Lưu trữ | 11:34 Chiều

GS Đặng Hùng Võ: Không “bôi trơn” không có đất đâu!

22 Th9

GS Đặng Hùng Võ: Không “bôi trơn” không có đất đâu!

.
 – Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 18/9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, tình trạng khiếu kiện đất đai đang ở mức “rất nghiêm trọng, khiếu nại tố cáo ngày càng nhiều làm ảnh hưởng đến đời sống người dân”. Trò chuyện với phóng viên về sự “rất nghiêm trọng” này, GS Đặng Hùng Võ đã đưa ra nhiều chính kiến đáng lưu tâm.
 
Người dân khiếu kiện là đúng thôi!

Ngày 18/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có phiên thảo luận về báo cáo kết quả giám sát thực hiện chính sách pháp luật giải quyết khiếu nại tố cáo cả công dân về đất đai. Theo đó thì từ năm 2003 – 2010 đã tiếp nhận và xư lý hơn 1,2 triệu đơn thư khiếu nại tố cáo, trong đó 70% liên quan đến đất đai.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẳng định, khiếu nại tố cáo đất đai ngày càng nhiều. Rõ ràng khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai không phải đến nay mới nhiều. Theo ông thì tại sao đến nay nó vẫn tồn tại dai dẳng?

Khiếu nại tố cáo về đất đai bắt đầu tăng từ khoảng cuối những năm 1990. Nhưng trước năm 2003, trong khiếu nại chung của người dân thì có khoảng một nửa trong số đó là khiếu nại về việc đòi đất cũ, một nửa là về thu hồi đất. Nhưng từ 2003 trở đi, theo số liệu chính thức của Bộ TN&MT khi kiểm tra sau một năm thi hành Luật đất đai mới thì khiếu nại đòi lại đất cũ chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại 70% khiếu nại liên quan đến cơ chế thu hồi đất, giá bồi thường.

 
Tại sao khiếu nại của dân về đất đai ngày càng tăng? Nó xuất phát điểm từ cơ chế về thu hồi đất và tính bồi thường cho dân không thỏa đáng.

Cụ thể như thế nào thưa ông?

Sự vô lý nằm ngay trong cơ chế. Thu hồi đất của người này giao cho người khác, vì mục đích lợi nhuận của người được giao. Người được giao ở đây phần lớn là nhà đầu tư. Điều này không phù hợp với Hiến pháp. Người nông dân thì nhìn thấy ngay, mình được bồi thường giả sử là 1 triệu đồng/m2, sau khi nhà đầu tư được giao đất làm đất ở thì họ lập tức bán đến 10 triệu đồng/m2. Ngay trong cơ chế đó đã chứa đựng xung đột lợi ích. Người dân khiếu kiện là đúng thôi!

Vấn đề nữa là bồi thường không thỏa đáng. Giá đất do UBND cấp tỉnh quy định đều thấp hơn giá thị trường rất nhiều. Kể cả ở mức cao nhất thì cũng chỉ bằng 1/10 giá thị trường.

Có người nghĩ rằng hầu hết những khiếu kiện về đất đai đều có liên quan đến các vị quan chức?

Tôi cũng nghĩ thế.

Vậy ông nghĩ thế nào về vai trò giám sát của các cơ quan chức năng?

Hiện nay, Quốc hội và Hội đồng Nhân dân có chương trình giám sát. Rồi người dân cũng được động viên tham gia vào giám sát. Thế nhưng, cái cơ chế giám sát hiện nay nó lẫn lộn, không mạch lạc. Chính vì vậy mà giám sát đó không có hiệu quả.

Cái ta cần là giám sát được quyền lực, giám sát được người thực thi quyền lực xem họ có thực thi đúng hay không, có bị vẹo vọ đi cái thực thi quyền lực đó hay không. Chứ không thể là quyền của anh, anh muốn làm gì thì làm.

Như ông nói thì hệ quả của nó chính là khiếu kiện đất đai ngày càng tăng?

Đúng. Người có quyền thì người ta vẫn cứ làm và có cách làm để phù hợp với pháp luật. Vẫn đúng quy định, vẫn phục vụ lợi ích của người có quyền và vẫn làm cho dân khiếu kiện nhiều hơn. Vậy có nghĩa là pháp luật có những khoảng trống nhất định.

GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT.
GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT.

Quá dễ để tham nhũng!

Như ông nói thì quản lý đất đai tồn tại nhiều yếu kém. Liệu có phải vì đội ngũ cán bộ quản lý của ta yếu kém về năng lực nên mới để xảy ra những vấn đề này?

Tôi thì không nghĩ là họ yếu kém. Tôi cho rằng là vì yếu tố tham nhũng chi phối quá lớn. Tôi không tin là do năng lực họ kém đâu.

Tham nhũng trong lĩnh vực đất đai có dễ không thưa ông?

Quá dễ để tham nhũng! Chỉ cần thu hồi đất, giao cho một ông chủ đầu tư về nhà ở. Giá thu hồi theo khung giá chung, thấp thôi, bán lại với giá cao. Mà người có thẩm quyền thì người ta quyết giá nào chẳng được. Họ có quyền lấy đất của người này giao cho người khác. Rồi lại có quyền định giá đất, cho bồi thường như thế nào là quyền của họ. Tất cả đều trong một cơ quan.

Theo ông thì đến khi nào, những vụ khiếu nại tố cáo về đất đai sẽ giảm hoặc kết thúc?

Để cho nó giảm hoặc chấm dứt thì chúng ta phải nhìn quyền lợi của dân với góc độ khác. Nhà nước phải bảo vệ quyền lợi của người dân. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp là làm giàu từ đất đai. Trong sản xuất kinh doanh thì có lĩnh vực nào có siêu lợi nhuận cao như thế đâu. Làm giàu siêu lợi nhuận ở Việt Nam thì chỉ có từ đất đai, tham nhũng hoặc buôn lậu.

Ý ông là làm giàu từ đất đai cũng đáng lên án như tham nhũng hay buôn lậu?

Đúng thế.

Nghe ông nói vậy, tôi thấy buồn quá!

Thì cái thực trạng này là thực trạng đáng buồn mà! Bất hợp lý ở chỗ tự nhiên có một anh có quyền thích định giá bao nhiêu thì nó là thế. Khi anh ta ra quyết định bán cho nhà đầu tư giá thấp thôi, để nhà đầu tư có lãi nhiều. Khi đó nhà đầu tư sẽ “có trách nhiệm” như thế nào đó với anh ta chứ.

Một trong những giải pháp được Quốc hội chỉ ra là phải tìm đúng các địa chỉ làm sai về đất đai. Theo ông việc đó có dễ không?

Dễ lắm, vấn đề có quyết tâm tìm hay không thôi. Quan trọng là tìm đúng rồi thì làm gì.

Theo ông thì tỷ lệ tham nhũng trong các dự án đất đai như thế nào?

Khi hỏi chuyện riêng, nhiều nhà đầu tư nói rằng không bôi trơn thì không có đất đâu! Nhưng bảo họ phát biểu công khai thì họ không dám nói. Vì họ mà nói ra thì lần sau chắc chắn là không bao giờ có đất nữa. Nên họ chỉ nói trong những câu chuyện cởi mở giữa anh em với nhau trên các bàn nhậu thôi.

Sửa luật để chống tham nhũng

Ông nghĩ sao về vấn đề mà Ủy ban thường vụ Quốc hội đưa ra là việc chính quyền có nhiều sai sót trong giải quyết khiếu nại tố cáo?

Cái sai sót của giải quyết khiếu nại tố cáo thì nhìn rất rõ. Hiện nay, theo số liệu tôi biết thì có đến 70% đơn khiếu nại không được giải quyết đúng thời hạn. Có trên 70% không ban hành quyết định giải quyết. Trường hợp nào có thì lại ban hành dưới dạng công văn trả lời. Ngay trong quyết định giải quyết cũng có vấn đề. Theo số liệu của Thanh tra Chính phủ thì phải có đến 50% phải xử lý lại. Điều đó cho thấy có rất nhiều bất cập.

Theo ông thì nguồn gốc của những khiếu nại tố cáo về đất đai bắt nguồn từ đâu?

Nguồn gốc của nó chính là vấn đề tham nhũng. Nó liên quan đến lợi ích của cá nhân hoặc nhóm người. Lợi ích đó ai được hưởng và chia sẻ như thế nào.

Vậy tham nhũng đất đai ở Việt Nam đang ở mức độ như thế nào thưa ông?

Mọi số liệu khảo sát thì đều nói rằng tham nhũng lĩnh vực đất đai thuộc nhóm đứng đầu bảng.

Xếp hạng đó có phản ánh đúng thực tế không?

Quá đúng, quá hợp lý. Tham nhũng lĩnh vực nào cũng phụ thuộc vào sự độc quyền của người ra quyết định. Độc quyền của cơ quan ra quyết định. Vì thế tham nhũng phát triển.

Vậy thì sẽ phải có cách nào để khắc phục thực trạng này?

Cần thu hẹp một cách hợp lý quyền của cơ quan nhà nước, chỉ thực hiện quyền đó trong một phạm vi nhất định. Thứ hai, cơ chế giám sát nào để giám sát được việc thực hiện quyền lực đó. Ví dụ như việc thực hiện quyền lực phải có điều kiện, trình tự thủ tục ra sao, tính công khai như thế nào… Cần phải chọn một trong những mục tiêu sửa luật là chống tham nhũng trong quản lý đất đai.

Xin cảm ơn ông!

“Quyền định thu hồi đất của nhà nước chỉ nên thực hiện vì mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích quốc phòng an ninh. Không được làm điều này vì mục đích kinh tế. Và làm thế nào để định giá sát với giá thị trường. Phải có cơ chế xác định giá phù hợp để người dân và nhà đầu tư cùng đồng thuận. Còn hiện nay thì UBND cấp tỉnh toàn quyền quyết định về giá, còn làm gì để quyết định thì không rõ.”

GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT.

Tô Hội (Thực hiện)

Xuân Diệu, Trong Những Năm 1954-58 -1 – VCV

22 Th9

 

Phê bình

 

Xuân Diệu, Trong Những Năm 1954-58 -1

 

Lại Nguyên Ân

 

Thời gian gần đây trên báo chí đôi lúc xuất hiện những bài viết về cuộc đời các nhà văn nhà thơ nổi tiếng với những thông tin có vẻ lần đầu được đưa ra với công chúng; tác giả những thông tin ấy thường bảo rằng đây là chuyện của chính tôi, hoặc chuyện của danh nhân người nhà tôi, nghĩa là rất đáng tin cậy! Thế nhưng nghĩ kỹ lại, người ta vẫn thấy những bất ổn kèm theo các thông tin ấy. Vậy làm sao có thể biết được rằng các thông tin về quá khứ kia là đúng hay là sai?

 

Theo lẽ thường,để có thể tin cậy được, ngay các “chuyện thật ngày xưa” do chính người trong cuộc kể lại cũng cần được kiểm chứng. Vì sao ư? Vì sự kiện của quá khứ được kể lại chậm dăm bảy năm, thậm chí vài chục năm, là loại sự kiện mà trí nhớ con người vừa khôi phục nó vừa làm méo nó.Trí nhớ không giống như chiếc thẻ ghi hình hay ghi tiếng ta biết hiện giờ. Cơ chế của trí nhớ thường là vừa giữ lại vừa làm khúc xạ cái mà nó lưu giữ; và mỗi khi cần tái công bố một dữ liệu của quá khứ, trí nhớ người ta sẽ diễn đạt theo cách vừa phục hoạt nó lại vừa hư cấu nó. Tóm lại, cái dữ kiện quá khứ mà người ta được biết qua những “hồi ức kể muộn” là khá ít đáng tin cậy; muốn tin được tình tiết nào cần phải kiểm tra tình tiết ấy. Kiểm tra bằng cách nào? Bằng đối chiếu với tư liệu nguồn (là tư liệu đương thời của những “ngày xưa” ấy) hoặc với các tư liệu thứ sinh (ví dụ hồi ức của những người cùng thời khác).

 

Để cụ thể hoá những điều nói trên, xin đi vào một vài trường hợp, tốt nhất là chọn được những trường hợp có liên quan đến một vài nhân vật mà nhiều người nghe biết. Xin nói đến nhà thơ Xuân Diệu (1916-85).

 

Vừa năm ngoái, người tự thông báo là “thừa kế duy nhất của nhà thơ Xuân Diệu”, ông Cù Huy Hà Vũ, trong bài Có một Xuân Diệu nhà báo (www.tintuconline.com.vn/vn/vanhoa 12/8/2007), bên cạnh những tài liệu mà chỉ “người trong nhà” (thân nhân) mới có thể có để công bố, như một số bức ảnh quý hiếm chụp bộ đôi Huy-Xuân cùng Xuân Như em gái Xuân Diệu (cũng có thể gọi đó là ảnh vợ chồng Huy Cận-Xuân Như chụp cùng ông anh vợ là Xuân Diệu), ảnh Xuân Diệu chụp cùng mấy thành viên Tự Lực văn đoàn, ảnh tấm thẻ nhà báo của Xuân Diệu với tư cách phóng viên tờ “Tiên phong” (chữ TIÊN không có dấu huyền) của Hội Văn hoá Cứu quốc năm 1945, v.v… Vâng, các tư liệu ấy rất quý; nhưng bên cạnh đó trong bài lại có những thông tin rất … khó tin, chẳng hạn:

  − …”lúc đó (?) với tư cách là thư ký của báo Văn, tiền thân của báo Văn nghệ, Xuân Diệu đã cho đăng các tác phẩm của Phan Khôi, Thụy An” ….  kết quả là Xuân Diệu bị “cách” khỏi ban phụ trách tờ Văn bằng cách được cử làm trưởng đoàn nhà văn đi thăm nước bạn Hungary;

 − … năm 1970, Xuân Diệu được cử phụ trách tờ Tác phẩm mới của Hội nhà văn, đã bị phê bình vì cho đăng bài tuỳ bút “Phở” của Nguyễn Tuân”; v.v…

 

Lại vừa đây trên báo Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 162 (tháng 7/2008) cũng Cù Huy Hà Vũ với bài Có một Xuân Diệu – nhà báo cách mạng (tr. 45-47), tương tự bài trên báo điện tử tintuconline kể trên (chỉ bỏ qua phần Xuân Diệu làm báo trước 1945), tuy đã không còn giữ lại chi tiết cho rằng Xuân Diệu là người cho đăng tuỳ bút Phở của Nguyễn Tuân, nhưng tác giả bài báo lại đưa ra như khẳng định một sự kiện: cho rằng khi phụ trách tờ Tác phẩm mới, Xuân Diệu “lại bị chỉ trích vì cho đăng những bài không thật “lập trường” cho lắm”, và để cách chức ông, đưa ông về quy chế “viết văn chuyên nghiệp”, người ta đã “tạm ngừng xuất bản” tạp chí Tác phẩm mới từ số tháng 2/1976, mãi đến tận tháng 1/1987, tức 2 năm sau khi Xuân Diệu mất (18/12/1985) mới tục bản dưới tên gọi Tác phẩm văn học (về sau đổi lại là Tác phẩm mới và nay là tạp chí Nhà văn)!

 

Về mấy thông tin này, những ai bây giờ đang ở trạc 60 tuổi hẳn đều thấy việc cho rằng “báo Văn là tiền thân của báo Văn nghệ “ − đã là chuyện sai lầm quá rõ.

 

Tuần báo Văn chỉ mới ra số đầu vào ngày 20/5/1957, với tư cách cơ quan của Hội Nhà văn khi đó vừa được thành lập; làm sao có thể là tiền thân của tờ Văn nghệ, cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam, vốn ra mắt từ năm 1948 ở Việt Bắc? 

Bài tuỳ bút nhan đề Phở của Nguyễn Tuân được đăng lần đầu ngay ở số 1 và số 2 của tuần báo Văn, đâu cần đợi chờ hơn 10 năm sau nữa mới được Xuân Diệu cho đăng lênTác phẩm mới để “bị phê bình”?

 

Và tiếp theo, người ta có thể ngờ vực các chi tiết “hồi ức” (2007-8) khác nữa của Cù Huy Hà Vũ, như chuyện liệu có phải Xuân Diệu đã là người đưa đăng tác phẩm của Phan Khôi, Thụy An (hồi nào? 1956 chăng?)… Còn việc Hội Nhà Văn VN vào năm 1976, ngừng Tác phẩm mới  dưới dạng tạp chí để chuyển đổi nó thành nhà xuất bản, lại được Cù Huy Hà Vũ giải thích như chỉ là nhằm cách chức tổng biên tập của Xuân Diệu, thì quả là một hư cấu quá quy mô! Quá quy mô ở chỗ nó bao trùm cả 2 sự việc: việc ngừng Tác phẩm mới dạng tạp chí để chuyển thành nhà xuất bản vào năm 1976 vốn được nhiều người biết tới như cách “qua mặt” ông Như Phong – chủ NXB Văn học lúc đó đang tỏ ra “xấu chơi” không chịu in sách cho mấy nhà văn vai vế; còn việc lập ra tạp chí Tác phẩm văn học vào năm 1987 vốn được nhiều người biết tới như cách mà Nguyễn Đình Thi tạo ra phương tiện(a) để đối phó với tuần báo Văn nghệ lúc ấy đang nằm trong tay Nguyên Ngọc. Hãy thử hỏi những người đã cao tuổi mà đến lúc này (tháng 8/2008) còn khoẻ mạnh tỉnh táo như Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Nguyễn Quang Sáng, v.v… và cả Nguyên Ngọc nữa, xem sự thể những chuyện đó ra sao?  

 

Tất nhiên, chạy theo để “đính chính” các chi tiết lẻ tẻ như nêu trên,(b) có thể sẽ mãi mãi làm không hết những việc… vặt! Tôi nghĩ có một cách làm khả thủ hơn, là hãy để công tìm hiểu xem, trong một đoạn thời gian nhất định, Xuân Diệu như một tác gia, một nhà hoạt động trong giới văn nghệ, đã làm những gì. Tài liệu để tìm hiểu có thể là cả những hồi ức sớm hoặc muộn khác nhau của những người cùng thời hoặc hậu thế có liên quan, nhưng không thể bỏ qua nguồn tài liệu là sách báo xuất bản trong chính thời gian ấy, − một loại bằng chứng có từ đương thời mà nay vẫn còn lại đó, ít khả năng phản phúc hơn bất cứ loại nhân chứng nào khác. Nói đúng ra, cách làm này là một hướng rất nên theo, khi người làm nghiên cứu văn học tiếp cận một tác gia cụ thể, hoặc người làm nghiên cứu sử học tiếp cận một nhân vật lịch sử cụ thể.

 

Theo cách này, tôi sẽ thực hiện một ví dụ là tìm hiểu hoạt động của Xuân Diệu trong những năm 1954-58.

 

*

 

1. Xuân Diệu làm việc trong toà soạn tạp chí Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam ở Việt Bắc từ 1948, bên cạnh những thành viên khác của toà soạn là Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Tuân. Ở số tạp chí Văn nghệ sau cùng trước khi các văn nghệ sĩ cùng hầu hết các lực lượng kháng chiến cấp trung ương đóng ở Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, tức là ở tạp chí Văn nghệ số 56 (tháng 10/1954), Xuân Diệu đứng tên dưới bức thư (1) gửi giới nhà văn nhà thơ đang sống trong Hà Nội từ thời tạm chiếm, bên cạnh thư đứng tên Trần Văn Cẩn gửi các hoạ sĩ, thư đứng tên Nguyễn Cao Luyện gửi giới kiến trúc sư.

 

Trở về Hà Nội, tạp chí Văn nghệ đổi thể tài, từ dạng tạp chí chuyển sang dạng báo (mỗi số khoảng từ 8 đến 12 trang khổ 34×45 cm, nay gọi là khổ A3). Ban đầu, từ 1/11/1954, định kỳ dạng bán nguyệt san, đánh số từ số 57 (tiếp tục 56 số đã ra từ 1948 đến 10/1954), ra vào các ngày 1 và 15 hàng tháng; từ đầu tháng 2/1955 Văn nghệ  ra 3 kỳ/1 tháng; từ đầu tháng 7/1955, Văn nghệ ra hàng tuần.

 

Toà soạn báo ban đầu đóng ở 51 Trần Hưng Đạo, từ số 76 (7/7/1955) chuyển đến số 6 Quang Trung. Thành phần toà soạn (ghi trên manchette mỗi số báo) gồm: Trần Văn Cẩn, Xuân Diệu, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Cao Luyện, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi. Thư ký toà soạn từ số 57 đến số 80 (4/8/1955) là Xuân Diệu.

 

Từ số 81 (11/8/1955) thành phần toà soạn, ngoài số người như trên, còn có ghi thêm tên Tú Mỡ; thư ký toà soạn là Nguyễn Đình Thi.

 

Chỗ này cần ghi chú thêm rằng, theo cách cấu tạo thành phần chủ trì một tờ báo “đoàn thể” như tạp chí Văn nghệ từ hồi ở Việt Bắc thì cơ quan này không có các chức danh chủ nhiệm hay chủ bút; vì vậy, thư ký toà soạn giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động chuyên môn của một cơ quan báo chí, tương tự chức danh Tổng biên tập hiện nay.    

 

Từ số 121 (17/5/1956) Văn nghệ thay đổi thành phần toà soạn; các thành viên của toà soạn mới gồm: Văn Cao, Xuân Diệu, Tế Hanh, Bùi Hiển, Nguyên Hồng, Tú Mỡ, Chu Ngọc, Sỹ Ngọc; thư ký toà soạn: Nguyễn Đình Thi; thành phần này được giữ nguyên cho đến tận sau Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (từ 20 đến 28/2/1957), khi Văn nghệ dạng tuần báo tạm dừng lại ở số 162 (1/3/1957) để chuyển đổi tổ chức (sẽ trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam vừa thành lập) và thể tài (sẽ chuyển sang thể tạp chí từ tháng 6/1957).

 

Như vậy, với tờ báo Văn nghệ thời đầu khi mới trở về Hà Nội (tháng 11/1954 – tháng 3/1957), Xuân Diệu có một thời gian ngắn tiếp tục làm thư ký toà soạn, sau được thay bằng Nguyễn Đình Thi, nhưng Xuân Diệu luôn luôn là thành viên toà soạn. Sau khi Nguyễn Đình Thi thay thế Xuân Diệu ở vai trò thư ký toà soạn, quả là báo Văn nghệ (số 82, ngày 18/8/1955) có đưa tin “nhà thơ Xuân Diệu cùng nhạc sĩ Tạ Phước lên đường đi Hungary hôm 15/8/1955 để dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách mạng Việt Nam ở Budapest và nghiên cứu văn học nghệ thuật nước bạn”. Ngoài ra, cũng đừng nên quên rằng thời gian này Xuân Diệu vẫn đang là đại biểu quốc hội khoá 1, cho đến năm 1960 mới mãn nhiệm.

 

Trong thời gian Xuân Diệu giữ vai trò thư ký toà soạn Văn nghệ nói trên (từ 1/11/1954 đến 4/8/1955), có thể thấy báo đã đăng bài vở sáng tác của rất nhiều tác giả, kể cả những tác giả sau đó ít lâu sẽ can dự Nhân văn – Giai phẩm, nhưng ngoại trừ một số bài viết tham gia thảo luận về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu có thể cho là “có vấn đề”, còn lại, những bài viết khác hầu như không “có vấn đề” gì cả; khó có thể nhận định rằng thư ký toà soạn Xuân Diệu đã bị khiển trách vì cho đăng các bài vở đó.

 

Chính trong thời gian Xuân Diệu làm thư ký toà soạn Văn nghệ, cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc và tiểu thuyết Vượt Côn Đảo đã làm sôi nổi không khí văn nghệ miền Bắc ngay sau hoà bình lập lại.

 

Tập thơ của Tố Hữu phát hành vào giữa tháng 12/1954 thì ngay đầu năm mới, Xuân Diệu đã cho đăng bài viết khá dài của mình liền trong 2 kỳ báo Văn nghệ  (số 62 ra ngày 15/2/1955 và số 63 ra ngày 28/2/1955) nhan đề Đọc tập thơ Việt Bắc. Có lẽ trong việc lên tiếng chào đón tập Việt Bắc thì bài của Xuân Diệu chỉ chậm hơn duy nhất so với bài của Xuân Trường đăng báo Nhân dân số Tết. Theo dõi kỹ tin tức, ta còn biết trong thời gian này, Xuân Diệu ít nhất có 2 lần đi nói chuyện về thơ Tố Hữu với sinh viên.  Nhân tập Việt Bắc, Xuân Diệu điểm lại cả đời thơ Tố Hữu tính đến lúc đó,

 

“Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh quang kỳ diệu. Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng và nhà cách mạng làm thơ, và thơ rất thành công” ….. “Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng to lớn,đồng thời càng đưa tài thơ của Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng lẫy. Đó là sự tương quan mật thiết giữa hành động và văn chương mà Tố Hữu là điển hình đẹp nhất.”

 

Tất nhiên Xuân Diệu không quên chỉ ra những nhược điểm của tác giả tập thơ Việt Bắc  như “nặng về tình cảm xã hội mà hầu như không nói đến những tình cảm của cá nhân”, “con người cán bộ trong Tố Hữu bao trùm con người thường”, “nặng về tổng hợp”… “bỏ mất những nỗi niềm của mỗi một con người, của mỗi cá nhân trong quần chúng”.(2)

 

Ngoài vai trò một nhà phê bình như trên, Xuân Diệu trong vai trò thư ký toà soạn báo Văn nghệ hẳn cũng đã giữ vai trò chính trong việc cho đăng hầu hết các bài tham gia thảo luận về tập thơ Việt Bắc. Nếu nói đến phần trách nhiệm (cần phải đưa ra để kiểm điểm chẳng hạn), thì trong số những bài đó có lẽ cần lưu ý trước hết là những bài đánh giá tiêu cực về tập thơ, ví dụ của Hoàng Yến (Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không? // Văn nghệ số 65, ngày 11/3/1955; bài này vốn đăng tập san Sinh hoạt văn nghệ, tiền thân tạp chí Văn nghệ quân đội, đồng thời cũng đã đăng báo Nhân dân trong các ngày 3, 4, và 5/4/1955), của Hoàng Cầm (Tập thơ Việt Bắc ít chất sống thực tế // Văn nghệ số 67, ngày 1/4/1955; Bổ sung ý kiến của tôi về tập thơ Việt Bắc // Văn nghệ số 70, ngày 1/5/1955), của Lê Đạt (Giai cấp tính trong thơ Tố Hữu // Văn nghệ số 68, ngày 11/4/1955); của Nguyễn Văn Phú (Vài điểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt Bắc // Văn nghệ số 69, ngày 21/4/1955).

 

Tất nhiên, số bài đánh giá tích cực, đánh giá cao và rất cao tập thơ của Tố Hữu mà toà soạn Văn nghệ cho đăng vẫn nhiều hơn hẳn, trong đó có bài viết của các nhà văn có tên tuổi và cũng đang có thế lực như Xuân Diệu, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Nguyễn Đình Thi, v.v…, của các nhà văn có tên tuổi nhưng ít thế lực như Nguyễn Viết Lãm, Vũ Đình Liên, Đông Hoài, của các cán bộ chính trị như Xuân Trường, Trần Độ, Minh Tranh,… của những bạn đọc vô danh mà mà về sau sẽ có người thành danh (Phan Cự Đệ, Hoài Việt, Thẩm Lăng, Trọng Anh); điển hình về sự nhiệt tình đến mức gần như cuồng tín trong số đó là một cây bút mà về sau, khi trở nên hữu danh, sẽ được ghi nhận như cây bút “rắn” nhất, như gương mặt thô bạo hạng nhất, và, − nhờ những ứng xử trong sự kiện này chăng − về sau sẽ trở thành một quan chức có thế lực trong bộ máy quản lý ngành khoa học xã hội: Vũ Đức Phúc. 

 

Việc báo Văn nghệ thay Xuân Diệu ở vị trí thư ký toà soạn bằng Nguyễn Đình Thi xảy ra khi Văn nghệ đăng đến kỳ thứ 3 bài của Nguyễn Đình Thi viết về tập Việt Bắc (Thơ Tố Hữu đi vào thực tế quần chúng // Văn nghệ số 77, ngày 14/7/1955; Lập trường giai cấp và đảng tính, vấn đề hiện thực và lãng mạn // Văn nghệ số 78, ngày 21/7/1955; Nhà thơ lớn lên với thời đại // Văn nghệ số 79, ngày 28/7/1955); và Văn nghệ ở thời bắt đầu với thư ký toà soạn Nguyễn Đình Thi sẽ đăng bài Ý kiến kết thúc cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc của Hoàng Trung Thông (Văn nghệ số 81, ngày 11/8/1955; Nhân dân, ngày 11/8 và 12/8/1955).

 

Như vậy, nhân điều nói trong bài của Cù Huy Hà Vũ (2007), người ta nếu muốn cũng chỉ có quyền suy luận ở mức độ như sau: việc Xuân Diệu thôi (hoặc bị thay) chức thư ký toà soạn báo Văn nghệ hồi tháng 8/1955 có thể có liên quan đến việc thư ký toà soạn Xuân Diệu đã cho đăng những bài đánh giá tiêu cực tập thơ Việt Bắc (đã dẫntrên). Nhưng nhìn rộng hơn, cần thấy rằng việc đó liên quan đến việc báo Văn nghệ − và các cán bộ phụ trách ban Văn của Hội Văn nghệ Việt Nam khi đó − chỉnh sửa cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc, can thiệp vào tiến trình thảo luận.

 

Việc thảo luận về tập thơ này của Tố Hữu vốn xuất phát từ những buổi thảo luận mang tính chất “câu lạc bộ” tại Phòng Văn nghệ quân đội hồi đầu năm 1955 về hai tác phẩm vừa xuất bản: một là tiểu thuyết Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, một nữa là tập thơ Việt Bắc cuả Tố Hữu. Các báo Văn nghệ và báo Nhân dân xem đây là dịp tốt để đẩy mạnh phong trào phê bình văn nghệ, đã chọn một bài tại cuộc thảo luận ở văn nghệ quân đội (bài của Hoàng Yến, đăng lần đầu trên tờ Sinh hoạt văn nghệ số 35) đăng lại ở báo nhà và lên tiếng mời bạn đọc tham gia thảo luận, do đó đã tạo nên một sinh hoạt văn nghệ tương đối sôi nổi tại thành phố mới tiếp quản. Rất có thể vì báo Văn nghệ đăng một số bài thiên về chê thơ Việt Bắc của Tố Hữu (nhất là các bài của Hoàng Cầm, Lê Đạt) nên những người đứng đầu Hội Văn nghệ và ban Văn của Hội đã nhận ra cuộc thảo luận đã hơi quá đà và vội ra tay chỉnh hướng thảo luận: đăng nhiều bài khen ngợi, nhất là loạt bài của Nguyễn Đình Thi, rồi nhanh chóng đăng bài của Hoàng Trung Thông, coi như ý kiến kết thúc chung cho cả hai báo Văn nghệ  và Nhân dân về cuộc thảo luận này.

 

Khoảng 4 tháng sau, nhân kiểm điểm tình hình văn nghệ năm 1955, Hoài Thanh trong vai trò một người “lãnh đạo văn nghệ” (lúc này ông đang là Vụ trưởng vụ nghệ thuật, bộ Văn hóa, đồng thời là ủy viên thường vụ Hội Văn nghệ VN), nhận xét: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót. Công tác phê bình ít được chú ý. Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu mục đích rõ ràng, thiếu kết hợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng” (Hoài Thanh: Nhìn lại hoạt động văn nghệ một năm qua // Nhân dân, ngày 29/1/1956, tr.3).

 

Ý kiến trên là nhận định từ phía người quản lý; còn ý kiến nhận xét về cuộc thảo luận ấy từ phía những người bị quản lý thì ta thấy bộc lộ muộn hơn. Trong không khí góp ý kiến phê bình lãnh đạo văn nghệ và chuẩn bị cho Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2, tức là từ cuối tháng 8/1956, trong dư luận đăng báo mới có những lời ta thán rằng những người chủ trì báo Văn nghệ đã kết thúc cuộc thảo luận về tập thơ Việt Bắc một cách “quá vội vã”, “chưa thoả mãn quần chúng” (lời Nguyễn Bính, sẽ dẫn thêm ở phần sau).  

 

Nói như Cù Huy Hà Vũ (2007) rằng lý do bị thôi chức thư ký tòa soạn là vì Xuân Diệu đã cho đăng các bài của Thụy An, Phan Khôi, − là điều hoàn toàn không phù hợp với thực tế. Văn nghệ từ số 57 đến số 80 (thời kỳ Xuân Diệu làm thư ký toà soạn) hầu như không đăng gì của nữ tác giả Thụy An, chỉ đăng của Phan Khôi duy nhất một bài viết nhân 60 năm sinh Lý Cơ Vĩnh, nhà văn Triều Tiên (Văn nghệ  số 74, ngày 10/6/1955), bài viết này không mang dấu hiệu nào để có thể “làm án” bất cứ ai, − người viết bài (là Phan Khôi) hay người cho đăng bài (là thư ký tòa soạn Xuân Diệu)!

 

 

***

 

 

2a. Bước sang năm 1956, xã hội và văn hoá văn nghệ ở miền Bắc chứng kiến những diễn biến phức tạp, có lúc đang ở hướng này đột ngột rẽ sang hướng khác.

 

Ngay vào dịp Tết nguyên đán, tập sách Giai phẩm mùa Xuân 1956 của Nhà xuất bản Minh Đức vừa ra mắt đã bị tịch thu, nhưng có lẽ cũng đã lọt ra ngoài một ít cuốn, và ban Văn của Hội Văn nghệ Việt Nam đã tổ chức một cuộc họp do Hoài Thanh chủ trì nhằm phê phán bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần, − một trong những tác phẩm đăng trong tập Giai phẩm mùa Xuân 1956 kể trên. Báo Văn nghệ đăng bài của Hoài Thanh:Vạch tính chất phản động của bài “Nhất định thắng” của Trần Dần (VN s. 110, ngày 1/3/1956), tiếp đó đăng bài dài 3 kỳ của Nguyễn Đình Thi Những sai lầm về tư tưởng trong tập sách Giai phẩm (VN s. 117, ngày 19/4/1956; VN s. 118, ngày 26/4/1956; VN s. 119. ngày 3/5/1956). Cũng dịp này, báo chọn dịch đăng các bài hỗ trợ công việc phê bình nêu trên, ví dụ bài Vai trò lãnh đạo của Đảng, trích văn kiện ĐH 20 ĐCS  Liên Xô, do Xuân Diệu dịch (VN s. 110, ngày 1/3/1956), bài Văn nghệ là sự nghiệp của nhân dân, cũng rút từ báo Văn học Liên Xô nói về văn nghệ Hungary, do Vũ Thông dịch (VN s. 111, ngày 15/3/1956), bài Nguyên tắc của chủ nghĩa Lê-nin về Đảng tính trong văn học của Lê-xuy-sép-ski do Việt Lam trích dịch (VN s. 118, ngày 26/4/1956). Nhưng việc phê phán sách Giai phẩm mùa Xuân bỗng đột ngột dừng lại.

Vì sao? Có lẽ vì những diễn biến bên ngoài.

 

Người ta biết, tháng 2/1956, Đảng Cộng sản Liên Xô họp đại hội lần thứ 20, trong đó, phần báo cáo về những tổn thất do tệ sùng bái cá nhân của Stalin gây ra tuy không được trình bày công khai, nhưng hẳn đã được thông báo tới các đảng cộng sản và công nhân có đoàn đại biểu đến dự, trong đó, có đoàn của Đảng Lao động Việt Nam (gồm Tổng bí thư Trường Chinh và Ủy viên bộ chính trị Lê Đức Thọ). Đảng Lao động Việt Nam đã triệu tập hội nghị Ban chấp hành trung ương mở rộng từ 19 đến 24/4/1956 để nghe báo cáo về ĐH 20 ĐCS LX, ra nghị quyết trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ chống sùng bái cá nhân, thực hiện phương thức lãnh đạo tập thể, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình trong sinh hoạt đảng;(3) đó là nghị quyết 9 (nhiệm kỳ 2). Vấn đề nêu ra trong nghị quyết 9 nói trên càng trở nên rõ ràng khi tin tức về việc Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô ngày 30/6/1956 thông qua nghị quyết chống sùng bái cá nhân được đăng tải khá kỹ càng trên nhật báo Nhân dân của Đảng Lao động Việt Nam.(4)

 

Với việc Đảng LĐVN ra nghị quyết 9 (khoá 2) nhắc trên, bản nghị quyết này cũng yêu cầu phổ biến tinh thần “chống sùng bái cá nhân, thực hiện lãnh đạo tập thể, phê bình và tự phê bình” đến các cấp các ngành; vì vậy, hội Văn nghệ Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ trên bằng việc tổ chức cuộc học tập nghiên cứu lý luận cho trên 200 văn nghệ sĩ từ 1/8 đến 18/8/1956.

 

 

 Cũng chính từ tinh thần học tập các văn kiện ĐH 20 ĐCS LX mà BCH TƯ ĐLĐ VN đã phát hiện ra những sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất, nhất là sau kết quả CCRĐ đợt 5, triệu tập hội nghị trung ương mở rộng lần thứ 10 và ra nghị quyết sửa sai. “Hội  nghị Trung ương Đảng lần thứ 10 đã đi đến nhận định nhất trí rằng chỉnh đốn tổ chức ở các cấp tỉnh, huyện là một thất bại, chỉnh đốn chi bộ ở xã đã gây những tổn thất rất nặng nề cho Đảng”.(5) Sự kiện này, xin sẽ vắn tắt đề cập ở một đoạn sau.

 

 

2b. Tuy nhiên, liên quan đến Xuân Diệu, ta hãy tạm dừng lại ở đời sống văn nghệ trong đoạn thời gian trước khi có các diễn biến chính trị kể trên, tức là từ sau cuộc thảo luận về tập thơ “Việt Bắc” đến trước tháng 8/1956.

 

Ngay từ đầu năm 1956, dư luận trong giới văn nghệ có ít nhiều chấn động vì  kết quả giải thưởng văn học 1954-55 của Hội Văn nghệ Việt Nam (công bố trên báo Văn nghệ số 112, ngày 15/3/1956), theo đó về thơ, ngoài giải nhất được trao cho tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, còn có 3 giải nhì: Giải nhì  A trao cho 2 tập Đồng tháng tám Dặn con, thơ và ca dao về nông dân kháng chiến và phát động quần chúng của Trần Hữu Thung; giải nhì B trao cho Ngôi sao, tập thơ của Xuân Diệu; giải nhì C trao cho Nụ cười chính nghĩa, tập thơ đả kích của Tú Mỡ; giải ba trao cho tập Thơ chiến sĩ của Hồ Khải Đại; và một số tác phẩm khác được trao giải khuyến khích (bên cạnh đó còn có các giải về tiểu thuyết, kịch, ký sự, dịch văn học).

 

Việc tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu ở vị trí giải nhì gây phản ứng trong một số không ít văn nghệ sĩ, tiêu biểu là sự phê bình của báo Trăm hoa. (Các bài phê bình của báoTrăm hoa,  [đây là Trăm hoa loại cũ, ra từ tháng 9/1955 đến tháng 6/1956]  khi giải thưởng văn học 1954-55 vừa công bố, hiện nay tôi chưa tìm lại được; nhưng đã thấy một khung quảng cáo “Báo mới” trên trang 3 của tờ “Hà Nội hàng ngày” số 280 ra ngày 25/4/1956 cho biết:Trăm hoa số 28 có bài phê bình của Trần Lê Văn nhan đề “Đọc ‘Ngôi sao’, thơ của Xuân Diệu”; một nguồn gián tiếp khác là trên chính báo Văn nghệ, Trần Lê Văn [VN. s. 136, ngày 30/8/1956] và Nguyễn Bính [VN. s. 125, ngày 14/6/1956] nói rõ tuần báo Trăm hoa (loại cũ) đã đăng liền 3 bài phê phán việc trao giải nhì cho tập Ngôi sao).

 

 

Dù luồng ý kiến ấy có bị một số người cho là ác ý đi nữa, thì một trong những người giữ trọng trách trong ban chấm giải là Hoài Thanh cũng đã phải lên tiếng, chủ yếu để bênh vực ban chấm giải, nhưng bằng cách khẳng định giá trị tập thơ của Xuân Diệu (Một vài ý kiến về tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu // VN. s. 122, ngày 24/5/1955).

           

“…Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời. Và đã có lúc chúng ta tưởng như gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều. Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy. Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn, chân thành trong thơ Xuân Diệu”…

 

Như vậy, tuy giành phần lớn bài viết để nói về chỗ khả thủ ở tập thơ Ngôi sao, Hoài Thanh vẫn mặc nhiên thừa nhận phương diện chưa thành công, “sống sượng, lệch lạc, giả tạo” ở tập thơ này của Xuân Diệu.

 

Song, bài viết trên của Hoài Thanh bị xem là chỉ nhằm xoa dịu dư luận, − nhà thơ Nguyễn Bính lên tiếng như vậy (Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình // VN. s. 125, ngày 14/6/1956) và nói rõ sự thắc mắc của dư luận trong ngoài giới văn nghệ về việc trao giải nhì cho tập Ngôi sao:

           

“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi sao thực là nhiều và sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong anh em văn nghệ, có những thắc mắc của bạn đọc. Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng, ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau. Nói chung, phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến. Tập thơ Ngôi sao lại đã xuất bản trước khi công bố giải thưởng.(5) Ngay khi chưa biết nó được giải cũng đã nhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó. Sao không có một cuộc thăm dò dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiết lắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần chúng. Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tác phẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân tách của một số nhỏ người.

[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa của Hoài Thanh trong Văn nghệ số 122. Một vài anh em còn không bằng lòng ra mặt những bài phê bình tập Ngôi sao trên báo Trăm hoa, cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác như bài của Nguyễn Đình Thi phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của cái thói “lỗi người để túi trước, lỗi mình để túi sau”? Chính vì vậy mà có tình trạng nhiều bạn nêu lên thắc mắc muốn thành khẩn xây dựng cho cơ quan lãnh đạo Hội, song lại sợ bị thành kiến. Dĩ nhiên những thái độ của mấy bạn đó cũng cần được kiểm điểm lại, nhưng do đấy mà thành một vấn đề: những người lãnh đạo và phụ trách công tác Hội đã làm thế nào để anh em dè dặt đến như vậy?”

 

 

Một cây bút phê bình khác là Huy Phương (Phát biểu về tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu // VN. s. 126, ngày 21/6/1955) cũng đánh giá không khả quan về tập thơ này của Xuân Diệu.  

 

“… những lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi vào thực tế, được chất chiến đấu của thực tế tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết được những bài thơ thành công”… “Nhưng những khi Xuân Diệu trở về với “hồn thơ” của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.

 

[…] Nói đến sự hy sinh anh dũng của chiến sĩ, Xuân Diệu viết những câu này:

            Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê

             Lấy máu tuỷ đổ ra đời bát ngát

             Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt

            Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng  

Đọc những câu thơ nhễ nhại những máu huyết ấy, người đọc thật là thấy giận cái bệnh “khoái cảm” của tác giả. Những câu thơ như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả. […] trong nghệ thuật, nhất là trong thơ, không thể nào gạt bỏ được phần cảm giác nó là một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế. Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ, thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc và cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản.

[…] Tập Ngôi sao đánh dấu một quá trình dài trong bước đường làm thơ của Xuân Diệu. […] Nhưng cái mức chung của Xuân Diệu trong Ngôi sao vẫn là còn thấy mình bé nhỏ, là kẻ chịu ơn và được hưởng thụ nhiều hơn là thấy mình là người chiến đấu có một trách nhiệm nặng nề và vinh quang. Chính vì thế mà thơ Xuân Diệu không đi sâu được vào lòng chúng ta”.

 

Có thể nói, đó là những lời bình luận không hề dễ lọt tai tác giả; nhưng không thấy Xuân Diệu trả lời, cũng giống như Xuân Diệu đã không lên tiếng trả lời 3 bài viết về tập Ngôi sao của báo Trăm hoa. Về chuyện này, hậu thế đừng nên nhận xét là nhà thơ đã tỏ ra “học phiệt” với dư luận (theo chữ “học phiệt” mà Phan Khôi đã dùng vào năm 1930 để xác định thái độ Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế năm 1925).Trong đời sống văn nghệ những năm 1950-60 ở miền Bắc, một tờ báo “của đoàn thể” (không phải báo tư nhân) như Văn nghệ rất ít khi dành trang cho tác giả lên tiếng trả lời các bài phê bình tác phẩm của mình, khi thật cần trả lời, phải được phép, thậm chí phải trở thành chủ trương của ban lãnh đạo tờ báo.

 

Không lên tiếng trả lời, nhưng hẳn Xuân Diệu sẽ không quên những món nợ loại như vậy trong giới của mình. Tạp chí Tác phẩm mới (1969-1976) mà Xuân Diệu là một trong số vài ba nhân vật chủ chốt cầm lái, đã hầu như không nhắc gì đến Nguyễn Bính, đã làm như thể không hề có Nguyễn Bính trong nền thơ Việt thế kỷ XX, − đó có lẽ là cách “trả đũa” của Xuân Diệu, cố nhiên là có sự đồng tình của một số tên tuổi khác. Phải nhờ có dư luận văn nghệ miền Nam nhắc nhở, tên tuổi Nguyễn Bính mới được sống lại với công chúng miền Bắc từ 1986.

 

 

***

 

 

3a. Chúng ta tiếp tục theo dõiđời sống văn nghệmiền Bắc từ giữa năm 1956. Việc Hội Văn nghệ Việt Nam mở lớp nghiên cứu lý luận văn nghệ (từ 1/8 đến 18/8/1956) cho trên 200 văn nghệ sĩ và người công tác văn nghệ, trên thực tế, đã mở đầu cho một thời điểm bộc phát nhiều vấn đề tiềm ẩn chất chứa.

 

Bản dịch bài báo “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng” của Lục Định Nhất, được báo Văn nghệ trích dịch đăng tải (số 134, ngày 16/8/1956) sớm hơn báo Nhân dân (báo này đưa tin bằng “Thư Bắc Kinh” của Lê Hào từ 5/8/1956, nhưng  chỉ cho đăng bản dịch toàn văn ở số ra ngày 30/9/1956), cùng lúc với những ý kiến văn nghệ sĩ tham gia diễn đàn “Tiến tới Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai”, trong đó nhiều ý kiến nêu lên những hiện tượng gò bó, máy móc, áp đặt từ phía những người quản lý văn hoá văn nghệ mà đương thời gọi chung bằng mấy từ “lãnh đạo văn nghệ”.

 

Những người thuộc thành phần “lãnh đạo văn nghệ” ấy là những ai? Trong mắt văn nghệ sĩ đương thời, đó có khi là các cơ chế, cơ quan, ví dụ phòng văn nghệ quân đội, hội Văn nghệ Việt Nam, có khi là những quan chức cụ thể, chẳng hạn như Nguyễn Tuân, tổng thư ký Hội Văn nghệ, như Hoài Thanh, giám đốc Vụ nghệ thuật Bộ văn hoá, như Tố Hữu, uỷ viên trung ương Đảng phụ trách tuyên huấn, v.v…   

 

Các ý kiến phê bình và thảo luận đó khá nhiều; mỗi tuần báo Văn nghệ dành ít nhất là 2 trang để đăng tải; tính từ lúc Văn nghệ (số 122, ngày 24/5/1956)đăng thông báo của ban trù bị Đại hội Văn nghệ toàn quốc đến ngày họp Đại hội (20/2/1957), việc thảo luận trải ra trong suốt 7 – 8 tháng. Người ta bàn đến nhiều chuyện: quan hệ giữa văn nghệ và chính trị với những quan niệm khác nhau xung quanh vấn đề sáng tác phục vụ chính sách; quan niệm về tự do sáng tác, về “trăm hoa đua nở”; quan niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa; vấn đề khai thác và phát triển các hình thức nghệ thuật dân tộc, v.v… nhưng sôi nổi hơn cả vẫn là những chuyện chống công thức sơ lược, “phê bình lãnh đạo văn nghệ” tức là nhận xét phê bình về việc chỉ đạo và quản lý hoạt động văn hoá văn nghệ của các cơ quan quản lý “đoàn thể” (= hội Văn nghệ) hoặc chính quyền (= vụ nghệ thuật, bộ văn hoá…).

 

Trong không khí ấy, một số “lãnh đạo văn nghệ” đã lên tiếng tự phê bình, ví dụ Hoài Thanh (Tôi đã sai lầm như thế nào trong việc phê bình bài “Nhất định thắng” của anh Trần Dần // Văn nghệ số 139, ngày 20/9/1956), Nguyễn Tuân (Về giải thưởng văn học 1954-55 // Văn nghệ số 140, ngày 27/9/1956). Nguyễn Đình Thi cũng khởi đăng bài Một vài sai lầm trong sự lãnh đạo văn nghệ (Văn nghệ số 140 đã dẫn), hứa hẹn sẽ là bài đăng nhiều kỳ, nhưng sau kỳ đầu rồi không thấy đăng tiếp. Cũng dịp này, Ban thường vụ Hội Văn nghệ ra thông cáo (đăng Văn nghệ số 141, ngày 4/10/1956) “thừa nhận những sai lầm của mình trong cách tổ chức và lãnh đạo cuộc phê bình bài Nhất định thắng của Trần Dần”, thừa nhận những thiếu sót khuyết điểm trong việc chấm giải thưởng văn học 1954-55 (trong đó thừa nhận tập Ngôi sao của Xuân Diệu chỉ đáng giải ba đã được nể nang đưa lên giải nhì). Tuy nhiên, sự thành khẩn tự phê bình từ phía lãnh đạo hội Văn nghệ hầu như chỉ dừng lại ở đấy. Có thể là vì tiếp đó họ phải tập trung đối phó với nhiều sóng gió mới, nặng nề hơn.

 

Người ta biết, sau thời điểm lớp nghiên cứu lý luận văn nghệ kết thúc không lâu, một loạt ấn phẩm có giọng điệu phê bình mạnh mẽ hơn đã liên tiếp xuất hiện, − những ấn phẩm mà chỉ vài năm sau sẽ bị dư luận chính thống làm cho vĩnh viễn ô danh bằng định ngữ “phản động” và bằng các mệnh lệnh “cấm đọc, cấm phổ biến” được thực thi rất chặt chẽ.

 

Tháng 8/1956 tập sách Giai phẩm mùa thu 1956 tập I (Nxb. Minh Đức) ra mắt, trong đó mạnh mẽ nhất là bài của Phan Khôi Phê bình lãnh đạo văn nghệ.

 

Tháng 9/1956 sách Giai phẩm mùa thu tập II (Nxb. Minh Đức) ra mắt, trong đó mạnh mẽ nhất có lẽ là bài của Trương Tửu Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ.

 

Ngày 20/9/1956 tờ báo tư nhân mang tên Nhân văn (chủ nhiệm Phan Khôi, thư ký tòa soạn Trần Duy) ra mắt số 1 trong đó có các bài Tiến tới xét lại một vụ án văn học: Con người Trần Dần của Hoàng Cầm, Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, Chống bè phái trong văn nghệ của Trần Công, Phỏng vấn giáo sư Nguyễn Mạnh Tường về vấn đề mở rộng tự do dân chủ, v.v…

 

Ngày 30/9/1956 báo Nhân văn ra số 2 với những bài: Phấn đấu cho trăm hoa đua nở của Trần Duy, Không sợ địch lợi dụng của Trần Lê Văn, phỏng vấn học giả Đào Duy Anh về mở rộng tự do dân chủ, bài trả lời tác giả Nguyễn Chương của báo Nhân dân, cho rằng ký giả này đã “vu cáo chính trị” đối với báo Nhân văn, v.v…

 

Ngày 15/10/1956 báo Nhân văn ra số 3 với những bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ của Trần Đức Thảo, phỏng vấn bác sĩ Đặng Văn Ngữ về mở rộng tự do dân chủ, các ý kiến phản hồi về sự tự phê bình của Hoài Thanh đối với vụ phê phán bài thơ “Nhất định thắng”, v.v…

 

Ngày 20/10/1956, tuần báoTrăm hoa do Nguyễn Bính chủ trì đã tục bản sau nửa năm vắng mặt, lại mạnh mẽ đặt vấn đề: phải sửa sai đối với giải thưởng văn học 1954-55, − một việc mà lãnh đạo Hội Văn nghệ tuy đã thừa nhận có khuyết điểm song không hề sửa chữa trên thực tế (và sau đó mãi mãi không thay đổi). Trăm hoa cũng thường nêu lên những hiện tượng áp đặt máy móc của chính quyền trong sinh hoạt thường ngày ở đô thị (ví dụ quy chế khai báo hộ khẩu khiến chồng không thể về ở nhà mình qua đêm) và nhất là hiện tượng bè phái trong văn nghệ (những văn nghệ sĩ hồi kháng chiến cùng ở Việt Bắc đến lúc này thường ưu tiên ưu đãi nhau, từ việc xét giải thưởng và đi nước ngoài đến việc đăng bài vở, tác phẩm; một số văn nghệ sĩ miền Nam tập kết thiếu chỗ đăng bài, đã đến với với Trăm hoa hoặc một số báo tư nhân khác).

 

Trong tháng 10/1956 tập sách Giai phẩm mùa xuân 1956 từng bị thu hồi đầu năm, được in lại và phát hành.

 

Ngày 5/11/1956 báo Nhân văn ra số 4, với những bài của Nguyễn Hữu Đang (Cần phải chính quy hơn nữa), Trần Duy (Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ), truyện ngắn của Phùng Cung (Con ngựa già của chúa Trịnh), rồi bài nêu vụ việc một cán bộ sở báo chí trung ương đến toà báo Trăm hoa gây gổ xúc phạm thi sĩ Nguyễn Bính, bài của Bùi Quang Đoài đáp lại bài viết về chủ nghiã nhân văn của Hoàng Xuân Nhị trên báo Nhân dân, v.v…

 

Số báo Nhân văn này gần như ra cùng lúc với quyển mới Giai phẩm mùa thu tập III của nhà Minh Đức, trong đó có phần đầu bài Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu, bài Muốn phát triển học thuật của Đào Duy Anh, thơ của Phan Khôi, Mai Hanh, bài Chủ nghĩa xã hội và nhà nước của một tác giả Nam Tư do Bùi Quang Đoài dịch, v.v…

 

Ngày 20/11/1956, báo Nhân văn ra số 5, với những bài phản đối sở báo chí trung ương thi hành kỷ luật báo Nhân văn, các bài của H.L. (Không có lý gì mà không tán thành trăm hoa đua nở), Nguyễn Hữu Đang (Hiến pháp Việt Nam 1946 và hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào?), Trần Duy (Góp ý kiến về phần tự do dân chủ trong nghị quyết TƯ lần thứ mười), N.Q.S. (Bài học Ba-lan và Hung-ga-ri), Châm Văn Biếm (Thi sĩ máy), Hoàng Tố Nguyên (Tiếng hát quê hương), v.v… 

 

Cuối tháng 11/1956 Giai phẩm mùa đông 1956 tập I của nhà Minh Đức ra mắt với những bài của Trương Tửu (Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ và sự lãnh đạo của đảng cộng sản bôn-sê-vích), Trần Đức Thảo (Nội dung xã hội và hình thức tự do), Sỹ Ngọc (Làm cho hoa nở bốn mùa), Nguyễn Mạnh Tường (Hai câu chuyện),  Hữu Loan (truyện ngắn Lộn sòng), Trần Dần (dịch thơ Mai-a-kốp-ski), Hoàng Cầm (kịch thơ Hướng đi lên bắc), Phùng Quán (thơ Ai người hiểu rõ nhất?), v.v…

 

Cùng thời gian ấy, loại sách “Đất mới” của Nhà xuất bản Minh Đức ra tập I nhan đề “Chuyện sinh viên”  với bài của các tác giả Nguyễn Bao, Bùi Quang Đoài, Thúc Hà, Dương Viết Á, Văn Tâm, v.v…

 

Khuynh hướng thể hiện trong các ấn phẩm trên, tất nhiên bị phản đối dữ dội từ phía các tờ báo chính thống. Trước hết là báo Nhân dân với các tác giả Nguyễn Chương, Quang Đạm, Xuân Trường, Hoàng Xuân Nhị, và những bạn đọc của báo ấy, v.v… Tuần báo Văn nghệ thì vừa tiếp tục vai trò làm diễn đàn chuẩn bị Đại hội Văn nghệ toàn quốc để cho đăng những bài góp ý phê bình lãnh đạo văn nghệ, vừa dành trang phê bình của báo (kể từ số 141, ngày 4/10/1956) cho những bài phê phán các số Nhân văn và các tập Giai phẩm, thậm chí dành trang cho cuộc thảo luận giữa Nguyễn Hữu Đang và Hồng Vân (Hoàng Trung Thông) xung quanh khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”, khi báo Nhân văn và các tập Giai phẩm đã thôi không còn được ra thêm nữa.

 

Sự phức tạp của tình hình là ở những động thái đột xuất tạm thời cắt ngang dòng ý kiến phê phán báo Nhân văn và các tập Giai phẩm: ấy là ngày 30/10/1956 với việc công bố nghị quyết hội nghị trung ương Đảng lần thứ 10 (mở rộng) nêu lên những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đồng thời nêu quyết tâm sửa chữa những sai lầm ấy, công bố những việc lớn như cử lại chức Tổng bí thư Đảng LĐ VN (Trường Chinh thôi chức này, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm), cách chức những quan chức cao cấp của Ủy ban CCRĐ TƯ (chỉ thấy nêu 2 trường hợp Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương), tuyên bố vô hiệu hóa lập tức quyền hạn của UBCCRĐ từ trung ương đến các cấp (các ủy ban này vốn có quyền xét duyệt các quyết nghị về quy thành phần gia cấp các hộ gia đình tại các địa phương, ký duyệt việc trưng thu trưng mua ruộng đất và tài sản những hộ địa chủ phú nông, xét duyệt các mức án tù hoặc tử hình đối với người bị quy là địa chủ phản động, v.v…; các ủy ban này từ đây trở thành những cơ quan chỉ còn chức năng nghiên cứu, ít lâu sau sẽ bị giải tán), giải tán ngay các tòa án nhân dân đặc biệt các cấp do các UBCCRĐ lập ra, nêu ra hàng loạt biện pháp sửa sai, từ các tiêu chuẩn để hạ thành phần cho những người bị quy vào các thành phần bóc lột đến việc minh oan cho những cán bộ đảng viên bị quy vào thành phần phản động các loại.(6)

 

Sự kiện chấn động đời sống chính trị miền Bắc này, tuy vậy, chỉ làm gián đoạn chốc lát chứ không làm thay đổi chiều hướng phê phán nhằm vào 5 số báo Nhân văn và 5 tập Giai phẩm; tất nhiên trên một số vấn đề sẽ xuất hiện một vài khía cạnh sẽ được biện luận thêm, ví dụ sự “phê bình” được phân chia thành “phê bình xây dựng” và “phê bình phá hoại”.     

 

Ngày 8/11/1956, báo Nhân văn bị Sở báo chí trung ương cảnh cáo vì vi phạm quy chế lưu chiểu.

 

Ngày 15/11/1956, Ủy ban hành chính TP Hà Nội ra quyết định đình bản báo Nhân văn đồng thời cấm lưu hành tất cả 5 số Nhân văn đã phát hành trước đó.

 

Các tập Giai phẩm cũng không được cấp giấy phép để ra tiếp, nhà Minh Đức chỉ ra thêm được một tập sách cũng có dạng “giai phẩm” (gồm các sáng tác thơ văn của nhiều tác giả, chỉ không có bài nào là nghị luận) tuy mang tên Sách Tết 1957, với kích cỡ gần như một số báo (32 trang 30 x 40 cm).

 


(a) “Năm 1976 [….] tạp chí Tác phẩm mới ngừng phát hành và Nhà xuất bản Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam ra đời. Cho đến năm 1987, do yêu cầu phát triển của văn học, tạp chí lại xuất bản với tên ‘Tác phẩm văn học’ khuôn khổ 13x19cm, ra hàng tháng; Tổng biên tập là nhà văn Nguyễn Đình Thi.” (sách: Nhà văn việt Nam hiện đại (nhân kỷ niệm 35 năm thành lập Hội nhà văn Việt Nam). Hà Nội: Hội nhà văn Việt Nam xb., 1992, tr. 237.)  

(b) Bài đính chính những nội dung trên đã đăng nhật báo “Thể thao & Văn hoá”  19/8/2008

(1) Xem: Sưu tập Văn nghệ 1948-1954, tập 7: 1954, (Hữu Nhuận và Lại Nguyên Ân sưu tầm), Hà Nội, 2006: Nxb. Hội Nhà Văn, tr. 575-577.

(2) Xem trong cuốn: Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ “Việt Bắc” (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn), Hà Nội: Nxb. VHTT, 2005, tr. 27, 46, 48.

(3) Xem: tin về ĐH 20 ĐCSLX, lời chào mừng ĐH 20 ĐCS LX của Trường Chinh trong tạp chí Học tập, s. 3 (tháng 2/1956); bản dịch toàn văn các văn kiện và một số tham luận chính tại ĐH 20 ĐCS LX trong tạp chí Học tập số 4 (tháng 3/1956), s. 5 (tháng 4/1956) và s. 6 (tháng 5/1956); các văn kiện hội nghị BCHTƯ ĐLĐ VN lần thứ 9 (mở rộng) gồm nghị quyết, lời bế mạc hội nghị của chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo chính tại hội nghị của Tổng bí thư Trường Chinh: Đại hội lần thứ 20 của Đảng cộng sản Liên Xô, một cuộc Đại hội có ý nghĩa lịch sử trọng đại  trên tạp chí Học tập số 6 (tháng 5/1956); các bài trao đổi về vấn đề phương thức lãnh đạo tập thể, chống sùng bái cá nhân trên tạp chí Học tập các số 7 (tháng 6/1956), số 8 (tháng 7/1956), số 1 (tháng 1/1957), v.v…

(4) Sự kiện BCH TƯ ĐCS Liên Xô thông qua nghị quyết về chống sùng bái cá nhân được đăng trên Nhân dân ngày 3/7/1956, tr. 1; bài tóm tắt nội dung nghị quyết này được đăng trên Nhân dân ngày 5/7/1956, tr.3-4.

(5) Xã luận tạp chí Học tập số 8 (tháng 7/1956), tr. 3.

(5) Có lẽ ý Nguyễn Bính muốn nói là tập thơ Ngôi sao đã xuất bản trước khi công bố kết quả giải  thưởng văn học của Hội Văn nghệ  (đăng Văn nghệ  s. 112, ngày 15/3/1956). Nên chú ý là trong thể lệ dự giải văn học, tác phẩm gửi về tham dự giải có thể ở dạng bản thảo chưa in, có thể ở dạng sách đã xuất bản trong thời hạn được quy định.

(6) Xem trênnhật báo Nhân dân ngày 30/10/1956: 1/Thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 (mở rộng) của Ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam; 2/Thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 BCH TƯ ĐLĐVN về việc cử lại Tổng bí thư BCH TƯ; 3/ Thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 BCH TƯ ĐLĐVN về việc thi hành kỷ luật đối với những đồng chí ủy viên trung ương phạm sai lầm trong việc chỉ đạo công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. 4/Tin tối 29/10/1956 hơn 10.000 đại biểu nhân dân thủ đô họp mặt tại Nhà hát nhân dân nghe thông báo về Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 10, nghe đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện về nghị quyếthội nghị lần thứ 10 trung ương Đảng.

– Xem trên Nhân dân ngày 31/10/1956: Bài nói chuyện của đồng chí Võ Nguyên Giáp ủy viên bộ chính trị trung ương Đảng, về nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 10, tr. 1, 2-3, 4.

– Xem trên Nhân dân ngày 2/11/1956: Thông cáo của Hội đồng chính phủ;

– Xem trên Nhân dân ngày 7/11/1956: Nghị quyết của Hội đồng chính phủ về mấy chính sách cụ thể để sửa chữa sai lầm về CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức.

– Xem trên Nhân dân ngày 8/11/1956: Trích Nghị quyết của HĐCP về việc chấp hành chính sách cụ thể đối với phú nông, đối với những người bị vạch là thành phần bóc lột khác và những người có ít ruộng đất phát canh hoặc thuê người làm; Chính sách đối với địa chủ sau cải cách ruộng đất.

 

Xem tiếp phần 2

Lại Nguyên Ân

 

Phê bình
 
Xuân Diệu, Trong Những Năm 1954-58 -2

 

Lại Nguyên Ân

 

Ngày 14/12/1956, Chủ tịch nước VNDCCH ban hành sắc lệnh về chế độ báo chí; văn kiện này đã đề ra những nội dung mà sau này người ta sẽ gọi là “vùng cấm” trong hoạt động thông tin ngôn luận của báo chí:

 

“a/ Không được tuyên truyền chống pháp luật của nhà nước. Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại những luật lệ và những đường lối, chính sách của nhà nước. Không được viết bài có tính chất chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội. Không được gây ra những dư luận hoặc những hành động có hại cho an ninh trật tự của xã hội.

 

b/ Không được tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam, làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội.

 

c/ Không được tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị giữa nhân dân nước ta với nhân dân các nước bạn, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa đế quốc, không được tuyên truyền cho chiến tranh.

 

d/ Không được tiết lộ bí mật quốc gia như: những bí mật quốc phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố chính thức của cơ quan có trách nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử, những bản án mà tòa án không cho phép công bố, những tài liệu, số liệu và những cơ sở kiến thiết về kinh tế tài chính mà ủy ban kế hoạch nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công bố.

e/ Không được tuyên truyền dâm ô, trụy lạc, đồi bại.”

(Sắc lệnh về chế độ báo chí // Nhân dân, 15/12/1956, tr. 1)  

 

 

 

Giữa tháng 12/1956, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị đảng viên văn nghệ, thống nhất nhận thức tư tưởng trước khi bước vào đại hội văn nghệ, tại đó hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm đã bị lên án.

 

Tại kỳ họp lần thứ 6 của Quốc hội (khoá I), ngày 18/1/1957, dân biểu Nguyễn Đình Thi đã chính thức phát biểu trước Quốc hội: “Trong khi chúng ta phê bình những sai lầm khuyết điểm, đã có một vài khuynh hướng xấu len vào vu khống chế độ của ta, đả kích sự lãnh đạo của đảng và chính phủ, đối với những người trí thức, tìm cách gây hoang mang chia rẽ. Những khuynh hướng xấu đó gần đây đã được vạch ra, cuộc đấu tranh tư tưởng chung quanh vấn đề văn nghệ hiện nay đang làm cho những người trí thức nước ta trưởng thành lớn thêm một bước nữa”…(7)     

 

Ngày 20/2/1957, Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai khai mạc và tiếp diễn trong 8 ngày; đại hội này đã quyết định chấm dứt Hội Văn nghệ Việt Nam để thành lập Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, khuyến khích các ngành văn nghệ thành lập Hội của ngành mình, đặt trong khuôn khổ Hội Liên hiệp VHNTVN. Trong thời gian đại hội, với tư cách đại diện Đảng Lao động Việt Nam, ông Trường Chinh, được Ban chấp hành hội Văn nghệ giới thiệu như “người bạn thân mến của văn nghệ sĩ Việt Nam” và mời đến nói chuyện tại Nhà hát Lớn trong ngày nghỉ của đại hội (chủ nhật 24/2/1957), với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội”; trong bài nói chuyện này có những đoạn nhận định và lên án Nhân văn – Giai phẩm rất gay gắt; văn bản bài nói chuyện này của Trường Chinh, khoảng 4-5 tháng sau mới được công bố (trên 2 kỳ đầu Tạp chí Văn nghệ, cơ quan của Hội LHVHNTVN, xuất bản từ tháng 6/1957). (8)  

 

 

***

 

 

3b. Suốtthời gian kể trên,từ 1/8/1956 đến đại hội văn nghệ toàn quốc lần 2, Xuân Diệu hầu như ít đăng đàn; ông rất ít đăng thơ, hình như chỉ một lần, với bài Gieo mùa ở báo Văn nghệ số Tết Đinh Dậu (số kép 156&157, ra ngày 18/1/1957); loại ông viết nhiều hơn ở thời gian này là một số bút ký hoặc giới thiệu, điểm sách, chẳng hạn, bút ký Những tâm hồn đổi mới (báo Độc lập, s. 152, ngày 14/1/1956) viết về trường đại học nhân dân, mở cho giới trí thức từng sống và làm việc dưới chế độ cũ trong thành Hà Nội thời tạm chiếm; bút ký Thăm một làng miền bắc Hung-ga-ri (Nhân dân, 30/3/1956), bút ký Một thành phố xã hội chủ nghĩa ở Hung (tạp chí Tổ quốc, s. 32, ngày 5/4/1956), bút ký Cảm tưởng Mat-scơ-va (Nhân dân, 10/11/1956), bút ký Mùa xuân thắng (Nhân dân, 3/2/1957), giới thiệu Vài hình ảnh văn học Hung-ga-ry (Văn nghệ số 115, ngày 5/4/1956), đọc sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Văn nghệ số 121, ngày 17/5/1956), giới thiệu và dịch thơ Nazim Hitmet (Văn nghệ số 150, ngày 7/12/1956), đưa tin về hội nghị các nhà văn châu Á (Văn nghệ số 153, ngày 27/12/1956). Đáng kể nhất có lẽ là lần Xuân Diệu xuất hiện trên diễn đàn Đại hội Văn nghệ ở ngày họp thứ sáu, 26/2/1957, với tham luận về bệnh sơ lược trong văn nghệ (trích đăng Văn nghệ số 162, ngày 1/3/1957). Tại đại hội này, Xuân Diệu là một trong số 15 nhà văn (Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân,  Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung), cùng với nhiều văn nghệ sĩ thuộc các ngành khác, được bầu vào BCH Hội Liên hiệp VHNTVN.

 

Xin dừng lại đôi chút ở bài tham luận của Xuân Diệu; đây là lần duy nhất ông bộc lộ ý kiến trong suốt thời gian trên dưới nửa năm (tháng 8/1956 – tháng 2/1957), giữa một đời sống văn nghệ sôi động, đầy những va chạm về tư tưởng và quan niệm văn nghệ.

 

Về căn bệnh trong sáng tác đang được nêu ra và phân tích, Xuân Diệu cho rằng:

 

“Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.

 

Song, theo Xuân Diệu:

 

“bệnh sơ lược không ở trong bản chất nền văn học mới chúng ta”,

… “chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim đông tây, đời nào và ở đâu cũng có”.

… “Số người quy bệnh sơ lược cho Đảng và cho chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những con người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản và đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”

 

Xuân Diệu nói đến những cái mà nhiều người gọi là “khuôn” trong đời sống mới:

 

“Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng?(9) Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe XHCN, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho cho quyền lợi dân tộc, […..] Vâng! Nếu có một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”

 

Đối với những cái “sáo” hình thành trong văn nghệ cách mạng, thái độ của Xuân Diệu là bảo vệ:

 

“Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó có hảo ý; chứ còn cái công thức cuả tư sản phản động, của văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng…”

 

“Chúng ta chống và chữa những bệnh ấu trĩ của nền văn nghệ non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định rằng: không có chân trời mới nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của phe ta và cái văn nghệ tiến bộ của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực thẳm nào khác!”   

 

Về cách chữa bệnh sơ lược, Xuân Diệu cho là có “cách chữa chân chính” và  “cách chữa giả tạo”, cách thứ hai này, ông chống kịch liệt:

 

“Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách quan [….] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức  bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết…”

 

Cách chữa chân chính, theo Xuân Diệu, là “nghiên cứu sâu thực tế cách mạng”, vì “cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng”, “ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới chủ nghĩa’, đi tìm những cá tính lập dị nào”. 

 

“Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”

 

Đọc lại những lời lẽ trên đây, không khó để thấy thành phần nghị luận chủ yếu trong đó là ngụy biện, tuy được phát ngôn một cách không kém nồng nhiệt nhưng vẫn là kết quả những suy tính kỹ lưỡng, − không nhiều suy tư về chân lý, nhưng chắc chắn là ngầm chứa rất nhiều suy tính về cách ứng xử, cách “diễn ngôn” (discours, như cách gọi sau này) ra sao để tồn tại; đối với tác giả Thơ thơ  đến lúc này thì vấn đề không chỉ là cần sống sót mà là cần được sống tốt, bất kể thời thế ra sao.

***

 

 

4a. Chúng ta tiếp tục dõi theo những nét chính trong đời sống văn nghệ từ đầu năm 1957, sau Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai. Đối với giới nhà văn, đây là một năm đáng nhớ với sự ra đời lần đầu tiên ở Việt Nam một hội mang tên Hội Nhà Văn Việt Nam với những cơ sở trực thuộc nó sẽ dần dần hình thành: câu lạc bộ, tờ tuần báo, nhà xuất bản, quỹ văn học …

 

Việc thành lập các hội chuyên ngành cho các giới: nhà văn, hoạ sĩ và nhà điêu khắc, nhạc sĩ, kiến trúc sư, nghệ sĩ sân khấu, nghệ sĩ điện ảnh, − là chủ trương được thông qua tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần II. Hội nhà văn được xúc tiến sớm nhất.

 

Tất nhiên đặt trong đời sống tinh thần ở miền Bắc đương thời, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN hoặc Hội nhà văn VN và các hội chuyên ngành cùng loại, đều là những tổ chức được thành lập theo chủ trương của Đảng cầm quyền, đều là những hội được hưởng quy chế tương đương cơ quan nhà nước (biên chế và lương cán bộ nhân viên đều do nhà nước đảm bảo), − nói bằng ngôn ngữ của thời “hậu bao cấp” thì đó là những hội “quốc doanh”, hội “độc quyền”, hội “bao cấp”…   

 

Hội nghị thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam họp từ ngày 1 đến ngày 4/4/1957, có 278 đại biểu tham dự, thảo luận và thông qua bản điều lệ trong đó nói rõ: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật” (điều III).(10) Đại hội bầu ra ban chấp hành khoá đầu gồm 25 nhà văn, và nhất trí coi 25 nhà văn trong ban chấp hành này là những hội viên sáng lập và sau đấy sẽ bắt tay vào việc kết nạp hội viên vào Hội.(11)  25 nhà văn đó gồm: Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Cầm, Sao Mai, Tố Hữu, Hoàng Tích Linh, Nguyên Hồng, Bửu Tiến, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi, Phạm Huy Thông, Tế Hanh, Nam Trân, Vũ Tú Nam, Hoàng Trung Thông, Xuân Miễn, Tô Hoài, Nguyễn Tuân.

 

Ngày 10/4/1957, hội nghị BCH lần 1 cử ra ban thường vụ gồm: chủ tịch Hội: Nguyễn Công Hoan, phó chủ tịch: Tú Mỡ, tổng thư ký: Tô Hoài, phó tổng thư ký: Nguyễn Xuân Sanh, và 3 uỷ viên: Nguyên Hồng, Tế Hanh, Đoàn Giỏi.

 

Ngày 25 và 26/4/1957, hội nghị BCH lần 2 thông qua đề án xuất bản báo Văn và lập Nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Tuần báo Văn  với Chủ nhiệm Nguyễn Công Hoan, Thư ký toà soạn Nguyên Hồng và 2 uỷ viên ban biên tập là Tú Mỡ và Tế Hanh. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn với Giám đốc Tô Hoài và 3 uỷ viên ban biên tập: Hoàng Cầm, Đoàn Giỏi, Nguyễn Văn Mãi. Hội nghị này cũng quyết định lập ra ban kết nạp hội viên (trưởng: Tú Mỡ, phó: Nguyên Hồng, có một tiểu ban giúp việc), ban chế độ công tác sáng tác (trưởng: Nguyễn Công Hoan, phó: Nguyễn Xuân Sanh, có một số uỷ viên), ban nghiên cứu sáng tác (trưởng: Tô Hoài), ban văn học nước ngoài (trưởng: Nguyễn Xuân Sanh, uỷ viên: Nguyễn Tuân, Phạm Huy Thông). Ban thường vụ Hội quyết định lập cơ quan Hội, quy định biên chế cơ quan gồm một số nhà văn và một số cán bộ hành chính.

 

Tuần báo Văn xuất bản vào ngày thứ sáu hằng tuần, số 1 ra ngày 10/5/1957, và, − ngoài mong muốn và dự liệu của giới lãnh đạo văn nghệ hay chăng (hay vẫn nằm trong số những dự liệu ấy?), − chính tờ báo này đã làm nên một đoạn phiêu lưu nữa, như giọt nước không mấy to hoặc nặng, nhưng lại là giọt nước làm tràn ly: với nó và sau nó, sự đấu tranh giữa những khác biệt trong nội bộ nền “văn nghệ cách mạng” này được công nhiên chuyển thành đấu tranh giữa “ta” với “địch”, một số “đồng chí” trong hàng ngũ được chuyển thành những “kẻ thù” và bị trừng phạt, bị trục xuất khỏi hàng ngũ, bị làm cho ô nhục bằng ngôn từ và bằng áp đặt sự phân biệt đối xử.

 

Ta hãy quan sát kỹ hơn những gì xảy ra với tuần báo Văn.

 

Văn là tuần báo ra ngày thứ sáu, chuyên về “sáng tác, phê bình, giới thiệu, sinh hoạt văn học, tin văn thơ”. Thành phần bài vở chính trong mỗi số là đăng sáng tác thơ văn, phê bình tiểu luận, chuyện nghề văn, thời sự văn hóa văn nghệ; một phương diện phục vụ chính trị không thể thiếu của báo là mảng hoạt kê và châm biếm chính trị: tranh đả kích, thơ trào phúng trong các mục “mũi nhọn”, “bia miệng”, đối tượng luôn luôn là “đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm”.

 

Văn có nét thông thường ở hầu hết các tờ báo của giới nhà văn: phần trang nhiều nhất dành đăng sáng tác thơ văn, dư luận văn nghệ. Có lẽ nét mới thấy rõ ở nó so với tuần báo Văn nghệ  trước đấy là việc phản ánh sinh hoạt câu lạc bộ Hội nhà văn, hoặc những thông tin khá hồ hởi xung quanh những ngày đầu hoạt động của Hội nhà văn, nhất là những động thái triển khai việc xét kết nạp hội viên đợt đầu tiên…

 

Tuy nhiên, vào lúc đã ra được 10 số đầu, tờ tuần báo của Hội Nhà văn như bị dội nước lạnh khi trên tạp chí Học tập, cơ quan lý luận chính trị của trung ương Đảng Lao động VN, số 7/1957, xuất hiện bài Tuần báo Văn và con người thời đại  của tác giả Thế Toàn (Trịnh Xuân An), theo đó, những sáng tác đăng tải trên 10 số Văn đầu tiên được đánh giá khá tiêu cực: chủ đề của nhiều văn, thơ đăng ở đây “toàn là những thứ lượm lặt ngoài rìa cuộc sống”, “không ăn nhập gì với cuộc sống, không dính dáng gì đến những con người vĩ đại và dũng cảm của thời đại chúng ta”; tóm lại, theo Thế Toàn, “Tờ báo hầu như xa rời thực tế, xa rời cuộc sống, tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng”.   

 

 

Trước sự phê bình của tạp chí Học tập, ban biên tập tuần báo Văn  và không ít nhà văn đã có phản ứng khá gay gắt. Lần lượt, các ý kiến của thư ký tòa soạn Nguyên Hồng (Tuần báo Văn và một số bài của báo cần được nhận định như thế nào? // Văn số 15, ngày 16/8/1957), của Nguyễn Văn Bổng (Nhận lại phương hướng qua việc phê bình tuần báo Văn // Văn số 20, ngày 20/9/1957), Lê Minh (Xây dựng con người thời đại // Văn số 21, ngày 27/9/1957), Tô Hoài (Góp thêm vài ý kiến về con người thời đại // Văn số 22, ngày 4/10/1957), Nguyễn Tuân (Phê bình nhất định là khó // Văn số 23, ngày 11/10/1957), Tế Hanh (Cùng đặt một số vấn đề // Văn số 26, ngày 1/11/1957), ở những mức độ khác nhau, hầu hết (đúng ra, trừ một số ý trong bài của Nguyễn Văn Bổng) đều bộc lộ thái độ không tán đồng sự phê bình của tạp chí Học tập.

 

Việc những người chủ trì báo Văn coi sự góp ý của tạp chí Học tập chỉ như sự phê bình của tờ “báo bạn”, của “đồng nghiệp” − có lẽ đặc biệt gây tự ái nơi tâm lý những người nhân danh báo chí của Đảng cầm quyền. Dưới dạng một bài đọc sách, − đây là bài nói chuyện của Trường Chinh tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần II được in thành sách riêng, − hai nhà báo của tạp chí Học tập, Hồng Chương và Trịnh Xuân An, lên tiếng nhắc nhở các nhà văn và Ban biên tập tuần báo Văn; nhan đề bài viết (Học tập, số 8, tháng 8/1957) được hai ông này đặt bằng mệnh lệnh thức: Phải thấu suốt đường lối văn nghệ của Đảng. Bút ký sau khi đọc cuốn “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” của đồng chí Trường Chinh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc cần phê phán ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong sáng tác văn nghệ. Ý nghĩa cảnh cáo lộ rõ trong đoạn kết:

 

“Chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những thiên hướng lệch lạc đi trệch ra ngoài đường lối văn nghệ của Đảng. Chúng ta cũng kiên quyết phản đối thái độ của một số cán bộ đảng viên phụ trách văn nghệ phạm khuyết điểm sai lầm được báo chí Đảng giúp đỡ phát hiện khuyết điểm sai lầm mà không chịu khiêm tốn kiểm điểm và thành tâm sửa chữa, trái lại, lại đả kích và mạt sát báo chí Đảng. Thái độ đó rõ ràng là không lợi cho việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ.”

 

Nhận xét về cách phê bình của hai ký giả trên tạp chí Học tập, Nguyễn Tuân (báo Văn số 23) nhắc lại mấy câu hỏi của Nguyên Hồng (thư ký tòa soạn báo “Văn” ): “Có phải vì giáo điều, sơ lược, công thức, nên mới có sự nhận thức và phê phán như thế? Có phải vì tác phong quan liêu, trịch thượng và cái lối đao to búa lớn nên mới có sự nhận xét như thế?”, và Nguyễn Tuân tỏ rõ ý kiến mình:

 

“Trong việc đánh giá, đặc biệt nhất là ba ông Thế Toàn, Hồng Chương và Trịnh Xuân An đã có những “thái độ trịch thượng và cái lối nói đao to búa lớn”. Tôi cũng đồng ý với ông thư ký tòa soạn báo Văn về cái nhận xét này. Thêm nữa, cá nhân tôi lại còn cảm thấy mấy ông đó đã làm cho người đọc phải hiểu rằng các ông đang lấy Đảng ra để “dọa” anh em viết bài báo”.

 

Đáp lại sự nhận xét trịch thượng cho rằng giới nhà văn chưa biểu hiện được “con người thời đại”, Nguyễn Tuân lên tiếng như là tiếng nói chung của giới mình:

 

“Theo chỗ tôi biết thì đã có một số hiện tượng hách dịch đối với văn nghệ phẩm, xuất phát từ một số người phê bình cũng như từ một số cán bộ chính trị. Tôi rất đồng ý là văn nghệ sĩ, mà nhất là văn nghệ sĩ có tài, càng cần phải khiêm tốn. Nhưng chung quanh, nhất là những người có trách nhiệm về phán đoán cái này cái kia, đề nghị cũng làm như vậy cho. Tôi tán thành cái ý kiến là những “sĩ” của các ngành văn nghệ chúng ta chưa có gì là ghê gớm lắm đâu, về trình độ tư tưởng trình độ văn hóa trình độ nghề nghiệp còn phải học cho nát xương lòi da ra, học cho đến chết mà chắc gì đã nắm hết được quy luật của sự sống. Nhưng cũng không nên vì nó chỉ là “sĩ” của Việt Nam mà đánh giá nó quá thấp quá tồi về khả năng nhạy cảm đối với thực tế khách quan, cho nó là mít là xoài tất trong mọi cảm xúc phiền toái và vĩ đại của thời đại vừa gieo neo vừa lớn lao hiện nay của chúng ta. Trong mọi thực tiễn Việt Nam nói chung các mặt, nếu đã có những tác giả còn non nớt, nếu đã có những tác phẩm yếu xoàng, thì cũng đã có một số cán bộ thực hiện chính trị một cách cũng không được cao tay gì lắm. Đối với nghệ phẩm, anh đến với nó (nhất là thứ tạo ra ở bản xứ) mà anh tham lam quá đáng hoặc hung hăng một cách không cần thiết, thì nó biến mất….”

 

 

Lúc này, đến lượt Tạp chí Văn nghệ vào cuộc. Tạp chí này, chủ nhiệm là Đặng Thai Mai, thư ký tòa soạn là Nguyễn Đình Thi, đã tái xuất hiện từ tháng 6/1957 với tư cách cơ quan của Hội Liên hiêp Văn học nghệ thuật Việt Nam, ra hàng tháng, đánh số từ số 1 nhưng ghi rõ trên manchette là tờ tạp chí “xuất bản từ 1948 trong kháng chiến”. Chính trên tạp chí này, dù chỉ vừa mới xuất hiện trở lại, cũng đã kịp có những bài phê phán những sáng tác bị coi là có những lệch lạc về tư tưởng, ví dụ Thao thức của Đoàn Giỏi (bài phê bình của Nguyễn Văn Bổng, TCVN s. 5, th. 10/1957), Một ngày chủ nhật của Nguyễn Huy Tưởng (bài phê bình của Vũ Đức Phúc, TCVN s. 7, th. 12/1957).

 

Bài báo dài Tuần báo Văn với phương hướng sáng tác và phê bình hiện nay (Tạp chí Văn nghệ số 5, tháng 10/1957, tr. 113-136) của nhà phê bình Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ, tất nhiên là không tách rời tư cách Tổng thư ký Hội LHVHNTVN của ông khi đó (cũng như Nguyễn Tuân khi lên tiếng ủng hộ Nguyên Hồng thì ông Tuân vẫn đang là Phó chủ tịch Hội LHVHNTVN).

 

Có phần tán thành nhận định của Thế Toàn và Nguyễn Văn Bổng, đề cập đến các sáng tác đăng 10 số đầu báo Văn, Nguyễn Đình Thi cho rằng “Chúng ta chưa nhìn rõ cái thực tế tiến dần lên chủ nghĩa xã hội của đời sống chung quanh ta được báo Văn phản ánh lên thế nào” … “Tình hình đó không thể coi là bình thường được”.  Nguyễn Đình Thi còn phân tích đánh giá về một số bài đăng trên các số Văn, trong đó đặc biệt tỏ rõ dị ứng với các bài thơ Một giọng đàn, một dòng sông (Hoàng Yến, s. 5), In dấu chân (Hoàng Cầm, s. 15), Lời mẹ dặn (Phùng Quán, s. 21), hoặc ý kiến của Trần Dần Nhìn lướt qua thơ văn gần đây (s. 12). Tuy vậy, cũng có phần chia sẻ với Nguyên Hồng trong phản ứng trước sự phê bình đầy công thức và máy móc của tạp chí “Học tập”; Nguyễn Đình Thi viết:

 

 

 

 


(7) Nguyễn Đình Thi: Mấy việc làm để xây dựng nền văn hoá văn nghệ của nhân dân ta (phát biểu trong phiên họp Quốc hội khoá thứ 6 ngày 18/1/1957) // Văn nghệ,  s. 158 (1/2/1957), tr. 1, 2. Lưu ý: báo chí đương thời gọi đây là “khoá họp” (QH) thứ 6”; theo cách gọi ngày nay, phải là “kỳ họp thứ 6” mới đúng; vì khi đó QH vẫn đang trong nhiệm kỳ I (nay cũng gọi là khoá I), được bầu cử từ 1946.

 

(8) Theo các bài tường thuật của Huyền Kiêu (VN. s. 161) và Bàng Sĩ Nguyên (VN. s. 162), có thể tóm tắt tiến trình Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ 20/2/1957 đến 28/2/1957 như sau:

 

Chiều 19/2/1957: Họp trù bị, bầu Chủ tịch đoàn Đại hội, 25 người: Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Hoài Thanh, Nguyễn Xuân Khoát, Lương Xuân Nhị, Phan Thao, Thế Lữ, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Nông Quốc Chấn, Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Cao Luyện, Văn Cao, Ái Liên, Thái Thị Liên, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Văn Tỵ, Y Dơn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Nho Tuý (Đội Tảo), Trần Văn Lắm, Lưu Hữu Phước, Trần Huyền Trân

 

20/2/1957: phiên khai mạc; ngày họp thứ nhất

– Chủ tịch đoàn giới thiệu Đặng Thai Mai chủ toạ phiên họp đầu tiên. Chủ tịch đoàn giới thiệu bổ sung nhạc sĩ quân đội Đỗ Nhuận vào chủ tịch đoàn, đại hội biểu quyết bằng vỗ tay thông qua.

– Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân giới thiệu thành phần đại hội và khách của đại hội: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Trường Chinh đại diện Đảng Lao động VN; trên 600 văn nghệ sĩ; các vị khách Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận tổ quốc, Quân đội nhân dân, đảng xã hội, đảng dân chủ, bộ văn hoá, các sứ quán, các phóng viên…

– Tổng thư ký Nguyễn Tuân đọc diễn văn khai mạc.

– Lời chào mừng của Mặt trận tổ quốc, của anh em văn nghệ sĩ đang công tác ở giới tuyến, nhà văn và trí thức Ru-ma-ni.

– Nguyễn Đình Thi thay mặt Ban chấp hành Hội đọc báo cáo chính: Văn học và nghệ thuật Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.

– Chiều: Nguyễn Đình Thi đọc tiếp báo cáo

– Ô. Trường Chinh đọc Thư của BCH TƯ ĐLĐ VN gửi đại hội.

 

21/2/1957: ngày họp thứ hai

– Lưu Quý Kỳ đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ miền Nam trong chín năm qua và nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

– Nông Quốc Chấn đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ các dân tộc miền núi.

– Nguyễn Xuân Sanh đọc báo cáo bổ sung về: Dự thảo điều lệ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

 

22/2/1957: ngày họp thứ ba

các đại biểu thảo luận theo ngành tại Nhà hát Lớn, CLB Đoàn Kết, CLB Thống Nhất; tối: đoàn bình kịch Cáp-nhĩ-tân (Trung Quốc) biểu diễn chào mừng đại hội với vở Đào hoa nhân diện.

 

23/2/1957: ngày họp thứ tư

– họp chung tại Nhà hát Lớn nghe các tham luận

– Chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND VN Nguyễn Chí Thanh phát biểu, mời văn nghệ sĩ sáng tác về các đề tài quân đội.

– Đại diện Ban liên lạc nông dân toàn quốc phát biểu hoan nghênh những sáng tác về nông thôn.

– Tham luận: Vũ Ngọc Phan về dân ca VN; Cầm Biêu về thơ dân tộc Thái; Tú Mỡ về trào phúng; Tô Vũ về vốn nhạc cổ; Cù Huy Cận về học tập vốn cũ dân tộc; Đào Duy Anh về vốn cũ dân tộc; Nguyễn Văn Tỵ về phổ biến tranh dân tộc; ngoài ra còn tham luận của Hoàng Châu Ký, Lã Văn Lô, Nhật Lai, Chi Lăng…

 

24/2/1957: chủ nhật, đại hội nghỉ,

Ban chấp hành hội Văn nghệ VN “mời đồng chí Trường Chinh, người bạn thân mến của văn nghệ sĩ VN” nói chuyện tại Nhà hát Lớn, với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” .

 

25/2/1957: ngày họp thứ năm

– đại diện Tổng Liên đoàn lao động VN Nguyễn Duy Tính, đại diện Hội LH Phụ nữ VN Đinh Thị Cẩn, đại diện Hội LH Thanh niên VN Hồ Trúc phát biểu những ước mong của giới mình với văn nghệ.   

– đại hội thảo luận về kinh nghiệm sáng tác và biểu diễn. Phạm Văn Đôn: về kết quả triển lãm hội hoạ VN tại Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên; Đào Duy Kỳ: Khai thác vốn dân tộc; Nguyễn Công Hoan: kinh nghiệm viết tiểu thuyết; Nguyên Hồng: ý thức nhà văn; Bàn Tài Đoàn: tôi học làm thơ như thế nào; Hồ Dzếnh: một ý nghĩ về sáng tác; Y Dơn: tôi làm văn nghệ; Đội Tảo: Người diễn tuồng cổ; hoạ sĩ Nguyễn Hiêm: đi vào quần chúng; Nông Quốc Chấn: thơ và đời sống; Thuý Ngần: tâm sự diễn viên…

 

26/2/1957: ngày họp thứ sáu

– Thứ trưởng bộ văn hoá Đỗ Đức Dục nói về trách nhiệm văn nghệ sĩ với việc nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân; Nguyễn Khánh Toàn (bộ giáo dục) nói về mối quan hệ của ngành giáo dục và văn nghệ sĩ.

– Các tham luận: Nguyễn Xuân Khoát: những khuyết điểm trong phê bình và tự phê bình; Lưu Công Nhân: chống lối phê bình thiếu nâng đỡ đối với hoạ sĩ trẻ; Nguyễn Đình Phúc: sáng tác lâu dài; Phùng Quán: nhận biết “mùi” trăm hoa là khó; Đỗ Nhuận bác lại ý Phùng Quán: “trăm hoa đua nở” không có nghĩa người trồng hoa có thể không có chủ định gì cả…; Xuân Diệu: về bệnh sơ lược trong văn nghệ; Lưu Trọng Lư: về con người mới; Bửu Tiến: tư tưởng tính trong sáng tác; Nguyễn Thành Long: vấn đề phê bình; Lan Sơn: tâm trạng người văn nghệ sĩ tiểu tư sản; Trần Thanh Mại: Đảng, sự thật  và văn học.

 

27/2/1957: ngày họp thứ bảy

– Tham luận và thảo luận về các nhiệm vụ. Phan Thị Nga: văn nghệ với phụ nữ; Phạm Hổ: văn nghệ với thiếu nhi; Trần Hoàn: lực lượng văn nghệ trẻ; Thái Thị Liên và Bích Được: hoàn cảnh khó khăn của diễn viên…

– Buổi chiều, đại biểu các ngành nghệ thuật trẻ: điện ảnh, nhiếp ảnh, múa rối, xiếc…đọc tham luận; Phan Thao: bàn về đâu tranh cho thống nhất nươc nhà.

 

28/2/1957: ngày họp thứ tám

– điện mừng đại hội của nhà văn Pháp André Still và Pierre Courtade

– Các tiểu ban báo cáo: Hoàng Như Tiếp báo cáo công việc của tiểu ban điều lệ; Đặng Thai Mai: công việc của tiểu ban nghị quyết; Nguyễn Đình Thi: nghị quyết của đại hội; Tú Mỡ (tiểu ban hiệu triệu): thư đại hội gửi các nhà văn nghệ miền Nam, thư đại hội gửi nhà văn trong nước và ngoài nước, thư gửi Trung ương Đảng LĐVN.

– Thông qua nghị quyết của đại hội. Nguyễn Tuân tuyên bố Hội Văn nghệ VN hết nhiệm kỳ. Đại hội bầu cử (bằng bỏ phiếu kín) Ban Chấp hành chính thức của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Chiều, công bố kết quả: có 45 văn nghệ sĩ trúng cử. BCH ra mắt.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh đến mừng thành công của đại hội và nói chuyện với văn nghệ sĩ. 

– Tố Hữu trong đoàn chủ tịch đại hội đọc diễn văn bế mạc.

 

Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam

(do đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai bầu ra)

ngành văn: Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, (bà) Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân,  Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung

ngành mỹ thuật: Trần Văn Cẩn, (bà) Nguyễn Thị Kim, Trần Văn Lắm, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh Văn Thuận

ngành kiến trúc: Nguyễn Cao Luyện

ngành nhạc: Văn Cao, Lưu Quang Duyệt, Vũ Tuấn Đức, (bà) Thương Huyền, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước

ngành múa: Hoàng Châu

ngành sân khấu: Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), (bà) Ái Liên, Thế Lữ, Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ), Nguyễn Thị Lan (bà Cả Tam), Nguyễn Nho Tuý (bác Tảo), Sĩ Tiến

ngành múa rối: Huỳnh Văn Cát

ngành xiếc: Phạm Xuân Thư

ngành điện ảnh: Phạm Văn Khoa, Mai Lộc

ngành nhiếp ảnh: Nguyễn Văn Phú

văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số: Cầm Biêu, Nông Quốc Chấn, Y Dơn

(ngoài ra còn 10 ghế dành cho anh chị em văn nghệ hiện ở miền Nam).

 Phiên họp đầu tiên của Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, ngày 1/3/1957 tại trụ sở Hội số 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, dưới sự chủ toạ của nguyên Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân, có mặt 39 uỷ viên chấp hành, đã bầu:

– Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật VN: Đặng Thai Mai

– 8 Phó chủ tịch: Nguyễn Tuân, Tú Mỡ, Nguyễn Xuân Khoát, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Cao Luyện, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Thế Lữ

– Tổng thư ký: Nguyễn Đình Thi

– 3 phó tổng thư ký: Văn Cao, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Bổng

– 13 vị trên đây họp thành Ban Thường vụ của Hội.

 

(9) “người phá kho bom Tân Sơn Nhất” ở đây ý nói nhân vật thiếu niên họ tên Lê Văn Tám, theo báo chí từ 1946 và nhiều năm về sau, là người đã tẩm xăng vào mình xông vào đốt kho bom ở địa điểm trên; do đây đã có một số truyện ký và kịch viết về đề tài này, trong số đó có kịch “Lửa cháy lên rồi” của Phan Vũ, được giải nhì về kịch trong giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ VN 1954-55. Sau này đã xác minh đây không phải là sự kiện và con người có thực, nhưng điều này cũng chưa hề được thông tin chính thức.

(10) Nội dung điều III trong Điều lệ Hội Nhà văn 1957 nói trên là dẫn theo tường thuật của Đào Vũ, Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đăng Tạp chí Văn nghệ, số 1, tháng 6/1957, tr. 109-118.

(11) Về các chi tiết liên quan đến Đại hội I Hội nhà văn VN và những người được coi là “hội viên sáng lập”, tôi căn cứ vào tường thuật của báo VănTạp chí Văn nghệ  đương thời, theo đó số người tham dự đại hội I là 278; còn chuyện tư cách hội viên thì tại đại hội đã được bàn thảo và đi tới nhất trí: chỉ 25 nhà văn được bầu vào ban chấp hành khoá I được coi là “hội viên sáng lập” mà thôi. Sau đại hội, ban chấp hành đã tiến hành xét kết nạp hội viên trong một thời gian dài; một tiểu ban được lập ra để giúp việc này; phiên họp BCH từ 15 đến 18/8/1957 đã xét (bằng bỏ phiếu kín, lấy các trường hợp 50% + 1phiếu) được 127 người, sau đó xét kết nạp thêm 6 trường hợp là nhà văn các dân tộc thiểu số, cộng với 25 nhà văn là uỷ viên chấp hành; như vậy có 158 hội viên dự định được kết nạp. Phiên họp thứ 3 trong tháng 7/1957, Ban thường vụ xét kết nạp thêm 14 tác giả kịch bản cải lương tuồng chèo, đưa tổng số hội viên được kết nạp lần thứ nhất lên con số 172 người (“Văn” s. 22, ngày 4/10/1957, tr. 7). Trong khi đó, một số tài liệu do cơ quan Hội Nhà văn biên soạn sau này (cuốn sách mang tên Nhà văn Việt Nam hiện đại, biên soạn và in 1992; và 2 cuốn cũng mang tên ấy, soạn lại và in vào các năm 1997, 2007) thường nêu thông tin: có 165 đại biểu dự đại hội I và tất cả số người đó đều là “hội viên sáng lập”. Điều này không phù hợp với các thông tin từ báo chí đương thời. Chưa rõ con số 165 hội viên đợt I (những người được ghi bằng ký hiệu A từ A 1 đến A 165 trong cuốn sách trên, bản in 1992) có xuất xứ từ đâu?

 

Xem tiếp phần 3

Lại Nguyên Ân
 
Xuân Diệu, Trong Những Năm 1954-58 -3

 

Lại Nguyên Ân

 

 “Nguyên Hồng phản ứng mạnh với cái khuynh hướng máy móc, giáo điều nó quan niệm con người mới trong văn học nghệ thuật như một thứ người gỗ, mà không hiểu nổi cái phức tạp phong phú của đời sống và tâm hồn con người, nó cũng không hiểu văn học nghệ thuật và không nắm được cái thực tế đang chuyển biến của sự sáng tác. Cái khuynh hướng cứng nhắc ấy, chúng ta đã phê phán nó khá nhiều trong thời gian vừa qua, nhưng không phải đã hết. Nó duy trì những bệnh sơ lược, khái niệm, những thái độ đơn giản và độc đoán trong vấn đề tư tưởng và nghệ thuật. Cái khuynh hướng máy móc đơn giản ấy đã có biểu hiện trong bài của Thế Toàn, rõ rệt nhất là trong những nhận xét của Thế Toàn về mấy bài như Phở, Gió, Bích-xu-ra, v.v… Và cái thái độ gò ép, áp đảo ấy cũng thấy trong một bài của Hồng Chương và Trịnh Xuân An tiếp theo bài của Thế Toàn trên tạp chí Học tập số 8. Tôi cho thái độ đó là không đúng”.(12)

 

Chỉ tìm hiểu qua những gì đăng báo còn lại đến hôm nay thì hẳn là khó có thể biết hết những gì đã thực sự diễn ra trong đời sống thực của văn nghệ một thời đã qua. Nhưng người đang viết những dòng này chưa có thêm phương tiện gì khác hơn là tài liệu in công khai còn lại trên giấy báo. Dù sao cũng có thể thấy những thị uy và uốn nắn đối với tuần báo Văn đã không gây được hiệu quả cụ thể. Nói như Tế Hanh, trong số bài vở đăng trên tuần báo “Văn”, “những bài Nguyễn Đình Thi cho tốt không phải ít hơn những bài xấu, kể cả trong 10 số đầu. Thế thì nên kết luận thế nào?”

 

Rất có thể vì vậy, tuần báo Văn cứ đi tiếp nhịp đi của mình. Trong số những tác phẩm được đăng trên tờ này sẽ có thêm khá nhiều những thảo luận về các vấn đề của thơ, thảo luận về việc nên hay không nên tái bản các tác phẩm ra đời trước cách mạng, sẽ đăng thơ của Xuân Diệu, Quang Dũng, Hữu Loan, Hoàng Trung Thông, Trần Dần, Lê Đạt…, văn của Nguyễn Huy Tưởng, Bùi Hiển, Hồ Dzếnh, Thụy An, Nguyễn Dậu, Trần Dũng Tiến,…, tiểu luận phê bình của Nguyễn Tuân, Trương Chính, Trần Thanh Mại, v.v…  Trong số những tác phẩm đăng lần đầu ở đây, sẽ được nhắc nhở sau này là các tác phẩm như thơ Hãy đi mãi (Trần Dần, s. 28, ngày 15/11/1957), Lời mẹ dặn (Phùng Quán, s. 21, ngày 27/9/1957), Bão (Tế Hanh, s. 32, ngày 13/12/1957), văn: Đống máy (Minh Hoàng, s. 34, ngày 27/12/1957), Ông Năm Chuột (Phan Khôi, s. 36, ngày 10/1/1958), là truyện dịch Phòng số 6 của Chékhov đăng liền hơn 10 số đầu, là các tiểu luận Nguyễn Tuân viết về văn Thạch Lam, về Kim tiền  của Vi Huyền Đắc, v.v…

 

Tất nhiên không khó để trừng trị những nhà văn cứng đầu ở tuần báo “Văn”; và trong việc này, tờ Học tập ra hàng tháng không thể thuận lợi so với tờ Nhân dân ra hàng ngày. Từ cuối tháng 11/1957, hàng loạt bài vở các loại từ tờ nhật báo lớn nhất miền Bắc lúc ấy chĩa mũi nhọn vào báo Văn. Ban đầu nhắm vào từng tác phẩm cụ thể, ví dụ thơ Lời mẹ dặn (bài của Trúc Chi, Nhân dân, 24/11/1957), tranh biếm họa “Phương pháp xây dựng văn nghệ” của Trần Duy (bài của Phượng Kim, Nhân dân 8/12/1957), truyện ngắn “Đống máy” (bài của Đặng Phò, Nhân dân 12/1/1957), gợi cho dư luận sự gắn nối “Văn” với “Nhân văn”  (Chiến Kỳ: Chặn ngay những quan điểm nghệ thuật của nhóm “Nhân văn” đang định sống lại trên báo “Văn”, Quân đội nhân dân, 21/1 và 24/1/1958; Vũ Đức Phúc: Từ “Con người Trần Dần” đến “Đống máy”, Nhân dân 2/2 và 3/2/1958). Lại còn mượn đến những tên tuổi nào đó, nói rằng đó là của “anh em ở miền Nam” (Một bức thư của anh em từ Sài Gòn gửi cho chúng ta: D. và T.: Chúng tôi không đồng ý với báo “Văn”/ Nhân dân 17/1 và 18/1/1958). Rồi tiến tới nhận định bao quát (bài của Như Phong: Góp ý kiến với các đồng chí có trách nhiệm ở báo “Văn”/ Nhân dân, 9/2, 10/2, 11/2 và 12/2/1958). Sau nữa là đăng tự kiểm điểm của một số “yếu nhân” của báo “Văn” dưới tiêuđề Các đồng chí ở báo “Văn” bắt đầu tự phê bình, lần lượt là Nguyên Hồng (Nhân dân 2/3/1958), Tô Hoài (Nhân dân 12/3/1958), Tế Hanh (Nhân dân 14/3/1958); lại nữa, không kiềm chế lời mạ lỵ nếu sự tự phê bình của họ chưa được coi là thành khẩn (câu viết sau đây cho thấy sự hạ nhục người bị phê bình:“trường hợp Nguyên Hồng, vì thái độ chưa thật thà thành khẩn và cũng vì trình độ nhận thức quá thấp nên mức tiếp thu rất hời hợt” − N.D., Để chuẩn bị một thời kỳ văn học nghệ thuật phát triển tươi tốt hơn nữa/ Nhân dân 9/3/1958).

 

Bên cạnh báo Nhân dân, tham gia phê bình báo “Văn” còn có nhiều báo khác: báo Quân đội nhân dân với các bài của Hồng Cương, Chiến Kỳ; báo Cứu quốc với các bài của Đông Hoài, Bùi Huy Phồn, Đặng Vũ Khiêu, Tú Mỡ, Nguyễn Mạnh Hào, Nguyễn Kiến Giang, v.v…; báo Tổ quốc với các bài của Ngô Linh Ngọc, Thiếu Khanh, Bảo Nguyên, Phi Trưởng, v.v…; báo Thống nhất với các bài của Trịnh Xuân An, Hồng Chương, Vũ Đức Phúc, Lê Xuân Vũ, v.v…

 

Trên thực tế, việc phê bình tuần báo “Văn” chuyển dần hòa dần vào đợt đấu tranh chống Nhân văn – Giai phẩm diễn ra liền sau đó.    

 

Ở tuần báo “Văn” số 37 (ngày 17/1/1958), tòa soạn có lời “kính gửi các bạn yêu quý của báo Văn”, theo đó, “sau 8 tháng làm việc, báo Văn thấy cần phải kiểm điểm công tác trong thời gian qua, rút kinh nghiệm cho công việc mới, chấn chỉnh mọi mặt,… vì lẽ đó, báo sẽ nghỉ 2 kỳ ….”  Trên thực tế, đấy chính là lời cáo chung của tờ tuần báo này; lời hẹn của báo về tờ “Văn” số tết cũng không thành sự thực vì BCH Hội nhà văn không cho phép thực hiện.(12b)

 

Ngày 6/1/1958, Bộ chính trị trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết Về việc chấn chỉnh công tác văn nghệ, phát động một chiến dịch đấu tranh tư tưởng “quét sạch tư tưởng “Nhân văn” là biểu hiện của tư tưởng thù địch về mặt chính trị, đồng thời cũng là biểu hiện nghiêm trọng của quan điểm văn nghệ tư sản”.(13) Những đợt học tập tập trung dài ngày cho văn nghệ sĩ được tổ chức sau đó, − mà về sự việc này người ta chỉ được biết qua một vài hàng tin vắn trên một số tờ báo, − có thể đã là diễn trường chính của cuộc đấu tranh theo chủ trương nói trên; thật ra, người ta chỉ có thể biết đến chúng thông qua phần nổi là những phê phán rầm rộ trên báo chí miền Bắc từ khoảng giữa tháng 2/1958 đến tháng 6/1958.

 

 Sự phê phán, rủa sả và đấu tố rầm rộ này là sự tiếp tục những phê phán đã có từ vài năm trước, nhất là vào cuối năm 1956; song, suốt thời kỳ đó dù sao vẫn nằm trong quy ước của sự phê bình “trong nội bộ nhân dân”, tức là ít nhiều còn tôn trọng đối tượng bị phê phán, thậm chí ít nhiều chấp nhận có ý kiến trao đổi qua lại. Nhưng đến lúc này, khi mà người ta đã tuyên bố gạt phía bị phê phán sang hàng ngũ kẻ thù thì chỉ còn sự biểu dương lực lượng của một phía: phía những người phê phán, với số lượng hết sức đông đảo. Trong hàng loạt những ý kiến bày tỏ một phẫn nộ đại chúng này rất khó thẩm định sự thật của những nội dung tố giác, dù nó hệ trọng đến đâu; sự kiện thấy được chỉ là sự tố giác.

 

Riêng ở giới văn nghệ, có thể hình dung cuộc phê phán này trên Tạp chí Văn nghệ các số 10 (tháng 3/1958), 11 (tháng 4/1958), 12 (tháng 5/1958), 13 (tháng 6/1958), mở đầu bằng bài của Đặng Thai Mai: Căn bản vẫn là vấn đề lập trường tư tưởng, và tạm kết bằng báo cáo của Tố Hữu đọc tại cuộc họp tổng kết hôm 5/6/1958. Trên các bài đấu tranh ấy, những thành viên bị coi là đầu sỏ của nhóm Nhân văn như Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Trần Duy, Thụy An, Trần Thiếu Bảo bị phê phán như đấu tố kẻ thù, những cây bút liên quan như Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao, Hoàng Tích Linh, Đặng Đình Hưng, Trần Lê Văn, v. v… cũng không được đối xử tốt hơn.

 

Như đã biết, sau sự kiện này, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo,(13b) Phùng Cung bị ngồi tù nhiều năm (có nguồn tin cho rằng những người bị tù này là thuộc một vụ án khác, không gắn trực tiếp với các hoạt động Nhân văn, Giai phẩm, song cho đến nay vẫn chưa có sự công khai hóa các tài liệu an ninh và tư pháp liên quan nên chưa thể xác nhận điều này). Riêng trong Hội nhà văn: 3 người gồm Trương Tửu, Thụy An, Phan Khôi “bị khai trừ hẳn ra khỏi hội”; 2 người gồm Trần Dần, Lê Đạt bị khai trừ khỏi hội trong thời hạn 3 năm; Hoàng Cầm bị khai trừ khỏi Ban chấp hành; Hoàng Tích Linh bị cảnh cáo và được rút khỏi Ban chấp hành; Trần Duy bị khai trừ (vĩnh viễn?) ra khỏi hội Mỹ thuật; Tử Phác, Đặng Đình Hưng bị khai trừ 3 năm ra khỏi hội Nhạc sỹ sáng tác; các hội viên khác từng tham gia các số Nhân văn và các tập Giai phẩm (các văn bản thường không nêu tên) bị cảnh cáo.(14) Tuy nhiên, những hình phạt mà ban đầu hoặc mang dạng án phạt của luật pháp, hoặc có khi chỉ là kỷ luật trong nội bộ đoàn thể (khai trừ, treo bút,…) kết hợp với xử lý hành chính (buộc cư trú xa thủ đô, bị theo dõi bí mật, buộc theo các nhóm văn nghệ sĩ đi lao động thực tế xuống các địa phương …) trong thực tế đời sống miền Bắc những năm về sau (1958-85) sẽ trở thành những trừng phạt vĩnh viễn về mặt xã hội và công dân. Ấy là chưa nói đến không ít những người khác, vốn không dính líu gì tới sự kiện này, về sau sẽ vô tình trở thành liên lụy, bị tù đày hoặc phân biệt đối xử.(15)

 

Một vài diễn biến bề sâu của cuộc đấu tranh ấy, từ khoảng những năm 1990 cũng đôi khi được hé lộ lẻ tẻ qua một vài hồi ức.

 

Sau đợt đấu tranh này, từ 25/5/1958, Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản báo Văn học với thư ký tòa soạn là Nguyễn Đình Thi (chức thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ từ tháng 6/1958 chuyển sang cho Hoài Thanh), tự coi là tờ báo hoàn toàn mới “với tinh thần mới và tên mới”; khẩu hiệu “Vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” được gắn lên manchette tờ báo của Hội Nhà văn VN kể từ thời điểm ấy. Trong lời ra mắt của mình, báo Văn học tuyên bố rằng tuần báo Văn trước đây đã “bị tư tưởng Nhân văn lũng đoạn” nên đã xa rời đường lối văn nghệ của Đảng, rằng các trang báo Văn “đã bị hoen ố vì những bài của nhóm Nhân văn”  mà sự độc hại của chúng còn cần tiếp tục diệt trừ! Nghĩa là tuần báo Văn không xứng đáng để được kế tục!

 

Có lẽ, trong lịch sử các cơ quan báo chí của Hội Nhà văn Việt Nam, nếu hầu hết các cơ quan đều được vinh danh, thì chỉ có riêng tuần báo Văn là bị nguyền rủa ngay cả khi nó đã không còn tồn tại.

 

 

4b. Bước vào năm1957,ngòi bútXuân Diệu hoạt động hăng hái hơn năm trước, với thiên hướng nghiêng hẳn về văn xuôi bút ký, tiểu luận. Bài bút ký Mùa xuân thắng đăng dịp tết (Nhân dân 3/2/1957), một bút ký chính luận, chất ký thua chất luận, in rõ nếp nghĩ của một người sống ở một phe nhìn vào cái thế giới hai phe đối đầu nhau, một người sống ở nửa nước chia cắt nhìn sang nửa nước bên kia theo tầm mắt chính thống của phía bên này, giữa thời chiến tranh lạnh, có lẽ báo trước điều đó.

 

Xuân Diệu đã dự hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam, đọc tham luận Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật (đăng Nhân dân, 21/4/1957), được bầu vào ban chấp hành đầu tiên, và như vậy Xuân Diệu là một trong 25 hội viên sáng lập. Nhưng Xuân Diệu không tham gia ban biên tập tuần báo Văn, cũng không tham gia ban phụ trách nhà xuất bản Hội nhà văn. Ông có cộng tác gửi một số bài đăng tuần báo Văn, nhưng nơi ông cộng tác chặt chẽ hơn lại là Tạp chí Văn nghệ của trung ương Hội LHVHNTVN mà Tổng thư ký Hội LHVHNTVN Nguyễn Đình Thi kiêm chức Thư ký tòa soạn, bắt đầu hoạt động chỉ sau tuần báo Văn khoảng nửa tháng.   

 

Trong năm mới này ông vẫn có ít thơ đăng báo, trên tuần báo Văn hầu như chỉ thấy 3 bài: Gió (s. 3), Chuyên chính (s. 26), Hỏi (s. 32) trong đó Chuyên chính là bài thơ nghị luận (… Mặc những kêu rêu lá rụng hoa tàn / Tôi thẳng thắn ngợi ca nền chuyên chính!); trên Tạp chí Văn nghệ cũng thấy có các bài Gửi sông Hiền Lương (s. 2, th. 7/1957), Đi với giòng người (s. 9, th. 2/1958). Một bài như Lệ (Nhân dân, 3/11/1957) có lời đề từ “Tặng Cách mạng tháng Tám và Cách mạng tháng Mười” cho thấy rõ cái tứ chính luận của nó. Trên tờ Văn học mà Hội Nhà văn Việt Nam mới lập ra từ 25/5/1958, Xuân Diệu đã kịp đăng thơ sáng tác (Bia Việt Nam, s. 12, ngày 15/9/58) hoặc thơ dịch (Người vô sản, dịch thơ Ch. Smirnenski, nhà thơ Bulgary, s. 16, ngày 25/10/58). Nhưng chiếm số lượng nhiều nhất trong thời gian này vẫn là các bài bút ký, tiểu luận.

Xin kể các bài chính.

 

Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật (Nhân dân, 21/4/1957),

Tuyển tập “Thơ Việt Nam” đối với phong trào thơ (Tạp chí Văn nghệ, s. 1, th. 6/1957),  

Mùa đông 1919, mùa hè 1957 (Văn, s. 8, ngày 28/6/1957),

Nguyễn Trãi, nhà thơ mở đầu nền văn học cổ điển Việt Nam (Tạp chí Văn nghệ, s. 3, th. 8/1957; bài này đứng tên chung với Huy Cận),

Cảm tình với Ấn Độ (bút ký, Nhân dân, 14/9/1957),

Thế nào là cái mới (Tạp chí Văn nghệ, s. 4, th. 9/1957),

Những bước đường tư tưởng của tôi (Tạp chí Văn nghệ, s. 6, th. 11/1957),

Nhà thi hào Pháp A-ra-gông sáu mươi tuổi (Tạp chí Văn nghệ, s. 7, th. 12/1957),

Cái mới của văn học chúng ta (Tạp chí Văn nghệ, s. 8, th. 1/1958),

Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ (Tạp chí Văn nghệ, s. 10, th. 3/1958),

Những biến hóa của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua thơ Lê Đạt (Tạp chí Văn nghệ, s. 13, th. 6/1958),

Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao (Tạp chí Văn nghệ, s. 14, th. 7/1958),

13 tuổi Tiếng nói Việt Nam (Tạp chí Văn nghệ, s. 17, th. 9/1958).

Kỷ niệm nhà thơ thiên tài dân tộc Nguyễn Du (nói chuyện tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 26/9/1958 trong lễ kỷ niệm 138 năm ngày mất Nguyễn Du; đăng Tạp chí Văn nghệ, s. 18, tháng 11/1958)

 

Phần lớn các bài viết này đến giữa năm 1958 sẽ được in thành cuốn Những bước đường tư tưởng của tôi (tiểu luận phê bình văn học của Xuân Diệu, Nxb. Văn hóa, 159 tr. 13x19cm; in xong ngày 8/5/1958), nằm trong loại sách thời sự, phục vụ cuộc đấu tranh tư tưởng thời gian ấy.

 

Hãy đọc lướt những điều được đề cập trong loạt bài này.

Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật là tham luận tại hội nghị thành lập Hội nhà văn.

 

“Chúng ta nói những sự thật là có một mục đích, mục đích làm công tác tư tưởng bằng văn học, nên ta không phải là một người cầm cái máy ảnh tốt rồi bạ cái gì cũng chụp ảnh, cũng in ra. Chúng ta không hoàn toàn đi theo cái chủ nghĩa thành thật, vì chủ nghĩa đó chỉ đúng có một nửa. Nhất định những thơ văn nào chúng ta viết ra đều là máu là huyết của ta, đều là thiết tha, thành thật, mà có thiết tha thành thật thì mới hay được. Nhưng không phải những tình cảm nào thiết tha thành thật đều nên đưa vào thơ văn.”

 

Vì sao vậy? Vì, theo Xuân Diệu, nhà văn không chỉ cần phải là “kỹ sư tâm hồn” mà còn cần phải là “bác sĩ tâm hồn” nữa, cho nên không được để những buồn rầu, tan rã trong hồn mình lây nhiễm sang người đọc.

 

“Nhà văn hiện nay nên phát hiện nhiều vấn đề mới; nhưng nêu vấn đề ra, nếu chưa giải quyết dứt khoát được, thì ít nhất cũng bao hàm một hướng giải quyết, một thái độ giải quyết. Nếu chỉ nêu vấn đề rồi vứt giữa xã hội thì chỉ tổ gây hoang mang. Vào trong xã hội mà chỉ tin ở sự thành thật theo cảm tính của mình, thậm chí cố tình không mang theo những thứ mà mình cho là tầm thường, như lập trường, như đảng tính, v.v…, thì càng tưởng rằng viết theo sự thật lại càng sai lạc.”

 

Trong một bài rất ngắn, Xuân Diệu đã làm bật được một số ý niệm vốn là chủ trương của cấp trên, lại kết hợp liên hệ phê bình được tư tưởng của Nguyễn Tuân “nhà văn chỉ cần nêu vấn đề”, “nhà văn có thể là bác sĩ gọi ra bệnh của bệnh nhân, không nhất thiết phải kê đơn bốc thuốc”, mỉa mai được “tiếng sáo tiền kiếp” của Trần Duy, đả kích được Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, chê trách được Một trò chơi nguy hiểm của Nguyễn Thành Long, − những hiện tượng do những người khác phát giác và đã trở thành đối tượng phê phán chung.

 

Tuyển tập “Thơ Việt Nam” đối với phong trào thơ  là bài nhận xét tuyển tập “Thơ Việt Nam 1945-56”; cách làm của ban tuyển thơ này dựa vào đơn vị tác giả, theo Xuân Diệu nhận định, là không hợp với sự phát triển thơ ca thời kỳ 1945-1956; vì thế ông cho cuốn tuyển này không phản ánh được phong trào thơ của quần chúng, theo ông, là nét nổi trội của thơ Việt Nam thời kỳ 1945-56.

           

“Ban làm tuyển tập cố nhấn mạnh vào các tài tử đơn ca, trong khi đơn ca chưa nổi bật, mà cái hay, cái đặc điểm của phong trào thì lại là một cuộc hòa tấu phong phú hơn nhiều. Tuyển tập “Thơ Việt Nam” là một cái gương chưa thật đúng và bẻ một nửa của phong trào thơ.”

 

Xuân Diệu dẫn khá nhiều thơ ca ngoài tuyển tập trên để cho thấy là đừng nên vướng vì quan niệm ‘tác giả’ như ban tuyển này đã mắc, mà nên lấy trọng tâm  là phản ánh phong trào thơ; thậm chí ông đưa ra một ý tưởng cực đoan về cách làm tuyển thơ:

 

“Đến việc sắp xếp các người thơ, tưởng không nên xếp theo a,b,c, mời họ ngồi bàn tròn như thế. Làm như vậy cầu an, tắc trách. Mà phải cố gắng xếp các bài thơ và tác giả theo khuynh hướng, theo thời kỳ, theo nội dung….”

 

Sau cuốn tuyển mà Xuân Diệu điểm sách như trên, người ta biết,“Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960” (Hà Nội: Nxb. Văn học, 1960) mà Xuân Diệu tham gia tuyển chọn và chính ông viết lời nói đầu, thì thơ trong tuyển ấy vẫn sắp xếp theo thứ tự a,b,c tên tác giả. Như thế, những đề xuất Xuân Diệu nêu ra ở bài này, in ra vào năm 1957, có lẽ chỉ là một ý thoáng qua nhằm thỏa mãn cái tư tưởng thời thượng vốn đề cao các từ ngữ “quần chúng”, “công nông binh”, cốt nói sao cho gây được ấn tượng, chứ không phải ý kiến có giá trị chỉ dẫn thao tác làm sách tuyển thơ thực sự.

 

Mùa đông 1919, mùa hè 1957 là bài dịch đồng thời nói về việc dịchthơ Maiakovski; tựu trung là: bài Mùa đông 1919 của nhà thơ Nga được Xuân Diệu dịch vào mùa hè 1957, thế thôi. Nhưng đây là chỗ để Xuân Diệu phê phán Trần Dần, Lê Đạt. Ông lên lớp Trần Dần:

 

“Nếu Mai-a sống ở đất nước Việt Nam khi hòa bình vừa lập lại, khi khu vực ba trăm ngày quân Pháp chưa rút hết, còn đóng sát nách tại Hải Phòng, tôi quả quyết rằng, giả sử như Mai-a có trong hoàn cảnh chưa tìm được việc cho vợ làm, cũng không bao giờ Mai-a nỡ như Trần Dần, hạ những câu:

                        Tôi bước đi

                                    không thấy phố

                                                            không thấy nhà

                        Chỉ thấy mưa sa

                                                trên màu cờ đỏ

Những câu thơ như vậy học tập Mai-a-kốp-ski ở chỗ nào?”

 

Và Xuân Diệu nhắc nhở cả Trần Dần, Lê Đạt lẫn số đông người làm thơ:

           

“Vâng, không nên học tập Mai-a-kốp-ski một cách giáo điều! Mà trước tiên, phải học cái hồn thơ, cái lòng yêu nước, cái lập trường cách mạng không gì lay chuyển nổi của Mai-a-kốp-ski”

 

Ông nhắc lại lời K. Simonov:

 

“Truyền thống của Mai-a-kốp-ski không phải là ở chỗ bài thơ Lê-nin hoặc bài thơ Được! [có lẽ định nói đến bài Tốt lắm − LNA chú] viết bằng lối ‘leo thang’ hay không ‘leo thang’, mà là ở chỗ Mai-a-kốp-ski đã viết bài thơ về Lê-nin, về Đảng và Tổ quốc!”

 

Thế nào là cái mới thực chấtlà bài trao đổi với quan niệm nghệ thuật của Văn Cao, từng được tác giả này bộc lộtrong bài Một vài ý nghĩ về thơ (Tạp chí Văn nghệ, s. 3, th. 8/1957). Ý tưởng của Văn Cao “chủ động thành lập nên sự thẩm mỹ mới”, theo sự phân tích vòng vo của Xuân Diệu, chứa đựng cái “tự huyễn diệu của sự kiêu căng cá nhân”; tình cảm của Văn Cao “Yêu những người biết thất bại mà dám mở đường”, được Xuân Diệu khuyên nhủ là đừng mở đường liều, đừng “anh hùng chủ nghĩa rẻ tiền mà ta không dung thứ”! Điều được Xuân Diệu cho in nghiêng để nhấn mạnh là câu khẳng định sẽ mau chóng biến thành công thức như sau:

           

“Cái mới vô cùng, không văn nghệ cũ nào, không văn nghệ tư sản nào bì nổi, của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa chúng ta, là đấu tranh cho Đảng kiểu mới, chính quyền kiểu mới, con người kiểu mới, và lao động kiểu mới.”

 

 − Những bước đường tư tưởng của tôi là một bản tự kiểm thảo về nhân sinh quan và thẩm mỹ quan của tác giả Thơ thơ, Gửi hương cho gió… Thật ra thì từ năm 1953 ở Việt Bắc kháng chiến, Xuân Diệu đã có một lần dự chỉnh huấn và làm kiểm thảo (xem bài văn xuôi Dứt khoát và bài thơ Trước đây bốn tháng của Xuân Diệu đăng tạp chí Văn nghệ số 41, tháng 7/1953, số về chỉnh huấn) nên, có thể nói, Xuân Diệu đã biết phép ứng xử. Là người đã thành danh trong văn chương tiền chiến, Xuân Diệu có “thi pháp” kiểm thảo riêng, tựu trung là nói cho thật đậm hai ý, một là “chúng tôi” đã ngụp lặn quá sâu vào vũng bùn nghệ thuật tư sản, rất khó sửa chữa, trước ma lực của hào quang cá nhân chủ nghĩa, chúng tôi rất dễ bỏ con đường sáng, “lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”; hai là ơn của Đảng đối với chúng tôi là ơn cứu mạng, “càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông”, tình cảm chúng tôi với Đảng là “từ phen đá biết tuổi vàng, tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ”! Nhưng cái phía láu cá tự biện hộ của Xuân Diệu thì không qua được con mắt bạn văn đương thời; chẳng hạn, đây là nhận xét ngay trong năm 1958 của Nguyễn Bao: “Thực ra cách mạng đã cứu vớt cái tôi của Xuân Diệu khỏi chết chìm chứ không phải là cái tôi ấy đủ sức mà bơi tới cách mạng. Qua sự trình bày ấy ta thấy Xuân Diệu chưa nhận rõ được mọi cạnh khía tinh vi của cái tôi cũ và ở một điểm nào đấy còn bào chữa cho nó nữa!” (16)

 

 − Cái mới của văn học chúng ta thảo luận với đồng nghiệp quanh câu hỏi: vì sao văn học cách mạng chưa có tác phẩm lớn? Theo Xuân Diệu, lý do là “Các nhà văn thời đại của ta chưa chín, và vì thế, các tác phẩm của ta chưa chín”. Lớp nhà văn cũ thì đang tiếp tục tự cải tạo mình để thành nhà văn mới, tức là chưa chín; lớp nhà văn vào nghề cùng với cách mạng thì còn đang cần học tập nhiều về nghề nghiệp, tức là tài năng chưa chín; còn lớp nhà văn sẽ xuất hiện trong chế độ mới thì “họ lại thuộc những giai cấp từ xưa chưa bao giờ được rèn luyện để viết văn”, đào tạo họ thành nhà văn sẽ tốn nhiều thời gian hơn.

 

Một phần đáng kể của bài này, Xuân Diệu giành để thảo luận với ý kiến Nguyễn Tuân trong lời nói đầu tập truyện dịch của Sê-khốp. Xuân Diệu không chỉ nhắc lại cái quan niệm đã hơn một lần ông đem bàn với Nguyễn Tuân: nhà văn cần phải như người bác sĩ, “gọi ra được bệnh và đề ra được cách chữa, ít nhất là hướng chữa”, chứ không thể chỉ gọi ra bệnh mà thôi.

 

“Nhà văn ta có thể đặt vấn đề có tệ quan liêu, chứ không thể đặt vấn đề chính quyền dân chủ nhân dân là một bộ máy quan liêu, có thể hỏi là: Đảng làm thế nào lãnh đạo văn nghệ cho tốt?, chứ không thể hỏi là: Đảng có thể lãnh đạo văn nghệ được không? Nghĩa là nhà văn có thể đặt những vấn đề ra để cho nhân dân càng tăng cường cảnh giác, càng tự nghiêm khắc vớinhững tệ lậu còn lại, càng thấy làm cách mạng không phải là đi ngao du, v.v… chứ không phải là buông thõng ra rất nhiều câu hỏi đặt rất sai để gieo rắc hoang mang vào quần chúng!”  

 

Với những nỗ lực như trên này, có thể thấy vào thời điểm này nhà thơ đang góp phần đặt ra những quan niệm quy phạm nhằm thu hẹp quyền nhận xét và suy nghĩ về đời sống thực tế đương thời của giới văn nghệ sĩ và trí thức nói chung. Có lẽ, qua trường hợp Xuân Diệu, người ta lại thấy rõ, mỗi hạn chế, mỗi trói buộc mà ba chục năm sau mới được thừa nhận, đã định hình theo cung cách như thế nào, và lịch sử của sự đánh mất tự do cũng đồng thời là lịch sử của sự tự nguyện từ bỏ từng phần tự do ra sao.

 

Xuân Diệu còn giành một phần nữa của bài này để thuyết phục Nguyễn Tuân: không nên xem Sê-khốp như mẫu mực mà phải thấy Sê-khốp chỉ dừng lại ở hiện thực phê bình, không hữu ích bằng Gorki với Người mẹ, tức là Gorki đã đi tới hiện thực xã hội chủ nghĩa, đi xa hơn Sê-khốp! Cố nhiên, đây là điều không chỉ để nói với Nguyễn Tuân mà chủ yếu là điều cần khẳng định như một định đề lớn về nền nghệ thuật mới, lớn lao, đang được xây dựng.    

 

Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ  là bài báo được công bố khi các hiện tượng Nhân văn, Giai phẩm đã được tuyên bố công nhiên trên công luận như là hoạt động chống Đảng chống chế độ, khi những người tham gia các ấn phẩm đó đã bị tuyên bố là kẻ thù ở bên kia chiến tuyến. Bài này của Xuân Diệu và các bài khác của ông như Những suy nghĩ chung quanh vấn đề chỉnh huấn, Những biến hóa của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua thơ Lê Đạt, Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao, − đều thuộc phần đóng góp của Xuân Diệu vào đợt tổng công kích Nhân văn – Giai phẩm, diễn ra trên nhiều tờ báo ở miền Bắc trong quý II/1958.

 

Bằng vào loạt bài viết này của Xuân Diệu, có thể dự đoán rằng, trong cuộc tổng  công kích này, Xuân Diệu được phân công, − hay là ông tự chọn lấy cũng vậy, − mấy mục tiêu chính: khu vực thơ như một chiến trận tư tưởng, với các cứ điểm cần công kích là Lê Đạt, Văn Cao, bên cạnh đó là Nguyễn Tuân với tùy bút Phở  và với quan niệm bị coi là sai lầm nghiêm trọng: coi viết văn giống như bác sĩ, chỉ cần gọi ra đúng bệnh, không cần kê đơn bốc thuốc.

 

Phải sòng phẳng nhận rằng, Xuân Diệu đã tham dự cuộc tấn công này một cách hết sức hăng hái. Ông không phải người phát hiện nhưng là người phác họa lại rõ nét “một luồng thơ chống Đảng, chống chế độ”, là người đã đem tất cả uy tín của một nhà “thơ mới” hàng đầu hồi những năm 1940 để kết tội những cây bút  vào giữa những năm 1950, theo ông nhận xét, đã “cố nặn ra một chất thơ ác, đập vào giác quan bằng mọi cách, cố giật gân người đọc như Trần Dần, huênh hoang như Lê Đạt, trá hình nhiều cách lập lờ giả trá như Hoàng Cầm”.

 

Xuân Diệu dành cho hai tác giả Lê Đạt và Văn Cao mỗi người một bài viết riêng. Nếu bài về Lê Đạt thiên về chửi bới sỉ nhục, thì bài viết về Văn Cao lại thiên về giọng điệu mỉa mai cay độc. Dưới ngòi bút Xuân Diệu, Lê Đạt chỉ là một nhà thơ cao bồi:

 

“Một anh cán bộ văn hóa đã bộc lộ rằng khi anh đọc thơ Lê Đạt cho một số thanh niên cao bồi ở Hà Nội thì họ mới nghe thoáng qua, chưa cần hiểu rõ từng câu, họ đã thích ngay. Cái máu cá nhân anh hùng rẻ tiền càn quấy ngổ ngáo của cao bồi đã gặp Lê Đạt là kẻ phát ngôn của họ”.       

 

Nhưng trong mắt Xuân Diệu, Văn Cao lại như một “đại ca” nằm vùng, “giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám”, “lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt”, “hiểm độc”, “một cái giọng cao đạo, ra vẻ bác học, thông thái”, “giọng tiên tri”, v.v… Tất nhiên, điều chính yếu mà Xuân Diệu phải vạch ra bằng được ở Văn Cao là “cái duy tâm chủ quan, cái cá nhân chủ nghĩa bế tắc, cái tìm tòi lập dị, cái khinh thường quần chúng, một mớ cặn bã tư tưởng cũ rích”! Xuân Diệu cảnh tỉnh Văn Cao mà như có ý đồng thời tự căn dặn mình:

 

“Nhà văn trước tiên phải ôm lấy tư tưởng đúng, phải ôm lấy quần chúng vạn năng, phải ôm lấy Đảng vĩ đại, chứ nếu chỉ ôm lấy một mớ chữ, theo lối Văn Cao tán thưởng, thì chỉ là ôm lấy tro tàn thuốc lá hay cặn rượu mà thôi. Huống chi mớ chữ đó lại còn phản động, thì nhất định tiêu ma sự nghiệp.” 

 

Tất nhiên, con người Xuân Diệu vốn không ham đấu đá, đấu tố, dù khi bị cuốn vào, khi được phân công viết phê phán những người và việc cụ thể, ông không thể không thực hiện, hơn thế, ông còn phải tỏ rõ sự nhất trí với chính thống cả về quan niệm lẫn thái độ, nên đã tỏ rõ nhiệt tình khi đang trong cuộc. Nhưng khi đợt đấu tranh đã chấm dứt, khi Xuân Diệu được bắt tay vào viết về thi hào dân tộc Nguyễn Du, ông đã không dấu nổi cái thở phào ngay ở phần đầu bài viết. Công việc làm thơ và tìm lại các giá trị thơ cổ điển dân tộc của ông, vài năm sau, sẽ thành tựu trong tập thơ Riêng chung, trong tập tiểu luận Ba thi hào dân tộc, v.v…

 

4c. Điều cần thiết sau cùng của bài này, theo đề tài tôi đã chọn, là cần kiểm điểm lại các xuất bản phẩm của Xuân Diệu trong những năm 1954-58.

 

Dưới đây là theo nguồn của Thư viện Quốc gia ở Hà Nội.

 

Các sách in riêng:

Tiếng thơ, Hà Nội, Nxb. Văn nghệ, in lần thứ hai, 1954, 112 tr. 19cm.

Ngôi sao, tập thơ 1945-1954, Hà Nội, Nxb. Văn nghệ, 1956, 97 tr. 19cm.

Ký sự thăm nước Hung, Hà Nội, Nxb. Văn nghệ, 1956, 67 tr. 19cm.

Mẹ con, thơ ca phát động, Hà Nội: Nxb. Văn nghệ, 1957, 36 tr. 18cm.

Miền Nam nước Việt và người Việt miền Nam, bút ký, Hà Nội: Nxb. Xây dựng in lần thứ tư, 1957, 30 tr. 19cm. (in lần đầu: 1945)

Triều lên, tập văn 1945-1957, Hà Nội, Nxb. Hội Nhà Văn, 1957, 161 tr. 19cm.

Những bước đường tư tưởng của tôi, tiểu luận phê bình văn học, Hà Nội: Nxb. Văn hóa, 1958, 158 tr. 18cm.

Các sách in chung:

Truyện bảy anh hùng / tập truyện anh hùng của Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, v.v../ Hà Nội: Nxb Văn nghệ, in lần thứ hai, 1954, 144 tr. 19cm.

Chúng tôi thăm Liên Xô / tập thơ văn của Nguyễn Tuân, Tú Mỡ, Xuân Diệu, v.v../ Hà Nội: Nxb. Văn nghệ, 1956, 47 tr. 26 cm.

Nhìn sang bên kia, / tập thơ văn của Xuân Diệu, Lương An, Vĩnh Mai…/, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 1957, 65 tr. 23 cm.

 

Nhìn vào danh mục trên, ta thấy rõ, trong những năm này, Xuân Diệu vẫn đang là một tác gia văn học sung sức, tuy rằng sự đóng góp cho văn học của ông không còn chủ yếu là ở lĩnh vực sáng tác thơ nữa./.

                                                                                               

Tháng 8 – tháng 10/2008


(12) Bài viết này khi đưa vào cuốn Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ hiện nay (Hà Nội: Nxb. Văn hóa, 1957, tr. 55-94) Nguyễn Đình Thi đã xóa bỏ những câu phê bình 2 ký giả tạp chí Học tập (trong đó có câu dẫn trên), đồng thời xóa bỏ những đoạn đồng tình với các nhà văn khác của tuần báo Văn khi họ bênh vực nội dung lành mạnh ở truyện ngắn Bích-xu-ra của Thụy An, − một trong những tác phẩm đăng báo Văn bị ký giả Thế Toàn nêu đích danh để phân tích chỉ trích trên tạp chí Học tập.

(12b) Ví dụ ít ra có 2 lần, những nội dung của tuần báo Văn số Tết Mậu Tuất 1958 (tức số 38+39) được quảng cáo trên báo Quân đội nhân dân (số 416, ngày 24/1/1958, tr. 5, và số 419, ngày 4/2/1958, tr. 4); thế nhưng trên thực tế thì số báo ấy đã không được xuất bản.

(13) Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 19: 1958. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia, 2002, tr. 6-7.

(13b) Phiên tòa liên quan đến vụ việc này được gọi là vụ án gián điệp, xử tại Tòa án nhân dân Hà Nội ngày 19/01/1960, tuyên phạt 5 người: Nguyễn Hữu Đang: 15 năm tù giam cộng thêm 5 năm mất quyền công dân; Lưu Thị Yến tức Thụy An: 15 năm tù giam cộng thêm 5 năm mất quyền công dân; Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức: 10 năm tù giam cộng 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm tù giam cộng thêm 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm tù giam cộng 3 năm mất quyền công dân. (Xem tường thuật của báo Nhân dân, 21/01/1960, tr. 1, 6; của báo Thời mới, 21/01/1960, tr. 4; bài của Hồng Chương, tuần báo Văn học, số 80, ngày 5/2/1960, tr. 11, 14). Như vậy, có lẽ Phùng Cung và một số người khác bị xử trong một vụ khác chăng?

(14) Từ nguồn báo chí đương thời, các thông tin xử phạt cụ thể này khá mờ nhạt, rất ít rõ ràng, và hoàn toàn không đầy đủ. Điều đáng kể nữa là thường có sự mâu thuẫn lẫn nhau giữa các nguồn tin. Chẳng hạn, sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (biên soạn và in năm 1992 đã dẫn trên) không ghi tên Thụy An và Trương Tửu trong danh sách hội viên, nhưng thông báo của Hội nghị BCH HNV khóa I ngày 2&3/7/1958 (đăng báo Văn học số 5, ngày 5/7/1958) lại cho biết Thụy An và Trương Tửu bị khai trừ; vậy điều hiển nhiên là 2 người ấy đã từng là hội viên Hội nhà văn Việt Nam!

(15) Những trường hợp loại này, xảy ra ở các địa phương khác nhau, là không ít; ví dụ sinh viên Trần Niêm của khoa ngữ văn ĐHTH Hà Nội, nhà báo Tuân Nguyễn (1933-83; xem cuốn Nhớ Tuân Nguyễn, Hà Nội, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008); hoặc một trường hợp theo lời kể của nhà thơ Tế Hanh: người thợ đã may complet cho Phan Khôi và Tế Hanh đi Trung Quốc dự lễ kỷ niệm Lỗ Tấn năm 1956, sau này nhân lúc tình cờ gặp lại Tế Hanh đã cho biết ông ta bị đưa đi cải tạo gần 10 năm chỉ với lý do: đã từng may quần áo cho Phan Khôi, một phần tử Nhân văn – Giai phẩm! Tế Hanh đã kể chuyện này nhiều lần với nhiều người, trong số đó có tôi; và tôi được biết, có cả nhà thơ Thanh Thảo (Hồ Thành Công). 

(16) Nguyễn Bao: Đọc sách: “Những bước đường tư tưởng của tôi” của Xuân Diệu, Nxb. Văn hóa // Tổ quốc, Hà Nội, s. 106 (1/7/1958), tr. 23.

Lại Nguyên Ân

Triển lãm tranh Việt Nam thời Đông Dương tại Pháp – TT&VH

22 Th9

Triển lãm tranh Việt Nam thời Đông Dương tại Pháp

(TT&VH Cuối tuần) – Từ ngày 21/9 đến 27/1/2013 tại Bảo tàng Cernuschi (7 đại lộ Vélasquez, quận 8, Paris, Pháp) sẽ diễn ra triển lãm mang tên Từ Hồng Hà đến Cửu Long, tầm nhìn Việt Nam (Du Fleuve Rouge au Mékong, visions du Vietnam), giới thiệu khoảng 70 tác phẩm, trong đó có 40 của các họa sĩ Việt Nam thời kỳ đầu. Triển lãm này đã đưa chúng ta về miền quá khứ – một thời vang bóng – của đất nước có những con người thật đáng yêu…

Triển lãm cũng sẽ giúp người xem trả lời câu hỏi lớn: Từ nửa sau của thế kỷ 19 đến thập niên 1950, các họa sĩ Pháp có cái nhìn như thế nào về Việt Nam? Và các họa sĩ Việt Nam diễn đạt gì về nền văn hóa của mình qua tác phẩm hội họa?

Viết về triển lãm này, bài viết trên tạp chí Mỹ – Thuật (Beaux-Arts Magazines) xuất bản tại Paris, số 339, tháng 9/2012, trang 59, có đoạn: “… theo những đường tàu của các nhà thám hiểm lạc lối đâu đó trên mảnh đất Á châu chưa được gọi tên là Việt Nam, có nhiều chàng họa sĩ trẻ đặt cái nhìn chiêm ngưỡng các thiếu nữ bản xứ trong tà áo lụa, ngỡ ngàng trước ruộng non ngát xanh hay những cát trắng bờ sông… 1924 là năm thành lập trường Mỹ thuật Hà Nội, dưới hướng dẫn của Victor Tardieu, được họa sĩ Đông Dương là Nam Sơn giúp đỡ, đã tạo ra một thế hệ nghệ sĩ thành thạo lối vẽ phương Tây. Nếu cái nhìn thuộc địa ngày nay làm chúng ta mỉm cười, ta phải công nhận thực tài của nhiều họa sĩ…”.

Nhìn lại lịch sử

Sau cuộc thám hiểm danh tiếng ngược dòng Cửu Long đến tận Trung Hoa vào năm 1866 của đại tá hải quân Doudard de Lagrée, (cùng đi với ông là Francis Garnier, Louis Delaporte…), thì các vùng đất của khu vực Đông Nam Á trở thành miền đất hứa cho những con tim Tây phương khát khao chân trời mới.

Tác phẩm Phong cảnh sơn thủy của Nam Sơn, chì son, 64x50cm, 1956.

 

 

Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) thành lập vào ngày 17/10/1887. Rất nhiều họa sĩ vốn có giòng máu phiêu lưu lãng tử, đã theo trào lưu thuộc địa tìm đến Viễn Đông khám phá thế giới đầy bí hiểm và quyến rũ. Họ có cơ hội diễn tả những suy nghĩ và cảm hứng của mình qua các tác phẩm với nhiều đề tài khác lạ và màu sắc tân kỳ rực rỡ. Trong số này phải kể đến họa sĩ Gaston Roullet, thông tín viên của báo Le Monde Illustré.

Năm 1893, Hội họa sĩ xu hướng Đông phương (Société Des Peintres Orientalistes) chào đời với mục đích tìm hiểu và trình bày nền văn hóa và nghệ thuật Đông phương. Năm 1908 thành lập Hội Thuộc địa nghệ sĩ Pháp (Société Coloniale Des Artistes Français), dưới sự bảo trợ của Nha Học chánh Ðông Pháp và Bộ Nghệ thuật, Bộ Thuộc địa và Bộ Nội vụ. Điểm chính yếu của Hội thuộc địa nghệ sĩ Pháp là số học bổng du lịch rất quan trọng đã trao tặng cho người đoạt giải để tham quan tìm hiểu văn hóa tại các nước thuộc địa. Ngoài ra, hội còn thành lập nhiều giải thưởng khác nhau, trong đó có giải thưởng Đông Dương (prix de l’Indochine).

Giải thưởng Đông Dương do Toàn quyền Klobukowski ban nghị định năm 1910, theo đề xướng của Hội Thuộc địa nghệ sĩ Pháp, với ý định tuyên truyền và phát khởi nghệ thuật phương Tây nói chung và nước Pháp nói riêng tại Đông Dương, khuyến khích các nghệ sĩ đến các nước thuộc địa, canh tân niềm cảm hứng trong việc sáng tác, sau đó mang về Pháp những tìm hiểu và học hỏi mới để thắt chặt mối quan hệ giữa các nước thuộc địa với chính quốc. Giải thưởng này đã ban cho 21 họa sĩ, đầu tiên là Ferdinand Olivier và cuối cùng là Louis Bâte.

Chuyện từ cao đẳng mỹ thuật

Tại Đông Dương, các trường mỹ nghệ thực hành đã được thành lập, như trường Mỹ thuật đồ mộc Thủ Dầu Một vào năm 1901, trường Nghệ thuật và Kỹ nghệ Biên Hòa năm 1903 và “trường vẽ Gia Định” (École de Dessin) năm 1913, nhưng chưa có trường chuyên về mỹ thuật.

Theo khởi xướng và đề nghị của họa sĩ Nam Sơn, mà Victor Tardieu, giải thưởng Đông Dương năm 1920, trong một bản phúc trình dưới cái tên “Nghệ thuật An Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai” đã đề cập với chính quyền thuộc địa vấn đề mở ra một trường mỹ thuật tại Đông Dương.

Tác phẩm Thiếu nữ uống trà của Vũ Cao Đàm, lụa, 78x114cm, khoảng 1935

 

 

Bản phúc trình này được chuẩn y bởi Toàn quyền Merlin. Ngày 27/10/1924, xuất hiện trên Công báo nghị định thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương (École Des Beaux-Arts De l’Indochine). Trường này trực hệ Giáo đoàn Pháp (l’Université De France) tại Hà Nội, dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của Nha Học chánh, với Victor Tardieu là hiệu trưởng.

Sự ra đời của trường Mỹ thuật Đông Dương là một bước ngoặt định mệnh cho nền hội họa nói riêng và đời sống văn hóa Việt Nam nói chung. Trường mang lại một phong cách diễn đạt mới trong mỹ thuật, nhất là ở một quốc gia mà hội họa trước đó không phải là một ngành nghệ thuật phát triển. Cùng với chữ quốc ngữ tưng bừng khai hoa, trường Mỹ thuật Đông Dương đã đáp ứng nhu cầu canh tân đất nước, vì các sĩ phu hiểu rằng muốn xóa bỏ sự đô hộ của người Pháp, người Việt Nam phải thấu hiểu văn minh Tây phương.

Điều chắc chắn là sự hợp tác chặt chẽ giữa người Pháp Victor Tardieu và người bản xứ Nam Sơn, dựa trên tinh thần yêu chuộng nghệ thuật, là điều cần thiết và lợi ích trong việc hình thành nền mỹ thuật riêng biệt tại Việt Nam.

 

Bảo tàng Cernuschi chuyện về nghệ thuật châu Á, nằm ở số 7 đại lộ Vélasquez, quận 8, thành phố Paris, được thành lập nhờ bộ sưu tập đồ sộ của chủ nhà băng gốc Ý Henri Cernuschi (1821-1896) tặng lại cho thành phố Paris, cùng với cả một dinh thự nằm gần công viên Monceau. Hiện nay, Bảo tàng Cernuschi bao gồm bộ sưu tập lớn về nghệ thuật Trung Hoa, từ thời cổ đại cho đến những thế kỷ gần đây. Bên cạnh đó, bảo tàng cũng sở hữu các bộ sưu tập về Triều Tiên và Nhật Bản. Năm 2007, Bảo tàng Cernuschi đón 49.453 lượt khách tham quan.

Trường là nơi đào tạo một thế hệ họa sĩ cũng như điêu khắc gia có phong cách sáng tác theo một đường lối đặc biệt. Những tác phẩm lụa, sơn dầu hay sơn mài…, với một kỹ thuật nhạy cảm và sâu sắc, độc đáo hài hòa Đông Tây, đã đưa tên tuổi Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Phan Chánh, Georges Khánh, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị, Lưu Văn Sìn, Tôn Thất Đào… đi vào lịch sử nghệ thuật Việt Nam và vang danh trên thế giới.

Chính câu chuyện dài dòng như vừa đề cập, triển lãm Từ Hồng Hà đến Cửu Long, tầm nhìn Việt Nam là dịp hiếm hoi để giới nghiên cứu nhìn lại nhiều gương mặt làm nên nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Ngoài những tác phẩm của Victor Tardieu và Nam Sơn, có mặt trong triển lãm tại Bảo tàng Cernuschi là các họa sĩ Pháp phiêu lưu đến Việt Nam: Gaston Roullet, Louis Rollet, Jules Galand, André Delacroix, Joseph Inguimberty, Alix Aymé, André Maire…; các họa sĩ đoạt giải thưởng Đông Dương: Henri Dabadie, Charles Fouqueray, Jonchère Evariste, Louis Bâte…; cũng như các danh họa và họa sĩ Việt Nam xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương: Nguyễn Phan Chánh (1892-1984), Nguyễn Gia Trí (1909-1993), Lê Phổ (1907-2001), Mai Trung Thứ (1906-1980), Nguyễn Tiến Chung (1914-1976), Tô Ngọc Vân (1906-1954), Tôn Thất Ðào (1910-1979), Vũ Cao Đàm (1908-2000), Lê Văn Ðệ (1906-1966), Lương Xuân Nhị (1914-2006), Lưu Văn Sìn (1905-1983), Phạm Quang Hậu (1905-1994), Diệp Minh Châu (1912-2002), Lê Thy (1919-?), Nguyễn Quang Bảo (1929-?), Nguyễn Thành Lễ (1919-?), Nguyễn Văn Thịnh (1912-?), Vũ Tiến Chức (1907-?)…

Paris 10/9/2012

Nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi

 
 

Trung Quốc lại hoành hành ở Trường Sa, Hoàng Sa

22 Th9

 

Trung Quốc lại hoành hành ở Trường Sa, Hoàng Sa

   

Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam. Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi với hai quần đảo này.
 

(VnMedia) – Sau khi Phó Chủ tịch Tập Cận Bình vừa lớn tiếng tuyên bố muốn giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông thì Trung Quốc lại có một loạt các hoạt động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
 
Tờ Tân Hoa xã – cơ quan ngôn luận của nhà nước Trung Quốc, hôm qua (21/9) đưa tin, nước này đang tăng cường thúc đẩy các hoạt động đầu tư, phát triển ở cái gọi là “thành phố Tam Sa”.
 
Trung Quốc hồi tháng 7 đã ngang nhiên thành lập cái gọi là thành phố “Tam Sa” với phạm vi quản lý hơn 200 đảo nhỏ, bãi cát và bãi đá ngầm ở 3 quần đảo lớn ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đây là một trong những động thái gây sóng gió lớn nhất ở Biển Đông trong thời gian qua của Trung Quốc. Khi căng thẳng chưa kịp lắng xuống thì những ngày gần đây, Trung Quốc lại cấp tập thực hiện một loạt động thái khiêu khích ở hai quần đảo của Việt Nam.
 
Cục Quản lý Thương mại và Công nghiệp của tỉnh Hải Nam, Trung Quốc, vừa mới đây cho biết, trong tháng 8 và tháng 9, cơ quan này đã lần lượt cấp phép cho một công ty xây dựng và một công ty du lịch hoạt động ở cái gọi là “thành phố Tam Sa”.
 
Ông Wen Zheng, một quan chức cấp cao chịu trách nhiệm về hoạt động cấp phép cho các doanh nghiệp hoạt động ở Hải Nam, hôm qua trắng trợn tuyên bố, tỉnh Hải Nam đã nhận được rất nhiều đơn xin thành lập doanh nghiệp ở Tam Sa và sẽ đẩy nhanh tốc độ cấp phép cho các doanh nghiệp đăng ký hoạt động ở đây để thu hút thêm đầu tư.
 
Trong khi đó, “chính quyền ở cái gọi là thành phố Tam Sa” cho biết, họ đang xúc tiến một kế hoạch phát triển bao gồm các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng, giao thông và bảo vệ sinh thái. Theo đó, “giới chính quyền ở Tam Sa” đã lên kế hoạch cho 31 dự án lớn với số tiền cần đầu tư lên tới 13,3 Nhân dân tệ (2,1 tỉ USD), trong đó có dự án mở tuyến du lịch bất hợp phép đến quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trước dịp Quốc khánh Trung Quốc – 1/10 tới.
 
Ngoài ra, “giới chức của cái gọi là Tam Sa” cũng tuyên bố sẽ tăng cường khai thác nguồn cá và dầu khí ở khu vực lãnh hải quanh đó. Một quan chức địa phương ngang nhiên cho biết, họ có thể huy động thêm ít nhất 1.450 tàu cá đến để phát triển các ngư trường ở Biển Đông.
 
Những hoạt động trên của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả những diễn biến mới nhất này diễn ra trong bối cảnh Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa lên tiếng trấn an các nhà lãnh đạo Đông Nam Á rằng, Bắc Kinh chỉ muốn duy trì mối quan hệ hoà bình với các nước trong khu vực.

Phát biểu tại lễ khai mạc một Hội chợ triển lãm ASEAN – Trung Quốc đang diễn ra ở thành phố Nam Ninh, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình hôm qua cho biết, sự thịnh vượng của Trung Quốc chỉ có thể được bảo đảm bằng mối quan hệ hữu hảo với các nước láng giềng. Ông Tập Cận Bình còn nói thêm rằng: “Trải qua rất nhiều thăng trầm thời hiện đại, chúng tôi nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự phát triển và giá trị của hoà bình”.

Tuy nhiên, ngay sau những lời nói tốt đẹp trên, Trung Quốc lại có những hành động đi ngược lại với lời nói của mình.

Trước đó, việc Trung Quốc lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” cũng đã vấp phải sự chỉ trích dữ dội không chỉ của Việt Nam mà của cả dư luận quốc tế và người dân ở chính đất nước Trung Quốc.
 
Hồi tháng 8, giới chức Mỹ từng lên tiếng chỉ trích, việc Trung Quốc thiết lập cái gọi là thành phố Tam Sa đã đi ngược lại những nỗ lực hợp tác ngoại giao nhằm giải quyết các bất đồng, và có nguy cơ làm tăng căng thẳng trong khu vực.
 
Trước đó, hồi tháng 6, biên tập viên Chu Phương của tờ Tân Hoa xã từng nói, “thiết lập ‘thành phố Tam Sa’ là trò cười quốc tế. Ông này đã mạnh mẽ yêu cầu hủy bỏ ngay việc làm này.

 

Kiệt Linh – (tổng hợp)

Chiến sĩ thi đua toàn quốc, họ là ai? – VHNA

22 Th9

Chiến sĩ thi đua toàn quốc, họ là ai?

Nguyễn Duy Xuân

Đọc cái danh sách do Ban Thi đua-Khen thưởng trung ương đề nghị phong tặng CSTĐTQ, một danh hiệu cao quí đứng sau Anh hùng một chút của Nhà nước ta, mà không khỏi giật mình suy ngẫm. Họ là những con người ưu tú, kết tinh của phong trào thi đua yêu nước, chắc chắn thế vì đã vào đến cửa ải cuối cùng này thì ắt là những tấm gương sáng ngời cả về đạo đức lẫn tài năng và sự cống hiến cho tập thể rồi. Họ tiêu biểu cho đất nước, cho gần 90 triệu đồng bào. Tự hào thay !

Nhưng điểm qua 60 tên tuổi trong danh sách đề nghị phong tặng, bỗng thoáng nét buồn. Trong số 60 anh tài ấy thì có đến 59 vị có chức vụ (quan chức), nhỏ nhất là phó hiệu trưởng trường Mẫu giáo. Chỉ duy nhất có một vị đúng là “chiến sĩ”: ông Nguyễn Viết Đức, Giáo viên Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Trong số 59 vị quan chức thì phần lớn đang giữ trọng trách trưởng phó cấp trung ương, địa phương, ngành. To nhất ngang hàm bộ, thứ trưởng như ông Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; hai ông phó tổng Thanh tra Chính phủ; ông thứ trưởng bộ Y tế; ông bí thư tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu… Chuyện các vị được phong tặng CSTĐTQ thì khỏi phải bàn, chúng ta tin ở sự quang minh chính đại của Ban TĐKTTƯ. Điều đáng suy ngẫm ở đây là sự vắng bóng của tầng lớp thường dân. Đó là những công nhân, nông dân đang lăn lộn trên công trường nhà máy, đồng ruộng làm ra những giá trị đích thực của cuộc sống. Đó là những chiến sĩ nơi biên cương Tổ quốc, giữa trùng khơi đại dương luôn luôn đối mặt với gian khổ, hiểm nguy, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước. Sao họ không có mặt trong đội ngũ ưu tú này ?

Hình như bây giờ có một thực tế là chúng ta đã và đang quan chức hóa những danh hiệu cao quí như Anh hùng, CSTĐ. Bóng dáng người trực tiếp lao động, chiến đấu đang thưa vắng dần. Bây giờ thật khó bắt gặp một anh hùng, CSTĐ như Hồ Giáo, Cù Thị Hậu, Ngô Thị Tuyển… Một thực tế đang diễn ra ở các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước là hầu như các danh hiệu thi đua cao quí hoặc khen thưởng danh giá hàng năm đều “chia” cho lãnh đạo theo lệ đến hẹn lại lên, lần trước anh lần này tôi. Phải chăng trong bối cảnh hiện nay người lao động không còn có cơ hội để thể hiện mình ? Chả nhẽ chỉ có tầng lớp lãnh đạo mới là hạt nhân của phong trào thi đua yêu nước ? Khi người lao động đứng ngoài “cuộc chơi” thì liệu phong trào ấy còn có ý nghĩa, tác dụng gì ? Đấy là chưa nói đến lâu nay dư luận đặt vấn đề nghi vấn về sự thiếu minh bạch, nể nang, tiêu cực trong việc xét tặng, khen thưởng. Chuyện lùm xùm đối với các giải thưởng danh giá nhất nhì đất nước về văn học nghệ thuật vừa qua gây bức xúc dư luận là một thí dụ.

Danh hiệu phong tặng, khen thưởng phải đúng người, đúng việc thì mới phát huy tác dụng tích cực, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua, tạo động lực phát triển cho xã hội./.

DANH SÁCH ĐỀ NGHỊ PHONG TẶNG DANH HIỆU CHIẾN SỸ THI ĐUA TOÀN QUỐC

(Kèm theo Tờ trình số 1374 /BTĐKT-VI, ngày 29 / 8 /2012 của Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương)

 A. Khối Bộ, ngành:

1. Ông Lê Xuân Bá, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2. Ông Đào Xuân Thế, Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

3. Ông Nguyễn Hồng Ngơn, Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

4. Đại tá Lê Văn Hùng, Chính ủy Nhà máy Z175, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Bộ Quốc phòng.

5. Ông Lê Kiên Cường, Phó Chủ tịch Thường trực Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Trị, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

6. Ông Hoàng Minh Chính, Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Du lịch công đoàn Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

7. Bà Trần Thị Bạch Dương, Phó Chủ tịch công đoàn công thương Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

8. Ông Đặng Quang Điều, Viện trưởng Viện công nhân và công đoàn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

9. Bà Trần Thị Ái Nhân, Chủ tịch Liên đoàn lao động tỉnh Kiên Giang, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

10. Ông Lê Tiến Hào, Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ.

11. Ông Ngô Văn Khánh, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ.

12. Ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

13. Ông Nông Văn Thới, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

14. Ông Lê Đình Khanh, Chánh Thanh tra, giám sát Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Kiên Giang, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

15. Bà Nguyễn Thu Hà, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

16. Ông Nguyễn Kiến Tường, Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Nam Sài Gòn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

17. Ông Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế.

18. Ông Vũ Hải, Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam.

B. Khối Địa phương:

19. Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai.

20. Ông Tô Đình Tuấn, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông.

21. Ông Biện Văn Minh, Giám đốc Sở Công Thương, tỉnh Đắk Nông.

22. Ông Nguyễn Công Tự, Giám đốc Sở Tài chính, tỉnh Đắk Nông.

23. Ông Nguyễn Thanh Sơn, Bí thư Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông.

24. Ông Huỳnh Văn Thiên, Giám đốc Bệnh viện II Lâm Đồng.

25. Ông Hoàng Mạnh Việt, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

26. Ông Trần Văn Dĩnh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị – Giám đốc Công ty Cổ phần đầu tư phát triển Trường An, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

27. Ông Nguyễn Văn Giáp, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản thuộc Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa.

28. Ông Lê Kim Toàn, Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy Bình Định.

29. Ông Đặng Quang Linh, Trưởng phòng Nội chính, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị.

30. Ông Hồ Xuân Hiếu, Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại Quảng Trị.

31. Bà Nguyễn Thị Như Thủy, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng ban Ban Thi đua – Khen thưởng Thành phố Hồ Chí Minh.

32. Ông Nguyễn Hoài Chương, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh.

33. Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phát triển công viên phần mềm Quang Trung, Sở Thông tin – Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh.

34. Ông Thái Văn Lai, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Ninh Thuận.

35. Ông Nguyễn Tuấn Minh, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

36. Ông Ngô Sâm, Giám đốc Xí nghiệp Chế biến thủy sản xuất khẩu IV, thuộc Công ty Cổ phần Chế biến xuất nhập khẩu thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

37. Bà Phan Thị Thu Hà, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Tháp.

38. Ông Lý Khôi Văn, Chủ tịch Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cấp nước và Môi trường Đô thị Đồng Tháp.

39. Ông Đinh Minh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

40. Ông Trần Văn Huyến, Phó Trưởng ban Ban Dân vận Tỉnh ủy, tỉnh Hậu Giang.

41. Ông Nguyễn Văn Vị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Sơn La.

42. Ông Đặng Văn Ngự, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Thái Nguyên.

43. Ông Nguyễn Văn Hiến, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Hà Giang.

44. Bà Lê Thị Xiết, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Hà Giang.

45. Ông Trần Đức Quý, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Hà Giang.

46. Ông Dương Thái Công, Hiệu trưởng Trung tâm Đại học tại chức thành phố Cần Thơ.

47. Ông Trần Bình Trọng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần in tổng hợp Cần Thơ.

48. Ông Phạm Văn Tuấn, Phó Trưởng phòng Kinh doanh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công trình đô thị thành phố Cần Thơ.

49. Ông Nguyễn Duy Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên điện cơ Thống Nhất, thành phố Hà Nội.

50. Bà Hoàng Thị Thanh, Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Việt Triều – Hữu Nghị, thành phố Hà Nội.

51. Ông Nguyễn Mạnh Thản, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Ao Vua, thành phố Hà Nội.

52. Ông Nguyễn Hữu Lộc, Trưởng Phòng Thanh tra 6, Thanh tra thành phố Hà Nội.

53. Ông Nguyễn Hữu Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thống Nhất, thành phố Hà Nội.

54. Ông Hà Anh Dũng, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy Bình Phước.

55. Bà Trần Thị Oanh, Phó Hiệu trưởng Trường Trung học Phổ thông Chuyên Quang Trung, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước.

56. Bà Hà Thị Quý, Phó Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Phú Riềng B, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

57. Ông Nguyễn Viết Đức, Giáo viên Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

58. Ông Vũ Văn Hùng, Chủ tịch UBND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

59. Ông Đào Minh Hường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tỉnh Quảng Ngãi.

60. Ông Đỗ Đức Sáu, Phó Giám đốc Trung tâm giống cây trồng vật nuôi tỉnh Quảng Ngãi kiêm trạm trưởng trạm giống cây trồng nông nghiệp Đức Hiệp.

(Theo Ban thi đua khen thưởng TƯ)

Món nộm văn hóa Việt hiện nay dưới con mắt Đỗ Minh Tuấn (Đọc tiểu thuyết Thần Thánh Và Bươm Bướm)[1] – VHNA

22 Th9

Món nộm văn hóa Việt hiện nay dưới con mắt Đỗ Minh Tuấn (Đọc tiểu thuyết Thần Thánh Và Bươm Bướm)[1]

Phan Huy Dũng

1. Thần thánh và bươm bướm là tác phẩm đạt giải C trong cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba (2006 – 2009) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Giải C dĩ nhiên không phải là giải cao nhưng cuốn tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn lại gây được dư luận khá sôi nổi và đã nhận được những lời khen nồng nhiệt.

Ngày 25/11/2011, chính Hội Nhà văn đã tổ chức một cuộc tọa đàm về tác phẩm này. Trong cuộc tọa đàm đó, một số người từng tham gia chấm giải đã lấy làm tiếc rằng lẽ ra Thần thánh và bươm bướm phải được giải cao hơn. Cần nói ngay, đây là chuyện hoàn toàn bình thường, vì xưa nay thẩm định tác phẩm không phải là việc có thể “khoán trắng” cho một ít người (dù đó là những người có uy tín văn học) và cũng không phải việc chỉ cần làm một lần là xong. Vấn đề quan trọng là tác phẩm có “nói” được những tương quan, tình thế, những vấn đề cốt yếu của đời sống dân tộc và nhân loại, có thăm dò được những nẻo đường mới cho sáng tác văn học hay không, và do vậy, có tạo được sự cộng hưởng, chia sẻ, phản bác, lý giải đa chiều ở người đọc hay không? Thật chẳng có gì đáng gọi là vinh dự nếu tác phẩm nào đó chiếm ngôi cao (nhờ một hoạt động thẩm định vốn chưa bao giờ thoát khỏi tính độc đoán, lại đầy bất trắc và giới hạn) mà chỉ đem lại mỗi cảm giác “tự sướng” cho tác giả!

            2. Thần thánh và bươm bướm rất giàu phẩm chất hiện thực (hiểu theo nghĩa cổ điển nhất), dù hiện thực được miêu tả bằng một bút pháp pha trộn giữa huyền ảo và hoạt kê, phóng đại (sự phóng đại có khi được đẩy vượt ngưỡng, để người đọc nhận ra ngay đây là chuyện bịa tạc phi lý, như chuyện cây gạo nở hoa đỏ ối cả bốn mùa, chuyện bầy vịt đỏ trong ao nước đỏ, chuyện cây bưởi ra hoa quanh năm, chuyện cả làng đặt cược tương lai vào một kế hoạch bán bọ hung, bán bướm…). Mỗi trang sách của cuốn tiểu thuyết đều quy chiếu về một hiện thực rách nát tả tơi của đời sống đất nước bây giờ, trực tiếp hơn là hiện thực ở nông thôn. Kể ra, những hiện thực này đã được phơi bày khá thẳng thắn và sinh động trong nhiều bút ký, phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam thời gian qua. Vậy, đâu là cái mới của Đỗ Minh Tuấn? Phải chăng tác giả chỉ làm cái việc nối dài phần tư liệu, dẫn chứng vốn đã quá bộn bề, mà với chừng ấy, người đọc đã hoàn toàn có thể rút ra được ngay kết luận, không cần phải bổ sung thêm nữa?

            Với ưu thế của người hoạt động khá rộng trên nhiều lĩnh vực văn hóa, văn nghệ và đã có thành tựu đáng kể, Đỗ Minh Tuấn đã chọn được cho mình một cách tiếp cận riêng – cách tiếp cận văn hóa đối với hiện thực. Điều tác giả quan tâm hơn hết là cắt nghĩa sự xô bồ, đổ vỡ của hiện thực đời sống hiện nay từ những lý do văn hóa (nền tảng văn hóa, hằng số văn hóa, khát vọng văn hóa, mặc cảm văn hóa…). Chính bởi vậy, có thể xác định lại, cụ thể hơn, sát hơn về hiện thực được thể hiện, được đánh giá trong Thần thánh và bướm bướmhiện thực của văn hóa – thứ hiện thực có đặc điểm không khác gì một nồi lẩu, một món nộm, có đủ đồ, đủ mùi, đủ vị pha tạp, hỗn độn, mà trong đó trần tục trộn lẫn với thanh cao, quỷ sứ chung đụng với thiên thần, vị kỷ cọ xát với vị tha, vị lợi tranh chấp với vị tình… (xin lưu ý rằng các cụm từ “món lẩu”, “món nộm văn hóa” đã được chính tác giả dùng trong tiểu thuyết, ở các trang 134, 163) (2)­.

            3. Cơ sự nào đã khiến một nền văn hóa mà ta vẫn tự hào biến thành món lẩu, món nộm? Phải chăng đây là một đặc điểm cố hữu của văn hóa Việt Nam? (3). Vấn đề này gần như đã được giải thích một cách hợp lý qua việc tác giả xây dựng nhân vật Jôn – thằng “bồ” người Mỹ của cái Minh làng Bái Hạ. Khi Jôn về quê người yêu chơi, hắn đã mặc nhiên được xem như kẻ đại diện của thế giới văn minh mà xứ nghèo đói này khao khát và đang tìm mọi cách cầu cạnh, kết thân để trục lợi, hay nói văn vẻ là để “hội nhập”. Khó mà không đồng tình với “phân tích” rành rẽ sau đây của tác giả – nhà tiểu thuyết vốn có ưu thế hiển nhiên về tư duy lý luận, không cưỡng được thói quen thuyết lý khi kể chuyện: “Jôn đâu biết sự có mặt của mình nơi làng quê đã châm ngòi nổ cho bao nhiêu ký ức và mặc cảm, cả tự tôn lẫn tự ti, cả kiêu hãnh và tủi nhục. Jôn đã vô tình mở cái hộp đựng bệnh tật của Jupie. Những thao thức dằn vặt âu lo ẩn tàng hàng trăm hàng ngàn năm trong ký ức cộng đồng trở thành những ngòi nổ văn hóa bén nhạy, tạo nên những tình huống rối ren bất trắc mà Jôn và những người phương Tây khác không thể lường trước và không thể hiểu được ngay” (trang 178). Dĩ nhiên, trong tiểu thuyết, “yếu tố nước ngoài” như một phép thử không chỉ hiện diện với Jôn mà còn với lão Wang (người Đài Loan, chủ dự án xây dựng sân golf), tay Việt kiều Pháp buôn đồ cổ, tập đoàn CROMGLOBAL của Hàn Quốc và đặc biệt là với văn minh hưởng thụ vật chất được nhập khẩu tràn lan mà sản phẩm của nó (chỉ xét trên phương diện vật thể) có thể bắt gặp được tại mọi xó xỉnh của làng quê Việt: quán bi a, quán net, quán karaoke, mobifone, đĩa CD phim gangster Mỹ, phim sex, kẹo cao su, bia Heineken… Rõ ràng, “cái hộp đựng bệnh tật của Jupite” không phải ngẫu nhiên mà bật nắp. Nói cách khác, những mầm bệnh thuộc phạm trù văn hóa của một xứ sở không tự dưng mà phát tác. Nhưng thái độ của nhà tiểu thuyết không phải là quy lỗi cho những kẻ ngoại bang (thuộc phạm trù “nguyên nhân khách quan” mà trong các bản báo cáo tình hình người ta thường cậy đến), theo kiểu lập luận “đổ vấy” của người dân quê khi họ đứng trước nguy cơ “xôi hỏng bỏng không” của những “kế hoạch” làm ăn thảm hại (đoạn kể về lập luận kết tội của dân làng Tây Lợi đối với Thao khi anh ngộ sát thằng Hoàn cho thấy rất sinh động thói phủi tay chối bỏ trách nhiệm một cách đơn giản, như là một đặc điểm thuộc căn tính của người mình). Tác giả muốn soi rọi những khuyết tật văn hóa vốn tiềm ẩn, chỉ được bộ lộ hết qua những dịp cọ xát với thế giới bên ngoài, với những nền văn hóa khác. Đây quả là một vấn đề lớn mà các cây bút tiểu thuyết của ta còn ít đề cập hay ít suy tư ở tầm bao quát, rất có thể do thiếu bản lĩnh của nhà nghệ sĩ – tư tưởng. Đặt trong bối cảnh đó, dễ thấy Thần thánh và bươm bướm là cuốn tiểu thuyết có tính đột phá trước một hướng đi mới mẻ, cần thiết. Tuy nhiên, trên vấn đề này, nhiều lúc nhà tiểu thuyết Đỗ Minh Tuấn đã bị lép vế trước nhà chính luận Đỗ Minh Tuấn. Giá ông bớt đi những trường đoạn “phân tích sự kiện” – hệ quả của trạng thái bức xúc cao độ và tâm lý “sốt ruột” muốn bộc lộ chính kiến ngay lắp tự – thì sức thuyết phục nghệ thuật của toàn tác phẩm cao hơn. Điều này ông hoàn toàn có thể xử lý tốt, do sẵn vốn sống, lại có kho tích lũy các chi tiết hiện thực hết sức dồi dào.

            4. Đúng là trong Thần thánh và bươm bướm, những chi tiết minh chứng cho luận đề về món nộm của văn hóa Việt hiện nay rất phong phú. Thật thú vị là tình trạng hổ lốn của văn hóa được “lật tẩy” qua cách dùng tiếng Việt ngọng nghịu của nhân vật Jôn: “Người Mỹ của chúng tôi theo đạo Cơ đốc nhiều, nhưng bây giờ cũng đã thích đạo Phật rồi lắm. Nếu gia đình em Minh có nhiều văn hóa truyền thống như vậy thì rất tốt lắm. Tôi muốn chụp ảnh lễ hội trong nhà của em Minh”, “Tôi muốn chế tạo lại văn hóa truyền thống của Việt Nam mà rất đẹp!” (trang 156, 157). Đọc những lời bộc bạch ấy người đọc khó mà không phì cười, nhưng cười xong lại thấy cay đắng, bởi bản thân chúng giống như tấm gương mà người khác cầm đến tận nơi để ta soi chân diện mục khá nhếch nhác của mình. Cũng có thể xem chúng như bản dịch ra tiếng Tây của lời ca nguyên bản tiếng Việt.

Độc giả có thể nhìn ra sự tồn tại thực của món nộm văn hóa đã nói ở từng số phận cá nhân (vốn là kết quả nhào nặn của nó), khi theo dõi những đoạn miêu tả tâm lý hay trạng thái nhận thức rối rắm của những con người sinh ra từ đồng quê Việt như thằng Giác, Thao, vợ Thao, cái Minh… Vào đêm bỏ nhà ra đi do ăn cắp vàng bị bố đánh đuổi, trong đầu thằng Giác, đường liên hệ mạch lạc giữa mọi thứ được bộ nhớ thâu nạp bị đứt tung, khiến nó thoát ra không nổi sự vây bủa lùng nhùng của một mớ pha trộn giữa những ý nghĩ báng bổ, cảm giác oán hận với sự rùng mình, hoang mang. Đặc biệt, các vết hằn của văn hóa truyền thống gắn liền với những hình ảnh đồi sim, hoa mua, cánh diều, hoa gạo, đầm sen, miếu thờ, hình ảnh những người thân lam lũ, tội nghiệp… luôn bị các làn sóng của thứ văn minh hưởng thụ bóng loáng ánh kim loại từng đợt, từng đợt xô tới xóa mờ và làm tiêu biến, khiến nó mất khả năng suy đoán bình thường để đi đến hành động giết người một cách thậm vô lý. Bên cạnh thằng Giác, nhân vật Thao cũng có một cuộc đời nham nhở, lắm khúc ngoặt. Anh ta làm cái gì cũng quyết đoán, như thể đã làm chủ được mình, như thể đã có đủ lý lẽ để tự biện minh cho mọi hành động điên rồ nhất: tưới xăng đốt chết đàn vịt đỏ để trả thù kẻ mua tham lam; đòi khẳng định uy quyền tuyệt đối của con đực giữa đồng không mông quạnh trong đêm giông gió; rình trộm xem thằng con xưng thánh chữa bệnh bằng tình dục; kiên quyết tìm mua cho bằng được một khẩu súng (dù là súng gỉ) vì lòng tự ái; sẵn sàng xả thân như một hiệp sĩ để cứu mạng đứa con quái thai của người đồng đội; toan tính một kế hoạch làm giàu nhờ bán bươm bướm, bọ hung cho những thằng khách sộp Tây, Nhật; tham gia đánh chết kẻ ăn trộm hài cốt của bà mẹ một người bạn trung hậu… Tuy nhiên, tập hợp các hành động của anh ta lại, ta khó nhận ra sự chi phối của một căn cốt đạo đức vững bền hay của một nguyên tắc hành xử nhất quán. Các hành động đó được điều khiển bởi nhiều nguồn lực mà giữa chúng thường xuyên có sự tranh chấp, không tìm được tiếng nói chung với nhau. Cuộc đời của Thao, có thể nói, giống như một bãi chiến trường chưa biết đến bao giờ mới hết khói lửa. Trong trường hợp này, bảo Thao là một tính cách thuần Việt chẳng hề sai, có điều, khái niệm “thuần Việt” cần được nhìn nhận với tất cả tính chất hỗn dung phức tạp của nó. 

Nhìn ra quy mô toàn xã hội, món nộm văn hóa kia có muôn vàn biểu hiện, để mắt vào đâu cũng thấy. Theo sự miêu tả của tác giả, hình như thảm trạng này đã được chấp nhận như một cái gì tự nhiên, đến nỗi người ta sẵn sàng tô đắp thêm cho nó, phổ quát hóa sự tồn tại của nó bằng nhiều hành vi thật kệch cỡm, khôi hài. Trong Thần thánh và bươm bướm dường như có cả một triển lãm những bằng chứng về sự lai căng văn hóa hay có cả một bản thống kê dài, đầy ấn tượng những biểu hiện của món nộm văn hóa mà các chủ thể của nó nhiều khi thích trưng ra với niềm hãnh diện. Cái gọi là văn hóa bỗng có một diện mạo thảm hại khi người ta đánh đồng dịch vụ văn hóa với việc đặt bàn bi a ở nhà ngang đình làng; khi đổi tên Hợp tác xã làm nón thành Trung tâm cung ứng vật tư du lịch bảo tồn văn hóa truyền thống với một thái độ rõ ràng là cơ hội; khi chả biết là hồn nhiên hay trơ tráo muốn kê khai hành động tổ chức đám tang to tát cho ông lão ăn mày – người của vận may – trong bản thành tích văn hóa của xã; khi ép duyên khoa học với mê tín để đưa chuyện xưng Thánh vào phạm trù văn hóa một cách êm ru; khi hợp thức hóa “trò mèo” kiếm lợi từ việc viết sớ chữ Việt bằng tình cảm văn hóa Dân ta yêu chữ nước ta!/Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm!… Văn hóa quả thực đã bị đầu cơ bởi những đầu óc “làm ăn” láu lỉnh. Khái niệm văn hóa đã bị rút ruột để còn trơ lại như một chiêu bài. Hai chữ văn hóa được nhà nhà, người người dùng trên cửa miệng với thái độ trơ trẽn đã trở thành một cái gì thật gớm guốc. Hãy nghe nhân vật Thao lập luận về kế hoạch mưu sinh mới của thằng Chấn – đứa con bị chính anh ta phang đòn đến mất cả thiêng: “Số tiền thằng Chấn thu được trong thời gian xưng Thánh đổ hết vào chữa mấy cái xương sườn nên nó chỉ còn vài triệu, mua được cái xe đạp mini. Số còn lại nó mua một đàn chim bồ câu về nuôi cho vui. Bố nó bảo nuôi bồ câu cũng là văn hóa, huấn luyện tốt cho thi trong hội thả chim truyền thống có khi giật giải mấy triệu đồng. Nếu không được giải vặt lông hầm hạt sen cũng là món thuốc bổ truyền thống khá nổi danh” (trang 148). Ở đây, ngôn ngữ của nhân vật thì thản nhiên, thậm chí hồn nhiên, nhưng khi được tổ chức, miêu tả bởi nhà văn, nó mang một sắc thái châm biếm vô cùng rõ rệt. Trong Thần thánh và bươm bướm, những cú “tạt bóng ngang mặt” kiểu như thế đối với tình trạng bát nháo của văn hóa được vận dụng rất linh hoạt, ngẫu hứng và đạt hiệu quả cao, cho ta thấy tài năng trên phương diện ngôn ngữ tiểu thuyết của tác giả – một cái tài đã được “xài” có phần hơi phung phí, nếu so sánh với cách dùng dè xẻn và ít nhiều mang tính chất “khôn lỏi” của một số nhà văn khác.  

Trong cái không gian bao trùm của thứ văn hóa hổ lốn ấy, bao nhiêu nghịch lý, nghịch cảnh đã phô bày. Những kẻ cầm súng canh chừng gốc cây gạo để ngăn chặn hành động cúng bái mê tín lại chính là bọn người đứng ra làm bình phong cho gia đình mình thực hiện cái trò bị phê phán ấy. Quá khứ thiêng liêng mà các cụ vẫn hay mang ra dọa con cháu lại bị chính chúng sử dụng lại theo phương châm “lấy quá khứ trị quá khứ” để khống chế các cụ, “đưa các cụ vào trật tự” (mỗi khi ông Cảnh đánh thằng Giác, thằng Giác lại nhảy lên vớ lấy bát hương trên bàn thờ đòi đập vỡ). Kẻ gian giấu thuốc Tây trong lòng tượng Phật khiến Ủy ban xã ra lệnh đóng cửa chùa để lấy mặt bằng cho các cựu chiến binh mở dịch vụ sản xuất lốp xe đạp. Khi Thánh Chấn đã mất thiêng thì cái điện thờ bị phá đi để bố Thánh lấy gạch xây chuồng lợn. Có đám người hết đường kiếm sống phải cạo đầu giả làm sư khất thực chặn ngang đường tàu đòi quyên tiền “xây tháp”. Trong Hội diễn mừng ngày Toàn quốc kháng chiến, tiết mục đơn ca lại là bài hát tiếng Pháp do một kẻ hành nghề cave có môi thâm Hàn Quốc thể hiện. Mấy thanh niên sùng Tây mất gốc bị ông trưởng họ lột truồng, cấm cửa, sau khi không đòi được tiền thưởng về công ủng hộ dự án, thoắt một cái, bỗng trở thành “những đứa con yêu của giống nòi”, thở ra tuyền giọng yêu truyền thống, bảo vệ truyền thống… Tất cả những nghịch lý, nghịch cảnh đáng cười, đáng giận, đáng khóc kia từ đâu mà sinh ra? Nguyên nhân hầu như đã được xác định khi tác giả có ý thức dùng hai chữ văn hóa suốt dọc tác phẩm…

5. Ai cũng biết văn hóa là nền tảng của tất cả mọi thứ làm nên gương mặt cuộc sống này. Tuy nhiên, đối với những gì đã được kể, tả trong Thần thánh và bươm bướm, một câu trả lời như trên là quá chung chung. Rõ ràng, Đỗ Minh Tuấn không hề bằng lòng với những cách giải thích vấn đề lưng chừng, khơi khơi. Đồng ý là nguyên nhân nằm ở hai chữ văn hóa, nhưng văn hóa là một cấu trúc gồm nhiều yếu tố cùng mối liên hệ giữa chúng, vậy đâu là yếu tố cơ bản trong văn hóa đó đã đóng vai trò chi phối quan trọng đến tất cả những diễn biến phức tạp của cuộc sống hiện thời? Căn cứ vào nhan đề cũng như hệ thống sự kiện, chi tiết giàu tính biểu trưng của tác phẩm, có thể tạm khái quát rằng theo nhà văn, hai yếu tố cơ bản đó là tín ngưỡng nửa vời và tinh thần thực dụng tiểu nông của con người Việt Nam. Hai yếu tố này tồn tại xoắn bện vào nhau, bao hàm lẫn nhau.

Quả là  người Việt có tâm lý tôn thờ thần thánh. Điều này dễ hiểu và dễ chấp nhận khi dân mình bao đời chìm trong kiếp sống lam lũ, tẻ nhạt, rất cần có thêm chút “vị muối của đam mê” (lời của tác giả). Vả lại, theo một “nguyên lý” đã được câu thơ của Tố Hữu diễn đạt rất hay là “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta”, con người sẽ thấy diện mạo của mình đỡ phần thê thảm khi thắp hương dâng lên thần thánh. Nhưng các thánh ở đây được “xây dựng”, “bồi dưỡng”, được “cơ cấu”, “quy hoạch” (xin mạn phép dùng ngôn ngữ của “các nhà tổ chức” trong thể chế hiện nay) sao mà dễ quá! Một ông lão ăn mày nhờ “khoảnh khắc ngẫu nhiên run rủi” đã đột ngột biến thành “sứ giả của cõi vô hình”, “ngày càng tỏa hào quang, thăng tiến trên con đường bí ẩn của tâm linh”. Điều đó khiến người trần thuật (cũng là tác giả, ở trường hợp này) phải buột miệng triết lý trong niềm ngao ngán: “Thế mới biết khoảng cách giữa kẻ ăn mày và người nhà Thánh cũng chỉ mong manh như sợi tơ nhện đực!” (trang 52). Một thằng nhãi (trong con mắt của bố mẹ và dân làng), chỉ sau một trận sốt bỗng có những năng lực lạ thường, “tự xưng là Thánh Chấn hiện về để cứu nhân độ thế”. Lập tức, hắn được người tứ xứ tín mộ, ùn ùn kéo tới đặt tiền xin quẻ âm dương. Từ thời điểm đó, gia đình hắn bước vào một cơ hội làm ăn mới và làng xã được dịp mát mặt, tự hào. Ở một cấp độ khác, thằng Jôn, lão Wang cũng là một kiểu ông thánh của thời này. Người ta nhìn nhận bọn họ như kẻ cứu tinh không chút băn khoăn, sẵn sàng tin vào những lời hứa hão và vô tư chịu sự sai khiến, chịu làm công cụ phá hoại mù quáng của chúng. Rồi người ta còn tự mê hoặc mình khi thổi phồng những dự định cá nhân thành thực của thằng Jôn thành một kế hoạch to tát, biến Jôn trở thành kẻ đại diện bất đắc dĩ cho nước Mỹ trong sứ mệnh bảo tồn văn hóa Việt hay làm cho người dân của xứ sở nghèo đói này được đổi đời… Ở đây, thiết tưởng cần một mở ngoặc: tác giả đã có sự nhận diện sắc sảo về thói “mê thánh” của người Việt, đã châm biếm nó một cách sâu cay, nhưng lạ thay, hình như bản thân ông cũng chưa (hay không muốn) thoát ly khỏi tâm lý ấy, thậm chí muốn ra tay tổ chức lại nó nhằm phục nguyên diện mạo văn hóa đẹp đẽ nhất mà nó từng có được. Điều này thể hiện rõ trong đoạn nói về sư cô trong chùa Mỹ Khánh – người chứng kiến cảnh anh Tây lai tên Quỳ khi giúp nhà chùa bê hộ tượng Phật lên xe đã bất đồ để của quý trỗi thoát khỏi cái quần đứt chun, bất đồ để lộ cuộc vật lộn giữa bản năng tình dục và tình cảm hướng thượng trong mình. Dĩ nhiên, sư cô có “tiềm năng” trở thành “thánh”, nhưng điều đáng nói là tác giả hơi “đốt cháy giai đoạn” trong việc đặt sư cô lên “thượng điện”, đã vận dụng toàn bộ cái tài hoa và sắc sảo trong lý lẽ để ép độc giả tin rằng cái ý nghĩ táo bạo trong đầu sư cô muốn bố thí cho Quỳ một chút lạc thú như “đem đến cho kẻ đói một bát cơm nhà Phật” là biểu hiện của sự giác ngộ. Tác giả đã rưng rưng cảm xúc khi viết: “Sư cụ tay lần tràng hạt miệng lầm rầm cầu khấn điều gì đó mà chẳng hề biết có một nguồn mạch từ bi đầy sức sống đang dâng lên từ đáy lòng sư cô lan tỏa trong không gian ẩm ướt của ngôi chùa vắng, bao trùm lên mọi hình tướng khả nghi và bí ẩn như một sự giao hòa rất tự nhiên giữa đạo và đời” (trang 348). Có thể tác giả phải cần có thêm một chút trầm tĩnh, “từ tốn” trong việc bài binh bố trận hệ thống chi tiết và hình ảnh. Nhưng qua đoạn văn vừa dẫn và nói chung là qua cả tình huống Thao, Quỳ ra tay cứu khổn nhà chùa, người đọc thấy rõ rằng ông không nói về văn hóa Việt bằng thái độ “khách quan” của kẻ đứng bên ngoài, mà bằng tình yêu sâu đằm đối với nó, bằng tâm trạng luôn thao thức về đường đi của nó trong bối cảnh mới. Dĩ nhiên, ông cũng đã nói với tư cách của người chưa bao giờ thoát khỏi hệ lụy với nền văn hóa này, xét trên mọi phương diện.

Trở lại với điều mà trên kia đã nói là tín ngưỡng nửa vời. Chính tác phẩm cung cấp đủ cứ liệu để chứng minh, cho thấy các thánh thần do con người dựng lên cũng có một số phận đầy mong manh, bất trắc. Thằng Chấn thành thánh nhưng luôn bị bố mẹ nó ngờ vực, tiếp đó bị bố lẳng ghế gãy mất ba xương sườn và giập lá lách phải. Sau sự kiện này, nó mất thiêng, trơ lại “cái xác tuổi hai mươi, trần tục và trống rỗng”, không còn có khách đến nhờ gieo quẻ và chữa bệnh, trở thành đối tượng của những lời đàm tiếu độc địa, không thương xót. Không chỉ “thánh thần hiện đại” mới dễ bị hạ bệ. Ngay cả thánh thần đã có vị trí lâu đời trong tâm thức của con người như thần cây gạo, cây bưởi cũng có thể bị người ta đem “biếu không” hay bị đuổi cổ để đổi lấy một chút lợi ích vật chất tầm thường trước mắt Nhưng có điều oái oăm là thánh thần này bị bứng rễ thì thánh thần khác lại mọc lên, theo một vòng quay miên man bất tận. Tâm lý mê thánh luôn xui người ta tìm đối tượng để thờ phụng, mà việc tìm đối tượng đó thì chẳng có gì là khó! Chỉ cần một ít lời đồn thổi, rỉ tai, một ít thông tin bá vơ chẳng thèm kiểm chứng, chỉ cần một chút cầu mong về lợi ích vật chất đột nhiên được đáp ứng, thế là có thần thánh mới ra đời: “Các vị thánh lớn bé đột ngột hiện lên, tỏa rạng, thăng hoa làm hội hè sôi động một đoạn đời để rồi một ngày không định trước các vị lại bỏ đi, ném những huyền thoại âm u choàng lên cây gạo, cây đa, hòn đá, dòng sông hay ngọn núi” (trang 146). Chính tại điểm này, ta nhận thấy rõ mối liên hệ giữa tín ngưỡng nửa vời với tinh thần thực dụng. Quanh gốc gạo người ta sẽ không thắp hương nhiều như thế trong thời mà khúc ca bài trừ mê tín dị đoan liên tục được phát đi phát lại, nếu không có chuyện ngồi tựa lưng vào nó thì sẽ ù bài liên tục. Ông lão ăn mày sở dĩ thành “thánh” được bởi ông là con người của vận may, đã giúp bao người gặp số đỏ khi họ vô tình hay hữu ý “quệt” vào mình. Dù ấm ức vì chưa được tôn trọng đầy đủ cho xứng với vai “bố Thánh”, Thao vẫn nhẫn nhịn phục vụ Thánh Chấn để kiếm thêm vài đồng bạc nhờ viết sớ chữ quốc ngữ. Cây bưởi chỉ thật sự “thiêng” và chỉ được trông coi cẩn thận khi nó đem lại những nguồn lợi thấy được cho dân làng (làng cử người bán vé qua cửa với giá rất cao), còn khi cản trở người ta gặt hái các món hời lớn, nó đố mà thoát được hàng dây lời bình phẩm báng bổ và những mưu tính sát hại.    

Tinh thần thực dụng cũng như tâm lý mê thánh vốn là sản phẩm của một đời sống đói nghèo kinh niên. Chính nó đã tồn tại như một phương thức ứng xử hợp lý giúp người dân Việt (trước hết là nông dân) tồn tại được trong dòng chảy may rủi khôn lường của lịch sử. Không phải nó không chứa đựng những nét đẹp riêng để tạo nên những mẫu người sống bình dị, biết chấp nhận số phận, chấp nhận môi trường sống chẳng được mấy ưu đãi. Trong tác phẩm, nhà văn đã có những trang viết tưởng vụn vặt mà thực ra rất tinh tế về những toan tính lắt nhắt của vợ chồng Thao khi đèo nhau về Bắc Ninh chuộc lại mấy đôi vịt đỏ để nhân giống, hay kế hoạch chi tiêu tỉ mỉ và cách giữ tiền phòng mất cắp của Thao trên đường lên Yên Bái mua súng. Thật đáng gọi là sự lạ khi một cây bút ham bàn chuyện vĩ mô như Đỗ Minh Tuấn lại không qua quýt chút nào trong việc kể những chuyện tưởng mấy bà quen đi chợ và hay mặc cả mới thành thạo. Thì ra, tất cả những chi tiết đó đã được bố trí một cách hoàn toàn chủ động trong dự đồ sáng tạo của nhà văn. Dù muốn hay không, tác giả cũng đã khiến ta tin rằng: thực dụng là một phẩm chất thuộc tính cách Việt.

Thế nhưng trong Thần thánh và bươm bướm, tác giả không đặt trọng tâm khảo sát tinh thần thực dụng ở dạng “nguyên bản” mang nhãn mác Việt của nó. Ông tập trung chú ý vào sự kích phát của những yếu tố tiêu cực tiềm tại trong nó khi xã hội ta đang sống bị cuốn vào guồng quay chóng mặt và nhẫn tâm của cơ chế thị trường. Thần thánh thuở nào đã chết nên chẳng có cái gì có thể ngăn cản được sự cộng hưởng cuồng dại giữa tinh thần thực dụng xưa với kiểu thực dụng mới đang được du nhập (theo quy luật tất yếu của giao lưu thời mở cửa). Giữa đám bát nháo những ông thánh mới, có một “ông” thực sự gây uy lực: đồng tiền. “Ông” này không loại bỏ tính hoang tưởng, mê thần thánh vốn có của người Việt mà đầu cơ nó để gây thanh thế cho mình. Thằng Giác trong cơn giận đời vừa khóc vừa chửi: “Đ.mẹ đứa nào bịa ra con ma làm khổ bố mày nhé!”. Nhưng nó có biết đâu rằng con ma mà nó muốn thoát khỏi chỉ là con ma cũ, còn chính nó lúc này lại đang mê muội đi theo một con ma mới vốn có mồi nhử hấp dẫn là chiếc xe Win 250 phân khối và cuộc sống đầy đủ tiện nghi (tất nhiên, tiện nghi ở đây cũng chỉ gồm mấy thứ thảm hại mà đầu óc người nông dân khốn khổ có thể tưởng tượng ra nhờ sự “khai minh” của “thông tấn xã truyền miệng” hay của những gì được quảng diễn trên tivi). Có thể nói không có xung đột nào được miêu tả trong tác phẩm lại không liên quan đến tiền, từ xung đột ở quy mô giữa các làng xã về chuyện chọn nghi thức lễ bái thần cây gạo hay chuyện có nên phá bỏ đền thờ và cây bưởi thiêng vì dự án sân golf hay không, tới xung đột ở quy mô gia đình giữa các cặp cha con: ông Cảnh – thằng Giác, Thao – thằng Chấn, ông Hoàn – con ông Hoàn… Trong các cuộc xung đột đó, lý lẽ được đồng tiền hậu thuẫn bao giờ cũng chiếm thế thượng phong, vừa bặm trợn, tàn nhẫn lại vừa biến hóa ma mị, nghe không phải là không hấp dẫn. Bởi thế, không nói chi kẻ nhẹ dạ, đến người chín chắn, thâm trầm chỉ một lòng đề cao tâm đức như cụ Huệ –  người trông đền và giữ gìn cây bưởi lạ – cũng phải phân tâm vì nó. Kết cục thì ông thánh mới nhân danh sự tiến bộ xã hội, nhân danh cuộc sống thừa mứa vật chất như bên Tây, bên Mỹ, bên Nhật, bên Sing đã đẩy dạt những ông thánh cũ của làng quê muôn đời vào cư trú trong hoài niệm chua chát, đắng cay của những ông bô, bà bô cổ hủ. Cũng chính nó đã kích động những cuộc đấu “tay bo” với tổ tiên (chữ dùng của tác giả) của một lũ thanh niên sống trong thế giới hoang tưởng được dệt nên bởi muôn vàn thông tin tạp nham, lừa mị và méo mó. Chưa hết, nó còn là kẻ tạo chia rẽ trong cộng đồng, làm hình thành những nhóm xung đột với nhau vì các hệ giá trị đối lập, làm tổn thương nặng thêm cái nền tảng văn hóa vốn đã chịu quá nhiều cú đánh phũ phàng của lịch sử… Thực ra thì giữa những hoang tưởng xưa với những hoang tưởng nay đều có một mẫu số chung: sự vắng mặt của lý trí, của một thứ tín ngưỡng đích thực có sự tham gia của lý trí. Rõ ràng, tình trạng rách tươm của văn hóa bây giờ có mối liên hệ với những khuyết tật có thật của cấu trúc văn hóa truyền thống. Có lẽ khi đặt bút viết Thần thánh và bươm bướm, thoạt tiên Đỗ Minh Tuấn muốn chỉ ra sự đối lập hay sự khu biệt giá trị giữa hai đối tượng được nêu tên trong nhan đề của tác phẩm, trong đó thần thánh là cái thiêng liêng, đáng tôn thờ và bươm bướm là cái ảo tưởng ngây ngô, nhẹ dạ. Giọng thiết tha, cảm xúc trong nhiều lần nói về thần thánh và giọng trào lộng khi miêu tả chiến dịch bắt bướm của dân làng Tây Lợi hòng hốt đô la của mấy ông tư bản Nhật đã chứng tỏ điều đó. Nhưng càng đi sâu vào vấn đề, càng đắm mình trong dòng sự kiện của chính cuốn tiểu thuyết, tác giả càng nhận thấy rõ rệt tình trạng cộng sinh giữa thần thánh và bươm bướm. Hóa ra có sự “hai mà một” ở đây. Thần thánh cũng là bươm bướm với cả hai đối cực vừa diễm ảo, vừa nhếch nhác và bươm bướm cũng là thần thánh trong các đặc điểm vừa trần tục vừa siêu thoát, phiêu diêu. Đúng là một hiện tượng khó phân chiết, bóc tách rành mạch từng yếu tố một. Nó tồn tại như một thách thức đối với nhiệm vụ xây dựng một chiến lược văn hóa cho phát triển mà các nhà trí thức, các nhà văn chân chính muốn buộc vào mình.   

6. Chẳng khó nhận ra tính ẩn dụ và biểu trưng của nhiều sự kiện, chi tiết được nói tới trong tác phẩm như chuyện thằng Giác luôn dọa đập bát hương trên bàn thờ gia tiên (và cuối cùng đã đập thật) rồi ra tay sát hại ông Bổng – người đỡ đầu và vun trồng, gìn giữ thiện căn cho nó; chuyện thằng con ông Hoàn bán mộ thuyền người lính xưa vì giấc mộng sở hữu một chiếc xe máy Tàu; đặc biệt là chuyện cây bưởi thiêng ra hoa bốn mùa mọc trước đền ông tướng nhà Trần bị đánh mìn tan nát và chuyện cây gạo bao đời gắn bó với người làng Bái Hạ bị trực thăng cẩu đi khỏi mảnh đất quê hương để thành của riêng một ông chủ tư bản Hàn Quốc… Con người quả thật đang quay lưng với truyền thống, đoạn tuyệt với cội nguồn văn hóa, dứt tình với những giá trị tinh thần được nâng niu một thuở. Còn lại nơi này chỉ là cái chết thê thảm của tâm hồn – một cái chết được nhìn nhận qua hình ảnh biểu trưng là hồ chứa bùn đen mênh mông và dòng sông nước đen kịt như nước cống. Mất hương thơm thanh khiết của hoa bưởi, cũng là mất môi trường văn hóa tâm linh, những con người coi trọng nghĩa tình như cụ Huệ làm sao có thể sống được, cũng như con của cựu chiến binh Lôi – một sinh linh bé bỏng đáng thương – không còn điều kiện để tồn tại. Nói chung, cái chết của văn hóa đích thực thật kinh khủng. Chỉ trong hình dung lãng mạn của một nhà tiểu thuyết có tư duy thơ (khái niệm này được dùng theo cách hiểu thông thường) như Đỗ Minh Tuấn, nó mới mang vẻ đẹp bi thảm của những cánh bướm màu lộng lẫy bay lên từ cây bưởi bị tử thương mà thôi! Chẳng rõ theo yêu cầu của một thứ chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt mà một thời hay được nhắc nhở, cái nhìn và cách miêu tả đó của nhà văn sẽ được đánh giá như thế nào? Không biết việc mỹ hóa một cái chết có làm sao nhãng phần nào sự chú ý của người ta về nguyên nhân gây ra cái chết đó hay không? Thực tế cho thấy, những cái “óng ánh” trong loại trường hợp như thế này rất dễ khiến con người mủi lòng, tiếp đó sẽ tha thứ, cho qua mọi chuyện! Chẳng nói đâu xa, ngay trong tác phẩm, một đoạn văn chính xác đến “khó chịu” như sau đã làm cho tội giết người của thằng Giác nhẹ đi rất nhiều trong suy nghĩ của người đọc: “Nó trả ông từ thế giới đời thường lam lũ về thế giới huyền thoại, hóa kiếp cho ông từ thân phận vô danh thành một cái bóng huyền ảo xoay vòng mãi xung quanh cái đèn kéo quân của ký ức cộng đồng. Thằng Giác đâu biết nó vừa làm cho ông Bổng trở thành bất tử!” (trang 63).

Thần thánh và bươm bướm, Đỗ Minh Tuấn đã rất thành công trong việc phơi bày một thảm trạng văn hóa. Tuy nhiên, tham vọng của tác giả còn lớn hơn thế nữa và điều này hoàn toàn hợp logic. Ông dường như muốn thực hành một cuộc truy tìm “ẩn số văn hóa” Việt, một cuộc mổ xẻ tâm hồn, tính cách Việt để tìm lối, chỉ lối “hội nhập” đúng đắn cho nó. Hình tượng của chính tác giả được phản chiếu một phần qua nhân vật điều tra viên Long (tất nhiên, không chỉ qua Long, nhưng Long là người thích hợp ông để hóa thân, bởi anh này, do nghề nghiệp của mình, phải thường xuyên phân tích và biện luận, mà điều đó thì tác giả rất cần!). Có lẽ nhà văn đã hơi cường điệu về tính phức tạp của vụ án (chỉ riêng với vụ án hình sự này thôi) mà nhân vật Thao can dự vào. Nhưng những gì mà ông “mớm lời” cho các điều tra viên để họ chất vấn bị cáo, nói rộng ra là những gì mà ông “dàn dựng” cho vụ án lại mang tính chất của những dữ kiện phải tập hợp đủ để theo dõi, đánh giá đúng hành trình số phận của một tính cách Việt (nói có mức độ hơn là tính cách nông dân Việt). Hoặc nữa, chúng có ý nghĩa tương đương một gợi ý cho vấn đề: làm sao để có được sự gặp gỡ giữa người dân và chính quyền, làm sao để có được một thứ pháp luật có văn hóa và thực sự của văn hóa. Nhà tiểu thuyết, nhà chính luận, nhà thơ Đỗ Minh Tuấn hình như đã chập một với nhau trong dự án “tác thành” được tiết lộ ở đoạn văn này: “Trong các cuộc hỏi cung sau đó, Long đã chia sẻ với Thao nhiều điều khiến Thao bật khóc vì xúc động, thấy hả lòng hả dạ vì hóa ra cũng có người trong bộ máy chính quyền hiểu rõ mình như đi guốc vào trong bụng mình vậy!” (trang 429). Chắc chắn rằng trước khi Thao xúc động, tác giả đã xúc động rồi – xúc động về chính điều mình vừa tưởng tượng! Từng châm biếm sâu cay dự án bươm bướm của dân làng Tây Lợi, hẳn tác giả chẳng hề mong dự án mà mình là “chủ đầu tư” cũng hóa thành bươm bướm!

Quả thật, Thao là một nhân vật rất hay, có tính tiểu thuyết rõ nét với cuộc đời nhiều nông nỗi, lắm éo le, không thể đoán định trước. Tất nhiên, cái không thể đoán định ở đây chỉ là những tình huống cụ thể mà nhân vật gặp trong cuộc đời nhờ tài hư cấu và bút pháp biến hóa của nhà văn, còn xuyên qua chúng, người đọc vẫn nhận ra những hằng số tính cách – cái tạo nên số phận bầm dập mang tính tất yếu của anh ta. Ở Thao có sự hiện diện đủ những đặc điểm của một con người bình thường, vô danh trong cuộc sống. Nhưng đó cũng là nhân vật được nhà văn ủy thác cho nhiệm vụ làm sáng tỏ cái “ẩn số văn hóa” nói trên. Về tính cách của Thao, tưởng có thể đồng tình với nhận xét sau của chính tác giả (được phát biểu trong cuộc tọa đàm về tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm đã nhắc ở đầu bài viết): “Thao là nhân vật mang tâm thức nông dân Việt với những đặc điểm: Cảm tính, tùy tiện, ngẫu hứng, trọng tình, hay tự ái vặt, thiếu tinh thần chiến lược thực dụng nhất quán một chiều rất quyết liệt của người phương Tây. Vì thế, sự lang bang dở dang của Thao là biểu hiện của cá tính và thân phận nông dân Việt. Còn về hình tượng thì Thao đã đi đến cùng sự dở dang bối rối của mình trong thời buổi chuyển đổi hệ giá trị” (4). Nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật Thao, không thể không khâm phục, không thể không đánh giá là độc đáo việc tác giả đã sáng tạo ra câu chuyện Thao tìm mua súng. Súng vốn gắn với Thao trong tư cách một cựu chiến binh. Súng lại gắn với bổn phận bảo vệ những cái rất cần được bảo vệ trong chính cuộc sống hôm nay. Súng liên quan đến sĩ diện và tư thế ngẩng cao đầu không chỉ của Thao mà của cả một dân tộc trong trường kỳ lịch sử. Nhưng súng cũng là điểm gây nhiều cấn cái cho việc giải quyết thanh thỏa những nợ nần quá khứ nhằm bước vào thời kỳ hội nhập. Súng gợi nhớ những vết sẹo, những tổn thương quá khứ, cản trở con người ta đi tới một hạnh phúc trần thế trọn vẹn… Vẫn luyến nhớ súng và thấy có súng mới yên lòng, điều đó biểu lộ một mặc cảm văn hóa sâu xa…

7. Thần thánh và bươm bướm là một tiểu thuyết nhiều tham vọng. Chính tham vọng này đã tạo cho nó một diện mạo trùng phức chập chùng: quá nhiều sự kiện và chi tiết; bộn bề miêu tả và luận giải; đan xen phức hợp đủ sắc thái giọng điệu; phối trộn nhiều ngón kỹ thuật của tiểu thuyết, điện ảnh, hội họa và thi ca; ngả nghiêng khiêu vũ trên cả hai chân huyền ảo và hiện thực… Theo một góc nhìn khác, nó khá ôm đồm, và chính vì ôm đồm nên có một số nhân vật, sự kiện chưa được xử lý nghệ thuật một cách kỹ lưỡng để tự chúng có thể cất lên tiếng nói của mình. Gặp trường hợp đó, tác giả buộc phải làm đầy hình tượng bằng lý lẽ. Các lý lẽ về cơ bản là hay nhưng có lúc còn nặng tính áp đặt, phơi trên bề mặt của hình tượng. Giọng hoạt kê, sự giễu nhại ngôn ngữ gây được ấn tượng mạnh nhưng nhiều khi bị trung hòa lập tức bởi giọng trữ tình hơi lộ tính chữ nghĩa. Vẫn biết bút pháp của tác giả cần phải biến hóa và tính đa giọng điệu, tính hỗn dung thể loại luôn là điều kiện cần của tiểu thuyết, nhưng trên thực tế, tác giả đã kéo độc giả cùng lúc tham gia vào quá nhiều trò chơi, trò này chưa xong đã thấy bày trò khác, khiến cho tính độc đáo của từng trò khó được cảm nhận hết. Tuy nhiên, sự ôm đồm bên cạnh cái dở cũng có cái hay. Nó ít nhiều gây rối trí cho độc giả, nhưng độc giả lại dễ quy nguyên nhân cho cái món nộm văn hóa đã được tác giả phơi bày! Bên cạnh đó, nó cũng chứng tỏ được năng lượng sống, năng lượng nghệ thuật dồi dào của nhà văn. Và điều này có lẽ quan trọng hơn: nó chỉ rõ nhiệt tình công dân, nhiệt tình của nhà tư tưởng mới là cái cần được độc giả chia sẻ trước hết, khi đọc cuốn sách này. Thần thánh và bươm bướm không thiếu những dấu hiệu cách tân nghệ thuật tiểu thuyết, nhưng nó đã được tác giả viết ra bằng tâm thế của một nhà văn cổ điển vốn coi trọng, đề cao  chức năng xã hội của văn học, vốn tin vào sứ mệnh dẫn đạo cho nhân quần của sáng tác. Đây chính là điểm tạo nên vị thế riêng của Đỗ Minh Tuấn trong nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại – vị thế một kẻ có quan niệm “cổ điển” về văn học nhưng không còn tin vào cách viết “cổ điển”, rất chú trọng đổi mới hình thức nghệ thuật nhưng lại ít mặn mà với khuynh hướng trò chơi trong văn học mà hiện nay nhiều tác giả, nhất là tác giả trẻ, đang hăm hở tham gia. Chẳng phải tác giả đã tỏ thái độ châm biếm điều đó khi hình dung ra cảnh bọn thanh niên cởi truồng đến gặp ông Wang và không ngượng mồm tri hô lên rằng chúng đang hy sinh vì cái mới, vì sự phát triển? Với Thần thánh và bươm bướm, rõ ràng tác giả muốn truyền đến người đọc cảm giác ưu tư, lo lắng về tình trạng suy đồi của văn hóa, sự thiếu hụt văn hóa (5) trong đời sống đất nước bây giờ, về sự cẩu thả của chúng ta trong bước chuẩn bị trên phương diện văn hóa (bao gồm cả việc chữa trị những căn bệnh cố hữu) cho cuộc hội nhập lớn ở thời đại toàn cầu hóa. Tác giả hẳn cũng muốn độc giả, như ông, như Thao – những chàng Don Quijote Việt – tích cực can dự vào các vấn đề lớn của đời sống, không “mụ mẫm, đãng trí và vô tâm”, tất nhiên, cũng không hoang tưởng và ảo vọng.

4 – 2012

 

(1) Nhà xuất bản Văn học, 2009.

­(2) Trước Đỗ Minh Tuấn, trong truyện ngắn Vàng lửa, Nguyễn Huy Thiệp đã dùng cụm từ này: “Sẽ đến lúc nền chính trị thế giới giống như một món nộm suồng sã, khái niệm thanh khiết ở đấy vô nghĩa”.

(3) Câu hỏi này hoàn toàn có thể đặt ra trước tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm, do trong tác phẩm, tác giả trực diện, công khai đề cập những vấn đề của văn hóa Việt Nam, với liều lượng lớn những lời phân tích, dẫn giải không hề mang tính chất hư cấu, “giả vờ” theo kiểu của tiểu thuyết thông thường. Những phát biểu thêm, bên ngoài của Đỗ Minh Tuấn về Thần thánh và bươm bướm tự chúng đã xác nhận điều này.

(4) Đỗ Minh Tuấn: Những ý kiến tri kỷ còn giá trị hơn cả giải Nhất, http://www.vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/3644-nhung-y-kien-tri-ky-con-gia-tri-hon-ca-giai-nhat.html

(5) Thật nghịch lý là sự thiếu hụt lại có biểu hiện gần như là sự sum suê, đa dạng.

 

Mẹ tôi kể về Tự lực văn đoàn: “Những người mất cả vốn lẫn lời” – VHNA

22 Th9

Mẹ tôi kể về Tự lực văn đoàn: “Những người mất cả vốn lẫn lời”

Nghiêm Đa Văn

Mẹ tôi là con gái út cụ Cử Tiết: Nguyễn Đức Tiết. Ông ngoại tôi dỗ tiến sĩ đời Đồng Khánh, nhưng không thích mọi người gọi là ông Nghè, vì ông không nhận mũ mãng vinh quy của ông vua mới do Tây dựng lên, mà theo hịch của ông  vua cũ: Hàm Nghi thời ông đỗ Cử  nhân, trưởng Nam. Ông ngoại tôi có ba người bạn đồng khoa: cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu, cụ Cử Đặng làng Hành Khiển, cụ Cử Trần làng Cổ Am (ông ngoại tôi là người làng Diêm Điền).

Tình bằng hữu của các cụ nhà nho  ngày xưa rất đặc biệt . Ông ngoại tôi theo cụ Tán Thuật làm quân sư trong cánh quân Sơn Nam hạ của cụ hiệp trấn Kinh Bắc Tạ Quang Hiện, dân  gian gọi  chủ tướng là Đề Hẹn, gọi quân sư là Đốc Tít.

Nhà văn Khái Hưng

Còn cụ  Cử Nguyễn làng Xuân Cầu bỏ quan đi dạy học. Cụ Cử làng  Hành Thiện theo quân triều đình làm  tham tán quân vụ. Cụ Cử làng Cổ Am thì đi làm quan. Mỗi người một chí hướng, mỗi người một cảnh ngộ nhưng tình bạn trước sau  như một. Cụ Cử Trần làng Cổ Am làm quan đến tổng đốc đã nhận các con bạn  “làm  giặc” về nuôi là con, cho ăn học thành tài.

Mẹ tôi kể: Cụ Cử Hành Thiện có các con trai là cậu Khóa Thiều. cậu Khóa Khu; cụ Cử Xuân Cầu có bác giáo Hoan ; ông ngoại tôi có bác Khóa Cảnh; cụ Cử Cổ Am có cậu Tú Dzư, cậu giáo Tiêu… Khi cụ tuần Trần Mỹ (tức cụ Cử Cổ Am) trị nhậm ở Thái Bình, Nam Định, tất cả các bác, các cậu đều về ở nhà cụ và học ở trường Thành Chung Nam Định, trừ một vài người đỗ vào trường bảo hộ tức trường Bưởi Hà Nội.

 Người sớm có chí lo việc “quốc sự” là cậu Tú Dzư, tức Trần Dzư. Trần Dzư chống lại quyết định của bố, không chịu vào trường Hậu bổ, đào tạo các quan tri huyện. Vì trái ý cha, cậu Tú Dzư bị cắt hết  trợ cấp. Cậu ấm con quan bị đẩy ra cuộc đời  với hai bàn tay trắng, khi tuổi đời chưa tới hai mươi. Tú Dzư bôn ba Hà Nội, Hải Phòng tìm bạn cùng chí hướng. Sau nhiều tháng thất nghiệp đói rét, Tú Dzư xin một chân thư ký một đại lý bán dầu hỏa ở huyện Cẩm Giàng và thị trấn Ninh Giang, trên đường quốc lộ nối liền Hà Nội – Hải Phòng. Tại nơi này Tú Dzư gặp một người bạn dân gốc Quảng Nam, cả gia đình ra Bắc theo sự chuyển nhiệm sở của người cha, giữ một chức quan nhỏ. Cha chết , cả nhà ở lại. Người bạn đó là Tam. Tam có hai người em  là Lân và  Long. Lúc bấy giờ anh Tam đã bắt đầu viết vài ba bài báo in trong tạp chí  của ông Phạm Quỳnh và đã in một cuốn sách nhỏ, Lân và Long còn đi học .

Mấy anh em thường quây quần bàn chuyện quốc sự, tức là việc ái quốc chống Pháp như tất cả các thanh niên có khí huyết hồi đó. Vì ý nguyện yêu nước mà cậu Tú Dzư nhận tên mình trùng với tên một danh tướng nhà Trần nên bỏ cách đặt tên “Trần Cộc” tức là họ Trần không có tên lót hay tên đệm, tự đặt cho mình cái tên lót  “Khánh” trở thành Trần Khánh Dz­ư. Lấy việc bán dầu hỏa giống với việc bán than chờ thời để tỏ ý nguyện và cái chí của mình.

Làm thư­ ký đại lý bán dầu hỏa một thời gian, Tú Dz­ư ­ cùng ba anh  em Tam, Lân, Long lên Hà Nội góp tiền mở một hiệu ảnh ở trước  cửa chợ Đồng Xuân, đặt tên hiệu ảnh Hương Ký. Những người trẻ nhiều mơ mộng muốn cái việc chớp hình của mình ghi lại cái đẹp nhất của tục vật, cái hương  của đời. Để thêm ngư­ời làm việc, cậu Tú Dzư­ vào Nam Định rủ thêm Cảnh là em nuôi, Tiêu là em ruột lúc bẩy giờ bị đuổi khỏi trường Thành chung vì tham gia phong trào bãi khóa đòi thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh.

Mấy anh em tập trung vừa làm thầy vừa làm tớ ở hiệu ảnh Hư­ơng Ký nhỏ bé.

Cánh Nam Đồng thư­ xã của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Tuấn Tài, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo… tìm đến bàn việc quốc sự với nhóm Hư­ơng Ký. Cảnh ly khai các anh theo nhóm Nam Đồng thư­ xã với chủ nghĩa Tam Dân : Dân tộc : độc lập, Dân quyền : tự do, Dân sinh : hạnh phúc, do ông Tôn Dật Tiên (bên Tàu) đề xướng . Còn anh em trong nhóm Hương Ký rất mê Thế kỷ ánh sáng của các triết gia Đức, Vônte, Montesquieu …

Cảnh vì giỏi tiếng Quan Thoại và nói được tiếng Quảng Đông được  cử đi học thêm về chủ nghĩa Tam Dân ở Quảng Châu. Tại đây, Cảnh gặp Đinh Chương Dư, giới thiệu với Hồ Tùng Mậu và cử vào học lớp  chính trị của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ai Quốc tổ chức. Vài năm sau, Cảnh tham gia lập Đảng Cộng Sản Đông Dương với chi bộ nòng cột bảy người ở 5D Hàm Long Hà Nội. Đây là chuyện của lich sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhóm Nam Đồng thư xã hoàn chỉnh học thuyết của mình thành lập  Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái chấn động lịch sử vào cuối năm 1929. Đảng Cộng Sản Đông dương phát động phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Cả hai phong trào đều bị dìm trong bể máu của khủng bố trắng.

Nhưng anh em trong nhóm Hương Ký vẫn kiên quyết theo đuổi đường lối quốc sự riêng của mình. Họ làm quen thêm với một  sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ghi tên học theo  thể thức dự thính là Lễ , và một công chức Sở Tài chính là Hiếu, sau này kéo thêm một viên chức nhà Đoan là Diệu. Họ quyết tâm và đầy tự  tin tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa, cách mạng thơ ca, cách mạng văn chương, cách mạng lối sống… Vũ khí họ chọn là ngòi bút. Lịch sử 80 năm qua cho rằng họ thiếu dũng khí không dám cầm súng… Tài chính của họ là những đồng tiền ít ỏi góp nhặt từ những chiếc túi rách đời học sinh, gia sư, công chức hạng bét. Họ là  những thanh niên vừa ở tuổi hai mươi, hầu hết vô danh, có người ngoài bài luận văn ở trường, chưa hề viết một bài thơ, một đoản thiên.

Họ góp tiền lại mua một “măng sét” (tên báo) của một anh chàng nhà giàu làm báo để mua danh: Báo Phong Hóa.

Với công cụ là một tờ báo vốn sinh ra là tờ lá cải, họ đã vươn lên thành trụ cột của phong trào Thơ Mới, xây dựng nền văn chương tiểu thuyết Việt  Nam hiện đại.

 Chàng sinh viên học thính thị Cao đẳng Mỹ thuật tên Lễ đã trở thành  con hổ nhớ rừng và là vị  chủ soái Thế Lữ của phong trào Thơ Mới. Anh  chàng thư ký nhà Đoan tên Diệu trở thành nhà thơ Xuân Diệu, người tình muôn thuở của thi ca Việt Nam. Xuân Diệu kéo thêm một người em nuôi, người bạn chí cốt  một  kỹ sư  canh nông, sau thành nhà thơ Huy Cận.

 Anh cử nhân toán lý tên Tam thành ra  nhà văn Nhất Linh, nhà chính khách Nguyễn Tường Tam. Cậu Tú Dzư, làm “tự mê” cái tên Khánh Dzư thành Khái Hưng: trở thành hai cây đại thụ góp phần đặt nền móng eho nền  tiểu thuyết hiện đại của lịch sử văn chương Việt Nam.

Cậu Long, sinh viên khoa luật, trở thành nhà văn Hoàng Đạo, nhà lý  của nhóm, nhà văn luận đề đầu tiên của dòng tiểu thuyết luận đề Việt Nam. Cậu Lân trở thành nhà văn Thạch Lam, một trong những bậc thày của truyện  ngắn Việt Nam. Cậu giáo Tiêu, trung thành với truyền  thống “Trần Cộc” không tên đệm thành nhà văn Trần Tiêu,  nhà văn viết tiểu thuyết dầu tiên của Việt Nam mô tả cái hồn của đời  sống nông thôn.

Thấy ký sở Phi Năng tên Hiếu, họ Hồ, đệm Trọng trở thành nhà thơ trào phúng nổi tiếng: Tú Mỡ nối nghiệp Tú Xương.

Nhóm Phong Hóa lập nên “Tự Lực Văn Đoàn” là một văn đoàn lớn, không nhận tài trợ của bất cứ ai, lập giải văn chương, giải thưởng khẳng định các tài năng văn học Việt Nam như Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng,  Đỗ Đức Thu, Đỗ Tốn…

 Sau này, Tự Lực Văn Đoàn ra tờ Ngày nay và nhà xuất bản Ngày Nay. Phần lớn những tác phẩm quan trọng nhất của lịch sử văn học Việt Nam đã ra mắt bạn đọc trên  các tờ Phong Hóa, Ngày Nay, nhà xuất bản Ngày Nay.

Con cái của bốn người bạn đồng khoa ngày nào, riêng Khóa Cảnh tức Nguyễn Đức Cảnh, bí thư cộng sản đầu tiên của Hải Phòng, Quảng Ninh, lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, bị tử hình cũng là một nhà thơ cách mạng. Giáo Hoan sau kết  giao với nhà xuất bản Tân Dân, Tiểu thuyết thứ bảy thành nhà văn Nguyễn Công Hoan; Khóa Thiếu, khóa Khu là Đặng  Xuân Thiều, Đặng Xuân Khu là những nhà thơ cách mạng. Riêng Đặng  Xuân Khu có bí danh là Trường Chinh, khi làm thơ ký tên Sóng Hồng .

Mẹ tôi bảo, các cậu, các bác không chỉ là con cái của bạn đồng khoa mà đều có họ hàng đằng mẹ với nhau. Vì theo lệ  của các bậc khoa bảng Bắc  Hà, khi thành đạt, họ thường được cha mẹ kén cho những người  vợ ở làng Cổ Am. Đất Cổ Am có tiếng “đẻ” ra quan. Dân gian vì thế có câu :”Vú Đồ Sơn, L… Cổ Am”. Ba người  bạn đồng khoa đều lẩy con gái nhà họ Trần, một họ lớn cuả làng Cổ Am do chính bạn mình là cụ Cử Trần My mồi lái.

 Nhắc lại chuyện cũ, mẹ tôi thường thở dài và cười:

– Hồi ấy, để có tiền mua bảng hiệu “nhật trình” Phong Hóa, các bác, các cậu “ăn dỗ” đám các chị  em  gái. Cậu Tú Dzư lột của tao đôi khuyên vàng, một bộ xà tích vàng… hứa là khi nào làm ra, ăn nên sẽ trả nhưng cho tới nay, tao mất cả vốn lẫn lời.

Không chỉ mẹ tôi mất cả vốn lẫn lời mà tất cả nhũng người thân  của mẹ  tôi, những người  lập nên Tự lực văn đoàn đều  mất cả vốn lẫn lời như mẹ tới. Chỉ có nền văn hoa dân tộc là được những viên gạch đặt nền móng cho nền văn chương hiện đại. Nhưng sau này những người xây lâu đài trên nền  móng đó vẫn chưa thực sự công nhận những viên gạch đó là nền móng văn chương nước nhà.

Mẹ tôi là con gái út của cụ cử Tiết, là em út  của tất  cả những người  anh cùng họ bên ngoại làng gổc Cổ Am. Mẹ tôi là Thừa, Nguyễn Thị Thừa.  Mẹ tôi đã kể những chuyện này.

%d bloggers like this: