Lưu trữ | 9:45 Chiều

Trần Nhân Tông: Yêu đời và siêu thoát – VHNA

12 Th9

Trần Nhân Tông: Yêu đời và siêu thoát

Vũ Quần Phương

Trần Nhân tông, vị vua thứ ba đời Trần, tên thật là Trần Khâm, sinh năm 1258, mất năm 1308, thọ 50 tuổi lên ngôi năm 21 tuổi (năm 1279), nhường ngôi cho con khi mới 35 tuổi (năm 1293). Ở cương vị thái thượng hoàng, Nhân Tông dành tâm trí nghiên cứu đạo Phật. Năm 40 tuổi, ông mặc áo cà sa đi thuyết pháp, trụ trì ở chùa Báo Ân, Vĩnh Nghiêm, Quỳnh Lâm…khi mất về Yên Tử, ông là người khai sáng ra trường phái Thiền học mang nét riêng của nước ta, Thiền phái Trúc Lâm (rừng trúc) và được coi là vị tổ Thứ nhất.

Nhân Tông là vị vua văn võ toàn tài. Hai lần (1285 và 1288) cầm quân ra trận, đánh lui giặc Nguyên Mông, đem lại thái bình cho đất nước và khi chiến đấu, lúc tu hành đều có một hồn thơ triết học, vừa yêu đời, vừa siêu thoát. Ông chủ trương cư trần (mà) lạc đạo. Cứ ở cõi trần mà vui đạo, và cũng chỉ có thể vui đạo khi gắn lòng mình với mọi lo toan trần thế. Đây là quan điểm tôn giáo sâu sắc và tiến bộ vào bậc nhất, kể cả đối với bây giờ. Quan điểm này do Trần Tung – Tuệ Trung thượng sỹ (bác của Trần Nhân tông) khai sáng. Trần Nhân Tông lĩnh hội và phát triển sáng tạo, đặc biệt ông in nó vào thơ. Biến triết học thành một vấn đề tình cảm, biến tôn giáo thành một nghệ thuật sống đẹp, sâu sắc và linh thiêng.

Trong thơ Trần Nhân tông, âm vang của hai đợt kháng chiến cứu nước chống Nguyên Mông nhiều khi dội lên thành tứ thơ bất ngờ lãng mạn: Xã tắc hai phen (đến cả) ngựa đá cũng mệt nhọc, (Nhưng chính nhờ vậy mà) núi sông nghìn thuở vững chãi. Nguyên văn: “ Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu.” Tương truyền hai câu thơ này viết vào năm 1288, sau chiến thắng Bạch Đằng, khi làm lễ dâng chiến thắng ở lăng vua Thái tông: Chiêu lăng (Thái Bình)- lăng này từng bị giặc Nguyên Mông tàn phá-. Thấy chân ngựa đá lấm bùn, ông vua thi sỹ đã bật ra bài thơ hai câu này. Kháng chiến toàn diện, đến ngựa đá cũng ra trận, trên vó còn lấm bùn chinh chiến. Không biết giai thoại này đúng là xuất xứ của thơ hay thơ làm nẩy sinh giai thoại. Khẩu khí thiên tử nhưng là một thiên tử anh hùng.

Hồn thơ nhà vua mà gắn với cuộc sống với dân với nước là quý lắm, gắn trong gian lao đánh giặc lại còn gắn cả trong những nét đời thường nhật. Nhà vua ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường (Nam Định), nơi phát tích nhà Trần cũng là nơi bàn việc triều chính đương thời, cố nhiên có nhiều cung điện, nhưng trong thơ không có lầu son gác tía chỉ có cảnh quê bình đạm. Cảnh ngắm bằng mắt nhưng tả lại bằng hồn: Sau thôn trước thôn mờ như khói. Bóng chiều dường có lại dường không (Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên. Bán vô bán hữu tịch dương biên). Hai câu kết tâm hồn nhà vua nhập cùng trăm họ, nếm được vị ngọt ngào thanh bình sau chiến tranh: Mục đồng sáo vẳng trâu về hết. Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng…

Giống như nhiều nhà thơ cổ điển, Trần Nhân tông cũng là người mê đắm thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm nơi khám phá tâm hồn. Trong lúc chim hót thư thả trong lùm dương liễu rậm và trên bóng mái nhà mây đang lướt bay, thì Khách đến chẳng bàn chi chuyện thế. Tựa lan can ngắm phía trời xa. Chủ lẫn khách vốn là những nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhưng thiên nhiên đang đẹp thế này thì các thứ quan trọng ấy đều xếp lại, cả hai cùng lặng đi: Cộng ỷ lan can khán thuý vi (Cùng dựa lan can ngắm cái màu xanh mịt mờ phía chân trời). Tư thế tâm hồn cao đẹp, siêu thoát quá. Một lần khác ông viết Vạn sự thuỷ lưu thuỷ. Bách niên tâm ngữ tâm. Ỷ lan hoành ngọc địch. Minh nguyệt mãn hung khâm. (Muôn việc nước trôi nước. Trăm năm lòng nhủ lòng. Tựa hiên nâng sáo ngọc. Đầy ngực ánh trăng trong). Việc đời như nước chảy bàn không cùng, đời người trăm năm tự mình đã hiểu, lòng đủ nói với lòng, cái đáng kể là phút bây giờ biết sống với âm thanh ấy, ánh sáng ấy. Nghe như thơ hiện sinh, nhưng có lý và thương người, khuyên con người biết trân trọng hưởng thụ những năm tháng của đời mình. Vị tổ thứ nhất của dòng Thiền Yên Tử không hề thoát tục, ông tìm thần tiên ngay trong cõi trần gian. Tu thế thì thật sự là một nghệ thuật sống. Bỏ cả ngôi vua để tìm một lối sống. Bản lĩnh các vua Trần, cụ thể là Trần Nhân tông, cho thấy phẩm chất tư tưởng một thời đại.

Bằng thơ, rất ngắn, Trần Nhân tông cho hậu thế chúng ta thấy cả quá trình giác ngộ của ông về đời người: Lúc trẻ khi chưa hiểu lẽ sắc không, xuân đến lòng chỉ nghĩ đến hoa. Ngày nay thì khám phá được xuân rồi. Ta ngồi yên trên nệm cỏ giữa chùa nhìn hoa rụng. Thì ra xuân không chỉ có hoa nở mà hoa rụng cũng là xuân. Cái thanh thản trong thơ Trần Nhân tông là cái thanh thản của sự giác ngộ quy luật thời gian, quy luật đời người, quy luật sống. Lòng ông tĩnh để nhập vào muôn cõi vận động của việc đời. Lấy tĩnh để bao quát động không chỉ là một thủ pháp thơ mà còn là một phương pháp tìm chân lý của Trần Nhân tông (ông ảnh hưởng Trần Tung khá rõ). Không gian đốn ngộ của Trần Nhân tông thường là cảnh tĩnh Dưới bóng đa già cổng chùa im ỉm đóng hoặc Tạnh mây, im gió, lá cây đỏ thưa thớt hoặc Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch. Tu Phật, theo ông,  không phải để tìm giải thoát, ai trói buộc được ta mà ta phải tìm giải thoát. Tìm chân lý là một cách chinh phục tự do. Tu là để tìm tự do, tìm chủ động cho lẽ sống.

Tư chất Trần Nhân tông bộc lộ khá rõ trong một bài thơ nhật ký Đêm mười một tháng hai: Bên giường rồng, rượu quý, nhà vua lại đắm lòng với trăng, với trời, ông nằm mộng ngay trong lúc thức. Chất tâm hồn ấy cắt nghĩa hành động cởi áo triều bào vào tu Tam Bảo của ông. Tu ,với Trần Nhân tông, là đi về luân chuyển giữa mộng và thực, giữa Phật và Đời mà mục đích cũng là để thấu hiếu cõi trần và ứng xử đúng mực với nó.

Thơ Trần Nhân tông rải rác trong các tập Thơ Trần Nhân Tông, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ. Hiện nay, theo các nhà sưu tập thơ Lý Trần, chỉ giữ lại được 31 bài thơ của ông, trong đó đến gần chục bài thơ về mùa xuân. Có thể về mùa xuân, nhà vua hay đi du ngoạn, và có nhiều hứng khởi làm thơ như bài : “Đề ở chùa Cổ Châu”: Số đời thật mờ mịt/ Mắt giấu tình bên trong/ Cai quản cung ma chặt/ Đất Phật xuân thong dong.

Trong bài: “Trên hồ Động Thiên”, nhà thơ cảm tác: “Cảnh hồ Động Thiên nọ/ Hoa cỏ giảm mầu xuân/ Thượng đế thương hiu quạnh /Tầng xanh chuông bỗng ngân. Tiếng chuông dưới tay người vang trong cõi Phật làm cảnh Phật bớt quạnh hiu. Một sáng thức giấc, tung song cửa, nhìn ra: Nào hay xuân đã sang/ Một đôi bươm bướm trắng/ Gặp hoa cánh vội vàng” . Bướm và hoa là việc của cảnh ngoài đời. Nhưng thấy được thái độ bướm vội vàng bay sấn đến hoa là sức sống, là nỗi yêu đời trong lòng ông nhà thơ ban tặng cho tạo vật. Yêu hiện thực nên luôn gắn với cái bây giờ. Khi đến thăm Chiêu Lăng thờ ông nội Trần Thái Tông thì cảm hứng thơ lại là chuyện đương thời: “Nghiêm trang nhìn cửa quân hùm/ Trăm quan bảy phẩm một vùng cân đai/ Bạc đầu, chàng lính nhắc hoài/ Chuyện Nguyên Phong cũ những ngày ruổi rong”. Thơ nhắc tới niên hiệu Nguyên Phong 1258, năm 1258  là năm Thái Tông nhường ngôi cho Thánh Tông, năm Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông lần thứ Nhất.

Trần Nhân Tông, khi xuống áo đi tu đã có sứ mạng của bậc quân vương anh hùng, kiêm nhà văn hóa, nhà tư tưởng và xứng đáng là một giáo chủ Phật Việt. Thơ Thiền của Người mang tư tưởng Phật giáo linh nghiệm nhưng thấm đẫm cảm xúc hiện thực, lấy cái hồn nhiên của cõi Thực làm cái thanh thản của cõi Không: “Ở  đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền/ Có báu trong nhà thôi khỏi kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền”.Trần Nhân Tông đã gắn kết Giáo lý Phật Ngoại với Nội tín Đại Việt, gắn kết sự linh thiêng dân giã với các trải nghiệm chính trị cung đình và sau cùng là gắn kết cái có thật của đời người với sự giải thoát còn tiềm ẩn trong trời đất. Trần Nhân Tông đã thông nhất được nghịch lý: Yêu đời và siêu thoát: “Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn xan tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc” – (Cư trần lạc đạo phú – Hội thứ sáu). Thơ ấy đặc tả con người tích nhân theo giới (tu) để chứng cái đức (của mình). Ai hay biết điều này mà chẳng là Thích Ca. Cầm nắm được giới hạnh thì phải bỏ được lòng tham. Chỉn chu với tất cả lẽ thực tế ấy thì sẽ thành Di Lặc.

Nhập thế và tiêu dao luôn vận động và hoán chuyển nhịp nhàng trong thơ, trong tâm Trần Nhân Tông. Con người đã lặng yên hứng trăng đầy cả ngực, đã mang đến cho thơ ca một luồng sinh khí và mở cảm xúc đến vô hạn. Chỉ bằng cách ấy, con người mới thăng hoa, mới giải thoát khỏi những ràng buộc hữu hạn của đời thường ngay chính nơi trần thế, cũng có nghĩa là sống đời trần thế ở một ngưỡng phẩm chất sâu xa. Đấy là điều tích cực mà Trần Nhân Tông luôn khao khát đi tìm để tạo ra một lối sống đẹp:  Sống trong hiện tại – với lòng yêu đời vô biên và cả sự giải thoát cũng vô biên.

Nguồn: trannhantong.net

 

Internet khơi dậy chủ nghĩa tích cực ở Việt Nam – BS

12 Th9

Internet khơi dậy chủ nghĩa tích cực ở Việt Nam

Yale Global

Những mối quan hệ được thiết lập nhanh chóng và cảm xúc mạnh mẽ được hình thành trên internet đã thách thức các chính phủ độc tài trên toàn thế giới. Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Truyền thông xã hội và blog đã kết nối với các nhà hoạt động xã hội cũng như cộng đồng hải ngoại với nhau. Bài viết của Nguyễn Hương, là nghiên cứu sinh tại Trung tâm Dân chủ Lập hiến, thuộc Đại học Indiana, Bloomington.

Đáng lưu ý là nhiều nhà hoạt động dựa vào cảm xúc chủ nghĩa dân tộc nồng cháy để chỉ trích chính phủ Cộng sản về các chính sách đối ngoại, đặc biệt là mối quan hệ với Trung Quốc. Sự thống trị trong khu vực của Trung Quốc, lịch sử ngàn năm xung đột cùng với sự kiện tranh chấp lãnh thổ gần đây, đã góp phần vào tình cảm chống Trung Quốc của người Việt, mặc dù Trung Quốc cũng là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Các bài báo và các cuộc thảo luận ồn ào trên mạng đã ảnh hưởng đến tin tức truyền thống của báo chí, các đài phát thanh và truyền hình do chính phủ kiểm soát.

Chính phủ đã thành công trong việc chấm dứt các cuộc biểu tình nổi tiếng vào những ngày Chủ Nhật, nhưng cho đến nay vẫn không thể kiểm soát việc trao đổi các biểu tượng trên mạng, các biểu tượng này thường được thấy trong các hoạt động [biểu tình] đã lên kế hoạch vào những ngày Chủ nhật, và điều này thể hiện sự bất mãn. Hương kết luận rằng: “Chính phủ của Đảng Cộng sản gặp khó khăn hơn bao giờ hết, để kiểm soát tư tưởng của người dân và các mối quan hệ của con người” – YaleGlobal.

Internet khơi dậy chủ nghĩa tích cực ở Việt Nam

Các cuộc tấn công của mạng truyền thông xã hội vào chính sách đối ngoại liên quan đến cộng đồng người Việt hải ngoại và các nhà hoạt động.

Nguyễn Hương

11-05-2012

Bloomington: Cũng như ở nhiều nước độc tài khác, internet đã mở tung các cánh cửa cho các chỉ trích xã hội và bất đồng chính kiến, nhưng ở Việt Nam, internet cũng kết nối những người ở nước ngoài và đưa ra các bài phê bình về quan hệ đối ngoại của đất nước.

Việt Nam bắt đầu sử dụng internet từ thập niên 1990, kể từ đó, người sử dụng internet ở Việt Nam đã nhanh chóng tăng lên đến 24 triệu trong năm 2010, chiếm 27% dân số. Những năm gần đây, sự bùng nổ của các công cụ truyền thông xã hội đã tạo ra những thách thức mới cho chính phủ Đảng [Cộng sản] về khả năng kiểm soát ý kiến của công chúng. Blog và facebook cung cấp các nguồn thông tin thay thế, định hình cách ứng xử củacác nhà báo và các nhà chức trách ở ngoài đời. Internet đã tạo điều kiện cho các nhà hoạt động xã hội tự tổ chức [các hoạt động], và nhiều công cụ liên lạc cho phép họ tụ họp trên mạng, gia tăng tình bằng hữu và có khả năng hình thành như một cộng đồng.

Blog và mạng xã hội đã tạo thành một không gian mạng công cộng, mở rộng ra khỏi biên giới của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, gồm cả cộng đồng người Việt đáng kể ở hải ngoại. Người Việt trong và ngoài nước kết nối với nhau qua blog và facebook. Thảo luận chính trị về các chủ đề đã từng bị cấm được tìm thấy ở các diễn đàn mở trong không gian mạng. Các ý kiến trong thế giới blog thì đa dạng hơn nhiều so với hàng ngàn tờ báo chính thức, tạp chí, các kênh truyền hình và các cổng web bị nhà nước kiểm soát và kiểm duyệt thường xuyên.

Các trí thức Việt Nam, những người được công chúng biết đến, bắt đầu với blog Bauxite Việt Nam hồi năm 2008 để chuyển tải “ý kiến chỉ trích nhiều mặt” về dự án khai thác gây tranh cãi ở Tây Nguyên. Chẳng bao lâu sau, các bài đăng tải trên blog của họ gồm nhiều vấn đề ngoài dự án bô-xít, từ cải cách hiến pháp và các cuộc tranh luận về chính sách, cho tới việc biện hộ sự nghiệp dân chủ, đặc biệt là trường hợp của nhà hoạt động, luật sư Cù Huy Hà Vũ, đã bị bắt hồi tháng 11 năm 2010 và bị bỏ tù vì tội “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa“.

Truyền thông nhà nước đã nói về trang Bauxite Việt Nam như là một “trang phản động”. Trang blog này sau khi bị tấn công nhiều lần, hiện trở thành một trang web tại địa chỉ boxitvn.net, với hai blog dự phòng. Các nhà chức trách cũng đã chặn các truy cập đến trang này. Tuy nhiên, những người sử dụng internet ở Việt Nam biết cách sử dụng các máy chủ ủy nhiệm (proxy server) để vượt tường lửa. Bauxite Việt Nam đã trở thành một diễn đàn cho giới trí thức trong và ngoài nước đóng góp các quan điểm quan trọng của họ vào các cuộc tranh luận chính sách lớn và các sự kiện chính trị xã hội.

Một blog nổi tiếng ở Việt Nam, blog Anh Ba Sàm, nghĩa là “Người Nói Chuyện Tầm Phào”, tại địa chỉ anhbasam.wordpress.com, do một cựu sĩ quan công an ở Hà Nội điều hành, ông cũng đã công bố danh tính của mình. Ông soạn tin tức và duyệt lại nhiều lần tất cả các tin trong ngày và phân tích về Việt Nam từ tất cả các trang web và các blog: các trang web thuộc truyền thông nhà nước, các cơ quan thông tấn nước ngoài, các blog của các nghệ sĩ Việt Nam, các nhà hoạt động chính trị, nhà báo, nhà thơ trong và ngoài nước, và đôi khi các trang web bị các nhà chức trách Việt Nam xem là “phản động” và “nhạy cảm”, gồm cả các trang web và blog do các nhà hoạt động ủng hộ dân chủ và các nhóm điều hành. Người dân chuyển qua blog này để có được thông tin về các vấn đề bị truyền thông nhà nước kiểm duyệt, do đó trang này đã trở thành trang blog được nhiều người đọc nhất. Trang blog tin tức này là nguồn gốc của lời châm biếm lưu hành trên mạng của người Việt, tóm tắc sự việc nhưa sau: Ba Sàm thông tin chính thống, trong khi truyền thông chính thống chỉ nói chuyện sàm.

Cho dù có một thị trường tự do về các ý kiến sôi động trên không gian mạng như thế, một số người vẫn còn hoài nghi về điều mà sự tự do trên mạng này có nghĩa cho một sự thay đổi thật sự trong dân chúng. Tuy nhiên, các sự cố khác nhau gần đây đã tiết lộ về chủ nghĩa tích cực trên mạng và ở ngoài đời có thể bổ sung cho nhau như thế nào, và internet đã thay đổi tranh luận chính trị trong cuộc sống thực tế, cũng như chủ thuyết hoạt động chính trị.

Trong vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng hồi đầu năm 2012, trong đó ông Đoàn Văn Vươn, người nông dân nuôi tôm cuối cùng trở nên tuyệt vọng, đã sử dụng vũ khí tự chế để chống lại lực lượng cưỡng chế, gồm dân quân tự vệ địa phương, cảnh sát và quân đội, cộng đồng blogger đã chứng minh sức mạnh của họ. Các blogger là những nhà báo, đã chủ động đến thăm gia đình ông Vươn và điều tra vụ việc, và họ đăng tải kết quả điều tra độc lập với những lời đề nghị trên blog của họ về việc tịch thu đất một cách bất hợp pháp của ông Vươn và phá hủy căn nhà của ông. Trên blog và trên Facebook, mọi người lan truyền các sự kiện mới, các phân tích về sự lựa chọn và các lập luận đứng về phía đối lập với những lời phát biểu của chính quyền địa phương.

Các nguồn thông tin thay thế trong thế giới blog đã có tác động đến các nhà báo của các cơ quan truyền thồng nhà nước nhận thức và tiếp cận vấn đề này như thế nào. Một nhà báo lâu năm ở Việt Nam đã nói: “Các blog và facebook cung cấp cho các nhà báo và người dân một sự lựa chọn mới để thực hiện quyền tự do phát biểu. Nhờ có những công cụ mới này, ngay cả khi các phương tiện truyền thông chính thức rút lui và tự hạn chế, một không gian tự do phát biểu vẫn mở ra”. Các blog và facebook định hình cách hành xử của các phóng viên, bởi vì trước đây, hành động phi pháp của các nhà chức trách và của các phương tiện truyền thông nhà nước đã không được phát hiện ngay lập tức như bây giờ. Thông tin từ các blog và facebook gây áp lực trên các các cơ quan truyền thông chính thức, làm cho họ phải nói sự thật trong một số trường hợp, như vụ Tiên Lãng.

Các blog và facebook cũng đã làm thay đổi hoạt động chính trị. Hồi tháng 6 và tháng 7 năm 2011, sau một cuộc tấn công của các tàu tuần tra Trung Quốc vào một tàu khảo sát dầu của Việt Nam ở ngoài khơi bờ biển về phía nam, trung phần Việt Nam, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã được tổ chức vào mỗi Chủ Nhật ở Hà Nội và Sài Gòn trong vòng hai tháng, trước khi các nhà chức trách thành công trong việc dẹp bỏ các cuộc biểu tình này. Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tương tự như vậy đã được tổ chức hồi tháng 12 năm 2007 ở Hà Nội và [đầu] năm 2008 ở Sài Gòn, nhưng những người biểu tình lúc đó đã không thể tổ chức tiếp cuộc biểu tình lần 2. Một thanh niên tham gia biểu tình vào Chủ Nhật cho rằng, facebook đã tạo ra sự khác biệt trong năm 2011. Sự liên kết và thân mật trên facebook đã giúp họ phổ biến những lời kêu gọi chống Trung Quốc và đưa ra các chiến lược nhằm vượt qua sự kiểm soát của chính quyền. Các nhà chức trách đã thành công trong việc ngăn những người tham gia biểu tình vào Chủ Nhật tập hợp với nhau trên đường phố, nhưng họ đã thất bại trong việc ngăn các nhà hoạt động hình thành các mạng lưới rộng khắp, vẫn tiếp tục trở nên mạnh hơn, bất chấp sự kiểm soát và quấy nhiễu.

Thật ra, những người biểu tình vào Chủ nhật đã không ngừng các cuộc biểu tình. Họ chỉ di chuyển các cuộc biểu tình trên đường phố sang nhiều địa điểm khác và vẫn tiếp tục phản đối bằng nhiều cách thể hiện khác nhau. Họ phân phối và mặc những chiếc áo thun, áo mưa, mũ, được in hình “No-U” và khẩu hiệu “Nói không với đường lưỡi bò” – đường đứt đoạn hình chữ U, cũng được biết đến như là lưỡi bò, thể hiện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc gần như toàn bộ biển Đông – là cách tiếp tục sự phản đối theo cách riêng. Họ thành lập câu lạc bộ bóng đá No-U và chơi vào những ngày Chủ Nhật, là chỉ dấu khác cho thấy các cuộc biểu tình vào Chủ Nhật vẫn tiếp tục, và họ hình thành một mạng lưới tình hữu nghị để hỗ trợ cho nhau trong những lúc khó khăn khi cảnh sát đối xử với họ như tội phạm vì các hoạt động yêu nước này. Các hoạt động của họ được đưa tin trên facebook và các blog của các thành viên, nơi họ chia sẻ hình ảnh của các sự kiện, đăng tải các bài phát biểu, và thông báo trên mạng lưới trực tuyến của họ về áp lực của chính quyền. Những người biểu tình Chủ Nhật không chỉ là các blogger và các facebooker tích cực, mà họ thực sự thách thức quyền hành trong đời sống thực.

Rõ ràng là những người này đang tìm cách thực hiện quyền tự do chính trị, vẫn luôn gặp nguy hiểm. Nhiều người đang bị bắt, bị truy tố và bị bỏ tù vì viết blog, biểu tình hay thành lập các nhóm chính trị. Chính phủ của Đảng [Cộng sản] luôn có thể lựa chọn cách sử dụng bộ máy cưỡng bức của họ để bịt miệng bất đồng chính kiến.

Nhưng các nguồn thông tin thay thế và ảnh hưởng trong không gian mạng đã góp phần mở rộng ranh giới tranh luận chính trị, tạo điều kiện thuận tiện cho các mạng lưới của các cá nhân có cùng mục đích và cho phép họ hợp thành như một cộng đồng, thách thức quyền hành. Đây là lúc khó khăn hơn bao giờ hết đối với chính phủ của Đảng Cộng sản kiểm soát tư tưởng của người dân và các mối quan hệ của con người.

Tác giả: Nguyễn Hương là nghiên cứu sinh tại Trung tâm Dân chủ Lập hiến và nghiên cứu sinh  tiến sĩ ngành Luật pháp và Dân chủ tại Đại học Indiana, Bloomington. Tác giả sẽ giải đáp các câu hỏi của độc giả trong một tuần sau ngày đăng.

Ảnh: Biểu tình và lướt web: người Việt cầm biểu ngữ chống Trung Quốc trong lần biểu tình vào Chủ nhật ở trung tâm Hà Nội (ảnh trên), sinh viên Việt Nam lướt web trong một quán cà phê internet ở Hà Nội.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Đập chùa nghìn năm, xây bảo tàng mới: Ai oách hơn ai? – PNTD

12 Th9

Đập chùa nghìn năm, xây bảo tàng mới: Ai oách hơn ai?

(Trái hay phải) – Có hiếu thay là đám con cháu vừa đòi xây lại từ đường thờ cúng tổ tiên cho đàng hoàng to đẹp, vừa đập tanh bành cái bàn thờ cổ các cụ để lại, sắm cái khác!

 

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia - Ảnh mô hình
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia – Ảnh mô hình

Câu chuyện vừa liên quan đến tiền, vừa liên quan đến văn hóa nóng hôi hổi suốt mấy ngày qua hẳn thuộc về dự án Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, khi Bộ Xây dựng có tờ trình gửi Bộ Kế hoạch  và Đầu tư đề nghị thẩm định dự án đầu tư xây dựng bảo tàng này, với tổng mức đầu tư 11.277 tỉ đồng.

Xin mở ngoặc thêm cho quý vị độc giả được biết: Số tiền khổng lồ này chưa bao gồm chi phí dự án thành phần đầu tư xây dựng nội dung và hình thức trưng bày do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện, tức hơn 11.000 tỷ này chỉ để dành cho cái vỏ bảo tàng.

Như thường lệ, cánh nhà báo lại được một phen nhao nhao phản đối, với đủ loại ý kiến phản biện trên trời dưới biển, mà có thể gói gọn lại trong mấy từ: lãng phí, lãng xẹt, chưa đúng lúc, dành tiền cho những thứ thiết thực hơn. Mà danh sách những thứ thiết thực hơn này, khốn khổ thay, lại có thể kéo dài vô cùng tận: Dân đói dân rét, ăn mày ăn xin, đường sá xuống cấp, trường lớp hư hỏng, thiếu cầu qua sông, rồi nào trẻ em suy dinh dưỡng, bệnh viện quá tải, vân vân và vân vân…

Dĩ nhiên, những người muốn xây dựng cái vỏ bảo tàng này cũng có lý riêng của họ. Quý vị thử nghĩ mà xem, ừ thì đất nước còn lắm gian truân, mà cứ cho là còn nghèo khó đi, nhưng sẽ thật chẳng ra làm sao nếu chúng ta chỉ suốt ngày ki ki cóp cóp từng đồng như một anh chàng khốn khổ không dám cho con đi học chỉ vì sợ tốn tiền.

Nói như ngôn ngữ tuổi teen, là nghèo vẫn phải cho Tèo đi học, chúng ta có thể nghèo nhưng quyết không tiếc tiền cho cái thứ hết sức xa xỉ và cũng hết sức thiết yếu là văn hóa. Chẳng phải chúng ta vẫn thường hay vỗ ngực tự hào về lịch sử dài đến 4.000 năm của dân tộc đó sao, xây một cái bảo tàng dù có tốn đến nửa tỷ USD đi nữa cũng là xứng đáng lắm.

Nghe nói, ở những xứ sở văn minh, bảo tàng còn là thứ không thể thiếu để chứng tỏ một thành phố có ăn có học, mà Thủ đô Hà Nội của chúng ta lại to đến thế, dù đã có mấy chục bảo tàng rồi, nhưng tiếc gì thêm tí tiền để tô son điểm phấn cho đất thần kinh? Cái luận điệu giàu thì sang, nghèo thì hèn, cứ thiếu tiền là có quyền nhơn nhơn bảo rằng ta đây cóc có cần văn chương nghệ thuật, là không thể chấp nhận được.

Một luận điệu khó nghe nữa của trường phái phản đối, là đem so sánh với nước ngoài. Chẳng hạn, có người chi li đến mức tính toán, chi phí đề nghị xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam gấp 3,5 lần so với bảo tàng lịch sử Quốc gia Úc (chỉ 155 triệu USD), trong khi, thu nhập bình quân đầu người của ta chỉ bằng 1/47 của Úc.

Một lần nữa, cha ông ta lại vô cùng vĩ đại: Quý vị nên nhớ lịch sử được ghi nhận từ thế kỷ 17 của Úc chỉ là một chàng lùn so với quá khứ oai hùng của dân tộc Việt Nam. Nói như ngôn ngữ của Bộ Tài chính khi phân trần về mức thuế, phí tại Việt Nam, là cái gì cũng phải so sánh đồng chất, tính chi phí cho từng năm lịch sử thì của ta vẫn là rẻ chán! 

Người ta chỉ băn khoăn rằng, chúng ta sẽ nhét những gì cho đầy một cái vỏ đồ sộ như vậy? Kể ra, với pho lịch sử đồ sộ của dân tộc, có vẻ như chúng ta sẽ không thiếu thứ để trưng bày. Nhưng cứ coi như vậy đi, thì cái vỏ và cái ruột vẫn phải nhìn nhau từng li từng tí, kẻo râu ông nội lại cắm cằm bà ngoại. Hẳn quý vị còn nhớ, khi bỏ 2.500 tỷ đồng ra xây bảo tàng Hà Nội, người ta cũng bảo hàng chục ngàn hiện vật đang nằm chờ, nhưng cho tới giờ, khi cái vỏ đã kịp xuống cấp thì phần nội dung vẫn đang ở tận đâu đâu ấy, ờ có sao đâu nhỉ? 

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng (lộn).
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng (lộn). Chùa Trăm Gian sau khi được trùng tu.

Ngược với quy luật thông thường là may áo theo người, thì nay thì với Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bộ Xây dựng may áo trước, còn Bộ  Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tìm cách để người mặc vừa áo sau. Vả lại, nếu chẳng may có không khớp, thì kinh nghiệm hỏi xoáy đáp xoay của các bộ ngành cũng vô cùng phong phú: Học theo bài học ứng xử của cơ quan thanh tra và Bộ Giao thông vận tải trong vụ bổ nhiệm Dương Chí Dũng, Bộ Văn hóa có thể trả lời dư luận rằng do Bộ Xây dựng không hỏi, còn Bộ Xây dựng có thể đáp lại là chẳng thấy cơ quan văn hóa nói năng gì. Kết quả, nếu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có giống một ông lão mặc đồ hip hop, hoặc vui hơn nữa là mặc đồ sơ sinh, thì cũng chả sao, có khi càng vui ấy chứ! Đã có nước nào trên thế gian này đã làm được hay đã dám làm như chúng ta chưa nào? 

Một thực trạng khác trong đời sống văn hóa nước nhà, khiến người viết dù đã khá cứng tuổi cũng phải phân vân, là tình cảm hết sức đặc biệt mà giới trẻ ngày nay dành cho quá khứ của cha ông. Chẳng cần phải nhắc đến những câu chuyện hài hước khốn nạn được đám học sinh sáng tác trong các bài thi, riêng sự kiện hội thảo rầm rộ về dạy và học lịch sử do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hồi cuối tháng 8 vừa rồi cũng đủ cho ta thấy con em nhìn lịch sử ra sao.

GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam ngậm ngùi thừa nhận: Lịch sử là môn học bị coi thường nhất trong các trường phổ thông, nhiều nơi thay thầy cô dạy sử bằng giáo viên thể dục. Ta có thể nói thêm mà không sợ bị hớ: Có lẽ các thầy cô dạy thể dục cảm thấy xấu hổ vô cùng khi được điều đi dạy sử!

Người ta chẳng rõ, nên coi tình trạng này là một bằng chứng hùng hồn để củng cố cho lập luận nên xây Bảo tàng Lịch sử Quốc gia to vật vã để khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, hay nên coi đây là một ví dụ cho thấy ý chí sắt đá không ngán gì hết của các thiết chế giáo dục văn hóa – lịch sử dân tộc, trong đó có các bảo tàng. Dân ta chẳng biết sử ta, nhưng đó là lỗi của ai thì đừng có vắt óc mà nghĩ làm gì cho tổn thọ: lỗi không của dân, vì dân trí thấp thì của ai nào?

Cuối cùng, sẽ thật thiếu sót nếu chúng ta không nhắc lại một sự kiện văn hóa đình đám mấy tuần qua, ấy là chuyện trùng tu chùa Trăm Gian. Sau mọi sự eo sèo, người ta chỉ còn nghe thấy đúng 3 từ do sư trụ trì chùa nói trong cuộc họp kiểm điểm: Tại tôi tất!

Chẳng biết có phải tại ông không, nhưng cách đây một thời gian, khi chùa sắp sập, thì các cơ quan chức năng bảo rằng đang phải “thắt lưng buộc bụng” để chống lạm phát, cho nên không có tiền mà sửa. Không có tiền sửa chùa nghìn năm do cha ông xây, nhưng nhân dịp 1.000 năm Thăng Long, ta vẫn có 2.500 tỷ đồng để xây bảo tàng Hà Nội, hòng thể hiện tấm lòng thành kính với tiền nhân.

Đến hôm nay, lòng thành kính ấy còn được nâng lên một bậc nữa, khi giữa lúc nguồn thu ngân sách khốn khó như hiện nay, ta vẫn có hơn 11.000 tỷ đồng cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Cùng lúc, đám hậu sinh khả úy đập tan ngôi chùa Trăm Gian nghìn năm tuổi.

Theo quý vị, giữa việc xây lại từ đường thờ cúng tổ tiên cho đàng hoàng to đẹp và việc đập tanh bành cái bàn thờ cổ các cụ để lại, sắm cái khác, bên nào có hiếu hơn? Hoặc diễn đạt khác đi, một đằng phá, một đằng xây, bên nào bất hiếu hơn?

Dĩ nhiên, dù sao chúng ta cũng hạnh phúc hơn nhà thơ Huy Cận, khi ta hiểu vì sao các vị La Hán ngày nay lại cau mặt với tang thương nơi xứ Phật!

  • Tam Thái

Yêu cầu giải trình vụ bắt Dương Chí Dũng – BBC

12 Th9

Yêu cầu giải trình vụ bắt Dương Chí Dũng

Ông Dương Chí Dũng

Tin ông Dương Chí Dũng bị bắt được cơ quan chức năng đưa ra hôm 5/9

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vừa có yêu cầu giải trình quá trình bắt giữ cựu chủ tịch Vinalines Dương Chí Dũng.

Trong khi đó, một nguồn tin gần với gia đình ông Dũng nói với BBC các thân nhân “không được tin tức gì và không biết hiện giờ ông đang ở đâu”.

 
Báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn văn phòng Ban Chỉ đạo, mà ông Dũng hiện làm trưởng ban, nói vụ án tham ô tài sản tại Tập đoàn tàu biển Vinalines là một trong bảy vụ án “nghiêm trọng, phức tạp có khó khăn, vướng mắc”, được Ban Chỉ đạo “nắm tình hình và đôn đốc xử lý”.

Ban này yêu cầu các cơ quan tố tụng báo cáo “quá trình triển khai truy bắt bị can Dương Chí Dũng”, dự kiến thời gian kết thúc điều tra vụ án để chuyển sang truy tố.

Thông tin trên dường như không nhất quán với tin tức trước đó, rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã “chỉ đạo sát sao” vụ truy tìm ông Dương Chí Dũng, dẫn đến thông báo ngày 5/9 của cơ quan chức năng rằng họ đã bắt được ông “ở một quốc gia Đông Nam Á”.

Trong phiên họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8/2012 vào chiều cùng ngày 5/9, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho hay: “Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đồng thời là Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng đã chỉ đạo rất sát sao vụ việc này [bắt ông Dương Chí Dũng] ngay từ đầu, theo đúng quy định của pháp luật.”

“Ngay sau khi Dương Chí Dũng bỏ trốn, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu bắt bằng được Dương Chí Dũng.”

Khó khăn vướng mắc

Bản tin trên Tuổi Trẻ nói Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng “khoanh vùng” bảy vụ án nghiêm trọng và phức tạp.

“Ban chỉ đạo yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm báo cáo tình hình khởi tố, điều tra, truy tố… cũng như những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc”.

“Gia đình không được tin tức gì và không biết hiện giờ ông [Dương Chí Dũng] đang ở đâu.”

Người quen của gia đình

Các cơ quan tố tụng cũng được yêu cầu báo cáo rõ thêm về một số nội dung trong các vụ án, trong đó có vụ Vinalines.

Về vụ này, “các cơ quan tố tụng có liên quan báo cáo những hành vi phạm tội và người có liên quan trong vụ án cố ý làm trái do Cơ quan điều tra Bộ Công an khởi tố bổ sung ngày 17/5/2012”.

Cho tới nay các thông tin xung quanh việc ông Dương Chí Dũng bị bắt ở nước ngoài chưa được rõ ràng.

Báo điện tử PetroTimes của ngành dầu khí, được cho là có quan hệ với cơ quan công an, đưa tin ông Dũng bị bắt ở Campuchia và được dẫn độ về Việt Nam, nhưng ngay sau đó đã rút lại bản tin này.

Cũng có nguồn tin nói cảnh sát Campuchia “không hay biết” về việc bắt ông Dương Chí Dũng.

Tại cuộc họp báo 5/9, Bộ trưởng Vũ Đức Đam nói trong suốt quá trình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo theo đúng tinh thần là “tất cả mọi người đều công bằng trước pháp luật, không có bất kỳ ngoại lệ nào”.

Sau khi có lệnh truy nã toàn cầu ông Dương Chí Dũng, ông thủ tướng “đã nghiêm khắc nhắc nhở Bộ Công an”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã chỉ đạo làm rõ liệu có hay không hành vi bao che, tiếp tay cho ông Dương Chí Dũng bỏ trốn.

 

Lợi dụng Chủ tịch nước đi vắng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Nguyễn Hữu Lục tranh thủ đánh quả – CNT

12 Th9

Lợi dụng Chủ tịch nước đi vắng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Nguyễn Hữu Lục tranh thủ đánh quả

 

 
Ngân hàng Nhà nước không công nhận kết quả công bố xếp hạng của CRV. Tổng thư ký VCCI nói VCCI không liên quan về buổi lễ và báo cáo này. Như vậy, sự thật đã rõ. Báo cáo trên rất có vấn đề và mang đậm dấu ấn của “Nhóm lợi ích”. Toan tính của các Bố già là Báo cáo này cần phải công bố ở một nơi “hoành tráng” nhằm xua tan nhiều câu hỏi dư luận đang đặt ra. Lợi dụng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đi họp APEC ở Nga, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Nguyễn Hữu Lục đã vác hẳn cơ ngơi Phủ Chủ tịch ra để làm bảo lãnh tín nhiệm cho một việc làm khuất tất mang nặng dấu ấn của lợi ích nhóm.

“Báo cáo thường niên Chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012″ công bố sáng 8/9, có 9 trong trong số 32 ngân hàng được phân loại đánh giá xếp vào hạng A, loại có năng lực cạnh tranh tốt nhất thị trường. Báo chí và các đài nhanh chóng loan tin Bảng xếp hạng do Công ty CRV và Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố tại Phủ Chủ tịch với sự hiện diện của ông Nguyễn Hữu Lục, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước. Ngay sau công bố, báo cáo trên đã vấp phải phản ứng dữ dội, nhất là những ngân hàng bị liệt vào nhóm C hoặc D. Ngân hàng Nhà nước lên tiếng không công nhận kết quả xếp hạng này. Tổng thư ký VCCI nói VCCI không liên quan về buổi lễ và báo cáo này.

Đại diện Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam (MaritimeBank), ngân hàng bị xếp hạng nhóm B, cho hay Công ty CRV chưa từng tiếp xúc với ngân hàng để lấy số liệu cũng như phỏng vấn tìm hiểu. Các số liệu về ngân hàng này đưa ra đều sai lệch và không nêu nguồn cung cấp. Như vậy tình trạng ăn cắp thông tin, bí mật kinh doanh đã xảy ra một cách công khai, ngang nhiên.

“Chúng tôi không biết họ căn cứ trên tiêu chí gì để đưa ra bảng xếp hạng như vậy. Bởi có những ngân hàng thuộc nhóm 1, 2 do chính Ngân hàng Nhà nước xếp hạng mới đây thì bây giờ lọt bị cho tụt xuống nhóm C”. Một lãnh đạo của Ngân hàng Phương Đông OCB nói.

Ngân hàng Nhà nước đã không công nhận kết quả công bố trên của CRV. Mới hôm qua (10/9), Tổng thư ký VCCI đã lên tiếng phủ nhận việc VCCI tham gia công bố Báo cáo này. Như vậy, việc một lãnh đạo phó của tổ chức này tham dự với tư cách cá nhân lại dám nhân danh VCCI trong lễ công bố là việc cần làm rõ. Vị phó này là con trai của ông Đoàn Duy Thành, người từng viết Hồi ký về những đấu đá với Tổng Bí thư Đỗ Mười trước đây.

Mở đầu, báo cáo đã khoe là được xây dựng bởi tập thể các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về tài chính, ngân hàng, toán ứng dụng. Mạo nhận này khiến công luận bức xúc. Nhiều vị có tên trong báo cáo chỉ là giảng viên quèn của một số trường Đại học, có trường rất nổi tiếng về … tiêu cực, có trường thì không ai nghe nói bao giờ. Câu hỏi lớn là ai phong cho các vị cái mác “chuyên gia nghiên cứu hàng đầu”? Dựa vào tiêu chí nào mà các vị tự xếp mình là chuyên gia hàng đầu hay đây cũng là những cái ngai các vị tự phong cho nhau để bịp bợm ăn tiền? Đấy là chưa nói đến một sự thật là ngay cái tên “Báo cáo tín nhiệm Việt Nam” là đồ ăn cắp của công ty VietnamCredit khi công ty này lần đầu tiên công bố xếp hạng ngân hàng và đưa ra Vietnam Credit Index (Chỉ số báo cáo tín nhiệm Việt Nam).

Được biết, toàn bộ buổi công bố báo cáo này được một công ty sân sau của ông Đoàn Duy Khương (Phó Chủ tịch VCCI) thực hiện với hợp đồng tài trợ gần 10 tỉ VND do chính doanh nghiệp của Bố già được xếp uy tín cao nhất cung ứng. Về tính chất, đây là việc mua giải và đưa hối lộ. Phong bì cho các yếu nhân tham dự nhờ có tài trợ mạnh nên rất dày. Cựu Bộ trưởng Lê Doãn Hợp tham dự với sứ mạng chính là hái phong bì đã kéo theo một lô một lốc các báo/đài đến đưa tin rầm rộ còn hơn sự kiện chính trị lớn của nhà nước (mặc dù đây là ngày nghỉ).

Như vậy, sự thật đã rõ. Báo cáo trên rất có vấn đề và mang đậm dấu ấn của “Nhóm lợi ích”. Toan tính của các Bố già là Báo cáo này cần phải công bố ở một nơi “hoành tráng” nhằm xua tan nhiều câu hỏi dư luận đặt ra. Lợi dụng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vắng nhà, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Nguyễn Hữu Lục đã vác hẳn cơ ngơi Phủ Chủ tịch ra để làm bảo lãnh tín nhiệm cho một việc làm khuất tất mang nặng lợi ích nhóm.

Dư luận cả nước đang đặt câu hỏi lớn: ông Nguyễn Hữu Lục đã cầm bao nhiêu trong vụ này?

Những ai từng là dân oan đi khiếu kiện mới biết sự khó khăn khi đội đơn vào Văn phòng Chủ tịch nước như thế nào. Mới đây, năm 2009, các vị nhân sỹ trí thức (trong đó có các giáo sư khả kính như Huệ Chi) đến đây đưa đơn kiến nghị về quốc kế dân sinh cũng bị mời ra thẳng cánh.

Song song với vấn đề về tiền, người ta có quyền đặt câu hỏi, liệu có phải ông Lục giữ vai trò lính xung kích của “Nhóm lợi ích”, nguyện làm tay trong cho Nhóm này đưa cuộc chiến vào hẳn trong Phủ Chủ tịch và chơi Chủ tịch nước từ đằng sau? Các phóng sự của nhiều báo/đài tuy được giật tít là “Công bố Chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012” nhưng đều làm dưới dạng quảng cáo riêng cho một Bố già ngân hàng có mối quan hệ thân cận với phe Thủ tướng, người mà chính báo Diễn đàn doanh nghiệp trước đây đã tố cáo rửa tiền hàng chục triệu USD và bị Công an Hà Nội điều tra.

Giữa lúc Đảng Cộng sản đang hô hào phê, tự phê, chỉnh đốn Đảng trên cả nước thì vẫn có một nơi là Văn phòng Chủ tịch nước tự cho mình được quyền ngồi xổm lên pháp luật, ”tự suy thoái” để chạy theo lợi ích cá nhân.
.
.
Phủ Chủ tịch, nơi thực hiện các nghi lễ và lễ tiết quốc gia:
.

.
Nay, Phủ Chủ tịch đã bị ông Nguyễn Hữu Lục biến thành nơi quảng cáo cho các Bố già lợi ích nhóm:
.

.
Màn “xả hơi” của Phó Chủ nhiệm VP Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Lục bên cạnh các VIP:
.


 
 

Chủ nghĩa dân tộc trên biển ở châu Á – BS

12 Th9

Project Syndicate

Chủ nghĩa dân tộc trên biển ở châu Á

Tác giả: Joseph S. Nye

Người dịch: Huỳnh Phan

Joseph S. Nye, cựu trợ lý Bộ trưởng quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia Hoa Kỳ, là Giáo sư Đại học tại trường Đại học Harvard và là một học giả hàng đầu thế giới …

CAMBRIDGE – Chiến tranh sẽ nổ ra ở các vùng biển Đông Á chăng? Sau khi các nhóm dân tộc chủ nghĩa của Trung Quốc và Nhật Bản tranh đua tổ chức đổ bộ lên các khối đất đá cằn cỗi mà Trung Quốc nói đến như là quần đảo Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là quần đảo Senkaku (Tiêm Các), những người biểu tình giận dữ ở thành phố Thành Đô phía tây nam Trung Quốc hô vang, “Chúng ta phải giết sạch bọn Nhật”.

Tương tự như vậy, một cuộc giằng co giữa các tàu Trung Quốc và Philippines trên bãi cạn Scarborough ở biển Đông đã dẫn đến các cuộc biểu tình ở Manila. Và bước tiến trong hợp tác hoạch định từ lâu giữa Hàn Quốc và Nhật Bản đã bị trúng ngư lôi khi Tổng thống Hàn Quốc đến thăm hòn đảo cằn cỗi mà Hàn Quốc gọi là Dokdo (Độc đảo), Nhật Bản gọi là Takeshima (Trúc đảo), và Hoa Kỳ gọi Liancourt Rocks.

Ta không nên quá hoang mang. Mỹ đã tuyên bố rằng quần đảo Senkaku (do quận Okinawa cai quản khi nó được giao lại Nhật Bản vào năm 1972) nằm trong vòng bảo vệ theo hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật. Trong khi đó, bế tắc trên bãi cạn Scarborough đã dịu lại, và dù Nhật Bản triệu đại sứ ở Hàn Quốc về qua sự cố Dokdo, không chắc hai nước sẽ đi đến đánh nhau.

Nhưng cũng rất nên nhắc lại rằng Trung Quốc đã sử dụng vũ lực gây chết người để đẩy Việt Nam khỏi quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và [ở Trường Sa] năm 1988. Và Trung Quốc đã khuyến dụ Campuchia, nước chủ nhà của hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm nay chặn thông cáo chung cuối cùng lại do có kêu gọi bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông – lần đầu tiên trong lịch sử 40 năm của hiệp hội gồm 10 thành viên này không đưa ra được bản thông cáo chung.

Sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Đông Á là đáng lo ngại và có thể hiểu được. Ở châu Âu, dù Hy Lạp có thể phàn nàn về các điều kiện ủng hộ Đức đề ra đối với việc tài trợ khẩn cấp, giai đoạn kể từ chiến tranh thế giới thứ II đã chứng kiến một bước tiến lớn lao trong việc đan kết các nước lại với nhau. Không có điều tương tự xảy ra ở châu Á, và các mắc mứu xuất hiện vào thập niên 1930 và 1940 vẫn còn nguyên, một vấn đề đã bị sách giáo khoa và các chính sách thiên lệch của chính phủ làm trầm trọng thêm.

Đảng Cộng sản Trung Quốc không còn thật là cộng sản nữa. Thay vào đó, cơ sở tính hợp pháp của đảng dựa trên tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và chủ nghĩa dân tộc đại Hán. Những ký ức về cuộc chiến tranh Trung-Nhật 1894-1895 và sự xâm lược của Nhật Bản trong thập niên 1930 là hữu ích về mặt chính trị và nằm khớp trong một chủ đề lớn hơn về việc Trung Quốc bị các lực lượng đế quốc hiếp đáp.

Một số nhà phân tích quốc phòng Mỹ xem chiến lược biển của Trung Quốc là hung hăng rõ rệt. Họ trỏ vào chi tiêu quốc phòng tăng lên và việc phát triển công nghệ tên lửa và tàu ngầm được thiết kế làm rào cản trên biển kéo dài từ bờ biển của Trung Quốc đến “chuỗi đảo đầu tiên” trong đó có Đài Loan và Nhật Bản.

Tuy nhiên, những người khác lại nhìn thấy một chiến lược của Trung Quốc đang bối rối, mâu thuẫn, và bị tê liệt bởi các lợi ích quan liêu cạnh tranh nhau. Họ chỉ vào những kết quả tiêu cực của các chính sách quyết đoán nhiều hơn của Trung Quốc kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Quả thật, các chính sách của Trung Quốc đã phá hỏng các mối quan hệ của họ với hầu hết các nước láng giềng.

Xem sự cố Senkaku hồi năm 2010, sau khi Nhật Bản bắt giữ các thủy thủ của một tàu đánh cá Trung Quốc đã đâm vào một tàu tuần duyên Nhật Bản, Trung Quốc leo thang trả thù về kinh tế. Kết quả, như một trong những nhà phân tích Nhật Bản nêu, là “Trung Quốc ghi được một bàn”, đảo ngược tức thì những gì đang là một xu hướng thuận lợi thuộc Đảng Dân chủ cầm quyền Nhật Bản trong quan hệ song phương. Tổng quát hơn, trong khi Trung Quốc chi hàng tỉ nhân dân tệ trong các nỗ lực để tăng sức mạnh mềm tại châu Á, hành vi của họ ở biển Đông lại mâu thuẫn với thông điệp của chính họ đưa ra.

Tôi đã hỏi bạn bè và các quan chức Trung Quốc tại sao Trung Quốc lại theo đuổi một chiến lược phản tác dụng như thế. Câu trả lời đầu tiên và chính thức là Trung Quốc thừa kế yêu sách lãnh thổ từ lịch sử, bao gồm một bản đồ từ thời kỳ Quốc Dân đảng, bản đồ đó phác hoạ một “đường chín đoạn” hầu như bao trọn hết biển Đông. Ngày nay, với công nghệ dưới nước cũng như các nguồn lợi thủy sản có thể khai thác được nhiều hơn trong khu vực, khó có thể từ bỏ di sản này. Trong năm 2009-2010, một số cán bộ cấp trung và các nhà bình luận thậm chí còn nói tới biển Đông như là một “lợi ích cốt lõi” chủ quyền, giống như Đài Loan hay Tây Tạng.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc chưa bao giờ rõ ràng về vị trí chính xác của “đường chín đoạn”, về việc liệu các yêu sách của họ chỉ nói tới một số vùng đất, đảo, đá (land features) hay cũng nói tới thềm lục địa mở rộng và biển. Khi được hỏi tại sao họ không làm rõ yêu sách của mình, người đối thoại Trung Quốc đôi khi nói rằng nếu làm như vậy sẽ đòi hỏi nhiều thỏa hiệp chính trị khó khăn và quan liêu, các thoả hiệp này sẽ kích động chủ nghĩa dân tộc trong nước.

Ngoài ra, đôi khi họ nói rằng họ không muốn bỏ đi một con bài mặc cả quá sớm. Vào năm 1995, và một lần nữa vào năm 2010, Mỹ tuyên bố rằng vùng biển trên biển Đông phải được cai quản bằng Công ước LHQ 1982 về Luật Biển (trớ trêu là Hoa Kỳ chưa phê chuẩn công ước này), nhưng Hoa Kỳ sẽ không đứng về phe nào đối với các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ. Thay vào đó, Mỹ kêu gọi các tuyên bố tranh chấp nên giải quyết thông qua thương lượng.

Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã đồng ý về một bộ quy tắc ứng xử không ràng buộc về mặt pháp lý để quản lý các tranh chấp như thế, nhưng với tư cách là một cường quốc lớn, Trung Quốc tin rằng họ sẽ được lợi trong các thương lượng song phương hơn là thỏa thuận đa phương với các nước nhỏ. Đằng sau sức ép của của Trung Quốc lên Campuchia để ngăn chặn thông cáo cuối cùng của ASEAN lại trong mùa hè này chính là niềm tin đó.

Nhưng đây là một chiến lược sai lầm. Là một cường quốc lớn nên Trung Quốc sẽ có trọng lượng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và họ có thể làm giảm thiệt hại do tự họ gây ra qua việc đồng ý với một bộ quy tắc ứng xử.

Đối với quần đảo Tiêm Các/ Điếu Ngư, đề nghị tốt nhất đến từ báo The Economist. Trung Quốc nên ngưng phái các tàu của chính phủ đi vào vùng biển Nhật Bản, và sử dụng một đường dây nóng với Nhật Bản để kềm chế khủng hoảng do các “cao bồi” dân tộc chủ nghĩa gây ra. Đồng thời, hai nước cần phục hồi thỏa thuận khung năm 2008 về hợp tác phát triển các mỏ khí tranh chấp ở biển Hoa Đông, còn chính quyền trung ương Nhật Bản nên mua những đảo cằn cỗi này từ chủ sở hữu tư nhân và tuyên bố chúng là khu bảo tồn biển quốc tế.

Đã tới lúc tất cả các nước ở Đông Á ghi nhớ lời khuyên nổi tiếng của Winston Churchill: “Đánh nhau bằng mồm luôn tốt hơn đánh nhau bằng vũ khí” (Thương thảo thì luôn tốt hơn là đánh nhau).

Nguồn: Project Syndicate

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Bản tiếng Việt © Huỳnh Phan

DN ‘sân sau’: Khối rủi ro đe dọa các ngân hàng

12 Th9

DN ‘sân sau’: Khối rủi ro đe dọa các ngân hàng

 

Việc ngân hàng thương mại thành lập DN “sân sau” để qua đó rút vốn từ ngân hàng (NH) về nhằm thực hiện các mục đích kinh doanh riêng là hiện tượng đáng cảnh báo. Điều này cần phải quản lý chặt để ngăn chặn rủi ro cả về tài chính và đạo đức trong các tổ chức tài chính (TCTC).

 

Báo cáo tài chính của các NH cũng ít nhiều thể hiện điều này. Các con số công khai dù mới chỉ là một phần của “tảng băng chìm” đã cho thấy, có không ít ngân hàng đã dành một tỷ lệ vốn lớn để cho vay đối với các DN liên quan đến các cổ đông.

Chẳng hạn theo báo cáo tài chính 2011, một ngân hàng thuộc nhóm 3, dư nợ tín dụng cuối năm 2011 khoảng 13.000 tỷ đồng nhưng tổng số vốn cung cấp cho các DN liên quan đến cổ đông là 2.035 tỷ đồng. Ngoài ra gần 1.000 tỷ đồng vốn của ngân hàng này cũng đang được cho các cá nhân liên quan vay.

Hay 1 ngân hàng khác, theo báo cáo tài chính 2011, tổng dư nợ cho vay đạt hơn 8.854 tỷ đồng. Trong đó, 2.510 tỷ đồng (chiếm 28% tổng dư nợ) có đích đến là các DN liên quan đến cổ đông của ngân hàng này.

Theo các chuyên gia, không ít DN “sân sau” thời gian qua không chỉ vay hàng ngàn tỷ đồng từ NH mà còn tham gia với các ông chủ ngân hàng có quyền điều hành hay chi phối các quyết định của tổ chức tín dụng có lợi cho mình, gây tiềm ẩn rủi ro cho TCTC.

Các chuyên gia cho biết, một số cách thức phổ biến như: khi TTCK ảm đạm, nhiều NH gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tiền để tăng vốn điều lệ. Trong bối cảnh đó, không ít lãnh đạo các NH đã tận dụng DN “sân sau” để giúp tăng vốn. Khi đó DN có vốn góp lớn của các ông chủ ngân hàng sẽ đứng ra phát hành trái phiếu kỳ hạn 3-5 năm. Sau đó, ngân hàng của các ông chủ trên sẽ bỏ tiền ra mua trái phiếu của DN. Khi đã có tiền, DN này sẽ sử dụng vốn đó góp vào đúng ngân hàng vừa bỏ tiền ra mua trái phiếu của mình để tăng vốn điều lệ. Như vậy, vốn điều lệ ngân hàng ghi trên sổ sẽ cao nhưng thực tế đó là vốn ảo.

Những ông chủ NH sẽ nghiễm nhiên nắm tỷ lệ vốn góp lớn trên cơ sở vốn ảo, trong khi các cổ đông nhỏ bị thiệt hại vì phải đóng vốn thật. Có quyền lực trong tay các ông chủ ngân hàng tiếp tục lũng đoạn qua việc bơm vốn vào các DN “sân sau”…

 

 
Khi DN “sân sau” phát hành trái phiếu, chủ NH sẽ bỏ tiền ra mua, khi có tiền DN “sân sau” này lại mua cổ phần, cổ phiếu của ngân hàng khác nhằm mục đích chi phối ngân hàng đó, rồi lại mang cổ phiếu đó thế chấp vay vốn… chu trình này được coi là không sinh lời. Đến hạn DN “sân sau” phải thanh toán trái phiếu, không có tiền trả sẽ phát sinh ra nợ xấu cho ngân hàng.

Trên thực tế, việc tăng vốn ảo đã giúp không ít ông chủ ngân hàng cùng một lúc sở hữu 2-3 NH và đẩy vốn vào lĩnh vực đầu tư bất động sản, dẫn đến khó khăn về thanh khoản cho những ngân hàng nhỏ. Điều đáng lo ngại nhất là, tình trạng sở hữu chéo giữa các ông chủ NH và các công ty sân sau sẽ đe dọa tính an toàn của cả hệ thống.

Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Uỷ ban giám sát tài chính Quốc gia cho biết, trên thế giới không có chuyện cho ngân hàng thành lập DN “sân sau” kinh doanh mà không có chế tài quản lý, giám sát như Việt Nam. Thực tế, quản lý các DN “sân sau” không khó. Điều quan trọng là Ngân hàng Nhà nước có quyết liệt thanh tra, kiểm tra và xử lý hay không.

TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, cho rằng, nhiều quốc gia trên thế giới đều có quy định để hạn chế xung đột lợi ích giữa các cổ đông lớn của ngân hàng và các DN “sân sau”. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước đều có tình trạng lách luật nhưng Việt Nam, tình trạng này còn nan giải hơn do Việt Nam rất ít kinh nghiệm trong quản lý sở hữu chéo.

Cắt những “chân rết”

Theo ông Phạm Nam Kim, tại châu Âu cũng có hiện tượng ngân hàng thành lập DN “sân sau”, nhưng rất ít và bị hạn chế tối đa bởi được kiểm soát chặt từ Chính phủ. Tại Việt Nam, hiện tượng trên phát triển là do sự giám sát của các cơ quan tài chính quá yếu. Vấn đề chính là đã không có 1 tổ chức giám sát tài chính hợp nhất để giám sát các hoạt động tài chính ngân hàng.

Việt Nam có 1 Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia, nhưng tổ chức này có trách nhiệm tư vấn về kinh tế vĩ mô chứ không phải thực hiện giám sát hoạt động tài chính cụ thể. Công việc giám sát hoạt động ngân hàng là nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước nhưng đây lại là cơ quan quản lý chuyên ngành và cấp phép thành lập, nhưng mới làm được cái này mà không được làm cái kia…

Còn Bộ Tài chính có nhiệm vụ giám sát hoạt động của các công ty tài chính và Ủy ban Chứng khoán Quốc gia giám sát thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, các tổ chức này lại thiếu phối hợp chặt chẽ.

Chẳng hạn một DN “sân sau” của ngân hàng thương mại phát hành trái phiếu, theo quy định phải xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban chứng khoán, nhưng do hoạt động riêng rẽ dẫn đến các thông tin kia không đến được với Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại mua trái phiếu của DN “sân sau” ngân hàng Nhà nước không nắm được..

Nếu có một ủy ban giám sát toàn bộ hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán thì DN “sân sau” phát hành trái phiếu ủy ban này sẽ nắm được. Tại các nước châu Âu đều có 1 ủy ban đồng nhất để giám sát hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán.

Đấy là chưa kể, từ lâu trên thế giới đã tách biệt giữa nhiệm vụ giám sát ngân hàng và quản lý tiền tệ khỏi Ngân hàng Trung ương. Rất khó cho việc vừa quản lý tiền tệ lại vừa giám sát ngân hàng. Tại Việt Nam, nhiệm vụ này được giao cả cho Ngân hàng Nhà nước và như vậy không khác gì “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

Theo ông Kim, giám sát các hoạt động ngân hàng phải thuộc về 1 cơ quan độc lập. Dịch vụ ngân hàng ngày càng phức tạp, việc giám sát kiểm ra đòi hỏi cần các cán bộ có năng lực rất cao. Những chuyên gia đó có giá rất đắt. Nếu cơ quan giám sát là cơ quan hành chính, được trả theo bảng lương công chức sẽ không thu hút được người tài và kết cục là nhân viên đó dễ bị các ngân hàng “mua chuộc”.

Thực tế, lực lượng của NHNN hiện nay còn hạn chế về khả năng kiểm soát trong mối quan hệ NH và DN sân sau. Trong khi đó, các ông chủ lại ỷ vào việc Chính phủ không để ngân hàng nào bị phá sản nên sẵn sàng mạo hiểm dùng vốn đầu tư vào các lĩnh vực khác. Rủi ro nếu có xảy ra vẫn yên tâm sẽ có Ngân hàng Nhà nước đứng ra giải quyết.

Theo ông Kim, các quy định của luật về ngân hàng được ban hành chính là cam kết của Chính phủ đảm bảo cho người gửi tiền, ngăn chặn không cho ngân hàng gây ra rủi ro cho người gửi tiền. Việc không để cho ngân hàng nào phải phá sản, tuy có mục đính là đảm bảo an toàn cho người vay, nhưng nếu không giám sát chặt sẽ bị các ngân hàng lợi dụng làm ẩu và ỷ lại.

Kiểm soát và giám sát hoạt động ngân hàng cũng là nhiệm vụ của các công ty kiểm toán. Ở châu Âu, Ủy ban giám sát sẽ lựa chọn và ủy nhiệm cho 1 công ty kiểm toán giúp mình trong việc kiểm soát các ngân hàng, nếu có lỗi không báo cáo kịp thời, họ sẽ phải chịu trách nhiệm như ngân hàng đã phạm pháp.

Tại Thụy Sỹ còn có nguyên cả 1 bộ luật quy định công ty kiểm toán phải làm gì cũng như chức năng nhiệm vụ khi nhân hợp đồng kiểm toán. Chính vì vậy mà hệ thống kiểm soát khá chặt chẽ, DN “sân sau” khó có thể tự do hoạt động.

Việt Nam cần phải xem xét lại hệ thống giám sát tiền tệ và tìm ra những lỗ hổng, bịt kín nó lại có như vậy mới đảm bảo cho hoạt động ngân hàng lành mạnh.

Trần Thủy

 

 

Thế giới 24h: Nga hé lộ tên lửa siêu tốc

12 Th9

Thế giới 24h: Nga hé lộ tên lửa siêu tốc

– Nga bắt đầu sản xuất hàng loạt tên lửa Kh-31PD có khả năng chống lại được mọi loại radar; Nước Mỹ tưởng niệm các nạn nhân trong vụ khủng bố 11/9/2001… là các sự kiện nóng trong ngày.

Nổi bật

Đài Tiếng nói nước Nga dẫn nguồn tin từ Tổng công ty Tên lửa chiến thuật (KTRV) của Nga cho biết, họ đang sản xuất số lượng lớn tên lửa Kh-31PD có khả năng chống lại được mọi loại radar.

Thông tin trên được Boris Obnosov, lãnh đạo KTRV, cho biết ở triển lãm quốc tế HydroAviaSalon-2012. Kh-31PD là tên lửa chống radar tốc độ cao hiện đại nhất của Nga tính tới thời điểm này.

Một vụ phóng tên lửa của Nga. (Ảnh: Ruvr)

Theo các chuyên gia, tên lửa mới có đầu tự dẫn vạn năng thay cho 3 đầu đạn để bắn vào các loại radar khác nhau. Do đó, Kh-31PD có thể dùng chống mọi loại radar mà không cần phải cài đặt thêm.

Kh-31PD còn được nâng cấp hệ thống đầu dò sử dụng loại băng tần mới là Avtomatika L-130 cùng với một hệ thống dẫn đường quán tính, nhằm giúp nâng cao độ chính xác khi tấn công mục tiêu.

Tên lửa chống radar là loại vũ khí đặc biệt quan trọng được trang bị cho các chiến đấu cơ hiện đại, để tấn công các trạm radar của đối phương, từ đó chế ngự hệ thống phòng không của đối phương.

Theo chuyên gia quân sự Vasily Kashin, trong cuộc chiến tại Gruzia vào năm 2008, sở dĩ quân đội Nga giành chiến thắng nhanh chóng, là nhờ có được hệ thống tên lửa chống radar tốc độ cao này.

Tin vắn

– Chính quyền Ai Cập đã ra lệnh bắt cựu Thủ tướng Shafiq, do nghi ngờ ông này tham nhũng trong vụ việc liên quan tới con trai Mubarak.

– Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 11/9 đã yêu cầu phía Nhật Bản rút lại quyết định liên quan tới quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku.

– Ngày 11/9, Chính phủ Nhật Bản ký hợp đồng với chủ sở hữu tư nhân Kurihara nhằm mua ba đảo thuộc quần đảo tranh chấp Senkaku.

– Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda yêu cầu Lực lượng Phòng vệ Nhật bản (JSDF) chuẩn bị sẵn sàng cho những tình huống khẩn cấp.

– Một vụ nổ đã xảy ra bên ngoài một đồn cảnh sát ở ngoại ô Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ, khiến một người chết và năm người bị thương nặng.

– Trong cuộc tập trận chung với Mỹ, Hàn Quốc đã diễn tập một tình huống chiến tranh trong đó có việc chiếm đóng CHDCND Triều Tiên.

– Hàn Quốc thông báo phóng tên lửa mang vệ tinh quan sát vào tháng tới. Đây là nỗ lực phóng tên lửa lần 3 của nước này trong 3 năm qua.

– Các đợt thăm dò dư luận mới nhất cho thấy Tổng thống Barack Obama đang dẫn trước 5% so với ứng viên đảng Cộng hòa Mitt Romney.

– Ít nhất 28 người chết trong vụ một chiếc xe bus rơi xuống hẻm núi ở miền bắc Ấn Độ. Một tai nạn tương tự đã giết chết 29 người tại Nepal.

Tin ảnh

Hình ảnh tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại thế giới của Mỹ bị khủng bố tấn công hôm 11/9/2001. (Ảnh: THX)

11 năm đã trôi qua kể từ sự kiện chấn động trên. Nước Mỹ đang tiến hành hàng loạt hoạt động tưởng niệm những người xấu số trong vụ khủng bố kinh hoàng này.

Phát ngôn ấn tượng

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. (Ảnh: THX)

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố, Bắc Kinh sẽ “không lùi một tấc” trong tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/ Senkaku với phía Nhật Bản.

Ngày này năm xưa

Ngày 12/9/2007, cựu Tổng thống Philippines Joseph Estrada bị kết tội tham nhũng và lĩnh án tù chung thân.

Thanh Vân (tổng hợp)

Cựu sĩ quan tình báo Mỹ trở thành nhà Việt Nam học

12 Th9

Cựu sĩ quan tình báo Mỹ trở thành nhà Việt Nam học

 

Tôi rời khỏi lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ năm 1964, nhưng mối quan tâm về vấn đề tư tưởng (của người cách mạng Việt Nam) vẫn còn nguyên. Nhưng tiếp tục ra sao đây?

Với một số sĩ quan tình báo phương Tây, cách mạng Việt Nam đã tạo hứng khởi có tính bước ngoặt, đưa họ sang nghiên cứu ngành Việt Nam học. Đó là sĩ quan OSS Charles Fenn, từng là một cộng sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ phe Đồng minh và Việt Minh hợp tác năm 1945, rồi viết sách tiểu sử Hồ Chí Minh.

Đó là William Duiker, một nhân viên sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đến những ngày cuối cùng, hoàn thành sách nổi tiếng “Hồ Chí Minh – một cuộc đời” (Ho Chi Minh – a life, xuất bản năm 2000)…

Đó là sĩ quan biệt kích Pháp Paul Mus, năm 1947 làm nhiệm vụ thuyết khách đối với Hồ Chí Minh, sau đó trở về thực hiện những công trình nghiên cứu nổi tiếng về văn hóa Việt…

Dưới đây là tự sự về bối cảnh bước vào ngành Việt Nam học và tâm nguyện của David Marr, tác giả một số sách được giải về Việt Nam, do chính ông viết trong Lời đầu sách “Thử thách các truyền thống Việt 1920 – 1945” (Vietnamese Tradition on Trail 1920 – 1945).

Là sĩ quan tình báo Thủy quân lục chiến (TQLC) Mỹ ở Việt Nam, nhiệm kỳ 1962 – 1963, tôi không thể không bị choáng bởi năng lực của Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam (MTGP) trong tiến hành các chiến dịch đấu tranh chính trị và quân sự, trong những điều kiện khó khăn nhất mà con người có thể tưởng tượng nổi.

Cho dù bị phân tán trên hàng trăm địa bàn khác nhau, cách trở về đường không, biển, bởi sông, núi, chịu thiếu thốn trăm bề, chỉ không thiếu sự bền bỉ, MTGP đã thành công trong việc tránh không bị chia tách, bị tiêu diệt từng bộ phận. Hơn nữa, tới 1963, đã rõ ràng rằng MTGP đã lớn mạnh đến mức nó đương đầu trực diện, và chắc chắn sẽ chiến thắng chế độ mà Mỹ ủng hộ, đóng đô ở Sài Gòn.

GS. David Marr, được Quỹ Phan Chu Trinh tặng giải thưởng Việt Nam học 2008. Ảnh Sài Gòn tiếp thị.

Tôi bị hút vào một đoạn của “mê lộ” tình báo. Chúng tôi biết rõ rằng hệ thống thông tin của MTGP là cực kỳ thô sơ, nhưng chúng tôi cũng nhận thấy ngay cả những cơ sở thuộc tầng thấp nhất của tổ chức MTGP vẫn nhận thức được, về đại thể, họ cần phải làm gì, và vẫn cố gắng hoạt động phù hợp (với đòi hỏi của tình hình).Thêm nữa, có nhiều trường hợp người lãnh đạo tại chỗ của MTGP bị giết, bị bắt, hoặc buộc phải lánh sang vùng khác, nhưng các hoạt động “chống chính phủ” không vì thế mà chấm dứt. Chỉ sau một thời gian (tạm lắng) khoảng vài tháng, cùng lắm một năm, các hoạt động như thế (cách mạng) có xu hướng ngày một tăng cường trở lại (quy mô cũ). Các mối liên lạc với lãnh đạo cấp cao hơn của MTGP được khôi phục, đẩy bộ máy của Mỹ – Sài Gòn vào tình thế còn xấu chưa từng có.

Mặt khác, tôi nhận thấy hai người lãnh đạo của MTGP ở hai vùng cách xa nhau, khi phải đối đầu với cùng một hoàn cảnh, và đều không nhận được hướng dẫn gì của cấp trên, đã cùng đưa ra các cách đối phó về bản chất là giống nhau. Không phải lúc nào họ (những cán bộ MTGP) cũng chọn được giải pháp đúng đắn nhất, nhưng họ (không hẹn mà nên) đều bộc lộ nhãn quan chính trị sáng suốt, cách tiếp cận vấn đề sát thực tiễn, không chờ đợi, dựa dẫm vào tổ chức, cấp trên.

Chưa kể đến các vấn đề khác, chỉ điều nói trên thôi (tính chủ động của cán bộ các cấp MTGP) đã cho thấy nỗ lực của các chuyên gia “chống nổi dậy” nhằm kiến tạo thế bị chia cắt theo vùng miền đối với ((phong trào) của MTGP, và nhằm gây chia rẽ trong nội bộ hàng ngũ MTGP, tất yếu sẽ thất bại. MTGP có thể vẫn phải gánh chịu tổn thất, nhưng không phải do chính sách chia để trị của Mỹ – Sài Gòn.

Tôi bắt đầu đi đến kết luận là đã đạt được một sự nhất trí về tư tưởng giữa các thành viên của MTGP, giúp cho các cán bộ cơ sở có thể hàng tuần, hàng tháng hoạt động trong điều kiện các chỉ thị sâu sát của cấp trên không tới được tay họ. Hơn nữa, trong trường hợp tập thể lãnh đạo (phong trào) địa phương bị triệt bởi hành động (đàn áp) của Mỹ – Sài Gòn, (quần chúng) vẫn duy trì được ý chí (đấu tranh), giúp lớp cán bộ kế tục khôi phục lại phong trào trong thời gian tương đối nhanh.

Tôi rời khỏi lực lượng TQLC Mỹ năm 1964, nhưng mối quan tâm về vấn đề tư tưởng (của người cách mạng Việt Nam) vẫn còn nguyên. Nhưng tiếp tục ra sao đây? Ngay trong thời gian học năm đầu ở Đại học Berkeley, bang California, tôi đã loại bỏ môn Khoa học chính trị (khỏi đầu mình, không còn xem nó) như một bộ môn đáng học.

Sẽ là nực cười (trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt) để nghĩ là tôi sẽ sang một làng quê Việt để thực hiện những khảo sát thật chính xác. Tôi cũng không còn hào hứng phỏng vấn những người Việt bị bắt. Tôi đành bằng lòng với việc phân tích các truyền đơn, báo chí và các cuốn sách mỏng của MTGP, và của Bắc Việt thời đó, nhưng nhận thấy cách làm này hời hợt, và các nguồn của chúng chỉ tập trung vào một số vấn đề then chốt đang đặt ra.

Năm 1965 tôi phỏng vấn một số trí thức ở đô thị Nam Việt Nam, kinh ngạc nhận thấy họ biết quá ít về chủ nghĩa chống thực dân ở nước Việt Nam đương đại, và về sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Đến lúc này tôi đi đến được một xét đoán là lịch sử cánh tả (lịch sử phong trào cách mạng) là lựa chọn duy nhất. Trong cuộc khảo cứu này đâu cần phải vội vàng, vì từ năm 1966 trở đi tôi đã không còn coi những người cộng sản Việt Nam là kẻ thù, rằng phải cố láu cá hơn họ, phải đánh bại họ. Thật vậy, khi sang Nam Việt Nam làm nghiên cứu phục vụ cho luận án Tiến sĩ vào năm 1967, tôi đã nhận biết (convinced) rằng Việt Cộng chắc chắn đang đi tới chiến thắng, chủ yếu là do họ được thừa hưởng một truyền thống dân tộc và chống đế quốc, thực dân (anticolonialism) mạnh mẽ.

Sách Việt Nam: truyền thống và cách mạng. Trung tâm tư liệu Đông Dương xuất bản tại Hoa Kỳ, 1974.

Năm 1971, tôi xuất bản cuốn Chủ nghĩa chống thực dân ở Việt Nam 1885 – 1925 (Vietnamese anticolonialism 1885 – 1925, NXB University of California Press).

Tại mối nối (của hai giai đoạn chiến tranh) này, thay vì viết một sách nào tiếp nối cuốn đã ra, tôi nhận thấy có ý nghĩa hơn, nếu chung “vốn”, với những người đồng chí hướng, bất cứ điều gì tôi tích lũy được về Việt Nam, để giúp đồng bào Mỹ hiểu ra rằng các hành động (chiến tranh) mà phe Mỹ đang gây ra ở Đông Nam Á là thảm khốc và vô nhân đạo.

Và chúng tôi đã cùng đạt được đích là thành lập Trung tâm tư liệu Đông Dương (Indochina Resource Center một tổ chức nghiên cứu giáo dục tinh thần phản chiến có trụ sở tại Washington; đến 1982 sáp nhập vào Asia Research Center/Trung tâm nghiên cứu châu Á).

Cho dù chúng tôi không kỳ vọng sẽ chống lại được bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chính phủ Hoa Kỳ, nhưng những nỗ lực của chúng tôi không phải là không đem lại những thành quả ở từng nơi, từng lúc. Viên đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng ở Sài Gòn thậm chí còn phản đòn Trung tâm tư liệu Đông Dương, cho rằng Trung tâm này góp công làm (phe diều hâu) Mỹ bị “mất” Việt Nam. Công bằng mà nói, chính QĐND Việt Nam, tới lúc đó sở hữu một năng lực chỉ huy và hệ thống thông tin thật hiện đại, tinh vi, đã kết thúc thắng lợi cuộc chiến.

Sang Đại học quốc gia Australia năm 1975, ban đầu tôi định nghiên cứu và viết tập II sách về chủ nghĩa chống thực dân ở Việt Nam. Tuy nhiên ý đồ này đã được chỉnh sửa khi tôi nhận thấy các nguồn tư liệu gốc về giai đoạn 1925 – 1945 quả là dồi dào và đa dạng.

Chỉ riêng Thư viện Quốc gia Paris (Pháp) thôi, đã lưu trữ được khoảng một vạn danh mục tư liệu tiếng Việt. Hàng trăm hồ sơ tiếng Pháp (về Việt Nam) và tiếng Việt có thể tới đọc ở Verssilles, hoặc đặt được dưới dạng microfilm. Có ít nhất 80 nhân vật viết hồi ký về các hoạt động chính trị, quân sự, hoặc văn hóa của mình trong giai đoạn dẫn tới Cách mạng tháng Tám 1945. Lưu trữ Hải ngoại của Pháp (Archives d’Outre-Mer) ở cả Paris và Aix – en – Provence đều chứa cả những tài liệu gốc được in trong nhà in bí mật của (cách mạng) Việt Nam, và những tư liệu cùng dạng, về sau được in lại trong các tạp chí học thuật của Hà Nội. Tôi nhận thấy không một tư liệu nào trong đó lại có thể xem là không hữu ích.

Những gì tỏ ra sống động nhất trong núi tư liệu gốc nói trên là sinh khí của những thử nghiệm, là sự dồi dào của những ý tưởng đầy sức cuốn hút, những trao đổi không bị bó buộc bởi nghi thức, cả những thất vọng sâu sắc, những trải nghiệm trong đau đớn, và những chia tách của giới trí thức bởi các giới tuyến, sẽ trở thành dễ nhận biết với bất kỳ sinh viên nào thời hậu chiến ở Việt Nam.

Trong khi mong mỏi các học giả khác đưa ra được các đánh giá cân bằng về các cặp phạm trù như thực dân – chống thực dân, chủ nghĩa dân tộc – cộng sản, chủ nghĩa truyền thống – chủ nghĩa hiện đại… tôi cảm nhận, sẽ là dấn thân (challenging – đầy thử thách) và bổ ích hơn đối với chính mình, nếu tôi nỗ lực chuyển tải những gì là nền tảng tri thức chung, những gì thực sự gây bùng nổ sự quan tâm và những cuộc tranh luận, dẫn tới những phân tích và bổ sung vào các tiêu điểm (của ngành Việt Nam học)…

Lê Đỗ Huy (trích dịch)

 

Hiểm họa vũ trang hay ‘đòn tâm lý chiến’?

12 Th9

Hiểm họa vũ trang hay ‘đòn tâm lý chiến’?

 Điều Trung Quốc muốn khi phát triển vũ trang hay leo thang gây hấn không phải là vì chuẩn bị cho chiến tranh nhằm cướp lấy biển Đông và thách thức địa vị bá quyền của Mỹ như báo giới phương Tây lo ngại.

Tháng 9 là khoảng thời gian đặc biệt với tranh chấp biển Đông. Một mặt theo thông tin báo chí trích lời các nhà ngoại giao, ASEAN và Trung Quốc sẽ cùng đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) trong tháng này. Nhân chuyến thăm Indonesia đầu tháng 8 vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã bày tỏ quan điểm rằng Trung Quốc vẫn sẵn sàng đàm phán COC với ASEAN.

Mới đây biển Đông và COC cũng để lại dấu ấn trong chuyến đi của Ngoại trưởng Mỹ, khi bà cho rằng việc đạt được COC là phù hợp với “lợi ích của tất cả các bên”. Mặt khác, ngược lại với các chỉ dấu hứu hẹn giải quyết vấn đề trên bàn đàm phán, hàng ngàn tàu cá vẫn đổ ra biển, cái gọi là Tam Sa đang được nhanh chóng quân sự hóa, và công ty Dầu khí Hải dương Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tiếp tục mời thầu 26 lô dầu khí ở vịnh Bột Hải, bao gồm cả lô nằm trong thềm lục địa của Việt Nam, bất chấp phản ứng của Việt Nam sau vụ mới thầu phi pháp trước đó không lâu. Đằng sau những bức tranh sáng tối đan xen, chuyện gì đang thật sự xảy ra ở biển Đông?

Hiểm hóa xung đột

Trước những động thái căng thẳng thời gian qua, nhiều người nghi ngại về nguy cơ của một cuộc chiến tranh trong tương lai gần.

Những nghi ngại này không phải không có căn cứ, khi các hành động hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc đang được sốt sắng thực hiện với một tốc độ đáng nể, và sự xuất hiện của tàu ngầm hạt nhân, máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm và thậm chí là cả tàu sân bay,… được xem như những điều hiển nhiên để khẳng định sức mạnh của cường quốc này.

Đối mặt với quá trình hiện đại hóa nhanh chóng của hải quân Trung Quốc và các hành động xác quyết chủ quyền ngang ngược của nước này trên biển Đông, dư luận quốc tế, đặc biệt là Mỹ dường như thiên về xu hướng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực tại biển Đông và đổi đầu với Mỹ trong một cuộc chiến giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới. Những bài viết như “Chuẩn bị cho chiến tranh với Trung Quốc” của James Holmes trên tạp chí National Interest hay “Thời khắc quân sự của Trung Quốc” do Jim Holmes viết trên chuyên sang bình luận chính trị thế giới Foreign Policy dự đoán rằng Trung Quốc sẽ sớm sử dụng vũ lực tại biển Đông.

Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu quân sự còn cho rằng việc Trung Quốc phát triển quân sự theo hướng “chống tiếp cận” là nhằm đối đầu với Mỹ và ngăn cản lực lượng hải quân hàng đầu thế giới can thiệp vào khu vực, vì hiện nay, lực lượng hải quân của Trung Quốc đã vào hàng mạnh nhất tại châu Á, do đó, chiến lược “chống tiếp cận” trên biển rõ ràng là không cần thiết nếu chỉ cần đối phó với hải quân của các nước lân cận.

Nhưng không chỉ giới nghiên cứu và giới báo chí Mỹ lo ngại về việc Trung Quốc gây chiến, mà ngay cả Phòng đánh giá mạng lưới (ONA – Office of Net Assessment) của Bộ quốc phòng Mỹ còn “vẽ” ra một kịch bản về “Tác chiến không – biển” nhằm phá vỡ chiến lược “chống tiếp cận” của Trung Quốc. Kịch bản này được làn gió chạy đua vũ trang giữa các nước trong khu vực thổi lên thành hiện thực.

Theo IHS Jane’s, các nước Đông Nam Á cùng nhau đã tăng 13,5% chi tiêu quốc phòng trong năm 2011, lên 24,5 tỷ USD và dự đoán sẽ tăng lên đến 40 tỷ USD vào năm 2016. Sự gia tăng chi phí quân sự chủ yếu là của các quốc gia biển ở Đông Nam Á.

Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự thì chỉ vài năm nữa, thực lực quốc phòng của các quốc gia ASEAN, sẽ tăng đáng kể, lúc đó các hành động ngang ngược của Trung Quốc sẽ gặp không ít trở ngại. Như Philippines đã tăng chi phí quân sự lên gần gấp đôi vào 2011 và mua lại một tàu tuần tra lớp Hamilton của Mỹ, nước này cũng đã tuyên bố sẽ đấu thầu mua thêm các vũ khí mới, bao gồm cả máy bay chiến đấu, tàu tấn công nhanh, radar,… vào tháng 8/2012.

Không chỉ các quốc gia ASEAN gia tăng chi phí quốc phòng đến mức đáng lo ngại cho Trung Quốc, mà Mỹ cũng đang đẩy nhanh tốc độ triển khai chính sách “tái cân bằng chiến lược” của mình. 60% tàu chiến của Mỹ, bao gồm 6 tàu sân bay, cùng với sự tăng cường của các loại máy bay và tàu chiến hiện đại nhất sẽ xuất hiện ở Thái Bình Dương trong vài năm tới. Mật độ tàu thuyền trong tương lai sẽ rất lớn, do đó, khả năng va chạm gây xung đột cũng tăng theo, cùng với sự phát triển quân sự của các quốc gia trong khu vực và sự hiện diện của hải quân Mỹ thì chiến tranh trong tương lai sẽ không có lợi cho Trung Quốc.

Theo lý thuyết “chiến tranh phòng ngừa”: “cuộc chiến hiện tại nhằm tránh nguy cơ buộc phải tham chiến trong môi trường xấu hơn trong tương lai”, Trung Quốc có lí do để manh động. Một khi xảy ra, cuộc chiến sẽ diễn ra nhanh chóng nhờ sự yếu thế của các nước trong khu vực, và kết thúc trước khi Mỹ kịp trở tay.

Kịch bản đã được phác thảo, nhưng câu hỏi đặt ra là thực sự Trung Quốc có động cơ để gây chiến trong tương lai gần hay không?

“Công thành vi hạ, công tâm vi thượng”

Cái gọi là “chiến tranh phòng ngừa” chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại, không có nghĩa là không thiệt hại, vì vậy nếu có thể đạt được điều mình muốn mà không cần phải gây chiến thì rõ ràng sẽ tốt hơn nhiều.

Nhìn thêm về mặt lịch sử, Trung Quốc không phải là một quốc gia có “thói quen” sử dụng vũ lực trong các tranh chấp mà thường chỉ khi suy giảm về ưu thế thương lượng mới dẫn đến các hành động bạo lực của Trung Quốc.

Theo giáo sư Fravel Taylor, Viện Công nghệ MIT, phân tích các trường hợp tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc từ 1949 đến giờ cho thấy: ưu thế thương lượng trong tranh chấp lãnh thổ được cấu thành từ hai yếu tố, một là phần lãnh thổ tranh chấp mà một quốc gia chiếm hữu được, hai là khả năng mở rộng sức mạnh quân sự để chống lại đối phương trong các khu vực tranh chấp, gồm cả những khu vực mà quốc gia đó có yêu sách nhưng không cai trị.

Nếu nhìn vào tình hình biển Đông hiện nay, nước này không nằm trong tình trạng suy giảm ưu thế thương lượng để phải dùng vũ lực. Những phần lãnh thổ tranh chấp không thuộc về Trung Quốc nhưng quốc gia này có khả năng kiểm soát khá lớn, và Trung Quốc sở hữu lực lượng quân sự lớn nhất trong các quốc gia tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, đủ sức chiếm toàn bộ biển Đông nếu Mỹ không can thiệp.

Hơn nữa, các hành động leo thang xung đột trong thời gian vừa qua của Trung Quốc một phần bắt nguồn từ những bất ổn nội tại của nước này. Xuất khẩu giảm mạnh; tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại; biểu tình, bạo động ở Tân Cương, Tây Tạng,…; xì-căng-đan chính trị của Bạc Hi Lai,…; tham nhũng hoành hành, …. Tất cả những bất ổn đó đã khiến Trung Quốc phải sử dụng đến chiêu bài “chủ nghĩa dân tộc” với việc tự coi mình là nạn nhân trong tranh chấp biển Đông, nhằm kích động nhân dân trong nước đối với các kẻ thù tự huyễn hoặc, từ đó đẩy bất ổn ra bên ngoài.

Thêm vào đó là sự thành công ngoài mong đợi của phép thử Scarborough khi cộng đồng quốc tế không có các hành động phản đối thiết thực, đặc biệt là Mỹ dường như đã nhắm mắt làm ngơ.

Nhưng chiêu bài “chủ nghĩa dân tộc” lại là một con dao hai lưỡi, khiến Trung Quốc không thể dừng lại mà phải tiếp tục gây hấn, sự rủi ro của leo thang căng thẳng trên biển Đông có thể dẫn đến xung đột, mà việc Mỹ có can thiệp hay không lại là điều không ai biết. Do đó, nếu xung đột xảy ra với tình trạng bất ổn nội tại chưa giải quyết, mà lại gặp phải sự can thiệp của Mỹ thì rõ ràng Trung Quốc sẽ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Khi ấy không chỉ tham vọng bá quyền tan biến, mà hi vọng rút khỏi cuộc chiến với thiệt hại ít nhất có vẻ cũng là quá xa xỉ.

Với những lý do đó, Trung Quốc sẽ không dại gì triển khai “chiến tranh phòng ngừa” trong tương lai gần, còn đối với tương lai xa hơn thì lúc ấy sự phát triển của các nước lân cận cùng với chính sách “xoay trục” cũa Mỹ sẽ khiến Trung Quốc phải “suy nghĩ hai lần” nếu muốn gây chiến tranh ở biển Đông.

Điều Trung Quốc muốn khi phát triển vũ trang hay leo thang gây hấn không phải là vì chuẩn bị cho chiến tranh nhằm cướp lấy biển Đông và thách thức địa vị bá quyền của Mỹ như báo giới phương Tây lo ngại, mà mục tiêu nước này nhắm tới là để ép các quốc gia đang cùng tranh chấp ở biển Đông phải rơi vào tình trạng suy giảm ưu thế thương lượng, từ đó chèn ép họ trong đàm phán và hợp thức hóa sự chiếm hữu trái với Luật pháp quốc tế.

Từ các hành động gây hấn, cấm đánh bắt hay triển khai tàu cá nhằm tạo ra sự hiện diện pháp lý cần thiết, cho đến sự phô trương sức mạnh quân sự và triển khai tàu sân bay,… tất cả các biện pháp về quân sự và kinh tế của Trung Quốc đều nhằm dàn quân một cách ồ ạt trên quy mô lớn, tạo nên sức mạnh răn đe, và gây ra cảm giác bất an, thậm chí là sợ hãi cho các đối thủ. Khi các quốc gia luôn lo sợ nguy cơ đụng độ với Trung Quốc, thì nước này sẽ có thể từ từ gặm nhấm chủ quyền ở biển Đông. Và sau khi Trung Quốc đã chiếm giữ thì các quốc gia khác cũng vì sự lo sợ mà không dám giành lại, do lo ngại Trung Quốc sẽ leo thang xung đột và xâm chiếm nhiều hơn.

Nhìn một cách tổng thể, ưu thế thương lượng chỉ phát huy hiệu quả tốt nhất khi nằm trên bàn đàm phán, vì sự xâm chiếm bất hợp pháp dù có giữ được, vẫn là trái với Luật pháp quốc tế, và sẽ có thể gây ra sự phản đối mạnh mẽ trong cộng đồng quốc tế, chưa kể trường hợp “con giun xéo lắm cũng quằn”. Nhưng nếu nằm trên bàn đàm phán, thì các quốc gia chứng kiến sức mạnh và sự hung bạo của Trung Quốc sẽ phải cân nhắc thật kĩ trước các quyết định của mình

Đàm phán bất lợi cho Trung Quốc thì nước này sẽ tiếp tục gặm nhấm chủ quyền, thậm chí là sẵn sàng tạo xung đột. Còn nhún nhường Trung Quốc sẽ có thể gây bất ổn trong nội bộ quốc gia mình, tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không để cho các quốc gia cùng tranh chấp phải rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, vì lúc đó sẽ khó để kiểm soát tình hình. Việc Trung Quốc leo thang xung đột cũng một phần là do nước này muốn đẩy bất ổn ra bên ngoài, nhưng nếu leo thang thành một cuộc chiến đầy rủi ro thì rõ ràng là một nước cờ liều mạng.

Vậy nên sự giảm bớt can thiệp quân sự và sự hiện diện, cũng như bỏ lại một phần nhỏ trong những vùng lãnh thổ nước này đã chiếm bất hợp pháp sẽ có thể xem như một “món quà” trao đổi, từ đó giành được những điều khoản về pháp lý, và có quyền chiếm hữu hợp pháp phần lãnh thổ còn lại mà Trung Quốc đòi hỏi.

Các cuộc đàm phán chủ quyền luôn là sự trả giá qua lại, do đó nếu Trung Quốc chiếm được càng nhiều trong quá trình gặm nhấm chủ quyền thì sẽ càng “kì kèo” được nhiều khi đàm phán. Đó là tác động tâm lý làm yên lòng, khiến cho các nước khác cảm thấy “may mắn” khi không mất nhiều hơn.

Binh pháp Trung Quốc có câu: Công thành vi hạ, công tâm vi thượng nghĩa là “Đánh vào thành là hạ sách, đánh vào lòng người mới là thượng sách”. Ứng vào tình hình biển Đông hiện nay rõ ràng việc Trung Quốc hiện đại hóa vũ trang, leo thang gây hấn hay chiếm giữ bất hợp pháp không phải nhằm vào mục đích chiến tranh, mà chỉ là để đánh vào tâm lý của các quốc gia khác, đẩy họ rơi vào thế bị động và suy giảm ưu thế thương lượng, từ đó chiếm càng nhiều càng tốt nhằm trả giá và trao đổi trên bàn đàm phán theo hướng có lợi cho mình. Ngón đòn tâm lỳ được tung hô có thể tạo ra một cơn bão lớn khiến người khác phải lo sợ mà nhanh chóng trốn tránh, đành để mất một phần tài sản, nhằm giữ lại sinh mạng và những thứ quý giá hơn, trong khi vẫn cảm thấy may mắn. Tìm kiếm thế mạnh trong đàm phán thông qua “hiện diện quân sự” là cái đích mà Trung Quốc hiện muốn nhắm tới.

Nguyễn Chính Tâm – Vũ Thành Công

‘Tham nhũng ở Việt Nam vừa tinh vi vừa trắng trợn’ – VNE

12 Th9

‘Tham nhũng ở Việt Nam vừa tinh vi vừa trắng trợn’

Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế, Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng. Năm 2011 có những tiến bộ nhất định nhưng vẫn là những nước có điểm số thấp và đứng ở phía cuối bảng xếp hạng.

Tại Hội thảo “Vai trò của Quốc hội trong phòng chống tham nhũng” do Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức, Phó chánh Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng Lê Văn Lân có bài tham luận. Bài viết được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, VnExpress xin trích giới thiệu:

Ở Việt Nam cũng như các nước khác, việc đánh giá chính xác về tình hình tham nhũng diễn ra trong thực tế là rất khó khăn, vì tham nhũng cũng giống như một tảng băng trên biển, chỉ có thể nhận biết được phần nổi qua những vụ việc đã được phát hiện, xử lý. Thông qua kết quả phát hiện, xử lý các vụ việc tham nhũng trong những năm qua và căn cứ việc đánh giá của các cơ quan chức năng, Đảng và Nhà nước đã khẳng định tình hình tham nhũng ở Việt Nam là nghiêm trọng.

Trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tham nhũng chủ yếu diễn ra trong việc quy hoạch; chuyển đổi mục đích sử dụng đất; thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị; giao đất, cho thuê đất; định giá đất khi thu hồi, đền bù; cấp phép khai thác tài nguyên, khoáng sản… Một số người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giao đất không đúng thẩm quyền; lập hồ sơ khống hoặc khai tăng diện tích đất khi đền bù. Điển hình là vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long – Vân Trì (Hà Nội) thiệt hại ước tính khoảng 14 tỷ đồng; vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, gây thiệt hại gần 11 tỷ đồng; vụ tham nhũng về đất đai tại Đồ Sơn và tại Quán Nam, thành phố Hải Phòng…

Dư luận cho rằng việc cấp đất cho các dự án đều có hiện tượng bôi trơn cho những người có thẩm quyền (vụ Công ty Phát triển nhà tỉnh Bạc Liêu; vụ Nguyễn Văn Khỏe, Chủ tịch UBND huyện Hóc Môn, TP HCM nhận hối lộ để cấp đất sai quy định).

Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nổi lên tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ trong ngành ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại hoặc cán bộ trong ngành ngân hàng tiếp tay, móc nối với người bên ngoài thông qua các hoạt động cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, đầu tư tài chính, ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư… để chiếm đoạt tài sản, gây thất thoát lớn. Ví dụ như vụ Lê Hoài Phương, cán bộ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Cầu Giấy (Hà Nội) tham ô 24 tỷ đồng; vụ Phan Văn Tưởng, cán bộ Ngân hàng Techcombank cùng các đồng phạm tham ô trên 10 tỷ đồng; vụ Đoàn Tiến Dũng, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam nhận của khách hàng 5 tỷ đồng, là khoản trích 3-10% trong số tiền mà khách hàng được vay của ngân hàng này; vụ Nguyễn Thị Thùy Vân tham ô hơn 24 tỷ đồng ở Ngân hàng cổ phần Thương mại Sài Gòn; vụ Hoàng Thị Thu Hà, Giám đốc chi nhánh miền Bắc của Tổng công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thất thoát 19 tỷ đồng; vụ Vũ Việt Hùng, Giám đốc ngân hàng Phát triển chi nhánh Đắk Lắk – Đắk Nông, nhận 92 tỷ đồng, 100.000 USD và một ôtô BMW của Cao Bạch Mai và Trần Thị Xuân để cho vay không đúng quy định…

Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản phần lớn các công trình xây dựng đều xảy ra thất thoát tài sản, chủ yếu do tham ô và cố ý làm trái. Sai phạm xảy ra ở hầu hết các khâu, từ việc lập dự án, thiết kế, dự toán, phê duyệt kế hoạch cấp vốn đến đấu thầu, tư vấn, giám sát, thi công, nghiệm thu, quyết toán công trình. Thủ đoạn chủ yếu là không chấp hành đúng trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản; gian lận, thiếu minh bạch trong đấu thầu; khai khống khối lượng và giá trị vật tư, thiết bị; đưa vật liệu kém chất lượng, sai quy cách vào sử dụng; thi công sai quy trình để giảm chi phí…

Điển hình như vụ tham ô, cố ý làm trái và lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Ban quản lý dự án di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ; vụ Huỳnh Ngọc Sĩ, Giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ Đông – Tây, TP HCM nhận hối lộ 260 nghìn USD để xét thầu, nghiệm thu có lợi cho người đưa hối lộ; vụ tham ô xảy ra tại dự án xây dựng cầu Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh…

Trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp, thủ đoạn tham nhũng chủ yếu là giấu bớt và định giá trị tài sản, đất đai thấp hơn giá trị thực khi cổ phần hóa hoặc bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp; lập các hợp đồng mua bán, vận chuyển hoặc hóa đơn khống để chiếm đoạt; nâng khống giá hoặc gửi giá khi mua bán tài sản công để trục lợi. Ví như vụ Nguyễn Bi, Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng giám đốc và Nguyễn Thanh Huyền, Phó Tổng giám đốc, kế toán trưởng của Công ty Vifon – TP HCM, đã lập chứng từ khống chiếm đoạt hơn 20 tỷ đồng và không thu về cho công ty 59,9 tỷ đồng nhằm chiếm đoạt khi cổ phần hóa công ty này; vụ Trần Văn Khánh, Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp tham ô, cố ý làm trái, gây thiệt hại nhiều tỷ đồng; vụ Công ty xăng dầu Hàng không khai khống tỷ lệ dầu hao hụt nhằm chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng; vụ Công ty cho thuê tài chính II thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn nâng khống giá thiết bị lặn từ 100 triệu lên 130 tỷ đồng…

Trong công tác cán bộ, dư luận về tình trạng “chạy chức, chạy quyền, chạy công chức” vẫn còn nặng nề, nhưng trong thực tế chưa phát hiện, xử lý được trường hợp nào. Dư luận nói nhiều đến hiện tượng một số cán bộ tiến thân bằng con đường chạy chọt, nịnh bợ cấp trên (tìm hiểu sở thích, nhu cầu cá nhân của cấp trên và gia đình họ để tìm cách đáp ứng; sẵn sàng biếu cấp trên những món quà có giá trị lớn như nhà ở, đất ở, cổ phần trong các dự án, công ty…).

Nhiều người nói rằng, hiện nay mọi thứ đều “có giá”, từ việc tuyển dụng, phân công công việc đến bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Báo chí đã đưa tin về 2 trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh nhận quà, nộp lại quà và sử dụng quà tặng không đúng quy định, là ông Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau và ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (trước đây).

Trong lĩnh vực tư pháp, hành vi tham nhũng chủ yếu là cán bộ tư pháp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận hối lộ nhằm bỏ lọt hoặc giảm nhẹ tội phạm trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ví như vụ Vũ Văn Lương, thẩm phán quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) nhận hối lộ 70 triệu đồng trong vụ tranh chấp 2,7 m2 công trình phụ; Hà Công Tuấn, thẩm phán TAND tỉnh Quảng Ninh bị bắt quả tang nhận hối lộ 200 triệu đồng nhằm xử nhẹ tội cho bị cáo…

Ngoài những lĩnh vực trên, tình trạng nhũng nhiễu còn khá phổ biến trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước và công chức nhà nước với người dân và doanh nghiệp, giữa nhân viên các cơ sở dịch vụ công với khách hàng, như: cảnh sát giao thông, cán bộ thuế, các cơ quan cấp phép, cơ sở khám, chữa bệnh, các trường học… gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế (TI) Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng. Năm 2011 có những tiến bộ nhất định nhưng Việt Nam vẫn là những nước có điểm số thấp và vẫn đứng ở phía cuối bảng xếp hạng. Theo TI, ở châu Á, tình hình tham nhũng ở Việt Nam nghiêm trọng hơn so với Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunei, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… nhưng ít nghiêm trọng hơn Mông Cổ, Philippines, Lào, Nepal, Campuchia, Myanmar.

Lê Văn Lân

 
%d bloggers like this: