Lưu trữ | 9:49 Chiều

Những biến cố có thể xảy ra ở Biển Đông

23 Th9

Những biến cố có thể xảy ra ở Biển Đông

 

Nguy cơ xảy ra xung đột trên Biển Đông đang tăng cao. Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Brunei, và Philippine mâu thuẫn trong những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán, nhất là quyền khai thác nguồn trữ lượng dầu khí được cho là rất dồi dào của khu vực.

Tranh chấp Senkaku: Tại sao Mỹ phải có trách nhiệm?/ Ỷ mạnh hiếp yếu?/ Chiến tranh sẽ nổ ra trên các vùng biển Đông Á/ Con đường thứ ba để hóa giải đối đầu Mỹ – Trung

 

Tự do hàng hải trong vùng biển cũng là vấn đề gây tranh cãi, đặc biệt giữa Mỹ và Trung Quốc xung quanh quyền hoạt động qua lại của các tàu quân sự Mỹ tại trong vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm của Trung Quốc. Những căng thẳng này đang dẫn tới – và cũng chịu tác động bởi – nỗi e sợ đang lớn dần về sự gia tăng sức mạnh quân sự cũng như ý đồ của Trung Quốc trong khu vực. Trung Quốc đã và đang triển khai mạnh mẽ hoạt động hiện đại hóa các lực lượng bán quân sự trên biển cũng như năng lực hải quân để thực thi các yêu sách chủ quyền và quyền tài phán bằng vũ lực nếu cần thiết. Cùng với đó, Trung Quốc cũng đang ra sức tăng cường năng lực để có thể buộc các lực lượng Mỹ trong khu vực ở vào thế nguy hiểm trong xung đột; qua đó ngăn chặn hải quân Mỹ tiếp cận vùng biển tây Thái Bình Dương.

Những biến cố có thể xảy ra

Trong số những diễn biến xấu có thể xảy ra dẫn đến một cuộc đụng độ vũ trang tại Biển Đông, có ba biến cố đặc biệt đe dọa đến lợi ích của Mỹ cũng như các nước trong khu vực.

Biến cố nhiều khả năng diễn ra và cũng nguy hiểm nhất là cuộc đụng độ bắt nguồn từ các hoạt động quân sự của Mỹ trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc dẫn tới khiêu khích Bắc Kinh đáp trả bằng vũ trang. Mỹ hiểu rằng Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) hay tập quán quốc tế đều không cho phép lực lượng quân sự tất cả các nước tiến hành các hoạt động quân sự tại vùng đặc quyền kinh tế mà không thông báo trước hay không có sự chấp thuận của quốc gia ven biển. Trung Quốc cũng quả quyết các hoạt động trinh sát tiến hành mà không thông báo trước hay không có sự cho phép của quốc gia duyên hải này sẽ vi phạm luật nội địa của Trung Quốc và luật pháp quốc tế.

 

Ảnh minh họa

 

Trung Quốc luôn phản đối các chuyên bay trinh sát của Mỹ tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế của mình và thường hành động một cách quyết liệt, dẫn tới làm tăng nguy cơ xảy ra sự cố tương tự như vụ va chạm giữa máy bay trinh sát EP-3 của Mỹ với máy bay chiến đấu F-8 của Trung Quốc ở gần đảo Hải Nam vào tháng 4/2001. Một sự cố trên biển tương tự có thể bị châm ngòi bởi những tàu Trung Quốc quấy rối tàu tuần tra của hải quân Mỹ hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, như đã xảy ra năm 2009 với hai tàu hải quân Mỹ ImpeccableVictorious. Sự lớn mạnh đáng kể của hệ thống tàu ngầm Trung Quốc cũng làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột, như đã thể hiện trong vụ tàu ngầm Trung Quốc va vào thiết bị phát hiện tàu ngầm của một tàu khu trục Mỹ vào tháng 6/2009.

Các máy bay trinh sát cũng như tàu tuần tra Mỹ đều không trang bị vũ trang, nên Mỹ có thể sẻ đối phó với thái độ nguy hiểm của máy bay và tàu Trung Quốc bằng cách phái những đoàn hộ tống có vũ trang đến yểm trợ. Bất kỳ tính toán sai lầm hay sự hiểu nhầm nào khi đó cũng có thể dẫn tới một cuộc đấu súng chết người, và sau đó là leo thang quân sự và khủng hoảng chính trị toàn diện. Và khi mà nghi kỵ cũng như cạnh tranh chiến lượ giữa hai cường quốc trở nên khốc liệt hơn thì nó cũng sẽ khiến cho việc kiểm soát một cuộc khủng hoảng như vậy càng khó khăn thêm gấp bội.

Biến cố thứ hai liên quan đến xung đột giữa Trung Quốc và Philippine xung quanh các trữ lượng khí tự nhiên, đặc biệt tại khu vực tranh chấp bãi Cỏ Rong, nằm cách đảo Palawan của Philippine 8 hải lý. Các tàu khảo sát dầu tại bãi Cỏ Rong theo hợp đồng đang bị sách nhiễu nhiều hơn bởi tàu Trung Quốc. Có tin đưa, hãng năng lượng Forum Energy của Anh dự kiến sẽ bắt đầu khoan lấy khí tại bãi Cỏ Rong trong năm nay, điều này có thể kích động một sự đáp trả quyết liệt từ phía Trung Quốc. Forum Energy chỉ là một trong số 15 gói thầu thăm dò mà Manila có ý định mời thầu trong những năm tới để thăm dò dầu khí ngoài khơi đảo Palawan. Bãi Cỏ Rong là “ranh giới đỏ” của Philippine, nên mọi biến cố tại đây đều có thể nhanh chóng leo thang thành bạo lực nếu Trung Quốc can thiệp ngăn chặn hoạt động khoan dầu.

Mỹ có thể cũng bị lôi kéo vào cuộc xung đột Trung Quốc-Philippine theo như cam kết trong Hiệp ước tương trợ phòng thủ ký kết với Philippine năm 1951. Hiệp ước nêu rõ, “Hai bên công nhận một vụ tấn công vũ trang trên khu vực Thái Bình Dương vào bất kỳ bên nào cũng sẽ gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh của bên đó và tuyên bố sẽ hành động để giải quyết các nguy cơ chung phù hợp với các quy định trong hiến pháp”.

Với quan hệ chính trị và quân sự ngày càng cải thiện giữa Manila và Washington, bao gồm một thỏa thuận sắp hoàn thành cho phép Mỹ mở rộng quyền tiếp cận các cảng biển và sân bay của Philippine để tiếp nhiên liệu và phục vụ tàu chiến và máy bay, Mỹ sẽ phải chấp nhận rủi ro rất lớn trong mỗi sự cố liên quan đến Trung Quốc-Philippine. Nếu không giải quyết tốt, Mỹ sẽ không chỉ làm tụt lùi mối quan hệ với Philippine mà còn đánh mất đi uy tín của mình với các đồng và đối tác trong khu vực. Nhưng nếu Mỹ quyết định cử tàu chiến tới đây thì lại sẽ là một sự liều lĩnh với một cuộc đối đầu hải quân.

Tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam liên quan tới các cuộc khảo sát địa chất hay hoạt động khai thác dầu khí cũng có khả năng châm ngòi cho một cuộc đụng độ quân sự. Trung Quốc đã liên tục quấy rối các tàu khải sát dầu khí của tập đoàn Petro Việt Nam thời gian qua khi đang hoạt động ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Năm 2011, Việt Nam đã hai lần lên án hành vi cố tình phá hoại đường dây cáp của tàu khảo sát dầu khí. Mặc dù không phản ứng bằng vũ lực, nhưng Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục các nỗ lực khai thác các mỏ dầu mới và chắc chắn sẽ không lùi bước.

Những tín hiệu đáng báo động

Về mặt chiến lược, các tín hiệu đáng báo động thể hiện mức độ rủi ro xung đột cao, bao gồm các quyết định chính trị và tuyên bố của các quan chức cấp cao, nhận định của các hãng truyền thông chính thức và không chính thức, những thay đổi về hậu cần và đổi mới thiết bị quân sự. Trong các diễn biến ở trên, thì các tín hiệu đáng báo động về chiến lược tại Biển Đông có thể bao gồm những phát ngôn gay gắt của tất cả hay một số bên tranh chấp liên quan đến lợi ích lãnh thổ và chiến lược của họ. Đơn cử, Trung Quốc đã ngang nhiên coi Biển Đông là lợi ích cốt lõi. Hay như việc Bắc Kinh lớn tiếng đe dọa “không thể ngồi yên” để cho các nước khác “gặm nhấm” lãnh thổ Trung Quốc, một công thức mà trong quá khứ thường báo hiệu sự sẵn sàng sử dụng vũ lực. Lời lẽ cứng rắn cũng được các quan chức cấp cao Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) sử dụng trong các cuộc gặp với phía đối tác Mỹ. Trong khi đó, giọng điệu mang tinh thần chủ nghĩa dân tộc hơn của các trang truyền thông phi chính thức và các blog tiếng Hoa, cho dù không thể hiện chính sách chính thức, nhưng nó cũng có thể tạo ít nhiều áp lực lên giới lãnh đạo Trung Quốc phải hành động để bảo vệ lợi ích của nước mình.

Về chiến thuật, những tín hiệu đáng báo động là nguy cơ cao xảy ra xung đột tiềm tàng ở một thời điểm và vị trí cụ thể, bao gồm những thông báo và hồ sơ thương mại, những tuyên bố ngoại giao và/hoặc quân sự để cảnh báo bên tranh chấp kia ngừng các hoạt động khiêu khích, nếu không sẽ gánh chịu hậu quả, các cuộc tập trận quân sự nhằm đe dọa bên yêu sách khác, hay các điều chuyển tàu chiến đến khu vực tranh chấp. Những tuyên bố cũng như sự chuẩn bị bất thường của PLA có thể thể hiện sự sẵn sàng triển khai các công cụ quyết liệt hơn để ngăn chặn các tàu và máy bay Mỹ cũng như các nước khác.

Thúc đẩy các giải pháp giảm thiểu rủi ro trong khu vực

Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã nhất trí về các biện pháp đa phương nhằm giảm thiểu rủi ro và xây dựng lòng tin trong Tuyên bố chung về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) 2002, nhưng rồi hoặc vẫn chưa tuân thủ các điều khoản (như giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán mà không đe dọa sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực) hoặc không triển khai các đề xuất thực hiện các hoạt động hợp tác và xây dựng lòng tin.  Việc nối lại các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN sau một thập niên gián đoạn mở ra tia hy vọng mang đến sức sống mới cho hoạt động hợp tác theo DOC.

Về đa phương, các cơ chế và thủ tục hiện hành đã có thể thúc đẩy an toàn hoạt động giữa các hải quân trong khu vưc. Mỹ, Trung Quốc và tất cả các thành viên ASEAN (trừ Lào và Myanmar) đều là thành viên của Hội nghị Hải quân Tây Thái Bình Dương (WPNS). Thành lập năm 1988, WPNS là nơi gặp gỡ của các nhà lãnh đạo hải quân trong khu vực hai năm một lần để thảo luận về an ninh biển. Năm 2000, hội nghị đã cho ra đời quy tắc về các cuộc đụng độ không báo trước trên biển (CUES), trong đó bao gồm các biện pháp an toàn và các thủ tục, cách thức để tạo điều kiện thông tin liên lạc khi tàu và máy bay tiếp xúc. Hơn nữa, còn có các cơ chế khác như Quy tắc Phòng ngừa đâm va trên biển (COLREGS) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế và các quy tắc trên không của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế. Ngoài ra, các lực lượng hải quân trong khu vực có thể hợp tác trong việc bảo vệ môi trường trên biển, các hoạt động nghiên cứu khoa học trên biển, các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.

Xây dựng các cơ chế đối thoại mới cũng có thể đáng để xem xét. Diễn đàn Tuần duyên Biển Đông, theo mô hình Diễn đàn Tuần duyên Bắc Thái Bình Dương, hợp tác trên nhiều lĩnh vực an ninh hàng hải và các vấn đề pháp lý, có thể tăng cường hợp tác thông qua việc chia sẻ thông tin và kiến thức về cách thực hành tốt nhất. Việc tạo ra một trung tâm chia sẻ thông tin trên biển Đông cũng sẽ cung cấp một nền tảng để nâng cao nhận thức và giao tiếp giữa các bên liên quan. Trung tâm chia sẻ thông tin này cũng có thể phục vụ như một cơ chế trách nhiệm, nếu các nước được yêu cầu phải thu thập tài liệu của bất kỳ sự cố nào xảy ra và gửi đến trung tâm.

Đình Ngân theo CFR

THƯ GIÃN TRƯỚC GIỜ LUẬN KIẾM – Huỳnh Ngọc Chênh

23 Th9

THƯ GIÃN TRƯỚC GIỜ LUẬN KIẾM

 
Cái đẹp cứu rỗi nhân loại. Mời các cao thủ võ lâm trước giờ lên Tung Sơn luận kiếm để chém giết nhau một mất một còn thì xin mời ghé vào phòng họa bên chân núi của họa sỹ Nguyễn Thế Nhân chiêm ngưỡng kiệt tác Lý ngư vọng nguyệt, tranh màu nước trên chất liệu da trinh nữ Phi Vân. Có khi sau khi ghé vào phòng họa, nhiều cao thủ lại xin ở luôn nơi đây để rửa tay gác kiếm, bỏ mặc chuyện tranh chấp bên tai…
   Nguời mẫu Phi Vân và Họa sĩ Nguyễn Thế Nhân

              Tác phẩm “Lý ngư vọng nguyệt”
 
 
 
 
 
 
  
 
 

 

Bao giờ có hai người Việt Nam nhận Giải thưởng Trần Nhân Tông? – Hữu Nguyên

23 Th9

Bao giờ có hai người Việt Nam nhận Giải thưởng Trần Nhân Tông?

 
Một giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam và hàm chứa các giá trị Việt Nam phổ quát tới toàn nhân loại đã chính thức được trao cho hai chính khách Myanmar. Điều đáng nói là hai người này thuộc hai phe đối lập, đó là Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải.
 
Chỉ vài năm trước đây thôi, ít có người dám nghĩ tới điều này: sự bắt tay và cùng nhau hành động vì tương lai và lợi ích quốc gia Myanmar của hai người vốn được coi như là thù địch về chính trị. Một người là thủ lĩnh quân đội, nay là tổng thống Myanmar; còn người kia là nhà đấu tranh chính trị dân sự đối lập vì mục tiêu tự do và dân chủ cho Myanmar, thường xuyên bị giam cầm trong lao tù.
 
Đây là 2 nhân vật được cả hội đồng cố vấn và xét giải thưởng cùng nhất trí cao để trao giải  trong số những gương mặt sáng giá được giới thiệu, đề cử đến Uỷ ban giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải. Hội đồng cố vấn và xét giải thưởng quyết định chọn Tổng Thống U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập – Aung San Suu Kyi với tiêu chí của giải thưởng này trao cho 2 người ở 2 phía đối lập, xung đột, bắt tay, hoà giải với nhau. Hòa giải chỉ thực sự được diễn ra khi mỗi bên sẵn sàng bước tới với sự khoan dung, với một tấm lòng cao cả và điều chỉnh để tiến tới sự tương đồng.
 
 
 
 Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi chính thức được trao tặng giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải
 
Trong năm qua Tổng thống Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi đã có những nỗ lực ban đầu để đưa đất nước Myanmar biến chuyển tốt đẹp về chính trị, được thế giới trân trọng, ghi nhận. Đồng thời, giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải cũng muốn gửi đến lời chúc các vị lãnh đạo Myanmar tiếp tục nỗ lực nhiều hơn nữa cho đất nước Myanmar và thế giới.
 
“Hòa giải là hành động hàn gắn, mang những phái đối lập lại với nhau. Để hòa giải thực sự được diễn ra, cả hai phía phải sẵn sàng hợp tác và nhượng bộ, mặc dù trong một số trường hợp một bên đã đàn áp bên kia. Chỉ khi mỗi bên sẵn sàng bước tới với cái ôm hôn cho bên kia, hòa giải thực sự xảy ra. Hòa giải là hành động song phương, và điều này tạo nên sự khác biệt giữa giải thưởng Trần Nhân Tông và giải thưởng Nobel”- GS Thomas Pat­ter­son – Chủ tịch giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải nhấn mạnh. Hòa giải, ngay cả với cựu thù, là con đường để đạt được hòa bình vĩnh cữu và sự hòa hợp, cho nội tại  mỗi cá nhân và trong quan hệ giữa con người với nhau. Cuộc đời Trần Nhân Tông có sự thu nhỏ của sự hòa giải, và điều này phù hợp với giải thưởng mang tên ông.
 
Thầy Thích Nhất Hạnh trong thư chúc mừng hai vị được trao giải thưởng đầu tiên này đã tóm tắt rất cô đọng những điểm quan trọng nhất trong cuộc đời Trần Nhân Tông và cũng là cơ sở nền tảng để hình thành nên giải thưởng độc đáo này: “Cùng với việc luyện tập và trau dồi ngôn ngữ về tình yêu thương, Trần Nhân Tông đã luôn lắng nghe người dân từ tất cả các tầng lớp xã hội ở đất nước của ngài. Trần Nhân Tông đã tổ chức trưng cầu dân ý và tập hợp toàn dân tộc để đánh bại hàng trăm nghìn quân của Hốt Tất Liệt và những cận thần của hắn. Sau sự rút lui của quân xâm lược, vua Trần Nhân Tông đã phát hiện ra nhiều tài liệu bí mật tiết lộ sự hợp tác giữa một số cộng sự của ngài và quân đội Hốt Tất Liệt, nhưng ngài đã ra lệnh đốt các tài liệu dưới sự chứng kiến của tất cả mọi người. Ngài nói: “Đất nước ta cần sự hòa giải và hàn gắn chứ không cần sự trừng phạt”. Khi đất nước đã ổn định, Vua Trần Nhân Tông bàn giao ngôi cho con trai của ngài là Trần Anh Tông và trở thành một tu sĩ, tu hành trên núi Yên Tử. Ngài đi trên khắp đất nước với đôi chân trần, giảng dạy người dân của mình để tu hành Ngũ tắc và từ bỏ việc mê tín dị đoan. Ngài cũng đi đến các nước láng giềng để thúc đẩy quan hệ hòa bình giữa hai quốc gia”.
 
GS Thomas Pat­ter­son – Chủ tịch giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải  chia sẻ thêm: “Nhiều năm trước, tôi là một người lính Mỹ tới Việt Nam và tôi đã đem lòng yêu đất nước, con người và lịch sử của các bạn. Đó là thời điểm lần đầu tiên tôi nhận biết về Trần Nhân Tông, vị Vua đã hoàn thành được điều mà nhiều người không làm được: chiến thắng quân Mông Cổ. Tuy nhiên, mãi đến năm 2010 tôi mới có được một sự hiểu biết đầy đủ về tầm vóc của ông khi tôi tới Việt Nam cùng vợ và có cơ hội thăm Yên Tử ở Quảng Ninh. Đó là nơi tôi bắt đầu ngưỡng mộ sự hy sinh không chút vị kỉ của ông đối với đất nước. Đó là sự vô tư không vị kỉ, sự khiêm tốn mà chúng ta tìm thấy ở cuộc đời Hồ Chí Minh hay George Washington”.
 
Còn nhớ cuối năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng khuyên Tổng Thống U Thein Sein là Myanmar nên mở cửa với thế giới bên ngoài như “tấm gương Việt Nam”. Trên thực tế Myanmar ngày nay chỉ trong thời gian ngắn ngủi đã làm được rất nhiều điều cụ thể theo tinh thần lời khuyên đó của Thủ tướng Việt Nam. Cựu tướng quân Thein Sein đã khởi động tiến trình cải cách dân chủ, thả bà Aung San Suu Kyi và bầu cử tự do, công nhận sự hợp hiến của phe đối lập. Hàng ngàn tù nhân chính trị đã được thả. Mới đây, ông còn thay tới 16 bộ trưởng, trong đó có bộ trưởng Thông tin. Không kiểm soát báo chí và cho phép báo tư nhân ra đời. Quyền lực thứ tư sẽ giúp cho xã hội minh bạch và trong sạch hơn.
 
Tháng trước Aung San Suu Kyi thăm khắp châu Âu và được chào đón nồng nhiệt. Mấy hôm nay, cựu tù nhân lương tâm, khôi nguyên Nobel hòa bình, đang thăm Mỹ 18 ngày. Ngoài việc nhận Huy chương Vàng Quốc hội Mỹ, gặp Hillary Clinton, và các nhà lập pháp, Obama tiếp tại Nhà Trắng, rồi Tổng Thư ký UN chào đón, với lịch thăm thú dầy đặc, bà Aung San Suu Kyi được Tổng thống Thein Sein, người từng giam giữ bà hàng chục năm, giao nhiệm vụ nặng nề là đàm phán với Mỹ để nới lỏng các biện pháp trừng phạt kinh tế. Mới đây có tin cho hay, phía Mỹ đã bỏ lệnh trừng phạt cá nhân Tổng thống Thein Sein và chủ tịch Quốc hội Myanmar. Bà Aung San Suu Kyi đã nói rất rõ với phía Mỹ, cải cách chính trị tại Myanmar không thể phụ thuộc vào cấm vận của bất kỳ ai, mà phải dựa vào nội lực của chính quốc gia ấy.
 
Mới đây, nhận xét về câu chuyện hòa giải ở Myanmar qua hai nhân vật đối lập cùng các lợi ích to lớn mà đất nước này đang có được từ cộng đồng thế giới thông qua tiến trình hòa giải hữu hiệu từ bên trong nội bộ quốc gia đó, tác giả Hiệu Minh bình luận về trường hợp bà Aung San Suu Kyi đã cho rằng: “Dùng tù nhân lương tâm để giải thoát quốc gia trên thế giới đã từng xảy ra và có những ví dụ về hòa giải tuyệt vời. Nam Phi có Nelson Mandela, ngồi sau song sắt 27 năm trời và sau thành lãnh tụ yêu mến của cả da trắng lẫn da đen, bởi vị tổng thống da trắng Frederik Willem de Klerk đã biết hòa giải. Ba Lan có thủ lãnh công đoàn Đoàn kết  Lech Wałęsa bị tù, giam lỏng, rồi lên đến Tổng thống bởi vị lãnh đạo cộng sản Wojciech Jaruzelskilúc đó hiểu thời thế. Thời cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình vào tù ra tội, nhưng chính ông đưa nước Trung Hoa lên hàng thứ hai trên thế giới vì thuyết mèo đen mèo trắng. Niềm hy vọng tiếp theo, cả thế giới đang trông chờ vào sự khéo léo của người phụ nữ tưởng rằng yếu đuối như Suu Kyi. Chính nữ tù nhân lương tâm này sẽ thay đổi Myanmar”.
 
 
 
 Huân chương được trao  cho Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi.
 
Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà Giải được xác lập bởi Hội đồng cố vấn và Uỷ ban giải thưởng  là những nhà lãnh đạo, những Giáo sư, học giả có uy tín của Harvard , của nước Mỹ và thế giới như Giáo sư Michael Dukakis, Cuự Ứng viên Tổng thống Mỹ, Cựu Thống đốc bang Massachusetts, bà Ann Mc Daniel, Phó Chủ tịch Washington Post, Giáo sư Thomas Patterson, Trường Quản lý nhà nước Kennedy , Đại học Harvard, bà Robin Sproul  Phó Chủ tịch hãng truyền hình ABC News, Giáo sư Thomas Scanlon, nhà triết học lớn ở Đại học Harvard, nhà báo nổi tiếng Giáo sư Thomas Fiedler, hiệu trưởng trường truyền thông, Đại học Boston, cựu Tổng biên tập Miami Herald, ,nhà lãnh đạo danh tiếng Giáo sư Vaira Vike-Freiberga, cựu Tổng thống Latvia ….
 
Những nhà lãnh đạo, những học giả danh tiếng muốn thông qua Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà Giải góp một tiếng nói khiêm nhường vào hành trình tìm kiếm hoà giải, yêu thương cho nhân loại, với hy vọng lòng bao dung và vị tha, sự hoà giải, giải phóng con người khỏi hận thù sẽ ngự trị trên trái đất thân yêu này.
 
Tuy nhiên, có lẽ một điều mong chờ mà cũng là niềm khao khát vô biên của mọi người Việt Nam ngày nay rằng đến bao giờ mới xuất hiện hai người Việt Nam đủ các điều kiện để nhận Giải thưởng quốc tế mang tên Trần Nhân Tông?
 
Một giải thưởng quốc tế mang tên một người Việt Nam đã làm rạng danh lịch sử dân tộc với nội hàm sâu sắc về hòa giải, yêu thương, đoàn kết để cùng phát triển các giá trị, di sản của người Việt mà biết bao thế hệ đã phải đổ xương máu giữ gìn cho tới tận hôm nay,  bao giờ sẽ được trao cho hai người Việt Nam hiện tại. Hai người sẽ thật sự chân thành bắt tay nhau và cùng nhau hành động vì tương lai, vì lợi ích quốc gia – dân tộc,  cho dù trước đó ít lâu họ có thể được coi như là thù địch về chính trị.
 
Biết tới bao giờ?
 
22 tháng 9 năm 2012
 
 

Phan Bội Châu, người đã viết về thiền sư Thiện Quảng – VHNA

23 Th9

Phan Bội Châu, người đã viết về thiền sư Thiện Quảng

Nguyên Huệ

 Sách Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam của Nguyễn Quyết Thắng – Nguyễn Bá Thế đã ghi nhận về Phan Bội Châu (1867 – 1940) như sau:

Chí sĩ, danh sĩ, nguyên tên là Phan Văn San, sau đổi tên là Phan Bội Châu, hiệu Sào Nam và nhiều biệt hiệu khác như Hải Thu, Thị Hán… Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm Đinh Mão (26 – 12 – 1867), quê làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, năm 1900 đỗ giải nguyên của trường thi Nghệ An,…Năm 1904, vận động thành lập hội Duy Tân, năm sau cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc, rồi Nhật Bản gây dựng phong trào Đông Du…(Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam, NXB Văn Hóa, 1999, tr.772).

Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam cũng đề cập đến các tác phẩm của Phan Bội Châu. Trong đó có Tiểu truyện Tước Thái Thiền Sư (Truyện ông Thầy Rau). Tước Thái Thiền Sư tức Thiền sư Thiện Quảng (1862 – 1911) – vị thầy tu đặc biệt của Phật giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mà Phan Bội Châu đã gặp trên quãng đường Đông Du của mình.

Về một số chi tiết chính trong cuộc đời của Thiền sư Thiện Quảng, Phan Bội Châu đã viết hai truyện: Truyện đầu mang tên: Tước thái Thiền sư (Nhà sư ăn rau), viết bằng chữ Hán, đăng trên “Binh Sư Tạp Chí”, xuất bản ở Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc, số 44, tháng 12 năm 1917. (Xem bd của Chương Thâu, in trong Phan Bội Châu toàn tập, T3, Nhà xb Thuận Hóa, 1990, tr.234-249). Truyện thứ hai mang tên: Đường Tăng Nước Nam, Thiền sư Thiện Quảng, viết bằng chữ Quốc ngữ, đăng trên Tuần báo Mai xuất bản tại Sài Gòn, số 5, 6, tháng 4/1936. (Truyện này được đưa vào sách Văn Thơ Phan Bội Châu, Nhà xb Văn Học, H, 1967 tr 437-455)

Tổng hợp từ hai truyện trên, chúng ta có được chân dung của vị Thiền sư xuất chúng như sau:

Thiền sư Thiện Quảng họ Trần, không rõ tên thật, đạo hiệu là Thiện Quảng, người tỉnh Bến Tre, sinh năm 1862, gia đình vào hàng trung phú. Từ từ thời trẻ, Thiện Quảng đã có chí lớn. Tuy vậy, thuận theo lời cha, ông lập gia đình từ rất sớm và đến năm 23 tuổi, khi cha mất, ông xuất gia đầu Phật nhằm cố gắng thực hiện hạnh nguyện Bồ tát của mình.

Tu tập được 10 năm, trở thành một vị sư trụ trì, có nhiều bổn đạo, đệ tử, Thiền sư Thiện Quảng tự xét thấy mình chưa có gì gọi là thể hiện hạnh Bồ tát, nên ông phát nguyện sẽ tìm sang đất Phật để chiêm bái, học hỏi. Để thực hiện chí nguyện này, ông đã chọn phương pháp tu đặc biệt: không ăn cơm, không dùng tiền bạc, chỉ ăn rau, mỗi ngày lúc đầu ăn ba bữa, sau rút lại chỉ còn một bữa trưa, mỗi bận ăn chừng hai tô rau luộc với nước lã.

Năm 1898, khi 36 tuổi, Thiền sư Thiện Quảng lên đường tìm sang Thiên Trúc với chiếc thuyền có hai cột buồm và hai lá buồm lớn do các đệ tử ông chung sức lo liệu. Thực phẩm dành cho cuộc hành trình này là rau quả, chuối và nước uống cũng được các đệ tử chuẩn bị đầy đủ.

Sau gần hai ngày thuyền lênh đênh trên biển cả, gió càng thêm mạnh hơn và đã thổi dạt thuyền vào bờ biển Thái Lan. Tại đây, Thiền sư Thiện Quảng được người dân Thái, vốn phần đông theo đạo Phật, tôn kính, nhất là sau khi biết rõ vị sư này chỉ ăn toàn rau, không ăn cơm cũng như không sử dụng tiền bạc. Thiền sư Thiện Quảng được dẫn tới bệ kiến vua Thái Lan, Thiền sư trình bày tất cả sự thực về con người tu hành của mình nên được nhà vua tỏ lòng kính mộ, truyền chọn chùa riêng cho ông trụ trì, tu tập. Tuy vậy, công việc tìm sang Ấn Độ của Thiền sư vẫn được thực hiện sau khi ông đã hứa với nhà vua, sẽ trở lại đất Thái để tiếp tục tu trì vì đây là đất mà “duyên Phật” đã đưa ông tới.

Từ Thái Lan, cùng với ba người Miến Điện làm hướng đạo, Thiền sư Thiện Quảng đi qua Miến Điện, vào Tây Tạng rồi đến Ấn Độ xứ Phật, bấy giờ chỉ còn lại một người dẫn đường.

Chiêm bái, học hỏi trong vòng năm tháng ở đất Phật, Thiền sư Thiện Quảng từ Ấn Độ sang Trung Hoa, tìm tới chiêm bái núi Thiên Thai ở phủ Hàng Châu, tương truyền là nơi giáng tích của Phật Quan Âm. Ở Hàng Châu, Thiền sư đi Phúc Kiến, qua Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, sang Miến Điện rồi trở lại Thái Lan, chọn ngôi chùa nơi hang Kho Lẻm làm chốn tu hành. Thiền sư được người dân Thái quanh vùng dành cho sự ngưỡng mộ, cung kính hết mực qua cái tên gọi rất dân gian và thân thuộc: Ông Thầy rau.

Chính do tên gọi lạ tai ấy đã khiến Phan Bội Châu chú ý và tìm hiểu, dẫn tới sự gặp gỡ giữa hai người, có thể xem đấy là bước ngoặt thứ hai trong đời Thiền sư Thiện Quảng. Thời gian này, Phan Bội Châu và một số đồng chí đã bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản và đang nương náu tại Thái Lan.

Chúng tôi xin trích dẫn những dòng viết rất sinh động của Phan Bội Châu về Thiền sư Thiện Quảng:

“…Sáng hôm sau, thầy dắt tôi đi chơi núi, vừa đi vừa nói chuyện, tôi kể sơ công việc cùng chí hướng của tôi. Thầy nghe giây lâu, không trả lời một tiếng… Lúc tôi từ biệt thầy rồi, ở trong hang bước ra, tôi ngảnh đầu vào cửa hang, thấy phảng phất như có vị Phật đại từ bi níu lấy áo tôi khiến cho thần hồn tôi vấn vương không đành bỏ hang đi dứt.

Tôi về Băng Cốc, tụ họp hết thảy anh em lưu lạc như tôi, thuật cho anh em nghe hết những lời thầy Thiện Quảng nói. Ai nấy đều nhiệt thành trông mong tới ngày được gặp thầy. Bởi vì chúng tôi lúc ấy có một vấn đề rất khẩn cấp. Anh em chúng tôi từ lúc bị Nhật Bản xua đuổi ra ngoài bờ cõi của họ, chúng tôi dắt nhau về Xiêm, toan tìm một phương pháp để hoạt động. Nhưng khổ quá! Tiền trong túi không có một xu mà tụ nhau ăn không ở nhàn có hàng trăm người, thật là nguy khốn. Cùng kế phải cho người về trong nước vận động với đồng bào Nam Kỳ… Tôi đem việc này bàn tính với ông Hội đồng Hiến… Hồi đó tôi hỏi ý kiến ông về việc chọn người cho về nước viện lương. Ông nói:

– Còn ai hơn Thầy Rau…

… Tôi đem vấn đề dân tình quốc kế và tình cảnh lưu lạc khốn khổ của anh em chúng tôi ở Xiêm nói hết cho Thầy nghe. Nửa giờ đồng hồ Thầy ngồi rất nghiêm trang im lặng, không mở miệng thốt ra một tiếng. Nhưng ngó thấy hai tròng nước mắt Thầy, giọt lệ ròng ròng chảy xuống ướt áo cà sa, mà hình như Thầy không tự biết. Tôi chắc Thầy cảm động lắm! Thầy cúi đầu trầm ngâm ước chừng mười lăm phút đồng hồ, thốt nhiên nói lớn rằng:

– Thế thì các ngài muốn tôi làm được việc gì để cứu được các ngài? Mà lại việc gì là việc sức tôi làm được? Tôi mấy lần đã phát nguyện làm Bồ tát mà gác việc anh hùng ra ngoài óc. Bây giờ tôi biết lấy gì giúp các ngài được đây?

Tôi đỡ ngay câu nói ấy mà tiếp theo rằng:

– Anh em tôi vẫn biết thầy phát nguyện làm Bồ tát mới dám cầu cứu với thầy. Xưa nay trong thế giới sở dĩ có Bồ tát là vì để cứu chúng sinh nhất là chúng sinh ở quê hương mình. Chúng sinh đó mà Bồ tát chẳng cứu giúp thì còn biết nhờ ai?

Thầy nghe tới đó, cảm động phi thường, vừa quẹt nước mắt vừa nói:

– Thế thì các ngài muốn tôi về Nam Kỳ sao?

Tôi thưa:

– Dạ! Thưa phải! Nam Mô A Di Đà Phật.

Thầy nói:

– Mục đích các ngài bảo tôi về Nam Kỳ là cốt ở vấn đề mưu tiền, nhưng hiềm vì tôi bổn lai phát nguyện không cầm tiền trong tay, vậy biết làm sao bây giờ?

Tôi thưa:

– Việc đó chúng tôi cũng đã tính. Chúng tôi cần ngài là muốn rước một vị Phật sống về Nam Kỳ cho đồng bào tín nhậm, nhờ Phật thuyết pháp cho một đôi lời. Còn việc tay cầm tiền bạc thì đã có tay khác cầm, chớ không dám để đồng tiền làm bận tay của Bồ tát…

Tôi với ông Hội đồng đã được thầy nhận lời, trong lòng chúng tôi thiệt mừng rỡ, như câu sách Phật: “Chúng sinh đại hoan hỉ”….

Thấm thoát sau một tháng, đã thấy Thầy Rau trở qua Băng Cốc, trong túi anh Minh Trai kéo ra hai ngàn đồng bạc giấy. Thầy Rau nói số tiền đó là số tiền của đám đồ đệ thầy chung góp, chớ chưa phải quyên thỉnh của ai. Nếu muốn kiếm số tiền cho lớn thì để Thầy về Nam Kỳ một lần nữa.

Thiệt qua năm sau, thầy lại vì anh em chúng tôi mà lên đường về Nam. Anh em khuyên thầy đi đường thủy, nhưng thầy vẫn quyết chí đi đường bộ. Rồi thầy do ngả Cao Miên xuyên đường rừng núi mà xuống Tây Ninh. Rủi cho thầy và một người đồng hành bị bại lộ hành tích nên chi cả hai thầy trò giữa đường ngộ nạn, nhuộm máu với giang sơn! Thương thay! Năm đó Thầy mới trong vòng năm mươi tuổi. Hai chữ Thầy Rau bây giờ còn ghi ở một tấm bia đá kỷ niệm trong hang Kho Lẻm..”.

(Văn Thơ Phan Bội Châu, Nhà xb Văn Học, H, 1967, tr.450-455)

Đó là những dòng cụ Phan viết bằng chữ Quốc Ngữ. Còn đây là một số dòng mang tính chất ca ngợi Thiền sư Thiện Quảng nơi truyện viết bằng chữ Hán:

“… Con người của “Nhà sư ăn rau” cũng giống như chiếc máy điện khí trong thời đại điêu tàn, như tia sáng mặt trời trong thời đại hắc ám… Như Nhà sư ăn rau của chúng ta thì thực là có đủ khí khái trác việt, xứng với câu “Trên trời dưới đất chỉ có đạo của ta là chí tôn” đó mà chính bản thân ông đã thực hành..”. (Truyện Tước Thái Thiền sư, Chương Thâu dịch, in trong Phan Bội Châu toàn tập, T3, Nhà xb Thuận Hóa, 1990, tr.236)

Và Phan Bội Châu đã liệt kê 4 điểm kỳ dị, hiểu theo nghĩa là kỳ lạ, phi thường, trong cuộc đời của Thiền sư Thiện Quảng như sau:

“Một mình một thuyền, bơi trên biển cả, ngồi nghiêm trang tụng kinh, thân thể vẫn chu toàn. Đó là việc kỳ dị thứ nhất. Bốn phương trời nam bát ngát, vạn dặm coi như gang tấc, dấn thân vào nơi nước Phật, giác ngộ đạo Phật rồi quay trở về. Đó là việc kỳ dị thứ hai. Là một người đi tu mà vẫn gánh vác việc nước, vào nơi hang hùm miệng sói, dù phải hy sinh cũng không tiếc thân mình. Đó là việc kỳ dị thứ ba. Hạt gạo không ăn, đồng tiền không lấy, nhiệt tâm yêu nước, đem thân đảm nhiệm công việc. Đó là việc kỳ dị thứ tư. Có bốn việc kỳ dị đó nên nhà sư đã trở thành một nhà sư kỳ dị”. (Truyện Tước Thái Thiền sư, Sđd, tr248)

Qua hai truyện được Phan Bội Châu kể trên (nhất là truyện được viết bằng chữ Quốc Ngữ), chúng ta nhận thấy Phan Bội Châu đã có nhiều cảm tình với Phật giáo, quan trọng hơn nữa là đã có những hiểu biết rất chính xác và đánh giá rất đúng đắn về đạo Phật, về sứ mạng của đạo Phật trong cuộc đời.

Về khía cạnh lịch sử: những truyện về Thiền sư Thiện Quảng của Phan Bội Châu, cùng với các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Võ Trứ (ở nam Bình Định và bắc Phú Yên, năm 1898), của Vương Quốc Chính ở một số tỉnh miền Bắc (cuối năm 1898)… là những minh chứng hùng hồn cho sự gắn bó tốt đẹp giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam trong bất cứ hoàn cảnh nào của đất nước.

Cùng với sự việc học giả Lê Thước (1890 – 1975) đã phát hiện tác phẩm Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) tại ngôi chùa Diệc (Nghệ An); Tiến sĩ Đinh Văn Chấp một danh sĩ của đất Nghệ An đã mở đầu cho công việc dịch thơ Thiền thời Lý – Trần hay Hòa thượng Thích Minh Châu (tức Đinh Văn Nam, con trai Tiến sĩ Đinh Văn Chấp) – một vị danh tăng tiểu biểu của Phật Giáo Việt Nam thế kỷ XX, người mở đầu cho sự nghiệp Việt dịch ĐTK chữ Pali ( đã dịch 4 Bộ Nikàya là Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ) góp phần chính để hoàn thành  ĐTK Việt Nam phần Phật Giáo Nam truyền… Tất cả đã cho thấy, nhân tài, danh sĩ của xứ Nghệ, đã lưu giữ, đã đóng góp rất đáng kể cho Phật Giáo Nghệ An nói chung và Phật Giáo Việt Nam nói riêng. Do đó, văn hóa Phật Giáo xứ Nghệ cần được sưu tập, bảo tồn và phát huy, và hiện đại hóa…góp phần giúp cho Phật Giáo Nghệ An hiện tại đạt được những thành tựu, vươn tới tầm cao đã từng có trong quá khứ.

 

 

 

 

Người mù – VHNA

23 Th9

Người mù

 
Hồ Phi Phục
  • Nên yêu cuộc sống hơn là yêu ý nghĩa của nó.

                                        ĐÔXTÔIEPXKI

Từng là chiến binh dũng mạnh, một chiều ở tuổi xuân rực rỡ, anh bỗng thấy tối sầm trời đất, trở thành người mù trong lửa đạn khói bom. Màu đen bất hạnh ập đến tận cùng mọi khoảnh khắc, ném cuộc đời anh vào dòng sông đêm trôi suốt cả kiếp người.

Ngày rời quê nhà ra đi, cây rơm, gốc thị, cầu ao, chùa làng, xóm chợ và những gì nhìn thấy bình thường thì giờ đây đã trở thành của hiếm. Với cây đàn ghi ta từ lâu thân thiết, những hình ảnh đó bỗng biến thành âm thanh ấm áp thánh thót tháng ngày hòa trong tiếng đàn xưa quen thuộc, khác nào chiếc phao vô giá cứu rỗi đời anh những phút nản lòng. Để rồi lại nghĩ suy, lại hồi tưởng…

Xót xa bao điều chưa kịp nhìn thấy! Dung nhan người vợ gần gũi thời son trẻ anh cũng chỉ âm thầm tưởng tượng qua lời nhận xét của những người thân.

Điều an ủi bù lại khi anh hình dung ra được nét mặt những đứa con sáng sủa của mình. Nghe rằng chúng rất giống bố. Sự nhìn thấy liên tưởng  từ những chuẩn mực nào đó không nhiều, thỉnh thoảng như những ân huệ từ lâu ban phát, giúp anh dịu đi ước mơ ánh sáng khát khao.

Anh buồn không nhìn thấy những bộ dạng chiến hữu cùng cảnh ngộ, những bà con người mù thân tình xa lạ, hàng trăm hàng ngàn người ở gia đình, ở làng xã, ở các cuộc họp Hội Người Mù. Và họ đã bầu anh làm người lãnh đạo.

Anh không phụ lòng họ khi mỗi ngày như hiện ra trước mắt nhiều công việc, nghề nghiệp phù hợp mà họ chỉ còn cách vượt lên tự cứu cuộc sống lẽ ra không buồn. Về đâu? Những cánh chim rời rạc nhanh chóng xếp thành đội hình đàn chim đông đảo nương dìu nhau rợp cánh ngang trời. Dòng sông đêm vô định phút chốc hóa thân thành bầu trời mênh mông, từ bỏ không gian nhức nhối, băng qua ám ảnh chập chờn, giữa tâm trạng không nhìn thấy và nhìn thấy, giữa đau khổ và vui khuây… Dù năng lượng vô hiệu buộc phải phát sinh không nhỏ, dù không nhìn thấy sản phẩm tự tay mình làm ra, người mù vẫn khổ công lao động từ nguồn tài trợ nhỏ nhoi để thoát đói nghèo.

Xã hội viết to giữa cõi đời hai chữ Nhân Văn, tỏa bóng che đến nhiều số phận. Buồn cho ai đó đức thấp, sống uổng đôi mắt lành lặn, ham hố sa lầy tăm tối. Có người tài cao không mù, trở thành người mù nặng. Còn anh và những người mù bình tĩnh đã bao năm sống sáng, tiếp tục nắn cung đàn hy vọng rung vang phẩm chất tự trọng của mình ở những bậc cao.

                                                                                                                 1999

Tây Tạng đang cháy – Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng bất hợp pháp – BS

23 Th9

Top Secret Writers

Tây Tạng đang cháy – Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng bất hợp pháp

Tác giả: WC

Người Dịch: Dương Lệ  Chi

Năm 1949, Hồng quân Trung Quốc đã tiến vào Tây Tạng với một nhiệm vụ. Bây giờ, hơn sáu mươi năm sau, nhiệm vụ đó vẫn chưa hoàn tất.

Mặc dù những người Cộng sản chiếm được đất, nhưng họ đã không thắng được lòng dân. Quân đội kiểm soát mảnh đất Tây Tạng, nhưng áp bức đã không thể dập tắt mong muốn độc lập và tự do tôn giáo của người Tây Tạng.

Người dân Tây Tạng đã chiến đấu một cách anh dũng để duy trì sự tự do và toàn vẹn  của họ với tất cả hy vọng giành lại độc lập gần như đã bị mất. Như thế giới nhìn thấy, Tây Tạng đang cháy.

“Về mặt pháp lý, cho đến nay Tây Tạng vẫn còn như tình trạng của một nhà nước. Nhưng Tây Tạng là một nhà nước độc lập nằm dưới sự chiếm đóng bất hợp pháp. Cả sự xâm lược quân sự của Trung Quốc lẫn sự chiếm đóng tiếp tục của Quân đội Trung Quốc (PLA)đã chuyển giao chủ quyền của Tây Tạng cho Trung Quốc. [1]”

Gần 61 năm trước, quân đội Cộng sản Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng, được cai trị như một quốc gia có chủ quyền vào thời điểm đó [2] Quân đội Trung Quốc vào lấy mất đất đai, tự do và tín ngưỡng của người dân Tây Tạng. Sự chiếm đóng bất hợp pháp này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay.

Trong khi các nhà sư Phật giáo tự thiêu để phản đối các hành động bạo lực ghê tởm và gây hấn mà họ phải trải qua, các nước còn lại trên thế giới quan sát nhưng không để ý tới, và chính phủ các nước vẫn im hơi lặng tiếng [3]. Đất nước, văn hóa và người dân Tây Tạng đang bị tàn sát khi chúng ta không can dự và nhìn xem nó xảy ra.

Lịch sử Tây Tạng

Nhiều tài liệu cho rằng, Tây Tạng là một đất nước [có lịch sử] gần 2.000 năm [4]. Trong suốt thời gian đó, Tây Tạng bị ảnh hưởng nước ngoài vào các thế kỷ 13 và thế kỷ 18 [5]. Bất chấp thực tế này, Tây Tạng đã được tự do và được công nhận tự do.

Mặc dù Tây Tạng không có quan hệ chính thức với nhà Minh, Trung Quốc (1386-1644), nhưng họ đã có quan hệ chặt chẽ với đế chế Mãn Châu sau đó. Trong thời gian này, Đạt Lai Lạt Ma đồng ý trở thành lãnh đạo tinh thần của Hoàng đế Mãn Châu. Tuy nhiên, sự kiện này không có nghĩa là Tây Tạng đã từ bỏ nền độc lập của mình [6].

Ngay cả khi quay ngược lại thời gian năm 1913, nền độc lập của Tây Tạng đã được nhiều nước công nhận với các tuyên bố trong khu vực [7], trong đó có Vương quốc Anh.

Tuy nhiên, người Trung Quốc bác bỏ các tuyên bố tự do của Tây Tạng. Về phần mình, Trung Quốc chỉ ra lịch sử truyền miệng hoặc các bản đồ cổ, vẽ hàng trăm năm trước. Trung Quốc không công nhận chủ quyền bằng vũ lực, do đó họ không thể đòi quyền sở hữu đối với Tây Tạng do sự chiếm đóng đất đai của họ.

Trong trường hợp này, họ chỉ dựa vào các tuyên bố trước đây cả thế kỷ [8].

Năm 1949, Hồng quân Trung Quốc tiến vào Tây Tạng, tuyên bố là chủ sở hữu vùng đất này. Năm 1951, Trung Quốc áp đặt hiệp ước 17 điểm bất bình đẳng lên Tây Tạng, qua đó chinh phục người dân Tây Tạng bằng sự cai trị của Trung Quốc. Đến năm 1959, người dân Tây Tạng đã trở nên mệt mỏi với sự chiếm đóng bất hợp pháp này và nổi dậy. Cuộc nổi dậy đã dẫn đến kết quả 87.000 người Tây Tạng bị giết.

Sau sự kiện này, Đức Đạt Lai Lạt Ma trốn sang Ấn Độ, nơi ông lãnh đạo chính phủ lưu vong. Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma ban hành hiến pháp cho nước Tây Tạng độc lập [9].

Tuy nhiên, Bắc Kinh đã từ chối thừa nhận nền độc lập của Tây Tạng và đã tàn bạo trong việc khẳng định quyền kiểm soát ‘đất nước’.

Trung Quốc đàn áp Tây Tạng

Trung Quốc tuyên bố họ đã giải phóng người dân Tây Tạng, nhưng người dân Tây Tạng nhìn vấn đề này hoàn toàn khác. Người dân Tây Tạng lo sợ bị mất đất đai, văn hóa và cách sống của mình.

Như một người Tây Tạng tên là Tawu Jamphel Yeshi, 27 tuổi, phản đối sự cai trị của Trung Quốc, đã viết những dòng sau đây trước khi tự thiêu:

“Chúng tôi (người Tây Tạng) yêu cầu được tự do thực hành tôn giáo và văn hóa của chúng tôi. Chúng tôi đòi quyền tự do sử dụng ngôn ngữ của chúng tôi. Chúng tôi đòi có được quyền bình đẳng như những người dân sống ở các nơi khác trên thế giới. Dân thế giới, xin hãy ủng hộ Tây Tạng. Tây Tạng thuộc về người Tây Tạng [10]“.

Mọi thứ trở nên quá tồi tệ đối với người Tây Tạng khi đang viết bài này, không dưới 54 người Tây Tạng đã tự thiêu để mọi người chú ý đến hoàn cảnh khó khăn của họ. Mặc dù Đức Đạt Lai Lạt Ma không đồng ý với hành động này [11], sự phản kháng vẫn tiếp tục.

Nhu cầu của người Tây Tạng đã thay đổi. Trong những năm qua, nhiều nước đã hỗ trợ một Tây Tạng độc lập. Tuy nhiên, với sự trỗi dậy của Trung Quốc, những nước cam kết hỗ trợ này càng ít hơn.

Thất bại trong việc hỗ trợ người dân Tây Tạng đau khổ, đã dẫn đến sự gia tăng đàn áp của Cộng sản trong khu vực và sự xung đột cho người Tây Tạng. Khi áp lực quốc tế lên Trung Quốc giảm bớt, người dân Tây Tạng buộc phải chiến đấu cho các quyền tự do cơ bản mà tất cả mọi người phải được được hưởng.

Tự Do Tôn Giáo

Dân Tây Tạng muốn có tự do tôn giáo, đây là một vấn đề đối với người vô thần Trung Quốc.

Mặc dù tự do tôn giáo được Hiến pháp Trung Quốc bảo vệ, nhưng “tự do thực hành tôn giáo” thì không. Điều này có nghĩa là hiến pháp Trung Quốc chỉ bảo đảm quyền tự do “sinh hoạt tôn giáo bình thường”.

Đảng cộng sản đã lấy mất rất nhiều quyền tự do qua điều mà họ tuyên bố là “bình thường”. Chẳng hạn như, đạo Phật công nhận Đức Đạt Lai Lạt Ma và uy thế của ngài, thì bị cấm. Thật vậy, các Phật tử Tây Tạng thậm chí không được phép sở hữu hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma, cũng như không được giữ tài liệu liên quan đến những lời giáo huấn của ngài [12].

Ở Trung Quốc, “tự do tôn giáo” có nghĩa là một người được tự do thực hành tôn giáo theo cách Đảng Cộng sản ra lệnh.

Không chỉ Đảng Cộng sản vô thần, mà họ còn kiểm soát tất cả các tôn giáo bằng một bàn tay sắt. Vấn đề gần đây nhất là chính phủ Trung Quốc đã đàn áp tất cả các tôn giáo chính ở Trung Quốc, và xem tôn giáo là mối đe dọa đối với địa vị thống trị của Cộng sản.

Người Tây Tạng nói riêng, là một cái gai đối với họ. Đa phần bắt nguồn từ thực tế là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bỏ trốn. Việc ngài tiếp tục đối thoại với phương Tây được xem như là ly khai với Trung Quốc và là một cách phá hoại Trung Quốc.

Việc này ngày càng trầm trọng hơn do tình yêu thương và sự tôn kính mà người Tây Tạng ngày nay dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Hậu quả là, Trung Quốc đàn áp hơn bao giờ hết. Đàn áp đã trở nên quá khốc liệt và tàn bạo mà Bắc Kinh không muốn thế giới nhận ra mọi thứ trở nên tồi tệ như thế nào.

Để giữ bí mật này trong chăn, người nước ngoài không thể nào có được visa vào Tây Tạng. Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, Tây Tạng bị ‘đóng cửa vô thời hạn’ đối với người nước ngoài [13]. Dường như chính phủ Trung Quốc sẽ làm bất cứ điều gì để che đậy những gì đang thực sự xảy ra ở Tây Tạng.

Người Tây Tạng cũng tranh đấu do không thể dung nạp cộng sản, với mục đích sống một cuộc sống bình thường, nhưng không thể. Ngoài việc bắt buộc người Tây Tạng để tố cáo Đức Đạt Lai Lạt Ma, người dân còn phải trải qua sự “giáo dục lòng yêu nước”, và họ phải tuân theo đạo Phật kiểu Cộng sản.

Người dân Tây Tạng cho rằng những phương pháp này và các chính sách khác – như việc bắt buộc loại bỏ bất kỳ, cũng như tất cả mọi hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma – là hết sức vô lý. Họ cũng chỉ ra việc thi hành nặng tay mà cộng sản đã áp đặt lên họ. Một ví dụ trong số đó là rất nhiều điểm kiểm tra của chính phủ mà người Tây Tạng phải đi qua trong khi đi lại.

Những người dân sống trên mảnh đất này cũng giống như sống ở một trong những nhà tù cao nhất trên trái đất. Hầu hết cho rằng các chính sách đàn áp vẫn tiếp tục. Các tu sĩ Tây Tạng vẫn đang bị bắt giữ và “cải tạo”.

Họ bị đánh đập và buộc phải tố cáo Đức Đạt Lai Lạt Ma [14].

Tuần tới, tôi sẽ bàn sâu thêm về một số “giải pháp” bi kịch mà Trung Quốc đã khám phá ra cho “vấn đề” Tây Tạng.

Tài liệu tham khảo & hình ảnh:

[1][4][8][9] DhamraKara.net
[2] như trên
[3] RFA.org
[5] như trên
[6] Những người bạn của Tây Tạng
[7] Phayul.com
[10] Sify.com
[11] NY Daily News
[12] Buddhist Channel
[13] Telegraph
[14] Global Post
[15] Sify

Nguồn: Top Secret Writers

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thế giới 24h: Trung Quốc làm lành với Philippines – VNN

23 Th9

Thế giới 24h: Trung Quốc làm lành với Philippines

 

Bắc Kinh ngỏ ý làm lành với Manila, Tổng thống Putin và Thủ tướng Medvedev chỉ trích qua lại lẫn nhau, làn sóng giận dữ của Hồi giáo lan rộng … là những nội dung đáng chú ý nhất những giờ qua.

Tin nổi bật

Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói với đại diện Philippines trong chuyến thăm tới Bắc Kinh rằng ông hy vọng rằng mối quan hệ với Manila sẽ được khôi phục lại sau khi bị tổn thương từ các tranh chấp biển đảo từ hồi đầu năm nay.

 

Tàu của Trung Quốc gần bãi cạn Scarborough.
Ông Tập Cận Bình đã trao đổi với Bộ trưởng Nội vụ Philippines Mar Roxas rằng căng thẳng giữa hai quốc gia đã “giãn ra” sau các tranh chấp xung quan bãi đá cạn ở Biển Đông từ hồi tháng Tư vừa qua.

 

Philippines gọi bãi đá này là Scarborough, còn Trung Quốc gọi là Đảo Hoàng Nham. Cả Manila và Bắc Kinh đều tuyên bố chủ quyền và điều tàu tới bãi đá này khiến căng thẳng dâng cao.

“Tôi hy vọng tình hình này sẽ không xuất hiện trở lại liên tục, để cho quan hệ song phương trở lại với lộ trình phát triển thông thường” – hãng tin Tân Hoa Xã trích lời ông Tập Cận Bình khi trao đổi với đặc phái viên của Tổng thống Benigno Aquino.

“Quan hệ Trung Quốc – Philippines đã phải đương đầu với một số khó khăn. Tuy nhiên, tình hình đã giãn ra sau khi hai bên có trao đổi hiệu quả” – Phó Chủ tịch Trung Quốc nói.

Tân Hoa Xã trích lời ông Roxas rằng Philippines hy vọng có quan hệ thân thiện với Trung Quốc và vượt qua các khó khăn hiện tại.

Các cuộc đối thoại này diễn ra tại thành phố Nam Ninh, Trung Quốc sau khi Tổng thống Benigno Aquino không thể tham dự cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tại Nga đầu tháng này.

Tin vắn

– Tòa án của Thổ Nhĩ Kỳ đã kết án tù 20 năm tù với ba cựu tướng lĩnh quân đội bị cáo buộc âm mưu lật đổ chính phủ.

– Đại sứ quán Mỹ tại Ấn Độ và Malaysia đã đóng cửa do lo ngại làn sóng biểu tình phản đối bộ phim có nội dung báng bổ đạo Hồi.

– Ít nhất bốn người thiệt mạng và 44 người bị thương trong vụ đụng độ giữa người biểu tình và một đơn vị quân đội của chính phủ.

– Nhật báo “Maariv” ngày 21/9 đưa tin Israel đang cố gắng làm tan băng mối quan hệ giữa Thủ tướng Benjamin Netanyahu với Nhà Trắng.

– Làn sóng biểu tình phản đối bộ phim có nội dung xúc phạm đạo Hồi và Nhà tiên tri Mohammed tiếp tục lan rộng khắp thế giới Hồi giáo.

– Các nước thành viên IAEA đã thông qua một nghị quyết “phàn nàn” về quyết định ngừng hợp tác với IAEA của Triều Tiên.

– Trong một động thái chọc giận Tehran, Mỹ đã sẵn sàng gạch tên Mujahedin-e-Khalq, một nhóm đối lập tại Iran, khỏi danh sách khủng bố.

– Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đã có lần chỉ trích hiếm hoi Tổng thống Vladimir Putin về cách thức ứng xử với giới lãnh đạo doanh nghiệp, động thái làm gia tăng đồn đoán về quan hệ rạn nứt giữa hai vị lãnh đạo hàng đầu của Nga.

– Pakistan ngày 21/9 đã triệu Đại sứ Mỹ tại nước này nhằm phản đối bộ phim có nội dung xúc phạm nhà tiên tri Mohammed và đạo Hồi.

Thông tin trong ảnh

 

Những người biểu tình tung hô sau khi càn quét các trụ sở của nhóm du kích Hồi giáo Ansar al-Sharia tại Benghazi, Libya đêm hôm 21/9. Dòng chữ trên lá cờ Libya có ghi: “Libya”.

 

Phát ngôn ấn tượng

 

Ngoại trưởng Iran Ali-Akbar Salehi
“Iran đang cố gắng để các quốc gia này hiểu rằng họ không thể làm theo ý muốn của mình trong việc mở rộng ảnh hưởng chính trị quốc tế.” 

 

Ngoại trưởng Iran Ali-Akbar Salehi nhấn mạnh nhà nước Cộng hòa Hồi giáo Iran sẽ không để các quốc gia có sức mạnh kinh tế hay quân sự áp đặt ý chí của họ lên khu vực Trung Đông.

Ngày này năm xưa

23/9/1846 – Dùng các dự đoán của nhà toán học Pháp Urbain Le Verrier, nhà thiên văn học Đức Johann Gottfried Galle nhận ra sao Hải Vương (hình) là một hành tinh mới lần đầu tiên.

23/9/1932 – Hejaz và Nejd hợp nhất thành Vương quốc Ả Rập Saudi, với quốc vương đầu tiên là Ibn Saud và thủ đô tại Riyadh.

 

  • Lê Thu (tổng hợp)

 

%d bloggers like this: