Lưu trữ | 8:39 Chiều

Nghĩa vụ của Mỹ trong mắt các đồng minh – TTCT

24 Th9

Nghĩa vụ của Mỹ trong mắt các đồng minh

TTCT – Chuyến đi Tokyo và Bắc Kinh đầu tuần này của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta diễn ra trong lúc Nhật Bản và Trung Quốc đang quyết liệt tranh chấp quần đảo Senkaku (Điếu Ngư đài). Thông điệp đầu tiên của ông Panetta ở Tokyo là “các bên hãy bình tĩnh lại và tự kiềm chế”.

 

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh ngày 18-9 – Ảnh: Reuters

 

Ba ngày trước khi ông đến Tokyo, tuần báo Time đã vừa “dọn đường” cho ông Panetta vừa “đón võng” ông như sau: “Thách thức lớn nhất của ông không phải là thuyết phục cho được Trung Quốc rằng Mỹ sẽ hậu thuẫn trọn vẹn đồng minh lâu đời của mình trong cuộc tranh chấp đang leo thang về những hòn đảo trên biển Đông Trung Hoa, mà là thuyết phục cho được Nhật Bản…”.

Cần rõ ràng với đồng minh và với cả “đối phương”!

 

“Không có bàn chuyện xây căn cứ ở Philippines. Thời đó đã qua rồi. Chỉ phái quân qua luân phiên mà thôi”

 

Tokyo cần được ông thuyết phục những gì? Time trích lời giáo sư Yoichiro Sato của Đại học Ritsumeikan Asia Pacific của Nhật Bản: “Có một cảm nhận ở Nhật rằng sự gắn bó với những cam kết của Mỹ với Nhật là mơ hồ”. Và hậu quả của sự mơ hồ đó là “nếu Trung Quốc nghĩ rằng Nhật hoặc Mỹ còn do dự trong việc đáp trả (Trung Quốc), thì điều đó sẽ càng làm cho người Trung Quốc thêm dạn dĩ”.

GS Sato khuyến cáo: “Tốt nhất Mỹ nên phát đi một thông điệp rõ rệt vào lúc này để sau này không phải ứng phó với một điều gì đó tồi tệ hơn”. GS Sato cảnh báo: “Nếu Nhật mất mấy hòn đảo đó mà Mỹ không đến để giúp Nhật thì sự khả tín của sự liên minh với Mỹ, không chỉ của Nhật mà còn của mọi quan hệ đồng minh khác trên toàn cầu, sẽ bị tổn thương nghiêm trọng”. Nôm na mà nói: lúc đó sẽ chẳng ai còn tin vào quan hệ đồng minh với Mỹ nữa.

Có thể hiểu hàm ý của GS Sato khi thấy sáu tàu hải giám được Trung Quốc phái đến khu vực đảo Senkaku như để phản ứng việc Chính phủ Nhật vừa quốc hữu hóa các đảo này hoặc làn sóng biểu tình chống Nhật trên đại lục. Việc cả ngàn tàu cá Trung Quốc ào ào đổ vào khu vực tranh chấp càng làm dấy lên nỗi lo sợ chiến thuật biển người tràn lên các đảo này.

Từ khi chấm dứt Thế chiến thứ hai tới giờ, đây mới là lần đầu tiên mà bóng dáng thần chiến tranh lởn vởn bên người Nhật vốn đã quen yên ổn dưới “cái dù bảo vệ” của Hiệp ước hợp tác và an ninh hỗ tương Nhật – Mỹ (1) được cụ thể hóa bằng một “lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật” (USFJ) gồm 38.000 quân trên bờ và 11.000 quân trên biển thuộc hải, lục, không quân… mà hằng năm Nhật tham gia góp khoảng 2 tỉ USD binh phí. Tất nhiên, Nhật cũng có một lực lượng phòng vệ (JSDF) đầy đủ hải, lục, không quân song hoạt động và trang bị bị “trói tay” bởi một bản hiến pháp căm ghét chiến tranh.

Có không ít thí dụ về điều mà GS Sato gọi sự “mơ hồ” của thái độ của Mỹ đối với đồng minh. Dillon Zhou, một nhà nghiên cứu Mỹ đang làm việc ở Trung tâm nghiên cứu xung đột trên không gian mạng (Cyber Conflict Studies Association, Virginia) cũng đã lên tiếng ngay hôm 17-9: “Trước khi một cuộc chiến tranh nổ ra giữa Trung Quốc và Nhật, Mỹ phải quyết định mình đứng ở đâu” (2). Dillon Zhou nêu thí dụ một cuộc họp báo ở Bộ Ngoại giao Mỹ mới hôm 11-9, trong đó phát ngôn viên Nuland cứ lúng túng trong sự mơ hồ này.

Tại đó, khi một nhà báo Trung Quốc hỏi về việc Chính phủ Nhật gọi là mua lại đảo Điếu Ngư có làm thay đổi hiện trạng ở các đảo này, bà Nuland đã trả lời: “Hãy tham khảo lại bình luận hôm qua vì hôm nay không có gì mới để thêm vào”. Nhưng khi nhà báo này nhắc “tình hình đã thay đổi rồi do lẽ Trung Quốc đã phái đến khu vực đó hai tàu tuần tiễu trong đêm qua” và hỏi thẳng: “Liệu điều đó có làm thay đổi suy nghĩ của quý vị về việc Mỹ cần làm?” – thì bà Nuland cũng chỉ nói: “Quan điểm của chúng tôi vẫn như vậy, chúng tôi muốn thấy Trung Quốc và Nhật Bản cùng vượt qua điều này”.

“Rõ ràng” thế nào?

Thông điệp trên, tiếc thay, chưa được xem là thỏa đáng trước các kỳ vọng của đồng minh châu Á. Chính vì vậy mà nhà nghiên cứu Mỹ Dillon Zhou khuyến cáo: “Mỹ cần cân nhắc lập trường và đường lối chính thức của mình trong vụ tranh chấp này và đặt câu hỏi: Lập trường của chúng ta về vụ tranh chấp các đảo Senkaku có hợp lý về mặt địa chính trị khi cần phải vừa thúc đẩy các lợi ích quốc gia của chúng ta mà vẫn đảm bảo được an ninh khu vực tại châu Á?”.

Có thể thấy các tác giả trên muốn Mỹ khẳng định rõ rệt sự ràng buộc của mình với nghĩa vụ thực thi điều 5 của hiệp ước hỗ tương nêu trên, theo đó Mỹ sẽ xem bất cứ một cuộc tấn công vũ trang trong các lãnh thổ dưới sự quản lý của Nhật sẽ là nguy hiểm cho chính sự an bình của Mỹ… hơn là những gì mà cho đến nay phía Mỹ đang tỏ ra qua vụ khủng hoảng Senkaku.

Tác giả Dillon Zhou nói rõ: “Mỹ có một vai trò trong vụ này, chịu trách nhiệm khởi sự vụ tranh chấp bằng việc trao quyền kiểm soát hành chính các đảo Senkaku cho Nhật dưới trào Nixon. Việc Mỹ xoay trở lại châu Á đòi hỏi một nước Mỹ can dự hơn nữa vào các công việc của châu Á, tỉ như vụ tranh chấp Senkaku, bao gồm việc bảo toàn an ninh khu vực và tái lập các quan hệ với các đồng minh cùng đối tác châu Á”.

Những cảm nhận của phía Nhật về sự “mơ hồ” trong thái độ của Mỹ cũng lặp lại nơi phía Philippines. Ngay giữa cuộc khủng hoảng trên dải Scarborough, Chủ tịch Thượng viện Phi Juan Ponce Enrile đã nổi cáu phát biểu: “Nếu Mỹ không giúp Philippines trong trường hợp Philippines bị tấn công, chúng ta có thể hủy bỏ hiệp ước phòng thủ chung”. Những tuyên bố như vậy cứ tiếp diễn, do lẽ câu hỏi đặt ra là: Mỹ có thể bảo vệ Phi trên đất liền, song không chắc trên các dải đá kia!

Không phải vô cớ mà hôm 15-9, Asia Times đăng tải dự báo bi quan của Chester Cabalza, một giáo sư Học viện Quốc phòng Philippines: “Người Mỹ ăn nói ngọt ngào lắm, song người Phi không nên dựa vào khả năng quân sự của Mỹ trong trường hợp có một cuộc xung đột với Trung Quốc. Mỹ sẽ không cứu chúng ta và cũng chẳng ra tay hào hiệp. Mỹ sẽ bảo vệ lợi ích kinh tế và chiến lược của chính mình với Trung Quốc”.

Gót chân Achilles của Mỹ

Mỹ kẹt gì mà cứ “mơ hồ” trong các nghĩa vụ với đồng minh? Báo cáo “Các vấn đề thương mại Mỹ – Trung Quốc” của cơ quan nghiên cứu phục vụ Quốc hội Mỹ (CRS) (3) là câu trả lời, xin trích đăng vài chi tiết.

Năm 1981, thương mại Mỹ – Trung là 5 tỉ USD; 30 năm sau lên đến 503 tỉ, trong đó Mỹ nhập 399,3 tỉ, xuất 103,9 tỉ. Năm 1990 Mỹ nhập siêu 10 tỉ, năm ngoái nhập siêu 296 tỉ. Xuất siêu bao nhiêu, Trung Quốc mua trái phiếu Mỹ để dành: Bộ Ngân khố Mỹ ước lượng Trung Quốc vào tháng 6 năm ngoái nắm trong tay 1.700 tỉ USD trái phiếu chính phủ và tư nhân của Mỹ, trong đó 1.300 tỉ là công trái (từ đó đến nay đã tống khứ bớt được nên nay còn khoảng 1.200 tỉ).

Các vấn đề thương mại Mỹ – Trung cần giải quyết là vô vàn, buộc Tổng thống Bush thỏa thuận với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào tháng 9-2006 chương trình Đối thoại chiến lược kinh tế (SED), mỗi năm họp hai kỳ để mỗi bên hàng trăm chuyên viên “cò kè thêm bớt một hai” những thỏa thuận từ những cáo buộc nhau không buôn bán sòng phẳng. Trào ông Bush họp được năm lần, sang trào ông Obama họp được bốn lần, lần mới nhất vào tháng 5 vừa qua. Mỗi lần tháo gỡ được một số rào cản.

Gần đây nhất là việc phái đoàn ông Tập Cận Bình sang Mỹ tháng 2 năm nay và phía Trung Quốc đồng ý mở cửa rộng hơn nữa thị trường cho phim ảnh Mỹ. Có những tập đoàn đang mơ giành được trong vòng đối thoại tới những tháo khoán khổng lồ, tỉ như Boeing mơ rằng từ 2001-2030 sẽ bán được cho Trung Quốc 5.000 chiếc máy bay thương mại trị giá 600 tỉ USD…!

Song quan trọng hơn cả là làm sao giữ vững số nợ khổng lồ của Trung Quốc trong tầm kiểm soát của mình do lẽ, theo báo cáo của cơ quan CRS, “Việc Trung Quốc nắm trong tay số nợ đó có thể biến số nợ đó thành công cụ giúp Trung Quốc khuynh đảo việc ban hành chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ! Tỉ như đem Đài Loan làm “con tin” (mấy năm nay có tin bán F-18 cho Đài Loan song vẫn cứ gác đó!)”.

“Thời đó đã qua rồi…”

Bao mong mỏi, nhắn nhủ đều đã được đưa ra trước chuyến đi Tokyo và Bắc Kinh của ông Panetta. Thế nhưng, khi đến Tokyo ông này vẫn điệp khúc cũ: “Chúng tôi có những nghĩa vụ đối với hiệp ước. Mọi bên hãy bình tâm lại và tự kiềm chế”.

Vì thế dễ hiểu điều mà Philippines đã và đang làm: tự lực tự cường để tồn tại. George Amurao, một cựu nhà báo Philipines nay đang làm việc tại Đại học Mahidol (Thái Lan), tháng trước đã ghi nhận: “Các đồng minh truyền thống là Mỹ và ASEAN đã không hỗ trợ Philippines đủ trong việc tự vệ chống lại Trung Quốc. Điều đó đã trở thành động cơ kích thích ký kết những hiệp ước mới hoặc tăng cường với Úc và Nhật. Chính phủ Aquino cũng đang xem xét những thỏa hiệp quốc phòng mới với Malaysia, Singapore và Brunei” (4).

Hôm 14-8 vừa qua, đại sứ Mỹ tại Philippines Harry Thomas đã phát biểu Washington sẽ không còn tìm kiếm lập căn cứ quân sự mới ở Philippines”. Lời đô đốc Samuel J. Locklear III. Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương, thuật lại các cuộc gặp với các lãnh đạo Philippines khi từ Philippines trở về Honolulu hôm 18-9 giải thích sự chọn lựa đối sách của người Philippines: “Không có bàn chuyện xây căn cứ ở Philippines. Thời đó đã qua rồi. Chỉ phái quân qua luân phiên mà thôi” (5).

Trong khi người Mỹ kêu gọi hòa hoãn thì phản ứng của Trung Quốc là một thông điệp kép: huy động 2.000 tàu cá vào khu vực tranh chấp và một bài báo “lạ” của Thời Báo Hoàn Cầu hôm thứ hai để “đón” ông Panetta, khuyên dân chúng rằng “Bạo lực chỉ có thể làm suy yếu chiến dịch chống Nhật hiện nay”. Có thể thấy “nghệ thuật” sử dụng đám đông của nhà đương cục Trung Quốc. Khi cần cương thì phất cờ xanh; khi cần tạm lắng thì phất cờ đỏ. Một khi đã muốn tấn chiếm thì đâu lý gì lại dừng, nếu như không có một lưỡi gươm Damocles treo trên đầu!

Không đợi lâu, sáng thứ ba, tàu hải giám Trung Quốc vờn quanh khu vực Senkaku, chống trả sự ngăn cản của tàu tuần tiễu Nhật Bản. Vẫn lấy thịt đè người: 10 tàu hải giám chống sáu tàu Nhật! Dường như ông Panetta chưa đáp ứng mong mỏi của giáo sư Sato hay nhà nghiên cứu Dillo Zhou để làm cho phía Trung Quốc hiểu rằng Mỹ sẽ dứt khoát can thiệp!

DANH ĐỨC

____________

(1) http://www.learner.org/workshops/primarysources/coldwar/docs/usjapan.html
(2) http://www.policymic.com/articles/14650/senkaku-islands-dispute-before-a-war-with-china-and-japan-sparks-us-must-decide-where-it-stands
(3) http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL33536.pdf
(4) George Amurao, Philippines arms itself with new pacts, Asia Times Aug 2, 2012
(5) Locklear Visit Reaffirms U.S.-Philippine Alliance American Forces Press Service July 18, 2012

Cách viết đề cương nghiên cứu khoa học – nguyenvantuan

24 Th9

 

Cách viết đề cương nghiên cứu khoa học

   
https://i2.wp.com/ncbm.org/wp-content/uploads/2009/04/application-photo.jpg

Đối với những người như tôi, viết đề cương nghiên cứu gần như là một … nghề. Năm nào cũng phải viết ít nhất 3 đề cương, có khi là đơn xin đề bạt, cũng có khi là đơn xin tái bổ nhiệm. Viết rất nhiều và thất bại cũng rất nhiều. Thất bại nhiều đến nổi khó đếm hết! Thất bại gần như là một … qui luật! Nhưng cũng có thành công, dù số lần thành công ít hơn số lần thất bại. Chính qua những thất bại, tôi mới học được những bài học đau lòng, và đó là lí do tại sao tôi muốn chia sẻ cùng các bạn trẻ hơn, hay các bạn chưa có kinh nghiệm (hay có ít kinh nghiệm) về cách viết đề cương nghiên cứu. Cố nhiên, tôi không dám hứa nếu các bạn tuân theo những gì tôi hướng dẫn là sẽ thành công, nhưng tôi dám hứa là xác suất thành công sẽ cao hơn là không làm theo những hướng dẫn ở đây. 🙂

 

Trong cuộc sống hàng ngày, kể cả công việc chuyên môn, bất cứ ai trong chúng ta thường gặp những vấn đề đáng tìm hiểu, có khi rất lí tưởng cho nghiên cứu khoa học. Có những vấn đề không hẳn là phức tạp, nhưng có khi lại rất đơn giản. Thường, những vấn đề đơn giản là những vấn đề khó nhất, và có thể dẫn đến những khám phá quan trọng. Tại sao nam giới hay chết sớm hơn nữ giới? Tại sao người dân vùng nông thôn thường có làn da sậm hơn người dân thành thị? Tại sao phụ nữ Việt Nam thích có làn da trắng trong khi phụ nữ Âu châu thích làn da bánh ít? Tại sao các nam phẫu thuật viên hay chửi thề? Tần số chửi thề của phẫu thuật viên có khác nhau giữa các bộ môn? Tại sao bệnh nhân tử vong nhiều trong hai ngày cuối tuần? Chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân sau khi xạ trị ra sao?

https://i2.wp.com/www.cartoonstock.com/newscartoons/cartoonists/rma/lowres/rman5337l.jpg

Đó là những vấn đề tuy đơn giản những đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, tìm câu trả lời, và trong vài trường hợp, tìm giải pháp. Những câu trả lời có khi đã hình thành từ cảm nhận cá nhân hoặc lương năng bình dân. Một nhà phẫu thuật, qua kinh nghiệm lâu năm, có thể tự tin rằng phương pháp điều trị của mình là có hiệu quả. Nhưng cũng có những câu trả lời xuất hiện một cách bất ngờ. Theo suy luận bình thường, nếu một người hàng xóm mắc bệnh ung thư và bác sĩ cho biết sẽ sống trong vòng 3 tháng nhưng trong thực tế sống đến 3 năm sau khi dùng một loại thảo dược, thì người ta sẽ nghĩ ngay đến thảo dược đó là có ích cho điều trị ung thư. Những kinh nghiệm cá nhân, những phát hiện tình cờ, tuy có thể là chứng cứ nhưng chưa phải là chứng cứ khoa học, và khó có thể đóng góp vào kho tàng tri thức y học, bởi vì chưa được hệ thống hoá. Một cách hệ thống hoá vấn đề là qua nghiên cứu khoa học.

1. Suy nghĩ như nhà khoa học

Do đó, đứng trước một vấn đề, một hiện tượng, chúng ta phải tập cách suy nghĩ như một nhà khoa học. Nhà khoa học suy nghĩ có phần khác với người thường, vì họ ít khi nào chịu sự chi phối của cảm tính. Một ca bệnh chưa đủ thuyết phục họ về một liệu pháp điều trị. Có trường hợp nhiều ca bệnh cũng chưa đủ để thuyết phục, bởi vì họ cần phải so sánh với nhóm không được điều trị (trong khoa học, thường được gọi là “nhóm chứng” – control group). Ngoài ra, nhà khoa học còn phải phát biểu giả thuyết (dựa trên câu hỏi) và kiểm định giả thuyết qua thí nghiệm. Trong trường hợp ung thư và dược thảo, trước khi đi đến kết luận nhà khoa học phải tìm hiểu cơ chế sinh học của dược thảo, đặt giả thuyết về hiệu quả, và tiến hành nghiên cứu để thu thập dữ liệu xem có phù hợp với giả thuyết hay không. Nói một cách ngắn gọn, nhà khoa học suy nghĩ qua 3 bước: đặt câu hỏi, phát biểu giả thuyết, và tiến hành thí nghiệm.

Câu hỏi nghiên cứu (research question) là một phát biểu mang tính bất định về một vấn đề. Vì mang tính bất định, nên nhà khoa học phải tìm hiểu những yếu tố nào dẫn đến sự bất định. Cần phải phân biệt một câu hỏi nghiên cứu tốt với một câu hỏi dở. Câu hỏi nghiên cứu tốt phải đáng ứng ít nhất 3 trong 5 tiêu chuẩn mà tôi tạm gọi là FINER.

  • F là viết tắt của feasibility, tức tính khả thi. Một câu hỏi nghiên cứu tốt phải khả thi, tức nhà khoa học có kinh nghiệm chuyên môn, có thể tuyển dụng đầy đủ bệnh nhân hay đối tượng nghiên cứu, có phương tiện đo lường và thí nghiệm, v.v.
  • I là interesting, tức thú vị. Một câu hỏi nghiên cứu tốt phải thú vị đối với nhà khoa học, xứng đáng để theo đuổi. Có nhiều nhà khoa học bỏ ra cả đời người chỉ theo đuổi một phân tử rất nhỏ.
  • N là novelty, tức có cái mới. Làm nghiên cứu là một việc làm sản sinh ra thông tin mới, phương pháp mới, hay ý tưởng mới. Một nghiên cứu chỉ lặp lại y chang những gì người khác đã làm thì không có cái gì mới, và được xếp vào nhóm “me too”.
  • E là ethics, tức đạo đức. Một nghiên cứu y khoa phải tôn trọng quyền con người, không làm hại người, phải bảo mật tuyệt đối (không được tiết lộ thông tin cá nhân ra ngoài). Một nghiên cứu y khoa còn phải đáp ứng những tiêu chuẩn về y đức. Nếu không đáp ứng tiêu chuẩn đạo đức / y đức thì dù câu hỏi có thú vị cỡ nào cũng phải bỏ đi!
  • R là relevant, tức liên đới. Thật ra, chữ “liên quan” ở đây có nghĩa là có ảnh hưởng. Một câu hỏi nghiên cứu mà nếu tìm được câu trả lời và có thể làm thay đổi chuyên ngành là một câu hỏi quan trọng. “Tác động” ở đây phải hiểu là có tác động tích cực đến thực hành lâm sàng, đến chính sách y tế của Nhà nước, hay có đóng góp một định hướng mới. Chẳng hạn như câu hỏi “Các chương trình truy tầm ung thư vú có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong?” là một câu hỏi tốt vì câu trả lời sẽ làm thay đổi nhận thức của phụ nữ và thay đổi chính sách y tế. Những câu hỏi nghiên cứu, mà nếu có câu trả lời cũng chẳng thay đổi gì cho chuyên ngành hay chẳng đóng góp thêm gì về thông tin thì không đáng theo đuổi.

 

Giả thuyết đối với nhà khoa học rất khác với câu hỏi nghiên cứu. Giả thuyết xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu xuất phát từ quan sát thực tế. Một câu hỏi nghiên cứu tốt sẽ dẫn đến giả thuyết khoa học hay.   Giả thuyết khoa học là một phát biểu mang tính tiên lượng giữa hai hay nhiều biến. Hai chữ tiên lượng ở đây rất quan trọng! Một phát biểu như “Có mối liên hệ giữa ung thư vú và loãng xương” không phải là giả thuyết vì không có tính tiên lượng. Nhưng một phát biểu như “Bệnh nhân ung thư vú có nguy cơ loãng xương thấp hơn bệnh không bị ung thư vú” thì được xem là một giả thuyết khoa học (vì có tính tiên lượng).

Cũng nên phân biệt giả thuyết khoa học với giả thuyết thống kê. Giả thuyết thống kê chỉ là một cách phát biểu giả thuyết khoa học để tiện cho việc kiểm định thống kê. Nếu giả thuyết khoa học là “bệnh nhân tiểu đường có tỉ trọng mỡ cao hơn người không bị tiểu đường”, thì giả thuyết thống kê là “bệnh nhân tiểu đường có tỉ trọng mỡ bằng người không bị tiểu đường”. Giả thuyết thống kê vừa đề cập còn có khi gọi là giả thuyết vô hiệu (null hypothesis). Bên cạnh giả thuyết vô hiệu, nhà khoa học còn phát biểu một giả thuyết đảo (alternative hypothesis): bệnh nhân tiểu đường có tỉ trọng mỡ khác với người không bị tiểu đường. Một cách nghiêm túc, không có giả thuyết vô hiệu thì tất cả phân tích thống kê gần như vô nghĩa (bởi vì phần lớn các phương pháp thống kê được phát triển lấy giả thuyết vô hiệu làm chuẩn). Một trong những nhiệm vụ của nhà nghiên cứu là dùng dữ liệu để bác bỏ giả thuyết vô hiệu (và bác bỏ giả thuyết vô hiệu là gián tiếp chấp nhận giả thuyết đảo), bởi vì theo nhà triết học khoa học Karl Popper, chúng ta không thể nào chứng minh được một giả thuyết khoa học.

Sau khi đã có giả thuyết, bước kế tiếp là làm thí nghiệm (experiment). Thí nghiệm ở đây nên hiểu một cách rộng hơn, chứ không đơn thuần có nghĩa thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Một nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial – RCT) mà theo đó một nhóm bệnh nhân được chia thành hai nhóm nhỏ (nhóm được điều trị và nhóm chứng không được điều trị) được xem là một thí nghiệm – thí nghiệm lâm sàng. Một nghiên cứu bệnh chứng cũng là một thí nghiệm. Thí nghiệm là một bước cực kì quan trọng để thu thập và phân tích dữ liệu, đi đến kết luận liên quan đến câu hỏi nghiên cứu.

Do đó, có thể nói rằng nghiên cứu là một chu trình khép kín. Bắt đầu từ câu hỏi nghiên cứu, nhà khoa học phát biểu giả thuyết, rồi tiến hành thí nghiệm để kiểm định giả thuyết đó. Một công trình nghiên cứu tốt thường mở ra một định hướng mới, và nhiều câu hỏi nghiên cứu mới. Chẳng hạn như câu hỏi “Tại sao người nông thôn có làn da sậm hơn người thành thị”, sau khi có câu trả lời (ví dụ) là do vitamin D, thì nó sẽ mở ra hàng loạt nghiên cứu mới: tại sao người thành thị hay thiếu vitamin D; yếu tố nào quyết định nồng độ vitamin D trong máu; vitamin D ảnh hưởng đến bệnh nào; nồng đồ vitamin D tối ưu là bao nhiêu; v.v. Một công trình nghiên cứu không mở ra một hướng mới là một công trình không xứng đáng để theo đuổi.

 

2. Đề cương nghiên cứu và văn phong

Thí nghiệm cần phải có qui trình và kế hoạch. Những qui trình và kế hoạch này phải được hoạch định (trước khi tiến hành nghiên cứu) trong một tài liệu mà tiếng Anh gọi là Research Proposal, và dịch sang tiếng Việt là “Đề cương nghiên cứu”. Tôi muốn hiểu hai chữ đề cương như sau: “Đề” là đề nghị, đề xuất; và “cương” là cương lĩnh. Đề cương nghiên cứu, do đó, là một tài liệu mà trong đó nhà khoa học đề nghị cương lĩnh hay chương trình làm việc. Đây là tài liệu quan trọng nhất trong một công trình nghiên cứu, vì qua đó mà cơ quan tài trợ có thể xét duyệt cấp kinh phí.

Tôi nghĩ có thể xem đề cương nghiên cứu như một bản vẽ của kiến trúc sư. Thật vậy, có thể xem nhà khoa học như là một kiến trúc sư. Kiến trúc sư phác hoạ chi tiết xây dựng một công trình trong bản vẽ. Nhà khoa học phác hoạ những chi tiết về qui trình làm nghiên cứu để thu thập và phân tích dữ liệu. Nếu bản vẽ là một tác phẩm của kiến trúc sư, thì chúng ta cũng có thể xem đề cương nghiên cứu như là một tác phẩm chữ nghĩa khoa học nhằm đi tìm câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu.

Đã là tác phẩm chữ nghĩa, thì cách viết đề cương nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng. Quan trọng là vì người đọc (có thể là nhà tài trợ, hay hội đồng xét duyệt) dựa vào đó mà quyết định cung cấp tài trợ hay không. Do đó, người viết (tức nhà khoa học) cần phải suy nghĩ rất cẩn thận, có hệ thống, và sử dụng ngôn ngữ cho chính xác. Nói thì có lẽ dễ, nhưng thực hành thì không dễ chút nào. Tài liệu này có mục đích khiêm tốn là chia sẻ cùng các bạn những kinh nghiệm về cách viết đề cương nghiên cứu y khoa sao cho thuyết phục và nâng cao xác suất được tài trợ.

Viết đề cương nghiên cứu khác với viết bài báo khoa học. Trước đây, tôi đã viết một loạt bài về cách viết một bài báo khoa học (có thể xem ở trang nguyenvantuan.net trong phần “Kĩ năng khác”). Nhưng phương pháp viết bài báo khoa học không thể áp dụng cho viết đề cương nghiên cứu. Những khác biệt chính là mục tiêu và thời gian tính. Mục tiêu của viết đề cương nghiên cứu là thuyết phục nhà tài trợ hay hội đồng xét duyệt rằng chúng ta có ý tưởng tốt, có cách tiếp cận hay, có phương tiện để thực hiện nghiên cứu. Mục tiêu của viết bài báo khoa học là để báo cáo những phát hiện rất cụ thể trong một nghiên cứu và những phát hiện này có ý nghĩa gì. Về thời gian tính, viết đề cương là phản ảnh về tương lai, còn viết bài báo khoa học là báo cáo những gì đã làm trong quá khứ. Viết đề cương mang tính hứa hẹn, nhưng hứa hẹn một cách khoa học (tức có bằng chứng), do đó rất khác với viết báo cáo khoa học thường mang tính biện minh và biện luận.

Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi thấy viết đề cương nghiên cứu cung cấp cho mình nhiều cơ hội rất hay. Thứ nhất là cơ hội để sắp xếp ý tưởng mình một cách có hệ thống, có trước, có sau. Những ý tưởng hỗn độn, khi được mô tả trên trang giấy sẽ làm cho chúng ta suy nghĩ logic hơn. Thứ hai, viết đề cương cũng là một cơ hội để cập nhật hoá thông tin, vì chúng ta cần phải tìm hiểu trong y văn xem các đồng nghiệp khác đã làm gì. Thứ ba, từ đó, viết đề cương nghiên cứu cũng có nghĩa là tìm đồng nghiệp mới. Nhìn nhận như thế, viết đề cương có nhiều lợi ích, chứ không phải chỉ là “vẽ vời” theo cách nói mỉa mai của người ngoài cuộc.

Viết đề cương (hay viết văn nói chung) là một cách suy nghĩ. Có lẽ chúng ta đều đồng ý rằng viết văn là một phương tiện để chia sẻ thông tin với những người quan tâm. Người quan tâm có thể là đồng nghiệp của mình, nhưng cũng có thể là người không cùng chuyên ngành. Nhưng tôi muốn nghĩ rằng viết văn cũng là một cách thức hoàn thiện ý tưởng, và hiểu theo cách đó, viết chính là một phương tiện hay một công cụ để suy nghĩ. Suy nghĩ cũng cần phải có phương tiện, và theo tôi viết xuống những câu chữ do mình lựa chọn chính là một phương tiện. Có lẽ chính vì thế mà Nhà văn [và cũng là bác sĩ] Verghese từng nói một câu bất hủ, “I write to understand what I think” (tôi viết để hiểu những gì tôi suy nghĩ). Tôi rất đồng ý với câu này.

Thế thì câu hỏi đặt ra là tiêu chuẩn gì để đánh giá cách viết đề cương nghiên cứu là “tốt” hay “dở”. Kinh nghiệm cá nhân tôi cho thấy có 5 tiêu chuẩn: trong sáng, đơn giản, chính xác, khách quan, và cấu trúc logic.

 Trong sáng có nghĩa là tránh những câu văn rườm rà, những từ khó hiểu. Nếu viết “Nồng độ insulin ở nhóm điều trị cao hơn” thì sẽ không rõ ràng, vì người đọc không biết cao hơn nhóm nào. Ngay cả cách viết “Nồng độ insulin ở nhóm điều trị cao hơn nhóm chứng” cũng có thể nói là chưa đạt, bởi vì câu văn đó hàm ý nói rằng tất cả bệnh nhân trong nhóm điều trị đều có nồng độ insulin cao hơn nhóm chứng – một tình huống rất khó xảy ra. Trong thực tế thì “Tính trung bình, nồng độ insulin ở nhóm điều trị cao hơn nhóm chứng” có lẽ rõ ràng hơn.

Văn phong khoa học rất khác với thơ. Tôi thường nói đùa [và hay lấy làm ví dụ] về câu thơ của một tác giả tôi rất mến mộ (Lê Đạt): Tôi tha thẩn giữa chùa Quán Ngữ / Lời chuộc tuổi mình nói thật khai sinh. Câu đó trích trong tập thơ Đường Chữ. Đó là một câu văn rất khó hiểu! Một thi sĩ khác tôi cũng rất ngưỡng mộ là Hoàng Cầm, người sáng tác thơ một cách siêu thoát. Ông có sáng tác bài Tình Cầm, trong đó có hai câu rất du dương: Nếu anh còn trẻ như năm cũ / Quyết đón em về sống với anh. Có thể nói đó là những câu thơ độc đáo, gieo vần tuyệt vời, âm điệu rất nhạc tính, nhưng nhà khoa học không thể viết như thế được. Nhà khoa học phải viết văn trong sáng. Chẳng hạn như nếu nói còn trẻ thì phải định lượng rõ ràng bao nhiêu tuổi là trẻ; nếu nói năm cũ thì phải nói năm nào; nếu nói về sống với anh thì phải nói sống ở đâu. Văn phong khoa học không thể chung chung được. Nhà khoa học không phải nhà thơ. Nhưng rất tiếc, nhiều khi tôi bắt gặp những câu rất thơ trong những bài báo khoa học từ đồng nghiệp Việt Nam. Một triết gia Đức từng phê bình người Á đông rằng chúng ta [người Á đông] hay lẫn lộn giữa thơ và khoa học!

 

Trong văn phong khoa học, một câu văn phải có thông tin. Câu văn không có thông tin là câu văn thừa. Ví dụ tiêu biểu cho câu văn không có thông tin là [hay thấy trong giới báo chí] “Công trình nghiên cứu có 2 mục tiêu.” vì đọc xong câu văn người đọc không có bất cứ một nội dung nào cả; người đọc kì vọng 2 mục tiêu đó là gì và tự hỏi tại sao tác giả không viết ra. Nhưng nếu viết “Công trình nghiên cứu có 2 mục tiêu: xác định ảnh hưởng của can thiệp, và xác định yếu tố nguy cơ” thì đó là một câu văn có thông tin. Thử đọc 2 câu:

Ngoài ba khía cạnh trên, chúng tôi còn phân tích vấn đề dựa trên lí thuyết văn hoá xã hội.

 

Ở đây, lại có nhiều khía cạnh khác.

Hai câu văn này có thể thích hợp cho báo chí, nhưng hoàn toàn thất bại trong khoa học! Nói cách khác, trong văn cảnh khoa học, một câu văn phải tồn tại một cách riêng lẻ (self-contained), có thông tin và có ý; đọc câu văn như thế người đọc không hẳn cần phải đọc câu trước.

Đơn gincó nghĩa làdùng từ ngữ dễ hiểu, chính xác, và câu văn ngắn. Trong tiếng Việt có những câu chữ rất dài để mô tả một ý, nhưng nếu đọc kĩ có thể viết ngắn gọn hơn. Thay vì dùng những danh từ gốc Hán, chúng ta nên cố gắng dùng những danh từ gốc Việt.

Chính xáclà định lượng hoá nội dung thông tin. Tránh những từ ngữ mù mờ. Tiếng Việt ta (và tiếng Anh cũng thế) có những chữ như khong, xấp xỉ, độ, gn, đa số, phần lớn, nói chung, v.v. không mang tính định lượng cao. Khoa học là cân đo đong đếm, nên cố gắng viết một cách định lượng. Khó biếtbao nhiêu là đa số, 80% hay 90% là đa số? Thay vì viết “Đa số bệnh nhân …”, chúng ta nên viết (nếu có số liệu) “80% bệnh nhân …” thì sẽ rõ ràng hơn. Trong khoa học không có chuyện “nói chung”. Viết đến đây tôi nhớ có lần ông Nguyễn Bá Thanh chất vấn một giám đốc sở giao thông vận tải thuộc Thành phố Đà Nẵng, và ông giám đốc trả lời “Thưa anh, nói chung là ….”, ông Thanh ngắt lời ngay: Nói riêng, chứ không nói chung. Hội trường cười xoà. Ông Nguyễn Bá Thanh đã áp dụng tiêu chuẩn khoa học vậy.

Khách quanlà cách viết phi cảm tính, và nhất là không “nhét chữ vào miệng người đọc”. Thay vì viết “Sự khác biệt rất có ý nghĩa lâm sàng”, thì nên viết “Sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng” rồi trích dẫn con số hay dữ liệu để người đọc phán xét. Khách quan cũng có nghĩa là tránh giả định (kiểu như Ai cũng biết rng …). Tuân theo nguyên tắc khách quan còn có nghĩa là tránh những câu văn không có chứng cứ.

Cu trúc logiclà phải cố gắng sắp xếp ý tưởng một cách có trước có sau, khúc chiết. Có một thống kê [tôi không còn giữ nguồn] cho rằng 85% những hiểu lầm là do cấu trúc đoạn văn, chỉ có 15% hiểu lầm là do nội dung. Do đó, có lẽ đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất trong cách viết đề cương. Bất cứ khái niệm gì mới cần phải có giải thích trước đó. Nếu một đoạn văn xuất hiện cụm từ “chất lượng cuộc sống” mà không được đề cập đến trong các đoạn văn trước là một cách viết rất … dở (thiếu tính khúc chiết).

Cấu trúc câu văn và đoạn văn để nhấn mạnh một chủ đề. Chúng ta thử đọc 4 câu văn sau đây:

  1. Mc dù thuc có hiu qu cao, nhưng cũng gây tác hi đáng k.
  2. Mc dù thuc gây tác hi đáng k, nhưng có hiu qu cao. 
  3. Thuc có tác hi đáng k, nhưng rt hiu quả. 
  4. Thuc có hiu qu cao, nhưng gây tác hi đáng k

Cái khác biệt chính giữa các câu văn có lẽ không phải nội dung, mà là vị trí nhấn mạnh ý tưởng. Câu hỏi đặt ra là trong một câu văn, cần nhấn mạnh phần nào: phần đầu, phần giữa, hay phần cuối? Các chuyên gia về viết văn khuyến cáo rằng nên dùng phần đầu để nhấn mạnh điểm chính yếu. (Cũng có chuyên gia đề nghị nên dùng phần cuối câu văn để nhấn mạnh). Nên mở đầu câu văn với một từ khoá, nếu chúng ta muốn người đọc chú ý đến chủ đề đó. Trong câu loãng xương là một vấn đề y tế quan trọng, ý tôi nhấn mạnh đến loãng xương. Tuy nhiên, nếu tôi viết Một trong những vấn đề y tế quan trọng nhất hiện nay là loãng xương, thì cũng nói lên cái ý đó, nhưng có lẽ người đọc sẽ hiểu rằng tôi đang nhấn mạnh đến khía cạnh y tế hơn là loãng xương.

Vị trí nhấn mạnh và cách dùng có khi làm cho người đọc hiểu khác. Trong một cuốn sách về cách soạn câu hỏi trong nghiên cứu khoa học, tác giả kể chuyện [vui] về 2 thầy tu, một người tu dòng Đa Minh (Dominican) và một người tu dòng Tên (Jesuit), thảo luận xung quanh vấn đề tội và hút thuốc lá trong khi cầu nguyện. Sau một lúc thảo luận hai người bất đồng ý kiến, và mỗi người đi hỏi bề trên của mình. Tuần thứ hai, họ gặp lại, và có cuộc đối thoại như sau:

Vị tu sĩ dòng Đa Minh hỏi vị tu sĩ dòng Tên: Thế bề trên của anh nói gì?

Vị tu sĩ dòng Tên: Ngài nói ok.

Tu sĩ dòng Đa Minh: Vui nhỉ! Bề trên của tôi nói rằng đó là một tội.

Tu sĩ dòng Tên: Thế anh hỏi bề trên của anh như thế nào?

Tu sĩ dòng Đa Minh: Tôi hỏi ngài rằng hút thuốc lá trong khi cầu nguyện có ok không?

Tu sĩ dòng Tên ồ lên rồi nói: Ah, còn tôi hỏi ngài rằng cầu nguyện trong khi hút thuốc lá có ok không.

Đó là một bài học đáng chú ý về cách đặt chữ vào vị trí thích hợp. Chỉ cần thay đổi thứ tự của chữ là có thể thay đổi ý nghĩa của câu văn, và làm cho người đọc có thể hiểu khác. Trong viết văn khoa học, tác giả không nên để cho người đọc hiểu hai nghĩa!

Ngoài ra, nên tránh cách viết “đánh trống bỏ dùi”. Đó là cách viết tuyên bố một chủ đề, nhưng những câu sau đó lại nói về chủ đề khác. Thử đọc đoạn văn:

Gãy cổ xương đùi là hậu quả hay gặp đứng hàng thứ 3 của loãng xương, bệnh có tỉ lệ tử vong và tàn phế cao, chất lượng sống của người bệnh giảm đáng kể ngay cả khi đã được điều trị đứng đắn. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi với tỉ lệ nữ:nam là 3:1.

 

Câu đầu của đoạn văn trích dẫn trên có 3 ý chính: sự phổ biến, hệ quả, và điều trị. Đọc xong câu văn đó, người đọc kì vọng tác giả sẽ “chứng minh” ba ý đó bằng dữ liệu ra sao. Nhưng câu thứ hai thì tác giả không cung cấp thêm thông tin để bổ nghĩa cho câu đầu, mà chuyển sang một ý khác. Đối với tác giả có kinh nghiệm, đoạn văn trên chưa đạt. Đó là chưa nói đến cách dùng chữ và ý nghĩa còn khá mù mờ (ví dụ: “đứng hàng thứ 3 của loãng xương” có nghĩa là gì). Trong văn phong khoa học, mỗi câu văn chỉ nói lên 1 ý mà thôi; tham vọng quá sẽ không chuyển tải hết ý nghĩa.
https://i0.wp.com/www.cartoonstock.com/newscartoons/cartoonists/cca/lowres/ccan251l.jpg

 

4. Nội dung một đề cương nghiên cứu

Một đề cương nghiên cứu bao gồm những gì? Trả lời câu hỏi này còn tuỳ thuộc vào “văn hoá” và qui định địa phương. Ở Việt Nam, những đề cương nghiên cứu thường có những đề mục sau đây:

  • Mục tiêu của đề tài;
  • Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài ;
  • Nội dung nghiên cứu;
  • Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề;
  • Hợp tác quốc tế (nếu có) ;
  • Tiến độ thực hiện;
  • Dạng kết quả dự kiến của đề tài;
  • Yêu cầu khoa học đối với những sản phẩm dự kiến tạo ra;
  • Kế hoạch triển khai;
  • Lợi ích mang lại và tác động của kết quả nghiên cứu;
  • Các tổ chức tham gia nghiên cứu; và
  • Kinh phí.

Những đề mục của một đề cương nghiên cứu trên đây không có vấn đề gì, nhưng cách tổ chức và sắp xếp thông tin thì hơi khác so với nước ngoài. Những đề mục như các tổ chức tham gia nghiên cứu, kinh phí là vấn đề hành chính, đáng lẽ phải trình bày trong một tài liệu riêng. Ở nước ngoài (cụ thể là Úc, Anh, Đức, Thái Lan, Mĩ, v.v., những nơi mà tôi có kinh nghiệm) thì nội dung một đề cương nghiên cứu thường đơn giản hơn Việt Nam. Ở những nước đó, một đề cương nghiên cứu bao gồm những phần sau đây:

  • Tóm lược (synopsis): giống như một tóm tắt cho một dự án nghiên cứu. Thường thường chỉ 1-2 trang giấy;
  • Mục tiêu cụ thể (specific aims);
  • Bối cảnh và tầm quan trọng (background & significance);
  • Kết quả nghiên cứu sơ khởi (preliminary results);
  • Kế hoạch nghiên cứu và phương pháp (research design and methods); và
  • Tài liệu tham khảo.

Tuy những đề mục của đề cương Việt Nam có vẻ hơi nhiều, nhưng số trang thường chỉ dao động trong khoảng 10 đến 20 trang. Ở nước ngoài, như NIH (Viện Y tế của Mĩ chuyên cấp tài trợ cho nghiên cứu y sinh học – và cũng là một trung tâm nghiên cứu) thì có qui định số trang rất rõ ràng. Một đề cương của NIH tối đa là 30 trang (hiện nay thì có thay đổi và giảm xuống còn 20 trang?) Tôi có làm một so sánh giữa một đề cương tiêu biểu của VN và của NIH thì thấy như sau:

So sánh số trang của một đề cương VN và NIH

 

Đề mục

Vit Nam

Mĩ (NIH)

Tổng quan tài liệu

10

2

Mục tiêu

1

1

Kết quả sơ khởi

0

6-8

Phương pháp

5

10-20

 

Nói cách khác, đề cương nghiên cứu của VN viết dài về bối cảnh và tổng quan tài liệu, nhưng rất ngắn về phương pháp. Ngược lại, ở nước ngoài (tiêu biểu là NIH của Mĩ), một đề cương nghiên cứu chủ yếu là phần phương pháp (rất dài) nhưng phần tổng quan tài liệu thì ngắn. Rất nhiều đề cương nghiên cứu từ VN mà tôi đọc qua, trong phần tổng quan tài liệu, tác giả viết dài nhưng chẳng liên quan gì đến chủ đề và mục tiêu nghiên cứu! Hầu như đề cương nghiên cứu y khoa nào cũng viết theo một công thức, trong đó có cả phác đồ điều trị, những định nghĩa rất căn bản về bệnh, những yếu tố nguy cơ (mà có lẽ ai trong ngành cũng biết). Có khi đề cương nghiên cứu tìm hiểu tỉ lệ mắc bệnh, nhưng tác giả phải điểm qua một cách khá dài dòng về phương pháp điều trị! Phần lớn những thông tin này thật ra là tác giả dịch từ sách giáo khoa, hoặc dịch từ những bài tổng quan trên các tập san ở nước ngoài (và không buồn sửa biểu đồ tiếng Anh hay ghi nguồn!) chứ tác giả cũng chưa hẳn am hiểu.

Một điểm khác biệt đáng chú ý là đề cương nghiên cứu ở nước ngoài phải có phần “Kết quả sơ khởi”, còn ở Việt Nam thì không có hoặc không yêu cầu. Ở Úc và Mĩ, một đề cương mà không có kết quả sơ khởi (hay những nghiên cứu trước đây cùng chủ đề mà nhà khoa học đã làm) thì không bao giờ được qua vòng đầu xét duyệt, rất rất khó có khả năng được tài trợ. Trong các phần sau đây, tôi sẽ trình bày cách viết 4 phần quan trọng nhất: mục tiêu, bối cảnh, nghiên cứu sơ khởi, và phương pháp nghiên cứu. Tôi sẽ cố gắng đưa vài ví dụ cụ thể từ những đề cương trước đây của tôi và của các đồng nghiệp khác. Vì bài này cũng nhắm đến các bạn nghiên cứu sinh đang hay sắp đi học nước ngoài, nên tôi cũng trình bày vài ví dụ bằng tiếng Anh để các bạn có thể tham khảo.

4.1 Phần mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là phần quan trọng của một đề cương nghiên cứu, vì đó là “bộ mặt” mà người đọc sẽ nhìn qua. Khi người đọc thấy mục tiêu nghiên cứu có cái gì mới hay thú vị thì họ sẽ đọc tiếp; nếu không, họ có thể xếp lại đề cương và thế là tác giả đã thất bại. Do đó, có thể xem phần mục tiêu nghiên cứu như là một cái test cho người đọc. Chỉ khi nào cái test này được qua thì tác giả mới thành công một phần trong việc thuyết phục người đọc.

Phần mục tiêu nghiên cứu nên được cấu trúc 3 phần như sau:

  • Một đoạn văn tổng quát về vấn đề chung;
  • Phát biểu về mục tiêu chung (tiếng Anh gọi là goal);
  • Phát biểu về mục tiêu chuyên biệt (specific aims), và mỗi mục tiêu nên kèm theo một giả thuyết.

Đoạn văn tổng quát phải nói được vấn đề lớn mà nhà nghiên cứu quan tâm. Đó là một đoạn văn mang tính holistic, hay bối cảnh nghiên cứu mà đề cương này sẽ đóng góp một phần tri thức.

Mục tiêu chung hay mục tiêu tổng quát là mục tiêu lâu dài mà nhà nghiên cứu muốn đạt được. Có thể nghiên cứu hiện nay chưa đạt được, nhưng sẽ đóng góp một phần trong định hướng giải quyết vấn đề về lâu về dài. Trong bóng đá, mục tiêu tối hậu và tổng quát là phá lưới; tương tự, trong nghiên cứu khoa học, mục tiêu tổng quát là nhắm đến giải quyết một vấn đề chung cho chuyên ngành.

Mục tiêu chuyên biệt là những tâm điểm cụ thể. Cụ thể hiểu theo nghĩa có thế đo lường được, có thể kiểm định được. Người viết đề cương kinh nghiệm thường viết mỗi mục tiêu chuyên biệt kèm theo một giả thuyết. Thỉnh thoảng, nếu có “đất”, nhà nghiên cứu nên kèm theo những kết quả dự kiến cho từng mục tiêu. Thông thường chỉ cần 2-3 mục tiêu chuyên biệt là đủ. Nhiều mục tiêu quá sẽ khó thực hiện; ít quá sẽ không đáp ứng tiêu chuẩn của một dự án nghiên cứu khoa học.

Trong thực tế, tôi đã từng thấy nhiều đề cương thất bại (kể cả của chính tôi) vì cách phát biểu mục tiêu chưa đạt. Những sai lầm phổ biến trong cách viết mục tiêu chuyên biệt bao gồm:

  • Mục tiêu phi thực tế, tức thiếu tính khả thi;
  • Mục tiêu không có lí do chính đáng (giống như từ “trên trời rơi xuống”);
  • Mục tiêu mang tính quá mô tả (như tìm hiểu bao nhiêu nam và nữ có hội chứng chuyển hoá);
  • Mục tiêu quá phức tạp, mà đọc lên người ta không hiểu tác giả muốn làm gì;
  • Mục tiêu quá phụ thuộc lẫn nhau (sẽ bàn dưới đây).

 

 

Ví dụ 1: Đây là trích dẫn đề cương nghiên cứu về loãng xương của một đồng nghiệp và có sự đồng ý của tác giả.

[Đoạn văn tổng quát để “dìu dắt” độc giả rằng đây là vấn đề quan trọng]: Loãng xương là một bệnh mà lực của xương bị suy giảm, chất lượng xương xuống cấp, và hệ quả là tăng nguy cơ gãy xương. Hệ quả của loãng xương là gãy xương. Chẩn đoán loãng xương dựa vào đo lường mật độ xương. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có giá trị tham chiếu cho việc chẩn đoán loãng xương.

[Mục tiêu tổng quát đáp ứng vấn đề chung]: Mục tiêu lâu dài của nghiên cứu này là phát triển tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương cho người Việt (nam và nữ) và xây dựng mô hình tiên lượng gãy xương. Hoàn thành mục tiêu này sẽ giúp cho việc chẩn đoán loãng xương chính xác hơn, và nhận dạng những cá nhân có nguy cơ gãy xương cao để can thiệp sớm và giảm qui mô loãng xương trong cộng đồng.

[Mục tiêu chuyên biệt] Để đạt được mục tiêu đó, chúng tôi đề nghị theo đuổi các mục tiêu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu 1: Xây dựng giá trị tham chiếu mật độ xương đùi và xương cột sống ở nam và nữ; và qua đó, xác định chỉ số T cho chẩn đoán loãng xương ở người Việt.
  • Giả thuyết 1: Mật độ xương ở người Việt thấp hơn mật độ xương ở người Âu Mĩ; do đó, chỉ số T của người Việt cũng khác với chỉ số T của Tổ chức Y tế Thế giới.
  • Kết quả kì vọng: Giá trị tham chiếu về mật độ xương (trung bình, độ lệch chuẩn, chỉ số T) có thể sử dụng cho việc chẩn đoán loãng xương ở nam và nữ Việt Nam.
  • Mục tiêu 2: Xác định tỉ lệ lưu hành loãng xương và gãy xương ở nam và nữ;
  • Giả thuyết 2: Nữ giới có nguy cơ loãng xương và gãy xương cao hơn nam giới, nhưng độ khác biệt sẽ giảm dần trong độ tuổi trên 70.
  • Kết quả kì vọng: Kết quả là tần số loãng xương và gãy xương theo giới và độ tuổi. Những kết quả này sẽ cung cấp chứng cứ về qui mô loãng xương và gãy xương ở người cao tuổi và sau mãn kinh (nữ).
  • Mục tiêu 3: Xác định yếu tố nguy cơ liên quan đến loãng xương và gãy xương, kể cả các markers chu chuyển xương, và qua đó phát triển mô hình tiên lượng loãng xương và gãy xương.
  • Giả thuyết 3: Marker chu chuyển xương tăng theo độ tuổi, và chu chuyển xương cao tương quan với sự suy giảm mật độ xương ở nam và nữ.
  • Kết quả kì vọng: Giá trị tham chiếu về marker chu chuyển xương, và mô hình tiên lượng gãy xương cho người Việt. Với mô hình này, các bác sĩ có thể ước tính nguy cơ gãy xương ngay cả trong điều kiện không có máy DXA.

Ví dụ 2: Trong ví dụ này, tác giả viết phần mục tiêu rất “bài bản”.

[Mở đầu là vấn đề chung]. Exposure to pathogenic microbial lipids, like lipopolysaccharide (LPS), triggers a complex and coordinated protective response by the immune system. A growing body of evidence indicates that triglyceride-rich lipoproteins and apolipoprotein E (apoE) play an integral role in host defense against bacterial infection. Yet, how these non- traditional elements of the immune system contribute to host immunocompetence is unclear. Published data indicate that apoE is protective against bacterial infection and injury. Accordingly, infusion of apoE has been shown to decrease LPS-induced morbidity and mortality in rodents. [2, 3] Also, apoE-deficient mice have an increased susceptibility to lethal infection when injected with live bacteria. [4, 5] But, unexpectedly, our laboratory has recently discovered that infusion of apoE increased rather than decreased mortality after cecal ligation and puncture, an in vivo model of polymicrobial sepsis. [1] We believe that this discordant observation highlights a novel activity for apoE in regulating the host response to pathogenic microbial lipid antigens through activation of thymus-derived lymphocytes (T cells). Consequently, uncovering the role that triglyceride-rich lipoproteins, apoE and T cells play in the mammalian response to infection simultaneously assigns important new biological functions to plasma lipoproteins, further blurs the boundary separating innate and adaptive immunity, and provides unique insights into the host response to infection that could yield innovative therapies for sepsis. [dùng gạch dòng để nhấn mạnh mục tiêu chung] This proposal will investigate how apoE and natural killer T (NKT) cells, a sub-population of T lymphocytes, contribute to the host response to severe sepsis following cecal ligation and puncture in mice. Furthermore, we will test the hypothesis that modifying the expression or activity of apoE can protect against sepsis.

[Phát biểu giả thuyết chung] Our working hypothesis that triglyceride-rich lipoproteins are integral components of the immune system is supported by the following observations. First, the synthesis and secretion of triglyceride-rich lipoproteins is dramatically increased during clinically significant infections, an observation termed “lipemia of sepsis.” Second, triglyceride-rich lipoproteins bind various microbial lipids and thus protect against shock and death in rodent models of sepsis. [6-9] Third, triglyceride-rich lipoproteins clear LPS from the circulation and deliver it to the liver [7, 10], where lipoprotein-LPS complexes subsequently modulate the hepatic immune response to infection. [11-14] And, fourth, apoE has recently been shown to bind and deliver microbial lipids to antigen-presenting cells, a critical step in activating NKT cells and the immune system.

[Phát biểu giả thuyết chuyên biệt] The specific hypothesis driving the proposed research is that apoE, a key constituent of triglyceride- rich lipoproteins, regulates the host response to severe infection through its effects on NKT cell activation and cytokine production. By examining the effect of apoE on an in vivo model of polymicrobial sepsis in mice, we aim to uncover the regulatory impact of apoE on the immune response to infection. Our long term goal is to identify how plasma lipoproteins contribute to host immunocompetence and apply this knowledge to the development of novel and effective treatments for severe bacterial infections.

[Mục tiêu chuyên biệt, dùng tô đậm để nhấn mạnh và gây chú ý. Trong mỗi mục tiêu, tác giả chỉ ra họ sẽ có kết quả gì] The specific aims of the proposal are therefore:

1. To demonstrate that serum apolipoprotein E (apoE) concentrations correlate with morbidity and mortality in a murine model of polymicrobial sepsis.

A. show that apoE increases mortality following cecal ligation and puncture (CLP) sepsis in mice in a dose-dependent manner;

B. show that apoE increases CLP-induced morbidity via changes in Th1 cytokine secretion, liver injury and bacterial clearance;

2. To demonstrate that apoE promotes the activation of natural killer T (NKT) cells during CLP-induced sepsis.

A. delineate the effect of apoE on NKT cell frequency, proliferation, cytokine expression and cytotoxic effector functions in the liver, spleen and thymus following CLP in mice;

B. show that apoE-mediated immune regulation during sepsis is dependent on NKT cell activation using

immunodeficient mice;

3. To test the hypothesis that inhibition of apoE activity protects against the morbidity and mortality of sepsis.

A. show that the biochemical, immunologic or genetic inhibition of apoE activity protects against sepsis;

B. examine the effect of modifying apoE activity during the early versus late phase of sepsis.

Ví dụ 3: Đây là một đề cương nghiên cứu lâm sàng ở Mĩ. Tác giả có cách viết cô đọng hơn. Mở đầu, tác giả mô tả một cách ngắn gọn về nội dung của nghiên cứu. Sau đó, tác giả phát biểu mục tiêu chính (primary aim) và mục tiêu phụ (secondary aim).

[Mở đầu, mô tả ngắn gọn về công trình IRIS và giả thuyết] The Insulin Resistance Intervention after Stroke Trial (IRIS) is a randomized, double-blind, placebo-controlled trial that will test the hypothesis that reducing insulin resistance and its sequelae with thiazolidinedione therapy will prevent stroke and myocardial infarction among patients with a recent ischemic stroke. Eligible subjects are men and women over 44 years of age without diabetes mellitis who have insulin resistance and a non- disabling ischemic stroke. During 3 years of recruitment, 3136 patients will be randomly assigned to pioglitazone, a thiazolidinectone, or placebo.

[Mục tiêu chuyên biệt] The specific aims are as follows. 1. Primary Aim. To determine if pioglitazone, compared to placebo, will reduce the overall risk for fatal or non-fatal stroke or fatal or non-fatal MI among non-diabetic men and women over age 44 years with insulin resistance and a recent ischemic stroke.

Among diabetics with insulin resistance, we hypothesize that pioglitazone will reduce the occurrence of any primary endpoint (fatal or non-fatal stroke or MI) within four years from 27% to 22%. The basis of this hypothesis is research showing… (details about studies associating insulin resistance with increased risk for stroke, MI, etc.)…By these and other mechanisms, we hypothesize that pioglitazone will protect patients with ischemic stroke and insulin resistance against recurrent vascular events.

 

Trong các ví dụ trên đây, dễ dàng thấy rằng các mục tiêu chuyên biệt tuy nhắm đến một mục tiêu tổng quát, nhưng không lệ thuộc vào nhau. Đây là một chiến lược trong việc soạn đề cương nghiên cứu. Nếu mục tiêu 2 tuỳ thuộc vào sự thành bại của mục tiêu 1, và mục tiêu 3 phụ thuộc vào kết quả của mục tiêu 2, thì đề án sẽ rất … nguy hiểm. Nguy hiểm là vì nếu mục tiêu trước thất bại, thì tất cả các mục tiêu khác đều không thể thành hiện thực, và do đó, công trình nghiên cứu sẽ không khả thi. Bài học ở đây là cần phải thiết kế nghiên cứu sau cho các mục tiêu chuyên biệt ít phụ thuộc vào nhau.

 

4.2 Phần bối cảnh và tầm quan trọng

Phần bối cảnh và tầm quan trọng, như tên gọi, có chức năng “dàn dựng sân khấu” cho công trình nghiên cứu. Không chỉ dàn dựng, mà còn phải nói lên được tầm quan trọng của công trình nghiên cứu. Không ai muốn đầu tư vào những công trình nghiên cứu không gây ảnh hưởng hay tác động tích cực. Có 2 phần chính là bối cảnh (background) và tầm quan trọng (significance):

Trong phần bối cảnh, tác giả cần phải viết theo phong cách kể chuyện. Nhưng kể chuyện một cách khoa học, sao cho đồng nghiệp không cùng chuyên ngành vẫn có thể hiểu được vấn đề. Mỗi một mục tiêu chuyên biệt trong phần đầu cần phải được lí giải trong phần bối cảnh. Phải viết và thuyết phục người đọc sẽ đọc tiếp, và muốn đạt mục đích đó, tác giả cần phải viết theo công thức chung:

Cái gì đã biết –> cái gì chưa biết –> câu hỏi

Known –> unknown –> question

 

Nói cách khác, tác giả phải điểm qua những nghiên cứu trước (đã biết), và chỉ ra cho được khoảng trống tri thức (chưa biết), để đặt thành câu hỏi cho nghiên cứu. Ví dụ chúng ta đã biết tình trạng thiếu vitamin D ở các tỉnh miền Nam, nhưng vì miền Bắc có thời tiết khí hậu khác và chưa ai biết tần số thiếu vitamin D ngoài Bắc, nên câu hỏi là tỉ lệ thiếu hụt vitamin D ở cư dân phía Bắc là bao nhiêu.

Về cách viết, không chỉ đơn giản liệt kê những nghiên cứu trước, mà phải dùng “phương pháp 4C”. Phương pháp này viết tắt từ 4 động từ:

  • Compare – so sánh: tác giả cần phải so sánh những thông tin từ những nghiên cứu trước;
  • Contrast – đối chiếu: sau đó đối chiếu và giải thích tại sao có sự khác biệt;
  • Cite – trích dẫn: điều bắt buộc là nếu dùng dữ liệu của đồng nghiệp thì phải trích dẫn; và
  • Critique – phê bình: “Phê bình” ở đây có nghĩa là phê bình một cách kính trọng, chứ không mang tính đánh đổ đồng nghiệp. Cách viết hay nhất là thay vì phê phán, tác giả có thể trình bày một cách hiểu, cách diễn giải khác để xem như là một cách đóng góp vào y văn.

 

Trong phần tầm quan trọng (significance), tác giả cần phải “giải trình” rằng công trình nghiên cứu sẽ có tác động đến:

  • Chuyên ngành;
  • Chính sách y tế hay thực hành lâm sàng;
  • Phương pháp mới; và
  • Tri thức sẽ rút ra được từ công trình nghiên cứu.

Phần tầm quan trọng có khi phải dùng đến kĩ thuật “pitch” (lên giọng). Nói cách khác, cần viết sao cho người khác có thể trích dẫn một câu từ đề cương. Chẳng hạn như nếu là nghiên cứu về di truyền, tôi có thể viết

The studies in this proposal will provide a basis for understanding allelic heterogeneity influencing clinical endpoints, ultimately impacting on disease development” (những nghiên cứu mô tả trong đề cương này sẽ cung cấp nền tảng để hiểu biết về sự đa dạng alen có ảnh hưởng đến kết cục lâm sàng, và sau cùng là tác động đến sự tiến triển của bệnh).

Một câu như thế đối với vài đồng nghiệp ở Việt Nam sẽ gọi là “nổ”, nhưng ở nước ngoài thì hoàn toàn có thể chấp nhận được. Vấn đề còn tuỳ thuộc vào vị trí của tác giả và uy tín trong chuyên ngành. Nghiên cứu sinh có lẽ không nên viết khiêm tốn hơn, nhưng với người đã có “tên tuổi” thì một câu pitch như thế hoàn toàn bình thường. Nên nhớ rằng viết đề cương là một cách bán ý tưởng, nên tác giả cần phải thuyết phục tầm quan trọng của nghiên cứu.

Ví dụ 4: Trong đề cương cứu dưới đây, tác giả muốn thuyết phục người đọc về tầm quan trọng của công trình nghiên cứu:

Loãng xương và gãy xương là một vấn đề y tế cộng đồng lớn ở nước ta, vì hàng năm có khoảng 200.000 người gãy xương, dẫn đến giảm tuổi thọ và hạn chế lao động. Mật độ xương là một chỉ số lâm sàng quan trọng vì MĐX có thể tiên lượng nguy cơ gãy xương cho một cá nhân. Vì thế, MĐX còn được sử dụng để chẩn đoán loãng xương.

Công trình nghiên cứu này có mục tiêu xây dựng giá trị tham chiếu MĐX cho phụ nữ và đàn ông Việt Nam. Với giá trị tham chiếu này, việc chẩn đoán loãng xương ở người Việt sẽ chính xác hơn và qua đó chúng ta có thể biết được qui mô loãng xương ở nước ta.

Do đó, công trình nghiên cứu mang tính cấp thiết, vì sự hiện diện của máy DXA nhiều ở nước ta nhưng chưa có giá trị tham chiếu cho người Việt. Vì thế, kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn, có thể áp dụng ngay cho việc chẩn đoán loãng xương. Ý nghĩa lý luận của công trình nghiên cứu là cung cấp những thông tin khoa học cho việc hoạch định các chiến lược phòng chống bệnh loãng xương ở qui mô cộng đồng.

 

Ví dụ 5: Trong đề cương dưới đây, tác giả viết ngắn gọn về bối cảnh và tầm quan trọng nghiên cứu, bằng cách dùng các tiêu đề nhỏ để nhấn mạnh từng điểm:

Why Study Square Cell Disease in the Kidney?

Renal dysfunction commonly complicates square cell disease and is a major cause of morbidity and mortality. Acute Renal Syndrome is the leading cause of death in square cell disease and commonly leads to acute renal failure (58), while chronic uremia, filtration insufficiency, and renal vascular disease occur in 20-60% of adults with square cell disease (46, 54). Despite its clinical importance, the kidney has rarely been the focus of basic research in square cell disease. Current understanding of square cell pathophysiology derives from studies performed in other organs or in vitro. Because mechanisms of vaso-occlusion and inflammation in the kidney are likely to be different from those in other organs, there is a critical need for basic research on square cell disease that focuses on the kidney.

Physiological Determinants of Vaso-occlusion in the Kidney

Research on renal vaso-occlusion is limited to two studies that suggest severe medullary hypertonia causes sequestration of SQ RBCs in the kidney (3, 17). These studies did not adequately assess effects of modest tubular hypertonia and no study has evaluated the importance of mixed arterial hypertonia or inflammation to renal vaso-occlusion. In Specific Aim 1, we adapt the isolated rat kidney model used in these original studies (3, 17) to determine effects of tubular hypertonia, and mixed arteriolar hypertonia and renal inflammation on kidney micro vaso-occlusion…etc.

Summary and Clinical Significance

Studies performed in vitro and in other organs have given important insights into the pathophysiology of square cell disease, but have not yet defined the important pathophysiology in the kidney. The studies we propose will attack the problem directly using sensitive and specific techniques. These studies will lay the experimental foundation for understanding square cell disease crises in the kidney. The importance of these studies to the affected population cannot be exaggerated.

 

 

4.3 Phần nghiên cứu sơ khởi

Đề cương nghiên cứu ở Việt Nam thường không có phần này! Nhưng đối với các cơ quan tài trợ nghiên cứu khoa học nước ngoài thì đây là phần không thể thiếu được. Tuy nói là “nghiên cứu sơ khởi”, nhưng trong thực tế thì những nghiên cứu như thế đã công bố trên các tập san quốc tế. Đây là những nghiên cứu làm nền tảng để tác giả làm cơ sở cho câu hỏi nghiên cứu và phát biểu giả thuyết.

Phần kết quả sơ khởi còn có mục đích quan trọng khác là thuyết phục người đọc rằng tác giả có kinh nghiệm. Qua phần nghiên cứu sơ khởi, người đọc có thể đánh giá tác giả hay nhóm nghiên cứu đã có sẵn kĩ thuật, phương pháp, hay công nghệ cần thiết để thực hiện công trình nghiên cứu. Có lẽ quan trọng hơn là cơ quan tài trợ cảm thấy thuyết phục rằng tác giả có thể thực hiện nghiên cứu (họ đã an tâm để “chọn mặt gửi vàng”!) Thông thường, phần này chiếm khoảng 6-8 trang giấy, và như nói trên, tác giả có thể đưa vào đó những công trình nghiên cứu liên quan đã công bố trước đây.

Ví dụ 5: Một cách trình bày hữu hiệu phần kết quả sơ khởi là trình bày theo từng mục tiêu chuyên biệt. Trong ví dụ dưới đây, tác giả trình bày

Preliminary Data

This proposal is a collaboration between the PI and Dr. Barry Hurlburt in the Department of Biochemistry and Molecular Biology. The collaboration takes advantage of the expertise of the PI in the molecular genetics of S. aureus and the biochemical expertise of Dr. Hurlburt in transcription factor structure and function (14,15). The overall goals are 1) correlation of the expression of the sarA, sarB and sarC transcripts with the production and activity of SarA, 2) characterization of the mechanism by which sar regulates expression of the S. aureus collagen adhesin gene (cna) and 3) identification and characterization of additional S. aureus genes under the direct regulatory control of SarA. We have assembled all of the experimental tools required to accomplish these objectives. Specifically, we have (i) purified SarA in a form capable of binding an appropriate DNA target, (ii) generated an affinity-purified antibody against purified SarA, (iii) constructed a xylE reporter plasmid that can be used to assess the functional activity of SarA (Specific Aim #1) and define the sequence characteristics required for the regulation of cna transcription (Specific Aim #2), (iv) cloned the regions encoding the sarA, sarB and sarC transcripts for use in complementation experiments, (v) demonstrated that SarA binds a DNA target upstream of cna and begun the process of localizing the SarA binding site and (vi) obtained or generated sar and agr mutants in both cna-positive and cna-negative S. aureus strains. The experiments done to accomplish each of these tasks are described in detail below. 

Preliminary data for Aim #1. Cloning and expression of sarA. The polymerase chain reaction (PCR) was used to amplify the sarA coding region from S. aureus strain RN6390. Utilizing NdeI and BamHI restriction sites incorporated into the oligonucleotide primers, the fragment containing the sarA coding region was cloned into the E. coli expression vector pET9A. Because the NdeI site (CATATG) in the vector overlaps an ATG start codon, cloning of the sarA coding region into the NdeI site places the sarA structural gene in perfect register with the vector-derived ribosome binding site. Recombinant proteins are therefore expressed as full-length, wild type proteins without fusions to exogenous peptide or protein tags. After cloning the sarA PCR fragment into pET9A and confirming the identity of the cloned fragment by DNA sequencing (data not shown), the recombinant plasmid (pETSarA) was used to transform E. coli strain BL21(DE3)pLysS. Transformants were grown to mid-log phase before inducing SarA expression by adding IPTG to a final concentration of 0.4 mM. After two hours, cells were harvested and lysed by sonication. The presence of SarA in the crude lysate was confirmed by SDS-PAGE followed by Coomassie Brilliant Blue staining (Fig. 7).

Preliminary data for Aim #2. Purification of SarA. A 500 ml culture of the BL21(DE3)pLysS E. coli strain containing pETSarA was induced and lysed as described above. After removing the insoluble material in the crude lysate by centrifugation, the soluble fraction was subjected to a series of ammonium sulfate precipitations culminating at 70% saturation. The pellet from each precipitation was resuspended in SDS-PAGE buffer and examined along with an aliquot of the supernatant (Fig. 8, left). The supernatant remaining after the final precipitation was found to contain ~70% SarA.

 

 

4.4 Phần phương pháp (reseach approach)

Sau phần Mục tiêu, Bối cảnh & tầm quan trọng, Nghiên cứu sơ khởi, là phần Phương pháp. Đây là phần dài nhất vì chi tiết nhất so với 2 phần trước. Mục đích của phần Phương pháp là thuyết phục người đọc rằng nhà nghiên cứu:

  • Có kế hoạch tốt để kiểm định giả thuyết đặt ra trong phần Mục tiêu;
  • Có kiến thức, kĩ năng, và phương tiện để thực hiện công trình nghiên cứu;
  • Đã nghĩ đến những tình huống xấu sẽ gặp phải và đã có kế hoạch đối phó; và
  • Diễn giải kết quả dự kiến một cách khách quan.

Nên nhớ rằng trong phần phương pháp, tác giả phải dự kiến tình huống bất lợi sẽ xảy ra trong khi thực hiện nghiên cứu. Không một nghiên cứu nào đều được tiến hành một cách “thuận bườm xuôi gió” cả. Bất cứ nghiên cứu nào cũng có vài trục trặc, không lớn thì nhỏ, và có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu. Chẳng hạn như trong nghiên cứu về loãng xương, có thể nhà nghiên cứu sẽ gặp khó khăn nếu máy DXA hư hỏng, hoặc bệnh viện thay đổi kĩ thuật viên, hoặc các mẫu sinh phẩm bị nhiễm gây khó khăn cho phân tích sinh hoá, hoặc các bệnh nhân từ chối tham gia, v.v. Tất cả những tình huống này phải được chú ý đến trước khi tiến hành nghiên cứu. Do đó, nhà nghiên cứu có kinh nghiệm phải suy nghĩ đến tình huống xấu và có kế hoạch đối phó.

Cách viết hiệu quả nhất cho phần phương pháp là viết cho từng mục tiêu. Nếu đề cương có 3 mục tiêu chuyên biệt, phần phương pháp phải có 3 phương pháp tương thích. Cấu trúc phần phương pháp có thể là:

D. Kế hoch thí nghim

D.1 Kế hoch cho mc tiêu 1  

D.1.1 Thiết kế, lí do, tầm quan trọng

D.1.2 Phương pháp cho mục tiêu 1

D.1.2.1 Cái mới

D.1.2.2 Hạn chế

D.1.2.3 Khó khăn có thể tiên đoán trước

D.1.2.4 Kế hoạch để khắc phục

D.1.2.5 Hệ quả

D.1.3 Phân tích dữ liệu

D.1.4 Diễn giải kết quả tiên đoán trước

D.2 Kế hoch cho mc tiêu 2

[…]  

D.3 Kế hoch cho mc tiêu 3

[…]

 

Ví dụ 6: Trong đề cương dưới đây, tác giả mô tả phần phương pháp có thể nói là rất đầy đủ. Người đọc gần như biết chính xác từng bước tác giả sắp làm gì, tại sao làm, làm như thế nào, và kết quả dự kiến ra sao.

 

Research Design and Methods:

The first specific aim of this grant application is to use the HFIM system to show that monotherapy with amantadine or oseltamivir carboxylate will lead to the emergence of resistance in influenza virusinfected cells and to demonstrate that the resistant viruses produced in the HFIM system under these conditions have the same mutations as those that emerge when people are treated with these drugs. In the second specific aim, we will use the HFIM system to optimize the dose and schedule of administration of current antiviral compounds effective against influenza viruses, delivered as monotherapy, to minimize the emergence of resistance. Finally, in the third specific aim we will determine the optimal dose and administration schedule of these anti-influenza virus drugs administered in combination therapy to prevent virus infection and the emergence of resistance.

Specific Aim #1. Validate the HFIM as a model experimental system for influenza virus infection and the generation of drug resistant mutants.

A. Introduction. Treatment of patients infected with type A influenza viruses with amantadine/rimantadine is known to lead to the rapid emergence of resistant viruses in the treated population (1-3). Treatment of patients with influenza with the neuraminidase inhibitors, oseltamivir carboxylate or zanamivir, usually does not lead to the emergence of resistant viruses (48). However, recent data have shown that treatment of children with influenza with oseltamivir carboxylate has led to the emergence of neuraminidase inhibitor-resistant influenza viruses (4-6). Data presented in the preliminary results section of this grant application showed that treatment of MDCK cells infected with a clinical isolate of influenza A virus in the HFIM system with amantadine can lead to the emergence of resistant viruses within two to three days of initiation of treatment. Phenotypic, but not genotypic, resistance was demonstrated when influenza virus-infected MDCK cells were treated with the D-tartrate salt of oseltamivir carboxylate in the HFIM system. The purpose of this portion of the grant application is to confirm these observations with A/Albany/1/98 influenza virus and to expand that observation for amantadine to additional influenza A viruses and for oseltamivir carboxylate to additional influenza A and B viruses.

B. Experimental Design. We will examine the effect of amantadine and oseltamivir carboxylate on the replication of wild type rgA/Vietnam/1203/2004xA/PR/8/34 (a surrogate for avian H5N1 influenza virus), A/Texas/36/91(H1N1), A/Sydney/5/97(H3N2), and A/Victoria/3/75(H3N2) in the HFIM system. For comparison, we will also include our original clinical isolate, A/Albany/1/98(H3N2), to be certain that our original observations are reproducible for amantadine and oseltamivir carboxylate. Oseltamivir carboxylate will be tested against B/Lee/40 and B/Memphis/20/96 viruses. […]

C. Expected results. Resistance will emerge under monotherapy. Amantadine resistant strains will have mutations in the M2 gene (residues 26, 27, 30, 31); neuraminidase inhibitor resistant strains will have mutations in the NA gene (residues 274 and 292) and/or HA genes (multiple residues).

D. Potential problems. It is often difficult to generate mutations in vitro in the neuraminidase genes in the presence of neuraminidase inhibitors that resemble the mutations identified in the clinic. This may be due to the use of MDCK cells which have inappropriate cell surface receptors for influenza viruses. To address this potential problem, we will use a variety of other cell lines which more closely reflect the surface characteristic of lung epithelial cells such as A549 pulmonary alveolar epithelial cells (82), St Jude porcine lung (SJPL) cells (83), ST6Gal I cells (84) or SIATI cells (85) which express cell surface receptors with more terminal sialic acid, and Mink lung cells (86) to perform these dose ranging studies aimed at producing resistant viruses in the HFIM system. It is expected that by using the appropriate cell lines, resistant strains will be produced that more accurately reflect the neuraminidase inhibitor-resistant strains that have been identified in the clinic.

E. Time frame. If this grant application is funded we will be able to purchase 4 additional duet pumps for the hollow fiber experiments thus doubling our capacity to perform these experiments. We plan to perform dose ranging experiments for amantadine and oseltamivir carboxylate on A/Victoria/3/75, A/Texas/36/91, rgA/Vietnam/1203/2004xA/PR/8/34, and A/Albany/1/98 and oseltamivir carboxylate for B/Lee/40 and B/Memphis/20/96 in the HFIM system. Each experiment will be repeated at least 1 time. One hollow fiber experiment takes approximately two weeks to perform from setup to take down. Analysis of virus yield (plaque assay, TCID50 assay and real time quantitative PCR) will take an additional two weeks. Therefore, each experiment, including a repeat, will take approximately 2 months. We plan to study at least the four type A and two type B viruses listed above for two drugs for a total of 24 hollow fiber experiments. Since we can study two viruses at a time for one drug or one virus for two drugs, Specific Aim 1 will take at least one year to complete.

 

Đề cương nghiên cứu được viết cho đối tượng là đồng nghiệp, nhưng là người đóng vai trò bình duyệt. Câu hỏi đặt ra là người bình duyệt kì vọng gì khi đọc một đề cương nghiên cứu. Biết được kì vọng của họ cũng là biết cách để đáp ứng. Tôi đặt mình vào vai trò người duyệt đề cương, và tôi sẽ kì vọng những điều qua những câu hỏi sau đây mà tôi muốn tìm câu hỏi:

  • Ý tưởng thú vị, cách tân, có thể đóng góp cho chuyên ngành hay không?
  • Dữ liệu sơ khởi có đủ “mạnh” hay đủ thuyết phục để tác giả tiến hành nghiên cứu này?
  • Cách tiếp cận vấn đề của tác giả có khả thi không?
  • Chứng cứ về khả năng và thành tựu của tác giả ra sao? Trong yếu tố này, tôi muốn xem qua thành tích trong thời gian 5 năm gần đây;
  • Đề cương được soạn một cách rõ ràng, logic, và đủ chi tiết hay không?
  • Cách viết trong sáng và gọn (vì điều này phản ảnh tư duy của tác giả).

Nghiên cứu khoa học đòi hỏi suy nghĩ và tính tỉ mỉ. Khoa học không chấp nhận suy nghĩ hời hợt. Những suy nghĩ mù mờ (muddle thinking) là yếu tố cho sự thất bại. Do đó, trước khi dấn thân vào nghiên cứu, các bạn nên tự vấn để quyết định. Sau đây là 15 câu hỏi mà các bạn nên tự trả lời và quyết định:

  1. Lĩnh vực nghiên cứu này có quan trọng để tiêu thì giờ?
  2. Ý tưởng nghiên cứu có thể mở rộng và đóng góp vào sự nghiệp?
  3. Bộ môn tôi đang làm việc có phù hợp với ý tưởng của tôi?
  4. Ý tưởng có phản ảnh suy nghĩ của đồng nghiệp hiện nay?
  5. Tôi đã am hiểu về y văn trong lĩnh vực này, và lĩnh vực nào cần khai thác hay tìm hiểu thêm?
  6. Nghiên cứu của tôi có thể lấp vào khoảng trống tri thức?
  7. Đã có nhiều nghiên cứu về đề tài chưa, và tôi có đóng góp gì thêm?
  8. Thời điểm thích hợp cho nghiên cứu?
  9. Nghiên cứu của tôi có gây tác động trong chuyên ngành?
  10. Trình độ chuyên môn của tôi có phù hợp với mục tiêu?
  11. Tôi có kĩ năng cần thiết cho nghiên cứu?
  12. Tôi có thì giờ để theo đuổi dự án?
  13. Tôi quyết tâm vào dự án?
  14. Tôi có phương tiện trong tay để thực hiện?
  15. Tôi có đồng nghiệp có chuyên môn để hợp tác?

 

Tóm lại, viết đề cương nghiên cứu là một kĩ năng rất quan trọng của một nhà khoa học. Xin nhấn mạnh là “rất quan trọng” (chứ không phải “quan trọng”). Ở các nước phương Tây, khi một nhà khoa học có khả năng viết một đề cương nghiên cứu, thì đó là một chứng cứ về sự trưởng thành của nhà khoa học, và là một nấc thang để nhà khoa học trở nên độc lập.

Trước khi kết thúc, tôi muốn kể các bạn một câu chuyện vui nhưng hoàn toàn có thật. Hôm nọ, gặp anh bạn [già] đồng nghiệp ở Melbourne, tôi hỏi anh dạo này ra sao, anh thở dài nói Thì vẫn chiến đấu với đề cương nghiên cứu. Anh hỏi tôi, và tôi cũng nói cùng số phận. Anh ấy cười nói sau khi xong cái bull fighting này chúng ta sẽ hợp tác trong một dự án rất hào hứng. Anh bạn tôi xem việc viết viết đề cương nghiên cứu để có tài trợ như là một cuộc đấu bò; tôi và anh ấy cùng lên đấu trường.  Có thể cả hai đều thất bại, cũng có thể cả hai đều thành công, hoặc chỉ một trong hai thành công. Xin tài trợ quả thật là một cuốc đấu tranh.  Không chỉ đấu tranh trên “mặt trận” ý tưởng, mà còn mặt trận chữ nghĩa! Có chữ là một chuyện, nhưng dùng chữ  sao cho thuyết phục là một kĩ năng có ý nghĩa sống còn trong cuộc đấu tranh xin tài trợ.

Xin nhắc lại rằng đề cương nghiên cứu không phải là khoa học, mà là một cách tiếp thị khoa học. Tiếp thị bằng chữ nghĩa. Ghi nhớ điểm quan trọng này để viết đề cương sao cho thuyết phục (chứ không phải để “khoe”) và tăng xác suất được tài trợ. Chúc các bạn may mắn!

N.V.T

Chú thích:

1. Đây là bài tôi viết lại từ workshop về viết đề cương nghiên cứu được thực hiện ở Đại học Quốc gia TPHCM (VNU) vào năm 2011. Trong workshop thì chỉ có những slides, chứ chưa có bài viết chi tiết, và bài này là một bài “tài liệu đọc thêm” cho các bạn. Tôi muốn nhân cơ hội này bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng nghiệp VNU, đặc biệt là Trung tâm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (nay là Viện đào tạo quốc tế), đã tạo điều kiện thực hiện workshop, mà theo các học viên là đã giúp ích cho họ nhiều. Một số còn “khoe” đã xin được tài trợ và học bổng nước ngoài. Xin cám ơn các bạn học viên.

2. Các bạn có thể copy và phân phối bài này cho các bạn khác (nếu cần). Nhưng tôi chỉ mong muốn một điều: ghi nguồn. Có nhiều khi tôi thấy một số không ít bài viết và dữ liệu của mình được sử dụng trong các hội nghị (và cả trên những trang báo) mà tác giả không ghi nguồn, và điều này làm tôi thấy … hơi buồn. Công sức bỏ ra rất nhiều, thu thập dữ liệu, sưu tầm những ca thú vị, rồi rút ruột và lao tâm để soạn, mà người ta sử dụng một cách “vô tư”, không có đến một chữ ghi nhận chứ chưa nói gì đến cám ơn. Nói thế thôi, chứ nếu các bạn sử dụng và có kết quả tích cực là tôi vui rồi (không cần cám ơn đâu).

3. Ngày 1/10 và 2/10 này, nhân một chuyến công tác ở Hà Nội, tôi sẽ nói về cách viết đề cương nghiên cứu ở Bệnh viện Đà Nẵng. Tôi sẽ có 6 bài giảng liên quan đến những vấn đề bàn trong bài này. Nếu các bạn có dịp tham dự thì chắc vui lắm, vì có nhiều cơ hội để thảo luận thêm. Bài này thật sự được soạn cho các học viên Đà Nẵng, và soạn trong một thời gian rất ngắn (chỉ 4 tiếng đồng hồ). Vì quá vội, nên chắc còn nhiều thiếu sót. Nếu các bạn phát hiện sai sót, xin gửi thư cho tôi biết và chỉnh sửa sau này. Tôi hi vọng sẽ có dịp quay lại bổ sung nhiều chi tiết hơn, đặc biệt là ví dụ từ VN (từ các bạn).

https://i0.wp.com/www.mchumor.com/00images/3304_grant_cartoon.gif

 
 

Nghiên Cứu Biển Đông: Tin tuần từ 17/9-23/9 – NCBĐ

24 Th9

Tin tuần từ 17/9-23/9

dinh tuan anh

-(Vnplus 21/9) “Tôn trọng, thực hiện hiệu quả DOC, tiến tới COC”: Ngày 20/9, tại Jakarta đã diễn ra hội thảo quốc tế “Hòa bình, ổn định tại Biển Đông và châu Á – Thái Bình Dương: Sự đoàn kết của ASEAN và can dự của các nước lớn tại khu vực”; (TP 21/9) Tranh chấp trên biển Đông phá tính bền vững nghề cá

-(TN 21/9) Thủ tướng Nhật “tính toán sai” về phản ứng của Trung Quốc: “Tôi biết việc quốc hữu hóa sẽ gây ra phản ứng và căng thẳng ở một chừng mực nào đó song quy mô của nó lớn hơn dự kiến”, ông Noda nói; (VOV 21/9)Nhật muốn đàm phán với Trung Quốc tại New York

-(Vnexpress 21/9) Mỹ, Philippines sắp tập trận hải quân: Hải quân hai nước đồng minh Mỹ và Philippines sẽ tổ chức một cuộc tập trận chung vào tháng tới, trong bối cảnh Washington nỗ lực tăng cường hiện diện ở châu Á-Thái Bình dương; (Petrotimes 21/9) Philippines cử đặc phái viên đến gặp Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

-(Bdv 21/9) Giải quyết tranh chấp biển Đông bằng ‘kênh’ mới: Giới lập pháp ASEAN đang cân nhắc việc thành lập một nhóm cố vấn bao gồm các đại biểu quốc hội cao cấp của các nước thành viên nhằm tạo ra các kênh chính trị mới giúp giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông; (Sgtt 21/9) Chơi trò “một nền ngoại giao uy hiếp”

-(Pltp 21/9) Philippines dàn xếp với Trung Quốc về biển Đông: Người phát ngôn tổng thống Philippines thông báo Bộ Ngoại giao đang sắp xếp cuộc gặp giữa Bộ trưởng Nội vụ Mar Roxas và Phó Chủ tịch Tập Cận Bình để thảo luận về vấn đề biển Đông; (Infonet 21/9) Chính phủ mới của Nhật sẽ ‘mạnh tay’ với Trung Quốc?

-(Vnexpress 20/9) Công ty Trung Quốc xâm phạm Hoàng Sa: Hai công ty của Trung Quốc đăng ký hoạt động tại cái gọi là thành phố Tam Sa, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Tập Cận Bình gọi việc mua đảo của Nhật là ‘trò hề’

-(RFI 20/9) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm căn cứ hải quân Thanh Đảo – Trung Quốc: Đây là lần đầu tiên một bộ trưởng quốc phòng Mỹ tới thăm căn cứ hải quân chiến lược này; Tranh chấp biển đảo: Philippines cử «phái viên» gặp lãnh đạo Trung Quốc

-(Vnplus 20/9) LHQ hối Trung Quốc, Nhật Bản giảm nhẹ căng thẳng: Ngày 19/9, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon cho biết ông đang “ngày càng lo lắng” trước căng thẳng giữa Nhật Bản và Trung Quốc về tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư; (VOV 20/9) LHQ kêu gọi Trung – Nhật giải quyết tranh chấp qua đối thoại

-(Infonet 20/9) Nhật phát hiện tàu hộ vệ tên lửa TQ tiến gần Senkaku/Điếu Ngư: Trang tin tức Fuji của Nhật Bản đưa tin, hai tàu hộ vệ của hải quân Trung Quốc đã xuất hiện tại vùng biển cách Senkaku 80 hải lý về phía Tây Bắc. Đây là lần đầu tiên tàu hải quân Trung Quốc xuất hiện tại khu vực này; (DT 20/9) Trung Quốc bác tin đưa 1.000 tàu cá ra quần đảo tranh chấp

-(Infonet 20/9) Bắc Kinh cấm người dân tiếp tục biểu tình chống Nhật: Cục an ninh công cộng thành phố Bắc Kinh đã chỉ đạo cho các công dân trong thành phố phải chấm dứt các cuộc biểu tình chống Nhật Bản bằng cách đưa ra tuyên bố “các cuộc biểu tình đã kết thúc”; (Petrotimes 20/9) Biển Đông và Hoa Đông dậy sóng bởi tham vọng của Trung Quốc

-(Vnplus 20/9) Trung Quốc kêu gọi Nhật Bản đối thoại về biển đảo: Phát biểu tại cuộc họp báo thường kỳ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nhấn mạnh Bắc Kinh luôn kiên định rằng vấn đề liên quan tới quần đảo Điếu Ngư phải được giải quyết thông qua đối thoại và đàm phán; (VTC 20/9) Phim tài liệu về Hoàng Sa: Vững vàng nơi đầu sóng

-(TN 20/9) Nhật đòi Trung Quốc bồi thường thiệt hại: Tokyo sẽ yêu cầu Bắc Kinh bồi thường thiệt hại do các cuộc biểu tình gây ra tại những cơ quan ngoại giao của Nhật tại Trung Quốc trong những ngày qua, theo chính phủ Nhật; (Vnexpress 20/9) Tàu tuần duyên Nhật báo động cao

-(Gd 20/9) Trung Quốc sẽ đại bại nếu đụng độ sức mạnh Nhật Bản – Mỹ: Nếu Trung-Nhật xảy ra xung đột quân sự sẽ khó đoán ai thắng ai thua, nhưng nếu Mỹ can thiệp, Trung Quốc sẽ bị đánh bại; (Chinhphu 20/9) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

-(TT 20/9) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm hạm đội TQ: Sáng nay 20-9, ông Leon Panetta đã đặt chân đến cảng Thanh Đảo, nơi đặt tổng hành dinh của hạm đội Bắc Hải (Trung Quốc), trở thành quan chức Lầu Năm Góc đầu tiên thăm căn cứ này; (ANTD 20/9) Trật tự châu Á bị thách thức

-(Nld 20/9) Ít người Mỹ tin cậy Trung Quốc: Theo một cuộc khảo sát mới, chỉ có 26% người Mỹ nói rằng Washington có thể tin cậy Bắc Kinh; (BBC 20/9) ‘Không có chuyện gác tranh chấp với TQ’

-(VNN 20/9) Tranh chấp Senkaku: Tại sao Mỹ phải có trách nhiệm?: Một quan chức Mỹ cho biết “các đảo này “rơi vào phạm vi của Điều 5”, nghĩalà nếu Trung Quốc hành động để khẳng định chủ quyền đối với các đảo, Mỹ sẽ có nghĩa vụ can thiệp ủng hộ phía Nhật Bản; (Pltp 20/9) Trung Quốc phá kinh tế Nhật

-(DT 20/9) Philippines cử chính khách thương lượng ngầm với Bắc Kinh về biển đảo: Thượng nghị sĩ Antonio Trillanes đã “được phép” bí mật thương lượng với các viên chức Trung Quốc để giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở vùng bãi cạn Scarborough tại Biển Đông; (TT 20/9) “Mỹ không kiềm chế Trung Quốc”

-(Toquoc 19/9) Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và an ninh châu Á: Là nước lớn châu Á và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc sẽ đi về đâu, điều đó quả thực sẽ ảnh hưởng đến chiến tranh và hòa bình ở cả châu Á; (Vnplus 19/9) Ông Tập Cận Bình tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ

-(BBC 19/9) Người biểu tình TQ tấn công xe đại sứ Mỹ: Xe đại sứ Mỹ tại Trung Quốc đã trở thành mục tiêu tấn công của những người biểu tình bài Nhật xung quanh tranh chấp biển đảo trên Biển Hoa Đông hôm thứ Ba ngày 18/9; (Vnexpress 19/9) Người biểu tình Trung Quốc bao vây xe đại sứ Mỹ

-(VTC 19/9) Nhật điều tàu, máy bay chặn tàu Trung Quốc: Lực lượng tuần duyên Nhật đã cử 6 tàu tuần tra và 3 trực thăng đến xua đuổi các tàu hải giám đang tuần tiễu ở gần quần đảo Điếu Ngư; 50 tàu tuần tra Nhật đối phó 14 tàu công vụ Trung Quốc

-(Gd 19/9) Hồng Lỗi: Trung Quốc không xúi dân biểu tình chống Nhật Bản: Hồng Lỗi cũng lớn tiếng yêu cầu: “Nhật Bản cần phải tôn trọng lập trường nghiêm túc của Trung Quốc, tôn trọng tiếng nói chính nghĩa của người dân Trung Quốc, không được một mình một kiểu, mê muội sai lầm”; Japan Times: Bắc Kinh chơi trò hai mặt với người biểu tình

-(TN 19/9) Nhật bối rối trước tàu cá Trung Quốc: Các quan chức Nhật đang đau đầu với câu hỏi làm cách nào đối phó với các tàu cá và nhà hoạt động Trung Quốc tiến đến vùng biển gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư dưới sự hỗ trợ của tàu công vụ; (VNN 19/9)Trung Quốc lên kế hoạch tấn công kinh tế Nhật?

-(VNN 19/9) Con đường thứ ba để hóa giải đối đầu Mỹ – Trung: Giải pháp nào giúp Mỹ vừa không phải đối đầu với Trung Quốc mà cũng không phải nhường đường cho họ; (Gd 19/9) Trung Quốc thành lập doanh nghiệp ở “Tam Sa”, một âm mưu mới

-(TN 19/9) Nhật – Trung vờn nhau trên biển: Bắc Kinh đưa thêm tàu tuần tra gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trong khi nhiều công ty Nhật tiếp tục đóng cửa nhà máy ở Trung Quốc; (BBC 18/9) Panetta: ‘Mỹ-Trung hợp tác tránh đối đầu’

-(Petrotimes 18/9) Trung Quốc cho đăng ký doanh nghiệp trái phép ở cái gọi là “Thành phố Tam Sa”: Sở Công thương tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đã phê duyệt cho hai doanh nghiệp đăng ký thành lập tại cái gọi là “thành phố Tam Sa”; (Vnplus 18/9) Căng thẳng tiếp diễn giữa Trung Quốc và Nhật Bản

-(TN 18/9) 11 tàu công vụ Trung Quốc đến Senkaku/Điếu Ngư: “Vào khoảng 16 giờ 30 phút (14 giờ 30 phút, giờ Việt Nam), 10 tàu hải giám Trung Quốc đã được phát hiện tại vùng biển tiếp giáp ngoài đảo Uotsurijima”, theo hãng AFP dẫn lời người phát ngôn của lực lượng tuần duyên Nhật; (Gd 18/9) Lương Quang Liệt: Tất cả chỉ tại Nhật Bản!

-(VOV 18/9) Mỹ hối thúc Trung Quốc tăng cường hợp tác quân sự: Ông Panetta: “Mục đích của chúng tôi là Mỹ và Trung Quốc nên thiết lập mối quan hệ song phương quan trọng nhất thế giới”; Nhật Bản bắt đầu có hành động trả đũa Trung Quốc

-(Nld 18/9) Trung Quốc sợ dân biểu tình quá đà: Giới truyền thông Trung Quốc đã dịu bớt giọng điệu chống Nhật do lo ngại bạo lực trong các vụ biểu tình sẽ leo thang đến mức  không thể kiểm soát được; (RFI 18/9) Bài Nhật quá trớn gây hại cho lợi ích Trung Quốc

-(Toquoc 18/9) Nước Nga với Biển Đông: Can dự theo phiên bản Nga: Nga là một yếu tố của cân bằng quyền lực nước lớn ở Đông Nam Á/Biển Đông và đang can dự một cách có chọn lọc; (VNN 18/9) Philippines tổ chức diễn đàn hàng hải ASEAN

-(Vietnamplus 18/9) Báo chí TQ đã lắng giọng sau biểu tình chống Nhật: Một số cơ quan truyền thông của Trung Quốc Đại lục có vẻ như đã giảm bớt giọng điệu chống Nhật Bản trong bối cảnh xảy ra một loạt vụ tấn công đầy bạo lực nhằm vào các lợi ích của Nhật Bản ở Đại lục; (Pltp 18/9) Mỹ kêu gọi Nhật-Trung kiềm chế

-(Bdv 18/9) Trung Quốc nhân rộng chính sách ngoại giao ‘cây gậy nhỏ’ ở Đông hải: Tạp chí The Diplomat cho rằng Trung Quốc đang cố gắng nhân rộng chính sách ngoại giao “cây gậy nhỏ” mà nước này từng áp dụng ở Biển Đông; (VOV 18/9) Mỹ muốn hóa giải dần những bất đồng với Trung Quốc

-(VNN 18/9) Chiến tranh sẽ nổ ra trên các vùng biển Đông Á?: Các chính sách của Trung Quốc đã làm tổn hại nghiêm trọng tới mối quan hệ với gần như tất cả các nước láng giềng; (TN 18/9) Trung Quốc cam kết bảo vệ 2.000 tàu cá ở Senkaku/Điếu Ngư

-(GD 18/9) Biển Đông trở thành mục tiêu đầu tiên của Tập Cận Bình sau tái xuất?: Mỹ và một số nước thành viên ASEAN đang gây sức ép để Bắc Kinh xây dựng COC để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, trong khi Trung Quốc vẫn khăng khăng rằng tranh chấp biển đảo phải được giải quyết thông qua đối thoại trực tiếp giữa các bên liên quan; Panetta thăm Trung Quốc giúp gì cho quan hệ Trung-Mỹ?

-(VNN 17/9) Bộ trưởng Mỹ với hai cuộc tranh cãi Thái Bình Dương: Trong chương trình chuyến công du châu Á của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta, có mục tiêu nỗ lực tháo gỡ căng thẳng hai cuộc tranh cãi đang ngày một leo thang; TQ lo ngại động thái quân sự Mỹ ở châu Á

-(RFI 17/9) Senkaku/Điếu Ngư : Mỹ kêu gọi Nhật Trung giảm bớt căng thẳng: Tại Tokyo Leon Panetta kêu gọi Nhật Bản và Trung Quốc hãy tìm một giải pháp ngoại giao để làm dịu tình trạng tranh chấp chủ quyền ở Hoa Đông; Mỹ đặt thêm một trạm radar tại Nhật Bản

-(Sgtt 17/9) Mỹ dùng tàu ngầm tăng cường khả năng răn đe ở Biển Đông: Những tàu ngầm hoạt động bí mật ở đáy biển Đông sẽ tạo khả năng răn đe rất lớn, khiến nước lớn hải quân cũng phải đau đầu trước khi hành động; (Vietnamplus 17/9) Ông Leon Panetta sẽ hội đàm với ông Tập Cận Bình

-(BBC 17/9) TQ sẽ trình LHQ yêu sách Biển Hoa Đông: Trung Quốc tiến thêm một bước trong việc củng cố vị thế pháp lý của họ trong tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông; (TP 17/9) Nhật-Mỹ đạt thỏa thuận xây dựng lá chắn tên lửa thứ hai

-(Vnmedia 17/9) Nhật “ra đòn” bất ngờ với Trung Quốc?: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta hôm 17/9 cho biết, các quan chức Mỹ và Nhật Bản đã đạt được sự nhất trí về việc thiết lập một hệ thống phòng thủ tên lửa thứ hai ở Nhật Bản; (PNTD 17/9) Trung Quốc bị mắc mưu chiến lược tại châu Á-TBD?

-(Pltp 17/9) Nhiều công ty Nhật tạm ngưng hoạt động ở Trung Quốc: Hãng tin Kyodo (Nhật) cho biết các cuộc biểu tình chống Nhật đã lan rộng trên 85 thành phố ở Trung Quốc trong ngày 17-9; (TT 17/9) Số hóa 200 bản đồ về chủ quyền biển đảo

-(Gd 17/9) Tàu Hải quân Ấn Độ tới thăm các nước ASEAN: Trong chuyến hành trình gần 20.000 km của mình, tàu Sudarshini sẽ ghé thăm 13 cảng thuộc 9 quốc gia ASEAN, trong đó có cảng Đà Nẵng của Việt Nam; Panetta: Không cẩn thận, Trung – Nhật sẽ sa đà vào 1 cuộc chiến tranh

-(Sgtt 17/9) Mỹ với Biển Đông: Một phần của cuộc cạnh tranh chiến lược: Vai trò quan trọng nhất của Mỹ tại Đông Nam Á/Biển Đông là kiềm chế, đối trọng và cân bằng quyền lực với Trung Quốc; Biển Đông, giải quyết từ chuyện cái tên

-(Nld 17/9) Mỹ: Tranh chấp lãnh thổ Châu Á có thể gây xung đột lớn: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cảnh báo những tranh chấp lãnh thổ ở Đông Á có khả năng trở thành những cuộc xung đột rộng hơn nếu căng thẳng hiện nay không giảm; (BBC 17/9) Tàu hải giám TQ đã ‘hoàn thành sứ mạng’

-(Vnexpress 17/9) Hải quân Trung Quốc lại tập bắn đạn thật: Hạm đội Hoa Đông vừa có cuộc tập trận trên biển cùng tên, trong bối cảnh căng thẳng chủ quyền giữa Bắc Kinh và Tokyo lên cao; (Vnmedia 17/9) Mỹ “dàn quân” ở Châu Á, Trung Quốc lo ngại

-(Infonet 17/9) Trung Quốc đòi chủ quyền đến sát bờ biển Nhật Bản: Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết nước này đã quyết định đệ trình lên Ủy ban về giới hạn thềm lục địa của Liên Hợp Quốc nhằm xác định lại biên giới thềm lục địa nước này trên biển Hoa Đông ra ngoài phạm vi 200 hải lý; 2.000 tàu cá Trung Quốc ồ ạt tiến vào biển Hoa Đông

-(Petrotimes 17/9) Trung Quốc “dọa” dùng thương mại trả đũa Nhật Bản: Tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc ngày hôm nay (17/9) đã cảnh báo Nhật Bản có thể sẽ phải hứng chịu thêm một “ thập kỷ mất mát”, trì trệ kinh tế nếu Bắc Kinh dùng thương mại để trả đũa trong tranh chấp quần đảo Senkak; (VOA 17/9) Biểu tình chống Nhật Bản lan sang Hồng Kông

-(Gd 17/9) “Hải quân Trung Quốc muốn thách thức Mỹ cần ít nhất 20 năm nữa”: “Hải quân Trung Quốc muốn thách thức Mỹ cần ít nhất 20 năm nữa”; (Pltp 17/9) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ: Sẽ hối thúc Trung Quốc đàm phán

-(Gd 17/9) Mỹ dùng tàu ngầm tăng cường khả năng răn đe ở Biển Đông: Những tàu ngầm hoạt động bí mật ở đáy biển Đông sẽ tạo khả năng răn đe rất lớn, khiến nước lớn hải quân cũng phải đau đầu trước khi hành động; (DT 17/9) Trung Quốc tuyên bố hoạt động tuần tra Senkaku/Điếu Ngư thành công

-(Vnexpress 16/9) ‘Tranh chấp lãnh thổ ở châu Á có thể thành chiến tranh’: Đó là nhận định của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta trước khi ông tới Nhật Bản để bắt đầu chuyến công du châu Á – Thái Bình dương; (VOA 16/9) Cố gắng mới của Indonesia trong tranh chấp Biển Đông

-(BBC16/9) Panetta lên đường đi Nhật Bản và TQ: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã lên đường đi thăm ba nước châu Á là Nhật Bản, Trung Quốc và New Zealand, các quan chức quốc phòng Mỹ cho hay; (RFI 16/9) Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cảnh báo tranh chấp lãnh thổ tại châu Á có thể gây ra chiến tranh

-(Qdnd 16/9) ASEAN-Trung Quốc tham vấn về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông: Từ ngày 11 đến 14-9, tại Phnôm Pênh, Cam-pu-chia, đã diễn ra các Hội nghị Quan chức cao cấp (SOM) của ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác với trọng tâm là bàn công tác chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao ASEAN 21 và các Cấp cao liên quan sẽ được tổ chức vào tháng 11-2012; Giữ vững ổn định chính trị để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình

Thế giới 24h: Trung – Nhật “ăn miếng trả miếng’

24 Th9

Thế giới 24h: Trung – Nhật “ăn miếng trả miếng’

 – Căng thẳng Trung – Nhật không lắng dịu, biểu tình chống Mỹ tiếp tục lan rộng, Thủ tướng Nga bất ngờ chỉ trích Putin…Đó là những tin nổi bật 24h qua.

Tin nổi bật

Chỉ vài ngày sau làn sóng biểu tình phản đối Nhật Bản liên quan đến đảo tranh chấp tại Trung Quốc lan rộng khắp lãnh thổ nước này, cuối tuần qua, hàng trăm người Nhật Bản đã xuống đường biểu tình trong ôn hòa nhằm phản đối Bắc Kinh

Khoảng 800 người biểu tình giơ cao cờ Nhật đi dọc các con đường ở trung tâm thủ đô Tokyo. Những người biểu tình tập trung tại khu Roppongi ở Tokyo, gần Đại sứ quán Trung Quốc, hô to: “Chúng tôi sẽ không nhượng bộ trước bất kỳ mối đe dọa quân sự nào của Trung Quốc”.

 

Họ lên tiếng chỉ trích những người biểu tình Trung Quốc quá khích đã đập phá các cửa hàng, xe cộ, buộc các nhà máy của Nhật Bản tại Trung Quốc phải đóng cửa và ngừng sản xuất hồi tuần rồi.

Căng thẳng giữa hai nước không có dấu hiệu lắng dịu khi nhật báo đứng đầu Nhật là Yomiuri cáo buộc Trung Quốc tài trợ đặc biệt 10.000 Nhân Dân Tệ (tương đương với 16.000 đô-la Mỹ) cho tàu nào tới vùng đảo tranh chấp đánh cá.

Trong một động thái liên quan, Trung Quốc đã hủy việc tổ chức lễ kỷ niệm đánh dấu 40 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản dự kiến diễn ra vào ngày 27.9, sau những vụ căng thẳng tranh chấp biển đảo giữa hai nước.

“Do tình hình căng thẳng giữa hai nước hiện tại nên phía Trung Quốc quyết định dời lễ kỷ niệm 40 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản cho đến một thời điểm thích hợp khác”, một cơ quan thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết.

Hiện, “giới bình luận diều hâu” Trung Quốc đang hối thúc Bắc Kinh chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự với Nhật Bản.

Tuy nhiên, hầu hết các chuyên gia nhận định, khả năng xảy ra một cuộc chiến như vậy giữa hai cường quốc Đông Á là rất nhỏ.

Ảnh ấn tượng

 

 

Một cô gái tham gia biểu tình chống Mỹ cùng nhiều sinh viên Hồi giáo khác tại Thánh đường Đỏ ở Islamabad, Pakistan. Từ Nigeria đến Hy Lạp, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ…làn sóng biểu tình chống Mỹ và bộ phim phỉ báng đạo Hồi vẫn tiếp tục dâng cao trên khắp thế giới. Ảnh Reuters

Phát ngôn nổi bật

 

 

“Trong một nước Nga hiện đại mà chúng ta vẫn thấy các doanh nghiệp phải nhận những chỉ thị với ý tứ rõ ràng dù với cách nói khác, chẳng hạn như đề nghị gửi bác sĩ. Giới kinh doanh sẽ hiểu ý tôi… Tôi mong chúng ta sẽ bắt đầu học một cách sống khác”, Thủ tướng Nga phát biểu như vậy tại một diễn đàn kinh tế ở thành phố Sochi. Ông Dmitry Medvedev muốn ám chỉ tới vụ việc năm 2008 liên quan tới Tổng thống Vladimir Putin, thời điểm ông Putin giữ chức thủ tướng đã dọa gửi “bác sĩ và công tố viên tới chăm sóc” tỉ phú Igor Zyuzin vì ông này bị ốm nên không thể dự một hội nghị về công nghiệp do ông Putin chủ trì.

Tin vắn

– Ít nhất 9 người chết và nhiều người khác bị thương do tuyết lở tại Nepal.

– Tòa án Nhân dân thành phố Thành Đô (Trung Quốc sẽ tuyên án đối với cựu giám đốc công an Trùng Khánh Vương Lập Quân vào hôm nay 24/9.

– Seoul và Washington đang ở rất gần thỏa thuận về việc tăng gần gấp ba tầm bắn cho các tên lửa đạn đạo của Hàn Quốc, nhằm bảo vệ tốt hơn trước những đe dọa từ Triều Tiên.

– Một vụ nổ lớn làm rung chuyển nhà thờ tại thành phố Bauchi, Nigeria, làm ít nhất 2 người chết và 48 người bị thương nặng.

– Cảnh sát Indonesia bắt 10 tay sung Hồi giáo, thu giữ hàng chục quả bom tự tạo được cho là để tấn công nhằm vào lực lượng an ninh.

– Ngoại trưởng Ecuador Ricardo Patino đề nghị đưa nhà sáng lập Wikileads Julian Assange từ London sang Thụy Điển. Hiện phía Anh vẫn chưa có phản ứng về lời đề nghị này của Ecuador.

– Bảy người thiệt mạng và ba người bị thương sau khi một tài xế say xỉn lái xe đâm sầm vào một chiếc xe buýt đang đậu ở phía tây thủ đô Moscow, Nga.

– Thượng viện Mỹ dọa áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Ukraine về việc cầm tù cựu Thủ tướng Yulia Tymoshenko, đồng thời thúc giục Kiev phóng thích nữ thủ lĩnh đối lập này ngay lập tức.

– Bộ trưởng đường sắt Pakistan đã treo thưởng 100.000 USD cho ai giết nhà sản xuất bộ phim chống đạo Hồi đang gây phẫn nộ. Người phát ngôn thủ tướng Pakistan sau đó đã chỉ trích ông này.

– Bình Nhưỡng lên tiếng đe dọa sẽ trả đũa quân sự Seoul sau khi tàu hải quân Hàn Quốc bắn cảnh cáo sáu tàu cá CHDCND Triều Tiên vượt qua đường giới tuyến trên biển ở Hoàng Hải.

Ngày này năm xưa

Ngày 24/9/1493 – Christopher Columbus khởi hành cuộc hành trình của mình đến Tân Thế Giới

1963 – Thượng viện Mỹ phê chuẩn một hiệp ước giới hạn việc thử nghiệm hạt nhân. Hiệp ước này được ký kết giữa Mỹ, Anh và Liên Xô.

1995 – Hành động chiếm đóng các thành phố Bờ Tây của Israel trong 3 thập niên kết thúc bằng việc ký kết một hiệp ước giữa Israel và mặt trận giải phóng Palestine.

Hồng Hà (tổng hợp)

 

TỘI CỦA ĐIẾU CÀY: CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC! – Huỳnh Ngọc Chênh

24 Th9

TỘI CỦA ĐIẾU CÀY: CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC!

 
Anh Điếu Cày bị bắt vì chống Trung cộng xâm lược?

Tối thứ sáu vừa qua, ghé quán Ziều để lai rai thì tình cờ được tham dự buổi tiệc sinh nhật đang tổ chức tại đây. Tiệc sinh nhật của đến bốn người cùng sinh ra vào hạ tuần tháng 9, trong đó có 3 người đang ở trong tù nên không được dự tiệc sinh nhật của chính mình. Tình cờ cả ba người tù ấy đều xuất hiện trong phiên tòa được cả thế giới chú ý vào sáng mai ngày 24.9.2012. Đó là anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, chị Tạ Phong tần và anh Nguyễn Tiến Trung.

Chị Dương Tân và blogger Nguyễn Hoàng Vi tại buổi tiệc sinh nhật anh Điếu Cày, chị Tạ Phong Tần và anh Nguyễn Tiến Trung.

Thật ra phiên tòa ngày 24.9 là xét xử những người trong CLB Báo chí Tự do gồm anh Điếu Cày, chị Tạ Phong Tần và anh Phan Thanh Hải. Còn anh Nguyễn Tiến Trung, đang là tù nhân chính trị, được trích xuất đưa đến với tư cách một nhân chứng.
Buổi tiệc khá ấm cúng, thân tình và cảm động. Đến dự đa số là các bạn trẻ, tự nhắn với nhau trên mạng và cùng nhau đứng ra tổ chức. Nhiều kỷ niệm với các anh chị ấy được nhắc lại. Nhiều bạn trẻ khâm phục tinh thần bất khuất của anh Điếu Cày và chị Tần. Nhiều bạn khác nhắc đến chuyến đi dự đám giỗ 49 ngày của mẹ chị Tạ Phong Tần bị công an quấy rối vô cớ như thế nào…

Tiệc sinh nhật thiếu người thổi nến

Tôi hỏi chị Dương Tân, chồng chị bị bắt là bởi lý do gì? Chị tỉnh táo và điềm đạm nói:
– Anh ấy chẳng có tội gì. CLB báo chí mà anh ấy tham gia là phạm pháp ư? Nó giống như các CLB nhiếp ảnh hoặc CLB chim cá cảnh, vài ba người cùng sở thích, nhóm họp lại với nhau để chia sẻ kinh nghiệm, nâng cáo tay nghề thì phạm pháp cái nỗi gì? Anh ấy chẳng viết lách gì cả, chỉ đi chụp ảnh khắp các miền đất nước rồi đăng lên blog để lưu giữ. Ảnh có chụp một loạt ảnh về thác Bản Giốc, mà nhờ thế mọi người mới biết cái thắng cảnh ấy bị mất vào tay Trung Quốc hơn một nửa. Như vậy là có tội ư ? Gây ra hậu quả nghiêm trọng ư? Năm 2007, ảnh có đi biểu tình chống Olympic Bắc Kinh vì thời gian đó, T Q tuyên bố thành lập thành phố Tam sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Biểu tình chống lại kẻ xâm phạm chủ quyền đất nước là có tội ư?
– Theo cáo trạng, anh ấy có đi Thái Lan gặp ai đó?
– Thiên hạ đi Thái Lan hà rầm, qua đó gặp bạn bè ăn uống, trong bửa ăn lại có thêm bạn của bạn bè, gặp nhau chào hỏi làm quen thì cũng có tội hay sao? Tôi không biết anh ấy có gặp ai không, nhưng ví dụ ảnh có gặp ai đó và ai đó được cho là phản động thì ảnh có tội ư? Ông phó thủ tướng Đức gốc Việt gì đó, chụp ảnh hà rầm với cờ vàng ba sọc để cổ súy cho Việt Nam Cộng Hòa, thế nhưng nhà nước ta vẫn rước ổng về làm thượng khách, mời mọc chiêu đãi, đăng báo khắp nơi. Vậy nhà nước ta cũng có tội hay sao? Trừ khi ảnh gặp ai đó rồi mang tài liệu phản động hay súng đạn về gây nguy hại cho đất nước thì ảnh mới có tội. Muốn kết ảnh về tội nầy, tòa phải nêu ra bằng chứng cụ thể là sau khi tiếp xúc với kẻ lạ, ảnh mang gì về và gây nguy hại gì cho đất nước?
Sau khi biểu tình chống TQ một thời gian là ảnh bị bắt ngay vì vu cho tội trốn thuế không có thật, ảnh bị giam  giữ từ đó đến nay trong tù thì ảnh làm được gì mà gây nguy hại cho tổ quốc? Chẳng lẽ ảnh có tài thần như Tôn Ngộ Không, bị giam trong hỏa lò vẫn thoát xác ra ngoài quậy phá?
Anh Điếu Cày, chồng cũ của tôi hoàn toàn vô tội.
– Thế theo chị, vì sao ảnh vẫn cứ bị bắt?
– Ảnh phải bị bắt vì tội gì đó để làm vừa lòng Bắc Kinh. Ảnh bị bắt vì cực lực chống TQ thành lập thành phố Tam Sa, chỉ vậy thôi. Lúc đó chưa nghĩ ra cho ảnh tội gì nên vu đại cho ảnh tội trốn thuế để bắt, giống như kiểu “hai bao cao su” với anh Cù Huy Hà Vũ. Ảnh hết hạn tù kinh tế, lại nghĩ ra tội chống nhà nước. Chống Trung Quốc là chống nhà nước hay sao? Chị Dương Tân nhấn mạnh.
– Thứ hai nầy chị có được nhận giấy mời dự phiên tòa?
Chị Dương Tân cay đắng:
– Tôi là người có bổn phận và nghĩa vụ liên quan thế nhưng không những không nhận được giấy mời tham dự phiên tòa mà còn nhận được giấy mời “không được tham dự phiên tòa”
Thấy tôi tỏ ra ngạc nhiên, chị đưa điện thoại ra với hình chụp một tờ giấy mời của công an vừa đưa tức thì đến nhà chị (vào lúc 9g tối 21.9) được con chị chụp gởi đến. Đó là thư mời chị lên đồn công an làm việc vào sáng thứ hai 24.9 về “việc gây rối trật tự ở Bạc Liêu” trước đây. Chị cười ngao ngán:
– Họ cố tình ngăn chặn không cho tôi đến dự phiên tòa công khai. Vụ ở Bạc Liêu, tôi đi thắp hương giỗ 49 ngày của cụ Liêng mẹ bạn thân tôi là chị Tạ Phong Tần, bị CA Bạc Liêu vô cớ bắt giữ, thậm chí cả hành hung tôi. Khi thả tôi ra, tôi buộc làm biên bản nhưng họ không dám làm…Thế mà bây giờ gọi tôi là gây rối trật tự ở Bạc Liêu! Đổi trắng thay đen sao mà dễ dàng quá thế này.

Nhà thơ Đỗ trung Quân tặng hoa sinh nhật cho chị Tạ Phong Tần, qua người em trai của chị Tần.
——————————————————————————————————
Bất kể một công dân Việt Nam nào khi quan tâm đến vận mệnh của đất nước đều không khỏi bất bình trước sự lãnh đạo và quản trị đất nước yếu kém của đảng Cộng sản.
Như vậy, các thành viên của CLB Nhà Báo Tự Do đã dũng cảm khi thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình. Họ viết bài, đăng tải các bài viết, trả lời phỏng vấn để phê bình cách quản lý và điều hành đất nước của đảng Cộng sản và chính phủ. Họ không có mục đích chống đảng Cộng sản cũng như chính phủ Việt Nam (trong cáo trạng của VKS thành phố HCM đã viết rằng anh Nguyễn Văn Hải và chị Tạ Phong Tần không thừa nhận chống Nhà nước).
Những bài viết của họ, những ý kiến mà họ đăng tải chỉ phản ảnh một cách ôn hòa quan điểm đối lập của họ và của những người khác mà thôi. Và chỉ với mục đích giúp cho đảng Cộng sản nhận ra những sai lầm, thiếu sót để khắc phục nhằm lãnh đạo và quản trị đất nước tốt hơn.
Rõ ràng, các thành viên của CLB Nhà Báo Tự Do chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà Hiến pháp, pháp luật và Công ước quốc tế đã nghi nhận quyền của họ. Họ không phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Bộ luật hình sự.- LS Nguyễn Văn Đài/ BBC
 
Những bài viết liên quan đến vụ xét xử CLB báo chí tự do:
 
 

Cần nhìn nhận hành vi chống nhà nước từ nhiều góc độ – BS

24 Th9

Cần nhìn nhận hành vi chống nhà nước từ nhiều góc độ

Phạm Lê Vương Các Sinh viên năm thứ 3 ĐH

Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải. Photo: DLB

Trong  lúc các chiến dịch đánh vào nhóm lợi ích đang thao túng nền tài chính tiền tệ sôi động và lúc cao trào của cuộc chiến gay cấn giữa các phe nhóm diễn ra, thì hình như tất cả đã được tạm quên để chĩa mũi gươm công lý vào phiên xử 3 blogger của CLB Nhà báo Tự do diễn ra vào ngày mai.

Dù có thể đoán trước được số phận của các nhà báo tự do này sẽ là “không có bất ngờ”, nhưng dư luận lại hết sức quan tâm đến phiên xử tại Tòa án Tp. HCM, đơn giản là vì nó nhuốm màu chính trị.

Phiên tòa cho các hành vi “chống nhà nước” theo điều 88 BLHS nước Cộng hòa XHCN Việt Nam không phải là cuộc chiến giữa bên giữ quyền công tố và bào chữa, giữa thẩm phán và bị báo, mà đó là cuộc đối đầu giữa quan điểm của nhà cầm quyền với dư luận quốc tế và những người đối kháng. Giữa một bên đang ra sức vận động để tha bổng và một bên cố gắng kết án để răn đe.

Điều này cho thấy rằng sự xung đột trong quan hệ chính trị-xã hội giữa nhà cầm quyền và lực lượng đối kháng có chiều hướng tiếp tục gia tăng vì Việt Nam không có một hệ thống xét xử độc lập để phán xét hành vi chống nhà nước.

Chống nhà nước, lịch sử và hiện tại

Tội danh “chống nhà nước” có thể nói gắn liền với sự ra đời của nhà nước đầu tiên Hy Lạp cổ đại, được  áp dụng cho những ai có hành vi được cho là “trái quan điểm” đối với nhà cầm quyền đương thời. Tiêu biểu là triết gia  Socrate bị kết án tử hình vì tội đầu độc tư tưởng cho giới trẻ và chống lại nhà nước dân chủ chủ nô. Rồi trường hợp của Bruno phải lên máy chém vì ủng hộ thuyết “nhật tâm” đã đi ngược lại hệ thống tư tưởng của giai cấp cầm quyền đương thời . Đó là cái giá đắt phải trả cho những tư tưởng đi trước thời đại khi mà lực lượng thống trị nhà nước không thể bắt kịp. Tuy nhiên, cũng rất dễ dàng để thoát khỏi sự trừng phạt cho hành vi này nếu biết quỳ gối “xin chừa” như Galileo đã từng làm.

Các cách thức này dường như vẫn còn đang hiện hữu ở nước ta. Mức án nặng nề luôn dành cho những ai ngoan cố, và rất khoan hồng cho những ai biết ăn năn hối cải. Như chúng ta đã từng thấy sự khôn ngoan của Lê Công Định và sự “dại dột” của Trần Huỳnh Duy Thức.

Vì thế mức án dành cho Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và Nguyễn Văn Hải sẽ phụ thuộc nhiều vào “khí phách” của họ trong phiên sử sơ thẩm và phúc thẩm sắp diễn ra.

Chống nhà nước có mang tội?

Chính vì sự không thống nhất trong cách hiểu về hành vi chống nhà nước, đã đặt những người công dân có hiểu biết, có ý thức trách nhiệm vào vòng lao lý, đẩy nhà nước vào thế bị động đối phó rụt rè trong cách xử lý hành vi mang tính nhạy cảm này.

Trải qua một thời kỳ tranh đấu của các lực lượng tiến bộ xã hội, các quốc gia dân chủ đã khai trừ vĩnh viễn cái tội danh được cho là tiêu diệt quyền tự do tất yếu của con người. Tuy nhiên nó vẫn còn  tồn tại ở một số quốc gia “muốn giữ vững ổn định chế độ chính trị” muốn tiêu diệt những quyền tự do mà dân chúng đã lựa chọn.

Tại các nước dân chủ, nhà nước với tư cách là một mô hình được đông đảo người dân lựa chọn xây dựng nên, và cũng có quyền hạ bệ khi cảm thấy nó không phù hợp với dòng chảy văn minh thông qua phiếu bầu. Cho nên chống lại mô hình nhà nước này hay nhà nước khác là phương thức để người dân có thể quyết định tương lai chính trị của họ, cũng như là cách thể hiện ý thức trách nhiệm của công dân đối với đất nước.

Trong khi đó các quốc gia theo con đường xây dựng XHCN, xem xét trên bình diện lý luận, mô hình nhà nước với tư cách là công cụ để thực hiện chức năng chuyên chính cho một giai cấp nhất định để bảo vệ sự thống trị của giai cấp mình và sẵn sàng trấn áp các lực lượng đối kháng nhằm mục đích xây dựng “vì cái chung trong lý tưởng” . Với lẽ đó,  chống lại  nhà nước XHCN ở đây luôn được nhà cầm quyền xem là mối đe dọa lực lượng thống trị, an ninh quốc gia, phá vỡ khối đại đoàn kết thống nhất, và lý tưởng của toàn dân.

Chính sự khác biệt đó, tuy cùng một hành vi chống nhà nước, nhưng đã làm cho Việt Nam sản sinh ra những con người “phản động” theo  tinh thần lý luận đấu tranh giai cấp nhưng lại mang bản chất “yêu nước” theo tinh thần ý thức trách nhiệm của một công dân đấu tranh cho dân chủ tiến bộ, tùy theo cách hiểu khác nhau của mỗi người.

Nhờ  sự thống nhất giữa hai mặt đối lập này đã làm nên  động lực cơ bản cho sự vận động phát triển ở Việt Nam.

Nhà nước có cần được bảo vệ?

Không thể lấy Hiến pháp và Pháp luật để bảo vệ Nhà nước vì sự ra đời của bất kỳ nhà nước nào dù mang chức năng  gì đi nữa cũng đều hướng đến mục tiêu níu kéo đạo đức của con người trước sự tha hóa và giữ cho con người vượt khỏi sự tùy tiện trong hành động. Nhưng, lịch sử và hiện tại đã chứng minh nhà nước lại là Người dễ bị tha hóa và tùy tiện nhất vì trong tay sỡ hữu “tam quyền sinh sát”, và nếu được che chở bằng Hiến định thì tất yếu sẽ sản sinh ra một nhà nước độc tài.

 Do đó cần xây dựng một Hiến pháp luôn kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa nhà nước và nhân dân bằng các thiết chế “nhị quyền phân định”. Đó là sự tương hỗ trong cách đối ứng của “quyền dân sự bất phục tùng” của nhân dân và “nghĩa vụ chấp Hiến” của nhà nước.

Tất nhiên như các nhà tư tư tưởng đã làm rõ cách đây hàng ngàn năm, Nhà nước không được quá yếu trước chức năng gìn giữ trật tự xã hội, nhưng cũng không được quá mạnh để dẫn đến nguy cơ lạm quyền.

Thông qua sự phân định quyền lực mang tính rạch ròi này là cơ sở để hóa giải những mâu thuẫn giữa nhà nước và nhân dân trên tinh thần ôn hòa, biết tôn trọng lẫn nhau mà không cần phải sử dụng đến sự nổi loạn và nhà tù.

Ngoài ra, nó được coi là vũ khí duy nhất để nhân dân chống lại “liên minh mafia” từ các nhóm lợi ích khi đã chi phối đến toàn bộ hệ thống hành pháp-tư pháp-lập pháp.

Chỉ như vậy mới thể hiện được sự khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất cho công dân chống nhà nước một cách có trách nhiệm và phi bạo lực để hướng nhà nước đến dân chủ và pháp quyền,  cũng như  bảo vệ hữu hiệu công dân trước sự trù dập của các cơ quan thi hành quyền lực nhà nước.

Chống nhà nước là hành động có nên làm?

Một khi nhà nước không còn là của dân, do dân, và vì dân trên thực tế thì chống lại nhà nước đó là hành vi tất yếu.

Công dân chống nhà nước được thể hiện qua sự bất tuân dân sự, hoặc nêu lên chính kiến phản biện, thậm chí là phê phán đường lối chính sách của nhà nước, cũng là để kiến thiết một xã hội vững mạnh, hoàn thiện và tiến bộ, góp phần thúc đẩy vào sự nghiệp chung của quốc gia. Nếu nhà nước không biết lắng nghe, không biết tin tưởng vào nhân dân, gán ghép cho đó là luận điệu chiến tranh tâm lý, nhằm kích động, xuyên tạc, hay phỉ báng… rồi bỏ tù, thì nhà nước đó chỉ là “của dân, do dân và vì dân” trên lý thuyết.

Bài học lịch sử cận đại Việt Nam vẫn còn đó, các tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, hay Hồ Chí Minh… là những người tiên phong trong việc  chống  nhà nước phong kiếnnửa thuộc địa đương thời để xóa bỏ sự nô dịch, lạc hậu, và bất công nhằm hướng đến một quốc gia độc lập, dân chủ. Hay như lực lượng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam cũng đã từng chống lại nhà nước VNCH cũng nhằm mục đích thống nhất dân tộc. Do đó, không thể xem chống nhà nước là hành vi hoàn toàn tiêu cực được.

Cũng vậy, lực lượng “bất đồng chính kiến” hiện nay chống lại những biểu hiện sai trái của nhà nước hay đấu tranh đòi quyền làm người thì đó cũng là phản ánh ước muốn tự do, dân chủ cho đất nước theo cách riêng của họ.

Tất cả sự chống lại những biểu hiện lạc hậu của một mô hình nhà nước hay đường lối nhà nước đều xuất phát từ tấm lòng thiêng liêng, lý tưởng cao đẹp, khát vọng cống hiến đối với Tổ quốc. Đó đều là những con người dũng cảm và thủ đắc cho mình một khả năng kiến tạo đất nước theo sức sống của thời đại.

Cần có cái nhìn biện chứng cho hành vi chống nhà nước

Trong thời điểm hiện tại, mọi cách hành xử bằng bạo lực đều đáng bị lên án. Chống nhà nước bằng bạo lực đều không được thừa nhận.

Chống nhà nước bằng các công cụ phi bạo lực luôn là hành vi tích cực, sản phẩm tạo ra là các cuộc đối thoại sòng phẳng giữa nhà cầm quyền và nhân dân, qua đó mang đến sự gắn kết và hiểu biết lẫn nhau giữa người chấp hành và người thi hành pháp luật.

Nhân dân có quyền chống nhà nước trên tinh thần thượng tôn pháp luật, nhưng nhà nước không được chống lại nhân dân. Nhà nước chỉ có thể mang lại lợi ích để “mua chuộc”  nhân dân bảo vệ cho chính mình chứ không phải sử dụng quyền hành và vũ lực trấn áp dân để tồn tại.

Hơn hết, kết tội cho hành vi “làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống nhà nước” không những tước đoạt quyền tự do thông tin cơ bản, làm liên đới cho công tác nghiên cứu khoa học xã hội mất đi tính sáng tạo mà còn đưa cả hệ thống tư tưởng hiện hành sống trong thời kỳ “bao cấp tư duy”.

Chống nhà nước là môt quy luật tất yếu của sự phát triển, đó là một quá trình phủ định không phải nhằm loại bỏ Nhà nước ra khỏi đời sống, để rơi vào trạng thái “vô nhà nước”, mà để xây dựng một nhà nước mới biết phục vụ dân chúng một cách tốt hơn.

Cuối cùng, với những giới hạn trong nhận thức mang tính lịch sử cụ thể, tùy thuộc vào thời điểm mà chân lý luôn được kiểm chứng bằng tính xê dịch, đòi hỏi chúng ta có một cách nhìn cởi mở hơn cho hành vi chống nhà nước trong thời điểm hiện nay, tạo tiền đề xây dựng một nhà nước pháp quyền hiện hữu ở bất cứ thể chế chính trị nào và một một xã hội dân sự lành mạnh hơn.

Gửi trực tiếp cho Anhbasam

Hải quân Trung Quốc nhận tàu sân bay – TN

24 Th9

Hải quân Trung Quốc nhận tàu sân bay

Trung Quốc bất ngờ tổ chức lễ bàn giao tàu sân bay cho lực lượng hải quân giữa lúc biển Đông và biển Hoa Đông có nhiều bất ổn.

Ngày 23.9, hải quân Trung Quốc chính thức tiếp nhận tàu sân bay đầu tiên của nước này. Theo AFP, lễ bàn giao diễn ra tại cảng Đại Liên thuộc tỉnh Liêu Ninh, đông bắc Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh chưa thông báo chính thức về việc tàu này sẽ được biên chế vào hạm đội nào trong số ba hạm đội Nam Hải, Đông Hải và Bắc Hải. Tên gọi của tàu cũng chưa được công bố trong khi một số hình ảnh cho thấy nó mang số hiệu 16. Con tàu dài 300 m, có độ choán nước xấp xỉ 50.000 tấn, đủ sức mang theo khoảng 25 chiến đấu cơ và được trang bị một số vũ khí phòng thủ cơ bản.

Thuộc lớp Varyag và được Trung Quốc mua lại từ Ukraine, hàng không mẫu hạm này lâu nay bị giới chuyên gia quốc tế nghi ngờ về sức mạnh thực sự. Theo đó, Bắc Kinh phải mất nhiều năm nữa mới đủ sức triển khai tác chiến thực sự đối với chiếc tàu thiếu nhiều phương tiện hỗ trợ, bảo vệ hiệu quả lẫn loại chiến đấu cơ phù hợp. Vì thế, có ý kiến cho rằng việc Trung Quốc “vội vã” bàn giao cho hải quân là động thái “lên gân” trong bối cảnh tình hình biển Đông và Hoa Đông đang căng thẳng.

 

 Hải quân Trung Quốc nhận tàu sân bay
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc vừa được bàn giao – Ảnh: Hoàn Cầu thời báo

 

Tại biển Đông, Trung Quốc hồi cuối tháng 7 thành lập cái gọi là TPTam Sa, vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó đến nay, nước này liên tục có động thái nhằm hợp lý hóa “TP.Tam Sa” như tổ chức bầu cử, xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư… khiến cộng đồng quốc tế lo ngại. Hãng tin Bernama vừa dẫn lời Phó thủ tướng Malaysia Tan Sri Muhyiddin Yassin kêu gọi tranh chấp biển Đông cần được giải quyết hòa bình thông qua đàm phán đa phương, không sử dụng bạo lực. Phát biểu trên được ông Yassin đưa ra trong cuộc gặp với Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi cuối tuần. Đồng thời, Phó thủ tướng Malaysia kêu gọi các bên liên quan cần sớm thông qua Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC).

Trong một diễn biến khác, Tân Hoa xã dẫn lời một quan chức giấu tên cho hay buổi lễ kỷ niệm 40 năm bình thường hóa quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản sẽ bị dời lại thay vì vào ngày 27.9 như kế hoạch ban đầu. Căng thẳng hiện tại giữa Bắc Kinh với Tokyo xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư được cho là nguyên nhân trì hoãn buổi lễ. Ngoài ra, Hãng tin CAN dẫn lời lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu cho biết đảo này đã điều động chiến đấu cơ F16 tuần tra gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Lâu nay, Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này. Ông Mã còn tiết lộ Trung Quốc đang phái tàu hộ tống mang tên lửa để bảo vệ các tàu công vụ của nước này hiện diện tại đây thời gian qua. Tuy nhiên, đến hôm qua, AFP dẫn nguồn Lực lượng tuần duyên Nhật Bản cho biết toàn bộ tàu công vụ Trung Quốc vừa rút khỏi vùng biển gần Senkaku/Điếu Ngư.

Ngô Minh Trí

>> Trung Quốc “khoe” tàu sân bay
>> Nga chậm giao tàu sân bay cho Ấn Độ
>> Nga hoãn giao tàu sân bay cho Ấn Độ
>> Tàu sân bay Trung Quốc sẽ được đặt tên Liêu Ninh 

Trà My động đất lớn nhất từ trước đến nay

24 Th9

Trà My động đất lớn nhất từ trước đến nay

– Lúc 10h57′ và 11h5p trưa nay (23/9), đã liên tiếp xảy ra 2 trận động đất với cường độ mạnh khiến mặt đất chao đảo, hàng nghìn người dân các huyện Nam – Bắc Trà My và vùng lân cận hoảng loạn. Khoảng 150 người đang dự tiếp xúc cử tri tại nhà sinh hoạt cộng đồng thôn 2 cũng bỏ chạy tán loạn.

Trao đổi với P.V VietNamNet từ Trà Đốc, ông Hồ Ngọc Quí, Bí thư đảng bộ xã, kiêm Chủ tịch HĐND xã cho biết, cuộc tiếp xúc cử tri HĐND xã sáng nay bà con chỉ đề cập đến việc hoang mang lo lắng của hiện tượng mặt đất chao đảo, lòng đất phát nổ khiến nhà cửa hư hỏng.

Khi ý kiến các cử tri vừa dứt thì mặt đất chao đảo kèm theo đó là những tiếng nổ đì đùng phát ra từ lòng đất khiến hơn 150 cử tri tại đó bỏ chạy tán loạn. Cuộc tiếp xúc cử tri sau đó buộc phải giải tán – ông Quí nói.

Bà con thôn 2 Trà Đốc đang tiếp xúc cử tri bỏ chạy tán loạn khi động đát xảy ra trưa nay (Ảnh: Nguyễn Thành)

Ông Lê Văn Tuấn, Chánh văn phòng UBND huyện Bắc Trà My, Quảng Nam, đang đi kiểm tra thiệt hại động đất ở vùng tâm chấn Trà Đốc, Trà Bui và Trà Tân cho biết: “Trận động đất kinh hoàng vào lúc 10h57 và 11h5p trưa hôm nay (23/9), là trận động đất cực mạnh, lớn gấp nhiều lần trận động đất xảy ra rạng sáng ngày 3/9“.Các thiết bị quan trắc đã đo được trận động đất này là 4,8 richter và là trận động đất có dư chấn lớn nhất từ trước đến từ nay xảy ra trên địa bàn. 

Ông Lê Văn Tuấn nói thêm: “Trận động đất rất lớn kèm theo tiếng nổ long trời lở đất. Rung chấn rất mạnh kéo dài khoảng 6 giây. Người dân thị trấn Trà My vô cùng hoảng sợ, ùa chạy hết ra đường. Đây có lẽ là trận động đất lớn nhất từ trước đến nay”.

Người dân tại Trà My lo lắng khi liên tiếp xảy ra động đất.

 

Cũng theo ông Tuấn, các xã sát cạnh hồ thủy điện như Trà Đốc, Trà Bui, Trà Tân, lãnh đạo xã đều cấp báo về trận động đất cực lớn này.

Trận động đất lớn khiến dư chấn lan xa và mạnh đến cả các huyện lân cận như Nam Trà My, Hiệp Đức. Người dân huyện Hiệp Đức cho biết: “Trận động đất này mạnh nhất từ trước đến nay. Nhà cửa ở đây cũng rung lắc rất mạnh”.

 

Tường nhà bà Hồ Thị Lan ở thôn 3 Trà Đốc bị nứt sau trận động đất.

 

Ghi nhận ban đầu, trận động đất mạnh vào trưa hôm nay gây thiệt hại đáng kể. Hàng trăm nhà dân bị nứt tường. Kiểm tra tại điểm trường thôn 2 Trà Đốc, bức tường bị nứt chạy dài khoảng 5 m. Nhiều nhà dân bị nứt dọc theo tường hoặc nứt trụ.

Ngay trong buổi chiều hôm nay (23/9), UBND huyện Nam Trà My đã hủy bỏ các cuộc họp, cử cán bộ tỏa về các địa bàn dân cư ở Trà Đốc, Trà Tân, Trà Bui, thị trấn Trà My và các xã lân cận để kiểm tra thiệt hại.

Theo ông Đặng Phong, Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My, hai trận động đất vào trưa nay khiến cho người dân càng trở nên lo lắng hơn. Bởi động đất ngày càng gia tăng và với cường độ rung chấn ngày càng lớn và dồn dập.

Lo sợ động đất nhiều người dân vào rừng làm nhà tạm để sống.

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My, Quảng Nam, tính từ đêm 22 đến trưa ngày 23/9, tại địa phương đã xảy ra liên tiếp 7 trận động đất.

Trước đó 8 tiếng đồng hồ, vào khoảng 3h20′ cùng ngày, tại đây cũng đã xảy ra trận động đất mạnh khi người dân còn đang ngủ. Nhiều người dân hoảng loạn khi nghe tiếng nổ phát ra từ lòng đất và mặt đất rung lắc nên kéo nhau chạy ra khỏi nhà.

Thống kê của UBND huyện Bắc Trà My, chỉ tính riêng từ ngày 3/9 đến nay, mặc dù hồ thủy điện Sông Tranh 2 chưa tích nước nhưng tại khu vực này đã xảy ra tổng cộng hơn 21 trận rung chấn lớn nhỏ.

Vũ Trung

Vũ khí thần kỳ

24 Th9

Vũ khí thần kỳ

 

Chấn hưng giáo dục trên con đường phục hưng kinh tế đã được Bill Gates chỉ ra. Có lẽ đến đây, ai trong chúng ta cũng thấy rằng Việt Nam nên làm gì với sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Sống bằng gì bây giờ?/ Sao không gọi giặc lạ, cho quen?/ Nhà có điều kiện, tội gì!/ Dễ ‘dự báo’ như… thi hoa hậu

 

Nước Mỹ đang lâm nguy và hết thuốc chữa? Theo Fareed Zakaria – người dẫn chương trình đài CNN và là cây bút của Time – người Mỹ có thể đảo ngược tình thế bằng cách sử dụng một loại “vũ khí” thần kỳ: cách tân nền giáo dục Mỹ.

Nhà báo Mỹ gốc Ấn này cho rằng nước Mỹ chỉ có hai lựa chọn: hoặc cải cách hệ thống nhà trường của mình hoặc chấp nhận mức sống thấp hơn. Theo ông, nền giáo dục Mỹ vốn là động lực cho sự phát triển xã hội đang như một cỗ máy gặp nhiều trục trặc.

Trước hết, giáo dục [phổ thông] của Mỹ đang xuống dốc thảm hại thể hiện qua việc học sinh Mỹ thua xa bạn bè đồng lứa tại nhiều nước khác. Học sinh Mỹ chỉ xếp hạng 26 trên thế giới, dưới đáy trong số các nước phát triển, thấp hơn nhiều so với các nước cùng nhóm như Đức, Phần Lan, Hà Lan, Đan Mạch, Canada và Singapore.

Tiêu biểu cho sự tuột dốc không phanh này là hệ thống giáo dục công lập tại bang California. Một thời là niềm kiêu hãnh của nước Mỹ bốn mươi năm trước, hệ thống trường công ở California là nơi Steve Jobs, ông chủ huyền thoại của Apple, mài đũng quần. Nhưng ngày nay, hệ thống này chỉ còn là bóng mờ của quá khứ lẫy lừng và đang thuộc nhóm “đội sổ” trong cả nước.

Theo Zakaria, sự xuống cấp của giáo dục đã dìm mức lương của người lao động Mỹ trong suốt 30 năm qua. Ai cũng biết giáo dục là con đường ngắn nhất dẫn đến thăng tiến lên các nấc thang xã hội. Trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay, lời khẳng định trên càng ứng nghiệm hơn khi tỷ lệ thất nghiệp trong số những người tốt nghiệp đại học ở Mỹ là 4% so với 14% của nhóm tương ứng chưa tốt nghiệp phổ thông.

Bây giờ hay nhìn sang Hàn Quốc xem nước này đã tạo ra sự thần kỳ bằng cách nào. Chẳng có gì là thần kỳ cả: đó là làm việc nhiều giờ hơn và làm việc chăm chỉ hơn. Tính trung bình, sau 12 năm học phổ thông, học sinh Hàn Quốc có số giờ học nhiều hơn học sinh Mỹ hai năm vì thời gian học mỗi ngày nhiều hơn trong khi năm học cũng dài hơn!

 

Giáo dục là con đường ngắn nhất dẫn đến thăng tiến lên các nấc thang xã hội. Ảnh minh họa

 

 

 

Nhưng liệu có phải trong giáo dục, bắt học sinh phải học nhiều hơn là con đường duy nhất dẫn đến thành công?

Zakaria cho rằng câu trả lời đến từ Phần Lan. Tại quốc gia Bắc Âu này, học sinh đến trường muộn hơn một năm so với đa số các nước và các nhà giáo dục nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sáng tạo cá nhân trong khi ít chú trọng đến thi cử.

Bù lại, Phần Lan có được đội ngũ giáo viên tuyệt vời. Nhà giáo ở Phần Lan được trả lương cao và được coi trọng không thua gì nghề bác sĩ và luật sư. Để làm thầy giáo, mọi ứng viên tại Phần Lan phải trải qua sự cạnh tranh và sàng lọc khắc nghiệt. Tất cả các giáo viên đều phải có bằng thạc sĩ và chỉ một người trụ được trong số 10 ứng viên!

Ngược lại ở bên kia bờ đại dương, thống kê cho thấy gần phân nửa sinh viên sẽ trở thành giáo viên tương lai của nước Mỹ có thành tích tệ hại nhất trong số các sinh viên đại học!

Cho đến nay với một quỹ năm tỉ đô la, cựu chủ tịch Microsoft Bill Gates đã đi tìm lời giải cho bài toán giáo dục của nước Mỹ. Và lời giải của ông là hãy tìm cho được những người thầy tốt nhất. Một nghiên cứu gần đây của Mỹ cho thấy, nếu được hướng dẫn bởi nhóm giáo viên ưu tú nhất, học sinh da đen sẽ đuổi kịp học sinh da trắng sau bốn năm.

Chấn hưng giáo dục trên con đường phục hưng kinh tế đã được Bill Gates chỉ ra. Có lẽ đến đây, ai trong chúng ta cũng thấy rằng Việt Nam nên làm gì với sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Chúng ta đều đồng ý rằng giáo dục Việt Nam đang giậm chân tại chỗ so với các nước khác trong khu vực dù chúng ta đang buộc con em mình phải học nhiều hơn. Có người đổ lỗi cho “bệnh chạy theo thành tích”. Nhưng thực chất đằng sau cụm từ vừa khó định tính vừa khó định lượng này là gì?

Nhân năm học mới vừa bắt đầu, chỉ xin nhắc lại hai điều. Thứ nhất, chúng ta cần củng cố chức năng cơ bản của giáo dục. Đó là trồng người bằng kiến thức và đạo đức. Hãy đưa ra hệ thống giáo trình thiết thực cho mục tiêu này thay vì chạy theo những mục đích xa vời và hãy trả lại cho nhà trường sự tự chủ cần có.

Thứ hai, từ những câu chuyện kể trên, người thầy cần được giúp đỡ để lấy lại vị trí xứng đáng trong nhà trường và trong xã hội. Tuy việc làm sao để nhà giáo Việt Nam đạt được những gì các đồng nghiệp tại Phần Lan đang có là điều không hề đơn giản – đòi hỏi nỗ lực toàn xã hội – nhưng với tư cách là cơ quan quản lý nền giáo dục, bộ Giáo dục và Đào tạo phải là nơi bắt đầu. Không phải hai hay ba năm nữa mà là ngay bây giờ, ngay hôm nay.

Theo Sơn Tùng/ TBKTSG

Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người — VHNA

24 Th9

Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người

Nguyễn Văn Trọng

 

(Diễn từ nhận giải thưởng sách hay 2012 của Nguyễn Văn Trọng)

 

Tôi thật bất ngờ và vinh dự được Ban xét giải thưởng Sách Hay trao giải nghiên cứu năm 2012 cho tôi như người đã dịch tác phẩm Bàn về tự docủa John Stuart Mill. Tôi xin chân thành cảm ơn về đánh giá khích lệ này cho công việc của tôi.

 

Tôi vốn không phải là người được đào tạo bài bản về khoa học xã hội và nhân văn, nhưng trong tư cách là một con người sống trong xã hội, tôi luôn băn khoăn với một số câu hỏi nhân sinh; những câu hỏi ấy thôi thúc tôi tìm lời giải đáp cho chính mình. Thế hệ chúng tôi lớn lên trong những biến động lịch sử to lớn của dân tộc, dưới ảnh hưởng tinh thần của những khẩu hiệu đến từ cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Tình anh em; chúng tôi luôn được giáo dục phải dấn thân vì xã hội. Thực tiễn cuộc sống cho tôi thấy rằng, tập thể đông người không phải lúc nào cũng có ý kiến đúng đắn và thường có thái độ chuyên chế áp đặt đối với cá nhân trong tất cả mọi chuyện.

Trong lòng tôi xuất hiện câu hỏi: có ranh giới chuẩn mực nào cho việc áp đặt ý kiến của số đông với cá nhân để cho việc áp đặt ấy là chính đáng. Công việc nghề nghiệp và cuộc sống bề bộn đã không cho tôi có điều kiện thư thả để tìm hiểu chuyện này. Mãi đến tuổi về hưu tôi mới được đọc tuyệt tác Bàn về tự do của John Stuart Mill. Cuốn sách đã gây ấn tượng rất mạnh cho tôi. Vào lúc đó trình độ tiếng Anh của tôi còn khá thấp, nhưng tôi cũng bắt tay vào việc dịch những trích đoạn ấn tượng nhất và giới thiệu với bạn bè. Một người bạn của tôi, ông Chu Hảo, là người đã khích lệ tôi dịch toàn bộ tác phẩm. Sau khi ông Chu Hảo trở thành Giám đốc NXB Tri Thức, ông cùng với các cộng sự của mình đã giúp tôi hoàn tất bản dịch và cho xuất bản cuốn sách.

Tác phẩm Bàn về tự do đã đưa ra lời giải đáp khá thỏa đáng về ranh giới chính đáng cho sự áp đặt của xã hội lên tự do cá nhân: vì sự an toàn cho xã hội, con người cá nhân phải giao nộp một phần tự do của mình; thế nhưng con người cá nhân không thể giao nộp toàn bộ tự do của mình vì như thế con người cá nhân tất yếu sẽ tha hóa, và xã hội sẽ phải chịu tổn thất vì sự tha hóa của các thành viên của nó. Tự do như thế của cá nhân trong quan hệ với xã hội thường được gọi là tự do dân sự. Mặc dù vấn đề tự do dân sự đã được J.S. Mill làm sáng tỏ từ trước đây một thế kỷ rưỡi, nhưng cho đến nay tự do dân sự vẫn chưa thành hiện thực trong đại đa số các xã hội con người. Có những nguyên nhân lịch sử khiến cho sự phát triển của các xã hội không đồng đều. Người ta bàn luận rất nhiều về những nguyên nhân ngoại tại tác động không thuận lợi cho sự phát triển con người cá nhân, khiến cho mức độ phát triển tinh thần chung của xã hội phải thấp kém. Người ta nói nhiều đến ảnh hưởng quyết định của môi trường xã hội đến con người cá nhân. Những ảnh hưởng của môi trường xã hội đến thế giới tinh thần của con người cá nhân không nhất thiết mang tính bạo lực và cưỡng bức, mà thường là dưới dạng thức của những cám dỗ: cám dỗ vươn tới quyền lực và hùng mạnh, cám dỗ đầy uy lực của đồng tiền, cám dỗ của danh tiếng… Trong lòng tôi lại xuất hiện câu hỏi: liệu ảnh hưởng môi trường xã hội đến con người cá nhân có thật là mang tính quyết định hay không? Nếu ảnh hưởng ấy không mang tính quyết định, thì con người cá nhân có những khả năng gì để chống trả lại những ảnh hưởng tiêu cực đến từ bên ngoài, đặng bảo vệ phẩm giá con người của mình? Nhà tư tưởng Nga Herzen đã khẳng định:”Tính độc lập về nhân cách của con người cũng là chân lý và thực tại hiển nhiên, không khác gì sự phụ thuộc của con người vào môi trường, với sự khác biệt là nó ở trong quan hệ ngược lại với môi trường: càng nhiều ý thức thì tính độc đáo càng lớn; càng kém ý thức thì sự ràng buộc với môi trường càng chặt chẽ hơn, môi trường càng nuốt mất bản ngã nhiều hơn”. Vậy là ở đây đặt ra vấn đề con người cá nhân phải bảo vệ tự do của bản ngã chống lại những cám dỗ ngoài xã hội để giữ được phẩm giá của mình. Tự do ở đây không có ý nghĩa như một quyền cần phải giành lấy, mà lại có ý nghĩa như một trách nhiệm trước bản thân mình, đòi hỏi con người cá nhân phải có dũng khí nhận lấy trách nhiệm ấy. Cần phải có dũng khí bởi vì tự do với cám dỗ thì rất khó khăn, còn chịu khuất phục làm nô lệ cho cám dỗ thì dễ dàng hơn, ít đau đớn hơn nhiều. Ở đây tôi đang nói tới một thứ tự do khác với tự do dân sự, tự do này được các triết gia tôn giáo Nga đầu thế kỷ XX gọi là tự do lương tâm.

Tự do lương tâm có lẽ gắn với phong trào Phục hưng được thể hiện trong “Diễn từ về phẩm giá con người” của triết gia Ý Pico della Mirandola (1463-1494) vốn được coi là tuyên ngôn của chủ nghĩa nhân văn. Ông đã diễn giải ý nghĩa của việc Thượng đế tạo ra con người như sau: “Ta đặt Mi giữa thế gian, để cho Mi có thể tự do nhìn ra khắp mọi phía của thế giới và nhìn đi đâu tùy ý của Mi. Ta tạo ra mi không phải trần tục, không phải thượng giới, không phải loài có sinh có tử, không phải bất tử. Bởi vì Mi tự Bản thân mình, phù hợp theo ý chí của Bản thân mình và theo danh dự, có thể là Đấng sáng tạo và Người tạo tác của chính mình và từ vật liệu thích hợp cho Mi mà hình thành nên Bản thân mình. Như vậy, Mi tự do trong việc đi xuống thấp tới những thang bậc thấp kém nhất của thế giới thú vật, thế nhưng Mi cũng có thể nâng cao Bản thân mình lên tới phạm vi cao cả nhất của Thần thánh“.

Trong tác phẩm Anh em nhà Caramazov, đại văn hào Nga Dostoevski đã dựng nên câu chuyện Viên Đại pháp quan tôn giáo ra lệnh bắt giam Chúa Kitô khi Ngài xuất hiện trở lại trên thế gian. Viên Đại pháp quan đã chất vấn Chúa: Chúa đã hứa hẹn với người đời thứ tự do mà người đời chất phác và bẩm tính càn rỡ không thể hiểu nổi… Con người quý trọng sự yên ổn và thậm chí cả cái chết hơn là tự do lựa chọn trong sự nhận thức thiện ác. Đối với con người không có gì hấp dẫn hơn tự do lương tâm, nhưng cũng không có gì khổ ải hơn. Con người yếu đuối sẽ không kham nổi sức nặng khủng khiếp của tự do lựa chọn, họ sẽ đi tìm ai đó có phép lạ để trút bỏ gánh nặng tự do lựa chọn ấy mà làm nô lệ cho kẻ đó. Có thể có mấy chục ngàn người theo Chúa vì bánh mì trời, nhưng còn có hàng chục triệu người khác không đủ can đảm coi rẻ bánh mì trần thế; những người này sẽ mang tự do của họ đặt dưới chân chúng tôi và nói: “Chẳng thà biến chúng tôi thành nô lệ, nhưng cho chúng tôi ăn còn hơn”. Viên Đại pháp quan yêu cầu Chúa đi khỏi thế gian, đừng gây phiền nhiễu nữa.

Triết gia Nga N. Berdyaev trong tác phẩm Bàn về nô lệ và tự do của con người đã diễn giải ẩn dụ trên của Dostoevsky như sau: “Hai vấn đề nằm trong cơ sở của đời sống xã hội và không có gì khó khăn hơn việc giải quyết chúng cho thật hài hòa – vấn đề tự do và vấn đề bánh mì. Có thể giải quyết được vấn đề tự do bằng cách tước mất bánh mì của con người. Một trong những quyến rũ mà đức Kitô bác bỏ ở sa mạc, là quyến rũ biến những hòn đá thành bánh mì. Ở đây bánh mì biến thành sự nô dịch con người. Tất cả ba quyến rũ mà đức Kitô bác bỏ, đều nô dịch con người. Dostoevsky diễn đạt một cách thiên tài điều này trong Huyền thoại về viên Đại pháp quan. Nhưng sẽ là trá ngụy nếu diễn giải huyền thoại ấy như vấn đề bánh mì không có lời giải đáp tích cực và đành phải chỉ có được tự do thôi mà không có bánh mì. Người ta nô dịch con người bằng cách tước đoạt bánh mì của họ. Bánh mì là biểu tượng vĩ đại, và gắn với nó là đề tài xã hội chủ nghĩa, đề tài mang tính toàn thế giới. Con người không được trở thành kẻ nô lệ của “bánh mì”, không được vì “bánh mì” mà giao nộp tự do của mình“. Ông còn nói: “Cuộc đấu tranh vì bản diện cá nhân, sự khẳng định bản diện cá nhân là đầy đau đớn. Tự thực hiện bản diện cá nhân giả định một sự kháng cự lại, đòi hỏi đấu tranh chống lại quyền lực nô dịch của thế gian, đòi hỏi không chấp nhận thói thụ động thích ứng theo. Việc từ bỏ bản diện cá nhân, việc chấp thuận hòa tan vào thế giới xung quanh có thể làm giảm bớt nỗi đau và con người dễ dàng đi theo lối đó. Chấp thuận làm nô lệ sẽ giảm bớt nỗi đau, không chấp thuận sẽ gia tăng nỗi đau. Nỗi đau trong thế giới con người là sự khai sinh của bản diện cá nhân, là sự khai sinh cuộc đấu tranh vì hình tượng của nó. Ngay tính cá thể trong thế giới động vật đã biết đau đớn rồi. Tự do sinh ra đau khổ. Có thể giảm bớt đau khổ bằng cách chối bỏ tự do. Phẩm giá con người, tức là bản diện cá nhân, tức là tự do, đòi hỏi chấp nhận đau đớn, đòi hỏi khả năng chịu đựng nỗi đau“.

Đến lúc này tôi mởi hiểu được câu danh ngôn của Marx: “Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người“.

Tôi xin kết thúc ở đây. Cảm ơn quý vị đã cho tôi cơ hội được nói ra những điều này.

N.V.T.

 

 
%d bloggers like this: