Lưu trữ | 11:55 Chiều

PGS Nguyễn Văn Huy:Điều gì giữ con người không “hóa thú” ? – PNTD

14 Th9

PGS Nguyễn Văn Huy:Điều gì giữ con người không “hóa thú” ?

(Trái hay Phải)

– “Có thể, những người hàng xóm không biết rằng, tôn trọng và đồng cảm với ông lão kia không phải bằng cách đứng đó và chỉ trỏ như đang xem một tấn trò lạ mắt” – TS Nguyễn Văn Huy.

Vô cảm, bàng quan là do mất niềm tin

PV: Thưa ông, vụ việc con cái đẩy bố già ốm ra nằm vỉa hè để tranh chấp ngôi nhà ở phố Núi Trúc, Giảng Võ, Hà Nội đang khiến dư luận đau xót và phẫn nộ. Nhưng có một điều khá mâu thuẫn là, khi xảy ra vụ việc trên (và nhiều trường hợp tương tự), hàng xóm kéo đến đứng xem và lên tiếng chê trách nhưng không ai giúp đỡ nạn nhân cả. Có thể lý giải thế nào về sự nghịch dị này?

TS Nguyễn Văn Huy

TS Nguyễn Văn Huy: – Tôi vừa đọc một bài viết rất hay, trong đó lý giải tại sao nước Mỹ là cường quốc số 1 thế giới như hiện nay.

Trong số các ví dụ, tác giả bài báo kể lại câu chuyện trên một chuyến bay tử thần ngày 11/9/2001: trước khi quyết định sẽ cùng chống lại những kẻ khủng bố, hành khách trên máy bay đã tổ chức thảo luận kín với nhau.

Trong hoàn cảnh rất hiểm nghèo như vậy, cận kề cái chết như vậy những hành khách đó vẫn tôn trọng lẫn nhau, vẫn tìm được tiếng nói chung, từ đó, cùng hành động.

Người Mỹ coi đó là chuyện rất bình thường, còn với chúng ta, theo tôi nghĩ, là quá xa vời, thậm chí chỉ nghĩ về những điều như thế cũng đã là xa sỉ!

Vì sao hàng xóm chỉ bày tỏ sự phẫn nộ mà không hành động? Có thể họ không muốn trở thành người hùng đơn độc. Có thể họ nghĩ bày tỏ chính kiến (bằng lời nói) là đủ để thể hiện quan điểm về điều đúng điều sai rồi.

Hoặc có thể, họ không biết rằng, tôn trọng và đồng cảm với ông lão kia không phải bằng cách đứng đó và chỉ trỏ như đang xem một tấn trò lạ mắt. Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau. Nhưng thật đáng sợ khi con người ta bàng quan vô cảm trước những điều xấu ác.

Không hành động là mỗi cá nhân tự tách mình ra khỏi xã hội; không thấy trách nhiệm của mình trước cộng đồng.

Điều đó chứng tỏ người ta mất niềm tin vào xã hội, vào cộng đồng. Đó chính là điều đáng sợ và nhức nhối khi xem xét những sự kiện trên.

PV: Chúng ta có Ủy ban giáo dục thanh thiếu niên nhi đồng, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng hiền tài cho tương lai. Vấn đề giáo dục luôn là vấn đề ưu tiên trong đầu tư và trong chính sách. Vậy ông lý giải như thế nào khi những vụ bất hiếu, bất nhân, vị kỷ như thế xảy ra ngày càng nhiều và mức độ cũng ngày càng tệ hơn?

TS Nguyễn Văn Huy: – Suốt một thời gian dài vài chục năm trở lại đây, nền giáo dục nước ta vẫn chỉ là dạy cho học sinh kiến thức.

Học sinh mới chỉ thuộc bài và trả bài (trên lớp và trong các kỳ thi) chứ nhìn chung nhà trường chưa chú trọng rèn luyện cho chúng tư duy độc lập, tự tin đánh giá, nhận xét, quyết định những vấn đề đang xảy ra trong cuộc sống của mình.

Chúng ta không tạo nên được những cá thể có thể đứng vững trong tất cả môi trường phức tạp, hành xử thuận theo những giá trị phổ quát của nhân loại là lẽ phải, công bằng, lòng tốt, sự bao dung nhân ái… Đó là nhìn vào lý thuyết.

Nhưng điều quan trọng là nền giáo dục cũng phải được đặt trong bối cảnh xã hội cụ thể hiện nay.để xem xét. Chưa bao giờ chúng ta phải đối diện với một xã hội có nhiều vấn đề phức tạp như hiện nay.

Về kinh tế, sau Đổi mới, người dân bước qua một cánh cửa khác, một xã hội khác, lao vào cuộc tích lũy làm giàu trên một nền đất hoang, chưa từng có luật lệ. Cả xã hội bị nhấn chìm vào vòng xoáy của đồng tiền.

Đồng tiền được sử dụng như một công cụ hiệu quả nhất, dần dần, nó biến thành giá trị được mọi người chấp nhận và tôn sùng quá mức, vượt quá giá trị thật của nó.

Về mặt xã hội, không phải tới bây giờ mới xuất hiện những biểu hiện của sự rạn nứt tan vỡ trong quan hệ anh em, cha mẹ con cái, vợ chồng, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng và giàu có thường không đi cùng với học thức, nhân cách…

Những điều đó khiến cho đồng tiền thành giá trị quan trọng, vượt qua cả đạo đức và tri thức. Về xã hội thì quản lý lỏng lẻo, pháp luật không nghiêm. Con người không sống và làm việc theo pháp luật như mong muốn hàng chục năm qua.

Tóm lại, những hiện tượng trên xảy ra trong một xã hội mất thăng bằng, đang trên chiều hướng đi xuống nên càng thê thảm.

Thuận chiều văn minh

PV: -Trở lại với những vụ việc đau lòng xảy ra trong thời gian gần đây, ông tiến sĩ đánh mẹ đẻ, đuổi mẹ ra khỏi nhà hay con cái đẩy bố đau ốm ra vỉa hè đều diễn ra giữa ban ngày, trước mặt hàng xóm, láng giềng và ngay tại thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Điều này có khiến ông ngạc nhiên không, thưa ông?

TS Nguyễn Văn Huy: – Theo tôi, không nên dựa vào tiêu chí “thanh lịch” hay “ngàn năm văn hiến” để lý giải những vụ việc xảy ra ở Hà Nội nói trên. Hà Nội không thể thoát khỏi bối cảnh chung của cả xã hội như đã nói ở trên.

Thậm chí, Hà Nội còn là trung tâm của bối cảnh đó, là nơi tập trung những mâu thuẫn đã và đang phát sinh trong đời sống của xã hội đương đại. Những câu chuyện tưởng như không thể xảy ra trong đời sống của con người vừa diễn ra ở Hà Nội chắc cũng từng diễn ra ở Moscow, New York hay bất cứ đô thị nào khác…, chúng ta đau lòng thật đấy, giật mình thật đấy nhưng bình tĩnh lại thì cũng không thấy quá lạ lẫm. Vì đó là xã hội.

Tôi nghĩ, tiêu chí Hà Nội thanh lịch giờ là hy vọng, là mong muốn của mọi người trong một tương lai xa. Hà Nội đã thay đổi quá nhiều.

PV: -Vậy điều gì sẽ níu giữ chúng ta khỏi sự hóa thú khi chạy theo giá trị vật chất, vị lợi bằng mọi giá?

TS Nguyễn Văn Huy: – Phải làm thế nào để toàn xã hội từ trên xuống dưới một lòng. Tại sao thời chống Mỹ, xã hội chúng ta lành mạnh thế? Đương nhiên lúc đó cũng có chuyện tham nhũng hay vi phạm đạo đức nhưng rất ít. Toàn xã hội trong sạch vì một mục tiêu, từ trên xuống dưới.

Lịch sử nước nhà đã minh chứng rất sáng rõ ở vương triều Trần: trên dưới đồng lòng, vua tôi hòa thuận thì xã hội phát triển văn mình, quốc gia hưng thịnh, hùng mạnh. Tôi rất tâm đắc với cụ Phan Chu Trinh khi cụ nói: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Thứ tự này không được thay đổi, chỉ cần đảo vấn đề “dân sinh”, đưa đồng tiền, vật chất lên vị trí đầu tiên như hiện nay thì  hệ quả là những gì mà tất cả chúng ta đang chứng kiến. Phải chạy chữa căn bệnh xã hội một cách tổng thể, từ trên xuống dưới như thế mới thuận chiều văn minh cùng nhân loại.

PV: – Theo ông, liệu kêu gọi, đánh thức thiên lương từ mỗi con người có giúp thay đổi tình thế?

TS Nguyễn Văn Huy: – Chúng ta có thể đặt niềm tin vào sự lương thiện trong mỗi con người và  kêu gọi sự lương thiện ấy. Nhưng sự kêu gọi ấy hình như sẽ trở nên lạc lõng lúc này. Chúng ta đều biết, mỗi cá nhân chỉ là một con ốc vít của guồng máy, chữa được nơi này, sẽ bung ra ở những nơi khác. Chữa căn nhà dột thì phải chữa từ căn bản, chữa từ gốc của bệnh. Căn bệnh của toàn xã hội phải xử lý ở tầm xã hội. Ở đây tôi muốn nói đến pháp luật.

Chúng ta có nhiều luật nhưng vẫn thiếu những luật cơ bản. Chúng ta cần làm nhiều hơn nữa giáo dục và thực thi nghiêm chỉnh luật pháp. Pháp luật phải nghiêm. Xã hội hiện nay chưa đạt được điều đó.

Làm sao trước pháp luật mọi người đều bình đẳng, không ngoại trừ bất cứ ai. Xã hội chỉ ổn định khi được quản lý tốt bằng pháp luật. Nền đạo đức và sự lương thiện ở mỗi con người phải được xây dựng trên nền tảng pháp luật nghiêm minh.

Tôi tin, ở Việt Nam, bất cứ việc gì dù khó đến đâu nếu có quyết tâm, đồng lòng từ những người lãnh đạo cao nhất, từ các cấp cao thấp khác nhau đến từng gia đình, mỗi con người  thì đều có thể làm được.

Đẩy bố ốm ra đường: Lộ cảnh cháu nội ngồi canh cửa

Hoàng Hạnh (thực hiện)
 

Đại học miền Nam trước 1975: hồi tưởng và nhận định – Tuan’s Blog

14 Th9

Đại học miền Nam trước 1975: hồi tưởng và nhận định

 
 
Xin trân trọng giới thiệu một bài viết đặc sắc của Gs Lê Xuân Khoa về nền giáo dục đại học ở miền Nam trước 1975. Đây là bài viết sẽ xuất hiện trong Kỉ yếu Humboldt do Ts Nguyễn Xuân Xanh biên soạn. Giáo sư Lê Xuân Khoa là một “chứng nhân” của nền giáo dục đại học trước 1975, vì ông từng giữ những chức vụ quan trọng như giáo sư triết học phương Đông tại ĐH Văn khoa Sài Gòn, thứ trưởng Bộ Giáo dục (1965) và phó viện trưởng (như phó hiệu trưởng đại học ngày nay) của Viện Đại học Sài Gòn (1974-1975). Ông định cư ở Mĩ năm 1975, trở thành giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins.  Nay thì ông đã nghỉ hưu. Tôi từng có cơ duyên gặp ông ở Mĩ. Đó là một người đàn anh rất đáng kính, dù ở xa nhà nhưng lúc nào cũng đau đáu nghĩ về quê nhà. Ông là tác giả cuốn sách “Việt Nam 1945-1995, Tập I” rất có giá trị, và tác giả của nhiều tiểu luận đáng chú ý. Ông còn có nhiều hoạt động cộng đồng và thiện nguyện trong cũng như ngoài nước. Mời các bạn theo dõi bài viết của ông và những nhận xét của tôi trong một chuyến về quê gần đây. NVT

Đại học miền Nam trước 1975
Hồi tưởng và Nhận định
Lê Xuân Khoa
 

Khi được một thành viên trong Ban chủ biên Kỷ yếu Humboldt 200, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh, mời viết một bài về Đại học Miền Nam cho tập Kỷ yếu đánh dấu 200 năm Đại học Humboldt, tôi rất vui vì có cơ hội tham gia vào một công trình có ý nghĩa của một tập hợp trí thức trong và ngoài nước quan tâm đến sứ mệnh giáo dục Đại học ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi đã rất ngần ngại nhận lời, không chỉ vì tôi đã rời xa ngành giáo dục Việt Nam trên 35 năm mà còn lo ngại ký ức của tôi không còn nhớ nhiều về tổ chức và hoạch định chính sách cho nền giáo dục Đại học Miền Nam trước 1975. Quả thật, ngoài 15 năm giảng dạy một môn học rất xa thực tế là “Triết học Upanishad” và “Thiền học Việt Nam” ở Đại học Sài-gòn (sau này có dạy thêm “Văn minh Việt Nam” ở Đại học Đà-lạt,) tôi chỉ tham gia vào bộ phận điều hành ở Bộ Giáo dục, Viện Đại học Vạn Hạnh và Viện Đại học Sài-gòn trong những thời gian rất ngắn, từ năm tháng tới một năm. Tôi cũng ít có dịp hợp tác trực tiếp với những nhà lãnh đạo Đại học, trừ bốn người là cố Giáo sư Nguyễn Quang Trình (ĐH Sài-gòn), cố Linh mục Nguyễn Văn Lập (ĐH Đà-lạt), Thượng Tọa Thích Minh Châu (ĐH Vạn Hạnh) và cố Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huy (ĐH Sài-gòn). Nhưng tôi đã được TS Nguyễn Xuân Xanh thuyết phục khi anh nhắc nhở rằng một bài viết về Đại học miền Nam của một “người trong cuộc”, dù ít dù nhiều cũng là điều không thể thiếu trong tập kỷ yếu Humboldt 200, trong đó có phần lịch sử Đại học Việt Nam từ thời cổ, triết lý và quá trình phát triển của nó trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) và 35 năm sau thống nhất, đặc biệt là những vấn đề của hiện tại và nhu cầu “đổi mới để nhanh chóng vươn lên với thế giới”.

Vì đã có nhiều tác giả viết về lịch sử, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ Tiểu học tới Đại học, tôi thấy không cần thiết phải mô tả lại hệ thống giáo dục này. Tôi sẽ chỉ trình bày một số nhận xét và kinh nghiệm riêng của tôi về chính sách và điều kiện sinh hoạt Đại học trong khung cảnh chung của nền giáo dục ở miền Nam trước 1975, sau khi đã kiểm lại một số dữ kiện với hai bạn đồng nghiệp cũ là Giáo sư Nguyễn Thế Anh và Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, cả hai đều từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế. Tuyệt nhiên đây không phải là một bài nghiên cứu hay luận thuyết mà chỉ là một bài ghi nhận  một số sự kiện đáng được lưu ý trong lịch sử ngắn ngủi 20 năm của nền giáo dục đại học ở miền Nam, từ ngày đất nước chia đôi đến ngày thống nhất. Do sự suy giảm của trí nhớ, tôi có thể đã bỏ sót hay không nhớ đích xác một số sự kiện diễn ra trên dưới 50 năm về trước.

Từ trung ương tập quyền đến tự trị đại học 

Nói đến giáo dục Đại học hiện đại không thể không nói đến quyền tự trị của Đại học. Đó là xu thế chung của đại học ở các nước dân chủ như một điều kiện sine qua non cho sự phát triển của con người và xã hội. Điều 10 trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967 ghi rõ: “Nền giáo dục Đại học được tự trị”. Điều này phản ánh tinh thần khai phóng trong triết lý giáo dục miền Nam được xác định trong Đại hội giáo dục lần thứ nhất năm 1958, với ba nguyên tắc căn bản là “nhân bản, dân tộc, khai phóng”. Đại hội này được tổ chức với sự tham gia của đại diện giáo chức các cấp trên toàn quốc cùng một số trí thức độc lập bên cạnh các đại diện của Bộ Giáo dục. Mọi quyết định của hội nghị đều là kết quả của những cuộc thảo luận và biểu quyết hoàn toàn tự do không có bất cứ sự can thiệp nào của chính quyền. Tinh thần khai phóng ở Đại học được thể hiện rõ rệt nhất trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học tiến bộ và những giá trị văn hóa nhân bản của thế giới nhằm hiện đại hóa đất nước và phát triển toàn diện con người. Điểm này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở một đề mục dưới đây.

Thật ra cho đến năm 1975 Đại học miền Nam vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt tình trạng chuyển tiếp từ truyền thống trí thức hàn lâm của Đại học Pháp sang truyền thống thực dụng của Đại học Mỹ. Năm 1955, trước khi Pháp hoàn tất việc chuyển giao tất cả các cơ sở công quyền cho Việt Nam, hai nước đã ký kết một bản thỏa hiệp có hiệu lực mười năm về hợp tác và trao đổi văn hóa. Lý do là chính phủ Pháp muốn duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng của văn hóa Pháp ở Việt Nam trong lâu dài, trong khi chính phủ mới ở miền Nam cũng cần phát triển giáo dục từ một nền tảng đã có sẵn, nhất là vì các nhà lãnh đạo chính quyền và trí thức đại học đều được đào tạo bởi nền giáo dục Pháp. Trong mười năm đó, chính phủ Pháp cấp học bổng cho nhiều giáo sư trung học sang Pháp tu nghiệp ngắn hạn hay tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ. Nhưng dần dần ảnh hưởng Pháp mờ nhạt đi kể từ khi Việt Nam bắt đầu gửi công chức và sinh viên sang Hoa Kỳ, Úc, Tân-Tây-Lan và các nước khác vào những năm cuối thập kỷ 1950.

Truyền thống giáo dục cổ điển của Đại học Pháp bắt nguồn từ bản Hiến Pháp năm 1791 (hai năm sau Cách Mạng 1789) xác định vai trò của quốc gia trong giáo dục, bảo đảm mọi công dân có cơ hội đồng đều về giáo dục ở mọi cấp và mọi ngành. Những nghị định năm 1806 và 1808 dưới thời Napoléon I đặt toàn thể hệ thống giáo dục từ tiểu học tới đại học dưới sự điều hành và kiểm soát của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chính sách trung ương hóa nền giáo dục toàn quốc có mục đích kiện toàn nền thống nhất của quốc gia và tinh thần đoàn kết trong nhân dân Pháp. Định chế toàn quốc ấy đã tồn tại cho đến tận ngày nay, nhưng qua nhiều lần cải cách, chức phận điều hành và kiểm soát của Bộ Giáo dục đã được nới lỏng để con người được phát triển đầy đủ và tự do hơn. Đặc biệt ở cấp Đại học, sự kiểm soát không nhắm vào các hoạt động hàn lâm mà chú trọng đến sự hợp lệ trong các thủ tục điều hành ngân sách và nhân viên.

Chịu ảnh hưởng truyền thống cổ điển của Pháp, giáo dục đại học ở miền Nam không được tự trị về cả ba phương diện ngân sách, nhân viên và học vụ. Quả thật các Viện Đại học Sài-gòn, Huế, Cần Thơ, Đại học Bách Khoa Thủ Đức, các trường Cao đẳng và Đại học Cộng đồng của chính phủ đều được đặt dưới quyền điều hành của Bộ Giáo Dục. Các quyết định quan trọng như tuyển dụng hay thăng ngạch trật của giáo sư, mua sắm vật liệu hay chi phí xây dựng đều phải trình cho Bộ trưởng duyệt ký. Riêng chức vụ Viện trưởng là do Tổng thống bổ nhiệm, nhưng dưới thời Đệ nhị Cộng hoà thì việc bổ nhiệm Viện trưởng phải được Quốc hội thông qua sau một buổi điều trần về đường lối và tổ chức Đại học. Tiếp theo đó, Thủ tướng bổ nhiệm các Phó Viện trưởng theo đề nghị của Viện trưởng nhưng không cần phải thông qua Quốc hội. Chữ ký của Viện trưởng trên các văn bằng Đại học luôn luôn theo sau dòng chữ “Thừa ủy nhiệm Bộ trưởng Giáo dục”. Các khoản viện trợ từ bên ngoài cho phảt triển Đại học cũng phải qua ngân sách của Bộ Giáo dục ngoại trừ dưới hình thức hiện vật như sách vở, dụng cụ, máy móc, hay giáo sư thỉnh giảng (visiting professors) không do chính phủ Việt Nam trả lương. Nguồn viện trợ thường là các chương trình ngoại viện của các chính phủ Pháp, Mỹ, Úc, Tân-Tây-Lan . . . Về học vụ, mặc dù nội dung chương trình giảng dạy thuộc thẩm quyền của Đại học, việc tổ chức các phân khoa, thi cử và văn bằng cùng với mọi sáng kiến thay đổi hay dự án mới đều phải được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục. Tóm lại, Bộ Giáo Dục giữ vai trò điều hợp tổng quát các đại học để thống nhất về mặt triết lý giáo dục, quản trị nhân viên và tài chánh (trừ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh huấn luyện công chức là trực thuộc phủ Tổng Thống).[1]

Công bằng mà nói thì truyền thống đại học của Pháp không hẳn là một di sản xấu khiến cho đại học Việt Nam bị yếu kém về phẩm chất, như nhận xét của hai tác giả Thomas Vallely và Ben Wilkinson trong bản phúc trình của Đại học Harvard năm 2009. Nhận xét này đã bị Giáo sư Tạ Văn Tài phản bác rất đúng khi ông trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do, nhấn mạnh rằng những giáo sư đại học Việt Nam do Pháp đào tạo đều là những trí thức ưu tú không thua kém gì những đồng nghiệp người Pháp hay ngoại quốc khác. Họ đã xây dựng vững chắc nền đại học miền Nam từ 1954 và hầu hết sinh viên của họ khi ra nước ngoài đi làm hay học lấy bằng cấp cao hơn cũng đều là những nhân tài xuất sắc.[2] Có bậc thày không chỉ có công đào tạo ít nhất là hai thế hệ sinh viên mà còn là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp. Chẳng hạn, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, người có công gây dựng Đại học Văn Khoa từ những ngày đầu ở Hà Nội vào năm 1949-1950; bên Y khoa không mấy ai không biết đến Giáo sư Phạm Biểu Tâm là một vị thày thuốc điển hình của truyền thống Hippocrate.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm đang tiếp chuyện với sinh viên Y khoa về việc ông bị bắt trong biến cố 1963

Ở miền Nam, khi ghi trong Hiến pháp năm 1967 là “Nền giáo dục Đại học được tự trị,” các nhà làm chính sách giáo dục đã xác nhận sự cần thiết phải hội nhập với thế giới dân chủ, nhất là theo mô hình của Mỹ. Nhưng việc trao cho đại học quyền tự trị, nhất là về quản trị nhân viên và sử dụng ngân sách, từ những định chế lâu đời như Bộ Giáo dục, Tổng Nha Công vụ và Tổng Nha Ngân sách đòi hỏi những sự thay đổi hay điều chỉnh thích hợp về luật lệ và thủ tục, do đó cần phải có thời gian thực hiện theo một tiến trình chuyển tiếp.

Trụ sở Viện Đại Học Sài Gòn cạnh bên Hồ con rùa (góc đường Duy Tân – Trần Quý Cáp). Trước 1975, các trường ĐH công lập như Luật khoa, Văn khoa, Kiến trúc, Dược khoa và Y khoa v.v… đều là các Phân khoa thuộc Viện ĐH Sài Gòn. (Hình ảnh và ghi chú trích từ “flickrer” manhhai)

Dù sao trong tiến trình tự trị hóa, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều ưu đãi. Các đề nghị của Hội đồng đại học về nhân viên hay ngân sách thường được chính phủ chấp thuận mau chóng ngoại trừ những quyết định thật quan trọng. Do sự tín nhiệm sẵn có đối với lãnh đạo đại học, sự chấp thuận của chính phủ được căn cứ vào sự hợp lệ về hành chánh và khả năng ngân sách hơn là xét về nhu cầu và giá trị của đề nghị. Về mặt học vụ, sự chấp thuận của Bộ Giáo dục lại càng có tính hình thức hơn nữa vì không khi nào Bộ ra chỉ thị hay can thiệp vào việc ấn định nội dung các môn học, thể lệ thi cử và chấm thi, các công tác nghiên cứu và giảng dạy, miễn là không trái ngược với ba nguyên tắc căn bản là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Chính sách uyển chuyển này đối với lãnh đạo đại học đưa đến thái độ mặc nhiên chấp thuận cho đại học thử nghiệm sáng kiến mới để rốt cuộc chính thức công nhận kết quả của thử nghiệm. Một thí dụ: khoảng giữa năm 1965, tôi được biệt phái từ Đại học Văn khoa Sài-gòn sang Viện Đại học Vạn Hạnh trong một năm để giúp tổ chức và soạn thảo chương trình cử nhân cho Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn.  Sau khi hội ý với Thượng Tọa Viện trưởng Thích Minh Châu và được sự đồng ý của Thượng Tọa, tôi bắt đầu soạn thảo các môn học theo hệ thống tín chỉ (credits) thay thế cho các chứng chỉ cử nhân nhưng vẫn duy trì chế độ niên khóa. Tôi trở về Đại học Sài-gòn khi xong công việc và được biết dự án cải cách dung hòa cũ-mới này sau đó được Hội đồng Viện hoàn chỉnh và lần lượt áp dụng vào các Phân khoa khác. Điều đáng chú ý là khi Viện ĐH Vạn Hạnh trình dự án này lên Bộ Giáo dục xin ý kiến, Bộ không chính thức chấp thuận hay bác bỏ, nhưng các văn bằng cử nhân của Đại học Vạn Hạnh đều được Bộ công nhận. Những buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên luôn luôn có sự hiện diện của Bộ trưởng Giáo dục. Từ đầu thập kỷ 1970, hệ thống tín chỉ chính thức được áp dụng ở các Đại học Cộng đồng và Đại học Bách khoa Thủ đức của chính phủ.

https://i1.wp.com/www.nguyenhuynhmai.com/images/upload/Article/2009/8/14/633858072758210000.gif
Một buổi lễ tốt nghiệp của Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Trong ảnh Viện trưởng, HT Thích Minh Châu đang đọc thuyết văn

Sự nảy nở các đại học cộng đồng (hay đại học sơ cấp hai năm) từ 1971 đáp ứng nhu cầu thực tế về nhân lực của địa phương và thể hiện tinh thần dân chủ vì có sự tham gia trực tiếp về tài chính và quản lý của địa phương đó. Sự thành lập Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1973 được phỏng theo mô hình California Polytechnic State University đích thực là một đại học đa khoa, không chỉ gồm những phân khoa thiên về nghiên cứu mà bao gồm cả các ngành thực tiễn như nông nghiệp, kỹ thuật cơ khí, điện tử . . . là những ngành cần thiết cho nền kinh tế tại Đô thành và các tỉnh lân cận. Một đặc điểm trong chương trình đại học cộng đồng hồi đó là chương trình giáo dục bổ túc dành cho những sinh viên do hoàn cảnh chiến tranh nên thiếu căn bản vững chắc để theo các lớp đại học. Chương trình này cũng nhắm vào những quân nhân giải ngũ, nhất là khi đất nước hòa bình, cần được cập nhật và bổ túc kiến thức sau một thời gian bị gián đoạn việc học. Như vậy, việc cải cách giáo dục đại học theo xu hướng thực dụng và dân chủ hóa đã thật sự bắt đầu từ năm 1971.

Tự do học thuật và phát triển con người

Mặc dù một phái đoàn của Đại học Michigan đã đến Sài-gòn từ năm 1954 để giúp cải tổ chương trình đào tạo cán bộ ở Học viện Quốc gia Hành chánh, ảnh hưởng giáo dục đại học Mỹ chỉ bắt đầu ba bốn năm sau và đến những năm đầu thập kỷ 1970 mới có sự tăng tốc trong tiến trình đổi mới, với sự nâng cấp một số trường Cao đẳng Chuyên nghiệp, sự ra đời của một loạt Đại học Cộng đồng và của trường Đại học Bách Khoa Thủ Đức. Thế hệ trí thức theo truyền thống cũ của Pháp cũng ý thức được nhu cầu đổi mới và lợi ích của tự trị đại học trong công cuộc phát triển xứ sở nên cũng sẵn sàng chuyển hướng theo triết lý giáo dục của Mỹ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực dân chủ hóa và thực tiễn hóa giáo dục đại học không có đủ thời gian thành tựu khi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam sụp đổ năm 1975.

Tự trị học vụ trong qui chế tự trị đại học thường bị lẫn lộn với một chức năng liên hệ là tự do nghiên cứu và giảng dạy nay đã trở thành một truyền thống đại học ở các nước dân chủ. Đến đây, cần phải nhắc đến triết lý giáo dục của Đại học Humboldt nhấn mạnh vào sứ mệnh của trí thức đại học là phát triển toàn diện con người bằng khoa học và văn hóa, và điều kiện của phát triển là tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy. Phát triển con người bằng khoa học là tinh thần khai phóng, phát triển con người bằng văn hóa là tinh thần nhân bản. Đó là hai nguyên tắc chính yếuđã được đưa vào triết lý giáo dục các cấp ở miền Nam cùng với nguyên tắc thứ ba là tinh thần dân tộc, theo thứ tự “nhân bản, dân tộc, khai phóng,” phù hợp với nhu cầu và sứ mệnh của một quốc gia đang mở mang muốn vươn lên và hội nhập thành công trong cộng đồng thế giới.

Giáo dục nhân bản lấy con người làm cứu cánh nên chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện, đúng như đã được định nghĩa trong sách Đại học của Nho giáo (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện). Đạo Nho có những giáo điều phong kiến lỗi thời nhưng những nguyên tố để đào tạo mẫu người lý tưởng như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều có giá trị phổ quát và vĩnh viễn. Người “quân tử” hay “kẻ sĩ” thời phong kiến khác với người “trí thức” thời dân chủ về trách nhiệm cụ thể, nhưng hoàn toàn giống nhau về tư cách đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục dân tộc nhằm bồi dưỡng tinh thần hiếu hòa nhưng nhiệt tình yêu nước của giống nòi Hồng Lạc qua hơn hai nghìn năm lịch sử, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Tinh thần dân tộc được thể hiện ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 và trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại/Trần Trọng Kim: nền giáo dục Việt Nam lập tức được Việt hóa với chương trình Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Giáo dục khai phóng tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật và tinh hoa văn hóa của các nước Tây phương một cách không định kiến. Rút kinh nghiệm mất nước vì chính sách tự cô lập với thế giới của vua chúa nhà Nguyễn, giáo dục khai phóng cũng du nhập những tư tưởng mới về triết học và chính trị, chuẩn bị cho học sinh sau khi tốt nghiệp tiểu học hay trung học có điều kiện trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.

Tinh thần khai phóng được thể hiện đầy đủ nhất ở Đại học qua sự thành lập các trường đại học mới, bổ sung tính chất nghiên cứu hàn lâm bằng khuynh hướng thực dụng để gia tăng khả năng phát triển kinh tế và công nghệ hóa miền Nam. Trong hai năm đầu, miền Nam mở thêm hai đại học, một công là Đại học Huế và một tư là Đại học Đà-lạt, cùng thành lập trong năm 1957; từ 1964 đến 1972 có thêm một đại học công là Đại học Cần Thơ (1966) và năm đại học tư là ĐH Vạn Hạnh (1964), ĐH Phương Nam (1967), ĐH Hòa Hảo (1970), ĐH Cao Đài (1971) và ĐH Minh Đức (1972). Sự gia tăng con số đại học tư—tổng cộng sáu đại học tư đều do bốn tôn giáo chính ở Việt Nam thành lập—cho thấy một đặc tính dân chủ ở miền Nam, mặc dù sự phát triển tự do này có vẻ biểu hiện nhu cầu xác lập vai trò và ảnh hưởng của mỗi tôn giáo trong xã hội hơn là nhu cầu thật sự về giáo dục đại học. Một đặc điểm khác của tinh thần khai phóng là quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy của các giáo sư. Các chứng chỉ, văn bằng và các môn học vẫn phải được Bộ Giáo dục duyệt y, nhưng nội dung các môn học và phương pháp giảng dạy đều do mỗi giáo sư tự ý quyết định.

Đáng tiếc là do tình hình chiến tranh, các hoạt động tự do học thuật này không phát triển được đến mức độ cao như mong đợi. Quả thật các giáo sư Đại học miền Nam được tự do nghiên cứu và giảng dạy, nhưng họ lại thiếu điều kiện để phát huy khả năng của họ. Trước hết là sự thừa kế truyền thống đại học cũ của Pháp từ thời Đại học Đông Dương. Trong những năm đầu chuyển tiếp từ 1954, Đại học Sài-gòn còn giảng dạy bằng tiếng Pháp ở các Phân khoa, trừ trường Văn Khoa, Cao đẳng Sư Phạm. (Ở trường Luật, nhờ những nỗ lực đặc biệt của GS Khoa trưởng Vũ Quốc Thúc và các đồng nghiệp của ông như Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Cao Hách, việc giảng dạy bằng tiếng Việt đã thực hiện được từ niên khóa 1955-56.)[3] Ngay cả khi đã hoàn toàn Việt hóa, Đại học miền Nam vẫn theo mô hình cũ của Pháp về tổ chức học theo năm và thói quen giảng bài hay phát bài cho sinh viên học thuộc lòng, trừ một số bộ môn khoa học như Toán và Vật lý. Giáo sư ít có những công trình nghiên cứu riêng, giữ nguyên bài giảng hàng năm hoặc chỉ thêm bớt đôi chút, không hoặc ít hướng dẫn cho sinh viên đọc sách tham khảo và thảo luận trong lớp học. Điểm bài thi cuối năm cao hay thấp phần lớn là tùy theo mức độ thuộc bài của sinh viên. Cho đến những năm cuối thập kỷ 1960, truyền thống cũ mới bắt đầu được thay đổi do sự trở về nước của một số giáo sư sau thời gian du học hay tu nghiệp ở những quốc gia ngoài hệ thống của Pháp như Anh, Đức, Úc, Tân-Tây-Lan, Nhật và Hoa Kỳ. Thật vậy, số người đậu tiến sĩ ở những nước này về Việt Nam dạy học gia tăng từ những năm giữa thập kỷ 1960, nhưng trách nhiệm lãnh đạo về học vụ vẫn ở trong tay thế hệ chịu ảnh hưởng của Pháp, vừa có thâm niên vừa chiếm đa số. Hệ thống giáo dục Đại học vì thế vẫn còn khá bảo thủ. Sự kéo dài tình trạng chuyển tiếp được thấy rõ ở Đại học Y khoa vào những năm cuối cùng: thành phần giảng huấn gồm các giáo sư Việt, Pháp và Mỹ, nhưng một số giáo sư người Việt khi giảng dạy vẫn pha lẫn tiếng Pháp và các bài giảng được viết bằng Pháp văn, đem đánh máy và in ronéo cho sinh viên học thuộc lòng để làm bài thi cuối năm.

Tập tin:SaigonUniversityCollegeofPedagogy.jpg
Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn

Trong thời gian chuyển đổi từ ảnh hưởng của Pháp sang ảnh hưởng của Mỹ, một số giáo sư do Pháp đào tạo được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và khi về nước đã cập nhật kiến thức và phương pháp mới vào việc giảng dạy. Mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng mới và cũ tan biến mau chóng ngay cả ở Y, Dược khoa và sinh viên rất thích thú được hướng dẫn tra cứu thêm những sách báo y học và khoa học của Mỹ. Bên Luật khoa, các giáo sư trẻ mới du học về đưa ngay vào học trình một số môn mới trong hệ thống đại học Mỹ như kinh toán học, thống kê, phương pháp các khoa học xã hội, chính trị, bang giao quốc tế. Từ nay, thay vì chỉ ghi chép bài giảng của thày và học thuộc lòng để cuối năm sẽ viết ra y hệt (cours magistral), sinh viên đã có dịp áp dụng các phương pháp  tự tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, do đó tập được thói quen tự học suốt đời, và có dịp tranh luận  trong lớp để huấn luyện óc phê bình, sáng tạo. Bên Văn Khoa thì bất kể là giáo sư xuất thân từ đại học Pháp hay Mỹ, đều “trăm hoa đua nở”, tự do giới thiệu và phê bình các hệ tư tưởng triết học, các khuynh hướng văn học, nghệ thuật, tức là rất sát với trào lưu quốc tế. Thí dụ, hồi đó triết học hiện sinh  (existentialisme) của Kierkegaard, Heidegger, Sartre và Merleau-Ponty được thảo luận sôi nổi nhất, và những tiểu thuyết hiện sinh của Albert Camus hay Simone de Beauvoir là những tác phẩm thời thượng.  Lại có giáo sư không ngần ngại lập ra trường phái mới như Giáo sư Linh mục Kim Định viết cả ngàn trang sách về tư tưởng “Việt Nho”. Các giáo sư trong Tạp chí Đại học thì nghiên cứu và phê phán không thiếu vấn đề gì, từ triết học, văn học đến chính trị. `Đại học Văn Khoa còn có một sồ giáo sư là Thượng Tọa và Linh Mục, như TT Thích Mãn Giác, TT Thích Quảng Liên, LM Trần Thái Đỉnh, LM Hoàng Sĩ Quý. Nói chung, dù xuất thân từ bất cứ đại học nào và thuộc khuynh hướng nào, các giáo sư văn khoa và các ngành khoa học nhân văn đều áp dụng phương châm giáo dục của Kant là “không chỉ giảng dạy cho sinh viên các tư tưởng mà dạy cho họ biết tư tưởng.”

Một câu chuyện đáng ghi nhớ về tự do tư tưởng của trí thức Đại học miền Nam là vào năm 1965, ngay sau khi chính phủ quân nhân cầm đầu bởi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ được thành lập. Khi đó, Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, giao trách nhiệm đọc bài khai giảng niên khóa toàn trường cho Giáo sư Tạ Văn Tài, một trí thức trẻ mới ở Mỹ về,  xác nhận rằng ông có quyền tự do phát biểu. Giáo sư Tài đã trình bày tóm lược bản luận án tiến sĩ của ông ở Mỹ về vai trò của quân đội tại các nước Đông Nam Á, phân tích ưu khuyết điểm của chế độ quân nhân ở những nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, nhấn mạnh đến quyết định sáng suốt của một số chính quyền quân đội đã mau mắn trao trả quyền lực cho nhân dân qua bầu cử, tránh được những cuộc đấu tranh chính trị gây đau thương chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và kìm hãm sự phát triển của đất nước. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cử Đại tá Dương Hồng Tuân đến tham dự và lấy bài giảng về làm tờ trình cho Hội Đồng Quân Lực. Sau đó, Tổng Thư ký Hội đồng Quân lực là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu nhận trách nhiệm nghiên cứu bản luận án của Giáo sư Tài nhưng không thấy công bố kết quả hay phản ứng của Hội Đồng Quân Lực như thế nào.

Ngoài truyền thống bảo thủ của Pháp, một lý do quan trọng khác làm chậm sự phát triển đại học là tình hình kinh tế thời chiến và nạn thiếu giáo sư so với tỉ lệ gia tăng của sinh viên và số đại học được mở thêm khiến nhiều giáo sư phải nhận dạy ở nhiều trường, có khi còn kiêm nhiệm chức vụ khác nữa. Mỗi lần đi dạy xa như từ Sài-gòn ra Huế hay Đà-lạt hay Cần Thơ, giáo sư cần phải ở lại địa phương trung bình hai, ba ngày. Công việc nghiên cứu chuyên môn lại càng bị hạn chế, sáng kiến và phương pháp giảng dạy mới cũng không được phổ biến khi những người có hiểu biết và đầu óc đổi mới lại chính là những người được giao phó thêm chức vụ mà công việc hàng ngày thường chiếm nhiều thì giờ hơn là dạy học. Riêng cá nhân tôi, trước khi được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Đại học Sài-gòn đặc trách nghiên cứu và phát triển năm 1974, tôi đã kiêm nhiệm hai chức vụ trong khu vực tư là Giám đốc Nhà Xuất bản Hiện Đại do Hội Việt-Mỹ bảo trợ và Phó Tổng Giám đốc của Mandarin Garment Co., một công ty hợp tác đầu tư Việt Nam-Hong Kong-Tây Đức, trong khi vẫn giảng dạy ở Đại học Văn Khoa. Dự án cải cách và phát triển Đại học Sài-gòn của tôi bị đình trệ vì phải huy động giáo sư và sinh viên tham gia công tác cứu trợ khẩn cấp đồng bào di tản vì chiến tranh từ các tỉnh miền Trung.

Nhà Xuất bản Hiện Đại là một dự án văn hóa có những đóng góp không nhỏ cho những hoạt động tự do, khai phóng của Đại học. Vì sự gia tăng cường độ của chiến tranh, công cuộc phát triển Đại học gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc gửi sinh viên đi du học nước ngoài. Bộ Giáo dục và Viện Đại học đã phải mời một số giáo sư ngoại quốc tới giảng dạy nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu. Khi làm Đổng lý Văn phòng tại Bộ Văn hóa Giáo dục năm 1965, tôi đã có dự án du nhập trí tuệ bằng việc mời giáo sư nước ngoài và dịch sách nghiên cứu để giải quyết nạn thiếu giáo sư và mở rộng kiến thức của sinh viên. Khi nói chuyện với các cơ quan viện trợ văn hóa nước ngoài, khẩu hiệu “We want to bring the brain in” của tôi có sức thuyết phục nhưng chưa kịp làm được gì thì chính quyền dân sự Phan Huy Quát đã phải ra đi. Năm 1971, cùng với sự nở rộ của các đại học tư và đại học cộng đồng kiểu Mỹ, tôi có cơ hội quan hệ với Hội đồng Quản trị Hội Việt-Mỹ và đề nghị chương trình dịch tài liệu giáo khoa của Mỹ cho giáo sư và sinh viên đại học Việt Nam bên cạnh chương trình phổ biến kiến thức phổ thông về văn học, khoa học và nghệ thuật mà Hội Việt-Mỹ đang thực hiện. Dự án được chấp thuận, Hội Việt-Mỹ phụ trách điều đình với các nhà xuất bản ở Mỹ về quyền được dịch sách và NXB Hiện Đại ra đời với sự hợp tác của nhiều giáo sư và học giả có uy tín cho đến những ngày cuối tháng Tư 1975.

Trong bốn năm hoạt động, NXB Hiện Đại đã hoàn thành được 45 tác phẩm trong đó 30 cuốn là sách nghiên cứu về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật. Điển hình là : Căn bản Chính trị của Phát triển Kinh tế của Robert T. Holt và John E. Turner, Vũ Quốc Thúc dịch; Sự Biến đổi của Quốc tế Công pháp của W. Friedman, Tạ Văn Tài dịch; Chính trị và Bang giao Quốc tế của Hans J. Morgenthau, một nhóm chuyên viên dịch, Nguyễn Mạnh Hùng chủ biên; Thế Quân bình Thế giới và Tương lai của Á châu của Robert Scalapino và William Griffith, Phạm Thiên Hùng dịch; Á châu và các Đại cường của Robert A. Scalapino, Nhóm Toàn Hưng dịch; Văn minh Dân chủ của Leslie Lipson, Vũ Trọng Cảnh dịch; Nguyên tắc Quản trị: Phân tích các Chức vụ Quản trị của Harold Koontz và Cyril O’Donnell, Trần Lương Ngọc và Cung Thúc Tiến dịch; Xã hội học của Joseph Fichter, Trần Văn Đĩnh dịch; Khía cạnh Kinh tế của Phát triển Nông nghiệp của John W. Mellor, Nguyễn Đăng Hải dịch; Năng lượng và Thế giới Ngày mai của Hal Hellman, Ngô Đình Long dịch; Ký giả Chuyên nghiệp của John Hohenberg, Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu dịch. Đáng chú ý là bộ Kinh tế học của Paul Samuelson, người được giải Nobel Kinh tế năm 1970, Cung Thúc Tiến, Nguyễn Minh Hải và Trần Lương Ngọc dịch, Nguyễn Cao Hách hiệu đính, mới in xong tập I (700 trang) khoảng giữa tháng Tư 1975, chưa kịp bán. Năm 1990, khi tôi và phái đoàn SEARAC gặp cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ở New York để vận động việc định cư cựu tù nhân cải tạo ở Mỹ, nhân dịp đề cập đến kế họach đổi mới của Nhà nước, ông Thạch báo tin vui là bộ sách của Samuelson đang được dịch sang tiếng Việt. Tôi kể lại chuyện năm 1975 NXB Hiện Đại để lại hai nghìn bản dịch cuốn sách này còn thơm mùi giấy mới và nói thêm: “Chắc lúc đó các anh đã cho đốt hết rồi.”  Ông Thạch trả lời bằng một nụ cuời xòa.
Ngoài chương trình dịch sách của các tác giả người Mỹ, NXB Hiện Đại cũng xuất bản sách dịch từ Pháp văn và sách viết bằng tiếng Việt của tác giả người Việt. Cuốn sách tiếng Pháp làm sôi nổi dư luận thế giới hồi đó là cuốn Ni Marx, Ni Jesus của triết gia Pháp nổi tiếng Jean-François Revel được Nguyễn Khắc Nhân dịch sang tiếng Việt là Không theo Marx, không theo Jesus. Ba cuốn sách viết bằng tiếng Việt do Hiện Đại xuất bản là Từ điển Quản trị và Hành chánh của Bùi Quang Khánh và Vũ Quốc Thông, William Faulkner: Cuộc đời và Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Văn Nha, và Đặc khảo về Dân nhạc ở Việt Nam của Phạm Duy.

Tại mỗi phân khoa đại học, các giáo sư cũng đưa những công trình nghiên cứu chuyên môn của mình vào những ấn phẩm của phân khoa, như Y Dược có tạp chí Acta Medica Vietnamica, trường Luật có Luật học Kinh tế Tạp chí, Học Viện Quốc gia Hành chánh có Tập san Nghiên cứu Hành chánh, Văn Khoa Sài-gòn có tập san Nghiên cứu Sử Địa, Đại học Huế có tạp chí Đại Học do một nhóm giáo sư phụ trách với sự hợp tác của nhiều giáo sư ở Sài-gòn. Về bên Khoa học, tôi chỉ nhớ có cuốn sách nổi tiếng được ngoại quốc biết đến nhiều là cuốn Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ. Tôi không thể kể ra hết danh tính của những giáo sư đã có công đóng góp vào sự nghiệp phát triển đại học miền Nam, nhưng có thể khẳng định một cách tổng quát là những người trong ban giảng huấn đại học ở mọi cấp bậc đều được đào tạo theo hệ chính quy, trong nước hay ngoại quốc, có khả năng và tư cách nghề nghiệp xứng đáng được tôn trọng. Họ là một lực lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng có trong lịch sử đất nước, có đầy đủ tinh thần và phẩm chất của người trí thức ở các nước phát triển, không thua kém về trình độ so với các nước trong khu vực, có tư duy độc lập, có thái độ rất dấn thân và tâm huyết cho sự nghiệp phát triển nước nhà. Nếu có điều kiện tiếp tục phát triển hoà bình, chắc chắn họ sẽ tạo nên sự thăng hoa cho đất nước, như giới trí thức, khoa học gia đã từng làm cho nước Đức thế kỷ 19.

Ngoài sự nghiệp giáo dục đào tạo, giới trí thức đại học hồi đó cũng thấy rõ nhu cầu phát triển xã hội trong thời chiến đồng thời với công cuộc chuẩn bị tái thiết đất nước trong thời bình. Bởi vậy mặc dù ít thì giờ cho những công trình nghiên cứu lâu dài, một số trí thức vẫn đóng góp ý kiến với những nhà làm chính sách bằng những bài luận thuyết về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trí thức đại học chưa nghĩ đến việc thành lập “think tank” như ở Mỹ nhưng đã tụ họp với nhau trên các diễn đàn độc lập có những tiếng nói đáng kể như tạp chí Quê Hương do GS Nguyễn Cao Hách và đồng sự chủ trương, Văn Hóa Á châu (thêm ấn bản tiếng Anh Asian Culture) của Hội Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á châu, Thế kỷ Hai mươi do GS Nguyễn Khắc Hoạch chủ nhiệm, và Phát triển Xã hội (thêm ấn bản tiếng Anh Social Development)do tôi và một số đồng nghiệp phụ trách. Ngay cả những tạp chí của chính quyền như Pháp lý Tập san của Bộ Tư pháp, Tập san Quốc phòng của Bộ Quốc Phòng cũng có sự tham gia của nhiều giáo sư đại học và trí thức độc lập. Cũng cần nhắc đến bản Phúc trình Thúc-Lilienthal của “Nhóm Nghiên cứu Kế hoạch Hậu chiến” là kết quả hợp tác giữa trí thức đại học Việt Nam và các chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ.

Kết luận

Đại học miền Nam chỉ tồn tại có hai mươi năm trong đó mười năm đầu còn chịu ảnh hưởng Pháp khá sâu đậm do thỏa hiệp hợp tác văn hóa Việt-Pháp năm 1955. Chỉ từ 1965 Đại học miền Nam mới có cơ hội tiếp cận với tinh thần thực dụng và chế độ tự trị đại học của Mỹ và tìm cách áp dụng vào hệ thống đại học Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ những năm còn theo truyền thống cũ của Pháp, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều sự dễ dãi của Bộ Giáo dục về các thủ tục hành chánh, tài chánh, nhất là về học vụ. Các giáo sư được tự do nghiên cứu và giảng dạy mặc dù còn thiếu nhiều điều kiện giúp cho việc phát triển tiềm năng. Mười năm sau (1965-1975) vẫn được coi như thời kỳ chuyển tiếp vì khuynh hướng thực dụng và những thay đổi theo mô hình đại học Mỹ chỉ có cơ hội nảy nở từ những năm đầu thập kỷ 1970.

Sự gia tăng cường độ của chiến tranh kéo theo tình trạng bất ổn về xã hội và khó khăn về kinh tế đã hạn chế rất nhiều khả năng nghiên cứu, cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy của các giáo sư. Nhiều người đậu tiến sĩ ở ngoại quốc chưa muốn trở về nước giảng dạy vì bất mãn với chính quyền miền Nam. Nạn thiếu giáo sư càng trầm trọng trước sự gia tăng số sinh viên và số truờng đại học mới mở khiến cho những giáo sư giỏi phải đi dạy ở nhiều trường hoặc đảm nhận thêm công việc khác. Trong những điều kiện hạn chế và khó khăn như thế, Đại học Việt Nam vẫn cố gắng phát triển, nâng cấp những trường cao đẳng chuyên nghiệp, mở thêm các đại học cộng đồng và đại học bách khoa, áp dụng hệ thống tín chỉ . . . Môi trường đại học đích thực là một môi trường tự do của hoạt động trí thức. Nhiều giáo sư, dù bận dạy nhiều trường hay có việc làm thêm, vẫn cố gắng đóng góp ý kiến qua những diễn đàn trí thức về những vấn đề quan tâm chung. Tiếc rằng vào thời điểm những năm đầu thập kỷ 1970, chưa có ai nghĩ đến việc thành lập “think tank” để tư vấn cho những nhà làm chính sách, có lẽ khái niệm về những cơ quan nghiên cứu tư vấn kiểu Mỹ này còn khá xa lạ đối với Việt Nam.

Tôi không muốn so sánh Đại học miền Nam trong 20 năm chiến tranh trước 1975 với nền Đại học Việt Nam hiện nay, sau 35 năm đất nước hòa bình và thống nhất. Nhưng tôi thành thật nghĩ rằng nếu hiệp định Paris 1973 giữa bốn phe tham chiến được thi hành nghiêm chỉnh, thực hiện những đìều khoản đã thỏa thuận về “hòa giải và hòa hợp dân tộc” (chương IV, điều 10, 11 và 12)[4] thì miền Nam Việt Nam dưới một chính quyền mới sau cuộc tổng tuyển cử đã có triển vọng giàu mạnh không thua kém Nam Hàn, và Đại học miền Nam cũng đã đạt được “đẳng cấp quốc tế.” Kết quả này cũng chắc chắn đã diễn ra, dù chậm trễ hơn nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, nếu đường lối đổỉ mới thật sự của những nhà lãnh đạo có tầm nhìn như Nguyễn Cơ Thạch hay Võ Văn Kiệt không bị trở ngại trên bước đường thực hiện.

Cũng may là ở Việt Nam ngày nay vẫn còn có những trí thức không quên theo đuổi lý tưởng của người làm thày cao hơn người làm quan (tiến vi quan, đạt vi sư), nhất là không quên sứ mạng “lương sư hưng quốc”. Họ đã không ngừng tuyên dương và cố gắng phát huy truyền thống đại học Humboldt, trong đó tự do nghiên cứu và giảng dạy là điều kiện thiết yếu để đào tạo con người và phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo Nhà nước cũng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế”, đang tiếp cận với các nền giáo dục phát triển phương Tây, đặc biệt nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, nhưng đến bao giờ thì mới thật sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này? Thời gian không chờ đợi trên vũ đài thế giới.

Irvine, California
Tháng Mười, 2010

Tham khảo

  1. Wikipedia, tiếng Việt, “Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa”.
  2. Nguyễn Hữu Phước, Contemporary Educational Philosophies in Vietnam,1954-1974, luận án tiến sĩ tại University of Southern California, 1974.

Đỗ Bá Khê, “Phát triển Đại học miền Nam trước 1975”, trang 152-157, trong Giáo dục ở miền Nam tự do trước 1975 , Nguyễn Thanh Liêm chủ biên, Lê Văn Duyệt Foundation  xuất bản, Santa Ana, California, 2006.


[1] Điều này khác với mô hình các đại học ở Liên Xô mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã áp dụng cho đến những năm gần đây: Đại học ngành nào thuộc Bộ ngành đó, thí dụ Y khoa thuộc Bộ Y tế, Luật khoa thuộc Bộ Tư pháp. Từ 1994 các khoa mới được tập trung thành Đại học Quốc gia. Sau 30.4.1975, trường Luật và trường Quốc gia Hành chánh bị bãi bỏ, nhưng dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt thì được tái lập, có lẽ vì chính quyền mới đã nhận ra vai trò đóng góp vào nền pháp trị của trường Luật ở miền Nam. Trong khi đó, kiến thức và kinh nghiệm của ban giảng huấn Học viện Quốc gia Hành chánh cũng cần thiết cho việc cải tổ hành chánh. Một số giáo sư chế độ cũ được mời giảng dạy và làm tư vấn về hành chánh cho Thủ tướng.
[2] Đài Á châu Tự do phỏng vấn GS Tạ Văn Tài ngày 19.10.2009, đăng lại trong Đặc San Luật Khoa 2010 của Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Nam, Houston, Texas.
[3] Về điểm này, phải kể đến sự đóng góp quan trọng của GS Vũ Văn Mẫu, soạn giả tập Từ Điển Pháp-Việt: Pháp, Chính, Kinh, Tài, Xã Hội.
[4] Thí dụ: Chương IV, Điều 11 ghi rằng: “Ngay sau khi ngưng chiến, hai bên miền Nam sẽ: (1) thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, chấm dứt hận thù, cấm đoán mọi hành động trả thù và kỳ thị đối với các cá nhân và đoàn thể đã hợp tác với bên này hay bên kia; (2) bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm việc, quyền tư hữu, và quyền tự do kinh doanh.”
(Các hình ảnh trong bài viết là do tôi đưa thêm để minh họa. NVT)
 
Posted by Nguyễn Văn Tuấn at 4:59 PM
 
 

NHÂN BẢN, DÂN TỘC VÀ KHAI PHÓNG – Huỳnh Ngọc Chênh

14 Th9

NHÂN BẢN, DÂN TỘC VÀ KHAI PHÓNG

 
Té ra tôi được đào tạo trong hệ thống giáo dục như thế này mà không hề biết tới. Thật ra qua 5 năm tiểu học, 6 năm trung học, 3 năm đại học và 1 năm cao học là một quãng đường dài 15 năm (với đa số HS khác là 17 năm) nằm trong hệ thống giáo dục nầy nhưng tôi chưa có dịp suy nghĩ về nó. Trước 75 còn bé và lo dồn dập chuyện học, sau 75 thì bị xoáy vào thời bao cấp và liên tục học chính trị nhồi nhét cái mới nên không còn đầu óc đâu để suy nghĩ về chuyện cũ. Nay đọc lại tư liệu này trên trang Phạm Viết Đào, bỗng dưng thấy …xúc động.
Có nhiều chuyện cần bổ sung vào bài viết nầy, nhưng đó là việc lâu dài, còn trước mắt, tôi xin bổ sung tức thì về một số trường trung học danh tiếng trong hệ thống trường trung học tuyệt vời thời đó theo như ký ức của tôi. Đó là các trường: Quốc Học, Đồng Khánh (Huế), Phan Chu Trinh, Hồng Đức (Đà Nẵng), Trần Quý Cáp (Hội An), Trần Cao Vân (Tam Kỳ), Trần Quốc Tuấn (Quảng Ngãi)….Gia Long, Petrus Ký, Trưng Vương (Sài Gòn)… Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…
Hôm nay trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng kỉ niệm 60 năm ngày thành lập.

HỆ THỐNG GIÁO DỤC TẠI MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975
Nhân bản, dân tộc và khai phóng

Nền giáo dục ở Miền Nam trước 1975 đặt trên 3 phương châm lớn, được ghi vào Hiến Pháp hẳn hoi: nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Giáo dục nhân bản lấy cá nhân làm trọng, nhấn mạnh đức dục, hướng đến phục vụ tha nhân. Giáo dục dân tộc bắt đầu từ chương trình Việt, xiển dương lòng ái quốc thương nòi. Giáo dục khai phóng mở mang kiến thức khoa học kỹ thuật, không ngại du nhập những nét hay, thế mạnh của Tây Phương.Những bước ban đầu

Thầy trò tiểu học thời VNCH. 

Triết lý giáo dục đó giúp học trò thăng hoa, lòng sáng tạo được khích lệ, tự do cá nhân được nâng đỡ — là nguyên do chánh khiến các ngành nghệ thuật, văn thơ hội hoạ phát tiết tài hoa, để lại hằng ngàn tác phẩm vài chục năm sau vẫn mê hoặc hồn người. Còn vài đóng góp sáng giá khác mà chúng tôi sẽ thử nêu ra trên trang báo này. Cần ghi nhận nền giáo dục đại học thời VNCH được hoàn toàn tự trị. Các việc ngân sách, nhân sự, học vụ… đều không bị giới chánh trị chi phối. Theo thời thế, có nỗ lực canh tân, chuyển dần từ cách dạy và học của người Pháp sang phương pháp thực nghiệm chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ. Một điểm đặc sắc rất riêng của nền giáo dục VNCH là sự ổn định của chương trình đức dục/công dân giáo dục, từ bậc tiểu học lên đến trung học. Tính nhân bản và hiệu quả của chúng đã được chứng thực qua thời gian. Một phần thậm chí đang được… copy dùng lại ở VN hiện nay.

Một cuộc mít tinh của phụ nữ thời Đệ Nhất Cộng Hòa 

Các bậc học
Hiếp pháp VNCH cũng quy định nền giáo dục toàn dân, miễn phí đến hết bậc Trung Học. Theo các số liệu còn lại, vào đầu thập niên 1970, cả nước có khoảng 5,200 trường tiểu học với 2.5 triệu học trò. Cùng thời điểm này, có trên 530 trường trung học và hơn 550,000 học sinh trung học. Đến niên học cuối cùng 1975, toàn quốc có 900,000 học sinh trung học. Cùng lúc ở bậc đại học, khoảng 167,000 sinh viên ghi danh học. Ngoài ra, thời VNCH còn có hệ thống “Bách Khoa Bình Dân” với học phí thấp, thậm chí miễn phí. Đây là các trung tâm huấn nghệ ngắn hạn, dành cho học trò hoàn cảnh cơ cực không thể tiếp tục lên đại học, hoặc giới thợ thuyền đầu tắt mặt tối, kể cả cựu quân nhân, v.v…

Sách giáo khoa của Bộ Giáo Dục 

Hệ thống trường
Một điểm độc đáo của nền giáo dục VNCH là sự nức tiếng của các trường trung học công lập. Nhiều trường đến nay vẫn còn dư âm. Có thể kể Trung Học Quốc Học (Huế), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ), Võ Trường Toản (Sài Gòn). Trường nữ lả lướt những Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt… Bên nam danh tiếng chưa phai mờ những Chu Văn An, Pétrus Ký… Những nơi này cho ra lò không ít yếu nhân của xã hội Miền Nam thời đó. Hệ thống đại học công lập VNCH cũng lẫy lừng không kém. Nổi bật là Viện Đại Học Sài Gòn lớn nhất xứ sở. Có lúc nơi này thu hút đến 70% sỉ số sinh viên cả nước. Ngoài ra có thể kể thêm Viện Đại Học Huế (1957), Viện Đại Học Cần Thơ (1966)…

Viện Đại Học Sài Gòn 

Trong hoàn cảnh giáo dục tự trị, hoàn toàn tự do, các viện đại học tư thục cũng được mùa… trăm hoa đua nở. Viện Đại Học Đà Lạt của Công Giáo rất mạnh, cho ra trường hơn 25 ngàn sinh viên trong 2 thập niên hoạt động. Bên Phật Giáo có Viện Đại Học Vạn Hạnh, thiết lập năm 1964, nằm trên đường Trương Minh Giảng Quận 3. VNCH còn có 2 học viện rất nổi tiếng khác, với vai trò khá đặc biệt. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam (1950), trường sở đặt ở Đà Lạt, sau dời về đường Trần Quốc Toản, Quận 10 Sài Gòn. Trường này chú trọng huấn luyện các chuyên viên hành chánh và công quyền, bao gồm thuế vụ và ngoại giao. Ngôi trường kia là Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Võ Bị huấn luyện sinh viên sĩ quan, ra trường như một Cử Nhân Võ Khoa — đa phần sau này trở nên các cấp chỉ huy can trường trên trận địa, giúp giữ gìn bờ cõi trong cuộc chiến chống giặc thù cộng sản xâm lăng từ phương Bắc.

Viện Đại Học Vạn Hạnh

Một trong những ưu thế của VNCH là được nhiều nước bạn đồng minh yểm trợ. Ngành giáo dục non trẻ cũng được nâng đỡ theo. Chánh phủ New Zealand từng giúp xây Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Người Pháp cố vấn về phát triển nhân sự, cũng như cấp nhiều học bổng du học. Tây Đức yểm trợ việc kiến thiết và trao tặng thiết bị cho 1 trường trung học kỹ thuật. Trợ giúp lớn nhất thuộc về Hoa Kỳ, từ ấn loát sách giáo khoa đến xây trường trại. Đầu 1970, Hoa Kỳ chuyển dàn máy móc IBM thế hệ mới nhất để Bộ Giáo Dục sử dụng chấm bài thi trắc nghiệm kiểu Mỹ (bài thi vì vậy thường gọi là “Thi IBM”). Những năm cuối cùng của Miền Nam tự do cũng là lúc manh nha chương trình đại học cộng đồng, dựa theo mô hình “Community College” của Mỹ. Chú trọng 2 năm sơ cấp đại học, một phần chương trình nhắm vào giới cựu chiến binh, cần trang bị kiến thức cập nhật. Cũng có một dự án giàu tham vọng khác là Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (1973) mô phỏng trường Đại Học Cal Poly (California Polytechnic State University). Mặc dù còn khiêm tốn, từ những cơ sở giáo dục này, đã manh nha nhiều tạp chí chuyên sâu, mang ít nhiều dáng dấp sinh hoạt hàn lâm. Có thể kể: tạp chí “Acta Medica Vietnamica” của trường Dược; “Luật Học Kinh Tế Tạp Chí” của trường Luật; tập san “Nghiên Cứu Hành Chánh” của trường Quốc Gia Hành Chánh; tập san “Nghiên Cứu Sử Địa” của Văn Khoa Sài Gòn; tạp chí “Đại Học” của Viện Đại Học Huế, v.v… Cũng có một số thử thách, trì hoãn phần nào đà tiến triển của nền giáo dục đại học VNCH. Thứ nhất là ảnh hưởng của lối Tây học có phần bảo thủ. Thứ nhì, chiến cuộc ngày càng ác liệt. Thứ ba, tình trạng thiếu giáo sư. Không ít giáo sư đứng lớp ở nhiều trường khác nhau. Trong khi đó, một số đậu tiến sĩ ở ngoại quốc lại tránh hồi hương vì xáo trộn chánh trị.
Người muôn năm cũ
Không hiếm giáo sư lỗi lạc trong lớp trí thức Miền Nam hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà. Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục góp công gầy dựng Đại Học Văn Khoa từ thời 1940-1950. Giáo Sư Phạm Công Thiện lúc ra mắt chưa tới 30 tuổi. Ngành Y lừng danh Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Bên Toán có các Giáo Sư Đặng Kế Viêm, Đào Văn Dương. Triết Học có thầy Trần Bích Lan (Nguyên Sa thi sĩ). Quốc Văn có thầy Trần Trọng San. Anh Văn có soạn giả Lê Bá Kông & Lê Bá Khanh. Tiến Sĩ Đỗ Bá Khê –Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên– là người có công khai sinh hệ thống đại học cộng đồng.Miền Nam lúc đó xuất hiện lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng thấy. Họ có đầu óc độc lập, lại chịu dấn thân phát triển nước nhà. Chính họ góp phần đưa VNCH lên vị thế lò đào tạo 3/4 số kỹ sư trong toàn vùng Đông Nam Á. Quan trọng hơn, họ giúp tạo nên một lớp người sống thượng tôn luật pháp, trọng thị Tổ Quốc, nặng lòng với giống nòi. 

Giáo Sư Phạm Biểu Tâm (phải) và các sinh viên.

Công trình dang dở

Nếu có hoàn cảnh thuận lợi, có lẽ thế hệ trí thức quốc gia đã mang lại nhiều thăng hoa cho xứ sở. Tiếc thay, sau một cuộc biến động lịch sử, họ phải gánh chịu nhiều trả thù ác hiểm. Tổng Trưởng Giáo Dục từ thời Quốc Gia Việt Nam, Phan Huy Quát, đi đày đến mất mạng trong nhà giam đảng cộng sản. Tổng trưởng Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên, Ngô Khắc Tĩnh cũng mắc kẹt 13 năm tù “cải tạo”.

Tiếc cho vận nước ngặt nghèo. Tiếc cho người Việt quốc gia đứt đoạn cơ hội vươn mình thành một minh châu trời Đông. Tiếc vì hoa quả giáo dục Miền Nam chưa kịp chín đượm thì nước Việt Nam Cộng Hòa bị kết liễu năm 1975. Dù sao, nét giáo dục nhân bản của VNCH vẫn kịp để lại một dư hương khó phai. Sau 37 năm, ngay cả một số đảng viên cộng sản cũng thừa nhận sự vượt trội của đường lối giáo dục VNCH đối với nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại VN ngày nay.

Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm.

Hiếp pháp VNCH cũng quy định nền giáo dục toàn dân, miễn phí đến hết bậc Trung Học. Thực tế không đủ trường nên muốn vào trường công phải thi tuyển. 
Ngoài ra nhiều gia đình muốn con em học thêm giáo lý tôn giáo nên trả học phí để học các trường tư thục của các tôn giáo.
Được đăng bởi Nhà văn Phạm Viết Đào vào lúc Thứ năm, tháng chín 13, 2012

 

15 nhận xét:

// <![CDATA[
(function() {
var items = [{'id': '1838841697997327698', 'body': 'So sánh nền giáo dục hiện nay với nền giáo dục của VNCH là một so sánh khập khiễn dù đã gần 40 năm \46quot; giải phóng\46quot; nhưng nền giáo dục hiện nay phải nói là đang lùi về những năm 20 của thế kỹ trước.Trên thế giới này từ cổ chí kim từ Đông sang Tây không có nền GD nào lại thay đổi xoành xoạch như nền GD của CS', 'timestamp': '1347584007900', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347584007900#c1838841697997327698&#039;, 'author': {'name': 'Bọ Chét', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '07:53 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-2145327521'}, {'id': '3506952200869628172', 'body': 'Những ai từng học tiểu học, trung học thời trước 75 ở miền Nam đều thấy được giáo dục như thế nào so với bây giờ. Cố GS Đặng Phong cũng đã nói lên điều đó.\74br /\76Cựu HS Nguyễn Đình Chiểu.', 'timestamp': '1347584469688', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347584469688#c3506952200869628172&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '08:01 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1900381217'}, {'id': '6550914108758055936', 'body': 'Bài viết này bị 1 bạn đọc bên Blog PVĐ.chê là không có tên tác giả,thế nhưng sự thiếu sót đó xem ra không quan trọng mà vấn đề là đúng với thực tế miền Nam thời ấy hay không !\74br /\76Theo như tôi biết nhờ đã học qua thì nói chung đúng gần hết,chí có sai một vài tiểu tiết như\74br /\76gs.Phạm Kế Viêm thay vì Đặng Kế Viêm.Kể tên Phạm\74br /\76Công Thiện vào như thế là sớm qúa vì ông ta chỉ nổi tiếng từ sau 1960 về văn chương,chứ không phải làm nghề giáo dục,nên kể vào là sai !… \74br /\76Muốn biết giáo dục VNCH.hay như thế nào thì nên đọc một bài viết của ông Mai Thái Lĩnh,một sinh viên trước đây từng theo cách mạng.Ông MTL nhận định đó là một nền giáo dục tôn trọng tự do con người,dù chưa hoàn hảo,nhưng là nhân bản ! ', 'timestamp': '1347587469046', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347587469046#c6550914108758055936&#039;, 'author': {'name': 'D.Nhật Lệ', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '08:51 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1720582591'}, {'id': '2137630435848217510', 'body': 'Đúng là một nền giáo dục có tính nhân văn \46amp; khai phóng thực sự. Nó đã được xác nhận qua thời gian: đào tạo ra con người có tài, đức để phungjsuwj cho xã hội. Khác xa với nền giáo dục hiện nay: hình thức, giả dối nên ko thể \46quot;cung cấp những sản phẩm có chất lượng cho xã hội\46quot;', 'timestamp': '1347591868120', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347591868120#c2137630435848217510&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '10:04 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-298156590'}, {'id': '6836112917077550709', 'body': 'Tôi nghĩ là giáo sư Phạm Kế Viêm chứ không phải Đặng Kế Viêm.Ông dạy ở Đà Lạt những năm 70s vả rất nổi tiếng.', 'timestamp': '1347594112274', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347594112274#c6836112917077550709&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '10:41 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-365639181'}, {'id': '4689452281131849912', 'body': 'còn phương pháp dạy của XHCN cần kiệm liếm hết lấy của công về làm của tư.bóc lọt học sinh và cha mẹ học sinh đến cùng.còn học xong sống chết mạc bay', 'timestamp': '1347599047385', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347599047385#c4689452281131849912&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '12:04 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-981509406'}, {'id': '2999462599657355052', 'body': 'Chỉ cần thấy nền giáo dục của VNCH không lấy học phí cho đến hết bậc trung học là biết sao rồi. Tôi cũng là cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu nhưng là ở thập niên 90, may mắn của tôi là \46quot;con mọt sách\46quot; để tự bổ sung kiến thức rất nhiều.', 'timestamp': '1347604656186', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347604656186#c2999462599657355052&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '13:37 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-2023363342'}, {'id': '3742068766825439249', 'parentId': '1838841697997327698', 'body': 'Hầu hết thế hệ Thầy – Trò này trôi dạt … đến nỗi \46quot;được đào tạo trong hệ thống giáo dục như thế này mà không hề biết tới\46quot;.', 'timestamp': '1347605353573', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347605353573#c3742068766825439249&#039;, 'author': {'name': 'Christine', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '13:49 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1051753131'}, {'id': '8802611097249758417', 'body': 'Nói tới giáo sư Đào Văn Dương phải kể thêm GS Nguyễn Đức Kim đồng tác giả bộ sách toán trung học do Bông Lau xuất bản. Về sau này có hai vị Nguyễn Văn Phú + Nguyễn Tá giáo sư trường Trần Hưng Đạo cũng viết sách giáo khoa toán do Đường Sáng xuất bản.\74br /76', 'timestamp': '1347611012967', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347611012967#c8802611097249758417&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '15:23 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-254265755'}, {'id': '4262717634643630368', 'body': 'Thời VNCH, giáo dục để làm NGƯỜI. Thời VNDCCH và CHXHCNVN giáo dục để làm ĐẦY TỚ (Cán bộ là đầy tờ của nhân dân?)', 'timestamp': '1347620710574', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347620710574#c4262717634643630368&#039;, 'author': {'name': 'anhhungqt', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '18:05 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1146918631'}, {'id': '8140116636901200641', 'body': 'Bao giờ cho đến ngày xưa ấy?\74br /\76\74br /\76Suốt cuộc đời học hành của tôi ở miền Bắc nói chung cũng đẹp lắm, tuy rất vất vả.\74br /\76Thầy đẹp, trò đẹp, trường không đẹp nhưng môi trường đẹp.\74br /\76Nhưng càng ngày thì ôi thôi, cái học nó cũng “xuống cấp” như mọi cái khác. \74br /\76Và bây giờ thì tất cả đều tan nát như tương . . . thối! \74br /\76\74br /\76Bao giờ cho đến ngày xưa ấy?\74br /\76\74br /\76\74br /76', 'timestamp': '1347621630012', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347621630012#c8140116636901200641&#039;, 'author': {'name': 'Con ng\255ời mới XHCN', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '18:20 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1959673859'}, {'id': '4299112687251996082', 'body': 'Tôi chỉ được học có 7 năm trong nhà trường của chế độ VNCH, nên không biết gì về nền GD ấy.\74br /\76Sau này lớn lên, có dịp cùng sống và làm việc với một số người được đào tạo hết bậc đại học tại Sài Gòn trước năm 1975, tôi thấy họ cũng phân hóa thành năm, bảy loại, mà phần lớn (trong số người tôi biết)là những trí thức tham lam, hèn hạ không kém gì kẻ vô học.\74br /\76Bọn họ lợi dụng mớ chữ nghĩa học được, lợi dụng tâm lí ngưỡng mộ trí thức của người dân để thủ lợi, để vinh thân phì gia.\74br /\76Dần dà, họ biến thành những kẻ u mê tăm tối có khi còn u mê hơn cái bọn bị nhồi sọ trong nền giáo dục quan liêu.\74br /\76Nói vậy, để mong mọi người đừng tuyệt đối hóa ưu điểm của nền giáo dục của VNCH.\74br /\76Kính', 'timestamp': '1347621906248', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347621906248#c4299112687251996082&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '18:25 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-288231282'}, {'id': '1053469231012297477', 'body': 'Bài viết làm tôi nhớ lại thời học sinh trước 75 của tôi. Tôi còn nhớ rõ phương châm \46quot;Nhân Bản, Dân tộc, khai phóng\46quot; với \46quot;Giáo Dục cộng đồng\46quot; là quốc sách của nền giáo dục VNCH. Theo tôi nhớ bậc tiểu học là cưỡng bách, nhưng tới trung học thì không đủ ngân sách để cưỡng bách. Bằng chứng khi tôi thi Đệ Thất niên khóa 64-65 vô Trung Học Mạc Đĩnh chi Sài Gòn, có gần 7000 thí sinh, nhưng chỉ có khoảng non 400 được trúng tuyển vô Đệ Thất (lớp 6). Số còn lại phải học trường tư, bỏ học, đi học nghề, làm ruộng hay học lại v.v.. Vô được trường \46quot;Nhà nước\46quot; thời đó gia đình tôi cũng nở mài nở mặt. Tôi còn nhớ, mới lớp Nhứt (lớp 5) tôi phải \46quot;liều chỏng đi thi\46quot; cho 3 môn: Toán (2 bài), Câu hỏi thường thức (5 câu) và bài Luận Văn. Thời tôi không có học mẫu giáo.\74br /\76\74br /\76Tôi phải thi 2 bằng Tú Tài I và II. Trong đời tôi, có lẽ vui nhứt là đậu được bằng Tú Tài II. Lúc đó \46quot;ngon\46quot; lắm. Mấy đàn anh của tôi còn phải thi Trung Học, tới thời tôi thì được miễn. Thời đó học môn nào thi môn đó, tú tài thi 12 tới 14 môn trong 3 ngày là chuyện thường.\74br /\76\74br /\76Thằng em tôi gần xong lớp 12 năm 1975. Nhưng khi hai anh em \46quot;tìm đường cứu nước\46quot; lạc tận bên Úc. Bằng Tú tài II VNCH của tôi được Bộ Giáo Dục địa phương công nhận, nhưng bằng tốt nghiệp Phổ Thông của em tôi không được công nhận, cho dù em tôi học giỏi hơn tôi. Sau nầy tôi mới được biết Sinh Viên du học từ Việt Nam đến Úc trong chương trình Colombo học quá giỏi nên có lẽ bằng Tú Tài II của VNCH được công nhận, trong lúc đó bằng tốt nghiệp ở Singapore, Mã Lai v.v.. không được công nhận tương đương vào thời đó.\74br /\76\74br /\76Năm 78 tôi là thằng tị nạn CS chưn ướt chưn ráo mới tới Úc, tiếng Anh tiếng đặng tiếng được, vài tháng sau tôi mò vô trường Đại Học xin đi học. Không biết vì động lòng hay gì đó, Ông Trưởng Khoa (head of Department), ngó vô hồ sơ của tôi, đưa tôi một xấp bài \46quot;thi\46quot; biểu tôi làm trong 3 giờ. Tôi làm xong ổng biểu đi về có gì ổng kêu. Vài Tuần Sau, một bữa Chúa Nhựt ổng đi kiếm tôi tận nhà biểu thứ Hai vô ghi danh đi học (vì tôi không có tiền mắc điện thoại). Tôi ngờ có lẽ tôi là sản phẩm của nền Giáo Dục \46quot;ngụy\46quot; được trang bị một số kiến cơ bản nên có thể \46quot;vượt cạn\46quot; khi cần chăng?\74br /\76\74br /\76Vài lời tâm sự.\74br /76', 'timestamp': '1347625753936', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347625753936#c1053469231012297477&#039;, 'author': {'name': 'TVT', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '19:29 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1704579817'}, {'id': '8272969223948725028', 'body': 'Mình thì không biết nền giáo dục VNCH như thế nào vì mình là HS dưới mái trường XHCN. Nhưng nghĩ là nó có tính nhân bản hơn cái nền giáo dục mà mình đã từng học. Đơn giản cứ đọc những tác phẩm văn học của thời đó là ta sẽ thấy ngay cái tính nhân bản của nó. Đơn giản hơn nữa là nghe âm nhạc, nhạc vàng là sẽ thấy ngay.\74br /\76Cái mình mong ở Bác Đào là có một lời bình về bài này, vì dù muốn dù không nó cũng có cái tính chất so sánh khi đăng những bài viết như vầy. Và như thế sẽ không thể tránh một vài cục đá sẽ được ai đó ném ra, mà ném đá để làm gì không cần nói cũng đủ hiểu, mà đó đúng ra là hành động ném đá chứ không phải tranh luận.\74br /\76Có lẽ người ta muốn biến cả xã hội Việt Nam thành những Chí Phèo, những nhân vật xấu xí để nổi bật cái nhân cách \46quot;Có Văn Hóa\46quot; của người ta. Nhưng lại cấm những Chí Phèo chửi cái làng Vũ Đại?! chửi những thằng Chí Phèo ném đá thì được( Đây là mình bắt chước théo ý của ông Hà Sĩ Phu).\74br /\76Nếu như đã làm Chí Phèo thì ta phải chửi cả cái làng Vũ Đại chứ? chửi những thằng Bá Kiến độc ác-ngu dốt-bủn xỉn….Bá Kiến còn không cấm được Chí Phèo chửi chứ huống hồ..! chứ chửi chi những thằng Chí Phèo ném đá? suy cho cùng chúng cũng là nạn nhân!\74br /\76Đừng hỏi vì sao nền văn học Việt Nam từ thời có cách mạng đến nay không có một tác phẩm nào ra hồn, toàn là những thứ đạo văn thơ, rồi thơ lên đồng nhập cốt, có một vài tác phẩm thì bị cấm! ', 'timestamp': '1347632497772', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347632497772#c8272969223948725028&#039;, 'author': {'name': 'Da Vàng', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '21:21 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-769776883'}, {'id': '6015731041017301501', 'body': 'Toi la dai dien dau tien cua Bao Nguoi GVND (Bo Giao Duc nuoc VNDCCH) vao SG ngay sau thang 4/1975, va da phat bieu ngay lap tuc: Hoc sinh mien Nam co giao duc, van hoa hon han HS duoc \46quot;nha truong XHCN\46quot; cua mien Bac. Den nay toi van thay nho nen nep cu (truyen lai tu bo me, anh chi) ma cac em van ngoan hon cac ban o mien Bac cung trang lua.Chi biet tho dai! Xin loi vi dang viet o mot may public tai My nen ko co dau rieng Viet!\74br /\76Hoang Hung', 'timestamp': '1347635086066', 'permalink': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/nhan-ban-dan-toc-va-khai-phong-te-ra.html?showComment751347635086066#c6015731041017301501&#039;, 'author': {'name': 'Hoang Hung', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '22:04 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-730191756'}];
var msgs = {'loadMore': 'Tải thêm…', 'loading': 'Đang tải…', 'loaded': 'Không có trang nào khác!', 'addComment': 'Thêm nhận xét', 'reply': 'Trả lời', 'delete': 'Xóa'};
var config = {'blogId': '4435307743732399412', 'postId': '7240390387642867085', 'feed': 'http://huynhngocchenh.blogspot.com/feeds/7240390387642867085/comments/default&#039;, 'authorName': 'HUYNH NGOC CHENH', 'authorUrl': 'http://www.blogger.com/profile/14869765079265008336&#039;, 'baseUri': 'http://www.blogger.com&#039;, 'maxThreadDepth': 2};

// 0) {
cursor = parseInt(items[items.length – 1].timestamp) + 1;
}

var bodyFromEntry = function(entry) {
if (entry.gd$extendedProperty) {
for (var k in entry.gd$extendedProperty) {
if (entry.gd$extendedProperty[k].name == ‘blogger.contentRemoved’) {
return ” + entry.content.$t + ”;
}
}
}
return entry.content.$t;
}

var parse = function(data) {
cursor = null;
var comments = [];
if (data && data.feed && data.feed.entry) {
for (var i = 0, entry; entry = data.feed.entry[i]; i++) {
var comment = {};
// comment ID, parsed out of the original id format
var id = /blog-(\d+).post-(\d+)/.exec(entry.id.$t);
comment.id = id ? id[2] : null;
comment.body = bodyFromEntry(entry);
comment.timestamp = Date.parse(entry.published.$t) + ”;
if (entry.author && entry.author.constructor === Array) {
var auth = entry.author[0];
if (auth) {
comment.author = {
name: (auth.name ? auth.name.$t : undefined),
profileUrl: (auth.uri ? auth.uri.$t : undefined),
avatarUrl: (auth.gd$image ? auth.gd$image.src : undefined)
};
}
}
if (entry.link) {
if (entry.link[2]) {
comment.link = comment.permalink = entry.link[2].href;
}
if (entry.link[3]) {
var pid = /.*comments\/default\/(\d+)\?.*/.exec(entry.link[3].href);
if (pid && pid[1]) {
comment.parentId = pid[1];
}
}
}
comment.deleteclass = ‘item-control blog-admin’;
if (entry.gd$extendedProperty) {
for (var k in entry.gd$extendedProperty) {
if (entry.gd$extendedProperty[k].name == ‘blogger.itemClass’) {
comment.deleteclass += ‘ ‘ + entry.gd$extendedProperty[k].value;
} else if (entry.gd$extendedProperty[k].name == ‘blogger.displayTime’) {
comment.displayTime = entry.gd$extendedProperty[k].value;
}
}
}
comments.push(comment);
}
}
return comments;
};

var paginator = function(callback) {
if (hasMore()) {
var url = config.feed + ‘?alt=json&v=2&orderby=published&reverse=false&max-results=50’;
if (cursor) {
url += ‘&published-min=’ + new Date(cursor).toISOString();
}
window.bloggercomments = function(data) {
var parsed = parse(data);
cursor = parsed.length

  1. So sánh nền giáo dục hiện nay với nền giáo dục của VNCH là một so sánh khập khiễn dù đã gần 40 năm ” giải phóng” nhưng nền giáo dục hiện nay phải nói là đang lùi về những năm 20 của thế kỹ trước.Trên thế giới này từ cổ chí kim từ Đông sang Tây không có nền GD nào lại thay đổi xoành xoạch như nền GD của CS

    Trả lờiXóa

  2. Hầu hết thế hệ Thầy – Trò này trôi dạt … đến nỗi “được đào tạo trong hệ thống giáo dục như thế này mà không hề biết tới”.

    Xóa

     
     
  3.  
     
     
  4. Những ai từng học tiểu học, trung học thời trước 75 ở miền Nam đều thấy được giáo dục như thế nào so với bây giờ. Cố GS Đặng Phong cũng đã nói lên điều đó.
    Cựu HS Nguyễn Đình Chiểu.

    Trả lờiXóa

     
     
  5. Bài viết này bị 1 bạn đọc bên Blog PVĐ.chê là không có tên tác giả,thế nhưng sự thiếu sót đó xem ra không quan trọng mà vấn đề là đúng với thực tế miền Nam thời ấy hay không !
    Theo như tôi biết nhờ đã học qua thì nói chung đúng gần hết,chí có sai một vài tiểu tiết như
    gs.Phạm Kế Viêm thay vì Đặng Kế Viêm.Kể tên Phạm
    Công Thiện vào như thế là sớm qúa vì ông ta chỉ nổi tiếng từ sau 1960 về văn chương,chứ không phải làm nghề giáo dục,nên kể vào là sai !…
    Muốn biết giáo dục VNCH.hay như thế nào thì nên đọc một bài viết của ông Mai Thái Lĩnh,một sinh viên trước đây từng theo cách mạng.Ông MTL nhận định đó là một nền giáo dục tôn trọng tự do con người,dù chưa hoàn hảo,nhưng là nhân bản !

    Trả lờiXóa

     
     
  6. Đúng là một nền giáo dục có tính nhân văn & khai phóng thực sự. Nó đã được xác nhận qua thời gian: đào tạo ra con người có tài, đức để phungjsuwj cho xã hội. Khác xa với nền giáo dục hiện nay: hình thức, giả dối nên ko thể “cung cấp những sản phẩm có chất lượng cho xã hội”

    Trả lờiXóa

     
     
  7. Tôi nghĩ là giáo sư Phạm Kế Viêm chứ không phải Đặng Kế Viêm.Ông dạy ở Đà Lạt những năm 70s vả rất nổi tiếng.

    Trả lờiXóa

     
     
  8. còn phương pháp dạy của XHCN cần kiệm liếm hết lấy của công về làm của tư.bóc lọt học sinh và cha mẹ học sinh đến cùng.còn học xong sống chết mạc bay

    Trả lờiXóa

     
     
  9. Chỉ cần thấy nền giáo dục của VNCH không lấy học phí cho đến hết bậc trung học là biết sao rồi. Tôi cũng là cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu nhưng là ở thập niên 90, may mắn của tôi là “con mọt sách” để tự bổ sung kiến thức rất nhiều.

    Trả lờiXóa

     
     
  10. Nói tới giáo sư Đào Văn Dương phải kể thêm GS Nguyễn Đức Kim đồng tác giả bộ sách toán trung học do Bông Lau xuất bản. Về sau này có hai vị Nguyễn Văn Phú + Nguyễn Tá giáo sư trường Trần Hưng Đạo cũng viết sách giáo khoa toán do Đường Sáng xuất bản.

    Trả lờiXóa

     
     
  11. Thời VNCH, giáo dục để làm NGƯỜI. Thời VNDCCH và CHXHCNVN giáo dục để làm ĐẦY TỚ (Cán bộ là đầy tờ của nhân dân?)

    Trả lờiXóa

     
     
  12. Con ng­ời mới XHCN18:20 Ngày 14 tháng 9 năm 2012

    Bao giờ cho đến ngày xưa ấy?

    Suốt cuộc đời học hành của tôi ở miền Bắc nói chung cũng đẹp lắm, tuy rất vất vả.
    Thầy đẹp, trò đẹp, trường không đẹp nhưng môi trường đẹp.
    Nhưng càng ngày thì ôi thôi, cái học nó cũng “xuống cấp” như mọi cái khác.
    Và bây giờ thì tất cả đều tan nát như tương . . . thối!

    Bao giờ cho đến ngày xưa ấy?

    Trả lờiXóa

     
     
  13. Tôi chỉ được học có 7 năm trong nhà trường của chế độ VNCH, nên không biết gì về nền GD ấy.
    Sau này lớn lên, có dịp cùng sống và làm việc với một số người được đào tạo hết bậc đại học tại Sài Gòn trước năm 1975, tôi thấy họ cũng phân hóa thành năm, bảy loại, mà phần lớn (trong số người tôi biết)là những trí thức tham lam, hèn hạ không kém gì kẻ vô học.
    Bọn họ lợi dụng mớ chữ nghĩa học được, lợi dụng tâm lí ngưỡng mộ trí thức của người dân để thủ lợi, để vinh thân phì gia.
    Dần dà, họ biến thành những kẻ u mê tăm tối có khi còn u mê hơn cái bọn bị nhồi sọ trong nền giáo dục quan liêu.
    Nói vậy, để mong mọi người đừng tuyệt đối hóa ưu điểm của nền giáo dục của VNCH.
    Kính

    Trả lờiXóa

     
     
  14. Bài viết làm tôi nhớ lại thời học sinh trước 75 của tôi. Tôi còn nhớ rõ phương châm “Nhân Bản, Dân tộc, khai phóng” với “Giáo Dục cộng đồng” là quốc sách của nền giáo dục VNCH. Theo tôi nhớ bậc tiểu học là cưỡng bách, nhưng tới trung học thì không đủ ngân sách để cưỡng bách. Bằng chứng khi tôi thi Đệ Thất niên khóa 64-65 vô Trung Học Mạc Đĩnh chi Sài Gòn, có gần 7000 thí sinh, nhưng chỉ có khoảng non 400 được trúng tuyển vô Đệ Thất (lớp 6). Số còn lại phải học trường tư, bỏ học, đi học nghề, làm ruộng hay học lại v.v.. Vô được trường “Nhà nước” thời đó gia đình tôi cũng nở mài nở mặt. Tôi còn nhớ, mới lớp Nhứt (lớp 5) tôi phải “liều chỏng đi thi” cho 3 môn: Toán (2 bài), Câu hỏi thường thức (5 câu) và bài Luận Văn. Thời tôi không có học mẫu giáo.

    Tôi phải thi 2 bằng Tú Tài I và II. Trong đời tôi, có lẽ vui nhứt là đậu được bằng Tú Tài II. Lúc đó “ngon” lắm. Mấy đàn anh của tôi còn phải thi Trung Học, tới thời tôi thì được miễn. Thời đó học môn nào thi môn đó, tú tài thi 12 tới 14 môn trong 3 ngày là chuyện thường.

    Thằng em tôi gần xong lớp 12 năm 1975. Nhưng khi hai anh em “tìm đường cứu nước” lạc tận bên Úc. Bằng Tú tài II VNCH của tôi được Bộ Giáo Dục địa phương công nhận, nhưng bằng tốt nghiệp Phổ Thông của em tôi không được công nhận, cho dù em tôi học giỏi hơn tôi. Sau nầy tôi mới được biết Sinh Viên du học từ Việt Nam đến Úc trong chương trình Colombo học quá giỏi nên có lẽ bằng Tú Tài II của VNCH được công nhận, trong lúc đó bằng tốt nghiệp ở Singapore, Mã Lai v.v.. không được công nhận tương đương vào thời đó.

    Năm 78 tôi là thằng tị nạn CS chưn ướt chưn ráo mới tới Úc, tiếng Anh tiếng đặng tiếng được, vài tháng sau tôi mò vô trường Đại Học xin đi học. Không biết vì động lòng hay gì đó, Ông Trưởng Khoa (head of Department), ngó vô hồ sơ của tôi, đưa tôi một xấp bài “thi” biểu tôi làm trong 3 giờ. Tôi làm xong ổng biểu đi về có gì ổng kêu. Vài Tuần Sau, một bữa Chúa Nhựt ổng đi kiếm tôi tận nhà biểu thứ Hai vô ghi danh đi học (vì tôi không có tiền mắc điện thoại). Tôi ngờ có lẽ tôi là sản phẩm của nền Giáo Dục “ngụy” được trang bị một số kiến cơ bản nên có thể “vượt cạn” khi cần chăng?

    Vài lời tâm sự.

    Trả lờiXóa

     
     
  15. Mình thì không biết nền giáo dục VNCH như thế nào vì mình là HS dưới mái trường XHCN. Nhưng nghĩ là nó có tính nhân bản hơn cái nền giáo dục mà mình đã từng học. Đơn giản cứ đọc những tác phẩm văn học của thời đó là ta sẽ thấy ngay cái tính nhân bản của nó. Đơn giản hơn nữa là nghe âm nhạc, nhạc vàng là sẽ thấy ngay.
    Cái mình mong ở Bác Đào là có một lời bình về bài này, vì dù muốn dù không nó cũng có cái tính chất so sánh khi đăng những bài viết như vầy. Và như thế sẽ không thể tránh một vài cục đá sẽ được ai đó ném ra, mà ném đá để làm gì không cần nói cũng đủ hiểu, mà đó đúng ra là hành động ném đá chứ không phải tranh luận.
    Có lẽ người ta muốn biến cả xã hội Việt Nam thành những Chí Phèo, những nhân vật xấu xí để nổi bật cái nhân cách “Có Văn Hóa” của người ta. Nhưng lại cấm những Chí Phèo chửi cái làng Vũ Đại?! chửi những thằng Chí Phèo ném đá thì được( Đây là mình bắt chước théo ý của ông Hà Sĩ Phu).
    Nếu như đã làm Chí Phèo thì ta phải chửi cả cái làng Vũ Đại chứ? chửi những thằng Bá Kiến độc ác-ngu dốt-bủn xỉn….Bá Kiến còn không cấm được Chí Phèo chửi chứ huống hồ..! chứ chửi chi những thằng Chí Phèo ném đá? suy cho cùng chúng cũng là nạn nhân!
    Đừng hỏi vì sao nền văn học Việt Nam từ thời có cách mạng đến nay không có một tác phẩm nào ra hồn, toàn là những thứ đạo văn thơ, rồi thơ lên đồng nhập cốt, có một vài tác phẩm thì bị cấm!

    Trả lờiXóa

     
     
  16. Toi la dai dien dau tien cua Bao Nguoi GVND (Bo Giao Duc nuoc VNDCCH) vao SG ngay sau thang 4/1975, va da phat bieu ngay lap tuc: Hoc sinh mien Nam co giao duc, van hoa hon han HS duoc “nha truong XHCN” cua mien Bac. Den nay toi van thay nho nen nep cu (truyen lai tu bo me, anh chi) ma cac em van ngoan hon cac ban o mien Bac cung trang lua.Chi biet tho dai! Xin loi vi dang viet o mot may public tai My nen ko co dau rieng Viet!
    Hoang Hung

    Trả lờiXóa

     
     

HỆ THỐNG GIÁO DỤC TẠI MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 – PVĐ

14 Th9

HỆ THỐNG GIÁO DỤC TẠI MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

 
Nhân bản, dân tộc và khai phóng
Nền giáo dục ở Miền Nam trước 1975 đặt trên 3 phương châm lớn, được ghi vào Hiến Pháp hẳn hoi: nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Giáo dục nhân bản lấy cá nhân làm trọng, nhấn mạnh đức dục, hướng đến phục vụ tha nhân. Giáo dục dân tộc bắt đầu từ chương trình Việt, xiển dương lòng ái quốc thương nòi. Giáo dục khai phóng mở mang kiến thức khoa học kỹ thuật, không ngại du nhập những nét hay, thế mạnh của Tây Phương.
 
Những bước ban đầu
 
alt
Một cuộc mít tinh của phụ nữ thời Đệ Nhất Cộng Hòa
Triết lý giáo dục đó giúp học trò thăng hoa, lòng sáng tạo được khích lệ, tự do cá nhân được nâng đỡ — là nguyên do chánh khiến các ngành nghệ thuật, văn thơ hội hoạ phát tiết tài hoa, để lại hằng ngàn tác phẩm vài chục năm sau vẫn mê hoặc hồn người. Còn vài đóng góp sáng giá khác mà chúng tôi sẽ thử nêu ra trên trang báo này. Cần ghi nhận nền giáo dục đại học thời VNCH được hoàn toàn tự trị. Các việc ngân sách, nhân sự, học vụ… đều không bị giới chánh trị chi phối. Theo thời thế, có nỗ lực canh tân, chuyển dần từ cách dạy và học của người Pháp sang phương pháp thực nghiệm chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ. Một điểm đặc sắc rất riêng của nền giáo dục VNCH là sự ổn định của chương trình đức dục/công dân giáo dục, từ bậc tiểu học lên đến trung học. Tính nhân bản và hiệu quả của chúng đã được chứng thực qua thời gian. Một phần thậm chí đang được… copy dùng lại ở VN hiện nay.
 
alt
Thầy trò tiểu học thời VNCH.
Các bậc học
 
Hiếp pháp VNCH cũng quy định nền giáo dục toàn dân, miễn phí đến hết bậc Trung Học. Theo các số liệu còn lại, vào đầu thập niên 1970, cả nước có khoảng 5,200 trường tiểu học với 2.5 triệu học trò. Cùng thời điểm này, có trên 530 trường trung học và hơn 550,000 học sinh trung học. Đến niên học cuối cùng 1975, toàn quốc có 900,000 học sinh trung học. Cùng lúc ở bậc đại học, khoảng 167,000 sinh viên ghi danh học. Ngoài ra, thời VNCH còn có hệ thống “Bách Khoa Bình Dân” với học phí thấp, thậm chí miễn phí. Đây là các trung tâm huấn nghệ ngắn hạn, dành cho học trò hoàn cảnh cơ cực không thể tiếp tục lên đại học, hoặc giới thợ thuyền đầu tắt mặt tối, kể cả cựu quân nhân, v.v…
 
alt
Sách giáo khoa của Bộ Giáo Dục
Hệ thống trường
 
Một điểm độc đáo của nền giáo dục VNCH là sự nức tiếng của các trường trung học công lập. Nhiều trường đến nay vẫn còn dư âm. Có thể kể Trung Học Quốc Học (Huế), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ), Võ Trường Toản (Sài Gòn). Trường nữ lả lướt những Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt… Bên nam danh tiếng chưa phai mờ những Chu Văn An, Pétrus Ký… Những nơi này cho ra lò không ít yếu nhân của xã hội Miền Nam thời đó. Hệ thống đại học công lập VNCH cũng lẫy lừng không kém. Nổi bật là Viện Đại Học Sài Gòn lớn nhất xứ sở. Có lúc nơi này thu hút đến 70% sỉ số sinh viên cả nước. Ngoài ra có thể kể thêm Viện Đại Học Huế (1957), Viện Đại Học Cần Thơ (1966)…
 
alt
Viện Đại Học Sài Gòn
Trong hoàn cảnh giáo dục tự trị, hoàn toàn tự do, các viện đại học tư thục cũng được mùa… trăm hoa đua nở. Viện Đại Học Đà Lạt của Công Giáo rất mạnh, cho ra trường hơn 25 ngàn sinh viên trong 2 thập niên hoạt động. Bên Phật Giáo có Viện Đại Học Vạn Hạnh, thiết lập năm 1964, nằm trên đường Trương Minh Giảng Quận 3. VNCH còn có 2 học viện rất nổi tiếng khác, với vai trò khá đặc biệt. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam (1950), trường sở đặt ở Đà Lạt, sau dời về đường Trần Quốc Toản, Quận 10 Sài Gòn. Trường này chú trọng huấn luyện các chuyên viên hành chánh và công quyền, bao gồm thuế vụ và ngoại giao. Ngôi trường kia là Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Võ Bị huấn luyện sinh viên sĩ quan, ra trường như một Cử Nhân Võ Khoa — đa phần sau này trở nên các cấp chỉ huy can trường trên trận địa, giúp giữ gìn bờ cõi trong cuộc chiến chống giặc thù cộng sản xâm lăng từ phương Bắc.
 
alt
Viện Đại Học Vạn Hạnh
 
Một trong những ưu thế của VNCH là được nhiều nước bạn đồng minh yểm trợ. Ngành giáo dục non trẻ cũng được nâng đỡ theo. Chánh phủ New Zealand từng giúp xây Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Người Pháp cố vấn về phát triển nhân sự, cũng như cấp nhiều học bổng du học. Tây Đức yểm trợ việc kiến thiết và trao tặng thiết bị cho 1 trường trung học kỹ thuật. Trợ giúp lớn nhất thuộc về Hoa Kỳ, từ ấn loát sách giáo khoa đến xây trường trại. Đầu 1970, Hoa Kỳ chuyển dàn máy móc IBM thế hệ mới nhất để Bộ Giáo Dục sử dụng chấm bài thi trắc nghiệm kiểu Mỹ (bài thi vì vậy thường gọi là “Thi IBM”).
Những năm cuối cùng của Miền Nam tự do cũng là lúc manh nha chương trình đại học cộng đồng, dựa theo mô hình “Community College” của Mỹ. Chú trọng 2 năm sơ cấp đại học, một phần chương trình nhắm vào giới cựu chiến binh, cần trang bị kiến thức cập nhật. Cũng có một dự án giàu tham vọng khác là Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (1973) mô phỏng trường Đại Học Cal Poly (California Polytechnic State University). Mặc dù còn khiêm tốn, từ những cơ sở giáo dục này, đã manh nha nhiều tạp chí chuyên sâu, mang ít nhiều dáng dấp sinh hoạt hàn lâm. Có thể kể: tạp chí “Acta Medica Vietnamica” của trường Dược; “Luật Học Kinh Tế Tạp Chí” của trường Luật; tập san “Nghiên Cứu Hành Chánh” của trường Quốc Gia Hành Chánh; tập san “Nghiên Cứu Sử Địa” của Văn Khoa Sài Gòn; tạp chí “Đại Học” của Viện Đại Học Huế, v.v… Cũng có một số thử thách, trì hoãn phần nào đà tiến triển của nền giáo dục đại học VNCH. Thứ nhất là ảnh hưởng của lối Tây học có phần bảo thủ. Thứ nhì, chiến cuộc ngày càng ác liệt. Thứ ba, tình trạng thiếu giáo sư. Không ít giáo sư đứng lớp ở nhiều trường khác nhau. Trong khi đó, một số đậu tiến sĩ ở ngoại quốc lại tránh hồi hương vì xáo trộn chánh trị.
 
Người muôn năm cũ
 

Không hiếm giáo sư lỗi lạc trong lớp trí thức Miền Nam hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà. Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục góp công gầy dựng Đại Học Văn Khoa từ thời 1940-1950. Giáo Sư Phạm Công Thiện lúc ra mắt chưa tới 30 tuổi. Ngành Y lừng danh Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Bên Toán có các Giáo Sư Đặng Kế Viêm, Đào Văn Dương. Triết Học có thầy Trần Bích Lan (Nguyên Sa thi sĩ). Quốc Văn có thầy Trần Trọng San. Anh Văn có soạn giả Lê Bá Kông & Lê Bá Khanh. Tiến Sĩ Đỗ Bá Khê –Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên– là người có công khai sinh hệ thống đại học cộng đồng.Miền Nam lúc đó xuất hiện lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng thấy. Họ có đầu óc độc lập, lại chịu dấn thân phát triển nước nhà. Chính họ góp phần đưa VNCH lên vị thế lò đào tạo 3/4 số kỹ sư trong toàn vùng Đông Nam Á. Quan trọng hơn, họ giúp tạo nên một lớp người sống thượng tôn luật pháp, trọng thị Tổ Quốc, nặng lòng với giống nòi.

alt

Giáo Sư Phạm Biểu Tâm (phải) và các sinh viên.
Công trình dang dở
 
Nếu có hoàn cảnh thuận lợi, có lẽ thế hệ trí thức quốc gia đã mang lại nhiều thăng hoa cho xứ sở. Tiếc thay, sau một cuộc biến động lịch sử, họ phải gánh chịu nhiều trả thù ác hiểm. Tổng Trưởng Giáo Dục từ thời Quốc Gia Việt Nam, Phan Huy Quát, đi đày đến mất mạng trong nhà giam đảng cộng sản. Tổng trưởng Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên, Ngô Khắc Tĩnh cũng mắc kẹt 13 năm tù “cải tạo”.

Tiếc cho vận nước ngặt nghèo. Tiếc cho người Việt quốc gia đứt đoạn cơ hội vươn mình thành một minh châu trời Đông. Tiếc vì hoa quả giáo dục Miền Nam chưa kịp chín đượm thì nước Việt Nam Cộng Hòa bị kết liễu năm 1975. Dù sao, nét giáo dục nhân bản của VNCH vẫn kịp để lại một dư hương khó phai. Sau 37 năm, ngay cả một số đảng viên cộng sản cũng thừa nhận sự vượt trội của đường lối giáo dục VNCH đối với nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại VN ngày nay.

alt
Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm.

Hiếp pháp VNCH cũng quy định nền giáo dục toàn dân, miễn phí đến hết bậc Trung Học. Thực tế không đủ trường nên muốn vào trường công phải thi tuyển.

Ngoài ra nhiều gia đình muốn con em học thêm giáo lý tôn giáo nên trả học phí để học các trường tư thục của các tôn giáo.
 

16 nhận xét:

// <![CDATA[
(function() {
var items = [{'id': '776929802351845745', 'body': 'PVĐ là nhà văn có số má hẳn hoi mà đăng một bài không rõ tác giả là ai,nguồn gốc thế nào.Chán!', 'timestamp': '1347530433365', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347530433365#c776929802351845745&#039;, 'author': {'name': 'YP', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '17:00 Ngày 13 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1601954'}, {'id': '6412580579611428193', 'body': 'Bây giờ chỉ còn là hoài niệm. VNCH miễn học phí cho hết bậc trung học, còn hiện nay thì sao, thì ra nền dân chủ cao gấp vạn lần tư bản noi có khác, nước hành phúc thứ nhìu thế giới chứ mà lị.Buồn.', 'timestamp': '1347538959454', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347538959454#c6412580579611428193&#039;, 'author': {'name': 'PN', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '19:22 Ngày 13 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-496178021'}, {'id': '991868359497890598', 'body': '@YP.Chán với nội dung bài này hay chán người có công đưa bài này lên để mọi người biết qua một nền giáo dục đã từng có danh tiếng toàn cõi ĐNÁ?', 'timestamp': '1347544355126', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347544355126#c991868359497890598&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '20:52 Ngày 13 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-325898864'}, {'id': '6343142428749814985', 'body': 'Rất mong một lời bình của bác Phạm Viết Đào về bài viết này, về một nền giáo dục của thời VNCH.', 'timestamp': '1347545317749', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347545317749#c6343142428749814985&#039;, 'author': {'name': 'Người Quan Tâm', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '21:08 Ngày 13 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-815762960'}, {'id': '3697841576705522887', 'body': 'Học là một chuyện ,hành là một chuyện khác,một đất nước mà nô lệ về đường lối chính trị như VNCH,phụ thuộc vào ngoại bang thì sớm hay muộn thì chính thể VNCH cũng chết.\74br /\76Người Pháp đã từng đào tạo Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng. Tạ Quang Bửu , Trần Đại Nghĩa ,Nguyễn Hữu Thọ , Huỳnh Tấn Phát, Phạm huy Thông ,Nguyễn Khắc Viện…và vô vàn trí thức khác nữa đó thôi,có ai theo Pháp đâu.\74br /\76 Thậm chí còn chống Pháp,và sau này Mỹ rất quyết liệt nữa là khác.\74br /\76Đây là ván đề của Lịch Sử ,không thẻ nói càn được ,Ông Phạm viêt Đào ạ !\74br /76', 'timestamp': '1347547972513', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347547972513#c3697841576705522887&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '21:52 Ngày 13 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-704962531'}, {'id': '336367674937848200', 'body': 'Moi nguoi deu nhin nhan nen giaoduc mien Nam truoc 1975 hon han nen giao duc hien nay. Thi du, bac si mien Nam gioi hon, hoc tro co dao duc hon…', 'timestamp': '1347552115581', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347552115581#c336367674937848200&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '23:01 Ngày 13 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1356145284'}, {'id': '4179769900382896722', 'body': 'Khẩu hiệu khai phóng phụ nữ của VNCH thât hoành tráng nhưng bao nhiêu phụ nữ thời ấy làm điếm ,đẻ 1 lô con rơi.Mỹ đã thâu nhận vài trăm ngàn em nhưng giờ vẫn còn rơi rót ở VN', 'timestamp': '1347552259932', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347552259932#c4179769900382896722&#039;, 'author': {'name': 'Dân', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '23:04 Ngày 13 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1926376366'}, {'id': '7183860444116158515', 'body': 'Sao không thấy nguồn ở đâu vậy bac PVD?\74br /\76\74br /\76VOA phỏng vấn BS Phạm Hồng Sơn – \46#39;Tư tưởng Hồ Chí Minh\46#39; và Dân chủ Việt Nam \74br /\76Welcome to: http://www.chinhluanvn.com/&#039;, 'timestamp': '1347559493980', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347559493980#c7183860444116158515&#039;, 'author': {'name': 'Chính Luận', 'avatarUrl': 'http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif&#039;, 'profileUrl': 'http://www.blogger.com/profile/11206437601343133402&#039;}, 'displayTime': '01:04 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-534315454'}, {'id': '2730618487429780925', 'body': 'Dĩ nhiên có ghi thêm tên tác giả càng tốt, nhưng đây là một công trình tổng hợp nhiều nguồn. Một bài viết hay, giá trị và đáng suy nghĩ về tình hình giao dục nước nhà. ', 'timestamp': '1347563100441', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347563100441#c2730618487429780925&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '02:05 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-844805876'}, {'id': '3303917679893313614', 'body': 'Qúa đồng ý với tác giả,tôi vẫn tự hào rằng mình được đào tạo bỡi một nền giáo dục ở miền nam Việt nam trước 1975', 'timestamp': '1347582810199', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347582810199#c3303917679893313614&#039;, 'author': {'name': 'thất phu', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '07:33 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-2015237658'}, {'id': '5676934022561424137', 'body': '\46quot;… Võ bị huấn luyện sinh viên sĩ quan, ra trường như một Cử nhân Võ khoa – đa phần sau này trở nên các cấp chỉ huy can trường trên trận địa, giúp giữ gìn bờ cõi trong cuộc chiến chống giặc thù cộng sản xâm lăng từ phương Bắc…\46quot;\74br /\76Bác Đào biên tập kiểu gì lạ vậy ?', 'timestamp': '1347587557080', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347587557080#c5676934022561424137&#039;, 'author': {'name': 'Tài nông đức cạn', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '08:52 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1946986182'}, {'id': '8540261364830165710', 'body': 'Ấy vậy mà có một số kẻ tự xưng là trí thức lại đang tâm giúp CS phá bỏ nền văn minh của VNCH để xây dựng chế độ man rợ ,hèn hạ như ngày hôm nay …Thật đáng buồn cho dân tộc VN nói chung và MNVN nói riêng ', 'timestamp': '1347587776141', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347587776141#c8540261364830165710&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '08:56 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-699807427'}, {'id': '6662633240166136151', 'body': 'Kính chào bác Đào,\74br /\76Hoan nghênh bác đã cho đăng bài này. Lúc nhỏ tôi học ở tỉnh lẻ Phước Long nay là huyện PL tỉnh Bình Phước đến lớp 9 (đệ Tứ). Lên cấp 3 chuyển về học trường Chu Văn An Sài gòn. Đi học hoàn toàn không mất tiền mà nếu học khá hoặc gia đình quân, công, nghèo còn được học bổng. Về chất lượng giáo dục thì mọi người đã nói nhiều tôi xin không lập lại. Bản thân tôi chỉ chiêm nghiệm được hai điều: Một là các con tôi sinh ra sau 75 đã tốt nghiệp ĐH nhưng ít biết về lịch sử hơn lớp chúng tôi. Hai là HS SV thời đó không sợ tổng thống, chỉ sợ Thầy giáo của mình thôi.\74br /\76Woong A Coong', 'timestamp': '1347589394581', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347589394581#c6662633240166136151&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '09:23 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-1721474124'}, {'id': '2641920843468541532', 'body': 'Chỉ có những đầu óc Heo…\74br /\76mới không nhận biết hệ thống Giáo dục của VNCH hơn hẳn nền giáo dục của VNDCCH (Cộng Sản)\74br /76', 'timestamp': '1347591025627', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347591025627#c2641920843468541532&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '09:50 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-686429177'}, {'id': '5537128927169774641', 'body': 'Giáo sư Phạm Kế Viêm chứ không phải Đặng Kế Viêm.Ông có sách giáo khoa viết chung với Tiến Sĩ Võ Thế Hào.', 'timestamp': '1347594870136', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347594870136#c5537128927169774641&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '10:54 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-11656975'}, {'id': '8964528145033197257', 'body': 'Vấn đề là có đúng sự thực hay không,chứ tác giả\74br /\76là ai thì chưa quan trọng gì lắm.\74br /\76Có bác nhất định không tin lại còn lý sự cùn về\74br /\76\46quot;thế hệ vàng\46quot; mà ông DTQ.sợ \46quot;chúng ta đang mất\74br /\76gốc\46quot; vì thế hệ trên qua đời.Thực ra,những bác\74br /\76trên bị CS.lừa gạt vì trước lúc họ tham gia kháng chiến thì người CS.chỉ nhân danh độc lập,tự do mà không dám công khai nói gì tới \74br /\76chủ nghĩa CS.cả,do đó họ mới theo.\74br /\76Một nền giáo dục mà chính trị không có quyền\74br /\76tẩy não và bhồi sọ học sinh thì nền giáo dục\74br /\76đó cũng tiến bộ như bất cứ nước dân chủ khác\74br /\76và đáng trân trọng hơn nền giáo dục hiện nay\74br /\76chỉ đào tạo ra những con vẹt !\74br /\76Có điều là bài trên có vài chi tiết sai lầm.\74br /\76Ông Mai Thái Lĩnh rất công bình khi nhận định \74br /\76đó là nền giáo dục nhân bản vì tôn trọng\74br /\76con người.', 'timestamp': '1347598563503', 'permalink': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/09/he-thong-giao-duc-tai-mien-nam-truoc.html?showComment751347598563503#c8964528145033197257&#039;, 'author': {'name': 'Nặc danh', 'avatarUrl': 'http://img1.blogblog.com/img/blank.gif&#039;, 'profileUrl': ''}, 'displayTime': '11:56 Ngày 14 tháng 9 năm 2012', 'deleteclass': 'item-control blog-admin pid-928255883'}];
var msgs = {'loadMore': 'Tải thêm…', 'loading': 'Đang tải…', 'loaded': 'Không có trang nào khác!', 'addComment': 'Thêm nhận xét', 'reply': 'Trả lời', 'delete': 'Xóa'};
var config = {'blogId': '1848991916329374212', 'postId': '6827305995927255854', 'feed': 'http://phamvietdao2.blogspot.com/feeds/6827305995927255854/comments/default&#039;, 'authorName': 'Nhà văn Phạm Viết Đào', 'authorUrl': 'http://www.blogger.com/profile/14589326046152698765&#039;, 'baseUri': 'http://www.blogger.com&#039;, 'maxThreadDepth': 2};

// 0) {
cursor = parseInt(items[items.length – 1].timestamp) + 1;
}

var bodyFromEntry = function(entry) {
if (entry.gd$extendedProperty) {
for (var k in entry.gd$extendedProperty) {
if (entry.gd$extendedProperty[k].name == ‘blogger.contentRemoved’) {
return ” + entry.content.$t + ”;
}
}
}
return entry.content.$t;
}

var parse = function(data) {
cursor = null;
var comments = [];
if (data && data.feed && data.feed.entry) {
for (var i = 0, entry; entry = data.feed.entry[i]; i++) {
var comment = {};
// comment ID, parsed out of the original id format
var id = /blog-(\d+).post-(\d+)/.exec(entry.id.$t);
comment.id = id ? id[2] : null;
comment.body = bodyFromEntry(entry);
comment.timestamp = Date.parse(entry.published.$t) + ”;
if (entry.author && entry.author.constructor === Array) {
var auth = entry.author[0];
if (auth) {
comment.author = {
name: (auth.name ? auth.name.$t : undefined),
profileUrl: (auth.uri ? auth.uri.$t : undefined),
avatarUrl: (auth.gd$image ? auth.gd$image.src : undefined)
};
}
}
if (entry.link) {
if (entry.link[2]) {
comment.link = comment.permalink = entry.link[2].href;
}
if (entry.link[3]) {
var pid = /.*comments\/default\/(\d+)\?.*/.exec(entry.link[3].href);
if (pid && pid[1]) {
comment.parentId = pid[1];
}
}
}
comment.deleteclass = ‘item-control blog-admin’;
if (entry.gd$extendedProperty) {
for (var k in entry.gd$extendedProperty) {
if (entry.gd$extendedProperty[k].name == ‘blogger.itemClass’) {
comment.deleteclass += ‘ ‘ + entry.gd$extendedProperty[k].value;
} else if (entry.gd$extendedProperty[k].name == ‘blogger.displayTime’) {
comment.displayTime = entry.gd$extendedProperty[k].value;
}
}
}
comments.push(comment);
}
}
return comments;
};

var paginator = function(callback) {
if (hasMore()) {
var url = config.feed + ‘?alt=json&v=2&orderby=published&reverse=false&max-results=50’;
if (cursor) {
url += ‘&published-min=’ + new Date(cursor).toISOString();
}
window.bloggercomments = function(data) {
var parsed = parse(data);
cursor = parsed.length

  1. PVĐ là nhà văn có số má hẳn hoi mà đăng một bài không rõ tác giả là ai,nguồn gốc thế nào.Chán!

    Trả lờiXóa

     
     
  2. Bây giờ chỉ còn là hoài niệm. VNCH miễn học phí cho hết bậc trung học, còn hiện nay thì sao, thì ra nền dân chủ cao gấp vạn lần tư bản noi có khác, nước hành phúc thứ nhìu thế giới chứ mà lị.Buồn.

    Trả lờiXóa

     
     
  3. @YP.Chán với nội dung bài này hay chán người có công đưa bài này lên để mọi người biết qua một nền giáo dục đã từng có danh tiếng toàn cõi ĐNÁ?

    Trả lờiXóa

     
     
  4. Rất mong một lời bình của bác Phạm Viết Đào về bài viết này, về một nền giáo dục của thời VNCH.

    Trả lờiXóa

     
     
  5. Học là một chuyện ,hành là một chuyện khác,một đất nước mà nô lệ về đường lối chính trị như VNCH,phụ thuộc vào ngoại bang thì sớm hay muộn thì chính thể VNCH cũng chết.
    Người Pháp đã từng đào tạo Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng. Tạ Quang Bửu , Trần Đại Nghĩa ,Nguyễn Hữu Thọ , Huỳnh Tấn Phát, Phạm huy Thông ,Nguyễn Khắc Viện…và vô vàn trí thức khác nữa đó thôi,có ai theo Pháp đâu.
    Thậm chí còn chống Pháp,và sau này Mỹ rất quyết liệt nữa là khác.
    Đây là ván đề của Lịch Sử ,không thẻ nói càn được ,Ông Phạm viêt Đào ạ !

    Trả lờiXóa

     
     
  6. Moi nguoi deu nhin nhan nen giaoduc mien Nam truoc 1975 hon han nen giao duc hien nay. Thi du, bac si mien Nam gioi hon, hoc tro co dao duc hon…

    Trả lờiXóa

     
     
  7. Khẩu hiệu khai phóng phụ nữ của VNCH thât hoành tráng nhưng bao nhiêu phụ nữ thời ấy làm điếm ,đẻ 1 lô con rơi.Mỹ đã thâu nhận vài trăm ngàn em nhưng giờ vẫn còn rơi rót ở VN

    Trả lờiXóa

     
     
  8. Sao không thấy nguồn ở đâu vậy bac PVD?

    VOA phỏng vấn BS Phạm Hồng Sơn – ‘Tư tưởng Hồ Chí Minh’ và Dân chủ Việt Nam
    Welcome to: http://www.chinhluanvn.com/

    Trả lờiXóa

     
     
  9. Dĩ nhiên có ghi thêm tên tác giả càng tốt, nhưng đây là một công trình tổng hợp nhiều nguồn. Một bài viết hay, giá trị và đáng suy nghĩ về tình hình giao dục nước nhà.

    Trả lờiXóa

     
     
  10. Qúa đồng ý với tác giả,tôi vẫn tự hào rằng mình được đào tạo bỡi một nền giáo dục ở miền nam Việt nam trước 1975

    Trả lờiXóa

     
     
  11. Tài nông đức cạn08:52 Ngày 14 tháng 9 năm 2012

    “… Võ bị huấn luyện sinh viên sĩ quan, ra trường như một Cử nhân Võ khoa – đa phần sau này trở nên các cấp chỉ huy can trường trên trận địa, giúp giữ gìn bờ cõi trong cuộc chiến chống giặc thù cộng sản xâm lăng từ phương Bắc…”
    Bác Đào biên tập kiểu gì lạ vậy ?

    Trả lờiXóa

     
     
  12. Ấy vậy mà có một số kẻ tự xưng là trí thức lại đang tâm giúp CS phá bỏ nền văn minh của VNCH để xây dựng chế độ man rợ ,hèn hạ như ngày hôm nay …Thật đáng buồn cho dân tộc VN nói chung và MNVN nói riêng

    Trả lờiXóa

     
     
  13. Kính chào bác Đào,
    Hoan nghênh bác đã cho đăng bài này. Lúc nhỏ tôi học ở tỉnh lẻ Phước Long nay là huyện PL tỉnh Bình Phước đến lớp 9 (đệ Tứ). Lên cấp 3 chuyển về học trường Chu Văn An Sài gòn. Đi học hoàn toàn không mất tiền mà nếu học khá hoặc gia đình quân, công, nghèo còn được học bổng. Về chất lượng giáo dục thì mọi người đã nói nhiều tôi xin không lập lại. Bản thân tôi chỉ chiêm nghiệm được hai điều: Một là các con tôi sinh ra sau 75 đã tốt nghiệp ĐH nhưng ít biết về lịch sử hơn lớp chúng tôi. Hai là HS SV thời đó không sợ tổng thống, chỉ sợ Thầy giáo của mình thôi.
    Woong A Coong

    Trả lờiXóa

     
     
  14. Chỉ có những đầu óc Heo…
    mới không nhận biết hệ thống Giáo dục của VNCH hơn hẳn nền giáo dục của VNDCCH (Cộng Sản)

    Trả lờiXóa

     
     
  15. Giáo sư Phạm Kế Viêm chứ không phải Đặng Kế Viêm.Ông có sách giáo khoa viết chung với Tiến Sĩ Võ Thế Hào.

    Trả lờiXóa

     
     
  16. Vấn đề là có đúng sự thực hay không,chứ tác giả
    là ai thì chưa quan trọng gì lắm.
    Có bác nhất định không tin lại còn lý sự cùn về
    “thế hệ vàng” mà ông DTQ.sợ “chúng ta đang mất
    gốc” vì thế hệ trên qua đời.Thực ra,những bác
    trên bị CS.lừa gạt vì trước lúc họ tham gia kháng chiến thì người CS.chỉ nhân danh độc lập,tự do mà không dám công khai nói gì tới
    chủ nghĩa CS.cả,do đó họ mới theo.
    Một nền giáo dục mà chính trị không có quyền
    tẩy não và bhồi sọ học sinh thì nền giáo dục
    đó cũng tiến bộ như bất cứ nước dân chủ khác
    và đáng trân trọng hơn nền giáo dục hiện nay
    chỉ đào tạo ra những con vẹt !
    Có điều là bài trên có vài chi tiết sai lầm.
    Ông Mai Thái Lĩnh rất công bình khi nhận định
    đó là nền giáo dục nhân bản vì tôn trọng
    con người.

    Trả lờiXóa

     
     

PHƠI BÀY SỰ THẬT “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”, KẾT TỘI THỦ PHẠM “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA” – BS

14 Th9

boxun.com

PHƠI BÀY SỰ THẬT “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”, KẾT TỘI THỦ PHẠM “ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HÓA”

46 ÔNG GIÀ LỊCH SỬ Ở HAI THÀNH PHỐ THÀNH ĐÔ VÀ TRÙNG KHÁNH KÊU GỌI MẠNH MẼ ĐẢNG CÔNG SẢN TRUNG QUỐC: PHẢI THANH TOÁN TỘI ÁC CHỐNG LẠI LOÀI NGƯỜI CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG!

6.9.2012

Tác giả:  46 ông già lịch sử ở hai thành phố Thành Đô và Trùng Khánh

Người dịch:  Quốc Thanh

Chúng tôi là những ông già lịch sử hơn 70, 80 tuổi, đồng thời cũng là những người đã từng trải qua và là nạn nhân của nhiều chiến dịch chính trị trong 27 năm Mao Trạch Đông cầm quyền Trung Quốc. “10 năm đại họa” đã qua được 46 năm, vì thế chúng tôi lấy con số 46 để đồng đứng tên ra lời kêu gọi đẫm máu và nước mắt này, với hy vọng toàn Đảng và toàn dân chớ nên quên giai đoạn lịch sử bi thảm, nhói lòng và đau thương ấy.   

 

    Ông Trần Nhất Tư, người từng đảm nhận các chức vụ trưởng nhóm Nhóm nghiên cứu phát triển nông thôn Trung Quốc, giám đốc Trung tâm phát triển nông thôn Quốc vụ viện, ủy viên Ủy ban cải cách thể chế kinh tế Quốc vụ viện, viện trưởng Viện nghiên cứu cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc, tổng thư ký Văn phòng cải cách chính trị Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và phó hội trưởng Hội nghiên cứu cải cách chính trị Trung Quốc nói: Trong 30 năm đầu cầm quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc từ 1949-1978, các cuộc “đấu tranh giai cấp” và “vận động chính trị” do Mao Trạch Đông  phát động cứ đợt sau lại tàn khốc hơn đợt trước, khiến cho Trung Quốc đại lục phải trải qua mối đại họa chưa từng có, trở thành một “địa ngục trần gian”. Khi ấy, những con người cư ngụ trên mảnh đất được mệnh danh là “Thần Châu đại địa”, “Lễ nghi chi bang” không người nào là không ngày ngày run sợ sống trong hoảng loạn, không biết khi nào tai ương sẽ đến với người nhà hay người thân của mình. Hầu như các giới tinh anh không sót một ai đều lần lượt bị đánh, phê và làm nhục, thậm chí còn phải xa lìa vợ  con, gia đình tan nát chết chóc. Trong vòng 30 năm, Mao Trạch Đông đã tạo ra 8,3 triệu oan hồn, 30 triệu án oan, hơn 300 triệu người bị đấu tố, có thể nói, Mao Trạch Đông coi mạng người như cỏ rác, tội ác gây án oan khắp thiên hạ đã vượt quá tội ác của tất cả các bạo chúa trong lịch sử cộng lại.”       
     Mao Trạch Đông năm 1966 lại một lần nữa kỳ công trù hoạch “đại họa” cướp sạch nền văn minh của lịch sử nhân loại – “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Vì sao ông ta lại phải phát động cái gọi là “Đại cách mạng văn hóa vô sản”? Nhằm 2 mục đích:  Một là để thoát ra khỏi sự bế tắc chính trị cá nhân, đoạt lại quyền lãnh đạo đã bị mất vì tam niên nhân họa, mưu đồ đùn đẩy tội ác gớm guốc bỏ đói hơn 37,5 triệu người cho chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và cán bộ các cấp. Vì thế mà ông ta phải giết người diệt khẩu, mượn lực lượng quần chúng để làm mất uy tín của Lưu Thiếu Kỳ trước hàng loạt cán bộ lãnh đạo các cấp có tranh cãi và bất mãn với ông ta; hai là để tăng cường sự độc tài cá nhân “Marx và Tần Thủy Hoàng” thì buộc phải biến thiên hạ do Đảng cộng sản cầm quyền thành “thiên hạ nhà họ Mao” cha truyền cho con, con truyền cho cháu, để soán cải giai đoạn lịch sử ông ta đang cầm quyền thành một bộ mặt hoàn toàn khác, truyền lại cho hậu thế hình ảnh một “thánh quân” thiên hạ. Muốn đạt được mục đích này buộc phải làm cuộc “vận động quần chúng” coi trời bằng vung một lần nữa.         
    Mao Trạch Đông suốt đời đầy những thủ đoạn ứng biến, rất biết cách làm sao để huy động được năng lượng thói xấu của con người. Bắt đầu từ năm 1965, đầu tiên ông ta mượn tay Giang Thanh xúi giục Diêu Văn Nguyên soạn thảo, công bố bài “Bình về vở kịch lịch sử tân biên “Hải Thụy bãi quan”, để làm khúc dạo đầu cho “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Tháng 4.1966, để tiêu diệt Thành ủy Bắc Kinh Đảng cộng sản Trung Quốc do Bành Chân đứng đầu, Mao Trạch Đông đã phát độnh chiến dịch “Tam gia thôn” hàng vạn khẩu pháo cùng nổ, Canh Tức, Đặng Thác, Ngô Hàm, Liêu Mạt Sa bị chụp mũ phản Đảng, phản chủ nghĩa xã hội, phản tư tưởng Mao Trạch Đông, bị bãi quan cách chức, giam giữ, cách li thẩm tra. Đặng Thác bị bức tự sát ngày 16.5.1966; một bí thư Thành ủy Bắc Kinh trở thành oan hồn đầu tiên trong “Đại cách mạng văn hóa vô sản” của Mao Trạch Đông (vào ngày này “Nhân dân nhật báo” đăng “Thông báo ngày 16.5” về Đại cách mạng văn hóa). Không lâu sau, cả  nhà phó bí thư Thành ủy Bắc Kinh Ngô Hàm cùng vợ là Viên Chấn và cô con gái đã tự vẫn. Kế đến là các vụ tự sát của nhà văn Lão Xá, nhà sử học Tiễn Bá Tán. Tiếp nữa là thư ký của Mao Trạch Đông Điền Gia Anh đã ôm hận tự sát (?) tại Vĩnh Phú Đường Trung Nam Hải  ngày 23.5.1966, với tội danh “thay đổi trước tác của Mao chủ tịch”. Khi chỉnh lý kỷ yếu các bài nói của Mao Trạch Đông, ông ta đã gạch bỏ phần “Cái hiểm của Hải Thụy bãi quan”.   

    Họ đều bị tội xúc phạm đến Mao Trạch Đông chỉ vì đã viết các bài phê phán Diêu văn Nguyên và biện hộ cho Ngô Hàm, mọi người gọi họ là “Ngũ quân tử Bính Thìn”. Tiếp đó, Mao Trạch Đông ra mặt ủng hộ “Tạo phản đại tự báo” của Nhiếp Nguyên Tử ở Đại học Bắc Kinh, nhưng vẫn cảm thấy hỏa lực chưa đủ mạnh, thế là liền đích thân vung dao quăng ra “Đại tự báo của tôi – Bộ tư lệnh nã pháo”. Rồi sau đó 8 lần tới lầu thành Thiên An Môn gặp mặt “Hồng vệ binh” toàn quốc, đưa ra khẩu hiệu phi nhân tính, vô nhân đạo “quét sạch bọn đầu trâu mặt ngựa”, “đập tan phong kiến, chỉnh sửa tư bản”, khuyến khích những con búp bê non nớt đứng lên “tạo phản”, “đoạt quyền”, thả sức đánh, đập, cướp, tịch thu, nhen lên ngọn lửa tà dữ dội “đánh đổ phái cầm quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Bỗng chốc trật tự xã hội đang yên ổn hòa bình trở nên cực kỳ hỗn loạn, Mao Trạch Đông vẫn hồ nghi rằng chưa đủ loạn, lại đưa ra tiếp chủ trương vô chính phủ “đập tan công kiểm pháp[i]”, “hất bỏ đảng ủy làm cách mạng”, đồng thời lấy danh nghĩa “tam chi lưỡng quân”[ii] để kích động “đấu tranh vũ trang”quy mô lớn trên toàn quốc. Bỗng chốc tiếng súng vang lên, xác chết đầy đồng, tiếng khóc mất con mất chồng dậy khắp phố xóm.               
     Trong thời gian này, “Hồng vệ binh” với sự xúi giục của Mao Trạch Đông đã tịch thu gia sản, đập phá di tích một cách say máu, thả sức đánh người giết người, thật đúng là “coi trời bằng vung” như Mao vạn tuế đã nói.

  Cả một dải Thần châu đại địa đẫm tanh mùi máu, Xích huyện Cửu vực thương tích chất chồng. Theo thống kê chưa đầy đủ, từ 18.8 đến 7.12 năm 1968, cả nước lần lượt có tới hàng chục vạn người bị hồng vệ binh đánh cho

đến chết, có tới hơn 10 triệu hộ bị tịch thu gia sản. Chỉ riêng thành phố Bắc Kinh là đất tốt lành nhất đã có hơn 114 ngàn hộ bị tịch thu gia sản. Thượng Hải có 10 vạn hộ bị tịch thu gia sản, huyện ngoại thành Xuyên Sa, một huyện nhỏ với hơn 500 ngàn nhân khẩu, đã có tới 7800 hộ gia đình bị tịch thu gia sản. Ở tận Thắng Huyện, Chiết Giang xa xôi có hơn 8 ngàn hộ bị tịch thu gia sản. Ngay cả huyện tự trị dân tộc Di-Cáp Nê Giang Thành, Vân Nam ở nơi xa xôi hẻo lánh cũng có tới 565 hộ bị tịch thu gia sản. Thành phố Uy Hải Sơn Đông chỉ riêng giới công thương, giới văn hóa đã có 275 hộ bị tịch thu gia sản.

    Về mặt tàn phá di tích lịch sử lại càng khiến cho lòng người quặn thắt. Thành phố Bắc Kinh, trong số 6843 di tích chính phủ ra lệnh bảo vệ ở lần tổng điều tra đầu tiên vào năm 1958, đã có tới 4922 di tích bị phá ở các mức độ khác nhau. Hồng vệ binh ở Học viên thể thao Bắc Kinh còn nhảy cả lên Phật hương các “Di hòa viên” để đập vỡ tượng Phật “Thích Ca Mâu Ni”. Hơn 200 hồng vệ binh ở Đại học sư phạm Bắc Kinh đã chạy đến Khổng Miếu Khúc Phụ ở Sơn Đông để tạo phản, triệu tập cuộc họp hàng vạn người đập phá Khổng Miếu, rồi còn gửi điện cho Mao Trạch Đông nói: “Mao chủ tịch kính yêu: Chúng cháu đã tạo phản!  Chúng cháu đã tạo phản! Bức tượng mộc Khổng Tử đã bị chúng cháu lôi đi, bức hoành phi “Vạn thế sư biểu” đã bị chúng cháu  giật xuống, mộ Khổng Tử đã bị chúng cháu san phẳng, tấm bia ca công tụng đức đế vương phong kiến đã bị chúng cháu đập vỡ, các tượng mộc trong Khổng Miếu đã bị chúng cháu đập vỡ sạch…”, chỉ riêng hồng vệ binh do Đàn Hậu Lan ở Đại học sư phạm Bắc Kinh cầm đầu đã đập phá tổng cộng hơn 6000 di tích, đốt hơn 2700 cổ thư, hơn 900 cổ tự họa, đập hơn 1000 tấm bia các đời, trong đó có hơn 70 di tích được nhà nước xếp hạng, đốt hơn 1000 trân bản thư tịch, gây tổn thất không gì bù đắp nổi cho đất nước.   

  Các lăng mộ của những người nổi tiếng khác, như Viêm Đế Lăng, mộ Thành Cát Tư Hãn, mộ Chu Nguyên Chương, mộ Hạng Vũ, mộ Hoắc Khư Bệnh, mộ Trương Trọng Cảnh, mộ Gia Cát Lượng, mộ Nhạc Phi, mộ Viên Sùng Hoán, mộ Vương Hy Chi, mộ Ngô Thừa Ân, mộ Ngô Kính Tử, mộ Bồ Tùng Linh, mộ Trương Chi  Động, mộ Khang Hữu Vi, mộ Từ Chí Ma, mộ Phó Bao Thạch, mộ Từ Bi Hồng, mộ Trương Tự Trung, mộ Cù Thu Bạch… đều bị phá sạch. Bạch Mã Tự ở Thành Đông Lạc Dương dựng vào năm Đông Hán Vĩnh Bình thứ 11 (năm 618),  dựng lại năm Gia Tĩnh đời Minh (năm 1556). Đây là ngôi đền Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc bị hồng vệ binh phát động nông dân sống gần đó đập phá. Thập La Hán Đường bị phá sạch sành sanh. Cuốn “Kinh Pattna” do một vị cao tăng Ấn Độ mang tới từ 2 ngàn năm trước đã bị đốt. Viên ngọc quí hiếm “Bạch Ngọc Mã” bị đập vỡ tan. Mấy năm sau, Hoàng thân Norodom Sihanouk nguyên thủ quốc gia Campuchia muốn đến triều bái ở Bạch Mã Tự, thủ tướng Chu Ân Lai đành phải cho đưa 18 vị La Hán từ Bích Vân Tự ở Hương Sơn Bắc Kinh và Kinh Pattna tàng trữ ở Cố cung đến Bạch Mã Tự  ở Lạc Dương, nhằm che đậy sự man rợ và tội ác của Đại cách mạng văn hóa.    

   Đại Phật tựa lưng vào Điểu Vưu Sơn, nhìn ra Thanh Y Giang ở Lạc Sơn Tứ Xuyên cao tới 70 m, hồng vệ binh phá không nổi, liền chặt đầu cả 500 vị La Hán ở Điểu Vưu Tự nằm phía sau. Hồng vệ binh Đại học Sơn Tây  đến thánh địa Phật giáo Ngũ Đài Sơn phá Tứ cựu, đập nát miếu mạo tượng Phật, tổ chức họp đấu tố các nhà sư và ni cô, sau đó cưỡng bức 289 nhà sư và ni cô hoàn tục, quay về làm xã viên trong các đội sản xuất ở nguyên quán. Trong địa phận huyện Châu Chí Thiểm Tây còn lưu giữ được thánh địa Đạo giáo “Thuyết kinh đài” 2500 năm, theo truyền thuyết là nơi tác giả của “Đạo đức kinh” thuyết giảng. Ngôi Đạo quán này với Thuyết kinh đài làm trung tâm, trong vòng bán kính 10 dặm phân bố rải rác hơn 50 di tích, kể cả Tông thánh cung do Đường Cao Tổ Lý Uyên xây dựng, đã bị phá hủy trong Đại cách mạng văn hóa, hồng vệ binh ra lệnh bắt các đạo sĩ phải cắt tóc cạo râu, hoàn tục lập gia đình. Đại giáo đường Nicholas ở Cáp Nhĩ Tân là một trong hai đại giáo đường chính thống duy nhất trên thế giới (tòa còn lại ở Nga), tất tật kiến trúc cùng kinh quyển, vật dụng của Đại giáo đường đều bị hồng vệ binh đập phá.

 Lương Tấu Minh, người từng đấu tranh thẳng cánh với Mao Trạch Đông, khi nhớ lại cảnh hồng vệ binh tịch thu gia sản đã nói: “ Chúng xé sách, đập đồ cổ, rồi còn vừa xé vừa chửi rủa là “đồ của chế độ phong kiến”, cuối cùng ra lệnh một tiếng chất hết ra sân rồi đốt tất cả những thư tịch và tự thư từng được 3 đời cố nội, ông nội và cha tôi đích thân mua từ đời Thanh, còn có cả những thứ tự tôi gìn giữ. Hồng vệ binh tự khiêng tự đốt, rồi còn vây xung quanh hô khẩu hiệu. Khi hồng vệ binh ôm ra 2 bộ sách đồ sộ “Từ nguyên” và “Từ hải”, tôi chạy tới ngăn lại. Tôi bảo, đây là 2 bộ sách công cụ mà ai cũng cần đến nó, hơn nữa lại là của một học sinh nước ngoài cho tôi mượn, nếu mà đốt mất thì làm sao trả lại cho chủ của nó được. Hồng vệ binh đã phớt lờ tôi, vẫn cứ ném 2 bộ sách vào trong biển lửa, lại còn nói thêm: ‘Tiểu tướng hồng vệ binh cách mạng bọn tôi có “Tân Hoa từ điển” là đủ rồi’. Hồng Học Gia, Du Bình Bá vào thập kỷ 50 bị Mao Trạch Đông khâm định là “học giả phản động tư sản”, từ khi là đối tượng công kích trọng điểm của hồng vệ binh, lúc bị tịch thu gia sản chúng đã nhét vào bao tải tàng thư của mấy đời dòng họ, châm một mồi lửa đốt luôn cả những tư liệu nghiên cứu về “Hồng lâu mộng” mà Du Bình Bá lưu giữ. Cựu bộ trưởng giao thông Chương Bá Quân là “đại hữu phái” có tiếng, tàng thư có tới hơn vạn quyển, chỗ ở của ông đã bị hồng vệ binh của một trường trung học gần đó chiếm dụng làm “Tổng bộ hồng vệ binh”. Khi mùa đông đến, đống tàng thư của họ Chương trở thành nguồn nhiên liệu sưởi ấm suốt ngày đêm cho bọn đầu sỏ hồng vệ binh, sau đó, trừ một số ít bản tốt được lưu giữ ở Thư viện Bắc Kinh ra, còn lại đều bị đưa vào nhà máy giấy để làm bột giấy. Ở Thượng Hải, những cuốn sách được họa sĩ Lưu Hải Túc cất giấu kĩ đã bị hồng vệ binh tịch thu, chất đống ngoài đường đốt suốt hơn 5 giờ đồng hồ, số tự thư bị đốt cháy không đếm xuể. Phó giám đốc Bảo tàng văn sử trung ương Thẩm Y Mặc là đại gia thư pháp nổi tiếng khắp thiên hạ, ông lão họ Thẩm 84 tuổi sợ những bức “thư họa phản động” của mình sẽ mang họa đến cho người thân, lại lo rằng khi đốt có người nhìn thấy sẽ tố giác, tội gấp bội lần, nên đã đem xé nát tất cả những tác phẩm mà mình đã tích lũy được cùng một loạt những tác phẩm đích thực của các đại thư pháp gia đời Minh Thanh, cho vào chậu nước ngâm thành bột giấy, rồi vo viên lại cho người thân xách ra khỏi nhà lúc đêm khuya vắng lặng, vứt xuống sông Tô Châu. Nhà bồi tự họa là ông già Hồng Thu Thanh được người đời gọi là “thần y” của cổ tự họa, từng bồi cho không biết bao nhiêu di vật hạng quốc bảo, như tranh sơn thủy của Tống Vi Tông, tranh mặc trúc của Tô Đông Pha, các tác phẩm của Văn Vi Minh và Đường Bá Hổ…; những bức tự họa của các danh nhân mà mình đã dành hết gia sản, đem hết tâm huyết gìn giữ đã bị hồng vệ binh cho một mồi lửa, ông nói trong nước mắt:  Tự họa nặng hơn 100 cân[iii], đốt mãi à!” Họa gia Lăng Hư ở Đào Hoa Ổ mộc khắc niên họa xã, Tô Châu, có bức “Ngư lạc họa sách” dài tới 50 thước vẽ vào thập kỷ 50, từng được coi là quốc bảo tặng Tổng thống Indonesia Sukarno; hàng ngàn bức cổ bản họa ở các nơi trên đất Trung Quốc mà ông đã bỏ ra cả mấy chục năm trời để sưu tập cũng khó lòng thoát khỏi thảm họa giống như các tác phẩm hạng quốc bảo khác của ông,  đã bị hồng vệ binh đốt sạch.

    
Điều đáng sợ hơn cả là,  “phái tạo phản” ở khắp nơi trên cả nước ngoài việc đại sát đặc sát những người không cùng quan điểm với mình ra, Đại Hưng ở Bắc Kinh và Đạo Huyện ở Hồ Nam, còn tiến hành thảm sát cả nhà cái gọi là 5 loại phần tử “địa phú phản hoại hữu”, ngay cả đứa trẻ lên 3 cũng không tha, thật là bi thảm nhất trần gian, xưa nay chưa từng có. Xin hỏi là tội của ai?  

    
Có tư liệu cho biết, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi từ 6.1966 đến 11.1974, có tới hơn 120 vị lãnh đạo Đảng và nhà nước, hơn 12000 người thuộc giới trí thức tinh anh văn hóa  khoa học kĩ thuật đã bị Mao Trạch Đông trực tiếp và gián tiếp bức hại cho đến chết hoặc tự sát. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong 10 năm đẫm máu này, cả nước có hơn 100 triệu người bị chỉnh đốn, 20 triệu người bị chết. Đây là tội lỗi tột cùng!  

       
Ai là tên thủ phạm của “Đại cách mạng văn hóa”? Mao Trạch Đông!    
    

Ai là kẻ đầu sỏ  “đại họa”?  Mao Trạch Đông!    

    
 Đại cách mạng văn hóa đã hủy hoại lịch sử văn hóa 5 ngàn năm của dân tộc Trung Hoa cùng những trí thức cũ mới đã kiến tạo nên nền lịch sử văn hóa ấy,  từ Khổng Tử, Mạnh Tử 2000 năm trước đến Ngô Hàm, Đặng Thạc ngày nay. Thực tế, những người bị ông ta loại bỏ đều là những viên ngọc báu trong nền văn hóa dân tộc Trung Hoa, là những bậc tinh anh trong giới trí thức. Mao Trạch Đông đã đem các phẩm chất đạo đức truyền thống trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, ôn, lương, cung, kiệm của dân tộc Trung Hoa vứt bỏ đi như giẻ rách, chẳng thèm phân biệt cặn bã với tinh hoa. Rồi hậu quả là: Uy tín của đảng đã bị rơi xuống tận đáy, văn hóa mất gốc, kinh tế sụp đổ, tà ác lên ngôi, đạo đức của người dân đại thụt lùi; trong con mắt của dân chúng thế giới, Trung Quốc trở thành một quốc gia ngu muội, dốt nát, dã man, không có nhân quyền, tà ác.       
    
 Thế nhưng Đảng cộng sản Trung Quốc cho đến tận giờ vẫn chưa kết án  tên thủ phạm Đại cách mạng văn hóa, cho đến tận giờ vẫn chưa thanh toán tội ác của tên đầu sỏ “đại họa”, nhận tội và chịu hình phạt thay cho Mao Trạch Đông là “Bọn 4 người” và “Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu”. Quả tình “Bọn 4 người” và “Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu” có làm không ít những chuyện xấu xa, nhưng chúng hành sự là tuân theo ý chỉ của  Mao Trạch Đông, chúng chẳng qua chỉ là một bầy chó dữ được nuôi dưỡng trong vòng tay của Mao Trạch Đông. Chó dữ cắn người thì phải diệt, lẽ nào Mao Trạch Đông là kẻ dung túng cho chó dữ làm càn lại không đáng phải gánh trách nhiệm tội lỗi hay sao?  Đảng cộng sản Trung Quốc  không dám đối mặt với sự thật lịch sử, vẫn tôn ông ta là “lãnh tụ”, “vĩ đại”. Đó là sự coi thường sự bình đẳng giữa con người với con người trước luật pháp, là sự xúc phạm đạo đức, ai sẽ dẹp yên được? Và rồi ai sẽ lại dẹp yên được đây?

      Còn sở dĩ nước cộng hòa nhân dân ngày nay pháp chế chưa được khai mở, thật giả đảo điên, thiện ác lẫn lộn, đen trắng bất phân, tham lam bạo ngược, không tôn trọng nhân quyền, thờ ơ với sinh mệnh, chính quyền đánh người, cảnh sát hành  hung, tất cả đều là ác quả của việc tên thủ phạm, tên đầu sỏ “Đại cách mạng văn hóa” Mao Trạch Đông vẫn chưa phải chịu sự thanh toán tội ác cần có. Đảng cộng sản Trung Quốc đòi hỏi 1,3 tỉ dân các giới trên toàn Trung Quốc phải tuân thủ luật pháp, nhưng với Mao Trạch Đông thì lại đi ngược lại luật pháp đạo lí. Người xưa nói: Trách người trước tiên hãy tự trách mình.
   Vì lí do này, chúng tôi mạnh mẽ kêu gọi “Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc” và “Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc”: Phải thanh toán những tội ác ghê tởm mà tên thủ phạm “Đại cách mạng văn hóa”, tên đầu sỏ “đại họa” Mao trạch Đông đã phạm phải! Hãy làm một cuộc  chuyển giao thế hệ cho lịch sử! Hãy trả lại cho xã hội một sự công bằng!   

     
Chúng tôi đặc biệt kiến nghị các bậc tinh anh tham dự Đại hội 18:

1.  Lập tức thanh toán triệt để những tội ác ghê tởm mà Mao Trạch Đông đã gây tai ương chuốc họa cho tổ quốc và nhân dân, gỡ bỏ chân dung ông ta   khỏi Thiên An Môn, đem cái thi thể rữa nát của ông ta ra khỏi quảng trường.     
2.  Chấm dứt truyền bá tất cả những bài hát, bộ phim, phim truyền hình và tạp chí sách vở ca ngợi Mao Trạch Đông, nhằm giúp ích cho việc gắn kết mọi lực lượng dân chúng tề tâm hiệp lực xây dựng một nước Trung Quốc mới tự do, phồn vinh, giàu mạnh.  

46 ông già lịch sử ở 2 thành phố Thành Đô và Trùng Khánh: Tưởng Văn Dương, Lý Quốc Nguyên, Phiên Thái Tài, Vương Nghĩa Trân, Vương Chí Nhân, Vương Phục Nam, Trịnh Hán Sinh, Trình Thế Quang, Ngô Hồng Quang, Lâm Hiến Quân, Ngưu Lập Hoa, Ngô Khởi Thành, Viên Chính Tâm, Tiêu Cập Trung, Lưu Bích Quần, Cảnh Lương Thìn, Chu Khánh Quang, Vương Thiệu Mẫn, Lý Nghi Lương, Từ Quý Chính, Thiết Lưu, Ô Tích Xương, Đường Đạo Phú, Lưu Văn Giới, Quách Viêm, Khuất Sở Bình, Trương Bình Trung, Ngải Phong, Hoàng Bảo Tùng, Vương Trọng Cương, Phương Chí Siêu, Diệp Thức Lễ, Phạm Cự Minh, Thầm Đông Hợi, Liêu Xích Minh, Bành Mộ Đào, Khâu Định Quốc, Lâm Tịch Ánh, Hùng Tập Lễ, Hồ Sùng Trinh, Điền Công Lượng, Phòng Nhượng Hỷ, Ngô Giới Cầm, Triệu Quần, Tưởng Văn Khâm, Chu Quốc Can, Tống Trạch Vũ, Dương Minh Truyền, Du Quốc An, Dương Thiểu Tây, Hạ Thành Nghiệp, Hà Lập Giản, Đàm Tuấn Xương, La Khai Văn, Phạm Trung Châu.

    
Điện thoại liên lạc ở Trùng Khánh:  023-68108800

Điện thoại liên lạc ở Thành Đô:  18228152159

    
Ngày 6 tháng 9 năm 2012.

Xin đặc biệt lưu ý:    Danh sách này không được lưu trên điện thoại, chủ yếu để tránh sự tấn công quấy rối của các phần tử Mao phái. Chúng tôi không sợ chúng, bởi đó là một bang phái lưu manh côn đồ bất chấp đạo lí luật pháp, hễ cất lời là những câu bẩn thỉu tục tĩu, ngoài những lời chửi rủa uy hiếp khủng bố ra, không có được mấy tiếng người. Quan điểm của chúng tôi là bất biến: Phê Mao đến tận cùng, kiên quyết không thoái bộ. Nếu các phần tử Mao phái thấy quan điểm của chúng tôi là không đúng, thì xin mời viết bài phản bác, nếu cho là chúng tôi bất chấp tình lý, thì có thể tố cáo với cơ quan công an cho đến khi tòa án khởi tố, nhưng không được giở thói côn đồ.
 

Nguồn: boxun.com

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012


Chú thích của người dịch:

[i]   Công kiểm pháp:  Tên gọi tắt Cục công an, Viện kiểm sát và Tòa án.

[ii]   Tam chi lưỡng quân:  Tức chi (viện) tả, chi công, chi nông và quân quản, quân huấn.

[iii]   Cân ta, 1 cân ta bằng ½ kg.

Con chó sống bên mộ chủ suốt 6 năm – VNE

14 Th9

Con chó sống bên mộ chủ suốt 6 năm

Một con chó ở Argentina bỏ nhà và đến nằm cạnh mộ của chủ nhân suốt từ khi ông qua đời tới nay.
> Con chó chung tình

Con chó Capitán luôn ở cạnh ngôi mộ chủ suốt 6 năm qua. Ảnh: La Voz.

Con chó Capitán được ông Miguel Guzmán, sống ở thị trấn nhỏ Villa Carlos Paz, Argentina, mua làm quà tặng cậu con trai Damian vào năm 2005.

Một năm sau, ông Miguel Guzmán đột ngột mất. Sau đám tang, gia đình ông không tìm thấy Capitán nữa. Họ nghĩ nó đã chết hoặc sống ở gia đình khác. Cho đến một ngày, gia đình tới nghĩa trang để thăm Miguel và nhìn thấy con chó đang ngồi bên cạnh ngôi mộ của Miguel.

“Con trai tôi đã hét lên đó là Capitán. Con chó tiến lại gần chúng tôi, sủa và rên lên như thể đang khóc”, bà quả phụ Verónica Moreno nói với tờ La Voz del Interior của Argentinian.

Điều làm gia đình bà ngạc nhiên là tại sao Capitán lại biết nơi an nghỉ của ông chủ.

“Chủ nhật tuần tiếp theo, chúng tôi tới nghĩa trang và con chó vẫn ở đó. Lần này, nó theo chúng tôi về nhà và ở lại một lúc, sau đó quay về nghĩa trang”, bà Verónica cho biết.

Con chó có thể ở cạnh ngôi mộ cho tới khi chết. Ảnh: La Voz.

Giám đốc nghĩa trang, ông Héctor Baccega cho biết, lần đầu tiên thấy con chó, nó đi một mình và lòng vòng xung quanh nghĩa trang cho đến khi tìm thấy mộ của chủ nhân.

“Đúng 6h tối mỗi ngày nó lại nằm bên mộ và ở đó suốt đêm”, giám đốc nghĩa trang nói.

Con trai Miguel Guzmán cho biết, cậu bé nhiều lần đưa con chó về nhà để nó có cuộc sống mới, nhưng lần nào Capitán cũng quay về nghĩa trang. “Cháu nghĩ con chó sẽ ở đây cho đến khi chết. Nó đang chăm sóc bố cháu”, cậu bé nói.

Hương Thu

Tiêu chuẩn đánh giá một đề tài nghiên cứu cấp tiến sĩ – NVT

14 Th9

 

Tiêu chuẩn đánh giá một đề tài nghiên cứu cấp tiến sĩ

In Email
 
https://i2.wp.com/www.printmojo.com/phd/Images/9836/mike_03_sample.gif

Hai tuần vừa qua, môt số báo (như Giáo dục Việt Nam, Pháp luật Việt Nam, Vietnamnet, v.v.) đồng loạt đăng một số bài về luận án tiến sĩ … vô bổ. Loạt bài này thật ra không mới, nhưng có vài chi tiết rất thú vị. Chẳng hạn như có luận án “Tắm giặt cho chiến sỹ miền núi”! Không biết thật hay đùa, nhưng mới nghe qua thì quả là rất vui. Nhưng một cách nghiêm chỉnh: tiêu chuẩn gì để đánh giá một đề tài nghiên cứu cấp tiến sĩ? Bài này sẽ cung cấp vài câu trả lời cho câu hỏi đó theo chuẩn mực khoa học và kinh nghiệm cá nhân.

 

Dưới tựa đề có thể nói mang tính giật gân, “Việt Nam có bao nhiêu luận án tiến sĩ … vô bổ”, báo Giáo dục Việt Nam cung cấp nhiều thông tin rất thú vị. Tôi nghĩ chẳng ai có thể trả lời câu hỏi này. Con số bao nhiêu luận án thì chắc chắn Bộ Giáo dục & Đào tạo có thể trả lời, nhưng bao nhiêu là “vô bổ” thì khó trả lời. Làm sao đánh giá một luận án là vô bổ? Chẳng hạn như đề tài mà bài báo đề cập đến, “Nghiên cứu nhận thức của sinh viên ĐHSP về sức khỏe sinh sản”, thì khó nói là vô bổ được, vì vẫn cung cấp thông tin. Vấn đề đặt ra là nội dung thông tin đó có xứng đáng một đề tài nghiên cứu cấp tiến sĩ hay không.

Người viết bài này đã có dịp đọc qua nhiều luận án trong ngành y từ Nam chí Bắc thì cảm nhận chung là luận án tiến sĩ ở VN chưa đạt tiêu chuẩn. Thật ra, tôi chưa thấy (chứ không phải “không thấy”) một luận án nào có qui mô và đáp ứng tiêu chuẩn của một luận án tiến sĩ. Đại đa số những luận án tôi đọc qua chỉ báo cáo 1 nghiên cứu duy nhất, chỉ có duy nhất một luận án báo cáo 2 nghiên cứu. Nội dung thì rất đơn giản, phần lớn chỉ mang tính kiểm kê lâm sàng (giống như làm bài tập thống kê, và đếm bao nhiêu ca bệnh). Phương pháp cũng chưa đạt, vì hình như các tác giả chưa am hiểu phương pháp nghiên cứu. Cách trình bày kết quả là một thất vọng lớn, vì quanh đi quẩn lại cũng chỉ là những bảng số liệu và biểu đồ hết sức đơn giản, chỉ nói lên một điểm! Bàn luận càng thất vọng hơn, vì hình như các tác giả chưa biết viết bàn luận. Do đó, tất cả các luận án tiến sĩ y khoa mà tôi xem qua chỉ có 50 đến 120 trang. Thật ra, số trang thì chẳng nói lên điều gì, nhưng ở đây, vì nội dung luận án quá đơn giản nên tác giả cũng chẳng có gì để viết. Có thể nói không ngoa rằng những luận án tôi xem qua chỉ xứng đáng luận án cử nhân danh dự hay cao học ở các trường y bên Úc mà thôi.

Vậy thì câu hỏi mấu chốt cần đặt ra là: dựa vào tiêu chuẩn gì để đánh giá một đề tài nghiên cứu xứng đáng cấp tiến sĩ? Trả lời câu hỏi này không dễ, vì cái hay còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố và quan điểm của từng chuyên ngành. Có người nói rằng một câu hỏi nghiên cứu hay là câu trả lời có thể ứng dụng trong thực tế. Tôi không đồng ý với nhận định này, bởi không phải nghiên cứu khoa học nào cũng có thể ứng dụng trong thực tế. Do đó, cách tiếp cận câu hỏi thế nào là một câu hỏi nghiên cứu hay, chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể. Một câu hỏi nghiên cứu tốt phải có 5 tiêu chuẩn gói gọn trong 5 chữ cái tiếng Anh: F I N E R (1):

  • F là feasible (tính khả thi)
  • I là interesting (tính thú vị)
  • N là novelty (có cái mới)
  • E là ethics (đáp ứng tiêu chuẩn đạo đức)
  • R là relevance (có ảnh hưởng)

 

Khả thi

Không phải ý tưởng nào cũng có thể thực hiện được, và không phải câu hỏi nào cũng có thể trả lời. Nhà nghiên cứu cần phải nhận thức được hạn chế trong thực tế ngay từ khi suy nghĩ đến câu hỏi nghiên cứu. Không nên tốn thì giờ và công sức khi đã làm nghiên cứu đến nửa chừng mới biết rằng công trình nghiên cứu không khả thi. Trong nghiên cứu lâm sàng và y học, tính khả thi có thể giải thích thêm qua 5 yếu tố: số lượng đối tượng, kĩ thuật, tài chính, và phạm vi.

Đối tượng.Nhiều nghiên cứu không thể thực hiện được đặt ra lúc ban đầu, vì nghiên cứu không thể nào tuyển dụng đủ số lượng đối tượng cho nghiên cứu. Có khi vì bệnh quá hiếm nên không cách gì có đầy đủ số bệnh nhân trong một thời gian ngắn (như 5 năm), và những công trình như thế rất khó khả thi. Do đó, bước đầu tiên trong nghiên cứu lâm sàng là ước tính cỡ mẫu hay số đối tượng cần thiết. Bước kế tiếp là ước tính số đối tượng có thể tuyển được, với tiên đoán trước rằng một số sẽ không thỏa mãn các tiêu chuẩn tuyển và một số sẽ bỏ nghiên cứu giữa chừng, cũng như một số sẽ mất liên lạc. Ngay cả lên kế hoạch một cách cẩn thận, nhiều nghiên cứu vẫn cho ra những ước tính quá lạc quan, và hậu quả là kết quả nghiên cứu rất khó diễn giải. Trong thực tế, đối với những nghiên cứu quan trọng, nhà nghiên cứu cần phải tiến hành nghiên cứu sơ bộ để đánh giá tính khả thi nếu triển khai ở qui mô lớn hơn hay phải điều chỉnh các tiêu chuẩn và qui trình nghiên cứu. Nếu số đối tượng không đủ, nhà nghiên cứu có thể nới rộng tiêu chuẩn chọn đối tượng, bỏ những tiêu chuẩn loại trừ không cần thiết, hoặc kéo dài thời gian tuyển đối tượng, hoặc hợp tác với các đồng nghiệp khác để tuyển thêm đối tượng.

Kĩ thuật.   Các nhà nghiên cứu phải có nắm chắc kĩ thuật, có thiết bị hoặc phương tiện nghiên cứu, có kinh nghiệm thực hiện nghiên cứu, và có khả năng quản lí cũng như phân tích dữ liệu. Cách tốt nhất là làm quen với những công trình nghiên cứu trước, tìm hiểu kĩ qui trình và thiết bị của họ trước khi thiết kế nghiên cứu của mình. Nếu cần phải phát triển một phương pháp hay công cụ mới (như một bộ câu hỏi) cho nghiên cứu, nhóm nghiên cứu cần phải có người có chuyên môn tốt.

 

Kinh phí và thời gian.Nghiên cứu thực nghiệm cần kinh phí thích hợp. Do đó, cần phải ước tính kinh phí của một dự án nghiên cứu. Những kinh phí quan trọng liên quan đến nhân sự, thiết bị, phòng lab cần phải phác thảo và ước tính. Nếu nghiên cứu đòi hỏi một kinh phí quá cao, có thể phải thay đổi mô hình nghiên cứu, bằng cách xem xét đến những mô hình ít tốn kém hơn (và có thể giá trị khoa học cũng thấp hơn), hoặc tìm các nguồn tài trợ mới. Nếu nghiên cứu quá tốn kém và cần thời gian quá lâu, thì cần phải xem xét lại qui trình và các thiết kế mới.

Phạm vi.Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều người mới bắt đầu nghiên cứu thường có quá nhiều “tham vọng”, họ muốn giải quyết tất cả các câu hỏi. Nhưng trong điều kiện hạn hẹp về kĩ thuật, thời gian và kinh phí, những tham vọng đó trở nên bất khả thi. Giải pháp cho vấn đề này là nhà nghiên cứu cần phải định nghĩa phạm vi nghiên cứu hẹp lại, câu hỏi cụ thể hơn và mục tiêu phải mang tính tập trung hơn. Nghiên cứu khoa học thường chỉ giải quyết một vấn đề, và phải có nhiều nghiên cứu mới đi đến một bức tranh tổng thể.

 

Thú vị

Nhà nghiên cứu thường có nhiều động cơ để theo đuổi một nghiên cứu khoa học. Những động cơ đó có thể là làm cơ sở để viết luận án, để thăng tiến trong sự nghiệp khoa bảng, để giúp bệnh nhân, để khám phá và khám phá dẫn đến nguồn lợi tài chính, hay lí tưởng hơn là đi tìm sự thật thú vị và cống hiến vào khoa học, v.v. Tôi thích động cơ sau cùng, vì đó cũng chính là động cơ để nhà khoa học tự thỏa mãn tính tò mò của mình và giúp các đồng nghiệp khác vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu. Một câu hỏi nghiên cứu thú vị phải là câu hỏi có thách thức, làm cho đồng nghiệp phải thấy giật mình (vì họ chưa nghĩ đến). Tuy nhiên, cần phải bàn với thầy cô xem câu hỏi có thật sự thú vị trước khi tiêu ra thời gian để phát triển thành một đề cương.

 

Cái mới

Những nghiên cứu có giá trị thường đóng góp thông tin mới, dữ liệu mới. Một nghiên cứu chỉ đơn thuần lặp lại những gì người khác đã làm (tiếng Anh gọi là nghiên cứu me too) không xứng đáng để tốn tiền và công sức. Cái mới trong nghiên cứu có thể là mới về ý tưởng, mới về cách tiếp cận, mới về phương pháp, mới về kết quả, hoặc mới về cách diễn giải. Ngày nay, rất khó có một nghiên cứu hoàn toàn mới, mà chỉ mới trong một hay hai khía cạnh trên. Do đó, một câu hỏi nghiên cứu không cần phải hoàn toàn mới và nguyên thủy, nhưng cần phải có cách tiếp cận hay phương pháp mới. Câu hỏi nghiên cứu có thể là quan sát trước đây có thể lặp lại, hoặc phát hiện trước đây có thể áp dụng vào một quần thể di truyền khác, hoặc cải tiến phương pháp / kĩ thuật có thể làm rõ hơn mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và bệnh. Một nghiên cứu xác định có khi rất có ích nhất là nghiên cứu trước có nhiều khiếm khuyết.

Đạo đức

Một câu hỏi nghiên cứu hay phải là câu hỏi có đạo đức. Nếu nghiên cứu mang tính quá xâm phạm cơ thể bệnh nhân, hoặc phơi nhiễm bệnh nhân với các yếu tố nguy hiểm khó chấp nhận được thì không thể là có đạo đức được. Nếu chưa chắc chắn về nghiên cứu có vi phạm y đức và đạo đức khoa học hay không, nhà nghiên cứu cần phải thảo luận với thầy cô hay những người có kinh nghiệm, từng phục vụ trong các hội đồng y đức.

 

Ảnh hưởng

Không bao giờ đặt một câu hỏi nghiên cứu mà khi có câu trả lời nhà nghiên cứu chẳng biết phải làm gì với nó. Một trong những đặc điểm của một câu hỏi nghiên cứu tốt là tính liên quan, có ảnh hưởng. Có thể nói rằng tính ảnh hưởng là tiêu chuẩn quan trọng nhất của một câu hỏi nghiên cứu tốt. Một cách tốt nhất để xác định nghiên cứu có ảnh hưởng hay không là tưởng tượng đến những kết quả có thể thu thập được, và xem xét các khả năng mà kết quả đó có thể đóng góp vào sự phát triển kiến thức, hay ảnh hưởng đến thực hành lâm sàng, ảnh hưởng đến chính sách y tế, hay đóng góp vào việc soạn thảo phác đồ điều trị mới, hoặc mở ra một định hướng nghiên cứu mới.

Tiêu chuẩn FINER là cách mà chúng tôi dựa vào để đánh giá một đề cương nghiên cứu hoặc một đề cương cấp tiến sĩ. Trong thời gian gần đây, tôi có dịp giảng về nghiên cứu khoa học ở trong nước, và mỗi khi nhắc đến FINER, ai cũng rất thích thú vì thấy mới, nhưng ai cũng lắc đầu nói khó đáp ứng. Trong thực tế, không phải đề tài nào cũng đáp ứng 5 tiêu chuẩn FINER, nhưng ít ra một luận án tiến sĩ phải có gì đóng góp vào tri thức khoa học; nếu không thì khó có thể nói luận án đó xứng tầm tiến sĩ.

Trong thực tế Việt Nam, qui trình học tiến sĩ mới nhìn qua thì rất chặt chẽ và rườm rà, nhưng xem đầu ra thì rất ư là thất vọng. Trong cuốn “Việt Nam từ năm 2011” (Nxb Tri Thức 2011) Gs Trần Văn Thọ viết và tôi rất đồng ý: “Những vấn đề lớn của Việt Nam là hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng này.” (Trang 286). Ở một đoạn khác, anh Thọ viết: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét trên.

Văn bằng tiến sĩ là một văn bằng quốc tế. Người có văn bằng đó phải chứng tỏ có trình độ, kĩ năng, và kiến thức tương đương với các tiến sĩ khác trên thế giới. Luận án tiến sĩ chỉ dựa trên 1 nghiên cứu duy nhất là luận án cử nhân hay cao học, chứ chắc chắn không phải là tiến sĩ. Ở nước ngoài (như nhóm của tôi chẳng hạn), một luận án tiến sĩ phải có ít nhất 3 nghiên cứu (2) (và thường phải công bố quốc tế). Hi vọng rằng tiêu chuẩn FINER sẽ đóng góp một phần vào việc chấn chỉnh đào tạo cấp tiến sĩ ở Việt Nam.

N.V.T

Chú thích:

 (1) Năm tiêu chuẩn này được sử dụng trong ngành y, nhưng ít người biết. Có lẽ Steven Cummings và Stephen Hulley là người đầu tiên đề ra tiêu chuẩn này trong cuốn “Designing Clinical Research” (1998). Cummings là chỗ quen biết của tôi khá lâu, nhưng tôi chưa biết Hulley.

(2) Có lẽ tôi cần phải giải thích thêm hai chữ “nghiên cứu” ở đây. Khi nói “nghiên cứu” tôi đề cập đến những “studies” trong một dự án (research project). Thông thường, nghiên cứu sinh theo đuổi một research project, và trong đó có nhiều studies khác nhau. Ví dụ như dự án về ảnh hưởng của gen LRP đến loãng xương, nghiên cứu sinh có thể thực hiện 4 nghiên cứu như thí nghiệm qua mô hình động vật để xác định đột biết; phân tích đột biến trên người; đánh giá tần số gãy xương; và ảnh hưởng của gen đến gãy xương. Như vậy, ứng viên sẽ có 4 chương kết quả (mỗi chương dành cho một nghiên cứu). Nghiên cứu sinh của nhóm tôi phải có ít nhất là 4 (thường là 6) chương nghiên cứu / kết quả.

Trong cuốn “Đi vào nghiên cứu khoa học“, tôi có đề cập đến tiêu chuẩn FINER chi tiết hơn. 

Có thể xem qua những luận án tiến sĩ y khoa ở website sau đây:

http://yte.gov.vn/Luan%20an%20tien%20sy.htm

Thầy “Tây” dạy thiền ở Việt Nam – Kiến Thức

14 Th9

Thầy “Tây” dạy thiền ở Việt Nam

 

Ở giữa lòng TPHCM đã có một người Hà Lan tích cực trong việc truyền dạy thiền cho chính người Việt Nam. Từ năm 2010 đến nay, Robert Bridgeman đã hướng việc giảng dạy của mình đến đối tượng doanh nhân.

Vì là một quốc gia Phật giáo nên đa số người Việt Nam từ nhỏ đã có thói quen đi chùa tương tự như người phương Tây đi nhà thờ… Do vậy, thật khó tưởng tượng rằng bạn có thể bắt gặp một thầy Tây dạy thiền cho người Việt Nam.

Lại càng ngạc nhiên hơn khi có một ông cựu Giám đốc Điều hành đến từ Hà Lan lại đang dạy thiền cho các doanh nhân Việt Nam. Điều này có vẻ không tự nhiên vì thiền vốn xuất phát từ phương Đông và gia nhập sang phương Tây chứ không phải ngược lại.

Thiền xuất phát từ thiền định của nhà Phật. Người tập thiền sẽ ngồi tư thế hoa sen, một dạng ngồi dưới đất và bắt chéo hai chân trong khi kiểm soát hơi thở, suy nghĩ, cảm xúc và những đặc điểm hành vi của mình.

 
Robert Bridgeman đang hướng dẫn các học viên thực hành thiền

Trong 40 năm trở lại đây, có hơn 2.500 nghiên cứu về thiền từ hơn 200 trường đại học trên thế giới. Đại học Harvard (Mỹ) còn có hẳn một trung tâm “Body & Mind” (Thân & Tâm). Họ nghiên cứu về tác dụng của thiền lên cơ thể. Kết quả của các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thiền có tác dụng tích cực lên não.

Khi lợi ích của thiền đã được khoa học chứng minh, những người phương Tây lý trí cũng không quan tâm nhiều đến nguồn gốc Phật giáo của thiền nữa. Họ xem những giáo lý của Phật như một triết lý và phổ biến chúng một cách rộng rãi.

Đối với người phương Tây, Đức Phật là một người bình thường như bạn và tôi. Ngài đã khám phá được lợi ích tối cao của thiền học và từ đó truyền bá tư tưởng của Ngài đến với mọi người. Chính Đức Phật đã nói rằng: “Đừng tin những gì ta nói, hãy tự khám phá và trải nghiệm nó.” Người phương Tây đã làm theo như thế.

Có vẻ như Phật chưa bao giờ có ý định trở thành một tôn giáo. Chỉ sau khi Ngài qua đời, những người theo Phật mới tạo ra tôn giáo Phật và truyền từ Ấn Độ sang châu Á, từ Nepal, đến Nhật, Mông Cổ và Thái Lan.

Ở những quốc gia này Phật giáo được hòa trộn với những tôn giáo bản địa và theo thời gian, khía cạnh tôn giáo trở nên quan trọng hơn cốt lõi triết lý của Phật. Các nghi lễ, kinh sách và cấp bậc theo tôn giáo trở thành chuẩn mực.

Giống như phương Tây, ở châu Á cũng có phong trào chạy theo vật chất. Các nền kinh tế đang trên đà phát triển, tiêu chuẩn sống nhìn chung tăng nhanh và số người trở thành triệu phú quá nhiều. Người ta đi tìm hạnh phúc qua những giá trị vật chất và tất cả những gì nằm ngoài bản thân mình: danh vọng, tiền tài, công việc, xe hơi, đồ chơi công nghệ, hay nhà cửa…

Có vẻ như sau 40 năm kể từ khi thiền được truyền sang phương Tây, giờ đây nó đã tìm về châu Á, sau khi đã qua bộ lọc từ tôn giáo sang văn hóa, để chỉ còn là một triết lý thuần khiết. Vậy nên, người châu Á hiện đại đang gặt hái những hoa trái thơm ngọt từ những ích lợi của thiền mà không nhuốm màu tôn giáo.

Và giờ đây, ở giữa lòng TP.HCM đã có một người Hà Lan tích cực trong việc truyền dạy thiền cho chính người Việt Nam. Từ năm 2010 đến nay, Robert Bridgeman đã hướng việc giảng dạy của mình đến đối tượng doanh nhân. Cùng với một nhóm những doanh nhân Việt Nam có cùng suy nghĩ, ông đã tổ chức những khóa workshop và seminar dành cho các tổ chức và đội ngũ lãnh đạo.

Robert chia sẻ: “Tất cả bắt đầu từ một nhóm rất nhỏ cách đây 2 năm khi chúng tôi mới đến TP.HCM. Tôi có cảm giác như đây chính là điều mọi người đang cần đến ở thời điểm này. Cách chúng tôi biết đặt mình trong môi trường này giúp chúng tôi đến gần hơn với cộng đồng doanh nhân Việt Nam.

Những vị giám đốc điều hành và quản lý thường muốn nghe các chứng cứ khoa học và giải thích logic hơn là những lý giải mơ hồ về tôn giáo. Vì có nguồn gốc văn hóa Việt nên họ hiểu sâu hơn các khía cạnh của thiền và nhờ vậy cũng tiến bộ nhanh hơn và đạt hiệu quả tốt hơn. Bản thân Robert cũng đã từng là một Giám đốc Điều hành của một công ty xây dựng Hà Lan khi khám phá ra thiền.

“Tôi bị kẹt cứng giữa công việc và bản thân. Tôi không hề hạnh phúc và tôi có tất cả những thứ mà trái tim ao ước nhưng lại cứ có cảm giác tôi đang sống một cuộc đời nào khác. Rằng có điều gì đó không ổn ở đây! Tôi quyết định thay đổi và chỉ làm những gì thực sự tạo cảm hứng cho tôi một cách sâu sắc.

Những năm gần đây tôi đã đi du lịch khắp thế giới. Tôi đã tìm học những thiền sư ở nhiều tu viện và đền ở Nepal, Ấn Độ, Thái Lan và tất nhiên là Việt Nam. Cách đây 2 năm, vị thiền sư đầu tiên của tôi bảo rằng tôi đã sẵn sàng để hướng dẫn cho người khác và tôi đã đón nhận món quà này bằng cả hai tay.” Robert cho biết.

Hiện ông sống tại Hà Lan nhưng vẫn thường xuyên bay về Việt Nam để thực hiện những khóa seminar. “Chúng tôi bắt đầu với các CEO, nhưng sau đó chúng tôi nhận ra rằng thiền cũng có tác dụng với mọi nhân viên dưới cấp quản lý. Các CEO hiểu rằng việc tập thiền mang lại nhiều lợi ích cho nhân viên như: giảm chi phí do tỉ lệ nghỉ việc thấp đi, tăng hiệu suất làm việc và mức độ hài lòng của nhân viên”.

Theo Nhịp cầu đầu tư

Inrasara: Lạc hậu bình phương, mâu thuẫn lập phương

14 Th9

Ở Việt Nam, vài nhận định sai lầm mang dáng dấp chân lí đinh đóng thường xuyên được lặp đi lặp lại, đã tạo nên hội chứng lây lan. Trên các trang báo, báo chuyên văn học và báo phổ thông; trong các hội thảo văn học lớn, nhỏ; trong các cuộc trả lời phỏng vấn của nhà phê bình và cả từ phát ngôn của các quan chức văn học. Thế kỉ trước, thập niên qua và cả… mới hôm qua. Rằng, “sáng tác chưa theo kịp hiện thực đời sống” và “phê bình không theo kịp đời sống văn học”(1).

 

1. Đó là một cách nhìn nhận lạc hậu. Lạc hậu về nhiệm vụ của người sáng tác cũng như chức năng của phê bình. Bởi thực tế, chủ nghĩa hiện thực đã bị thế giới vượt bỏ cả hơn thế kỉ rồi. Nhà văn hiện đại chủ nghĩa không còn quan tâm đến phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực như là cách phản ánh hiện thực đời sống. Bước sang thời kì hậu hiện đại, nhà văn vừa không tin vào “hiện thực” vừa bất tín nhiệm ngôn ngữ như là phương tiện phản ánh hiện thực, từ đó nhiệm vụ tái hiện và phản ánh hiện thực của văn học hiện thực càng xa lạ với họ. Có thể nói, nếu đến tận hôm nay ta còn bám vào quan điểm sáng tác cổ hủ kia thì quả là quá lạc hậu.

 

Dẫu sao ở đây, ta cứ tạm chấp nhận mệnh đề kia.

Chấp nhận, – như là cách ‘đi vào trong’ hệ mĩ học đang được đề cao [ở Việt Nam] rằng: văn học phản ánh và tái hiện hiện thực đời sống – là chủ trương chính thống gần như nhất quán của nền văn học dòng chính hôm nay -, để đánh giá năng lực của nền văn học ấy. Xem nó có phản ánh đúng và đủ không? Và phản ánh chân thực đến mức độ nào?

Văn học tụt hậu với hiện thực đời sống, ta nói thế và tin thế. – Đúng, tụt hậu.

“Ngoảnh lại” cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, các nhà văn Trung Quốc cho ra đời hàng trăm tác phẩm “ngang tầm thời đại”; còn ta, sau Cải cách Ruộng đất: khá đìu hiu! Chiến tranh biên giới phía Bắc hay xung đột vũ trang biên giới Tây Nam cùng chung số phận. Tất cả chìm vào quên lãng. Không nói đâu xa xôi, bao nhiêu chuyện thời sự chính trị xã hội tác động đến cuộc sống hiện tại, nhà văn Việt Nam vẫn cứ không hay không biết. Các mệnh đề “văn học xa rời hiện thực”, “văn học không bám vào hiện thực cuộc sống”, “văn chương né tránh hiện thực”… được nhai lại sáo mòn đến thành bão hòa trên sách báo bấy lâu, là điều thật.

Một thực tế lồ lộ, gây xúc động cả dân tộc là “Sự kiện Hoàng Sa – Trường Sa” cuối năm 2007, hỏi có bao nhiêu nhà văn, nhà thơ dòng chính viết về nó? – Không ai cả! Và, không ở đâu cả. Yên ắng và vắng lặng như thể ở Việt Nam chưa từng xảy ra sự kiện trọng đại đó. Chỉ khi được phép, một được phép không chính thức – ở “Sự kiện Hoàng Sa – Trường Sa” kì hai vào năm 2011 -, nhà thơ ta mới ồ ạt làm thơ yêu nước.

Thơ, bằng thứ thủ pháp quá ư lạc hậu! Thơ, với bao nhiêu là hạn từ làm sẵn: “sóng Trường Sa”, “biển Tổ quốc”, “mẹ Âu Cơ”, “bốn ngàn năm”, “kiên trung bất khuất”, “máu đã thắm”, “ôm biển vào lòng”… Không vấn đề gì cả! Nhưng, đâu là các cuộc biểu tình với những biểu ngữ chống ngoại xâm, những ngọn lửa đốt áp-phích đường lưỡi bò, những bắt bớ, những cú đạp… lộ thiên giữa thành phố Hà Nội, Sài Gòn mỗi cuối tuần, đang được cập nhật cấp tập trên khắp mạng internet?

Không đâu cả! Tại sao? Không gì cả, ngoài sự sợ hãi.

“Suốt đời tôi không làm gì hơn là đẩy cho đến cùng, cái mà quý vị chỉ dám làm có một nửa…” – Dostoievski nói thế. Và ông đã đẩy suy tư tới cùng, phân tích tới cùng tâm lí chiều sâu của nhân vật nhiều dạng, qua đó cho ra đời hàng loạt kiệt tác mang tính khai phá lớn, tạo ảnh hưởng sâu rộng đến văn học và tư tưởng thế giới. Còn ở ta: chỉ có sợ hãi. Sợ hãi, để khi được “cởi trói”, nhà văn mới dám động cập nửa vời đến một “hiện thực” nào đó. Sợ hãi, cho nên dù đã được phép, nhà văn cũng không dám đẩy vấn đề đến cùng. Văn học ta muôn năm tụt hậu với hiện thực đời sống, là vậy. Vì đâu? Ta chủ trương phản ánh hiện thực, nhưng chính ta vội vã rụt đầu lại, nếu mấy phản ánh kia đụng chạm tới căn cốt hiện thực.

Mâu thuẫn đầy nguy cơ tiềm ẩn ngay trong chủ trương văn học phản ánh hiện thực; mâu thuẫn lộ bày trọn vẹn qua nỗi than thở “sáng tác không theo kịp hiện thực đời sống”. Thế là ta tiếp tục chương trình hội thảo để bàn về tiếng than thở ta vừa phát ra ấy. Những tiếng than thở rất giả.

Chủ nghĩa hiện thực của ta bên cạnh lạc hậu, vẫn là thứ chủ nghĩa hiện thực giả.

 

Câu hỏi đặt ra: Có phải “tất cả” văn chương tiếng Việt không theo kịp hiện thực đời sống?

Các hiện thực đời sống sôi động dăm năm qua với sự kiện Hoàng sa – Trường Sa, sự tan vỡ toàn diện của môi trường nông thôn, mấy thế hệ nông dân mất đất đổ tràn vào phố, rừng đầu nguồn bị tàn phá, sự cố Văn Giang, đập thủy điện các nơi đe dọa làng xóm miền hạ lưu, tình trạng éo le của chục vạn cô dâu Việt ở xứ lạ quê người,… có phải chưa từng có mặt trong các trang viết nóng bỏng của nhà văn, nhà thơ đương đại? Lê Vĩnh Tài với trường ca Vỡ ra mưa ấm (2005), Đêm & những khúc rời của Vũ (2008), Thơ hỏi thơ (2010), và mới nhất: Ăn của rừng rưng rưng nước mắt, Thơ hỏi thở, Cánh đồng bất nhân. Rồi Trần Tiến Dũng qua Hai đóa hoa trên trán cho công dân hạng hai (2004), Mây bay là bay rồi (2010); Inrasara với tập thơ thời sự trong nước và thế giới: Ở nơi ấy [thơ thời cuộc] (2009); Bùi Chát với Thơ một vần (2009); các sáng tác thơ, truyện của Nguyễn Viện, Chiêu Anh Nguyễn,… cùng mấy mươi cây bút phi chính thống khác?

Có thể nói, hầu hết điểm nóng thời sự [hiện thực đời sống] trên thế giới và nhất là ngay tại quốc nội được động cập thẳng thừng đầy tính phản biện tràn ngập các trang viết đó. Ta đòi hỏi hiện thực là hiện thực nào? Và đâu là đất cho các sáng tác đầy tính hiện thực kia xuất hiện và thể hiện?

 

2. Còn khi nói “phê bình không theo kịp đời sống văn học”, người phát ngôn ý định phê phán phê bình chưa làm đầy đủ chức năng của mình. Cả khía cạnh này ta cũng bất cập. Bởi đuổi theo đời sống văn học [để có thể gọi là theo kịp hay không kịp] không phải nhiệm vụ chính của phê bình. Bên cạnh phát hiện và quy phạm hóa cái đẹp, phê bình còn có nhiệm vụ khai mở cho cái đẹp mới lộ diện. Nếu chức năng trước phụ thuộc vào tác phẩm, nghĩa là phê bình lẽo đẽo đi sau sáng tác để làm phê bình, thì chức năng sau dành ưu tiên cho việc “lập thuyết”, một dạng phê bình khả năng dẫn đạo sáng tác. Hai chức năng này song hành tồn tại trong đời sống văn học. Cho nên, không thể nói phê bình không phát triển được bởi chưa có sáng tác hay. Phê bình đi sau, song hành, và cả đi trước sáng tác văn học. Trong quá khứ, đã có không ít phê bình mở đường cho sáng tác. Phong trào siêu thực khởi đầu từ Tuyên ngôn siêu thực ra đời vào năm 1924, ở đó chủ trương thực tại đích thực nằm trong vô thức, và bổn phận tối thượng của nghệ sĩ là làm cho chúng hiện thể trong tác phẩm nghệ thuật bất kể nó phi lí tới đâu, đã dẫn đạo sáng tác siêu thực gần mươi năm sau đó. Đó là loại phê bình “đi trước” sáng tác, đi trước cả “thị hiếu chung của xã hội”.

Phê bình cần bám sát đời sống văn học, là một phát ngôn lỗi thời.

 

Cả ở đây nữa, cứ tạm cho đó là một chân lí bất di bất dịch, như ta quan niệm.

Vậy, đâu là “đời sống văn học”? Đề cập đời sống văn học, ta nhấn vào “thực tiễn sáng tác đa dạng, phong phú và phức tạp”. Ngày qua ngày, các tác phẩm thuộc nhiều dòng, nhiều loại cấp tập ra đời, đã có bài điểm sách giới thiệu. Buổi ra mắt sách, có. Bàn tròn văn chương, có. Hội thảo văn học, có. Ta có tất! Thế nhưng nhìn tổng thể, phê bình hôm nay vẫn cứ né tránh sự kiện hay trào lưu văn học mới lạ cùng mấy sự cố văn học nhạy cảm.

Ai né tránh? – Nhà phê bình chính thống. Cơ quan nào không dám trực diện với vấn đề? – Vẫn là báo chí dòng chính.

Cả thập kỉ hình thành và phát triển của sáng tác hậu hiện đại, mười năm từ khi thơ tân hình thức mở mắt chào đời, ta chưa có một hội thảo nhỏ, lớn nào bất kì về hai trào lưu văn học đang làm sôi động văn đàn tiếng Việt(2). Thơ nữ quyền hay văn chương mạng hoặc thơ trình diễn, không tìm đâu ra bài viết mang tính tổng hợp hay đánh giá trên báo chuyên của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhóm Mở Miệng hay Ngựa Trời, ta né tránh đã đành, ngay Chuyện kể năm 2000, Dự báo phi thời tiết rồi mới đây Sát thủ đầu mưng mủ được phép in nhưng rồi bị dư luận phê phán mạnh mẽ hay bị thu hồi, báo chuyên văn học dòng chính vẫn chưa một lần vào cuộc.

Tại sao? Cả ở đây nữa, hoặc ta sợ đối mặt với cái mới lạ, hoặc ta rơi vào thế kẹt của nỗi nhạy cảm vừa lộ thiên vừa rất trừu tượng. Thế nhưng, có phải tất thảy nhà phê bình đều không theo kịp đời sống văn học?

 

Thử ngoảnh lại mươi năm qua, khi Nguyễn Thế Hoàng Linh, Bùi Chát, Lê Vĩnh Tài, Đặng Thân, Lý Đợi, Phan Thị Vàng Anh, Phan Bá Thọ, Đinh Thị Như Thúy, Như Huy, Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Lynh Bacardi, Lê Anh Hoài, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phạm Lưu Vũ, Nhật Chiêu, Lê Minh Phong, Vũ Lập Nhật, Đoàn Minh Châu, Vũ Thành Sơn, Tuệ Nguyên, Tiểu Anh, Lưu Mêlan… xuất hiện, thì đã có ngay những Phạm Xuân Nguyên, Lã Nguyên, Inrasara, Trần Ngọc Hiếu, Phùng Gia Thế, Khánh Phương, Nhã Thuyên, Trần Thiện Khanh, Liêu Thái, Đoàn Ánh Dương, Đoàn Minh Tâm, Phạm Xuân Thạch, Hoàng Thụy Anh, Ngô Hương Giang, Phan Tuấn Anh… giới thiệu, nhận diện và bình luận. Rất kịp thời.

Và ai dám cho rằng các bài phê bình, tổng hợp kia “thiếu tính học thuật”, hay thiếu “phân tích một cách khoa học”? Còn “nói phê bình thiếu tính chiến đấu”, hỏi họ chiến đấu với ai, nếu không phải là nỗ lực đánh đổ mấy lạc hậu, lỗi thời để cho cái mới hạ sinh và phát triển?

Khác điều, đại đa số các bài phê bình kia xuất hiện trên mạng thông tin toàn cầu, chứ hiếm khi có mặt trên báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, tạp chí Nhà văn… Nhận định “phê bình không theo kịp đời sống văn học”, người phát ngôn đã bỏ quên phương tiện xuất bản mới là các trang mạng văn học ấy!

Không biết, hay cố tình không biết?

Dù gì thì gì, đó chính là thái độ né tránh hiện thực thực nhất của đời sống văn học đương đại.

 Sài Gòn, 9-8-2012

______

 Chú thích:

(*) Tiêu đề bắt chước lối nói của nhà thơ Chế Lan Viên: “Thơ bình phương – đời lập phương”.

(1) Nguyễn Hưng Quốc đã có bài phê bình về vấn đề này trong “Những nhà phê bình mù”, 2007, Mấy vấn đề phê bình và lí thuyết văn học, NXB Văn mới, USA, tr. 63-88.

Các trích dẫn ở trong ngoặc kép được trích từ: “Công tác lí luận, phê bình văn học, nghệ thuật khu vực phía Bắc”, báo Điện tử Tổ quốc, 14-7-2012, http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/49/doi-song-van-hoc/109367/cong-tac-ly-luan-phe-binh-van-hoc-nghe-thuat-khu-vuc-phia-bac.aspx và “Bắt mạch thực trạng phê bình văn học hiện nay”, báo Văn nghệ trẻ, 7-2012, http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=15809

(2) Về hậu hiện đại, tạp chí Sông Hương có chuyên đề “Dấu ấn hậu hiện đại”, số tháng 7-2011; còn tạp chí Nhà văn mãi năm 2012 (số tháng 6, 7 & 8) mới vào cuộc, nhưng không tập trung. Về thơ Tân hình thức, tạp chí Sông Hương cũng đi trước, chuyện đề được thực hiện ở số tháng 6-2012.

Ngày tận số của ông ta đã điểm. – BĐX

14 Th9

Ngày tận số của ông ta đã điểm.

Lâu nay tôi chỉ tâm niệm ông ta chỉ là kẻ tham lam ít chữ nghĩa nên sẽ chỉ là kẻ tham lam vô độ. Chính nó là nguyên nhân trực tiếp làm suy kiệt kinh tế Việt Nam, biến nhiều tầng lớp nhân dân thành người bần cùng, tạo nên mâu thuẫn kịch liệt không thể “đội trời chung” giữa giầu và nghèo. Như thế, theo quy luật Tắc – Thông, tắc đến tận cùng sẽ có biến để thông, sẽ là cơ hội để nhân dân vùng lên làm chủ đất nước, làm chủ dân tộc.
 
Tôi cũng thấy ông ta là người không có học thuyết, tư tưởng gì. Cho rằng, ông ta chỉ như một con cáo già tham lam quỷ quyệt, quyết bắt gà trong vườn nhà mình đến con cuối cùng mà thôi. Đó là ” bản tính” phổ biến của kẻ tham lam, ít chữ nghĩa và có cơ hội để tham lam.
 
Chiếu luận điểm này vào ông ta thì thấy không có gì sai. Hầu hết những vụ đổ bể kinh tế, tham ô tham nhũng, cướp đất cảu dân, phá doanh nghiệp… của nước ta đều có nguyên nhân từ ông ta. Giường như “mâm cỗ” giao cho ông ta quản lý, nhưng ông ta không muốn chia phần cho những đồng chí khác.( ảnh trên Ba đam xoe, ký họa của Ngô Chính)
 
 
Vì cái lòng tham chón hết chỗ trong đầu óc ông ta nên tôi nghĩ sẽ có khoảng trống cho tự do, dân chủ phát triển.
 
Nhưng với thông báo mới toanh ngày 12.9 nhằm điều tra, xử lý nghiêm việc đăng tải thông tin chống Đảng và Nhà nước của ông ta,  buộc tôi phải nghĩ lại.
 
Trong đầu hiện lên một thống kê:
 
– Dẹp viện nghiên cứu độc lập ID chính là ông ta.
 
– Bỏ Cù Huy Hà Vũ chính là ông ta.
 
– Bỏ tù nhóm ngôn luận Thái Bình, Hải Phòng, Hà Đông … chính là ông ta.
 
– Bỏ tù bloger Nguyễn Văn Hải và những người trong CLB nhà báo tự do, chính là ông ta
 
Và còn nhan nhãn những vụ khác như Bùi Thị Hằng, Phạm Thanh Nghiêm, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, 17 thanh niên Thiên chúa giáo… cũng chính là ông ta.
 
Tất cả các vụ bắt giữ, bỏ tù, khủng bố những người này, họ đều là những người không có tội, đều bị dư luận quốc tế, đặc biệt là dư luận Mỹ phản đối. Thực tế những người này chỉ thuần túy thực hiện quyền tự do ngôn luận phù hợp với quyền con người của Liên Hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết thực hiện, nó cũng phù hợp với hiến pháp và pháp luật của Việt Nam. Mục tiêu của họ cũng chỉ là cổ vũ cho tự do, dân chủ, công khai, minh bạch theo đúng những gì mà đảng đã nói.
 
 
Xem ra những vụ đàn áp, bắt bớ bỏ tù và khủng bố những người có tiếng nói cổ súy cho dân chủ duới thời ông ta làm thủ tướng nhiều và tàn khốc hơn 2 thủ tướng tiền nhiệm trước đây.
 
Trong khi:
 
Đất nước đang đứng trước họa xâm lăng của TQ, chẳng thấy ông ta nói gì?
 
Kinh tế đất nước đang tuột dốc không phanh, không thấy ông ta nói gì?
 
Người Việt bị chết ở trong nước và khắp nơi trên thế giới lên tới con số cả trăm mà cũng không thấy ông ta nói gì?
 
Và, trong lúc chính ông ta cũng đang lo giữ ghế với Bộ chính trị, với trung ương đảng, với quốc hội thì ông ta cũng không quên ký tiếp một văn bản mới nhằm truy lùng, khủng bố, bắt bớ, bỏ tù, bịp mồm những người có tiếng nói tự do.
 
Thế thì ông ta làm gì còn kẻ hở tiến bộ nhỏ nhoi nào cho dân ta tin và ủng hộ ông ta nữa. Tôi nghĩ rằng, với thông báo mới đây của ông ta, ông ta đã tiệm cận đến con số O tròn chĩnh. Tôi tin, số trời đã định, đó sẽ là ngày tận số của ông ta.
 
BĐX

Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ: Thông qua nghị quyết lên án Trung Quốc – PLTP

14 Th9

Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ: Thông qua nghị quyết lên án Trung Quốc

Đài Loan điều hai tàu tuần duyên đến quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Ngày 12-9 (giờ địa phương), Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đã thông qua Nghị quyết H.R. 6313 khẳng định Mỹ ủng hộ mạnh mẽ giải pháp hòa bình đối với tranh chấp ở biển Đông và biển Hoa Đông.

Báo Jiji Press (Nhật) đưa tin nghị quyết đã lên án Trung Quốc (TQ) sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực bằng tàu cá, tàu bán dân sự, tàu hải quân ở biển Đông và biển Hoa Đông trong những năm qua. Nghị quyết ủng hộ quân đội Mỹ tiếp tục các hoạt động hỗ trợ tự do đi lại ở lãnh hải và không phận quốc tế tại biển Đông và biển Hoa Đông.

Sau khi nghị quyết được thông qua, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Ileana Ros-Lehtinen đã chủ trì buổi điều trần với chủ đề “Bắc Kinh – cường quốc mới nổi ở biển Đông”.

Thành phần tham dự điều trần gồm toàn thể Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, GS Toshi Yoshihara (Đại học Chiến tranh hải quân), chuyên gia Bonnie Glaser (Trung tâm Nghiên cứu và chiến lược), chuyên gia Peter Brookes (Quỹ Di sản), TS Richard Cronin, Giám đốc Chương trình châu Á (Trung tâm Stimson Center).

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ Ileana Ros-Lehitinen phát biểu tại phiên điều trần ngày 12-9 (giờ địa phương). Ảnh: YOUTUBE

Chủ tịch Ủy ban Quan hệ đối ngoại Hạ viện Ileana Ros-Lehtinen chỉ trích TQ lấn át các nước láng giềng nhằm trở thành quyền lực thống trị ở châu Á, kiểm soát các tuyến đường biển sống còn để lèo lái thương mại và vận chuyển dầu.

Nghị sĩ Howard Berman đề nghị chính phủ Mỹ cần tiếp tục gây áp lực buộc TQ giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình. Nghị sĩ Mike Kelly nhận định Mỹ nên cứng rắn hơn nữa với TQ.

Theo trang web của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, GS Toshi Yoshihara đã kêu gọi Mỹ và các đồng minh tích cực hỗ trợ năng lực an ninh cho các nước Đông Nam Á để đối phó động thái xâm lấn của TQ ở biển Đông.

Chuyên gia Bonnie Glaser nhận định cách hành xử của TQ ở biển Đông trong những tháng qua là có chủ ý và có hệ thống chứ không phải do các cơ quan quản lý biển TQ phối hợp chồng chéo.

Bà ghi nhận đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy đã có quyết định từ cấp lãnh đạo cao nhất chấp thuận leo thang chính sách ngoại giao cưỡng bức. Bà cảnh báo cách hành xử này sẽ dẫn đến hệ lụy lớn hơn ở khu vực và trên toàn cầu.

Chuyên gia Peter Brookes cảnh báo nếu Mỹ mặc nhiên để TQ tuyên bố chủ quyền rộng lớn ở biển Đông, an ninh của đồng minh và đối tác của Mỹ ở Đông Á có thể bị ảnh hưởng xấu, từ đó lợi ích Mỹ trong khu vực sẽ bị tổn hại.

Ông cho rằng nếu Mỹ không gánh vác vai trò lãnh đạo để đáp trả TQ, vị thế của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng. Hơn nữa, thái độ Mỹ nhượng bộ các tuyên bố chủ quyền của TQ ở biển Đông cũng làm suy yếu các quy định về chủ quyền và hàng hải đã được ghi nhận rộng rãi như Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và đặt ra tiền lệ hàng hải đáng lo ngại về pháp lý và thực tiễn.

TS Richard Cronin nhận định để gia tăng ảnh hưởng trong vấn đề biển Đông, Mỹ cần phê chuẩn UNCLOS.

Ngày 13-9, người đứng đầu lãnh thổ Đài Loan Mã Anh Cửu đã chỉ thị cho cơ quan ngoại giao tìm kiếm sự ủng hộ của Nhật đối với Sáng kiến hòa bình biển Hoa Đông (gác lại tranh chấp, hợp tác thăm dò tài nguyên) do Đài Loan đề xuất. Hãng tin CNA (Đài Loan) đưa tin trước đó cơ quan tuần duyên Đài Loan đã điều hai tàu tuần duyên đến cách quần đảo Senkaku/Điếu Ngư 46 km.

LÊ LINH – ĐĂNG KHOA

TQ xây mạng thông tin trái phép trên đảo Việt Nam – TTXVN

14 Th9

TQ xây mạng thông tin trái phép trên đảo Việt Nam

 

 

CÁC TIN LIÊN QUAN

“Giải quyết tranh chấp Biển Đông theo luật quốc tế”
Australia và Singapore tuyên bố có cùng quan điểm về vấn đề Biển Đông, kêu gọi tìm giải pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.

 

Nhật-Malaysia hối thúc giải quyết tranh chấp biển Đông
Nhật Bản và Malaysia hối thúc Trung Quốc và các nước Đông Nam Á giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông theo luật pháp quốc tế.

 

Trung Quốc xây dựng cơ sở trái phép trên đảo Phú Lâm của Việt Nam
Theo Tân Hoa xã ngày 13/9, nhằm thúc đẩy bao phủ hiệu quả mạng lưới thông tin tại các đảo và vùng biển thuộc cái gọi là “thành phố Tam Sa,” Cục Quản lý Thông tin tỉnh Hải Nam đang tiến hành xây dựng dự thảo “Quy hoạch các hạng mục xây dựng mạng thông tin thành phố Tam Sa.”
 
Đây là bước đi mới nhất trong một loạt các hoạt động thời gian qua của phía Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.
 
Theo quy hoạch kể trên, tỉnh Hải Nam sẽ xây mới 51 trạm thông tin tại các đảo, 104 trạm trên các tàu và 8 tuyến cáp quang vượt biển. Hiện nay, quy hoạch này đang trong quá trình chỉnh sửa hoàn thiện.
 
Cục trưởng Cục quản lý thông tin tỉnh Hải Nam, ông Tiết Lương Yên ngang nhiên tuyên bố việc hoàn thiện bao phủ mạng lưới thông tin hải dương “thành phố Tam Sa” sẽ giúp đảm bảo thông tin cho các hoạt động du lịch, nghề cá tại địa phương, có thể phục vụ tốt hơn cho đời sống và phát triển kinh tế của quân đội, nhân dân trên địa bàn “thành phố Tam Sa.”
 
Được biết, việc vận hành thương mại mạng di động, điện tín, trạm thông tin và trung tâm Internet hiện đã bao phủ diện tích bán kính 70 km xung quanh đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và toàn bộ 7 đảo Trung Quốc chiếm đóng và khu vực phụ cận thuộc vùng biển Trường Sa của Việt Nam.
 
Trước đó, vào ngày 22/7, Công ty truyền thông mạng liên hợp China Unicom Hải Nam đã đưa vào hoạt động trái phép Trạm thu phát sóng di động (BTS) 3G trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
Hôm 19/7, cơ quan khí tượng tỉnh Hải Nam cũng thông báo đã có các thiết bị quan trắc khí tượng bằng radar thế hệ mới trên mặt đất và trên không tại đảo Phú Lâm.
 
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự đồng ý của Việt Nam là nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.
 
Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là trái với Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển đã ký giữa hai nước, không phù hợp với Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như các cam kết duy trì ổn định, hòa bình trên biển./.

(Vietnam+)

Trung Quốc tập trận rầm rộ “đe” Nhật Bản – NLĐO

14 Th9

Trung Quốc tập trận rầm rộ “đe” Nhật Bản

(NLĐO) – Báo chí Trung Quốc cho biết quân đội nước này cùng lúc tiến hành nhiều cuộc tập trận bắn đạn thật trong bối cảnh Nhật Bản vừa mua một phần của quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Theo các chuyên gia, động thái khá hiếm này là một lời cảnh báo với Nhật về việc quốc hữu hóa Senkaku/Điếu Ngư.
 
Báo Dương Tử buổi tối cho biết quân khu Nam Kinh, Thành Đô, Quảng Châu và Tế Nam gần đây đều tập trận quy mô lớn. Tại quân khu Tế Nam tiến hành diễn tập đổ bộ lên đảo nhằm đánh giá năng lực chiến đấu của lực lượng phòng không mặt đất và sự hiệu quả của máy bay chiến đấu.
 
Đặc biệt, quân khu Nam Kinh – đơn vị phụ trách biển Hoa Đông – đã tập trận bắn đạn thật kết hợp không quân, hải quân và lực lượng tên lửa chiến lược ở Hoàng Hải và sa mạc Gobi vào đầu tháng 9. Ngoài ra, Không quân Trung Quốc cũng tập trận bắn đạn thật với tên lửa phòng không trong điều kiện bị gây nhiễu.
 
Nhiều chuyên gia chiến lược nhận xét những kiểu diễn tập tấn công và phòng thủ như vậy là một thông điệp cảnh báo rõ ràng với Nhật Bản rằng Trung Quốc đang chuẩn bị và rất tự tin về việc bảo vệ Senkaku/Điếu Ngư.
 
Lực lượng không quân ở tỉnh Vân Nam diễn tập cấp cứu quân sự trong hai ngày 10 và 11-9
(Ảnh: TÂN HOA XÃ)
 
Binh lính thuộc quân khu Nam Kinh tiến hành tập trận (Ảnh: CHINAMIL.COM.CN)
 
Hạm đội Bắc Hải của Hải quân Trung Quốc tập trận kéo dài 5 ngày tại Hoàng Hải vào đầu tháng 9
(Ảnh: TÂN HOA XÃ)
 

Các cuộc diễn tập được cho là thông điệp cảnh báo Nhật Bản rằng
Trung Quốc tự tin trong việc bảo vệ Senkaku/Điếu Ngư (Ảnh: TÂN HOA XÃ)
H.Bình (Theo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, Thời báo Bắc Kinh)

Oan cho người Việt!

14 Th9

Oan cho người Việt!

 “Xem chuyện tò mò, tọc mạch, bôi xấu lẫn nhau là đặc tính của người Việt là oan cho người Việt” – chuyên gia kinh tế, nhà nghiên cứu, Chủ tịch InvestConsult Group Nguyễn Trần Bạt nói.

Tọc mạch là thói xấu bản năng của con người

– Bàn về tính cộng đồng của người Việt người ta cho rằng đây là một đặc tính khá tốt, nó thể hiện sự quan tâm, tương trợ lẫn nhau. Tuy nhiên bên cạnh những đặc tính tốt đấy nó cũng dẫn đến một số những thói quen xấu như tính tọc mạch hay nói xấu giữa các doanh nghiệp với nhau để đạt được mục đích kinh doanh của mình. Ông có nghĩ như vậy không?

Ông Nguyễn Trần Bạt: Xem chuyện tò mò, tọc mạch, bôi xấu lẫn nhau là đặc tính của người Việt là kết luận không đúng và oan cho người Việt.

Đặc tính ấy có ở mọi tộc người trên thế giới. Người Việt chúng ta chưa có kinh doanh chuyên nghiệp, chưa có kinh nghiệm tổ chức xã hội dân sự và dàn xếp dân sự chuyên nghiệp cho nên thể hiện một cách bản năng, không biết che đậy, không biết giấu giếm, không biết dàn xếp các thói xấu của mình, chứ không phải thói xấu ấy chỉ là của người Việt.

 

Ông Nguyễn Trần Bạt.

 

– Vậy theo ông thì trong kinh doanh có hiện tượng nói xấu lẫn nhau không?

– Luôn luôn có và đấy là vết của tính không chuyên nghiệp, là vết của bản năng con người trong kinh doanh, bản năng chưa được giáo dục, chưa được dạy dỗ, chưa được huấn luyện và chưa chuyên nghiệp của con người khi tham gia kinh doanh.

Không nên xếp những khuyết tật ấy vào đời sống kinh doanh, mà nó là những khuyết tật mang theo của con người khi tham gia vào đời sống kinh doanh.

Khi chú ý đến khía cạnh ấy là chú ý đến chất lượng con người của cộng đồng xã hội chứ không phải là chất lượng của con người tham gia vào cộng đồng kinh doanh.

Nói như thế chúng ta mới thấy được mục tiêu của giáo dục đào tạo là loại bỏ bớt tính bản năng của con người khi nó tham gia vào đời sống kinh doanh, để nó không mang theo quá nhiều tật xấu bản năng mà mọi con người đều có. Cái xấu ấy không chỉ có trong kinh doanh, nó có cả trong thể thao, có trong biểu diễn nghệ thuật, có trong nhiều thứ và đấy là khuyết tật thuộc về con người khi nó tham gia vào những hoạt động chuyên nghiệp khác nhau của đời sống mà chưa được giáo dục đầy đủ.

– Ông nói khuyết tật thuộc về con người, nó chỉ xuất hiện ở cộng đồng người Việt mình hay trên thế giới cũng như vậy?

– Trên toàn thế giới, và chính vì những thói xấu bản năng như vậy của con người cho nên hệ thống luật pháp của các quốc gia phát triển bao giờ cũng chặt chẽ. Lý do là để điều chỉnh chất lượng chuyên nghiệp, loại bỏ bớt tất cả tính ngẫu nhiên bản năng của con người trước khi nó tham gia vào một loại hoạt động.

– Còn ở Việt Nam thì sao, thưa ông?

– Ở Việt Nam chúng ta chưa nhận ra điều ấy, chúng ta chưa điều chỉnh chuyện ấy. Thậm chí không chỉ trong kinh doanh, mà ngay cả trong hoạt động xã hội, hoạt động chính trị đôi khi chúng ta vẫn thấy rất nhiều thói xấu. Kiêu ngạo quá, oai quá, đấy là một loại thói xấu. Thói xấu ấy không có tính chính trị, không có tính tư tưởng mà nó hoàn toàn là thói xấu bản năng. Bởi chúng ta chưa được huấn luyện và chưa được điều chỉnh để những thói xấu bản năng ấy mất đi trước khi chúng ta bước vào các hoạt động chuyên nghiệp như hoạt động nhà nước, hoạt động chính trị, hoạt động kinh doanh, hoạt động nghệ thuật.v.v

– Theo ông thì trong vấn đề này, trách nhiệm thuộc về ai?

– Thuộc về xã hội chúng ta. Nhân dân chúng ta chưa biết đòi hỏi, nhà nước chúng ta chưa biết thức tỉnh nhân dân để họ đòi hỏi chuyện này. Các trí thức của chúng ta cũng chưa nhận ra những khuyết điểm ấy cản trở chất lượng chuyên nghiệp của các loại hoạt động của xã hội. Nếu nhà nước thức tỉnh trước thì nhà nước gợi ý chứ không bắt buộc, vì bắt buộc thì trở thành thiếu tự do, thiếu tôn trọng con người. Bởi khuyết điểm thuộc về con người cũng là quyền của con người. Chúng ta gợi ý con người, gợi ý xã hội. Xã hội bàn thảo, xã hội ủng hộ, xã hội đề nghị và nhà nước cho ra đời những bộ luật điều chỉnh những hành vi cơ bản như vậy giúp cho con người bước vào các hoạt động chuyên nghiệp một cách chuyên nghiệp.

Chuyện này tôi không nói để chơi mà đây chính là một trong những giai đoạn quan trọng của quy trình chuyên nghiệp hóa đời sống xã hội. Ví dụ tôn trọng pháp luật, giật mình trước việc mình vi phạm pháp luật một cách bản năng, một cách kín đáo ngay cả trong phòng ngủ cũng là một bản năng thể hiện tính được giáo dục của một xã hội. Chúng ta chưa giật mình.

Tôi kể các bạn nghe một câu chuyện cổ: Có một ông nhà giàu đến đút lót một người bạn cũ là một ông quan lớn. Ông quan lớn từ chối thì ông nhà giàu bảo, tại sao anh lại từ chối tôi, làm gì có ai biết mà anh từ chối. Ông quan bảo, anh nhầm, có tôi biết, anh biết và trời biết.

Khi nào chúng ta rèn luyện được một xã hội mà ngay cả khi chỉ có một mình chúng ta cũng vẫn nhận ra sự vi phạm pháp luật của mình thì đấy là những dấu hiệu để có thể nói rằng xã hội chúng ta đã bắt đầu những bước đi cơ bản đến chuyên nghiệp. Đương nhiên có những sự vi phạm pháp luật nằm ngoài nhận thức, tức là không biết. Tất cả những sai lầm ấy tích tụ thành những kinh nghiệm để chính mỗi con người tự điều chỉnh và chính nhà nước của nó, cộng đồng của nó cũng thức tỉnh để bổ sung và sửa đổi pháp luật để điều chỉnh một cách tinh tế hơn, một cách toàn diện hơn, một cách sâu sắc hơn các hành vi của con người. Cái đó người ta gọi là tinh thần của pháp quyền.

Chúng ta chưa được huấn luyện để loại bỏ thói xấu bản năng

– Ông nói thói quen chĩa mũi, tọc mạch luôn có ở trong cộng đồng người Việt. Có phải khi đưa vào kinh doanh họ cũng mang theo những thói xấu ấy cho nên văn hóa kinh doanh và đạo đức kinh doanh của chúng ta chưa được tốt lắm?

– Thói quen tò mò, tọc mạch, cạnh tranh, đố kỵ, bôi xấu là thói quen của loài người, không phải chỉ riêng người Việt.

Người Việt chúng ta khác những người khác ở chỗ chúng ta chưa được huấn luyện trước đó. Chúng ta chưa có các quy tắc để chuẩn hóa các hành vi trước khi con người thông thường tham gia vào các hoạt động chuyên nghiệp như kinh doanh, như chính trị hay biểu diễn nghệ thuật. v.v

Việc hạn chế các mặt tiêu cực về mặt tính cách ấy của con người cần phải được điều chỉnh rộng lớn trên qui mô toàn xã hội. Bởi mỗi một con người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống kinh doanh, đời sống nghệ thuật.v.v Những cái đó được gọi là sinh hoạt chuyên nghiệp. Trước khi tham gia vào các sinh hoạt chuyên nghiệp thì họ cần phải được chuẩn hóa, họ cần phải để những thói xấu tự nhiên mà con người có ra bên ngoài không gian của hoạt động chuyên nghiệp. Sau khi về nhà họ làm việc gì thì đấy là việc bình thường của họ.

Chuyên nghiệp hóa là gì? Chuyên nghiệp hóa là chuẩn bị loại bỏ các phẩm chất không phù hợp với đời sống chuyên nghiệp. Anh là nhạc công, là người biểu diễn nghệ thuật cổ điển thì không thể nói giống như bà bán cá ngoài chợ được, vào nhà hát lớn phải đi nhẹ, nói khẽ. Đấy là những đòi hỏi nhiều khi rất nhỏ nhưng nó là đòi hỏi chuyên nghiệp. Anh cần phải rèn cho anh đôi tai, đôi tai ấy chưa phải là đôi tai thiên tài nhưng phải là đôi tai tối thiểu để anh có thể tham gia vào một loại hoạt động. Ví dụ nếu cãi nhau thì anh phải rất thính để anh nghe tiếng thở dài trong kẻ cãi với anh để biết là nó sắp thua hay nó sắp thắng.

Trong đời sống chính trị cũng như vậy, anh phải quan trắc được vẻ buồn, vẻ bất lực trong khuôn mặt của đối thủ chính trị của mình. Trong kinh doanh anh phải đo được sự nôn nóng. Tất cả những thứ bản năng như vậy là bản năng chuyên nghiệp, nhưng bản năng trước chuyên nghiệp là anh phải loại bỏ khi anh bước vào một lĩnh vực chuyên nghiệp. Chúng ta chưa chuyên nghiệp hóa là bởi vì chúng ta chưa có tiêu chuẩn đầu vào của các không gian hoạt động chuyên nghiệp. Ví dụ khi người ta phỏng vấn bà Trịnh Văn Bô trên truyền hình, bà ấy nói rằng, chúng tôi phân biệt rất rõ giữa con buôn và nhà buôn. Tính chất chuyên nghiệp của thương mại chính là sự phân biệt giữa con buôn và nhà buôn.

Đạo đức trong kinh doanh của chúng ta rất thấp

– So với các nước trên thế giới thì vấn đề đạo đức trong kinh doanh ở các doanh nghiệp của nước ta được đánh giá như thế nào, thưa ông?

– Thấp hơn rất nhiều bởi vì chúng ta không có đủ năng lực để tuân thủ. Ví dụ, rất nhiều người tham gia vào quá trình kinh doanh không đủ năng lực để tuân thủ các cam kết có chất lượng hợp đồng trực tiếp hoặc gián tiếp. Hợp đồng trực tiếp là hợp đồng mình ký, hợp đồng gián tiếp là hợp đồng mà các cộng đồng đã ký với nhau, khi tham gia vào cộng đồng lớn ấy chúng ta bắt buộc phải tuân thủ.

– Theo ông, vấn đề đạo đức trong kinh doanh của những người trẻ tuổi so với những người thuộc thế hệ trước có sự khác nhau không?

– Khác nhau rất xa. Thế hệ trẻ hiện nay có năng lực hơn thế hệ trước. Nhưng, thế hệ trẻ hiện nay thiếu nhiệt huyết để khai thác hết năng lực của mình. Thế hệ già có nhiệt huyết hơn nhưng thiếu năng lực. Nếu muốn thì thế hệ trẻ sẽ có đủ năng lực để thực hiện các cam kết. Nhưng thế hệ trẻ bây giờ đa số thích làm công hơn là làm chủ, bởi làm chủ là phải chịu trách nhiệm. Có những người thích làm chủ thì họ lại thích làm chủ dựa vào sự liều mạng nhiều hơn là sự hiểu biết, cho nên mới đẻ ra các hiện tượng lộng hành trong đời sống kinh doanh.

Tính cộng đồng có vai trò vô cùng quan trọng

– Ông đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của tính cộng đồng trong sự phát triển của kinh doanh?

– Vô cùng quan trọng, trong nội dung của hoạt động kinh doanh có cả sản xuất và mua bán. Mua bán cũng cần có phổ biến kinh nghiệm, và quá trình mua bán thuần túy nó đã phát triển từ chợ cóc đến siêu thị, từ hình thức mua bán trao tay đến mua bán điện tử, đã phát triển từ hình thức mua bán những nhu yếu phẩm có tính chất cá nhân đến những quan hệ mua bán có chất lượng nhà nước đối với các đối tượng khoa học và công nghệ, kỹ thuật lớn. Mua bán cũng phát triển và do đó việc tạo ra tính cộng đồng, tạo ra sinh hoạt cộng đồng để trao đổi các kinh nghiệm mua bán là vô cùng quan trọng. Người ta có thể mua rẻ và bán đắt, mua hớ và bán hớ, nhưng cái đắt, rẻ ấy không tạo ra được tính chất bình đẳng của đời sống thương mại. Tiền đề của tính công bằng trong đời sống thương mại chính là bắt đầu từ sự phẳng của môi trường thông tin. Mà tính cộng đồng chính là một trong những dung môi quan trọng để tạo ra tính bình đẳng, tính phẳng của các môi trường thông tin.

Tính cộng đồng vô cùng quan trọng. Trong kinh doanh không chỉ có chúng ta, những nhà kinh doanh với nhau mà còn có nhà nước và chính sách. Nhà nước và chính sách là yếu tố phụ trợ, yếu tố xúc tiến, yếu tố kìm hãm cả mặt tiêu cực lẫn mặt tích cực của đời sống kinh doanh. Thỉnh thoảng có xuất hiện những khía cạnh tiêu cực của vai trò nhà nước lẫn chính sách. Tính cộng đồng trong kinh doanh luôn luôn là một sức mạnh để phản ánh trong những lúc cần thiết, để đấu tranh, để chế ngự các mặt có tính chất tiêu cực của đời sống quản lý nhà nước và quản lý chính sách. Tức là quan hệ giữa các cộng đồng kinh doanh với chính sách là một quan hệ sống còn của đời sống phát triển kinh tế.

Tính cộng đồng là vô cùng quan trọng. Nếu chỉ có một cá nhân nói mà không có sự đồng thuận của cộng đồng thì nhà nước không tôn trọng và không để ý.

Như vậy, giá trị tích cực thứ hai của tính cộng đồng là điều chỉnh và sửa đổi các hành vi quản lý nhà nước, các hành vi chính sách. Tiếng nói cộng đồng là tiếng nói đồng thuận của khu vực xã hội liên quan đến loại hình hoạt động kinh doanh sẽ làm cho nhà nước thức tỉnh nhanh hơn, sớm hơn và hành động cấp bách hơn để điều chỉnh chính sách cho phù hợp hơn, không ngăn cản, không hạn chế và có năng lực kìm hãm các khía cạnh tiêu cực của đời sống kinh doanh.

– Theo ông chúng ta phải làm như thế nào để phát huy tầm quan trọng ấy?

– Chúng ta nên định nghĩa rõ hơn định hướng xã hội chủ nghĩa trong đời sống thị trường là gì. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong đời sống thị trường chính là xác lập vai trò xúc tiến các mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực một cách nhanh chóng của nhà nước. Hay nói cách khác, nhanh chóng khắc phục các mặt tiêu cực của đời sống quản lý nhà nước và chính sách vĩ mô là một trong những khía cạnh quan trọng nhất biểu hiện định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong chuyện này các hiệp hội kinh doanh, phòng thương mại và công nghiệp đóng một vai trò đáng kể bởi đó là những yếu tố thể hiện một cách có tổ chức của khái niệm cộng đồng kinh doanh. Lâu nay chúng ta chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của các hiệp hội và của hệ thống các phòng thương mại cho nên biến nó thành những cơ sở mang nặng tính chất nhà nước, làm nó mất đi hiệu lực của xã hội mà chính nhà nước cần. Tính đồng minh với nhà nước của những tổ chức, của những hiệp hội kinh doanh một cách công khai, một cách máy móc làm cho các tổ chức này mất đi giá trị khách quan của nó.

Xin trân trọng cảm ơn ông !

Vũ Lụa (Thực hiện)

 
 
 
 
%d bloggers like this: