật sự của dân do dân và vì dân. Đó mới là cứu cánh cho văn hóa chính trị, nền chính trị VN hiện thời. Còn thực hiện NQTW4 chỉ là một khâu then chốt, tiên quyết, mở đầu (giới hạn trong một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng).

Khi việc thực hiện NQTW 4, thì với những phẩm chất đã có của văn hóa chính trị, phẩm chất, năng lực chính trị của toàn đảng với đa số cán bộ đảng viên hiện nay, nếu biết dựa chắc vào nhân dân, gắn phê bình và tự phê bình thực chất với cải cách thể chế, phát huy các năng lực nội sinh, sẽ là điền kiện đảm bảo cho việc thực hiện thành công các nhóm giải pháp mà NQTW 4 nêu ra. “Thượng bất chính hạ tác loạn”. Vấn đề tiên quyết là phải sáng suốt, trong sạch, nghiêm minh, gương mẫu bắt đầu từ cấp trên, cấp cao nhất. Nhìn vào cách làm mới qua kiểm điểm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư gần đây ta có thể tin như vậy. Tuy nhiên, công việc này còn lâu dài như một quá trình chiến thắng bản thân, đầy cam go, phức tạp, không thể lạc quan tếu.

Trước sức ép bên trong và bên ngoài, hệ thống chính trị, thể chế chính trị phải thực hiện một “lột xác” thế nào, tử chỉnh đốn, cải cách ra sao để tăng thêm chất lượng mới, tư duy, năng lực và phẩm chất mới, tạo nên hợp trội, sao cho thu phục nhân tâm, bồi dưỡng sức dân, “thêm bạn bớt thù”, hòa hợp dân tộc, đồng thuận xã hội cao hơn cao hơn, thu hút trí tuệ toàn dân và bạn bè quốc tế,  để đủ sức lãnh đạo nhân dân, cùng với họ vượt qua thách thức hiểm nghèo, tranh thủ cơ hội, thoát hiểm đúng lúc và phát triển lên trình độ mới, vững chắc hơn.

PV: Xin trân trọng cảm ơn tiến sĩ đã có những trao đổi thú vị đáng suy ngẫm…

 

Dậy mà đi! với Nhạc sĩ Tạ Trí Hải hằng đêm tại Bờ Hồ Hoàn Kiếm – TTXVA

8 Th9

Dậy mà đi! với Nhạc sĩ Tạ Trí Hải hằng đêm tại Bờ Hồ Hoàn Kiếm

Trương Sỏi

 Sự việc xảy ra vào mùa hè biểu tình năm 2011, khi cụ đi biểu tình bị CA đến phá phòng trọ tịch thu  vật dụng và 1 số tiền cất trong nhà.   Sau đó việc cướp phá phòng cụ hay xảy ra vào những dịp trước hoặc sau biểu tình, nhằm ngăn cản những tiếng nhạc của cụ dìu dắt đoàn tuần hành yêu nước chống Trung quốc xâm lược.

Về việc ủng hộ cụ Tạ Trí Hải được nhiều blogger kêu gọi trên facebook:

Thưa các bác, anh chị và các bạn. Có lẽ nhiều người đều biết đến cụ Tạ Trí Hải. Người được các báo đặt cho biệt danh là nghệ sỹ đường phố, cũng là người rất nhiều lần chơi đàn trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền trên biển Đông của VN. Nhưng có lẽ ít người biết đến hoàn cảnh khó khăn của cụ. Cụ Trí Hải không có gia đình người thân, phải đi ở nhờ nhà những người hảo tâm giúp đỡ, tiền ăn uống, thuốc thang cũng nhờ mỗi người đóng góp 1 ít cho cụ. Cụ Trí Hải hay chơi đàn cùng các bạn trẻ thanh niên, sinh viên trên hồ Gươm các tối ( chỗ đối diện ngân hàng ANZ), được các bạn trẻ hết sức yêu mến. Tối nay, cháu/em có lên hồ Gươm chơi và gặp nói chuyện với cụ. Cụ kể là cách đây 4 hôm cụ bị kẻ gian lấy mất chiếc xe đạp mà cụ hay dùng để đi lại và chở các dụng cụ loa, đàn…Thương cụ quá vì cụ giờ tuổi cao, sức yếu mà phải đi bộ khuôn vác theo 1 đống đồ thì rất vất vả. Vì vậy, em post bài này để kêu gọi mọi người, mỗi người 1 ít đóng góp để mua giúp cụ 1 chiếc xe đạp. Nếu mua xe thừa tiền thì sẽ gửi lại cụ để cụ có thêm tiền sinh hoạt hàng ngày. Hiện tại, em chỉ đứng ra nhận số tiền đóng góp đến 3 triệu đồng thì em sẽ dừng. Còn ai muốn ủng hộ cụ thì các tối đến bờ hồ có thể trực tiếp biếu cụ. Các chú, anh chị, các bạn ủng hộ bao nhiêu thì xác nhận luôn trong post này giúp em. Em sẽ nhắn tin cụ thể từng người cách thức nhận tiền ủng hộ ạ. Em xin hết!

Gần đây, để an toàn, anh em Hà Nội đã giúp cụ mở tài khoản ngân hàng do cụ đích thân quản lý. anh em có lòng xin giúp chuyển khoản thẳng vào ngân hàng này để tránh việc cụ bị cướp phá. thx

– Chuyển tiền trong lãnh thổ Việt Nam:
TÊN TÀI KHOẢN: TA TRI HAI
SỐ TK: 0021 0002 65975
TẠI: NGÂN HÀNG VIETCOMBANK HÀ NỘI

– Chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam: ( chỉ chuyển được bằng USD):
TÊN TÀI KHOẢN: TA TRI HAI
SỐ TK: 0021 3702 65976
TẠI: JOINT STOCK COMMERCIAL BANK FOR FOREIGN TRADE OF VIET NAM
HA NOI BRANCH
SWIFT CODE: BFTVVNVX002
——————–
* Cụ Tạ Trí Hải là chủ tài khoản duy nhất của 2 tài khoản trên!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem tin nguồn: http://www.ttxva.org/day-ma-di-voi-nhac-si-ta-tri-hai-hang-dem-tai-bo-ho-hoan-kiem/#ixzz25pxD8iPR
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook

Nhà hùng biện đại tài – RFA

8 Th9

Nhà hùng biện đại tài

Việt-Long, RFA

Diễn giả được giới quan sát ca ngợi nhiều nhất trong đại hội đảng Dân chủ vào tối thứ ba là cựu Tổng thống Bill Clinton, người đã nói chuyện ứng khẩu trong 48 phút để bảo vệ ứng cử viên Tổng thống Barrack Obama và giới thiệu ông như người xứng đáng nhất cho nhiệm kỳ thứ hai của ông trong chiếc ghế Tổng thống Hoa Kỳ.

Khung cảnh đại hội với diễn giả Bill Clinton

Khi các phu nhân xin phiếu

Trước hết, điều thú vị là mỗi lần bầu cử Tổng thống ở Mỹ thì các bà phu nhân lại là người đứng ra xin phiếu cho chồng, trổ hết tài hùng biện với những kiến thức xã hội, chính trị sâu sắc, trong sự khiêm tốn và duyên dáng hết mực, để năn nỉ cử tri hãy ủng hộ phu quân của họ.

Tuần trước phu nhân Ann Romney của ứng cử viên Tổng thống của đảng Cộng hoà đã kể câu chuyện tình của bà với phu quân, một người đạo đức và tài ba, sẵn sàng để lãnh đạo nước Mỹ đi tới thành công.  Thì tuần này, tối hôm qua, trong đại hội đảng Dân chủ tại North Carolina, đệ nhất phu nhân của nước Mỹ Michelle Obama cũng nói đến đấng phu quân của mình qua một câu chuyện gia đình gây nhiều xúc động cho hằng triệu khán giả truyền hình trên khắp thế giới. 

michelle
Đệ nhất phu nhân Michelle Obama- Screen capture

 

Điều giống nhau là hai bà không hề nói đến hay chỉ trích một điều gì tới đối thủ của chồng, mà chỉ kể chuyện của mình để cùng nhau xin phiếu cho hai vị phu quân đang đối đầu trên đường sự nghiệp.

Điều khác nhau là bà Ann Romney nói về phu quân với những kỷ niệm không phai từ ngày lễ cưới đến lúc thành đạt, mô tả ông như một thanh niên xuất thân từ giới bình dân, một con người chăm chỉ, mực thước, đạo đức, liên tiếp thành công, và là người cần thiết để lãnh đạo nước Mỹ. Bà Michelle Obama cũng kể lại một vài kỷ niệm lứa đôi từ thuở hàn vi, nhưng bà nhấn mạnh ở sự nghiệp học vấn vất vả, gốc gác gia đình không mấy sung túc của họ, để ca ngợi đường lối chính sách thiên về xã hội, tận lực yểm trợ tầng lớp trung lưu của Tổng thống Obama.

 

ann-250
Phu nhân cựu thống đốc Mitt Romney, bà Ann Romney.- Screen capture

Cả hai bài nói chuyện đều được ca ngợi là rất thành công. Tất nhiên trong những đại hội đảng của mỗi bên thì bên nào cũng tràn ngập những tiếng hoan hô.  Nhìn qua hình ảnh trên truyền hình thì không có diễn giả nào thất bại trong dip đại hội của người cùng phe như vậy. 

Tính công bằng, vô tư trong chính trị?

Sự đánh giá là công việc của dư luận, của báo chí, truyền hình thì thực ra cơ quan truyền thông báo chí nào trước nay đã thiên về đảng nào thì vẫn tiếp tục ngợi khen đảng đó. Cả truyền thông trên không gian mạng, ngoài luồng chính, cũng không tránh khỏi nạn bên ta thiên vị bên mình. Nhiều cuộc tranh cãi rất gay gắt nổ ra, để không đi đến đâu hết.  Khó lòng tìm được một ý kiến phê phán khách quan, trong việc nhận định lập trường quan điểm của các đảng phái ở Mỹ, nhất là trong thời gian tổng tuyển cử.

Một ý kiến nào đó được nói lên dù tự hiểu là khách quan đến mấy thì cũng bị nghĩ là phải thiên về một trong hai phía.

Những ý kiến không thiên về bên nào thì thường bị coi là … ba phải.  Chẳng hạn, ý kiến nói rằng theo dõi quan điểm lập trường của hai đảng thì thấy…. cả hai đều đúng!

Nhưng sự thật có thể là như vậy. Bởi vì khi nghe những nhà chiến lược, nhà tư tưởng của hai đảng phân tích, biện luận thì khó có thể thấy được bên nào là sai, mà chỉ thấy có khác biệt mà thôi, và sự khác biệt đó rất có thể đều đúng, không sai.

Vì sao? Vì mọi chính sách, chiến lược, kế hoạch quốc gia, quốc tế đều có ưu điểm và khuyết điểm, mà chỉ đến giai đoạn thi hành, gặp những biến đổi thiên hình vạn trạng của thực tế, rồi sau đó nhờ vào tài lãnh đạo, điều hành, ứng xử của các nhà lãnh đạo thì mới rõ thành công hay thất bại.

Nhà hùng biện đại tài

Nói đến những nhà chính trị, nhà kiến tạo chính sách, nhà chiến lược như vậy thì phải nói đến bài diễn văn của cựu Tổng thống Bill Clinton.

Cho đến tối thứ tư ở North Carolina, ông Bill Clinton vẫn không hổ danh là một nhà hùng biện đại tài. Tất cả những đề tài mà ông nói đến trên mọi diễn đàn xưa nay đều được bày tỏ hết sức rõ ràng, hấp dẫn và đầy sức thuyết phục. Dù nội dung tư tưởng của diễn từ có ra sao đi nữa thì cách thức ông Clinton biện luận, giải thích, đặt vấn đề một cách đối lập để nêu ra những ý kiến hay giải pháp chủ quan… luôn luôn hấp dẫn và thuyết phục được người xem trực tiếp.

Nói vắn tắt, cựu Tổng thống Bill Clinton đã có dịp giải thích cặn kẽ những chính sách mà Tổng thống Obama đã áp dụng trong 4 năm nay kể từ ngày nhậm chức.

Nói về những dữ kiện yếu kém nhất và bị đả kích mạnh nhất là tỉ lệ thất nghiệp và sức phát triển kinh tế chưa hồi phục mạnh mẽ, ông Clinton cho rằng Tổng thống Obama đã thừa kế một nền kinh tế quá yếu kém, và chỉ sáu tháng trước khi ông nhậm chức thì đã sụp đổ nặng nề nhất kể từ cuộc đại suy thoái 1939.

Ông nói rằng Tổng thống Obama đã chặn được đà xuống dốc, đưa nền kinh tế leo ngược lên dốc trở lại, và tuy chưa đủ thời gian để các kế hoạch đem lại tác dụng nhưng cũng đã cứu được biết bao nhiêu ngành kinh tế, cùng với hằng triệu công ăn việc làm liên hệ.

Ông Clinton cho rằng 4 năm để hồi phục kinh tế Mỹ là quá ngắn ngủi, nhưng ông Obama đã kiến tạo được một xã hội tốt hơn là khi ông nhậm chức.

Nhà chính trị lão luyện Bill Clinton nói như vậy là để trả lời một câu hỏi phát xuất từ đảng Cộng hoà, từng được Tổng thống Ronald Reagan hỏi Tổng thống Jimmy Carter vào năm 1980, và đã đánh bại vị Tổng thống Dân chủ để bước vào toà Bạch ốc từ 1981đến mãi 1990.         

bill-250
Cựu Tổng thống Bill Clinton trên diễn đàn đại hội đảng Dân Chủ- Screen capture

 

Những vấn đề quan trọng nhất là giải quyết nạn thất nghiệp, chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, giải quyết nợ công, cắt giảm ngân sách, thì ông Bill Clinton nói về đạo luật Phục hồi của chính phủ Obama, là công cụ chặn đứng đà thất nghiệp, đem lại 4 triệu rưởi công việc cho khu vực tư nhân trong hai năm rưỡi vừa qua, cắt thuế cho 95% dân Mỹ, cứu được kỹ nghệ xe hơi thoát cơn hiểm nghèo, cứu hằng triệu công việc của hai hãng G.M. và Chrysler cùng cả một kỹ nghệ phụ tùng xe hơi.

Ông Clinton cũng giải thích về chính sách bảo hiểm y tế thường được gọi là Obamacare, cho là chính sách này đem lại bảo hiểm sức khoẻ cho hằng triệu người nghèo, người già, trẻ em, cắt chi phí khổng lồ đổ ra cho kỹ nghệ bảo hiểm và kỹ nghệ y tế để dồn cho các chương trình Medicare-Medicaid.

Vị cựu Tổng thống đưa ra những phép tính đơn giản để chứng minh kế hoạch giảm chi, giảm thâm hụt ngân sách, giảm nợ công của đảng Cộng hoà là thất bại, và chính sách của Tổng thống Obama đang trên đường thành công. Ỡ mỗi lãnh vực mà ông đề cập đến ông Clinton đều nêu lên chính sách của đảng Cộng hoà song song với chính sách của chính phủ Obama để chứng minh bên Cộng hoà sai và sẽ thất bại, bên Dân chủ đúng và sẽ thành công. Tuy nhiên người ta vốn đã hiểu là phải có thêm thời gian để phân tích sâu rộng, kỹ lưỡng hơn nữa mới có thể biết chắc đúng sai trong những vấn đề  trọng đại, phức tạp, lồng trong những ngôn từ hoa mỹ hùng hồn của một nhà đại hùng biện như cựu Tổng thống Bill Cllinton.

Thật vậy! Xem truyền hình và hãy bỏ ngoài tai những lời hoan hô vang rền của toàn đại hội, người ta vẫn nhận thấy cựu Tổng thống Bill Clinton quả là một nhà hùng biện đại tài.

Ông rời khỏi chính trường đã 12 năm nay, mà phong độ dường như vẫn tăng lên chứ không hề giảm sút.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định, đánh giá sai Thơ Mới, thơ chống Pháp… – BĐX

8 Th9

Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định, đánh giá sai Thơ Mới, thơ chống Pháp…

Đỗ Hoàng   
Nhà thơ Hữu Thỉnh vừa có bài viết về “Một nền thơ đang chuyển động” in trên Tạp chí Thơ số 5 năm 2012.
    
Bài viết công phu có tầm bao quát nền thơ đất nước từ thời Thơ Mới, chống Pháp, chống Mỹ cho đến nay.
 
Tác giả có nhiều nhiệm kỳ là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và đương kim Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam nên có cái nhìn rộng từ phong trào thơ cho đến từng tác giả. Nhà thơ Hữu Thỉnh đã chỉ ra những mặt mạnh mặt yếu trong từng phong trào thơ, từng khuynh hướng thơ, khẳng định tên tuổi của các tác giả có phần chính xác.
 
Tuy nhiên, nhà thơ Hữu Thỉnh có nhiều nhận định không đúng về Thơ Mới, thơ Chống Pháp, chống Mỹ và một vài khuynh hướng thơ hiện nay.
 

 

Nhà thơ viết: “Thơ Mới và thơ chống Pháp lấy phủ nhận là căn bản. Thơ Mới phủ nhận triệt để thơ cũ, tạo ra một sự đứt gãy hoàn toàn với thơ truyền thống, làm xuất hiện một nền thơ tinh khôi chưa từng có. Đến lượt nó, Thơ chống Pháp lại phủ nhận quyết liệt Thơ Mới, thậm chí nhổ tận rễ những “đạo rớt”, “mộng rớt”, “buồn rớt” của nền thơ tiền nhiệm để mở đường cho một nền thơ yêu nước và cách mạng..”
 
Đó là một nhận định vô cùng sai lầm vừa khiên cưỡng, vừa sai căn bản, gần như là một sự chụp mũ, nói lấy được mà có một thời đã từng làm.
 
Thơ Mới không bao giờ phủ nhận triệt để thơ cũ mà Thơ Mới kế thừa, phát huy triệt để thơ cũ để đạt được thắng lợi huy hoàng (Xem Thơ mới kế thừa phát huy truyền thống dân tộc và thế giới thắng lợi huy hoàng, tôn vinh thơ ca – vannghecuocsong.com)
 
Nhiều đại biểu cự phách của Thơ Mới như Thế Lữ, Xuân Diêu, Hàn Mặc Tử,  Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương … học tập triệt để thơ cũ.
 
Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liều công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu
(Phạm Ngũ Lão)
(Vung giáo đất trời đã mấy thâu
Ba quân sức mạnh nuốt nghìn trâu
Công danh trai tráng còn mang nợ
Nghe thẹn nhân gian chuyện Vũ Hầu!
              (Đỗ Hoàng dịch)
 
‘Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Ai đem xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”
                    (Chế Lan Viên)
    
Rõ ràng Chế và các tài danh Thơ Mới đều học gần như toàn diện, toàn phần thơ cũ cả về cảm hứng, câu tứ và ngôn ngữ, cách thể hiện.
 Các nhà thơ Thơ Mới trước hết là biết học tập và phát huy sáng tạo truyền thống thơ ca dân tộc. Các vị chủ soái, phó chủ soái, thành viên Thơ mới, đệ tử, fan hâm mộ Thơ mới đều đều biết làm nhuần nhuyễn và hay các thể thơ dân tộc như: lục bát, song thất lục bát, sáng tạo thơ tự do trên cơ sở phát huy thế mạnh của phú, đối, tế, hát vui chơi, nói lối, ca từ, ngâm, vè…
 
Về lục bát:
Trời thu xanh ngắt. Ơ kìa!
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai!
(Thế Lữ)
 
Ngủ đi em mộng bình thường,
Ru em có tiếng thùy dương mấy bờ
(Huy Cận)
 
Ai đi đây, ai về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồn nâu, cánh buồm!
(Nguyễn Bính)
 
Khảo sát tác phẩm của các nhà thơ Thơ mới (Trong cuốn Thơ mới năm 1932 – 1945) – Lại Nguyên Ân tập hợp và biên soạn năm 1998 số bài viết theo thể lục bát là 153/1384 chiếm 11,1%. Trong đó, Nguyễn Bính là 30/78(38,5%). Riêng Nguyễn Bính, trong tuyển tập thơ Nguyễn Bính -1986 trong 60 bài đưa vào tuyển tập có 26 bài làm theo thể thơ lục bát (43%) chứng tỏ hình thức luôn là khuôn hình thích hợp cho một nội dung nhất định. Đó là trung tâm định hướng cho thể loại. Với Thơ mới nó không nằm ngoài các dạng thức khác nhau của kiểu con người cá nhân hiện đại. Cái mới của lục bát Thơ mới và sự đóng góp của thể loại Thơ mới là ở chỗ ấy!
 
Thể thơ song thất lục bát các nhà thơ Thơ mới sử dụng rất nhuần nhuyễn , tài tình:
 
…Thấy gió là ôm ngang lấy gió
Tưởng chừng như trong đó có hương
Của người mình nhớ, mình thương
Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì!…
(Hàn Mặc Tử)
 
… “Hãy xích lại đưa tay ta nắm
Hãy buông ra đằm thắm nhìn nhau
Rồi trong những phút giây lâu
Mắt sầu gợn sóng, lòng đau rộn tình…”
(Lưu Trọng Lư)
 
Các thể khác như ca từ, hát ngâm:
“Say đi em
Say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa,
Quên quên hết.”.
(Vũ Hoàng Chương)
 
Và nâng cao vè:
“Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên dừng lại
Dòng nước luôn trôi đi”
(Hàn Mặc Tử)
  
Thứ nữa, các nhà thơ Thơ mới biết học tập, kế thừa và phát huy các hình thức biểu hiện của thơ truyền thống thế giới (chủ yếu là Trung Hoa và Pháp).
 
 “Gặm một nối im lìm trong củi sắt
Ta nằm đây cho ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẫn ngơ
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ chịu nhọc nhằn tù hảm
Để làm trò lạ mắt thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Hay cặp báo buông bên vô tư lự…”
      ( Nhớ rừng – Thế Lữ)
 
..”Tầm dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân hạ mã, khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Túy bất thành hoàn thảm tương biệt
Biệt thời mang mang, giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà hành!…”
(Tỳ bà hành – Bạch Cư Dị đời Đường)
“Bến Tầm Dương đêm về tiễn khách
Hơi gió thu làm lay lau lách
Chủ nhân xuống ngựa khách ở thuyền
Nâng rượu rồi mà không sáo chuyền
Cuộc vui chưa nên, buồn cách biệt
Vầng trăng chia xa ngâm nước biếc
Bỗng nghe trên sóng tiếng tỳ bà!…”
                    ( Đỗ Hoàng dịch)
   
Thể thơ và cách hiệp vần trắc trắc, bằng bằng ôm nhau nối tiếp liên tục thì Thế Lữ giống Bạch Cư Dị. Thế Lữ chỉ sáng tạo thêm là đưa số chữ trong câu lên 8 chữ (Bạch Cư Dị 7 chữ) để diễn tả rõ thêm tâm trạng đối tượng bày giải.
 
Học tập Đường thi,
 
Đảo y thiên (Trích)
 
Khuê lý giai nhân niên thập dư
Tần nga đối ảnh hận ly cư.
Hốt phùng giang thượng xuân ly yến
Hàm đắc vân trung xích tố thư
Ngọc thủ khai giam trường thán tức
Cuồng phu do thú Giao Hà bắc
……
Trích tận đình lan bất kiến quân
Hồng cân thức lệ sinh nhân uân
Minh niên cảnh nhước chinh biên tái
Nguyện tác Dương Đài nhất đoạn vân!
 
Lý Bạch
 
Bài ca đập áo (Trích)
 
Người đẹp mười năm trong lặng im
Giận nỗi phòng không chỉ một mình
Én xuân chợt thấy về trên sóng
Trong áng mây xa ngậm lá tình!
Tay ngọc mở thư lòng than tiếc
Lính thú sông Giao chàng biền biệt!
…..
 
Hái hết lan hoa chẳng thấy chàng
Khăn hồng lau mặt nước mắt chan.
Sang năm người vẫn còn chinh chiến
Thiếp tới Dương Đài cưỡi mây sang!
 
(Đỗ Hoàng dịch)
 
                  
                                     Nhà thơ Đỗ Hoàng
 
 Chế Lan Viên cũng có những sáng tạo như Thế Lữ: Chế Lan Viên vẫn giữ nguyên số chữ trong câu (7 chữ) bài thơ Đảo y thiên, ông bỏ hai câu trong khổ thơ 6 chữ  thành khổ thơ chỉ có 4 câu. Chế thi sỹ đã có nhiều bài thơ học tập Đường thi thành công:
 
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Ai đem xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau
 
Ai đâu trở lại mùa xuân trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
Kể cả loài hoa muôn cánh rả
Về đây đem chắn nẻo xuân sang!
    
    
Không chỉ Thế Lữ, Chế Lan Viên mà các nhà Thơ mới như : Xuân Diệu, Tế Hanh, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Đinh Hùng, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương đều học tập và sáng tạo Đường thi đạt những thành tựu mới..
 
Vũ Hoàng Chương tiến lên một bước: tăng thêm một chữ (8chữ) và đổi mới cách hiệp vần: trắc, bằng, trắc, bằng ngoài hiệp vần bằng, bằng, trắc , bằng:
 
Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi, thuyền theo gió hãy lênh đênh
 
Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Suốt một đời ngươi  u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ!
 (Phương xa)
 
     
Các nhà Thơ mới ngoài học tập kế thừa và phát huy thơ ca Trung Hoa, họ còn học tập thơ Pháp. Nhiều người nói rằng các nhà Thơ mới trên đầu họ đội năm, ba nhà thơ Pháp. Đoàn Phú Tứ coi A. Musset là bậc thầy tư tưởng, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh tôn thờ P.Verlaine, A. Rimbaeu, các nhà thơ khác : Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Tú Mỡ… chịu ảnh của C, Baeudelaire, A. Lamartine, La pon ten…
Xuân Diệu chuyển nghĩa cho thơ mình:
Plus d’une espèce de fleurs a quitté les branches
Hơn một loài hoa đã rụng cành
 
Từ một lời nói của Alfed de Musset với người tình George Sand: Dépêche-toi, George, notre amour est vieux (Nhanh lên em, George, tinh ta đã già rồi), Xuân Diệu đã sáng tạo ra tuyệt tác Vội vàng:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi!
Con chim hồng bé nhỏ của tôi ơi!
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!
Hay bài Rondel de I’adieu của Edmond Haraucourt – Bài Rondel chia ly mãi mãi:
 
Partir c’est nourir un  peu,
Cest nourir à ce qu’on aime
On laisse un peu de soi-même
En toute heure et dans tout lieu
 
C’est toujours le deuil d’un voeu,
Le dermier vers d’un poème:
Patir, c’est mourir un peu!
Cest nourir à ce qu’on aime.
 
Etl’on part, et c’est un jeu
Et jusqu’a l’dieu suprêne
Cest son âme que l’on sème,
Que l’on sème à chaque adieu!
Patir c’est nourir un peu…
 
Xuân Diệu đã sáng tạo ra thi phẩm yêu tuyệt vời:
 
YÊU
 
Yêu là chết trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều song nhận chẳng báo nhiêu
Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết
 
Phút gần gủi cũng như giờ chia biệt
Tưởng trăng tàn hoa tạ với hồn tiêu
Vì mất khi yêu mà chắc được yêu
Yêu, là chết ở trong lòng một ít
 
Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt
Những người si theo dõi dấu chân yêu
Và cảnh đời là sa mạc cô liêu
Và tình ái là sợi dây vấn vít
 
Yêu là chết ở trong lòng một ít!
 
Học tập các nhà thơ nước ngoài khi đã Việt hóa, các nhà thơ Thơ mới sử dụng khá nhiều thể thơ 7, 8 chữ. Về mặt tri giác nó hợp với tâm lý nhận thức của con người; cũng như trong xuất bản, người ta chọn khổ sách 13x 19 cm là hợp với nhãn quang đọc của con người.
 
Thể thơ 7, 8 chữ là thể thơ phổ biến của Thơ mới. Thể thơ thất ngôn sắc gọn, cái giá của nó nằm ở cấu tứ, ở liên kết nội tại là một thể thơ đạt đến trình độ chuẩn mực, hoàn toàn không một kẻ hở, không một chữ thừa. Những bài thơ hay của phong trào Thơ mới:  Xuân không mùa, Đây thôn Vỹ Dạ, Tràng Giang, Trút linh hồn, Đà Lạt trăng mờ, Mùa xuân chín, Nhớ rừng, Lưu luyến đều là những thể thơ viết theo thể 7 và 8 chưc. Thể thơ 7, 8 chữ chiếm tỷ lệ kha lơn
 
Trong sáng tác của các nhà thơ Thơ mới, thể thơ 7 chữ là 445/1384 bài chiếm tỷ lệ 32,2%, trong đó Hàng Mặc Tử 33/71 bài(46.5%), Bích Khê 40/80 bài (50%0, Xuân Diệu 42/105 bài (41%),Vũ Hoàng Chương 31/68 bài (45,6%).
 
Thể thơ 8 chữ Anh Thơ 44/44 bài (100%),Chế Lan Viên 36/46 bài(78,3%), Xuân Diệu 35/105 bài (33,3%). Theo cuốn Thơ mới 1932 – 1945, Tác giả và tác phẩm của Lại Nguyên Ân. Hình thức Thơ mới là là một phương tiện nghệ thuật (thể thơ, hình tượng, vần nhịp…) nhằm biểu đạt một cách tốt nhất cảm nhận thế giới, cảm xúc về thế giới  và con người, chủ thể tác giả. Nó phản ánh xu hướng tìm tòi hình thức đạt chuẩn tối ưu trong thơ để phản ảnh trung thực con người trong thời đại mới và phù hợp với quan niệm thẩm mỹ của đương thời.
 
Thành công nữa của Thơ mới là về sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ một cách sáng trong và Việt hóa tiếng nước ngoài một cách tốt nhất để tác phẩm truyền đến người đọc. Nói theo cách nói hiện đại là giữ gìn sự sáng trong tiếng Việt. 
 
“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang!…”
(Hàn Mặc Tử)
 
Hay:
 
“Trời xanh ới hỡi! Xanh khôn nói
Hồn tôi muốn hiểu chẳng cùng cho
Có cánh chim gì bay chới với
Chết rồi! Nó lạc giữa hư vô…” (Chế Lan Viên)
 
Cái mới nằm ở cách dùng từ, ở chất lượng, ở nội hàm ngữ nghĩa của từ mang tầm văn hóa thời đại. Đó là sự gặp gỡ giữa hai nền văn hóa Đông Tây mà các nhà thơ Thơ mới tiếp thu và sáng tạo được.
“Còn trời đất mà chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời…” (Xuân Diệu)
 
Và cuối cùng là nội dung mới mẻ của Thơ mới.
 
Thơ mới đã nói đến cái tôi – cái tôi chuẩn mực, trong sáng cái tôi tình yêu cá nhân mà hàng nghìn năm trước thơ cũ chỉ nói nhiều đến cái ta hoặc cái ta hòa trong cái tôi. Các nhà thơ tuyên truyền phục vụ cho các chính thể độc tài chuyên chế cũng né tránh cái tôi bản ngã, ít đề cập đến cái tôi – bản ngã tuyệt đối của cá nhân. Thơ mới làm được điều đó:
 
Ta là một là riêng là thứ nhất
Không ai bè bạn nổi cùng ta! (Xuân Diệu)
 
Cái tôi lớn nhất của Thơ mới là cái tôi tình yêu đôi lứa. Đó là gần như điều kiêng dè của thơ trước đó:
“Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau mái tóc ngắn, tóc dài (Xuân Diệu)
 
Hay:
Ta dắt em lên ngai thờ nữ sắc
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thờ lấy hồn trinh tiết (Đinh Hùng)
 
Trong phong trào Thơ mới cũng có nhiều nhà thơ tìm tòi các phương thức sáng tạo khác như làm thơ bằng tiếng Pháp, tiếng Hoa, tạo hình thức mới cho thơ như kéo gài câu thơ ra, có câu dài 27 chữ như của Nguyễn Thị Kiêm, thơ hình quả trám, hình con ngựa, hình cánh buồm. làm thơ toàn vần bằng:
“Chiều đi trên đồi êm như tơ
Chiều đi trong đời êm như thơ
Không gian ô, màu ngưng lưng trời
Lam nhung ô màu xanh nơi nơi
Vàng phai vàng phai ôm non gầy
Chim uyên nương mình trong râm cây
Đây mùa Hoàng Hoa mùa Hoàng Hoa…”
 
Nhưng những thể nghiệm không tồn tại, nó đã bị thời gian đào thải!
   
Phong trào Thơ mới chỉ hoạt động vẻn vẹn trên dưới 10 năm trong vòng nô lệ, đất nước thuộc Pháp nhưng các nhà thơ dân tộc không một chính thể nào đỡ đầu, mà còn bị đàn áp nữa nhưng bằng nổ lực cá nhân  và sức mạnh dân tộc đã dựng nên một phong trào Thơ mới thành công còn mãi hơn thiên thu!
 
*
     
Nhà thơ Hữu Thỉnh đánh giá:” Thơ kháng chiến chống Pháp lại phủ nhận quyết liệt Thơ Mới, thậm chí nhổ tận rễ những “đạo rớt”, “mộng rớt”, “buồn rớt” của nên thơ tiền nhiệm để mở đường cho một nền thơ yêu nước và cách mạng là một đánh giá sai lầm hoàn toàn.”
  
Cái đạo rớt, mộng rớt, cái buồn rớt của Thơ Mới hoàn toàn có lý của những nhà thơ sống trong nô lệ lầm than. Nhiều nhà thơ được phong kiến và thực dân đào tạo, có công ăn việc làm có bỗng lộc, vinh gia phì thân họ vẫn đạo rớt, mộng rớt, buồn rớt… vì họ là thân phận nô lệ, nước họ bị ngoại bang đô hộ. Ngay trong những nhà nước đẹp nhất thì thi sỹ vẫn có quyền đạo rớt, mộng rớt, buồn rớt. Bỡi vì không có một đáng tối cao nào làm cho con người thoát buồn, thoát đau, thoát chết! Huống gì thi sỹ dễ buồn, dễ đau!
 
Các nhà thơ chống Pháp không bao giờ phủ nhận mà phát huy cái hay, cái đẹp của Thơ Mới, tránh những cái chưa hay của Thơ Mới và cảm thông chia sẻ cái buồn, cái đau của Thơ Mới, các nhà thơ chống Pháp biết nâng lên vì họ được làm nhiệm vụ ái quốc. Cái buồn của họ đươc cộng đồng đồng cảm, sẻ chia:
 
“Không chết người trai khói lửa
Mà chết người em gái nhỏ hậu phương”
(Hữu Loan)
 
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên sũng mũ bỏ quên đời
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người…”
(Quang Dũng)
 
Về nội dung thơ chống Pháp biết tiếp thu và phát huy thế mạnh của Thơ Mới để làm nên nhiều kiệt tác. Nâng nội dung cũng như hình thức để biểu đạt tư tưởng tình cảm của mình một cách tốt nhất.
“Xuân không chỉ là mùa xuân ba tháng
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ
Xuân là lúc gió về không định trước..”
(Xuân Diệu)
 
Với nhịp người lính hành quân, Quang Dũng bớt hình thức thơ câu 8 chữ xuống 7 chữ để nói rõ tâm trạng của người bộ đội đang đi chiến đấu nơi biên thùy.
 
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhờ về rừng thẳm, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm bơi…”
(Quang Dũng)
 
Thơ Mới có những câu thơ hiện đại trôi nhưng dòng thác:
Say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngã nghiêng
Cho điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa
Quên quên hết..”
(Vũ Hoàng Chương)
  
Thơ chống Pháp cũng có những câu như thế nhưng họ rất thông cảm nỗi đau để thân tàn ma dại trong trụy lạc của Thơ Mới và họ đã phát huy làm nên nhưng câu thơ hiện đại không kém, lại hào sảng, tươi trẻ hơn:
 
“Đằng  nớ
Vợ chưa đằng nớ
Tớ còn chờ độc lập
Cả lũ cười vang trên ruộng bắp
Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu!
(Thơ chống Pháp)
 
Nhà thơ Hữu Thỉnh tiếp tục nhận định và đánh giá: “ Thơ kháng chiến chống Pháp, thơ chống Mỹ cũng vẽ xong chân dung của mình với thời gian tương tự (tức là 10 năm, ý tác giả HT)” .Thơ chống Pháp thì đúng nhưng thơ chống Mỹ thì chưa đúng, nó mới chỉ một nửa.
  
Thơ chống Mỹ chỉ nói đến cái quyết tâm, cái gắng công diệt giặc, thơ toàn chỉ thấy tiếng cười, tiếng hát, tiếng hót là nhiều:
 
“Không cần nghỉ lái trăm cây số nữa
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha!
(Phạm Tiến Duật)
 
“Con trai đội nón bao giờ
Vì mưa nên phải đi nhờ nón em
Bấy lâu mũ sắt đội quen
Buồn cười cái nón tòn ten trên đầu..
(Phạm Tiến Duật)
 
“Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn
Trên đỉnh Trường Sơn ta hát
(Hoàng Nhuận Cầm)
 
“Thơ ta hỡi, hãy cất cao tiếng hót
Ca ngợi nghìn lần Tổ Quốc của ta”
(Tố Hữu)
 
Trong bài “Ai điếu cho một nền văn học minh họa” và tiểu luận “Cánh rừng già và người viết trẻ” nhà văn Nguyễn Minh Châu có viết đại ý rằng:
 
“ Viết về chiến tranh mà không viết nỗi đau, nỗi buồn là bất công”
 
“Người cầm viết về chiến tranh mà quên đi nỗi đau của người lính là bất công
 
Là phản bội lại một phần hy sinh của họ ngoài trận mạc
Người cầm bút viết về chiến tranh mà quên đi những ngày gian lao khốn cùng cực nhọc
Là quên đi tình thương rộng lớn của con người…”
                     (Tâm sự người lính – Đỗ Hoàng)
 
Thơ chống Mỹ công khai chưa vẽ trọn vẹn chân dung của mình!
   
Phong trào thơ sau giải phóng năm 1975, nhà thơ Hữu Thính chưa có nhận định và đánh giá mà chỉ gộp vào trong thơ chống Mỹ:  ”Thơ chống Mỹ và thơ hiện nay lấy sự bổ sung và làm đầy là nguyên tắc cho sự phát triển” là chưa rõ.
 
Hữu Thỉnh đánh giá về “ trường phái phu chữ” là đúng. “
 
Trong lúc các thi nhân nhấn mạnh phần hồn thì Lê Đạt tuyên bố”chữ bầu lên nhà thơ” và kéo theo cả một trường phái phu chữ. Đó cũng là một hướng tìm tòi đáng trân trọng. Vấn đề là tác phẩm. Tác phẩm nào hay theo trường phái phu chữ thì hãy trưng ra. Thoải mái. Và xem công chúng tiếp nhận đến đâu.
  
Nói về trường phái phu chữ Lê Đạt thì nhà thơ Hữu Thỉnh chí lý nhưng nói về Vô  lối tắc tỵ, tù mũ rối rắm, tình dục bệnh hoạn của thế hệ sau 1975 thì nhà thơ Hữu Thỉnh nói chung chung: “ Không bằng lòng với thơ tự do hiện tại, họ muốn đi tìm tự do nữa, tự do sau tự do tháo bỏ mọi kích cỡ để thuận tiện cho việc biểu cảm tự nhiên”
 
Cái gọi là phong trào “tự do sau tự do” đã 30 năm đủ để nhìn nhận đánh giá. Vì một phong trào thơ, cả Thơ Mới, thơ chống Pháp, thơ chống Mỹ chỉ có 10 năm đã được khẳng định. Còn phong trào  “tự do sau tự do” 30 năm thì biết nó thất bại hoàn toàn, nó không để lại dấu ấn trên thi đàn. (Xem Vô Lối phản lại thơ ca – vannghecuocsong.com)
Vô lối  – Phản lại thơ ca!
      
Vô lối manh nha và xuất hiện ở Việt Nam trên dưới nửa thế kỷ từ giữa thập kỷ 50 thế kỷ trước cho đến hôm nay. Nó bùng phát như nấm độc mọc sau mưa là từ thập kỷ 90 thế kỷ trước và nhất là khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho tập Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều. Và nó bị kết liễu khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho nó vào năm 2010 – 2011 với 4 tập Vô lối của Mai Văn Phấn, Từ Quốc Hoài, Đỗ Doãn Phương, Đinh Thị Như Thúy.
 
Thời gian Vô lối bùng phát đến nay đã trên dưới 20 năm (1992 – 2012) nhưng nó không gây được tiếng vang, không dấy lên một phong trào thơ ca nào cả. Nó có cách cảm, cách nghĩ tù mù, rối rắm, khập khà khập khễnh, kênh kiệu, lôm nhôm, loam nhoam, lộn xà lộn xộn… với một loại hình câu chữ dài dòng lê thê lếch thếch hoặc kể lể con cà con kê, hoặc nói năng lảm nhảm rối rắm, hoặc làm duyên làm dáng vô bổ, hoặc uốn éo da lươn, hoặc tịch mịch tối bưng, hoặc đen ngòm da gấu, hoặc đa ngôn đa quái, hoặc lai căng chữ nghĩa nước ngoài một cách thô thiển đàng điếm hoặc mê muội bệnh hoạn về tình dục thể hiện trong câu viết, trong tâm tưởng ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Nó bị đại đa số công chúng, bạn đọc của toàn dân tộc phản bác dù nó được báo chí chính thống, cục vụ viện chính thống, cánh hẩu lăng xê, tán tụng đưa lên mây xanh và dành không ít tiền thuế của dân đeo vòng “nguyệt quế” rởm cho nó!
 
Xin nhắc lại một vài nhận dạng Vô lối.
   
Đó là một loại hình không có trong tất các loại thể văn học nước nhà và thế giới. Nó dịch không ra dịch, mô phỏng không ra mô phỏng, không phải phú, không phải tế, không phải hát nói, không phải kịch, không phải ca từ, không phải ngâm, không phải vịnh, không phải hát vui chơi, không phải hát ru em, không phải nói lối, không phải văn xuôi, không phải kể chuyện, nó là một loại quái thai của văn chương! Nó chính là Vô lối!
  
Đặc điểm của Vô lối là: Thứ nhất là nó chối bỏ truyền thống thơ ca của dân tộc và nhân loại, chối bỏ thẩm mỹ của loài người; thứ hai là triệt tiêu một trăm phần trăm vần điệu; thứ ba là viết dài dòng văn tự, dây cà ra dây muống; thứ tư là tù mù, tịch mịch, rối rắm, đánh đố mình, đánh đố người đọc; thứ năm là đại ngôn, sáo rỗng, trống hơ, trống hoắc, hô khẩu hiệu; thứ sáu là dung tục bẩn thỉu và tình dục bệnh hoạn; thứ bảy là sính dùng chữ nước ngoài một cách tùy tiện, chưa Việt hóa…
 
Gooki nhà văn Xô viết (Liên Xô cũ) đã từng nói: “Nhà văn không biết đến văn học dân gian là một nhà văn tồi”. Đến Kalinin lãnh tụ của Liên Xô cũ cũng nói đại ý: “ Nội dung và hình thức văn học dân gian là thiên tài, các tài năng lớn về văn học đều biết tiếp thu và học tập thành công văn học dân gian. Bao nhiều tài năng lơn trong nước và thế giới đã minh chứng điều đó: Puskin, Lecmongtop, Bairon, Oma Khayam, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ…
 
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Đường trần ai vẻ ngược xuôi hở chàng
Đưa nhau một bước lên đàng
Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa
(Ca đao)
 
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
 
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Đoạn trường tân thanh – Nghuyễn Du)
 
Sinh vi vạn nhân thê
Tử vi vô phu quỷ
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chống
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
    
 Những người viết Vô lối chổi bỏ truyền thống thơ ca của dân tộc và nhân loại, chối bỏ cách nói cách cảm của ông cha.  Trước tiên, Vô lối triệt tiêu 100% vần điệu nhưng câu viết thì cứng cỏi, khô khan, không có một chút truyền cảm, không rung động lòng người. giống như ông nói gà, bà nói vịt, tù mù, hủ nút. Đọc  nó có cảm giác lê thê, vô bổ:
 
“…Sự em có mặt cần thiết như những sớm mai
(nếu đời người không có những sớm mai)
anh trở dậy
đọc thơ Nguyễn Du
những câu lục bát buồn rưng rưng cuối đường của một ngày
chợt anh muốn viết tặng em
không thể được
em làm con tin ở một thế giới
(Thanh Tâm Tuyền)
Phan Rang, những năm ấy, có lẽ chị Ba không nhớ nữa
nhưng tôi kẻ từng chịu ơn chị, tôi không thể nào quên quá khứ.
Năm ấy, tôi đến từ phương xa
không giấy tờ, không người quen, không nhà không cửa
và tương lai tôi
tương lai ở trong tay những kẻ bố ráp bắt người đi đánh thuê cho quân xâm lược
tương lai buồn tênh như con đường bụi khô ngoài quán cà phê chiều hôm gió cuốn.
(Lê Văn Ngăn)
Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng
Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe tiếng chim đập cửa
Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi
(Nguyễn Quang Thiều)
Tôi đã làm khổ cô láng diềng niên
khóa cuối trung học trước khi làm lang
thang. Năm năm nàng chờ, thằng Wang nói
mầy quá tệ làm nó khổ mầy ngủ
ngon ăn khỏe còn nhăn răng cười như
khỉ. Ôi em còn hay đã thành ma,
hôm nay trời trăng nào biết? Tôi đã
chửi tệ bà nhà quê đáng tuổi mẹ
….
Ông không làm gì cả, đi loanh
quanh. Ông không đi đến đâu cả,
đi rồi về. Ông không làm gì
cả, ông suy nghĩ – không nghĩ ra
cái gì cả. Con cháu nói thứ
ăn hại, ông cười buồn. Lối xóm
bảo đồ lười biếng, ông nín lặng.
(In ra sa ra)…
 
Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, cá vi dít, nắm đấm mi crô
Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường
Một mình một ba lô với xe đạp
Bây giờ gió gọi anh đi
Mặt trời đánh nhịp về tám hướng
Từ giã cà vạt, giày đen lời trịnh trọng
Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ
Hò hét một mình, đọc những gì mình yêu thích, ghi chép những gì cần ghi chép
(Nguyễn Khoa Điềm)
 
Thành đôi môi đẫm rượu
Lênh đênh qua hàng quán tàn phai
Với cái nhìn bạc màu kiêm ái
Anh nhận ra tro tàn kim cương
Sau chớp mắt chậm như vĩnh cửu
Còn nhớ chăng bầu trời quạnh hiu
Trong thân thể gầy gò nơi giam giữ phận anh thoáng chốc
Em hay vầng trăng khiến nó mịt mù
                      (Nguyễn Bình Phương )
 
thanh tẩy (2)  mãi vẫn không thấy sạch
quay về tắm bằng ngọn đèn
 
thử đưa bờ vai về phía ánh sáng
rồi cả hai tay
bàn chân, cằm, đầu gối
cả đôi tròng mắt và tiếng ho khan
 
xối ánh sáng  vào từng góc khuất
gốc khuất  như lò thúc mầm  (3)
như thép nóng đem tôi vào nước
như quả trứng trong ổ đang ấp
rễ thân cành đã chết đâm ngang
(Mai Văn Phấn)
 
Trăng sáng
Ngư dân ở nhà chơi với vợ
đợi đêm còn ra với phong ba
 
Trăng sáng
Nước bạc, lưới không sao giấu mắt
Cá băng tung tẩy từng đàn
 
Ngộp thở
Phố cổ oi, đèn lồng vàng và đỏ
Người đi từng đang đổ về phía bờ sông
(Phan Thị Vàng Anh)
    
 Vô lối viết câu dây cà ra dây muống, dài dòng văn tự mà lại không có một thông tin, một ý nghĩa, đọc lên như hủ nút, rối rắm, ngúc nga, ngúc ngắc, tâm thần, đa số các câu dài câu dài 30 , 40 chữ, thậm chí có câu dài đến 40, 50 chữ. Đặc biệt có câu dài 42, 58 chữ, như điển hình các câu sau: câu trong bài  “Sinh ngày 4 – 4”. Câu này đã vượt  câu thơ Nguyễn Thị Kiêm thời Thơ mới 15 chữ;
 
Trò Domino với hiệu ứng lan truyền, đổ sang nhau những ăn năn – bất cần, trong sạch – vấy bẩn, ý nghĩa – vô bổ, cạn kiệt – lấp đầy, tuyệt vọng và ngộ nhận, đoàn tụ và lưu lạc, trấn tỉnh và hoảng loạn.
(Vi Thùy Linh)
 
Câu của Nguyễn Quang Thiều trong Cây ánh sáng  đạt kỷ lục, vượt Nguyễn Thị Kiêm đến 31 chữ (!) tức là 58 chữ.
 
Cả những người đàn bà tội lỗi và thánh thiện vẫn vuốt ve con đỉa khổng lồ bám chặt bộ xương chàng và thì thầm run rẩy với con đỉa ấy, bị hành hạ vì con đỉa ấy, tự vẫn vì con đỉa ấy và tìm thấy một chút ý nghĩa đầy ảo giác với con đỉa ấy  (Nguyễn Quang Thiều)
 
Người đọc nào kiên nhẩn đọc câu trên chắc cũng phải điên lên cùng kẻ viết!
 
Trong khi đó thơ ca tinh hoa của thế giới phương Tây hay phương Đông chỉ một bài thơ 20 chữ đã sống mài hơn 2 000 năm và còn sồng lâu hơn nữa:
 
“Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai”
(Lưu Vũ Tích – Đời Đường)
Trước hoa giờ được uống
Mấy chén ngất ngư say
Chỉ buồn hoa lại nói
Không nở cho già này!
(Đỗ Hoàng dịch)
 
 27 chữ của Nguyễn Thị Kiêm thời Thơ mới đã không còn thì câu 41 chữ của Vi Thùy Linh và câu 58 chữ của Nguyễn Quang Thiều thời Vô lối sẽ tan như bong bóng xà phòng!
 
Những người làm Vô lối bây giờ ngoài việc chối bỏ truyền thống thơ ca của dân tộc và nhân loại, họ còn dấn thêm một bước là dung tục hóa câu viết mà các sách dâm thư cổ ( Nhục bồ đoàn) kim (các trang mạng đen bẩn thỉu) hiện nay cũng còn thua, cái nhìn rất bệnh hoạn vào người khác giới:
Mặt hồ thủ dâm nổi sóng
(Nguyễn Quang Thiều)
 
Một bài thơ viết ở Hà nội
 
Có một bài thơ tôi viết
Trong bóng tối
Của thành phố này
 
Đấy không phải là đêm
Tôi vẫn nhìn thấy những đám mây nặng
Bò trên những mái nhà thành phố
Và vẫn nhìn thấy
Một người đàn bà
Tắm trong một toilet không có rèm che
Kỳ cọ như tuốt hết da thịt mình
Và vẫn nhìn thấy
Cuộc làm tình ban ngày
Của những kẻ thất nghiệp
Trong chính công sở của họ
 
Viết lúc 10 giờ 13 phút
 
H ngủ muộn. 10h13 phút chưa dậy.
Những sự sống trôi qua chiếc giường.
Những cái chết trôi qua chiếc giường.
Và H nhìn thấy trong giấc ngủ
Một tấm thân đàn ông nóng rừng rực
Trôi qua chiếc giường và dừng lại
ở một khoảng trên đầu
 
lúc 10h13 một người đàn bà khác
khoả thân trong một chiếc giường
đặt ở giữa thành phố
(Nguyễn Quang Thiều)
 
Đúng là người viết bệnh hoạn và của một số cây viết bệnh hoạn, bị bệnh thị dâm rất nặng, đàn ông hay nhìn trộm phụ nữ tắm, đàn bà hay nhìn vào hạ bộ đàn ông để lấy cảm hứng “sáng tác”(!) . Số này cần phải đến bệnh viện tâm thần điều trị lâu dài, trước khi cầm bút viết lách!
  
Và rất nhiều, rất nhiều cách viết trắng trợn, ô trọc, súc vật:
Khỏa thân trong chăn thèm chồng, thèm Anh!
(Vi Thùy Linh)
 
Đến như loài lục súc, con chó cái nó có nhu cầu bạn tình nó cũng chạy khắp vườn trên, xóm dưới đánh tín hiệu bằng cách kêu ăng ẳng, ngúc ngoắc cái đuôi thể hiện nhu cầu ái ân theo văn hóa kiểu chó, sạch sẽ hơn nhiều kiểu viết thô lậu trần truồng, không Việt hóa ở trên!
Sau một phút êm đềm trên ghế đá
Anh quên cài khuya áo cho em
(Dư Thị Hoàn)
 
Cái ghế đá thường đặt nơi công cộng, công viên, hoặc vườn thú. Người đứng đắn có ai kéo nhau đến nơi công cộng làm cái truyền giống bao giờ.  Một “anh du côn tám thẹo gặp chị điếm giang hồ bảy da” mà còn đòi hạnh kiểm đạo đức thì lấy đâu ra khi rủ nhau vào nơi công cộng giữa thanh thiên bạch nhật làm cái chuyện đực cái mà chỉ có loài lục súc mới làm trước mặt mọi người!
 
Hay kém thẩm mỹ, thô tục:
Nằm nghiêng ở trần thương kiếp nàng Bân
ngón tay rỉ máu.
Nằm nghiêng khe cửa ứa ra một dòng ấm cô đơn.
 Nằm nghiêng cùng sương triền đê đôi bờ ỡm ờ nước lũ
Nămg nghiên lạnh hơi lạnh cũ.
 Ngoài đường khô tiếng ngày
Nằm nghiêng.
Mùa đông nằm nghiêng trên thảm gió mùa.
Nằm nghiêng nứt nẻ khóe môi đã lâu không vồ vập răng lưỡi
Nằm nghiêng xứ sở bốn mùa nhiệt đới, tự dưng nhói đau sau lần áo lót có đệm mút dầy
(Phan Huyền Thư)
 
Những người làm vô lối đã thổi phù cái tình dục bệnh hoạn phản cảm của mình một cách thô thiển trắng trợn làm băng hoại con người.
 
Viết bẩn thỉu, dung tục dâm ô, ở thế giới phương Tây có nhiều nhà thơ lạm dụng. Nhưng những tài năng lớn họ thường biết hạn chế để làm đẹp,trong sáng thơ ca.
 
Apollinaire nhà thơ Pháp đầu thế kỷ XX nổi tiếng với câu thơ mà người Pháp nào cũng thuộc lòng: Sous le pont Mirabeau coule la Seine ( Dưới cầu Mira beau trôi dòng sông Seine…) khi viết bài thơ văn xuôi dài Vùng, bản thảo lúc đầu câu thơ có mấy chữ thô tục:  “Hôm nay tôi bước giữa Paris những người đàn bà vấy máu kinh nguyệt chảy đỏ các rảnh nước…”. Nhưng sau đó ông thấy không được viết bẩn như thế, nhà thơ liền sửa lại:
Hôm nay mi bước giữa Paris những người đàn bà vấy máu.
(Aujourd’hui tu marches dans Paris les femmes sont ensanglanteses)
 
Những người viết vô lối Việt viết hết sức bẩn thỉu nói trắng ra là rất mất vệ sinh. Viết đến mức mà các bác sỹ khoa sản phụ cũng chào thua!
“Ngáp ngủ đêm đã qua
Chửi tục đêm đã qua
Gạ gẫm làm tình đêm đã qua
Âm hộ đêm đã qua
Dương vật đêm đã qua!”
(Nguyễn Quang Thiều)
 
 
 Ngoài ra họ còn`tắc tỵ hóa câu viết và nhiều kiểu khác phi văn chương nữa!
luật lệ
tử cung
sự giao l­uu hoang hoái ngực Mạ
một ngày mai tinh khôi vân tay
một ngày thơ cô đơn rực rỡ mai San Francisco
hao gầy
bóng Mỹ
nợ nần
lửa khói
hoe đáy mắt phù du Thiên Cầm
phù du kiếp biển
mùi n­uớc mắm vàng lên chân lời Hồng Lĩnh
(Văn Cầm Hải) 
 
  … bên kia,
về phía bên kia nơi bờ sông quê hương
tháng Tư đang hành Lễ tẩy trần.
Làm sao em song hành cùng tôi về đứng bờ sông đêm nay?
trong cơn đau hoan lạc
hát vang bài tụng ca của nước
chảy đi
chảy đi
chảy trôi đi
chảy trôi tất cả đi …
Giở một vòm trời khác.
on ma nào đưa tôi ngồi quán
tôi rơi vào mắt cô gái Cham đầu tiên bán bia ôm
em ngồi sát vào khiến tôi rụt cái đầu con nít.
ồ tôi có thể dòm gì, làm gì em cũng được
nhưng tôi muốn dòm / làm gì!?
đôi mắt em chuyển màu suy nghĩ tôi
có gì liên quan giữa bắp chân tròn thô đậm rơm rạ em với cặp giò thon thả vũ nữ Apsara xưa?
(In ra sa ra)
 
Một nghìn ba trăm năm mươi mét cao ly hồng nở
đôi mắt bồ câu
 
vô biên im lặng
cơn mưa đồng phạm
con chó thảo hiền không biết sủa dẫn tôi đi cùng
 
bài thơ tình ăn theo mưa
ly thơm vào trưa
xấu hổ tôi cúi mặt
                     (Hoàng Vũ Thuật)
Những người làm Vô lối chối bỏ các phép tu từ: ẩn dụ ,ngoa dụ, hoán dụ,  nói giảm, nói tăng(nghệ thuật thơ ca – thi pháp) của ông cha, viết một cách trần trụi, sống sượng kém truyền cảm,
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Vục cát lên
Tôi khóc
(Nguyễn quang Thiều)
Khóc cho đoàn tàu dừng lại
Khóc cho tà vẹc vỡ đôi
Khóc cho núi đồi sụp lỡ
(Dư Thị Hoàn)
 
Người viết Vô lối dùng hàng trăm chữ khóc, không một ai rớm lệ, dùng  hàng trăm chữ cười, chẳng có nhếch môi.
    
 Ngoài ra những người viết Vô lối còn đa quái, đại ngôn, sáo rống, trống huếch, rối rắm, tắc tỵ, tối như mõm chó lá đa, chẳng có một thông tin nào:
Cát đã vơi
Lẹ làng
Yểu điệu
Như chú ong vừa bay vừa tan
 
Chưa kịp vắng
Đã lại dào dạt chữ
………
 
Tôi nhớ tiếng bản lề kèn kẹt
mở từ xa tới gần
và nhớ
trong mũi tiêm quấn quýt một đám mây
hứa hẹn những nổi trôi ngoạn mục
(Nguyễn Bình  Phương)
 
Vô lối còn lạm dụng dùng chữ nước ngoài, đối với âm Hán – Việt thì dùng vô độ những chữ chưa Việt hóa như: vô ngôn, thanh tẩy, cuồng thảo, khỏa thân, hàm ngôn, hoan ca, hoan lạc, bi ca, tuyệt ca; ngoạn mục, đối với tiếng Âu  – Mỹ thì để nguyên cả chữ như wifi, link, thank you, hello, hercule:
 
Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch
(Mái Văn Phấn)
Nhân loại đi qua
Vô ngôn
(Nguyễn Khoa Điềm)
 Link tháng tư
….
Hercule đâu thần tu­ợng muôn dân.
(Vi Thùy Linh)
   
Mười năm đã đủ để khẳng định một phong trào thơ. Hai mươi năm càng đủ thời gian để khẳng định nhiều phong trào thơ. Vô lối đươc xuất hiện rầm rộ từ năm 1993 khi Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cho tập Vô lối Sự mất ngủ của lửa đến hôm nay năm 2012, Hội Nhà văn Việt Nam lại tiếp tục trao giải cho 4 tập Vô lối khác là sự kết liễu của một cách viết Vô lối. Dù Vô lối  được các cơ quan báo chí chính thống tung hô, được các học giả lăng xê, được ưu ái hưởng tiền thuế dân đóng ở những lần trao giải thưởng và nhiều lần khác. Vô lối là một loại mà dân tộc Việt và cả nhân loại tiến bộ không thể chấp nhận được. Thế hệ cha ông chúng ta, chúng ta và con cháu chúng ta hôm nay ai ai lớn lên đều ở trong tiếng ru của ca dao, dân ca, của câu kiều (câu ca, câu thơ hay)  – ca dao ru cháu, câu kiều ru con và cả câu Kiều của Nguyễn Du nữa.  Con cháu chúng ta mai sau không có thể đem cái thứ Vô lối này được! Mà không thể làm tiếng ru được! Đó là điều hoàn toàn sự thật! Nó đươc ru vô lối thì nó lớn lên chắc chắn không thể thành người.
 
Trong bài viết vê “Một nền thơ đang chuyển động”  nhà thơ Hữu thỉnh trích dẫn có nhiều câu thơ chưa phải là hay
Gượng:
Những mùa hoa đại trắng
Tiếng mõ chừng cũng thơm”
 
Nhạt:
“Chiều đứng lặng nghe tiếng người cuối bãi
Trăng lại treo mơ mộng trước hiên nhà”
 
Và triết lý vặt:
“Tối tối mẹ ta hay kể chuyện xưa
Sông vì biển mà dài, biển vì sông mà rộng”
 
Nhà thơ Hữu Thỉnh hơi lạm dụng từ Hán chưa Việt hoá:
 
Tiệm tiến là dần dần tiến, sao không nói dần dần tiến hay từ từ tiến mà dùng tiệm tiến. Người đọc chắc có người không hiểu tác giả nói gì.
 
Bài Một nền thơ đang chuyển cần xem lại!
                                                                        Hà Nội, ngày 31 – 8 – 2012
                                                                                       Đ – H

Công nhân Trung Quốc chém người

8 Th9

Công nhân Trung Quốc chém người

(TNO) Ngày 7.9, ông Trần Văn Bình, Trưởng công an xã Nhân Cơ, H.Đắk R’Lấp (Đắk Nông) cho biết sáng ngày 6.9, trong lúc đang làm việc tại nhà máy Alumina Nhân Cơ, một thanh niên có tên Liu Jin Fu (33 tuổi, người Trung Quốc) đã cầm một khúc gỗ đánh tới tấp 8 công nhân Việt Nam.

Để hỗ trợ cho Liu Jin Fu, một người Trung Quốc khác có tên Wang Yong Gang (29 tuổi), cầm mã tấu chạy tới chém loạn xạ vào nhóm công nhân người Việt.

Sau đó, Wang Yong Gang lấy một can dầu Diezen đổ lên lán trại của nhóm công nhân người Việt và đốt.

Hậu quả, nhiều công nhân bị thương, trong đó anh Nguyễn Văn Thắng (30 tuổi, trú tại Đắk Nông), bị gãy hai chân và phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy, TP.HCM.

Công an tỉnh Đắk Nông đang xử lý vụ việc.

Hương Trạch

Dư luận sau bản án của phóng viên Hoàng Khương?

8 Th9

Dư luận sau bản án của phóng viên Hoàng Khương?

Quỳnh Chi, phóng viên RFA

Nhà báo Hoàng Khương, phóng viên báo Tuổi Trẻ vừa bị tuyên phạt mức án 4 năm tù giam trong phiên tòa sơ thẩm vì hành vi đưa hối lộ.

Courtesy tienphong

Phóng viên báo Tuổi Trẻ Hoàng Khương tại phiên xử ở TPHCM hôm 07-09-2012.

 

 

Nhiều người cho đây là một bản án không thuyết phục vì cho rằng hành động đưa hối lộ chỉ nhằm phục vụ cho các bài viết được giao.

Bản án “không cần thiết”

Bốn năm tù giam là mức án dành cho ông Nguyễn Văn Khương hay nhà báo Hoàng Khương – cây bút có tiếng mảng nội chính của tờ Tuổi Trẻ. Nhà báo này bị bắt từ tháng 1 năm nay vì bị tố có hành vi đưa hối lộ khi cầm tiền của người khác đưa cho CSGT Huỳnh Minh Đức nhằm lấy tư liệu viết hai bài “Đồng tiền xóa sạch hồ sơ” và “CSGT giải cứu xe đua trái phép”.

Kết thúc phiên tòa 2 ngày tại tòa án nhân dân TP.HCM, báo Tuổi Trẻ dẫn lời gia đình ông Hoàng Khương nói rằng đây là một bản án “quá nặng”. Đây không chỉ là ý kiến của người nhà ông Hoàng Khương mà còn của những đồng nghiệp trong ngành báo. Nhà báo tự do Văn Lang gọi đây là một bản án “không cần thiết”:

Nếu qui về pháp lý thuần túy thì người ta có thể cho rằng đó là dấu hiệu tội phạm. Nhưng để khuyến khích những nhà báo thì có lẽ nên tha bổng. LS Trần Quốc Thuận

“Thật ra bốn năm là hơi nặng vì ông Hoàng Khương làm việc cho báo Nhà nước và việc làm này của ông thì cũng nằm trong chức trách của ông chứ không có gì gọi là quá giới hạn hay là vấn đề cá nhân. Trước tòa ông cũng nói việc này phục vụ công việc, nếu có sai lầm thì chỉ sai trong nghiệp vụ.”

Nói lời cuối cùng trong phiên tòa sơ thẩm hôm 7 tháng 9, ông Hoàng Khương khẳng định hành vi cầm tiền (của ông Trần Minh Hòa) đưa cho CSGT Huỳnh Minh Đức với “động cơ trong sáng là phát hiện tiêu cực và đấu tranh chống tiêu cực, đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước”. Những lời khẳng định này của ông Hoàng Khương hoàn toàn trùng khớp với những gì mà ông khẳng định trong bản trường trình về quy trình tác nghiệp bài “Đồng tiền xóa sạch hồ sơ” và “CSGT giải cứu xe đua trái phép” trước đó.

Nhiều nhà báo cho rằng hành động cầm tiền (của người khác) đưa hối lộ của ông Khương chỉ là một “tai nạn nghề nghiệp” vì thực tế ông Khương đang trong quá trình tác nghiệp, tham gia thực tế để lấy tài liệu cho bài viết và không có động cơ thực hiện hành vi hối lộ.  Nhà báo Trương Minh Đức cho rằng quyết định của Tòa án Nhân dân TP.HCM là “không thuyết phục” và gây bức xúc cho báo chí trong nước:

“Nhiều nhà báo trong nước rất bàng hoàng. Có thể đây là một đòn giáng trả cho những nhà báo chống tham nhũng trong nước bị chùn bước.

Tôi nghĩ đây là một cái bẫy mà công an điều tra bên CA TPHCM đã cài bắt ông Hoàng Khương nhằm trả đũa những bài viết chống tham nhũng của ông nhiều năm qua trong lĩnh vực mãi lộ.”

Hành động cần khuyến khích

 

hk250.jpg
Phóng viên báo Tuổi Trẻ Hoàng Khương ra khỏi tòa sau phiên xử tại TPHCM hôm 07-09-2012. Courtesy tienphong.

Nhà báo Hoàng Khương là một phóng viên lâu năm trong mảng nội chính – một mảng được xem là nguy hiểm và phức tạp. Các nhà báo trong nước chia sẻ trên Facebook của mình mô tả ông Hoàng Khương là một phóng viên yêu nghề và hăng say công việc. Ông được biết đến với rất nhiều bài viết chống tiêu cực như “CSGT giải cứu xe đua trái phép”; “Đồng tiền xóa sạch hồ sơ”; “Xử lý vi phạm giao thông: Trăm sự nhờ… cò”; “Nhức nhối nạn mãi lộ, ghê hơn cướp cạn”… 

Từ khi Bộ chính Trị của ĐCS Việt Nam quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về  “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” thì quá trình chống tham nhũng càng được đẩy mạnh. Luật sư Trần Quốc Thuận (nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc Hội) cho rằng bản án dành cho ông Hoàng Khương không phù hợp với phương châm chống tham nhũng đang được nói đến như hiện nay và hành động của nhà báo Hoàng Khương cần được khuyến khích:

“Những hành động đó đáng lẽ phải được khuyến khích bởi bất cứ ai cũng có thể làm một động tác giả để thử xem bức tường chống tham nhũng trong bộ máy Nhà nước vững chắc như thế nào. Nhà báo Khương cũng là người đến gõ thử bức tường đó. Nhưng mà gõ thì nó sập ngay. Ông Khương bị đem ra xét xử là một điều đáng tiếc.”

LS Trần Quốc Thuận cho biết, ông đã theo dõi vụ án về nhà báo Hoàng Khương và gọi hành động của ông Hoàng Khương chỉ là một “động tác giả” nhằm thực hiện bài viết nên có thể xem xét:

Tôi nghĩ đây là một cái bẫy mà công an điều tra bên CA TPHCM đã cài bắt ông Hoàng Khương nhằm trả đũa những bài viết chống tham nhũng của ông. Trương Minh Đức

“Nếu qui về pháp lý thuần túy thì người ta có thể cho rằng đó là dấu hiệu tội phạm. Nhưng để khuyến khích những nhà báo thì có lẽ nên tha bổng.”

Theo Khoản 4, Điều 8 của Bộ luật hình sự: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Điều này đã không được xem xét đến trong phiên tòa.

Khi phóng viên Hoàng Khương bị bắt, rất nhiều nhà báo lên tiếng phản đối trên Facebook cá nhân của mình. Trước phiên tòa, một lần nữa các trang mạng xã hội lại nóng lên. Nhà báo Hương Trà (blogger Cô Gái Đồ Long) chia sẻ trên Facebook rằng “Cần một bản án hợp lý và nhẹ nhất; thậm chí có thể trả tự do ngay tại tòa”. Còn nhà báo Huy Đức cũng viết trên Facebook rằng Hành động của nhà báo Hoàng Khương có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng không thể coi là tội phạm vì không những không nguy hiểm cho xã hội mà còn làm giảm nguy hiệm cho xã hội. Toà xử anh 4 năm tù không phải là nặng hay nhẹ mà là không theo Luật”.

Theo LS Trần Đình Triển, (Văn phòng luật sư Vì Dân), tất cả quá trình tác nghiệp loạt bài về giao thông đã được ban biên tập báo Tuổi Trẻ phê duyệt và cho đăng tải nên theo luật báo chí, trách nhiệm trước hết thuộc về cơ quan tòa soạn này. Và một trong những vấn đề gây thắc mắc và bất mãn cho dư luận là việc Tòa án không triệu tập ban biên tập báo Tuổi Trẻ, cơ quan chủ quản của nhà báo Hoàng khương dưới tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo luật Tố tụng HS và DS. Theo vị LS này, đây là một sự “vi phạm nghiêm trọng”:

“Theo quy định của bộ luật HS và Tố tụng Dân sự, một trong những phiên tòa cấp sơ thẩm bị vi phạm nghiêm trọng về mặt tố tụng vì cấp phúc thẩm phải xem xét sự vi phạm đó vì tôi cho rằng việc tòa án cấp sơ thẩm không mời báo Tuổi Trẻ với tu cách bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là một sự vi phạm nghiêm trọng về luật tố tụng hình sự và dân sự. Cấp phúc thẩm cần hủy án sơ thẩm để trả hồ sơ xét xử trở lại ban đầu và triệu tập báo Tuổi trẻ tham gia với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan.”

Xin được nhắc lại, về vụ án liên quan đến việc đưa và nhận hối lộ cho cảnh sát giao thông để giải cứu xe đua của ông Trần Minh Hòa, tất cả cáo bị cáo đều nhận mức án từ 1 đến 5 năm tù giam.

Tướng Thước đặt nghi vấn về việc Dương Chí Dũng trốn thoát – GDVN

8 Th9

Tướng Thước đặt nghi vấn về việc Dương Chí Dũng trốn thoát

 
(GDVN) – “Một con người như Dương Chí Dũng mà được đưa vào vị trí lãnh đạo cao thì hoàn toàn không đúng quy trình về công tác cán bộ”, tướng Thước nói.
Sau hơn 90 ngày bỏ trốn, cuối cùng Dương Chí Dũng đã bị bắt. Phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội khóa 8, 9, 10 xung quanh vụ việc này.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước

Bắt được Dương Chí Dũng là một thuận lợi lớn

PV: Theo ông, việc cơ quan điều tra bắt được Dương Chí Dũng có ý nghĩa như thế nào đối với công tác điều tra các sai phạm tại Vinalines?
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Việc bắt được Dương Chí Dũng là một thuận lợi để sau này kết luận về những sai  phạm ở Vianlines dưới thời ông này còn làm Chủ tịch HĐTV. Điều đó thể hiện được sự quyết tâm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 mà cụ thể là xử lý những sai phạm liên quan đến quy định nhà nước về quản lý kinh tế như Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam đã nói. Rõ ràng việc bắt được Dương Chí Dũng là điều kiện tốt để làm rõ những vấn đề còn tồn tại tại Vinalines cũng như Vinashin – những vấn đề mà Bộ Chính trị cho rằng cần phải tiếp tục điều tra.

Không chỉ vậy, việc bắt được Dương Chí Dũng còn góp phần lớn vào công tác điều tra làm rõ những sai phạm tại Vinalines như lâu nay người ta vẫn thắc mắc về công tác bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng vào vị trí Cục trưởng Cục Hàng hải. Việc bắt được Dương Chí Dũng sẽ có điều kiện để làm rõ hơn trách nhiệm của những người ở chức vụ cao hơn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp trong vụ việc này. Cho nên đối tượng Dương Chí Dũng bị bắt thực sự là một thuận lợi rất lớn. 

Dương Chí Dũng bỏ trốn là có vấn đề ở “mắt xích” nào đó
PV: Trước khi bắt được Dương Chí Dũng có nhiều thông tin cho rằng ông Dương Chí Dũng đã bị sát hại. Theo ông, tại sao lại xuất hiện những thông tin kiểu như thế này?
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Đối với những tin “hỏa mù” kiểu như vậy thì mình phải theo dõi xem đối tượng tung tin đó nhằm mục đích gì. Tôi không muốn nói về vấn đề này và cũng không dự đoán một khía cạnh nào cả vì chưa có cơ sở mà phải căn cứ vào thực tế: Tại sao Dương Chí Dũng lại trốn được? Quan trọng nhất là phải làm rõ vấn đề này.

Lâu nay, dư luận đặt câu hỏi làm cách gì mà Dương Chí Dũng trốn được ngay trước khi cơ quan điều tra thực hiện lệnh bắt. Có lẽ vấn đề đó để sau này khi sự việc được làm sáng tỏ thì các nhà chức trách liên quan sẽ trả lời thỏa đáng với dư luận. Tôi nghĩ rằng có vấn đề ở mắt xích nào đấy cần phải được làm rõ. Áp lực bây giờ là buộc các nhà chức trách phải tìm cho được mắt xích ấy như thế nào.

Bắt được Dương Chí Dũng thì vấn đề ông này bỏ trốn như thế nào cũng sẽ được làm rõ

Nếu làm rõ được vấn đề này thì sẽ đi vào được vấn đề các sai phạm của Dương Chí Dũng. Tất nhiên anh ta phải chịu trách nhiệm rồi nhưng cơ quan cấp trên, những bộ phận phía trên anh ta phải chịu trách nhiệm đến đâu cũng phải được làm rõ.

Nghị quyết của Bộ Chính trị nói rõ rằng, trong vụ Vinalines và Vinashin còn có những vấn đề còn cần phải được điều tra. Như vậy bây giờ bắt được Dương Chí Dũng sẽ là yếu tố quan trọng để Bộ Chính trị kết luận được các vấn đề sai phạm tại Vinalines và Vinashin.

Trong Nghị quyết của Bộ Chính trị đã nêu tới việc giao cho các cơ quan chức năng điều tra làm rõ để có thể đưa ra kết luận cuối cùng một cách nghiêm túc theo đúng tinh thần Nghị quyết TƯ 4: làm rõ trách nhiệm thuộc về ai và tại sao lại để xảy ra như vậy. 

PV: Ông đánh giá như thế nào về những nỗ lực của Bộ Công an cũng như tập thể cán bộ chiến sỹ tham gia truy bắt Dương Chí Dũng?
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Tôi không biết vì sao mà Dương Chí Dũng lại bỏ trốn được. Vấn đề này để các nhà chức trách tiếp tục làm rõ và khi đã bắt được Dương Chí Dũng rồi thì hoàn toàn có thể làm rõ vấn đề này. Đây là thắng lợi của ta.
Nhưng tôi nghĩ, trước áp lực theo tinh thần Nghị quyết TƯ 4, tất cả những vụ việc phải được kết luận rõ và đưa ra trước công luận, Bộ Chính trị mới có căn cứ để ra kết luận về trách nhiệm của những người có liên quan.
PV: Thưa ông, ngày 6/9, một tờ báo có đưa thông tin về phong cách làm việc của ông Dương Chí Dũng ngày còn làm Chủ tịch HĐTV của Vinalines thể hiện một sự thiếu trách nhiệm rất lớn…
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Một thông tin từ một tờ báo đưa thì đó chỉ là cái để mình theo dõi chứ lấy cái đó mà khẳng định đó là một vấn đề đúng hay không đúng để rồi đưa ra một quyết định hay một ý kiến thì tôi nghĩ là chưa nên.

Nhưng rõ ràng khi đã bắt được Dương Chí Dũng rồi thì sau này tình hình như thế nào chúng ta sẽ sớm được biết, kể cả tác phong làm việc của ông này khi còn ở Vinalines. Tuy nhiên, nếu bất kỳ ai ở một vị trí ở một cơ quan nhà nước mà làm việc không nghiêm túc, không thể hiện được trách nhiệm thì đều là sai trái và có tội với dân…

Và những hành vi như vậy cần phải được làm rõ, lên án để còn giáo dục đội ngũ cán bộ; nhất là những người được nhà nước và nhân dân giao phó trách nhiệm phục vụ cho tổ chức và cho đất nước.

Công tác cán bộ tổ chức hỏng sẽ gây hậu quả khôn lường
PV: Trong bối cảnh hiện nay, ông có ý kiến gì về công tác bổ nhiệm Dương Chí Dũng? 
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Nghị quyết TƯ 4 có đề cập đến 3 vấn đề lớn: vấn đề suy thoái, công tác tổ chức cán bộ và trách nhiệm cá nhân. Một con người như Dương Chí Dũng mà được đưa vào vị trí lãnh đạo cao thì hoàn toàn không đúng quy trình về công tác cán bộ. Hai yếu tố là đưa những người không có năng lực hoặc là lúc chọn thì đưa người tốt rồi những sau đó tha hóa dần xét dưới góc độ tổ chức cán bộ đều liên quan đến trách nhiệm trong việc bổ nhiệm người không đúng. Công tác tổ chức cán bộ hỏng vì động cơ vụ lợi, móc ngoặc, lợi ích nhóm… chọn người không tốt vào thì sẽ gây ra hậu quả khôn lường. 
PV: Cho đến thời điểm này, ông đánh giá thế nào về công tác tự kiểm điểm của những cá nhân, tập thể có liên quan đến vụ việc của Dương Chí Dũng khi việc thực hiện Nghị quyết TƯ 4?
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Nhiều ý kiến nêu trước công luận rồi là nhận trách nhiệm mà cuối cùng không hiểu cái trách nhiệm ấy là cái gì cả thì nói như vậy quá dễ. Chính vì cái kiểu nhận trách nhiệm đó cho nên buộc phải có Nghị quyết TƯ 4. Nhận trách nhiệm đó là trách nhiệm như thế nào? Mức độ như thế nào? Tại sao lại để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như vậy? Trách nhiệm đến đâu? Thái độ khắc phục hậu quả như thế nào? Đó mới gọi là có trách nhiệm.

Nếu mà nói theo kiểu đồng chí A mắc lỗi, tôi là cấp trên tôi nhận trách nhiệm về mình rồi thôi thì không thể chấp nhận được. Một câu nói không như vậy thì ai chẳng nói được. Cái khắc phục khuyết điểm mới là cái đích của việc tự phê bình. Việc một số cán bộ nhận trách nhiệm trước Quốc hội rồi để đó là không đúng với tinh thần nghị quyết TƯ 4. Ở nước ngoài, khi cấp dưới có lỗi thì người ta từ chức…

Đinh Đăng Định – Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước (1) – DL

8 Th9

Đinh Đăng Định – Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước (1)

 

Đinh Đăng Định
 
Bản đánh máy từ bản viết tay đã giao cho cơ quan an ninh chính trị nội bộ Daknong ngày 25-10-2010.
 
Dakrlap – Daknong, ngày 25-10-2010.
 

SUY NGHĨ CÁ NHÂN (TÓM TẮT) THỂ THEO YÊU CẦU CỦA CƠ QUAN AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TỈNH DAKNONG 

Do giới hạn hiểu biết về tình hình đất nước, khả năng bản thân, thời gian quá eo hẹp (khoảng 2 ngày) để trình bày những vấn đề lớn tầm quốc gia quả là không thể đối với một giáo viên hóa học THPT là tôi trong bối cảnh này. Với tinh thần hợp tác tôi cố gắng trình bày tóm lược những suy nghĩ của mình về các vấn đề sau đây, theo yêu cầu của Cơ quan An Ninh Chính Trị Nội Bộ Daknong.

  1. Bô xít Tây Nguyên,
  2. Hiện tình xã hội Việt Nam,
  3. Dân chủ – đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam,
  4. Điều 4 – Hiến pháp (1992),
  5. Phi chính trị hóa quân đội, công an, giáo dục-đào tạo.

VÀI NÉT ĐẠI CƯƠNG

Việt Nam hiện nay có dân số khá đông, khoảng 86 triệu (chưa kể số người Việt hải ngoại), những con người cần mẫn, giàu lòng vị tha; đất nước ở địa lý thuận lợi; có tiềm năng của một nước lớn và giàu có, giữ địa vị quan trọng trên thế giới.

Dù vậy, chúng ta (VN) cho đến nay vẫn là một quốc gia gia nghèo nàn, lạc hậu tốp cuối của thế giới. Mâu thuẫn đau lòng đó là câu hỏi thường trực trong lòng mỗi con dân nước Việt trước một tương lai chưa hứa hẹn ở thế kỷ 21.

Những chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển của các dân tộc là hậu quả của điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là cách thức tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội tốt hay xấu có thể làm thay đổi hẳn số phận của một đất nước, một dân tộc. Thế giới đã chứng kiến nhiều quốc gia mặc dù đất đai ít, tài nguyên thiên nhiên nghèo, nhờ có tổ chức xã hội tốt đã vươn lên (Nhật Bản là ví dụ rất gần với Việt Nam); bên cạnh đó nhiều quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, sau nhiều chục năm xây dựng vẫn quằn quại trong nghèo đói, đồng hành với tài nguyên cạn kiệt…Chúng ta càng ý thức được việc tổ chức xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng như thế nào khi so sánh lợi tức của người Nhật gấp tới hơn 40 lần người Việt (đây mới chỉ là con số về GDP!). Sự thua kém, tủi hổ này buộc người VN phải tự suy xét về bản thân mình, tìm lối đi cho mình, cho phép ta tin rằng nếu tổ chức lại giang sơn đất nước một cách khoa học, hiệu quả thì người Việt Nam chúng ta chắc chắn sẽ thoát khỏi nghèo hèn (gồm cả đói ở một bộ phận mỗi khi có thiên tai giáng xuống vùng đó) hiện nay và đủ sức vươn lên.

Nhưng chúng ta đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội rồi.

Cơ hội lớn nhất là chế độ thực dân sụp đổ sau chiến tranh thế giới II, cơ hội giành độc lập và vươn lên đã bị bỏ lỡ! Nội bộ quốc gia – dân tộc bị chia rẽ sâu sắc, lên án nhau, mạt sát nhau và tiêu diệt nhau khi có cơ hội và tìm mọi cơ hội! Chính nó tạo ra sự rạn nứt trong lòng quốc gia – dân tộc, thật khó có thể hàn gắn. Kết quả cuối cùng là chúng ta thu được chế độ chính trị Cộng Sản Toàn Trị (độc tài, đảng trị) cho đến tận bây giờ! Trong khi đó, các dân tộc khác dù tốn rất ít xương máu, thậm chí không, cũng đã có độc lập và còn xây dựng xã hội dân chủ từ nhiều chục năm qua. Vì thế mà họ đã bỏ xa chúng ta!

Ngày nay, nhân dân cùng cực và chán ngán chế độ sinh ra chán nản với cả quê hương đất nước mình, đất nước đã kiệt quệ, tụt hậu và bế tắc. Nguy cơ thua kém vĩnh viễn là nguy cơ mất nước trở thành thách thức đang hiện hữu. Nhưng, quốc gia không mang lại hạnh phúc, niềm tự hào và hy vọng vươn lên không sớm thì muộn sẽ bị giải thể theo quy luật đào thải – chọn lọc và phát triển một lẽ tự nhiên.

Con đường thoát khỏi bế tắc để vươn lên là DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN VÀ NHÂN QUYỀN. Dân chủ là động lực phát triển; đa nguyên tự nó tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội làm xã hội càng phong phú và thực hiện hòa giải dân tộc sau những xung đột đẫm máu; nhân quyền phát huy sinh lực, nguồn lực, sáng kiến và ý kiến mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc và đặc biệt là tôn vinh con người.

Nhìn lại, nguyên nhân dẫn đến những rạn nứt mà nước ta phải gánh chịu chính là vì chúng ta không đầu tư đủ tư duy để nhận diện những vấn đề trọng đại đặt ra cho mình và tìm hướng giải quyết. Chúng ta thiếu hẳn một DỰ ÁN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của đất nước. Cuối cùng người đồng bào, con lạc cháu hồng đã tàn sát lẫn nhau vì ý thức hệ không phải của mình mà sự tàn sát còn đẫm máu hơn, bảo vệ say sưa hơn ở các dân tộc khởi xướng ra nó, thảm bại thay!

Bài học đau đớn đó, dứt khoát chúng ta từ bỏ đầu óc độc quyền lẽ phải, tôn trọng sự khác biệt, đối thoại, thảo luận và thỏa hiệp trong tinh tần tương kính với thái độ lương thiện, xây dựng từ nhận thức rằng người VN rang buộc trong một than phận chung rằng, nếu đất nước giàu mạnh, cuộc sống khá hơn và tất cả chúng ta được kính trọng; ngược lại nếu đất nước ta nghèo nàn, lạc hậu, đói khổ tất cả chúng ta đều bị coi thường bất kể ta thuộc xuất xứ tôn giáo nào, đảng phái chính trị nào hay theo chủ nghĩa gì. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, điều tốt nhất cho một người cũng là điều tốt nhất cho mọi người và ngược lại.

I. VẤN ĐỀ BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN

Tôi hoàn toàn ủng hộ bản kiến nghị được khởi thảo bởi các nhà trí thức yêu nước và tinh hoa của đất nước, gồm 10 chữ kỹ khởi thảo của các thành viên IDS (cũ) và nhóm BVN đã loan tải trên BVN, tuanvietnam.net… Trong bản văn này tôi không viết thêm nữa.

Tôi đã ký ở số thứ tự 629.

II. HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

Nổi lên trên hết vấn đề hệ trọng nhất của xã hội VN hiện nay là SỰ BẤT CẬP, theo nhà giáo lão thành Phạm Toàn ở Hà Nội, một thành viên của BVN. Gồm:

  1. Bất cập về hiểu biết. Tầng lớp trí thức trong nước hiện nay hoàn toàn lạc hậu không biết làm gì cho Tổ Quốc sống lại dẫn đến bất cập về tổ chức đất nước nên có tổ chức mà KHÔNG hiệu quả mọi mặt.
  2. Bất cập về luật pháp. Luật gốc là hiến pháp đầy bất cập, đang đòi hỏi phải làm lại. Các bộ luật trong khi thực hành đều gặp mâu thuẫn hoặc sai hoặc không đầy đủ. Nếu có luật nào đúng thì cũng không thực thi đầy đủ do hệ thống quan chức tòa án, công chức hành chính đã bất cập sẵn…
  3. Bất cập về trình độ văn hóa tối thiểu của một dân tộc trong một thời đại văn minh dẫn tới bất cập về tâm lý sẵn sàng xây dựng Tổ Quốc rạng rỡ, thể hiện ở sự vô cảm của mọi người, thiếu trách nhiệm với chính mình, bản chất con người đang bị lưu manh hóa theo cách cynical của quan chức chỉ giỏi nói- mà nói cũng không giỏi – sểnh ra là hối lộ, chạy chọt, đút lót, luồn lách! Trách nhiệm công dân bị lột bỏ.

Với ba bất cập này, xã hội VN hiện tại rơi vào tình trạng mất dần kiểm soát, mạnh ai nấy giành từ quan tới dân đều hối hả vội vã vơ vét về như là ngày mai không còn sống để vơ vét nữa, rõ nhất là các tấm gương của hệ thống quan chức tham nhũng mà hàng ngày các báo “lề phải” cũng không thể che dấu!

Trước hiện tình xã hội VN đang rối ren, bất cập, hậu quả thật khôn lường thể hiện trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc gia bị đe dọa từ nhiều phía; đạo đức xã hội, đạo lý băng hoại. Tôi hoàn toàn đồng ý với kiến nghị (nếu được) của nhà giáo Phạm Toàn để giải thoát tình hình đất nước hiện nay.

Nếu có một Hội Nghị Quốc Gia – Đồng Bào, như Hội Nghị Diên Hồng để hòa giải – hòa hợp dân tộc, sẽ trình kiến nghị:

  1. Thành lập hội đồng luật pháp viết lại Hiến Pháp cho 100 đến 1000 năm của nước Việt tương lai xây dựng Tổ Quốc mà không cần thay đổi hay sửa chữa nhiều, đủ sức trưng cầu ý dân cả nước.
  2. Thành lập ở các cấp, các ngành… mỗi hội đồng kiểm điểm công khai có trách nhiệm báo cáo công khai mọi ưu khuyết điểm của các tổ chức, mọi tầng lớp nhân dân đều biết, đều nghe trong khoảng thời gian chí ít là từ 30-4-1975 đến nay.
  3. Thành lập Hội Đồng Quốc Gia về kinh tế, nghiên cứu và đưa ra đường lối phát triển kinh tế đất nước, sao cho đảm bảo chắc chắn rằng: Người học ở bậc phổ thông(trước hết) không mất tiền; người bệnh đến bệnh viện không mất tiền ở hệ thống công lập, nhà nước quản trị.

III. DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG CHO VN

Trước hết xin trích phát biểu gần đây của ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc:

Dân chủ và tự do là khát khao và ý chí của nhân dân không gì có thể ngăn cản. Kẻ đi theo thời đại sẽ phát triển; kẻ đi ngược thời đại bị đào thải” (hết trích).

Tự do dân chủ là giá trị căn bản mà loài người tranh đấu với thiên nhiên, với chính mình trải hàng ngàn năm mới có được. Dân chủ nhất quyết không thể do ai ban phát.

Tổng thống lập quốc của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ngài Thomas Jefferson nói: “Chính phủ lập ra không phải để ban phát tự do, mà để bảo vệ nó”. Tình trạng không có tự do dân chủ ở VN thể hiện: Luật báo chí không cho phép tư nhân ra báo. Rõ ràng vi hiến. Các-Mác ông tổ của học thuyết CNXH và CNCS nói: “Đối lập với báo chí tự do là báo chí bị kiểm duyệt”; ông còn nói báo chí bị kiểm duyệt là ”con quái vật được văn minh hóa, cái quái thai được tắm nước hoa”.

Điều 19 công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,(1966 của LHQ, VN ký công nhận 1982) viết rằng:

  1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm chính trị của mình mà không ai có quyền can thiệp vào.
  2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền như: truyền miệng, viết, in… hay các phương tiện truyền thông khác tùy theo sự lựa chọn.

Điều 69 – Hiến Pháp 1992 nước CHXHCNVN thừa nhận tự do ngôn luận,tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do lập hội,đoàn… theo quy định luật pháp.

Luật báo chí đã vi hiến và đi ngược với giá trị tự do dân chủ căn bản; luật biểu tình không có chứng tỏ nhà nước CHXHCNVN vi phạm chính hiến pháp mà mình làm ra.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn nói: ”Kiên quyết không tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và để cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng gây tổn hại cho đất nước”.

Thực tế, chế độ chính trị VN đã chống lại các giá trị nhân bản tự do dân chủ xét trên phương diện báo chí là sự thật không thể bác bỏ!

Thực tế không thể chứng minh được tự do báo chí, báo chí tư nhân gây tổn hại cho đất nước. Rằng, bất kỳ hành vi nào gây tổn hại cho đất nước đều không thể dung tha cho dù xuất phát từ cá nhân, tập thể, hay đảng phái chính trị nào kể cả là đảng cầm quyền. Người ta – những người cộng sản đang cầm quyền ở đất đất nước VN này đã quên rằng, chính lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng cộng sản VN của họ đã nói rằng: “dân chủ là để cho người dân được mở mồm nói”. Ông muốn nói tới con người dân cụ thể, chứ không phải đại từ nhân dân chung chung. Chỗ để nói có văn hóa chính là báo chí.

Nhà văn, triết gia Pháp Voltaire(1694-1778) từng nói (đại ý): Tôi không tin những điều anh nói, nhưng tôi sẵn sàng hy sinh bảo vệ quyền anh được nói. Vâng, thật sự là văn hóa của xã hội có tự do ngôn luận.

Cần phải nói thêm rằng, từ 1936 – 1938 tờ Dân Chúng (báo cộng sản) và 11 tờ báo tư nhân khác đều tán thành tự do dân chủ và đòi ân xá các chính trị phạm ở Đông Dương. Chẳng lẽ ngày nay, chế độ chính trị cộng sản lại kiểm soát đồng bào mình gay gắt hơn cả bọn thực dân Pháp hay sao? Nguy cho dân tộc quá!

Lịch sử sự sụp đổ các chế độ chính trị độc tài ở Đông Âu là bài học máu thịt cho ĐCS, thiết nghĩ các đảng viên cao cấp của ĐCS VN và ban lãnh đạo cần rút tỉa bài học là: vì đảng hay vì quốc gia – dân tộc. Cuộc sống đã và đang đặt ra một đòi hỏi chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên mà hệ quả hiển nhiên là đa đảng chính trị như một tất yếu của lịch sử để giải quyết các vấn đề có tính quyết định của đất nước hiện tại và mai sau.

Dân Chủ – Đa Nguyên với nền tảng là tư tưởng đa nguyên, chủ nghĩa đa nguyên. Nó tiếp nhận, chứa đựng mọi sự khác biệt về ý thức, ý thức hệ càng gia tăng tính phong phú cho xã hội, xã hội càng giàu có về văn hóa.

Trong môi trường xã hội dân chủ – đa nguyên, các đảng phái sẽ cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển thân thiện, thay vì cạnh tranh kiểu “địch ta”, tiêu diệt đẫm máu như từng xảy ra trong lịch sử hơn 60 năm qua; sẽ là thảo luận, đối thoại tiến tới đồng thuận quốc gia trên những nét chung nhất: hiến pháp, luật pháp, an ninh quốc gia, an sinh xã hội… Đặc biệt và đương nhiên là loại trừ các yếu tố bạo lực tận gốc rễ xã hội – đạo lý.

Các tầng lớp xã hội cùng nhau tham gia thảo luận tích cực và tự giác, đóng góp ý kiến cho một xã hội thăng tiến, chống tụt hậu. Nước ta hiện là một trong các nước nghèo nhất thế giới, lạc hậu cả về văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, kinh tế và quốc phòng…

Trong chế độ chính trị độc đảng hiện nay, các thành viên tham gia làm chính trị chủ lả tìm kiếm danh lợi cá nhân và phe nhóm (cronny) bằng cố gắng cá nhân và phe nhóm kể cả là luồn lách, các thủ đoạn chính trị hèn mạt (giăng bẫy, ngụy tạo nhân cách…). Lẽ ra, làm chính trị là bổn phận đạo lý của công dân. Chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên nhất định tháo bỏ văn hóa chính trị bệnh hoạn này; không thể xây dựng gì cho xã hội với những cá nhân, phe nhóm với đầy ắp tham vọng ích kỷ, bản vị này.

Nền chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên là nơi hội tụ của Quốc Gia – Dân Tộc với quyết tâm đánh bại mọi sự tồi, dở, gian ác, tham lam, tàn bạo, lưu manh… để thay đổi phương thức tổ chức xã hội với mục tiêu tôn vinh con người và phẩm giá con người đem lại phúc lợi tối đa cho con người. Lương tri dân tộc thôi thúc không ngừng nghỉ cuộc đấu tranh về Dân Chủ – Đa Nguyên cho nước nhà, cho dù vô cùng khó khăn nhưng, sẽ gặp vô cùng thuận lợi nếu ban lãnh đạo ĐCS hiện thời nhận thức rằng Quốc Gia – Dân Tộc phải được hưởng phúc, chế độ Dân Chủ – Đa Nguyên là sản phẩm của xã hội văn minh được nhân loại đem tới. Với sự hợp tác của ĐCS VN đứng đầu là Ban chấp hành Trung Ương và Bộ Chính Trị, dân tộc ta sẽ hân hoan bắt tay nhau trong tình nhân ái cùng làm lại một nước VN đã tan hoang, tàn tệ sau nhiều chục năm bị tàn phá bởi chiến tranh và cả hòa bình làm cho đất nước tụt hậu toàn diện, để tránh cho đất nước ta một lần nữa rơi vào tình trạng vô chính phủ thậm chí thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng chế độ độc tài khác đều nguy khốn cho Quốc Gia – Dân Tộc.

Dân Chủ – Đa Nguyên không thuần thúy chỉ là ứng cử, bầu cử tự do hay tam quyền phân lập giản dị mà là thành quả của dòng tư tưởng mãnh liệt phát xuất từ quá khứ chảy tới tương lai. Cuộc đấu tranh thay thế chế độ độc tài đảng trị cộng sản hiện nay bằng chế độ dân chủ đa nguyên là cuộc cách mạng tư tưởng vĩ đại nhất kể từ xưa mà nó nhất định phải xuất hiện, có thật trên đất nước VN thân yêu của chúng ta. Đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã thật kém may mắn, bất hạnh vì đã thuộc quyền lãnh đạo, cai trị toàn trị của ĐCS VN.

Nhưng, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” (lời cổ nhân). Lịch sử dân rộc ta tuy đau thương vô cùng nhưng, dân tộc ta khoan dung độ lượng vô cùng, chấp nhập mọi quá khứ chính trị, văn hóa, tư tưởng và lịch sử. Tư tưởng Dân Chủ – Đa Nguyên và những con người Dân Chủ VN đã có, còn có ở ngay trong các đảng viên cao cấp của ĐCS VN. Tôi rất hy vọng cuộc hợp tác vĩ đại của Dân Chủ và Cộng Sản, của Dân Tộc VN và ĐCS VN sẽ thành công để cùng ngồi vào bàn ĐẠI HỘI QUỐC GIA – DÂN TỘC bàn thảo làm lại giang sơn xã tắc (mượn ý của ông Nguyễn Trung, một trí thức yêu nước).

Cá nhân tôi sẵn sàng đóng góp cho cuộc chuyển hóa về Dân Chủ cho nước Việt thân yêu với điều kiện tiên quyết loại trừ các yếu tố bạo lực, bạo động trong tất thảy các sinh hoạt chính trị, văn hóa xã hội để hạn chế tối đa những đổ vỡ đáng tiếc cho đất nước. Kiên quyết không để có KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC.

Tổng thống Obama bênh vực chính sách về Trung Quốc – VOA

8 Th9

Tổng thống Obama bênh vực chính sách về Trung Quốc

 
Tổng thống Obama đọc diễn văn tại Đại hội Đảng Dân chủ, ở Charlotte, tiểu bang North Carolina, 6/9/12
 
Tin liên hệ
 
 Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã bênh vực chính sách đối với Trung Quốc của chính quyền ông và nêu nghi vấn về chính sách đối ngoại khả tín của đối thủ chính trị Mitt Romey khi ông nhận sự đề cử của đảng Dân chủ tối hôm qua.
 
Ông Obama, một thành viên đảng Dân chủ, tuyên bố chính quyền của ông chống lại điều mà ông gọi là các hoạt động thương mại bất công của Trung Quốc.

Bài diễn văn của ông cũng kêu gọi hồi phục lại việc giao tiếp trong khu vực Á châu-Thái bình dương:
 
“Trên khắp thế giới, chúng ta đã tăng cường liên kết và thành lập các liên minh mới để chận đứng việc phổ biến lan tràn của vũ khí hạt nhân. Chúng ta đã tái khẳng định sức mạnh khắp Thái bình dương và đã nhân danh các công nhân của chúng ta chống lại Trung Quốc.”
 
Trong bài diễn văn ông Obama đã bốn lần đề cập đến Trung Quốc.
 
Cả hai ứng cử viên đều cam kết có thái độ cứng rắn hơn với Trung Quốc.
 
Trung Quốc đã trở thành một đề tài nổi bật trong cuộc vận động. Ông Romney cáo buộc là Tổng thống tỏ ra  yếu đuối về vấn đề Trung Quốc, để cho họ “lường gạt” qua việc đánh cắp tài sản trí thức, hạ thấp chỉ tệ và trợ giá bất hợp lệ cho các công ty của nước họ.

Người đứng chung liên danh với ông Romney là ông Paul Ryan từng tuyên bố Trung Quốc coi ông Obama như một “tấm thảm chùi chân.”

Mặc dầu ông Obama cũng đã cam kết có hành  động quyết liệt về vấn đề Trung Quốc, ông Obama chưa gán cho nước này là nước thao túng tiền tệ, và ông Romney nói đó là điều ông sẽ làm ngay ngày đầu nhậm chức.

Nhưng Tổng thống đã cực lực chỉ trích các chính sách kinh tế của Trung Quốc và đã đưa ra một loạt các khiếu nại quan trọng khiến Trung Quốc phẫn nộ.
 
Ông Obama chỉ trích thành tích về an ninh quốc gia của ông Romney
 
Trong suốt cuộc vận động, Tổng thống Obama đã tìm cách mô tả ông Romney là không có đủ kinh nghiệm về chính sách đối ngoại:
 
“Ðối thủ của tôi và người ra tranh cử cùng liên danh xa lạ với chính sách đối ngoại. Nhưng qua tất cả những gì chúng ta đã nghe và thấy được, họ muốn đưa chúng ta trở lại một thời kỳ đầy đe dọa và sai lầm mà chúng ta đã phải trả một cái giá  đắt. Quý vị có thể chưa sẵn sàng về các chính sách ngoại giao với Trung Quốc nếu quý vị không đến tham dự Olympics mà không xúc phạm đồng minh thân cận nhất của chúng ta.”
 
Ông Kerry chế nhạo chuyến thăm nước ngoài của ông Romney
 
Tổng thống đề cập tới chuyến thăm Âu châu và Israel  vừa qua của ông Romey, nơi ông đã làm mích lòng các nhà lãnh đạo Anh khi tỏ ý nghi ngờ liệu London có chuẩn bị sẵn sàng để đăng cai Thế vận hội Olympic hay không.
 
Cựu ứng cử viên Tổng  thống của  đảng Dân chủ John Kerry cũng chế nhạo chuyến du hành của ông Romney trong bài diễn văn trước đó hôm qua tại đại hội của đảng dân chủ.

Ông Kerry gọi đó là một “chuỗi sai lầm” và nói các triển vọng về một nhiệm kỳ của Tổng thống Romney đã gây hoang mang và sự xa lánh trong các đồng minh của Hoa Kỳ trên khắp thế giới.

Bước “nhảy” thứ hai của Trung Quốc ở Trường Sa – BVB

8 Th9

 Bước “nhảy” thứ hai của Trung Quốc ở Trường Sa

 Bvbqd – Cách đây 39 tháng, Web Báo mới post đăng bài “Chuyên gia Trung quốc kiến nghị về việc 5 nước, một bên, cùng tổ chức khai thác tài nguyên biển Đông-Trường Sa”. Nhưng không hiểu sao, click vào Xem tin gốc lại không thấy trên web Đảng Cộng sản nữa, (hình như) bài này trên trang web Đảng Cộng sản  đã bị bóc đi, hoặc mạng qua máy của tôi có vấn đề kỹ thuật?
 
          Nghe nói Đảng CS (con sói) Trung Quốc đã đưa vào dự thảo NQ Đại hội 18: Tăng cường thúc đẩy quan hệ với các nước trong khu vực “cùng khai thác biển Đông”…Thực chất, chẳng ai còn lạ gì cái trò mồi chài “cùng khai thác” ở đây là con bài trong chiến lược thâm hiểm “Ba bước lấn tới” của nhà cầm quyền Trung Nam Hải. Xem LINK này:
 http://webwarper.net/ww/~av/buivanbong.blogspot.com/2012/06/chien-luoc-3-buoc-lan-toi-cua-trung-quoc.html
> Vùng biển-đảo đang yên lành, Trung Quốc cố tình gây tranh chấp với các nước, sau đó khi tranh chấp lên đến độ căng thẳng thì “gác tranh chấp cùng khai thác”, cuối cùng là sự bắt chước bài “sói gửi chân”, chiếm luôn.
            Bài sau đây còn đăng trên Báo mới:

Chuyên gia Trung quốc kiến nghị về việc 5 nước, một bên cùng tổ chức khai thác tài nguyên biển Đông-Trường Sa

(ĐCSVN) – Ngày 21/8/2009, bảo Điện tử Hải quân Trung Quốc đăng bài viết ”Cùng tổ chức khai thác tài nguyên khu vực biển Nam Sa” (Trường Sa) của Phó Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Chiến lược quốc tế thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc Tiết Lực.
           Theo chuyên gia Tiết Lực, cho đến nay, Trung Quốc chưa hình thành được chiến lược biển nên vẫn tỏ ra chần chừ trong việc thăm dò, khai thác tài nguyên ở biển Đông.
            Sở dĩ Trung Quốc còn do dự trong thăm dò, khai thác tài nguyên tại biển Đông bởi các nguyên nhân sau: (1) Biển Đông là một trong những vẫn đề có liên quan đến nhiều nước trong khối ASEAN, dó đó, Trung Quốc cần phải thận trọng xem xét vấn đề này trong khung quan hệ tổng thể và song phương; (2) Chiến lược biển của Trung Quốc còn chưa rõ ràng, chưa xác định rõ Trung Quốc sẽ phải làm gì tiếp theo. Chiến lược biển ”ném đá dò sông” của Trung Quốc đã tạo ra nhiêu vấn đề phức tạp trong quan hệ với các nước; (3) Khả năng khai thác biển của Trung Quốc còn yếu kém trong khi đó, các nước phương Tây luôn dẫn đầu về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực khai thác khoáng sản ở khu vực biển sâu. Hiện nay, Trung Quốc mới chỉ đủ khả năng khai thác tài nguyên biển gần bờ, nếu khu vực biển có độ sâu vượt quá 3.000 m thì kỹ thuật của Trung Quốc không có khả năng vươn tới.
             Tranh chấp biển Đông – Trường Sa cần có khung giải quyết nhiều bên, tuy nhiên, Trung Quốc phải tự tìm con đường riêng để có những bước đi ”đột phá” trong tiến trình thăm dò, khai thác ở biển Đông.
 
           Theo ông Tiết Lực, Trung Quốc cần có ý tưởng cùng nhau tổ chức khai thác tài nguyên” tại khu vực biển đang tranh chấp cho các bên liên quan. Vấn đề trọng tâm của quan điểm này là: thứ nhất, Trung Quốc chưa đủ khả năng thì tạm dừng lại; thứ hai, Trung Quốc cần phải tham gia vào khai thác; thứ ba, trong khi khai thác, Trung Quốc cần phải tận dụng cơ hội “cùng có lợi” và nếu các nước khác không muốn có kết quả cùng có lợi thì Trung Quốc phải tự chủ động.
           Tại khu vực biển Hoàng Sa, Đông Sa, Trung Sa chỉ liên quan đến 2 nước và 1 bên, còn khu vực biển Trường Sa lại liên quan đến 5 nước, l bên. Cùng với việc năm 1994, khối ASEAN đã tuyên bố ”sẽ không lấy danh nghĩa song phương, mà lấy danh nghĩa tập thể để tiến hành (đàm phán về vấn đề Trường Sa”, việc Trung Quốc xem xét đến phương án giải quyết trong khung đa bên tham gia vào tổ chức cùng nhau khai thác tài nguyên tại Trường Sa là phù hợp.
          Về tính khả thi của ý tưởng, xét từ thực tế, nguyên tắc xác định biên giới biển còn có nhiều chỗ không thống nhất, nên các nước đều có thể đưa ra lý do hay chứng cứ khẳng định chủ quyền. Khu vực phức tạp nhất biển Đông là khu vực Trường Sa (có những nơi tồn tại tới 6 đường biên giới các nước chồng lên nhau). Do đó, đây là các bên cần tiến hành tổ chức cùng nhau khai thác theo hướng cùng có lợi. Trước mắt, tìm vài địa điểm thích hợp ở khu vực Trường Sa để tiến hành thăm dò, khai thác mang tính thử nghiệm. Nếu có dầu, khí thì sẽ tiến hành phân chia lợi ích cho các bên liên quan. Ngược lại, nếu các nước liên quan không đồng ý, Trung Quốc sẽ tự làm lấy. Tuy nhiên, xét về khả năng thực tế hiện nay, Trung Quốc cũng chỉ có thể tiến hành các cuộc thăm dò mang tính sơ lược khu vực nước sâu.
           Theo ông Tiết Lực, mặc dù vấn đề biển Đông hiện nay không thể giải quyết bằng vũ lực, nhưng Trung Quốc vẫn phải có một lực lượng quân sự đủ mạnh để có thể giải quyết tranh chấp khi cần thiết, đặc biệt trong tình huống Trung Quốc tự tiến hành khai thác dầu, khí tại khu vực Trường Sa.
——————
—————————–
 
> Post bài này lên, 24h22′ ngày 7-9 mày mò trên mạng lại thấy bài này trên VnE (khi đó BVB không theo dõi), đăng từ ngày 1-10-2009, nay post lên để bạn đọc tham khảo, dù sao cũng phải nhận diện cho rõ ‘bước nhảy’ thứ 2, kiểu “sói gửi chân” của TQ mà nâng cao cảnh giác, đừng vội tin những gì TQ nói:
 
Kỷ luật Tổng biên tập
báo điện tử Đảng Cộng sản
 
Ồng Đào Duy Quát. Ảnh: Hanoitv
 
         Ban Tuyên giáo Trung ương vừa quyết định kỷ luật “khiển trách” ông Đào Duy Quát, Tổng biên tập báo điện tử Đảng Cộng sản VN do báo này có sai phạm khi đăng tin dịch liên quan đến Hải quân Trung Quốc diễn tập tại biển Đông.
 
           Trong quyết định ký ngày 29/9 Ban Tuyên giáo cũng áp dụng kỷ luật mức khiển trách đối với tập thể Ban biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản, đồng thời chỉ đạo lãnh đạo báo này căn cứ theo quy định hiện hành để xử lý thích đáng biên tập viên và kỹ thuật viên liên quan trực tiếp tới sai phạm trên.
           Quyết định này được đưa ra 25 ngày sau khi bản tin “Hải quân Trung Quốc diễn tập tại biển Đông” (dịch từ báo Hoàn Cầu và Phượng Hoàng của Trung Quốc) được xuất bản trên báo điện tử Đảng Cộng sản (ngày 4/9).
           Việc đăng bản tin này được khẳng định là không phù hợp với lợi ích của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền trên biển Đông. Sai phạm này được đánh giá là “nghiêm trọng”.
          15 ngày sau khi đăng tin dịch trên, ngày 19/9, Ban biên tập báo điện tử Đảng Cộng sản VN cũng đã chính thức có lời xin lỗi độc giả và thừa nhận: “Việc đăng tin này là một sai lầm, đã gây hậu quả đáng tiếc, tạo bức xúc với nhiều bạn đọc”.
           Trước đó, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã ra quyết định xử phạt hành chính cơ quan này 30 triệu đồng.
           Trên báo Tuổi Trẻ ngày 29/9, ông Đào Duy Quát cho rằng việc đưa bản tin đó là để “cảnh báo một hoạt động, một mưu đồ”… Theo ông Quát, bản tin ban đầu có thêm chữ “ngang ngược” vào cụm “phó tư lệnh tuyên bố” nhưng sau khi xuất bản, người đánh máy không đưa vào dẫn đến việc hiểu sai lệch thông tin.
           “Đây là lỗi về kỹ thuật nghiệp vụ dẫn đến tai nạn… Tất nhiên, trước tác hại này thì phải chịu hình thức kỷ luật thôi”, ông Quát trả lời Tuổi trẻ.
 
Nguyễn Hưng (VnE)

SƯU TẬP CÁC BẢN ĐỒ NAM HẢI CỔ – BS

8 Th9

Một blog tiếng Trung về lịch sử, khoa học, âm nhạc

SƯU TẬP CÁC BẢN ĐỒ NAM HẢI CỔ

Tác giả:  Nibelungen . Ốc nho (tên theo bản gốc: 尼伯龙根·蜗藤) *

Người dịch:  Quốc Thanh

Đây là sưu tập các tấm bản đồ Nam Hải cổ thu thập được từ các kho dữ liệu thư viện, bản đồ, hết sức có giá trị sử liệu. Là hồ sơ cần có để nghiên cứu Nam Hải
I.  MẤY TẤM BẢN ĐỒ NAM HẢI CỔ CỦA PHƯƠNG TÂY (1662-1774)

Bản đồ 1:  Năm 1662

http://www.atlasofmutualheritage.nl/detail.aspx?page=dafb&lang=en&id=5908

Bản đồ 2: Năm 1665-1668

http://www.atlasofmutualheritage.nl/detail.aspx?page=dafb&lang=en&id=5937

Bản đồ 3: Năm 1686

http://www.atlasofmutualheritage.nl/detail.aspx?page=dafb&lang=en&id=6093

Bản đồ 4:  Năm 1700-1800

http://www.atlasofmutualheritage.nl/detail.aspx?page=dafb&lang=en&id=4833

Bản đồ 5:  Năm 1724, khu vực Nam Hải trên bản đồ thế giới

http://www.atlasofmutualheritage.nl/detail.aspx?page=dafb&lang=en&id=5654

Bản đồ 6:  Năm 1747

http://www.atlasofmutualheritage.nl/detail.aspx?page=dafb&lang=en&id=6386

Bản đồ 7:  Một tấm bản đồ năm 1747 khác

http://www.atlasofmutualheritage.nl/detail.aspx?page=dafb&lang=en&id=6329

 

* Xem thêm cùng tác giả:  + 1175. Xem xét quá trình quy thuộc Nam Hải (Biển Đông) qua các bản đồ từ cuối đời nhà Thanh đến (Trung Hoa) Dân quốc (Phần 1); + 1176. Xem xét quá trình quy thuộc Nam Hải (Biển Đông) qua các bản đồ từ cuối đời nhà Thanh đến Trung Hoa Dân quốc – Phần 21177.Xem xét quá trình quy thuộc Nam Hải (Biển Đông) qua các bản đồ từ cuối đời nhà Thanh đến (Trung Hoa) Dân quốc – Phần 31183. TÂY SA VÀ NAM SA SAU NĂM 1956 + 1197. QUAN HỆ KẾ THỪA CHỦ QUYỀN CỦA CÁC QUỐC GIA CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NAM HẢI TỪ THỜI CẬN ĐẠI ĐẾN NAY1237. VÌ SAO TÔI NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ NAM HẢI.

Bắt Trưởng Văn phòng Công ty đầu tư Sài Gòn ở HN – VNN

8 Th9

Bắt Trưởng Văn phòng Công ty đầu tư Sài Gòn ở HN

Chiều 7/9, Cơ quan An ninh điều tra thuộc Bộ Công an đã thực hiện Lệnh bắt khẩn cấp, ra lệnh tạm giữ đối với Nguyễn Duy Hưng, sinh ngày 12/7/1975, Trưởng Văn phòng đại diện Công ty Cổ phần đầu tư Sài Gòn tại Hà Nội về hành vi “Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước” theo Điều 263 – Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Duy Hưng trú tại phòng 205 A2, Khu tập thể thảm may, số 155 Đặng Tiến Đông, tổ 20B Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội.

Chiều cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra thuộc Bộ Công an đã thực hiện Lệnh bắt khẩn cấp, ra lệnh tạm giữ đối với Nguyễn Thị Bích Trang, sinh ngày 2/7/1977, nhân viên hành chính Công ty Cổ phần đầu tư và công nghiệp Tân Tạo, về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 – Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Thị Bích Trang hiện trú tại số 125/51A Âu Dương Lân, phường 2, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các cơ quan chức năng đang điều tra kết luận để xử lý theo quy định pháp luật.

(Theo TTXVN)

Giữa TQ, Thủ tướng Singapore ca ngợi Mỹ – VNN

8 Th9

Giữa TQ, Thủ tướng Singapore ca ngợi Mỹ

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long cảnh báo Trung Quốc không nên xem Mỹ là một cường quốc đang suy yếu mà là một quốc gia có khả năng đổi mới và nhanh chóng tái tạo.

 
Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long trong cuộc hội đàm với người đồng nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo tại Bắc Kinh. Ảnh: Getty Images

 

Phát biểu tại trường đảng trung ương Trung Quốc, ông Lý Hiển Long cho rằng, Trung Quốc cần cố gắng giải quyết các tranh chấp hàng hải ở Biển Đông thông qua ASEAN hơn là với từng nước.

Ông Lý là con trai của vị lãnh đạo kỳ cựu Lý Quang Diệu, người có công duy trì được mối quan hệ vững mạnh với cả Trung Quốc và Mỹ, cũng như thành công trong việc cân bằng quan hệ giữa quốc đảo nhỏ bé với hai cường quốc lớn, người có quan điểm được đánh giá cao trong tầng lớp quan chức Trung Quốc.

Bằng cách chọn lựa phát biểu tại ngôi trường danh tiếng như trường đảng Trung Quốc, Thủ tướng Singapore đã khiến các quan điểm của ông có thêm sức nặng hơn. Hiệu trưởng trường này là phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình – người được cho là lãnh đạo kế tiếp của Trung Quốc.

Phát biểu của ông Lý Hiển Long bàn về vấn đề vị thế Mỹ trên thế giới – một chủ đề thu hút các học giả, nhà báo Trung Quốc. Trong số họ có rất nhiều người gần đây đã khá chua cay khi nói về các khó khăn ngân sách của Washington, những bế tắc chính trị và về cái mà họ gọi là một cuộc khủng hoảng lòng tin.

“Mỹ hiện phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nhưng không phải là quốc gia đang suy yếu”, Thủ tướng Singapore nói về Mỹ. “Đó là nơi thu hút tài năng từ khắp nơi trên thế giới, trong đó có rất nhiều từ Trung Quốc và phần còn lại của châu Á”. Ông Lý nhấn mạnh: “Tất cả 8 người đoạt giải Nobel trong lĩnh vực khoa học mang gốc gác Trung Quốc đều đã hoặc sau đó trở thành các công dân Mỹ. Chúng ta không bao giờ nên đánh giá thấp Mỹ về khả năng phục hồi và tái tạo”.

Singapore được coi là một vị trí quan trọng cho sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á. Các tàu sân bay và tàu chiến khác của Mỹ sử dụng cảng của Singapore. Năm ngoái, quốc đảo này đã nhất trí một đề nghị của Mỹ cho phép bốn tàu tuần duyên mới sử dụng các cơ sở của họ. Cùng lúc đó, Singapore vẫn duy trì mối quan hệ mạnh mẽ với Bắc Kinh bắt đầu từ chuyến thăm của nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình năm 1978 và gây ấn tượng với người Trung Quốc bằng chính sách quản trị chặt chẽ của ông Lý Quang Diệu kèm theo thịnh vượng kinh tế.

Sự xuất hiện của ông Lý Hiển Long tại trường đảng Trung Quốc diễn ra giữa lúc vấn đề đoàn kết ASEAN trong tranh chấp Biển Đông được đặt ra hơn bao giờ hết. Trong bài phát biểu của mình, ông nói, ASEAN cần “nắm giữ vị trí trung lập, hướng về phía trước và khuyến khích giải pháp hòa bình cho các vấn đề”. Ông nhấn mạnh: “Nếu không, uy tín của ASEAN sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng”. Hơn thế nữa, ASEAN và Trung Quốc nên sớm bắt đầu đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử để giải quyết các xung đột.

Đây cũng là quan điểm mà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đề cập trong chuyến thăm Bắc Kinh tuần này, và cho tới nay vẫn bị Trung Quốc phản đối.

Thái An (theo New York Times)

 

Thế giới 24h: Động đất thảm khốc ở TQ

8 Th9

Thế giới 24h: Động đất thảm khốc ở TQ

Hàn Quốc đề nghị viện trợ lũ lụt khẩn cấp cho Triều Tiên, máy bay chiến đấu của Nga gặp nạn hay động đất khiến ít nhất 64 người ở phía tây nam Trung Quốc thiệt mạng…là những thông tin nổi bật trong 24 giờ qua.

Tin nổi bật:

Một chiếc xe tại Luozehe bị hư hỏng sau trận động đất. (Ảnh: AP)

 

Theo Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ, hai trận động đất mạnh 5,7 độ Richter và 5,6 độ Richter đã lần lượt tấn công vào gần biên giới tỉnh Vân Nam và Quý Châu, trận đầu tiên xảy ra vào 11h19 phút (giờ địa phương) và trận thứ hai xảy ra khoảng 45 phút sau đó,

Khoảng 700 người đã bị thương và 20.000 ngôi nhà tại khu vực miền núi hẻo lánh cách Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam khoảng 350km đã bị hư hại, hãng thông tấn Tân Hoa Xã cho biết.

Hầu hết các nạn nhân đều ở huyện Di Lương, tỉnh Vân Nam, nơi gần tâm chấn của trận động đất có độ sâu khoảng 9km.

Ngay trưa ngày 7/9, các nhà chức trách đã phải sơ tán hơn 100.000 người khỏi khu vực bị ảnh hưởng khi những cơn dư chấn đo được với cường độ 3,2 và 4,4 độ Richter xuất hiện.

Hiện vẫn chưa có báo cáo về số thương vong tại tỉnh Quý Châu.

Những tòa nhà tại các khu vực kém phát triển của Trung Quốc thường được xây dựng không kiên cố, kém chất lượng và dễ bị ảnh hưởng bởi các trận động đất.

Những hình ảnh được đài truyền hình trung ương Trung Quốc phát sóng cho thấy đất đá vương khắp đường phố, những chiếc ô tô bị bỏ lại và cột khói đen bốc lên từ các tòa nhà.

“Khó khăn lớn của đội cứu hộ hiện giờ là giao thông. Những tuyến đường đã bị phong tỏa và họ phải trèo qua các đỉnh núi để tới được một số ngôi làng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất,” Tân Hoa Xã trích lời Li Fuchun, một nhà chức trách đến từ Luozehe, thị trấn nằm ở tâm chấn của trận động đất.

Số người thiệt mạng có thể sẽ tiếp tục tăng khi các nhân viên cứu hộ tới được những ngôi làng bị cô lập bởi sạt lở đất, Tân Hoa Xã cho biết thêm.

Khoảng 10h trưa 7/9 người dân ở các tòa nhà cao tầng tại Hà Nội có cảm giác rung chấn nhẹ do ảnh hưởng của động đất từ Trung Quốc.

Tin đọc 30 giây:

– Ngày 7/9, Bộ Thống nhất Hàn Quốc đã đề nghị gửi viện trợ lũ lụt khẩn cấp cho CHDCND Triều Tiên. Đây là lần xuất viện trợ đầu tiên của Hàn Quốc cho Triều Tiên kể từ sau khi cố chủ tịch Kim Jong-il qua đời vào tháng 12 năm 2011.

– Máy bay tiêm kích thế hệ thứ tư MiG-29 thuộc Không quân Nga đã lao xuống vào một sườn đồi ngoại ô thành phố Chita, Siberia khiến phi công thiệt mạng.

– Các lực lượng an ninh Venezuela đã bắt giam thuyền trưởng người Mỹ của một tàu chở hàng mang cờ Mỹ sau khi phát hiện thấy 3 khẩu súng trường trên tàu tại cảng Maracaibo, phía Tây nước này.

–  Tổ chức Giám sát Nhân quyền Syria (SOHR) ngày 7/9 cho biết cư dân địa phương vừa phát hiện 45 thi thể chưa xác định danh tính ở thị trấn Zamalka và Qatana thuộc ngoại ô thủ đô Damascus.

– Hãng hàng không lớn nhất nước Đức Lufthansa đã phải hủy 2/3 các chuyến bay của mình (khoảng 1.200 chuyến bay) trước cuộc bãi công đòi tăng lương của các nhân viên phi hành đoàn với quy mô lớn kéo dài 24 tiếng đồng hồ.

– Nhà du hành vũ trụ Neil Armstrong, người đầu tiên lên Mặt Trăng, sẽ được chôn cất dưới biển theo tâm nguyện. Được biết, ông đã bắt đầu sự nghiệp của mình như một phi công của hải quân Mỹ.

Thông tin qua ảnh:

Những người lính cứu hỏa và cảnh sát ở Athens, Hy Lạp tự thò đầu vào những chiếc thòng lọng giả bên ngoài tòa nhà quốc hội trong một cuộc biểu tình chống cắt giảm ngân sách. (Ảnh: AP)

 

 

Phát ngôn ấn tượng:

Tổng thống Mỹ Barack Obama (Ảnh: AP)

 

“Tôi không giả bộ rằng con đường mà tôi vạch ra là nhanh chóng hoặc dễ dàng… Các bạn không bầu tôi để nói với các bạn những gì các bạn muốn nghe. Các bạn bầu tôi để nói lên sự thật. Và sự thật là, sẽ mất thêm vài năm để chúng ta giải quyết những thách thức đã được dựng lên trong những thập niên qua,” Tổng thống Mỹ Barack Obama kêu gọi người dân Mỹ kiên nhẫn để đưa nước Mỹ vượt qua những khó khăn trước mắt và ủng hộ cho một nhiệm kỳ tổng thống mới tại hội nghị toàn quốc của Đảng Dân chủ hôm 7/9.

Ngày này năm xưa:

Ngày 8/9/1974, Tổng thống Mỹ Gerald Ford tha thứ cho cựu Tổng thống Richard Nixon vì những tội lỗi mà Nixon đã gây ra trong lúc đương nhiệm. Gerald Ford đã giải thích cho hành động này của mình trước Ủy ban Tư pháp Hạ viện rằng ông muốn chấm dứt sự chia rẽ trong nước do vụ bê bối Watergate gây ra.

Sầm Hoa (Tổng hợp)

%d bloggers like this: