Lưu trữ | 9:12 Chiều

CHU LAI: hình hài đang phản bội trái tim – lethieunhon

13 Th9

CHU LAI hình hài đang phản bội trái tim

 

 

Lâu lắm rồi người ta không thấy một Chu Lai nhà văn xuất hiện qua tác phẩm. Nhưng không phải thế nghĩa là Chu Lai đang không viết, ngược lại anh còn tự hào mình bận hơn xưa. Bài phỏng vấn này được thực hiện vào thời điểm nhạy cảm, Chu Lai bảo, anh đang phải lo an ủi ông bố (nhà viết kịch Học Phi) để xoa dịu nỗi đau người cha gần trăm tuổi bỗng nhiên phải chứng kiến cái chết của con trai (nhà văn Hồng Phi). Chu Lai vẫn thế, hào sảng trong cả sự chua xót và chiêm nghiệm dù của một người vừa chợt biết mình không còn trẻ: “Đi tìm một nơi chốn bình yên để trú ngụ bây giờ là một sự siêu hình, ngớ ngẩn. Nhưng nơi tưởng như tĩnh lặng nhất như biên cương hải đảo, ngọn sông cửa biển, trung du xóm nhỏ, chân núi xa vời… cũng đều không còn sự bình yên nữa rồi”

Chu Lai: hình hài đang phản bội trái tim

 
Chật chội quá, ì xèo quá…
@ Người của Phố lâu lắm rồi hình như không “xuất hiện sáng lòa” như cái thuở gắn tên “Phố nhà binh” cho Lý Nam Đế phố hay tặng cho từ điển tiếng Việt cụm từ đầy ẩn ý Ăn mày dĩ vãng… Lâu nay anh làm gì vậy?
 
Chu Lai: Một câu hỏi đau đầu đấy! Giống như cái câu chúc đầu năm mà người ta thường chúc: “Năm mới chúc bác viết hay viết khỏe cho độc giả tụi em được tiếp tục ngất ngây…”. Chả lẽ lúc đó lại quát lên: “Thôi, cho tôi xin, cho tôi được hai chữ bình an, tôi kiệt quệ sức lực rồi, trong đầu tôi ráo hoảnh chả còn cái gì để viết nữa, viết thế đủ rồi, hàng ngàn trang sách, vài chục cuốn tiểu thuyết rồi, giờ mà còn lụi hụi viết nữa có mà hóa rồ!”. Và làm sao có thể sáng lòa mãi được. Có người chỉ bằng một bài thơ, thậm chí một câu thơ, một truyện ngắn, một cuốn sách là cứ ăn vào sự sáng lòa ấy suốt đời, cần gì phải viết nhiều đâu. Vâng, nói thì nói vậy nhưng cũng xót xa đáo để đấy. Sau Phố, sau Ăn mày dĩ vãng cái thằng tôi cũng ghì người cho ra lai rai một vài cuốn nữa nhưng không đâu vào đâu dẫu rằng bán vẫn khá chạy. Thôi thì không dám bắt chước cái ông Hemingway vĩ đại một khi không vượt qua được cái bóng của mình thì cho một viên đạn vào đầu, ở tôi, ở cái xứ mình văn chương không mấy được coi trọng, chẳng sáng lòa được nữa thì viết chậm lại, nghỉ ngơi, hoặc nếu cần bỏ bút đi lang thang ngẫm nghĩ sự đời, đi nhiều là phong lưu, xài tạm cái triết lý vu vơ đó vậy. Tất nhiên cũng có lý do là gần đây tôi lại vô tình dấn thân vào lãnh địa sân khấu, tuy không mất công mất sức nhiều nhưng nó lại xé vụn thời gian và cảm xúc. 
 
@ Phố của anh hay nói đúng hơn con phố đã được nhận diện bởi tiểu thuyết Phố giờ có khác trước nhiều không. Nếu Chu Lai chua chát tiếp, thì nỗi chua chát từ nhà ra phố bây giờ là gì?
 
Chu Lai: Khác kinh khủng. Từ một con phố đìu hiu thời bao cấp biến thành một thương phố ngào ngạt hương hoa mỹ phẩm thời mở cửa và bây giờ là một dãy phố sáng choang những biển hàng biển hiệu điện tử laptop, iPad, iPhone… Và tất nhiên con người cũng đổi thay bởi: Số phận con người phụ thuộc vào những số phận con đường. Thiên hạ bây giờ không mấy ai gọi con phố đó là Lý Nam Đế mà thường quen miệng gọi là Phố nhà binh theo tên gọi tiểu thuyết của tôi. Cũng khoái chứ. Nhưng lại chạnh buồn. Chật chội quá, ì xèo quá, ngôn ngữ bán mua, mặc cả tràn ngập các ngọn sấu, các ô cửa, nơi mà trước đây chỉ có tiếng giày đinh quân cảnh uể oải gõ hai bên hè, tiếng những đôi tình nhân thì thào lả người trong tay nhau, tiếng sấu rụng cô đơn xuống mặt đường và tiếng mèo động tình như đứa trẻ khóc u oa trên mái ngói. Mái buồn nghe sấu rụng. Vĩnh viễn hết cái hồn thơ ấy của tác giả Đầu súng trăng treo rồi! Nhưng biết làm sao được. Dòng đời vốn cứ vận hành như vậy, nó luôn gầm gào lao về phía trước để mưu sinh để tồn tại, nó bất biết sự hoài niệm đang đập thập thõm và tội tình trong trái tim kẻ yếu mềm đa cảm. Tự nhiên mất cảm hứng và nếu có một ai đó bảo sao ông không viết tiếp về con phố đó ngày hôm nay thì có khi sửng cồ, nổi cáu.
 
@ Phải chăng một phần của sự chạnh buồn ấy là bởi phố mà anh nói đã bị “ô nhiễm” ít nhiều vì người quê phủ sóng – như cách người ta đang tranh cãi?
 
Chu Lai: Tôi cho đó là một sự tranh cãi cực đoan, vô bổ nếu không muốn nói là ác ý. Đô thị nào chả thế, Thủ đô nào chả vậy khi nó buộc phải chấp nhận những dòng người từ các miền quê về lập nghiệp sinh sống. Nó phải tồn tại như một cái nồi lẩu văn hóa để rồi nếu cái hồn phố, hồn Hà Nội mạnh hơn, không bị nuốt chửng nó sẽ biến tất cả những thứ lằng nhằng kia thành của nó, vẫn dịu dàng, tinh khiết, hào hoa. Khi đó chất diễm lệ, tinh tế của người Hà Nội sẽ ngào trộn với cái thô mộc, thuần phác của người quê để trở thành một Hà Nội đa dạng, đa sắc màu mà vẫn vô cùng thơm thảo, lịch lãm. Hà Nội, đất ngàn năm Thăng Long dường như vẫn có một cái gì lạ lắm vượt lên trên những bụi bặm trần tục phải chăng vì thế mà dù đi đâu về đâu, dù đã đôi lần muốn nhập cư nơi khác có biển trời có tĩnh lặng, như tôi, như các văn nhân tài tử khác vẫn cứ phải trở về Hà Nội, viết rất hay về Hà Nội như nơi cội nguồn, hồn khí, phiêu linh kỳ ảo, mơ hồ mà không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào. 
 
Bận rộn và như thế là hạnh phúc!
@ Cuốn sách Minh triết của sự bền vững – Kinh tế Phật giáo cho thế kỷ XXI của Sulak Sivaraksa chỉ với 50 trang sách đã phô bày rất nhiều mặt trái của toàn cầu hóa… Toàn cầu hóa – cụm từ thời thượng này chạm vào gia đình Chu Lai và phố của anh theo cách nào?
 
Chu Lai: Tôi không thích cái cụm từ toàn cầu hóa. Cứ như thể nó sẵn sàng triệt tiêu hết thảy những giá trị riêng – biệt của từng quốc gia, từng gia đình. Mỗi đất nước có nền văn hóa, có chiều sâu lịch sử, có những khát vọng rất riêng, anh không thể dùng con ngáo ộp toàn cầu hóa để cào bằng, để đẩy những nước chậm phát triển đến miệng vực của sự lạc hậu và khi đó những nước đã phát triển sẽ vung vinh trên thân xác của những cá thể vì nguyên cớ nào đó mà chưa phát triển kịp, như chiến tranh, như cơ chế chẳng hạn. Thực chất toàn cầu hóa vẫn là cái trò khôn lỏi đã diễn ra trong suốt quá trình lịch sử giữa cái anh nhà giàu đối xử với cái anh nhà nghèo. Để rồi một câu hỏi nhức nhối được đặt ra: “Sao cái nhục mất nước ta không chịu được mà cái nhục tụt hậu, cái nhục đói nghèo ta lại dễ dàng cúi đầu chấp nhận?”
 
@ Thế mà nước mình thì vừa được xếp vào Top những quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới đấy nhé. Anh nói thật đi, anh có hạnh phúc không?
 
Chu Lai: Khó nhỉ! Cuộc đời sôi sủi, biết thế nào có thế nào không? Hạnh phúc xét đến cùng mang giá trị tinh thần nhiều hơn giá trị vật chất. Có cảm giác thời chiến tranh khốc liệt, thời bao cấp ảm đạm con người có hạnh phúc, tâm hồn con người ấm áp hơn thời ngổn ngang các giá trị bây giờ. Và nó còn phụ thuộc vào quan niệm của mỗi người. Đối với tôi, tuổi trẻ hạnh phúc là có một người con gái cháy bỏng mình yêu, lớn lên vào trận hạnh phúc là đánh phải thắng trận này để còn sống trở về được cô du kích có nước da xanh xao màu lãng mạn nấu cho một bát cháo gà rừng nóng bỏng môi và bây giờ, về già, hạnh phúc không là cái gì khác ngoài sự luôn luôn thấy thiếu thời gian. Có gì kinh hoàng bằng một vị quan chức quen hạ lệnh, chỉ thị, đăng đàn, ký kết… bỗng một ngày về hưu, sáng sáng đi ra đi vào, gãi đùi cành cạch, ngáp lên ngáp xuống, không biết làm gì, chả ai đến thăm. Lúc này tôi có nhiều cái để làm, khá bận rộn và như thế là hạnh phúc. Triết lý giờ đây với tôi là: “Đã sang giai đoạn ăn uống khó khăn, yêu đương nhọc nhằn, hình hài đang phản bội lại trái tim, vậy thì thích gì làm nấy, sống đúng mình, sống có chất lượng, vô vi vô thường, nghèo thì hèn nhưng giàu còn hèn hơn, ăn thêm được vài miếng, may mắn rung động thêm được vài cô rồi thanh thản, lặng lẽ đi vào cõi vĩnh hằng, xong!”.
 
@ Bận rộn mà bình yên, chốn bình yên nào nơi người ta tin mình có thể “trở về” khi mà ở bất cứ nơi nào cũng dường như đang tiềm ẩn những cái ác. Hàng loạt những tội ác rợn người ở những làng quê vốn có tiếng là yên bình theo anh, phải lý giải ra sao?
 
Chu Lai: Đi tìm một nơi chốn bình yên để trú ngụ bây giờ là một sự siêu hình, ngớ ngẩn. Nhưng nơi tưởng như tĩnh lặng nhất như biên cương hải đảo, ngọn sông cửa biển, trung du xóm nhỏ, chân núi xa vời… cũng đều không còn sự bình yên nữa rồi. Cái ác, cái vô cảm, sự chụp giật, khát vọng làm giàu, chủ nghĩa hưởng thụ, con quái thú vật chất chưa bao giờ cùng với các thác lũ thông tin trong đục, các dã tâm bành trướng láng giềng, nước lớn, các khuyết tật của cơ chế của chính quyền ào ạt đổ vào làm xáo trộn tất cả với cường độ và trường độ dữ dội như lúc này, nó đang từng ngày gây xói mòn, làm băng hoại không ít những giá trị tinh thần, những nền tảng văn hóa, đạo đức cơ bản khiến cho con người ngơ ngác, mất tin, đến nỗi không còn giữ nổi nét bình yên trong tâm hồn mình. Nhưng vẫn phải giữ, bằng giá nào cũng phải giữ được sự tĩnh lặng trong đầu óc để không bị cơn cuồng phong màu máu kia cuốn trôi, nuốt chửng. 
 
Con cừu non ngồi liếm râu ở góc chuồng
@ Có phải chăng những cơn cuồng phong màu máu đó xuất phát từ những rạn nứt rất nhỏ như mối ràng buộc gia đình ngày nay không còn được trân trọng, đến những khoảng cách giữa các thế hệ quá nhanh chóng bị đẩy xa… đã là nguyên nhân sâu xa nhất cho một xã hội nhiều cái ác lộ diện như hiện tại?
 
Chu Lai: Ấy, xin chớ vội chỉ đổ tại gia đình dẫu rằng gia đình là một tế bào mà ở đó con người được hình thành tính cách và nhân phẩm. Còn có một cái gì ở ngoài gia đình nữa, đó là xã hội. Một xã hội u ám thì làm sao có thể đòi hỏi một gia đình sáng sủa được. Tôi muốn nói về vấn đề thế hệ. Thế hệ đi trước thường chỉ đổ tại thế hệ đi sau không lý tưởng, không hoài bão, sống nhợt nhạt, sống thực dụng, vị kỷ… mà không biết rằng chính thế hệ cha anh đã làm gì, sống ra sao để tuổi trẻ nhìn vào nuôi niềm tin hay họ cũng chỉ buông tuồng, ẩu tả, tập trung vun quén cho sự thỏa mãn cá nhân đặng trở thành một tấm gương màu đen phản ngược?
 
@ Một cuộc sống no đủ dường như lại là dấu hiệu của một cuộc sống thực dụng, những giá trị tinh thần từng được trân trọng chưa xa lại dễ bị bước qua. Tại sao Chu Lai không viết về ngày hôm nay đi?
 
Chu Lai: Thì vẫn viết đấy chứ, viết bằng một tâm thức hoàn toàn khách quan, khoa học chứ không võ đoán, cực đoan nhưng có lẽ nhịp điệu cuộc sống hôm nay chưa đủ sức ngấm, mình theo chưa kịp nên những con chữ viết ra chưa đủ phổng phao, ấn tượng. Cũng đến cái đận tài hèn sức mọn rồi. Biết đủ là đủ, biết dừng là dừng, đó cũng là một triết lý khôn ngoan nhằm che đậy cái ngọn lửa sáng tạo đang lụi dần của người già. Vả lại viết về hôm nay làm sao có thể thông mình, sắc sảo, táo bạo bằng tuổi trẻ được. Miễn là cái cánh viết trẻ ấy biết đứng trên nền đạo lý nhân văn của dân tộc để tung bút.
 
@ Nhìn nhận thì bi quan thế, nhưng người ta vẫn phải vịn vào một điều gì đó để sống tiếp không chỉ với mình, còn với thế hệ kế tiếp mình nữa. Anh đang vịn vào đâu?
 
Chu Lai: Vịn vào bản chất cuộc đời, bản chất con người, vịn vào đồng đội đã ngã xuống, vịn vào những điều tốt đẹp vẫn còn ẩn khuất rất nhiều trong bóng tối và vịn vào công việc để tiếp tục sống. Thái độ cần thiết của người cầm bút lúc này là biết đẩy nỗi niềm của mình vượt lên trên hoàn cảnh, biết cách điềm tĩnh cắt nghĩa mọi sự việc xảy ra, kể cả những những sự việc nhức nhối nhất như vấn nạn tham nhũng, vấn nạn nhóm lợi ích hoặc vấn đề biển Đông đang dậy sóng để đưa đến những chiêm nghiệm, hành động chính xác. Trong cơn lốc bụi mù của cuộc đời, của chính trị, của hành tinh, nếu nôn nóng một chút, thả lỏng một chút, cảm tính một chút, một là anh sẽ trở thành kẻ chửi đổng ngoài chợ hoặc tệ hại hơn anh sẽ trở thành con cừu non ngồi liếm râu ở góc chuồng, thây kệ tất cả. Xã hội, toàn cầu càng phức tạp càng đòi hỏi một thái độ nhập cuộc sâu sắc của mỗi con người, mỗi thế hệ, không kể là dân thường, trí thức, nghệ sĩ hay cựu chiến binh, dù trong lòng dạ anh có trăm điều rối ren, bực dọc thế nào.
 
@ Cảm ơn sự chia sẻ của anh.
 
THÁI HÒA – Thể Thao & Văn Hóa
 
 

Thư họa Vua Trần Nhân Tông được bán với giá 1,8 triệu USD – DT

13 Th9

Thư họa Vua Trần Nhân Tông được bán với giá 1,8 triệu USD

(Dân trí)- “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” là bức tranh thủy mặc vẽ cảnh Phật Hoàng (vua Trần Nhân Tông) đang trên đường xuống núi giáo hóa chúng sinh. Bản phục chế của thư họa “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” vừa được bán với giá 1,8 triệu USD.

“Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” được cho là bức thư họa sơ tổ phái thiền Trúc Lâm Việt Nam, Phật Hoàng Trần Nhân Tông xuống núi. Không chỉ là một họa phẩm hoàn mỹ nó còn ẩn chứa trong mình vô vàn những thông điệp của quá khứ.

Mới đây, bàn phục chế cuộn thư họa “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” đã được mua với giá bất ngờ: 1,8 triệu USD. Nỗ lực phần nào giải đáp những câu hỏi như “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ” có mối quan hệ thế nào với lịch sử Việt Nam, Thạc sĩ Phạm Văn Tuấn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã có một buổi trình bày và thảo luận về bức họa này vào 10/9 tại Hà Nội.
 
Một phần của bức thư họa “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ”
Một phần của bức thư họa “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ”
 
 
Bức tranh rõ nét nhất về vua Trần Nhân Tông

“Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” là bức tranh thủy mặc được họa sư Trần Giám Như hoàn thành năm 1363 trên giấy xuyến, sau đó được các danh sĩ đời Minh bồi bút tôn vinh Trúc Lâm đại sĩ. Hiện bức tranh đang được lưu giữ tại bảo tàng Liêu Ninh (Trung Quốc). Theo Th.S Phạm Văn Tuấn, lịch sử Việt Nam hiện không có được di ảnh của vua Trần Nhân Tông, chỉ còn vài ba bức họa và tượng. Trong “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ”, hình ảnh Phật Hoàng (vua Trần) hiện lên rõ nét, sinh động với phong thái an nhiên khi đang trên đường xuống núi giáo hóa chúng sinh, chính là con đường từ động Vũ Lâm (Ninh Bình) ra Thăng Long.

Bức tranh là sự kết hợp giữa thư pháp và họa phẩm tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật, có tổng chiều dài lên đến 3m. Không gian rộng lớn với mây, núi, sông xen lẫn cây cỏ dại ven đường. Màu sắc đen trắng của thủy mặc, giãn cùng các điểm nhấn là con người, những cây tùng cổ thụ, núi và mây tạo nên hiệu ứng thẩm mỹ về không gian và thời gian. Tâm điểm của tranh là hình ảnh đại sĩ Trần Nhân Tông ngồi trên cáng, còn các tùy tùng đều khoác áo tăng.Tổng thể lên tới 82 người, nhân vật được vẽ rõ nét từng chi tiết. Nhóm người khiêng kiệu toàn đi chân đất, nhóm phục vụ mặc áo chẽn đến nách, tay cầm gậy trên như lông chim. Nhóm phục vụ nghi trượng tay cầm nghi trượng, áo cụt đến khuỷu tay. Nhóm quan lại phía trước Anh Tông có hai quan võ cầm gươm và năm quan văn: đi giầy nghiêm cẩn, tay chắp tôn kính cùng nhiều đạo sĩ người Ấn Độ đi kèm. Bên cạnh đó ngựa, bò, voi chở kinh được vẽ rõ nét từng chi tiết khác với cách vẽ tượng trưng thường thấy của người Trung Quốc.
 
Một phần hình ảnh của bức thư họa
Một phần hình ảnh của bức thư họa

Đánh giá về giá trị của bức họa, Th.S Trần Anh Tuấn cho biết: “ Bức họa là minh chứng cho lịch sử thời Trần, có sự gắn kết chặt chẽ giữa Phật giáo và Đạo giáo trong hình ảnh tay Nhân Tông lần tràng hạt. Bức tranh gắn liền với sự kiện vua Anh Tông ra đón Trần Nhân Tông về truyền đạo, một sự kiện quan trọng trong lịch sử thời Trần. Tôi đã đối chiếu nhiều nguồn sách cũng như internet, tất cả các bức tranh tôi thấy đều có nội dung thống nhất, đối chiếu chứng thực. Tranh có ý nghĩa về sự ra đời của Phật giáo, văn hóa Phật giáo cũng như lịch sử cuộc đời Trần Nhân Tông”.

Nhiều nghi vấn về tác giả

Theo Th.S Phạm Văn Tuấn, căn cứ vào dấu triện, tác giả của bức thư họa là Trần Giám Như ( 陳鑑如). Theo các tư liệu thời Nguyên và sách thời Thanh xác định rằng ông sống ở Hàng Châu. Mãi đến thời Thanh, mới có một tác phẩm là Hội sự bị khảo do Tây hồ Án sát sứ Vương Dục Hiền soạn thời Thanh cho rằng Giám Như người Hàng Châu, điều này có lẽ không được chính xác.
 
Th.S Phạm Văn Tuấn
Th.S Phạm Văn Tuấn

Ngoài ra, các thư tịch đều ghi Giám Như là môn hạ của Triệu Mạnh Phủ (1254 – 1322), từng nhiều lần vẽ tranh Mạnh Phủ. Tuy nhiên, ông là người Việt Nam hay người Trung Quốc, hoặc là người An Nam lưu lạc ở phương Bắc. T.S Nguyễn Nam khảo cứu có tư liệu ghi Trần Giám Như người Lô Giang (Tức sông Lô của Việt Nam. Cũng từ cách vẽ, cách nhìn nhân vật trong tranh rất chính xác, tỉ mỉ Th.S Phạm Văn Tuấn đặt ra giả thiết có một cộng đồng người Việt họ Trần lưu lạc sang Trung nguyên. Tuy nhiên đây câu hỏi về lai lịch tác giả vẫn còn là nghi vấn chưa giải đáp được.

“Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ” xuất hiện vào thời điểm nhà Nguyên suy tàn với hình ảnh vị vua nước Nam anh hùng, bất khuất. Tuy nhiên một số ý kiến tại buổi tọa đàm cho rằng cần thận trọng với những nghi vấn và tư liệu lịch sử được “trả giá” quá cao như vậy.
 
Những phần hình ảnh khác của bức thư họa:
 
 
Bài và ảnh: Nha Trang

Bài và ảnh: Nha Trang

Bài và ảnh: Nha Trang

Bài và ảnh: Nha Trang

Bài và ảnh: Nha Trang

 

 

 

Bài và ảnh: Nha Trang

ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ VIỆT HÔM NAY – Ngô Minh

13 Th9

ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ VIỆT HÔM NAY

  Ngô Minh

              Có một lần bên chiếu rượu ở nhà Hoàng Phủ Ngọc Tường, bàn chuyện thơ như thế nào gọi là hay, nhà thơ Phùng Quán đi ra bếp, xách một con dao thái thịt cán dài, lưỡi sắc lẹm sáng lóa vào, để con dao xuống giữa mâm rượu rồi phán :” Mỗi thi hữu đọc hai câu thơ, Thơ ai không hay sẽ bị chém !”. Phùng Quán vuốt râu bảo :” Ngộ đọc trước nhé”. Rồi anh đọc : “Mười tám tuổi / Tôi phá thập tự làm nỏ / Năm mươi tuổi / Tôi đẽo nỏ làm thập tự”. Mọi người vỗ tay. Sau Phùng Quán, không ai dám đọc nữa. Không phải vì sợ chém, mà vì không dám tin thơ mình là hay. Hoàng Phủ Ngọc Tường bỗng đằng hắng lên giọng :” Ngộ chỉ đọc một câu thôi “ : Tôi nhớ nơi kia có một chỗi ngồi…Mọi người lại vỗ tay. Sau màn đọc thơ “dễ sợ” ấy, Phùng Quán kể :” Có một cái Tết mình theo mọi người đi lễ chùa Hà. Sau khi sửa soạn đồ lễ, thắp nhang, khấn :” Cầu Phật cho con năm nay làm được bài thơ hay”, Tự nhiên Phật sống lại, tay lần tràng hạt, cười khà khà:” Chà, cái mà Nam Trần cầu xin, ta cũng ao ước hoài mà không được. Nam Trần biết chỗ nào cầu linh ứng mách cho ta với !”. Thì ra thơ hay thì thần  linh cũng ước chứ riêng gì người trần. Có đại hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Trinh Đường lúc đó ở tuổi xấp xỉ tám mươi, để làm tập tuyển Thơ với lời bình (thế kỷ XX), ông len lỏi giữa các hàng ghế đại biểu để phát cho mỗi nhà thơ một mảnh giấy ghi câu hỏi: “Làm thế nào để có thơ hay?” “chép cho một bài thơ hay tự chọn”. Năm sau, cuốn sách Thơ với lời bình do anh Trinh Đường biên soạn ra đời. Tôi đọc kỹ các bài thơ hay tự chọn của các tác giả mới té ngửa ra rằng, thơ một số tác giả tự cho là hay lại không hay bằng bài thơ của ông mà người yêu thơ thuộc.

           Bây giờ người làm thơ đông như quân Nguyên. Hội Nhà văn ước khoảng 700 hội viên thơ, mỗi tỉnh có một Hội nhà văn hoặc trực thuộc Hội Liên hiệp tỉnh. Hội nhà văn Huế nơi tôi sinh hoạt hiện có 85 hội viên, chủ yếu là thơ. Tính ra, 64 tỉnh thành có khoảng 4.000 nhà thơ “hội tỉnh”.  Ngoài ra còn có Hội thơ Đường Luật,  Hội thơ Việt Nam, hàng chục Hội thơ cựu chiến binh, rồi những người làm thơ không thèm vô hội, tính ra cả nước ta có cả vài vạn nhà thơ ! Đúng như ai đó nói Việt Nam là cường quốc thơ. Cứ năm bảy ngày, tôi nhận được 1 tập thơ các tác giả khắp nơi gửi biếu.  Phải nói Việt Nam đang được mùa thơ. Có rừng ắt có cây cao. Có nền ắt có cái đỉnh . Mừng lắm chứ.

         Nhưng vấn đề nhiều người đang băn khoăn là chất lượng thơ. Có người bảo thơ Việt ta bữa nay không hay bằng thơ các cụ xưa. Có nhiều thơ hay chứ . Như thơ Thi Hoàng, Trần Nhuận Minh chẳng hạn . Hiện nay vợ chồng anh Nguyễn Nguyên Bảy- Lý Phương Liên cùng với các nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, Lê Xuân Đố, Thanh Tùng, Nguyễn Thái Sơn ở Sài Gòn đang tuyển chọn và in ấn “bộ sách Thơ bạn Thơ , toàn thơ hay vủa nhiều tác giả. Tập 1 đã in xong. Nếu in xong bộ sách này, người đọc sẽ được đọc hàng ngàn bài thơ hay. Mới đây, có cuộc tọa đàm “Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều”, do Viện văn học tổ chức. Đã là Viện văn học tổ chức tức là chính danh quốc gia đại sự rồi. Trong cuộc đó, ai cũng khen thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hay với nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Nhưng lại có một luống ý kiến đông đảo khác, đa phần là trên mạng lại chê thơ Nguyễn Quang Thiều. Người khen là nhà phê bình, nhà văn thứ thiệt. Người chê cũng là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình có danh hẳn hoi. Người thì bảo : “thơ Thiều là thơ ghép chữ, tôi có thể làm một ngày chục bài”. Viện văn học khen vì “lợi ích nhóm” ( theo từ ngữ kinh tế). Người thì khen hết lời, thơ ấy là thơ hiện đại, đương đại, “là cái “đỉnh” của thơ Việt hiện nay.v.v..Vậy thì tin vào ai bây giờ ?  Thôi thì về với Hồn thơ Việt vậy.

        Tất nhiên, mặc kệ khen che thế nào, thơ vẫn cứ sống cuộc đời của nó trong đời sống văn học. Nó vào được lòng người thì tồn tại lâu dài, không thì nó chết yểu, dù bất cứ trường phát nào. Hội nhà văn Việt Nam đã trao giải thưởng tác phẩm thơ từ mấy chục năm nay. Có năm vài ba cuốn. Thơ được Hội đồng thơ Hội thẩm định , nhưng sao hàng chục tập thơ được trao giải ấy, đến bây giờ chẳng ai nhớ. Thậm chí tên sách cũng không nhớ, nói gì đến từng bài thơ ! Trong lúc đó những bài thơ Cây tre Việt Nam, Bầu trời vuông của Nguyễn Duy, hay Khoảng trời hố bom, Đường ở Thủ đô của Lâm Thị Mỹ Dạ, được giải thưởng báo Văn Nghệ  từ 40 năm trước, người ta vẫn nhớ. Hay tập thơ  Bức tranh quê của Anh Thơ được Tự Lực văn đoàn trao giải từ năm 1939, bây giờ vẫn còn nhiều người thuộc. Sự trớ trêu này thuộc trách nhiệm của ai ? Có điều gì đó không ổn trong các kỳ trao giải thơ. Hoặc thẩm định không chính xác, hoặc bị các hấp lực ngoài thơ chi phối ? Trao giải không công tâm, công bằng thì không những công chúng không phục mà ảnh hưởng rất xấu đến sự phát triển của nền thơ chung.

          Khoảng 20 năm trước, ở Huế xuất hiện “hiện tượng Văn Cầm Hải” với loại “thơ khó”. Ai cũng bảo :” Đọc đi đọc lại chẳng hiểu nó nói gì ?”. Nhưng Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Thạch và tôi thì ủng hộ hết lòng để cho tập thơ “Người đi chăn sóng biển “ của Hải ra mắt bạn đọc. Tôi rất yêu những câu thơ của Hải như : Trên da bụng em nườm nượp tiếng khóc… nỗi đau vo ve từng hạt máu…//Đời chị / như viện bảo tàng / có đầy mặt nạ đàn ông..//Lá rụng rồi vẫn còn nhả máu…Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thì thốt lên  “ Đây là một lối tư duy khác, một cách lập ngôn khác, một điệu nhạc khác‘. Thơ Văn Cầm Hải có tứ, có câu hay : Không ăn bóng một thời đã qua. Hay thơ Đinh Thị Như Thúy, cô giáo ở Đắc Lắc. Tháng 6- 1999, tôi đã giới thiệu trang thơ Đinh Thị Như Thúy trên báo Thừa Thiên Huế cuối tuần, tôi còn nhớ câu thơ Thúy rất hay : dường như trong tóc em / vệt môi anh còn ấm. Bây giờ, thơ  Thúy vẫn vậy, nhưng phóng túng hơn:  đã quá lâu rồi / chúng ta không làm sao chạm được tay mình vào tay những người yêu dấu…hay ngày thì dài câu thơ dang dở / em làm sao có thể ngủ yên…Thơ Thúy không thuộc loại ‘thơ khó’ , nhưng chưa có câu thơ lạ, chưa có bài thơ toàn bích. Kể lể như thế để nói rằng, tôi không phản đối bất cứ trường phái, hình thức thơ nào, trừu tượng, siêu thực, hậu hiện đại, đương đại.v.v..đều đọc, đều thích , miễn là thơ hay, thơ bám vào trí nhớ, đọng lại trong lòng …

          Đã là người viết /đọc Việt thì thơ phải mang hồn vía Việt. Đọc thơ đương đại bây giờ bỗng thấy lo lo. Nhiều người làm thơ vừa khó hiểu, câu chữ nhiều  mà ít ý,  không rõ tứ, tức là cái đích đến của  bài thơ không rõ. Có người cho rằng thơ chỉ cần một người hiểu , hay thơ không cần ai hiểu. Hay thơ chỉ cần cách biểu cảm, chứ không cần cái biểu cảm . Đó là ngụy tạo. Thơ là sự chia sẻ, giải bày. Làm thơ mà không cần sự chia sẻ, giải bày thì làm thơ để làm gì ? Tôi thấy thơ có nhiều yếu tố rất giống bóng đá . Xem Euro 2012 , tôi thấy lối đá tiqui-taca của Tây Ban Nha chuyển banh lắt léo, rồi bất ngờ tung một cú chọc khe sắc lẻm và ghi bàn. Nếu không ghi được bàn thì tiqui-taca dù huyền ảo đến mấy cũng vứt. Phạm Tiến Duật là nhà thơ “lừa bóng “ rất giỏi mà ghi bàn cũng rất giỏi. Trong bài thơ Tiểu đội xe không kính, nhà thơ dẫn ra rất nhiều thi ảnh :…Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng…/ Thấy sao trời và đột ngột cánh chim /Như sa, như ùa vào buồng lái, rồi bụi, rồi mưa…Cuối cùng  để dẫn  tới một cái kết bất ngờ : Chỉ cần trong xe có một trái tim. Đó là cú sút vào tim người chiến sĩ ra trận. Hữu Thỉnh trong bài thơ Năm anh em trên một chiếc xe tăng cũng vậy. Những thi ảnh liên tiếp hiện quanh con số 5 và 1: Năm anh em- năm cái tên- năm quả tim- năm bông hoa- năm ngón tay… Một chiếc xe tăng- một bàn tay- một hướng- một màu rừng…, Để cuối cùng quả bóng được sút vào  tâm khảm độc giả là : Năm mà hóa một : Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa,/ / Một ý chí bay qua đầu ngọn súng..Đó là sức mạnh của tứ thơ.Cái đích của thơ là lòng người. Không tới được đó thì thơ không có tác dụng gì.

         Các cụ xưa thường dạy thơ phải ý tại ngôn ngoại. Thơ hay phải đủ các yếu tố : có tứ hay, ý thay, câu hay, chữ hay và quan trọng nhất là thơ phải có hồn. Ví như câu thơ Tôi nhớ nơi kia có một chỗi ngồi..của HPNT nói trên, không nói chỗ ngồi ở đâu, ai ngồi, đọc lên vẫn nghe hoài niệm xao lòng. Hay câu thơ của Nguyễn Du: Mai sau dầu có bao giờ…chỉ  là hư tự, chẳng có thi ảnh chi hết, mà đọc xong cứ ớn lạnh cả người. Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Cung, những nhà thơ “Nhân văn” xưa vẫn là những người luôn muốn làm mới thơ. Họ đã đưa thơ Việt từ việc “làm nghĩa” đến “làm chữ”. Đó mới là những người đổi mới thơ Việt đích thực. Trần Dần bảo:” Nếu thơ mà làm nghĩa thì chỉ có một nghĩa, nhưng làm chữ thì sẽ có vô số nghĩa, lúc đó thơ sẽ đa nghĩa hơn. Lê Đạt gọi mình là “phu chữ”. Trần Dần, người khổng lồ của thơ Việt hiện đại, có những bài thơ rất ngắn, rất giản dị mà sâu đến tận đáy : Bài một câu : Mưa rơi không cần phiên dịch; bài hai câu: Tôi khóc những chân trời không có người bay / Lại khóc những người bay không có chân trời. Phùng Cung chỉ làm thơ bằng lời quê , nhưng đó là thứ “chữ quê” kiệt xuất . Xin đọc vài bài thơ ngắn của ông : Áo cũ gối đầu / Đêm tỉnh giấc  / Sao khuya dạt chân rêu  / Lạnh biếc /  Bầu buông chày ngọc / Cõi Lam Kiều  /  Về bên góc sân con  ( Góc  sân con); Hay Đêm về khuya / Trăng ngả màu hoa lý / Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông ( Đò khuya ); Quất mãi nước sôi / Trà đau nát bã / Không đổi giọng Tân Cương ( Trà).v.v..Chao ôi là chữ !  Thế mới là thơ hay và hiện đại chứ ! Tiếc là thơ « làm chữ » này chưa thành một trào lưu mạnh, cho nên thơ Việt đến hôm nay đa phần vẫn theo lối làm nghĩ , Thơ hay  mới là ý hay, ý mới, chứ ít chữ hay.

         Nói về thơ hiện đại thì không ai hiện đại bằng Mãn Giác Thiên Sư ngàn năm trước : Sông cũng say theo thuyền rượu tới / Lối còn ngát mãi cánh hoa đi…Nhắc đến thơ hay, lại nhớ đến thơ siêu thực của nhà thơ liệt sĩ Ngô Kha ở Huế trong bài thơ nổi tiếng Ngụ ngôn của người đãng trí

                   và than đá đã thức dậy

                   nghe gỗ hương nói thì thầm

                   những hạt cơm đen của mùa Đông

        Thơ Hàn Mặc Tử là 100% hiện đại . Chế Lan Viên từng tuyên bố, trăm năm nữa, chỉ có thơ Hàn Mạc Tử là tồn tại  : Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / đợi gió đông về để lả lơi… Hiện đại trong thơ theo tôi hiểu là khám phá ra những ý thơ mới, chữ thơ mới mà trước đó chưa ai nói tới, hay có những cấu trúc  mới để câu thơ, bài thơ thơ giản dị hơn mà chất chứa hơn Tôi không hiểu các nhà lý luận thơ học và dạy thế nào, chứ riêng tôi thì tôi cứ nghĩ hiện đại thơ là vậy. Cái  hiện đại nhất là cái giản dị nhất: Núi vẫn đôi mà anh mất em ( Vũ Cao). Tôi ủng hộ bất cứ trường phái, hình thức thơ nào. Vì họ đang đi tìm một con đường để thơ dễ hiểu hơn, Việt Nam hơn . Nhưng nhất định trường phái, hình thức thơ mới không hoàn toàn đồng nghĩa với hiện đại, càng không đồng nghĩa với thơ hay. Không được ngộ nhân và  nhầm lẫn điều này.

 

         Cuối cùng xin nói đôi điều về chất thi sĩ của nhà thơ và hồn thơ trong mỗi câu thơ. Theo tôi đây là hai mặt của một vấn đề cốt lõi nhất của thơ. Xuân Diệu có hai câu thơ “tự bạch” rất chính xác: Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ lắm / Chỉ biết yêu thôi chẳng hiểu gì. Cái chất thi sĩ là vậy. Ngất ngưỡng, lãng tử, thích xê dịch, phát ngôn trực cảm là cách sống của nhiều nhà thơ Việt Nam như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Bắc Sơn, Phùng Quán, Thu Bồn, Trần Dần, Nguyễn Duy, Hà Nhật, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Thi Hoàng, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Xuân Đố, Thạch Quỳ, Văn Đắc, Ý Nhi.v.v..Khờ khạo, ngu ngơ trong cuộc sống , nhưng với thơ họ rất nhạy cảm, vì trong tâm trí họ không có gì khác ngoài thơ. Thơ của những thi sĩ như thế đáng tin cậy hơn những người vừa làm quan vừa làm thơ, vừa kiếm tiền làm giàu vừa làm thơ. Thơ của thi sĩ đích thực nồng ấm trong từng câu chữ vì họ  viết bằng tâm can mình : Rồi lên ta uống với nhau. Rót đau lòng ấy
vào đau lòng này
( Trần Huyền Trân); hay Dăm pho sách cũ bên đầu / Tưởng như đang gối mối sầu cố nhân ( Hồng Nguyên); Hay… Sầu đong mái quán mưa tong tả/ Chén ứa men lành lạnh ngón tay//… Trôi dạt dám mong gì vấn vít / Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây..( Nguyễn Bính- Giời mưa ở Huế) . Cái sự giải bày tâm can trong thơ ấy làm cho thơ có sức truyền cảm mạnh , nó đi thẳng vào hồn người và ở lại đó, hơn ngàn lần những lời phân tích, ngợi ca của các nhà phê bình. Chất thi sĩ ấy làm cho nhà thơ bắt nhạy với cuộc sống , để có thơ. Nhà thơ là nhân vật chính của thơ mình, nên số phận nhà thơ là chất liệu của thơ. Số phận chìm nổi, bị vùi dập, hay những trắc trở cuộc đời , như là những vết chém vào thân phận nhà thơ, như người ta chém lên cây dó để sinh ta trầm hương, kỳ nam. Đó là cái gốc của thơ hay. Tuy nhiên từ chất thi sĩ đến ..thơ hay còn phải có cái chí lớn, cái tình lớn hay nhỏ. Chỉ gặp một anh chiến sĩ giải phóng xung phong và  ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất trong Tết Mậu Thân, Lê Anh Xuân có ngay tứ thơ Dáng đứng Việt Nam vô cùng xúc động và  khát quát. Đó là sự bắt gặp của trực cảm thi sĩ và cái chí, cái tình lớn của nhà thơ.

 

        Tôi hay được mời đọc thơ dự thi Tạp chí Sông Hương . Đọc thơ của các tác giả gửi tới, tôi biết ngay người nào viết bằng trí thông minh, người nào viết bằng trực cảm. Thơ viết bằng trí thông minh ( gọi nôm na là soạn thơ) không có cái bổi hổi, run rẩy trong từng con chữ, dù câu cú rất chuẩn xác. Nhưng đọc lại không có cảm xúc, nó cứ trôi tuột đi. Còn thơ viết bằng trực cảm là thơ chân thực, gọi là thơ tuôn ra từ trái tim thi sĩ…Đọc thơ của nhiều người làm thơ hiện nay, tôi mường tượng rằng, họ cố nghĩ ra cái ý bài để phục vụ đề tài này nọ, rồi ngồi lắp ghép ngôn ngữ, hình ảnh vào thành những bài thơ. Thơ đó, cũng là một kiểu “thơ phải đạo” như cố giáo sư  Hoàng Ngọc Hiến gọi.

 

                                                                    Huế, tháng 7 năm 2012    

 

 

 

      

 

 

 

‘Giáo dục Việt Nam đến lúc phải lột xác’ – VNE

13 Th9

‘Giáo dục Việt Nam đến lúc phải lột xác’

Chỉ ra hàng loạt bất cập của nền giáo dục, GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, đã đến phải đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục. Chương trình phổ thông nên theo cơ cấu “9+2” thay vì 12 năm – quá lãng phí.
> Nỗi buồn của bạn trẻ về giáo dục Việt Nam / ’20 tuổi có thể tốt nghiệp đại học’

– Hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm được nhiều nhà khoa học cho là không phù hợp, cần rút ngắn. Là người tham gia biên soạn sách giáo khoa, giáo sư chia sẻ với quan điểm này như thế nào?

– Xét hoàn cảnh của đa phần người học và điều kiện kinh tế của đất nước, kéo dài đến 12 năm học phổ thông là không phù hợp, lãng phí. Phần lớn các em học hết 12 năm rồi thì vẫn quay về lao động chân tay bình thường. Để được đào tạo nghề, các em lại phải đi học nghề. Trong khi đó, nếu xác định học nghề từ đầu thì chỉ cần học hết lớp 9, không cần đến hết 12.

Tất nhiên, đã học thì cái gì cũng bổ, như học toán, nhưng học đến lớp 9 là đã đủ rèn tư duy, không cần đến các kiến thức toán nâng cao. Với một gia đình bình thường, bớt một năm nuôi con đi học là bớt được món tiền cực lớn, đó là chỉ tính đóng góp bình thường chứ chưa kể “tiêu cực phí”.

– Theo giáo sư, chương trình phổ thông rút ngắn bao nhiêu thì hợp lý?

– Tôi đã đưa ra đề xuất giảm bớt một năm học, theo cơ cấu “9 + 2”. Hệ thống giáo dục bắt buộc của mình là 9 năm, đây là chương trình phổ cập, ai cũng phải học và dần dần nhà nước phải miễn học phí. Sau 9 năm, thay vì học 3 năm THPT như hiện nay với đầy đủ các môn, thì bậc học này để cho học sinh tự chọn học các môn phù hợp với tương lai. Đây là 2 năm để định hướng, trên thế giới, nhiều nước cũng đã đi theo hướng này.

Thêm nữa, thanh niên Việt Nam hiện trưởng thành sớm hơn thế hệ trước, học hết 11 năm tức là đã 17 tuổi. Ở tuổi này, thanh niên đã có nhận thức xã hội tốt và làm việc được. Đây cũng là lứa tuổi tâm sinh lý phát triển và phải chịu trách nhiệm về các hành vi.

Thực tế các trường trung học hiện cũng chỉ dạy đến 11 năm, vì sau lớp 11, học sinh chỉ học các môn thi đại học. Chúng ta cũng cần nhìn nhận lại việc các thế hệ trước đây học 11 năm, thậm chí thế hệ kháng chiến chỉ 10 năm nhưng vẫn sản sinh ra rất nhiều giáo sư, tiến sĩ giỏi.

 
Theo giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, giáo dục Việt Nam cần một cuộc cải cách toàn diện. Ảnh: Nguyễn Hưng.

– Ngoài những bất cập ở bậc phổ thông, ở bậc đại học, Việt Nam đang đi theo quy trình ngược với các nền giáo dục tiên tiến là“siết đầu vào nhưng lỏng đầu ra”, chất lượng sinh viên ra trường không cao. Theo ông, cần thay đổi điều gì?

– Việt Nam là nước nghèo, đi sau thiên hạ, muốn đuổi kịp thiên hạ mà ngành nào mình cũng dàn trải như hiện nay thì không thể nào đuổi được. Chúng ta không phải là nước sản sinh ra các phát minh về khoa học cơ bản nên mình cũng đừng ham cái đấy mà cần tập trung vào khoa học ứng dụng, có tác dụng thực tế, nâng cao giá trị sản phẩm, giá trị cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Những người học ngành khoa học cơ bản hết sức quan trọng, một đất nước không thể không có những chuyên gia như vậy. Nhưng chỉ nên đào tạo ít, chọn những người thực sự giỏi, đam mê và nhà nước phải bù tiền cho đào tạo. Tránh tình trạng người không thi được cái gì thì học khối C… Những ngành gì thị trường gánh được thì thị trường gánh, gắn chặt các trường đào tạo với xã hội theo phương thức hợp tác đối với người sử dụng lao động. Đây là cách làm của các nước tiên tiến.

Ví dụ, hệ đào tạo công nhân kỹ thuật của Đức, 70% là thực hành ở công xưởng, 30% học ở trường và doanh nghiệp gánh cho sinh viên 70% học phí. Sinh viên thực hành được trả lương và nhận vào làm nếu làm tốt. Cách làm này rất hiệu quả vì không trường học có thể sánh kịp các doanh nghiệp về công nghệ, máy móc. Trong các ngành hiện nay ở Việt Nam, tôi thấy mỗi ngành y là gắn được thực hành với đào tạo vì có các cơ sở thực hành là bệnh viện. Còn tất cả là đào tạo một đằng, làm một nẻo.

Một điểm quan trọng nữa là tuyển sinh, chúng ta cần trao lại quyền tuyển sinh cho các trường, để các trường tự quyết định phương thức tuyển sinh. Tức là có những trường chỉ xét tuyển thôi theo kết quả thi tốt nghiệp, không cần thi tuyển chung, cồng kềnh, tốn kém. Còn tất nhiên, có những trường tốt thi tuyển rất khắt khe. Ngày xưa sở dĩ phải thi đại học khắt khe thế là vì chỗ học ít, cả nước chỉ có 70 – 80 trường với chỉ tiêu hạn chế, thi là tất nhiên để đảm bảo công bằng cho mọi người. Còn bây giờ có tới 450 trường đại học, cao đẳng, thiếu gì chỗ học?

– Giáo dục phổ thông và giáo dục đại học như ông phân tích còn rất nhiều điểm bất cập. Vậy tư duy, mục tiêu của ngành giao dục đang lạc hướng ở đâu?

– Căn cứ vào từng mặt để phân tích ưu, khuyết của giáo dục thì nói được rất nhiều. Tôi chỉ tổng kết 4 điểm yếu của giáo dục là giải quyết chưa tốt các mối quan hệ giữa: quy mô – chất lượng; giáo dục – xã hội và thị trường lao động; tích cực – tiêu cực của cơ chế thị trường; tập trung – phân cấp trong giáo dục.

Trong xã hội, phải có người giỏi cái này và kém cái kia, còn nếu mọi thứ bằng bằng thì không được. Ở nước mình, cách đào tạo là, vào lớp học trò ngồi khoanh tay, trả lời đúng ý cô giáo. Và chúng ta cũng mong đào tạo ra các em có kiến thức, kỹ năng như nhau. Ở các nước phương Tây, giáo viên chỉ định hướng, còn học sinh tự hoạt động, tự hoàn thiện. Mục tiêu quyết định chương trình và phương pháp. Nếu để hoàn thiện nhân cách cá nhân thì phải tôn trọng dân chủ. Chúng ta phải thay đổi, đặt mục tiêu giáo dục phát triển hoàn thiện nhân cách.

Trên thế giới có 2 trường phái về mục tiêu giáo dục là bản vị xã hội tức là giáo dục nhằm đào tạo nhân lực phục vụ xã hội, chỉ chú ý đào tạo con người phục vụ xã hội. Trường phái thứ hai là bản vị cá nhân – giáo dục nhằm hoàn thiện nhân cách, phát triển năng lực của con người và khi mà mỗi một cá nhân phát triển năng lực, hoàn thiện nhân cách thì xã hội hài hòa, xã hội đó sẽ phát triển. Chính Carl Marx đã nói chính sự phát triển tự do của mỗi cá nhân là điều cho xã hội phát triển.

Từ mục tiêu này, chi phối tính chất của nền giáo dục. Đó phải là một phải là nền giáo dục thực học và dân chủ. Người Việt được đánh giá thông minh, học để thi thì không thua kém ai nhưng đi làm thì kém, đặc biệt óc tưởng tượng rất kém. Chúng ta có rất ít phát minh sáng kiến lớn, điều đó cũng dễ hiểu thôi, vì không có tự do tư tưởng sao mà có năng lực tưởng tượng?

– Gần đây, nhiều chuyên gia, nhà quản lý đã nói tới tính cấp bách của một cuộc cải cách toàn diện giáo dục Việt Nam. Ông nghĩ sao?

– Khi mà xã hội có những bước chuyển mình thì lại đặt ra nhiệm vụ lớn cho giáo dục. Tôi cho giáo dục của Việt Nam cần phải “lột xác”. Ba lần cải cách giáo dục trước đều liên quan tới các biến động chính trị. Lần này, chúng ta đang tăng tốc thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 và công nghiệp hiện đại vào 2050, ngày càng hội nhập sâu vào thế giới. Để thực hiện 2 mục tiêu đó phải đáp ứng mục tiêu phát triển con người.

Ngoài ra, khi mà các hiện tượng tiêu cực trở nên phổ biến, kéo dài thì cẩn phải nghĩ đến chính sách sai chứ không phải chỉ ở khâu thực hiện. Gốc gác của vấn đề là có cả những chuyện về quan điểm điều hành giáo dục. Trong chỉ đạo, tôi cho có những cái không chuẩn như để cho phát triển tràn lan các trường đại học, gấp rút tăng số lượng sinh viên để cải thiện vị trí xếp hạng nhân lực (HDI), giáo dục chạy theo thành tích, không chú ý chất lượng…

Quan điểm phổ biến về khâu đột phá trong giáo dục hiện nay là quản lý và cán bộ (giáo viên). Thay đổi được quản lý, giáo viên thì rất tốt nhưng nó không phải là cái quyết định và hơn nữa đòi hỏi rất nhiều thời gian. Chúng ta có hơn hai triệu giáo viên, để nâng cao chất lượng đội ngũ này đâu phải dễ. Tôi cho rằng, khâu đột phá là phải làm sao xử lý được và xử lý đúng mối quan hệ giữa giáo dục đào tạo với xã nói chung và nhu cầu của thị trường lao động. Giáo dục là một bộ phận của xã hội, gắn được giáo dục với xã hội thi thì xã hội sẽ phát triển giáo dục.

Còn thay đổi cơ cấu bậc học phổ thông, tuy không phải là khâu đột phá nhưng là một bước đổi mới chắc chắn phải làm. Đây là giải pháp cụ thể, còn gốc gác là mối quan hệ giữa đào tạo và xã hội. Chúng ta đã trải qua 3 lần cải cách giáo dục, nhưng cả 3 lần đều không động đến giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Đây là điều cực dở, cần tránh lặp lại.

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết: “Một vấn đề quan trọng chưa được quan tâm ở Việt Nam là xây dựng một xã hội học tập, làm sao để người dân có thể học tập suốt đời để phục vụ công việc cũng như thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình. Ở nước ta, gần như chưa có xã hội học tập như vậy. Ta có hệ thống giáo dục thường xuyên bên cạnh hệ thống giáo dục ban đầu nhưng thực ra đang bị lệch. Những người tham gia giáo dục thường xuyên học lớp riêng, chương trình cắt gọn và đi học chủ yếu nhằm hoàn thiện bằng cấp, đáp ứng yêu cầu của vị trí công tác. Còn xã hội học tập thực sự là xã hội mà người dân luôn luôn có nhu cầu đi học, đi học để đáp ứng công việc là chính chứ khong phải bằng cấp, xã hội như thế mới phát triển lành mạnh được.

Ngoài ra, để góp phần phát triển nền giáo dục toàn diện, chúng ta cần phải dành vị trí xứng đáng cho công nghệ thông tin. Trong chương trình, đây phải là môn học công cụ bắt buộc, trang bị cho các trường sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Các thầy cô phải lấy kiến thức trên mạng chứ không thể trông vào tài liệu đã biên soạn cả chục năm trước”.

Nguyễn Hưng thực hiện

3 ủy ban Quốc hội Mỹ xem xét ‘mối đe dọa’ TQ – VNN

13 Th9

3 ủy ban Quốc hội Mỹ xem xét ‘mối đe dọa’ TQ

 Các nghị sĩ Mỹ đã cáo buộc Trung Quốc chèn ép các nước láng giềng để gây sức ép trong yêu sách chủ quyền ở Biển Đông. Họ cũng đặt ra câu hỏi về khả năng của Mỹ trong việc giữ trật tự khu vực.

 
Chủ tịch UB Đối ngoại Hạ viện Mỹ Ileana Ros-Lehtinen lên án TQ chèn ép láng giềng. Ảnh: americas-forum


 

3 ủy ban Quốc hội Mỹ trong tuần này đã và sẽ có các phiên điều trần để xem xét những gì mà họ coi là mối đe dọa an ninh từ Trung Quốc. Trước thềm bầu cử tổng thống, ứng viên Cộng hòa Mitt Romney đã cáo buộc đương kim tổng thống Barack Obama về sự “mềm dẻo” với Trung Quốc, đặc biệt trong thương mại.

Chỉ trích mà các thành viên của UB Đối ngoại Hạ viện Mỹ đưa ra trong phiên điều trần 12/9 đã thẳng thừng nhằm vào Bắc Kinh. Nữ chủ tịch ủy ban Ileana Ros-Lehtinen nói, Trung Quốc “bắt nạt các láng giềng hàng hải” trong khát khao trở thành cường quốc thống trị châu Á, kiểm soát những tuyến đường biển sống còn để có thể bóp nghẹt vận chuyển năng lượng và thương mại. Bà cho rằng, Mỹ sẽ đứng cạnh các đồng minh như Philippines và Nhật Bản.

“Các cuộc khủng hoảng toàn cầu khác không thể khiến chúng tôi chệch hướng trong việc duy trì và đảm bảo lợi ích quốc gia quan trọng ở Biển Đông và Tây Thái Bình Dương”, bà nói trong phiên điều trần.

Nghị sĩ Dân chủ của UB Đối ngoại Hạ viện Howard Berman khẳng định, chính quyền Obama nhiều lần khẳng định rõ ràng rằng, Mỹ sẽ không cho phép Trung Quốc khẳng định bá quyền trong khu vực. Theo ông, Mỹ cần tiếp tục gây áp lực với Trung Quốc để giải quyết vấn đề chủ quyền một cách hòa bình.

Trung Quốc có tranh chấp lãnh thổ với một số nước Đông Nam Á ở Biển Đông – vùng biển giàu có trữ lượng dầu khí và sở hữu những lộ trình sống còn với thương mại toàn cầu. Tranh chấp giữa Trung Quốc và những nước này đang ngày một leo thang. Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền bao trùm hầu như toàn bộ vùng biển, bất chấp những ranh giới lượn sát bờ biển nước khác. Trong tháng 7, Trung Quốc đã lập một thành phố cùng đơn vị đồn trú trên hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Mỹ cho rằng, những động thái trên của Trung Quốc là suy yếu các nỗ lực quản lý và giải quyết các tranh chấp bằng con đường ngoại giao. Điều này khiến Bắc Kinh bực bội và nhiều lần cảnh báo Washington không can thiệp vào tranh chấp. Về phần mình, Mỹ khẳng định không đứng về phía nào trong cạnh tranh chủ quyền lãnh thổ, nhưng cũng tuyên bố có một lợi ích an ninh quốc gia trong duy trì và đảm bảo hòa bình, ổn định khu vực.

Trong phiên điều trần ngày 12/9, nghị sĩ Mike Kelly, R-Pa., đã đặt câu hỏi về khả năng của Mỹ khi duy trì sự hiện diện quân sự khắp thế giới. Ông cho rằng Trung Quốc giờ đây la ̀”kẻ khó chơi nhất trong khu vực”.

Nghị sĩ Brad Sherman thì kêu gọi các đồng minh của Mỹ cần gánh vác gánh nặng an ninh nhiều hơn. “Các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là những nước lo ngại về sự bành trướng của Trung Quốc, cần dành một tỉ lệ thích hợp trong GDP để phòng thủ hải quân”, ông nói.

Hôm nay, UB Tình báo Hạ viện Mỹ sẽ đặt ra những câu hỏi về hai hãng công nghệ lớn của Trung Quốc khi họ xem xét những cáo buộc rằng, sự liên quan của các hãng này tại thị trường Mỹ có thể đặt ra mối đe dọa với an ninh quốc gia. Một ủy ban khác tại Hạ viện hôm qua cũng đã xem xét những cáo buộc liên quan tới vấn đề nhân quyền tại Trung Quốc.

Thái An (theo Washington Post)

Ai sẽ là ông chủ tiếp theo của Nhà Trắng?

13 Th9

Ai sẽ là ông chủ tiếp theo của Nhà Trắng?

 Nhiều nhà phân tích cho rằng, thay đổi ông chủ Nhà Trắng không khác gì việc đại công ty “British Petroleum” thay người phát ngôn, trong khi vẫn giữ nguyên ban Giám đốc, các chương trình và mục tiêu của tập đoàn.

Sau các cuộc Đại hội toàn quốc những ngày qua của đảng Dân chủ và Cộng hòa, cử tri Mỹ còn hai tháng nữa để lựa chọn.

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã thực hiện chiến dịch tranh cử kéo dài 3 ngày cuối tuần trước, sau khi chấp nhận đề cử ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ. Cả ông Obama và ông Romney đều dành những ngày cuối tuần để đi vận động ở Iowa và New Hampshire, hai bang quan trọng trong cuộc bầu cử diễn ra vào tháng 11 tới.

Ông Obama nói với các cổ động viên tại Đại hội toàn quốc của đảng Dân chủ rằng, “họ đang đứng trước sự lựa chọn rõ ràng nhất trong thế hệ qua, một sự lựa chọn giữa hai con đường khác nhau cho nước Mỹ”. Ông kêu gọi người Mỹ ủng hộ các mục tiêu của ông về sản xuất, năng lượng, giáo dục, an ninh quốc gia, giảm thâm hụt, và tái xây dựng nền kinh tế trên một nền tảng mạnh mẽ hơn.

Nền chính trị-kinh tế Mỹ

Cuộc tổng tuyển cử tại Mỹ vào ngày 7/11 tới đây sẽ quyết định ba loại ghế: i) Tổng thống (đứng đầu Hành pháp); ii) Tất cả 435 Dân biểu Hạ viện và iii) Khoảng một phần ba của 100 Nghị sĩ Thượng viện (Lập pháp). Kể từ ngày 20/1 sang năm, Ban lãnh đạo mới sẽ phải xử lý nhiều hồ sơ kinh tế, nổi lên là nạn bội chi ngân sách và thất nghiệp quá cao sau bốn năm phục hồi trong sự èo uột chưa từng thấy từ 80 năm nay.

Tuy nhiên, giới phân tích kêu gọi sự dè dặt khi dư luận kể công hay gán tội cho tổng thống đương nhiệm về các hồ sơ kinh tế mà ông ta thực ra không có toàn quyền. Vấn đề nên chú ý là cuộc bầu cử Quốc hội để xem hai chính đảng sẽ giải quyết ra sao các vấn nạn kinh tế-xã hội Mỹ là lĩnh vực Lập pháp có quyền lớn.

Hình ảnh thường được đưa ra là đảng Cộng hòa chú trọng đến tăng trưởng kinh tế và chất hàng lên cỗ xe thịnh vượng, còn đảng Dân chủ thì quan tâm đến công bằng xã hội nên muốn dỡ hàng hoá trên xe xuống để phân phát cho mọi người. Cử tri Mỹ đã có lúc bầu cho đảng này hay đảng kia tùy theo hoàn cảnh kinh tế-xã hội từng giai đoạn. Vấn đề hiện nay là cỗ xe thịnh vượng của nước Mỹ bắt đầu cạn dần và tuột dốc vì nợ nần.

Ngoài ra, từ thời lập quốc, chính trường Mỹ từng tồn tại hai xu hướng ngược nhau. Một là muốn thu hẹp vai trò của chính quyền trung ương và phân quyền cho các tiểu bang. Hai là muốn có nhà nước mạnh để gánh vác thêm một số trách nhiệm.

Tiêu biểu cho hai xu hướng ấy là hai nhân vật thuộc hàng “quốc phụ”, đồng tác giả của bản Hiến pháp nổi tiếng và từng có mặt trong nội các đầu tiên thời George Washington. Đó là Thomas Jefferson và Alexander Hamilton. Jefferson là ngoại trưởng đầu tiên của Mỹ sau là tổng thống thứ ba đã đề cao quyền tự do mậu dịch, nghi ngờ các tài phiệt và muốn thu hẹp vai trò của chính quyền liên bang. Hamilton là bộ trưởng tài chính đầu tiên, chủ trương tăng cường vai trò can thiệp của nhà nước về kinh tế-tài chính và ủng hộ chế độ bảo hộ mậu dịch. Tuy nhiên, hai xu hướng này vẫn thỏa hiệp và tồn tại song hành cho đến ngày nay. Và quan điểm của hai chính đảng phần nào phản ảnh hai triết lý kinh tế-chính trị vĩ mô này của Mỹ.

Cuộc đua giữa Obama và Romney

Trong phát biểu chấp nhận đề cử từ tuần trước, ông Romney ủng hộ mô hình “tiểu chính phủ”, chủ trương thu hẹp vai trò chính phủ liên bang. Ông này quảng bá cho chính sách thúc đẩy kinh tế bằng hoàng loạt chương trình cắt giảm thuế và nới lỏng các quy định quản lý. Ông cũng chủ trương cắt giảm mạnh chi tiêu liên bang, trong đó có các chương trình an sinh xã hội. Ứng viên Romney cam kết sẽ làm cho nước Mỹ có thể tự cung ứng nhu cầu năng lượng, mở rộng thương mại và tạo thêm 12 triệu việc làm thông qua hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ông chủ trương giảm thâm hụt ngân sách khổng lồ, nhưng phản đối cắt giảm ngân sách quốc phòng và từ bỏ việc cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe của ông Obama.

Trong quan điểm của mình, ông Obama ngược lại không coi chi tiêu quốc phòng là “vùng cấm địa” không thể đụng chạm tới khi cắt giảm các khoản chi nhằm vực dậy tài chính của chính phủ. Ông Obama cũng đã từng đánh cuộc rằng chính phủ sẽ không cắt giảm chi tiêu của liên bang giành cho tầng lớp nghèo khó, bao gồm những người có thu nhập thấp và những người cao tuổi. Đương kim tổng thống chủ trương sẽ điều chỉnh khoảng cách thu nhập giữa các thành phần trong xã hội. Tuy nhiên, hơn 60% cử tri hiện nay tin rằng nước Mỹ đang đi sai đường. Tỉ lệ ủng hộ ông Obama ở dưới mức 50%; khoảng hai phần ba số cử tri không ấn tượng bởi cách ông Obama xử lý kinh tế. Kiệt sức bởi những khó khăn trong công việc, nhà đại cải cách Obama trở nên thận trọng với nhóm cố vấn bao quanh. Để có thể ở lại Nhà trắng thêm bốn năm, Barack Obama một lần nữa sẽ phải làm nên lịch sử!

Các cuộc điều tra dư luận gần đây cho thấy, hai ứng viên Obama và Romey “đeo bám nhau” khá quyết liệt. Ba cuộc tranh luận trong tháng Mười tới đây giữa hai ứng viên sẽ là những cơ hội quan trọng để quyết định thành bại trong các vòng đua nước rút. Giới quan sát trong nước Mỹ và trên thế giới hy vọng sẽ được chứng kiến những cuộc tranh luận thẳng thắn giữa ông Obama và ông Romney về các vấn đề kinh tế, ngoại giao và chính sách quốc phòng. Dù sao mặc lòng, những chính sách lớn của cả hai ông đều xuất phát từ những gì mà các cơ quan vốn do những tập đoàn công nghiệp-tài chính trên toàn nước Mỹ tài trợ. Chính sách của các tổng thổng, nói cho cùng, không phải do cá nhân các ông ngồi ở Phòng Bầu dục nghĩ ra, mà chủ yếu là do các thinktank đã từng hướng dẫn các tổng thống tiền nhiệm, như Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, RAND Corporation, Viện Brookings, Nhóm Nghiên cứu cứu Khủng hoảng (ICG)… đề xuất.

  • Hải Đăng

Hoàng hậu nhà Trần – Chủ các đồn điền ở Hà Tĩnh đầu TK XV – VHNA

13 Th9

Hoàng hậu nhà Trần – Chủ các đồn điền ở Hà Tĩnh đầu TK XV

Trịnh Phương

  •  

    Trong một chuyến du sơn kinh lý tại phía nam vùng Đỗ Gia (nay là huyện Hương Khê), nhà vua đang ngự trên thuyền rồng cùng đoàn tùy tùng ngược dòng sông bỗng trên bờ một cô gái cất lên câu hát:

                                    Chàng thì thuyền rộng nghênh ngang

                                     Thiếp dùng bán nguyệt sẻ san cõi bờ.

Nghe câu hát và nhìn thấy dung nhan người đẹp, nhà vua động lòng cho tuyển vào cung làm Á phi. Thấy người con gái có tên Ngọc Hào nhan sắc tuyệt vời lại thêm tài “phun châu nhả ngọc”, vua Trần Duệ Tông (1372-1377) phong làm Hoàng hậu. Nhà vua và bà Ngọc Hào sinh được một con gái là công chúa Trần Thị Ngọc Hiên (hiệu Huy Chân). Bà Trần Thị Ngọc Hào là con ông Trần Công Thiệu ở làng Tri Bản xã Thổ Hoàng, huyện Hương Khê (gia đình gốc ở Thiên Trường, Nam Định).

Năm 1377, trong chuyến nam chinh, không may vua bị tử trận tại thành Đồ Bàn (Bình Định)(1). Trong những năm cuối thế kỷ XIV, Quốc gia suy yếu, triều đình rối loạn. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lòng dân ly tán, quân Minh kéo quân sang xâm chiếm nước Đại Việt. Trong cảnh loạn ly nhiễu nhương, bà đưa công chúa và cung nhân tôi tớ 572 người giả cách ăn mặc theo lối người tu hành, bỏ kinh thành trở về quê quán. Cùng đi với bà có hai viên cận thần là Trần Quốc Trung và Nguyễn Thời Kính.

Sau 50 ngày trèo non, lội suối, ngày đi đêm nghỉ, ăn rau, uống suối, đoàn người về đến quê, nhưng cung nhân tôi tớ đã tản mất nhiều, chỉ còn lại 172 người. Họ ở lại dọc núi Cóc và núi Trà Hạt (Đức Thọ). Bà nhìn thấy vùng này dân cư còn thưa thớt, đất đai bỏ hoang còn nhiều, liền tìm cách chiêu mộ dân nghèo cùng nhau đến khai phá rừng núi, lập làng, lập xóm. Hơn 3.000 người đáp lại lời kêu gọi của bà, ra sức chặt cây, phá rú, đốt cỏ, làm nương rẫy ruộng vườn, xây dựng nhà cửa, tụ họp thành xóm làng. Bà và gia nhân ra sức tổ chức, sắp xếp công việc quy củ, hướng dẫn dân nghèo khai khẩn đất đai. Sau mấy năm một trang trại rộng lớn được mở mang trên từ Lâm Thao, Hòa Duyệt (Hương Khê), Thượng Bồng, Hạ Bồng (Hương Sơn), nay là huyện Vũ Quang; giữa đến Lạng Quang, Du Đồng, Đồng Công và dọc dãy núi Trà Sơn thuộc huyện Đức Thọ. Nhân dân các vùng này khai phá được gần 4.000 mẫu ruộng đất, sản xuất theo phương thức đồn điền, vừa sản xuất nông nghiệp vừa quan tâm đến trao đổi, buôn bán.

Với số ruộng đất khai phá được và số dân đông đúc hơn, bà chia ra làm bốn xóm gọi là bốn “điếm” gồm Lai Sơn, Ngụ Khê, Hằng Nga và Tùng Chinh. Bà có hai cung nữ tận tụy và hai trung thần là Nguyễn Thời Kính và Trần Quốc Trung. Bà đem nàng Kỵ gả cho ông Kính và nàng Phạm gả cho ông Trung và bà lấy tên hai cặp vợ chồng ấy đặt tên cho hai điếm mới lập ra. Một điếm gọi là Kính Kỵ (nay thuộc xã Đức Long), một điếm gọi là Trung Phạm (nay là xã Đức Lập, huyện Đức Thọ).

Thời bấy giờ giặc Minh canh phòng rất nghiêm ngặt, nhưng vì trang trại của bà ở chỗ núi non xa vắng nên trong nhiều năm tháng chúng vẫn không hề hay biết đến. Hai mẹ con bà sống trong cảnh điền viên giữa chốn núi rừng hoang vu, chung vui, hòa hợp với cuộc sống của những người lao động. Trong đó có nhiều người là đồng bào các dân tộc thiểu số. Bà đang dần dần quên lãng cuộc đời cung điện vàng son xưa thì một việc tình cờ xảy đến, khiến họ gặp gỡ và có dịp làm nên công trạng vẻ vang.

Năm Đinh Dậu (1417), ở đất Lam Sơn, Lê Lợi tập hợp nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh, giải phóng quê hương đất nước. Nghĩa quân Lam Sơn đã từng chiến đấu với quân Minh mạnh hơn mình nhiều lần. Thời gian này nghĩa quân Lam Sơn trải qua những thời kỳ gian khổ nhất, thiếu thốn lương thực, quân trang, quân dụng, phải rút lên vùng rừng núi biên giới Việt – Lào để bảo toàn lực lượng rồi chuyển vào Nghệ – Tĩnh để phát triển thêm lực lượng. Năm Bính Ngọ (1426), nghĩa quân đánh vào Nghệ An. Lê Lợi sai một tướng giỏi là Bùi Bị đem quân đánh úp lỵ sở giặc Minh ở Hương Sơn, Đức Thọ, Hương Khê (Hà Tĩnh). Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi vùng này, ông tiến sâu vào vùng rừng núi và vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy giữa chốn rừng sâu, núi thẳm bày ra cảnh đồng ruộng tươi tốt, nhà cửa đông đúc và hai nữ chủ nhân yêu kiều như giai nhân nơi chốn kinh đô hoa lệ. Hỏi rõ sự tình, ông Bùi Bị về tâu chuyện với Lê Lợi vào thời gian nghĩa quân về đóng quân ở núi Yên Mã, xây thành Lục Niên, nơi tiếp giáp giữa Nghệ An và Hà Tĩnh. Tướng công Bùi Bị nhân dịp này đưa bà Trần Thị Ngọc Hào và con gái Huy Chân đến gặp Lê Lợi. Trong cuộc gặp gỡ này, bà Ngọc Hào hiến dâng tất cả lương thực, khí giới, tiền bạc bà đã sản xuất và tích lũy được trong nhiều năm cho nghĩa quân, sai hai viên quan cận thần của triều Trần trước đây là Trần Quốc Trung và Nguyễn Thời Kính theo nghĩa quân giúp Lê Lợi đánh giặc Minh. Thấy công chúa Huy Chân có vẻ đẹp thùy mỵ, đoan trang, tài giỏi, Lê Lợi lấy làm Cung phi và sai lập cung điện Phượng Hoàng ở làng Kính Kỵ và điện Ngũ Long ở làng Hòa Yên làm nơi ở cho bà.

Bà Trần Thị Ngọc Hào còn chuyển một số trang trại vừa khai phá được cho nghĩa quân làm đồn điền trồng trọt, tích lũy lương thực phục vụ kháng chiến lâu dài. Nhờ có đủ lương thực, thực phẩm, nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, đủ sức giải phóng toàn bộ đất Nghệ – Tĩnh năm 1426, mở rộng địa bàn hoạt động, tiến ra Đông Đô đánh thắng nhiều trận trong các năm 1426 và 1427, cuối cùng đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi.

Công chúa Huy Chân – Vương phi của Lê Lợi sinh hạ được một người con gái tên là Ngọc Châu, phong tước là Trang Từ công chúa. Sau khi nhà vua băng hà (1433), năm 1435 Huy Chân xin về quê tu hành với mẹ ở chùa Am.

Trang Từ công chúa được vua gả cho Minh Quận công Bùi Ban-con trai Mậu Quận công Bùi Bị. Về sau Bùi Ban đi đánh giặc Chiêm Thành bị thương nặng và mất ở xứ Truông Bụt, làng Thổ Hoàng (huyện Hương Khê) và được lập đền thờ ở đó.

Hết tang chồng, công chúa Trang Từ giao sơn trại Bùi Ban cho hai con nuôi là Bùi Văn Khánh và Bùi Thị Hoàng để lấy Khôi Quận công Trần Hồng ở làng Đồng Lạc (phủ Đức Thọ). Năm năm sau Trần Hồng chết, bà không có con, xin về tu hành cùng mẹ và bà ở chùa Am. Ba người cùng tu hành trong 20 năm, được nhân dân trong vùng yêu quý, kính trọng.

Bà Ngọc Hào và bà Huy Chân mất vào thời Hồng Đức (1740-1747). Bà Trang Từ mất vào thời vua Lê Hiến Tông (1498-1503). Để ghi nhận công đức của bà, các đời vua Lê đã đúc tượng bà bằng đồng, thờ tại chùa Am (hiện nay chùa Am đã được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa).

Ngày nay, trên sườn  Am Sơn có một ngôi chùa cổ kính, nơi gần 600 năm trước, một bậc kỳ nữ bỏ công sức khai phá vùng rừng núi âm u, xây dựng thành làng xóm trù phú, đồng ruộng tốt tươi, một vùng trù phú bao la, một cánh đồng phì nhiêu cho Hà Tĩnh./.

_____________

(1) Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb Khoa học xã hội, 1993, tập II, tr. 161.

 

Tài liệu tham khảo

 

– Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb Khoa học xã hội, 1993, tập II.

– Tạp chí Tri tân số 56 (26-7-1942) và số 70 (3-11-1942).

– Nhan cảo chùa Am. Báo Nam Phong số 138 (1929).

– Tìm hiểu Di tích Lịch sử chùa Am. Tài liệu tự in của Ban Quản lý Di tích.

%d bloggers like this: