Lưu trữ | 9:09 Chiều

Cá voi nặng 7 tấn lụy tại Tuy Phong

17 Th9

Cá voi nặng 7 tấn lụy tại Tuy Phong

(NLĐO)- Ngày 16-9, xác con cá voi dài trên 12 m, nặng trên 7 tấn trôi dạt vào gần cửa biển thuộc khu phố 13, thị trấn Liên Hương (Tuy Phong- Bình Thuận).

 
Lần đầu tiên người dân tại thị trấn Liên Hương, Tuy Phong được nhìn thấy cá ông Nam Hải nặng 7 tấn
 
Ngư dân đầu tiên phát hiện ra “ông Nam Hải” là ông Nguyễn Văn Thọ (trú  khu phố 13, thị trấn Liên Hương) -chủ tàu BTH khi đang hành nghề đánh bắt ở ngoài khơi thuộc vùng biển Liên Hương, cách bờ khoảng 7 hải lý.
 “Hôm 14-9, trong lúc đánh bắt cá xa bờ tôi phát hiện ra một con cá to khủng nổi trên mặt nước như một chiếc tàu ngầm nhưng không biết nó là cá gì. Thân cá bị trầy xướt nhiều chỗ. Một con sóng dữ bất ngờ đánh vào mạn thuyền, cá khủng vướng vào sợi dây neo khiến tôi hoảng sợ vì hình hài cá quá to quá sức tưởng tượng. Thấy vậy, tôi cắt dây neo, nổ máy chạy vào bờ”, ông Thọ kể.
 
Phải dùng xe cẩu mới có thể nâng cá ông lên đưa vào bờ chôn cất
Khi biết cá khủng chính là cá voi mà ngư dân thường gọi là ông Nam Hải đã chết, đang trôi dạt vào bờ ông Thọ vội vã huy động thêm tàu bạn ra khơi hỗ trợ cứu ông Nam Hải vào bờ để lo chôn cất theo nghi lễ thờ cúng của ngư dân.
 
Cận cảnh cá ông
 Đến chạng vạng chiều 16-9, cá voi mới được đưa vào bờ.
 “Do cá khủng nặng, ước chừng 6- 7 tấn, chính quyền địa phương phải nhờ đến xe xúc cát đến đưa xác “ông” vào bờ, đến nơi chôn cất”, ông Huỳnh Em, Phó Chủ tịch UBND thị trấn Liên Hương, cho biết.
 Tối cùng ngày, Ban quản lý Vạn lăng Ông Nam Hải của thị trấn tiến hành các nghi lễ truyền thống, sau đó an táng xác cá gần khu vực trên, cách xa dân cư để đảm bảo vệ sinh môi trường.
 
Theo bà con ngư dân ở khu phố 13 thì đây lần thứ ba ông Nam Hải trôi dạt ở cửa biển Liên Hương nhưng đây là lần thấy cá voi nhất.
 
Tin: Hoàng Thái. Ảnh: GV.Hải

Điểm báo ngày 17.9.2012 – TNO

17 Th9

Điểm báo ngày 17.9.2012

(TNO) Tình hình tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư; Fan công nghệ tiếp tục “nóng” với chiếc iPhone mới; Biển ngày càng tiến sâu vào đất liền ở ĐBSCL; Mỹ giữa cơn giận của thế giới Hồi giáo; Bí ẩn về con tàu cổ bị chìm tại Quảng Ngãi; Vụ LĐBĐ Thái Lan có thể bị giải tán… là những thông tin chính được các báo đăng tải sáng nay 17.9.

 

Biển tiến, đất chìm (Thanh Niên)

Biển ngày càng tiến sâu vào đất liền trong khi mặt đất đang có dấu hiệu chìm xuống. Không chỉ là ĐBSCL mà có thể là cả khu vực Nam bộ đang phải đối mặt với sự nguy hiểm từ tác động kép này.

Biển tiến, đất chìm
Triều cường tàn phá nhiều công trình xây dựng ven biển – Ảnh: H.Lâm

Người dân nhiều nơi ở ĐBSCL mà đặc biệt là ở khu vực mũi Cà Mau có thể dễ dàng nhận thấy mực nước thủy triều năm sau luôn cao hơn năm trước. Ở khu vực này, các công trình xây dựng, nhà cửa thường xuyên phải nâng cấp, sửa chữa để “chạy đua” với thủy triều ngày một cao.

 

CHÍNH TRỊ – THẾ GIỚI

 

Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư

Nhật Bản tuyên bố đẩy mạnh tuần tra biên giới biển giữa lúc căng thẳng với Trung Quốc vẫn chưa hạ nhiệt. Nhật tăng cường ứng phó Trung Quốc (Thanh Niên) / Tokyo yêu cầu Trung Quốc đảm bảo an toàn cho công dân Nhật (Thanh Niên).

Máy bay do thám của Nhật tại Senkaku/Điếu Ngư
Máy bay do thám của Nhật tại Senkaku/Điếu Ngư – Ảnh: Reuters

Ngày 16.9, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cho biết Trung Quốc và một số nước châu Á “có thể đi đến chiến tranh vì những vụ tranh chấp biển đảo” nếu chính phủ các nước này vẫn còn giữ “thái độ khiêu khích”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ: Tranh chấp biển đảo có thể gây ra chiến tranh (Thanh Niên) / Thủ tướng Nhật Bản yêu cầu Trung Quốc kiềm chế (SGGP) / Trung Quốc tập trận bắn đạn thật (Người lao động).  

>> Đọc thêm: Trung Quốc sẽ đánh chiếm Senkaku/Điếu Ngư ? / Quân đội Trung Quốc “diễu võ dương oai” với Nhật / Hạ nghị sĩ Mỹ tố Trung Quốc bắt nạt láng giềng / Nhật không lùi bước trước Trung Quốc / Trung Quốc cử tàu tuần tra đến Senkaku/Điếu Ngư / Nhật Bản quốc hữu hóa đảo tranh chấp / Nhật kiên quyết mua đảo ở Senkaku/Điếu Ngư / Nhật sẽ sớm ký hợp đồng mua đảo tranh chấp / Trung Quốc sẽ thực hiện “các biện pháp cần thiết” với Senkaku/Điếu Ngư / Trung Quốc cảnh báo Mỹ không được xía vào Senkaku/Điếu Ngư / Nhật – Trung căng thẳng về Senkaku/Điếu Ngư / 150 người Nhật ra đảo Senkaku/Điếu Ngư để… câu cá? / Nhật bắt 5 người Trung Quốc đổ bộ lên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư / Tàu Hồng Kông hoãn chuyến ra quần đảo Senkaku/Điếu Ngư / Mỹ triển khai máy bay do thám tối tân ở Senkaku/Điếu Ngư / Mỹ sẽ “chống lưng” Nhật tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư? / Nhật tăng cường tuần tra quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

 

Al-Qaeda xúi giục tấn công Mỹ (Thanh Niên): Al-Qaeda vừa kêu gọi tiếp tục tấn công các mục tiêu của Mỹ ở Trung Đông và châu Phi, “châm thêm dầu” vào làn sóng bạo động đang lan rộng bắt nguồn từ một bộ phim nhục mạ Hồi giáo. >> Libya bắt giữ 50 người sau vụ giết hại Đại sứ Mỹ (Vietnam+) / Al-Qaeda kêu gọi mở các đợt tấn công mới (Thanh Niên) / Al-Qaeda tấn công lãnh sự Mỹ để trả thù? (Thanh Niên) / Mỹ giữa cơn giận của thế giới Hồi giáo (Thanh Niên) / Mỹ tăng cường ứng phó làn sóng phản đối (Thanh Niên) / Mỹ điều tàu khu trục áp sát bờ biển Libya (Thanh Niên) / Đại sứ Mỹ tại Libya thiệt mạng (Thanh Niên) / Obama cam kết truy tìm kẻ giết đại sứ Mỹ tại Libya (Thanh Niên) / Lãnh sự quán Mỹ tại Libya bị tấn công (Thanh Niên).

 

 
 
Thống đốc còn nợ người dân và thị trường một lời hứa đó là giữ ổn định thị trường vàng và giữ chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới chỉ ở mức 400.000 đồng/lượng
 
Im lặng không phải là… vàng 
(Thanh Niên)
 

Bê bối tình dục trong không quân Mỹ(Thanh Niên): Không quân Mỹ hôm qua chỉ định nữ đại tá Deborah Liddick làm chỉ huy đơn vị huấn luyện tại một căn cứ ở bang Texas, nơi nhiều nữ tân binh tố cáo bị tấn công tình dục. 

Kosovo rúng động vì nghi án buôn nội tạng (Thanh Niên): Những tiết lộ mới về nghi án giết người Serbia lấy nội tạng của Quân đội giải phóng Kosovo (KLA) trong cuộc chiến 1998-1999 khiến dư luận bàng hoàng. >> Nghi án buôn nội tạng Kosovo (Thanh Niên).

* Vụ Công nương Catherine Middleton bị tung ảnh nóng: Gia đình Hoàng gia Anh lên tiếng chỉ trích gay gắt việc tờ báo lá cải Daily Star ở Ireland, ăn theo tạp chí Closer ấn bản tiếng Pháp, cho đăng tải những bức ảnh “ngực trần” của Công nương Catherine, vợ Hoàng tử William; đồng thời, cảnh báo một tạp chí của Ý về việc tương tự. Báo lá cải Ireland đăng ảnh nóng của công nương Catherine (Thanh Niên). >> Vợ chồng hoàng tử Anh kiện tạp chí Closer vì vụ “ảnh nóng / Công nương Catherine Middleton bị tung “ảnh nóng”?

* Một số tin tức đáng chú ý khác:

– Mỹ nâng cấp kho vũ khí hạt nhân (Thanh Niên)
– “Đệ nhất phu nhân” Khmer Đỏ được thả (Thanh Niên)
– Chủ đề phụ, tác dụng nhỏ (Thanh Niên)
– Nhiều ngân hàng lớn bị điều tra (Thanh Niên)
– Vệ binh Iran thừa nhận có mặt tại Syria (Thanh Niên)
– Iran tăng tiền thưởng “lấy đầu” Salman Rushdie (Thanh Niên)
– Chỉ huy Vệ binh Cách mạng Iran cảnh cáo Israel và Mỹ (Thanh Niên)
– Hội nghị Trù bị chung ASEAN và Hội nghị liên quan (Vietnam+)
– Ukraine đề nghị hỏi cung cựu Thủ tướng Lazarenko (Vietnam+)
Từ Chiếm phố Wall đến Chiếm phố chính (SGGP)
Biểu tình rầm rộ chống khắc khổ ở Bồ Đào Nha (Người lao động)
– 50% thuốc kê toa ở Pháp “vô ích” (Tuổi trẻ)
– Trung Quốc tự phơi bày kho vũ khí hạt nhân (Lao động)

Lắng nghe dân để chấn chỉnh yếu kém (SGGP)
“Chìa khóa vàng” cho tiến trình phát triển TPHCM (SGGP)

KINH TẾ – XÃ HỘI

 

Im lặng không phải là… vàng (Thanh Niên)

“Giá vàng trong nước cao hơn thế giới vài triệu đồng/lượng, tâm lý người dân bất an… lẽ ra cơ quan chức năng cần lên tiếng, giải thích lý do vì sao tăng, và biện pháp giữ ổn định như thế nào” – nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sĩ Kiêm nói. Thị trường vàng còn bất ổn (Người lao động).

Im lặng không phải là... vàng
Thị trường vàng đang biến động rất mạnh trong khi NHNN không đưa ra một thông điệp rõ ràng nào về việc ổn định thị trường – Ảnh: Anh Vương

* Nhiều kiến nghị về việc định giá đất đai đã được nhiều chuyên gia hiến kế với Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (QH) để hoàn tất báo cáo thẩm tra về dự luật Đất đai sửa đổi. Định giá đất kiểu gì để giảm khiếu kiện ? (Thanh Niên). >> Giá bất động sản muốn giảm không dễ (Thanh Niên) / Hôm nay, 17-9, UBTVQH cho ý kiến về dự án Luật Đất đai (SGGP) / Phải sửa cơ chế thu hồi đất (Người lao động).

Định giá đất kiểu gì để giảm khiếu kiện ?
Các chuyên gia đề xuất phải đấu thầu công khai quyền sử dụng đất các dự án đầu tư có mục đích kinh doanh – Ảnh: Diệp Đức Minh

* Tin kinh tế:

– Dệt may Trung Quốc chuyển hướng sang Việt Nam (Thanh Niên)
– Cơ hội vào thị trường Myanmar (Thanh Niên)
– Bế tắc cảng Kê Gà (Thanh Niên)
– Khởi công nhà máy nước giải khát lớn nhất miền Bắc (Thanh Niên)
– DN xuất khẩu thủy sản sang Mỹ sẽ phải đăng ký lại (Vietnam+)
Đồng bằng sông Cửu Long: Năm hạn ngành chăn nuôi (SGGP)
Top 500 nhà bán lẻ châu Á – Thái Bình Dương 2012 có 10 doanh nghiệp Việt Nam (SGGP)
8 tháng đầu năm, hơn 46.000 doanh nghiệp mới được thành lập (SGGP)
Cuối năm, xuất khẩu cá tra tăng (SGGP)
– Lãi suất vay còn cao đối với ngư dân (Người lao động)
– Vắt kiệt sức doanh nghiệp (Người lao động)
– Việt Nam là thị trường quan trọng của Đức (Tuổi trẻ)

 

TP.HCM phát triển văn hóa chưa tương xứng (Thanh Niên): Phát triển văn hóa chưa tương xứng với phát triển kinh tế, với tiềm năng, vai trò và vị trí của thành phố; chưa làm tốt vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội; mức thụ hưởng văn hóa giữa nội thành và ngoại thành còn nhiều chênh lệch… Đó là đánh giá của bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND TP.HCM tại chương trình “Lắng nghe và trao đổi: về thiết chế văn hóa phục vụ người dân thành phố” do HĐND TP.HCM và HTV phối hợp tổ chức vào sáng 16.9.

 

 
 
Thực tế đang có nhiều dự án “treo” rất mơ hồ, khó thực hiện. Nhiều hẻm rất nhỏ nhưng được gắn biển lộ giới 8-10 m mà không hề có luận cứ nào để thực hiện
 
GS-TSKH Lê Huy Bá – Viện trưởng Viện Môi trường
Nhiều dự án “treo” rất mơ hồ (Thanh Niên)
 

Phòng amip ăn não người (Thanh Niên): Amip ăn não người là ký sinh trùng có tên Naegleria Fowleri, gây viêm não, màng não, khiến một nam bệnh nhân tử vong rất nhanh sau khi vào Bệnh viện Bệnh nhiệt đới. >> Xuất hiện amip “ăn não người” ở Việt Nam / Ký sinh trùng tàn phá não người. 

* Thời gian qua, người nhà đưa con đến khám tại Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) phản ánh có sự lập lờ phiếu khám dịch vụ thường của bệnh viện này. Lập lờ phiếu khám bệnh “đồng giá” (Thanh Niên).

* iPhone 5 sắp lên kệ: Giống người “họ hàng” iPad thế hệ thứ ba, mẫu điện thoại iPhone 5 mới của Apple chắc chắn sẽ không thể khai thác tối đa ưu thế “tốc độ siêu cao” với hầu hết nhà mạng tại khu vực châu Âu. iPhone 5 lận đận với 4G LTE (Thanh Niên).

>> Đọc thêm trên Thanh NiênQuả táo kéo dài / Yahoo tặng iPhone 5 cho tất cả nhân viên / Giá thực của iPhone 5 là bao nhiêu? / Làm thế nào để mua iPhone 5 sớm? / iPhone 5 chưa lên kệ đã sốt / iPhone 5 “dính chưởng” với mạng CDMA ngay trên sân nhà / Ấn định giá bán iPhone 5 tại Anh / Những bức ảnh tuyệt đẹp được chụp từ iPhone 5 / nano-SIM của iPhone 5 tương thích với mạng di động VN / iPhone 5 hỗ trợ mạng GSM tại Việt Nam / iPhone 5 có mặt tại VN sớm nhất vào ngày 22.9? / iPhone 5 – Mới trong sự nuối tiếc / iPhone 5: Nhanh hơn, mỏng hơn, nhẹ hơn / iPhone 5 ra mắt với hàng loạt cải tiến / So sánh iPhone 5, Samsung Galaxy S III và Nokia Lumia 920.

 

Cho “thuê” CMND mua hàng miễn thuế (Thanh Niên)

Hơn 1 tháng ròng rã, PV Thanh Niên đã nhập vai vào nghề “cho thuê” chứng minh nhân dân (CMND) mua hàng miễn thuế tại cửa khẩu Mộc Bài để khám phá những thủ đoạn làm ăn phi pháp tại đây.

Cho "thuê" CMND mua hàng miễn thuế
Một nhóm “cò” tập trung oẳn tù tì để giành quyền dắt khách – Ảnh: Giang Phương

Sau khi thuyết phục để có được chân… “cò” cho thuê giấy CMND tại Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài (H.Bến Cầu, Tây Ninh), tôi được C. dẫn ra mắt các “đồng nghiệp”. Trước khi đưa tôi gia nhập vào đội ngũ “cò”, C. dặn đi dặn lại: “Mới vào nghề thì tạm thời đừng ra mặt giành khách. Cứ chịu khó quan sát vài ngày cho hiểu hết quy tắc rồi mới mong kiếm được tiền”.

 

* Một số tin tức đáng chú ý khác:

– Nước thủy điện tràn làm một người chết (Thanh Niên)
– 26% số ca ngộ độc thực phẩm tử vong do rượu (Thanh Niên)
– Hơn 2.000 tăng ni, phật tử dự đại lễ báo hiếu (Thanh Niên)
– Kiểm điểm phó chủ tịch huyện vụ chùa Trăm Gian (Thanh Niên)
– Trấn lột học sinh trước cổng trường (Thanh Niên)
– Lập dự án kéo điện ra đảo Nhơn Châu (Thanh Niên)
– Bắt trộm bằng phần mềm định vị (Thanh Niên)
– Nạn nhân bị người yêu cắt cổ đã tử vong (Thanh Niên)
– Chạy dài… nữ đệ tử lưu linh: Đủ chuyện bi hài (Người lao động)
– Tương ớt giá rẻ: Chỉ là… độc chất! (Người lao động)

* Giáo dục: Phương án xét tuyển mà Bộ GD-ĐT áp dụng trong năm nay không mang đến nhiều lợi ích như dự kiến. Việc Bộ cho phép các trường nhận giấy chứng nhận kết quả thi bản chính hay bản sao khiến tỷ lệ thí sinh ảo (một thí sinh nộp quá nhiều bộ hồ sơ) cao hơn dự đoán của các trường. Rối bời xét tuyển (Thanh Niên).

– Khuyến khích học sinh nghiên cứu khoa học (Thanh Niên)
– Thanh tra vụ sửa điểm trong kỳ thi học sinh giỏi (Thanh Niên)  

VĂN HÓA – THỂ THAO

 

Bí ẩn về con tàu cổ bị chìm tại Quảng Ngãi

Khi tận mắt chứng kiến những cổ vật gốm sứ gồm bát, đĩa, chậu, lư hương men ngọc màu xanh, màu nâu da lươn, màu ô liu… TS Nguyễn Đình Chiến, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Ủy viên Hội đồng thẩm định cổ vật, đã thốt lên: “Cổ vật quá đẹp!”. Giải mã con tàu cổ (Thanh Niên).

Từ khối dính chùm gồm 11 chậu men nâu da lươn, các chuyên gia khảo cổ nhận định con tàu bị cổ chìm là do hỏa hoạn
Từ khối dính chùm gồm 11 chậu men nâu da lươn, các chuyên gia khảo cổ nhận định
con tàu bị cổ chìm là do hỏa hoạn – Ảnh: Hiển Cừ

Nếu như mấy ngày trước, khi xem xét một số ít hiện vật ngay tại hiện trường, TS Chiến dự đoán là gốm sứ có niên đại từ thời nhà Minh (Trung Quốc) vào cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 nhưng sau khi nghiên cứu, quan sát kỹ hơn 40 hiện vật bị bể và còn nguyên vẹn, thì ông lại đưa ra nhận định mới: “Căn cứ đặc điểm, kiểu dáng, hoa văn trang trí, chúng tôi nhận định rằng, cổ vật này có niên đại từ thời nhà Nguyên (Trung Quốc) vào thế kỷ 14”.

>> Đọc thêm trên Thanh Niên: Tàu chở cổ vật bị chìm có thể do hỏa hoạn / Kho cổ vật dưới biển / Bất chấp sóng to, ngư dân ra biển lặn tìm cổ vật / Cứu cổ vật dưới biển / Khẩn cấp khai quật cổ vật dưới biển / Bình Châu “nóng” lên vì cổ vật / Đổ xô ra biển lặn tìm cổ vật / Hàng trăm ngư dân đổ xô ra biển tìm cổ vật.

 

* Sóng gió cuộc tình giữa Robert Pattinson và Kristen Stewart: Một nguồn tin tức độc quyền của tờ The Sun cho biết nam diễn viên Robert Pattinson cuối cùng cũng đã mềm lòng trước lời xin lỗi thành khẩn của Kristen Stewart. Robert Pattinson đã tha thứ cho Kristen Stewart? (Thanh Niên).

>> Đọc thêm: Kristen Stewart: “Tôi và Robert Pattinson hoàn toàn ổn” / Kristen Stewart xuất hiện sau scandal ngoại tình / Chị gái cấm Robert Pattinson trở lại với Kristen Stewart / Kristen Stewart tự nhận là “kẻ vụng về” / Kristen Stewart đau khổ đến… quên tắm / Kristen Stewart hết cơ hội làm phim với người tình / Robert Pattinson và Kristen Stewart đang ở đâu? / Kristen Stewart chưa “lên giường” với Rupert Sanders / Kristen Stewart đã “cắm sừng” Robert Pattinson từ lâu? / Robert Pattinson dọn đồ rời khỏi nhà Kristen Stewart / Kristen Stewart phản bội người yêu / Kristen Stewart và đạo diễn ngoại tình xin lỗi Robert Pattinson / Kristen Stewart phản bội người tình, cặp kè đạo diễn?

Nhà báo Mỹ giữa “sào huyệt” cộng sản (Thanh Niên): Năm 1965, khi cuộc chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn ác liệt, một nhà báo Mỹ đã bất ngờ có mặt tại miền Bắc Việt Nam để “chứng kiến sự thật”. Chuyến đi “vượt rào” chống lại lệnh cấm của chính quyền Mỹ thời điểm đó đã làm cuộc đời của ông gặp không ít sóng gió. Gần 50 năm sau, ông mới có dịp quay lại Việt Nam.

Tuyệt tác nhiếp ảnh của nghệ sĩ “đạp xích lô” (Thanh Niên): Tác phẩm Nắng sớm của tác giả Mai Lộc đã vượt qua hơn 3.000 tác phẩm của hơn 400 tác giả trong toàn quốc, đoạt giải nhất tại cuộc thi ảnh nghệ thuật Chiếc nón quê hương do Hội Nhiếp ảnh TP.HCM phối hợp với Công ty TNHH Nụ Cười Việt tổ chức. 

 

Vụ lộ clip nghi dàn xếp “Giọng hát Việt”

Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình (TVad) của Đài truyền hình Việt Nam vừa đưa ra thông báo về việc tăng phí quảng cáo trong chương trình Giọng hát Việt. The Voice tăng giá quảng cáo sau scandal (iHay) / Kết thúc vòng Đối đầu “The Voice”: Thí sinh “hot” vẫn chưa đủ hút (Thanh Niên).


Scandal giải quyết chưa triệt để, Ban tổ chức đã lo tăng giá quảng cáo

Sau những lùm xùm về scandal dàn xếp kết quả vẫn chưa được giải quyết triệt để, khán giả vẫn còn rất “ấm ức” vì chưa nhận được lời giải thích xứng đáng thì động thái tăng giá quảng cáo của nhà đài được xem như là thêm dầu vào đám lửa chưa kịp tàn. 

>> Đọc thêm: Ai đã tung clip “hãm hại” Phương Uyên? (iHay) / Cục Nghệ thuật biểu diễn vào cuộc (Thanh Niên) / Chương trình Giọng hát Việt 2012 – Khuynh đảo mọi giá trị (SGGP) / “Giọng hát Việt” đánh mất niềm tin (Thanh Niên) / Phương Uyên tiếp tục với “Giọng hát Việt” (Thanh Niên) / Phương Uyên vẫn làm giám đốc âm nhạc The Vocie (Thanh Niên) / Phương Uyên đồng ý ở lại với The Voice (iHay) / Nhạc sĩ Phương Uyên, Giám đốc âm nhạc Giọng hát Việt: Người tung clip cố tình hại tôi (SGGP) / “Giọng hát Việt” không gian lận? (Người lao động) / Phương Uyên đã nhận lỗi sau nghi án dàn xếp kết quả The Voice (iHay) / Vụ lộ clip nghi dàn xếp “Giọng hát Việt”: Phương Uyên nhận lỗi (Thanh Niên) / Nghi án dàn xếp kết quả The Voice: Người trong cuộc bênh Phương Uyên (iHay) / Xôn xao nghi án The Voice lộ băng ghi âm dàn dựng kết quả (iHay) / Thí sinh H’zina Bya: “Có vẻ như tôi đã không được tôn trọng” (iHay) / Trò dàn xếp của truyền hình thực tế (Thanh Niên) / Thí sinh “The Voice” tỏa sáng với ca khúc Việt (Thanh Niên).

 

* Một số tin tức đáng chú ý khác:

– Đêm nhạc bất ngờ của Ý Lan (Thanh Niên)
– Elle Fashion Show thu đông 2012 (Thanh Niên)
– Khi Tùng Dương không… quái (Thanh Niên)
– Khỏa thân đột nhập vào nhà sao Hollywood (Thanh Niên)
– Lady Gaga làm việc gì cũng “không giống ai” (Thanh Niên)
– Á hậu Dương Trương Thiên Lý bất ngờ “tái xuất” ở Thái Lan (iHay
– Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì nhận Bằng Di tích QG (Vietnam+)
PGS-TS Nguyễn Thị Minh Thái: Khán giả đã cảnh giác hơn với… nước mắt (SGGP)
Truyện Kiều – Thi phẩm nhiều kỷ lục nhất Việt Nam (SGGP)
– Bắt tay chấn hưng ca nhạc Việt (Người lao động)
– America’s Next Top Model bị chỉ trích bỏ rơi thí sinh (Người lao động)
– Nghe song tấu dương cầm – sáo tây (Tuổi trẻ)
– Bảo tồn và phát huy văn hóa Chăm (Tuổi trẻ)
– Sắp công bố toàn bộ báo Phong Hóa – Ngày Nay của Tự lực văn đoàn (Tiền phong)

 

Vụ LĐBĐ Thái Lan có thể bị giải tán: 
Cải tổ hay trò chơi chính trị (Thanh Niên)

Dư luận Thái Lan đang tự hỏi sẽ có một cuộc cải tổ hay chỉ là một trò chơi chính trị trong việc LĐBĐ nước này (FAT) đứng trước nguy cơ bị giải tán trước thềm AFF Cup 2012.

Bóng đá Thái Lan không còn giữ được uy thế ở Đông Nam Á
Bóng đá Thái Lan không còn giữ được uy thế ở Đông Nam Á – Ảnh: AFP

Cáo buộc tham nhũng, trốn thuế đối với FAT và bản thân ông Worawi Makudi – Chủ tịch FAT, không còn là câu chuyện mới, mà nó đã âm ỉ trong suốt nhiều năm qua. Tuy nhiên, sau khi Ủy ban Phòng chống tham nhũng và Cục Thuế Thái Lan tuyên bố mở cuộc điều tra đối với những cáo buộc nói trên và tuyên bố FAT có thể bị giải tán, dư luận đất nước chùa vàng lập tức nổi sóng với nhiều ý kiến trái chiều. >> LĐBĐ Thái Lan có thể bị giải tán vì tham nhũng (Thanh Niên)

 

* Tuyển bóng đá Việt Nam: HLV Phan Thanh Hùng nói: “Có mấy điểm tôi hài lòng là tinh thần của toàn đội rất tốt, tâm lý ổn định, một số vị trí mới được thử nghiệm chơi đạt yêu cầu tạo ra sự tươi mát trong cách chơi…”. Đội tuyển VN còn nhiều việc phải làm (Thanh Niên) / Tuyển Việt Nam cần rèn thể lực! (Người lao động). >> Đọc thêm trên Thanh Niên: Tuyển VN cầm chân chủ nhà Indonesia / Tuyển VN thử nghiệm đội hình mới / Âu Văn Hoàn được gọi bổ sung vào đội tuyển quốc gia / Hài lòng với các tân binh / Tuyển VN quật ngã Malaysia / Việt Nam tạo ấn tượng trong trận thắng Malaysia 2-0.

* Giải U.21 Báo Thanh Niên: Sau 10 ngày thi đấu, vòng bảng đã kết thúc tốt đẹp và chọn xong 8 đội dự VCK gồm Sông Lam Nghệ An (bảng A), SHB Đà Nẵng (bảng B), Khatoco Khánh Hòa (bảng C), ĐTLA (bảng D), 2 đội nhì cao điểm nhất là Than Quảng Ninh và Cao su Đồng Tháp, cùng  2 đội miễn vòng loại là ĐKVĐ Nam Định và chủ nhà Ninh Thuận. Xác định đủ 8 đội dự VCK U.21 (Thanh Niên). >> Nhiều trận gay cấn đến giờ chót (Thanh Niên) /  U.19 VN sẽ bổ sung cầu thủ tại VCK U.21 (Thanh Niên).

* Người đẹp quần vợt Cibulkova đến VN (Thanh Niên): Tay vợt 23 tuổi hiện xếp hạng 13 thế giới Dominika Cibulkova (Slovakia) đã có những chia sẻ thú vị về nghề nghiệp lẫn cuộc sống, nhân chuyến sang TP.HCM thi đấu giải quần vợt quốc tế Heineken Stars 2012. >> Cibulkova muốn tấn công vào top 10 thế giới (Thanh Niên) / Dominika Cibulkova đến TP.HCM sớm (Thanh NIên) / Số một thế giới Victoria Azarenka sắp đến TP.HCM (Thanh Niên).

* Một số tin tức đáng chú ý khác:

Tìm lại chính mình (Thanh Niên)
Real thua Barca 8 điểm (Thanh Niên)
Tuyển nữ VN quyết đòi nợ trước Myanmar (Thanh Niên)
Juventus, Lazio, Napoli và Sampdoria duy trì mạch toàn thắng (Thanh Niên)
Bị đuổi chỉ vì… cảm xúc! (Thanh Niên)
Thủ môn Cagliari tái hiện màn cản phá kiểu “bọ cạp” (Thanh Niên)
Schalke vẫn bất bại ở Bundesliga (Thanh Niên)
Barcelona cho Real Madrid “ngửi khói” (Thanh Niên)
AC Milan lại thua sốc trên sân nhà (Thanh Niên)
Sunderland 1-1 Liverpool: Suarez giải cứu cho “The Reds” (Thanh Niên)
Bồ cũ Rooney và Balotelli mang bầu (Thanh Niên)
– Thierry Henry lập một siêu phẩm từ chấm phạt góc (Vietnam+)
– Jose Mourinho “nổi máu điên” sau thất bại của Real (Vietnam+)

Bùi Dũng

Chùm thơ Đoàn Thị Tảo – trannhuong

17 Th9

 

Chùm thơ Đoàn Thị Tảo

Đoàn Thị Tảo
 
 
XẨM CHỢ

Này chị em ơi!!!
Ra chợ từ buổi sớm mai
Có ba đồng vốn giở vai với giời
Một đồng mua cái nổi trôi
Đồng mua duyên hẩm với người ngày xưa
Ốm đau mua lão là vừa
Hết ba đồng vốn chợ trưa mất rồi
 
Bôn ba tần tảo ngược xuôi
Thác ghềnh chèo chống một đời bán mua
 
 
TỨ TUYỆT TÌNH
 
I
Người đem buồn nhớ đổ đi
Còn tôi níu lại phòng khi giở giời
Sập sùi mưa  gió bời bời
Nỗi buồn còn đó đem chơi một mình.
 
II
Một mình ra ngẩn vào ngơ
Lặng nghe tiếng lá gọi mưa bồn chồn
Hạt mưa như lỡ độ đường
Yêu say đắm đó chán chường lại đi
 
III
Thơ yêu tôi tặng một người
Của thời vụng dại chỉ người ấy thôi
Một người với một mình tôi
Cũng làm nên cả một trời nhớ thương
 
 
NGÔI SAO RƠI
 
Tôi đi về nơi ngôi sao rơi
Miền hoang vu gió
Một tinh cầu bé nhỏ
Bơ vơ rơi đâu
 
Tôi đi tìm nơi ngôi sao rơi
Hỏi từng ngọn cỏ
Có thấy một vì sao bé nhỏ
Bây giờ nơi đâu
 
Có ai tiếc thương một điều vô nghĩa
Giữa hằng hà thiên thể
Ngôi sao buồn bỏ đi nơi đâu
Cho tôi đi tìm
Một tinh cầu khờ dại đến xót đau
 
 
NGỌN ĐÈN VÀ ĐÊM ĐEN
  “Thà rằng chả biết cho xong”
 

Ngọn đèn dầu le lói
Rọi qua song cửa tre
Lập lòe đơn độc
 
Đêm đen đêm đặc
Nỉ non con dế khóc
Tủi duyên chú ếch kêu một mình
 
Người đa tình
Buồn sầu vô cớ
Đi không nỡ, ở chẳng trông ai
Thở dài thương
Thương cho ngọn đèn đầu phố   
Mở mắt trông thấy mặt đường lồ lộ
Đêm không đen
nhờ nhờ!….

 

Nguyễn Thị Hường: CHIẾT TỰ – CÁCH ĐỂ NHỚ CHỮ HÁN ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT – Tễu

17 Th9

Nguyễn Thị Hường: CHIẾT TỰ – CÁCH ĐỂ NHỚ CHỮ HÁN ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT

 
Đế tưởng nhớ TS. NGUYỄN THỊ HƯỜNG sinh năm 1981, cán bộ Phòng Nghiên cứu Văn bản Lịch sử – Địa lý, Viện Nghiên cứu Hán Nôm vừa qua đời hồi 14h00, ngày 16 tháng 9 năm 2012 (tức ngày Một tháng Tám, năm Nhâm Thìn) sau một tai nạn giao thông thương tâm tại Gia Lâm, Hà Nội; chúng tôi đăng lại bài viết dưới đây của chị:
 

Tạp chí Hán Nôm Số 5 (54), năm 2002 . – Tr.77-82

CHIẾT TỰ – MỘT PHƯƠNG PHÁP HỌC, NHỚ CHỮ HÁN ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VIỆT
Nguyễn Thị Hường

Có lẽ, khi đi học chữ Hán, mấy người không nhắc cho nhau câu:

Chim chích mà đậu cành tre
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

(Chiết tự chữ đức 德)
 

Đó là một trong những mẹo nhớ chữ Hán của người xưa thường được gọi là chiết tự.
 

Chiết tự nảy sinh trên cơ sở nhận thức về hình thể của chữ Hán, cách ghép các bộ, cách bố trí các bộ, các phần của chữ. Trên phương diện nào đó, chiết tự chính là sự vận dụng phân tích chữ Hán một cách linh hoạt sáng tạo. Hơn thế nữa, nó không chỉ dừng lại ở hình thức phân tích chữ Hán thuần túy mà còn chuyển sang địa hạt văn chương và các trò chơi thử tài trí tuệ đầy thú vị và hấp dẫn.
 
Như chúng ta đã biết, ở chữ Hán luôn có sự kết hợp nổi bật của ba mặt: hình – âm – nghĩa. Và chiết tự trong những chữ Hán đã phát huy đặc điểm cấu trúc ba mặt này để tạo nên nét riêng độc đáo so với chiết tự ở những hệ thống văn tự khác. Chiết tự trong chữ Hán không chỉ chiết về mặt hình thể chữ mà còn liên hệ với cả phương diện âm và nghĩa. Về mặt hình thể, chiết tự dựa trên nguyên tắc phân chữ Hán ra các bộ phận cấu thành của chữ. Về mặt âm, chiết tự sử dụng các tri thức mang tính ngữ âm học như nói lái và phiên thiết. Về mặt nghĩa, chiết tự dựa vào bản chất biểu ý của chữ Hán. Một chữ Hán bất kỳ cũng gồm nhiều nét hay các phần tạo nên. Với chữ độc thể là các nét. Với chữ hợp thể là các bộ phận hợp thành phức tạp hơn về cấu trúc.
Chính nhờ nét riêng độc đáo này, chiết tự trong chữ Hán trở nên đa dạng về hình thức và kiểu loại, phong phú về nghệ thuật ngôn từ. Để dễ nhớ, chiết tự thường được thể hiện dưới dạng thơ hoặc văn vần qua hàng loạt các bài thơ, câu đố chiết tự, rất cuốn hút đối với người học chữ. Những câuchiết tự kiểu như:
 
Cô kia đội nón chờ ai
Hay cô yên phận đứng hoài thế cô.

(Chữ an 安)
 
đã trở nên quen thuộc với biết bao thế hệ học chữ Hán (đặc biệt là với trẻ nhỏ). Người ta còn dùng câu đố chiết tự để thử tài chữ nghĩa, thử tài suy đoán của nhau. Nhờ đó, chiết tự có điều kiện đi sâu vào trong đời sống Hán học, dần dần trở thành thói quen khi học chữ.
 
Chiết tự xảy ra với cả ba mặt hình – âm – nghĩa của chữ Hán, nhưng chủ yếu là ở hai mặt hình nghĩa. Chẳng hạn: 

– Đấm một đấm, hai tay ôm quàng
Thuyền chèo trên núi, thiếp hỏi chàng chữ chi ? 

– Lại đây anh nói nhỏ em nì
Ấy là chữ mật một khi rõ ràng. 

Đấm một đấm hai tay ôm quàng là dáng dấp của bộ miên thuyền chèo là dáng dấp của chữ tất 必, thuyền chèo trên núi, trên chữ sơn 山 có chữ tất 必. Ghép lại chúng ta được chữ mật 密 (bí mật, rậm rạp) (Chiết tự dựa vào hình thể).
 

Hay như: 

Hai người đứng giữa cội cây,
Tao chẳng thấy mày, mày chẳng thấy tao.
 

Đó là hình chữ lai 來. Chữ lai 來 có hình hai chữ nhân 人 ở hai bên, chữ mộc 木 ở giữa. Thực ra hai chữ nhân 人 này vốn là tượng hình hai cái gai. Lai 來 là tên một loại lúa có gai, sau được dùng với nghĩa là đến. (Chiết tự về mặt hình thể).

 
Ba xe kéo lê lên đàng, âm vang như sấm.
 

Đó là chữ oanh 轟. Chữ oanh được viết với ba chữ xa 車 và có nghĩa là “tiếng động của nhiều xe cùng chạy”. (Chiết tự về mặt ý nghĩa). 

Tây quốc hữu nhân danh viết Phật,
Đông môn vô thảo bất thành “lan”.
 

Câu trên có thể dịch là: “Nước phương Tây có người tên là Phật”. Phật Thích Ca là người Tây Trúc (ấn Độ) so với nước ta thì ở phương Tây, chữ Phật được viết với chữ nhân 亻đứng cạnh chữ tây 西 trên chữ quốc 國. Chữ này không thấy có trong các từ điển, tự điển của Trung Quốc (như Khang Hy tự điển, Từ nguyên, Từ hải…) nhưng có mặt trong một số câu đối tại các chùa Việt Nam.
 
Câu dưới có nghĩa: “Cửa phía Đông không có cỏ không thành lan”. Chữ lan 蘭 (hoa lan) được viết: thảo đầu 艸 (cỏ), ở dưới là chữ lan 闌 (lan can) gồm chữ môn 門 (cánh cửa), bên trong có chữ đông 東 (phương Đông). Trong cách viết chính quy phải thay đông 東 bằng giản 柬 (Chiết tự về mặt ý nghĩa).
 
Chiết tự về mặt âm đọc trong chữ Hán tiêu biểu nhất là lối phiên thiết phục vụ cho việc chú âm trong các sách học, các tự điển. Nó cũng xuất hiện rải rác trong các câu đố chữ Hán. Ví dụ như:
 
Con gái mà đứng éo le,
Chồng con chưa có kè kè mang thai.
 
Đây là câu đố chiết tự chữ thủy 始. Chữ thủy 始 vốn là một chữ hình thanh, có chữ thai 台 chỉ âm, chữ nữ 女 (con gái) nói nghĩa.
 
Những trường hợp này xuất hiện rất ít và thường thì không chỉ thuần nhất chiết tự về âm đọc mà còn kèm theo cả phần hình thể hoặc ý nghĩa.
 
Qua những ví dụ chúng tôi vừa dẫn ra trên đây, có thể thấy các câu đố chiết tự này có ý nghĩa không nhỏ đối với việc học nhớ chữ Hán. Dựa vào việc phân tích và mô tả cụ thể, sinh động hình thể chữ Hán, các câu đố chữ Hán đã giúp cho người giải đố có khả năng tái hiện lại những chữ đã học không mấy khó khăn. Đồng thời, nó cũng giống như một bài kiểm tra định kỳ cho người mới học mà việc thuộc lòng đề bài và lời giaỉ là rất dễ dàng (do tính ấn tượng của nó). Chẳng hạn những câu như: 
 
Anh kia tay ngón xuyên tâm.
(Chữ tất 必)
Mặt trời đã xế về chùa.
(Chữ thời 時)
 
Việc vận dụng các liên tưởng hình ảnh vào hình thể, âm đọc hay ý nghĩa của chữ đã làm cho chiết tự nói chung và chiết tự trong câu đố chữ Hán nói riêng có tính sáng tạo cao. Nhờ đó mà các bộ phận cấu thành chữ Hán trở nên sống động, có hồn.
 
Trong số 70 câu đố chữ Hán trong kho tàng câu đố Việt Nam mà chúng tôi sưu tập được. có đặc điểm chiết tự khá thú vị. Chẳng hạn: 

Dưới đây là một số ví dụ:

Có tú mà chẳng có tài,
Cầm ngang ngọn giáo, đâm ngoài đít dê.
(Chữ hy 羲)

Chữ lập đập chữ viết, chữ viết đập chữ thập. (Chữ chương 章)

Đất thì là đất bùn ao,
Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay.
Con ai mà đứng ở đây,
Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào.
(Chữ hiếu 孝)

Một vại mà kê hai chân,
Con dao cái cuốc để gần một bên.
(Chữ tắc 則)

Nhị hình, nhất thể, tứ chi, bát đầu,
Tứ bát, nhất bát phi toàn ngưỡng lưu.
(Chữ tỉnh 井)

Đóng cọc liễn leo, tả trên nhục dưới, giải bơi chèo. (Chữ tùy 隨)

Đêm tàn nguyệt xế về Tây,
Chó sủa canh chầy, trống lại điểm tư. (Chữ nhiên 然)

Con dê ăn cỏ đầu non,
Bị lửa cháy hết không còn chút đuôi.
(Chữ mỹ 美)

Thương em, anh muốn nên duyên,
Sợ e em có chữ thiên trồi đầu
(Chữ phu 夫)

Khen cho thằng nhỏ có tài,
Đầu đội cái mão đứng hoài trăm năm.
(Chữ dũng 勇)

Thiếp là con gái còn son,
Nếp hằng giữ vẹn ngặt con dựa kề.
(Chữ hảo 好)

Ruộng kia ai cất lên cao,
Nửa vầng trăng khuyết, ba sao giữa trời.
(Chữ tư 思)

Đất cứng mà cắm sào sâu,
Con lay chẳng nổi, cha bâu đầu vào.
(Chữ giáo 教)

Em là con gái đồng trinh
Chờ người tuổi Tuất gá mình vô em.
(Chữ uy 威)

Ông thổ vác cây tre, đè bà nhật. (Chữ giả 者)

Đất sao khéo ở trong cung,
Ruộng thời hai mẫu, bờ chung ba bờ.
(Chữ cương 疆)

Muốn cho nhị mộc thành lâm
Trồng cây chi tử tiếng tăm lâu ngày.
(Chữ tự 字)

Hột thóc, hột thóc, phẩy đuôi trê,
Thập trên nhất dưới bẻ què lê.
(Chữ pháp 法)

 

Nhìn chung, các câu đố liên quan đến chiết tự chữ Hán đều dựa vào ba mặt hình – âm – nghĩa của chữ Hán để “chiết” và “đố” chữ. Chúng tôi đã thống kê được 44 chữ chiết tự về mặt hình thể, 28 chữ chiết tự về mặt ý nghĩa, và chỉ có một trường hợp được chiết tự về mặt âm đọc (chữ thủy 始) trên tổng số 73 chữ được sưu tập. Như thế, chiết tự về hình thể chiếm số lượng nhiều hơn. Điều đó có nghĩa là việc nhận biết và nhớ hình thể chữ Hán luôn là yêu cầu đầu tiên đối với người học chữ Hán. Hai bảng thống kê 72 chữ chiết tự về mặt hình thể và ý nghĩa sẽ được chúng tôi để ở phần Phụ lục.
 
Qua thống kê, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ chữ được chiết tự về mặt hình thể chiếm khá cao, 60% (44 chữ trong tổng số 73 chữ được chiết tự). Trong khi đó, tỉ lệ chữ được chiết tự về mặt ý nghĩa là 38% (28 chữ trên tổng số 73 chữ được chiết tự). Chỉ có 2% còn lại là số chữ được chiết tự về mặt âm đọc. Điều này chứng tỏ khi đem các chữ Hán ra chiết tự, người ta thường chú trọng đến hình thể chữ. Bằng cách chú ý đến hình thể, chiết tự sẽ giúp cho người mới học dễ dàng tưởng tượng và hình dung ra các chữ Hán cồng kềnh, nhiều nét mà họ đã học. Tất nhiên, không ít trường hợp chiết tự đã áp dụng vào tục tự, biệt tự.
 
Phép phân tích chữ Hán được áp dụng chủ yếu trên cơ sở phân tích các thiên bàng tổ hợp nên hợp thể tự. Các thiên bàng này cũng là những độc thể tự. Tuy nhiên, ở nhiều trường hợp chiết tự, phép phân tích này còn được tiến hành trên cả độc thể tự qua phương thức mô tả từng bộ phận của chữ. Điều đó rất phù hợp với điều kiện truyền thống, khi chiết tự được thực hiện trên cơ sở phân tích hình thể chữ Hán.
 
Tỉ lệ chữ độc thể hợp thể được đưa ra chiết tự trong các câu đó cũng không giống nhau. Trong đó, chữ độc thể được đưa ra chiết tự chiếm tỉ lệ thấp, chỉ khoảng 29% (21 chữ trên tổng số 73 chữ được chiết tự). Trong 70% còn lại là chữ hợp thể thì chữ hội ý chiếm đa số.
 
So sánh hai bảng thống kê, chúng tôi còn thu được những kết quả rất khác nhau về tỉ lệ chữ độc thể. Tỉ lệ chữ độc thể ở bảng 1 cao gấp 2 lần tỉ lệ chữ độc thể ở bảng 2 (36% so với 18%). Kết quả ấy chứng tỏ khi chiết tự, những chữ độc thể chủ yếu áp dụng phương thức tả chữ.
 
Cũng qua hai bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy các chữ Hán được chiết tự đều là những chữ thông dụng, thường dùng trong đời sống hàng ngày qua hệ thống tiếng Hán – Việt của chúng ta. Ví dụ như các chữ thánh 聖, vương 王, thủy 始, tử 子, an 安, điền 田, pháp 法… Vì vậy, tìm hiểu chiết tự còn rất tiện ích cho việc phổ cập tri thức về chữ Hán trong trường phổ thông, giúp người Việt thông hiểu hơn tiếng nói của mình.
 
Như vậy, từ những ưu điểm đã phân tích ở trên của chiết tự, chúng ta có thể khẳng định lại một lần nữa: chiết tự là một phương pháp học, nhớ chữ Hán độc đáo của người Việt. Đồng thời qua những câu đố chiết tự này có thể tạo sự hứng thú cho việc học, nhớ chữ Hán.
 
PHỤ LỤC: 
 
Bảng 1: Các chữ được chiết tự về mặt hình thể
.
 
 
STT
Âm đọc
Chữ Hán
Nghĩa
1
An
Yên ổn
2
Bát
Tám
3
Bất
Không
4
Chấn
Nhấc lên
5
Chủ
Vua chúa
6
Chương
Văn chương
7
Dũng
Mạnh
8
Ta
9
Điền
Ruộng
10
Đoan
Đầu mối
11
Đức
Đạo đức
12
Giả
Trợ từ
13
Giáo
Dạy
14
Hán
Sông Hán
15
Hầu
Chờ chực
16
Hiếu
Hiếu thảo
17
Hiểu
Buổi sớm
18
Hương
Hơi thơm
19
Hy
Hơi, khí mây
20
Kỳ
Đại từ
21
Lai
Đến, lúa lai
22
Mật
Rậm, bí mật
23
Nghĩa
Nghĩa
24
Niên
Năm
25
Pháp
Phép
26
Phi
Chẳng
27
Phối
Phối, sánh
28
Phu
Chồng
29
Phú
Giàu có
30
Quy
Con rùa
31
Sắc
Sắc lệnh
32
Tâm
Tấm lòng
33
Tất
ắt
34
Tắc
Thì (liên từ)
35
Thập
Mười
36
Thất
Mất
37
Thỉnh
Xin, hỏi
38
Thụ
Nhận
39
Thuỷ
Nước
40
Tỉnh
Giếng
41
Triêu
Buổi sớm
42
Tuỳ
Theo, nhà Tùy
43
Nghĩ
44
Tự
Chữ
 
 
Bảng 2: Các chữ được chiết tự về mặt ý nghĩa
 
STT
Âm đọc
Chữ Hán
Nghĩa
1
ám
U tối
2
Bảo
Giữ gìn
3
Cương
Ranh giới
4
Hảo
Tốt đẹp
5
Hoặc
Hoặc giả
6
Khâm
Kính
7
Lan
Lan can
8
Lan
Hoa lan
9
Luật
Luật phép
10
Luỹ
Bờ lũy
11
Mỹ
Đẹp
12
Nhất
Một
13
Nhiên
Đốt cháy
14
Như
Bằng, ví như
15
Oanh
ầm ĩ
16
Phật
 
Phật
17
Phụng
Vâng, dâng
18
Thánh
Tột bậc
19
Thiên
Trời
20
Thời
Lúc, khi
21
Thủy
Bắt đầu
22
Tứ
Bốn
23
Tình
Tình
24
Tốt
Quân lính
25
Tử
Con
26
Uy
Oai
27
Vương
Vua
28
Xuân
Mùa xuân
 
 
 
N.T H
 

 

 

1 nhận xét:

  1.  

    Hình như đây không phải là “chiết tự” (“chiết” phải là “bẻ” , “cắt”),
    mà chỉ là “ghép nét”, kiểu như “đánh vần”, trong chữ La Tinh để dễ nhớ mặt chữ.
    Một ví dụ điển hình của “chiết tự” là trường hợp sau đây, khi nói về người phụ nữ chưa chồng mà có con:
    -Duyên thiên chưa kịp nhô đầu doc.
    Phận liễu sao đà nảy nét ngang.
    (Truyền rằng câu này của Hồ nữ sỹ).
    —————
    Chữ “thiên” là “trời” mà nhô đầu lên thì thành chữ “phu” nghĩa là “chồng”.
    Chữ “liễu” ý nói “phận liễu”, nếu thêm nét ngang thành chữ “tử” nghĩa là “con”.

    Trả lời

Ba bài thơ nóng rẩy của Trần Mạnh Hảo – BĐX

17 Th9

Ba bài thơ nóng rẩy của Trần Mạnh Hảo

 

Bà Đầm xòe: Nhà thơ Trần Mạnh Hảo vừa gửi cho blog Bà Đâm Xòe một tập thơ gồm 30 bài do nhà thơ Luân Hoan hiện sống ở nước ngoài sưu tầm và tuyển chọn. Blog Bà Đầm xòe xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc ba bài thơ nóng trong số 30 bài ( bài nào cũng hay) của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Đó là các bài: Người anh hùng họ Ngụy, Nguyễn Trãi trước giờ tru di,Tôi yêu Tổ Quốc tôi mà tôi bị bắt. BĐX

 
 
 

Người Anh Hùng Họ Ngụy

 
Người yêu nước không thể nào là ngụy
Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy
Nhưng anh:
Là Ngụy Văn Thà (*)
Anh- hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa
Biển vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời
Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh hóa thành Tổ Quốc giữa trùng khơi
Gió mùa đông bắc gào khóc
Ngụy Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo
Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa
Trận chiến ba mươi phút
Tượng đài anh là phong ba
Đỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu
Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ
Linh hồn anh hú gọi đất liền
Ngụy Văn Thà
Tên anh không phải bài ca
Tên anh là lời thề độc :
– Phải giành lại Hoàng Sa
Sóng vẫn vồ lấy đảo…
 
Sài Gòn 15-9-2009
 
(*) Ngụy Văn Thà xuất thân khoá 12 Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Hạm Phó Tuần Dương Hạm Ngô Quyền HQ17, trước khi thuyên chuyển qua làm Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, để rồi hy sinh trong trận hải chiến. Thân xác ông, vị Hạm Trưởng đã chìm theo chiến hạm ngoài khơi Hoàng Sa.
 
 

Nguyễn Trãi Trước Giờ Tru di

 
 Ông Cao Xanh bỏ kinh thành về rừng xưa ở
Nơi vua lấy đất làm ngai, tình huynh đệ làm long bào
Nơi ta mót dần xã tắc cho vua như mót lúa
Chừng như ta đã đi con đường này từ Ải Bắc
Tiễn cha già hay đưa tiễn đời ta?
Đêm mưa đá, mưa tròng ngươi, mưa xuống nghìn con mắt
Ôi xã tắc
Con đường nào cũng dẫn tới pháp trường
Bàn tay chỉ đường nào cũng bàn tay đao phủ
Thân tùng bách há phải thân mùng tơi
Mây trắng xưa ơi
Sao giờ toàn những đám mây mưng mủ?
Ta thương xã tắc không mất về tay giặc
Lại mất về tay bọn nịnh thần
Triều đình ai cũng là Lê Sát[1]
Mắt thiên tử như Nam Hải đố ai lấp đầy giai nhân?
Luân thường đem gác gác bếp
Chỉ ba ông đầu rau nhìn thấy dân
Ôi Hàn Tín[2], Bành Việt[3], Phàn Khoái[4]
Gió trung thần đang hú gọi hồn đi
Dưới vòm trời Lã Hậu[5]
Mưa tru di đỏ rực gió lăng trì …
Vẫn biết vân cẩu bày trò sinh diệt chơi
Lịch sử cợt đùa sai đúng
Sao cứ quặn lòng nhìn đám trẻ lôi thôi
Đội ơn vua không trói chúng
Tội chết chém còn được vua ban đao phủ cõng
Giá chỉ mình ta chui qua lỗ nẻ giữa đất dày trời cao?
Ừ, mây mù vừa làm cỏ sạch trăng sao
Chợt gió dữ tru di mây trời từng đám
Mặt trời văng ra như đầu thánh hiền bị trảm
Sao phép nước dùng dao chém đại thần
Để chém trẻ sơ sinh?
Mai sau lấy gì chém sông núi?
Đầu người đang rụng quanh ta
Máu là nước lũ Hồng Hà dời non
Hồn ta là đứa trẻ con
Đi vào cõi chết vẫn còn ngu ngơ
Nỗi oan không chết bao giờ
Ta còn bị chém dọc bờ thế nhân…
 
Sài Gòn, tháng 9 – 1993
 
1. Lê Sát là công thần khai quốc nhà Hậu Lê, sau rất chuyên quyền, bị Lê Thái Tông bãi chức và xử tử.
2. Hoài Âm Hầu Hàn Tín, đại tướng của nhà Hán, có công rất lớn trong chiến tranh Hán-Sở, giúp Hán Vương Lưu Bang đánh bại Sở Vương Hạng Vũ. Sau mưu phản, bị Lã Hậu (vợ Lưu Bang) lừa bắt và xử chém.
3. Đại tướng, khai quốc công thần của nhà Hán, sau bị Hán Cao Tổ Lưu Bang tru di tam tộc
4. Cũng là một khai quốc công thần nhà Hán, sau bị nghi ngờ làm phản và xử chém.
5. Vợ Hán Cao Tổ Lưu Bang, trực tiếp tham gia triều chính, rất chuyên quyền, giết nhiều công thần của nhà Hán.
 
 

Tôi Yêu Tổ Quốc Tôi Mà Tôi Bị Bắt

 
 ( Kính tặng nữ đạo diễn điện ảnh Song Chi, nhà văn nữ Trang Hạ và anh chị em từng bị “ Công an Nhà Nước ta” bắt vì yêu nước vô tổ chức, dám biểu tình chống Trung Quốc chiếm Trường Sa, Hoàng Sa)
 
Những ngày này
Tổ Quốc là cá nằm trên thớt
Tổ Quốc là con giun đang bị xéo quằn
giặc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa
Biển Đông bị bóp cổ
Sóng bạc đầu nhe nanh sư tử
biển đập nát bờ
Hồng Hà, Cửu Long giãy giụa thở ra máu
Tuổi trẻ mít -tinh
đả đảo Trung Quốc xâm lược !
Sông Bạch Đằng tràn lên phố biểu tình
Sông Bạch Đằng bị bắt
ải Chi Lăng theo tuổi trẻ xuống đường
ải Chi Lăng bị bắt
gò Đống Đa nơi giặc vùi xương
sẽ bị bắt nếu biểu tình chống giặc !
Có nơi đâu trên thế giới này
như Việt Nam hôm nay
Yêu nước là tội ác
biểu tình chống ngoại xâm bị “Nhà Nước” bắt ?
Các anh hùng dân tộc ơi !
Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo ơi !
nếu sống lại, các Ngài sẽ bị bắt !
ai cho phép các Ngài đánh giặc phương Bắc ?
sao vua Trung Hoa lại chiếm nước Trung Hoa :
“ Bên kia biên giới là nhà
Bên đây biên giới cũng là quê hương !”
Thơ Tố Hữu năm nào từng xóa dấu biên cương !
Đường ra biển dân tộc ta đang bị tắc
Phải giành lại Hoàng Sa từ anh bạn Thiên triều
tôi yêu Tổ Quốc tôi mà tôi bị bắt !
Tổ Quốc yêu Người phải lấy máu mà yêu !
 
Sài Gòn 20-01-2008

Đọc Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương do giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm và chú thích – VHNA

17 Th9

Đọc Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương do giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm và chú thích

Phạm Trọng Chánh

Giữa thời điểm các nhà sách hải ngoại thi nhau đóng cửa, người đọc tiếng Việt ngày càng thưa thớt, tác giả gửi sách đi cho các nhà sách, không hy vọng gì tiền gửi trả về. Tại Paris, nhà sách tiếng Việt hiếm hoi Khai Trí chỉ sống nhờ bán bánh mì thịt nguội. In ấn một quyển sách đẹp là một hy sinh to lớn, nhất là của các tác giả tuổi đã về hưu.Trong nước, quyển Hồ Xuân Hương của bà Hoàng Bích Ngọc chỉ in 300 quyển, nhiều sách giá trị chỉ in 500, 1000 quyển cho một dân tộc 90 triệu dân trong nước và 4 triệu người tại hải ngoại, có ký giảđi 3 tuần lễ trong thành phố mới tìm thấy một người cầm sách đọc, thì thảm trạng đọc sách người Việt Nam đã xuống tới mức độ nào ?

Cầm quyển Lưu Hương Ký trong tay, và xem hình ảnh trường thuật buổi ra mắt Lưu Hương Ký tại quận Cam, California, Hoa Kỳ với 40 người phần lớn ông cụ bà cụ, có cả người từng là học trò cụ Cử Nguyễn Văn Tú, tôi thật cảm động. Hai trăm năm Hồ Xuân Hương , nằm dưới mộ trong lòng nước Hồ Tây chắccũng mỉm cười. Nhất là GS Hoàng Xuân Hãn, người khao khát được đọc chữ Nôm, chữ Hán trong Lưu Hương Ký và giải mã những ẩn số quan trọng cuộc đời thi hào hàng đầu của dân tộc, hẵn vui lòng. Mừng một bảo vật quốc gia mọi người được chiêm ngưỡng rộng rãi, được in kèm theo trong sách.

Viết bài này, tôi không dám gọi là phê bình, vì tôi biết bao công lao khổ cực hy sinh để làm ra quyển sách. Viết không khéo làm đau lòng tác giả, làm tàn rụi những ý chí nghiên cứu khảo cứu hiếm hoi, chẳng được lợi gì về vật chất. Sự ra đời một quyển sách, dù có nhiều sai lầm cũng là nguyên nhân thúc đẩy người khác viết hay hơn, sửa chữa những lầm lỗi khiến cho việc nghiên cứu ngày càng tiến bộ như thuyết tương sinh nhà Phật : «  Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt ». Tôi rất trân trọng công việc làm của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, tạo ra một cơ hội cho mọi người từ bốn phương trời tiếp cận được di sản quý báo của dân tộc. Nó không còn cái độc quyền của riêng của ông Đào Thái Tôn cất dấu suốt hơn 40 năm. Sự độc quyền ấy chỉ làm chậm trể bước tiến của mọi công việc nghiên cứu. Tôi chỉ dám mong bổ túc những ý kiến để cho công trình nghiên cứu được hoàn hảo. Phần tôi, tôi sẽ hoàn thành « Hồ Xuân Hương toàn tập » trong một ngày gần đây. Tôi không dám mong cầu toàn, nhưng nếu nó có hay hơn cũng nhờ công lao những người đi trước, nhất là ước nguyện của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã trao cho tôi..

Bây giờ tôi xin góp với Giáo Sư vài ý kiến về quyển sách Lưu Hương Ký : So với các thơ Lưu Hương Ký tôi góp nhặt được từ sách ông Bùi Hạnh Cẩn, ông Đào Thái Tôn, ông Nguyễn Lộc thì chỉ thiếu bài số 36 là chưa thấy công bố, chứ không phải ¾ chưa công bố như Giáo Sư nói. Bài này tôi cho rằng Hồ Xuân Hương viết năm 1794 tả lòng mình lúc Nguyễn Du giả từ về Hồng Lĩnh vì có câu : « Ả Hằng biết có soi chăng nhé ? » Hai người thường hẹn hò dưới trăng nên bài Nhân tặng.. Hồ Xuân Hương gửi Nguyễn Du có câu : « Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng ». Bài Ký hữu (Gửi bạn), trong Thanh Hiên thi tập Nguyễn Du trả lời có câu : « Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại » ( Một vầng trăng sáng tình ta đó). Hẹn dưới trăng, thề thốt dưới trăng chỉ có nơi hai tình nhân, chứ không ở hai người bạn trai.

Nói chung ngoài những bài đã được học giả Trần Thanh Mại dịch và Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn đã sửa chữa, các bài còn lại trong Lưu Hương Ký mới xuất bản, hoặc chép lại của ông Đào Thái Tôn, đọc và dịch, câu đọc chưa thông suốt, đôi khi chối tai, âm thanh, vần điệu cũng như niêm luật thơ Đường. Có thể làm người đọc hiểu lầm tài năng thi ca của Hồ Xuân Hương. Xuân Hương làm thơ » tầm thường và dỡ » đến mức này chăng ?

Trang 19 : «  Ông Bùi Hạnh Cẩn còn được thấy trong tủ sách gia đình ông Trần Văn Hảo một tài liệu mang tên Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, ông cũng cho là của Hồ Xuân Hương trong đó có 9 bài thơ chữ Hán ».  Tôi xin bổ túc cùng Giáo Sư :

Tạp chí Văn Học tháng 3 năm 1974, ông Trần Tường trong quá trình đi tìm thơ văn Hồ Xuân Hương tại Nam Định ba tập thơ  trong tủ sách cụ Trần Xuân Hảo, xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Hà ba tập thơ :  -Quốc âm thi tuyển khắc in năm Kỷ Dậu 1909 chủ yếu là Xuân Hương di cảo.(Văn bản này trước văn bản Nguyễn Ngọc Xuân in năm 1913)   -Một tập thơ nôm khác mất tờ bìa và tờ đầu nhưng có nhiều bài thơ Hồ Xuân Hương hơn tập trước. Một tập thơ chữ Hán chép tay nhan đề Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập mất phần cuối chỉ còn 9 bài thơ Đường Luật và một bài thơ dài theo thể song thất lục bát. Ngoài ra ông còn tìm lại được bài văn Xuân Đường đàm thoại của Mai Nham, Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San viết năm 1869, và các tài liệu liên quan đến Phạm Viết Đại tri phủ Vĩnh Tường quêở Trà Lũ.

Tin tức khám phá này rất quan trọng vì tôi cho rằng Hồ Xuân Hương những năm sống ở Yên Quảng (1816-1819) có tập hợp thơ mình thành một tập thơ thứ hai, gồm 9 bài thơ Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập, 8 bài thơ Vịnh Hạ Long(nay còn 5 bài), 9 bài thơ Vịnh Cảnh Đồ Sơn, và những bài thơ khác vịnh cảnh quanh vùng Yên Quảng, như  Vịnh Bãi Bình Than… Tập thơ vịnh cảnh này truyền đến kinh đô Phú Xuân cho nên tại Kinh đô các nhà thơđương thời như Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương, các nhà nho Trung Quốc như Trương Bỉnh Thuyên, Hoàng Diệu Khuê so sánh nữ sĩ Mai Am ( tức Lại Đức công chúa tên Trinh Thận, tự Thúc Khanh, con gái thứ 28 của vua Minh Mạng, em cùng mẹ với Tùng Thiện Vương Miên Thẩm) với Hồ Xuân Hương và Phạm Lam Anh.  Không aiđem so sánh công chúa với một nhà thơ dâm tục được.

Trang 20. 31 bài thơđi với bài tựa Lưu Hương Ký, tôi dịch và xét kỷ, tất cả đều là thơ Tốn Phong viết tặng Hồ Xuân Hương, và đều ca tụng tài sắc Xuân Hương, chẳng lẽ Xuân Hương lại làm thơ tự ca tụng tài sắc mình ?,  không có bài nào ý tứ do Xuân Hương viết..(xin xem bài Chân dung Hồ Xuân Hương qua 31 bài thơ tình Tốn Phong đang trên, Khoahocnet, vanhoanghean, langhue và được đang lại trên nhiều site khác)

Trang 29-36. Bài 1. Thuật ý kiêm trình giản hữu nhân Mai Sơn Phủ. Giáo sư sử dụng lại bản dịch ông Đào Thái Tôn. Bản dịch có nhiều câu thật ngớ ngẩn và buồn cười :

«  Lộc ao ao, nhạn ngao ngao » (Nai xôn xao, nhạn lao chao) dịch thành : Hươu ao ao, Nhạn ngao ngao. Con hươu và chim én sao kêu giống mèo thế !

 «  Giang bát bát, Thủy hoạt hoạt, Ngã tư quân hoài tương khế khoát, Lệ ngân chiêm hạ sát » (Sông bát ngát, nước chảy xiết. Lòng ta cùng lòng chàng khắn khít, Lệ rơi trên áo thấm ướt) dịch thành : « Sông bát ngát, nước ào ạt, Ý thiếp lòng chàng cùng vu khoát. Lệ rơi thêm mặn chát ». Chao ôi, cóông Cao Bá Quát ởđây chắc ông sẽ bịt mũi : « câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An », mắm Nghệ An còn thơm,  chỉ có mắm làm dỡ hôi thối mới mặn chát, chớ nước mắt làm gì mặn chát.

« Minh tần phi, Bút tần huy. Nhất trường đô bút thiệt : Hà xứ thị tình nhi ? (Trà thường pha, bút nở hoa. Đâu chẳng ngâm chẳng uống, Mà chàng ởđâu xa ?) dịch thành : « Trà mà chi ? Bút mà chi ?.Cũng là thiên lý cả. Ai là kẻ tình nhi ? ». Đoạn trên Hồ Xuân Hương mời Mai Sơn Phủ : Dã ưng quân bút phát (chàng ơi cất bút viết) thế màđoạn dưới lại bảo chàng : «  Viết mà chi ? » Đến hai câu : « Cũng là thiên lý cả. Ai là kẻ tình nhi ? » thì thật là ngớ ngẫn, chẳng hiểu thiên lý ở đâu ra.  Viết thơ cho chàng mà còn hỏi : «  Ai là kẻ tình nhi ? » thì chàng chắc ghen mà nổi trận tam bành chàng lên.

Dịch như thế mà ông Đào Thái Tôn giữ Lưu Hương Ký làm con tin hơn 40 năm, đòi nhà nước trả tiền cho 300 triệu thì thật là quá đáng. Chắc là ông phải chỉa súng Hội đồng Xét duyệt mới cấp tiền cho ông !

Trang 39, 40 bài 3 . Giáo sư sử dụng lại bản dịch ông Đào Thái Tôn : «  Nhất viên hồng hạnh bích thanh song, Phồn hoa tích dĩ không. Kim triêu hựu kiến sổ chi hồng. Oanh nhi mạc đái xuân phong khứ, Chỉ khủng đào yêu vô lực tiếu đông phong ».(Một vườn hồng hạnh biếc xanh xanh, Mơ hoa tỉnh giấc nồng. Oanh ơi đừng rủ xuân đi nhé. Ta sợđào hoa không đủ sức cười với gióđông ! ) Những câu thơ tuyệt tác hay vô cùng thế mà qua tay ông Đào Thái Tôn : « Một vườn hồng hạnh biếc xanh thông. Phồn hoa tưởng đã không. Sớm nay bỗng nở mấy nhành hồng. Chim quyên chớ quyến xuân đi nhé. Ta sợ « đào hoa vô lực tiếu đông phong ». Cây thông ởđâu vào, hồng hạnh mà trồng chung với thông, lá thông có chất át xít, rụng đầy thì hồng hạnh chẳng sống nỗi. Chim quyên ởđâu vào ?, người ta thường lầm chim uyên với chim cuốc(uyên  làvịt Nhật bản con trống đủ màu thường đi với con mái tên là chim ương) cuốc gọi mùa hè, mà rũ mùa xuân đi sao ?.  Các câu chữ «  phồn hoa », « đào hoa vô lực tiếu đông phong »  ông dịch mà để nguyên đọc nghe nhưăn cơm  gặp viên sỏi lớn, gảy răng !

Trang 43 bài 4 Thu dạ hữu hoài. « Dạ thâm nhân tỉnh độc trù trừ. Vân lâu tửu lãnh ngân hoàn bán. Thủy khoát, phong trường ngọc lậu cô. Hoa hoa nguyệt nguyệt chủ nhân ngô. Xuân tịch tịch. Xuân hứng bất đa hồ ? Nhạn ảnh hà quy vân tự trụ, Trùng thanh như khóc thủy không lưu. Tuế án tu liên .( Đêm tàn người thức lòng ngơ ngẫn. Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà. Nước chảy gió đùa trơ giọt ngọc. Hoa hoa nguyệt nguyệt nỗi lòng ta. Xuân vắng vẻ. Xuân hứng chẳng nhiều ư ? Bóng nhạn về đâu mây ở lại. Dế trùng như khóc nước trôi hoài. Năm tàn thêm lo !)

Giáo sư NNB dịch thành : « Đêm khuya người lặng, mình bơ thờ ; Lầu mây rượu lạnh nửa vầng thơ. Nước rộng, gió dài, đồng hồ tịch ; Hoa hoa , nguyệt nguyệt chủ nhân cô ! . Xuân tịch lặng, lòng xuân chan chứa ! Bóng nhạn về đâu ? Mây đứng yên ! Bọ lúa như kêu nước mãi trôi. Năm muộn than ôi ! “. Lưu ý giáo sư : “ ngân hoàn bán” là ánh sáng trăng nửa đêm đã bạc, thời Hồ Xuân Hương chưa có nhập cảng đồng hồ quả lắc của Thụy Sĩ, theo Lê QuýĐôn thì cả nước cóông Nguyễn Văn Tú qua Hoà Lan học nghềvàchế được một cái đồng hồ quả lắc, nhưng dân chúng nhà khá giả thì dùng hồ đồng  là hồ bằng  đồng nước nhỏ giọtở giữa, có một cây sắt khắc từ 1 đến 100, đầu hôm người ta đổ nước đầy cho nước giọt xuống, tùy mức nước người ta đoán giờ. Thời gian như nước chảy gióđùa chỉ nghe tiếng nước hồ đồng như giọt ngọc rơi đều.  Chủ nhân ngô là cõi lòng ta, chứ không phải là chủ nhân cô hay cô chủ nhân. Trùng thanh là tiếng côn trùng, dế trùng, tiếng dế, tiếng ểnh ương, còn con bọ lúa là con gì, có ai thấy nó bao giờđâu ?.Bài thơ này Xuân Hương làm gửi Nguyễn Du. Chàng là chim hồng nhạn bay đi, em là mây ở lại, nghe tiếng dế trùng than khóc trong ngày tháng như nước trôi. Trong bài Thu Dạ I, Nguyễn Du đã đáp lại : Anh cũng thấy đêm bạc màu sương, tiếng dế lạnh than khóc nơi tường đông. Vạn dậm (chim hồng bay) chỉ nghe tiếng thu rung lá rụng. Vì mây ở lại bên em nên trời Hồng Lĩnh chỉ có khí lạnh không một vầng mây.. Cuối năm anh nằm bệnh bên bờ sông Quế Giang (sông Lam).

Trang 44 bài Thu Tứ Ca. Bài này theo tôi là của Mai Sơn Phủ, vì Hồ Xuân Hương là người đẹp rồi, thì có thể nào“Hoài giai nhân hề bất năng vương” (Nhớ người đẹp chừ lòng không quên) GS dùng lại bản dịch ông Bùi Hạnh Cẩn: Nhớ người đẹp chừ sông sao “guơn”. Guơn nghĩa là gì tôi tra tựđiển không thấy, có lẽ vì túng vận ông Cẩn đặt ra ! Mai Sơn Phủ dùng lại bốn câu thơ nổi tiếng của vua Hán Vũ Đế Lưu Triệt (156 trước CN-87 sau CN). Thường trong Hát Nói người ta hay hát hai câu nổi tiếng của một tác giả cổđiển để làm đề tài hay lấy đà nói tiếp, chẳng cần trích dẫn là của ai, Mai Sơn Phủăn gian, lấy đà hát đến  4 câu rồi nói, xổ nho thay vì tiếng nôm để trả lời bài Kểý mình trình bạn Mai Sơn Phủ của Hồ Xuân Hương: “ Thơ cùng ngâm, rượu cùng châm. Tự lúc buồn ly biệt. Nửa lòng ai ấm chăn ? Chớđàn ly khúc oán triâm”. Mai Sơn Phủ nói: “Ta có rượu chừ không bạn uống, Ta cóđàn chừ không tri âm. Không chuốc rượu chừ không gảy đàn, mà chỉ uống chè xanh thôi để nhớ nàng “.

Trang 47,48 bài Nguyệt dạ ca Bài I là của Mai Sơn Phủđi về Vinh và viết thơ về, vì có câu : Uyển cố nhân hề thiên nhai,( Người yêu dịu dàng ơi giờ nơi phương trời). Hồ Xuân Hương không thể gọi Mai Sơn Phủ là Uyển cố nhân được. Bài II là bài trả lời của Hồ Xuân Hương. “Câu thúc vãng lai hề chiếu dư hoài”( Sáng lấp lánh chừ chiếu lòng ta) ông Đào Thái Tôn dịch:” Vụt qua lại chừ soi chiếu lòng ta”, thì ngây ngô chẳng thành thơ tí nào !. Câu: Tình chi sở chung (Nơi nào gặp lại) thật đơn giản ông dịch thành: “Nơi tình hội tụ “, tiếng Việt chẳng ai nói thế bao giờ !

Trang 51 bài 8 Ngưông khúc hành. Câu : “Dãông đạm bạc diệc phồn hoa, Thác nhận đào yên thị hệ la” (GS đọc nhầm  đào yêu thị tệ la) có nghĩa là: Ông già quê xa lánh chốn phồn hoa, tự nhận mình cùng họ hàng (họ Ngư) với anh chài đánh cá Vũ Lăng đãđi đến chốn đào nguyên, trong Đào Nguyên Ký của Đào Tiềm. GS dịch thành “Ông dùđạm bạc vẫn phồn hoa, Lầm tưởng đào non giăng lưới ra”, thì ngược ngạo chẳng ai hiểu gì cả ?. Người nào vừa đạm bạc vừa phồn hoa ? ông giăng lưới đánh cá để hái đào non chăng ? Câu  “Hàn sơn thảo sắc thong thong, Tô giang kýđáo thanh phong tự nhàn.” (Non hàn mái cỏ tranh buông, Sông Tô đến đấy thong dong gió nhàn) dịch thành: “Cỏ bời núi lạnh xanh xanh. Sông Tô hằng đến hưởng thanh phong nhàn”. Về mái nhà tranh, câu cá nơi sông Tô mới thong dong hưởng gió mát nhàn hạ chứ nơi “ cỏ bời núi lạnh” thì hưởng thanh phong nhàn nỗi gì ?

Trang 55 bài số 10 Hoài Cựu theo tôi là bài thơ là bài thơ Hồ Xuân Hương làm sau khi gặp Nguyễn Du làm  Chánh Sứ năm 1813 tại Thạch Đình bên sông Vị Hoàng, nàng không gặp được mà chỉ nhìn Nguyễn Du từ xa vì quan trên trông xuống, người ta dòm vào, lính lệ chặn đường quan khắp nơi (không có chuyện quan lớn đi bắt tay từng người dân như ngày nay). Sau cuộc gặp gỡ này Hồ Xuân Hương viết hai bài: Hoàng Giang ngộ hỷ phú (Mừng gặp bạn trên sông Vị Hoàng) và bài Hoài Cựu.

Bài này có vài chữ cần đọc lại cho đúng: Câu 3, chữ “con”, đọc là “còn”, câu 5  chữ “ chuộc” đọc thành “ trả”. Vay trả câu thơ nhẹ nhàng hơn vay chuộc. Chữ “đưa đẩy” thì thật là hay. Nàng đến nơi sông Hoàng Giang nhớ lại kỷ niệm, ngày xưa từng giả từ Nguyễn Du, nhìn phong cảnh nàng có vui đâu vì nơi này gửi tâm sự cả nàng rất nhiều, (cả tiễn đưa Mai Sơn Phủ cũng nơi này !). Nàng đón người yêu xưa Nguyễn Du, nhưng bị lính lệ đẩy ra dẹp đường cho quan Chánh Sứđi, thế mới biết ông Trời (tay đại tạo) đã sắp xếp cho mình như thế nào, mình chỉ là cánh hoa trôi theo nước thủy triều lên xuống, nàng bịđám đông chen lấn đẩy nàng ra xa. Các cụ ngày xưa đọc hai câu này chắc vỗđùi khoái khẩu. Tóm lại bài Hoài Cựu :

                Chữ tình ngang ngữa biết bao nhiêu,

                Một chút duyên xưa dở lắm điều.

                Bèo lạc không kinh còn trẻ lại,

                Hoa trăng thêm tủi cái già theo.

                Tài tình nợấy vay nên trả,

                Phong cảnh vui đâu gửi đã nhiều.

                Đưa đẩy biết tường tay đại tạo,

                Cánh hoa trên nước thấm tin triều.

Trang 56 bài 11 Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn phủ ký: Câu 1 chữ “ ru” có người đọc là“du”. Câu: Lá ngọc chiều thu giận hẳn ru, nếu hiểu “Chắc hẳn anh giận tôi rồi hay không ?” có gì chưa ổn. Xuân Hương làm gì mà Mai Sơn Phủ giận ?. Tôi nghĩ nên hiểu:  Mùa thu lá vàng rơi, những chiếc lá xanh như ngọc giận mùa thu vì khí lạnh trở nên vàng không còn ở trên cành. Câu hai chữ “ thâu”đọc thành “thu”. Câu 3, Hồ Xuân Hương gọi chùa một cột trên hồ sen là am thì thật là chính xác, vì nó quá bé nhỏ, đúng là cái am. Câu 4 : Ngọn nước Tam kỳ chảy lại đâu , tôi hiểu là ba con sông Nghĩa Trụ, Kim Ngưu vàĐại Bi hợp lại thành sông Nhĩ Hà rồi chảy vềđâu ? , Hà Nội và làng Nghi Tàm có sông Tô Lịch, nhưng có giòng nước nào ngày xưa có tên Tam Kỳ ?. Câu 7  Trăm năm có biết duyên thừa nữa. Hồ Xuân Hương trao thân cho Mai Sơn Phủ rồi mà vẫn thắc mắc chàng đã có vợ hay chưa. Phong tục kết dây tơđỏ trên tay khi chia tay có nơi người Mường, người Lào, thời Hồ Xuân Hương người Việt có làm thế không ?

Trang 59 bài 12. Cảm cựu tống Tân xuân chi tác. Đây là hai bài thơ Đường Luật rõ ràng vì có từng cặp 3,4 và 5,6 đối nhau. Bài  I I, câu đầu có thể vận trắc chữ “ngọt”, là bình thường trong thơ Đường,  chỉ cần “nhị tứ lục phân minh”, chữ 2,4,6 đúng niêm luật. Nên chia lại làm hai bài. 16 câu mà gọi là trường thi thì không đúng. Như thế thì giải quyết được một bài đếm thiếu của ông Trần Thanh Mại. Câu 3: chữ “ Cửa động” thay vì chữ “Cửa đông”. Chú thích:  Xuân phải hiểu là “đông quân” là mùa xuân vừa người yêu. “Tân Xuân” phải hiểu là “người yêu mới” thì chẳng hiểu gì cả về bài này.

Hai bài thơ này cóđiểm lạ là người ta thường nói “Tống cựu nghinh tân”, tiễn năm cũ mừng năm mới, ở đây “nhớ chuyện cũ, tiễn xuân mới”. Tại sao như thế ?

Theo tôi Hồ Xuân Hương viết năm 1814, trước khi gặp Tốn Phong đểđưa chàng viết tựa: thời điểm năm 1804 với ý nghĩa như sau:

Bài I.      Hết cơn bỉ cực đến hồn thái lai, mùa xuân này không còn như những mùa xuân xưa, mười năm lận đận, nhìn những ngày khổ cực, nàng chua chát cho những mối tình đến muộn màng, lúc này Xuân Hương đã trải qua nhìều kinh nghiệm nhân sinh, nhất là về tình ái, trước mắt nàng là bình hương nguội, tựa như lòng đã tưởng không còn yêu ai được nữa, đã lạnh với phong lưu. Gặp một người đúng như mình mơ ước thật khó, đời như chiếc gối mơ (tích Du tiên chẩm). Ở tuổi tưởng nhưđã muộn màng bổng dưng treo giá ngàn vàng, nhiều mối duyên quá khiến cho nàng ngơ ngẩn.

Bài II.  Cuộc đời suy nghiệm nàng thấy: có vị chua lẫn vị ngọt, như trời đất có nắng thì có mưa. Dù chưa phải là tri âm hoàn toàn như mình mong muốn. Những lời chê bai tiếng thì thầm nay đã thưa dần. Nàng đã tìm ra người tâm đầu ý hợp, quan Tham Hiệp Yên Quảng, như vụ “mía tháng ba ngọt ra đầu ngọn”. So với ngày xưa đời vắng lặng soi gương lạnh ngắt một mình. Còn mối tình nào hơn thế nữa, nàng tự hỏi từ nay đã phải như thế chưa .

Trang 65 bài 15 Họa Nhân không phải là Hoạ bài người khác. Nhân có người vào Hồng Lĩnh, Hồ Xuân Hương gửi thơ cho Nguyễn Du khoảng năm 1796 báo tin: Vài hàng viết gửi thơ thăm anh mà nước mắt rơi lai láng. Nghĩ tưởng rằng em có thể chờ đợi được anh lâu. Láđã nhuộm màu sương lam, lòng  em càng thêm thẹn. Nhìn sương pha màu khói biếc mà rộn thêm cơn sầu. (Mẹđã nhận trầu cau ăn hỏi, gia đình anh Lang xóm Tây làng Nghi Tàm, nhà cửa đang sửa soạn chưng diện.) Em thẩn thơ trước nhàđang sửa soạn “khoe với gió”. Bên tai em (những lời tán tỉnh anh Lang) như tiếng địch thổi chói tai. Muốn hỏi với trăng già sao khe khắc với tình duyên ta, trêu nhau chi mà xe những mối tơ không trọn vẹn đểđôi ta khổ sở với nhau.

Trang 67 bài 16 Tặng Tốn Phong Tử. Có câu thơ 7, 8,9,10 quan trọng: Tấm lòng tôi ngay thẳng tỏ rõ với chàng. Ông tơ bà nguyệt có thể xe được ba mối: chàng, vợ chàng và tôi vào một. Chàng là khách đa tình có hay rằng (tôi đã có kinh nghiệm làm lẽ với Tổng Cóc) nên năm canh nghĩ đến rất sợ hải tình như thế này. Do đó chữ bơ bải có nghĩa là hơ hải hay bơ phờ, bải hoải. Tóm lại bốn câu này đã nói ngược lại sáu câu trước là từ chối lời cầu hôn của chàng.

Xuân Hương cám ơn Tốn Phong lâu nay đã thường đến chơi.  Xa nhau nhớ viết thơ cho nhau. Lòng tôi dám đâu như mưa gió màăn nói như trở bàn tay. Những lời đàm tiếu của người đời như sóng nước. Rồi đây anh về Nghệ Tĩnh, Nam Bắc xa nhau bao dậm. Tưởng là những thề non hẹn biển để lại cho đời sau… nhưng mà:nói thẳng với chàng,ông tơ bà nguyệt có thể nào xe được ba mối tơ, chàng là khách đa tình có biết rằng tôi sợ lắm. Nhưng  thật ra Xuân Hương từ chối Tốn Phong vì làm lẽ một anh đồ nghèo, chẳng danh phận, chạy ra Bắc vào Nam dạy học kiếm ăn. Giàu như Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa nàng còn khổ sở với bà lớn.  Nhưng Xuân Hương nhận lời quan Tham Hiệp Yên Quảng vì bà lớn thường ở lại cai quản gia trang tại quê quán, chỉ có bà bé theo chồng nơi trấn nhậm.

Trang 69 bài 17 Thạch Đình tặng. Bài này ông Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn đều lầm tưởng của một người tên là Thạch Đình như CưĐình, Thực Đình người đương thời. Nhưng không phải, thạch đình chỉ là cái đình đá, nơi bến sông Vị Hoàng, Nam Định vìđó là bến cảng lớn của ngày xưa, vì cạnh biển, mưa gió, bão táp nên đình được xây kiên cố bằng đá. Từđây đi vào Nghệ Tĩnh, Phú Xuân tiện lợi  nhanh chóng vì không leo núi đèo Tam Điệp hay truông nhà Hồ, phá Tam giang.. Làng Tiên Điền có Giang Đình là cái đình bên sông, một trong tám thắng cảnh Hồng Lĩnh. Hồ Xuân Hương tiễn Nguyễn Du năm 1794, tiễn Mai Sơn Phủ năm 1801 vàđón quan Chánh Sứ Nguyễn Du năm 1813 nơi này.

Bài này theo tôi là của Nguyễn Du.  Bài này GS đọc chữ nôm có nhiều chữ không ổn:  câu 1, chữ “vẽ vời “ thay vì “ vả vê” (chữ Nôm, chữ quốc ngữ không thấy có chữ vả vê, ngày xưa chữ Nôm vần ời, ề,i là thông vận không bị xem là thất vận). Câu 2: chữ “luống” thay vì chữ “lúc “. Câu 3: chữ “Cung Hoàng” thay vì “Cung vàng”. Là khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng của Tư Mã Tương Như. Chữ “đường” đọc là “dường”. Câu 4  “Đường nguyệt” thay vì “Điếm nguyệt” nhà Xuân Hương là Cổ Nguyệt Đường, là một ngôi nhà lớn Tốn Phong gọi làđình, Mai đình, hay viện. là một học đường, không phải là ngôi nhà nhỏ, tạm bợ nhưđiếm canh hay lữđiếm. Câu 6 chữ “ quyến” thay vì chữ “thấy“ . Câu 7  chữ “phụ” thay vì chữ “rất”. Câu 8, chữ  “Tròn trặn” thay vì “Tròn trăng”, bị thất niêm, chữ “gương tình” thay vì “ gương tạnh”. Bài thơ không ổn nên đọc không hiểu gì cả.

                Bài thơ Nguyễn Du tặng (Hồ Xuân Hương) nơi Thạch Đình

                Đường nghĩa bấy nay trót vẽ vời,

                Nước non sầu nặng luống đi về.

                Cung Hoàng dịu vợi dường khôn lọt,

                Đường Nguyệt mơ màng giấc hãy mê.

                Đã chắc hương đâu cho lửa bén,

                Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.

                Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,

                Tròn trặn gương tình cũng có khi.

Bài thơ ý nói: Bấy lâu nay ta quen biết nhau, nay nặng lòng vì nước non anh phải về quê (để xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền) Khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng, lời tỏ tình anh chưa nói cùng em, nơi Cổ Nguyệt Đường em hãy còn mơ màng giấc chiêm bao. Chúng ta có thật yêu nhau không cho lửa tình cháy bén, hay em chỉ khóc vì hoa rụng  quyến theo mùa xuân đi. Trời xanh, trăng vàng nếu chẳng phụ lòng ân ái, thì có khi chúng ta sẽ thành vợ chồng với nhau.

Bài thơ này chứng tỏ Nguyễn Du còn rất lừng khừng trong tình yêu với  Hồ Xuân Hương vì chàng chưa có công danh, không muốn ra làm quan với  Tây Sơn như anh Nguyễn Nể, nhưĐoàn Nguyễn Tuấn. Nguyễn Du phục Nguyễn Quýnh khởi nghĩa chống Tây Sơn nhưng không thể lập lại như Nguyễn Quýnh vì làng Tiên Điền sau trận làm cỏ của tướng Tây Sơn Lê Văn Dụ, người sống sót chẳng còn ai theo và Nguyễn Duđã cóý muốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Tương lai không rõ ràng, nên không cưới Hồ Xuân Hương đểđem nàng về Tiên Điền, vì làng chỉ còn một bãi chiến trường nhà cháy, đồng ruộng hoang phế và vì Nguyễn Du còn sẽ ra đi, Nguyễn Du cũng khôngở lại Thăng Long vì chỗ dựa là anh Nguyễn Nể phải về Phú Xuân được phong chức Đông Các bên cạnh Vua Cảnh Thịnh , khi Vua Quang Trung mất năm 1892 mới lên 10. Anh Nguyễn Nể giao tiền bạc cho hai em cùng cha cùng mẹ là Nguyễn Du và Nguyễn Ức nhiệm vụ xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền. Nguyễn Nể không thể trực tiếp trông coi và cũng không thể giao ai khác.

Trang 71, bài 18 là thơ Hồ Xuân Hương gửi Hiệp Trấn Trần Ngọc Quán, để báo cáo tình hình mời các danh sĩ Hoan châu tham gia tao đàn Cổ Nguyệt Đường, và mách : có người đặt cho nàng là thèo đảnh (lắm chuyện, tào lao). Bài 19 là thơ Trần Ngọc Quán gửi Hồ Xuân Hương trêu chọc và tỏ tình với nàng. Nàng đã khoe tài lạ trước, thì tôi như Lưu Nguyễn theo lối quen xưa mà vào chốn đào nguyên. Bao nhiêu tài tử giai nhân đó, riêng tôi có nợ bình sinh phải trả cho nàng.

Trang 75 bài 20. Hoạ Mai Sơn phủ chi tác. Bài thơ này trả lời bài Thu Tứ ca của Mai Sơn Phủ. Mai Sơn Phủ thề thốt không uống rượu, không gảy đàn vì thiếu nàng là tri âm. Thề chỉ uống trà xanh thôi để chung tình với nàng. Hồ Xuân Hương nhắc lại : chúng ta là kẻ chung tình biết với nhau và nhắc lại kỷ niệm.Tiễn nhau đi ba bước đã nên câu thơ. Nàng chờ đợi thơ nên cứ mở thơ cũ ra đọc, đọc xong khép lại, rồi lại mở ra đọc.. Ngày tháng đi về nhanh như vó câu, ban ngày đi trên lối cũ nước mắt ướt cả hoa, đêm ngủ thao thức nhớ mùi hương chàng trên nệm. Vắng nhau mới biết rõ tình nhau. Chỉ hai ta là kẻ chung tình biết với nhau. Bài thơ này là một bài thơ tình tuyệt tác của thi ca Việt Nam thế kỷ 18, 19.

Trang 76 bài 21 Tốn Phong đắc mộng..Tốn Phong nằm mơ thấy mộng : Sông Tô tuy hẹp ấy Ngân Hà. Mộng thấy qua cầu giấc tối qua (Thơ Tốn Phong bài 16). Tốn Phong muốn cưới nàng đểđôi bên không còn là Ngưu Lang, Chức Nữ. Trái với lời bàn trang 76. Bài này Xuân Hương đã từ chối khéo léo : « Tâm sự em đây, nói ra chàng có hiểu chăng ? Chúng ta đồng tâm sự hợp nhau lắm, nhưng chúng ta bạn với nhau thế này làđủ, cưới nhau vì nhục dục (hoa liễu) có vui đâu, chàng còn phải lo học hành thi cử để lập công danh trả nợ với non sông. Tình ái lâu ngày nồng nàn sẽ nhạt. Lời thề dù nặng biết đâu rồi sẽ phai. Còn em xin chịu duyên phận hẩm hiu số kiếp đãđịnh. Sau này có nhớ nhau xin nghĩ đến chuyện Xương Giang : Xương Giang một giải nông sờ, bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia ».

Trăng 81 bài 23. Mừng gặp bạn trên sông Hoàng Giang. Bài này Hồ Xuân Hương đón và gặp Nguyễn Du trên đường đi sứ tháng hai năm Quý Dậu ( 1813). Từ Phú Xuân, đoàn cống sứ gồm 27 người, đi thuyền đến Thạch Đình, bến sông Vị Hoàng. Từ Vị Hoàng được Tổng Trấn Nguyễn Huỳnh Đức tiếp đón đưa về Nha Tuyên Vũ (Chùa Quán Sứ) nghỉ ngơi. Sau đóđi đường bộ, mỗi địa phương đều có quan Tri huyện,  quan Hiệp Trấn đón rước lên đến tận Lạng Sơn. Từải Nam Quan các quan địa phương Trung Quốc tiếp rước chu cấp cho sứđoàn đến Bắc Kinh. Bài thơ cóý như sau : Từ lúc em biết yêu lần đầu, thời gian tình nghĩa yêu đương em xem trọng như mấy cân vàng. Một lần hẹn nhau em nhớ cả kiếp, tình cảm nặng nề em không quên dù có đến trăm thân. Cạn dòng sông Tô Lịch vẫn còn duyên nợđôi ta. Đầy sông Hoàng Giang những giọt nước mắt ái ân em tiễn chàng. Hai câu cuối : «  Nồng nhạt mặc dùđâu nhẽ dám ; Tấc son này vẫn thắm mười phân ». Dù chàng có nồng nàn hay lạnh nhạt em đâu dám gặp chàng, vì chàng đường đường là một vị Chánh Sứ, quan trên trông xuống, muôn cặp mắt lính tráng, dân chúng nhìn vào. Riêng lòng son em vẫn yêu chàng trọn vẹn như ngày nào.

Trang 83 bài 24 Thệ viết hữu cảm.Bài này Hồ Xuân Hương làm năm 1801, sau khi thề với Mai Sơn Phủ. Từ lúc yêu Nguyễn Du năm 1790 đến  năm 1801, mười mấy năm sau Hồ Xuân Hương mới biết có người tỏ tình với nàng. Duyên tơ này có lẽông tơ bà nguyệt đã sắp sẳn. Buổi lễăn thề thường cử hành lúc canh khuya có ba sao giữa trời chứng giám, lấy tích trong Kinh Thi thuộc Đường phong có câu Tam tinh tại thiên (Sam Sung, công ty Đại Hàn lấy tích này) ba sao giữa trời, ý nói vợ chồng gặp nhau lúc canh khuya. Mỗi người cắt một đoạn tóc, (đàn ông ngày xưa tóc dài búi tóc) trộn vào nhau, sau đó lấy dao cắt làm hai chia mỗi người phân nửa (Tóc mây một mái dao vàng chia đôi. Kiều) Lấy kim trích máu từ ngón tay  hoà trong hai chén chung rượu, một chén tử và một chén sinh. Sau đóhai người cùng đọc lời thề : (Có chép mẫu trong nguyên tác Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân do Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch ; Sàigon 1957. Phạm Đan Quế. Truyện Kiều đối chiếu. nxb Hà Nội 1991 tr 100) : Chúng tôi hai kẻ đồng tâm là Mai Sơn Phủ và Xuân Hương Hồ Phi Mai. Mai Sơn sinh năm.. tháng… ngày… giờ … Phi Mai sanh năm…  tháng… ngày… giờ… Nay kính cần đốt nén hương lòng, dâng ly rượu tịnh, thề trước hoàng thiên hậu thổ linh thiêng. Chúng tôi trộm nghĩ: Vợ chồng trọng nghĩa, nghĩa phải thủy chung không rời. Nhi nữ đa tình, tình dẫu tử sinh không phụ. Trước đây Phi Mai muốn lấy chồng. Mai Sơn mong có vợ, thương mộ tài sắc đã nguyền đôi chữ đồng tâm. Ngày nay Mai Sơn lo buổi mới Phi Mai sợ về sau, tạc dạ ghi lòng, cùng thề đến khi mãn kiếp. Sau giờ minh thệ, ví thử chẳng may gặp cảnh bất thường, quyết không thay đổi. Ai mà phản bội lời ước “sẽ bị dao búa phanh thây xẻ thịt”.? Cứu xin thần thánh xét soi.

Sau đó hai người quỳ lạy thiên địa quay vào chén thù chén tạc… và  động phòng. Có lẽ Mai Sơn Phủ đã bội bạc nên chết trong chiến tranh, « bị dao búa phanh thây xẻ thịt », không thấy chàng trở về.

Trang 85, hai bài Tự Thán số 25, 26. Hồ Xuân Hương viết năm 1801 sau khi Mai Sơn Phủđi về Vinh. Câu « Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt » cho ta thấy tâm sự Hồ Xuân Hương trước tình trạng khẩn trương của chiến tranh. Từ tháng ba năm 1801 Nguyễn Ánh đánh chiếm doanh Quảng Nam, sau đó thừa thắng đánh Đà Nẵng. Tháng 5 năm Nhâm Tuất lại đánh Phú Xuân, Vua Quang Toản bỏ chạy ra Bắc. Nguyễn Ánh Lên ngôi xưng danh hiệu Gia Long, và tiến quân ra Bắc, trận chiến tiếp diễn. Có nguy cơ Thăng Long và làng Nghi Tàm sẽ trở thành nơi đóng quân và bãi chiến trường đẩm máu. Người người thúc dục nhau tản cư. Câu 2 bài II « Vi đâu đeo đẳng với nơi này ? (chữ «  này » thay vì chữ « vầy »  ). Hồ Xuân Hương vẫn ở lại để đợi tin Mai Sơn Phủ, nhưng vẫn bặt tin, miệng lưỡi người trong làng nói ra nói vào những tiếng chua cay, nàng không nói được với ai. Nàng uống trà tiêu khát để nghe mình còn giọng nói không, uống chén rưọu mừng xuân đã thấy say. Tình cảm  chàng phải chăng chỉ là một sự lường gạt của người thích sắc dục. Càng nghĩ càng thương chính mình. Tại sao nợ hay duyên mà ra thế này ?

Trang 93 bài 29 – 30 .hai bài Chí Hiên tặng. Theo tôi Chí Hiên là một bút hiệu khác của Nguyễn Du sử dụng từ năm 1786 đến 1896, do sự kiện sau khi nhà Trịnh sụp đổ Nguyễn Du chạy sang Vân Nam cùng với Nguyễn Đại Lang tức Cai Gia và Nguyễn Sĩ Hữu tức Nguyễn Quýnh vì Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm cả binh quyền Thái Nguyên, Hưng Yên, Sơn Tây. (Hưng Yên do con rễ Nguyễn Huy Tự làm Trấn Thủ cùng hai em Nguyễn Trứ và Nguyễn Nghi. Sơn Tây Nguyễn Điều làm Trấn Thủ, Nguyễn Nể phụ tá). Tại Thái Nguyên, Nguyễn Du nắm giữ đội quân hùng hậu nhất, : Chánh Thủ Hiệu quân Hùng hậu hiệu, Nguyễn Quýnh, chức Trấn Tả Đội với sự cố vấn quân sư của Cai Gia, là một tay giặc già Trung Quốc, phản Thanh phục Minh, sang đầu quân dưới trướng Nguyễn Khản, Nguyễn Du có kết nghĩa sinh tử với Cai Gia nên gọi là anh cả.Trong thơ chữ Hán  Thanh Hiên thi tập ông cho biết ông ở vùng núi có tuyết, dân cư trưởng giảăn mặc theo nhà Hán, và không theo lịch nhà Tần. Đến Vân Nam ông bị bệnh ba tháng nên chia tay cùng Nguyễn Đại Lang hẹn gặp lại ba năm sau ở Hàng Châu (Trung Châu) chia tay với Nguyễn Sĩ Hữu trở về làm chủ Hồng Lĩnh khởi nghĩa chống Tây Sơn. Hết bệnh Nguyễn Du không đến Nam Ninh với Vua Lê Chiêu Thống màđi chu du lên Trường An, và xuống Hàng Châu (Nguyễn Du có các bài thơ làm năm 1787-1790 Dương Quý Phi cố lý, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài và 5 bài thơ bên miếu Nhạc Phi không nằm trên đường đi sứ năm 1813)«  Giang Bắc Giang Nam cái túi không », không tiền nhưng muốn theo gương Lý Bạch, tuổi trẻđi chu du khắp Trung Quốc. Nguyễn Du đã trở thành một nhà sư đội mũ vàng « Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế »(đi bộ khoảng 5000km). Nguyễn Du đi giang hồ trong 3 năm, (thơ Nguyễn Hành có nhắc chuyện này) bằng cách tụng kinh Kim Cương làm công quả tại các chùa trên đường đi để kiếm ăn. « Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt », (365 ngày  X 3 ,tức ba năm, bài Phân Kinh Thạch Đài). Hành trang bên mình Nguyễn Du là quyển « Kinh Kim Cương chú giải » của Lê QuýĐôn, một quyển sách yêu chuộng của giới trí thức Bắc Hà thời bấy giờ. Nguyễn Du xưng danh hiệu là Chí Hiên. Chí lấy từ danh Chí Thiện Thiền Sư, chưởng môn danh tiếng phái Thiếu Lâm thời Vua Càn Long trở thành đề tài nhiều bộ sách, và Hiên của gia đình, cha là Nghị Hiên, anh là Quế Hiên. Đến Hàng Châu điểm hẹn với Nguyễn Đại Lang là miếu Nhạc Phi, nơi đây Nguyễn Du dừng khá lâu nên làm 5 bài thơ về Nhạc Phi, Tần Cối và Vương Thị vàở gần đó, ngôi chùa Hổ Pháo nơi Từ Hải từng tu hành, nơi đây Nguyễn Du tiếp xúc với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhânđang bán và nổi tiếng tại Hàng Châu, và từđó trở thành quyển sách bên mình Nguyễn Du. Sau đó nhờ Cai Gia chu cấp Nguyễn Duđi xe song mã lên Yên Kinh và trở về đến Hoàng Châu (Hà Bắc) thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn và anh Nguyễn Nể trong sứđoàn Tây Sơn. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ bàn luận sôi nổi với văn nhân họ Nguyễn tại Hoàng Châu, và viết bài về Hồng nhan đa truân trên đường đi sứ (Hải Ông thi tập). Sau đó Nguyễn Du trở về Long Châu, Nam Đài chờ đợi và về Thăng Long mùa xuân năm 1790 cùng sứđoàn của anh.(Xem Phạm Trọng Chánh. Nguyễn Du, mười năm gió bụi. Khuê Văn Paris xb 2011)

Bài thơ Chí Hiên tặng, Nguyễn Du viết năm 1796 sau khi Hồ Xuân Hương bị mẹép gả cho Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du sau khi ra khỏi tùở Hà Tĩnh, ban đêm trốn ra Thăng Long. Viết bài Chí Hiên tặng  I. Bài thơ có nhiều chổđọc sai, nên ý tứ không thông. Xin sửa lại.. Đã giao du nguyền ước  đã mấy năm tròn(Chữ giao nguyền với mấy năm tròn) Buổi sơ giao làm lễ kết nghĩa có lời thề xe nón: Người cỡi xe người đội nón, khi gặp nhau người sẽ xuống xe vái chào nhau (Xe nón tình kia mãi mãi còn).Tôi chẳng biết dạ nàng tệ bạc (Chẳng biết dạ người đen tựa mực) Lòng tôi vẫn yêu nàng (Sao hay lòng khách đỏ như son) Tai tôi chưa quên lời hứa hẹn của nàng (Tai còn chửa lãng lời vàng ngọc) Nàng có mắt nàng hãy xem tôi làm nên sự nghiệp với nước non (Có mắt càng xem mặt nước non) Chớ bảo rằng nàng chờ đợi tuổi xuân đã mỏi mệt (Chớ trách chúa xuân lòng mỏi mệt). Tình nàng sớm mận tối đào như thế có xứng đáng với dòng dõi con nhà không ? (Mận đào được thế tiếng công môn).

Bài II. Rủi may nào xá gì, theo Kinh Dịch cùng tắc thông (Rủi may nào sá nghĩ cùng thông) Chưa dễ tri âm có thể biết nỗi lòng (Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng). Ra Bắc phen này mong làm được việc (Ra Bắc phen này mong nổi việc) Vào Nam lúc trước, tính tìm cứđịa, tìm bạn cùng chí hướng ở Hà Tỉnh không ai hưởng ứng, muốn vào Nam theo Nguyễn Ánh cũng bị bắt tù (Vào Nam ngẫm trước cũng hoài công) Đến nhà bạn thơ, cuối năm cũng chỉđãi mâm trà pha nhạt.( Bạn tao năm hết mâm trà nhạt) Ở quán khách chờđêm chóng qua vì lạnh áo quá mong manh (Quán khách canh chày mảnh áo mong). Trông ra chỉ thấy mịt mù khói biển (Gớm nhẽ trông ra mù khói bể) Người yêu trong sáng nơi Cổ Nguyệt Đường nào thấy ( Nguyệt Đường bao nả thấy gương trong)

Trang 95 bài 31 Hoạ Thanh Liên nguyên vận. Bài này Hồ Xuân Hương họa bài Thạch Đình tặng của Nguyễn Du. Câu 1 Chữ« dạy » thay chữ« đây ». Câu 2 chữ« chi » thay chữ« gì ». Câu 3 chữ« xem » thay chữ« hay ». Câu 5 chữ « Thử » thay chữ « Thức », chữ« tầng » hay « từng » thay chữ« tăng ». Câu 7 chữ« thắm » thay chữ« đỏ ». Tuy nhiên Thanh Liên là bút hiệu thi hào Lý Bạch. Có thể nào có người lấy bút hiệu Lý Bạch làm bút hiệu mình chăng ?. Tôi cho rằng  đây là một lầm lẫn. Có thể là Chí Hiên hay Thanh Hiên. Bài thơ chữa lại như sau :

Họa Chí Hiên nguyên vận

Khúc Hoàng tay Nguyệt còn chờ dạy,

Cánh phượng đường mây đã vội chi.

Chua xót lòng xem lời để lại,

Hững hờ duyên bấy bước ra đi,

Thử vàng đá nọ treo tầng giá,

Phong gấm hoa kia nở có thì,

Đào thắm mận xanh còn thú lắm,

Xuân ơi đành nỡ dứt ra về.

Hồ Xuân Hương có học đàn Nguyệt cầm với Nguyễn Du, một cây đàn được yêu chuộng thời bấy giờ (Thơ Tốn Phong, thơ Phạm Đình Hổ có nói đến nàng gảy đàn), nàng chờ Nguyễn Du dạy khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng, lời tỏ tình của Tư Mã Tương Như với Trác Văn Quân. Chàng như cánh chim phượng hoàng đường công danh như mây thênh thang, đã vội chi. Chua xót đọc lời thơ Thạch Đình chàng tặng em. Vì sao chàng hững hờ với duyên em mà nỡ ra đi. Đá thử vàng, lòng em treo giá ngọc đợi anh. Hoa dùđẹp như phong gấm hoa còn nở có thì. Lòng đôi ta còn nhiều niềm vui nhưđàođang nở sắc thắm, mận còn xanh, chàng ơi, sao chàng nỡ dứt ra đi . Bài này cho ta thấy cái tài tình đối đáp xướng họa của Hồ Xuân Hương. Bài thơ tuyệt tác, sai một chữ là mất hay ngay.

Trang 96, bài 32 Nhân tặng.   Bài này có lẽ có một tựa đề dài dòng:” Nhân cóông .. về Hồng Lĩnh gửi tặng Nguyễn Tiên Điền bài thơ” bài này theo tôi được Hồ Xuân Hương viết khoảng năm 1795 lúc Nguyễn Du đã về Hồng Lĩnh. Nguyễn Du đã trả lời lại bài thơ này bằng bài Ký Hữu (gửi bạn) trong Thanh Hiên thi tập. Hồ Xuân Hương viết: “Cậy đã vầng xanh tỏ tấm lòng”. Nguyễn Du đáp lại: “Một vầng trăng sáng tình ta đó “ (Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại)

Trang 99 bài 33 Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ nhân nhi tẩu bút phụng trình (Nghĩ tới tình đời sũt sùi rơi lệ, nhân đó cầm bút viết thư gửi trình.) Theo tôi bài thơ Hồ Xuân Hương viết năm 1793, khi nghe tin Nguyễn Du sửa soạn về Hồng Lĩnh để xây dựng lại từ đường, nhiệm vụ do anh Nguyễn Nể giao phó và trao tiền bạc , Nguyễn Nể cũng về Phú Xuân nhận chức vụ mới Đông Các học sĩ, thầy dạy bên cạnh Vua Quang Toản. Bài thơ có chép chữ Tốn Phong tác bút không đúng. Vì đối với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương có thái độ rất kính cẩn: chờ dạy, phụng trình, kiêm trình.Đối với Tốn Phong thì nàng nghi ngờ: không biết là duyên hay nợ, Xuân Hương có cảm tình, nhưng nhìn với nửa con mắt. Bài thơ có nhiều chữ sai: Câu 2 chữ “ngỡ“ thay chữ “khéo“ . Câu 5 Chữ “chuông chắn” thay chữ “buông chặn”. Theo tôi chuông chắn là một chữ cổ thời Lê Trịnh,  câu thơ có nghĩa lời nguyền không gì có thể ngăn cản được. Vần chắn câu thơ thích hợp hơn.

Trang 100. Bài 34 Theo tôi đây là bức thơ mời các bạn tham gia tao đàn Cổ Nguyệt Đường.

Trang 100 bài 35. Theo tôi bài này Hồ Xuân Hương ghi lại tình cảm mình sau khi gặp Tri Phủ Tam Đái Trần Phúc Hiển khoảng năm 1811. Trần Phúc Hiển trấn nhậm tại Tam Đái (tên cũ phủ Vĩnh Tường) trong ba năm. Đến tháng 12 năm Gia Long thứ 12 (1813) mới được thăng chức Tham Hiệp Trấn Yên Quảng. Bài thơ có hai địa danh Sông Bắc và Lầu Nam.  Sông Bắc là Tam Đái giang, phía Bắc Thăng Long. Lầu Nam, phố Nam thành Thăng Long, lúc này Hồ Xuân Hương còn ở hiệu sách phố Nam thành Thăng Long. Thời gian này Hồ Xuân Hương “mẹ già, nhà túng” nên đi buôn khắp nơi, nghề buôn bán sách, giấy, bút là nghề của vợ và con gái các ông đồ;  thường họ mở kế bên một trường học, Hồ Xuân Hương mởở phố Nam, kế bên trường ông Nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư,  có khi đem sách, bút, giấy  đi bán cho các hội làng, cho các phú hộ, các quan các nơi, nhân đó mà quen biết với Trần Phúc Hiển, Trần Quang Tĩnh.

Trang 103 Bài 37. Bài này Xuân Hương trả lời cho bài 19 của Trần Ngọc Quán (trang 71) Trận bút xông pha quyết giật cờ.Đáp lời tán tỉnh Trần Ngọc Quán,  Hồ Xuân Hương cho biết nàng đã nhận lễ hỏi Quan Tham Hiệp Yên Quảng sẽ về Vịnh Hạ Long (Non cao bể rộng vâng lời cả). Còn việc xướng họa sinh hoạt hội tao đàn vẫn tiếp tục như xưa (Nước chảy hoa trôi vẫn ý xưa).

Trang 104. Bài 38. Bài này của Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Bài này cho thấy Trần Phúc Hiển đến rước Hồ Xuân Hương vào tháng 12 năm 1813 tại Cổ Nguyệt Đường (Người đẹp nhà hoa lại gặp cùng). Nhà Xuân Hương trồng rất nhiều mai, bóng mai lạnh đã nở buổi đầu đông dịp tết (Non mai bóng lạnh buổi đầu đông) Xưa chưa từng gặp mặt nghe tiếng danh nàng làm thơđã mến mộ.(Chưa từng gặp mặt lòng đà mến) Há phải xướng họa thơ cùng nhau ý mới nồng nàn ( Há phải trao thơý mới nồng) Hồ Xuân Hương đã bày tiệc xuân ăn hỏi nơi Cổ Nguyệt Đường với láng giềng và một buổi lễ nơi bàn thờ Phật để trình với mẹ lễ hỏi cưới. Nàng khóc có lẽ vì thương mẹ già, cảnh một mẹ một con nay phải xa mẹ sẽđi lấy chồng (Chưa khỏi tiệc xuân đôi mắt lệ. Ai khua đài Phật tiếng chuông rung). Và Xuân Hương sẽ tiễn Trần Phúc Hiển đến sông Lục Giang và sẽ về vì phải chờ sau khi chàng thu xếp việc trấn nhậm xong mới làm lễ cưới rước nàng về Vịnh Hạ Long. (Ân cần lưu lại trăng trời biển. Một biệt non tây lại vạn trùng.) Nhưng sau đó vì mẹ mất, Xuân Hương phải cư tang nên đầu năm 1816 mới về Hạ Long. Bản dịch trêncủa ông Bùi Hạnh Cẩn rất chỉnh và rất hay từng chữ, từng câu rất chính xác.

Trang 104 bài 39  Bài này đối đáp với bài 38 của Hồ Xuân Hương. Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng với nhau. Được tiếp dung nghi chàng đường đường chính chính như mặt trời mọc hướng chính đông.(Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng, Được tiếp dung nghi: nhật chính đông) dịch là: “Lại tiếp dung nghi lúc rạng đông”, tôi cho là không đúng, vì từ Tam Đái đi đến Cổ Nguyệt Đường đi bằng thuyền. Trần Phúc Hiển phải đi ban đêm thì mới đến Thăng Long lúc rạng đông. Ngày xưa quan đi trấn nhậm thì ngày đi, đêm dừng thuyền nghỉ. Vả lại gặp nhau lúc rạng đông thì có gì để nói do đó nhật chính đông có nghĩa là mặt chàng đường đường chính chính như mặt trời mới mọc, chứng tỏ Hồ Xuân Hương rất trân trọng người bạn tình của mình. Bài này tôi dịch như sau:

Bấy lâu ngưỡng mộ nay tương phùng,

Được tiếp dung nghi: nhật chính đông.

Nhãý biết nhau lòng đạm bạc,

Chén tình vừa nhấp đã say nồng.

Châu ta thanh khí cùng tương đắc,

Chung đúc tài tình một chữ đồng,

Tay nắm nói đi, chàng chớ ngại,

Lục giang một biệt cách ngàn trùng.

Trang 105 bài 40  Bài này là bài họa của Hồ Xuân Hương họa lại bài 41 của Trần Quang Tĩnh.Bài 41 Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh trấn nhậm tại Nam Định từ tháng giêng năm Đinh Mão (1807)  đến tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1809) được hai năm bốn tháng, ông bị bệnh xin về nghỉ. Ông lên Thăng Long cáo từ quan Tổng Trấn Bắc Thành nhân đóông đến từ biệt Xuân Hương. Xuân Hương bày tiệc dưới trăng tiễn đưa. Hai câu 5, 6 bài 41.” Ta thẹn không tài thơ Bạch Tuyết, Khen bạn duyên cao sinh Cửa Son”.  Điển tích Bạch Tuyết (tuyết trắng) và Dương Xuân là hai khúc hát do Sư Khoáng thời Xuân Thu Chiến Quốc làm ra Tống Ngọc viết: khi hai khúc hát này hát ra cả nước chỉ năm ba người họa theo được. Ý nói Xuân Hương có tài làm những bài thơ hay vần điệu ít người họa được. và khen bạn có duyên cao sinh cửa nhà quyền quý dòng dõi quan Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống, nhiều đời làm quan to. Bài 40 là bài thơ hay nhất thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương, dùng những điển tích: Phượng Cầu, Hán Khuyết, Hồ Môn, Sảnh Nữ thật tài tình. Nhất là hình ảnh Sãnh Nữ thoát xác đi theo chồng. Trần Quang Tĩnh đã quyến dụ nàng như Tư Mã Tương Như gảy khúc Phượng Cầu Kỳ hoàng, Xuân Hương chờđợi chim Khách báo tin, nhưng chàng không tới.? Vì sao chàng không như Tào Tháo chuộc tiếng kèn nàng Thái Diệm về đất Hán. Lòng thiếp tự thẹn đã vượt ra ngoài khuôn mẫu vọng tộc họ Hồ. Chia tay nhau hôm nay lòng thiếp lưu luyến . Hồn ngất ngây muốn thoát xác như nàng Sảnh Nương đểđi theo cùng chàng (về Gia Định)

Trang 109 bài 42. Thổ phượng tài cao nhất thế kinh. Bài thơ này của Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán làm khi mới tới gặp Hồ Xuân Hương. Từ kinh đô Phú Xuân mới đến Thăng Long, nghe nàng tiếng danh vang như chuông (thính huyền linh) nay mới được gặp. Bài 43  Hồ Xuân Hương sử dụng chữ  “quán nhĩ linh” có nghĩa làăn trộm bịt tai đi trộm chuông thật là dí dõm, khiêm nhường và tài tình. Tài tôi thẹn kém có ai kinh đâu. Mười năm qua, chẳng qua tôi lận đận trong gió bụi phong trần nhưăn trộm bịt tai đi trộm chuông. Mười năm gió bụi lận đận của Hồ Xuân Hương là năm nào ? Tôi cho rằng đó là thời điểm từ 1801 đến 1811. Từ lúc chia tay với Mai Sơn Phủ, có lẽđã chết trong chiến tranh lúc nhà Tây Sơn sụp đổ. Hồ Xuân Hương tản cư lên Vĩnh Phú, làm lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Sau khi nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du năm 1804, nàng dứt khoát không buồn khổ và chết như nàng Tiểu Thanh. Xuân Hương bỏ Tổng Cóc , “dù anh có cho tôi ngàn vàng tôi cũng như cóc bị bôi vôi không bao giờ về lại với anh”(Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi) . Xuân Hương về lại Tây Hồ viết bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Xuân Hương có mang 6 tháng, sinh con, con chết. Xuân Hương mở hiệu sách ở Nam phố gần trường ông Nghè Phạm Quý Thích và chùa Lý Quốc Sư, hiệu sách ếẩm, nàng lại gia nhập vào tầng lớp thương gia phụ nữđem sách vở, giấy, lụa, lĩnh đen làng Nghi Tàm bán cho các hội làng, các phú hộ các nơi. Xuân Hương đi rất nhiều, trên đường đi đùa vui với bạn bèđã để lại những bài thơđùa bỡn. Những bài thơ được truyền tụng rộng rãi vì thế Xuân Hương gọi mình là “ăn trộm bịt tai đi trộm chuông”(quán nhĩ linh) làm gì ai cũng nghe cũng biết. Năm 1811 tình hình vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ bất an vì có cuộc khởi loạn của Đặng Trần Siêu, VõĐình Lục (1810-1822) thường chận đường cướp của các thương nhân. Cũng là năm Tử Minh mất, người bạn gia đình thân nhất, (không ruột nhưng mà thương quá ruột) đã để lại lớp học, làng Nghi Tàm lại mời Xuân Hương dạy học, danh tiếng Xuân Hương lại lên vì có những quan lớn, những danh sĩ đến thăm cầu duyên: (Nguyễn Du, Trần Quang Tĩnh, Tốn Phong, Trần Phúc Hiển, Trần Ngọc Quán..). Thơ truyền tụng có những bài Xuân Hương làm lúc thanh xuân như: Con cua, bánh trôi, thiếu nữ ngủ ngày, giếng nước.. Phần lớn những bài đặc sắc làm trong mười năm lận đận: Lấy chồng chung, Già kén kẹn hom, Dệt vải tát nước, Cô hàng sách, tranh Tố nữ, Cái Quạt, Quán Khánh, Qua sông phụ sóng, Chữa hoang, Kẽm Trống, Quán Khánh, ĐáÔng Chồng Bà Chồng, Vịnh Chùa Hương Tích, Đèo Ba Dội.. Và những bài viết vào cuối đời mang tâm sự người goá bụa: Thả thuyền chơi trăng, Chiếc Bách, Tự Tình, Khóc Phúc Hiển..

Trang 112 bài 44 “ Ma diệt thông minh giảm kiến linh” là bài thơ Hồ Xuân Hương Hồ  tâm sự cùng Hiệp Trấn Trần Ngọc Quán, nàng xem người đồng hương như anh, vì nàng đã có nơi, sẽ về Yên Quảng.

Về phần phụ lục có vài điểm cần lưu ý:

Trang 119, Minh Thanh là bút hiệu một nữ bác sĩ, và là một nhà thơ có xuất bản thơ bằng Pháp ngữ sinh sống tại Paris. Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn trong “Tình Sử Hồ Xuân Hương”. Tạp Chí Khoa Học Xã Hội Paris 1983 trang 127 có ghi rõ: Tình bạn Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du vào khoảng 1790-1793, do đó bài Mộng đắc thái liên, trong Nam Trung tạp ngâm, Nguyễn Du làm khoảng năm 1805 ở Phú Xuân, nhìn hồ sen hồ Tịnh Tâm mà nhớ đến những kỷ niệm đi hái sen với Hồ Xuân Hương ở Nghi Tàm, chứ không phải là mối tình khoảng năm  1804-1813.

Trang 136 Trần Phúc Hiển không phải là người chồng đầu của Hồ Xuân Hương mà là người chồng thứ ba (1816-1819). Hai người chồng đầu là Thầy lang xóm Tây làng Nghi Tàm, bài Bà Lang khóc chồng khoảng năm 1796, thầy Lang mất sớm. Và người thứ hai là Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa ở Vĩnh Yên khoảng năm 1802-1804.

Tóm lại Lưu Hương Ký do Tổ Hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ ra đời năm 2012, là một công trình, đáng hoan nghênh. Nhưng nếu độc giảđọc thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký không thấy hay thì nên tìm trên internet các bản dịch, và phiên âm trong các bài viết khác để so sánh. Ví dụ: câu: “Thức vàng đá nọ treo tăng giá” của GS Nguyễn Ngọc Bíchđọc lên nghe như thơ của Mã Giám Sinh,   ”cò kè bớt một thêm hai” đối đáp với bà mối. Thơ Lưu Hương Ký của  Hồ Xuân Hương đọc nghe trang trọng “Thử vàng đá nọ treo tầng giá”.Thơ Hồ Xuân Hương trong Lưu Hương Ký hay và hay tuyệt vời, mỗi bài thơ như một viên bích ngọc hoàn hảo không thể đổi một chữ, nếu bạn đọc thấy dỡ là lỗi tại GS Nguyễn Ngọc Bích và ông Đào Thái Tôn.Tác giả bài này cũng xin lỗi GS Bích, bất đắc dĩ phải làm công việc nhặt sạn trong một quyển sách, xin GS tha thứ và xem đây cũng là một “ngâm dỡn khúc”.

 
Tiếp theo >

Những dịch phẩm của tự do – VHNA

17 Th9

Những dịch phẩm của tự do

Nguyễn Thị Từ Huy

Nguyên Ngọc là một nhà văn nhưng đồng thời ông cũng thực hiện công việc dịch thuật. Ông đã dịch một số tác phẩm văn học nước ngoài và một số sách về phê bình văn học. Nếu như tác phẩm cho ta hiểu tư tưởng của nhà văn, thì dịch phẩm cũng có thể cho ta thấy phần nào con người của dịch giả, nhất là khi các tác phẩm dịch là kết quả của một sự lựa chọn đầy ý thức.

Ở đây tôi tập trung vào ba cuốn sách nghiên cứu và suy tư về văn học mà Nguyên Ngọc đã dịch: Độ không của lối viết của Roland Barthes, Văn học là gì? của Jean-Paul Sartre, Tiểu luận của Milan Kundera. Hẳn nhiên, có lý do cá nhân: nghiên cứu văn học là lĩnh vực mà tôi được đào tạo, do vậy, nói về nó âu cũng là hợp lý và hợp với thẩm quyền chuyên môn của tôi. Thêm vào đó, đấy là những cuốn sách thực sự đã khiến tôi có những thay đổi căn bản trong nhận thức về văn học, về vai trò, công việc của nhà văn. Dù rằng không phải tôi hoàn toàn đồng tình với những luận điểm hay quan điểm mà các tác giả đã trình bày trong sách của họ. Tuy nhiên, độc lập và tự do trong nhận thức lại là điều mà các tác giả đó khuyến khích.

Mục đích của tôi ở đây không phải là giới thiệu, phân tích ba cuốn sách này, cũng không phải nói về các tác động của chúng đối với tôi. Tôi muốn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: vì sao Nguyên Ngọc chọn dịch những cuốn sách đó? Vì sao ông tình nguyện làm cái công việc vốn dĩ lẽ ra phải được giới đại học và giới nghiên cứu đảm nhiệm?

Câu trả lời, dĩ nhiên không đầy đủ và trọn vẹn, dẫn tôi tới ba điểm (cũng có thể có nhiều hơn ba điểm này) mà theo tôi là quan trọng: dấn thân, tự do, nhận thức. Phải chăng đó là những điểm cốt lõi trong tinh thần của những cuốn sách mà Nguyên Ngọc muốn truyền bá.

 Dấn thân

Tinh thần dấn thân hẳn là điều mà Nguyên Ngọc muốn phổ biến cho cộng đồng. Không những thế, ta biết tác giả của Đất nước đứng lên còn hiện thực hóa việc dấn thân như một thái độ sống.

Khái niệm “dấn thân” đã khiến Sartre trở nên nổi tiếng, nhưng đồng thời cũng gây “bất đồng” cho một số nhà văn khi họ nghĩ rằng dấn thân kiểu Sartre quá thiên về chính trị. Robbe-Grillet là một ví dụ tương đối nổi bật. Tuy nhiên có lẽ Robbe-Grillet và Sartre chẳng đến mức đối lập nhau, bởi cả hai dạng thức dấn thân, dấn thân chính trị xã hội kiểu Sartre và dấn thân hình thức văn chương kiểu Robbe-Grillet, đều cùng là biểu hiện của nhu cầu tự do, cái nhu cầu cao quý nhất của con người. Sartre đã nói rõ: “Viết là một cách thức nhất định của tự do”[1]. Và ông tiếp tục tường giải thêm: “Người ta sẽ hỏi: dấn thân vào cái gì? Đơn giản thôi, dấn thân bảo vệ tự do”.[2]

Dấn thân đối với Roland Barthes chính là ở lối viết. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà trong nhiều cuốn sách của Barthes, Nguyên Ngọc chọn dịch cuốn Độ không của lối viết, để định nghĩa khái niệm lối viết, đã đặt nó trong đối sánh với hai khái niệm khác là ngôn ngữ và văn phong. Theo ông, đó là hai yếu tố mà nhà văn không lựa chọn được. Ngôn ngữ là thứ tài sản chung của mọi người chứ không phải của riêng nhà văn. Anh ta sinh ra ngôn ngữ đã có rồi, anh ta sử dụng nó như tất cả mọi người. Văn phong là những gì hình thành trong “huyền thoại riêng biệt và bí ẩn của tác giả”, anh ta không lựa chọn nó mà có lẽ đúng hơn là bị nó lựa chọn để trở thành bản tính của anh ta, nó là tính khí của nhà văn được thể hiện trong hành ngôn. Chỉ có với lối viết là nhà văn có thể lựa chọn. Lối viết là “nơi diễn ra sự dấn thân xã hội của nhà văn”[3]. Cùng với sự lựa chọn một lối viết, nhà văn tự cá thể hóa mình về phương diện xã hội. Lối viết là một hình thức để nhà văn đảm nhận trách nhiệm xã hội, “đó là suy nghĩ của nhà văn về tính sử dụng xã hội của hình thức và sự lựa chọn của anh trong việc này”[4]. Chính ở lối viết mà nhà văn dấn thân và biểu lộ sự chủ động và trách nhiệm của mình. “Ngôn ngữ và văn phong là những lực lượng mù quáng; lối viết là một hành động liên kết lịch sử. Ngôn ngữ và văn phong là những sự vật; lối viết là một chức trách; nó là mối quan hệ giữa sáng tạo và xã hội, nó là hành ngôn văn học được biến đổi vì mục đích xã hội”[5]. Nhà văn không được tự do lựa chọn ngôn ngữ mà anh sử dụng, tiêu thụ, nhưng để tạo ra một lối viết anh ta có quyền tự do sản xuất một hành ngôn.

Viết và đọc là hành động của tự do

Sartre quan niệm: “… tự do của tôi [tác giả], trong khi biểu lộ ra, làm bộc lộ tự do của người kia [độc giả]”[6]. Ông nhấn mạnh điều này nhiều lần trong tác phẩm Văn học là gì? “các cuốn sách là những lời kêu gọi tự do nơi độc giả”[7]. Nếu xuất phát từ quan điểm này của Sartre, ta cũng có thể đặt vấn đề theo hướng ngược lại: khi nhà văn, trong tác phẩm của mình, bộc lộ sự nô lệ, thì hệ quả là tình trạng nô lệ của họ sẽ kéo theo sự nô lệ của độc giả. Nguyên Ngọc hẳn quá hiểu thực trạng đáng buồn của cái gọi là văn học nước nhà, đặc biệt là từ sau ngày thống nhất đất nước, loại văn học (không loại trừ phê bình văn học) được phép công khai phổ biến và được chính thống đề cao đã góp phần khiến cho tinh thần nô lệ lây lan và truyền nhiễm khắp nơi. Những nỗ lực bứt phá của ông cùng với tờ báo Văn nghệ thời kỳ đổi mới đã có những đóng góp quan trọng cho việc tạo điều kiện để hình thành một thế hệ tác giả tự do hơn. Rồi khi vòng kim cô thắt chặt trở lại, ông tiếp tục công việc thức tỉnh bằng cách giới thiệu các nghiên cứu và các tiểu luận bàn về văn chương như là biểu tượng của tự do, như là tiếng gọi của tự do.

Bất chấp những quan niệm khác nhau của họ, cả ba tác giả được Nguyên Ngọc dịch đều gặp nhau tại điểm này: viết và đọc là hành động của tự do. Sartre dứt khoát: “Dù anh là người viết tiểu luận, viết đả kích, châm biếm hay tiểu thuyết, dù anh chỉ nói về những niềm say mê cá nhân hay anh công kích cả chế độ xã hội, nhà văn, là con người tự do nói với những con người tự do, chỉ có một đề tài: tự do”[8]. Không thua kém, Kundera xác quyết rằng “Lịch sử tiểu thuyết (hội họa, âm nhạc) được sinh ra từ tự do của con người”[9]. Cả Sartre và Kundera đều chỉ ra rằng văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng không thể tồn tại trong một thế giới toàn trị. Vào thời điểm 1948, Sartre xác định: “Tự do cầm bút bao hàm tự do công dân. Người ta không viết cho những người nô lệ. Nghệ thuật văn xuôi liên đới với một chế độ duy nhất ở đó văn xuôi còn giữ được một ý nghĩa: dân chủ.”[10] Đến cuối thế kỷ XX, Kundera cũng khẳng định lại điều đó: “Tiểu thuyết không thể tương hợp với thế giới toàn trị”[11].

Đối với Barthes cũng hoàn toàn tương tự. Ông quan niệm rằng lối viết chính là tự do của nhà văn, là yếu tố mà nhà văn có thể lựa chọn. Nhưng điều quan trọng mà Barthes đã nêu rõ: đấy chỉ là tự do trong khoảnh khắc. Nếu nhà văn kéo dài lối viết, có nghĩa là anh ta lại bị cầm tù trong đó. Vì thế, nhà văn cần phải ý thức được điều đó để vượt qua nguy cơ bị cầm tù, để liên tục đi từ khoảnh khắc tự do này đến khoảnh khắc tự do khác. Như vậy, viết chẳng khác nào là một hành trình tìm kiếm và xác lập tự do.

Nhận thức

Nhận thức, suy cho cùng là một sự dấn thân, là khởi điểm đồng thời cũng là kết quả của tự do. Các chiều kích và các sự thật của thực tại chỉ có thể được nhận thức bởi những tinh thần mạnh mẽ, dám dấn thân và tự trao cho mình tự do để vượt khỏi mọi sự ngăn cản cấm đoán nội tại hoặc cấm đoán từ bên ngoài. Khi người ta chấp nhận chỉ nhận thức những gì được phép, hẳn nhiên, người ta chỉ nhìn thấy những gì được phép nhìn, chỉ nghĩ những gì được phép nghĩ, chỉ nói những gì được phép nói và chỉ viết những gì được phép viết. Lúc đó không còn có nhận thức đúng nghĩa, lúc đó sự thật và chiều sâu của thực tại sẽ ở một nơi khác, lúc đó chỉ còn sự nô lệ cho những gì “được phép” [12] mà thôi.

Vậy nên, với Sartre, viết là “bóc lộ thế giới”, phơi bày thế giới trong toàn bộ chiều sâu của nó, trong toàn bộ sự bất công của nó (nếu nó là như vậy) đúng như là nhà văn nhận thức được. Sartre gắn sự bóc lộ này với nhu cầu tự do của con người. “Và bởi vì người đọc cũng như tác giả chỉ thừa nhận niềm tự do ấy để mà đòi hỏi nó phải biểu lộ ra, cho nên có thể coi tác phẩm là một sự trình bày tưởng tượng về thế giới như một đòi hỏi tự do của con người”[13].

Nhận thức, với Kundera, trở thành một nghĩa vụ thiêng liêng của tiểu thuyết. Nhưng nhận thức, không chỉ là “bóc lộ” như ở Sartre, mà là khám phá: “khám phá ra cái mà chỉ có tiểu thuyết mới khám phá được, đó là lẽ sống duy nhất của một cuốn tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết nào không khám phá ra thêm được một mẫu sự sống trước nay chưa từng biết là một cuốn tiểu thuyết vô đạo đức. Hiểu biết là đạo đức duy nhất của tiểu thuyết”[14]. Vì thế mà lịch sử của tiểu thuyết, theo quan điểm của Kundera, là “sự nối tiếp các khám phá”. Và điều quan trọng, tiểu thuyết không chỉ khám phá ra hiện thực đang tồn tại, mà còn khám phá các khả năng của hiện thực, những hiện thực có thể chỉ hiển lộ sau khi tác giả chết, như trường hợp của Kafka, một nhà văn mà Kundera đặc biệt ngưỡng mộ và dành rất nhiều trang để phân tích. Và nếu như những khám phá đi trước thời đại của tác phẩm Kafka hoàn toàn được kiểm chứng bởi châu Âu nói chung ở thời phát xít và bởi đất nước của Kundera nói riêng, cùng với một số nước Đông Âu khác dĩ nhiên, vào thời kỳ toàn trị dưới sự điều hành của một chính quyền mà trong cuốn L’ignorance ông gọi là “chính quyền chiếm đóng”. Với tất cả mọi khác biệt về văn hóa và địa lý, người Việt Nam vẫn hoàn toàn có thể nhờ những phân tích của Kundera, nhờ tiểu thuyết của Kafka, mà nhận thức thực tại của chính mình.

Đóng góp đặc biệt của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng không chỉ là nhận thức thực tại khách quan, mà còn ở sự tự nhận thức. Tác giả, qua sự tự nhận thức bản thân, thúc đẩy sự tự nhận thức của độc giả. Có phi khoa học không nếu ta đặt câu hỏi này: một cuốn tiểu thuyết như Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải liệu có thể được hình thành trước khi những tiểu luận của Kundera được dịch ra tiếng Việt? Không chỉ vì cái nhan đề cuốn sách của Nguyễn Khải rõ ràng được trích từ câu ngạn ngữ Do Thái mà Kundera dẫn trong Diễn văn Jérusalem: tiểu thuyết và châu Âu: “Con người suy nghĩ, còn Thượng Đế thì cười” (166). Mà hẳn còn nhờ ảnh hưởng của cái tinh thần tự vấn, tự nhận thức, hoài nghi, tra vấn… được Kundera đặc biệt nhấn mạnh trong tập Tiểu luận. Có những lý do để tin rằng công việc dịch thuật của Nguyên Ngọc đã không vô ích. Tuy nhiên, trong một trường hợp cụ thể như trường hợp Nguyễn Khải, sự tự nhận thức được mở ra đến giới hạn nào thì còn là vấn đề phải xem xét.

* * *

Đọc những cuốn sách lý luận hay tiểu luận về văn học mà Nguyên Ngọc chọn dịch ta hiểu vì sao Nguyên Ngọc từ chối thuộc về số những người viết nhân danh cái thiện nhưng lại đứng về phe cái ác (dù đó là người viết báo, viết văn hay viết phê bình lý luận), nhân danh con người nhưng lại phục vụ cho những gì chà đạp con người và các giá trị người, nhân danh tự do nhưng lại thiết lập và duy trì trạng thái nô lệ. Ta hiểu vì sao Nguyên Ngọc không chỉ bảo vệ con người bằng ngòi bút mà cả bằng hành động, bằng sự dấn thân xã hội. Ta hiểu vì sao trong khi giới lao động trí óc ở xứ sở này tìm đủ mọi lý do để tự bao biện cho sự vô cảm và sự chối bỏ trách nhiệm, thì ông, Nguyên Ngọc, bất chấp tuổi tác, bất chấp nguy hiểm, sẵn sàng có mặt trên đường phố để bộc lộ trách nhiệm của một nhà văn, trách nhiệm của một công dân, trách nhiệm của một con người.

Sài Gòn, 22/6/2012

 


[1] Jean-Paul Sartre, Văn học là gì?, bản dịch tiếng Việt của Nguyên Ngọc, Nxb Hội Nhà văn, 1999, tr. 88.

 [2] Văn học là gì?, tr. 88.

[3] Roland Barthes, Độ không của lối viết, Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu, Nxb Hội Nhà văn, 1997, tr.14.

 [4] Độ không của lối viết, tr. 50.

[5] Độ không của lối viết, tr. 49.

[6] Văn học là gì?, tr. 75.

 [7] Văn học là gì?, tr. 145.

 [8] Văn học là gì?, tr. 86.

[9] Milan Kundera, Tiểu luận, Nxb Văn hóa Thông tin & TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2001, tr. 191.

 [10] Văn học là gì?, tr. 88.

[11] Tiểu luận, tr. 21.

 [12] Nhưng tại sao lại “được phép”? Hay nói cách khác: “ai là người cho phép?”. Trong khi mà Sartre đã nói hết sức rõ ràng: “Không có tự do đem cho; phải tự chinh phục lấy” (Văn học là gì?, tr. 90).

[13] Văn học là gì?, tr. 85.

 [14] Tiểu luận, tr. 12.

Nguồn: Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa. Nxb Tri thức/Trung tâm Văn hoá NGôn ngữ Đông Tây. Hà Nội, 2012

%d bloggers like this: