Lưu trữ | 11:10 Chiều

Ông Trần Xuân Giá kinh ngạc với thông tin bị khởi tố – GDVN

21 Th9

Ông Trần Xuân Giá kinh ngạc với thông tin bị khởi tố

 
(GDVN) -Trao đổi với phóng viên báo Giáo dục Việt Nam cách đây ít phút, cựu Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB tỏ ra rất bất ngờ trước thông tin ông đã bị khởi tố, hiện đang được tại ngoại.
Trao đổi với phóng viên lúc 10h45 ngày 21/9, vẫn với cách nói trầm tĩnh thường ngày, vị cựu Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Trần Xuân Giá cười nhẹ: “Mọi công việc của tôi vẫn không có nhiều thay đổi. Từ sáng nay, rất nhiều người bạn đã gọi điện tới hỏi thăm về chuyện như bạn vừa hỏi (thông tin ông Trần Xuân Giá bị khởi tố về tội cố ý làm trái –PV), và tôi cũng chỉ có một câu trả lời duy nhất: tôi chưa từng nghe tới chuyện đó. Chưa có ai thông báo tới tôi chuyện tôi bị khởi tố”.

Ông Trần Xuân Giá
 
Trước đó, một số tờ báo đưa tin từ cơ quan chức năng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã có quyết định khởi tố ông Trần Xuân Giá để điều tra về hành vi cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Quyết định khởi tố đã được tống đạt và ông Giá được cho tại ngoại do sức khỏe yếu và nghiêm túc hợp tác với cơ quan điều tra.
 
Trong thông cáo ngày 19-9, ACB cho biết ông Giá có liên quan đến việc phê chuẩn cho ông Lý Xuân Hải (nguyên tổng giám đốc ACB, đã bị khởi tố, bắt giam) ủy thác 19 nhân viên ngân hàng nhận 718 tỉ đồng của ACB để gửi vào Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Viettinbank).
 
Cũng theo nguồn tin trên, ông Giá có dấu hiệu sai phạm khi ký nghị quyết HĐQT cho phép tổng giám đốc Lý Xuân Hải ủy thác rút 718 tỉ đồng của ACB gửi sang Viettinbank để hưởng lãi suất cho vay cao hơn lãi suất định hướng của NHNN. Hành vi của ông Giá, giống như hành vi của ông Lý Xuân Hải bị khởi tố, bắt tạm giam trước đó, được coi là làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế.
 
Hậu quả nghiêm trọng là sau đó số tiền này lại được chuyển vào tài khoản của đối tượng lừa đảo Huỳnh Thị Huyền Như (nguyên Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ (TP.HCM) thuộc Ngân hàng Vietinbank) – từng được coi là đại gia trong lĩnh vực tài chính – chứng khoán. Nửa cuối năm 2011, kinh tế suy giảm kéo theo sự đóng băng của thị trường địa ốc, thị trường tài chính xuống dốc, số tiền này đã bị Như làm cho bốc hơi, gây thiệt hại cho ACB.

Kể từ khi Bầu Kiên bị bắt và Cựu TGĐ Ngân hàng ACB Lý Xuân Hải bị khởi tố, trên nhiều trang mạng liên tục đưa những thông tin về một số lãnh đạo các ngân hàng ở Việt Nam bị bắt. Và trường hợp của ông Trần Xuân Giá – Nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị ACB cũng không phải là ngoại lệ.

Ngay sau chiều ngày 18/9, website ACB phát đi thông báo ông Trần Xuân Giá, ông Lê Vũ Kỳ và ông Trịnh Kim Quang đồng loạt rời khỏi HĐQT của ACB với những lý do khác nhau trong đó ông Giá từ nhiệm với lý do sức khỏe. Gần như ngay sau đó, nhiều trang mạng đã đưa tin ông này bị bắt.

Trao đổi với phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam, ông Trần Xuân Giá cười nói: “Hôm nay (20/9), tôi vẫn đi làm một số việc nên chưa mở các trang web ra để xem. Hiện tại, tôi vẫn đang làm việc và chưa nghe ai nói với tôi về câu chuyện ấy cả. Người ta đồn thổi cũng nhiều và tôi cũng không biết thông tin tôi bị bắt ở đâu ra”.

 
Tuấn Nam

Hệ thống phòng thủ tên lửa mới của Mỹ ở Đông Á – VHNA

21 Th9

Hệ thống phòng thủ tên lửa mới của Mỹ ở Đông Á

TTXVN/Viện “Carnegie Endowment”

Theo tài liệu của viện “Carnegie Endowment” (Mỹ) ngày 7/9, các báo cáo gần đây cho biết Lầu Năm Góc đang triển khai kế hoạch tăng cường khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo ở khu vực Đông Á. Ngoài trận địa rađa trận địa phòng thủ tên lửa hiện đã triển khai ở miền bắc Nhật Bản, lầu Năm Góc đang xem xét bố trí các trận địa rađa ở phía Nam Nhật Bản và ở Philippin.

Theo kế hoạch, Lầu Năm Góc sẽ triển khai loại rađa có dải sóng -X cảnh báo sớm mới hiệu quả. Mặc dù bên ngoài ai cũng nghĩ các trận địa rađa mới của Mỹ là nhằm chống lại mối đe dọa tên  lửa của Bắc Triều Tiên chứ không nhằm chống lại Trung Quốc, nhưng ý đồ thực sự của Mỹ là nhằm đối phó với hai mối đe dọa. Nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố các hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Á “nhằm chống lại mối đe dọa tên lửa từ Bắc Triều Tiên và dọc đường bay của các tên lửa khi Bình Nhưỡng phóng lên. Bằng cách đó rađa theo dõi các tên lửa trên đường đi sẽ hiệu quả hơn. Nói chung, rađa cảnh báo sớm sẽ được bố trí càng gần các trận địa phóng tên lửa càng tốt để có thời gian cảnh báo tối đa. Nhưng vị trí địa lý có thể gây phức tạp cho việc triển khai gần, do đó các ra đa này thường được bố trí dọc đường bay của tên lửa. Gỉa sử một tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) của Bắc Triều Tiên bắn vào lãnh thổ Mỹ sẽ bay qua Cực Bắc, vì vậy miền Bắc Nhật Bản có thể là vị trí thuận lợi để theo dõi các tên lửa của Bắc Triều Tiên đánh vào lục địa Bắc Mỹ. Thực tế, trận địa rađa dải sóng – X có bệ phóng trên đất liền đầu tiên ở châu Á đã được bố trí ở miền Bắc Nhật Bản. Nhưng bố trí rađa cảnh báo sớm ở miền Nam Nhật Bản ít có khả năng theo dõi các tên lửa của Bắc Triều Tiên bay tới Mỹ. Cự ly của trận địa mới cách các trận địa tên lửa của Bắc Triều Tiên tương đương với phạm vi hoạt động của các rađa ở miền Bắc Nhật Bản hiện nay, nhưng rađa sẽ không được bố trí dọc đường bay của tên lửa bay về hướng Mỹ. Trận địa rađa ở phía Nam chỉ có thể được sử dụng để theo dõi các tên lửa của Bắc Triều Tiên đánh vào miền Nam Nhật Bản, do đó có thể giải quyết mối lo ngại của khu vực về mối đe dọa tên lửa của bắc Triều Tiên nhưng không phải mối đe dọa trực tiếp với Mỹ.

Hệ thống rađa thứ ba trong khu vực được triển khai tại Philippin không thể cảnh báo sớm cho Mỹ. Trận địa rađa như vậy sẽ cách xa Bắc Triều Tiên bắn vào các mục tiêu trong khu vực hoặc hoặc Mỹ. Hơn nữa, rađa dải sóng-X không phải loại công nghệ cảnh báo sớm lý tưởng. Rađa cảnh báo sớm cần tìm kiếm các tên lửa trên phạm vi của bầu trời. Mặt khác rađa dải sóng – X chỉ hiệu quả khi theo dõi các tên lửa có độ chính xác cao mà không phải tìm kiếm trong một khu vực rộng lớn. Vì vậy, rađa dải sóng-X thường được sử dụng để theo dõi xác định các đầu đạn đang trên đường tới mục tiêu và đánh giá kết quả của các phương tiện đánh chặn tên lửa. Ví dụ như thành phố Adak – thuộc bang Alaska của Mỹ nằm ở điểm cuối phía Tây của quần đảo Aleutian – là địa điểm chính để bố trí rađa kiểm soát hỏa lực giải sóng – X nhằm theo dõi các tên lửa phóng lên từ khu vực Đông Á và bay tới lục địa Bắc Mỹ. Trong khu vực, rađa dải sóng – X ở miền Bắc Nhật Bản có thể dược sử dụng để đánh chặn các ICBM trong giai đoạn mới rời khỏi bệ phóng. Nhưng các trận địa rađa dải sóng – X mới được bố trí tại miền Nam Nhật Bản và Philippin sẽ không hiệu quả trong việc đánh chặn các tên lửa ICBM của Bắc Triều Tiên nhắm vào Mỹ. Bố trí rađa dải sóng – X tại Philippin sẽ chỉ hiệu quả nếu các tên lửa của Bắc Triều Tiên đánh các mục tiêu trên lãnh thổ Ôxtrâylia – nhưng nước này dường như không lo ngại mối đe dọa của Bắc Triều Tiên. Như vậy triển khai rađa tại Philippin dường như để chống lại mối đe dọa tên lửa của Bắc Triều Tiên như Bộ ngoại giao Mỹ tuyên bố.

Điều này đặt ra một câu hỏi quan trọng: mục tiêu thực sự của các trận địa rađa phòng thủ tên lửa tại Đông Á là gì? Đường bay của ICBM được phóng từ các trận địa ở Đông Á như Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, miền Đông nước Nga và hướng về lục địa Mỹ đều giống nhau. Vì vậy, triển khai các trận địa rađa dải sóng – X ở phía Nam Nhật Bản là lựa chọn không hiệu quả nếu Osinhtơn muốn bảo vệ Mỹ khỏi các cuộc tấn công tên lửa được phóng lên từ các nước khu vực. Việc triển khai đó có thể hiệu quả nếu rađa được sử dụng để ngăn chặn các tên lửa từ Ấn Độ bay tới bờ biển phía Đông của Mỹ. Nhưng do bản chất tích cực của mối quan hệ chiến lược Mỹ – Ấn Độ, kịch bản đó dường như không thể xảy ra. Như vậy chỉ còn một tình huống có khả năng xảy ra khi các trận địa rađa mới triển khai đó có thể phát huy hiệu quả: các trận địa rađa dải sóng – X được bố trí ở Đông Á xung quanh Đài Loan và có thể thuận lợi cho việc đánh chặn các tên lửa tầm trung thông thường của Trung Quốc trong khu vực và các trận địa rađa sẽ theo dõi các tên lửa phóng từ miền Nam Trung Quốc tới trung tâm Thái Bình Dương. Mới đây, Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ công khai thừa nhận, các trận địa ra đa mới triển khai ở miền Nam Nhật Bản nhằm chống lại quân đội Trung Quốc và ngăn chặn các mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên. Tuyên bố này khác với quan điểm của Bộ Ngoại giao Mỹ và có thể gần hơn với ý đồ thực sự của Mỹ. Từ lâu, Mỹ khẳng định sẽ tăng cường sức mạnh quân sự khắp châu Á -Thái Bình Dương, trong khi Trung Quốc đã và đang xây dựng các khả năng quân sự nhằm chống lại sức mạnh quân và các lợi ích quan trọng của Mỹ trong khu vực. Việc Mỹ phát triển các khả năng chống tên lửa dường như để chống lại các khả năng của Bắc Kinh trong việc hạn chế các sức mạnh của Mỹ chống Trung Quốc.

Đáng chú ý, tuyên bố của Tướng Dempsey cho thấy Mỹ và Trung Quốc đang có nguy cơ sảy ra cuộc đối đầu quân sự thông thường ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Các biện pháp mới của Mỹ nhằm triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Á cho thấy Mỹ và Trung Quốc cần một cuộc đối thoại xây dựng về các vấn đề quân sự thông thường. Hơn hai thập kỷ qua, Trung Quốc và Mỹ đã triển khai một số cuộc đối thoại hạt nhân chiến lược hữu ích. mặc dù các cuộc trao đổi không thường xuyên êm ả, nhưng đã xây dựng được các kênh hiệu quả và hiểu biết lấn nhau. Ví dụ, các khái niệm về ổn định chiến lược đang trở thành một khái niệm được tất cả các bên chấp nhận trong các cuộc đối thoại hạt nhân chiến lược giữa hai nước. Sự hiểu biết lấn nhau như vậy sẽ giúp hai bên xây dựng lòng tin về các mối quan hệ hạt nhân chiến lược và có thể đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn những phát triển hạt nhân gây mất ổn định khu vực. Tuy nhiên Mỹ và Trung Quốc không thể xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản về lĩnh vực quân sự thông thường. Trả lời câu hỏi liệu các hệ thống phòng thủ tên lửa có nhằm vào Trung Quốc, nữ phát ngôn bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland cũng khẳng định các hệ thống phòng thủ tên lửa chủ yếu để bảo vệ Mỹ và các nước đồng minh. Do đó, các hệ thống phòng thủ đó sẽ không can dự trừ khi bị các tên lửa tấn công. Tuyên bố của nữ phát ngôn Nuland đặt ra một vấn đề: một cuộc sung đột thế nào có thể khiến Trung Quốc sử dụng các tên lửa để chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh trong khu vực, từ đó kích động các hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ bắt đầu trả đũa? khi một tên lửa được phóng lên, các hệ thống phòng thủ của Mỹ không ngăn chặn nếu việc cảnh báo một cuộc xung đột quá muộn. Vì vậy, Oasinhtơn và Bắc Kinh cố gắng ngăn chặn các cuộc sung đột trước khi chúng bắt đầu bằng cách tìm kiếm các giải pháp hợp tác về các vấn đề phòng thủ tên lửa trong khu vực./.

Nguồn: Tài liệu tham khảo đặc biệt, Thứ tư, ngày 19/9/2012, TTXVN (Niu Yoóc 15/9)

Kinh điển & căn mạng đời người – VHNA

21 Th9

Kinh điển & căn mạng đời người

Nhụy Nguyên

Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.

Phật Thích Ca sau 49 năm thuyết pháp cũng bảo những lời ta nói là thuyết lại lời cổ Phật. Khổng Tử thì nhắn nhủ hậu thế: ông chỉ truyền lời Thánh hiền không thêm bớt không sáng tạo. Vì sao nói lời nào đều phải liên hệ với kinh điển? Nếu kinh điển không mang sinh khí thời đại, không trực tiếp dẫn nguồn vào cuộc sống liệu có còn là kinh điển. Những kinh điển lạc lõng giữa dòng đời bất tuyệt là kinh điển khô nhắc chết cứng, không còn tự bảo vệ được mình trước những phát triển của văn minh nhân loại, trước những phát hiện khoa học về con người và bản thể vũ trụ. Kinh điển ấy… lỗi thời. Kinh điển phải luôn gắn với đời sống; nhất cử nhất động của con người đều có thể soi vào đó mà chỉnh sửa, ấy là kinh điển chân chánh.

Thế kỷ XXI được xem là thời đại khoa học công nghệ. Những phát minh, khám phá của khoa học đã làm chấn động nhân loại. Một trong những công trình đó là khám phá ra biểu cảm của nước (cũng như trước đó khoa học đã khám phá ra bản tánh của thực vật). Một thí nghiệm ở Nhật với hơn một trăm vị sư ngồi tụng niệm yêu thương nước trước một cái hồ bẩn rộng mênh mông, sau một buổi hồ nước trở nên trong. Thân thể người do tứ đại hợp thành, trong đó nước chiếm khoảng 70%, vậy ra bệnh tật xuất phát từ sân hận, mê lú, chấp trước, phân biệt, xan tham, mê đắm, quyến thuộc, tật đố, si ám, ngã mạn… (những thứ khiến cho nước trong thân thể nhiễm ô); và việc chữa bệnh cũng không nhất thiết cần đến Y học. Nhiều ngôi chùa nhận chữa cho những người bệnh mà y học đã bó tay với điều kiện: ở lại chùa ăn chay, nghe giảng đạo… Chính là chùa chữa Tâm (thanh tịnh, trong sáng) chứ không phải chữa thân. Người bệnh mà bệnh viện trả về, tức bị dồn vào bức mành mong manh cuối cùng ngăn cách sống chết. Chỉ với một yêu cầu ăn chay niệm Phật, nghe pháp, lạy Phật mà họ cũng lắc đầu; trong lúc chùa không mảy may vụ lợi. Đủ thấy muốn khai phá chấp trước cũng ngang bằng một người phải san bằng ngọn núi lớn. Đại sư Buddhadasa người Thái Lan trong cuốn “Cốt lõi của cội Bồ đề” (Hoang Phong dịch) gọi đây là “bệnh tâm linh” – “là một căn bệnh không cho phép mình quán thấy được sự thật tối hậu của mọi sự vật đúng thật với những gì là như thế. Do đó bệnh ấy là một thứ bệnh liên quan đến vô minh, hay là sự hiểu biết sai lầm, và nếu đã là một sự hiểu biết sai lầm thì tất nhiên là nó sẽ đưa đến những hành động sai lầm và từ đó phát sinh ra khổ đau”. Và “Phương thuốc giúp chữa khỏi chính là tánh không. Hơn nữa tánh không chẳng những là một phương thuốc mà còn là cả một sự giải thoát có thể làm triệt tiêu tất cả mọi thứ bệnh tật, bởi vì phía sau tánh không sẽ chẳng còn lại gì cả”. Hiểu được lý vô thường chúng ta sẽ không chấp điều lớn nhất: thân này của ta. Theo đó những gì bám víu thân ta sẽ nhẹ nhàng trôi xuôi. Thân như vậy là thân bóng bay với chỉ một sợi dây duy nhất, ta muốn cắt lúc nào cũng được, vậy thì lo gì không lên được Cực lạc?

Khám phá về nước nói riêng làm lay chuyển nhận thức loài người, khoa học gia vĩ đại phải mất vô thiên lủng thời gian, đâu hay đã vô tình chứng minh một vài câu kinh Phật! Còn vô vàn những câu kinh nữa… đều đang chờ khoa học soi chiếu. Nhưng có điều, e rằng khi khoa học bật sáng một góc trời đêm Phật pháp, thì hành tinh xanh đã hoang hóa. Càng khám phá, khoa học càng thấy Phật pháp là bậc thầy của khoa học. Nhưng người ta vẫn chỉ tin và “sử dụng” những câu kinh đã được khoa học minh chứng là đáng tin. Thật đắc địa, một pháp sư gọi hiện tượng đó là “mê tín khoa học”!

Kinh điển Phật giáo là kim chỉ nam của bất cứ người nào muốn trả lời hai câu hỏi: “Ta từ đâu đến?” và “Ta sẽ về đâu?”. (Ở đây xin không hiểu theo danh hiệu của các Phật: Như Lai – không từ đâu đến, không đi về đâu). Nghĩa là chỉ bản lai diện mục của chúng ta? Biết đâu chúng ta đến hồng trần này từ bên châu Phi, biết đâu chúng ta từ cõi ngạ quỷ hay từ cõi trời “rớt” xuống; và (nếu thành tựu trong Tịnh độ), trước mắt chúng ta sẽ biết chắc mình sẽ về Tây phương Cực lạc khi thân giả tạm này mất. Học Phật nhất thiết phải bám sát kinh điển, vừa học vừa hành. Phật đã nhập diệt, ngón tay chỉ trăng bây giờ chính là kinh điển (Đại thừa) và những vị được giới chân tu xem là chứng quả, là Bồ tát thị hiện. “Các con hãy lấy Pháp của ta làm đuốc!” (Kinh Pháp Cú). Không nương theo kinh là không tin lời Phật. “Những kẻ không tin lời Như-Lai nói là những kẻ ngu si, mãi mãi thọ khổ” (Kinh). Một người đời nay không thể không biết – pháp sư Tịnh Không. Ngài bảo những người cúi lạy Phật mà không hiểu Phật, không học Phật chính là mê tín. Và nếu ta hiểu ngược lại: học Phật không hành (ví như học Mật tông lại không trì/nghe chú, học Thiền tông lại không ngồi thiền, học Tịnh độ lại không chuyên trì niệm Phật) thì khác gì bám phần nổi của tảng băng phiêu dạt vô bờ trên biển cả. Theo Phật mà xa rời kinh điển dễ mập mờ giữa chánh và tà. (Tuy nhiên), cổ Đức xưa nói: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly Kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Có một ví dụ rất tuyệt: ly sữa bổ dưỡng là Phật pháp, nhưng thêm vào chỉ một giọt độc thôi, hỏi ly sữa còn dùng được?! Y giáo phụng hành là lẽ căn cốt của người học Phật. Người không tu, không phải vì thế mà khinh khi Phật pháp, đứng trước cửa Không khua chuông đánh trống; không phải vì thế mà ung dung ngoài luật nhân quả, kể cả người theo các tôn giáo khác.

Dưới đây là một số quan điểm lệch lạc về đạo Phật do chính tôi tạo tác. Có câu có lời đã được chính thống hóa trong các ấn phẩm, sách xuất bản; sự ảnh hưởng càng rộng, người viết ra nó sẽ nhận về phần nghiệp càng nặng; có câu mới chỉ là ý niệm – những ý nghiệp hằn sâu trong tâm thức tôi trước ngày đến với Phật. Để thấy nếu tôi không nương vào lời Phật dạy thì nhất cử nhất động, nhất tâm nhất ý đều dễ gây nghiệp. Có khi buông ra một câu song (do mức ảnh hưởng rộng) cả cuộc đời không trả hết nghiệp.

Từ gia đình bước ra xã hội, tôi gặp nhiều cảnh đời tăm tối. Con người bị dồn vào đường cùng bi đát, con người kêu gào trời Phật, nhưng trời Phật dường như không nghe thấy; nên nghe câu “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người”, tôi tin. Thiển nghĩ trời Phật không có, vậy mình nhìn lên trời làm gì? Hãy cứ bám chân trên đất mà đi. Phật có nêu quy luật nhân quả luân hồi, và Phật thần thông quảng đại sao không đưa loài người thoát khỏi Bể Khổ. Thế nên lần đầu tiên tiếp xúc với chữ Không, tôi xem đó là sự phủ nhận trần gian.

Cơ duyên sao giáo lý nhà Phật vẫn cuốn hút tôi. Học thêm được chút ít, mới hay nghiệp ý về chữ Không thật sự nghiêm trọng. Bởi, “Không hay Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong triết lý đại thừa” (Suzuki). Luận về Triết học và Tôn giáo, ông cũng viết: “Đừng lẫn lộn không với không chi; cũng đừng tưởng rằng có một đối tượng của tư tưởng được gọi là không, vì ý tưởng này đi ngược hẳn với bản chất đích thực của Không. Không nên xác định nó như là tương đối tính, như một số học giả quan niệm. Chính Bát nhã dạy rằng các pháp hiện hữu tương quan liên hệ như là những kết quả của những tập hợp duyên sinh và do đó chúng là không (…). Chính Trí Bát nhã soi thấy tất cả những hàm ngụ của Tánh Không”.

Một Hòa thượng người Việt Nam ví Không như con số không. Nó vốn không là gì song thiếu số không (0) thì mọi tính toán trên tiểu học đều tắc tị. “Vì có nghĩa Không này – Tất cả pháp được thành – Nếu không có nghĩa Không – Tất cả bèn chẳng thành” (Trung Luận – Long Thọ). Không gần như là trung tâm luận Phật giáo. Nếu tôi cho Không là sự phủ nhận trần gian thì cũng khác chi nói Phật giáo phủ nhận nhân gian. Kinh Pháp Hoa có một câu dạy rất đặc biệt, nêu lên mục đích ra đời của mười phương chư Phật: “Các đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà ra đời, đó là vì khai ngộ cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”; “Khai hóa hiển thị chân thật chi tế, siêu quá thế gian chư sở hữu pháp, tâm thường đế trú độ thế chi đạo” (Kinh Vô Lượng Thọ);  “Bồ Tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh, thì chính là tùy thuận cúng dường các đức Phật. Còn tôn trọng và thừa sự chúng sanh thì chính là tôn trọng và thừa sự các đức Như Lai. Nếu làm cho chúng sanh vui mừng thì chính là làm cho tất cả Như Lai vui mừng…” (Trích mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát); “Nếu cần hiện thân Tỳ Kheo độ thì hiện thân Tỳ Kheo, nếu cần hiện thân Tỳ Kheo Ni độ thì hiện thân Tỳ Kheo Ni, nếu cần hiện thân cư sĩ độ thì hiện thân cư sĩ” (Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn); “Không những tự điều phục mình mà còn điều phục cho kẻ khác, không những dứt phiền não cho mình mà còn dứt phiền não cho kẻ khác. Không những tự mình qua đến bờ giác giải thoát, mà còn độ cho người khác đến bờ giác giải thoát”. Dẫu vẫn có người chứng được sơ quả liền “chán bỏ” thế gian, ngồi thiền chìm đắm, miên man cực lạc hàng tháng hàng năm mới chịu xuất định, quên mất mục tiêu tối thượng là hóa độ chúng sinh. Thế nên lời Đức Phật dành cho những đệ tử đầu tiên chứng đạo là: “Hãy lên đường, này các tỳ kheo, vì lợi ích cho số đông, vì an lạc cho số đông, vì thương tưởng thế gian, vì lợi ích và an lạc của chư thiên và nhân loại”; Kinh Hoa Nghiêm khuyên nhắc bậc chứng Bồ đề phải “vì người mến thích cảnh giới mà nói pháp vô sở hữu. Vì người mến thích chỗ tịch tịnh mà nói pháp phát thệ nguyện lớn khắp lợi ích tất cả chúng sanh”.

“Vạn pháp giai không, duyên sanh như huyễn”. Bàn về Không thực tế không bờ mé: bất khả thuyết, bất khả luận, bất khả tư nghì. Ở cấp độ người thường, tôi chỉ sờ mó và chấp nhận đưa ra một khái niệm tạm thời chứ không thể xuyên qua bản thể của nó được. Khoảng một phần tư giây là một khảy móng tay, trong một khảy móng tay có hàng trăm triệu lần sinh diệt, mức cực vi tế đó chỉ Phật nhãn mới thấy được. Lão pháp sư Tịnh Không giảng: một giây trên màn hình là sự ghép lại của 24 hình, tức 24 lần sinh diệt, nhưng mắt chúng ta chỉ thấy một bước chân người đi chứ đâu thấy được 24 hình ghép lại. Mức sinh diệt quá nhanh nên nhục nhãn không thể thấy. Vậy đó.  

Con người hợp từ tứ đại, cũng như một đám mây mà ta chỉ thấy đám mây với nhiều hình dạng, chứ đâu thấy hợp tan. Sắc tức thị không không tức thị sắc (Bát nhã Tâm kinh). Mỗi người khi sống chính là có (hình tướng), lúc chết thì tan rã trở về không (hình tướng). “Ngay cả khi sắc được phân ra thành các phân tử cực kỳ vi tế, hoặc các đặc tánh của nó được phân ra thành các hiện tượng giới chẳng hạn như mùi vị, sự nhận biết về bản tánh của sắc vẫn tồn tại”. (Bảo tàng tri kiến, Thế Thân). Không ấy đâu phải là không. Chính là còn linh hồn (theo cách gọi dân gian; trong kinh Phạm võng cũng có nhắc đến “linh hồn đi đầu thai”); gọi theo Phật giáo là thần thức, linh tánh, hay đúng nhất là thức a lại da. Thức ấy không hình tướng trong mắt phàm, song lại là có hình tướng đối với các nhà ngoại cảm hoặc trong mắt ngạ quỷ,… Tiếp tục lại bị “xóa” hình tướng trong mắt Phật để hóa sinh ở Tây phương Cực lạc hoặc Thế giới Lưu Ly của Phật Dược Sư… Và tột bậc của sắc không chính là do tâm tạo. Tam giới duy tâm. Tâm chứng thì hết thảy mười phương khắp pháp giới hiển bày. “Thế giới này được dẫn đạo bởi tâm tư, thế giới này bị quét sạch bởi tâm tư, thế giới này dưới sức mạnh của tâm tư” (Kinh Samytta Nikàya, I, tr. 39).

Sách Truyền đăng lục chép công án “Con chó của Triệu Châu”:

Có người hỏi Thiền sư Triệu Châu:

– “Con chó có Phật tánh không?

Triệu Châu đáp: “Không”.

Phật bảo tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, sao con chó lại không. Không, là cái không đã chút ít luận giải ở trên. “Cái không có này không phải là làm cho không có mà bản tánh của tất cả các pháp vốn là Không” (Kinh Viên Giác). Và nữa, không là “vô”. “Vô” là vô nhị tướng. Nếu một chân tu miên mật, họ chẳng những trừ được tạp niệm bất thiện, mà kể cả niệm thiện. Không cứ là niệm thiện hay tà, hễ khởi niệm là vọng tâm. Ví như người tu Thiền Tịnh song tu, lúc Thiền chỉ niệm 6 chữ “Nam mô A Di Đà Phật”, tuyệt đối không có niệm khác xen ngang. Hễ móng khởi tạp niệm, ấy chưa phải Bồ đề tâm.

Quay lại với ý nghiệp ban đầu. Lúc tôi nghĩ oan cho Tánh Không, thì hàng loạt suy nghĩ sau đó nối đuôi nhau “nhúng chàm”. Từng đọc một tác phẩm văn học, ý nói Phật tuy lớn lao khôn cùng song đã “rủ” loài người đi quá xa hồng trần. Cõi mà Phật muốn con người vươn tới gần như ảo tưởng. Cho nên Phật dẫu là Đại Lương Y sợ rằng sẽ phát cho tôi thứ thuốc ru ngủ sự tuyệt vọng mà mình vì tài hèn nên không đạt được ở cõi trần.

Nói đạo lộ của Phật là ảo tưởng là bóp méo kinh điển. Kinh chính là Phật. Phật chính là Kinh. Những người đắc đạo hiện thời và các Bồ tát được nhân loại “ấn chứng” rất nhiều. Họ chính là kinh điển sống. Họ sờ sờ sừng sững sao gọi là ảo tưởng được nhỉ. Ở Việt Nam có Tuệ Trung Thượng Sĩ, Phật hoàng Trần Nhân Tông, Hòa thượng Từ Đạo Hạnh,… Nước ngoài có tổ Ấn Quang, Thiền sư Hư Vân, Hòa thượng Tuyên Hóa, Pháp sư Tịnh Không, Đức Đạt Lai Lạt Ma. Một giáo sư uyên bác thỉnh giảng khắp thế giới với số giáo án hạn hẹp, lâu lâu không xem lại thì quên. Một thiền sư Ấn ví ấy là kiến thức be bờ đắp đập (dùng xẻng tạo một cái hồ rồi tát nước của thiên hạ vào), lâu ngày nước không cạn cũng đục. Còn bậc đắc đạo giảng pháp suốt cả đời người không lặp chủ đề. Lão pháp sư Tịnh Không riêng giảng bộ Kinh Hoa Nghiêm mất đến 17 năm, chưa nói giảng nhiều bộ kinh khác nữa. Có vị suốt ba mươi năm không xem thời sự báo đài nhưng hỏi đến đâu đều biết tường tận. Đó chính là trí huệ Ba la mật, trí huệ tối thượng, mỗi lời đều như suối mát tuôn chảy không bao giờ cạn. Tôi, bởi không đạt được nghị lực “không bình thường” thì gán phù hiệu ảo tưởng cho mình. Thật muôn lần sám hối!

Có một thực tế, nhiều người bị cuộc đời đánh cho ra “xơ mướp” mới cầu đến Phật, nhưng Phật từ chối. Vì Phật không phải thần linh. Phật là người minh bạch, hiểu rõ chân tướng vũ trụ nhân sinh, nên lời Phật đều là nói về bản thân con người và hoàn cảnh sống; có xa rời thực tế bao giờ. Phật là chỉ con đường thoát khổ cho ai tỏ ngộ cuộc đời này vốn bể dâu. Họ phải học và hành theo đúng lời Phật dạy. Thân tâm an lạc, cuộc sống thanh tịnh chính là Cực lạc. Nếu chặt phăng các kiếp quá khứ và vị lai, chỉ giữ lấy một khúc ngắn là cuộc sống tại cõi ô trược thậm khổ này, dĩ nhiên quan niệm của họ không sai. Học Phật chính là phá mê, “mê” trước nhất là đập bức tường ngăn cách với các kiếp trước sau tương tục. Muốn vậy phải soi mình vào đức hạnh và giáo lý của Phật, không có con đường nào khác. Hễ ai thực hiện được Thập thiện đạo, đã là một trong những người tốt nhất. Thập thiện đạo chính là máy “phát hiện cái giả” trong mỗi người. Nếu Tứ diệu đế, Thập thiện đạo, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên, Lục độ, Lục hòa… là những liều thuốc ru ngủ những người tuyệt vọng, thì có lẽ bây giờ chính là thời… Diệt Pháp – hết thảy nhân loại đều được thay bằng người máy! Tôi cũng được biết đến rất nhiều học giả, nhà khoa học tầm cỡ trên thế giới sau chặng đời “loanh quanh” đã quay về nghiêm túc học Phật, tôn đạo Phật làm Thầy.

Trong tác phẩm văn học khác, tôi cũng từng sản sinh nhiều câu chữ khiến bây giờ đọc lại rùng mình. Xin lấy một ví dụ trong nhiều tội đã gieo vào trang viết. Trong một truyện ngắn, sau khi khen đạo hạnh của vị sư nọ, tôi liền nhét vào mồm nhân vật ấy những lời sau: “Chứ mô như cha thầy chùa hay tới nhà con mệ đầu xóm này này (ông đưa tay chỉ). Nhôông hắn chết lâu rồi. Năm ngoái cha tới tìm mua đất, nói xây cái am tịnh tâm. Tịnh mô nỏ thấy…”. Ấy là tội “báng bổ tăng bảo”, rất nặng. Xin sửa lại: “Chứ mô như thằng cha giả cạo đầu làm sư hay tới nhà con mệ đầu xóm này này…”. Tuy nhiên tôi chỉ đính chính được vài nơi; nhiều cuốn sách được in, nhiều trang web “mặc định” hoặc google lượm lặt, không thể sữa chữa ngoài việc sám hối, hồi đầu chuyển tâm về với Phật, dùng chánh kiến sau đè lên tà kiến trước…

Những dòng chữ của tôi viết trên, dân gian nhìn vào họ sẽ nói: “À, thầy tu là như vậy đó, Phật giáo là như vậy như vầy, rồi “quy kết” Mạt Pháp. Thực tế Pháp thì vẹn nguyên. Phật Thích Ca bảo, đến thời Diệt Pháp (sau khoảng 9000 năm nữa) Pháp chỉ còn 4 chữ “A Di Đà Phật”. Người chuyên sâu Tịnh tông đã thấy, ấy là vạn Pháp được nén vào 4 chữ; chuyên nhất tâm niệm “Nam mô A Di Đà Phật” sẽ thoát khỏi luân hồi. Việc thoát luân hồi phải là mục tiêu căn cốt nhất trong một kiếp người. Nếu không nhắm đến mục tiêu này, “duyên” rơi vào tam ác đạo (súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục) dễ như trong “tầm tay”. Chúng sinh là danh từ dùng chung cho tất cả sinh linh trong tam đồ. Bể Khổ cũng chính là Tam giới (Kinh Pháp Hoa ví là ngôi nhà lửa – Tam giới như hỏa trạch). Con người không nhìn thấy ngạ quỷ và chúng sinh trong địa ngục (và không chịu tin mình cũng có “cơ duyên” làm súc sinh) nên không tin đời là Bể Khổ, cũng dễ hiểu (!).

Trong sự gọi là “Mạt Pháp”, chính là do cá nhân tôi góp thêm tội nghiệp. Nếu không một lòng hướng về cõi Phật, không chừng cửa địa ngục A Tỳ đang mở rộng… Kinh chép, thuyết giảng cho ngài Trừ Cái Chướng xong, lúc bấy giờ Đức Phật bảo ngài A-Nan: “Nếu ai khinh mạn chư Tăng Ni, thì người này sẽ sanh trong gia đình bần cùng hạ tiện. Ở mọi nơi sanh ra, các căn đều chẳng hoàn chỉnh, gù lưng, lùn và xấu xí. Lúc xả báo thân đó, thì khi sanh ở đời sau sẽ chịu nhiều bệnh tật, gầy ốm héo hon, chân tay co quắp, có máu mủ ứa ra và nhiểu khắp trên thân thể. Đó là khổ báo mà trăm ngàn vạn năm người này phải thọ lấy”.

Bước được bước đầu tiên vào cửa Phật, đã thấy được sức hút của Phật học về các tầng trời cảnh giới, nhưng thật lạ kỳ là tôi vẫn có một sự so sánh tai hại mà đến bây giờ ngẫm lại dẫu có chui xuống gầm giường cũng không hết xấu hổ. Một nhân vật tôi nặn ra đã không thể cưỡng sức hút ghê gớm của đàn bà (chuyện bình thường của kẻ sơ cơ), tai hại là nhân vật ấy ví sức hút đó cao hơn sức hút của Đạo, từ đó bẻ gãy mầm xanh Phật pháp mới nhú.

Sức hút tinh thần chính là sức hút từ cõi thiêng vốn sẵn trong mình. Tinh thần ở đây có thể hiểu là Tâm. Tâm là đích tu luyện mà đạo Phật nhắm tới. Tâm như “hạt minh châu” ngời sáng bị cơn lốc cuốn theo mọi tạp vật nhơ uế vùi lấp; vạn duyên buông xuống, tay không sẽ nắm trọn hư không pháp giới. Còn sức hút ghê gớm của người đàn bà là sức hút của… hổ. Hòa thượng Quảng Khâm từng hàng phục được cả hổ bằng tâm từ; hổ nhường hang cho ông tu, dẫn con kiếm chỗ ở khác. Hòa thượng Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng đã nhắc kẻ đương cơ, dâm chính là hổ, chưa hàng phục được dâm chính là chưa hàng phục được hổ. Vạn ác dâm làm đầu; người tu còn bị “hổ” kia gầm gừ thì đừng hòng nhấc chân khỏi mặt đất.

Ở truyện ngắn khác (may là chưa công bố và đã có dịp chỉnh lại) tôi mô tả cảnh người người đổ xô về chùa tìm chốn nương thân lánh nạn, rồi phán họ xuất thế gian chạy đi tìm Cực lạc. Những nhân vật không có chút khiêm hạ, không có lòng tự trọng, trốn tránh việc thế gian trong thời tao loạn chạy lên chùa xài đồ chùa mà phán là tìm Cực lạc! Thực tế trong trăm ngàn người, để thấy người chân tu Tịnh độ nguyện sanh về Tây phương nước Phật thì tôi phải tìm mờ mắt. Là bậc đại chân tu, tài sản của họ chỉ vài bộ y, mỗi ngày ăn một đến hai bữa đạm bạc không thể đạm bạc hơn, bữa ăn của “hộ nghèo”; họ không nắm tiền bạc, hết thảy vật cúng dường dành làm từ thiện, ấn tống kinh điển, hoằng pháp lợi sanh… Kinh ví một hạt gạo cúng dường nặng tựa núi Tu Di, người tu nhận rồi phải vắt chân đêm ngày mau chóng viên thành chánh quả, thực hiện ước nguyện lớn nhất: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Hòa thượng Tuyên Hóa tu đắc đạo, khi thiêu hiện xá lợi, trong một buổi giảng Kinh Địa Tạng năm 1969 đã có đề cập vấn đề này: “Đừng nói là người tại gia, ngay cả tôi tuy là kẻ xuất gia, song hễ đến trú ở bất cứ Thường Trụ nào, tôi đều có cúng dường (…). Nếu quý vị quả thật là không có tiền thì không sao, nhưng nếu có tiền thì chớ nên xâm tổn của Thường Trụ; cho dù là người xuất gia cũng không nên xâm tổn của Thường Trụ. Bởi Thường Trụ là ví như đại địa, là nơi trú ngụ của đại chúng; nếu quý vị phá hoại, phung phí của Thường Trụ, khiến cho đại chúng bị thiếu thốn, không đủ ăn, thì quý vị có tội rất lớn”. Thế nên dòng người “của chính tôi” chạy đến chùa chiền xâm hại sẽ tội nặng hơn cả “mang lông, đội sừng”. Kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương nêu chi tiết những ai phương hại, chiếm đoạt Thường Trụ lãnh quả báo ở địa ngục nhiều kiếp thật là khủng khiếp, sau đó mới thác sanh vào trong một gia đình bần cùng hạ tiện với hình hài dị tật.

Một vấn đề rất cũ, và cũng đã được cắt nghĩa: Phật không phải thần thánh. Dĩ nhiên, người chứng sơ quả tức siêu phàm nhập thánh, nghĩa là thần. Quả vị cao hơn như sơ trụ Bồ tát họ đã đầy mình thần thông. Song không bao giờ có chuyện những người đó thị hiện trước chúng sanh. Do chúng sanh cần tự ngộ; hiển bày thần thông chẳng khác đưa “mồi” dụ dỗ, đánh mất cơ hội giác ngộ của người tu. Không tự ngộ dẫu có tu được chút thần thông cũng chẳng thể lên nước Phật. Đây là chân lý của Đạo. Bước biến chuyển sai lầm của tôi bắt đầu: Lúc gặp người kêu oan “vô vọng”, tôi không cho rằng có Phật; chập chững theo Phật, tôi lại cho “ông” là bậc siêu nhiên. Bây giờ mới lờ mờ hiểu cái lý Phật không phải thánh thần. Tin thần thánh là tín đồ của tôn giáo (trong khi đạo Phật không phải tôn giáo). Phật chỉ vào mỗi người và bảo Phật có sẵn trong tâm vẩn đục kia, hãy tin ở chính bản thân mình, trọn làm theo lời ta sẽ đến bờ giác ngộ); ai tin như vậy mới chính là con Phật. Ngài từng căn dặn: “Nếu con coi ta là Phật, con sẽ không bao giờ thấy được Phật. Nếu con lắng nghe giáo Pháp của ta mà coi là Pháp, con sẽ không bao giờ thấu đạt được chân Pháp.” Gyalwang Drukpa XII gọi đó là “thông điệp vĩ đại”. Kinh Kim cang Bát nhã Ba la mật: “Nếu như vị A-La-Hán nghĩ thế nầy: Ta chứng được quả vị A-La-Hán, thời chính là còn chấp-trước tướng ngã, nhân, chúng-sanh, thọ-giả”. Nên có đạo lý: hễ ai phát ngôn chứng quả (dẫu là quả Tu đà hoàn thấp nhất), người ấy sẽ bị tước bỏ. Lúc ấy họ chẳng phải từ đọt tre rơi xuống mặt đất mà chính là từ trên trời rơi thẳng xuống… địa ngục. Nhà Phật có treo khẩu hiệu ngầm: hễ hôm nay để lại thân phận hoặc bị lộ mình là Phật, Bồ tát tái lai (Bố Đại hòa thượng (Phật Di Lặc), Hàn Sơn, Thập Đắc (Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền), Vĩnh Minh thiền sư (Phật A Di Đà),…), ngày mai họ sẽ rời nhân gian. Chuyện về tổ Ấn Quang (được xem là Ngài Đại Thế Chí tái lai hóa độ) là một minh chứng điển hình.

Ngôn ngữ vốn dừng lại ở mức gọi tên cái đã có tên (siêu ngôn ngữ), với Thiền, ngôn ngữ chỉ tạm gọi tên điều bất khả (Nếu pháp rốt ráo thì pháp tánh của tự tánh chẳng phải là tự tánh. Pháp thí dụ không thể thuyết. Nếu dùng danh tự cũng không thể thuyết. Ðây là một pháp mà Như Lai giác ngộ (Kinh Vô Tự Bảo Khiếp); đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh – Lão Tử). Chúng ta thường dịch Thiền là suy tư mặc tưởng (Méditation). Nhưng thiền vốn trống không. Nếu hàng sơ cơ thì nhiếp tâm theo dõi mọi biến thái chạy qua tâm mà không dùng lý trí, không tâm tùy cảnh chuyển. Hoặc có thể thiền Tứ niệm xứ; đầu tiên là quán (tạm xem là suy tư mặc tưởng) về thân bất tịnh: từ lúc còn trong bụng mẹ, sinh ra bùng nhùng nhau thai nhuốm máu, quán đến những chỗ bẩn nhất trên cơ thể, quán trong mình chứa thứ hôi thối, quán bệnh tật mụt nhọt ghẻ lở, quán lúc chết nằm trong quan tài rữa ra… Trụ lại ở hiện tượng người ấy không xen cảnh khác. Còn nếu ngồi suy tư mặc tưởng, tâm chụp cái này săm soi chưa chán đã chê rồi với cái kia như đứa trẻ trước đống đồ chơi thì chẳng phải thiền nữa. Hoặc ngồi thiền niệm 6 chữ Phật hiệu; mỗi “Nam mô A Di Đà Phật” là một mắt xích, cứ thế nối nhau thành sợi xích kéo cỗ máy phi thời gian đi miết, nếu một niệm xen vào nghĩa là sợi xích bị đứt, trở thành thiền… loạn.

Đời nay vẫn có nhiều bậc tu trì giới một cách nghiêm ngặt. Lấy giới làm Thầy theo “di chúc” của Phật. Nhưng lắm người nhìn vào lại phản bác sự “khổ hạnh” đó. Rồi múa rìu qua mắt thợ khuyên họ hãy sống một cách tự nhiên, tùy duyên để có thể viên thành chánh quả. Đúng là Phật đưa ra lối tu trung đạo (hành theo Bát chánh đạo). Tuy nhiên cần hiểu sâu hơn. Một hành giả chân chính phải ngày vài ba lần tham thiền, hoặc vài ba lần tụng kinh niệm Phật, lạy Phật, ở chùa thì ai nấy 3 giờ sáng là đã thức dậy công phu. Đối với các bậc thượng căn thì mức độ hành trì còn “khủng khiếp” hơn nhiều. Hòa thượng Quảng Khâm một mình lên núi bế quan, chỉ ăn rau củ kiếm được, nhiều lúc suýt mất mạng vì thiếu thốn. Ngài Hư Vân “tam bộ nhất bái” xuyên mưa gió bão bùng, đồi núi, một mình băng băng. Tâm không vững thì dẫu là thân kim cang cũng gục ngã. Nghị lực tâm phi thường đó nhiều lần kéo thiền sư khỏi cõi chết nhập thánh duyên. Luyện tâm là khó nhất khổ nhất trong mọi sự luyện (luyện thân, luyện trí; luyện đan, luyện gang thép kim cương…). Không nhẫn nhục khổ ải thì cái vé lên nước Phật rẻ rúng quá sao? Hòa Thượng Tuyên Hóa đưa ra hai phương án: đời này chịu khổ chút chút để có Vô lượng thọ, ngược lại truy tìm cái sướng giả ảo một kiếp để nhận lãnh vô lượng nghiệp trong Tam ác đạo, hãy chọn.

Thế nên trước đây đọc Thiền luận tôi đã gán yếu tố “cơ hội”, “ăn may” trong việc đốn ngộ. Kinh Pháp hoa: “Nhược nhân tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng Nam Mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo”. (Nếu người tâm tán loạn, đi vào trong tháp Phật, niệm một lần ‘Mô Phật’, cũng đủ thành Phật đạo). Sự “thành Phật đạo” này hiểu là “sẽ thành” như Phật nói: “Ta là Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành”; còn thành lúc nào thì chưa biết được. Nhiều người nhờ nhân lành trong đời trước, phút lâm chung hội đủ nhân duyên, nên chỉ niệm một câu Phật hiệu đúng vào thời điểm cận tử nên được tiếp dẫn lên thế giới Tây Phương của Phật A Di Đà. Xin dẫn câu chuyện chép trong kinh: một ông già đến quy y với Phật, liền đắc quả; các đồ đệ ngạc nhiên vì họ nhìn trong vô vàn đời quá khứ của ông không thấy có “nhân”. Phật mới nói: các ông chỉ nhìn thấu suốt tám mươi vạn kiếp lại đây, còn trước đó các ông không thấy: có kiếp ông ta là một tiều phu, lên rừng bỗng dưng gặp hổ, ông trèo lên cây; giữa lúc không còn hy vọng nào ông ngửa mặt lên trời “mô Phật” cứu độ. Đấy là câu niệm Phật bằng cả máu huyết căn mạng. Nhân lành ấy gieo, sau hơn tám mươi vạn kiếp mới viên mãn Bồ đề. Để thấy có người niệm vạn câu Phật hiệu vẫn không rút ngắn kiếp nào trên đường dài tiến về nước Phật, có người hành thiện suốt đời vẫn không tích được mảy may phước đức, có người tu theo kiểu gieo nhân, nên mãi vẫn là phàm phu.

Cũng như bản thân viết những dòng này đã vô cùng hổ thẹn. Phật học là đại dương, tôi chỉ có một vốc nước để soi khuôn mặt nhớp nhúa của mình. Tôi đã phóng con tàu hạnh nghiệp quá sớm lúc mình chưa đủ sức đuổi theo nó. Nên dăm lời thô mộc là hiểu đúng hơn chút xíu với những gì chưa thật đúng, và sự hiểu này cũng cần phải được chỉ dạy thêm từ những bậc uyên thâm Phật pháp.

Tiếng Việt trên báo chí thời @ – nguoilotgach

21 Th9
 

Tiếng Việt trên báo chí thời @

Từ điển: “Xoa chim lâu, Đít nhô, Bu sờ, Cu lông, Ai địt, Vê tê vê chấm o rờ gờ…”

 
“Thái Lan có ngài: Sổm-sặc Kiệt-sụ-ra-nôn? Xin dơ tay lên, để tui phát thuốc – Ai bị xịt? – Ko phải tui!”

“Hôm nay, còn có đoàn đại biểu cấp cao nước Lào đã sang thăm VN. Thành phần của đoàn gồm có đồng chí Vay Hẳn Xin Xin Hẳn, Xăm Thủng Kêu Van Hỏng, Ôm Phản Lao Ra Biển, Say Xỉn Xông Vô Hẻm, Teo Hẳn Mông Bên Phải, Xà Lỏn Dây Thun Lỏng, Say-xỉn-lăn-ra-phản. Trong đoàn cấp cao còn có các nhà báo nổi tiếng là Leo Tủ Ăn Đu Đủ, Ăn Tỏi Xong Bum Bủm và nữ ký giả Cai Hẳn Thôi Không Đẻ.
Cùng ngày có ngài  Ivan-Cu-To-Như-phích, Mông-to Đít-giơ, Cô-giơ-mông Tôi xoa ghé thăm Việt Nam.”
Còn đây là tiếng Anh trong nhà bếp:
– Nhìn vào cái mâm thì nói “Mâm đây” : Thứ hai (monday).
– Nhìn vào hũ tiêu và nói “Tiêu đây”: là thứ ba (tuesday).
– Nhìn vào cái chổi và nói “Quét đây”: thứ tư (wednesday).
– Nhìn vào cái thớt nói ” Thớt đây”: thứ năm (Thursday).
– Nhìn vào con dao, nói “Phay đây”: là thứ sáu (Friday).
– Nhìn vào hũ rượu rắn của chồng và nói “Xà tửu đây”: là thứ bảy (Saturday).
– Còn Chủ nhật (Sunday) thì nói “Sướng đây”.
… Tháng 10 – Otober là “Óc trâu bò ” 
Nhà đài: Vê tê vê chấm o rờ gờ 

Những hình ảnh cực độc chỉ có ở VN (Phần 30)
Những hình ảnh cực độc chỉ có ở VN (Phần 30)
 
 

 


“Loạn” phiên âm: Giới ngôn ngữ học bức xúc

Ronaldinho = Rô-nan-Đít-Nhô
Joachim Löw = Xoa-Chim-Lâu
Bush = Bu-sờ
Young = I-âng 
Coulomb = Cu-lông
Loseby = Lô-dơ-bi
Kuyt = Ku-ít
Reagan = Ri-gân
Kutznetsov = Cu-nhét-xốp 
Upradit = U-pra-đít = U-pra-địt 
Aidit = Ai-đít = Ai-địt 
Resort = rì-dọt = ri-dọt Edison = Ê-đi-xơn
Hugo = Hu-gô = Hiu-gầu
Shakepeare = Sếch-pi-a
VTV = vờ tờ vờ = vê tê vê 

Croatia = Cờ-râu-ấy-sà = Hờ-vua-xờ-ka
WTO = Đúp-bờ-liu-ti-âu = Vê-kép-tê-ô
Moscu = Mát-xít-cơ-va
Pascal = Pat-xì-kan
Washington = Oa-sinh-tơn
Marxist = Mát-xít 
Marx = Mác
Angel = Ăng-ghen
Michael = Mai cơn = Mai cồ
Yersin = Y-éc-xanh
Mozart = Mo-da
Yoga =  I-o-ga
MaliVai Washington = Man-lờ-ví-ờ Oa-sinh-tơn 
Matraca Berg = Mờ-trấy-sờ Bợt
Michellie Jones = Mờ-kí-lì Giôn
Kiki Cuyler = Cai-cai Cái-lờ  
Kiki Dee = Ki-ki Đi

Tiếng Anh bình dân:
Iran = Một răng
Iraq = Một rắc 
Campuchia = Cam
National = Na sô nan = Na ti ô na
Adele = A đeo Hifi = Hai phai 
Highlight = Hai lai 
Sign = Si nhê 
Idol = Ai-đồ
Honda = Hông da
Karaoke = Ka rao ké
Cafe = Cà phé = Cà
Video = Vi déo 
Vá ép = Vá F 
Mercedes = Mờ-xây-đì = Mẹc
Deream = Rim
Suzuki = Su
Yamhama = Da
Yahoo = Già hú
Google = Gút le = Gúc gồ
forums = Phố rùm
Blog = Bờ lốc = Kờ lốc

HLV Joachim Loew
– Báo Tiền Phong: Giô-a-chim Lâu
– BTV Khánh Thư (home.vnn.vn): Gioa-chim Lớp
– Nhà báo Phan Đăng, báo Bóng Đá: Hoắc Kim Lêu
– Các anh BLV Tạ Biên Cương, Khắc Cường,…: Giô Kim Lớp, Xoa Chim Lâu, Hoa Kim Lớp
– Một mem của diễn đàn pes.vn: Vò Chim Lo
– Một mem của diễn đàn webtretho: Doa Chim Lớn
– Một mem của diễn đàn arsenal.com.vn: Hoan Kim Lúp
– Một vài cách đọc sưu tầm thêm: Giơ Chim Lâu, Giơ Chim Lắc, Rớt Chim Lo, Rách Chim Lo 

Quán quân kiên định “làm trong sáng tiếng Việt” thuộc về Báo Nhân dân và QĐND – đồng hạng.

 

Quá mạnh, đội Bác-xê-lô-na đoạt ngôi vô địch 
 
  Thứ hai, 30/05/2011

 
Tiền đạo Mét-xi (người năng Cúp) thi đấu xuất sắc giúp đội Bác-xê-lô-na giành ngôi vô địch.  
 
HLV Phơ-gu-xơn và các học trò đã không thể trả được “món nợ” hai năm trước và lại thua 1-3 trước đối thủ quá mạnh Bác-xê-lô-na trong trận chung kết diễn ra rạng sáng 29-5. Chiếc cúp danh giá xứng đáng thuộc về đội bóng mạnh nhất, hay nhất Bác-xê-lô-na.

Sân Oem-blây có thể được coi là sân nhà của các cầu thủ đến từ thành phố Man-che-xtơ, bởi vậy, ngay từ phút nhập cuộc đầu tiên, các cầu thủ M.U tiến công mà không cần thăm dò. Khoảng 10 phút đầu, các cầu thủ M.U chơi ép sân và gây áp lực lên hàng phòng ngự Bác-xê-lô-na bằng tốc độ của Ru-ni, Héc-nan-đéc, Va-len-xi-a, Pác Gi-sung… Nhưng sau đó, Bác-xê-lô-na đã lấy lại được thế trận với lối chơi ‘ma thuật’ của mình. Khoảng 15 phút liên tiếp, các cầu thủ Bác-xê-lô-na khiến đối thủ phải chạy theo bóng vất vả. Phút 27, sau pha dàn xếp rất biến hóa, H.Xa-vi chọc khe để Pê-đrô nhận bóng ở tư thế khá trống trải, sút tung lưới thủ môn Van Ðờ Sa, mở tỷ số cho Bác-xê-lô-na. Lối chơi phối hợp nhuyễn và khả năng di chuyển không bóng rất thông minh của đội bóng đến từ Tây Ban Nha khiến các cầu thủ M.U đối phó rất vất vả. Tuy nhiên, sự xông xáo và quyết tâm của Ru-ni đã mang lại bàn gỡ hòa 1-1 cho M.U vào phút 34. Pha ghi bàn của M.U là sự phối hợp đẹp mắt và Gích là người chuyền bóng để Ru-ni sút tung lưới thủ môn Van-đét. Cuối hiệp 1, Bác-xê-lô-na vẫn là đội chiếm ưu thế.
Hiệp hai, Bác-xê-lô-na tiếp tục áp đảo, M.U lại rơi vào tình thế mất phương hướng như trận chung kết mà họ để thua hai năm trước. Hàng phòng ngự M.U và thủ môn Van Ðờ Sa đã phải chật vật chống đỡ sức tiến công mạnh mẽ của Bác-xê-lô-na. Những Xa-vi, In-ni-e-xta, Mét-xi, Vi-la… tỏ ra vượt trội so với đối thủ. Phút 53, Mét-xi khiến thủ môn Van Ðờ Sa vào lưới nhặt bóng lần thứ hai. Từ cự ly khoảng 20 m, Mét-xi bất ngờ sút bóng, thủ môn Van Ðờ Sa phần bị che khuất, phần phản ứng chậm, đã không thể cản phá được cú sút này. Chưa hết, các cầu thủ Bác-xê-lô-na còn tiếp tục ‘tra tấn’ thầy trò HLV Phơ-gu-xơn. Liên tiếp các phút 63, 64, Mét-xi và In-ni-e-xta lại buộc thủ môn Van Ðờ Sa phải trổ tài cứu thua. Hàng phòng ngự của M.U trở nên chệch choạc trước áp lực của đối phương và để thủng lưới bàn thứ ba ở phút 69: D.Vi-la sút bóng nhanh rất hiểm vào góc cao khiến Van Ðờ Sa bó tay dù đã bay người hết cỡ.
Na-Ni và P.Xcôn sau đó vào sân thay cho D.Xin-va và Ca-rích nhưng cũng không cải thiện được tình thế. Bác-xê-lô-na quá mạnh và hoàn toàn xứng đáng giành chiến thắng chung cuộc 3-1 để đoạt chiếc cúp Champions League danh giá.

_________________

CÂU CHUYỆN ĐI TÌM LẠI BẢN IN ĐẦU CỦA TẬP THƠ “GÁI QUÊ” – nguyentrongtao

21 Th9

CÂU CHUYỆN ĐI TÌM LẠI BẢN IN ĐẦU CỦA TẬP THƠ “GÁI QUÊ”

 

NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM SINH HÀN MẶC TỬ (22/9/1912 – 11/11/1940)

LẠI NGUYÊN ÂN

Có một việc liên quan đến số phận tập thơ Gái Quê của Hàn Mặc Tử, ấy là cho đến nay hầu như vẫn chưa tìm lại được bản in lần đầu của tác phẩm này.

Đương nhiên, không ai nghi ngờ tập sách ấy đã từng được in ra, và không ít bạn đọc, không ít nhà văn nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà giáo, ở Hà Nội, ở Huế, ở Sài Gòn, v.v… vào những năm 1940s, 1950s, 1960s, 1970s, 1980s, … đã từng nhìn thấy, thậm chí từng sở hữu tập sách mỏng đó.

Nhưng đến đầu những năm 1990 thì rõ ra là rất khó tìm ra tập sách cũ ấy.

Năm 1992, chuẩn bị cho dịp kỷ niệm 60 năm nảy sinh phong trào thơ mới, chúng tôi ở Nxb. Hội nhà văn, phối hợp với Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học Tp. HCM. quyết định thực hiện bộ sách “Phong trào thơ mới. Những tập thơ tiêu biểu”. Tôi (Lại Nguyên Ân) và nhà thơ Ý Nhi, người ở phía Bắc, người ở phía Nam, được giao việc sưu tầm tài liệu, tổ chức biên soạn. Dự án này chọn 12 tập thơ của 11 tác giả: Thế Lữ,Lưu Trọng Lư,Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, Huy Thông – mỗi người một tập, riêng Xuân Diệu 2 tập (Thơ thơ Gửi hương cho gió); các tập thơ này sẽ in như những tập sách riêng, nhưng đóng chung vào một hộp giấy, như một bộ ấn phẩm quý.

Về “tác phẩm tiêu biểu” cho từng nhà thơ mới và cho cả phong trào, nhìn chung khi thực hiện, chúng tôi đã chọn đúng được tập thơ như dự định, ví dụ Lửa thiêng (Huy Cận), Điêu tàn (Chế Lan Viên), v.v…, nhưng cũng có trường hợp buộc phải thay đổi do không tìm được tài liệu, chẳng hạn, do không tìm được toàn văn tập Tiếng địch sông Ô nên đã phải sử dụng tập Tiếng sóng. Yêu đương (Huy Thông), hoặc cũng đã phải châm chước dụng ý chọn “tác phẩm đầu tiên” để chọn “tác phẩm tiêu biểu”, ví dụ đã bỏ qua Mấy vần thơ, tập cũ, để chọn Mấy vần thơ, tập mới (Thế Lữ)hoặc vì không tìm được nguyên văn Tâm hồn tôi nên đã chọn Lỡ bước sang ngang (Nguyễn Bính).

Với tập Gái quê, chúng tôi vấp trở lực thật sự.

Các thư viện lớn nhất như Thư viện quốc gia ở Hà Nội, Thư viện Tổng hợp và Thư viện Khoa học xã hội Tp. HCM. đều không có tập Gái quê. Ý Nhi viết thư nhờ hỏi những người gần gũi tác giả, thì những hồi âm từ ông Nguyễn Bá Tín (em ruột Hàn Mặc Tử), nhà thơ Quách Tấn (bạn thân Hàn Mặc Tử), nhà thơ Mai Đình – đều trả lời không có đủ toàn văn Gái quê, dù ở dạng sách in hay bản thảo; đăng lời tìm kiếm tập thơ lên báo Sài Gòn giải phóng (12/10/1992) cũng không thấy hồi âm nào. Sau cùng, Ý Nhi được nguồn tin của nữ sĩ Mộng Tuyết cho biết: hồi nhà thơ Chế Lan Viên soạn Tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử (1987), ông đã chép tay tập Gái quê mượn ở tủ sách riêng của ông Nguyễn Văn Y. Năm ấy, 1992, cả hai người – Chế Lan Viên và Nguyễn Văn Y – đều đã mất; người nhà ông Y hứa tìm trong tủ sách gia đình, nhưng rốt cuộc từ nguồn này không có hồi âm gì. Ý Nhi tìm tới gia đình nhà thơ Chế Lan Viên và được vợ nhà thơ là nhà văn Vũ Thị Thường cung cấp bản chép tay kể trên.

Tập Gái quê ở dạng chép tay của Chế Lan Viên không có bài tựa của Phạm Văn Ký (như báo chí đương thời nói về ấn bản này), tổng số thơ trong tập được chép lại gồm 21 bài; không rõ đó có phải là tất cả số bài trong bản in?, lại cũng không biết có hay không sự sửa chữa, ít nhất là sửa lỗi in, của người chép?, bởi … không ai có chính bản in Gái quê lần đầu ngõ hầu đối chiếu!

Bộ sách “Phong trào thơ mới. Những tập thơ tiêu biểu” do Nxb. Hội nhà văn và Hội NCGDVN Tp. HCM. thực hiện hồi năm 1992, cho đến nay cũng đã là một ấn phẩm vào loại hiếm. Nhưng từ ấy đến nay, nói riêng, chuyện tìm kiếm bản in Gái quê lần đầu vẫn quá ít tin tức lạc quan.

Từ đầu năm 2012 này, qua những thư từ trong giới nghiên cứu, tôi được biết nhà phê bình Đặng Tiến – hiện ở Pháp – đang dò theo một manh mối ít nhiều khả thủ. Ông Đặng Tiến được biết bà Hoàng Thị Quỳnh Hoa, người gốc Huế, hiện ở bang Maryland, Hoa Kỳ, là cháu (gọi bằng cô) bà Hoàng Thị Kim Cúc, người đã được chính Hàn Mặc Tử tặng một tập Gái quê. Bà Quỳnh Hoa hiện còn giữ được một bản sao lại bản đánh máy năm 1969 do một người tên là Trần Như Uyên thực hiện; bản của Trần Như Uyên, trên thực tế cũng được sao lại từ bản đánh máy của nhà thơ Phan Văn Dật ở Huế.

Chính bản sao ở tầng thứ ba trong một quy trình sao lưu bằng máy chữ kể trên, tập Gái quê sẽ được tái xuất hiện trước công chúng trong một ấn bản do Cty Phương Nam và Nxb. Hội nhà văn cho ra mắt tháng 9/2012 này, nhân kỷ niệm 100 năm sinh Hàn Mặc Tử, cũng là dịp kỷ niệm 80 năm Phong trào Thơ Mới (1932-1945).

Được biết, tập Gái quê ở dạng bản sao tái xuất hiện lần này sẽ gồm 34 bài. Tức là nhiều hơn đến 1/3 so với dung lượng tập Gái quê do Chế Lan Viên sao lại bằng chép tay năm 1987.

Nhưng con đường đi tìm lại bản in lần đầu tập thơ Gái quê chưa thể kết thúc, với ấn bản mới lần này. Bởi vẫn chưa tìm thấy tận mặt tận nơi một tập Gái quê do nhà Tân Dân in lần đầu tại Hà Nội, sách do tác giả Hàn Mặc Tử tự xuất bản, bản in hoàn thành khoảng cuối tháng 10/1936.

***

Nhân niềm vui nho nhỏ lần này của cộng đồng văn chương Việt, tôi xin góp một tài liệu mới tìm được, ghi nhận sự xuất hiện tập Gái quê giữa làng thơ Việt đương thời. Ấy là một đoạn trong một bài điểm sách báo mới của tuần san Hà Nội Báo, tòa soạn ở 88 phố Huế, Hà Nội, số ra ngày 11/11/1936, ký tên tòa soạn nhưng thường là do chủ bút Lê Tràng Kiều thực hiện.

Bài điểm sách của Hà Nội báo viết:

“GÁI QUÊ là một tập thơ của ông Hàn Mặc Tử, phần nhiều tả những cảnh sắc nhà quê, cây tre, khóm lau, bờ cỏ, hay những tình, những phút yêu, mong, nhớ những cô gái quê. Nó có một cái phong vị, một cái “mùi” quê, nghĩa là một cái phong vị mộc mạc, ngây thơ và thi vị.

Tuy cả tập GÁI QUÊ không phải bài nào cũng hay ngang với bài nào, và có nhiều bài dở nữa, nhưng nhiều bài tỏ ra rằng tác giả quả có một tâm hồn đa cảm, nồng nàn của một thi nhân, và vì thế còn ở trên nhiều những ông thợ thơ khác nhiều. Tôi nói hẳn ngay: tác giả là một thi sĩ.”

Trích in toàn bài Tình quê là bài mà mình thích nhất trong tập Gái quê, người điểm sách của Hà Nội Báo bảo rằng: “Đọc lên người ta nghe như tiếng gió rạt rào trong khóm tre một buổi chiều hôm, tiếng nghe văng vẳng buồn, một cái buồn nhè nhẹ. Bài ấy có cái âm điệu như bài Tiếng Thu của ông Lưu Trọng Lư, và có lẽ đã chịu ảnh hưởng của ông Lư. Người ta còn thấy tác giả chịu ảnh hưởng của ông Thế Lữ nữa”.

Người điểm sách của Hà Nội Báo còn khen tác giả Gái quê dùng được những “phẩm từ” (= tính từ chỉ phẩm chất) rất ý nhị, như cặp má thì đỏ au au, nói “vẻ” thì đó là vẻ ngọt ngào, vẻ ngon, v.v…

Đây là bài điểm nhiều sách báo mới khác nhau, nhưng người điểm sách dừng lại lâu hơn nhiều hơn hết ở tập Gái quê vừa ra mắt mà đương nhiên ông cũng chỉ vừa đọc qua. Dẫu thấy ở tập thơ đầu tay của nhà thơ trẻ này đôi khi còn sa vào cầu kỳ, đẽo gọt, v.v…, nhưng người điểm sách của Hà Nội Báo (mà tôi tin chắc là Lê Tràng Kiều) khẳng định: “Dầu thế nào, tập GÁI QUÊ cũng có thể kể là một tập thơ hay!”

Lời khẳng định ngay lúc tập thơ Gái quê vừa ra mắt ấy, cho thấy nó đã lọt vào cặp mắt xanh của một nhà phê bình.

15/9/2012

HỘI NGHỊ BỘ CHÍNH TRỊ NGÀY MAI: “THỎA HIỆP” HAY ” ĐÁNH NHAU”TIẾP ? – PVĐ

21 Th9

HỘI NGHỊ BỘ CHÍNH TRỊ NGÀY MAI: “THỎA HIỆP” HAY ” ĐÁNH NHAU”TIẾP ?

 
Phúc Lộc Thọ.

Ngày mai, Bộ chính trị sẽ nhóm họp 5 ngày để đi tới kết luận một số vần đề được đưa ra mà chưa kết luận trong kỳ họp kiểm điểm lần trước; Các ý kiến chưa ngã ngũ vừa qua đã được giao cho Ủy ban Kiểm tra, xác minh để trình hội nghị Bộ chính trị lần này…Các kết luận này sẽ được “luật đảng” hóa bằng hình thức đưa ra Ban chấp hành Trung ương xin kiến và có thể tiến hành biểu quyết để hợp thức hóa, bằng hình thức tập trung dân chủ tức số đông thống trị số ít; thiểu số phục tùng đa số trong phiên họp tháng 10…
Song song với diễn biến của các cuộc kiểm điểm của các ủy viên Bộ Chính trị là việc xảy ra các vụ án và các vụ bắt giữ một loạt cán bộ ngân hàng và cán bộ liên quan tới hoạt động kinh tế; Dư luận vỉa hè cho rằng đây là cuộc ra tay của các nhóm ích bằng những cú ra đòn giáng thoi vào đội hình của nhau để nhằm mục đích phá vỡ thế quân bình phân chia quyền lực và thế bố trí chiến lược về nhân sự. Dư luận vỉa hè vẫn đang đồn đoán về cuộc chiến giữa 2 nhóm lợi ích đang kình nhau trong trận chiến vừa qua: Nhóm lợi ích quây xung quanh Chính phủ và thân Chính phủ và nhóm lợi ích Đảng …
Nhóm “lợi ích Đảng” muốn siết lại kỷ cương Đảng,chấn chỉnh lại các hoạt động kinh tế,quá trớn, sa đà của nhóm lợi ích đang nắm quyền sinh quyền sát các yết hầu kinh tế như các vụ án Vinashin,Vinalines,Ngân hàng…Hiện nay, việc bắt giữ được Dương Chí Dũng đang là một ẩn số và các thông tin liên quan tớ nhân vật này đang bị giữ kín như bưng: liên quan tới ai, Dương Chí Dũng ăn chia với những ai; ai tiếp tay cho Dương Chí Dũng bỏ trốn ?Riêng vụ án Dương Chí Dũng đã hé lộ sự phân hóa,phân tâm sâu sắc trong ngành công an, lực lượng điều tra?
Trong cuộc chiến vừa qua, để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi nhất là đối với các lão thành, đang trở thành một thế lực gây áp lực không nhỏ đối với chính trường Việt; nhóm lợi ích Đảng đã giương ngọn cờ chống tham những và cuộc chiến nhằm mục đích bảo vệ những “nồi cơm chim”, diệt trừ sâu rầy để tấn công nhóm lợi ích chi phối các “mâm xôi có thịt” ( mượn ý của Trần Đăng Tuấn )…
Đây là cuộc chiến có những nét đặc thù và một bên đều có những chỗ mạnh,yếu khác nhau, chí tử về thế quân bình chiến lược, chiến thuật…
Có một vài thông tin cho biết: Cuộc chiến trong kỳ họp Bộ Chính trị sắp tới sẽ dẫn tới một kết cục thỏa hiệp, trung dung vốn là tư chất của TBT Nguyễn Phú Trọng nhằm cân bằng sự kình nhau giữa 2 “đầu lĩnh” Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang…
Nếu quả thực dẫn tới kết cục này thì đây là kết cục của một cuộc “đẽo chân cho vừa dày” bởi sự vụng về của anh thợ giày nửa mùa, nghiệp dư; thực tế những xung đột trong vừa qua đang đòi hỏi một sự ngã ngũ trong các vấn đề kinh tế xã hội đã và đang tích tụ biết bao những vấn đề bức xúc rất dễ gây cháy nổ thành các đám cháy lớn…Nếu không làm rõ trắng đen để điều trị nhanh, dứt điểm thì sẽ dẫn tới những những tích tụ thành các khối u ác có khả năng làm vỡ tan những mảng lớn của xã hội….
Vậy thì chỉ còn cách là phải đánh nhau tiếp thôi ? Ai đánh,đánh như pía nào,vũ khí gì và khả năng đột phá đến đâu ? Đây là những vấn đề đang như trong hũ nút khiến cho dư luận vỉa hè không có điều kiện tham chiến…
Một thách thức không nhỏ của nhóm nhân danh đại diện cho những “nồi cơm chim” đó là họ đang phải đối đầu với một số đông đang bị liên lụy bởi các ” mâm xôi có thịt “chi phối; Do vậy mà lực lượng này không thể không tính đến cái tình cảnh ” chú lúc ni, mi lúc khác” hoặc “chân mình những lấm bê bê nỡ nào cầm đuốc mà rê chân người“; ” Đã trót tương đồng trong một quán; Dẫu trà ôi rượu độc cũng là duyên “…Cái xu hướng chủ đạo số đông này rất có khả năng chi phối níu áo để ghìm cái cuộc họp Bộ Chính trị ngày mau vào kết cục “thỏa hiệp “…
Cái kết cục thỏa hiệp này rất dễ đẩy nhóm ích nhân danh những “nồi cơm chim” vào thế “Sượng sùng giữ ý rụt rè; Đã nhìn rõ mặt mà phải e cúi đầu…” vì cái sự thất thố nhãn tiến bởi những cú ra đòn kiểu “Cao Biền dậy non”; Và nếu phái của nhóm ích của những mâm xôi có thịt giữ được tỷ số hòa,tức thắng trên sân khách…thì đây là một bài toán nán giải, một cái thế rất dễ dẫn tới bế tắc toàn cục, đẩy đất nước vào “con đường hầm không lối thoát”; Sự bế tắc này không chỉ đối với cái Đảng đang nắm trong tay quyền sinh, quyền sát mà cả với tương lai tiền đồ,đất nước,dân tộc…
Liệu phái nhân danh “nồi cơm chim” có dám, có đủ khả năng quyết đấu đến cùng bởi cái chí khí: “Áo xiêm, ràng buộc lấy nhay; Vào luồn ra cúi công hầu làm chi “; “Phong trần mài một lười gươm;Những phường giá áo túi cơm sá gì” ... dẫu biết mình rồi sẽ bị rơi vào tình cảnh chết đứng như Từ Hải ???
Nếu ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Trần Đại Quang có thật sự muốn mở ra một kỷ nguyên mới cho Đảng Cộng sản VN, cho tiền đồ dân tộc thì nên đẩy cuộc chiến cho tới bờ tới đích, cho đến đầu đến đữa; còn khi đánh rắn không dập dầu thì sự nguy hại không chỉ cho riêng tương lai chính trị của các  ông…
Sau cuộc chỉnh đốn Đảng lần này, nên tiến hành một cuộc cách mạnh về thể chế, thực ra là trở lại mô hình Hồ Chí Minh, đổi tên Đảng Cộng sản trở lại là Đảng Lao động Việt Nam; cho tái thành lập lại 2 đảng Dân chủ và Xã hội như trước năm 1975…Có điều Đảng Dân chủ và Xã hội lần này nên là những Đảng chính trị thực chất chứ không phải là những món đồ trang sức..Chỉ có đó cách đó mới cứu Đảng cộng sản thoát khỏi tình cảnh vô lối,lăng loàn do sự chi phối, lộng hành của nhóm lợi ích” mâm xôi có thịt”…đang kéo bè kéo cánh làm tan hoang cơ đồ đất nước,dân tộc…

 
P.L.T.

Mỹ lại ra đòn hiểm bất ngờ với Trung Quốc – VnMedia

21 Th9

 

Mỹ lại ra đòn hiểm bất ngờ với Trung Quốc

(VnMedia) – Sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ vừa ra sức trấn an Trung Quốc bằng tuyên bố không đứng về bên nào trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Châu Á hiện nay thì một quan chức cấp cao Mỹ mới đây lại tuyên bố, nước này sẽ bảo vệ Nhật Bản trong cuộc tranh chấp ở Senkaku/Điếu Ngư. “Cú đấm” bất ngờ này của Mỹ chắc chắn sẽ khiến Bắc Kinh nổi giận.
 
Xoa dịu…
 
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tuần này đã thực hiện một chuyến công du Châu Á kéo dài một tuần với các chặng dừng chân gồm Nhật Bản, Trung Quốc và New Zealand.
 
Tại thủ đô Bắc Kinh, trong bài phát biểu trực tiếp với các sĩ quan trẻ Trung Quốc hôm 19/9, Bộ trưởng Panetta đã tìm cách trấn an Bắc Kinh về nỗi quan ngại của nước này trước sự can thiệp của Mỹ vào cuộc tranh chấp ở Senkaku/Điếu Ngư cũng như kế hoạch quân sự của Mỹ trong khu vực.
 
Trung Quốc gần đây luôn cảm thấy bất an và không thoải mái khi Mỹ thường xuyên can thiệp vào một loạt các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và Hoa Đông của họ với các nước láng giềng. Nói về vấn đề này, ông chủ Lầu Năm Góc hôm 19/9 đã tái khẳng định, Washington sẽ giữ lập trường trung lập, không đứng về bên nào trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ hiện nay ở khu vực Châu Á. Ông Panetta đã kêu gọi cả Nhật Bản và Trung Quốc đều cần phải bình tĩnh, kiềm chế để tránh một cuộc xung đột có thể gây hậu quả nghiêm trọng.
 
Ngoài nói đến sự lo lắng của Trung Quốc về việc Mỹ can thiệp vào các cuộc tranh chấp lãnh thổ, Bộ trưởng Quốc phòng Panetta cũng không quên đề cập đến nỗi quan ngại lớn của Bắc Kinh trước kế hoạch đưa thêm lực lượng, tàu chiến và triển khai hệ thống lá chắn tên lửa mới của Mỹ ở Châu Á.
 
Kể từ khi Lầu Năm Góc thông báo về kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương hồi đầu năm nay, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh dường như “mất ăn mất ngủ”.
 
Tuy nhiên, tại một trường học của quân đội Trung Quốc giữa thủ đô Bắc Kinh, Bộ trưởng Panetta đã khẳng định: “Kế hoạch sắp xếp lại lực lượng ở Châu Á – Thái Bình Dương của chúng tôi không phải là một nỗ lực nhằm kiềm chế Trung Quốc. Đó là một nỗ lực nhằm tăng cường hợp tác với Trung Quốc và mở rộng vai trò của mối quan hệ hợp tác này trong khu vực Thái Bình Dương. Kế hoạch của chúng tôi là tạo ra một mô hình mới trong quan hệ giữa hai cường quốc Thái Bình Dương”.
 
… và sau đó là thêm một “cú đấm” bất ngờ
 
Khi Trung Quốc còn chưa kịp thở phào nhẹ nhõm trước những lời trấn an, xoa chịu chắc nịch của Mỹ thì ngay ngày hôm qua (20/9), một quan chức cấp cao của Mỹ đã lên tiếng tuyên bố, nước này có trách nhiệm phải bảo vệ Nhật Bản trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.
 
Ông Kurt Campbell, Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, mới đây đã phát biểu trước Tiểu ban Đối ngoại của Thượng viện Mỹ rằng, quần đảo Senakaku/Điếu Ngư – nhóm đảo nhỏ chưa có người sinh sống ở biển Hoa Đông, “rõ ràng” nằm trong hiệp ước phòng thủ chung mà Mỹ và Nhật Bản đã ký kết năm 1960. Cụ thể, theo hiệp ước này, Mỹ có trách nhiệm phải bảo vệ Nhật Bản nếu cường quốc Châu Á này bị tấn công. Phạm vi bảo vệ của Mỹ đối với Nhật Bản bao gồm cả quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
 
“Chúng tôi không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền đối với những hòn đảo nhỏ đó. Tuy nhiên, chúng tôi phải thừa nhận rõ ràng rằng, Nhật Bản đang nắm quyền kiểm soát quần đảo Senkaku và vì vậy, quần đảo này chắc chắn vẫn nằm trong phạm vi Điều khoản 5 của Hiệp ước An ninh”, ông Campbell đã phát biểu như vậy tại một phiên điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ về các cuộc tranh chấp lãnh thổ hiện nay ở Châu Á.
 
Điều khoản 5 tuyên bố, “mỗi bên phải thừa nhận rằng, một cuộc tấn công vũ trang vào bất kỳ bên nào trong vùng lãnh thổ dưới sự kiểm soát của Nhật Bản đều là hành động nguy hiểm đối với hòa bình và an ninh chung của hai bên. Vì thế, hai bên sẽ phải hành động để đối phó với mối nguy hiểm chung. Hành động đó phải phù hợp với các tiến trình và quy định của hiến pháp”.
 
Nhật Bản đã kiểm soát những hòn đảo nhỏ chưa có người sinh sống ở biển Hoa Đông từ năm 1895 đến nay và đặt tên cho nhóm đảo nhỏ này là quần đảo Senkaku. Trước đó, từ 1945-1972, Mỹ quản lý quần đảo Senkaku.
 
Rõ ràng, Mỹ đang bị đặt vào tình thế tiến thoái lưỡng nan trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản. Nếu một cuộc xung đột Trung-Nhật nổ ra, Mỹ chắc chắn sẽ phải can thiệp vào bởi nước này có ràng buộc với Nhật Bản bởi một Hiệp ước phòng thủ chung. Tuy nhiên, Mỹ hoàn toàn không muốn gây căng thẳng quá mức với Trung Quốc bởi điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ. Đây là lý do giải thích tại sao, trong thời gian qua Mỹ đã tăng cường các nỗ lực ngoại giao nhằm làm dịu căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

 

 

Kiệt Linh

Trung Quốc thành lập doanh nghiệp ở Tam Sa – VOA

21 Th9

Trung Quốc thành lập doanh nghiệp ở Tam Sa

 

Thành phố Tam Sa được thiết lập trên một hòn đảo mà Việt Nam và Ðài Loan cùng tuyên bố chủ quyền

 
Trung Quốc vừa cho thành lập hai công ty tại thành phố Tam Sa trong khu vực có tranh chấp với Việt Nam ở Biển Đông.

Báo chí Trung Quốc ngày 20/9 loan tin Sở Công thương tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) cho phép lập công ty Kỹ thuật Xây dựng Tam Sa và công ty Đầu tư Du lịch Hàng Không Hải Nam-Tam Sa lần lượt hôm 23/8 và 6/9 vừa qua.

Đây là hai doanh nghiệp đầu tiên được lập tại thành phố Tam Sa do Trung Quốc mới thành lập trên đảo Vĩnh Hưng mà Việt Nam gọi là đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, khu vực Việt Nam có tuyên bố chủ quyền.

Gíơi chức Trung Quốc cho biết chính quyền Tam Sa kỳ vọng sắp tới sẽ có nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp tiếp tục mở cửa làm ăn ở thành phố này.  

Khi thành lập thành phố Tam Sa hồi tháng 7 năm nay nhằm quản lý hơn 200 đảo nhỏ, bãi cát, và bãi đá ở khu vực bao gồm cả quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và các vùng biển lân cận ở Biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã tuyên bố sẽ cho xúc tiến các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng và hoạt động kinh tế, du lịch tại đây.
 
Hôm 25/8, nhà chức trách Trung Quốc đã cho khởi công xây dựng nhà máy xử lý rác thải, nước thải tại thành phố Tam Sa.

Các động thái đơn phương của Bắc Kinh ở quần đảo Hoàng Sa liên tiếp diễn ra trong bối cảnh tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam, Philippines, và Nhật Bản liên quan đến chủ quyền trên Biển Đông đang ngày càng leo thang.

Việt – Trung đàm phán hòa bình vấn đề Biển Đông – VNN

21 Th9
 

Việt – Trung đàm phán hòa bình vấn đề Biển Đông

 

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Nam Ninh, Quảng Tây.


Chiều 20/9, tại Nam Ninh, Quảng Tây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp Phó Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình.

Phó Chủ tịch Tập Cận Bình nhiệt liệt hoan nghênh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Hội chợ và Hội nghị thượng đỉnh thương mại, đầu tư ASEAN – Trung Quốc lần thứ 9, thể hiện sự coi trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với việc tăng cường quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc; ủng hộ đối với Hội chợ và Hội nghị thượng đỉnh thương mại, đầu tư ASEAN-Trung Quốc, đóng góp thiết thực vào sự hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc mừng nhân dịp kỷ niệm lần thứ 63 Quốc khánh Trung Quốc và những thành tựu to lớn mà nhân dân Trung Quốc anh em dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc đã đạt được trong 63 năm qua; chúc Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức thành công Đại hội 18.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo của Chính phủ Trung Quốc và Chính quyền Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây trong việc tổ chức thành công Hội chợ ASEAN-Trung Quốc (CAEXPO) lần này, cho đây là cơ hội rất tốt để các nước ASEAN và Trung Quốc tăng cường giao lưu hữu nghị, thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc ngày càng phát triển.

Hai vị lãnh đạo nhất trí cho rằng, tình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc do các thế hệ lãnh đạo tiền bối và nhân dân hai nước dày công vun đắp là tài sản vô cùng quý giá của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, hai bên cần phải có trách nhiệm kế thừa, gìn giữ và phát huy.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ láng giềng, hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước là chủ trương nhất quán, lâu dài mang tầm chiến lược và là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.

 

Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam, sẵn sàng cùng với Việt Nam thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước không ngừng đi vào chiều sâu.

Hai bên nhất trí cho rằng, trong tình hình hiện nay việc không ngừng tăng cường sự tin cậy về chính trị có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cả hai nước và đánh giá cao kết quả chuyến thăm Trung Quốc tháng 10/2011 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chuyến thăm Việt Nam tháng 12/2011 của đồng chí Tập Cận Bình và cuộc gặp gần đây giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào bên lề Hội nghị cấp cao APEC 20 tại Vladivostok, Liên bang Nga (9/2012).

Đàm phán hòa bình vấn đề Biển Đông

Lãnh đạo hai nước đã đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng và những biện pháp cụ thể thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới như duy trì và tăng cường các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước; thúc đẩy hợp tác thực chất cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế, thương mại, nhất là các dự án đầu tư qui mô lớn mang tính biểu tượng; tăng cường hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương và các hoạt động giao lưu nhân dân; đẩy mạnh hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế; tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Hai bên nhất trí cho rằng cần kiên trì giữ gìn hoà bình, ổn định tại Biển Đông, giải quyết thoả đáng mọi vấn đề thông qua đàm phán hoà bình và xuất phát từ tầm cao chiến lược của quan hệ hai nước.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, điều quan trọng nhất hiện nay là hai bên cần thực hiện nghiêm chỉnh nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, tuân thủ nghiêm túc Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, giải quyết thoả đáng tranh chấp và những vấn đề mới nảy sinh thông qua đàm phán hữu nghị, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC), tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử của các Bên tại Biển Đông (COC).

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam trân trọng mời Phó Chủ tịch Tập Cận Bình và các vị lãnh đạo cấp cao Trung Quốc sớm sang thăm Việt Nam sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18.

Ông Tập Cận Bình vui vẻ nhận lời và cho rằng việc duy trì tiếp xúc cấp cao có vai trò hết sức quan trọng, không thể thay thế trong việc không ngừng tăng cường và củng cố quan hệ giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước.

Theo Cổng thông tin điện tử chính phủ

 

Tranh chấp Trung – Nhật: cuộc giành giật ưu thế khu vực? – VNN

21 Th9
 

Tranh chấp Trung – Nhật: cuộc giành giật ưu thế khu vực?

Mối quan hệ phức tạp của Nhật với Trung Quốc, vì gánh nặng lịch sử và các tranh chấp địa chính trị kéo dài đã trở nên “rắc rối” hơn.


Tại Trung Quốc đã diễn ra làn sóng biểu tình phản đối Nhật Bản với quy mô lớn. Động thái này bắt nguồn từ tuyên bố mà Tokyo đưa ra tuần trước rằng, họ quyết định mua quần đảo Senkaku/Điếu Ngư từ chủ sở hữu tư nhân. Quần đảo này do Nhật quản lý nhưng Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta – người đang công du châu Á, và nhiều quan chức khác của Mỹ đã bày tỏ quan ngại rằng, tranh chấp leo thang giữa Nhật Bản và Trung Quốc ở Hoa Đông có thể dễ dàng dẫn tới đối đầu vì sự hiểu nhầm hay sự cố nào đó.

Các cuộc đàm phán song phương về quần đảo này đã bắt đầu từ 2004 nhưng không thành công trong việc hoà giải xung đột chủ quyền của hai bên, cũng không thiết lập được một cơ chế đồng thuận để cùng khai thác tài nguyên năng lượng nằm ở các vùng kinh tế hàng hải có sự chồng lấn chủ quyền.

Chính quyền Obama khẳng định sẽ tôn trọng các cam kết an ninh của Mỹ với Nhật, nhưng cũng tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp.

Mối quan hệ phức tạp của Nhật với Trung Quốc, vì gánh nặng lịch sử và các tranh chấp địa chính trị kéo dài đã trở nên “rắc rối” hơn bởi thực tế rằng, sự thành công nhanh chóng của Trung Quốc trong tăng trưởng trùng khớp với một thập niên kinh tế trì trệ của Nhật Bản.

Nỗi lo an ninh của Nhật về Trung Quốc trong những năm gần đây bao gồm nỗ lực hiện đại hoá quân đội Trung Quốc (PLA), Trung Quốc tăng chi tiêu quốc phòng và không ngừng mở rộng tiếp cận các tuyến vận chuyển và tài nguyên tự nhiên ở Hoa Đông.

Tháng 2/2005, lần đầu tiên, Tokyo và Washington công khai xác định “giải pháp hoà bình cho các vấn đề liên quan tới Eo biển Đài Loan” là một “mục tiêu chiến lược chung” tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Nói một cách tổng quát hơn, Nhật Bản có lẽ là quốc gia lo lắng nhất trước sự trỗi dậy sức mạnh kinh tế và quân sự Trung Quốc. Các quan chức Nhật và Mỹ đã thong qua các chính sách “rào giậu” trong trường hợp sự trỗi dậy kinh tế, chính trị và quân sự Trung Quốc trở thành một mối đe doạ an ninh.  

Về phần mình, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng có lo lắng tương tự trước các khả năng quân sự ngày một phát triển của Nhật, việc Tokyo mở rộng vai trò an ninh ở Đông Á và các nỗ lực sửa đổi những điều khoản hoà bình trong hiến pháp Nhật Bản.

Cụ thể, Bắc Kinh e ngại rằng, sự hợp tác quân sự đang mở rộng giữa Tokyo và Mỹ có thể dẫn tới việc Nhật sẽ hỗ trợ Đài Loan trong bối cảnh giả định xảy ra xung đột xuyên eo biển.

Về lâu dài, các chuyên gia an ninh Trung Quốc lo ngại Nhật có thể tận dụng tiềm năng công nghệ và công nghiệp bao gồm cả khả năng tiềm ẩn về vũ khí hạt nhân của mình, để trở thành một cường quốc quân sự lớn.

Quyết định của một uỷ ban nghị viện Nhật Bản khi cho phép chính phủ sử dụng các khả năng không gian mạnh mẽ của Nhật vào những mục tiêu quân sự “phi gây hấn” có thể càng đào sâu những lo lắng ấy. 

Kể từ cuối những năm 1990, các tàu Trung Quốc đã tiến hành những cuộc nghiên cứu thăm dò ở vùng biển mà Nhật Bản tuyên bố chủ quyền, khiến cho các cuộc tranh chấp song phương thêm căng thẳng xung quanh quyền khoan thăm dò các mỏ khí tự nhiên dưới đáy biển ở Hoa Đông.

Hai nước còn có xung đột chủ quyền về việc phân định ranh giới Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) theo Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS).

Các căng thẳng trở nên đặc biệt trầm trọng vào tháng 9/2010, sau khi một tàu cá Trung Quốc hoạt động ở vùng biển tranh chấp gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đụng độ với tàu phòng vệ bờ biển Nhật Bản (JCG).

JCG đã bắt giữ vị thuyền trưởng tàu cá cùng các thành viên trên tàu và đưa về đất liền Nhật Bản. Sự cố lập tức leo thang thành một sự việc quốc tế. Bắc Kinh phản ứng gay gắt, bao gồm cả lệnh cấm không chính thức xuất khẩu đất hiếm – nguyên liệu rất cần thiết cho nhiều sản phẩm công nghệ cao của Nhật.

Cuộc đụng độ gần đây về Senkaku/Điếu Ngư xảy ra vào thời điểm cả hai chính phủ đều phải đối mặt với thách thức mạnh mẽ có thể coi là “động lực” thúc đẩy đối đầu xung quanh vấn đề tranh chấp lãnh thổ hàng hải, quyền sở hữu các nguồn tài nguyên tự nhiên giá trị, tầm quan trọng chiến lược của khả năng trình diễn sức mạnh hàng hải và phòng thủ quốc gia. Cả hai chính phủ cũng phải đối mặt với chủ nghĩa dân tộc dâng cao làm lực cản trong tiến trình hoà giải.

Cuộc xung đột có thể dịu lại nếu các tài nguyên cạnh tranh được xác định có giá trị thấp hơn nhiều mong đợi. Cho tới nay, có rất ít bằng chứng xác thực ước tính của Trung Quốc về trữ lượng 160 tỉ thùng dầu trong khu vực tranh chấp.

Trữ lượng khí tự nhiên tuy ở các vùng biển tương đối nông và gần các vùng có nhu cầu cao của Trung Quốc thì vẫn nhỏ hơn nhiều trữ lượng phát hiện ở tỉnh Tân Cương cũng như Kazakhstan – dự kiến sẽ cung cấp cho Hệ thống ống dẫn Tây – Đông vận chuyển khí tự nhiên từ Trung Á tới Trung Quốc.

Từ quan điểm của Tokyo, một hệ thống ống dẫn từ Hoa Đông vào đất liền Nhật Bản vừa tốn kém và xây dựng rất khó khăn. Các công ty Nhật thay vào đó chú tâm hơn ở những cơ hội thương mại tại các phần khác của thế giới, bao gồm các mỏ khí rẻ hơn, dễ tiếp cận hơn và ít rủi ro chính trị hơn.

Nhưng ngay cả khi quần đảo tranh chấp chứng minh giá trị thấp về mặt kinh tế, thì tư duy chiến lược trong cuộc cạnh tranh ưu thế hàng hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản vẫn ngày càng trở nên quan trọng.

Những bất mãn lịch sử trong quan hệ hai nước, cuộc cạnh tranh quyền thăm dò khai thác tài nguyên tự nhiên và sự ganh đua quân sự mới nảy sinh là vấn đề cơ bản mà Đông Á chưa bao giờ trải qua trong đó cả Nhật Bản và Trung Quốc đều là những quốc gia mạnh mẽ và quyết đoán.

Trước Cải cách Minh Trị 1868 của Nhật, Trung Quốc là một cường quốc chiếm ưu thế trong khu vực. Ở thế kỷ tiếp theo, Tokyo giành được vị thế siêu cường và chỉ bị gián đoạn trong một thời gian ngắn sau Thế chiến II.

Trong kết quả của sự trì trệ kinh tế kéo dài ở Nhật và sự cải tổ kinh tế thành công của Trung Quốc, Đông Á giờ đây phải nhường chỗ cho hai cường quốc kinh tế tương đương, cả hai đều mở rộng các mối quan tâm an ninh và không ngừng gia tăng các khả năng khuếch trương sức mạnh.

Mặc dù giải quyết tranh chấp lãnh thổ bằng vũ lực là điều không có lợi với tất cả mọi người, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta nhấn mạnh tại Tokyo, có rất ít bằng chứng cho thấy, Mỹ hay một cường quốc bên ngoài nào khác có thể làm để ngăn chặn căng thẳng. Tuy nhiên, các nỗ lực ngoại giao Mỹ có thể tiếp tục để góp phần duy trì đối thoại và những cơ chế khác để kiềm chế căng thẳng leo thang.

Tác giả: Richard Weitz là nhà nghiên cứu cấp cao về phân tích Quân sự – Chính trị tại Học viện Hudson. Ông có những bài viết sắc sảo về chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Thái An (theo worldpoliticsreview)

 
 

Israel đã sẵn sàng chiến tranh? – VNN

21 Th9

Israel đã sẵn sàng chiến tranh?

 Lực lượng Quốc phòng Israel (IDF) đã bắt đầu một cuộc tập trận bắn đạn thật bất ngờ trên Cao nguyên Golan, sát biên giới Libăng và Syria.

Quân đội Israel chính thức tập trận để sẵn sàng chiến đấu nhằm phản ứng với cuộc tấn công bất ngờ từ nhóm Hezbollah có căn cứ tại Libăng.

Lãnh đạo IDF là Trung tướng Benny Gantz đã yêu cầu quân đội từ các tư lệnh Trung tâm và phía bắc củng cố lực lượng, mô phỏng tình huống khẩn cấp.

IDF lập luận rằng cuộc tập trận chỉ là một sự kiện thường kỳ được lên kế hoạch từ trước, tuy nhiên không cho biết mục đích tập trận là gì, bao nhiêu binh sĩ tham gia và các thiết bị chiến đấu cụ thể.

Một phóng viên phụ trách mảng quân sự của kênh Radio của Israel cho biết thời điểm tập trận này “không chỉ mang tính chất trùng hợp”.

Các binh sĩ được đưa từ trực thăng cất cánh ở miền trung Israel tới cao nguyên Golan để tập trận.

Cuộc tập trận bắn đạn thật sẽ tiến hành vào buổi chiều và sẽ do chính lãnh đạo bộ phận pháo binh của IDF là Tướng Roei Riftin giám sát.

Các cuộc tập trận tương tự diễn ra vào năm ngoái và vào tuần trước IDF cũng tiến hành một cuộc tập trận mô phỏng một cuộc tấn công bằng hỏa tiễn trên diện rộng của Hezbollah vào Israel.

Nhiều lần, lực lượng quốc phòng Israel đã bày tỏ lo ngại về tình hình tại Syria khi nội chiến ở quốc gia này đang ngày càng dâng cao và phức tạp hơn. Syria có một lượng lớn vũ khí hóa học và Israel sợ rằng các vũ khí này có thể rơi vào tay các phần tử ‘bất hảo’ nếu như chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad bị lật đổ.

Một số quan chức Syria chạy khỏi đất nước nói rằng Tổng thống Assad lên kế hoạch chuyển một số trong kho vũ khí hóa học sang cho nhóm Hezbollah.

Từ cuối tuần trước, IDF đã bắt đầu củng cố hàng rào ở biên giới Israel – Syria ở khu vực cao nguyên Golan.

Một số hình ảnh tập trận

 

  • Lê Thu (theo RT)

 

14 tác phẩm được giải thưởng “Sách hay 2012”

21 Th9

14 tác phẩm được giải thưởng “Sách hay 2012”

 Giải thưởng “Sách hay 2012” vinh danh 14 tác phẩm nhằm tiếp tục nỗ lực “gạn đục khơi trong”, đi tìm và phát hiện chân giá trị của từng cuốn sách.

Sáng ngày 20.9 tại TP.HCM, lễ công bố và trao giải “Sách hay lần 2 – 2012”, do Viện IRED và Dự án Sách hay tổ chức, đã diễn ra với dự khán của hàng trăm nhân sĩ, trí thức, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu, các bậc thức giả, nhà văn, nhà báo, chuyên gia và người yêu sách.

Nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn (bìa phải) trao giải sách nghiên cứu cho TS. Nguyễn Đức Lộc, đại diện NXB Tri Thức và dịch giả Nguyễn Văn Trọng.)

Giải thưởng năm nay có chủ đề “Sách và Khai minh” nhằm nêu bật ý nghĩa sách như một công cụ khai minh xã hội; gìn giữ, tôn vinh và lan tỏa những giá trị trhi thức và văn hóa tốt đẹp đến cộng đồng. Giải thưởng đặt trên cơ sở các bậc thức giả, giới trí thức và bạn đọc cùng bắt tay “gạn đục khơi trong” tạo ra một “màng lọc tri thức” trong bối cảnh sách hay dở lẫn lộn giữa bể sách mênh mông.

Do vậy, những cuốn sách được trao giải năm nay được yêu cầu phải chứa đựng những tư tưởng, triết lý tiến bộ, đồng thời có tính khai minh/khai sáng cao trong từng hạng mục giải thưởng.

Buổi lễ đã diễn ra trong không khí trang trọng và xúc động, giữa niềm vui của những người nhận giải xen lẫn những khoảng lặng tưởng nhớ đến các tác giả/dịch giả quá cố như GS Hoàng Phê, nhà văn Phùng Quán, nhà văn Nguyễn Mộng Giác và dịch giả Nguyễn Trung Đức.

  
Vợ nhà văn quá cố Nguyễn Mộng Giác (bìa phải) lên nhận giải thưởng sách văn học thay ông

Những người dự khán đã dành tràng pháo tay dài cho cố nhà văn Nguyễn Mộng Giác (1940 – 2012) khi tên ông và bộ tiểu thuyết 5 tập “Sông Côn mùa lũ” vang lên trong hạng mục giải thưởng sách văn học. Vợ ông là người lên nhận thay bởi cách nay hai tháng, ông đã đi về miền miên viễn.

Nói như nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, thành viên hội đồng xét giải sách văn học, với hơn hai ngàn trang viết trong “Sông Côn mùa lũ” (NXB Văn Học, năm 1998), cố nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã đưa Nguyễn Huệ (người cùng quê với ông) trở về gần với đời thường, xóa đi khoảng cách sử thi, thường thấy trong thủ pháp xây dựng hình tượng những anh hùng.

Năm nay, “Sách hay” có thêm giải Dấu ấn mới dành cho những tác phẩm ra đời chưa lâu và có tính đột phá, mới mẻ, đại diện cho những xu hướng đọc sách, viết sách và làm sách tiến bộ. Giải thưởng thuộc về nhà văn – nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú và tác phẩm “Có 500 năm như thế” tìm hiểu qua trình Nam tiến của người Việt dẫn tới những giao lưu, tiếp biến văn hóa với người Chămpa.

  
“Chuyện con mèo dạy hải âu bay” đoạt giải sách dịch dành cho thiếu nhi

Tại buổi lễ, nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá cuốn sách là “một nghiên cứu công phu, và có thể là quan trọng nhất” về một vấn đề lớn đã được đề cập nhiều nhưng vẫn chưa xứng tầm với nó. Tác giả là người có suy nghĩ về lịch sử với cái nhìn lịch sử như một diễn trình tạo nên phẩm chất, cá tính của con người VN, chứ không phải lịch sử ở những biến cố lớn, những con người kiệt xuất…

Riêng mảng sách kinh tế và quản trị, mùa giải năm nay nghiêng về những tác phẩm rọi sáng vào những vấn đề nhức nhối của kinh tế VN hiện nay, từ hệ thống tài chính ngân hàng cho tới con đường công nghiệp hóa VN.

 Ở mảng sách thiếu nhi, bên cạnh thông điệp muốn gửi viên ngọc quý “Tuổi thơ dữ dội” đến thế hệ trẻ hôm nay, ban xét giải chọn tác phẩm trong trẻo “Chuyện con mèo dạy hải âu bay”. Thông qua câu chuyện về một chị mèo mun nhận lời trăng trối nuôi dạy đứa con của một chị hải âu gặp nạn vì tràn dầu, tác phẩm gửi gắm ý nghĩa về lòng tận tâm và phẩm chất biết giữ lời hứa.

Bài và ảnh: Khải Trí

%d bloggers like this: