Lưu trữ | 11:45 Chiều

‘Việt Nam là một phần của đời tôi’ – ĐV

16 Th9

‘Việt Nam là một phần của đời tôi’

 
(ĐVO) Đó là phát biểu khi trả  lời phỏng vấn Spiegel Online của Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế Đức Philipp Rösler .
 
Vào ngày Thứ Hai tới, chính khách Đức gốc Việt Philipp Rösler sẽ sang thăm Việt Nam, trên cương vị Phó thủ tướng và Bộ trưởng Kinh tế. Đó sẽ là một chuyến thăm đáng nhớ, mặc dù trước đây ông đã từng cùng vợ thăm Việt Nam. 
 
 
Thủ tướng Đức Angela Merkel và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế
Philipp Rösler. Ảnh german info

 

Sau đây là trích lược cuộc trả lời phỏng vấn của Phó thủ tướng Philipp Rösler trước chuyến đi:

+ Ông sắp đi thăm Việt Nam, nơi ông chào đời. Vậy ông chờ đợi những gì ở chuyến thăm đáng nhớ này?

– Tôi hy vọng rằng giới kinh doanh Đức sẽ thu được nhiều thành quả từ chuyến thăm này. Việt Nam là một đất nước đang đi lên và chính vì vậy là một thị trường hấp dẫn đối với các công ty của chúng ta (Đức). Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong những năm qua, trong đó có những tiến bộ hướng tới tự do kinh tế sâu rộng hơn. Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức, trong đó có một số vấn đề liên quan đến pháp quyền.

+ Chuyến thăm Việt Nam của ông rất được chú ý. Dù sao thì câu chuyện cá nhân của ông cũng liên quan mật thiết với lịch sử Việt Nam gần đây… Ông có nhớ chút gì về quá khứ?

– Tôi từng sống vài tháng ở Khánh Hưng (hiện thời là Sóc Trăng) trong một trại nuôi trẻ mồ côi của nhà thờ Thiên chúa giáo. Đó là vào năm 1973. Tất nhiên là tôi không thể nhớ những gì đã xảy ra vào thời điểm đó. Cách đây vài năm, tôi có đọc một bài đăng trên tạp chí Spiegel về trại trẻ mồ côi này. Hơn 3.000 trẻ mồ côi đã được các xơ nuôi dưỡng ở đây. Họ đã làm giấy khai sinh và tạo điều kiện cho các thủ tục nhận làm con nuôi được tiến hành nhanh chóng.

+ Hai bà xơ Mary Marthe và Sylvie Marthe đã chăm sóc ông ở Khánh Hưng trong những tháng đầu đời. Ông đã được nhận làm con nuôi và được mang sang Đức hồi tháng 11/1973. Xơ Mary Marthe hiện vẫn đang sống ở Việt Nam. Vậy ông có còn liên lạc với bà ấy?

– Tôi đã liên lạc với bà ấy, khi tôi trở thành Bộ trưởng Y tế Đức hồi mùa Thu năm 2009. Cánh phóng viên đã đến Việt Nam và lấy được một số bức ảnh hồi bé của tôi từ xơ Mary Marthe. Sau đó, bà ấy đã liên lạc với tôi qua một bà xơ khác có địa chỉ e-mail. Tôi rất cảm động.

+ Cách đây 6 năm, ông đã tiến hành chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên cùng với vợ, nhưng lại không đến nơi ông từng được nuôi dưỡng khi còn là trẻ sơ sinh. Liệu đó có phải là một quyết định có ý thức?

– Đến năm 2006, tôi hoàn toàn không biết trại trẻ mồ côi đó nằm ở đâu. Tôi đã nhiều lần tìm địa danh Khánh Hưng trên bản đồ, nhưng không thể nào tìm thấy. Khi thăm quan Dinh Độc lập, tôi mới giải quyết được vấn đề nan giải này. Tại bảo tàng ở đây, tôi đã tìm thấy một bản đồ của Mỹ có ghi các địa danh cũ. Khánh Hưng, cũng giống như nhiều địa danh khác, đã bị đổi tên sau khi Việt Nam thống nhất.

+ Vì sao ông không đến Sóc trăng trong chuyến đi đó?

– Khi đó, tôi đến Việt Nam với tư cách là một du khách bình thường. Vợ chồng tôi đang thăm quan Châu thổ sông Cửu Long. Hai vợ chồng tôi từng nghĩ rằng Sóc Trăng có lẽ cũng giống như những địa điểm khác mà chúng tôi từng thăm thú.

+ Vậy liệu ông có ý định làm một chuyến thăm bên lề chuyến thăm chính thức đã được lên lịch?

– Tôi đi thăm Việt Nam trên cương vị Bộ trưởng Kinh tế, một đại diện của giới kinh doanh Đức, chứ không phải là một chuyến đi tìm hiểu quá khứ của bản thân.

+ Có bao giờ cha nuôi ông giải thích vì sao lại chọn ông làm con nuôi?

– Cha nuôi tôi vốn là một người lính trong quân đội Đức. Trong thời gian đào tạo phi công lái máy bay lên thẳng ở Mỹ hồi những năm 1970, ông ấy có quen với một đồng nghiệp người Việt. Qua ông này, cha tôi biết được sự cùng khổ do chiến tranh gây ra và ở đó có nhiều trẻ mồ côi. Đó chính là lý do khiến ông nhận tôi làm con nuôi.

+ Đôi khi ông cũng nhận thấy khía cạnh châu Á của mình chứ?

– Ngoại hình của tôi đã nói lên điều đó. Chỉ có điều tôi không phải là một võ sư không thủ mà cũng không thường xuyên ăn thức ăn châu Á. Năm ngoái, khi tôi cùng với Thủ tướng Angela Merkel thăm Mỹ, hai vị bộ trưởng Mỹ gốc châu Á đã hỏi tôi về cuộc sống riêng tư. Tổng thống Obama cũng thế, nhưng ông ấy không hề tỏ ra ngạc nhiên. Suy cho cùng, Mỹ là một quốc gia của những người di cư.

Minh Bích (theo Spiegel Online)

Thế giới 7 ngày: Người Hồi giáo giận dữ; Nổi sóng Hoa Đông – VOV

16 Th9

Thế giới 7 ngày: Người Hồi giáo giận dữ; Nổi sóng Hoa Đông

(VOV) – Lãnh sự quán Mỹ tại Libya bị tấn công đúng ngày 11/9, căng thẳng Trung-Nhật leo thang, tranh cãi về hạt nhân Iran…

 

Ngày 11/9 (theo giờ địa phương), các hoạt động tưởng niệm nạn nhân vụ tấn công khủng bố 11/9 đã diễn ra trên toàn nước Mỹ, từ thủ đô Washington, Pennsylvania cho đến New York, nơi gần 3.000 người thiệt mạng cách đây tròn 11 năm. Tổng thống Mỹ Barack Obama và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta dự Lễ kỷ niệm lần thứ 11 vụ tấn công 11/9, tại Lầu Năm Góc (Ảnh: Reuters)

 

 

Quan tài mang thi thể của Đại sứ Christopher Stevens và ba người Mỹ khác, những người đã chết trong một cuộc tấn công ở Libya, trở về nhà. (Ảnh: Fox News) Họ đã thiệt mạng sau khi các tay súng tấn công lãnh sự quán Mỹ tại Benghazi đúng vào đêm thứ Ba 11/9. Vụ tấn công xảy ra cùng ngày với vụ một nhóm người biểu tình tấn công Đại sứ quán Mỹ tại thủ đô Cairo (Ai Cập), xé cờ Mỹ và thay bằng một lá cờ Hồi giáo màu đen. Các cuộc biểu tình này được cho là xuất phát từ một bộ phim do những thành viên cộng đồng Thiên chúa giáo Ai Cập sống lưu vong tại Mỹ sản xuất có nội dung xúc phạm đạo Hồi.

 

 

Những người biểu tình phản đối cảnh sát chống bạo động bảo vệ Đại sứ quán Mỹ ở Tunis, ngày 14/9/2012. Cuộc biểu tình giận dữ chống lại bộ phim chống Hồi giáo lan khắp Trung Đông. (Ảnh: AP), khiến cho Mỹ hết sức lo ngại cho an ninh của các nhân viên cơ quan ngoại giao.

 

 

Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Yukiya Aman trước cuộc họp Ban lãnh đạo IAEA tại Trung tâm Quốc tế ở Vienna, Áo, ngày 10/9 (Ảnh: AP). Tại cuộc họp này, IAEA đã thông qua Nghị quyết về Iran, có sự đồng thuận của Nga và Trung Quốc. Các thành viên trong Ban giám đốc của IAEA với đa số tán thành đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc trước những bước tiến mà Tehran đã đạt được trong chương trình phát triển hạt nhân, thúc giục Iran tuân thủ nghị quyết của IAEA mà không có bất cứ sự trì hoãn nào. IAEA cũng nêu rõ nguyện vọng của cơ quan này là nhằm tìm giải pháp hòa bình cho vấn đề trên.

 

 

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu bắt tay Ngoại trưởng Đức Guido Westerwelle trong cuộc gặp gỡ tại Jerusalem ngày 9/9/2012 (Ảnh: Reuters). Ngoại trưởng Đức kêu gọi Iran đưa ra “những đề xuất thực tế” nhằm tái khởi động tiến trình đàm phán hạt nhân giữa Iran và các cường quốc, đồng thời tái khẳng định sự đồng thuận quan điểm với Israel về vấn đề hạt nhân của Iran.

 

 

Máy bay giám sát Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản giám sát tàu hải giám Trung Quốc gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư (Ảnh Reuters). 6 tàu hải giám Trung Quốc vào vùng biển gần quần đảo tranh chấp chỉ một thời gian ngắn nhưng đã khiến căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất của châu Á tăng lên mức cao nhất kể từ 2010.

  

Hàng trăm người biểu tình trước Đại sứ quán Nhật Bản tại Bắc Kinh vào thứ Bảy 15/9, giữa lúc căng thẳng ngày càng tăng giữa hai nền kinh tế lớn nhất của châu Á về quần đảo tranh chấp Senkaku/Điều Ngư (Ảnh: Reuters). Trong bối cảnh đó, Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã lên tiếng, khẳng định, các công dân Nhật Bản tại Trung Quốc được bảo đảm an toàn theo luật pháp. Ngày 16/9, Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda yêu cầu phía Trung Quốc đảm bảo an toàn cho công dân và doanh nghiệp Nhật Bản.

 

 

Neil Armstrong, phi hành gia người Mỹ, người đầu tiên đặt chân lên mặt Trăng vào ngày 20/7/1969, đã qua hôm 25/8, thọ 82 tuổi. Lễ an táng cử hành hôm 14/9. Tro cốt của Armstrong do tàu chiến “Philippine Sea” chở tới địa điểm mai táng ở Đại Tây Dương. Ảnh Lễ mai táng Armstrong theo truyền thống của Hải quân Mỹ (Reuters)

 

 

Tổng thống Syria Bashar al-Assad gặp Đặc phái viên của LHQ và Liên đoàn Arab Lakhdar Brahimi tại Damascus ngày 15/9/2012. Đặc phái viên gặp ông al-Assad để thảo luận về các nỗ lực chấm dứt cuộc xung đột kéo dài 18 tháng, ước tính làm thiệt mạng hơn 27.000 người (Ảnh Reutes)

 

Bích Đào/VOV online
Tổng hợp

Thế giới 24h: Căng thẳng Trung – Nhật lên đỉnh điểm

16 Th9

Thế giới 24h: Căng thẳng Trung – Nhật lên đỉnh điểm

 
Sự kiện: 
 
(VTC News) – Trung Quốc tập trận bắn đạn thật trên biển Hoa Đông; biểu tình chống Nhật tại Trung Quốc biến thành đụng độ; hai tàu chiến Hàn Quốc thăm Nga;… là những tin đáng chú ý trong ngày 16/9.
 

» Thế giới 24h: 11 thủy thủ Việt Nam sống sót trở về
» Thế giới 24h: Philippines thêm ‘nanh vuốt’ cho soái hạm
» Thế giới 24h: ‘Iran bí mật hậu thuẫn cho Syria’

 

Trung Quốc tập trận bắn đạn thật trên biển Hoa Đông

Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) tối 15/9 đưa tin hạm đội biển Hoa Đông của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) vừa tiến hành tập trận bắn đạn thật trên biển Hoa Đông.
 
Lu Qiangqiang, hạm trưởng của một tàu chiến, cho biết lực lượng chính của hạm đội (gồm hàng chục tàu chiến, máy bay chiến đấu, tàu ngầm và các đơn vị tên lửa) đã tiến hành 16 khoa mục huấn luyện tác chiến, từ đánh chặn tên lửa cho tới tìm kiếm và tấn công tàu ngầm.


Thế giới 24h: Căng thẳng Trung - Nhật lên đỉnh điểm
Một cuộc tập trận của Trung Quốc trên Biển Hoa Đông  


Ông Lu nói rằng hơn 40 tên lửa đã được phóng trong cuộc diễn tập này, vốn mô phỏng các tình huống thực chiến để thử nghiệm khả năng của hạm đội cùng các chiến thuật mới.
 
Nhiều cuộc tập trận đã được đưa tin kể từ khi Chính phủ Nhật Bản vào ngày 11/9 ký một hợp đồng với người mà Tokyo gọi là “chủ sở hữu tư nhân” để mua lại quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư).

Biểu tình chống Nhật tại Trung Quốc biến thành đụng độ

Người biểu tình phong tỏa cơ quan ngoại giao và cơ sở kinh doanh của Nhật tại hơn 50 thành phố ở Trung Quốc trong bối cảnh tranh cãi về chủ quyền đảo leo thang. Tại một số thành phố, biểu tình đã biến thành bạo động.

Tổng lãnh sự quán Nhật Bản tại thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, ngày 15/9 cho biết, khoảng 150 người biểu tình đã tấn công một siêu thị Jusco, đập vỡ cửa sổ của siêu thị này bằng các ống thép.
 
Lãnh sự quán cho biết những người biểu tình đã cướp các hàng hóa bán trong cửa hàng và đập phá các thiết bị ở đây.


Thế giới 24h: Căng thẳng Trung - Nhật lên đỉnh điểm
Biểu tình phản đối Nhật đã lan rộng trên 50 thành phố của Trung Quốc 


Thông qua mạng internet, những người tổ chức đã kêu gọi biểu tình tại hơn 50 thành phố trên toàn quốc vào ngày 15/9.

Đây là ngày nghỉ cuối tuần đầu tiên kể từ sau khi chính phủ Nhật Bản quốc hữu hóa một số đảo trong quần đảo Senkaku tới nay.
 
Hàng ngàn người biểu tình hôm qua đã bao vây Đại sứ quán Nhật Bản tại thủ đô Bắc Kinh, ném đá và chai lọ vào tòa sứ quán.
 
Một số người còn định nhảy vào Đại sứ quán khiến xảy ra cảnh giằng co với hàng trăm cảnh sát.
 
Mỹ lệnh nhân viên ngoại giao rời Tunisia và Sudan

Ngày 15/9, chính quyền Mỹ đã yêu cầu các nhân viên ngoại giao không có công vụ đặc biệt phải nhanh chóng rời khỏi Tunisia và Sudan, sau làn sóng biểu tình bạo lực bài người Mỹ.

Trong tuyên bố đưa ra, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland cho biết thêm nước này đã ban hành lệnh cảnh báo cho công dân Mỹ khi tới du lịch tại Tunisia và Sudan.

Bà Nuland khuyến cáo công dân tránh đi đến các khu vực Darfur của Sudan, Blue Nile và các bang miền Nam Kordofan.

Thế giới 24h: Căng thẳng Trung - Nhật lên đỉnh điểm
Các tín đồ Hồi giáo tấn công lãnh sự Mỹ tại Libya 


Ngoài ra, những nhân viên ngoại giao Mỹ còn ở lại Tunisia cần hết sức cẩn trọng và tránh xa các cuộc biểu tình.

Trước đó, ngày 14/9 Đại sứ quán Mỹ tại Tunis (Tunisia) và Khartoum (Sudan) đã bị các tín đồ Hồi giáo tấn công trong làn sóng phản đối bộ phim được cho là phỉ báng đấng tiên tri Mohammad do tín đồ Công giáo Ai Cập tại Mỹ sản xuất.

Mỹ lên kế hoạch nâng cấp kho vũ khí hạt nhân

Mặc dù ngân sách cho quốc phòng đang bị cắt giảm mạnh, nhưng chính phủ Mỹ đang lên kế hoạch tiến hành một đợt hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân với chi phí lớn kỷ lục, theo tin tức từ tờ The Washington Post (Mỹ) ngày 16/9.

Kế hoạch nói trên bao gồm nâng cấp và bảo trì 5.113 đầu đạn hạt nhân, làm mới hệ thống phóng và thay thế các cơ sở hạt nhân lỗi thời, The Washington Post tiết lộ.


Thế giới 24h: Căng thẳng Trung - Nhật lên đỉnh điểm
Bom B-53 đang được đưa đi bảo trì tại một kho vũ khí của Mỹ 


Chi phí cụ thể cho kế hoạch này không được công bố, nhưng tờ báo trích dẫn một nghiên cứu của một chuyên gia quốc phòng ước tính chính phủ có thể phải bỏ ra ít nhất là 325 tỉ USD.

Theo báo này, sẽ mất 5 năm và 10 tỉ USD để nâng cấp bom B61, một trong bảy loại khí tài trong kho vũ khí của Mỹ.

Và cần có 110 tỉ USD để thay thế 12 tàu ngầm lớp Ohio lỗi thời (trích dẫn theo ước tính của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ).

Hai tàu chiến Hàn Quốc thăm Nga

Hai tàu khu trục Hàn Quốc ngày 16/9 đã đến cảng Vladivostok thuộc vùng Viễn Đông của Nga để thực hiện một chuyến thăm kéo dài 2 ngày, theo hãng tin RIA Novosti.

“Lễ đón đã được tổ chức tại Vịnh Sừng Vàng”, phát ngôn viên Hạm đội Thái Bình Dương Nga Roman Martov nói. Ông cho biết thêm là tuần dương hạm gắn tên lửa Varyag của hạm đội đóng vai trò tàu chủ nhà.

Phái đoàn hải quân Hàn Quốc sẽ gặp các thành viên bộ chỉ huy hạm đội và chính quyền thành phố Vladivostok.


Thế giới 24h: Căng thẳng Trung - Nhật lên đỉnh điểm
Thành phố cảng Vladivostok sẽ đón 3 chuyến thăm của tàu hải quân nước ngoài trong tháng 9 


Các vị khách Hàn Quốc cũng sẽ đến đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm dành cho các thủy thủ của Hạm đội Thái Bình Dương.

Đây là chuyến đầu tiên trong 3 chuyến thăm của tàu hải quân nước ngoài đến Vladivostok trong tháng 9.

USS Vandegrift, một tàu khu trục lớp Oliver Hazard Perry của Hải quân Mỹ, sẽ thăm Vladivostok từ ngày 19 đến 22/9.

Trong khi một lực lượng đặc nhiệm hải quân Nhật Bản sẽ đến căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương vào ngày 23/9 để tham gia một cuộc tập trận chung chống hải tặc.

Mỹ cầu cứu Thổ Nhĩ Kỳ giúp xoa dịu người Hồi giáo

Theo Đài phát thanh “Tiếng nói Arập,” Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan ngày 15/9 đã kêu gọi các tín đồ Hồi giáo trên toàn thế giới chấm dứt mọi hành động bạo lực liên quan tới một bộ phim sản xuất tại Mỹ, có nội dung bị coi là phỉ báng nhà tiên tri Mohammed của đạo Hồi.


Thế giới 24h: Căng thẳng Trung - Nhật lên đỉnh điểm
Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan  


Ông Erdogan đưa ra lời kêu gọi trên sau khi đích thân Tổng thống Mỹ Barack Obama gửi thư đề nghị ban lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên của NATO, nhưng là quốc gia Hồi giáo, có nhiều ảnh hưởng trong thế giới đạo Hồi, can thiệp để làm dịu nỗi bực tức của người Hồi giáo khắp nơi liên quan tới bộ phim trên.

Ngày 13/9, khoảng 500 người đã tham gia biểu tình tại thủ đô Tehran của Iran để phản đối bộ phim có nội dung phỉ báng đạo Hồi trên.

Hàng trăm cảnh sát và nhân viên an ninh đã được huy động để ngăn chặn đám đông tiến gần khu nhà ngoại giao này.

Đại sứ mới của Nhật Bản tại Trung Quốc đã qua đời

Đài truyền hình NHK Nhật Bản ngày 16/9 đưa tin, Đại sứ mới được bổ nhiệm của Nhật Bản tại Trung Quốc Shinichi Nishimiya đã qua đời tại bệnh viện sau khi bị đột quỵ hôm 13/9, chỉ hai ngày sau khi được bổ nhiệm.

Ông Nishimiya được bổ nhiệm thay ông Uichiro Niwa làm đại sứ ở Trung Quốc vào thời điểm Nhật-Trung đang bất đồng về chủ quyền đối với quần đảo Senkaku (Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư) trên biển Hoa Đông.


Thế giới 24h: Căng thẳng Trung - Nhật lên đỉnh điểm
Đại sứ Nhật Bản mới được bổ nhiệm tại Trung Quốc Shinichi Nishimiya  


Trước đó, truyền thông Nhật Bản dẫn nguồn tin ngoại giao cho biết Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Nishimiya Shinichi bị đột quỵ trên đoạn đường gần nhà ở quận Shibuya, Tokyo, và đã được chuyển đến bệnh viện.

Báo Sankei và Asahi ngày 13/9 dẫn nguồn tin Bộ Ngoại giao Nhật Bản cho hay gia đình ông Nishimiya nóit ông không được khỏe và phải đến bệnh viện.

Mạng tin Asahi dẫn lời các nhân chứng cho biết lúc 8 giờ 45 phút sáng 13/9, một người đàn ông ngã quỵ ở đoạn đường thuộc tổ 2 khu Shoto, quận Shibuya, Tokyo, cách nhà ông một đoạn ngắn. Một phụ nữ đi đường đã gọi điện cho 110.

Sở cảnh sát Shibuya xác định nạn nhân chính là tân Đại sứ Nishimiya Shinichi (60 tuổi).
 

» Thế giới 24h: Trung Quốc dùng ‘đường cơ sở’ đe Nhật
» Thế giới 24h: Trung Quốc tập trận ‘răn đe’ Nhật Bản?
» Thế giới 24h: Cướp nhà băng, rải tiền chặn cảnh sát
» Thế giới 24h: Clip lãnh sự quán Mỹ bị bắn rocket
» Thế giới 24h: 11 thủy thủ Việt Nam sống sót trở về

 

Đỗ Hường (tổng hợp)

Ngộ nhận về chính sách đối ngoại cứng rắn của đảng Cộng Hoà (Mỹ) – VHNA

16 Th9

Ngộ nhận về chính sách đối ngoại cứng rắn của đảng Cộng Hoà (Mỹ)

Đoàn Hưng Quốc

 Ứng cử viên Tổng Thống Mitch Romney đã nhiều lần tuyên bố nước Nga là một “đối thủ chiến lược” của Hoa Kỳ trong lúc không hề đả động đến Trung Quốc trên hai phương diện ngoại giao và quốc phòng. Vì thế nếu có người cho rằng đảng Cộng Hoà theo đuổi lập trường đối ngoại cứng rắn thì cách nhìn này chỉ thích hợp trong thời Chiến Tranh Lạnh, và đến thế kỷ thứ 21 đã trở nên lệch lạc và cần thay đổi. 

Trong khi đó đảng Dân Chủ và quan điểm của Obama/Clinton về Á Châu không thể bị chê trách. Từ việc tái khẳng định vai trò của Mỹ như một cường quốc Thái Bình Dương, cho đến quyết định chuyển đổi trọng tâm chiến lược từ Đông sang Tây, sau đến nhiều chuyến công du của hai vị bộ trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng sang khu vực – cách hành xử này hoàn toàn trái nghịch với thái độ bỏ rơi vùng Đông Nam Á trong suốt 8 năm dưới thời tổng thống George W. Bush.

Nếu cho rằng đảng Cộng Hòa có lập trường ngoại giao vững chãi thì trong thực tế lần bầu cử năm 2012 họ không hề mang chiến lược quốc phòng ra làm chủ đề tranh luận. Điều này có thể giải thích do kinh tế là mối quan tâm duy nhất hiện thời của dân Mỹ; hoặc cả hai ông Mitch Romney và Paul Ryan đều không có kinh nghiệm đối ngoại. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vì đa số trong nước Mỹ không chê trách chính sách ngoại giao của Obama trên tổng quan; hoạ chăng các đối thủ chính trị chỉ có thể phê bình cách hành xử hàng ngày như thái độ trước cuộc tấn công sát hại đại sứ Hoa Kỳ tại Lybia vào tuần rồi. Cho dù đảng Cộng Hoà có thắng cử cũng sẽ không thay đổi hướng đi mà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã đề ra: rút quân khỏi Apganixtan; cô lập Iran và Bắc hàn; ngăn chặn ảnh hưởng bành trướng của Trung Quốc; ủng hộ các phong trào dân chủ tại Syrie và Miến Điện.

Ứng cử viên Mitch Romney tố cáo Trung Quốc đã kèm giá đồng Nhân Dân Tệ, ăn cắp bản quyền, kiểm soát thị trường nội địa, và hứa hẹn sẽ có biện pháp cứng rắn hơn chính quyền Obama để tái lập cân bằng mậu dịch. Nhưng ông chưa hề lên tiếng về tham vọng bành trướng của Bắc Kinh tại Đông Á cũng như không bày tỏ lập trường xem Trung Quốc là một đối thủ chiến lược tại Thái Bình Dương trong thế kỷ 21.

Trong quá khứ thì quả thực các tổng thống của đảng Cộng Hoà có lập trường đối ngoại cứng rắn nhưng chỉ là đối với Trung Đông và Âu Châu: Richard Nixon rút quân khỏi Việt Nam; Ronald Reagan kềm chế Liên Xô ở Apganixtan và Tây Âu; George Bush tấn công Iraq; George W. Bush sa lầy tại Iraq và A Phú Hãn. Các chính sách này đã góp phần lớn trong việc kết thúc Chiến Tranh Lạnh và ngăn chận nạn khủng bố Hồi Giáo cực đoan. Tuy nhiên kết quả vẫn thiệt thòi cho nhiều nước Á Châu trong đó có Việt Nam.

Âu Châu là đồng minh truyền thống và tối quan trọng của Hoa Kỳ; Trung Đông là vùng dầu hoả với ảnh hưởng chính trị đáng kể của khối cử tri gốc Do Thái. Nhưng Thái Bình Dương là khu vực tương lai đầy triển vọng và trắc trở, nên việc ứng cử viên Romney chỉ công du sang Âu Châu và Trung Đông vào tháng 7 mà không thăm viếng Á Châu chứng tỏ sự thiếu quan tâm và là một thiếu sót không kém gì chính quyền George W. Bush đã bỏ quên Đông Nam Á.

Hơn nữa không phải lúc nào cũng cần chứng tỏ sự cứng rắn. Bài học không thể quên được là nước Mỹ đã tổn hại tài nguyên nhân vật lực, sa lầy về quân sự và cô lập về chính trị do các quyết định nông nổi của George W. Bush. Nếu tiếp tục chính sách theo kiểu hô hào của Thượng Nghị Sĩ Cộng Hoà John Mc Cain đòi tăng quân tại Apganixtan – Iraq, đem lính vào Lybie & Syrie trong tình trạng ngân quỹ thâm thủng 15 ngàn tỷ USD thì làm thế nào còn thực lực để đối đầu với một đối thủ hùng mạnh như Trung Quốc?

Cánh Tân Bảo Thủ (neo-conservative) đã áp đão và mang lại nhiều tổn thất ngoại giao vô cùng trầm trọng dưới thời George W. Bush. Đến nay một vài nhân vật trong nhóm này làm cố vấn ngoại giao cho Mitch Romney, điển hình là John Bolton – một nhân vật chủ trương Mỹ phải đơn phương quyết đoán theo quyền lợi riêng mà không bị ràng buộc bởi luật pháp quốc tế và Liên Hiệp Quốc. Người viết tự hỏi với Mitch Romney làm tổng thống liệu Hoa Kỳ có sẽ lại vội vã tấn công Iran dưới áp lực của Do Thái để rồi lại sa lầy ở Trung Đông mà làm nhẹ đi trách nhiệm vùng Thái Bình Dương hay không?  

Trái với đảng Cộng Hoà lập trường của Ngoại Trưởng Hillary Clinton là áp dụng quyền lực một cách khôn ngoan (smart power). Các vấn đề thế giới cần được giải quyết bằng sự hợp tác của nhiều quốc gia trên căn bản luật pháp và công ước quốc tế, đồng thời vẫn chuẩn bị sức mạnh quốc phòng làm hậu thuẫn khi cần thiết. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với những tranh chấp tại Đông Á vì các nước một mặt cần Mỹ che chở đối với những động thái gây hấn của Trung Quốc, nhưng vẫn muốn tự chủ để không bị lôi kéo phải về một phía. Cho dù sau này nếu mỗi quốc gia phải chọn thái độ dứt khoát cũng vì Bắc Kinh đè nén quá đáng chứ không phải do Mỹ áp lực. Nền kinh tế của các nước Đông Á đang lên nên tự trang trải được cho cuộc chạy đua quốc phòng, vũ khí của từng nước cho dù thua kém Trung Quốc nhưng cộng chung lại không phải là kém cỏi. Hoa Kỳ bỏ vốn tuy ít nhưng thu lợi rất nhiều về cả ngoại giao lẫn hợp tác quốc phòng nên không phải lo về ngân sách sắp bị giảm chi trong những năm sắp tới.       

Ông Mitch Romney chống việc cắt xén 500 tỷ USD trong quốc phòng. Nhưng nợ ngập đầu, thuế không tăng thì chỉ còn cách giảm bớt nhiều chương trình xã hội. Dù vậy, lập trường về ngân sách nhất là của ứng cử viên Phó Tổng Thống Paul Ryan tuy gắt gao nhưng nghiêm chỉnh, cử tri cần tìm hiểu để cân nhắc trong việc chọn lựa lá phiếu của mình.   

Có nhiều lý do khác nhau để bầu cho đảng Cộng Hoà hay Dân Chủ: nợ công quá cao mà không có kế hoạt giải quyết; tình trạng thất nghiệp cải thiện quá chậm chạp.  Nhưng riêng về ngoại giao – nhất là về vai trò của Hoa Kỳ tại Biển Đông vốn được người Mỹ gốc Việt quan tâm – thì người viết đánh giá chính quyền Obama hơn điểm rất nhiều so với đảng Cộng Hoà./.

 

 

NỀN GIÁO DỤC CỦA CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA (Phần 1) – Sự tiếc nuối vô bờ bến – Hai Lúa

16 Th9

NỀN GIÁO DỤC CỦA CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA (Phần 1) – Sự tiếc nuối vô bờ bến

Giáo dục Việt Nam Cộng hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, “nền giáo dục đại học được tự trị”, và “những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”. Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.

Image

Ảnh Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn (Internet)

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc. Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.

Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị. Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn. Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng).

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển. Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” được chính thức hóa ở hội nghị này. Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa (1967).

1. Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản. Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

2. Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

3. Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.

2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại

Sưu tầm

(Còn tiếp)

Câu chuyện Chủ nhật: Một nền văn học thừa thơ, thiếu hài* – BĐX

16 Th9

Câu chuyện Chủ nhật: Một nền văn học thừa thơ, thiếu hài*

Nhà văn Nguyễn Hiếu
  Thêm một sự kiện có liên quan về thơ trên thi đàn đang tạo sự chú ý của ngưòi quan tâm đó là vụ “tự nhận thơ tiền nhân” của ông Hoàng Quang Thuận Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông-Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam với tập thơ” Thi vân Yên tử” được Tạp chí Nhà văn mở hội thảo. Nhân dịp này phóng viên Báo Bảo vệ Pháp Luật có cuộc trao đổi với nhà văn Nguyễn Hiếu .

 
 
Phóng viên:  Là một nhà văn viết nhiều thể loại và cũng gặt hái được những thành công trong văn chương ông đánh giá như thế nào về hiện tượng “thừa thơ và thiếu hài”của nền văn học Việt nam hiện nay ?
 
Nguyễn Hiếu: Tôi cho đây là một sự bất thường bởi lẽ với thể trạng bình thường của một nền văn học bao giờ cũng hội tụ đủ mọi thể loại. Tất nhiên do yêu cầu của từng giai đoạn xã hội nên có lúc thể loại này vượt trội hơn các thể loại khác. Còn nền văn học của ta nếu tính từ thời kì đổi mới tức là khoảng trên dưới hai thập kỉ đổ lại đây thì bên cạnh thực trạng “thừa thơ thiếu hài” đáng buồn còn phải kể đến sự teo tóp thảm hại của văn học cho thiếu nhi .
  
Phóng viên : Vâng , chúng ta sẽ trở lại sự ốm o của văn học dành cho các cháu vào một dịp khác. Theo ông vì sao lại có thực trạng “thừa thơ” bất thường như vậy ?
 
Nguyễn Hiếu : Về hiện tượng thừa thơ tôi đã nói khá kĩ trong bài in trong báo bảo vệ pháp luật  số đặc biệt ra ngày 31/8.2012. Này xin tóm tắt lại một số nguyên nhân chính. “Thừa thơ” nói theo giọng kinh tế tức là lạm phát. Nguyên nhân của sự lạm phát thơ thì có nhiều. Qui tụ lại một số nguyên nhân chính sau. Ngôn ngữ nứơc ta là ngôn ngữ có  6 thanh điệu, nên ngay trong sự trao đổi thường nhật dễ tạo ra sự nói vần, viết vần. Những câu nói vần và viết vần có hình thức đôi khi giống như thơ. Không ít ngưòi có khả năng nói vần, viết vần ngộ nhận mình là nhà thơ. Viết nên một bài văn vần có hình thức như thơ để tự phong hay được gọi là nhà thơ dễ hơn là viết một truyện ngắn, một tiểu thuyết, một vở kịch. Nhu cầu muốn bộc lộ tình cảm, suy nghĩ của mình nhất là ở lứa tuổi từ trung niên trở lên thông qua hình thức văn nghệ dễ làm, dễ chia xẻ trong giai đoạn đời sống vật chất ở thành thị, các vùng đô thị hoá tương đối được cải thiện cũng làm gia tăng lượng ngưòi đến với thơ. Điều này cắt nghĩa vì sao phong trào thơ, các hội thơ phường, xã mấy năm nay lại phát triển như vậy. Thêm vào đó là sự xã hội hoá trong khâu xuất bản với việc bỏ tiền, xin gíấy phép các nhà xuất bản để tự in thơ đã khiến sự ngộ nhận này cũng như coi thơ là một thú chơi tao nhã, có khả năng thành danh ngày càng tăng. Nguyên nhân nữa là hai vị chủ tịch, phó chủ tịch cùng ông Trưởng ban tổ chức HNVVN đều là nhà thơ. Thể thơ được “thiên vị hơn”trong mọi hoạt động của HNV thể hiện khá rõ. Không phải ngẫu nhiên những đợt kết nạp của HNV gần đây người viết thơ là các doanh nghiệp và các vị có chức sắc, kinh tế đông hơn người viết văn xuôi, giải thưởng cho các tập ( chưa chắc đã hay) cũng nhiều hơn.
 
Phóng viên: Vậy thực trạng của sự khan hiếm hay nói đúng hơn ngày càng vắng bóng hài trong các thể loại văn chương hiện nay ra sao? Thưa nhà văn.
 
Nguyễn Hiếu : Nhu cầu về hài của ngưòi đọc, người xem luôn luôn tồn tại Và nhu cầu phản ánh thực tế cuộc sống luôn ẩn chứa trong các phương thức biểu hiện của nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng trong đó có hài là tất yếu. Nhất là trong giai đoạn này các tệ nạn về tham nhũng, suy thoái đạo đức, vi phạm pháp luật ngày càng có cơ phát triển thì việc dùng hài để phê bình càng đắc hiệu. Để đáp ứng nhu cầu này, các phương tiện thông tin đại chúng đã mạnh dạn khai thác. Tiêu biểu như đài THVN đã từng có tiết mục hài ăn khách “ gặp nhau cuối tuần” nhưng do không có biện pháp duy trì lâu dài trong nhiều lĩnh vực từ khâu tác giả, kịch bản, diễn viên…nên cũng chết yểu để biến thành những tiết mục hài vụn vặt, nặng về chọc cười cơ giới. Nhà hát Tuổi trẻ có cả một xê ri “đời cười” được khán giả mộ điệu nhưng nói như quyền Giám đốc Trương Nhuận thì đây chỉ là những lát cắt gây cười chứ không phải tác phẩm hài đích thực có chiều sâu trong việc phản ánh và phê phán hiện thực cuộc sống. Trong văn học thì các tác phẩm hài lại càng vắng bóng.
 
Phóng viên : Vì sao lại có hiện tượng này ? Thưa ông.
 
Nguyễn Hiếu :  Sự èo uột thảm hại về hài trong nền văn nghệ nói chung và văn chương nói riêng có nguyên nhân sâu sa của nó. Nền văn học nứơc ta một thời được xem là nền văn học hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Nền văn học này lấy  ca ngợi, khẳng định làm âm điệu chủ đạo. Với một âm điệu như thế nên phương thức phản ánh phù hợp nhất là ca ngợi, khẳng định, cổ động, tuyên truyền. Trong các thể loại văn chương là sự mổ xẻ, cắt nghĩa sự phát triển theo một đường hứơng nhất thống, quán triệt. Chúng ta còn nhớ có những giai đoạn ngay sự mô tả tâm hồn, nhu cầu cá nhân con người cũng bị coi là xa xỉ, không đúng quĩ đạo và bị lên án dữ dội. Trong xu thế quan phương như vậy thì hài- một vũ khí sắc bén của sự phản ánh tạo ra tiếng cười phê phán bị gạt ra. Tôi nhớ không nhầm hai ca khúc rất hay viết năm 1960 ca ngợi tình yêu ngưòi thuỷ thủ, và anh thợ lò của Hoàng Vân cũng bị cấm vì có yếu tố tư bản. Và ngay kịch bản hài của tôi “chuyện như thế thì cần phải nói” do đạo diễn Lộng Chương dựng cho đoàn kịch Công nghiệp Hà Nội vào năm 1976 phê phán giám đốc cửa quyền không quan tâm đến người lao động cũng bị cấm thì làm sao thể loại hài đắc hiệu trong phê phán xã hội có thể được các văn nghệ sĩ xử dụng rộng rãi.      
 
Phóng viên: Như nhà văn nói xã hội ta đang có biểu hiện về sự băng hoại nhiều mặt như tham nhũng, tệ nạn xã hội, việc suy thoái về đạo đức, sự không tôn trọng pháp luật..rất cần sự phê phán bằng vũ khí sắc bén của hài hước, nhưng hiện tượng “thừa thơ vắng hài” vẫn tồn tại mà dường như chưa có sự đột biến nào khả dĩ khắc phục được. Ông nghĩ gì về hiện trạng này ?
 
Nguyễn Hiếu : Sự xem thường , gạt bỏ hài đúng nghĩa của nó nếu lấy từ lúc in cuốn tiểu thuyết “phất” của Bùi Huy Phồn vào năm 1958 đến nay đã hơn nửa thế kỉ. Trong từng ấy thời gian những nhà văn viết đi đúng quĩ đạo “phải đạo” dù có năng khiếu, sở trường hài cũng đành gác một bên, hoặc né tránh, rồi lâu dần quên lãng. Trong tác phẩm của mình chỉ còn những trang viết mang yếu tố hài le lói mang tính tình huống và ngôn ngữ bên cạnh sự ca ngợi, chất chính kịch nghiêm trang. Đến nay với sự đổi mới nhiều mặt trong đó có ít nhiều sự cởi mở trong tư tưởng và quản lý, nhiều tác giả đã có nhiều biểu hiện và ý đồ trở về với hài. Đáng tiếc chưa thấy sự ủng hộ nào từ nhiều phía để cổ suý cho những cây bút và sự trở lại này, kể cả tổ chức nghề như HNVVN. Mặt khác cũng cần thấy rõ chẳng những ở nứơc ta mà trên thế giới ngưòi viết hài rất hiếm so với ngưòi viết các thể loại khác. Tác phẩm hài đúng nghĩa hay cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mặc dù hiện nay có ít nhiều cởi mở trong tư tưởng các nhà quản lý, mặc dù là yêu cầu nóng bỏng của thực tế sáng tác và thưởng thức những rõ ràng chúng ta phải đợi thời gian để hài có thể quay lại, trở về trong đời sống văn nghệ đúng như bản chất yêu đời, thích hài hứơc của dân tộc ta  .
 
Phóng viên : Có thể nói đến nay ông là nhà văn có nhiều tác phẩm hài ở nhiều thể loại nhất trong số các nhà văn đương đại. Ông có thể cắt nghĩa thành công này ở ông .
 
Nguyễn Hiếu : Ngay từ bé tôi có chịu ảnh hưởng rất nhiều chất hài mang chất dân gian của mẹ tôi thông qua những câu chuyện kể, những bài ca dao và nhất là qua khẩu ngữ trao đổi thường ngày của bà. Chất hài của mẹ tôi dường như ngấm trong máu được thể hiện qua cách kể làm nổi bật sự đột biến của những sự việc tưởng như rất bình thường. Luận văn tốt nghiệp đại học của tôi là “chất hài của truyện ngắn Sê khốp và Mô pát săng” dưới sự hứơng dẫn đầy kinh nghiệm và kiến thức về lĩnh vực hài của cô giáo Đặng Thị Sâm. Sau khi tốt nghiệp ra trường ba năm, tôi bắt đầu viết những truyện ngắn hài hứơc và gửi cho nhà văn Nguyên Công Hoan. Và ông đã trả lời, chỉ dẫn, khuyến khích tôi qua những lá thư mà hiện nay tôi còn giữ được lá thư ông viết vào ngày 28/3/1973. Phải chăng những yếu tố và hoàn cảnh đó khiến tôi có thế mạnh trong bút pháp hài là vậy .
 
Phóng viên: Chân thành cám ơn nhà văn qua cuộc trao đối này. Chúc nhà văn có thêm nhiều tác phẩm hài mang lại nhiều niềm vui , tiếng cười sảng khoái cho ngưòi đọc, ngưòi xem../.
                                                                 
                                                                                                                                   Thế Xuân Thực hiện
 
*Bài in trên báo Bảo vệ Pháp Luật số 74 ra ngày 14/9/2012.
Năm 1984 NXB Hội nhà văn xuất bản tập truyện hài nổi tiếng “những người thích đùa “của nhà văn Thổ nhĩ kì Axit Nê xin thì NXB Hà Nội xuất bản tác phẩm đầu tay của nhà văn Nguyễn Hiếu. Tập truyện ngắn hài hứơc”chuyện cái vòi nước”. Đánh giá tác phẩm này cố nhà thơ Vũ Cao – giám đốc NXB Hà nội dạo đó nói” cái cười của NH gần hơn cái cười của Axit Nê xin”. Ngót ba mươi năm trôi qua, Nguyễn Hiếu trở thành nhà văn có lượng tác phẩm hài nhiều nhất trong số các nhà văn đương đại ( hai tập truyện ngắn( “chuyện cái vòi nứơc” và “cười dành cho tất cả”(NXBTN), hai tiểu thuyết hài (“Những mảnh nhân gian”(NXB Pháp Lý), “tây tây, ta ta”(NXBHN).. ngoài ra ông còn có hàng loạt vở kịch hài, mới nhất là kịch bản “hàng rào giữa hai nhà”(Nhà hát hát kịch Việt nam 2011, NSND Lê Hùng đạo diễn). Nguyễn Hiếu đã in  hơn 300 bài thơ trên các báo. Tập 10 với nhan đề “ Hư ảo “trong Tuyển tập Nguyễn Hiếu ra mắt nhân Đại lễ 1000 năm đã dành tuyển một lượng thơ lớn của ông. Bên cạnh những giải thưởng về tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch. Nguyễn Hiếu được tặng thưởng 2 giải thơ. Thời  gian qua các trang mạng còn sôi nổi với nhiều dư luận trái chiều về  bài “thẩm thơ”của ông.

CHUYỆN BÊN NGOÀI HỘI NGHỊ NHÀ VĂN BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ IV – Ghi chép – trankytrung

16 Th9

CHUYỆN BÊN NGOÀI HỘI NGHỊ NHÀ VĂN BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ IV – Ghi chép

Quang cảnh hội nghị nhà văn ba nước Đông Dương lần thứ IV

                              tại Đà Nẵng

 

 

        Lần đầu được dự một hội nghị quốc tế, cũng thấy vui vui, thấy gì ghi nấy, âu cũng là một kỷ niệm đáng nhớ.

        Mới đầu mình tưởng Hội nghị này chỉ là nơi gặp gỡ các nhà văn ba nước, gặp gỡ trò chuyện rồi thì… liên hoan. Té ra, không phải. Có thư của thủ tướng ba nước chúc mừng, quá ghê! Đã thế, các nhà văn của các nước Lào, Căm Phu Chia, Thái Lan, Ấn Độ ăn vận sang trọng, comlê, thắt caravát, quần áo dân tộc rất đẹp. Riêng đoàn Việt Nam quen tác phong “ giản dị” chỉ áo bỏ trong quần, có ông đeo kính đen, đầu hói trông như thầy bói. Nhìn kỹ, cũng có vài người ăn vận comlê, nhưng do ngồi đoàn chủ tịch như Nhà văn Lê Quang Trang, hoặc giả như tăng thêm phần oai phong của dáng đi bệ vệ như nhà thơ Phạm Sỹ Sáu. Điều mình ngạc nhiên là hai trưởng đoàn của đoàn nhà văn Lào và Căm Phu Chia, có thể trao đổi với các nhà văn Việt Nam bằng tiếng Việt chính hiệu.  Đấy Là điều may cho trưởng đoàn Việt Nam, nhìn các vị ấy hỉ hả, nói chuyện không phải “ bằng tay” thế là thấy tiếng Việt của mình cũng có giá với quốc tế. Thâm tâm, cứ mong tiếng Việt thành ngôn ngữ phổ biến toàn thế giới, đỡ phải học ngoại ngữ. Hiện nhà văn Việt Nam biết nhuần nhuyễn tiếng Anh như kiểu nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trong HNV Việt Nam, đếm trên đầu ngón tay, khéo vẫn còn thừa. Mình chứng kiến, khi mấy nhà văn Căm Phu Chia, Lào lên đáp từ nhận giải thưởng bằng tiếng Anh, vì phát biểu ngẫu hứng, người phiên dịch không dịch kịp, khi kết thúc mình vỗ tay rất to,  một ông ngồi cạnh nói nhỏ vào tai mình, tưởng mình biết tiếng Anh: “ Ông ấy nói gì, mày biết không?”. Mình lắc đầu “ Thấy kết thúc bài phát biểu bằng câu “ Thanh kiu” nên em vỗ tay”. Ông ấy cười: “ Sao mày giống anh thế!”.

      Trong bài phát biểu đáp từ có chuyện vui, đấy là bài phát biểu của Thiếu tướng – Nhà văn Nguyễn Chí Trung mà anh em nhà văn gọi đùa ông là “tướng về hưu”. Tuổi cao, sức yếu, chân đau, nói chậm đã vậy bài phát biểu của ông ghi ra giấy cũng hơn bốn trang A4. Ông vừa đọc, lại có người vừa phiên dịch nên chiếm rất nhiều thời gian. Thời gian đã gần trưa, Thiếu tướng – nhà văn Nguyễn Chí Trung cứ đọc nhẩn nha, đủ thứ chuyện trên đời, bên Căm Phu Chia thời Pôn Pốt. Mà những chuyện như thế này mọi người đều biết cả. Tất cả mọi người dự khán đều mệt mỏi, cứ mong cho bài phát biểu của Thiếu tướng – nhà văn mau kết thúc. Đến khi Thiếu tướng – Nhà văn Nguyễn Chí Trung kết thúc bài phát biểu, một người chạy lên đỡ ông đi xuống, các nhà văn ngồi bên dưới thở ra nhẹ nhõm và… hình như, từ đây bắt đầu hình thành câu thành ngữ : “ Dài như Nguyễn Chí…”. Rõ nhất, Nhà văn Tô Đức Chiêu, thay mặt những nhà văn Việt Nam lên đáp từ về việc nhận giải. Vừa đọc, vừa có người dịch, thời gian đang đến gần “ngọ” nên mọi người cảm thấy dài. Khi về đến chỗ ngồi, nhà văn Tô Đức Chiêu được mọi người gọi lại, nói nhỏ vào tai, rồi tất cả cùng cười. Mình chẳng hiểu chuyện gì. Đến khi Nhà văn Tô Đức Chiêu về lại ngồi cạnh mình, đưa cho bài đáp từ vừa đọc, nói: “ Mày xem, tao viết ngắn thế này thế mà thằng L, thằng T…, chúng nó bảo tao là “ Nguyễn Chí Chiêu” nghe có bực không ?”. Nói thế, nhưng không hiểu sao Ông cười có vẻ thích thú.

        Nói chung, theo mình, ấn tượng nhất trong hội nghị này là mấy ông nhà văn, nhà thơ Ấn Độ. Đoàn nhà văn Ấn Độ tham dự hội nghị này với tư cách là khách mời. Các Ông ấy nhiệt tình, vui vẻ, thân thiện… mỗi tội hay đứng một mình vì trong đoàn nhà văn Việt Nam, như nói ở trên, rất ít người biết tiếng Anh. Mình chỉ thấy một lần, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đứng nói chuyện với ông ấy, được ông ấy tặng cho một tập thơ. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vào hội trường nói với mình: “ Ông ấy mừng lắm, nói, may quá tôi lại tưởng nhà văn Việt Nam không có người biết tiếng Anh. Thế là ông ấy nói, nói vô hồi kỳ trận, cứ như chưa được nói bao giờ…”. Rồi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều góp ý : “ Ông cũng nên học tiếng Anh đi! Để còn nói chuyện với người ta.” Mình rất cũng đồng ý với ý kiến này, nhưng cũng giống như nhà văn Thái Bá Lợi từng nói: “ Đi nước ngoài không biết tiếng Anh, thấy xấu hổ nhưng về đến Việt Nam lại hết xấu hổ, vì thấy xung quanh ai cũng giống mình, giỏi tiếng Việt nên không cần học tiếng Anh.”. Một nhân vật được các nhà văn Việt Nam chú ý là ông Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh. Ồng tham dự với tư cách khách mời, nhưng trên thực tế, Ông gần như tham dự hết nội dung chương trình từ phát biểu chào mừng, trao phần thưởng, đến giao lưu với các nhà văn Việt Nam. Trong buổi liên hoan, mình mời Ông đến gặp một số nhà văn Việt Nam. Ông sốt sắng đến ngay. Nhà văn Đình Kính, Nhà thơ Lê Huy Mậu, Nhà văn Tô Đức Chiêu… bên ly rượu vang có những cuộc trao đổi chân tình, cười vui, không có khoảng cách, tuy có người đây là lần đầu gặp Ông. Qua cuộc nói chuyện, Nhà thơ Lê Huy Mậu nhận xét: “ Tay này phải làm đến thủ tướng mới xứng đáng.”.

           Buổi chiêu đãi của UBND Thành phố Đà Nẵng phối hợp với khách sạn Purama diễn ra trong một nhà hàng quá sang trọng, lần đầu tiên mình dự. Không biết mọi người nghĩ sao, mình lại thấy hơn lãng phí. Một ông đã từng dự nhiều cuộc như thế này nhận xét:“ Mỗi suất ăn thế này, tớ cam đoan, cỡ một triệu, một người.”. Đói bụng, mệt, buồn ngủ… mà ăn sang,  sao không thấy ngon? Vì đơn giản, Nhà văn Việt Nam mấy khi được chiêu đãi như thế này, nên không quen miệng. Đến miếng thịt cừu nướng, cầm lên, xoay ngang, xoay dọc không biết bắt đầu ăn như thế nào? Dai, nhiều mỡ, trông như còn sống, ăn hơi ghê ghê… đó là cảm giác của mình khi cắn vào miếng thịt cừu nướng, nghe đâu cũng cả trăm ngàn. Nghĩ lại tiếc, vừa mới trưa ngày hôm trước, mình với nhà văn Trần Đức Tiến,  Nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Nhà thơ Ngân Vịnh làm một bữa thịt chó đầm đà, ngon miệng, đầy bản sắc dân tộc.. .giá cả lại vừa phải có lẽ chỉ gần bằng giá hai miếng thịt cừu nướng này, mà thấy ngon đến lạ. Giá như buổi chiêu đãi này tổ chức ỏ một nhà hàng dân tộc, vừa nhiều món ăn như bún măng, cao lầu, phở… vừa ngon, vừa rẻ, vừa dễ nói chuyện… hay hơn. Nhà văn vốn thích thế. Không gian giản dị, khoáng đạt, chân tình có khi chỉ là bãi cỏ, sân trời, mênh mông của gió thế là bao nhiêu chuyện có thể kể, nghe. Còn ở trong một nhà hàng sang trọng, không gian không quen, đến cả cầm ly rượu vang còn ngập ngừng, ngồi nói xã giao với quan khách, có lúc thấy gượng gạo thế nào ấy.

        Buổi chiều các nhà văn dự Hội Nghị vào tham quan Hội An và dự chiêu đãi của Tỉnh ủy Quảng Nam. Trong không gian rộn tiếng đàn ca, với các món ăn dân tộc như cao lầu, cơm hến, bánh cuốn…cộng với sự tiếp đón chân tình của các bạn trong Hội VH-NT tỉnh Quảng Nam, mọi khoảng cách hầu như không còn. Các Nhà văn, nhà thơ của các nước tham dự đều vui. Chẳng thế, khi lời bài hát dân ca Lào “ Hoa chămpa” vừa cất lên, “ Bác” Chánh văn phòng Hội Đỗ Hàn vội lên sân khấu múa “ lăm tơi” với chị Phiêulavăn, trưởng đoàn nhà văn Lào.  Lại vui hơn, ba cô diễn viên khuôn mặt xinh, da trắng hơn tuyết, má hồng của đội Văn nghệ phòng Văn hóa – Thông tin thành phố Hội An hóa thân vào thành ba vũ nữ đẹp như tiên lồ lộ đùi, tay, bụng… trong một điệu múa Chăm, tất cả nhà văn, nhà thơ không phân biệt quốc tịch có máy ảnh, camêra vội tiến sát đến sân khấu cách các cô gái này múa đâu chỉ có… một mét chen chúc để chụp ảnh, để quay phim. Chỉ tội cho các nhà văn, nhà thơ ở phía sau không có điều kiện để tiến sát sân khấu, chỉ xem điệu múa này qua tiếng nhạc đệm và gáy, lưng, đầu của mấy nhà văn, nhà thơ đang quay phim, chụp ảnh, còn hình các cô gái đang múa đành… tưởng tượng!

         Đoàn đại biểu nhà văn ba nước còn đi thăm Huế, Bà Nà. Đi tham quan những địa danh này, mình không ghi lại, mọi người cũng biết, nhưng điều mình muốn viết, rất ấn tượng là đêm chia tay “ giã bạn” của các đoàn nhà văn. Lần đầu tiên mình chứng kiến nhà thơ Văn Công Hùng làm MC, may mà ông ấy không biết tiếng Anh, chứ biết tiếng Anh, chắc còn vui hơn nữa. Nhà thơ Văn Công Hùng hoạt náo, gần như cuộc vui không dừng lại, ai cũng muốn lên hát, lên đọc thơ. Nhà thơ Văn Công Hùng giới thiệu mình lên đầu tiên. Đã lẩm nhẩm trong đầu bài hát gần như mình rất thuộc: “ Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn” thế mà lên hát, cũng quên trước, quên sau chỉ được mỗi tội “rống” rất to. Trước khi hát, một kỷ niệm lớn ập về. Năm 1972, mình hành quân qua Stungcheng, Crachiê rồi Mimốt…( Căm phu chia) cái câu ca bằng tiếng Căm Phu Chia thành câu cửa miệng của bộ đội Việt Nam hồi đó: “ Việt Nam – Căm Phu Chia, xa ma ky, xi bò hót, ót xờ bai, bê năm hai, banh ót rọt” (  Mình nhớ đại ý: Việt Nam, Căm Phu Chia cùng đoàn kết, ăn mắm bò hóc, không sợ gì cả, đến bê năm hai của Mỹ, ném không trúng). Mình đọc câu này lên cho các bạn nhà văn Căm Phu Chia nghe, các bạn vỗ tay, cảm động. Mình còn nhớ cả câu bộ đội Việt Nam đi “tán gái” hồi ấy: “ On xơ lanh bòn tê?” ( Em có yêu anh không ?” ), nay mình đọc lại câu này, nhưng nói: “ Đến bây giờ chúng tôi, các nhà văn Việt Nam vẫn rất yêu người Căm Phu Chia, đất nước Căm phu Chia.”. Mình nói thật lòng, các bạn Căm Phu Chia lại vỗ tay. Tất cả những điều này mình không chuẩn bị trước, nhưng trong sâu thẳm, những năm tháng ác liệt của chiến tranh trên chiến trường Căm Phu Chia thủa ấy, đã để lại cho mình nhiều kỷ niệm không thể quên, Gặp các bạn Căm Phu Chia, nghe tiếng Căm Phu Chia kỷ niệm ấy như có ai kéo mạnh lên, sống dậy, hiển hiện.

         Trong cuộc vui tạm biệt này mới thấy tiềm năng ca hát của nhà văn, nhà thơ Việt Nam là vô tận. Cứ tưởng “ bác” Đào Thắng cục mịch, đi đứng chậm rãi, ai ngờ! Hát rất hay. “ Bác” đứng nghiêm, một tay buông thẳng, còn tay kia, “ bác” cầm micrô đưa ngang miệng, giọng ophêra cất cao không khác NSND Trung Kiên là mấy, hai bài liền, toàn bài có chất lượng: “ Bài ca bên cánh võng” và “ tình ca”. Không khí sôi nổi, dào lên hơn sóng biển, thế là tất cả cùng hát. Đoàn nhà văn Thái Lan hát chung một bài tiếng Thái, do Ông trưởng đoàn cầm giấy lĩnh xướng. Đoàn nhà văn Lào  cùng với một nhà văn Việt Nam biết tiếng Lào hát chung bài: “ Nước Lào tự do”. Đến cả đoàn nhà văn Ấn Độ cũng lên, hai ông hát chung bài tiếng Anh, vì không biết tiếng Anh nên mình đoán,  chắc nội dung bài hát đó là cảm động, nói đến chia tay mà không nỡ… Sao nghĩ vậy? Vì mình thấy mắt các ông lim dim, lời bài hát lên bổng, xuống trầm, rồi ôm nhau như không dứt ra được và khi các ông buông nhau ra … “ thanh kiu” là mình hiểu, vỗ tay, tất cả vỗ tay. Cảm động quá!!!

       Cuối cùng, rất giống các cuộc mít tinh trong nước, kết thúc là bài hát “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng!” tất cả, không phân biệt nhà văn nước nào, tay cầm tay, quây tròn cùng hát cho đến tận câu cuối: “ Việt Nam – Hồ Chí Minh, Việt Nam – Hồ Chí Minh…”.

       Thế mới biết là:

                 Bác là Bác của chúng ta

           Cũng là Bác của cả nhà Đông Dương…

 

%d bloggers like this: