Lưu trữ | 9:52 Chiều

Trung Quốc sẵn sàng đụng độ tại Senkaku/Điếu Ngư – TNO

15 Th9

Trung Quốc sẵn sàng đụng độ tại Senkaku/Điếu Ngư

Trung Quốc sẵn sàng đụng độ tại Senkaku/Điếu Ngư
Tàu hải giám Trung Quốc tại vùng biển gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư – Ảnh: AFP

(TNO) Một quan chức Trung Quốc tuyên bố nước này sẵn sàng chấp nhận một cuộc xung đột nhỏ xung quanh vấn đề chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, và nói rằng họ chuẩn bị đuổi tàu của tuần duyên Nhật khỏi vùng biển xung quanh quần đảo tranh chấp.

Phát biểu được đưa ra sau thông báo của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 14.9 rằng nước này đã đệ trình tuyên bố về đường cơ sở của Trung Quốc tại quần đảo tranh chấp lên Liên Hiệp Quốc.

Ông Uất Chí Vinh, quan chức cao cấp thuộc Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc (SOA), nói với tờ báo Nhật Asahi Shimbun vào hôm nay, 15.9: “Chúng tôi sẽ phải đuổi tàu tuần duyên Nhật ra khỏi lãnh hải Trung Quốc. Chúng tôi không ngại gây ra một cuộc xung đột nhỏ”.

Ông Uất, người từng có thời gian phục vụ trong hải quân, nói thêm rằng việc đệ trình bản đồ lên Liên Hiệp Quốc có mục đích “thể hiện rõ ràng lãnh hải mới” của Trung Quốc.

Vào hôm 10.9, chính phủ Trung Quốc đã thông báo ý định biến vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư thành lãnh hải nước này.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết việc đệ trình bản đồ đã hoàn tất mọi thủ tục pháp lý cần thiết theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS).

Hôm nay, 15.9, SOA đã công bố tọa độ của quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và 70 đảo xung quanh, theo Tân Hoa xã.

Kèm theo đó, SOA cũng công bố chi tiết bản đồ vị trí, bản đồ thuyết minh và bản đồ không gian ba chiều của quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Hôm 14.9, ba ngày sau khi chính phủ Nhật quốc hữu hóa ba hòn đảo thuộc quần đảo tranh chấp, SOA đã cử 6 tàu hải giám đến vùng biển xung quanh quần đảo.

Đây là đợt tuần tra bao gồm nhiều tàu hải giám Trung Quốc nhất từ trước đến giờ tại vùng biển, theo ông Uất, người hiện là nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu phát triển hải dương thuộc SOA.

Đội tàu bao gồm tàu Hải giám 50, có độ choán nước 4.000 tấn và có thể chở theo trực thăng.

Theo tố giác của phía Nhật, các tàu hải giám Trung Quốc đã liên tục xâm nhập lãnh hải Nhật xung quanh 5 hòn đảo thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trước khi rút ra vùng tiếp giáp bên ngoài.

Trung Quốc dự kiến sẽ cử thêm tàu hải giám cũng như tàu cá đến vùng biển xung quanh quần đảo để củng cố các tuyên bố chủ quyền. Một lệnh cấm đánh cá tại biển Hoa Đông được ban hành trong ba tháng rưỡi qua dự kiến sẽ hết hiệu lực vào ngày mai, 16.9.

Sơn Duân

>> Trung Quốc muốn quốc tế hóa Senkaku/Điếu Ngư?
>> 6 tàu hải giám Trung Quốc đến Senkaku/Điếu Ngư
>> Trung Quốc tiếp tục gây sóng gió
>> Quân đội Trung Quốc “diễu võ dương oai” với Nhật
>> Trung Quốc cử tàu tuần tra đến Senkaku/Điếu Ngư
>> Nhật kiên quyết mua đảo ở Senkaku/Điếu Ngư
>> Trung Quốc sẽ thực hiện “các biện pháp cần thiết” với Senkaku/Điếu Ngư
>> Trung Quốc cảnh báo Mỹ không được xía vào Senkaku/Điếu Ngư
>> Nhật – Trung căng thẳng về Senkaku/Điếu Ngư

Viễn cảnh một cuộc đụng độ Trung – Nhật trên biển – TT&VH

15 Th9

Viễn cảnh một cuộc đụng độ Trung – Nhật trên biển

(TT&VH) – Việc tàu Trung Quốc và Nhật Bản đụng nhau gần đảo tranh chấp ở biển Hoa Đông, cộng với những phản ứng nóng nảy từ đôi bên đã làm dấy lên các giả thuyết về một cuộc đụng độ trên biển giữa đôi bên.

Trong tình huống xảy ra chiến tranh, Nhật Bản có thể lép vế trước một đạo quân trên biển đông đảo về số lượng của Trung Quốc, nhưng như thế không có nghĩa Tokyo đã cầm chắc phần thua.

Căng thẳng giữa 2 người khổng lồ ở châu Á tiếp tục tăng cao sau khi chính phủ Nhật Bản mua nhiều đảo tranh chấp thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư từ các chủ sở hữu tư nhân trong tuần này.

“Vờn nhau” trên biển

Trong động thái phản ứng với thương vụ mua bán của Nhật Bản, Trung Quốc hôm 14/9 đã điều 6 tàu hải giám vào vùng biển mà Nhật tuyên bố có chủ quyền.

Yasuhiko Oku, một quan chức thuộc lực lượng Tuần duyên Nhật Bản cho biết các tàu tuần duyên Nhật đã lập tức tiếp cận và phát tín hiệu cảnh báo, yêu cầu tàu Trung Quốc rời khỏi vùng biển tranh chấp.

Nhật Bản đang kiểm soát quần đảo tranh chấp, nhưng Trung Quốc không thừa nhận việc này. Đài truyền hình CCTV của Trung Quốc liên tục phát các đoạn video cho thấy một sĩ quan trên một tàu hải giám Trung Quốc thông báo qua sóng vô tuyến, yêu cầu phía Nhật Bản rút đi. “Hành động của các anh đang đe dọa chủ quyền của Trung Quốc. Bất kỳ hành động đơn phương nào của các anh liên quan tới quần đảo Điếu Ngư và các đảo liên quan đều là phi pháp. Hãy dừng ngay hành động phạm luật. Nếu không các anh sẽ chịu hậu quả do hành động của mình gây ra” – người này nói.

Tàu Tuần duyên Nhật Bản (trên) và tàu Hải giám Trung Quốc “vờn” nhau ở gần đảo Senkaku/Điếu Ngư

 

 

Trong bối cảnh một cơn bão đang tiếp cận khu vực tranh chấp, tới chiều 14/9, toàn bộ 6 tàu Trung Quốc đã rời khỏi khu vực biển cách đảo hơn 30km. Nhưng bầu không khí căng thẳng vẫn còn nguyên.

Cùng ngày 14/9, nhiều cuộc biểu tình chống Nhật đã diễn ra ở các thành phố lớn của Trung Quốc và báo chí nước này còn kêu gọi tẩy chay hàng hóa Nhật Bản.

Không ít giọng điệu quá khích đã xuất hiện. Tuần này, tờ báo Beijing Evening News thậm chí còn khiến dư luận kinh ngạc khi kêu gọi việc dùng vũ khí nguyên tử trong cuộc tranh chấp, cho rằng đó sẽ là giải pháp giúp đơn giản hóa tình hình. Tháng trước, khi Nhật Bản đã bắt giữ và trục xuất những nhà hoạt động Trung Quốc tìm cách đặt chân lên đảo, một vị tướng cứng rắn tên là Luo Yuan đã kêu gọi Trung Quốc triển khai 100 con tàu bảo vệ Điếu Ngư/Sensaku.

Đông hơn không có nghĩa sẽ thắng

Những giọng điệu như thế đã khiến vài nhà phân tích tính tới khả năng đụng độ trên biển giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Theo trang Foreign Policy, để một cuộc chiến trên biển nổ ra có rất nhiều yếu tố tác động, trong đó bao gồm các toan tính chính trị phức tạp. Nhưng nếu loại bỏ khía cạnh chính trị và chỉ xét trên phương diện quân sự thuần túy, Hải quân Nhật Bản hiện có trong tay 48 tàu nổi chiến đấu chủ lực. Các con tàu này được thiết kế để có thể tấn công đội tàu chính của đối phương, trong khi có thể chịu tốt các cú phản đòn. Chúng gồm những khu trục hạm mang máy bay trực thăng hay còn gọi là tàu sân bay hạng nhẹ, khu trục hạm mang tên lửa có điều khiển trang bị hệ thống điều khiển chiến đấu Aegis hiện đại tối tân, các con tàu khu trục nhỏ hơn, tàu hộ tống các loại… Ngoài ra Nhật còn có 16 chiếc tàu ngầm chạy diesel.

Ở phía Trung Quốc, Hải quân nhân dân Trung Quốc có 73 tàu chiến lớn, 84 tàu tuần tra mang tên lửa, 63 tàu ngầm. Xét về số lượng, có thể thấy Hải quân Trung Quốc đứng ở thế vượt trội áp đảo. Song số lượng có thể khiến người ta nhầm lẫn rằng Trung Quốc chắc chắn sẽ giành chiến thắng, nếu xung đột nổ ra và có 3 yếu tố chính gây nên sự nhầm lẫn này.

Trước tiên, theo lời chiến lược gia  Edward Luttwak, vũ khí giống như “những chiếc hộp đen bí mật” cho tới khi người ta mang chúng ra sử dụng trong chiến đấu: chẳng ai có thể biết liệu vũ khí có thể hiện được sức mạnh như quảng cáo hay không. Chiến trận, chứ không phải các thông số kỹ thuật, mới là thứ đánh giá rõ rệt nhất giá trị của một công nghệ quân sự. Trung Quốc có nhiều vũ khí hơn, không có nghĩa chúng có chất lượng cao hơn vũ khí của Nhật Bản.

Thứ hai, trong chiến tranh, con người đóng vai trò hết sức quan trọng. Những người lính biển trau dồi khả năng chiến đấu không nhờ việc ngồi trên bến cảng lau chùi vũ khí, mà nhờ vào việc thao diễn liên tục. Đội tàu của Hải quân Nhật Bản thường xuyên luyện tập một mình hoặc với hải quân các nước  khác. Trong khi đó, Hải quân Trung Quốc khá thụ động trong khía cạnh này. Ngoài việc triển khai tàu chống cướp biển ở Vịnh Aden hồi năm 2009, các đội tàu của Trung Quốc chỉ xuất hiện trong các cuộc thao diễn ngắn, khiến người lính có ít thời gian làm quen với môi trường chiến trận, nắm rõ công việc của họ và xây dựng các thói quen có lợi cho hoạt động chiến đấu trên biển.

Thứ ba, đụng độ trên biển không có nghĩa chỉ có các con tàu xả đạn vào nhau. Vị trí địa lý của hai người khổng lồ ở châu Á này nằm khá gần nhau. Các vùng đất của họ, kể cả những hòn đảo tiền tiêu, là những tàu sân bay không thể đánh chìm và là những trạm phóng tên lửa lý tưởng. Khi được vũ trang và tăng cường hệ thống bảo vệ, các vị trí này sẽ giúp thay đổi đáng kể cục diện của một cuộc chiến trên biển.

Canh bạc “siêu cường”

Điều quan trọng là Nhật Bản không cần phải đánh thắng Trung Quốc để giành chiến thắng trên biển. Nước này hiện đang kiểm soát Sensaku/ Điếu Ngư và tất cả những gì họ cần làm chỉ là từ chối không cho Trung Quốc có thể tiếp cận với đảo này.

Ngoài ra, Nhật Bản có lực lượng quân sự tập trung, trong khi Trung Quốc lại phải trải dài Hải quân nhằm bảo vệ đường bờ biển lớn của nước này. Các chỉ huy của Trung Quốc sẽ đối đầu với một vấn đề khó khăn: nếu họ tập trung lực lượng chống Nhật Bản, họ sẽ hở sườn ở các khu vực lợi ích khác.

Và cuối cùng, các lãnh đạo Trung Quốc sẽ phải cân nhắc việc một cuộc chiến trên biển sẽ đẩy lùi khả năng khuếch trương sức mạnh của nước này ra sao. Trung Quốc đã đặt cược tương lai kinh tế và ngoại giao lên một đạo quân hướng mạnh ra biển. Năm 2006, chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng ra lệnh cho các chỉ huy quân đội Trung Quốc phải xây dựng Hải quân có thể bảo vệ các tuyến đường biển huyết mạch của đất nước vào bất kỳ lúc nào.

Nhưng điều đó có nghĩa Trung Quốc sẽ cần tới rất nhiều tàu chiến. Và theo Foreign Policy, nếu Trung Quốc mất quá nhiều tàu trong một cuộc đụng độ với Nhật Bản, điều rất dễ xảy ra nếu giao tranh trên biển giữa hai người khổng lồ xuất hiện, Bắc Kinh sẽ chứng kiến động lực đi lên theo hướng siêu cường của nước này đảo ngược chỉ trong vòng một buổi chiều.

Tường Linh (Theo AP)

Cần một nền giáo dục có tư duy phản biện – VHNA

15 Th9

Cần một nền giáo dục có tư duy phản biện

Quang Đại

NHẬN xét về bài làm của học sinh trong kì thi   tốt nghiệp THPT năm 2012, thầy Nguyễn Đức  Chiến, giáo viên môn ngữ văn trường THPT Kim Liên, cho biết: “Qua thực tế chấm thi, tôi thấy bài làm của học sinh nhìn chung mang tính chất học thuộc, tìm đỏ cả mắt cũng khó mà thấy dấu ấn sáng tạo của cá nhân học sinh. Bài thi nghị luận văn học có nhiều bài tương tự nhau, có tính chất công thức, máy móc, còn bài nghị luận xã hội thì nói chung sơ lược, nông cạn, không có sự sắc sảo, độc đáo”. Tình trạng học sinh làm bài theo kiểu học thuộc, học vẹt hay theo mẫu, theo dạng đã trở thành một căn bệnh trầm kha của giáo dục phổ thông. Cô giáo Nguyễn Thị Thu, giáo viên môn lịch sử THPT ở Yên Thành nói: “Cái yếu nhất của học sinh hiện nay có thể nói là năng lực sáng tạo, sự độc lập trong tư duy. Các em quen với lối tiếp thu tri thức một chiều, ghi nhớ và lặp lại theo mẫu. Dự giờ thao giảng của đồng nghiệp, thấy các em phát biểu khá nhiều, song chủ yếu là nói lại thông tin trong SGK, nội dung đơn giản, ít có sự phát hiện, dấu ấn riêng”. Ở Nghệ An, trong hàng ngàn sáng kiến kinh nghiệm được các thầy cô đúc rút mỗi năm, không thấy bóng dáng của đề tài phát huy tư duy phản biện của học sinh.

Nguyên nhân của tình trạng nói trên xuất phát từ mô hình “thầy truyền thụ – trò ghi nhớ” đã tồn tại từ rất lâu trong giáo dục. Gắn liền với mô hình đó là quan niệm về thầy giỏi đồng nghĩa với “dạy hay, thuyết giảng hấp dẫn” và trò giỏi tức là “chăm ngoan, thuộc bài”. Mô hình này được duy trì từ tiểu học lên THPT, thậm chí cả lên đại học. Nhiều nhà giáo vẫn quan niệm trò cãi lại thầy, có ý kiến khác với thầy là thiếu tôn trọng thầy. Trong môi trường đó, tư duy phản biện của học sinh không có điều kiện phát huy.

Khoảng chục năm trở lại đây, ngành giáo dục triển khai nhiều phong trào đổi mới phương pháp giáo dục với phương châm phát huy sự độc lập, sáng tạo của học sinh như “lấy học sinh làm trung tâm”, “nói không với đọc – chép”, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học…Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thật khách quan, những hoạt động nói trên đều mang tính chất phong trào, sớm sa vào hình thức và không thực sự có hiệu quả, không tạo ra bước đột phá trong phương pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. Cách đây mấy năm, ngành giáo dục triển khai rầm rộ ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, xem đây là một giải pháp trọng tâm để hiện đại hóa giáo dục. Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của biện pháp này còn rất nhỏ so với tiềm năng, chỉ dừng lại ở việc thay giáo án viết tay bằng giáo án vi tính, việc ứng dụng giáo án điện tử dẫn đến tình trạng “nhìn chép” thay vì “đọc – chép”… Cái mô hình cốt lõi “thầy truyền thụ – trò ghi nhớ” vẫn không lay chuyển.

Có nhiều lí do dẫn tới việc đổi mới phương pháp dạy học rơi vào tình trạng “giẫm chân tại chỗ”, dù ngành giáo dục đã có nhiều nỗ lực. Trước hết là yếu tố con người: các nhà quản lý giáo dục, nhà giáo hiện nay đều là sản phẩm của phương pháp giáo dục cũ, coi đó là chuẩn mực, ít có nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tư duy phản biện của người học. Một bộ phận giáo viên năng lực không đáp ứng được yêu cầu dạy học theo hướng rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh. Mặt khác, chương trình quá tải, phương tiện dạy học thiếu thốn… nên giáo viên dù muốn cũng đành phải dạy theo kiểu “đọc – chép” cho kịp chương trình. Về phía học sinh, ngoài lí do chương trình quá tải, tâm lý thực dụng, đối phó theo kiểu “học để thi”, học để lên lớp, lấy bằng cấp triệt tiêu tâm lí tích cực, chủ động trong học tập. Một lí do nữa là do từ nhỏ các em đã quen với kiểu học tập thuộc lòng thụ động nên khó thích ứng với môi trường giáo dục đòi hỏi sự chủ động, độc lập, sáng tạo trong tiếp thu, xử lý thông tin, kiến thức.

Có câu danh ngôn đại ý: Khi một con người không có cái gì là của riêng mình, thì phải thấy ở người đó không có cái gì hết. Nếu không được giáo dục về tư duy phản biện, học sinh có nguy cơ trở thành những con người trì trệ, thụ động, thiếu hụt về tính nhân văn. Một nền giáo dục không có tư duy phản biện sẽ rơi vào khủng hoảng và làm xã hội trì trệ. Vì vậy, hơn lúc nào hết, xã hội đòi hỏi một cuộc cách mạng trong tư duy giáo dục, để đào tạo ra một thế hệ công dân năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kì hội nhập. Hi vọng trong thời gian tới sẽ có sự thay đổi về tư duy và phương pháp giáo dục.

 

 

Việt Nam – Singapore: quan hệ nở rộ trên nhiều kênh – VHNA

15 Th9

 Việt Nam – Singapore: quan hệ nở rộ trên nhiều kênh

Nguyễn Hoàng

Trong chuyến thăm Singapore từ 12-14/9 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, lãnh đạo hai nước thống nhất sẽ nâng quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược, đẩy mạnh quan hệ giữa hai đảng cầm quyền và phối kết hợp các hoạt động trên các diễn đàn đa phương.

Đây là lần đầu tiên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức Singapore sau gần 20 năm kể từ chuyến thăm vào năm 1993 của Tổng Bí Đỗ Mười. Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này diễn ra sau chuyến thăm Singapore của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hồi năm ngoái, tháng 9/2011 và kế tiếp chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Singapore Tony Tan Keng Yam mới đây, tháng 4/2012 này.

Ký đối tác chiến lược vào năm tới        

Trong chuyến thăm 3 ngày (từ 12-14/9), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Thủ tướng/Tổng Thư ký Lý Hiển Long. Kết thúc hội đàm, hai bên đã ra Tuyên bố báo chí chung, ghi nhận quan hệ song phương tốt đẹp giữa hai nước và khẳng định lại cam kết tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác, hợp tác song phương. Hai nhà lãnh đạo nhất trí về việc hai nước sẽ ký Hiệp định Đối tác Chiến lược vào năm tới, nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2013). Hiệp định này sẽ nâng tầm bang giao hiện nay giữa Việt Nam và Singapore, đồng thời mở ra định hướng hợp tác mới trong các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, tài chính, quốc phòng, an ninh.

Ngày 12/9, Singapore và Việt Nam đã ký kết ba hiệp định mở đường cho các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực tài chánh và hành chính công. Việt Nam sẽ gửi các giới chức cao cấp tới Singapore để tham gia các chuyến thăm nghiên cứu, các chương trình phát triển trong các lĩnh vực như quy hoạch đô thị và quản lý giao thông vận tải. Tối 12/9, tại Dinh Tổng thống Istana ở “thành phố Sư tử”, Thủ tướng Lý Hiển Long đã chủ trì chiêu đãi trọng thể, chào mừng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức quốc đảo nổi tiếng này. Trong lời chúc rượu, Thủ tướng Lý Hiển Long đã điểm lại những bước tiến nổi bật trong quan hệ Singapore – Việt Nam, đồng thời bày tỏ mong muốn nâng quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược.

TBT Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Lý Hiến Long

Trong đáp từ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: quan hệ Việt Nam – Singapore có đủ điều kiện thuận lợi và cần thiết để phát triển lên tầm cao mới. Hai nước hài lòng nhận thấy từ Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore đầu tiên (VSIP-1), sau 16 năm, hiện nay hai nước đang lập kế hoạch cho VSIP-5. Những khu công nghiệp này thực sự là hữu ích và đang được nhân rộng mô hình trên khắp Việt Nam. Đấy cũng chính là những biểu tượng hữu hình cho mối quan hệ thân thiết và ngày càng phát triển giữa hai nước. Theo số liệu chính thức, đến tháng 4/2012, Singapore đã đăng ký gần 23 tỷ đôla đầu tư vào Việt Nam với hơn 1.000 dự án, chủ yếu trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, bất động sản, giải trí và dịch vụ. Singapore cũng là đối tác đầu tư nước ngoài lớn hàng thứ tư của Việt Nam, với các dự án về điện tử, nhà đất, chăm sóc sức khỏe, bến cảng và các lãnh vực khác. Thương mại song phương trong 7 tháng đầu năm 2012 đã tăng 13% so với năm ngoái, lên mức 10 tỷ đôla Singapore.

Quan hệ hai đảng bước vào năm thứ 20

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Singapore theo lời mời của Thủ tướng Lý Hiển Long với tư cách là Tổng Thư ký Đảng Hành động Nhân dân (People’s Action Party/ PAP), được coi là chính đảng cầm quyền thành công nhất. PAP đã biến Singapore từ một xứ sở nghèo nàn lạc hậu trở thành một quốc gia phát triển giàu có, văn minh hàng đầu thế giới. PAP không đề cao một chủ nghĩa nào, đảng vận dụng linh hoạt, kết hợp hữu cơ giữa mục tiêu của chủ nghĩa xã hội với các biện pháp của chủ nghĩa tư bản; một mặt đi theo con đường kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, cởi mở, phát huy năng lực các cá nhân, mặt khác tăng cường năng lực điều hành vĩ mô của nhà nước đối với đời sống kinh tế-xã hội. Với quan điểm nhân tài trị quốc, PAP chủ trương giữ lại hệ thống pháp trị của người Anh và duy trì tiếng Anh như một ngôn ngữ hành chính.

Trong diễn văn đáp từ Thủ tướng/Tổng Thư ký Lý Hiển Long tối 12/9, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bày tỏ niềm vui mừng “lần đầu tiên đến thăm đất nước Singapore tươi đẹp và được chứng kiến những thành tựu vĩ đại của một đất nước đã tự thân nỗ lực vươn lên, đạt tới trình độ phát triển cao, trở thành một trung tâm kinh tế-tài chính, khoa học-công nghệ hàng đầu của khu vực và thế giới”. Tổng Bí thư cũng đã chia sẻ niềm tự hào trước những thành công to lớn của nước bạn và chúc nhân dân Singapore giành được nhiều thành tựu hơn nữa trong công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh và tiếp tục phát triển năng động trong một thế giới đang phát triển nhanh chóng. Hiện nay thu nhập đầu người Singapore đã vượt xa nước Anh, cường quốc từng chiếm Singapore làm thuộc địa. Dư luận quốc tế coi Singapore là quốc gia được quản lý tốt nhất thế giới.

Theo TTXVN, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Singapore lần này là để tiếp tục chính sách chủ động hội nhập quốc tế một cách tích cực và toàn diện của Việt Nam, thể hiện hướng ưu tiên đối với các nước trong khu vực và tăng cường quan hệ giữa hai đảng cầm quyền để tạo cơ sở chính trị vững chắc cho quan hệ giữa hai nước. Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Hành động Nhân dân Singapore đã thiết lập quan hệ chính thức từ tháng 10/1993. Giữa hai đảng đã diễn ra nhiều hoạt động giao lưu như trao đổi kinh nghiệm xây dựng đảng, kinh nghiệm lãnh đạo đất nước và đào tạo cán bộ.

Hòa bình giải quyết chuyện Biển Đông

Ngày 13/9, tại Dinh Istana, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc hội kiến với Tổng thống Singapore Tony Tan Keng Yam. Trao đổi về các vấn đề quốc tế, hai nhà lãnh đạo hài lòng nhận thấy hai nước chia sẻ nhiều điểm tương đồng và có sự phối hợp tích cực tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ ASEAN, APEC, ASEM. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng với Tổng thống Tony Tan Keng Yam, trước đó với Thủ tướng Lý Hiển Long đều tin tưởng rằng, các nước ASEAN sẽ tăng cường đoàn kết, hợp tác, vượt qua khó khăn để đạt được mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Về vấn đề Biển Đông, các nhà lãnh đạo nhất trí cho rằng mọi tranh chấp cần phải được giải quyết thông qua đàm phán hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982, thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy đàm phán giữa ASEAN với Trung Quốc để sớm có được bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam-Asean Lê Công Phụng đã đánh giá chuyến thăm Singapore lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là hết sức quan trọng. Ông Phụng nói với BBC từ Hà Nội: “Trong các nước Asean thì Singapore có quan hệ khá đặc biệt với Việt Nam. Từ thời cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu đến giờ, Singapore đã hết sức hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế và hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong việc thúc đẩy Cộng đồng Asean”. Chuyến thăm Singapore lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, theo ông Phụng, không những quan trọng với hai nước mà còn là động lực thúc đẩy sự gắn kết và hợp tác trong Asean nhằm thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chung cho đến năm 2015.

Hai nước đã gia hạn Thỏa thuận Hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Quan hệ quốc phòng Việt Nam – Singapore cũng phát triển tốt đẹp. Hai bên đã ký Hiệp định Hợp tác quốc phòng từ năm 2009 và phối kết hợp chặt chẽ với nhau tại các diễn đàn đa phương như Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Theo các nguồn tin từ Bộ Ngoại giao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập với Singapore một số vấn đề để chuẩn bị cho Thượng đỉnh Asean vào tháng 11 tới tại thủ đô Phnom Penh của Campuchia. Các nhà lãnh đạo Việt Nam – Singapore đã có các cuộc trao đổi ý kiến bổ ích về các vấn đề khu vực và quốc tế, thảo luận về các diễn biến gần đây ở Đông Nam Á và tái khẳng định cam kết phối hợp cùng nhau triển khai các sáng kiến củng cố ASEAN như là động lực trung tâm trong cấu trúc khu vực đang phát triển. Hai bên cũng nhất trí với nhau về tầm quan trọng của việc đạt được hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực, cũng như việc cải thiện khả năng kết nối giữa Đông Nam Á và phần còn lại của thế giới. /.

Bài liên quan: http://vanhoanghean.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/4867-ho-anh-hai.html

Bản tác giả gửi cho VHNA

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ công du châu Á – VHNA

15 Th9

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ công du châu Á

Thanh Phương

Vào cuối tuần này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta sẽ công du châu Á- Thái Bình Dương. Ông sẽ đến ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và New Zealand.
 
 
Chuyến đi đầu tiên của ông Panetta đến Trung Quốc với tư cách lãnh đạo Lầu Năm góc diễn ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực tăng cao do tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các nước châu Á, đặc biệt là ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

Hiện chưa rõ là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ gặp nhân vật trên nguyên tắc sẽ là tân lãnh đạo chế độ Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình hay không. Đã có rất nhiều lời đồn đoán về ông Tập Cận Bình, kể từ khi Phó Chủ tịch Trung Quốc không còn xuất hiện trước công chúng trong hai tuần qua. Hôm qua, một tờ báo của địa phương có nhắc đến tên ông Tập Cận Bình trong số các quan chức cao cấp gửi thư chia buồn đến gia đình một cán bộ lão thành Trung Quốc qua đời gần đây, nhưng người ta vẫn chưa thấy ông Tập Cận Bình xuất hiện trở lại.

Trước khi đến Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ ghé sang Nhật Bản. Ngoài tranh chấp lãnh thổ giữa Nhật với Trung Quốc, ông Panetta cũng sẽ bàn về kế hoạch của Washington triển khai phi cơ Osprey đến căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Okinawa.

Kế hoạch di chuyển 12 máy bay Osprey đến Okinawa đã gặp nhiều phản đối ở Nhật. Vào cuối tuần trước, hàng chục ngàn người đã biểu tình ở Okinawa, yêu cầu Mỹ từ bỏ kế hoạch này. Nhưng các giới chức Mỹ cho biết, họ sẽ không thay đổi ý định triển khai máy bay Osprey. Lầu Năm góc hiện đang tìm cách trấn an Tokyo về tính an toàn của loại máy bay này, mặc dù một chiếc Osprey đã bị rơi ở Maroc tháng 4 vừa qua, khiến 2 thủy quân lục chiến Mỹ thiệt mạng. Đây là loại máy bay có thể cất cánh như một trực thăng, nhưng sau đó có thể bay như một máy bay bình thường. Có điều, máy bay này đã gặp rất nhiều trục trặc kỹ thuật, nhiều lần phải hạ cánh khẩn cấp.

Sau Tokyo và Bắc Kinh, ông Panetta sẽ ghé New Zealand. Đây là chuyến viếng thăm đầu tiên của một Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tại nước này kể từ 30 năm qua.

Nguồn:rfi

Bao giờ lên khỏi miệng hố rồi hãy tính… – Cát Khuê

15 Th9

Bao giờ lên khỏi miệng hố rồi hãy tính…

Sự kiện đạo diễn Kim Ki  Duk của Hàn Quốc nhận được giải vàng ở LHP Venice chắc chắn là dấu son cho điện ảnh châu Á khi một lần nữa được thừa nhận ở một trong những LHP danh giá nhất thế giới. Hàn Quốc từng có xuất phát điểm về điện ảnh không khác VN, nhưng lý do vì sao họ “bật” nhanh đến vậy? Hãy cùng TTCT trò chuyện với đạo diễn Bùi Thạc Chuyên (Sống trong sợ hãi, Chơi vơi, Lời nguyền huyết ngải…) – người cũng đã từng dành giải FIPRESCI tại LHP Venice 2009 với Chơi vơi – để biết thêm cái nhìn của người trong cuộc.
Phim của Kim thường rất bạo lực
* Pieta của Kim Ki Duk vừa được vinh danh ở LHP Venice vừa rồi có khiến anh- một người cũng từng đem phim đến Venice xao động không?
– Không hiểu sao, vào thời điểm này, tôi cảm thấy cuộc chơi điện ảnh của thế giới trở nên xa cách với những đạo diễn Việt đến như thế, thậm chí là xa cách hơn nhiều so với cách đây mấy năm Chơi vơiđược đến Venice. Thời đấy tôi còn có thể tìm được tiền cho phim ở quỹ này quỹ nọ, ở mạnh thường quân này mạnh thường quân khác. Bây giờ kinh tế suy thoái, chẳng ai còn tiền để cho phim tác giả nữa. Tôi biết có một vài (rất ít) đạo diễn trẻ đang vật lộn với dự án phim nghệ thuật của mình và hầu như không thấy lối ra. Nên tôi thấy ở dưới hố và không biết gì về Venice đang diễn ra cũng hay. Biết chỉ thêm buồn.
* Điện ảnh Hàn Quốc và Kim Ki Duk trong cái nhìn của anh, ra sao?
– Hàn Quốc có một nền điện ảnh kinh khủng. Mạnh mẽ, tự do, giầu có và không kém phần sâu sắc. Tôi đã từng được xem nhiều phim tuyệt vời của điện ảnh Hàn Quốc tại các LHP lớn trên thế giới. Khán giả ở những LHP tôi tham dự đều coi những bộ phim của Hàn Quốc là những bộ phim đáng xem nhất. Những buổi chiếu phim của các đạo diễn Hàn Quốc thường kín khán giả. Tôi chẳng ngạc nhiên khi phim của họ đoạt giải tại các LHP lớn của thế giới. Cũng đáng thôi. Đất nước ấy coi trọng văn hóa, coi trọng điện ảnh. Đã từng có một bộ trưởng Văn hóa của Hàn Quốc là đạo diễn điện ảnh. Kim Ki Duk không phải là đạo diễn tôi thích nên tôi cũng không có ý kiến gì cả.
* Nhận định về phim Pieta của Kim Ki Duk, một trang báo nói “I feel that this movie  in particular is a movie dedicated to humankind in a situation of a deep crisis in extreme capitalism,” he said. There are three protagonists. The two actors and the third one is money.”… Vấn đề mang tính nhân loại – Phải chăng dường như giống văn chương Việt, các nhà làm phim Việt dù theo đuổi dòng phim nghệ thuật cũng chưa chạm đến được cái nhìn kiểu này?
– Tôi biết phim của Kim rất bạo lực, bạo lực đến mức khủng khiếp. Chúng ta khoan nói đến tác hại của bạo lực hay là tính giáo dục, vì ở VN chắc chắc đó là những điều mà mọi người nói đến trước tiên khi xem một phim bạo lực. Tôi chỉ muốn nhắc lại kinh nghiệm lớn thứ 3 của điện ảnh Hàn Quốc, tức là cần phải bỏ kiểm duyệt nếu muốn có nghệ thuật. Nghệ thuật cần phải được tự do. Tự do đúng với khái niệm và nội hàm của từ này. Tự do với nghệ thuật như là không khí để thở vậy. Không có tự do sáng tác thì nghệ thuật sẽ chết. Đừng trách những nghệ sỹ Việt Nam không dám đi đến cùng một vấn đề nào đó. Thôi tôi không muốn nói về những gì đang diễn ra ở Việt Nam, nói  đến cảm thấy thật xấu hổ.
* Điện ảnh Hàn Quốc đã có những bước đi vững chắc với mùi vị riêng để hơn 10 năm gần đây họliên tục được thừa nhận trên thế giới qua các giải thưởng danh giá. Có sự chạnh lòng nào cho các nhà làm phim Việt khi chứng kiến những thành công này không, theo anh?
– Cũng lâu rồi, khoảng năm 2004 gì đó, trong một cuộc gặp gỡ giữa những đại diện điện ảnh Hàn Quốc và điện ảnh VN, người trưởng đoàn điện ảnh Hàn Quốc nói: Năm 1986, điện ảnh Hàn Quốc cũng giống điện ảnh VN bây giờ. (Tức là ông ấy nói đến tình hình điện ảnh Việt Nam thời điểm đó với việc các rạp chiếu phim đang biến mất, khán giả quay lưng lại với điện ảnh, các bộ phim làm ra chỉ để cúng cụ và cất vào kho…) Điện ảnh Hàn quốc bắt đầu cải tổ và mất 10 năm để lên khỏi miệng hố vào năm 1996 và mất thêm nhiều năm nữa để cất cánh. Ông nhấn mạnh 3 bài học kinh nghiệm lớn là khởi nguồn của mọi thành công của điện ảnh Hàn Quốc.  Một – Năm 1986, Hàn quốc bắt đầu khuyến khích xây rạp chiếu bóng, ra chính sách bảo vệ nền điện ảnh trong nước và lôi kéo khán giả đến rạp. Hai – họ có chiến lược đầu tư cho tương lai bằng việc cử 300 kỹ thuật viên đi học ở Mỹ. Đến năm 1996 họ lên khỏi miệng hố có nghĩa là đã đứng vững một nền điện ảnh Hàn Quốc mạnh ở thị trường trong nước, chiếm tỷ lệ 60-70% phim Hàn được phát hành ngoài rạp. Nhưng năm đó có một điều lớn thứ 3 quan trọng để họ cất cánh trong những năm sau đó. Ba- Năm 1996, tòa án Hàn Quốc ra quyết định bãi bỏ kiểm duyệt phim vì coi kiểm duyệt phim là vi hiến. Các đạo diễn Hàn quốc được tự do và mấy năm sau phim của họ được vào Cannes. Tôi nhớ buổi trò chuyện với các nhà điện ảnh Hàn năm đó có nhiều quan chức ngành điện ảnh Việt Nam tham dự. Tôi không biết những bài học của điện ảnh Hàn có được các lãnh đạo điện ảnh Việt Nam ghi nhận hay không? Nhưng kết quả của sự rút kinh nghiệm đó như thế nào thì mọi người đều biết.
Điện ảnh Việt sợ Tây quá!
* Kim Ki Duk đã làm phim trong điều kiện vừa ít tiền, vừa thất bại về doanh thu phòng vé ở thị trường Hàn. Có mẫu số chung nào từ hiện tượng này với các nhà làm phim Việt không thưa anh?
– Có một mẫu số chung là sự dũng cảm của những nhà làm phim dám lựa chọn đi con đường của riêng mình, bất chấp con đường đó có thể không giầu có, không có nhiều người tung hô và ca tụng và luôn luôn đối mặt với nguy cơ thất bại. Vì sáng tạo thực sự ở đâu cũng khó khăn, dù là ở Mỹ, Hàn hay châu Âu. Và để hiểu và đánh giá đúng những sáng tạo của nghệ sỹ cũng khó khăn không kém. Ban nhạc lừng danh The Beatles lần đầu sang Pháp biểu diễn còn bị cà chua trứng thối kia mà. Kim Ki Duk cũng đã từng làm nhiều phim dở tệ. Ở VN tôi biết cũng có những đạo diễn đang lựa chọn con đường khó khăn đó để đi và họ thật sự dũng cảm.
* Nhưng dù thế, nhờ được biết đến và thừa nhận ở châu Âu mà Kim Ki Duk vẫn có một vị trí trong nền điện ảnh Hàn Quốc, sự ảnh hưởng ngược từ những thừa nhận nói trên đã khiến cho giá trị điện ảnh Kim Ki Duk càng ngày càng lớn hơn tại chính quê hương ông. Có bài học nào áp dụng được với VN không, theo anh?
– Tôi nghĩ điều khác biệt giữa VN và Hàn Quốc ở chỗ trong trường hợp của Kim Ki Duk, những bộ phim của ông đã được đánh giá và thừa nhận đúng ở trong nước mà không cần phải chờ đợi những sự đánh giá từ Cannes hay Venice. Một nền điện ảnh độc lập có sức mạnh là một nền điện ảnh có nội lực từ trong nước chứ không phải vay mượn ở nước ngoài. Người làm phim thực sự không quan tâm nhiều đến giải thưởng. Anh ta làm đúng thiên chức của bản thân là sáng tạo không có giới hạn và xã hội muốn có sự tốt đẹp từ những thành quả sáng tạo của anh ta cần phải biết dành sự tôn trọng cho tự do sáng tạo của anh ấy. Điều này thực khác biệt ở Việt Nam, nền điện ảnh thiếu chính kiến, sợ “Tây” và quá quan trọng việc tiếng tăm giải thưởng do đó tạo ra vô số nhà làm phim uốn éo cơ hội, có gắng nặn ra những giải thưởng chẳng có giá trị gì ở nước ngoài về lòe bịp làm oai tại quê hương mình. Cũng trên tinh thần ấy, có những tác phẩm của Việt Nam được công nhận ở nước ngoài nhưng hoàn toàn vô nghĩa với sự đánh giá của nền điện ảnh trong nước. Vậy muốn áp dụng bài học Kim Ki Duk ở Việt Nam ư? Hãy tự hỏi chúng ta đang ở trong hệ thống nào và thang giá trị thực sự của chúng ta đang ở đâu?
* Xã hội Hàn Quốc bề ngoài khá yên bình, phẳng lặng. Nhưng trong phim của Kim Ki Duk thì Hàn Quốc rất khác. Ông ấy đã chỉ ra, tìm thấy những bất ổn từ các mối quan hệ nhỏ đến những mâu thuẫn lớn trong tư tưởng của người Hàn, và không bị gán cho tội “bêu xấu xã hội, bêu xấu con người”. Là một nhà làm phim Việt, anh và các đồng nghiệp của anh có nhận ra điều này không phải đã được thừa nhận ở VN?
– Những người nghệ sỹ điện ảnh Việt Nam nói chung đang phải “tuân theo” khi làm phim chứ không phải đang được tự do sáng tạo. Đáng buồn là ngay bản thân chúng tôi cũng không biết điều cụ thể phải “tuân theo”  là gì. Bằng ngôn ngữ sáng tạo của nghệ thuật, nếu được tự do, người nghệ sỹ có thể chỉ ra cho xã hội những điều mà các nhà chính trị, các nhà triết học, các nhà làm luật, các nhà khoa học, các nhà giáo dục không chỉ ra được. Đó là thiên chức của nghệ thuật. Thật là khó khi nghệ thuật bắt buộc  phải “tuân theo” sự chỉ bảo của tất cả các “nhà” khác mà không có tiếng nói của bản thân mình. Đáng tiếc là những người nghệ sỹ thực thụ thường nhạy cảm và yếu đuối. Bắt thì họ đành chịu. Họ không năng lực đấu tranh mạnh mẽ như các “nhà” khác nên họ đành phải từ bỏ sự sáng tạo của mình hoặc chấp nhận làm những điều mà họ không thích. Như thế mọi sáng tạo sẽ nửa vời và xã hội sẽ chẳng có gì đáng để gọi là nghệ thuật đích thực. Bao nhiêu năm nay chúng ta không xấu hổ về đièu đó sao?
Bản chất của cực đoan là mong muốn tận cùng khám phá
* Trong phim của Kim Ki Duk, dễ dàng nhận thấy mọi trạng thái và tình huống của nhân tính thường được đẩy đến tận cùng, đặc biệt là đối với “cái ác”. Anh thấy gì trong sự lựa chọn này? Một động cơ nhằm gây tiếng vang, một sự dũng cảm đáng khâm phục hay đơn giản chỉ là nghệ sĩ thì phải quyết liệt như thế?
– Tôi nghĩ đạo diễn Kim cũng như nhiều nhà sáng tạo nghệ thuật khác khác, mong muốn khai thác đến tận cùng những xúc cảm nhân tính. Kim thích khám phá những trạng huống về “cái ác”. Ông làm theo bản năng xúc cảm nghệ sỹ của ông mà thôi, chẳng nhằm gây tiếng vang hay dũng cảm gì cả. Bản chất của sự sáng tạo nghệ thuật là tự do. Ai đó có thể nói ông cực đoan nhưng muốn đi đến tận cùng của sự khám phá những giá trị nghệ thuật luôn cần sự cực đoan. Xã hội cần phải  trân trọng với sự cực đoan của người nghệ sỹ. Nếu như chúng ta cấm đoán sự cực đoan của người nghệ sỹ, muốn anh ta phải “đúng mực” như đòi hỏi của tuyên truyền và giáo dục thì đồng nghĩa với việc bóp chết sự sáng tạo của anh ấy. Sự cực đoan của người nghệ sỹ không phải để tìm kiếm sự nổi tiếng hay muốn chơi nổi mà là bản chất của sự cực đoan trong sáng tạo nghệ thuật là mong muốn khám phá đến tận cùng thế giới tâm hồn cũng như nhân tính của con người.
* Là một đạo diễn khá hiếm hoi vừa đi trên con đường làm phim nghệ thuật vừa không “ignore” với phim thương mại, vừa chơi được với nhà nước, vừa không tẩy chay tư nhân. Anh nghĩ gì về điện ảnh Việt hiện tại, yếu tố thương mại và những gía trị nghệ thuật chân chính đang ra sao?
– Tôi cùng với những đồng nghiệp đang vật lộn “dưới hố” nên có lẽ bàn về yếu tố thương mại hay nghệ thuật hoặc các giá trị chân chính của nghệ thuật nghe có vẻ phù phiếm quá. Bao giờ lên khỏi miệng hố rồi hẵng nói chuyện đó.  Khi làm phim thương mại, tôi học được 2 điều: 1. Khách hàng luôn luôn đúng. 2. Nếu khán giả sai thì xem lại điều 1.
* Một câu hỏi cũ, cách nào để điện ảnh Việt đi được bằng “hai chân” như điện ảnh Hàn, phim thương mại, phim truyền hình vẫn phát triển và bên cạnh đó, dòng phim tác giả vẫn có giá trị riêng của nó, nhất là khi “đem chuông đi đánh xứ người”?
– Câu hỏi này cũng như câu trên. Bao giờ lên khỏi miệng hố rồi hẵng nói chuyện.
* Cảm ơn anh
 
 
Kim Ki Duk – người thích mê, người xem thường!
 
Việc Kim Ki Duk dành Sư tử vàng năm nay tại Venice chẳng gây ngạc nhiên gì đáng kể đối với giới điện ảnh Âu châu. Tên  ông và cả nền điện ảnh (Hàn Quốc) mà ông đại diện đã quá quen thuộc tại đây đến mức sẽ chỉ bất thường nếu một năm nào đó cả 3 LHP hàng đầu châu Âu: Cannes, Berlin , Venice không có bóng dáng  phim Hàn. Nhưng điều này chưa từng xảy ra trong khoảng một thập kỉ nay. Bản thân Kim , trước khi dơ cao sư tử vàng lần này đã thắng giải Sư tử bạc đạo diễn xuất sắc nhất   LHP Venice 2004 cho phim 3-Iron. Cùng năm này, ông giành luôn giải Gấu bạc cho đạo diễn xuất sắc nhất tại LHP Berlin cho phim Samarital Girl. Và tại Cannes, mới năm ngoái  thôi ông cũng dành giải cao nhất  hạng mục Uncertain Regard cho phim Arirang.
Vinh quang dồn dập như vậy nhưng Kim chưa hề  học qua trường điện ảnh nào. 20 tuổi  đăng lính hải quân, ngoài 30 Kim mới sang Paris học hội họa và dật dờ ở đó như một họa sĩ vô danh. Về lại Hàn Quốc ông khởi nghiệp điện ảnh với vai trò biên kịch, năm 36 tuổi  đạo diễn  phim đầu tay  Cá sấu (năm 1996) và nhanh chóng thành công . Dù được ghi nhận rộng rãi ở châu Âu từ 2004, khi dành  giải đạo diễn xuất sắc tại cả Venice và Berlin cho 2 phim khác nhau nhưng các phim của Kim  đến nay vẫn gây chia rẽ sâu sắc khán giả lẫn giới phê bình. Người thích mê,  người ghê tởm và  người thì xem thường vì cho rằng ông thực ra chỉ có vài mánh khóe gây sốc lặp đi lặp lại trong các bộ phim ngày càng sáo rỗng . Ngay tại Hàn Quốc, phim của Kim cũng không được chào đón nồng nhiệt.
Kim được biết đến ở Việt Nam nhiều nhất qua 2 phim Xuân, hạ, thu đông rồi lại xuân, Cánh cung… nhưng từ 1996 đến nay ông đã đạo diễn 18 phim . Làm được nhiều  phim như vậy dù không thành công ở phòng vé là vì ông biết cách  quay phim với kinh phí tối thiểu mà vẫn đẩy bộ phim đi xa được tối đa, chí ít là tại các LHP . Ông thuộc hàng quán quân tại Hàn Quốc vì số giải thưởng quốc tế đã nhận.
Kim đặc biệt hứng thú với những câu chuyện  dị thường tràn ngập bạo lực trong đó nhân vật chính bị cô lập hay tự cô lập mình khỏi xã hội  để mặc sức theo đuổi dục vọng, tội ác, thù hận như một quán tính. Kim không ngại đẩy quan điểm hay các trạng huống  trong phim của mình lên đến cực điểm bất chấp việc nó có thể bị la ó hay ném đá. Trong phim của Kim, cái ác (cũng như cái thiện) là một thực thể sống, và như mọi thực thể sống khác, nó sẽ trải qua một chu trình được sinh ra, phát triển, bị hủy diệt rồi lại sinh ra…Với Kim không thể triệt tiêu cái ác nhưng cũng không vì thế sợ nó sẽ lan tràn vì trong nó, luôn sẵn có một lực để tự hủy diệt từ khi mới sinh ra rồi.
 
(Đạo diễn Phan Đăng Di)

BÀY TỎ Ý KIẾN ĐỂ TÌM RA CHÂN LÝ – NTT

15 Th9

BÀY TỎ Ý KIẾN ĐỂ TÌM RA CHÂN LÝ

 
Quantcast
Nhà văn Bùi Minh Quốc tại hội thảo

 

NHÀ VĂN BÙI MINH QUỐC PHÁT BIỂU TẠI HỘI THẢO “NHÀ VĂN VÀ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,  HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC”

(Sáng 08.01.2009, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai)

Bác Hồ nói: ”Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”.

Thưa các bạn đồng nghiệp, thưa các anh các chị,

Tôi chuẩn bị ý kiến trong đầu rồi nói vo nên nếu có gì luộm thuộm thì xin thông cảm, và xin hai bạn Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Một trong đoàn thư ký cố gắng ghi giúp.

Trước hết tôi xin góp ý với ban chấp hành Hội Nhà văn cần cải tiến ngay cách tổ chức những cuộc hội thảo như thế này, bỏ bớt tối đa những nghi lễ rườm rà, dành thời gian tối đa cho các phát biểu, tốt nhất là các phát biểu trực tiếp tươi ròng nguyên vẹn từ trong tim trong óc các thành viên tham dự hội thảo hơn là những bài viết sẵn gửi trước, duyệt trước , dành thời gian cho thảo luận, như thế hội thảo mới có sinh khí, có thực chất, cái sinh khí, cái thực chất phải bắt nguồn từ từng thành viên tham dự hội thảo.

Đó là về phương pháp.Còn về nội dung thì tôi yêu cầu đáng lẽ trước tất cả mọi cuộc hội thảo về các đề tài cụ thể “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” như thế này hoặc về “nông nghiệp, nông thôn” đang dự định sắp tổ chức thì phải có một cuộc hội thảo lớn nhất, bao trùm nhất là hội thảo về “Trách nhiệm của nhà văn Việt Nam với sự nghiệp dân chủ hóa đất nước”, xin nhắc lại cho rõ : Trách nhiệm của nhà văn Việt Nam với sự nghiệp dân chủ hóa đất nước.Vừa qua chưa làm thì ngay sau đây phải làm một cuộc hội thảo như thế. Đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Hội ta. Từ 2001 đến nay, kể từ khi đại hội Đảng lần thứ 9 đặt “dân chủ” thành mục tiêu chiến lược trong cương lĩnh hành động của toàn Đảng toàn dân, tám chín năm đã trôi qua, hãy tự hỏi chúng ta đã làm gì cho dân chủ? Hãy xem lại báo Văn Nghệ kể từ thời anh Hữu Thỉnh làm tổng biên tập đến nay, trên mục “Tiếng nói nhà văn”, có được bao nhiêu bài về dân chủ ? Theo nhận xét của riêng tôi thì rất ít, rất ít.

Tôi xin đọc các anh các chị nghe một câu hết sức quan trọng của chủ tịch Hồ Chí Minh :

Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”.

Trong câu tôi vừa đọc, tôi xin nhấn mạnh mấy chữ  ”Mọi người, mọi vấn đề”, vâng, mọi vấn đề, nghĩa là Hồ chủ tịch yêu cầu dứt khoát không được phép đặt ra các vùng cấm cho mọi người, cho bất cứ ai khi họ thực hiện quyền và nghĩa vụ tự do phát biểu ý kiến. Từ câu tôi vừa dẫn trên đối chiếu vào thực tế, thì thấy chúng ta đã làm sai, làm chệch, làm ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại sao mấy chục năm qua không có một công trình nghiên cứu, một tác phẩm nào về đề tài cải cách ruộng đất, chống bọn bành trướng, chống bọn diệt chủng Khơ-me đỏ ? Cuốn tiểu thuyết của anh Tô Hoài về cải cách ruộng đất khó khăn lắm mới in được nhưng lại không cho tái bản. Thế là thế nào? Ai đã đặt ra các vùng cấm như thế?

Trước tình hình quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa trên đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ nước ta, chỉ có mình nhà văn Nguyễn Khắc Phục lên tiếng, tôi noi gương anh Nguyễn Khắc Phục viết thư ngỏ cho Ban chấp hành Hội cùng toàn thể anh chị em hội viên yêu cầu Ban chấp hành phải ra tuyên bố tỏ thái độ của Hội ta. Nhưng từ đó đến nay đã hơn 1 năm Ban chấp hành Hội vẫn im lặng. Tại sao Hội ta không thể làm được như Đoàn luật sư TP HCM? Rõ ràng chúng ta đã rơi vào một trạng thái yêu nước thụ động rất xa lạ với truyền thống nghìn đời của dân tộc, tại sao chúng ta đã từng kế thừa và phát huy rất mạnh mẽ truyền thống yêu nước tích cực chủ động “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” rất oanh liệt của dân tộc ta mà nay ta lại thụ động như vậy, đây là một sự suy thoái về văn hóa rất nghiêm trọng, rất nguy hiểm. Một lần nữa tôi yêu cầu Ban chấp hành Hội phải khẩn trương ra tuyên bố về vần đề chống bành trướng như Đoàn luật sư TP HCM đã làm.

Hồi nãy anh Trần Thanh Đạm có nói đến tình hình “văn tặc”. Theo tôi, “văn tặc” chính là bọn đã đặt ra các vùng cấm như thế. Đấy là sự phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại chủ trương “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” mà Đảng đã vạch ra từ đại hội 6.

Gần đây nhiều ý kiến nêu lên vấn đề nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động văn học nghệ thuật. Theo tôi, cái gốc của vấn đề tính chuyên nghiệp không có gì khác hơn là vấn đề nâng cao chất lượng sáng tác mà chúng ta từng nói hoài với nhau và sẽ còn nói mãi, nó là vấn đề của mọi nhà văn, mọi nền văn học ở mọi thời và mọi xứ sở, nghĩa là phải làm sao để có tác phẩm hay.

Muốn nâng cao chất lượng sáng tác thì trước hết phải nâng cao chất lượng người sáng tác. Trong chất lượng người sáng tác có 2 yếu tố cơ bản là tài năng và nhân cách. Tài năng thì có phần của năng khiếu, phần thiên bẩm thiên phú và phần phải rèn luyện. Nhưng nhân cách thì phải rèn luyện mới có được, rèn luyện thường xuyên, rèn luyện suốt đời. Từ năm 1959 tôi còn trẻ dự hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ nhất toàn miền Bắc, anh Nguyễn Đình Thi tổng thư ký Hội đã nói với lớp trẻ chúng tôi: làm người là cái gốc của sự làm văn, đến nay vấn đề này vẫn luôn đặt ra cho chúng ta. Từ cách đây mấy năm, tại cuộc hội thảo ở Hội An về nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong mà anh Hữu Thỉnh có dự, tôi đã phát biểu đề nghị Ban chấp hành Hội nhà văn cần gấp rút tổ chức hội thảo về vấn đề nhân cách của các nhà văn trong Hội nhà văn chúng ta.Các nhà văn ngày nào cũng lớn tiếng về tình trạng đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, nhưng còn tình trạng đạo đức của chính bản thân các nhà văn trong Hội nhà văn chúng ta thì thế nào ?

Gần đây có chuyện các thanh niên ở công ty FPT in sách đặt lời mới cho một số bài hát cách mạng và kháng chiến, những lời mới này thô lỗ gây bất bình trong xã hội; nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, một trong những tác giả là nạn nhân của tình trạng đó đã phẫn nộ thốt lên: “Mất dạy!”. Tôi muốn chúng ta hãy cùng suy nghĩ sâu hơn trước tình trạng đó. Theo tôi, nguồn gốc sâu xa của sự mất dạy là do những người dạy không còn đủ tư cách của người dạy; biết bao kẻ vô đạo đức, giả đạo đức đang hàng ngày đứng ra rao giảng đạo đức đó.

Cho nên tôi nhắc lại một lần nữa một điều đã nói nhiều lần: đề nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn ngay sau cuộc hội thảo này phải gấp rút tổ chức cuộc hội thảo về nhân cách nhà văn trong Hội ta.

Nói đến nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động văn học nghệ thuật thì phải tạo môi trường pháp lý cho việc hành nghề để người nghệ sĩ có thể sống bằng nghề của mình, nghĩa là trước hết phải có báo chí tư nhân và nhà xuất bản tư nhân. Tại sao không có được một sự bình đẳng tối thiểu, người nông dân có quyền đem cân thóc cân gạo ra chợ bán mà tôi không có quyền đem cuốn sách của mình tự xuất bản đem bán trực tiếp cho người đọc và tôi tự chịu trách nhiệm về tác phẩm của mình trước người đọc và trước pháp luật, nếu tôi viết có gì vi phạm pháp luật tôi sẵn sàng ra tòa.Ông Nguyễn Hiến Lê trước năm 1975 tự viết sách tự xuất bản rồi hai vợ chồng đem bán, chi phí thấp, thu nhập cao. Dưới chế độ hà khắc thời nước Nga Sa Hoàng, ông Đốt-xtôi-ép-xki đi tù về vẫn ra tạp chí tư, nhà xuất bản tư được, chả nhẽ chế độ ta không bằng chế độ Sa Hoàng à? Luật báo chí, luật xuất bản hiện nay không có điều khoản cho ra báo tư nhân, nhà xuất bản tư nhân là vi phạm Hiến pháp. Dạo nọ có cán bộ cao cấp nào đó ở bộ thông tin phát biểu không chấp nhận ra báo tư nhân, nhà xuất bản tư nhân, cán bộ ấy có quyền gì mà nói như thế, nói thế là vi phạm Hiến pháp, là phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh.

Vừa rồi có nhiều bài trên các báo phê phán cuốn hồi ký của anh Nguyễn Đăng Mạnh, một cuốn sách còn ở dạng bản thảo và tác giả chưa chính thức công bố. Tôi đề nghị chúng ta hãy mời anh nguyễn Đăng Mạnh hoàn chỉnh bản thảo và để anh Mạnh chính thức đưa đăng nhiều kỳ trên báo, chính thức xuất bản rồi sau đó mới đăng các bài nhận xét, đăng hàng nghìn bài cũng được, với mọi ý kiến khác nhau, đảm bảo thông tin nhiều chiều, và dành quyền cho tác giả trả lời, như thế mới là cách chơi tử tế, chứ cái kiểu ỷ vào thế độc quyền báo chí một mình một chợ muốn nói thế nào thì nói như vừa rồi, nghe nói có nhà văn không dám ký cái bút danh quen thuộc mà lại dùng bút danh khác, đấy, chơi như thế chẳng thể gọi là tử tế được.

Trong khi chờ sửa luật báo chí và luật xuất bản để công dân được ra báo chí tư nhân, nhà xuất bản tư nhân thì tôi đề nghị một cách làm chuyển tiếp thế này: báo Văn Nghệ cho tôi và các bạn tôi thầu một trang, trên đầu trang ghi rõ bài trong trang này do tác giả chịu trách nhiệm trước pháp luật, nếu có chuyện gì thì tác giả ra tòa chứ không phải tổng biên tập. Hãy làm như thế đi…

Ghi lại thành văn bản tại Đà Lạt ngày 12.01.2009

BMQ

(Tôi ghi theo trí nhớ, nếu có đồng nghiệp nào hôm ấy ghi âm được thì xin đối chiếu chỉnh sửa giúp, cám ơn)

Lại nói về sự thỏa hiệp chính trị – NV

15 Th9

 

Lại nói về sự thỏa hiệp chính trị


 

 

Huỳnh Thục Vy

LTS – Nhật báo Người Việt trân trọng giới thiệu bài viết của Huỳnh Thục Vy đăng trên số báo hôm nay, bắt đầu cho “cột báo” thường xuyên của tác giả trên Người Việt. Huỳnh Thục Vy là cây bút chính luận trẻ ở Việt Nam, thường xuyên phổ biến các bài viết về thực trạng chính trị và xã hội, đăng trên các blogs trong và ngoài nước.

***

Cuộc đấu tranh để đạt được một thể chế chính trị tốt đẹp hơn, bản thân nó là một cuộc đấu tranh chính trị.

Dù những người đấu tranh không phải là những người làm chính trị đúng nghĩa; họ thuộc đủ mọi thành phần xã hội, từ sinh viên, những người hoạt động xã hội thiện nguyện, nghệ sĩ, trí thức khoa bảng, nhà văn, nhà báo, luật sư,… với những ưu thế sẵn có, họ lên tiếng cho dân chủ tự do, nhưng với một thái độ chính trị nhất định và với sự phản kháng chính trị dành cho nhà cầm quyền độc tài. Cuộc đấu tranh ấy của họ là một cuộc đấu tranh chính trị và mang đầy đủ tính chất của sự đấu tranh chính trị.

Trong những người đấu tranh cho tự do dân chủ hôm nay, có nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Có một nhóm người chủ trương không đối thoại với cộng sản; còn số khác thì ngược lại, lại cổ vũ cho một sự thỏa hiệp mà họ tự cho là nhân bản và thích đáng trong một thế giới văn minh hôm nay.

Bản thân người viết dù chỉ là một người thiếu kinh nghiệm, với tất cả những khiếm khuyết của mình, tôi thiết nghĩ, một cách nhìn nhận trung dung là thỏa đáng hơn cả. Cả Ðức Phật, Khổng Tử của Ðông Phương đến Socrates của văn minh Hy Lạp Tây phương đều cổ vũ cho một sự trung dung cần thiết. Bởi bất cứ sự cực đoan nào cũng dẫn ta tới thái cực kia, theo chiều ngược lại. Tôi không cổ vũ cho sự thỏa hiệp chính trị với nhà cầm quyền độc tài nhưng cũng không phủ nhận hoàn toàn cái gọi là “sự thỏa hiệp” trong chính trị (miễn sao nó có lợi). Tha thiết xin quý độc giả kiên nhẫn lắng nghe những chia sẻ của một người trẻ như tôi.

Ðiều mà hôm nay tôi muốn lạm bàn trong giới hạn tri thức của mình, đó là sự đối thoại và thỏa hiệp chính trị, cũng như tính cần thiết nếu có của chúng.

Sự thỏa hiệp chính trị theo nghĩa đơn giản nhất của nó là sự tiến lại gần nhau, đứng cùng nhau trong một sự đồng ý chung giữa hai phe đối lập về lập trường tư tưởng chính trị. Ðã nói đến thỏa hiệp là nói đến một khế ước về ý chí giữa hai phía khác biệt quan điểm hoặc thậm chí là đối lập, thù nghịch. Mà nhắc đến khế ước thì phải có một điều kiện tất yếu để đảm bảo tính chất của nó, đó là cả hai bên cùng tiến đến một điểm ở giữa, để chính ở đó, họ chấp nhận được nhau như trong bất cứ khế ước dân sự nào.

Thế nhưng, đấu tranh chính trị không đơn giản như hoạt động kinh tế-dân sự. Các hoạt động kinh tế dân sự được điều chỉnh và chế tài trong những định chế luật pháp minh bạch, sẵn có và được thông báo trước. Dù hoạt động đó diễn ra trên phạm vi quốc tế thì tư pháp quốc tế vẫn điều chỉnh được hoạt động này. Ðấu tranh chính trị quốc gia và quốc tế thì phức tạp và hàm ẩn nhiều bất trắc hơn gấp bội. Chúng ta có bao giờ tự hỏi, sự thỏa hiệp trong chính trị có thể đạt được hay không, mà dù có đạt được thì việc thực hiện nó có hiệu quả hay không?

Trong thế giới liên lập và cởi mở ngày hôm nay, những thỏa hiệp chính trị có vẻ minh bạch và ít bất trắc hơn. Vì tư duy chính trị hôm nay là “cùng thắng” (win-win) là hai bên cùng có lợi. Nhưng điều đó không có nghĩa là khả năng win-win là hoàn toàn chắc chắn và không thể đảo ngược. Các mâu thuẫn chính trị càng lớn, khả năng “cùng thắng” này càng nhỏ; hai phía càng đối lập sâu sắc về quyền lợi thì hy vọng “cùng có lợi” lại càng hiếm. Thế giới hôm nay không phải là nơi “cá lớn nuốt cá bé” nữa, nhưng mọi ưu thế trong đàm phán và thỏa hiệp chính trị luôn thuộc về kẻ có sức mạnh về quân sự, kinh tế, chính trị trên trường quốc tế.

Thỏa hiệp là phía này cho phía bên kia một thứ, để đổi lại, sẽ nhận được một thứ có giá trị tương đương. Trong những khó khăn riêng về nội bộ và về thế lực của phe nhóm mình, thiển nghĩ một sự nhượng bộ thích đáng trong từng tình hình cụ thể là có khả năng được đặt ra. Nhưng nhượng bộ là để tiến về phía trước để đạt được mục đích chính, để tiếp tục đấu tranh; chứ không phải nhượng bộ đánh mất quan điểm chính trị cố hữu, để hòa tan và tự làm mình biến mất. Giữa sự thỏa hiệp và đầu hàng có biên giới rất mong manh mà chỉ cần sự bất cẩn và không giữ được thăng bằng, tất cả những giá trị đấu tranh mà mình đang cổ vũ sẽ là vô nghĩa. Vì thế, thỏa hiệp với phe đối địch là một trò chơi nguy hiểm của những người có “cold head,” không phải là những toan tính ngây thơ của những người chỉ có trái tim nóng nhưng thiếu kinh nghiệm. Bởi vậy, quan điểm của tôi, với tất cả những cẩn trọng cần thiết của một người thiếu kinh nghiệm, tôi chưa bao giờ nghĩ đến đối thoại hay thỏa hiệp với chính quyền cộng sản Việt Nam, bởi điều đó là quá nguy hiểm.

Trong đấu tranh chính trị nói chung, không phải là hoàn toàn không có khả năng đối thoại hay thỏa hiệp. Một sự đấu tranh không có sự ngừng lại và nhượng bộ sẽ là cứng nhắc mà không tận dụng những điều kiện thuận lợi bên ngoài như một cây cao không biết uốn mình trong gió bão sẽ khó có thể vươn cao, nếu không muốn nói là sẽ bị bẻ gãy. Cả thực tế lẫn lý luận đều cho thấy, thỏa hiệp chính trị là không thể không có, nhưng đồng thời nó cũng không thể là chân thật. Hiệp Ðịnh Geneve, Hiệp Ðịnh Paris, Mao Trạch Ðông thỏa hiệp với Tưởng Giới Thạch để kháng Nhật… và tất cả những sự thỏa hiệp chính trị khác, không thể nào mang lại cho chúng ta một cảm quan tin tưởng khả dĩ về tính chân thật và hiệu quả của các thỏa hiệp. Thỏa hiệp trong đấu tranh chính trị vì thế, không thể là thỏa hiệp chân thật, bởi ngay từ khi thỏa hiệp chưa hình thành, những âm mưu và khả năng xóa bỏ nó đã tồn tại và tất nhiên được giấu trong bí mật. Chúng ta đều có thể thấy, hai phía có quyền lợi đối lập, không thể nào có những đồng ý thực sự với nhau về một điểm nào đó. Những ai trông mong vào sự thỏa hiệp thật trong cuộc đấu tranh hôm nay sẽ sớm nhận thấy nguy cơ và thiệt thòi cho mình.

Hơn nữa, không phải lúc nào cũng có thể thỏa hiệp, ngay cả thỏa hiệp giả. Vậy khi nào thì hai phía đối lập (ví dụ như hai bên: những người đấu tranh cho dân chủ và chính quyền cộng sản) có thể thỏa hiệp? Ðương nhiên, ngay từ đầu, chúng ta có thể nhận thấy: thỏa hiệp là cùng dừng lại ở một điểm cân bằng, rồi cho và nhận. Vậy thì chúng ta phải có thứ gì đó mới có thể mang ra mà trao đổi, nên phải có thực lực mới có thể thỏa hiệp. Thứ nữa, khi cả hai bên đều tiến vào tình trạng “giẫm chân tại chỗ” trong một điều kiện cụ thể nào đó, cả hai không thể tiếp tục chiếm thêm bất cứ ưu thế nào nữa, thì người ta sẽ cùng ngồi lại với nhau để có một sự đồng ý chung về một câu chuyện cụ thể.

Vậy trong tình thế hiện nay, khó có thể, nếu không muốn nói là không thể có sự đối thoại hay thỏa hiệp giữa những người đấu tranh cho tự do và chính quyền cộng sản. Bởi lẽ những người đấu tranh chưa thực sự tập trung được thành một lực lượng chính trị đủ mạnh có đủ thế và lực để cạnh tranh với chính quyền cộng sản. Nhà cầm quyền cộng sản lại đang nắm trong tay tất cả quyền lực chính trị, kinh tế, xã hội và kể cả bạo lực nhà nước. Trong khi lực lượng đối lập chỉ là những nhóm người chưa có sự phối hợp hoạt động và chưa có người lãnh đạo, chưa có được vị thế vững vàng trong xã hội. Có chăng là chúng ta đang thủ đắc chính nghĩa đấu tranh phù hợp với các giá trị mà nhân loại đang hướng tới, nói khác hơn chúng ta có được “công đạo.” Nếu chúng ta không có gì để trao đổi với chính quyền thì không bao giờ có thể thỏa hiệp với họ, vì họ không có nhu cầu phải đối thoại và thỏa hiệp với một lực lượng mà họ đang có khả năng chặn đứng và đàn áp bất cứ lúc nào.

Sự thỏa hiệp trong điều kiện này, không khác hơn là sự tự đánh mất lập trường và giá trị của mình, tạo ra khả năng bị lợi dụng và gia tăng sự chính danh cho nhà cầm quyền. Còn nếu khi chúng ta có đủ sức mạnh như một lực lượng đối trọng với họ thì không có lý do gì để chúng ta phải thỏa hiệp với họ khi điều này đồng nghĩa với việc phải từ bỏ một ưu thế vốn có của mình.

Cũng phải nói thêm một điều, khi xảy ra một trường hợp, cả hai phe phải đương đầu với một lực lượng thứ ba, mà lực lượng này là kẻ thù chung của hai phía, là trở ngại khiến hai phía chẳng thể tiến lên thêm một bước nào nữa thì có khả năng dẫn đến sự thỏa hiệp. Nhưng trong tình hình Việt Nam hiện nay, khả năng này khó xảy ra, vì ngay đối với ngoại xâm (lực lượng thứ 3 nguy hiểm) những người cộng sản Việt Nam cũng chỉ muốn hợp tác, ngược lại, họ lại coi những người đối lập là kẻ thù không đội trời chung. Thậm chí, họ còn dựa vào ngoại bang để có ưu thế và thời gian đàn áp lực lượng dân chủ.

Nói chung, sự thỏa hiệp nằm trong trạng thái cân bằng động mà một động thái nhỏ cũng có thể phá vỡ sự cân bằng này. Trong đấu tranh chính trị, một là ưu thế thuộc về phe này, hai là thuộc về phe kia và khi một phía vẫn chiếm thế thượng phong không ai dại gì thỏa hiệp. Thỏa hiệp là một câu chuyện ở xa phía trước, nên đặt ra vấn đề đó lúc lực lượng dân chủ còn yếu hôm nay là không phù hợp. Còn trong tương lai có nhiều biến chuyển không thể nói trước, rất khó để có thể đưa ra dự phóng. Nhưng có một điều quan trọng là, với những gì người cộng sản đã gây ra đối với dân tộc này, bất cứ sự thỏa hiệp nào với họ cũng dễ dẫn đến sự giảm sút uy tín của những người đấu tranh dân chủ. Ấy là chưa kể đến khả năng chúng ta tặng họ sự chính danh để rồi sau đó họ đẩy chúng ta ra bên lề. Thỏa hiệp giữa Hồ Chí Minh và những người quốc gia trong chính phủ liên hiệp là một ví dụ sáng giá mà những người đấu tranh chính trị cần nhớ mãi.

Trong thời gian này, quả thực khi nói đến sự thỏa hiệp, tôi luôn nghĩ đến một cụm từ ”bình mới rượu cũ.” Kẻ yếu thỏa hiệp với kẻ mạnh thì chỉ có một cách là làm cho mình tan biến đi thôi; mà dù là giữa hai kẻ có sức mạnh ngang nhau thì cũng không có gì đảm bảo là một trong hai phía, thậm chí là cả hai vi phạm thỏa hiệp.

Là một người luôn mong muốn một sự đổi thay với kịch bản tốt nhất cho đất nước, tôi luôn đề cao một sự hòa giải trong lòng người, hòa giải văn hóa, hòa giải lịch sử. Nhưng muốn có hòa giải thực sự phải có công lý. Vì bản thân công lý là một giá trị mang lại sự hài hòa trong mọi mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ chính trị-xã hội. Công lý chưa được thực thi, tội ác chưa bị trừng phạt, công lao chưa được vinh danh, hòa giải chỉ là giả.

Ðối thoại cũng được, thỏa hiệp cũng chẳng sao, nhưng trước tiên cả hai phía phải cùng đứng trên một võ đài trong vị thế bình đẳng cùng với sự tương xứng về thực lực; và những ai muốn đối thoại phải bảo đảm mình đủ sáng suốt và khôn ngoan để không bị đưa vào bẫy, bị đẩy vào tình thế “thả con rô bắt con tép.”

Lại nói một lần nữa, thiết nghĩ cũng không thừa, đối thoại hay thỏa hiệp là một trò chơi nguy hiểm không dành cho những người thiếu tư duy chiến lược và thiếu khả năng nhạy bén vượt trội về chính trị.

Thư của cụ thân sinh Đặng Bích Phượng gửi chính quyền – nguyentuongthuy

15 Th9

Thư của cụ thân sinh Đặng Bích Phượng gửi chính quyền

Như chúng ta đã biết, chính quyền phường Dịch Vọng căn cứ vào quyết định cảnh cáo Đặng Bích Phượng mà ngay cả bản thân chị cũng không nhìn thấy nội dung ra sao để ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục đối với chị. Không biết họ sẽ giáo dục Bích Phượng như thế nào, chị có điều gì phải giáo dục? Tội yêu nước, biểu tình chống Trung Quốc ư? Nói ra những sự thật và ý nghĩ của mình ư? Hiến pháp, pháp luật đâu rồi? Bích Phượng cần được giáo dục hay chính họ cần phải giáo dục?

Có phải đây là bước chuẩn bị cho âm mưu đưa Bích Phượng vào trại cải tạo? Họ cần nhớ bài học đưa Bùi Thị Minh Hằng đi cải tạo thất bại vẫn còn nóng hổi.

Tôi xin công bố bức thư của cụ thân sinh ra Đặng Bích Phượng gửi chính quyền phường Dịch Vọng. Cụ năm nay 90 tuổi, là lão thành cách mạng với 67 năm tuổi đảng. Không biết chính quyền phường Dịch Vọng trả lời cụ ra sao. Bức thư này sẽ được gửi đi sớm nhất:

.
Hà Nội ngày 15 tháng 9 năm 2012

.

Kính gửi Ông chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Dịch Vọng.

Tôi là Đặng Hạ, là bố đẻ của đối tượng Đặng Bích Phượng, người vừa có quyết định phải chịu sự giáo dục tại phường do ông quản lý.

Thưa ông, thoạt đầu khi biết tin UBND phường có quyết định áp dụng biện pháp giáo dục với con mình, tuy chưa nhìn thấy măt mũi quyết định này ra sao, nhưng cả đêm qua, một người cha đã sống đến 90 năm tuổi đời như tôi, lần đầu tiên mất ngủ vì cảm thấy hổ thẹn khi đã không giáo dục nổi con, khiến chính quyền phường phải đứng ra giáo dục thay tôi.

Con gái tôi tuy đã năm mươi ba tuổi, đã ở cái tuổi tri thiên mệnh, nghĩa là ở tuổi đã biết được mệnh giời, nhưng bấy lâu nay con gái vẫn sống cùng tôi. Nếu tôi không đau ốm bệnh tật, hẳn tôi đã có thể đại diện cho gia đình ra họp tại phường theo lời mời, để biết được con gái mình ở tuổi này, còn thiếu giáo dục như thế nào.

Làm cha sao không hiểu tính con? Những gì con tôi làm đều kể cho tôi nghe, không phải bênh con, nhưng tôi tin con tôi là người trung thực. Con tôi là người sống thế nào, có bà con chòm xóm biết.

Khi tôi tỏ ra lo lắng, con tôi từng hỏi tôi một câu thế này:

– Tại sao ngày xưa bố đi làm cách mạng?

– Tôi trả lời: vì phát xít Nhật tàn ác với dân mình quá!

Con tôi lại hỏi:

– Vậy bây giờ nhà cầm quyền Trung Quốc cũng tàn ác với dân mình quá, bố bảo con nên làm gì?

Quả thật trước câu hỏi đó, tôi không biết trả lời như thế nào cho đúng với lương tâm mình.

Thưa ông chủ tịch (mặc dù tuổi đời của ông còn ít hơn tuổi đảng của tôi nhiều), cả đời tôi đi làm cách mạng, tham gia hoạt động từ khi cách mạng chưa thành công, hẳn cũng có nhiều điều sai sót. Nhưng tôi có thể tự đánh giá bản thân, rằng mình đã sống một cuộc đời trong sạch và ngay thẳng, không làm điều gì phải hổ thẹn với lương tâm.

Tôi đã dạy dỗ con cái mình cũng phải sống trong sạch và ngay thẳng, không được làm điều gì để cha mẹ, ông bà, tổ tiên phải tủi nhục. Và tôi nghĩ con gái tôi đã làm được điều đó. Ngay cả khi con gái tôi hai lần bị bắt, vì bị cho là gây rối trật tự công cộng, tôi vẫn không tin điều đó là có thực. Bởi với bản tính ưa sống khép kín của một phụ nữ ngoài 50 tuổi như con gái tôi, việc ra ngoài để gây rối trật tự công cộng thật là điều thật khó tin.

Tôi vẫn tâm niệm một điều, nhà nước ta là một nhà nước pháp quyền. Mọi người sống trong xã hội này, bất kể là dân thường hay cán bộ nhà nước đều phải sống và làm việc theo hiến pháp. Tôi tin con gái tôi đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược là thật, nghĩa là thực hiện quyền biểu tình mà hiến pháp đã cho phép, chứ không phải đi gây rối rối trật tự công cộng như những kẻ côn đồ.

Với tâm tư của một người cha đã 90 tuổi đời, xin ông cho biết, nếu như theo quyết định này, tôi cần phải giáo dục lại con tôi như thế nào? Vì tôi còn sống đây, lại không giáo dục nổi con mình, để cho chính quyền phường phải giáo dục thay tôi thì đó là điều khiến tôi vô cùng xấu hổ. Tôi đã đọc cái nghị định mà chính quyền lấy làm căn cứ để ra quyết định giáo dục con tôi, tôi thực sự không biết phải giáo dục con tôi về việc gì, nên mạo muội hỏi ông chủ tịch phường, xin được ông chỉ bảo cho thì tôi rất lấy làm cảm ơn.

Cuối thư, xin chúc ông mạnh khỏe, để phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc.

Kính thư,

Bố đẻ của đối tượng Đặng Bích Phượng

Lão thành Cách mạng

90 năm tuổi đời – 67 năm tuổi Đảng

Đặng Hạ

Tiếp tục đọc

Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc – VTC

15 Th9

Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc

 
(VTC News) – Truyền thông nhà nước Trung Quốc vừa công bố thông tin về kho vũ khí hạt nhân chiến lược, trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
» “Tên lửa Trung Quốc đang nhằm vào Mỹ”
» Tên lửa đạn đạo Trung Quốc là hàng ‘nhái’ của Nga?

Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) được nói là đang tranh cãi gay gắt với ước tính của Bộ Ngoại giao Mỹ về việc Trung Quốc đang sở hữu bao nhiêu đầu đạn hạt nhân. 

 
Trong khi Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng  Trung Quốc đang có khoảng 300 – 400 đầu đạn hạt nhân, CIA nói Bắc Kinh đang cất giấu số lượng đầu đạn hạt nhân lớn hơn thế nhiều trong các hầm chứa chôn ngầm dưới lòng đất. 
 
Nội dung trên được Tân Hoa Xã, cơ quan truyền thông nhà nước của Trung Quốc ‘tiết lộ’ trong bối cảnh nước này đang có tranh chấp với Nhật Bản về quần đảo Điếu Ngư (tiếng Nhật là Senkaku).
 
Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc
Đội pháo binh số 2 của Trung Quốc đang chở tên lửa tới điểm tập kết – Ảnh: Chinamil.com.cn 
 
 
Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc Cho dù Đông Phong – 41 có thể mang được nhiều đầu đạn thì khoảng cách công nghệ giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn là vài chục năm Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc
 
 
 

Trước đó, trang Tiếng nói nước Mỹ (VOA) dẫn lời chính phủ nước này xác nhận thông tin Bắc Kinh đã thử tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mới nhất, trong động thái được đánh giá là “dấu hiệu cho thấy Trung Quốc có thay đổi về chiến lược hạt nhân”.

 
Theo trang mạng quân sự Trung Quốc, nước này đã thử thành công tên lửa Đông Phong – 41, thế hệ tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mới nhất và sẽ sớm đi vào phục vụ quân đội sau khi thực hiện thêm một số lần bắn thử từ nay đến hết năm sau.
 
Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc
Các trang mạng xã hội Trung Quốc đang lan truyền hình ảnh được cho là tên lửa Đông Phong – 41 
Theo đó, Đông Phong – 41 sử dụng tên liệu rắn, mang được tối đa 10 đầu đạn,  phóng từ bệ phóng cố định, tầm bắn 14.000 km, tức là có khả năng bắn tới thủ đô Washington của Mỹ. 
 
Một số trang mạng của Trung Quốc còn nói rằng, Đông Phong – 41 là sát thủ tiêu diệt tàu sân bay – vốn là một trong những vũ khí chiến lược của hải quân Mỹ.
 
Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc
Tên lửa Đông Phong – 31, một trong những loại tên lửa chiến lược của Trung Quốc – Ảnh: baidu.com
Tân Hoa Xã cho biết, tên lửa chủ lực của Trung Quốc hiện tại là Đông Phong – 5, sử dụng nhiên liệu lỏng, tầm bắn hạn chế hơn nhiều so với ‘người anh em’ vừa được thử thành công hồi tháng 8 vừa qua.
 
Cũng trong tháng 8, hải quân Trung Quốc được cho là đã bắn thử thành công tên lửa đạn đạo mang tên Cự Lãng – 2 từ tàu ngầm. Tên lửa này có tầm bắn 7.200km và cũng có khả năng mang theo nhiều đầu đạn.
 
Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc
Tên lửa Cự Lãng – 2 được cho là đã phóng thành công từ tàu ngầm – Ảnh: Backchina.com
Lâu nay, Bắc Kinh luôn khẳng định “vũ khí hạt nhân không phải là lựa chọn đầu tiên, chỉ trừ khi Trung Quốc phải hứng chịu sự tấn công hạt nhân của đối thủ. 
 
Phơi bày kho vũ khí hạt nhân Trung Quốc
Tên lửa Cự Lãng – 2 trong hầm chứa bí mật  – Ảnh: Backchina.com
CIA cho rằng, chính sách “không sử dụng vũ khí hạt nhân trước” dựa trên cơ sở là nước này chưa đủ tiềm lực hủy diệt hoàn toàn đối thủ cho dù có sử dụng vũ khí hạt nhân trước.
 
Tuy nhiên, với việc thử hai loại tên lửa phóng từ mặt đất là Đông Phong – 41 và tên lửa phóng từ tàu ngầm Cự Lãng – 2, CIA nói có lẽ “Trung Quốc sẽ thay đổi chiến lược hạt nhân”.
 
Trong diễn biến khác, tờ Bưu điện Washington dẫn lời quan chức CIA nói “công nghệ hạt nhân đã được Trung Quốc đẩy mạnh từ 15 năm trước, nhưng việc này không được Mỹ và các nước sở hữu vũ khí hạt nhân chú ý nhiều”.
 
“Tuy nhiên, cũng cần khẳng định là cho dù Đông Phong – 41 có thể mang được nhiều đầu đạn thì khoảng cách công nghệ giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn là vài chục năm”, nguồn tin CIA của tờ Bưu điện Washington nói thêm.
 
Văn Việt
 
 

HỢP TÁC ẤN – VIỆT XUNG QUANH TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG – BS

15 Th9

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

HỢP TÁC ẤN – VIỆT XUNG QUANH TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 13/09/2012

TTXVN (Bắc Kinh 12/9)

Trang “Tin tức Trung Quốc” mới đây đăng bài viết của Hồ Chí Dũng, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề an ninh, ngoại giao, chiến lược khu vực Nam Á và Đông Nam Á, trong đó cho rằng bất chấp Trung Quốc nhiều lần yêu cầu Ấn Độ không nên nhúng tay vào vùng biển này trước khi vấn đề Nam Hải (Biển Đông) được giải quyết, nhưng gần đây Công ty dầu khí quốc gia Ấn Độ vẫn kiên quyết ký hiệp định khai thác dầu khí tại Nam Hải với Chính phủ Việt Nam, cuốn vào cuộc chiến tranh giành dầu khí Nam Hải đã kéo dài hai tháng qua giữa Trung Quốc và Việt Nam, với ý đồ là cùng nhằm kiềm chế Trung Quốc. Công ty dầu khí quốc gia Ấn Độ tuyên bố tiếp tục hợp tác thăm dò dầu khí tại Nam Hải với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, làm cho tranh chấp tài nguyên dầu khí Nam Hải giữa Trung Quốc và Việt Nam bước vào giai đoạn mới, khiến cho xung đột ngày càng công khai hóa.

 

Trung Quốc kiên quyết bảo vệ tài nguyên dầu khí Nam Hải, tăng cường khai thác dầu khí tại Nam Hải, ngăn chặn các nước khác khai thác phi pháp đã trở thành biện pháp quan trọng của Trung Quốc nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia. Trong khi đó, Công ty dầu khí quốc gia Ấn Độ bất chấp nguy cơ có thể làm xấu đi quan hệ với Trung Quốc, cố ý tiếp tục hợp tác với Việt Nam, trên thực tế là một hành vi chiến tranh lạnh nhằm tranh giành nguồn năng lượng tại Nam Hải với Trung Quốc.

Năm ngoái, Trung Quốc đã cảnh báo Công ty dầu khí quốc gia Ấn Độ, nêu rõ hoạt động hợp tác thăm dò dầu khí giữa Ấn Độ và Việt Nam tại lô 128 đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Trung Quốc, là hàng vi khai thác phi pháp. Nhưng dường như Ấn Độ không sợ nguy cơ làm xấu đi quan hệ với Trung Quốc, tiếp tục triển khai “trò chơi lớn” về khai thác dầu khí với Trung Quốc. Đằng sau động thái này có thể là sự ủng hộ của các nước lớn phương Tây như Mỹ hoặc được giật dây bởi bối cảnh chiến lược của Ấn Độ là tiến quân vào Nam Hải.

Mỹ kích động các nước liên quan cuốn vào xung đột biển đảo và tài nguyên dầu khí, rắp tâm gây phiền phức, nhằm phong tỏa và bóp nghẹt yết hầu về nguồn tài nguyên dầu khí của Trung Quốc, cắt đứt mọi nguồn cung ứng dầu khí cho Trung Quốc, thu hẹp không gian cơ động chiến lược về nguồn năng lượng Trung Quốc.

Nhằm phối hợp hành động với Mỹ, Ngoại trưởng Ấn Độ Krishna ngày 6/4/2012 công khai tuyên bố: “Ấn Độ cho rằng Nam Hải là tài sản của toàn thế giới, tuyến hàng hải của nó nhất định không chịu bất cứ sự quấy nhiễu của quốc gia nào”. Đây là sự đáp trả đối với việc Trung Quốc cảnh báo Ấn Độ không nên can thiệp vào vấn đề Nam Hải.

Đối với tình hình Nam Hải hiện nay, Trung Quốc sớm muộn cũng sẽ bị thúc ép buộc phải có những phản ứng tất yếu, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải. Nhưng một số nước như Việt Nam sẽ không chắp tay nhượng trả các đảo đã chiếm cho Trung Quốc, chiến tranh Nam Hải giữa hai nước Trung – Việt là không thể tránh khỏi. Để bảo vệ lợi ích đã có tại Nam Hải, đề phòng Trung Quốc sử dụng vũ lực thu hồi các đảo tại Nam Sa (Trường Sa), Việt Nam không thể không lôi kéo các nước lớn ngoài khu vực, ý đồ mượn sức mạnh của nước khác để đối kháng với một Trung Quốc ngày càng lớn mạnh.

Việt Nam ra sức lôi kéo các nước ngoài khu vực như Mỹ, Nga, Ấn Độ tham gia các công việc Nam Hải, đồng thời lấy Vịnh Cam Ranh làm mồi nhử, thúc giục hải quân hai nước Nga, Mỹ nhanh chóng xây dựng căn cứ, nhằm uy hiếp Trung Quốc. Việt Nam đang lôi kéo ngày càng nhiều nước can thiệp vào Nam Hải, hy vọng quốc tế hóa vấn đề tranh chấp Nam Hải, khuấy đục tình hình để trục lợi bất chính. Trong khi đó, Mỹ cũng mong đợi Ấn Độ trở thành lực lượng kiềm chế Trung Quốc. Mỹ hy vọng có thể cậy nhờ vào quan hệ hai nước Mỹ – Ấn để ổn định châu Á, đồng thời đề phòng sức ảnh hưởng không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc.

Hai nước Ấn – Việt không chỉ hỗ trợ nhau về chính trị, mà cả trên lĩnh vực quân sự, đặc biệt là giúp đỡ lẫn nhau nâng cấp trang bị hải quân. Việt Nam gần đây đã gia hạn hợp đồng hợp tác thăm dò dầu khí Nam Hải với Ấn Độ, động thái này cho thấy Ấn Độ sẽ can dự vào tranh chấp Nam Hải. Từ đầu thế kỉ 21 đến nay, Việt Nam đã tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với Ấn Độ, thậm chí Việt Nam đề xuất kiến nghị cho phép Ấn Độ được quyền cập bến vĩnh viễn tại cảng Nha Trang, nằm ở phía Nam vịnh Tam Á của Trung Quốc, đồng thời hy vọng Ấn Độ giúp đỡ mình xây dựng tàu tuần tra và tàu tấn công cao tốc, nhằm nâng cao thực lực hải quân Việt Nam.

Tháng 11/2011, Công ty dầu khí lớn nhất của Ấn Độ nhận lời mời của Việt Nam, mong muốn khai thác hai giếng dầu tại Nam Hải. Đây là hành động tiếp sau Mỹ, Ấn Độ cũng muốn khuấy đục Nam Hải nhằm trục lợi. Hiện nay, Ấn Độ đang ra sức thúc đẩy nhiều chiến lược chống Trung Quốc ngay tại sân sau của Trung Quốc. Ấn Độ muốn xây dựng một tuyến đường cao tốc nối liền Ấn Độ với các nước ASEAN. Ấn Độ tích cực can dự vào tranh chấp Nam Hải, tích cực mở rộng thế lực sang khu vực Nam Hải, triển khai quan hệ hợp tác chính trị, quân sự mật thiết với Việt Nam, tích cực tiến sâu vào khu vực Đông Nam Á, ý muốn thực hiện mục tiêu chiến lược “nước lớn thế giới” của Ấn Độ.

Các dự án hợp tác song phương Ấn – Việt hoàn toàn là sản phẩm của hợp tác chiến lược quân sự, kinh tế do chính trị chủ đạo. Ấn Độ cung cấp một lượng lớn vũ khí cho Việt Nam, Ấn Độ còn đồng ý xuất khẩu tên lửa chống hạm siêu thanh Brahmos cho Việt Nam, ở một chừng mực nhất định có thể nâng cao sức mạnh hải quân của Việt Nam.

Trong khi đó, Việt Nam dự tính mở cửa căn cứ quân sự của mình cho Ấn Độ. Việt Nam đang cùng với Ấn Độ xây dựng “kế hoạch hợp tác Ấn – Việt” theo hình thức đồng minh bán quân sự nhằm vào Trung Quốc, kế hoạch này đồng ý cho Ấn Độ “mượn” Việt Nam để xây dựng căn cứ hải quân phía Đông, dùng để cập bến cho tàu sân bay của Ấn Độ. Việt Nam nhờ cậy vào sức mạnh hải quân của Ấn Độ để chống lại các cường quốc xung quanh.

Ấn Độ phát triển quan hệ quân sự với Việt Nam, là thể hiện cụ thể về chiến lược “hướng Đông”, của Ấn Độ. Hai nước phát triển quan hệ hợp tác quân sự có mục tiêu chung – đó là Trung Quốc. Nhu cầu chiến lược “bắt tay kiềm chế Trung Quốc” là cơ sở quan trọng nhất của hợp tác hai nước.

Ấn Độ tích cực tranh giành quyền lợi Nam Hải, bất chấp cảnh báo nghiêm khắc của Trung Quốc, đã bộc lộ động cơ chiến lược: Một là, tích cực phối hợp với Mỹ kiềm chế Trung Quốc, lấy Nam Hải làm mục tiêu quấy rối, lấy việc kìm hãm đối với nhu cầu năng lượng của Trung Quốc để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Hai là, ý đồ là cho tranh chấp Nam Hải phức tạp hóa, chính trị hóa và quốc tế hóa để trục lợi. Ba là, chủ động can dự, kiềm chế bố cục chiến lược của Trung Quốc tại Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.

Chính phủ Trung Quốc kiên quyết phản đối nước lớn bên ngoài can dự vào vấn đề Nam Hải, kiên quyết phản đối mở rộng hóa và phức tạp hóa vấn đề Nam Hải. Ấn Độ thẳng tiến vào Nam Hải, ý đồ khuấy đục Nam Hải, cuối cùng sẽ tự vác đá đập vào chân mình./.

Khi Thủ tướng ‘đánh’ các trang web ảo – BBC

15 Th9

Khi Thủ tướng ‘đánh’ các trang web ảo

 
Trang web Dân làm báo

Website của Chính phủ Việt Nam chiều 12/9 đăng công văn thông báo ý kiến của ông Nguyễn Tấn Dũng về xử lý “việc đăng tải thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước”.

Công văn số 7169 /VPCP-NC nêu rõ tên ba trang mạng là Quan làm báo, Dân làm báo và Biển Đông, bị cho là các trang mạng “phản động”, ” thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch”.

 các trang này “bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội” và yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải tại đây.

Ngay lập tức, các báo trong nước đồng loạt đăng nguyên văn chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Một số trang “lề phải” cũng mở cuộc chiến trực diện với các trang mạng vẫn bị chặn ở Việt Nam mà nhiều người thực sự chỉ biết tới sau khi đọc thông báo ý kiến Thủ tướng.

Tờ Giáo dục Việt Nam, báo của ngành giáo dục, đăng chùm ảnh nhằm chứng minh ” Bấm Quan làm báo đã sai sự thật như thế nào?“.

Chùm ảnh này mô tả các ‘đại gia’ Việt như Trầm Bê, Nguyễn Đăng Quang, Hồ Hùng Anh xuất hiện tại nhiều sự kiện, bác bỏ thông tin họ đã bị bắt như nêu trên Quan làm báo.

Tờ Giáo dục Việt Nam cũng nhắc lại tuyên bố của báo Thanh Niên rằng báo này không “tô son trát phấn cho các đại gia’ như Quan làm báo đưa tin.

Một tờ báo điện tử khác, PetroTimes, do cựu đại tá công an Nguyễn Như Phong làm chủ biên, cũng bắt đầu chạy loạt bài phóng sự điều tra về Quan làm báo, mở đầu bằng bài Bấm Thủ đoạn “ném đá giấu tay” của “Quan làm báo”.

Bài của nhóm phóng viên PetroTimes nói trang blog này là “do các phần tử cơ hội chính trị ở nước ngoài, có sự tiếp tay của một số phần tử thoái hóa biến chất trong nước” lập ra.

Báo này còn khẳng định qua các nguồn thông tin riêng đã nắm bắt được cách thức hoạt động cũng như “dã tâm của các phần tử phá hoại”.

‘Cơ hội chính trị’

 

‘Không bình tĩnh và thiếu khôn ngoan’

Nhà văn, blogger Phạm Viết Đào nhận xét về chỉ thị điều tra xử lý Quan làm báo, Dân làm báo và các trang bị cho là phản động.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Bấm vào đây để tải Flash Player mới nhất

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

PetroTimes nói Quan làm báo có lối viết suy diễn, bôi nhọ cá nhân, thậm chí là chửi đổng, và rằng “những kẻ cơ hội chính trị đã lợi dụng việc cung cấp thông tin chưa kịp thời của các cơ quan chức năng trong một số sự kiện thời sự để dẫn dụ người đọc vào thế giới tin đồn của Quan làm báo”.

Báo của ông Nguyễn Như Phong, cựu phó tổng biên tập tờ Công an Nhân dân, hứa trong số sau sẽ phân tích việc Quan làm báo đã “vẽ ra các cuộc chiến” và bịa đặt, đưa tin sai sự thật như thế nào.

Trong khi đó trang Quan làm báo khẳng định “Quan làm báo từ khi ra đời đến nay nêu cao sự nghiệp chống tham nhũng và lũng đoạn đất nước của chính Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và các Bố già” còn Dân làm báo tuyên bố sẽ tiếp tục đăng tải “thông tin và quan điểm đa chiều của mọi thành phần nhân dân”.

Dân làm báo viết: “Danlambao không chấp nhận và khuất phục trước mọi hành động bịt mồm, bịt mắt, bịt tai của bất kỳ nhà nước, đảng cầm quyền nào. Không ai có quyền phán xét và tự quyết định những gì mà công dân Việt Nam được đọc, nghe và trao đổi”.

Hiệu ứng nhãn tiền đầu tiên của chỉ đạo từ ông thủ tướng là lượng người đọc vào các trang mạng được nêu danh tăng vọt.

Căn cứ vào số thống kê trên trang nhất của Quan làm báo, chỉ trong chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, số lượt người đọc bài tăng gần một triệu.

“Đáng ra phải cân nhắc liệu quyết định của mình sẽ có hiệu quả hay không. Muốn chặn, nhưng chỉ chặn được ông này bà nọ, có tên tuổi, địa chỉ ở trong nước chứ những trang mạng ảo, đặt ở nước ngoài như thế này thì làm sao mà chặn được?”

Nhà văn, blogger Phạm Viết Đào

Giới quan sát nói rằng chỉ thị trong công văn 7169/VPCP-NC dường như không phải là “quyết định khôn ngoan”.

Nhà văn Phạm Viết Đào, người từng công tác trong ngành thanh tra văn hóa-thông tin đồng thời là chủ một blog nhiều người đọc, nhận xét rằng đây chứng tỏ thái độ “thiếu bình tĩnh”.

Không khả thi

Ông Phạm Viết Đào nói với BBC: “Thực ra việc ngăn chặn các trang mạng, các trang blog nhạy cảm được thực hiện ở trong nước lâu nay rồi, nhưng đây có lẽ là lần đầu tiên Thủ tướng nêu đích danh ba trang mạng ảo như vậy”.

“Các thông tin đưa trên Dân làm báo, Quan làm báo được dân blog trong nước gọi là “ghê răng”, sát ván, trực diện đối đầu, tấn công Thủ tướng, Tổng bí thư… Tất nhiên không ai xác thực được tính chính xác của chúng”.

Theo blogger này, việc cấm đoán lại càng tăng tính tò mò trong giới độc giả, “lợi bất cập hại”.

“Đáng ra phải cân nhắc liệu quyết định của mình sẽ có hiệu quả hay không. Muốn chặn, nhưng chỉ chặn được ông này bà nọ, có tên tuổi, địa chỉ ở trong nước chứ những trang mạng ảo, đặt ở nước ngoài như thế này thì làm sao mà chặn được?”

“Đưa ra quyết định mà không thực hiện được thì thành ra lại buồn cười.”

Ông Phạm Viết Đào bình luận: “Nếu là nhà nước thì nên đi con đường chính thống”.

“Mình có những tờ báo lớn, các thông tin chính thức, thì nên cạnh tranh một cách hòa bình, lành mạnh.”

Báo chí Việt Nam Có ý kiến nên tập trung phát triển báo chí chính thống thay vì chặn blog

Ông nhận xét rằng các blog là xu hướng chung trong thời đại thông tin ngày nay và không thể đi ngược lại dòng chảy này.

“Các cơ quan chức năng vẫn kiểm tra kiểm duyệt các blog một cách ráo riết, nhưng dần dần cũng phải thực hiện theo luật pháp. Vả lại, bản thân những người làm công tác kiểm tra, họ cũng có nhận thức của mình, cái gì đúng, cái gì sai.”

“Muốn bưng bít, nhưng có bưng bít được đâu?”

Theo ông Đào, “giả sử ông Thủ tướng, Tổng Bí thư hay Trưởng ban Tuyên giáo có muốn áp đặt ý kiến riêng của mình thì cũng chưa chắc đã thành công. Họ có thể làm như vậy với báo lề phải, nhưng không thể làm với các blog”.

Thay vì ngăn chặn các blog cá nhân, cơ quan quản lý có thể xem xét cải thiện hoạt động của báo chí nhà nước.

“Báo chính thống ở Việt Nam đang chết, không bán được, các nhà báo kêu ca rất nhiều. Cung cách quản lý báo chí hiện nay của Nhà nước hoàn toàn không thông minh, không vì phát triển.”

 

Nhìn lại Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 – BBC

15 Th9

Nhìn lại Công hàm Phạm Văn Đồng 1958

Duy Tân Joële Nguyễn

Gửi cho BBC Việt ngữ từ Pháp

 
Cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn ĐồngTuyên bố 14/9/1958 của ông Phạm Văn Đồng tiếp tục gây các bàn cãi sau 54 năm

Ngày 14/9 năm nay đánh dấu 54 năm công hàm ngoại giao do Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Phạm Văn Đồng ký để phúc đáp tuyên bố của CHND Trung Hoa hôm 04/9 năm 1958 về hải phận 12 hải lý của nước này.

Công hàm của cố Thủ tướng Bắc Việt Nam khẳng định Chính phủ ở miền Bắc Việt Nam “ghi nhận và tán thành” tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận này và “sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm” của Việt Nam “triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý” của Trung Quốc.

 

Văn kiện này, vẫn được Trung Quốc coi là “cơ sở pháp lý” hậu thuẫn cho lý lẽ của Trung Quốc trong tranh chấp biển đảo với Việt Nam, tiếp tục gây tranh luận trong công luận trong và ngoài nước ở Việt Nam.

Nhân dịp này, BBC giới thiệu bài viết của học giả Pháp, bà Duy Tân Joële Nguyễn, chuyên gia chính trị học và luật quốc tế, người đã có nhiều nghiên cứu về tranh chấp trên Biển Đông, để bạn đọc tham khảo:

Quyền lợi quốc gia trên biển

Với Grotius, luật gia Hà Lan vào thế kỷ 17, biển thuộc về tất cả mọi người. Đồng thời, trong một phân tích có liên quan mà có thể được mô tả như là tiên báo, Sir Walter Raleigh, đã viết: “Ai nắm giữ biển là nắm giữ sự giàu có của thế giới, ai nắm giữ sự thịnh vượng của thế giới nắm giữ thế giới.”

Từ giữa thế kỷ 20, nhiều quốc gia giáp biển đã tán thành phân tích này. Các vấn đề địa chiến lược và kinh tế cũng đã trở nên ngày càng tường minh.

Hai ông Phạm Văn Đồng và Hồ Chí MinhTrong ‘Công hàm Phạm Văn Đồng’ lãnh đạo VNDCCH không nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa

Công ước LHQ về Luật Biển, có hiệu lực vào tháng 11/1994, thừa nhận chủ quyền của các quốc gia trên lãnh hải của họ nhưng đặc biệt là quyền khai thác các vùng nước, đất đai và tầng ngầm trên một khu vực đặc quyền kinh tế 200 hải lý (370 km) tính từ bờ biển của họ.

Quy định quyền sở hữu theo luật pháp quốc tế về nguồn lợi thủy sản, khoáng sản, dầu khí đã dẫn đến sự xuất hiện của vô số các cuộc xung đột giữa các quốc gia ven biển.

Vì vậy, Cuốn ‘Bản đồ địa chính trị về không gian hàng hải’ (Atlas géopolitique des espaces maritimes) đã viết vào năm 2010 rằng:

“Trong vòng 50 năm qua, hàng chục triệu cây số vuông vùng biển trước đây tự do về chủ quyền đã bị các nhà nước kiểm soát , điều đã dẫn đến cuộc đại chinh phục lãnh thổ lớn nhất mọi thời đại.”

Các quốc gia từ đây đều tính toán đến các được mất có tính chiến lược quân sự để bảo vệ các vùng cung cấp tài nguyên và để đảm bảo các tuyến đường thương mại và cung cấp các nguồn lực.

Trung Quốc, nhận thức các quyền lợi mà nước này có thể thấy được, đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn biển Đông (la Mer orientale), bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bởi một tấm bản đồ được gọi là “đường lưỡi bò” và viện dụng sức mạnh (chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 sau một trận chiến trên biển, trái với Hiến chương của Liên hợp quốc, và có các hành vi thù địch thường xuyên từ đó tới nay).

Chính trong bối cảnh này, chứ không phải trong bối cảnh tồn tại vào năm 1958, cần phân tích cuộc xung đột giữa Trung Quốc và các nước có chung biên giới trên Biển Đông, trong đó có Việt Nam, về chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đặc biệt hơn, trên khía cạnh pháp lý, theo quy định của pháp luật quốc tế, về tuyên bố của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng vào ngày 14/9/1958.

Hành động chính trị trong bối cảnh

“Với rất nhiều thận trọng và ngoại giao, không có thời điểm nào, bản tuyên bố nhắc tới hai quần đảo, vốn là chủ đề hiện nay về xung đột tuyên bố chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam”

Duy Tân Joelle Nguyễn

Ngày 14/9/2012 tròn 54 năm việc Thủ tướng Phạm Văn Đồng phúc đáp một tuyên bố của Trung Quốc ngày 4/9/1958, thiết lập phạm vi 12 dặm về lãnh hải từ đất liền của nước này, bao gồm hai quần đảo nói trên.

Ông lưu ý “ghi nhận và tán thành” trong bản tuyên bố về quyết định của Trung Quốc. Ông bổ sung trong công hàm rằng: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Đối với Trung Quốc, bản tuyên bố 1958 này phải được xem xét như sự công nhận pháp lý của Việt Nam về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này (Hoàng Sa, Trường Sa.)

Mớ các xung đột trong khu vực này kể từ đầu thế kỷ 20 làm cho việc phân tích trở nên vô cùng phức tạp đối với bản tuyên bố này, vốn chỉ là một hành động chính trị và ngoại giao mà không công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo.

1. Khi Trung Quốc lập bản tuyên bố ngày 04 tháng 9 năm 1958, nước này đang ở trong một bối cảnh xung đột cao với Hoa Kỳ. Lại có cuộc chiến Triều Tiên năm 1950. Các cuộc tấn công các đảo Quemoy và Matsu năm 1954-1955 và năm 1958 để giải phóng Đài Loan, đã dẫn đến phản ứng của Hoa Kỳ bảo vệ Đài Loan.

Công hàm Phạm VĂn ĐồngTrung Quốc muốn dùng công hàm 1958 để ép Việt Nam công nhận chủ quyền của mình trên Biển Đông

Vì Trung Quốc không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc vào lúc các cuộc thảo luận phát triển luật biển khởi đầu, bằng tuyên bố này, Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền đối với Đài Loan và giành quyền tuyên bố của mình trên hai quần đảo thuộc về Việt Nam.

Nhưng theo luật pháp quốc tế, rõ ràng việc khẳng định chủ quyền này không có cơ sở. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951, trong Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản, 46 tiểu bang đã từ chối công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo, bất chấp các phản đối của Trung Quốc. Đây là chủ quyền mà Trung Quốc không tuyên bố khi ký kết hiệp ước hòa bình song phương với Nhật Bản. Ngoài ra, Hiệp định Genève năm 1954 quy định việc tuân thủ của các quốc gia ký kết, bao gồm cả Trung Quốc, đối với: “nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”

2. Tuy nhiên, trong tình huống này, và vì lý do các mối quan hệ đặc biệt đã tồn tại giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ có thể phúc đáp. Tuy nhiên, với rất nhiều thận trọng và ngoại giao, không có thời điểm nào, bản tuyên bố nhắc tới hai quần đảo, vốn là chủ đề hiện nay về xung đột tuyên bố chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Hậu thuẫn của Trung Quốc, trong 19 năm xung đột giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, đã “đánh bẫy” chính phủ, như sự thừa nhận sau đó của ông Phạm Văn Đồng.

Hành động chính trị không hợp luật quốc tế

“Khi ông Phạm Văn Đồng đã thực hiện tuyên bố này, ông không đề cập các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông đã thực hiện một tuyên bố đơn phương”

Bà Duy Tân Joelle Nguyễn

Đây là lập luận hậu thuẫn nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bác bỏ nguyên tắc theo luật pháp quốc tế được viện dẫn bởi Trung Quốc bắt buộc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo.

Trước hết, vào năm 1958, khi ông Phạm Văn Đồng thực hiện tuyên bố này, ông không đề cập các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông đã thực hiện một tuyên bố đơn phương. Ông không liên đới Việt Nam vào đó, điều mà ông không thể làm. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải là Chính phủ có thẩm quyền đối với vùng lãnh thổ: “Chúng tôi không thể từ bỏ cái gì mà chúng tôi không có thẩm quyền”.

Cần phải nhớ rằng Trung Quốc chỉ quan tâm đến các quần đảo này vào đầu thế kỷ 20 (1909) trong khi nó đã được tìm thấy từ thế kỷ 18, Vương quốc An Nam đã quản lý có hiệu lực các quần đảo này; sau đó, trong thời kỳ thuộc địa, Pháp đã quản lý chúng, và sau Hiệp định Genève, Nhà nước Nam Việt Nam, cho đến tận năm 1975, luôn luôn khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này.

Bác bỏ nguyên tắc ngăn chặn

Trong pháp luật quốc tế, ngăn chặn là một nguyên tắc theo đó một nhà nước phải được coi như liên hệ với hành vi của nó trong quá khứ, và do đó không thể khẳng định một tuyên bố mới, không thể tuyên bố hoặc hành động mâu thuẫn với những gì mà nhà nước đó đã tuyên bố hoặc thực hiện từ trước, để bảo toàn tính chất chắc chắn pháp lý và sự tin cậy giữa các quốc gia. Tuy nhiên, ngăn chặn không có nghĩa là một nhà nước bị ràng buộc bởi tất cả những gì mà nhà nước đó đã tuyên bố.

 

Theo lý luận, có bốn điều kiện phải được đáp ứng.

(i) Tuyên bố hoặc quyết định phải được thực hiện bởi một cơ quan có thẩm quyền một cách rõ ràng và không lập lờ nước đôi.

(ii) Nhà nước tuyên bố “ngăn chặn” phải chứng minh rằng nhà nước này đã có được lòng tin trong cam kết mà nhà nước này đã thực hiện và hành động đúng theo;

(iii) Nhà nước phải chứng minh rằng quốc gia của mình đã bị thiệt hại hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi.

(iv) Nhà nước đã cam kết phải thực hiện nhất quán và luôn luôn nhất quán.

Kết quả là, nhà nước phải bày tỏ ý định quả quyết muốn được ràng buộc bởi cam kết này và sẽ tôn trọng nó.

Phân tích của chúng tôi đối với tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng thấy nó không hội đủ nguyên tắc ngăn chặn nói trên, một số điều kiện còn thiếu, đặc biệt, dự định nhằm công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không hề được trình bày một chút nào trong bản tuyên bố này.

Những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không còn phải là những tuyên bố của năm 1958. Các lợi ích địa chiến lược và kinh tế đang chi phối chính trị Trung Quốc.

Sự thể hiện ý chí về quyền lực, dựa trên sự hồi sinh của các giá trị Khổng giáo, vốn là phương thức phục hồi chủ nghĩa quốc gia dân tộc trong người dân Trung Quốc cũng đang gặp lại sự đáp ứng đối lại từ lòng yêu nước của người dân Việt Nam.

Tất cả những nhân tố này, không nghi ngờ gì, sẽ làm cho việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền ở Biển Đông trở nên vô cùng khó khăn.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, bà Duy Tân Joële Nguyễn, học giả và chuyên gia về chính trị và tư pháp quốc tế từ Pháp.

Ngưỡng chín muồi quan hệ Việt Nam – Singapore

15 Th9

Ngưỡng chín muồi quan hệ Việt Nam – Singapore

 

Việc ấn định thiết lập quan hệ đối tác chiến lược sau 40 năm quan hệ song phương thể hiện sự chín muồi trong quan hệ Việt Nam và Singapore.

 
Chuyến thăm chính thức Singapore của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (12-14/9) theo lời mời của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long – Tổng thư ký Đảng Hành động nhân dân (PAP), đảng cầm quyền ở Singapore, thu hút sự quan tâm của dư luận khi đạt cam kết hợp tác chiến lược quan trọng.

Đó là việc nhất trí nâng cấp quan hệ song phương, đưa Singapore trở thành quốc gia ASEAN đầu tiên thành đối tác chiến lược của Việt Nam.

Bản Tuyên bố báo chí chung giữa hai nhà lãnh đạo nhân chuyến thăm khẳng định cam kết Việt Nam – Singapore sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác và hợp tác song phương và mối quan hệ này “vì lợi ích của ASEAN”.

Tuyên bố sẽ ký một Hiệp định về Đối tác Chiến lược vào năm 2013, nhân dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao được hai nhà lãnh đạo nhất trí trên cơ sở nhận định quan hệ song phương đạt ngưỡng “nồng ấm và chín muồi”.

Hai bên kỳ vọng bản Hiệp định Đối tác Chiến lược này sẽ nâng tầm các mối quan hệ hiện có giữa Việt Nam và Singapore, đồng thời mở ra định hướng hợp tác mới trong các lĩnh vực, bao gồm giáo dục, đào tạo, tài chính, quốc phòng, an ninh.

 

Ảnh: VOV
 

Hơn một năm trước, ngay sau khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được bầu làm người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lý Hiển Long trong một lá thư riêng gửi tân Tổng bí thư đã gửi lời mời viếng thăm chính thức quốc đảo này.

Đây là lần thứ hai, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sang thăm Singapore, kể từ chuyến thăm đầu tiên của Tổng bí thư Đỗ Mười vào năm 1993.

Chỉ trong vòng chưa đầy 2 năm qua, đã có đến 3 chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước.

Trước đó, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ngay sau khi được bầu làm người đứng đầu Nhà nước đã chọn Singapore là điểm đến đầu tiên trong khu vực (9/2011). Tổng thống Singapore Tony Tan Keng Yam cũng chọn Việt Nam là điểm công du nước ngoài đầu tiên sau khi đắc cử Tổng thống (4/2012).

Những chuyến thăm, những cam kết chính trị đã không ngừng làm dầy hơn, sâu sắc hơn những cơ sở, nền tảng chắc chắc cho mọi lĩnh vực hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Singapore, trong đó phải kể đến lĩnh vực hợp tác kinh tế với các thành tựu thực chất điển hình.

Không thể không nhắc tới thành công của các khu công nghiệp Việt Nam và Singapore (VSIP), hình mẫu về hợp tác kinh tế song phương với quá trình hoạt động hơn 11 năm tại các tỉnh Bình Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ngãi. Đầu tư trực tiếp của Singapore vào Việt Nam khá ấn tượng, khi hiện đứng thứ 5 với 990 dự án, tổng số vốn 24 tỷ USD.

Nâng cấp quan hệ chiến lược lên tầm cao hơn, triển khai những cam kết mạnh mẽ, cho thấy xu hướng liên kết chính trị – kinh tế ngày càng chặt chẽ giữa Việt Nam và Singapore theo hướng thực chất, hiệu quả.

Và, khi mối quan hệ thực chất vì các lợi ích song phương được củng cố cũng tạo cơ sở cho những liên kết khu vực mạnh mẽ hơn.

Cùng tham gia cơ chế ASEAN, Việt Nam và Singapore đều ưu tiên tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực với mong muốn tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định tại Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương. Hai bên cùng chủ trương xây dựng một ASEAN đoàn kết, hợp tác, phát triển và ngày càng tích cực phát huy vai trò trong ASEAN.

Một trong những lợi ích lớn về hợp tác khu vực của hai nước, đó là xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 để bảo đảm sự tăng trưởng và thịnh vượng lâu dài của cả khu vực.

Trong chuyến thăm, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Lý Hiển Long đã cùng tái khẳng định cam kết phối hợp cùng nhau triển khai các sáng kiến củng cố ASEAN như là động lực trung tâm trong cấu trúc khu vực đang phát triển, nhất trí về tầm quan trọng của việc đạt được hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực, cũng như việc cải thiện khả năng kết nối giữa Đông Nam Á và phần còn lại của thế giới.

Hai bên cũng chia sẻ những quan điểm về giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Theo đó, Việt Nam cùng Singapore nhất trí cho rằng tình hình này cần được giải quyết một cách hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Hai nhà lãnh đạo hy vọng rằng các cuộc thảo luận giữa ASEAN và Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (COC) sẽ được khởi động vào thời điểm sớm nhất có thể.

Linh Thư

 

Thế giới 24h: Quan hệ Nhật, Trung nóng rãy

15 Th9

Thế giới 24h: Quan hệ Nhật, Trung nóng rãy

– Những căng thẳng trong quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc ngày một thêm nóng; Tai nạn thảm khốc làm hàng chục người chết ở Afghanistan … là các sự kiện nóng trong ngày.

Nổi bật

Theo tin từ Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản, sáng qua (14/9), sáu tàu hải giám của Trung Quốc đã đi vào vùng biển gần quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư tranh chấp với Nhật Bản.

Vụ việc này xảy ra chỉ vài ngày sau khi chính quyền Nhật Bản hoàn tất quốc hữu hóa những hòn đảo nói trên. Nhà chức trách Nhật Bản đã ra cảnh báo yêu cầu các tàu này rời đi.

Quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư, tâm điểm tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc. (Ảnh: AP)

Chính phủ Nhật Bản đã thành lập phòng đặc nhiệm tại Trung tâm xử lý khủng hoảng thuộc Văn phòng Thủ tướng cùng đội đặc nhiệm tại Cơ quan cảnh sát quốc gia để xử lý vấn đề.

Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda tuyên bố rằng, Tokyo “sẽ áp dụng tất cả các biện pháp có thể” nhằm đảm bảo an ninh xung quanh quần đảo Nhật Bản khẳng định chủ quyền.

Đáp lại, phía Trung Quốc cho rằng, hoạt động của các tàu này là để chứng tỏ quyền tài phán của Trung Quốc với Điếu Ngư và các đảo liền kề, bảo đảm lợi ích quốc gia ở trên biển.

Tokyo đã triệu Đại sứ Trung Quốc Cheng Yonghua đến để phản đối. Đồng thời, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Koichiro Gemba phải rút ngắn chuyến thăm Australia quay về ứng phó.

Theo tin mới nhất, đến khoảng 13 giờ 20 (giờ địa phương), tức khoảng 7 tiếng sau khi chiếc tàu đầu tiên đi vào vùng biển gần Senkaku/ Điếu Ngư, toàn bộ tàu Trung Quốc đã rút lui.

Trong một diễn biến khác cùng ngày, Nhật Bản đã cảnh báo an ninh với công dân nước này ở Trung Quốc sau hàng loạt vụ tấn công, gây rối, khi căng thẳng giữa hai nước tăng cao.

Những biện pháp an ninh này bao gồm cẩn trọng vào ban đêm, tránh những nơi đông người và tránh sử dụng tiếng Nhật ở nơi công cộng, một nhà ngoại giao của Nhật Bản cho hay.

Cơ quan ngoại giao của Nhật Bản tại Trung Quốc đã phải ra cảnh báo trên, bởi vì trong những ngày qua đã xảy ra tổng cộng sáu vụ người dân bản địa tấn công công dân Nhật Bản.

Tin vắn

– Tòa án xử tội ác Khmer Đỏ hoãn phóng thích “Đệ nhất phu nhân” Khmer Đỏ, sau khi các ủy viên công tố yêu cầu áp dụng các điều kiện đi kèm.

– Chính phủ Hàn Quốc đã bắt đầu chuyển những văn phòng tới thành phố hành chính quốc gia Sejong nằm cách thủ đô Soeul 150km về phía Nam.

– Hạ viện Nga đã tiến hành tước tư cách nghị sĩ của ông Gennady Gudkov, một trong những người chỉ trích Tổng thống Vladimir Putin kịch liệt nhất.

– Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản cam kết sẽ tiếp tục nỗ lực giải quyết những vấn đề liên quan tới CHDCND Triều Tiên “một cách toàn diện”.

– Đài Loan yêu cầu Nhật cam kết để các ngư dân vùng lãnh thổ này có thể tiếp tục đánh bắt cá ở những vùng biển tranh chấp trên Biển Hoa Đông.

– Lực lượng an ninh Yemen đã bắn chỉ thiên và hơi cay vào đám đông khoảng 2.000 người tìm cách tuần hành qua sứ quán Mỹ tại thủ đô Sanaa.

– Ít nhất 19 người thiệt mạng cùng 30 người bị mất tích sau khi mưa lớn kéo dài gây ra hiện tượng lở đất và lũ quét ở khu vực miền bắc của Ấn Độ.

– Ngày 14/9, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết các thành viên của một nhóm thuộc phe đối lập ở Syria sẽ đến thăm Trung Quốc trong tuần tới.

– Một vụ va chạm kinh hoàng giữa xe khách và xe chở nhiên liệu tại Afghanistan trong ngày 14/9, khiến 50 người thiệt mạng, nhiều người bị thương.

Tin ảnh

Hôm 13/9, hàng trăm người Yemen đã phá vỡ cổng chính và xông vào khu vực sứ quán Mỹ. (Ảnh: AP)

Phát ngôn ấn tượng

Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean-Yves Le Drian. (Ảnh: Acus)

Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean-Yves Le Drian cho biết, cộng đồng quốc tế đang thảo luận khả năng thiết lập “vùng giải phóng” tại Syria.

Tuy nhiên ông Jean-Yves Le Drian cũng khẳng định, Pháp “không hề có ý định, bây giờ hoặc sau này, chuyển vũ khí cho phe đối lập ở Syria”.

Ngày này năm xưa

Ngày 15/9/1945, Việt Nam Thông tấn xã phát đi toàn thế giới bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ đó, ngày 15/9 trở thành Ngày truyền thống của ngành thông tấn.

Theo Nghị quyết số 84/UBTVQH ngày 12/5/1977 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã (VNTTX) được đổi thành Thông tấn xã Việt Nam.

Thanh Vân (tổng hợp)

Thơ : THANG BẢY MƯA NGÂU – Nhật Hòa

15 Th9

THANG BAY MUA NGAU.

 

Đêm sao u tối mưa vào lạnh
Lay lắt hàng cây lá ướt đầm
Mãnh vỡ duyên tình theo dĩ vãng
Chắt chiu tìm lại hướng xa xăm
 
Mưa rơi 4 hướng lê thê mãi
Rồi lại gom về lối biển khơi
Mây đứng ơ hờ nhìn tục lụy
Trái sầu chín rụng 1 phương trời
 
Đêm mưa trũng xuống như đêm trước
Mưa vẫn đan mưa mãi chẵng ngừng
Vẫn đếm giọt buồn trên phố vắng
Nỗi niềm ray rứt .. lệ rưng rưng!
 
Mây mỏng bay về biết có tan?
Ô vuông cửa nhỏ gió lang thang
Sáng nay lại giống như bao sáng
Chẵng có gì vui đến rộn ràng !!
 
                       Buổi sáng mưa nhiều nắng có lên
                       Hay mưa phủ kín … ngõ không tên…..
 
 
               mot ngay trong thang 7…  NHẬT HÒA    
%d bloggers like this: