Lưu trữ | 4:35 Chiều

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm căn cứ hải quân TQ – VNN

20 Th9

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm căn cứ hải quân TQ

Lãnh đạo Lầu Năm Góc Leon Panetta đã có cơ hội hiếm hoi là tận mắt thị sát một căn cứ hải quân Trung Quốc trong hôm nay, thời điểm ông kết thúc chuyến công du ba ngày ở nước này.

 
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta và người đồng cấp Trung Quốc Lương Quang Liệt tại Bắc Kinh ngày 18/9. Ảnh: THX


 

Ông Panetta đã thị sát một tàu chiến, một tàu ngầm Trung Quốc tại “tổng hành dinh” của Hạm đội Bắc Hải ở thành phố Thanh Đảo, phía đông Trung Quốc. Ông là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đầu tiên tới thăm căn cứ này.

Một quan chức quốc phòng cấp cao Mỹ cho hay, ông Panetta cũng đã gặp gỡ chỉ huy hạm đội, phó đô đốc Thiên Trung. Theo vị quan chức này, hai bên đã thảo luận về tầm quan trọng của hải quân mỗi nước và nhấn mạnh rằng, Washington có lời mời Trung Quốc tham gia một cuộc diễn tập hàng hải lớn vào năm 2014.

Tuy nhiên, phần lớn thời gian của ông Panetta khi thị sát căn cứ hải quân nhạy cảm đều hạn chế với báo chí.

Washington nhiều lần cáo buộc Bắc Kinh không minh bạch về sự phát triển quân sự nhanh chóng với 2,3 triệu thành viên. Chuyến công du lần này của lãnh đạo Lầu Năm Góc đã tập trung vào nỗ lực cải thiện quan hệ quân sự với Trung Quốc.

Hôm qua, ông Panetta phát biểu trước các sĩ quan, học viên một viện quân sự Trung Quốc rằng, chiến lược quân sự mới của Washington hướng về châu Á không nên bị xem là nỗ lực để kiềm chế Trung Quốc. Theo ông, chiến lược này để thúc đẩy ổn định khu vực.

Nhiều người Trung Quốc hoài nghi rằng, sự chuyển dịch quân sự hướng tới châu Á của chính quyền Obama là để hạn chế sức mạnh của cường quốc đang trỗi dậy Trung Quốc. Chiến lược “trục xoay” gồm cả kế hoạch triển khai lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ tới Australia và chuyển 60% lực lượng hải quân Mỹ đến Thái Bình Dương vào năm 2020.

Trong cuộc gặp hôm qua với phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, ông Panetta đã nỗ lực trấn an Bắc Kinh. Ông khẳng định, việc Mỹ triển khai một hệ thống phòng thủ mới ở Nhật là để đối phó với hệ thống tên lửa đạn đạo của Triều Tiên chứ không nhằm vào Trung Quốc.

Lãnh đạo Lầu Năm Góc đang có chuyến công du kéo dài một tuần lễ tới châu Á. Ông đã thăm Nhật Bản – nước hiện đang có tranh chấp với Trung Quốc về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở Hoa Đông. Sau Trung Quốc, ông Panetta sẽ tới New Zealand và hội đàm với bộ trưởng quốc phòng nước này.

Thái An (theo VOA, AP)
 

 

Hai yếu kém chết người của doanh nghiệp Việt

20 Th9

Hai yếu kém chết người của doanh nghiệp Việt

Vì nền kinh tế Việt dựa trên ban phát bổng lộc của quan chức,các doanh nhân Việt thường có cái nhìn méo mó về ưu tiên phục vụ. Đócũng là lý do tại sao các doanh nghiệp lớn của Việt Nam vẫn chưa đủ khảnăng để cạnh tranh trên biển lớn.

 

Trongquá trình thay đổi để tiến bộ, nhiều doanh nhân Việt hỏi tôi về gótchân Achilles của họ. Tôi và các nhà đầu tư nước ngoài thường hay tròchuyện về vấn đề này. Theo góc nhìn của chúng tôi, hai khuyết điểm củađa số doanh nghiệp Việt rất dễ xác nhận: một là khả năng quản trị tàichính và hai là rủi ro về đạo đức kỷ cương.

Dĩ nhiên, đâychỉ là một nhận xét bàng quan, chưa được khảo sát kỹ càng về phân tíchđịnh lượng (quantitative) hay định chất (qualitative). Nhưng các bạn nàomuốn làm một luận án trên giả thuyết này, tôi tin là các dữ kiện và sốliệu sẽ chứng minh tiền đề nói trên.

Đòi hỏi căn bản trong việc quản lý tài chính

Một doanh nghiệpdù lớn hay nhỏ, hình thành bằng sự góp vốn của cổ đông đại chúng haythành viên trong gia đình, đều phải lưu tâm và tìm giải pháp cho các nhucầu về quản trị tài chính sau đây:

Dòng tiền (cash flow) cho doanh nghiệp:

Rất dễ hiểu:tiền thu vào phải luôn luôn nhiều hơn tiền chi ra. Tiền thu vào gồmdoanh thu, tiền khách trả nợ, tiền vay của ngân hàng, của nhà cung cấp,của khách hàng, tiền góp vốn của các cổ đông… tiền dự trữ. Tiền chi ralà tất cả các chi phí như nhân viên, vật liệu, văn phòng, tiền nợ đáohạn, ngắn hay dài hạn, tiền đầu tư để khuếch trương hay để đem đổ vàobãi rác, tiền bôi trơn, tiền dự phòng cho sự cố…

TS Alan Phan.

Nếu dự đoán thuluôn nhiều hơn chi trong 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm , thì tàichính doanh nghiệp có thể nói là vững vàng, không nhiều lo ngại.

Thành quả tài chính

Ngoài dòng tiền, quản trị tài chính còn liên quan đến việc đo lườnghiệu quả của doanh nghiệp. Những chỉ số như IRR (tỷ lệ hoàn trái nộibộ), ROI (hoàn trái trên đầu tư), ROA (hoàn trái trên tài sản), acidtest (tài sản ngắn hạn tên nợ ngắn hạn)… là những tín hiệu để xác địnhhiệu năng của doanh nghiệp so với các đối thủ cùng ngành. Người ta bỏra $1000 để kinh doanh và lãi được $100 mỗi năm (10%) trong khi bạn đầutư $10,000 chỉ để đem về $500 (5%) thì nhanh hay chậm, họ sẽ vượt mặtbạn dễ dàng.

Kỷ luật tài chính

Trong các doanh nghiệp gia đình, tôi thường thích nhìn các bà vợ giữtiền hơn. Đàn bà họ tỉ mỉ, căn cơ và có trực giác bén nhậy hơn các ông(thường có thói vung tay quá trán vì sĩ diện bạn bè và hay lạc quan vôlối). Dù thế nào, phải kiểm soát chặt chẽ cái túi tiền (từ thu đến chi)để không sa đà vào những ổ gà của hành trình làm ăn (luôn luôn hiện diệnbất cứ lúc nào và nơi nào, nhất là ở các quốc lộ Việt).

Ngân sách đề ra phải được mọi bộ phận tuân thủ và thực thi; mọi điềuchỉnh phải được điều nghiên chính xác; kể cả việc cắt giảm hay gia tăngvì sự cố bất thường.

Dự đoán nhu cầu tương lai

Ai cũng muốn đầu tư vào một doanh nghiệp có khả năng phát triển. Dĩnhiên đó phải là một khuếch trương trong ngành nghề cốt lõi, không phảiđem tiền lời của công ty bánh kẹo đi vứt vào một khu nghỉ dưỡng vì bà vợcủa quan tổng thích phong cảnh khí hậu nơi đây. Người quản lý tài chínhphải phân tích mọi chỉ số đầu tư dựa trên dự đoán và phải đồng ý vềtính khả thi.

Mọi phát triển đều cần vốn đầu tư, từ tiền lời tích lũy nội bộ haytiền vay hay tiền góp vốn từ các cổ đông bên ngoài. Người quản lý tàichính theo đúng vai trò phải duyệt khán và đồng ý với kế hoạch pháttriển này ít nhất 6 tháng trước đó và phải lo liệu phần vốn đầy đủ trướckhi tiến hành dự án khuếch trương.

Một nguyên lý quan trọng khác là đừng bao giờ dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn.

Báo cáo và kiểm toán

Nhiệm vụ trước nhất của nhà quản lý tài chính là phải có báo cáo tàichính chính xác và kịp thời cho các cổ đông (dù là công ty gia đình) vàcho sở thuế. Những công ty lớn cần phải làm việc chặt chẽ với một côngty kiểm toán độc lập để thanh tra mọi số liệu. Việc báo cáo kiểm toánnếu thực thi nghiêm túc sẽ tạo niềm tin cho cổ đông và họ sẽ sẵn sànggóp vốn khi công ty cần tiền. Đây là yếu tố quan trọng trong tính thanhkhoản của cổ phiếu, dù công ty đã niêm yết hay chưa.

Rất ít doanh nghiệp Việt đạt được chỉ tiêu cao trong cả 5 vấn đề cănbản trên, ngay cả những công ty đã niêm yết trên sàn nhiều năm. Tại đây,vai trò của người Giám Đốc Tài Chánh (CFO) rất mờ nhạt và quyền hànhchi thu, ngân sách, quyết định đầu tư, đôi khi ngay cả việc soạn thảobáo cáo tài chính cũng thường nằm gọn trong tay người Tổng Giám Đốc(CEO) hay bà vợ của ông ta.

Khi quỹ đầu tư nước ngoài đến thăm cơ sở của khách hàng, người chúngtôi muốn nghe nhiều nhất là vị CFO. Các vị CEO thường chỉ lập đi lặp lạinhững gì chúng tôi đã đọc trên brochure hay website, không gì mới lạ.Các chi tiết về số liệu và cách thức quản trị tài chính cho chúng tôimột tầm nhìn chính xác và chiến lược hơn về công ty. Tiếc thay không mấydoanh nghiệp Việt thấu hiểu điều này.

Đòi hỏi căn bản về đạo đức kỷ cương

Một khía cạnh yếu kém khác là sự cẩu thả, vô tâm của doanh nhân Việttrong việc xây dựng một văn hóa công ty dựa trên căn bản dài hạn, đạođức và chuẩn mực cao cấp. Việc thể hiện “giá trị mềm” của doanh nghiệpthường thu gọn vào các PR hay lễ hội hoành tráng phô trương, ban pháthuân chương, đánh bóng cho tên tuổi cá nhân, và các quan chức chốnglưng… thay vì cho nhu cầu của khách hàng, sáng tạo của sản phẩm hay sựbền vững của thương hiệu.

Tầm nhìn dài hạn và tập trung

Người quản lý doanh nghiệp phải biết rõ tầm nhìn và giới hạn của côngty để có một kế hoạch phát triển lâu dài và bền vững. Không một hànhtrình kinh doanh nào mà không gặp trắc trở và thách thức. Vì vậy, ngườilãnh đạo phải biết rõ đích đến của doanh nghiệp và vững tay lái trướccác cơn sóng lớn nhỏ thường làm lệch phương hướng.

Mọi thủ thuật chộp giựt, lấy ngắn nuôi dài, đi tắt đón đầu…có thểtạo hiệu ứng nhất thời, nhưng sớm muộn gì, các trò chơi ngắn hạn này sẽcó tác hại lớn là làm doanh nghiệp đi quá xa ra khỏi mục tiêu và vướngvào lầy lội của tình thế.

Sự thỏa mãn của khách hàng

Một doanh nghiệp hiện đại sống và chết vì khách hàng. Sản phẩm phảithích hợp và cải tiến thường trực để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi củakhách hàng. Dịch vụ hậu mãi phải hoàn thiện để giữ sự trung thành củakhách hàng. Yếu tố sáng tạo là cách tạo thích thú cho khách hàng để biếnhọ thành một công cụ truyền bá sản phẩm ra các cộng đồng xã hội.

Tóm lại, khách hàng là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp. Vì nền kinhtế Việt dựa trên ban phát bổng lộc của quan chức, các doanh nhân Việtthường có cái nhìn méo mó về ưu tiên phục vụ. Đó cũng là lý do tại saocác doanh nghiệp lớn của Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng để cạnh tranhtrên biển lớn.

Tôn trọng các cổ đông thiểu số

Mỗi công ty, dù có viết ra thành văn bản hay không, phải có một cươnglĩnh để mọi thành phần nhân viên theo đó mà vận hành. Như một quốc giacó hiến pháp, tuyên ngôn về dân quyền, các bộ luật…doanh nghiệp phảicó cương lĩnh, chiến lược và điều lệ…để không bị rối loạn khi gặp khókhăn hay khi có thay đổi về bộ phận quản lý.

Một yếu tố quan trọng trong cương lĩnh là sự tôn trọng quyền lợi của các cổ đông yên lặng (silent) hay thiểu số (minority).

Nhiều vị quản lý Việt không hiểu rằng tiền góp vốn từ chính phủ(DNNN), hay cổ đông công chúng (public) hay quỹ và các đầu tư cá nhân;ngay cả vốn vay từ ngân hàng là tiền của người khác (OPM) không phảitiền của riêng mình. Họ thoải mái quá mức với chi thu, đến độ gần nhưphạm pháp. Hoàn toàn không trách nhiệm, điều quan tâm duy nhất là sự “hạcánh an toàn” khi hết nhiệm kỳ hay khi bị đuổi. Đây là rủi ro lớn nhấtthường làm các nhà đầu tư nước ngoài chùn tay khi quyết định đầu tư.

Thêm vào đó, thay vì một chính sách “thông tin toàn bộ và kịp thời”(on-time full disclosure) theo như luật định, nhiều nhà quản lý chegiấu, trì hoãn, sửa đổi hay sáng tạo thông tin để tránh những phản ứngtiêu cực cho vị trí và quyền lợi của họ. Tiếc thay, đây có vẻ là lãnhvực duy nhất họ có nhiều sáng tạo.

Đào tạo và thăng tiến đội ngũ nhân viên

Bổn phận pháp lý và nhu cầu giữ nhân viên giỏi là một vấn đề. Tuynhiên, trên góc cạnh tạo phát triển bền vững, doanh nghiệp cần tạo chođội ngũ cán bộ một niềm tin vào tương lai đường dài của doanh nghiệp vàcác quyền lợi đính kèm. Ngoài lương bổng và nhu cầu về thăng tiến, cácnhân sự đều muốn tham dự vào thành công sau cùng của đơn vị.

Hai vũ khí mà các doanh nghiệp Việt hay thiếu sót so với nước ngoàilà các chương trình huấn luyện liên tục, và các quyền mua cổ phiếu(options) để gài buộc nhân viên vào với công ty trong hợp tác lâu dài.

Nhưng trên hết, ban quản lý phải đối xử công bằng trong mọi hành độngvà phán đoán, không phân biệt liên hệ gia đình hay xã hội, hoàn toàndựa trên kỹ năng và thành quả của nhân viên.

Lợi ích cho xã hội và nghĩa vụ với tha nhân

Sau cùng, một doanh nghiệp phải có nghĩa vụ với cộng đồng xã hộichung quanh. Nếu không tạo ra một đóng góp giá trị nào, ít nhất doanhnghiệp cũng phải tôn trọng môi trường sinh hoạt của người dân và giađình họ. Những tệ nạn gây ô nhiễm trong không khí, trên sông biển, thấmvào các mực nước ngầm, việc xử lý rác thải, rác y tế nguy hiểm, tiếng ồnvà an toàn giao thông…là những kỷ cương không những chỉ quan trọngtrên phương diện pháp lý mà còn là một nghĩa vụ để thể hiện đạo đức củadoanh nghiệp.

Một tấm gương khác để doanh nghiệp soi mặt mình là không lừa bịp haycoi thường khách hàng bằng những quảng cáo sai lạc, giả dối, những hàngnhái thương hiệu, những khuyến mãi bịp bợm, những PR tạo sốc không cầnthiết hay vu khống về đối thủ.

Nói tóm lại, trên luật pháp của người, còn có luật pháp của “trời”.Của cải, danh vọng, ngay cả quyền lực, đều là tạm bợ. Chúng ta chỉ hạnhphúc và doanh nghiệp chỉ có thể “thành công” khi chúng ta tuân thủ luậttrời, dưạ trên bất cứ tín ngưỡng hay niềm tin nào.

Trong khi doanh nhân thường than phiền về cơ chế hay thủ tục lỗi thờicủa chính phủ, về thị hiếu sính ngoại hay ham rẻ của khách hàng, vềđiều kiện suy thoái của kinh tế toàn cầu…chúng ta cũng cần nhìn lạichính mình để khắc phục những yếu kém căn bản trong quá trình đổi mới đểcạnh tranh…

Alan Phan

—–

T/S Alan Phan là một doanh nhân bôn ba làm ăn trên 43 năm qua tại Mỹvà Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách Anh và Việt ngữ vềkinh tế tài chánh của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại cácđại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) vàSouthern Cross (Úc). Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.

Chủ nghĩa hậu hiện đại: những khái niệm căn bản – PBVH

20 Th9
 

Chủ nghĩa hậu hiện đại: những khái niệm căn bản

 

  Nguyễn Minh Quân

Trong phần tư cuối cùng của thế kỷ thứ hai mươi, những cuộc tranh luận về chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism, còn gọi tắt là PoMo) không chỉ xảy ra trong giới hàn lâm mà còn tạo nên một phong trào hết sức rộng lớn ảnh hưởng đến nhiều lãnh vực khác nhau trên khắp thế giới. Về phương diện lý thuyết văn hoá và mỹ học, cuộc luận chiến nổ ra xung quanh một nghi vấn: Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại (modernism) trong các ngành nghệ thuật đã thực sự bị khai tử hay chưa? Nếu có, khuynh hướng nghệ thuật (hậu hiện đại) nào sẽ tiếp nối?

Gay gắt và dữ dội hơn, các nhà lý thuyết hàng đầu hai bên bờ Đại Tây Dương đã đẩy các cuộc tranh cãi đến những giới hạn cuối cùng của các phạm trù triết học. Những triết gia hoài cổ tiếp tục chống chế và cố biện giải cho sự duy trì chủ nghĩa nhân bản (humanism) và chủ nghĩa duy lý (rationalism), nhóm này tìm thấy đồng minh ở giới khoa bảng trung thành với chủ nghĩa thực chứng (positivism), lấy Khoa Học và Tri Thức làm nền tảng cho tri thức luận (epistemology) của họ. Trong khi đó, nhóm triết gia đại diện cho chủ nghĩa hậu hiện đại như Barthes, Derrida, Foucault, Baudrillard, Rorty, Lyotard… tấn công một cách mãnh liệt vào nền tảng triết học của chủ nghĩa hiện đại, đồng thời khẳng định rằng lý thuyết này đã đến thời điểm cáo chung. Dần dần, các cuộc tranh luận về ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đã lan rộng ra hầu như mọi lãnh vực của đời sống, biến khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại trở nên vô cùng đa dạng và phạm vi ý nghĩa của nó ngày một rộng lớn hơn .

Chủ nghĩa hậu hiện đại, theo giáo sư Mary Klages [1], là một từ ngữ phức tạp bao hàm một hệ thống tư tưởng được giới nghiên cứu đại học tiếp nhận, khai triển từ những năm giữa thập niên 1980 đến nay. Rất khó có một định nghĩa thật chính xác và hàm súc về chủ nghĩa hậu hiện đại, vì khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, bao gồm nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc, phim ảnh, văn chương, chính trị, xã hội, truyền thông, khoa học kỹ thuật và ngay cả thời trang hay các phương tiện giải trí thường ngày như Disneyland chẳng hạn [2].

Có lẽ cách tiếp cận dễ dàng nhất về chủ nghĩa hậu hiện đại là nên bắt đầu từ chủ nghĩa hiện đại (modernism): nguồn gốc phát triển, đồng thời cũng là đối tượng bị phủ nhận của chủ nghĩa hậu hiện đại. Theo phương pháp này, chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ được giải thích trên hai bình diện khác nhau: (a) lịch sử và xã hội, (b) văn học và các khuynh hướng nghệ thuật.

Nếu dựa theo quan điểm lịch sử và xã hội để giải thích chủ nghĩa hậu hiện đại, chúng ta sẽ thấy rằng chủ nghĩa hậu hiện đại mặc dầu trên danh nghĩa là chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng có vẻ như đó là tên gọi cho toàn thể hình thái xã hội, hoặc ít nhất cũng là tên gọi cho những thái độ xã hội của các khuynh hướng chính trị, triết lý, hay văn học nhất định. Đứng trên một ngữ cảnh như thế, chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ mang một ý nghĩa không có gì khác với thời kỳ hậu hiện đại cùng với những tính chất đặc trưng của nó. Cách tiếp cận này sẽ dẫn đến sự đối chứng và so sánh giữa thời kỳ hậu hiện đại và thời kỳ hiện đại, tiền thân lịch sử và xã hội của thời đại chúng ta đang sống, nếu chúng ta không quá bảo thủ để khư khư cho rằng thời đại này chỉ là một “quá độ của tư bản chủ nghĩa.”

Thời Kỳ Hiện Đại/Hậu Hiện Đại

Tính Chất Hiện Đại/Hậu Hiện Đại

Trong các luận văn Anh Ngữ viết về chủ nghĩa hậu hiện đại, chữ modernity (thời kỳ hiện đại) hay chữ postmodernity (thời kỳ hậu hiện đại)vừa bao hàm ý nghĩa thời gian vừa ngầm chứa ý nghĩa của tính chất, nên trong tiếng Việt của chúng ta, rất khó có một từ ngữ tương đương, chứa đựng hai đặc điểm diễn tả cả ý niệm thời gian lẫn tính chất: thời kỳ hiện đại và tính chất hiện đại, hay, thời kỳ hậu hiện đại và tính chất hậu hiện đại, để chuyển dịch trọn vẹn cho hai từ ngữ trên.

Về phương diện lịch sử, thời kỳ hiện đại đánh dấu một kỷ nguyên tương đối dài trong lịch sử thế giới, bắt đầu từ thời Phục Hưng (Renaissance), kéo dài gần một nửa thiên niên kỷ, cho đến giữa thế kỷ thứ hai mươi. Nghĩa là kể từ khi thời đại Trung Cổ (Middle Ages) chấm dứt cho đến những năm đầu của thập niên 1950 đều thuộc về thời kỳ hiện đại [3]. Thông thường, người ta sắp xếp thời kỳ hiệân đại này như một modern era trùng hợp với kỷ nguyên Ánh sáng (Enlightment) của Âu Châu, mặc dầu thời gian và tính chất giúp xác định một cách rõ ràng giai đoạn lịch sử nào tương ứng với Enlightment vẫn còn đang trong vòng tranh cãi giữa các giới nghiên cứu và học giả. Theo Oden [4], thời kỳ Ánh Sáng chính là thời kỳ khai sinh của giai đoạn hiện đại trong lịch sử trí thức. Nó bắt đầu từ cuộc cách mạng Pháp, 1789, và chấm dứt vào năm 1989, mốc điểm đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ chiến tranh lạnh bằng sự sụp đổ bức tường ngăn chia Đông và Tây Berlin. Một số khác cho rằng thời kỳ hiện đại bắt đầu từ năm 1750 và chấm dứt sau đệ nhị thế chiến (2). Tuy có khác biệt trong việc sắp xếp thời gian, xu hướng chung đều đồng ý rằng, thời kỳ hiện đại gắn liền với giai đoạn Ánh Sáng tại Âu Châu.

Khác với thời kỳ hiện đại kéo dài nhiều trăm năm, chủ nghĩa hiện đại (modernism) là một khuynh hướng văn hoá rộng lớn xuất hiện vào giai đoạn sau cùng của thời kỳ hiện đại và chỉ kéo dài 50 hoặc 60 năm, từ cuối thế kỷ thứ 19 đến những năm đầu thập niên 60 (4), cao điểm của nó vào khoảng thời gian 1890 đến 1930 (5) hoặc ngắn hơn như quan điểm của Mary Klages là vào khoảng 1910 đến 1930 (2). Thời kỳ hiện đại mang những tính chất liên hệ đến một hệ tư tưởng về triết lý, đạo đức, chính trị và xã hội, làm nền tảng căn bản cho các khuynh hướng mỹ học của chủ nghĩa hiện đại phát triển.

Chữ modernity bắt đầu từ chữ modern có từ nguyên từ tiếng La tinh, modernus, được sử dụng vào thế kỷ thứ năm, dùng để tách rời một cách chính thức thời kỳ Cơ Đốc và quá khứ đa thần của đế quốc La Mã [5]. Kể từ đó, danh từ này được dùng để mô tả một giai đoạn hay một khoảng thời gian, trong hàm ý so sánh với một quá khứ đi trước, gọi là thời kỳ Cổ Đại (Antiquity). Tuy nhiên, khi có sự xuất hiện thời kỳ Ánh Sáng của Pháp (French Enlightment), ý nghĩa thời gian trong chữ modernity đã được bổ sung thêm một ý niệm mới, đặc biệt là sauQuerelle des Anciens et des Modernes, chữ modernity bao hàm thêm ý nghĩa cao hơn (ý niệm về tính chất) trong sự so sánh các giai đoạn lịch sử và phát triển của nhân loại. Trong sự liên hệ với lý thuyết triết học, tôn giáo và giá trị mỹ học, người ta đã tranh luận rằng,modernity phải được xem là tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn, tinh tế hơn và dĩ nhiên sở hữu nhiều sự thật (có nền tảng sâu xa) hơn thời đại cổ xưa [6]. Những cuộc tranh luận về các tiêu chuẩn giá trị giữa cũ và mới (vào giai đoạn đó) làm cho lòng tôn kính một cách mù loà về sự hiện hữu của một đấng siêu nhiên ngoài vũ trụ, thông suốt hết mọi sự, trở nên hết sức lỗi thời và lố bịch, nền tảng triết lý của Antiquity bị lật nhào, mang theo nó những định chế về xã hội và văn hoá chi phối một cách mạnh mẽ bởi giới vua chúa, quý tộc, tăng lữ và giáo hội trong hơn 15 thế kỷ, mở đường cho thời kỳ Ánh Sáng với những phát triển vượt bậc về khoa học, chính trị, xã hội, luật pháp, đạo đức và văn học tại Âu Châu. Xuyên suốt chiều dài của giai đoạn Ánh Sáng, dựa trên “tính chất khách quan” của các “bằng chứng khoa học”, người ta đi tìm một “sự thật tuyệt đối” trong mỗi tạo vật của thế giới và vũ trụ ngõ hầu xây dựng nên những lý thuyết về tự nhiên cũng như những tổ chức và định chế xã hội nhằm đạt đến “một cơ cấu hợp lý trong đời sống thường ngày.” [7]

Khi bàn luận về tính chất hiện đại có hai tên tuổi lớn thường được nhắc đến: Kant và Hegel. Nếu Kant được thừa nhận như người đầu tiên cổ xuý cho những đổi mới trong các khuynh hướng triết học hiện đại, và nếu Hegel được xem như là người tiên phong trong việc đưa ra một khái niệm triết học rõ ràng để xác định những vấn nạn của thời kỳ hiện đại như “sự bảo chứng bản ngã”, hoặc sự cần thiết xây dựng những nền tảng biện chứng riêng cho bản ngã, thì Baudelaire mới là người thường xuyên được nói đến như là một lý thuyết gia có công tạo ra được một ngã rẽ rõ ràng về các hiểu biết của tính chất hiện đại [8]. Baudelaire đã chỉ ra những giá trị có thể có của thời kỳ hiện đại[9]; nhận thức những đặc tính hiện đại tách biệt như tính nhất thời, ngẫu nhiên, và phù du trong thời kỳ hiện đại [10]; làm sáng tỏ những điều kiện và những phức tạp trong đời sống hiện đại [11]. Nhưng có lẽ Baudelaire được nhớ đến nhiều nhất là nhờ ông đã chỉ ra “sự tương phản giữa tính chất mỹ học hiện đại và tính chất thực tiễn của nền văn minh tư sản trong thời kỳ hiện đại.” [12]. Baudelaire đã có hai quan sát riêng biệt: thứ nhất, có những trùng hợp đáng kể giữa triết lý và mỹ học thời hiện đại; thứ hai, sự tương phản giữa mỹ học (hoặc văn hoá) và chính trị, xã hội thời hiện đại tạo nên hai tính chất riêng rẽ đối kháng nhau một cách đầy mỉa mai [13], đánh dấu cho thời kỳ này đang tiến đến giai đoạn phát triển cao nhất của nó để chuẩn bị sẵn sàng cho sự ra đời các chủ thuyết lớn thời cận đại.

Theo Jane Flax, trong luận văn Thinking Fragments: Psychoanalysis, Feminism, and Postmodernism in the Contemporary West [14], nếu thời kỳ hiện đại được hiểu với khái niệm thời gian, thì giai đoạn nối tiếp của nó sẽ được xem như là thời kỳ hậu hiện đại (postmodernity). Và tính chất riêng biệt đặc trưng cho từng thời kỳ gọi là tính chất hiện đại và tính chất hậu hiện đại, mặc dầu trong Anh Ngữ vẫn chỉ làmodernity và postmodernity. Khi nói đến tính chất hiện đại người ta có khuynh hướng nói đến những đặc điểm triết lý xuyên suốt thời kỳ Ánh Sáng của Âu Châu, với những đại diện tiêu biểu cho giai đoạn này bao gồm: Jean-Jacques Rousseau, Ferdinand de Saussure, Sigmund Freud, Karl Marx, Jean-Paul Sartre… Tiến trình xây dựng lý thuyết cho thời kỳ hiện đại từ Descartes cho đến Marx, Weber, hay Jean-Paul Sartre, cùng những trường phái liên hệ, đặt định Lý Tính như một nguồn gốc tiến bộ của tri thức và xã hội, cũng như vị trí ưu thế đặc quyền trung tâm của Sự Thật làm nền tảng cho hệ thống tri thức. Lý Tính được sử dụng như một phương tiện đầy quyền năng để khám phá và xây dựng một cách đầy đủ những tiêu chuẩn lý thuyết lẫn thực hành; dựa vào đó, tư tưởng và hành động của từng cá nhân, cấu trúc xã hội, sẽ hình thành. Cuộc cách mạng tư tưởng trong thời đại Ánh Sáng cũng xảy ra tại Hoa Kỳ và một số quốc gia dân chủ khác mà mục đích tối hậu là xoá bỏ chế độ cùng với ý thức hệ phong kiến để sản sinh ra một trật tự xã hội đúng đắn và công bằng hơn, tạo nên một xã hội tiến bộ hơn có chức năng vận động hợp lý hơn.

Những tư tưởng căn bản của thời kỳ Ánh Sáng đặc trưng bởi tính chất hiện đại, nêu lên trong công trình nghiên cứu của Jane Flax, có thể được tóm tắt như sau:

Luôn luôn tồn tại một bản ngã ổn định, tự nhận thức, được cấu trúc mạch lạc và chặt chẽ. Bản ngã này tự ý thức, duy lý, tự do về ý chí và mang những đặc tính chung cho toàn thể thế giới, không có một điều kiện thể lý nào có thể tạo nên những ảnh hưởng thực thể đến nguyên lý hoạt động của bản ngã.

Bản ngã này tự biết về bản thân nội tại và thế giới xung quanh thông qua những quy luật lý tính, trong đó tính hợp lý được đặt ở vị trí cao nhất trong các dạng thức về chức năng lý trí, và tính chất này là hữu thể khách quan duy nhất của vũ trụ.

Phương tiện nhận thức do bản ngã lý tính khách quan tạo nên là Khoa Học, và chỉ có khoa học mới có khả năng đưa ra được những Sự Thậttuyệt đối, phổ thông và vạn năng về thế giới, bất chấp trạng thái cá nhân của người cảm nhận.

Tri Thức (Kiến Thức) đạt được từ Khoa học là sự thật tuyệt đối vĩnh hằng.

Tri thức và Sự thật tạo ra bởi Khoa Học thông qua một bản ngã khách quan hữu lý sẽ luôn dẫn đến sự toàn thiện và toàn mỹ. Tất cả mọi thể chế và hành động của nhân loại có thể phân tích bằng khoa học (một khoa học hợp lý và khách quan) để hoàn thiện.

Lý tính là sự phán xử sau cùng cho những gì gọi là Sự Thật, do đó cũng sẽ quyết định cái gì là đúng, là tốt, là hợp pháp và hợp đạo đức. Sự tự do phải bao hàm ý nghĩa tuân thủ luật pháp, một luật pháp phù hợp với tri thức phát hiện bởi lý tính.

Trong thế giới điều khiển bằng lý tính, Sự Thật luôn luôn đồng nghĩa với cái đúng, cái tốt và cái đẹp, sẽ không bao giờ có sự mâu thuẫn giữa những gì gọi là sự thật và những gì gọi là điều đúng.

Khoa học, vì vậy, sẽ đại diện cho một khuôn mẫu bao gồm tất cả mọi hình thái tri thức có ích đối với xã hội. Khoa Học là trung tính và khách quan; khoa học gia, kẻ sản sinh ra những kiến thức khoa học thông qua khả năng lý tính không bị ảnh hưởng của sự chủ quan, phải theo đúng quy luật lý tính và không bị khuynh đảo bởi những động cơ vụ lợi như quyền lực hay tiền bạc chẳng hạn.

Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện diễn đạt dùng để sản xuất ra kiến thức và phổ biến kiến thức khoa học. Vì là một phương tiện khoa học, nên ngôn ngữ cũng phải hợp lý. Vì phải duy trì tính hợp lý, nên ngôn ngữ phải trong sáng, chức năng duy nhất của nó là phản ánh và thể hiện thế giới hiện thực cảm nhận, một thế giới mà từ đó một bản ngã duy lý quan sát được.

Phải có một liên kết khách quan và chặt chẽ giữa đối tượng được nhận thức và ngôn ngữ dùng để diễn tả sự nhận thức khách quan đó. Nói khác đi là cần có một quan hệ biện chứng “khoa học” giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (signifier/signified).

Dựa trên các nguyên tắc trên, chủ nghĩa nhân bản và chủ nghĩa duy lý sử dụng để giải thích gần như tất cả mọi hình thức cấu trúc và thể chế xã hội, bao gồm tính chất dân chủ, luật pháp, khoa học, đạo đức và mỹ học…

Về căn bản, tính chất hiện đại được bao trùm bởi tính duy lý và tiến trình hợp lý hoá, một quá trình nhằm tạo nên một trật tự từ những hỗn loạn. Các chủ thuyết hiện đại luôn có cương lĩnh hành động trên cơ sở một giả định: xây dựng một xã hội hợp lý có nghĩa là tạo nên một trật tự ổn định; xã hội ổn định chừng nào thì chức năng của nó càng hoạt động hữu hiệu chừng đó và càng hợp lý hơn.

Vì tính chất của xã hội trong thời kỳ hiện đại luôn nhấn mạnh đến sự gia tăng ngày một cao hơn trong mức độ ổn định và trật tự xã hội, nên điểm đặc thù nhất trong xã hội hiện đại là thường xuyên canh giữ những gì gọi là mất trật tự – những nguy cơ phá vỡ các trật tự đã được khoa học và lý tính xây dựng. Vô hình trung, trong xã hội hiện đại, đặc biệt là xã hội hiện đại tây phương, tính chất ổn định và trật tự phải được đặt ở vị trí trấn áp trong cặp đối lập nhị phân Trật Tự/Hỗn Loạn. Muốn vậy, mặt đối lập của Sự Đúng/Sự Thật/Trật Tự/Ổn Địnhphải được tạo ra một cách thường trực. Theo ngôn ngữ của Jacques Derrida, phần đối lập của trật tự, của đúng đắn, của chân lý, v.v… được xếp chung trong một phạm trù Khác (the Others).

Tính chất hiện đại xâm nhập vào đời sống thường ngày bằng cách phổ biến nền nghệ thuật của chủ nghĩa hiện đại (sẽ trình bày chi tiết ở phần dưới), những sản phẩm của một xã hội tiêu thụ, những kỹ thuật mới, những phương tiện di chuyển và truyền thông tân tiến. Những phương tiện năng động mà nhờ đó, thời kỳ hiện đại đã tạo ra một thế giới mới mang tính chất công nghiệp và thực dân, một quá trình biến chuyển xã hội để tiến tới công nghiệp hóa, chuyên biệt hoá, vật chất hoá, thành thị hoá, thư lại hoá, cá nhân hoá, và đặc biệt nhất và rộng lớn nhất là khoa học hoá và hợp lý hoá, một quá trình chuyển hoá toàn diện để gộp thành ý nghĩa của hiện đại hoá [15]

Trong quá trình hiện đại hoá như thế cái “Others” dùng để chỉ mọi thứ không hợp lý, thiếu văn minh, không có nguồn gốc Âu Châu, không phải da trắng, không phải đàn ông, đồng tính luyến ái, văn hoá của các dân tộc thiểu số… đều là Khác, Lạ, cần phải loại trừ. Nhân danh cho sự loại trừ những cái Khác này là sự khai phóng, là cách mạng, để tạo nên một trật tự và ổn định mới, hợp lý hơn, tốt đẹp hơn. Và trên con đường thi hành sứ mệnh duy trì trật tự và gieo rắc chủ nghĩa khai phóng, nền văn minh hiện đại cũng sáng tạo nên một hệ thống xã hội pháp lý toàn trị nhằm che đậy cho sự đô hộ và trấn áp: Tính chất Đế Quốc và Thực Dân; lý tưởng khai phóng của thời kỳ Ánh Sáng đã mang những ý nghĩa trái ngược. Với hai cuộc chiến tranh thế giới (chủ yếu tại Châu Âu) kéo theo những hệ luỵ khủng hoảng xã hội thời hậu chiến, cộng với sự nổi dậy của các dân tộc bị trị dưới chế độ thực dân, thời kỳ hiện đại cùng với những hệ tư tưởng triết lý của nó tiến dần đến sự mâu thuẫn và khủng hoảng, mở đường cho một giai đoạn kế tiếp: thời kỳ hậu hiện đại.

Khác với chủ nghĩa hiện đại xuất hiện trong giai đoạn cuối cùng của thời kỳ hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism) xuất hiện gần như đồng thời với thời kỳ hậu hiện đại (postmodernity), và có thể xem như hình ảnh đối xứng của chủ nghĩa hiện đại theo khía cạnh thời gian. Về mặt từ ngữ, chữ postmodern đã manh nha từ năm 1934, và được sử dụng lần đầu tiên bởi Arnold Toynbee vào năm 1939[16]. Trong phần chú giải ở trang đầu tiên của tập thứ nhất thuộc bộ sách lịch sử đồ sộ của ông, A Study of History, Toynbee đã ghi rõ thời kỳ hiện đại chấm dứt vào khoảng phần tư thứ ba của thế kỷ 19, nghĩa là vào khoảng thời gian 1850 – 1875. Như vậy, thời kỳ hậu hiện đại tiếp theo không phải nằm trong thế kỷ 20 mà bắt đầu từ thế kỷ 19. Khi nghiên cứu sâu hơn trong công trình lịch sử đó, Toynbee đã chính thức sử dụng từ ngữ hậu hiện đại (Post-modern) trong tập sách thứ 5, bộ sách này xuất bản vào năm 1939, trong đó ông dời sự chấm dứt của thời kỳ hiện đại lại vào khoảng thời gian giữa hai cuộc thế chiến, nghĩa là thời kỳ hậu hiện đại có khởi điểm nằm trong khoảng thời gian từ năm 1918 đến 1939 [17].

Vì sự xuất hiện có tính cách đồng thời như vậy, nên tính chất hậu hiện đại thường được diễn tả trong các đặc tính của chủ nghĩa hậu hiện đại. Do đó, trong các văn bản tiếng Anh, chữ Postmodernity chỉ dùng để chỉ khoảng thời gian theo sau thời kỳ hiện đại, những tính chất về xã hội, triết lý, văn hoá, mỹ học… được bao hàm trong chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism). Thời kỳ hậu hiện đại (Post-modern age, Postmodernity) có liên hệ nối tiếp với thời kỳ hiện đại, có thể kéo dài vài thế kỷ mà thời đại chúng ta sống hiện nay là phần đầu của nó. Nếu chủ nghĩa hậu hiện đại, cũng như chủ nghĩa hiện đại chỉ kéo dài một thời gian ngắn, sau này người ta sẽ phân biệt rõ hơn giữatính chất hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại, như chúng ta thường phân biệt tính chất hiện đại và chủ nghĩa hiện đại khi nói về giai đoạn Aùnh Sáng. Điều này phù hợp với quan điểm của Lemke [18], “chủ nghĩa hiện đại, hay bất cứ một khuynh hướng trí thức nào, cuối cùng sẽ được xác định và làm rõ tính chất từ quan điểm của thế hệ kế tiếp.”

Chủ nghĩa hậu hiện đại: Những Khái Niệm Căn Bản

Theo Hassan [19], danh từ postmodernism được Federico de Onis đưa vào văn bản lần đầu vào thập niên 1930 để chỉ sự ảnh hưởng đối kháng với chủ nghĩa hiện đại. Danh từ này được sử dụng một cách phổ biến vào thập niên 1960 tại New York, theo sau sự xuất bản hai cuốn sách phê bình về mỹ thuật kiến trúc: The Death and Life of Great American Cities của Jane Jacobs vào năm 1961 và cuốn Complexity and Contradiction in Architecture của Robert Venturi vào năm 1966. Trong khi Jacobs phê bình những quá trình hiện đại hoá đô thị đã làm mất đi tính mỹ thuật về kết cấu tổng thể của thành phố, Venturi phê bình lối kiến trúc đơn điệu cộc lốc của các cao ốc mang nặng tính thực dụng của diện tích mặt bằng mà lại bỏ quên tính đa dạng, sự hài hoà giữa lịch sử cổ điển và văn minh đương đại. Trong hai tập sách, mặc dầu không nhắc đến chữ chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng cả hai tác giả đều đề nghị giới trí thức hiện đại phải có tầm nhìn vượt lên trên thời hiện đại. Đến năm 1972, những khối nhà cao tầng được xây dựng từ những năm 50 (do Yamasaki thiết kế và đoạt giải kiến trúc Pruitt-Igoe về thiết kế nhà ở đô thị hiện đại) tại thành phố St. Louis, Missouri (Miền Trung Tây Hoa Kỳ) bị giật sập kéo theo sự phá huỷ các cao ốc có lối kiến trúc tương tự tại các thành phố khác của Mỹ, Gia Nã Đại và Âu Châu trong những năm tiếp theo, năm 1972 trở thành mốc thời gian cho sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Trong suốt thập niên 60, danh từ postmodernism được nhiều giới nghệ sĩ, nhà văn và nhà phê bình như Rauschenberg, Cage, Burroughs, Barthelme, Fielder, Hassan và Sontag sử dụng để chỉ trích sự cạn kiệt của chủ nghĩa hiện đại và để mô tả những khuynh hướng nghệ thuật muốn vượt qua những phạm vi giới hạn của chủ nghĩa đó [20]. Khuynh hướng hậu hiện đại từng bước tạo những ảnh hưởng rộng lớn hơn, lôi kéo sự bàn luận và chú ý của giới trí thức đại học như Bell, Kristeva, Lyotard, Vattimo, Derrida, Foucault, Harbemas, Baudrillardd và Jameson [21].

Theo Fredric Jameson, chủ nghĩa hậu hiện đại cũng như chủ nghĩa hiện đại, là những cơ cấu văn hoá, xã hội, tương ứng với những giai đoạn nhất định của chủ nghĩa tư bản. Jameson đã chia chủ nghĩa tư bản ra làm ba giai đoạn phát triển căn bản gắn liền với những hình thái văn hoá đặc thù, để từ đó các ngành nghệ thuật và văn chương được hình thành một cách tương ứng:

Giai đoạn thứ nhất hay chủ nghĩa tư bản thị trường xảy ra từ nửa đầu thế kỷ 18 kéo dài đến cuối thế kỷ thứ 19 tại Tây Âu, Anh Quốc và Hoa Kỳ cùng các quốc gia chịu ảnh hưởng. Giai đoạn này gắn liền với sự phát triển kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, ví dụ như động cơ hơi nước và về mỹ học là sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực (Realism).

Giai đoạn thứ hai hay chủ nghĩa tư bản độc quyền, bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 19 cho đến khi Âu Châu hoàn tất chương trình tái thiết thời hậu chiến (vào khoảng thập niên 1950). Giai đoạn này tương ứng với sự ra đời của động cơ đốt trong và động cơ điện về kỹ thuật; về mỹ học là sự hình thành chủ nghĩa hiện đại (modernism).

Giai đoạn thứ ba tức thời kỳ đương đại chúng ta đang sống, là chủ nghĩa tư bản đa quốc gia mang nặng yếu tố mở rộng thị trường, buôn bán và tiêu thụ sản phẩm. Về kỹ thuật tương ứng với sự ra đời năng lượng hạch tâm và kỹ nghệ điện tử. Chủ nghĩa hậu hiện đại tương ứng với thời kỳ này.

Về phương diện lý thuyết, chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận những giả định căn bản của chủ nghĩa hiện đại mà hai yếu tố đóng vai trò chủ đạo cho mọi nền tảng triết lý của nó là Tri Thức Khách Quan (Objective Knowledge) và Sự Thật Tuyệt Đối (Absolute Truth). Theo cách nhìn của các triết gia hậu hiện đại, chủ nghĩa hiện đại được xây dựng trên một niềm tin là có một hiện thực khách quan, tồn tại một cách độc lập với mọi suy nghĩ của chủ thể quan sát, vì vậy chỉ có một kết quả biểu hiện khách quan duy nhất từ hiện thực: Sự Thật. Phương tiện để tìm hiểu hiện thực (sự thật) khách quan là Khoa Học và các nhà lý thuyết của chủ nghĩa hiện đại tin rằng con người có thể tìm ra được sự thật khách quan của thế giới và vũ trụ. Nhờ vào khoa học, chủ nghĩa hiện đại tin rằng, trí óc con người có thể có những hoạt động tinh thần để tạo ra tri thức phản ánh cho một hiện thực khách quan – Tri thức khách quan.

Lý thuyết chủ nghĩa hậu hiện đại tranh luận rằng những gì chúng ta gọi là Tri Thức chỉ là một mẩu chuyện đặc biệt, một dạng văn bản, hay một giải trình ngôn ngữ (discourse), là sự sắp xếp các từ ngữ, hình ảnh hay ký hiệu, dáng điệu… theo một cách đặc biệt nhất định nào đó để phù hợp với những lợi ích của một nền văn hoá, hoặc đôi khi chỉ làm vui tai, vui mắt cho một thành phần nhỏ nhoi có quyền lực trong nền văn hoá đó. chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận con người có thể có một Tri Thức Khách Quan vì những gì chúng ta gọi là tri thức phải được tạo thành từ ngôn ngữ và những nguồn gốc tạo nghĩa khác tồn tại trong một nền văn hoá nhất định, mỗi nền văn hoá có cách nhìn thế giới trong những cách khác nhau, những hệ thống hình thành tri thức trong các nền văn hoá khác nhau như thế hoạt động trên một nguyên tắc đặc thù riêng biệt. Vì vậy, quan điểm về thế giới và vũ trụ từ nền văn hoá Âu Mỹ xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa hiện đại bị áp đặt để trở thành một quan điểm thống nhất và hằng định cho toàn thể mọi nền văn hoá trên thế giới, về thực chất là một giả định có tính chất mưu cầu lợi ích chính trị để đạt được những tham vọng đế quốc trong quá khứ, nó không tồn tại vững chắc trên cơ sở trí thức. Chủ nghĩa hậu hiện đại đi xa hơn để chỉ ra rằng, cũng giống như một số nền văn hoá Âu Châu trong thời kỳ cận đại đã áp đặt quan điểm của họ lên những nền văn hoá khác bằng vũ lực, bằng xâm lăng và đô hộ, thì ngay trong các quốc gia “hiện đại” đó cũng có một thiểu số thuộc giai cấp quyền thế, giai cấp quý tộc cầm quyền chiếm ưu thế bởi các nhóm nam giới trung niên, đã thống trị và chi phối các dòng tư tưởng “chính mạch” trong các động hướng xã hội, chính trị, văn hoá và cả đến khoa học tự nhiên (nếu thực sự có một khoa học khách quan về tự nhiên như thế hằng tồn tại), làm cho “thế giới quan hiện đại” phát đi từ chủ nghĩa hiện đại tại các quốc gia đó vốn dĩ đã không khách quan lại càng bị bó hẹp hơn – quan điểm của giai cấp thống trị [22].

Như đã đề cập ở phần trên, Huyssen đã truy nguyên nguồn gốc của chủ nghĩa hậu hiện đại từ các khuynh hướng kiến trúc, mỹ thuật và phê bình của giới trí thức và nghệ sĩ tại New York vào thập niên 1960 sau đó được các nhà lý thuyết triết học Âu Châu khai triển vào thập niên 70, trong số các lý thuyết gia hàng đầu đó (Michel Foucault, Jean Baudrillardd, Kristeva, Bell…) phải kể đến Jean-Francois Lyotard với cuốn sách nổi tiếng La Condition Postmoderne xuất hiện tại Paris vào năm 1979, khi cuốn sách này được chuyển dịch sang Anh ngữ vào năm 1984 [23], cùng với bài luận văn ngắn: “An Answer to the Question: What is Postmoderism?” đăng trong phần phụ lục, đã trở thành cuốn sách giáo khoa về chủ nghĩa hậu hiện đại lưu hành phổ biến trong giới đại học của các quốc gia nói tiếng Anh. Lyotard phê phán nỗ lực tạo ổn định xã hội bằng cách trấn áp sự hỗn loạn (disorder) của chủ nghĩa hiện đại, ông cho rằng tính chất ổn định xã hội này trùng hợp với khái niệm toàn thể (totality) của J. Derrida (trong đó totality tương đương với wholeness, completeness). Tính toàn thể, tính ổn định, tính trật tự trong xã hội hiện đại, theo Lyotard, được duy trì thông qua những thần thoại hợp lý hoá (legitimating myths), hay những đại tự sự (grand narratives) của thời kỳ hiện đại. Lyotard tấn công vào tính đại tự sự mà chủ thuyết hiện đại tin rằng sẽ có một quá trình giải phóng nhân loại để tiến đến sự tiến bộ thông qua khoa học, cùng với ý tưởng triết lý có thể phục hồi tính thống nhất trong sự tiếp nhận và phát triển một tri thức nhân loại có giá trị chung cho toàn thế giới (và vũ trụ). Một trong những đối tượng tấn công của Lyotard vào thời kỳ này là Habermas, người đặt nghi vấn về một hình thức bảo thủ mới trong lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại và hậu cấu trúc luận (poststructuralism) của Pháp [24]. Lyotard tranh luận rằng, tất cả mọi khía cạnh của xã hội hiện đại, bao gồm cả khoa học – hình thức căn bản của tri thức, hoàn toàn tuỳ thuộc vào những đại tự sự. Theo ông, đại tự sự là những câu chuyện “có tính cách thần thoại” một nền văn hoá tự kể về niềm tin và hành động thực tiễn của nó. Ví dụ như tại Hoa Kỳ, một trong những đại tự sự về chính trị hiện nay là Dân Chủ và Nhân Quyền, một đại tự sự mà chính phủ Mỹ cho là chính sách hợp lý và văn minh nhất trong vấn đề đối ngoại, và dĩ nhiên, người lập ra sách lược này tin rằng nó sẽ làm cho nhân loại trên thế giới sống hoà bình và hạnh phúc hơn. Có lẽ cho đến nay không ai trong chúng ta là không tin vào chính sách “hết sức khoa học và hợp lý” này. Nhưng tuyệt nhiên không ai đặt một dấu hỏi cỏn con nào về mặt thật đằng sau tính chất đại tự sự ấy của nền văn hoá Mỹ. Theo quan điểm hậu hiện đại, mỗi hệ thống đức tin hoặc ý thức hệ, đều chứa đựng những “thần thoại hữu lý” của nó. Ví dụ, giáo hội Công giáo tin có một thượng đế duy nhất hằng hữu, bao dung và toàn trị; trong khi đó, những người Mác-xít tin tưởng một cách kiên trung rằng, một ngày kia chế độ tư bản sẽ tự nó sụp đổ và thế giới xã hội không tưởng sẽ hình thành; hay Việt Nam ta cũng có đại tự sự: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng, đánh thắng ba đế quốc to…

Chủ nghĩa hậu hiện đại phê phán các hình thức đại tự sự của chủ nghĩa hiện đại bằng cách cảnh báo rằng, những đại tự sự đó được lạm dụng để che đậy những mặt đối lập và bất định gắn liền với mọi tổ chức xã hội cũng như mọi thực tiễn hành động. Nói một cách khác, mọi nỗ lực kiến tạo trật tự và ổn định luôn luôn sản sinh ra một đối lực tương ứng của hỗn loạn và bất ổn, như hai quá trình song hành trong một thể thống nhất của hiện thực xã hội. Nhưng, thay vì nhìn những yếu tố “hỗn loạn” và “bất ổn” đó như một đối trọng có tính cách cân bằng trong nghĩa xây dựng, đại tự sự của chủ nghĩa hiện đại đã tìm mọi cách đè bẹp với lý lẽ cho rằng sự hỗn loạn và bất ổn là xấu, là phá hoại, là phản động, cần phải tận diệt, trong khi đó trật tự và ổn định là luôn luôn tốt, luôn luôn đúng, phù hợp với cách mạng, hợp lý với khoa học! Chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận tính chất đô hộ và áp đặt của đại tự sự, cổ xuý những tiểu tự sự, những lý lẽ giải thích cho những hành động nhỏ bé, những biến cố có tính chất địa phương thay vì những khái niệm rộng lớn có tính cách bao quát và toàn thể. Những tiểu tự sự của chủ nghĩa hậu hiện đại thường được nhìn dưới góc độ hoàn cảnh tạm thời, ngẫu nhiên, không tuyên xưng tính thống nhất toàn thể, tính ổn định, tính hợp lý, hay sự thật khách quan. Đối với chủ nghĩa hậu hiện đại, mọi sự thật vĩnh hằng và trường cửu sẽ biến mất, mang theo nó những quy định về ngôn ngữ của cái biểu đạt (signifier/signifiant) và cái được biểu đạt (signified/signifié), thay vào đó là những biểu hiện bề mặt không cần có bản chất, như Foucault [25] đã chỉ ra bản chất của lịch sử, trong đó ông cho rằng, sử gia tái tạo lịch sử là một công việc hão huyền, nếu không muốn nói là sự đánh lừa công chúng một cách ấu trĩ, vì, giải trình ngôn ngữ lịch sử là một giải trình ngôn ngữ hiện tại, phục vụ cho hiện tại, tạo ra một ý nghĩa nào đó cho con người hôm nay, có một hiểu biết nào đó, về những dấu tích khảo cổ để lại từ những sinh hoạt mà nhân loại thu lượm được từ quá khứ. Từ lý luận về giải trình ngôn ngữ lịch sử, Foucault đã đi sâu hơn về khái niệm giải trình ngôn ngữ (discourse), ông viết một chương dài bàn luận về vai trò của khái niệm này, nó không phải chỉ đặc trưng cho chức năng ngôn ngữ, mà tất cả những gì con người có thể làm để tạo nghĩa về thế giới. Foucault đã chứng minh rằng, những hiện thực khách quan, những đối tượng nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa hiện đại, như những ý niệm (thực thể) của bản ngã, quốc gia, ngôn ngữ, trí tuệ, giới tính, tội phạm, những định chuẩn tự nhiên, vân vân, thực chất là những cấu trúc đặc thù của lịch sử, hay sản phẩm của lịch sử, không thuộc về đối tượng của giải trình ngôn ngữ nhân loại. Ông chú ý đến cái gọi là khoa học hiện tượngđể tìm ý nghĩa thông qua giải trình ngôn ngữ, từ đó nghiên cứu những phương pháp lý thuyết của quá trình tạo nghĩa bởi sự tương tác giữa con người và giải trình ngôn ngữ đối với sự vật. Với giải trình ngôn ngữ của Foucault hay “tr ch i ngôn ngữ” (language game) của Wittgenstein (J. F. Lyotard khai triển thêm), chủ nghĩa hậu hiện đại đã bước hẳn sang một ngã rẽ khác trong quá trình quan sát và tạo nghĩa, một quá trình hoàn toàn loại trừ khái niệm cái biểu đạt và cái được biểu đạt của chủ nghĩa hiện đại để tập trung xây dựng một cách diễn đạt ý nghĩa mới về thế giới và vũ trụ.

Trong giải trình ngôn ngữ hậu hiện đại, sự phân tích ngôn ngữ là một sự áp dụng ngữ nghĩa học (semantics) vào một văn bản thuần tuý, không tìm những ý nghĩa ẩn tàng sau những cách sử dụng cú pháp, văn phạm và tu từ như được nhấn mạnh trong chủ nghĩa hiện đại. Thay vào đó là sự chú tâm đến những quy ước văn hoá của ngôn ngữ, do đó đòi hỏi sự tìm hiểu ngôn ngữ xuất phát từ xã hội hơn là xuất phát từ ý thức. Chúng ta không thể nào phân tích một cách đầy đủ quá trình thụ nhận tri thức của một cá nhân từ ngôn ngữ nếu chúng ta không hề hay biết đến kiểu mẫu giải trình ngôn ngữ của cộng đồng cá nhân đó đang lệ thuộc [26]. Giải trình ngôn ngữ của chủ nghĩa hậu hiện đại đặt nền tảng trên nguyên tắc liên văn bản (intertextuality), bất chấp giải trình đó là ngoại biểu hay nội biểu; nói cách khác, mọi ý nghĩa được tạo nên phải dựa vào căn bản một ý nghĩa khác đã được thành lập trước đó và chia sẻ bởi cộng đồng, rộng hơn, của nền văn hoá cộng đồng đó phụ thuộc [27].

Trong giải trình ngôn ngữ của chủ nghĩa hậu hiện đại, có hai tên tuổi lớn luôn được nhắc đến: Foucault và Bakhtin. Bakhtin và Foucault quan niệm rằng, giải trình ngôn ngữ là một quá trình hành động để tạo nghĩa, mà đơn vị giải trình của nó là đơn vị ý nghĩa hoặc một hành động của con người để diễn tả ý nghĩa chứ không phải những đơn vị của ngôn ngữ như ngôn, từ, mệnh đề, câu… Giải trình ngôn ngữ có thể tạo nghĩa từ những điệu luân vũ, dáng điệu, chuyển động; với hình ảnh, biểu đồ, bài hát, hay ngay cả với thực phẩm và quần áo. Lấy ví dụ, trong khoa học, chúng ta không phải chỉ viết và nói, chúng ta còn sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng những ý nghĩa đặc thù cho mỗi ngành khoa học, những phương pháp đó bao gồm việc quan sát các hiện tượng xảy ra khi tiến hành một thực nghiệm sinh hoá học, ghi nhận và phân tích dữ kiện, hoặc trong kinh tế, các chuyên gia thường chú ý đến các biểu đồ lên xuống của tiền tệ, hối đoái, trong xã hội người ta lại tìm kiếm các số liệu người thất nghiệp, người có việc làm, tỉ lệ tội phạm, hoặc thăm dò các khuynh hướng chính trị của một nhóm chủng tộc nào đó… (ví dụ sẽ còn rất nhiều, chỉ xin đơn cử một số để minh hoa)ï. Trong mỗi lãnh vực riêng biệt đều có một hệ thống ký hiệu quy ước mà cộng đồng chấp nhận, và giải trình ngôn ngữ là sự ứng dụng các hệ thống ký hiệu để tạo nghĩa về một hiện tượng, một vật thể hay rộng hơn về thế giới. Ký hiệu học hậu hiện đại nhấn mạnh đến sự giải trình ngôn ngữ về tạo vật hay hiện tượng tức là cách chúng ta nhìn sự vật và hiện tượng như thế nào chứ không phải hiện tượng và sự vật được mô tả như thế nào bằng giải trình ngôn ngữ. Chủ nghĩa hậu hiện đại hoàn toàn không đề cập đến bản chất hiện tượng đó, hay nói theo ngôn ngữ của chủ nghĩa hiện đại, Sự Thật đằng sau hiện tượng. Như đã đề cập phần trên, hiện tượng chúng ta quan sát và tạo nghĩa bằng giải trình ngôn ngữ, là một quá trình so sánh liên văn bản kéo dài đến bất tận, nên chúng ta không tài nào biết được đâu là nguồn gốc của ý nghĩa, đâu là sự thật của ý nghĩa đó. Một quá trình mà Baudrillard cho là sự sao chép giả tạo (simulation).

Khái niệm căn bản cho lý thuyết hiện tượng học của Baudrillard là Vật thể giả tạo (Simulacrum). Simulacrum là một hiện tượng mà bản chất của nó hoàn toàn bị che dấu nên không còn mang tính chất hiện thực [28] và chúng ta cảm nhận được thế giới là nhờ giải trình ngôn ngữ trên các hiện tượng “giả tạo” đó. Vì vậy, Sự Thật mà chủ nghĩa hiện đại tìm thấy ở vật thể và thế giới thực ra là những hình ảnh giả tạo, Simulacrum.

Tri Thức Dưới Quan Điểm Hậu Hiện Đại

Khai triển từ luận văn của J.F. Lyotard, Sarup [29] đã phân tích một cách khá chi tiết về tổ chức của tri thức theo lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong xã hội hậu hiện đại, tri thức không những được đặc trưng bởi tính chất ứng dụng, mà còn có thể phân phối, dự trữ, và sắp xếp: Tri Thức thuần tuý là một hiện tượng, một sản phẩm, do đó nó mang đầy đủ tính chất của một vật thể có giá trị trao đổi. Đi xa hơn, như Sarup đã nhấn mạnh theo lý luận của Lyotard, trong xã hội hậu hiện đại, bất cứ một loại tri thức nào mà không được mã hoá để nhận biết và lưu trữ bởi máy điện toán, thì không còn được xem là tri thức. Dựa theo khuôn mẫu này, đối lập với tri thức không còn là sự dốt nát như các cặp đối lập nhị phân trong chủ nghĩa hiện đại, mà là tạp hiệu (noise). Tạp hiệu được dùng để chỉ một cái gì đó không nhận thức được trong khuôn mẫu hậu hiện đại, tín hiệu không chuyên chở một thông tin có nghĩa nào.

Theo chủ nghĩa hậu hiện đại, tri thức không phải chỉ thuần tuý làm giàu kiến thức cá nhân, mà nhấn mạnh đến khía cạnh chức năng, tri thức học hỏi để hành động chứ không phải chỉ để biết. Vì vậy, trong các xã hội tây phương chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, chính sách giáo dục thường được chú ý đến phương diện thực tiễn, tạo một sự liên kết chặt chẽ giữa giáo dục và hướng nghiệp.

Sau hết, làm thế nào để xác định tri thức và tạp hiệu? Chủ nghĩa hậu hiện đại không đưa ra một định nghĩa rõ ràng làm thế nào để phân biệt hai lãnh vực này, thay vào đó, dựa vào Ký Hiệu Học hậu hiện đại, tri thức là một hành động giải trình ngôn ngữ trước một hiện tượng, một sự kiện, một tạo vật…, còn đối với Lyotard, tri thức là một “trò chơi ngôn ngữ” (language game). Từ cách đặt vấn đề như thế chúng ta có thể phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa hai quan niệm tri thức hiện đại và hậu hiện đại. Tri thức theo quan niệm của chủ nghĩa hiện đại là sự phản ánh sự thật khách quan từ một hiện tượng, được làm rõ bản chất thông qua phương tiện khoa học. Nó trở thành tấm gương soi cho sự thật của vật thể và thế giới. Dưới lăng kính của chủ nghĩa hậu hiện đại, tri thức tự thân của nó cũng là một hiện tượng, được diễn dịch một cách chủ quan bằng giải trình ngôn ngữ, một quá trình hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân. Nói khác đi, không có tri thức khách quan và có trở thành tri thức cho một cá nhân hay không là dựa vào kinh nghiệm cá nhân cảm nhận hiện tượng. Lấy ví dụ, đối với một nhà phê bình văn học, hiểu biết những vấn đề về văn chương là điều tối cần thiết, nên sự ra đời một tác phẩm có thể loại hoàn toàn mới, sẽ trở thành một tri thức vì chưa bao giờ anh ta gặp một thể loại như thế từ trước, trái lại, tác phẩm đó rơi vào tay một anh lái buôn, anh ta không thấy hứng thú đọc tiếp, đối với bản thân anh ta nó là thứ anh ta không cần phải biết, tác phẩm biến thành một tạp hiệu.

Mỹ Học Theo Quan Điểm Hiện Đại và Hậu Hiện Đại

Theo một nghĩa rất hạn hẹp, chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại gắn liền với những khuynh hướng mỹ học có tính chất đặc trưng cho thời kỳ hiện đại và thời kỳ hậu hiện đại. Như đã khảo sát ở phần đầu, chủ nghĩa hiện đại xuất hiện vào giai đoạn sau cùng của thời kỳ hiện đại (cuối thế kỷ thứ 19) với những đại diện tiêu biểu như: Joyce, Yeats, Gide, Proust, Rilke, Kafka, Mann, Musil, Lawrence và Faulkner (Văn Chương); Rilke, Pound, Eliot, Lorca, Valéry (Thi Ca); Strindberg, Pirandelo và Wedekind (Kịch); Matisse, Picasso, Braque, Cézanne và những trường phái Vị Lai, Biểu Hiện, Đa Đa, Siêu Thực, trong hội hoạ; Stravinsky, Schoenberg và Berg (Âm Nhạc). Những đặc điềm mỹ học của chủ nghĩa hiện đại có thể tóm tắt như sau (2): nhấn mạnh đến sự diễn tả quá trình nhận thức xảy ra như thế nào hơn là những gì được cảm nhận, sử dụng hình thức ấn tượng và nêu bật vai trò chủ thể trong hành văn, như trường hợp lối viết của thể loại dòng ý thức(stream of consciousness) trong tác phẩm của James Joyce; loại trừ lối viết tự sự, bắt nguồn từ một ngôi thứ ba thông suốt hết mọi sự, có cảm quan cố định và một làn ranh rõ ràng về đạo đức; xoá nhoà sự tách biệt giữa các thể loại, do đó thơ đến gần với văn xuôi (trường hợp Eliot) và văn xuôi đến gần với thơ (trường hợp của Woof và Joyce); tác phẩm mỹ thuật có dạng thức phân đoạn, không liên tục và là một kết hợp ngẫu nhiên nhiều chất liệu; tác phẩm mang nhiều sắc thái nội hướng, ý thức bản ngã của tác giả, để mỗi sáng tác mang một ý nghĩa mỹ học tự thân; và sau cùng là sự chối bỏ các lý thuyết mỹ học khuôn sáo để tiến đến sự ngẫu hứng và khám phá sự sáng tạo, phủ nhận sự phân biệt các dạng thức cao thấp trong mỹ học.

Quan điểm mỹ học hậu hiện đại mang những đặc điểm như: xoá nhoà ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống thường ngày; phá bỏ những giai tầng văn hoá quý phái và văn hoá đại chúng; phủ nhận tính chất nguyên thuỷ của một tác phẩm nghệ thuật và cho rằng nghệ thuật cũng chỉ là một hiện tượng lập lại; nhấn mạnh đến phong cách trộn lẫn giữa nhân vật và sự can thiệp của chính tác giả vào tác phẩm; tính chất kết dính nhiều mảng kết cấu khác nhau trong cùng một tác phẩm, tựa như một bức tranh khảm có nhiều chất liệu dị biệt, là điều khá phổ biến trong các tác phẩm hậu hiện đại. Nghệ thuật hậu hiện đại cũng có nhiều điểm tương đồng với quan niệm mỹ học hiện đại, như sự soi rọi nội tâm, ý thức bản ngã, cách đoạn và không liên tục, tính đồng diễn… Nhưng ngược lại, thái độ của chủ nghĩa hậu hiện đại trong mỹ học là phi cấu trúc, phi tâm hoá và từ chối vai trò chủ thể của con người, một sự tiếp nhận, mô tả hiện tượng không suy diễn, không chú ý đến chiều sâu, không diễn dịch bản chất sự vật theo chủ quan tác giả; thay vào đó, tác giả cũng tham gia vào một trò chơi ngoại biểu, tạo ra những đối kháng có tính chất mỉa mai và châm biếm để người đọc tự tìm thấy trong tác phẩm và nếu cần tác giả sẽ chủ động lôi kéo người đọc vào trò chơi đó.

Quan điểm mỹ học hiện đại vẫn còn mang nặng tính chất đại tự sự, khi nhiều công trình nghệ thuật được sáng tác để mang một thông điệp cho loài người biết rằng, nghệ thuật hiện đại có khả năng tạo ranhững tác phẩm có sự đồng nhất, kết cấu chặt chẻ và mang những ý nghĩa của đời sống mà chính sự phát triển các phương tiện hiện đại đã làm chúng biến mất. Nghệ thuật hiện đại tự khoác cho nó một vai trò lịch sử to lớn để tái tạo lại những gì mà các thể chế khác của nhân loại đã bó tay. Nói chung, nền mỹ học hiện đại, giống như chủ thuyết khai sinh ra nó, vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi những niềm tin vào khả năng vô hạn của con người, một khả năng dựa hẳn vào tính chất tuyệt đối của sự thật phát hiện bởi các phương tiện khoa học.

Chủ nghĩa hậu hiện đại, trái lại, xem mỹ học cũng như các vật thể giả tạo khác mà hiện thực hoàn toàn bị khuất lấp sau những hiện tượng, những Simulacrum. Càng nhiều hiện tượng, “hiện thực” càng được làm đầy thêm (hyper-reality) và vai trò của nghệ thuật chỉ thuần tuý là tham gia vào trò chơi hỗn loạn giữa các vật thể giả tạo đó, và việc có tin tưởng vào hiện thực biểu hiện hay không là hoàn toàn tuỳ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của người đọc, tuỳ thuộc vào nền văn hoá mà họ đang sinh hoạt và tuỳ vào khả năng phản ánh hiện thực thông qua hành động giải trình ngôn ngữ, và cứ như thế mà mỹ học hậu hiện đại cứ kéo dài sự diễn dịch ra ngoài mọi biên cương để tiến về nơi bất tận.

Đối với văn học Việt Nam, sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại gần như chưa có một dấu ấn nào đáng kể (xem thêm bài viết của Nguyễn Hưng Quốc trong số này). Cũng có một số “đại học giả” kiến nghị rằng chúng ta nên giữ một thái độ bao dung và thể tất tối đa với văn học nước nhà, không nên vì cái mới mà xoá bỏ cái cũ. Tôi đồng ý, bảo vệ nền văn học (và rộng hơn là văn hoá) truyền thống của dân tộc là chuyện nên làm; nhưng tôi cảm thấy bị lạc trong “cao trào văn hoá truyền thống” đó. Truyền thống là một giải trình ngôn ngữ văn hoá, chúng ta sẽ không bao giờ mất, bởi tự thân giải trình ngôn ngữ văn hoá này xuất phát từ quan điểm cá nhân rất Việt Nam đã thâm căn cố đế trong máu huyết của mỗi một chúng ta (có ai nhìn tà áo dài Việt Nam mà bảo rằng đó là cái váy đâu). Cái còn lại mà chúng ta sẽ mất là đà tiến hoá của nhân loại. Khi thế giới đang vượt lên trên mọi giới hạn của dân tộc và biên giới quốc gia để tạo nên một cách nhìn đa nguyên về cuộc sống, để tạo nên một sự hoà trộn giữa các nền văn hoá nói chung và văn học nói riêng, lẽ nào chúng ta cứ ôm giữ mãi một đại tự sự “độc tôn”: Việt nam là đỉnh cao của trí tuệ và lương tri của loài người. Một đại tự sự đã làm cho những trí óc siêu việt chứng minh một cách rất “khoa học và biện chứng” rằng củ mì có chất đạm cao hơn thịt bò. Một đại tự sự đã làm cho ai đó ở Tây ba năm, ở Mỹ nửa đời niên thiếu, vẫn nặng lòng với dân tộc, để hô hào bảo vệ nền văn hoá truyền thống dân tộc, vì e rằng văn hoá Âu Mỹ sẽ ăn tươi nuốt sống nền văn học Việt Nam. Chủ nghĩa hậu hiện đại không những không phá huỷ nền văn hoá dân tộc mà ngược lại, còn cổ xuý cho sự phát triển tính đa dạng của các nền văn hoá (và văn học) nhỏ bé đó. Chỉ có điều nên thể hiện nó dưới một quan điểm mới hơn, lạ hơn và thú vị hơn. Để làm được như vậy, không phải chúng ta có nên bao dung với nền văn học nước nhà hay không, mà thực ra những kẻ hô hào bao dung đó phải từ bỏ những Đại Tự Sự kiểu như: dân tộc ta thông minh có thừa… Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng vân vân. May ra văn học Việt có được một lối đi mới mẻ trong kỷ nguyên tới.

_________________________

[1]Mary Klages, Postmodernism đăng trên trang web: http://www.colorado.edu/English/ENGL2012Klages/pomo.htm

[2]Baudrilla, J. (1996) Disneyworld Company đăng trên nhật báo xuất bản tại Paris: Liberation ngày 4 tháng 5 năm 1996, bản dịch Anh ngữ của Francois Debris.

[3]Epstein, M. On the place of Postmoderism in Postmordernity in the book Russian Postmodernism: New perspectives on Post-Soviet Culture. New York, Oxford: Berghalm Books (1999), pp. 456-468.

[4]Bell, D. (1976) The Cultural Contradictions of Capitalism. London: Heinemann, p. 50.

[5]Oden, T. C. (1992) Two Worlds: Notes on the Death of Modernity in America and Russia. Downers Grove, Illinois: InterVarsity Press. P32.

[6]Bock, K. (1979) Theory of Progress, Development, Evolution in Bottomore, T. and Nisbet, R. A history of Sociological Analysis. London: Heinemann. Calinescu, M. (1977) Faces of Modernity. London: Indiana University Press. Habermas, J. (1981) Modernity versus Postmodernity. New German Critique, 22:9.

[7]Smart, B. (1990) Modernity, Postmodernity and Present in Turner, B. S. (1991) Theories of Modernity and Postmodernity. London: SAGE Publ, p17.

[8]Benjamin, W. (1973) Illumination. London: Fontana, p196.

[9]Harbemas, J (1987) The Philosophical Discourse of Modernity. Cambridge: Polity, p8.

[10]Berman, M. (1983) All that is Solid Melts in Air. London: Verso, p40.

[11]Calinescu, M. (1977) Faces of Modernity. London: Indiana University Press, p4.

[12]Sách đã dẫn trong (14), p41.

[13]Lash, S. (1987) Modernity or Modernism: Weber and contemporary social theory, in Whimster, S. and Lash, S (eds) Max Weber, Rationality and Modernity. London: Allen and Unwin.

[14]Flax, J. (1990) Thinking Fragments: Psychoanalysis, Feminism, and Postmodernism in the Contemporary West. California: The University of California Press, p41.

[15]Featherstone, M. In Pursuite of the Postmodern: An Introduction. In Theory, Culture & Society Volume 5, 195-215. London: SAGE Publication, 1988.

[16]Toynbee, A. (1939) A Study of History. Volume 5. Oxford: Oxford University Press, p43.

[17]Best, S. and Kellner, D. (1991) Postmodern Theory: Critical Interrogations. New York: Guiford Press. Introduction of Chapter 1.

[18]Lyotard, J. F. (1979) The Postmodern Condition: A Report on Knowledge. Translated by Geoff Bennington and Brian Massumi, Manchester: Manchester University Press (1984).

[19]Hassan, I. (1985) Theory, Culture and Society. Postmodern Culture, 2(3): 119-131.

[20]Huyssen, F. (1984) Mapping the Postmodern. New German Critique 33.

[21]Jameson, F. (1984) Postmodernism, or the Cultural Logic of Late Capitalism. New Left Review 146.

[22]Lemke, J. L. (1994) Semiotics and the Deconstruction of Conceptual Learning. J. Soc. For Accelerative Learning and Teaching.

[23]Lyotard, J. F. (1979) The Postmodern Condition: A Report on Knowledge. Translated by Geoff Bennington and Brian Massumi, Manchester: Manchester University Press, 1984).

[24]Beinstein, R. (1985) Habermas and Modernity. Oxford: Polity and Richters, A. (1988) Habermas and Foucault. Theory, Culture & Society: Vol 5, No. 4.

[25]Foucault, M. (1969) The Archaeology of Knowledge and The Discourse on Language. New York: Pantheon Books, 1972. Chapter 1: The Unities of Discourse.

[26]Lemke, J. L. (1989) Social Semiotics: A new model for literacy education. In D. Bloome Edition. Classrooms and Literacy, pp 289-309. Norwood, New Jersey: Ablex Publishing.

[27]Lemke, J. L. (1985) Ideology, Intertexuality, and The Notion of Register. In Benson, J. D. and Greaves, W. S. Editions: Systemic Perspectives on Discourse, pp 275-294. Norwood, New Jersey: Ablex Publishing.

[28]Woolley, M. (1996) Beyond Simulation: Production and the Nostalgia Industry. SSPP.net Vol.2, No.1, Sep. 1999.

[29]Sarup, M. (1993) An Introduction Guide to Post-Structuralism and Postmodernism. Atlanta: University of Georgia Press.

Nguồn: http://www.tienve.org

CẢM HỨNG THẦN TIÊN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ – nguyentrongtao

20 Th9

CẢM HỨNG THẦN TIÊN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

Quantcast
NGUYỄN THỤY KHA

Nhìn vào cách cụ thân sinh Hàn Mặc Tử đặt tên cho 6 người con: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (là Hàn Mặc Tử), Tín, Hiếu, đủ thấy dù cụ đã theo học Tiểu chủng Viện từ nhỏ, thì Nho giáo vẫn ăn sâu trong tâm thức, trong cách giáo dục con cái. Bởi vậy, việc Hàn Mặc Tử bắt đầu với thơ ca bằng thơ Đường luật, dường như đó là điều đương nhiên. Đường luật của Hàn Mặc Tử (khi ấy vẫn lấy bút danh là Phong Trần, rồi Lệ Thanh) với ba bài “Đêm không ngủ”, “Chùa hoang” và “Gái ở chùa” đã được in trên “Phụ nữ Tân văn” và “Lời thăm” (do Bùi Tuân chủ bút), đã được giải thơ của thi xã Mộng Du và được chủ nhân thi xã là cụ Phan Bội Châu đề cao. Cũng vì gặp gỡ cụ Phan mà Hàn Mặc Tử bị xóa tên đi du học Pháp. Nhưng nếu không gặp cụ Phan và được đi du học Pháp, chắc chắn lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại không có tên Hàn Mặc Tử vang danh, khiến ai ai cũng yêu quý.

Không biết có phải do lần tắm biển Quy Nhơn xuýt chết đuối vì ra quá xa bờ hay không mà Đường luật đã phai nhạt dần trong Hàn Mặc Tử như một kỷ niệm cứ thoáng hiện lên thì lại bị những con sóng biển dữ dội như văn minh phương Tây trào lên, lướt qua. Những xê dịch theo gia đình đã giúp cho Hàn Mặc Tử “đi thực tế” nhiều hơn, thấm thía cảnh đời hơn. Và “Gái quê” đã ra đời với lời tựa của Phạm Văn Ký. Dù lấy tên là “Gái quê” nhưng Hàn Mặc Tử đã gởi vào đấy không phải cái vẻ mơ màng, thanh sạch như mối tình hằng quen trong khung cảnh vườn tre, đồi thông. “Gái quê” ẩn chứa một khát vọng của một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực. Nó vừa vang vọng ca dao, vừa phảng phất hơi thơ Hồ Xuân Hương, vừa mờ đắm cái nhìn của Bô-đờ-le. “Gái quê” còn chịu tác động mạnh mẽ của phong trào “Thơ mới”, cho dù “Đàn nguyệt” ở “Lệ Thanh thi tập” được Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tán thưởng, cho dù vẫn lấy bút danh Hàn Mặc Tử như giữ lại chút tình với Đường thi của “nhà thơ nghèo nàn”, của “tao nhân mặc khách”, của “đệ tử Mặc Dịch”. Ở “Gái quê”, có cảm giác Hàn Mặc Tử đã đọc rất kỹ “Tống biệt” của Tàn Đà và “Tiếng sáo thiên thai” của Thế Lữ. Cảm hứng thần tiên ở nhà thơ cuối cùng của thơ cũ (Tản Đà) và nhà thơ khởi sự thơ mới (Thế Lữ) đều chung nhau một chốn Thiên thai xa xăm trên thăm thẳm trời xanh, tuy Thế Lữ mới hơn Tản Đà mặc dù dùng thể thơ lục bát:

Mây hồng ngừng lại sau đèo

Mình cây nhuộm nắng bóng chiều không đi

Trời cao xanh ngắt ô kìa

Hai con hạc trắng bay về Bồng lai

Theo chim tiếng sáo lên khơi

Lại theo dòng suối bên người Tiên Nga

Một nhìn nhận của Đạo Lão tin rằng Thần Tiên là có thực, đã nảy mầm trong thơ Tản Đà, trong thơ Thế Lữ. Nhưng cách “bay lên” của họ là thoát tục, rời khỏi chốn phàm trần. Trong “Gái quê”, Hàn Mặc Tử chọn một cách bay khác, “bay trong tâm tưởng” giữa sự thực đời thường. Cách bay đó hình như bắt đầu từ xứ sở Đà Lạt mộng mơ. Những cái hồ gợi về thơ La-mác-tin. Những ngọn đồi nhấp nhô, những con dốc ẩn hiện như gợi về nhịp điệu Bô-đờ-le. Hàn Mặc Tử quá hiểu vị chủ soái tượng trưng này. Nhưng làm sao rời bỏ nổi Lý Bạch, Tô Đông Pha … Những quyến rũ trong kiến trúc Đường thi thật bền vững và thật có sức mạnh. Song đúng là nơi đây, tìm được một cảm hứng khác thường là điều có thể. Đó là chuyến “bay trong tâm tưởng”:

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu

Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt

Như đón từ xa một ý thơ

 

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để xem trời giải nghĩa yêu

 

Hàng thông lấp loáng đứng trong im

Cành lá in như đã lặng chìm

Hực thực làm sao phân biệt được

Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm

 

Cả trời say nhuộm một màu trăng

Và cả lòng tôi chẳng nói rằng

Không một tiếng gì nghe động chạm

Dẫu là tiếng vỡ của sao băng

(“Đà Lạt trăng mờ”)

Đã khác rồi cái thể năm chữ bảy chữ tám câu hay bốn câu. Đã khác rồi cái sự khởi, thừa, chuyển, hợp. Đã khác rồi cái đối ngẫu bó buộc ở các liên câu. Ở Đà Lạt, cái giác quan vừa được mở ra tinh tường hơn, vừa có vẻ u mê hơn. Câu thơ ở đây đã thoát khỏi bó buộc của bằng trắc, của từ, ý, tứ của câu. Bài thơ như được xây bằng bốn trụ của tứ tuyệt, nhưng đã được “mới hóa”, đã “bay trong tâm tưởng”.

Cảm hứng thần tiên trong thơ Hàn Mặc Tử tràn trề trong “Chơi giữa mùa trăng”: “Vây chúng tôi bằng ánh sáng, bằng huyền diệu, chưa đủ, Ngưu Lang và Chức Nữ, chúa của đêm trung thư còn sai gió thu mang lại gần chúng tôi một thứ mùi gì ngào ngạt như mùi băng phiến; trong ấy biết đâu lại không phảng phất những tiếng kêu rên của thương nhớ xa xưa … Ở thượng tầng không khí, sông Ngân Hà trinh bạch đương đắm chìm các ngôi sao đi lạc đường … Đây có phải là nước Nhược non Bồng, động phủ thần tiên ngày xưa còn sót lại? Nhìn xuống cát cố tìm dấu tích gì lưu lại vết chân của Đào Nguyên Tiên nữ … Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” trong tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt … muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn năm …”.

Cảm hứng thần tiên trong thơ Hàn Mặc Tử lai láng qua những cung bậc tình yêu. Trong tình đầu đơn phương với Hoàng Cúc, cảm hứng ấy bàng bạc mơ màng:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà

Với Mộng Cầm, cảm hứng thần tiên đã bay lên chất ngất. Mộng Cầm đã lôi được Hàn Mặc Tử ra khỏi Sài Gòn hoa lệ. Mộng Cầm đã biến con đường Sài Gòn ra Phan Thiết thành chiều thứ tư của không gian – chiều tâm linh. Phan Thiết với Hàn Mặc Tử như chốn thiên thai thoát tục. Lầu Ông Hoàng, cù lao Mũi Né đẹp khác nào Đào Nguyên:

Ồ! Đừng có ngợp, mời anh hãy bước

Qua nơi đây là cách biệt trần gian

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa

Mùi tô hạp quện trong tơ trăng lụa

Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ

Của hồn thơ đi lạc ở trong mơ

Mộng Cầm hóa thành tiên nữ trong đời thực:

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ

Ồ! Tiên nương nay lại ghé nơi đây

Suối tóc mát nhúng trong vùng mộng tuyết …

Là nàng tiên hiện ra giữa cù lao Mũi Né:

Mặt trời mai ấy đỏ ong

Nàng tiên hóng mát trên hòn cù lao

Mùi xiêm thơm tựa sen ngào

Áo xiêm: nhuộm nắng hồng hào chưa khô

Bỗng trong im lặng như tờ

Hương gì ngan ngát giả đò say sưa

Nơi đây mây gió chán chường

Ý gì tiên nữ đo lường tình tôi

Cảm hứng thần tiên còn bay đến tột cùng khi Hàn Mặc Tử chia tay với Mộng Cầm và cùng là lúc Hoàng Cúc rời khỏi Quy Nhơn. Hàn Mặc Tử viết thành tuyệt bút về Phan Thiết:

Nhưng phép lạ có một vì Tiên nữ

Hao hao như nường nguyệt cõi Đào Nguyên

Ta đắm mê trong ánh sáng trần duyên

Và van lạy xin cô nường kết ngãi ….

… Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang

Nơi đã khóc đã yêu thương da diết

Ôi trời ơi! Là Phan Thiết! Phan Thiết

Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi

Có cảm giác ở Phan Thiết cùng Mộng Cầm, Hàn Mặc Tử nhìn mây muốn ghì mây và lời tình chới với trong sương bay. Những thi ảnh bay lốm đốm đầy trên quả đồi cao như bọc lấy trăng mà ngủ. Những thi tứ tuôn chảy như suối xa miền của cõi thơ, cõi mộng, cõi niềm yêu đương … cứ như gặp Lưu – Nguyễn ở Thiên Thai. Rồi xa nữa là Từ Thức. Những câu thơ đảo lộn không gian, đưa thời gian quay vòng xoáy ốc. Không rõ đêm hay ngày. Không rõ nhớ hay quên.

Cứ ngỡ con rồng thơ trong Hàn Mặc Tử đã bay đến hết độ bay, chỉ còn nước rơi xuống chết sau khi vĩnh biệt Mộng Cầm. Nhưng cảm hứng thần tiên vẫn bay bảng lảng bởi nội lực yêu vô song trong thơ Hàn Mặc Tử khi có Mai Đình ở bên những ngày bạo bệnh:

Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn

Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt

Nàng, ôm nàng hay tay ta ghì chặt

Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!

Ta là ngươi uống muôn hận sầu cay

Nàng là mật của muôn tuần trăng mật

Ôi! Khoái trá thấm dần vô thể chất

Hồn trong xương ảnh hưởng đến mê tơi

Quý như vàng, trong như ngọc trên đời

Mai, Mai, Mai là Nguyệt Nga tái thế …

Năng lượng yêu siêu thức đã nâng cảm hứng thần tiên trong thơ Hàn Mặc Tử bay lên như vô tận khi thăng hoa trong tình yêu tưởng tượng với Thương Thương. Thương Thương đối với tâm tưởng của Hàn Mặc Tử là một khát vọng về một mối tình nguyên hương trinh bạch, là chiều thứ tư để Hàn Mặc Tử thoát khỏi thân xác tật nguyền bước vào cõi giới khác- cõi giới bốn mùa xuân :

Đâu gió lên tầng mây che mát lạ

Ta muôn năm len lỏi ở Đào Nguyên

Nước trong sáng lòng ta thơm vô giá

Sao không ai đi lạc tới non tiên

 

Để ta dâng, ta mời ai giải khát

Nếm cho bưa mùi vị nước trường sinh

Ồ tiếng tiêu đâu bay ra man mác

Khiến nao nao hồn thanh tịnh bên mình

Viết “Cẩm châu duyên” cho Thương Thương, Hàn Mặc Tử còn viết ra hai vở kịch thơ là “Duyên kỳ ngộ” và “Quần tiên hội” đầy ắp những mơ màng của cặp uyên tiên Quỳnh Tiên và Huyền Tiên trên cõi tiên:

Xong rồi, đôi ta qua Đào Nguyên

Em làm rượu ngọt, anh làm men

Tiên cô không đợi không duyên mời mọc

Say thôi gò má đỏ rần lên

Cảm hứng thần tiên trong thơ qua những mối tình, Hàn Mặc Tử cũng vô vàn cảm hứng thần trong thơ với tình yêu trăng. Ở trên cũng đã nhắc đến “Chơi giữa mùa trăng”. Có lẽ vì sinh gần ngày trung thu, nên cảm hứng thần tiên về ánh trắng- nàng thơ của nhiều mộng tưởng ngọt ngào- đã cho Hàn Mặc Tử những xuất thần bay bổng. Từ cái nhịp ru con ngồ ngộ của một ngư dân “tăng tăng tăng cà răng tăng tăng”, Hàn Mặc Tử đã thổi vút cái nhịp đó vào vầng trăng trong vũ trụ: “Trăng! Trăng ! trăng! Là trăng, trăng trăng”. Trong “Chiêm bao với sự thực”, Hàn Mặc Tử cũng dào dạt: “Đêm nay là một đêm hào hoa nên mùa trăng bát ngát. Ngoại cảnh đã xâm lấn xác thịt và linh hồn tôi. Tôi có thể bảo đây là một lối thần giao cách cảm và có thể say mê điên dại bắt chước Lý Thái Bạch đại la tiên về trăng trên mặt nước”. Trong “Trăng tự tử”, Hàn Mặc Tử còn tiên hơn, siêu thức hơn Trích tiên Lý Bạch vì nhìn thấy trăng tự tử và đã lao xuống lòng giếng lạnh vớt trăng lên: “Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng thiên/ Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên”. Cảm hứng thần tiên đã tạo ra Trích tiên Lý Bạch, còn tạo ra cả Huyền tiên Hàn Mặc Tử: “Với sao sương anh nằm chết như trăng/ Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc/ Đến hôn anh và rửa vết thương tâm”. Nhờ tình yêu và tình trăng, cảm hứng thần tiên đã biến Hàn Mặc Tử thành Huyền tiên trong “Quần tiên hội”. Dù gia đình công giáo lâu đời, ngay những bài thơ làm dâng chúa của Hàn Mặc Tử vẫn mang cảm hứng thần tiên trong cốt lõi. Hàn Mặc Tử là thi sĩ trong Tiên, ngoài Chúa. Linh hồn thanh khiết vô vi cõi tiên.

 

CON MẮNG – Thái Bá Tân/BS

20 Th9

– CON MẮNG 

Thái Bá Tân

Suất cơm bụi hai chục,/ Một nửa đã no phè./ Ngượng ngùng bảo cô chủ:/ Gói cho ông mang về./ Vợ biết, bấm điện thoại./ Con gái gọi: Ối trời,/ Sao bố lại làm thế?/ Khéo không người ta cười

BTV: Chuyện vào nhà hàng, gọi đồ ăn nhưng ăn không hết, kêu nhân viên phục vụ đóng gói cho khách mang về, đó là chuyện bình thường ở nước ngoài, cho dù ăn ở một nhà hàng bình dân hay một nhà hàng 5 sao. Thường khi người phục vụ thấy khách không ăn nữa, họ sẽ hỏi mình có muốn mang về (to go) không, nếu khách muốn thì người phục vụ sẽ đóng gói (pack) cho khách mang về.

Không hiểu sao ở xứ mình lại cho rằng đó là chuyện “xấu hổ”, dù mình đã trả tiền trên phần ăn đó, chứ đâu có ăn cắp của ai đâu. Ngược lại, có những kẻ ăn cắp hàng đống tiền của dân mà không biết xấu hổ, nhưng nếu kêu họ mang phần ăn thừa từ nhà hàng về thì họ không thể làm được vì sĩ diện. Mời xem lại đoạn cuối bài này phê phán sự lãng phí của Bạc Qua Qua, con trai Bạc Hy Lai, đã gọi các món ăn rồi bỏ, không chịu mang về nhà.

CON MẮNG

Suất cơm bụi hai chục,
Một nửa đã no phè.
Ngượng ngùng bảo cô chủ:
Gói cho ông mang về.

Vợ biết, bấm điện thoại.
Con gái gọi: Ối trời,
Sao bố lại làm thế?

Khéo không người ta cười.

Tiếp đến là: Không được!
Nhà ta có nghèo gì,
Rằng bố là cán bộ,
Hơn nữa lại… Thôi đi.

Đúng, nhà không nghèo thật,
Thậm chí có ô tô.
Nhưng suất cơm hai chục
Là quá nhiều, quá no.

Hai mẹ con đắc thắng
Thấy bố im, không tin
Bố đang nghĩ tới chuyện
Lần sau gọi mười nghìn.

Hà Nội, 30. 7. 2012

 

Quan hệ giữa người với người: Tham lam ích kỷ cạnh tranh nhỏ nhặt – VTN

20 Th9
 

Quan hệ giữa người với người: Tham lam ích kỷ cạnh tranh nhỏ nhặt

 
Trích từ chuyên mục
 Người xưa cảnh tỉnh
đã in trên Thể thao và văn hóa 2005-2007
Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn
 
 
Không ai hết lòng với ai
   Tôi xem trong xứ ta tính người đổi nhiều lắm, tục tốt ít ưa, tục quấy hay thích. Tục tốt là thương yêu nhau, thấy ai mạnh thì vui, thấy ai khổ thì thương. Còn quấy là ganh hiền ghét nhỏ, dèm phải đua quấy (1), thấy ai giỏi hơn, giàu hơn sang hơn thì không ưa, thấy ai dở hơn, nghèo hơn, hèn hơn mình thì khinh bạc chê bai; những điều quấy như vậy xem ra tiệm (2) đủ gần hết.
 
    Coi ra cho kỹ thì ai lo phận nấy, ai chẳng cần ai, sang với nghèo đãi nhau không hậu tình.
    Tệ nạn mỗi ngày mỗi thêm, làm sao cho khỏi bị người các nước khác khinh khi. Cũng bởi vì mình ở với nhau còn không phải không tốt thay, hà huống gì với nước khác, bảo người vì mình sao đặng?
 
(1) đua quấy là hùa theo điều xấu
(2) tạm
 Lương Dũ Thúc
 Nông cổ mín đàm 1901
 
Tham lợi dẫn đến vô cảm
      Chứng bệnh [tham lam]ấy, người các nước tuy có ít nhiều, nhưng người nước ta 25 triệu ai nấy cũng có.
      Tục ngữ có câu: “Cơm ai đầy nồi nấy”, lại có câu “thử thân bất độ, độ hà thân” (1), lại có câu rằng “Con vua vua dấu con chấu chấu yêu”.
     Đọc bấy nhiêu lời thì biết rằng trong ruột người nước ta viết dọc viết ngang, vach xuôi vạch ngược chỉ có một chữ tham; mà ở trong chữ tham chỉ có vài nét lợi riêng là vừa hết bút mực.
 
(1) thân này không cứu vớt thì cứu vớt thân nào?
 
Phan Bội Châu  
 Việt Nam quốc sử khảo, 1908
 
Không biết hợp quần
     Người ngoại quốc coi thường dân ta, họ nói rằng “không có nổi một đoàn một nhóm nào từ ba người trở lên “; câu nói đó thoạt mới nghe tưởng là quá đáng, nhưng xét cho đến tình hình xã hội tinh thần dân chúng thì thấy tan tan tác tác, rạc rạc rời rời, ghét nhau, ngờ nhau, ai lo thân nấy, bảo rằng không có nổi một đoàn một nhóm ba người thật bụng với nhau, thật cũng chẳng oan.
 
 Phan Bội Châu
 Cao đẳng quốc dân, 1928
Ích kỷ và khôn vặt
    Cái tật ích kỷ vốn là một thứ hay lây. Trông thấy những v­ườn hoa cây cảnh ở sân nhà trư­ờng hay ở nơi đền chùa, hoặc cạnh đư­ờng đi lối lại, đã không biết giữ gìn để làm một cái cảnh vư­ờn chung thì chớ, nhiều ng­ười lại còn đang tay bẻ tàn bẻ hại, để đem về nhà mà chơi thích chí lấy một mình.
    Cái chứng ích kỷ đã mọc ra, đến lúc lớn lên thành ra một ngư­ời đi đến đâu phá huỷ đến đấy.
     Cũng vì lẽ đó mà dân An Nam không mấy khi có được cảnh vui chung (1), ai có muốn chơi cảnh thì lại phải xây một vài cái bể cạn hay là bầy mư­ơi lăm cái chậu con để làm một khu vui riêng mà không chung chạ với ai cả.
    Dần dần nảy ra một cái tư­ tư­ởng đáng cư­ời, đáng khinh, đáng ghét, đáng sợ là hai chữ ích kỷ, mà một câu “ăn cỗ đi trư­ớc lội n­ước đi sau “đủ vẽ hết đ­ược ruột gan.
 
<!–[if !supportLists]–>(1)     <!–[endif]–>tức là không có các loại công viên hoặc khu giải trí công cộng
 
 Nguyễn Đỗ Mục
 Đông dư­ơng tạp chí, 1914
 
 
Chỉ biết cạnh tranh
trong những việc tầm thường, lặt vặt
    Cạnh tranh là một cái tính phổ thông của nhân loại, những bậc danh nhân kiệt sĩ đua tài chọi sức, chẳng là vì cái danh thực mà cạnh tranh đấy ư? Những bậc phú hào bên các nước Âu Mỹ làm nên cho dân được thịnh nước được giàu, chẳng là vì một cái lợi to mà cạnh tranh đấy ư?
    Nay hỏi đến cách cạnh tranh của người mình thế nào?
      Đi học thì cạnh tranh nhau nhau cầu được học bổng nhiều, mà trí thức rộng hẹp phẩm hạnh thấp cao lại không hề cạnh tranh đến.
     Làm quan thì cạnh tranh nhau cầu cho được tiền nhiều chức lớn, mà đạo đức tốt xấu, chính tích (1) hay hèn lại không hề cạnh tranh đến.
      Ở trong làng thì cạnh tranh nhau chỗ ăn chỗ ngồi, ngôi trên ngôi dưới, ngoài cái đó không hề so sánh hơn thua, ai thiện ai ác, ai hiền ai ngu (2).
      Ra ngoài đường thì cạnh tranh nhau kẻ khó người giàu, manh quần tấm áo, ngoài cái đó không hề phân biệt ông hay là thằng, bà hay là con nữa.
       Làm ruộng thì cạnh tranh nhau tấc ruộng thước vườn, mẩu bờ tí nước, mà đến những đồng bãi mênh mông, kể hàng ngàn hàng muôn mẫu thì có ai nhìn.
      Buôn bán thì cạnh tranh nhau luồn lỏi mua cho được, mánh khóe bán cho trôi, mà đến những đại tôn giao dịch (3) kể trăm thứ ngàn thứ hàng thì có ai biết.
      Làm thợ thì cạnh tranh nhau bán rẻ phá giá làm điêu (4), đỡ công mà chưa từng có được một cái đoàn thể đồng nghiệp cho hẳn hoi, để khoáng trương (5) lợi ích.
       Ấy sự cạnh tranh của người mình toàn có một cái mục đích nhỏ nhen hèn hạ như thế cả. Thế mà cạnh tranh hăng hái dữ tợn cũng chẳng khác gì người các nước họ cạnh tranh vì cái danh thực, cái lợi to.
 
<!–[if !supportLists]–>(1)   <!–[endif]–>việc làm của các quan chức trong khi thi hành công vụ, kẻ hay người dở.
<!–[if !supportLists]–>(2)   <!–[endif]–>hiền ở đây có nghĩa người khôn ngoan có đức hạnh chứ không phải là hiền lành, dễ dãi; và ngu có nghĩa ngược lại
<!–[if !supportLists]–>(3)   <!–[endif]–>nguyên nghĩa đại tôn là dòng họ lớn, đây chỉ những người có vai vế và nổi tiếng trong nghề.
<!–[if !supportLists]–>(4)   <!–[endif]–>gian dối, man trá.
<!–[if !supportLists]–>(5)   <!–[endif]–>tương tự như khuếch trương.
 Dương Bá Trạc
 Tiếng gọi đàn, 1925
 
 
 
Vừa không thiết chuyện gì, vừa xét nét nhỏ nhặt
     Người nước ta, đối đãi với nhau một cách nghiêm khắc, trách bị nhau những chuyện nhỏ nhặt. Ngoài sự hư danh, mối tiểu lợi, nhất thiết hoài nghi cả, không thiết chuyện gì; phàm những sự nghiệp lớn lao, những chủ nghĩa cao thượng cho là viển vông, không biết đem lòng ham chuộng, không biết giốc chí theo đuổi.
  Tật thứ nhất của dân mình là hay xét nét. Bới lông tìm vết, người nọ dùng trí khôn để dò xét người kia. Xã hội như cái sa – lông, đông khách ngồi, nhưng cứ rụt rè mà nhìn nhau, ngoài những lời thăm hỏi vẩn vơ những câu hàn huyên vô vị, không gây nên được câu chuyện đượm đà hứng thú.
 Phạm Quỳnh
 Hoàn cảnh, Nam phong, 1924
 
 
Lợi dụng đạo nghĩa kiếm lợi  
   Theo tâm lý người mình thì ai ai cũng hiểu rằng lợi là đáng khinh mà nghĩa là đáng trọng. Nhưng xem chừng như ít người đem cái luật ấy ghép vào cho mình, mà lại đem ghép cho người khác ở chung quanh mình.
     Suy cái bụng họ ra, ý chừng họ muốn ai ai cũng “uống nước trong làm việc” thì họ mới ưng; ai ai cũng “ăn cơm nhà mà đi đánh giặc” thì họ mới cho là quân tử.
    Các ông nhà buôn tinh ranh cũng chực lợi dụng cái đạo lý ấy (tâm lý “trọng nghĩa khinh tài” — VTN chú) để lấy lợi.
    Các ông ấy đưa ra những hàng xấu ra mà hô lên rằng: “Của nội hóa đây. Các ngài phải có nghĩa vụ mua hàng nội hóa hầu để khuyến khích công nghệ nước nhà “.
    Rồi họ thừa dịp đó bán mắc muốn gấp hai hàng ngoại hóa.
 
 Phan Khôi
Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở nước ta, Thần chung, 1929
 
Danh dự bị hiểu sai lạc và mang ra mua bán
     Xã hội ta xưa nay coi mọi người ai cũng như ai, bé thuộc quyền bố mẹ, lớn thuộc quyền vua quan; từ thuở nhỏ đến tuổi già, xã hội đã chỉ sẵn cái đường lối nhất định cho mà theo, theo được đúng thời xã hội đãi cho phẩm vị cho lợi quyền, và coi đó là danh dự. Thuận theo xã hội ắt sẽ có danh giá. Được xã hội khen thời lương tâm có chê cũng vẫn là có danh dự. Nhưng mà những cái ấy người ta có thể mua được cả. Danh dự đã là một thứ có thể bán buôn thời giá trị không đáng bao nhiêu nữa.
 
 Phạm Quỳnh
 Danh dự luận, Nam phong, 1919
 
Trông nhau để …yên tâm trục  lợi
    Xứ ta lâu nay việc giáo dục rất bơ thờ (1). Những trường học dạy cho biết ba cái chữ  không đủ gọi là giáo dục được. Vì cái cớ không có giáo dục đứng đắn đó mà người ta không biết trọng danh dự, không biết chuộng khí tiết, không biết giữ nhân cách mình cho cao; đã vậy thì cái lòng ham danh lợi nổi lên mà cai trị cả con người chúng ta, tùy nó xui giục đi đâu mình đi đó, ấy là sự mà chúng ta không thể chối được. Coi kia rất đỗi người (2) học thức lão thành (3) mà còn không khỏi bị nhử cái mối tài lợi, phương chi là kẻ khác !
   Trong xã hội hay có thói ngó mặt nhau. Một người làm việc xấu, nhiều người khác  thấy mà phân bì: sức như ông ấy đó mà còn làm bậy, huống chi mình – rồi thì tập nhau mà làm quen chẳng ai lấy làm chướng tai gai mắt hết.
    Nghe những người đứng lên  nói vầy nói khác chế báng một ông nào đó, ta tự hỏi nếu đem thay người nói vào cái địa vị ông ấy thì sao? Không dám vội tin rằng người thế cho ông ấy sẽ hơn được, vì người ấy vẫn thở chung một cái không khí với đám quần chúng này.
    Chúng ta trách  một người vì mấy trăm đồng bạc mà bán mình, song có ai chắc đến lượt mình không bán. Sự dễ thấy nhất là trong quần chúng An Nam luôn luôn có kẻ bán cái ý kiến của mình, bán cái quyền lợi của mình .
 
<!–[if !supportLists]–>(1)  thiếu khí sắc thiếu sức sống
<!–[if !supportLists]–>(2)   <!–[endif]–>lắm người
<!–[if !supportLists]–>(3)   <!–[endif]–>đã tới trình độ thành thục
Phan Khôi
Trung lập,  Sài Gòn, 1930
Cách sống của kẻ cùng đường
   Xã hội Việt Nam ngày nay đứng giữa những tấn kịch, tâm lý phần đông chừng đã mất hẳn thú sinh nhân (1), trong óc lại nẩy ra cái quái tượng, nhường bước cho ma dẫn lối quỷ đưa đường, mà chính mình không rõ là người gì, sẽ làm việc gì, nay không biết mai.
    Trừ những người có học thức, thì hạng tuổi trẻ thất học, cùng bọn đã nghèo lại dốt không đường tự cứu và tự ủy (2), thói thời không chừa sự bi thảm xấu xa gì mà không dám làm, nào cha con chú bác giết nhau, nào vợ chồng thù ghét nhau. Mà nguy hiểm nhất là những đám lừa đảo trộm cướp dùng thứ thủ đoạn mới, làm cho dân lương thiện không có chút tự vệ.
 
<!–[if !supportLists]–>(1)   <!–[endif]–>niềm vui sống
(2)    tự lo liệu
 
 
Huỳnh Thúc Kháng
                                                      Cái hiểm tượng loạn óc, Tiếng dân 1939
 
 Mưu danh bằng cách
 hạ nhục kẻ  khác                                                                                                                       
       Lắm kẻ, chỉ vì hám cái phù danh, đang tâm lê gót giày lên trên tình bạn hữu, hạ chân lý xuống tận bùn đen. Tưởng mình như thánh như thần, ngoài ra, nhất là những địch thủ, toàn là đàn chim chưa vỡ bọng cả.
    Chưa đọc hết, có khi không thèm xem qua bài văn của người khác, họ đã dài mồm chê bai.
    Chưa mở lấy một trang sách, chưa rờ đến một  tờ báo của bạn đồng nghiệp, họ đã yên trí là viết không thành câu, hạ ngay những lời mạt sát thậm tệ.
    Trong khi  trò chuyện, chỉ hết sức khoe khoang về mình ; còn những  người khác  dù đã lập được biết bao chiến công trên trận bút trường văn, cũng chỉ  đáng một con số không, theo ý họ. 
                                                                                                       Hoa Bằng
                                                       Vài cái liệt điểm của một số nhà văn ta, Tri tân, 1942
 
 
 
Chỉ biết lo  thân  
     Công tâm (1) là một thứ khó tìm thấy ở mọi người. Nghĩ cho cùng  không nên trách dân quê là thiếu công tâm, vì họ phải sống  trong một đời thiếu yên ổn về mọi phương diện  bắt buộc họ phải nghĩ đến mình trước đã. Vả chăng trước mắt họ nào có ai treo một tấm gương  sáng về việc nghĩ đến cái chung ?!
 
ngày nay có nghĩa ngay thẳng không thiên vị, nhưng trước đây  hiểu là  sự lo lắng cho công việc chung
Vũ Văn Hiền
Mấy nhận xét nhỏ về dân quê Bắc kỳ, Thanh Nghị, 1944    

Có hay không lá đơn kêu cứu của ông Đặng Thành Tâm? – GDVN

20 Th9

Có hay không lá đơn kêu cứu của ông Đặng Thành Tâm?

 
(GDVN) – Một số vị đại biểu Quốc hội cho biết cũng đã nhận được thư từ ông Đặng Thành Tâm với nội dung tương tự.
Ngày 19/9, Báo Giáo dục Việt Nam nhận được một bức thư được cho là của ông Đặng Thành Tâm – Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn với dấu có màu đỏ của Công ty CP Đầu tư Sài Gòn cùng một chữ ký ký tên Đặng Thành Tâm. Trao đổi nhanh với phóng viên báo Giáo dục Việt Nam, một số vị đại biểu Quốc hội cho biết cũng đã nhận được thư từ ông Đặng Thành Tâm với nội dung tương tự.

Sau khi nhận được thư này, chúng tôi đã nhiều lần liên hệ với ông Đặng Thành Tâm nhưng không được.

Theo nội dung bức thư ngày 08/9 vừa qua với nội dung cho rằng việc cơ quan chức năng bắt giữ ông Nguyễn Duy Hưng (SN 1975, Trưởng Văn phòng đại diện Công ty Cổ phần đầu tư Sài Gòn tại Hà Nội) về hành vi “Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước” theo Điều 263 – Bộ luật Hình sự có nhiều điều cần được làm rõ.
 
Trước đó, báo điện tử Vietnamplus của Thông tấn xã Việt Nam đưa tin, chiều 7/9, Cơ quan An ninh điều tra thuộc Bộ Công an đã thực hiện Lệnh bắt khẩn cấp, ra lệnh tạm giữ đối với Nguyễn Duy Hưng, sinh ngày 12/7/1975, Trưởng Văn phòng đại diện Công ty Cổ phần đầu tư Sài Gòn tại Hà Nội về hành vi “Chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước” theo Điều 263 – Bộ luật Hình sự.
Nguyễn Duy Hưng trú tại phòng 205 A2, Khu tập thể thảm may, số 155 Đặng Tiến Đông, tổ 20B Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội.
Chiều cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra thuộc Bộ Công an đã thực hiện Lệnh bắt khẩn cấp, ra lệnh tạm giữ đối với Nguyễn Thị Bích Trang, sinh ngày 2/7/1977, nhân viên hành chính Công ty Cổ phần đầu tư và công nghiệp Tân Tạo, về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 – Bộ luật Hình sự.
Nguyễn Thị Bích Trang hiện trú tại số 125/51A Âu Dương Lân, phường 2, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ quan chức năng đang điều tra kết luận để xử lý theo quy định pháp luật.

IDS: Khi trí thức…từ chức – Hiệu Minh

20 Th9

IDS: Khi trí thức…từ chức

Các thành viên IDS lần gặp cuối

HM Blog. Washington DC đang sang Thu. Tổng Cua bỗng nhớ lại thời IDS tuyên bố giải thể bởi một quyết định của Thủ tướng cũng vào mùa Thu. Những trí thức hàng đầu của Việt Nam đã im lặng.

Tôi có viết một bài cách đây 3 năm về trước về sự ra đi của IDS với nỗi đắng lòng. Nhìn thực trạng đất nước bây giờ, thấy mình kết luận không sai “IDS đã ra đi, không còn nghe được tiếng tơ lòng của họ. Người ta bảo, tiếng quát của kẻ thất phu không đáng sợ, đáng sợ hơn là sự im lặng của những nhà hiền triết”.

Xin đăng lại trong khi chờ entry mới.

 

Xem ảnh các thành viên IDS, tôi nhận ra một người quen, rất kính trọng. Những năm 1977-1993, người viết bài từng là quân của Giáo sư Phan Đình Diệu (đứng thứ 2 từ trái), vị đầu ngành của Tin học Việt nam, từng là viện trưởng Viện Tin học, viện phó Viện KH Việt nam, một chí sỹ nhưng không phải đảng viên. HM đã chứng kiến vài lần từ chức của ông. Lần ở IDS này là lần thứ 3, dù ông không tuyên bố. Mỗi lần là một khoảng lặng của số phận.

Lần thứ nhất

Lần đầu vào năm 1985, do cơ chế Đảng lãnh đạo, Viện trưởng chấp hành, việc đưa ra những chiến lược phát triển công nghệ thông tin của Giáo sư với tầm nhìn xa trông rộng bị chặn lại. Chi bộ và đảng ủy có thể quyết định về tư tưởng nhưng không thể biểu quyết về tầm nhìn tương lai Tin học Việt nam. Thấy không thể “vùng vẫy” trong một hệ thống như thế nên Giáo sư đã từ chức, dù rất nhiều các vị lãnh đạo cao cấp đã yêu cầu ông tại vị. Tuy thế, ông vẫn là Viện phó VKHVN.

Vị viện trưởng kế vị, tuy không là bí thư chi bộ như trước, nhưng lại có cơ chế mới “một thủ trưởng”, chi bộ chỉ để…tham khảo. Ông tha hồ áp dụng “tư duy” lãnh đạo mới.

Lần thứ 2

Tới năm 1993, có chuyện bầu bán lại ở Viện Tin học (được đổi tên là Viện CNTT). Đề cương thành lập viện cũng do Giáo sư Diệu và vài đồng nghiệp chấp bút. Vì tâm huyết với ngành CNTT non trẻ và mong đất nước thoát nghèo bằng tin học, Giáo sư Diệu quay về tham gia ứng cử Viện trưởng. Ông hiểu, ở vị trí nhất định mới mong thay đổi được diện mạo một ngành.

Tổ chức phiếu thăm dò sau bao nhiêu “bàn tán hành lang” (sau này có dịp tôi sẽ kể vào lúc cần thiết), ông vẫn được 58 phiếu, người về thứ 2, kém chục phiếu gì đó. Không hiểu vì lý do gì mà Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện KHVN) lại quyết định người về “nhì”(đương kim Viện trưởng VTH) được làm Viện trưởng Viện CNTT.

Nhớ lúc đó, Giáo sư Diệu phát biểu đại loại rằng, đây là một quyết định phi dân chủ, và người ra quyết định đã lật lọng, phá hoại khoa học. Ông tuyên bố từ chức luôn cả Viện Phó VKHVN và về vườn từ lúc hơn 50 tuổi.

Đương nhiên, tôi không hiểu hết thế sự bên trong. Phía sau quyết định của Viện sỹ Hiệu là gì, không ai biết được. Có thể Viện sỹ đã hứa gì đó nhưng sau đó “lật lọng”, hoặc người khác có lý “gấp đôi”.

Dù là con kiến nhưng tôi đã không ngần ngại nói “Lớp cán bộ khoa học trẻ vào Viện với tình yêu khoa học và tin vào các bậc đàn anh. Nhưng hôm nay, chứng kiến sự mất dân chủ và quyết định bất ngờ, tôi hiểu rằng, lòng tin của trí thức đã bị đặt nhầm chỗ”.

Di sản khoa học…

Nếu ai làm việc ở đâu đó thời gian dài, thường được hỏi về legacy (di sản) của người đó. Giáo sư Phan Đình Diệu cùng với đồng sự đã để lại nền vi tính non trẻ cho Việt nam (kể cả châu Á khi đó!) và thương hiệu Viện Tin học trước năm 1985.

Hôm nay, có dịp qua Viện CNTT (Viện TH cũ) bạn sẽ thấy Viện này đã an bài như định mệnh của chính Viện KH Việt nam (nay đổi là Viện KH Công nghệ Quốc gia). Xuống dốc Bưởi nhìn thấy toà nhà bậc thang piramid, mốc meo với những điều hoà đủ kiểu và kiến trúc pha trộn Đông Tây trong Viện KHVN, như mối tình Chí Phèo-Thị Nở, khi tàn bạo trong vườn chuối, lúc lãng mạn dưới ánh trăng bên sông.

Sau 30-40 năm hoạt động, “nhà trẻ trung ương” VKHVN với 5-6 nghìn cán bộ khoa học đã làm gì cho đất nước? Danh tiếng Viện CNTT đang ở đâu trên đất nước này. Có ai còn nghe tới họ, hay chỉ là những gì làm 25 năm trước mới đáng kể. Mà số tiền tiêu vào đó là bao nhiêu tỷ của dân nghèo.

Mới đây, Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu được tặng Huân chương Nhà nước do cống hiến cho khoa học. GS Phan Đình Diệu lại “từ chức”…tiếp dù ông đã về hưu.

Và lần thứ 3 ở…IDS

Lần từ chức thứ nhất chỉ liên quan đến một viện và sự đi xuống của nó sau đó. Lần thứ hai tương đương với một bộ. Hình ảnh Viện “Hàn lâm” trên Nghĩa Đô hôm nay đủ nói lên những trí thức không được dùng đúng mục đích bị ảnh hưởng như thế nào tới vị thế của nền khoa học.

Lần thứ 3 này phải chờ xem sau vụ tự giải thể của IDS. Ảnh hưởng của sự kiện là tầm quốc gia nếu không nói là quốc tế. Những người như bà Phạm Chi Lan, Giáo sư Hoàng Tụy, TS Lê Đăng Doanh, TS Nguyễn Quang A và các vị khác, … cả thế giới biết tên tuổi.

Sự giải nghệ của họ và Quyết định 97 giúp tinh hoa dân tộc “yên lòng” hơn với tuổi hưu nhàn hạ. Họ khá đầy đủ về vật chất, nếu chỉ muốn yên ổn thì vào IDS làm gì. Vì nặng lòng với đất nước và dân nghèo, hy vọng IDS là nơi giúp chuyển tải những phản biện hay cố vấn của một tập thể trí thức tinh túy nhất nước tới Đảng và Nhà nước. Ai nghi ngờ lòng yêu nước của họ hãy xem lại bản thân.

Không hiểu sao lại nghĩ vẩn vơ. Dù ở xa Tổ quốc, tôi luôn dự cảm rằng, đất nước rồi sẽ tiến lên, đi đâu sẽ ngẩng cao đầu, rằng, ta đến từ nơi dân giầu nước mạnh. Mong thì vẫn hằng mong.

Lời kết

Nhớ về câu chuyện của đất nước mình, từng là hình mẫu cho đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều người đã nhìn vào để noi gương. Tuy nhiên, ánh hào quang quá khứ không giúp được nhiều cho hội nhập hôm nay.

Nơi tôi công tác trước đây cũng không nằm ngoài qui luật đó. Lật vài trang sử của Viện cũng đủ hiểu số phận một đất nước, một dân tộc hay một đời người.

Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới, ai sẽ là bạn khi ta gặp khó khăn, chìa tay giúp đỡ, kẻ nào đợi thời cơ để hãm hại. Có nhiều trí thức giỏi, có tâm và tầm, sẽ giúp tìm ra được lời giải.

Nhớ khi cụ Hồ sang Pháp thời kháng chiến, lúc quay về đã mang theo Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa và bao thanh niên hiểu biết. Chính giới tinh hoa đó đã đưa Việt Nam sang một vị thế khác.

Ngày nay, nhiều trí thức rất giỏi nằm ngay ở trong nước. Để họ “từ chức” nghĩa là mất “nội lực”, và vì thế khó mong “ngoại lực” quay về, dù có trải thảm đỏ.

IDS đã ra đi, không còn nghe được tiếng tơ lòng của họ. Người ta bảo, tiếng quát của kẻ thất phu không đáng sợ, đáng sợ hơn là sự im lặng của những nhà hiền triết.

Hiệu Minh (10-2009)

Cuộc chiến blog phản ánh cuộc tranh giành quyền lực ở Việt Nam – BS

20 Th9

Asia Times

Cuộc chiến blog phản ánh cuộc tranh giành quyền lực ở Việt Nam

Tác giả/ Hiệu đính: David Brown

Người dịch: Huỳnh Phan

Từ đầu tháng này, báo chí phương Tây đã nghe phong thanh về cuộc đấu đá trong nội bộ đảng đang diễn ra ở Việt Nam. Tuy nhiên, đa số đã bỏ lỡ phần quan trọng của câu chuyện này. Các phóng viên đã cho ra một loạt bài tường thuật, cho rằng Việt Nam đã tiến hành một đợt đàn áp mới về truyền thông, làm sôi động thế giới blog tiếng Việt.

Vụ việc tiêu biểu là chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm 12 tháng 9 cho “các cơ quan chức năng” điều tra và trừng phạt các blogger đã đăng những tin tức chống chế độ. Trên trang web của chính phủ, chỉ đạo của ông Dũng đã điểm danh ba blog chính trị: Dân Làm Báo, Quan Làm Báo, và Biển Đông vì đã đăng các bài viết “vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống đảng và nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội”.

Chỉ thị của Thủ tướng nêu tiếp: “Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch“. Thông điệp này quá nặng nề.

Ông Dũng chỉ đạo Bộ Công an phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, và bộ Thông tin và Truyền thông làm việc với Ban Tuyên Giáo của Đảng Cộng sản, bảo đảm cung cấp “thông tin khách quan, đúng sự thật về tình hình các mặt của đất nước ta… và xử lý nghiêm việc thông tin, tuyên truyền không đúng sự thật”.

Cuối cùng, các quan chức và cán bộ đảng được chỉ đạo không được đọc hay phổ biến thông tin từ các trang web “phản động”.

Đào sâu một chút cho thấy rằng, hai trong số các blog này mới được các tay chân của các đối thủ trong đảng lập cách đây vài tháng, như là phương tiện tấn công theo kiểu phe nhóm vào các nhà lãnh đạo chóp bu của Việt Nam.

Quan Làm Báo bắt đầu xuất hiện vào đầu tháng 6, trong bài viết đầu tiên thề sẽ “quét sạch bè lũ tham nhũng độc quyền đời sống kinh tế và chính trị của đất nước”. Vào giữa tháng 7, tin tức cho biết, QLB có khoảng 10.000 “khách mới” mỗi ngày. Giọng điệu của blog này là khá mị dân, không khác như tờ Daily Mail của Anh hoặc ‘talk radio’ của cánh hữu ở Mỹ. Chủ đề chính của nó là chĩa mũi dùi vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các cộng sự gần gũi của ông Dũng, cáo buộc tham nhũng, “gia đình trị” và lơ là nhiệm vụ.

QLB là nơi đầu tiên tung ra tin tức việc bắt giữ đại gia ngân hàng thân cận của ông Dũng là Nguyễn Đức Kiên về tội “hoạt động kinh doanh bất hợp pháp”, trước thông báo của Công An 12 tiếng đồng hồ. Trong 10 ngày sau đó, số lượng truy cập hàng ngày trên trang web này tăng lên khoảng gần một triệu, mức độ chưa từng có trong thế giới blog của Việt Nam.

Blog Biển Đông chỉ có mặt từ ngày 3 tháng 7 với một thông tin dài, nhàm chán về tuyên bố chủ quyền lịch sử của VN đối với biển Đông.  Nhưng, gần như ngay lập tức blog ấy chuyển qua tấn công cá nhân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và đưa ra nhiều suy đoán việc Trung Quốc khống chế quan điểm biên tập của Quan Làm Báo. Tuy nhiên, không giống như trang web chống ông Dũng, Biển Đông gần như không được các độc giả Việt Nam chú ý cho đến khi nó bị điểm tên trong công văn của Chính phủ ngày 12 tháng 9.

Trang mạng thứ ba trong 3 trang “vu khống” bị chỉ thị trỏ vào là Dân Làm Báo, trang này khá phẳng lặng so với hai trang kia. Trong giới blog chính trị, đó là một blog chính thống đã xây dựng nhóm độc giả và nổi danh qua việc đề cập những mối quan ngại chung của các nhà bất đồng chính kiến ngoài đảng, đặc biệt là những điều mà người đóng góp của nó coi là phản ứng nhu nhược của chế độ đối với sự cao ngạo và bắt nạt của Trung Quốc.

Trả lời phỏng vấn trực tuyến với phóng viên AP, một biên tập viên DLB tự nhận là vui mừng với “tai tiếng” mới của blog. Ông nói là vào ngày công bố chỉ thị của chính phủ, số lượng truy cập hàng ngày tăng gấp đôi, lên tới hơn nửa triệu.

Trong khi đó, dường như không bối rối bởi sự đe dọa trừng phạt, biên tập viên của QLB tiếp tục đăng các bài thô bỉ nhắm vào thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các tay chân của ông. Mặt khác, Biển Đông, trang web chống ông Sang, lại im lặng.

Có lẽ để nhấn mạnh tính trung lập của mình trong cuộc ẩu đả nội bộ đảng, ngày 14 tháng 9, DLB đăng một bài phân tích, lập luận rằng nếu ông Dũng chiếm ưu thế, Việt Nam sẽ tiếp tục đắm mình trong tham nhũng và gia đình trị, và nếu bị đối thủ lật đổ, một chính phủ do ông Sang điều khiển sẽ chỉ là con rối của Bắc Kinh.

Phương tiện truyền thông chính thống của Việt Nam đã nghiêm túc tuân theo chỉ đạo của Chính phủ với những bài viết phân tích những nguy hiểm gây ra bởi các blog chính trị nếu không kiểm soát. Nhiều bài chỉ đơn thuần là bản sao chép do Thông Tấn xã Việt Nam cung cấp. Dường như các tờ báo không ai dám ám chỉ rằng, trên thực tế chỉ thị nhằm mục đích đàn áp việc tung tin về những chuyện thâm cung bí sử dơ bẩn của chế độ.

Theo tờ Quân Đội Nhân Dân (QĐND), một tờ báo không bao giờ đi chệch đường lối của đảng, vấn đề là “các nhà trí thức, các nhà phê bình xã hội, kể cả các quan chức và các đảng viên đã về hưu hoặc đang công tác” có ý tốt, bị ngấm ngầm lôi kéo bởi bàn tay vô hình của các “tổ chức ở nước ngoài”. Theo các nguồn tin ở Cục An ninh Quốc gia, có hơn 400 tổ chức phản động trong và ngoài nước đã đăng tải những bài viết bóp méo và nói xấu trên internet, QĐND kết luận rằng việc loại bỏ những hành vi xấu như vậy, thực sự là một nhiệm vụ của Hercules (khó gánh nỗi). Giống như con thú mình rắn Hydra thần thoại, mỗi khi bị Hercules chặt đứt đầu, nó lại mọc ra đầu mới, thế giới blog vốn không thể kiểm soát được, tờ báo quân đội nói — nghĩa là, trừ khi chính phủ tăng cường các cơ quan an ninh với nhiệm vụ rõ ràng hơn, đầu tư nhiều hơn và luật pháp gắt gao hơn.

Việc tăng cường đó có thể làm được mà cũng có thể không. Có nhiều điều quan trọng hơn cho tương lai của Việt Nam thay vì cố gắng hoài công để giám sát Internet là sự thách thức giữa Chủ tịch nước Sang và Thủ tướng Dũng.

Hai người đã là đối thủ trong nhiều năm. Ông Sang, theo các nhà quan sát Đảng Cộng sản Việt Nam, đã cố lật ông Dũng xuống trong quá trình chuẩn bị Đại hội Đảng hồi tháng 1 năm 2011. Ông Sang đã thất bại.  Mặc dù bị cáo buộc quản lý nền kinh tế kém và nhẹ tay với bê bối, ông Dũng đã nắm chắc thêm một nhiệm kỳ thủ tướng 5 năm nữa. Ông Sang được an ủi bằng chức Chủ tịch nước, một vai trò chủ yếu có tính nghi thức. Vị trí thứ ba trong bộ ba lãnh đạo Việt Nam là Tổng bí thư Đảng Cộng sản, rơi vào tay ông Nguyễn Phú Trọng, một chuyên gia tư tưởng đã từng giữ chức vụ đáng tin cẩn là lèo lái Quốc Hội.

Điều đó lẽ ra đã sắp xếp hoàn tất mọi việc cho thêm 5 năm nữa, nhưng không được như vậy. Lập luận của đa số các nhà phân tích rằng chính ông Sang đã thuyết phục ông Trọng khởi động “chiến dịch xây dựng đảng” vào tháng 2 vừa qua. Ông Sang được cho là đã lợi dụng mối quan ngại sâu sắc của ông Trọng rằng việc tham ô và hối lộ của các đảng viên đã xói mòn mạnh sự nễ trọng của dân chúng đối với các lãnh đạo. Chiến dịch này, một cách thực hành kiểu Lenin cổ điển về “phê bình và tự phê bình” từ trên xuống dưới, đang đạt tới cao trào.

Ông Dũng được coi là bị suy yếu. Ngoài bầu Kiên ra, một số doanh nhân khác có dính dáng đến Thủ tướng đã bị bắt giữ trong những tuần gần đây. Phải mất gần ba tháng để có được sự đồng thuận của Ban Bí thư đảng đối với động thái của ông Dũng hồi tuần trước chống lại Quan Làm Báo, và như đã nói ở trên, QLB vẫn tiếp tục tấn công mạnh vào Thủ tướng, chính phủ và các cộng sự của ông.

Quan trọng là các quy tắc của chiến dịch cải cách đảng đề ra việc lấy phiếu tín nhiệm các đảng viên để xác định và loại bỏ các quan chức làm việc không hiệu quả. Hơn nữa, tin đồn đang lan ra rằng Trung ương Đảng sẽ có phiên họp đặc biệt vào tháng 10.

Theo quá khứ thì, có khả năng rất ít rằng Trung ương Đảng sẽ bỏ phiếu loại Chủ tịch Sang hoặc Thủ tướng Dũng khỏi chức vụ. Nhiều người trong số 170 uỷ viên này có thể sẽ muốn hai người bắt tay nhau và trở lại công việc của mình. Tuy nhiên, việc kình chống giữa ông Sang và ông Dũng là có thật, nó công khai và nằm trên các khác biệt thật sự trong tính cách và quan điểm về chính sách. Bây giờ khó có thể nào nhét ông thần vào chai trở lại.

Nguồn: Asia Times

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Mỹ lại “vừa đấm vừa xoa” Trung Quốc

20 Th9

 

 

Mỹ lại “vừa đấm vừa xoa” Trung Quốc

   

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta (bên trái) trong cuộc gặp với Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
 

 

 

 

 

 

 

 

 

(VnMedia)

Sau khi cùng với đồng minh Nhật Bản ra “cú đấm bất ngờ” với Trung Quốc, ông chủ Lầu Năm Góc lại có hành động xoa dịu Bắc Kinh bằng việc trấn an nỗi quan ngại của nước này về sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Châu Á.
 
Nhật, Mỹ ra “cú đấm bất ngờ” với Trung Quốc
 
Giữa lúc căng thẳng Trung – Nhật vì tranh chấp lãnh thổ quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang lên cao trào, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã thực hiện một chuyến công du kéo dài một tuần đến khu vực Châu Á. Những chặng dừng chân mà ông chọn trong chuyến đi lần này gồm Nhật Bản, Trung Quốc và New Zealand.
 
Chuyến công du của ông chủ Lầu Năm Góc thu hút sự quan tâm lớn của dư luận thế giới bởi người ta tò mò muốn biết phản ứng của Mỹ thế nào trước cuộc đối đầu căng thẳng giữa một bên là đồng minh thân thiết của họ – Nhật Bản với bên kia là đối thủ lớn của họ – Trung Quốc.
 
Mỹ được cho là đang rất khó xử trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản. Về lý thuyết, Mỹ sẽ phải đứng về phía Nhật Bản bởi Mỹ là đồng minh lớn nhất của nước Châu Á này. Hơn nữa, hai nước Mỹ và Nhật Bản còn có ràng buộc với nhau bởi một Hiệp ước phòng thủ chung. Tuy nhiên, xét trên thực tế, Mỹ hoàn toàn không muốn gây căng thẳng quá mức với Trung Quốc bởi điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ.
 
Vì lý do trên, trong chuyến công du Châu Á lần này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta được cho là sẽ phải thực hiện một nhiệm vụ khó khăn là làm sao xử lý khéo léo được cuộc đối đầu hiện nay giữa Tokyo và Bắc Kinh. Không rõ là ông Panetta có thành công trong việc thực hiện được nhiệm vụ quan trọng đó hay không, nhưng tại Nhật Bản, ông này đã “bất ngờ ra đòn” với Trung Quốc.
 
Hôm 17/9, các quan chức Mỹ và Nhật Bản thông báo, họ đã đạt được sự nhất trí về việc thiết lập một hệ thống phòng thủ tên lửa thứ hai ở Nhật Bản. Phát biểu về sự kiện này, Bộ trưởng Panetta cho biết: “Mục đích thiết lập lá chắn tên lửa mới là để nâng cao khả năng bảo vệ Nhật Bản của chúng tôi. Hệ thống lá chắn đó cũng được thiết kế để giúp cho các hoạt động triển khai quân Mỹ trong khu vực. Nó còn hiệu quả trong việc bảo vệ đất nước Mỹ khỏi mối đe doạ tên lửa đạn đạo từ Triều Tiên”.
 
Mặc dù Bộ trưởng Panetta khẳng định, hệ thống phòng thủ tên lửa Mỹ – Nhật mới không nhằm vào Trung Quốc nhưng chắc chắn, Bắc Kinh sẽ không tin vào lời khẳng định này, nhất là khi Trung Quốc và Nhật Bản đang ở bờ vực của một cuộc xung đột. Trung Quốc tin rằng, đây là một bước đi mới trong kế hoạch bao vây, kiềm chế họ của Mỹ.
 
Sau “đấm” là “xoa”
 
Khi mà Trung Quốc đang bực tức trước kế hoạch thiết lập hệ thống lá chắn tên lửa mới của Mỹ và Nhật Bản, ông chủ Lầu Năm Góc đã ngay lập tức có hành động xoa dịu.
 
Trong bài phát biểu trực tiếp trước các sĩ quan trẻ Trung Quốc ngày hôm nay (19/9), Bộ trưởng Panetta đã tìm cách trấn an Bắc Kinh rằng, việc Mỹ đưa thêm lực lượng, tàu chiến và triển khai hệ thống lá chắn tên lửa trong khu vực không nhằm vào cường quốc Châu Á.
 
Kể từ khi Lầu Năm Góc thông báo về kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương hồi đầu năm nay, Bắc Kinh luôn cảm thấy bất an, “đứng ngồi không yên”.
 
Đề cập đến nỗi quan ngại của Trung Quốc, Bộ trưởng Panetta cho biết: “Kế hoạch sắp xếp lại lực lượng ở Châu Á – Thái Bình Dương của chúng tôi không phải là một nỗ lực nhằm kiềm chế Trung Quốc. Đó là một nỗ lực nhằm tăng cường hợp tác với Trung Quốc và mở rộng vai trò của mối quan hệ hợp tác này trong khu vực Thái Bình Dương. Kế hoạch của chúng tôi là tạo ra một mô hình mới trong quan hệ giữa hai cường quốc Thái Bình Dương”, ông Panetta đã nói như vậy tại một trường học của quân đội Trung Quốc.
 
Ông chủ Lầu Năm Góc thừa nhận, việc cải thiện quan hệ và xây dựng lòng tin giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ mất nhiều thời gian.

Quan hệ giữa hai siêu cường thế giới Mỹ – Trung trong năm nay liên tiếp rơi vào căng thẳng vì kế hoạch quay trở lại Châu Á của Mỹ cũng như một loạt các cuộc đối đầu giữa Trung Quốc với các đồng minh của Mỹ. Bắc Kinh tin rằng, Washington đang nỗ lực thắt chặt vòng vây xung quanh họ khi liên tiếp củng cố mối quan hệ với một loạt các nước Châu Á. 

Mấy tháng vừa qua, Washington và Bắc Kinh còn “cơm không lành canh không ngọt” vì cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Philippines và Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough thuộc Biển Đông. Trong cuộc tranh chấp này, Bắc Kinh đã nhiều lần tỏ ý không hài lòng vì cho rằng Washington đang can thiệp vào cuộc tranh chấp của họ với Manila. Hiện tại, Mỹ lại đang bị lôi vào cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Ngoài ra, việc Washington ủng hộ Đài Loan cũng khiến Trung Quốc tức giận.

 

Kiệt Linh

Tranh chấp Senkaku: Tại sao Mỹ phải có trách nhiệm? – TVN

20 Th9

Tranh chấp Senkaku: Tại sao Mỹ phải có trách nhiệm?

Tác giả: Đình Ngân theo foreign policy
 
 
 Tranh chấp xung quanh nhóm đảo nhỏ mà phía Nhật gọi là Senkaku còn phía Trung Quốc gọi là Điếu Ngư trên biển Hoa Đông đã làm nóng bầu không khí ngoại giao láng giềng sau khi chính phủ Nhật tuyên bố mua lại các đảo từ các chủ sở hữu tư nhân với giá khoảng 30 triệu USD.

Trung Quốc đã đáp trả bằng cách điều hai tàu tới khu vực trên và, theo truyền thông nhà nước nước này, Bắc Kinh còn vạch ra cả một “kế hoạch hành động” để bảo vệ các đảo.

Người Mỹ có thể nhìn nhận đây là vấn đề giửa hai kẻ thù lâu năm của nhau ở châu Á và Mỹ chẳng cần can dự vào – và xét theo cuộc tiếp đón Hillary Clinton tại Bắc Kinh tuần trước nữa, chính phủ Trung Quốc có lẽ cũng đã nhìn nhận như vậy – nhưng thực tế Mỹ vẫn đóng một vai trò nhất quán trong tranh chấp này ngay từ đầu và rất có khả năng sẽ còn tiếp tục dính líu.

GlobalSecurity.org ghi chép lại khá rõ lịch sử cuộc tranh chấp này. Giống như phần lớn các tranh chấp đảo tại châu Á, tranh cãi nổi lên với việc “đòi phân chia lại lãnh thổ” do Nhật Bản chiếm giữ trong chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù nguyên nhân gốc dễ bắt nguồn từ chiến tranh Trung-Nhật 1894-1895. Theo “phiên bản” Trung Quốc ghi chép về sự kiện, Điếu Ngư thuộc quản lý của Đài Loan – địa phận chịu sự quản lý của Trung Quốc – trước chiến tranh, và được nhượng lại cho Nhật Bản, cùng với Đài Loan và Bành Hồ sau khi Trung Quốc thua trận.

Nhật Bản tuyên bố sẽ không bao giờ trao trả lại các đảo không người ở này cho Trung Quốc. Theo phía Nhật, chúng chưa bao giờ chịu sự quản lý của Trung Quốc và do đó không phải là một phần trong cuộc chuyển nhượng đất đai khi ấy. Đúng hơn, chúng chỉ đơn giản được Nhật Bản tuyên bố là đảo vô chủ vào năm 1895, khi chính phủ nước này để lại dấu hiệu chỉ định đây là lãnh thổ Nhật Bản và là một phần trong quần đảo Nansei Shoto ở phía nam Nhật Bản từ khi đó.

Theo Nhật Bản, Trung Quốc chưa bao giờ tranh cãi các tuyên bố chủ quyền đối với các đảo này cho tới khi các trữ lượng năng lượng lớn gần đó được phát hiện vào những năm 1970.

Nước Mỹ xuất hiện trong bức tranh trên sau khi Nhật Bản thất trận trong thế chiến thứ hai. Hiệp ước Hòa bình San Francisco giữa Tokyo và phe Đồng minh ký kết năm 1951 không nhắc đến Senkaku một cách cụ thể, nhưng tuyên bố “Nhật Bản sẽ đồng tình trong bất cứ đề xuất nào của Mỹ và Liên hợp quốc theo hệ thống ủy thác của của hòa ước, với Mỹ là người có quyền quản lý duy nhất Nansei Shoto từ phía nam 29 vĩ độ bắc”. Điều này dường như bao gồm cả Senkaku, và thực tế, Mỹ đã quản lý các đảo này trong vòng vài năm và quân đội sử dụng chúng để luyện tập ném bom. Cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Đài Loan đều không được mời tới hội nghị này và đều không phải là các bên trong hiệp ước nói trên.

Năm 1971, Mỹ và Nhật Bản ký một hiệp định trao trả Okinawa và các đảo xung quanh cho Nhật Bản quản lý, trong đó tuyên bố “Hoa Kỳ trao trả lại tất cả các quyền và lợi ích cho phía Nhật Bản theo Điều III của Hòa ước với Nhật Bản đã ký kết tại thành phố San Francisco”.

Trung Quốc thì viện dẫn hiệp ước đã ký với Mỹ, tuyên bố Cairo do Winston Churchill, Franklin Roosevelt và Chiang Kai-shek, thông qua năm 1943. Ba nhà lãnh đạo đồng ý, sau chiến tranh “Nhật Bản sẽ rút khỏi các toàn bộ các đảo Thái Bình Dương đã chiếm đóng từ khi bắt đầu chiến tranh thế giới thứ nhất vào năm 1914, và toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản đã lấy của Trung Quốc, như Mãn Châu, Formosa (của Đài Loan) và Bành Hồ, sẽ được trao trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa”. Nếu ai đó đồng ý, giống như Bắc Kinh, thì Điếu Ngư là một phần của Đài Loan do Trung Quốc quản lý trước 1985, và điều đó nghĩa là, nó phải được trao trả cho Trung Quốc cùng với các đảo đã chiếm khác. (Nó cũng có nghĩa là quân đội Mỹ đã đánh bom vào lãnh thổ Trung Quốc trong suốt những năm 1950 và 1960, nhưng đó là chuyện khác).

Bất chấp lịch sử nói trên, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tuyên bố “Hoa Kỳ không đưa ra quan điểm về vấn đề chủ quyền cuối cùng đối với quần đảo Senkaku”. Nhưng làm phức tạp hơn vấn đề này chính là Hiệp ước An ninh và Hợp tác tương hỗ giữa Mỹ và Nhật Bản 1960. Điều 5 của Hiệp ước ghi rõ “mỗi bên công nhận rằng bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào phần lãnh thổ thuộc quyền quản lý của Nhật Bản sẽ gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh của Nhật Bản. Mỗi bên sẽ hành động đáp trả mối nguy hiểm chung theo đúng các điều khoản hiến pháp và các biện pháp liên quan”.

Theo tin tức của hãng tin Kyodo của Nhật bản, dẫn lời một quan chức Mỹ không cho biết tên, “các đảo này “rơi vào phạm vi của Điều 5”, nghĩa là nếu Trung Quốc hành động để khẳng định chủ quyền đối với các đảo, Mỹ sẽ có nghĩa vụ can thiệp ủng hộ phía Nhật Bản. Nếu Mỹ không hành động, có thể coi đó là một sự ngầm thừa nhận rằng các đảo đó không phải thuộc lãnh thổ Nhật Bản.

Nói cách khác, mọi chuyện sẽ trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Và dù ai đó có muốn điều đó hay không thì Washington cũng vẫn đang dính líu.

Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và an ninh châu Á – TQ

20 Th9

Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và an ninh châu Á

(Toquoc)- Là nước lớn châu Á và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc sẽ đi về đâu, điều đó quả thực sẽ ảnh hưởng đến chiến tranh và hòa bình ở cả châu Á.

Những cuộc biểu tình chống Nhật đã biến thành bạo loạn lan ra hơn 100 tỉnh thành ở Trung Quốc. Lòng yêu nước của người Trung Quốc đang bị một số tờ báo diều hâu lợi dụng, kích động đẩy lên đến cao trào là còn dao hai lưỡi với chính quyền Bắc Kinh trong bối cảnh cuộc chuyển giao quyền lực nhạy cảm sẽ diễn ra sau Đại hội Đảng dự kiến vào tháng 10 tới.

Trên thực tế, từ khi Liên Xô tan rã và Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, các nước đều từng giờ từng phút quan tâm đến xu hướng của chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc. Từ khi cải cách mở cửa, mặc dù Chính phủ Trung Quốc luôn nhấn mạnh tính chất hòa bình trong phát triển của Trung Quốc, đề ra chính sách ngoại giao “giấu mình chờ thời” và “trỗi dậy hòa bình” v.v., nhưng dường như có nhiều người nghiêng về hướng tin tưởng rằng chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc cuối cùng sẽ diễn biến thành chủ nghĩa dân tộc như ở Đức và Nhật Bản trước đây, và trở thành căn nguyên tiềm ẩn của xung đột và chiến tranh.

Tuy nhiên, điều hết sức hoang đường là càng nghiên cứu nhiều về chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc thì người ta lại càng thể hiện rõ thái độ thiên kiến thâm căn cố đế của họ đối với Trung Quốc. Những thiên kiến này không những tồn tại ở phương Tây, nổi bật là ở Mỹ, mà còn ở các các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc, nhất là một số nước đang có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc. Những thiên kiến nói trên thể hiện ở ba phương diện sau:


Người biểu tình chống Nhật trước đại sứ quán Nhật Bản ở Bắc Kinh, 18/9

Thứ nhất là ý thức hệ. Xuất phát từ ý thức hệ để đo lường chủ nghĩa dân tộc, đó là cách thường thấy nhất ở các nước dân chủ. Nói một cách đơn giản, chủ nghĩa dân tộc ở các nước dân chủ đều là bình thường, là biểu hiện bình thường của ý thức hệ, nhưng chủ nghĩa dân tộc xảy ra ở các nước phi dân chủ lại thường là sản phẩm huy động của chính phủ theo chủ nghĩa quyền uy. Vì thế, mặc dù Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn độ đều tồn tại chủ nghĩa dân tộc, đối tượng bị chỉ trích thường là chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc ở các nước dân chủ không những không bị chỉ trích mà lại thường được ca ngợi.

Thứ hai là địa chính trị và địa chiến lược. Ở phương diện này lợi ích chiến lược sẽ nhiều hơn. Một số nước thường coi chủ nghĩa dân tộc ở các nước có lợi ích địa chính trị và địa chiến lược gắn với nước mình là bình thường và còn tán dương, nhưng lại coi chủ nghĩa dân tộc ở những nước có lợi ích địa chính trị và địa chiến lược xung đột hoặc cạnh tranh với nước mình là không bình thường, đồng thời còn bị khiển trách. Điều này được thể hiện rất rõ trong phương diện đối xử của Mỹ và phương Tây với chủ nghĩa dân tộc xảy ra ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Philippines.

Thứ ba là đạo đức. Đây là phương diện phổ biến nhất, cảm tính nhất, hầu như có thể xảy ra ở bất cứ tầng lớp nào trong một xã hội. Việc phán đoán đạo đức đối với chủ nghĩa dân tộc là thường thấy giữa nước lớn với nước nhỏ, giữa nước mạnh và nước yếu. Rất đơn giản, người ta khiển trách nước lớn và cường quốc lừa gạt nước nhỏ và nước yếu nhưng lại ca ngợi thách thức của nước nhỏ và nước yếu đối với nước lớn. chủ nghĩa dân tộc cũng vậy.

Chính phủ xử lý thế nào trong quan hệ với chủ nghĩa dân tộc

Về mặt lý thuyết, vấn đề cần phải xử lý đối với chủ nghĩa dân tộc đó là quan hệ giữa mình và người khác, đặc điểm lớn nhất trong đó là luôn nghĩ mình đúng, còn người khác lúc nào cũng sai. Trong rất nhiều trường hợp, chủ nghĩa dân tộc vừa là thiên kiến với người khác, cũng vừa là thiên kiến với chính mình. Vì thế nếu xử lý không thỏa đáng, không những sẽ gây tổn hại cho lợi ích người khác, cũng vừa gây tổn hại cho lợi ích của bản thân mình. Kinh nghiệm cho thấy chủ nghĩa dân tộc đã dẫn đến không biết bao nhiêu lần chiến tranh và xung đột trong lịch sử, vừa xảy ra giữa các nước có chủ quyền, cũng vừa xảy ra trong nội bộ nước chủ quyền. Sau khi chiến tranh kết thúc, xu hướng này của chủ nghĩa dân tộc vẫn tiếp tục dai dẳng.

Liệu chủ nghĩa dân tộc ở các nước châu Á có diễn biến thành xung đột, thậm chí là chiến tranh giữa các nước hay không, vấn đề này chủ yếu liên quan đến việc xử lý quan hệ với chủ nghĩa dân tộc của chính phủ các nước. chủ nghĩa dân tộc có thể không tránh được nhưng xung đột và chiến tranh do chủ nghĩa dân tộc gây nên không phải không tránh được, trong đó chính phủ đóng vai trò quan trọng nhất.

Xem xét quan hệ giữa chính phủ với chủ nghĩa dân tộc, có thể phân thành một số loại hình sau:

Loại thứ nhất, chính phủ huy động, trong đó lại có thể phân thành hai loại nhỏ

Một là, chính phủ chủ động tạo ra chủ nghĩa dân tộc. Ở một số xã hội, chủ nghĩa dân tộc vốn không mạnh, nhưng để đạt được mục đích của mình, chính phủ đã sử dụng các biện pháp và các nguồn lực (chẳng hạn như cơ cấu tổ chức hoặc ý thức hệ) để tạo ra một loại chủ nghĩa dân tộc theo cách mà chính phủ đó yêu cầu. Các nước châu Âu trong thời kỳ đầu là như vậy, kết quả huy động là đã làm tăng thêm được sự thừa nhận đối với tư cách quốc gia chủ quyền, nhưng cũng đồng thời dẫn đến không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh và xung đột. Trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, các chính phủ Đức và Nhật Bản đã tạo ra thứ chủ nghĩa dân tộc mang tính xâm lược rất mạnh.

Hai là chủ nghĩa dân tộc đã có sẵn trong xã hội, chính phủ hoặc chính khách đã lồng tính toán của mình vào đó để đạt được mục tiêu lợi ích như vậy.

Loại thứ hai, phản ứng của chính phủ. Loại hình này cụ thể là trong xã hội đang tồn tại sẵn tinh thần và tình cảm dân tộc, bất cứ lúc nào cũng có thể nổ ra. Trong một số tình huống, chủ nghĩa dân tộc nổ ra là phản ứng đối với một sự kiện nào đó; trong một số tình huống khác, chủ nghĩa dân tộc nổ ra, bản thân đã có thể tạo ra sự kiện. Mỗi khi nổ ra, Chủ nghĩa dân tộc đều có ảnh hưởng với cả bên trong và bên ngoài, vì thế các chính phủ không thể không có phản ứng.

Loại thứ ba, Chính phủ lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để chứng minh cho sự hợp lý trong chính sách của mình. Loại hình này là ở giữa hai loại hình nói trên. Nếu chủ nghĩa dân tộc trở thành một kiểu tồn tại khách quan, sẽ không có chính phủ nào có thể hoàn toàn coi thường sự tồn tại đó, cho dù đó là Chính phủ dân tộc hay là Chủ nghĩa quyền uy. Đã là tồn tại khách quan thì ở mức độ nào đó, các chính phủ sẽ đều phải lợi dụng nguồn lực của chủ nghĩa dân tộc để chứng minh cho tính hợp lý trong một số chính sách của mình.

Xét từ ba loại hình quan hệ giữa chính phủ với chủ nghĩa dân tộc nói trên, có thể thấy được xu hướng phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở các nước châu Á. Ở Trung Quốc, tính chất hợp lý trong chính sách của Chính phủ chủ yếu không nằm ở ý dân, đặc biệt là ý thức dân tộc của dân chúng. Chính phủ vẫn có tính tự chủ rất mạnh để xử lý mối quan hệ với chủ nghĩa dân tộc. Trong thực tiễn quả đúng như vậy. Trong thời đại Mao Trạch Đông, bởi quốc gia yếu nên chủ nghĩa dân tộc thuộc loại hình chính phủ huy động, điều này được thể hiện đặc biệt rõ trong phương diện chống các bá quyền Mỹ và Liên Xô. Nhưng từ khi cải cách mở cửa đến nay, Chính phủ Trung Quốc nhắm vào chủ nghĩa dân tộc chủ yếu là tăng cường quản lý và kiểm soát. Trung Quốc mặc dù cũng đã trải qua phong trào yêu nước, cũng đã có ảnh hưởng đối với chủ nghĩa dân tộc về phương diện xã hội, nhưng mục tiêu chính của Chủ nghĩa yêu nước là ổn định nội bộ chứ không phải với bên ngoài. Xét từ góc độ chính phủ thì chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc phần lớn là có tính chất phản ứng, tức phản ứng đối với chủ nghĩa dân tộc trên bình diện xã hội.

Chính phủ Trung Quốc kiểm soát và quản lý chủ nghĩa dân tộc

Là nước lớn đang trỗi dậy, chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc hiện nay càng ngày càng thể hiện rõ tính tự phát. Cũng có thể nói chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc hiện nay đã biến thành một hình thức tồn tại khách quan. Chính phủ có khả năng lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để chứng minh cho tính hợp lý của chính sách, tuy nhiên, nếu không tự kiềm chế, chủ nghĩa dân tộc sẽ là con dao hai lưỡi với chính quyền

Xung đột Trung- Nhật về chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư thử thách cách xử lý của chính quyền Bắc Kinh với chủ nghĩa dân tộc. Tờ Minh Báo của Hong Kong cho rằng chính phủ Trung Quốc đã kích động một cuộc “chiến tranh nhân dân” nhằm vào Nhật Bản. Bằng chứng nằm ở bình luận “bật đèn xanh” của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi về các cuộc biểu tình chống Nhật ngày 11/9. Một mặt kêu gọi người biểu tình chừng mực, mặt khác, ông Hồng lại bảo “có thể hiểu được lòng yêu nước” của họ và cho rằng bảo vệ đất nước trước ngoại xâm là trách nhiệm của từng công dân Trung Quốc, bất kể là thường dân hay tướng sĩ.

Tuy nhiên, ngày 19/9, giới truyền thông Trung Quốc dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi cho hay, chính phủ Trung Quốc không xúi giục hay ủng hộ người dân nước này biểu tình chống Nhật Bản. Ông Hồng khẳng định, tất cả hoạt động biểu tình chống Nhật Bản đã và đang diễn ra trên nhiều địa phương tại Trung Quốc hoàn toàn là hành vi tự phát. Đồng thời ông Hồng Lỗi cũng lớn tiếng yêu cầu: “Nhật Bản cần phải tôn trọng lập trường nghiêm túc của Trung Quốc, tôn trọng tiếng nói chính nghĩa của người dân Trung Quốc, không được một mình một kiểu, mê muội sai lầm”. Một lần nữa ông Hồng khẳng định rằng, nguyên nhân chính của các cuộc biểu tình chống Nhật Bản nổ ra tại Trung Quốc là do Nội các Nhật Bản quyết định mua đảo “sai lầm và phi pháp” gây ra.

Trong quan hệ với Trung Quốc, chủ nghĩa dân tộc ở các nước Việt Nam, Philippines cũng đang mạnh lên. So với Trung Quốc, các nước này là nước nhỏ đang phát triển, đồng thời Chính phủ các nước này cũng yếu hơn Chính phủ Trung Quốc rất nhiều. Vì thế Chính phủ các nước này phải huy động chủ nghĩa dân tộc để có được tính hợp pháp của chính phủ, trong khi làm hòa hoãn mâu thuẫn trong nước cũng đồng thời gây tổn hại đến quan hệ với Trung Quốc. Điều quan trọng hơn nữa là, chủ nghĩa dân tộc nhắm vào Trung Quốc ở các nước này thường lôi kéo một nước lớn khác là nước Mỹ vào, trong khi Mỹ xuất phát từ nhu cầu địa-chính trị nên thường hùa vào thêm, làm cho tính chất quốc tế của chủ nghĩa dân tộc ở các nước này phức tạp hơn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chính phủ các nước có xu hướng yếu đi, một số chính phủ yếu đi nhanh hơn so với một số chính phủ khác. Thời đại này về lý thuyết vẫn nói là thời đại của quốc gia chủ quyền, nhưng chính phủ của quốc gia chủ quyền đã rất khó kiểm soát được dân chúng do mình quản lý như trong truyền thống. Đồng thời lực lượng xã hội tăng nhanh, ngày càng đóng vai trò quan trọng trên vũ đài chính trị thế giới.

Có điều, chủ nghĩa dân tộc trong xã hội có thể dẫn đến tranh chấp và xung đột giữa các nước, nhưng trong nhân dân không có khả năng để giải quyết những tranh chấp và xung đột quốc tế, cuối cùng vẫn phải nhờ đến chính phủ của quốc gia chủ quyền. Vì thế, giữa các chính phủ quốc gia chủ quyền lại càng phải hợp tác, phải xử lý vấn đề chủ nghĩa dân tộc ở nước mình bằng lý tính nhiều hơn chứ không phải xuất phát từ tư lợi để huy động chủ nghĩa dân tộc một cách không có trách nhiệm, đơn giản đổ trách nhiệm cho nước khác, đặc biệt đối với Chính phủ Trung Quốc với tư cách là một Trung Quốc “lớn”, “mạnh” và “phi dân chủ” trong con mắt của họ.

Dù nói về kinh nghiệm lịch sử hay thách thức hiện thực, làm thế nào để đối phó với chủ nghĩa dân tộc tồn tại khách quan, đó vẫn là một nhiệm vụ khó khăn đối với tất cả chính phủ ở các nước. Nếu chủ nghĩa dân tộc vượt quá tầm kiểm soát và mạnh lên đến mức độ nào đó thì chắc chắn sẽ bị lực lượng chính trị cấp tiến ở các nước kìm lại, tiếp nữa là gây sức ép với cả chính quyền, từ đó khiến cho chủ nghĩa dân tộc đi đến chỗ xung đột, thậm chí là chiến tranh giữa các nước mà không có đường lùi./.

V.V

 

Trung Quốc sẽ tiếp tục ‘cứng rắn’ ở Biển Đông sau Đại hội 18? – NCBĐ

20 Th9

Trung Quốc sẽ tiếp tục ‘cứng rắn’ ở Biển Đông sau Đại hội 18?

dinh tuan anh
 

Cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền sẽ còn tiếp tục sau quá trình chuyển giao lãnh đạo tại Đại hội Đảng lần thứ 18 diễn ra vào mùa thu năm nay và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc vào mùa xuân năm sau.

 

 Trình bày tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện

  Trung Quốc – một cường quốc đang trỗi dậy tại Biển Đông

Người trình bày:

Bonnie S. Glaser

Chuyên gia cấp cao về Nghiên cứu Trung Quốc tại

Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Mỹ (CSIS)

Ngày 12 tháng 09 năm 2012

2172  Tòa nhà Hạ viện Rayburn

 

Thưa bà Chủ tọa, thành viên cao cấp Berman và các quý vị đại biểu, tôi xin cám ơn quý vị đã mời tôi phát biểu điều trần trước Ủy ban về Trung Quốc với tư cách là một cường quốc đang trỗi dậy tại Biển Đông

Biển Đông là một phần của Thái Bình Dương kéo dài từ Xinh-ga-po và eo biển Malacca ở phía tây nam cho tới eo biển Đài Loan ở phía đông bắc. Nước Mỹ có lợi ích rất lớn tại Biển Đông. Trung Quốc, Đài Loan, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin và Việt Nam đều có tuyên bố chủ quyền chồng lấn đối với các đảo và vùng nước liền kề tại khu vực này. Thất bại trong quản lý hòa bình và giải quyết triệt để các yêu sách mâu thuẫn này có thể dẫn đến căng thẳng kéo dài và xung đột quân sự.

Các vùng nước của Biển Đông là một trong những tuyến huyết mạch thương mại quan trọng của thế giới. Tính theo khối lượng trọng tải, mỗi năm hơn một nửa lượng tàu thương mại trên thế giới chạy qua các tuyến đường biển tại đây. Hơn nữa, Biển Đông cũng chứa đựng nguồn tài nguyên cá dồi dào và tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ và khí đốt, có vị trí chiến lược gần với các quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn trên thế giới.

Những cuộc chạm trán xảy ra khá thường xuyên ở Biển Đông từ giữa những năm 1970 cho đến giữa những năm 1990. Một thập kỷ sau đó trôi qua khá bình yên, nhưng căng thẳng đã bùng lên từ năm 2007 với sự gia tăng rõ rệt các vụ đụng độ và tranh cãi. Những nguyên nhân chính của tình trạng căng thẳng leo thang bao gồm: 1) gia tăng lợi ích trong việc thăm dò và khai thác trữ lượng dầu và khí đốt tại Biển Đông; 2) cạnh tranh quyết liệt về nguồn cá khi nguồn cá gần bờ đã dần cạn kiệt; 3) hạn chót tháng 5/2009 để các quốc gia ven biển đệ trình yêu cầu về quyền thềm lục địa mở rộng nằm ngoài 200 hải lý cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc; 4) gia tăng sức ép chủ nghĩa dân tộc đối với các chính phủ trong việc bảo vệ yêu sách chủ quyền lãnh thổ và hàng hải của họ.

            Dưới đây là một số ví dụ về các hoạt động gây bất ổn vài năm gần đây[1]:

  • Trung Quốc thách thức và đôi lúc đe dọa các công ty dầu khí nước ngoài kể cả các công ty Mỹ đầu tư vào các lô dầu mỏ và khí đốt ngoài khơi Việt Nam
  • Trung Quốc bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam và được cho là đã bắn vào các thuyền cá Việt Nam gần các đảo Trung Quốc đang chiếm giữ tại Hoàng Sa.
  • Tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam khi các tàu này đang thực hiện thăm dò địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Việt Nam (tháng 5 và 6/2012).
  • Công ty khai thác dầu khí xa bờ Trung Quốc (CNOOC) mời thầu 9 lô dầu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và chồng lấn với các lô được PetroVietnam mời các tập đoàn năng lượng nước ngoài khai thác (tháng 6/2012).
  • Việt Nam thực hiện các chuyến bay tuần tra trên khu vực quần đảo Trường Sa (tháng 6/2012).
  • Quân đội Trung Quốc tuyên bố triển khai tuần tra hải quân và không quân sẵn sàng chiến đấu quanh khu vực quần đảo Trường Sa để “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích an ninh phát triển của Trung Quốc.” (tháng 6/2012)
  • Trung Quốc đưa một đội gồm 30 tàu đánh cá được hộ tống bởi tàu Hải giám trọng tải 3000 tấn tới vùng biển tranh chấp tại Trường Sa (tháng 7/2012)
  • Quốc hội Việt Nam thông qua Luật biển khẳng định đường cơ sở, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng nước kế cận, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các khu vực yêu sách khác. (tháng 6/2012)
  • Đáp trả lại hành động của Việt Nam, Trung Quốc đã nâng cấp đơn vị hành chính cho thành phố Tam Sa ở đảo Hải Nam (tháng 6/2012) đồng thời thiết lập một căn cứ đồn trú quân sự tại đảo Phú Lâm (tháng 7/2012)
  • Hải quân Phi-líp-pin điều tàu chiến đến khu vực Bãi cạn Scarborough để điều tra sự hiện diện của 8 tàu đánh cá Trung Quốc (tháng 4/2012)
  • Đáp trả lại hành động này của Phi-líp-pin ở Bãi cạn Scarborough, Trung Quốc đã: a) triển khai tàu có lúc lên đến gần 100 chiếc bao gồm tàu hải giám, tàu cá, tàu phục vụ ở khu vực bãi cạn; b) mở rộng lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc đến vùng biển quanh Bãi cạn Scarborough; c) kiểm dịch hoa quả nhập khẩu từ Phi-líp-pin; d) không tuân thủ thỏa thuận với Manila về việc rút các tàu khỏi khu vực; và e) bao vây ngăn chặn để ngư dân không vào được khu vực bãi cạn (tháng 4-8/2012)
  • Bắc Kinh đã sử dụng ảnh hưởng của mình đối với Cam-pu-chia, hiện là Chủ tịch luân phiên của ASEAN để ngăn việc đưa các vấn đề Bãi cạn Scarborough và vùng đặc quyền kinh tế vào thông cáo chung của Hội nghị thường niên của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN. Điều này đã dẫn đến việc lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm ASEAN không đưa ra được tuyên bố chung.

Rõ ràng một chu kỳ các hành động-phản ứng (action-reaction cycle) theo xu hướng tiêu cực đang diễn ra ở Biển Đông. Tuy nhiên, có thể thấy rằng những yêu sách, chính sách, tham vọng, hành vi và năng lực của Trung Quốc vượt xa so với các bên tranh chấp khác. Yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc chỉ dựa vào những cơ sở như phát hiện đầu tiên, bằng chứng lịch sử và luật pháp quốc tế là rất mập mờ và có khuynh hướng bành trướng. Bắc Kinh luôn từ chối tham gia đàm phán đa phương đối với các tranh chấp biển và lãnh thổ trong khu vực và mong muốn dàn xếp thông qua các cơ chế song phương để từ đó Trung Quốc dễ bề sử dụng lợi thế của mình ép các bên nhỏ và yếu hơn. Trung Quốc phản đối vai trò của Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) hay Toà án Quốc tế về Luật biển (ITLOS) trong việc giải quyết tranh chấp biển và lãnh thổ ở Biển Đông. Dù Bắc Kinh cuối cùng đã đồng ý đàm phán để tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC), nhưng quan chức cao cấp Trung Quốc gần đây lại tuyên bố việc thảo luận chỉ có thể tiến hành được khi “các điều kiện đã chín muồi.”[2] Thay vào đó quan chức Trung Quốc luôn nhấn mạnh Tuyên bố năm 2002 về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) – một tuyên bố không có cơ chế giải quyết tranh chấp và không ràng buộc pháp lý.

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông là có chủ ý và hệ thống; những hành động này không phải là kết quả vô ý của nền chính trị quan liêu và sự hợp tác lỏng lẻo. Nói đúng hơn, hàng loạt hành động của Trung Quốc những tháng gần đây cho thấy điển hình về sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, kiểm soát dân-quân sự và sự hài hòa các mục tiêu chính trị, kinh tế và quân sự.[3] Cách hành xử ngang ngược và đe dọa các bên yêu sách khác là bằng chứng về quyết định đẩy mạnh ngoại giao uy hiếp của những nhà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc. Điều này không chỉ ảnh hưởng đối với Phi-líp-pin và Việt Nam, những đối tượng uy hiếp chính của Trung Quốc, mà còn tác động sâu rộng đến khu vực và thế giới.

Thứ nhất, khuynh hướng xem thường quy tắc ứng xử và luật pháp quốc tế của Trung Quốc là rất đáng lo ngại và có thể tạo nên tiền lệ xấu. Việc Bắc Kinh cố tình từ chối tuân thủ thỏa thuận miệng với Manila rút toàn bộ tàu từ khu vực xung quanh Bãi cạn Scarborough đã tạo nên một hiện trạng có lợi hơn cho Bắc Kinh. Trung Quốc vẫn tuần tra thường xuyên và ngăn chặn ngư dân Phi-líp-pin đánh bắt cá tại những khu vực đó. Không nước nào công khai chỉ trích hành động này. Đây là một tiền lệ rất nguy hiểm ở Biển Đông.

Thứ hai, việc Trung Quốc ngày càng sẵn sàng sử dụng lợi thế kinh tế để buộc các quốc gia phải thay đổi chính sách phù hợp với mong muốn của Bắc Kinh là một xu hướng đáng quan ngại.[4] Hành động Trung Quốc sử dụng lý do kiểm dịch ngăn chặn hoa quả nhập khẩu từ Phi-líp-pin nhằm gây sức ép buộc Phi-líp-pin nhường quyền kiểm soát khu vực Bãi cạn Scarborough là một sự vi phạm trắng trợn các chuẩn mực quốc tế. Các quan chức hải quan Trung Quốc đã đưa ra những luận điệu không có cơ sở rằng hoa quả từ Phi-lip-pin bị nhiễm sâu. Ngay lập tức nền kinh tế Phi-líp-pin bị thiệt hại bởi Phi-líp-pin xuất khẩu gần 1/3 sản lượng chuối cho Trung Quốc, cũng như đu đủ, dứa, xoài và dừa. Thêm vào đó các hãng du lịch Trung Quốc đã hủy bỏ các chuyến bay tới Phi-líp-pin với lý do rằng an ninh của khách du lịch Trung Quốc không được bảo đảm.

Đây chỉ mới là một ví dụ trong hàng loạt trường hợp Trung Quốc sử dụng kinh tế để gây sức ép và xu hướng này ngày càng gia tăng. Tháng 9/2010, Trung Quốc đã ngừng xuất khẩu đất hiếm cho Nhật Bản để trả đũa việc Tokyo bắt giữ thuyền trưởng của tàu cá của Trung Quốc trong vu việc xảy ra gần đảo Senkaku. Cuối năm đó, sau khi giải Nô-ben hoà bình được công bố trao cho Liu Xiaobo  – một người bất đồng chính kiến, Trung Quốc đã tiến hành một loạt hành động nhằm trừng phạt Na-uy, mặc dù việc quyết định trao giải thưởng được thực hiện bởi Ủy ban Nô-ben, hoạt động hoàn toàn độc lập với chính phủ Na-uy. Trung Quốc đã ngưng đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do với Na-uy và áp dụng các quy định kiểm tra thú y mới với cá hồi nhập khẩu từ Na-uy, dẫn đến việc giảm 60% lượng nhập khẩu cá hồi từ Na-uy năm 2011 khi mà nhu cầu thị trường cá hồi trong nước vẫn tăng 30%. Bắc Kinh cũng đã dừng quan hệ ngoại giao bình thường với Na-uy kể từ đó và cho đến nay vẫn chưa được nối lại.

Bắc Kinh xem những vụ việc này như là thành công ngoại giao của họ. Nếu sự uy hiếp kinh tế của Trung Quốc vẫn tiếp tục không bị ngăn chặn, chắc chắn chiến thuật này sẽ còn được lặp đi lặp lại. Các nước khó chống đỡ trước sức ép này có thể buộc phải thay đổi chính sách theo hướng bất lợi cho mình; Trung Quốc vì thế có thể tác động đến ngày càng nhiều các nước trên thế giới có nền kinh tế phụ thuộc vào giao thương với Trung Quốc.

Thứ ba, việc Trung Quốc không thể hiện thiện chí tiến hành các nỗ lực ngoại giao một cách nghiêm túc để giải quyết tranh chấp sẽ là điều đáng lo, nhất là khi Trung Quốc từ chối chấp nhận một khuôn khổ dựa trên luật pháp để kiềm chế hành vi của tất cả các bên. Bắc Kinh cho rằng thời gian đang về phe họ; rằng họ không muốn bị kiềm chế bởi những thỏa thuận mang tính ràng buộc. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ không chỉ trở thành một cường quốc kinh tế trên thế giới mà còn là một cường quốc quân sự và chính trị. Các quốc gia khác, dù là lớn hay nhỏ, cũng buộc phải thích nghi với sự trỗi dậy của Trung Quốc và tôn trọng “lợi ích cốt lõi và những quan tâm chính” của Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ không xem trọng lợi ích và quan tâm của các nước khác. Thiếu vắng một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) có hiệu lực ở Biển Đông, căng thẳng sẽ tiếp tục gia tăng. Khả năng các bên yêu sách sử dụng lực lượng quân sự để bảo vệ lợi ích của họ đi kèm với nguy cơ căng thẳng leo thang không thể bị loại trừ

Hiện đại hóa hải quân và tham vọng của Trung Quốc

Các cường quốc trỗi dậy về kinh tế và chính trị trên thế giới thường sẽ trở thành những cường quốc hải quân thế giới. Trung Quốc cũng không phải một ngoại lệ. Sự phụ thuộc của nền kinh tế Trung Quốc vào thương mại và nguồn năng lượng nhập khẩu đã buộc Trung Quốc phải phát triển năng lực hải quân và theo thời gian, sẽ phải phát triển khả năng triển khai lực lượng tại các vùng biển xa. Tuy nhiên, trong tương lai gần, do ưu tiên của Trung Quốc là các tranh chấp vùng lãnh thổ và tranh chấp tài nguyên, cũng như ngăn chặn sự độc lập của Đài Loan nên nhiều khả năng  Trung Quốc chỉ tập trung chủ yếu vào các vùng biển trong khu vực. Các “vùng biển gần” của Trung Quốc – gồm Biển Hoàng Hải, Biển Hoa Đông và Biển Đông – là những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt đối với Trung Quốc. Những vùng biển này, ngoài việc là vùng có nguồn tài nguyên dầu và khí đốt, còn được xem như là vùng đệm an ninh của Trung Quốc.

Trung Quốc đang đầu tư phát triển một loạt các năng lực không chỉ trong lĩnh vực hải quân mà còn trong các lĩnh vực khác để hỗ trợ nhiệm vụ được họ gọi là “chống can thiệp”. Bộ Quốc phòng Mỹ mô tả đây như là năng lực “chống tiếp cận” và “phong tỏa khu vực”. Mục tiêu là nhằm sở hữu các phương tiện có thể tấn công, tại một vị trí ở một khoảng cách xa bờ biển Trung Quốc, các lực lượng quân sự được triển khai và hoạt động trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Theo như báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ với Quốc hội về năng lực của quân đội Trung Quốc (PLA) năm 2011, sự cải thiện khả năng triển khai lực lượng của Trung Quốc trong hiện tại và tương lai sẽ cung cấp cho PLA những hệ thống có thể giao tranh với các tàu nổi của đối phương trong khoảng cách 1850 km tính từ bờ biển của Trung Quốc. Những hệ thống này bao gồm các tên lửa đạn đạo dùng để chống lại tàu, tàu ngầm thông thường và tàu ngầm vận hành bằng năng lượng hạt nhân, các tàu tấn công trên mặt nước, và máy bay tấn công trên biển. Trong tương lai, những năng lực này sẽ được tăng cường bằng các hệ thống mới hơn bao gồm máy bay tàng hình J-20 và các tên lửa đạn đạo thông thường tầm xa, các máy bay không người lái (UAV), các tên lửa hành trình tấn công mặt đất được phóng từ trên không và trên mặt đất và năng lực tiến hành chiến tranh mạng.[5]

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc (một tàu thuộc lớp KUZNETSOV được mua lại từ Ucraina) đã bắt đầu các chuyến đi thử nghiệm vào năm 2011. Đây sẽ là bước huấn luyện và thử nghiệm quan trọng, để cuối cùng giúp Trung Quốc có thêm kinh nghiệm trong vận hành các hoạt động trên không dựa vào tàu sân bay. Các nhà phân tích quân sự của Trung Quốc dự tính rằng tàu sân bay này được đặt tại căn cứ hải quân mới tại Yalong ở mũi phía nam của đảo Hải Nam, gần với nhóm đảo tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa.[6] Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, có khả năng hoàn tất và đi vào hoạt động trước năm 2015, và tiếp sau đó sẽ là “nhiều tàu sân bay và các tàu hỗ trợ liên quan trong vòng một thập kỷ tới.”[7]

            Cho dù Trung Quốc đang quyết liệt hiện đại hóa quân đội, trong đó có cả lực lượng hải quân, thì nước này vẫn hạn chế việc sử dụng sức manh quân đội. Chẳng hạn, trên Biển Đông, Trung Quốc dựa chủ yếu vào các cơ quan hàng hải dân sự chứ không phải lực lượng hải quân để khẳng định và bảo vệ các yêu sách chủ quyền. Các cơ quan này bao gồm Cảnh sát biển, Cục quản lý biên giới, Cục quản lý hải dương học, Cơ quan ngư chính và Lực lượng tuần duyên. Tuy vậy, hải quân Trung Quốc đã tăng cường triển khai quân và tuần tra, luôn đứng sau hỗ trợ các tàu “vỏ trắng” này và sẵn sàng can thiệp nếu các biện pháp khác không thể bảo vệ chủ quyền, an ninh, quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc.

Chuyển giao thế hệ lãnh đạo và sự quyết đoán của Trung Quốc trong tương lai

Theo đánh giá của tôi, cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền sẽ còn tiếp tục sau quá trình chuyển giao lãnh đạo tại Đại hội Đảng lần thứ 18 diễn ra vào mùa thu năm nay và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc vào mùa xuân năm sau bởi những lý do sau:

            1. Do tính hợp pháp của Đảng Cộng sản dựa phần lớn vào sự tín nhiệm của nhân dân, nên không một nhà lãnh đạo Trung Quốc nào, trong thời gian mới nhậm chức, dám vội vã thực hiện các biện pháp làm giảm làn sóng từ các tầng lớp nhân dân yêu cầu bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trung Quốc. Tâm lý chung của nhân dân thiên về lập trường cứng rắn hơn của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông đã được nhen nhóm từ trước. Các nhà lãnh đạo tương lai nhận thức rõ nguy cơ của việc kích động thêm những tình cảm này, nhưng sẽ khó cưỡng lại khuynh hướng đó khi mà làm vậy sẽ có lợi cho họ, giúp tính hợp pháp của họ trở nên vững chắc hơn.

2. Ông Tập Cận Bình, người nhiều khả năng sẽ kế nhiệm ông Hồ Cẩm Đào, được cho là một người có sự tự tin cao – chắc chắn cao hơn ông Hồ vào thời điểm ông lên nắm quyền 10 năm trước đây. Trong khi nhiệm kỳ của ông Hồ Cẩm Đào phải tập trung vào giải quyết các yếu kém của Trung Quốc, thì ông Tập lại xuất thân từ một thế hệ mới, lớn lên trong thời kỳ cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài và luôn tin rằng Trung Quốc đang trôi dậy mạnh mẽ. Tin tưởng vào sức mạnh đang lên của Trung Quốc và sự thu hẹp quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc, ông Tập có thể sẵn sàng bảo vệ các lợi ích của Trung Quốc trên đấu trường quốc tế, đặc biệt đối với những lợi ích được xem là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, bao gồm các vấn đề liên quan đến chủ quyền.

3. Trong chừng mực nào đó, các cuộc tranh luận học thuật ở Trung Quốc đã bị hạn chế trong thời điểm chuẩn bị diễn ra chuyển giao thế hệ lãnh đạo. Các cuộc tranh luận sẽ sôi nổi trở lại vào năm sau xung quanh việc: a) liệu Mỹ có đang thực sự đi xuống và cán cân quyền lực thế giới có dịch chuyển theo chiều hướng có lợi cho Trung Quốc hay không; và b) liệu giai đoạn thời cơ chiến lược 20 năm của Trung Quốc – bắt đầu vào thời điểm chuyển giao thế kỷ – có đang sớm đi đến kết thúc hay không. Những cuộc tranh luận như vậy sẽ càng đặt thêm áp lực lên vai các nhà lãnh đạo của Trung Quốc, phải kiên quyết bảo vệ các lợi ích của nước này.

4. Theo các chuyên gia phân tích có uy tín của Trung Quốc, Bắc Kinh đã kết luận rằng chính sách của Đặng Tiểu Bình trong quản lý các tranh chấp tại Biển Đông đã thất bại. Chính sách này nêu rằng: a) chủ quyền thuộc về Trung Quốc; b) các tranh chấp có thể gác sang một bên; c) có thể tiến hành hợp tác khai thác chung. Người Trung Quốc cho rằng Trung Quốc đã tự kiềm chế không khai thác dầu và khí đốt trong các vùng biển tranh chấp nhưng các nước khác lại không làm như vậy. Một chính sách mới vẫn chưa ra đời và có thể sẽ được hoãn lại cho đến sau khi chuyển giao quyền lực. Nhiều khả năng chính sách mới sẽ càng cứng rắn hơn.

Khuyến nghị chính sách

Chính quyền Obama đã đúng đắn khi đề ra một số nguyên tắc định hướng hành vi ở Biển Đông. Tháng 7/2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kêu gọi  “một tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết các hòa bình tranh chấp lãnh thổ, không sử dụng đến các biện pháp đe dọa.” Bà Clinton cũng nêu rõ rằng Mỹ phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực bởi bất kỳ bên yêu sách nào và nhấn mạnh đến vấn đề thương mại không bị cản trở, tự do hàng hải và mở cửa tiếp cận đến các vùng hàng hải chung của châu Á. Ngoại trưởng Clinton khẳng định rằng các bên nên yêu sách chủ quyền lãnh thổ và các quyền đi kèm trên biển dựa theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Bà Clinton cũng hối thúc các bên sớm đạt được thỏa thuận về Bộ Quy tắc ứng xử và sẵn sàng hỗ trợ các sáng kiến và biện pháp xây dựng lòng tin.[8]

Điều quan trọng là Mỹ phải tuân thủ những nguyên tắc này và lên án bất cứ bên nào có hành vi không phù hợp với các nguyên tắc trên. Thái độ khách quan và công bằng sẽ tăng thêm uy tín cho chính sách của Mỹ. Một ví dụ điển hình về sự công bằng của Mỹ là tuyên bố đưa ra bởi Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta tại Đối thoại Shangri-La tại Singapore vào tháng 6. Sau khi nhắc lại các nguyên tắc của Mỹ, ông Panetta khẳng định đã “làm rõ các quan điểm của Mỹ với các nước đồng minh hiệp ước thân thiết, với Phi-líp-pin, cũng như làm rõ quan điểm với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.”[9]

Vào ngày 3/8/2012, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ về Biển Đông đã dường như đã đi chệch hướng so với cách tiếp cận công bằng và khách quan trên. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao ghi nhận một cách đúng đắn sự gia tăng căng thẳng trong những tháng gần đây, dẫn ra một loạt các hành động đe dọa kinh tế, sử dụng các rào chắn để ngăn cản tiếp cận Bãi cạn Scarborough, và việc thiết lập cơ sở đồn trú quân sự của Trung Quốc nhằm giám sát các khu vực tranh chấp ở Biển Đông.[10] Tuy nhiên, bằng việc đích danh chỉ trích Trung Quốc và không đề cập đến hành vi kích động từ các bên yêu sách khác, Mỹ đã tạo cho Bắc Kinh cái cớ để khẳng định rằng Washington đã đứng về phía chống Trung Quốc và làm yếu đi lập trường của Mỹ rằng các tranh chấp Biển Đông phải được quản lý dựa trên cách tiếp cận có nguyên tắc. Tuy không có gì phải bàn cãi rằng hành động của Trung Quốc là nghiêm trọng nhất trong số các bên ở Biển Đông; nhưng Mỹ có thể làm giảm uy tín của mình nếu không nhắc đến những hành động vi phạm của các bên liên quan khác.[11]

Trong thời gian tới, Mỹ nên bám sát cách tiếp cận có nguyên tắc trong việc quản lý các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và duy trì quan điểm trung lập xưa nay trong các tranh chấp này. Đồng thời, Mỹ nên nhấn mạnh đến những lợi ích chung của Mỹ và các quốc gia khác trong các chuẩn mực quốc tế, vốn đang bị đe dọa bởi chính sách cứng rắn của Trung Quốc.

Thứ hai, Mỹ nên hối thúc tất cả các bên tranh chấp tại Biển Đông phải đưa các yêu sách hàng hải của mình phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Mỹ cũng nên khuyến khích các thỏa thuận khai thác chung để khai thác tài nguyên.

Thứ ba, Mỹ nên tiếp tục hối thúc Trung Quốc và ASEAN bắt đầu đàm phán về một Bộ Quy tắc ứng xử có tính ràng buộc pháp lý và chứa đựng các cơ chế giải quyết tranh chấp. Một khi quá trình đàm phán bắt đầu, nó có thể giúp làm hòa dịu tình hình và giảm bớt căng thẳng.

Thứ tư, các nước nhỏ trong khu vực đang lo ngại về một kiểu quan hệ nước lớn mới đang được bàn bạc giữa Washington và Bắc Kinh, có thể dẫn đến việc tăng cường hợp tác Mỹ – Trung trên lưng các nước khác, kể cả các thành viên của ASEAN.  Những mối quan ngại này phải nhanh chóng được loại bỏ và Mỹ nên tiếp tục thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN như là một điểm tựa cho sự ổn định khu vực.

Thứ năm, Mỹ cần phải tiếp tục tăng cường các cam kết về kinh tế, ngoại giao và quân sự tại Đông Á. Chiến lược tái cân bằng của Mỹ với trọng tâm hướng về châu Á là cần thiết để bảo đảm duy trì hòa bình và ổn định – những điều kiện đã tồn tại ở khu vực trong vòng hai thập kỷ qua và đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia khu vực.

Thứ sáu, Mỹ nên phê chuẩn UNCLOS để tăng thêm tính hiệu quả của các nỗ lực theo đuổi cách tiếp cận dựa trên luật pháp giúp quản lý và giải quyết các tranh chấp về quyền tài phán trên biển.

Nguồn: Tại đây

 

Người dịch: Tiến Tiệp

Hiệu đính: Minh Ngọc 

Vũ khí hữu hiệu nhất chính là thông tin – infonet

20 Th9

Vũ khí hữu hiệu nhất chính là thông tin

Những ngày gần đây, báo chí và dư luận nói chung đề cập nhiều đến bản thông báo ngày 12/9 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc đăng tải thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước.

Trong bối cảnh đất nước hôm nay, đây là ý kiến chỉ đạo quan trọng, thể hiện rõ quan điểm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong hoạt động thông tin – truyền thông.

Cùng với sự phát triển với tốc độ rất nhanh của mạng Internet cả về công nghệ và và mật độ người sử dụng ở nước ta, nội dung thông tin trên Internet cũng có sự phát triển mang tính bùng nổ. Điểm nổi bật của sự bùng nổ đó là sự xuất hiện của hàng nghìn, hàng vạn (thậm chí hàng triệu) trang thông tin điện tử (website), blog và tài khoản cá nhân trên mạng xã hội. Với đặc tính của không gian ảo, có thể nói, thông tin trên Internet là một tập hợp vô cùng phức tạp, phong phú, đa dạng, thậm chí hỗn tạp, hổ lốn, cả tích cực lẫn tiêu cực, cả hữu ích lẫn độc hại và cực kỳ độc hại.


Nội dung thông tin trên Internet đang có sự phát triển bùng nổ

Bên cạnh những trang web của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cá nhân có đăng ký chính thức, cung cấp thông tin theo đúng quy định của pháp luật, có mục đích tốt, lành mạnh và thiện chí, thì cũng đầy rẫy những trang web chứa thông tin độc hại, đồi trụy, phản động. Đây thường là những trang web có tên miền quốc tế, đăng ký máy chủ ở nước ngoài để tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Cũng cần khẳng định ngay rằng, không phải tất cả những trang web tiếng Việt có tên miền quốc tế hay các blog cá nhân (không phải đăng ký) đều đều chứa thông tin xấu, thậm chí ngược lại, có nhiều trang rất nghiêm túc, đứng đắn, thiện chí và có ích. Nhưng với những trang như “Quan làm báo”, “Dân làm báo” … được nêu lên trong chỉ đạo của Thủ tướng thì phải khẳng định rằng, đó là những trang web xấu, chuyên “đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội…”.

Cũng cần phải nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng, tình hình đất nước mấy năm trở lại đây có nhiều điểm tạo cơ hội cho những thông tin xấu phát tác. Đó là nền kinh tế đât nước liên tục bị lạm phát và suy giảm, đời sống của đại đa số nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, tình hình quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy nhà nước vẫn tiếp tục diễn biến ngày càng nghiêm trọng, tình hình khiếu kiện của người dân ở khắp các địa phương liên quan đến đất đai vẫn tiếp tục “nóng”, khiến cho lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước không khỏi bị tác động một cách tiêu cực. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của đất nước trên Biển Đông, chống lại âm mưu và những hành vi xâm lấn của Trung Quốc đang diễn ra ngày càng phức tạp, căng thẳng với nhiều điểm nhạy cảm trong mối quan hệ quốc tế vừa hòa bình, hợp tác, hữu nghị vừa đấu tranh kiên quyết bảo vệ chủ quyền. Việc triển khai Nghị quyết TƯ 4 (khóa XI) trong đó nội dung trọng tâm là phê bình và tự phê bình nhằm chỉnh đốn và làm trong sạch Đảng được tiến hành từ cấp lãnh đạo cao nhất thể hiện quyết tâm của toàn Đảng trong việc khôi phục và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta. Nhưng nhìn từ góc độ đối lập, đây cũng là cơ hội để những tin đồn thất thiệt, những luận điệu vu khống, xuyên tạc, kích động, chia rẽ… được tung ra trên những trang web kiểu “Quan làm báo”.

Có thể nói rằng, với kiến thức thông thường cũng có thể thấy, hầu hết thông tin Quan làm báo, Dân làm báo… đều là những thông tin thất thiệt, bịa đặt, dựng chuyện, hoặc là những thông tin bị xuyên tạc, bóp méo, được viết theo lối suy diễn, quy chụp chủ quan, với mục đích kích động, đả kích cay độc cá nhân, vu khống, gây mất lòng tin, gây nghi ngờ nội bộ. Thái độ vô trách nhiệm, tâm lý phá phách, thiếu thiện chí, bất chấp lý lẽ…, đó là điều mà người đọc có thể cảm nhận khi đọc thông tin trên những trang này. Không chỉ trên các trang báo chính thống mà ngay trên nhiều trang blog cá nhân đều có chung nhận định, những trang như Quan làm báo, Dân làm báo…đều là những trang thông tin không đáng tin cậy, được lập ra với dụng ý xấu, có hại.

Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Việc triển khai những biện pháp về kỹ thuật và pháp lý để xử lý những trang web độc hại là đương nhiên là cần thiết nhưng cần khẳng định rằng, trong cuộc chiến thông tin, đặc biệt là thông tin trên Internet, nơi mọi hàng rào về pháp lý và kỹ thuật rất khó (hoặc không thể) phát huy tác dụng thì vũ khí hữu hiệu, lâu bền nhất chính là thông tin. “Lấy cái tốt đè cái xấu, lấy tích cực đè tiêu cực”; “Công khai, minh bạch”, đó chính là phương châm hiệu quả nhất của đấu tranh thông tin trên Internet. Việc các trang “Dân làm báo”, “Quan làm báo” có thể thu hút được lượng người đọc lớn trong thời gian qua có nhiều lý do, trong đó lý do cơ bản là những thông tin được cung cấp theo kênh chính thống chưa thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân, đặc biệt là thông tin về những vấn đề “quốc gia đại sự”, thông tin về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, về việc triển khai thực hiện Nghị quyết TƯ 4, thông tin về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, thông tin về tình hình kinh tế, tài chính, ngân hàng…Có thể nói, vẫn còn nhiều “khoảng trống” thông tin mà các kênh thông tin chính thống vẫn chưa khỏa lấp được. Và đó chính là cơ hội cho những kẻ cơ hội, phá hoại như “Quan làm báo”.

Phải làm sao để người dân được đáp ứng đầy đủ nhu cầu chính đáng về thông tin, làm sao để người dân chỉ tin và tìm đến những thông tin được cung cấp theo các kênh chính thống. Khi chúng ta làm được điều đó thì mặc nhiên những trang tin giật gân được viết một cách bừa bãi kiểu như “Quan làm báo” sẽ hết đất sống.

Vì vậy, có thể khẳng định, việc triển khai chỉ đạo của Thủ tướng giao “ Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan cung cấp thông tin khách quan, đúng sự thật về tình hình các mặt của đất nước ta, nhất là các vấn đề mà dư luận quan tâm” chính là nội dung quan trọng nhất của toàn bộ văn bản chỉ đạo xử lý việc đăng tải thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước.

Theo Infonet

 

Mỹ trấn an Trung Quốc về hiện diện quân sự ở TBD – VNN

20 Th9

Mỹ trấn an Trung Quốc về hiện diện quân sự ở TBD

Người đứng đầu Lầu Năm Góc trấn an Trung Quốc rằng Washington thay đổi tập trung quân sự hướng về châu Á – Thái Bình Dương không phải là một phần chiến lược để kiềm chế sức mạnh của Trung Quốc. 

Chuyến công du của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ diễn ra vào thời điểm căng thẳng khi Trung Quốc có các tranh chấp với nhiều nước trong khu vực về chủ quyền lãnh thổ trên biển.

Ảnh: THX

 

Bộ trưởng Leon Panetta đã gặp gỡ phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm thứ tư. Cuộc gặp hai bên trùng khớp với những diễn biến căng thẳng ngày càng leo thang giữa Trung Quốc và Nhật Bản về một quần đảo tranh chấp tại biển Hoa Đông.

Trước hàng loạt ống kính, ông Tập đã bắt tay Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh. Trước những băn khoăn vì vụ bế tắc giữa Trung Quốc với Nhật ở Thái Bình Dương, lãnh đạo Lầu Năm Góc đã nỗ lực trấn an Bắc Kinh về việc triển khai một hệ thống phòng thủ của Mỹ ở Nhật.

Ông Panetta nhấn mạnh, đây là phản ứng của Mỹ với hệ thống tên lửa đạn đạo của Triều Tiên và không nhằm vào Trung Quốc.

Trong khi đó, Tân hoa xã hôm thứ tư đã đưa tin về vụ đụng độ giữa các tàu Trung Quốc và lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản xung quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư ở Hoa Đông.

Theo Tân hoa xã, có 10 tàu Trung Quốc trong khu vực, phía Nhật Bản điều động 6 tàu cùng máy bay giám sát.

Thông tin này chỉ làm gia tăng sự bất ổn trong mối quan hệ đang căng thẳng giữa Bắc Kinh và Tokyo sau khi hàng loạt cuộc biểu tình phản đối Nhật diễn ra ở Trung Quốc từ cuối tuần đến này.

Làn sóng biểu tình bắt đầu lên cao sau quyết định của Tokyo nhằm quốc hữu hoá quần đảo Senkaku/Điếu Ngư mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền ở Hoa Đông.

Tại Bắc Kinh, ông Panetta còn đề cập tới những hoài nghi của Bắc Kinh về các lợi ích và mối quan tâm của Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương.

Ông nhấn mạnh, việc Washington thay đổi tập trung quân sự hướng về châu Á – Thái Bình Dương không phải là một phần chiến lược để kiềm chế sức mạnh của Trung Quốc.

“Việc sắp xếp lại lực lượng của chúng tôi trong khu vực không phải là nỗ lực kiềm chế Trung Quốc. Nó là nỗ lực để phối hợp và mở rộng ảnh hưởng Trung Quốc ở Thái Bình Dương”, ông Panetta tuyên bố công khai trước các học viên và sĩ quan trẻ Trung Quốc ở một học viện quân sự tại Bắc Kinh.

“Đó là việc tạo ra một mô hình mới trong mối quan hệ giữa hai cường quốc Thái Bình Dương chúng ta”, ông nhấn mạnh.

“Mục tiêu của chúng tôi là nhằm đảm bảo rằng, không có tranh chấp hay hiểu nhầm leo thang thành căng thẳng không mong muốn hoặc thành một cuộc xung đột”, bộ trưởng quốc phòng Mỹ nói.

Trung Quốc và Mỹ có nhiều bất đồng xung quanh quyền hàng hải và tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở tây Thái Bình Dương do Bắc Kinh có cạnh tranh chủ quyền với nhiều nước ở Biển Đông cũng như Hoa Đông.

Thái An (theo dpa, AP)

“Mua sắm công: mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng”

20 Th9

“Mua sắm công: mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng”

 

 Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện lo ngại thực trạng thất thoát trong mua sắm đầu tư công diễn ra ở hầu hết các khâu, mà ông ví như mảnh đất “cực kỳ màu mỡ” cho tham nhũng, khi dư luận nhân dân phản ánh “hễ xin được dự án là có phần trăm”.

Lãng phí do thiếu tính chiến lược

Đánh giá của ông Hiện đưa ra tại phiên họp của UBTVQH sáng nay 19/9 khi thảo luận về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2012. Ông cho hay : “dư luận nhân dân cho rằng, trong tất cả các khâu từ lập dự án, giám sát cho đến nghiệm thu đều có thể ăn được, đều là cơ hội cho tham nhũng, còn nhà nước thì thất thoát”. Điều đáng lo lắng đó là “cứ hễ xin được dự án là có phần trăm” mà không cần biết hiệu quả, chất lượng dự án đến đâu.

Thẩm tra báo cáo Chính phủ, thường trực Ủy ban Tài chính Ngân sách đánh giá lãng phí, thất thoát trong đầu tư công năm 2012 vẫn là vấn đề nổi lên được dư luận xã hội quan tâm. Lãng phí lớn do chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội một số ngành, vùng còn hạn chế, nhiều công trình sử dụng vốn ngân sách gây lãng phí phần lớn do quy hoạch thiếu tính chiến lược. Nhiều công trình được phê duyệt đầu tư vẫn phải chờ quy hoạch.

Tình trạng vi phạm quy định của pháp luật trong quản lý đầu tư xây dựng vẫn xảy ra khá phổ biến, chậm được khắc phục dẫn đến thất thoát, lãng phí ngân sách. Hà Nội – thủ đô của cả nước- bị chỉ điểm khi có đến 500 dự án chậm tiến độ do chờ quy hoạch.

 

Ông Nguyễn Văn Hiện lo ngại nguy cơ tham nhũng trong mua sắm đầu tư công.

Chủ nhiệm Văn phòng QH Nguyễn Hạnh Phúc cũng cho rằng, nên sớm sửa Luật đấu thầu để hạn chế sai phạm trong mua sắm đầu tư công. Trong khi đó, Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn thúc giục việc ban hành luật đầu tư công, quản lý sử dụng vốn nhà nước. 

Hơn 31 nghìn khoản chi chưa đúng

Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước năm 2012, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển cũng phản ánh một số biểu hiện thất thu khác đó là tình trạng trốn lậu thuế, nợ đọng thuế còn lớn và tiếp tục gia tăng. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp lợi dụng tình hình khó khăn chung cố tình chây ỳ không nộp đầy đủ tiền thuế.

Tình trạng trốn lậu thuế tinh vi hơn và diễn biến phức tạp. Một số doanh nghiệp lợi dụng pháp luật để chuyển giá trốn thuế, lợi dụng cơ chế tạm nhập, tái xuất để chiếm dụng và trốn lậu thuế nhưng nhà nước chưa có giải pháp khắc phục triệt để .

Vấn đề sử dụng vốn và tài sản tại các doanh nghiệp nhà nước cũng còn hạn chế. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại ở mức cao ảnh hưởng không thuận tới sự phát triển bền vững nền kinh tế.

Thống kê của Bộ Tài chính, của Kiểm toán Nhà nước cho thấy, hiệu quả kinh doanh của khối doanh nghiệp nhà nước thấp. Nhiều tập đoàn, tổng công ty sản xuất kinh doanh thua lỗ (như Tập đoàn Xăng dầu, Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam…).

Mặt khác, các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu sử dụng vốn tín dụng, kết quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất ngân hàng. Đặc biệt từ năm 2009 đến cuối năm 2011, cung cầu mất cân đối, hàng hoá tồn kho lớn, chậm luân chuyển, gây áp lực lớn làm tăng nợ xấu của hệ thống ngân hàng, làm cản trở sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế năm 2012 và những năm sau, lãng phí các nguồn lực .

Chi ngân sách còn biểu hiện chấp hành kỷ luật tài chính không nghiêm, sai phạm vẫn còn nhiều, gây thất thoát, lãng phí ở các mức độ khác nhau. Tình trạng sử dụng ngân sách sai mục đích, vượt định mức, tiêu chuẩn, dự toán vẫn tồn tại khá phổ biến và chậm được khắc phục. Trong 7 tháng đầu năm 2012, Kho bạc Nhà nước phát hiện trên 31.300 khoản chi thường xuyên chưa thực hiện đúng thủ tục.

Cơ quan thanh tra nhà nước đã kiến nghị thu hồi trên 3.529 tỷ đồng và kiến nghị xử lý trách nhiệm nhiều tập thể, cá nhân vi phạm chế độ quản lý, sử dụng ngân sách.

Các vấn đề trên sẽ được thảo luận tại kỳ họp QH sắp tới.

Chủ nhiệm Hội đồng Dân tộc Ksor Phước nhắc nhở: “Quốc hội ta cũng để điện rất lãng phí. Nhiều lúc chúng ta làm việc xong mà cứ để máy lạnh, rất lãng phí, nói gì đến ý thức của dân”.

Lê Nhung

Đạo sĩ ẩn tu và quyền cước vô song chém rắn khổng lồ – VNN

20 Th9

Đạo sĩ ẩn tu và quyền cước vô song chém rắn khổng lồ

Nó vừa phóng tới thì tui sử dụng thế võ Bình phong lạc nhạn, tung người lên không trung. Con rắn vồ hụt mồi, chưa kịp quay đầu lại, thì chiếc quéo tui cầm trên tay đã cắt đứt đầu nó.

 

Kỳ 3: Chặt đầu rắn khổng lồ

Đạo sĩ Ba Lưới huyền thoại của vùng Thất Sơn khẳng định cả đời rèn đức, học đạo, chứ không bao giờ có ý định giết rắn. Loài hổ mây khổng lồ tuy có sức mạnh vô song, đủ sức nuốt bò, phóng trên đọt cây như giông bão, nhưng hầu như chúng không hại người, nên các đạo sĩ cũng không có lý do gì để giết chúng.

Sở dĩ, đạo sĩ Ba Lưới phải hạ thủ rắn hổ mây, vì chúng tìm cách tấn công, đòi ăn thịt ông. Đường cùng, ông mới phải sử dụng quyền cước tu luyện cả đời để chống lại chúng. 

 

Đạo sĩ Ba Lưới.


– PV: Trong hoàn cảnh con rắn ngáng đường, định tấn công, sao ông không tìm cách tránh nó?

Đạo sĩ Ba Lưới: Loài hổ mây chạy như gió cuốn, bão giông, nên nó đã chí ăn thịt ai, thì người đó không thể thoát được. Nếu lúc đó tui không vững tâm, mà chạy trốn, thì nó sẽ phóng theo nuốt chửng. Tui chẳng còn cách nào ngoài việc đối mặt với nó.

– PV: Chắc rằng ông sử dụng thế võ mà ông hay gọi là Bình phong lạc nhạn?


Đạo sĩ Ba Lưới:
Khi tui thủ thế với chiếc đòn trong tay, nó chuyển động cái đầu, sàng qua sàng lại rồi đột ngột há miệng chụp thẳng xuống đầu tui. Tui dùng thế Bình phong lạc nhạn tung người lên không trung vừa tránh cú chụp của nó, vừa vung đòn liên tiếp vụt vào sống lưng và cổ nó.

Các cụ bảo đánh rắn đánh vào sống lưng, nhưng con rắn hổ mây to quá, da dày, nên vụt vào sống lưng nó chẳng ăn thua gì. Trúng mấy cú đánh, con rắn càng hung dữ. Nó thu người, cất đầu lên cao, rồi chụp xuống liên tục. Lúc này tui mới hiểu được giá trị của thế võ Bình phong lạc nhạn mà thầy tui truyền cho. Với khả năng bật lên không trung, bay qua vồ (mỏm đá, mỏm núi), tui mới tránh được những cú mổ của con rắn khổng lồ. 

 

Đỉnh núi Cấm huyền thoại

Lúc đó, cả cảnh rừng như có giông bão. Cây cối rung bần bật. Con rắn càng đánh càng hăng. Tui dù khỏe thế, nhưng đối phó với nó mãi thì có dấu hiệu đuối sức. Khi đó tui nghĩ nếu không hạ được nó sớm, thì chắc chắn bị nó ăn thịt.

Sau cú mổ trượt, tui phi thân ra phía đuôi nó, để nó mất thời gian đổi hướng. Tui thủ thế, tập trung năng lượng tinh thần để ra đòn quyết định. Con rắn cũng cất đầu lên tận ngọn cây, từ từ hạ xuống cách đầu tui vài mét. Đôi mắt nó đỏ rực. Có vẻ như nó cũng sẽ ra đòn quyết định với tui.

Nó há cái miệng đỏ lòm, rồi chụp xuống rất mạnh. Tui lùi lại 3 bước tránh cú mổ của nó. Tui bật lên tận ngọn cây. Con rắn chụp trượt thì cất đầu lên tính chụp tiếp, còn tui từ trên không rơi xuống. Tui tung liên tiếp 3 cú đánh trúng đầu. Cú đánh cuối cùng khiến chiếc đòn gãy đôi. 

 

Đỉnh núi Cấm giờ thành địa danh du lịch nổi tiếng vùng Cửu Long.

Tui rơi xuống trong tư thế vững vàng, sẵn sàng tiếp tục chiến đấu, nhưng con rắn thì đổ oặt xuống đất. Đầu nó bất động, nhưng thân còn vùng vẫy mãi mới chịu thôi.

Tui phải ra liền 3 đòn, mới hạ được nó. Đòn thứ nhứt tui đập bể sọ nó, còn đòn thứ nhì, thứ ba, tui đập vỡ óc nó. Lúc đó, tui lại ngộ thêm ra được công năng đặc biệt của thế võ này. Do vậy, sau đó, tui càng tập luyện kỹ càng để hoàn thiện hơn.

– PV: Vậy khi đó có ai chứng kiến việc ông giết con rắn?

Đạo sĩ Ba Lưới: Hạ con rắn rồi, tui xuống núi gọi người dân vào rừng xẻ thịt rắn mang về ăn. Chỉ có hơn chục người dám theo tui vào núi lấy thịt rắn. Phần lớn người dân sợ rắn trả thù, nên không dám vào xem.

Ngày xưa, người dân ở đây sợ rắn hổ mây lắm, họ gọi là ông rắn, ngài rắn, chứ không dám gọi con rắn đâu. Họ sợ ăn thịt hổ mây thì sẽ bị hổ mây đòi mạng. Một số người vào rừng xem con rắn giờ đã già lắm, nhưng hầu hết là chết rồi. Họ có thấy tui giết rắn, họ mới tin tui đánh nhau với hổ mây chứ. Ai ở vùng Bảy Núi này chẳng biết đạo sĩ Ba Lưới đánh hạ hổ mây khổng lồ. 

 

Tiêu bản rắn hổ mây ở trại Đồng Tâm. Ảnh Internet

– PV: Vậy cụ thể con rắn đó lớn như thế nào ạ?

Đạo sĩ Ba Lưới: Ngày đó chuyện gặp rắn, trăn lớn và giết chúng rất bình thường, có ai để tâm tính toán hay đem cân đâu. Tuy nhiên, tui cùng những người xẻ thịt con rắn áng chừng nó dài hơn 20 mét, nặng cỡ 500 ký. Thân nó bằng cây thốt nốt già. Tui ôm thử hết một vòng tay.

Chuyện tui hạ rắn hổ mây khổng lồ ở vùng này ai chẳng biết. Cậu không tin thì cứ đi hỏi những người già quanh núi Cấm sẽ rõ.

– PV: Thế còn lần thứ 2 ông hạ rắn khổng lồ…

Đạo sĩ Ba Lưới: Lần thứ hai vào năm 1960, lúc tui 50 tuổi. Ở cánh rừng chỗ tui ở có đàn khỉ đến cả trăm con. Bọn khỉ sống với tui chân tình lắm. Chúng mò vào lều tui xin ăn. Xin không được thì chúng ăn trộm. Tui trồng được bao nhiêu bắp, chúng bẻ trộm hết.

Thế nhưng, một ngày, con hổ mây tìm về khu rừng này. Cứ mỗi lần nghe tiếng ào ào như nổi cơn giông, thì biết ngay con rắn đang săn đàn khỉ. Đàn khỉ bị nó ăn vãn. Sợ con rắn, nên chúng kéo đi nơi khác. Không săn được mồi, con rắn quay sang ăn chó của tui. 10 con chó tui nuôi nó đều ăn hết. 

 

Cặp rắn bê-tông ông Sơn đắp ở núi két để… dọa rắn hổ mây.

Giống chó tui nuôi là chó săn, bắt được rắn hổ chúa, hổ hèo, nhưng thấy hổ mây thì không kêu nổi, cứ ngồi im run bần bật chờ nó mổ. Nhưng quy luật rừng xanh là thế, nên tui cũng chẳng thù oán gì nó. Chỉ có điều, ăn hết đàn chó, thì nó đòi ăn thịt tui.

Khi đó, công phu của tui đã hoàn thiện, nên coi thường rắn hổ mây lắm. Biết trước sau nó sẽ ăn thịt mình, nên đi đâu tui cũng mang quéo (dao phát rừng). Chiếc quéo này dài 2m, do tui tự rèn.

Bữa đó, đang vào rừng hái thuốc, thì nghe tiếng chạy re re từ xa. Tiếng xào xạc mỗi lúc một gần. Rồi con rắn hổ mây khổng lồ ấy bò đến trước mặt tui. Con rắn này rất hung dữ, lại đói mồi, nên không thèm cất đầu lên rồi mới chụp xuống, mà nó há miệng và nhắm thẳng tui phóng tới.

Trông cái cách tấn công hung hăng của nó, tui biết nó quá chủ quan. Không thể sống hòa bình với con rắn này nữa. Không ăn thịt được tui, thì nó cũng ăn thịt người khác, nên trong tích tắc tui quyết hạ nó.

Nó vừa phóng tới thì tui sử dụng thế võ Bình phong lạc nhạn, tung người lên không trung. Con rắn vồ hụt mồi, chưa kịp quay đầu lại, thì chiếc quéo tui cầm trên tay đã cắt đứt đầu nó. 

 

Núi Két, cách núi Cấm không xa, được đồn đại vẫn còn rắn hổ mây khổng lồ

Tui giết con rắn này quá dễ dàng, chỉ trong chưa đầy một giây. Con rắn này cũng không lớn bằng con đầu tiên tui giết, nhưng cũng phải dài cỡ 15 mét và nặng chừng 300 ký.

Theo đạo sĩ Ba Lưới, sau vụ giết con hổ mây thứ hai, ông ít gặp lại những con rắn khổng lồ như thế. Ông chỉ còn gặp những con hổ mây nặng cỡ 200 kg mà thôi.

Ông cũng cho biết, ông thường gặp chúng ẩn nấp ở hang Mây trên núi Cấm. Nơi đó ít người qua lại, vách đá hiểm trở, loài rắn hổ mây trú ngụ, nên các đạo sĩ mới gọi là hang Mây.

Tôi hỏi ông rằng, liệu bây giờ trên núi Cấm còn rắn hổ mây hay không, đạo sĩ Ba Lưới cho rằng, có thể vẫn còn hổ mây, nhưng con người chiếm hết môi trường sống, nên chúng lẩn sâu vào trong hang động, không dám ra ngoài.

Cũng có thể chúng đã bỏ sang núi non bên Campuchia từ mấy chục năm trước.

 

Ông Nguyễn Văn Sơn, chủ nhân ngọn núi Két ở vùng Thất Sơn vẫn tin rằng còn rắn hổ mây to. Vì sợ hổ mây tấn công, nên ông đã cho đắp 2 rắn hổ mây khổng lồ bằng bê-tông để dọa chúng, xua đuổi chúng. Ông Sơn tin lời người xưa, rằng loài hổ mây chỉ sợ những loài lớn hơn chúng, nên ông đắp rắn bê-tông thật to, có mào, mắt đỏ rực, miệng há hung dữ. Ông Sơn cho rằng, vùng Thất Sơn hang động rất nhiều, núi nọ thông với núi kia, nên chúng ẩn trong lòng núi thì không ai thấy được. 

 

Còn nữa…

(Theo VTC News)

Cảnh sát biển Nhật “ngóng chờ” đội tàu cá Trung Quốc – VNN

20 Th9

Cảnh sát biển Nhật “ngóng chờ” đội tàu cá Trung Quốc

 

Thời báo Nhật Bản hôm nay 19/9 đưa tin, vẫn chưa thấy dấu hiệu của 1.000 tàu cá mà báo chí Trung Quốc đưa tin đang hướng tới quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tranh chấp giữa hai nước ở biển Hoa Đông.

Trong khi đó, lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật vẫn duy trì tình trạng báo động cao, tăng cường tuần tra khi có nhiều tàu chính phủ Trung Quốc neo ở vùng tiếp giáp lãnh hải của Nhật.

Trong một động thái “ăn miếng trả miếng” với những gì đang diễn ra ở Trung Quốc, trước việc chính phủ Nhật gần đây quyết định quốc hữu hoá quần đảo tranh chấp, hai công dân Nhật Bản đã tới đảo Uotsuri thuộc Senkaku/Điếu Ngư nhưng được nhà chức trách cảnh báo rời đảo.

“Chúng tôi sẽ áp dụng mọi biện pháp có thể với ý thức khẩn cấp” để đối phó với diễn biến xung quanh các đảo, Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda nói với báo giới.

 

Ảnh: Kyodo
Vào sáng sớm qua, lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật đã phát hiện ra tàu Ngư chính 35001 của Cục Ngư nghiệp Trung Quốc ở cách quần đảo tranh chấp khoảng 44km. Sau đó, nhà chức trách Nhật còn thấy thêm 10 tàu giám sát của cơ quan quản lý đại dương Trung Quốc tiến vào vùng tiếp giáp lãnh hải vào buổi chiều, theo lời Chánh văn phòng nội các Nhật Osamu Fujimura.

Lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật đã cảnh báo các tàu không tiến vào vùng biển của Nhật, nhưng đáp trả lại, các tàu Trung Quốc khẳng định, quần đảo là một phần của Trung Quốc nên nhiệm vụ của họ là hợp pháp. Ông Fujimura cho hay, ngoài các tàu này, Nhật cho đến nay chưa phát hiện thêm tàu nào khác của Trung Quốc.

“Ngay bây giờ, chưa có thông tin xác định rằng, một số lượng lớn tàu Trung Quốc đã tiến vào vùng tiếp giáp lãnh hải của chúng tôi… nhưng chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ ngành liên quan để thu thập thông tin và duy trì tình trạng báo động”, ông nhấn mạnh.

Theo lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật, chiều 18/9, ba tàu chính phủ Trung Quốc đã chớp nhoáng tiến vào lãnh hải, một chiếc sau đó rời đi. Vào cuối ngày, lực lượng này còn phát hiện ra một tàu của Cục Ngư nghiệp Trung Quốc đi vào vùng tiếp giáp lãnh hải, nâng tổng số tàu chính phủ Trung Quốc ở khu vực này lên 12 chiếc. Nhưng sau đó, 10 tàu giám sát Trung Quốc đã ra khỏi vùng tiếp giáp.

Ông Fujimura mạnh mẽ bác bỏ thông tin rằng, Bộ Quốc phòng Nhật đang cân nhắc điều động lực lượng phòng vệ hàng hải để tăng cường an ninh biển trong bối cảnh có thông báo về 1.000 tàu cá Trung Quốc. Trong lúc này, chính phủ Nhật cũng đang nỗ lực đối phó với làn sóng biểu tình bạo lực tại Trung Quốc chống lại Nhật như tấn công, đập phá các nhà máy.

Trước đó, ông Fujimura đã triệu tập quan chức các bộ ngành liên quan như ngoại giao, thương mại, vận tải để chia sẻ thông tin về diễn biến hiện tại. “Chúng tôi nhắc lại yêu cầu rằng, chính phủ Trung Quốc cần áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại hơn nữa chống lại công dân và các công ty Nhật Bản ở Trung Quốc thông qua các kênh ngoại giao khác nhau”, ông Fujimura tuyên bố.

Thái An(theo japantimes)

 

%d bloggers like this: