Lưu trữ | 8:56 Chiều

“Tại sao bây giờ tôi mới trở lại Việt Nam?” – infonet

26 Th9

“Tại sao bây giờ tôi mới trở lại Việt Nam?”

Với sự tham gia của gần 900 đại biểu thuộc 52 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần 2 được tổ chức vào ngày 27/9 tại TP.HCM là sự kiện lớn được người dân Việt Nam trong và ngoài nước trông đợi.

Trước khi diễn ra hội nghị này PV Báo điện tử Infonet đã có cuộc trò chuyện với ông Trần Hòa Phương – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài (UBVNVNONN) tại TP.HCM về vai trò, những đóng góp và cả những vấn đề còn tồn tại đối với những kiều bào ta hiện đang sinh sống tại nước ngoài.

– Thưa ông, hiện tại số lượng kiều bào ta ở nước ngoài lên đến hàng triệu người, trong đó không ít người đã, đang và sẽ quay trở lại Việt Nam, ông có thể cho biết vai trò của kiều bào trong việc chung tay xây dựng đất nước?

Trước hết chúng ta phải khẳng định rằng, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc, là một nguồn lực, là nhân tố rất quan trong trong việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tình hữu nghị giữa Việt Nam và các nước và ngược lại.

Hãy nhìn vào lợi ích chung của dân tộc để hóa giải mâu thuẫn

Ông Trần Hòa Phương – Phó Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài tại TP.HCM

Đối với TP.HCM, ngay từ kháng chiến chống Mỹ, các kiều bào đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp giải phóng Đất nước, thống nhất Tổ quốc. Sau giải phóng, nhiều trí thức, kiều bào đã trở về để chung tay xây dựng lại đất nước, nhiều người đã tham gia vào Quốc hội.

Cho đến nay số lượng kiều bào ta đã lên tới hơn 4 triệu người, sinh sống tại hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ. Đây là lực lượng có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Họ chính là chiếc cầu nối giữa nơi mà họ sống với quê hương, đất nước.

Riêng tại TP.HCM lực lượng kiều bào không chỉ đóng góp về kinh tế, thể hiện ở việc thành lập các công ty, mà nhiều trí thức cũng đã trở về giảng dạy tại các trường đại học, hay chuyển các công nghệ mới về đất nước như Tiến sĩ Đặng Lương Mô – người hướng dẫn để làm ra con chip đầu tiên của Việt Nam hoặc tham gia công tác xã hội như ông Nguyễn Văn Công – người xây dựng hơn 120 chiếc cầu bê tông tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Kết thúc buổi phỏng vấn, ông Trần Hòa Phương có kể một câu chuyện. Nhiều năm trước có kiều bào từng là đại tá chế độ cũ, dù rất muốn trở lại Việt Nam nhưng ông vẫn lưỡng lự. Lần đầu tiên ông tới Băng Cốc và gọi người thân qua thăm, lần thứ hai ông bay tới Hồng Kông, lần thứ ba ông tới Quảng Châu, lần thứ tư ông về Hà Nội chỉ đến lần thứ 5 ông mới trở lại Sài Gòn, và khi đã đi thăm lại khắp nơi, chứng kiến những đổi thay ông mới thốt lên “Tại sao bây giờ tôi mới trở lại?”

Hiện tại, mỗi năm lượng kiều hối chuyển về nước khoảng hơn 10 tỷ USD trong đó TP.HCM đã chiếm khoảng 6 tỷ USD, với trên 500 ngàn lượt kiều bào đi về.

Để thu hút những kiều bào này về sinh sống, học tập, và làm việc tại Việt Nam chúng ta đã có những chính sách gì thưa ông?

Trong những năm gần đây, chính sách, chủ trương của nhà nước càng ngày càng thông thoáng và tạo điều kiện cho bà con. Nếu trước kia chỉ một quốc tịch thì bây giờ có thể có hai quốc tịch, những người có giấy tờ đầy đủ còn có thể đăng ký hộ khẩu thường trú, các thủ tục hải quan cũng được tinh giảm tối đa…

Tại TP.HCM, hàng năm tổ chức họp mặt kiều bào với UBND TP để lắng nghe những ý kiến đóng góp. Tổ chức kỳ thi viết “Việt Nam đất nước tôi” để kiều bào nói lên những tình cảm, nguyện vọng, suy nghĩ. Đặc biệt từ sau đại hội 11, Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài tại TP.HCM đã tổ chức kỳ họp hiến kế cho Thành ủy, UBND Thành phố trong việc thực hiện các chương trình đột phá theo nghị quyết của đại hội Đảng bộ thành phố.

Thưa ông, dù những đóng góp của kiều bào hiện nay là rất lớn, nhưng nhiều ý kiến cho rằng họ hoàn toàn có thể làm tốt hơn điều này?

Vấn đề hiện nay là, người về được thì đã lớn tuổi, trong khi những trí thức trẻ trở về còn rất ít. Muốn thu hút những người này về chúng ta phải có những chính sách rõ ràng, tương xứng với đóng góp, vì tuy đã thông thoáng hơn trước nhiều lần, nhưng vẫn còn không ít thủ tục.

Dù năm 2008 chúng ta đã sửa luật quốc tịch, nhưng không phải ai cũng làm được vì có những người hiện nay không giữ lại bất cứ một loại giấy tờ nào để chứng minh nguồn gốc. Chúng tôi đang chuẩn bị, tập hợp các ý kiến để trình sửa đổi, bổ sung. Muốn giải quyết điều này phải có một chính sách tổng thể.

Hiện tại hình dung về đất nước của một số kiều bào vẫn chưa thay đổi so với những suy nghĩ trước đây, theo ông mọi người cần làm gì để thay đổi điều này nhằm hướng đến một Việt Nam thịnh vượng.

Theo tôi số lượng kiều bào còn giữ tư tưởng này chỉ chiếm một phần rất nhỏ, những người này hầu như không về nước, chính sự thiếu thông tin đã khiến họ không thay đổi những suy nghĩ của mình. Tất cả bà con về nước đều chứng kiến sự đổi thay, lớn mạnh của đất nước, hãy nhìn vào lợi ích chung của dân tộc để chúng ta cùng hóa giải những mâu thuẫn.

Nguyễn Cường

Lực cản Nhà nước pháp quyền – BS

26 Th9

hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu

Lực cản Nhà nước pháp quyền

Hoàng Xuân Phú *

Thuở ẩn trong dân cầu đông người tụ tập

                                                                             Thời ngự trên dân cấm tụ tập đông người

Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà quyền lực của nó gắn chặt với pháp luật, tức là mọi quyền hạn của nó được quy định bằng pháp luật và mọi hành xử của nó phải tuân theo pháp luật.

 Pháp luật do bộ máy cầm quyền viết ra, làm công cụ để quản lý và điều khiển xã hội. Vấn đề then chốt của Nhà nước pháp quyền là bản thân giới cầm quyền cũng phải tuân theo những quy định pháp luật do chính họ đề ra. Một khi họ đã có lợi thế là được ban hành pháp luật theo “khẩu vị” của mình, thì việc chấp hành chúng không phải là quá khó. Lẽ ra là thế, nhưng tiếc thay, sự đời lại không đơn giản như vậy.

 

Báo cáo chính trịBáo cáo về các văn kiện đại hội và Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đều thừa nhận là “Công tác… xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… chuyển biến chậm”. Tại sao như vậy? Phải chăng vì “thần dân” lạc hậu, cứng đầu, ỳ ra không chịu tiến bước theo hối thúc của “đấng chăn dắt”? Không phải thế! Dân ta thuộc loại “dễ bảo” nhất, thường chấp nhận mọi mệnh lệnh, kể cả những mệnh lệnh phi lý. Chỉ cần chính quyền thực tâm mong muốn, thì có thể thay đổi tức khắc cả những tập quán tưởng như cố hữu của cả xã hội, ví dụ như chuyện cấm đốt pháo và bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Tiếc rằng, lực cản lớn nhất đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền lại đến từ bộ máy cầm quyền. Họ lạm quyền, vượt khỏi quyền hạn do chính họ ghi vào pháp luật. Họ vi phạm những quy định do chính họ ấn định trong pháp luật. Vậy thì làm sao có thể xây dựng được Nhà nước pháp quyền? Nêu tấm gương phản diện như vậy, thì làm sao có thể đòi hỏi muôn dân tôn trọng và chấp hành pháp luật?

 Để minh họa cho nhận định trên, ta hãy cùng nhau xem xét một số ví dụ về sự tùy tiện, vi phạm pháp luật trong việc ban hành và vận dụng các văn bản pháp quy để xử lý quyền biểu tình và quyền khiếu nại của công dân.

 Ví dụ điển hình là Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP (mà chính quyền vẫn quen gọi là “Nghị định 38″), do Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 3 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 8 tháng 4 năm 2005. Nó được viện dẫn để trấn áp các cuộc biểu tình yêu nước, bảo vệ chủ quyền biển đảo trong hai mùa hè 2011 – 2012, và để bắt giữ một số người tham gia. Vì những người biểu tình có ý thức nhắc nhở nhau giữ gìn trật tự và không có hành động quá khích, nên khó mà lấy lý do làm mất trật tự công cộng để xử lý. Do đó, người ta hay quy kết là những người biểu tình vi phạm Nghị định số 38-2005-NĐ-CP ở chỗ “tập trung đông người ở nơi công cộng” mà không “đăng ký trước”. Đấy là khi lý lẽ còn được coi trọng đôi chút. Còn bình thường thì những người biểu tình bị vu luôn cho tội làm mất trật tự công cộng, để có cớ xử lý theo Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, mặc dù âm lượng họ phát ra, cũng như mức độ ảnh hưởng tới giao thông và cuộc sống của nhân dân trong khu vực lân cận, không bằng một phần nghìn so với những dịp mà chính quyền chiếm dụng các khu vực công cộng để tổ chức một số sự kiện. Hơn nữa, bất cứ ai đã trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước cũng có thể dễ dàng nhận ra rằng: Chính những người được điều đến để trấn áp biểu tình mới gây rối loạn xã hội và làm mất trật tự công cộng.

 Câu hỏi đặt ra là: Nghị định số 38-2005-NĐ-CP có hợp hiến, hợp pháp hay không và có thể áp dụng nó để ngăn cản biểu tình ôn hòa hay không? Tôi đã đề cập đến vấn đề này trong bài “Quyền biểu tình của công dân”, với hy vọng là những người có trách nhiệm sẽ xem xét lại và nhận ra những điều bất cập. Nhưng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vẫn được viện dẫn như chân lý để cản trở và trấn áp biểu tình. Bởi vậy, với bản năng coi trọng chuyện phân biệt đúng-sai của người nghiên cứu khoa học, tôi đành phải bỏ thời gian viết thêm bài này, mặc dù không muốn bước sang sân của các chuyên gia luật học.

 Sau đây ta sẽ không xem xét mọi khía cạnh của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và văn bản liên quan, mà chỉ chọn ra mấy ý, đủ để lập luận rằng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm Hiến pháp, pháp luật và không thể dùng nó để hạn chế quyền biểu tình của công dân được quy định trong Hiến pháp.

 Quy định của Hiến pháp, pháp luật và quyền hạn của Chính phủ

 Điều 69 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định:

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Không phải đến năm 1992 thì quyền biểu tình mới được Hiến pháp công nhận. Giống như Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (xem Phụ lục 1) và Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (xem Phụ lục 2), Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 (xem Phụ lục 3) bảo đảm quyền tự do hội họp, trong đó mặc nhiên bao gồm cả quyền tự do biểu tình, theo đúng thuật ngữ pháp lý quốc tế. Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1960 (xem Phụ lục 4), Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980 (xem Phụ lục 5) và Hiến pháp 1992 tách riêng quyền biểu tình, đặt bình đẳng bên cạnh quyền hội họp, nghĩa là quyền biểu tình được nhấn mạnh hơn trước. Thay cho trạng từ “tự do” (trong cụm từ “tự do hội họp” và “tự do biểu tình”) ở các Hiến pháp 1946, 1960 và 1980, Hiến pháp 1992 đưa thêm quy ước “theo quy định của pháp luật”. Điều này mở đường cho việc ban hành các văn bản pháp luật để điều tiết, hạn chế việc hội họplập hội và biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Song chỉ Quốc hội mới có quyền ban hành các văn bản pháp luật ấy, bởi vì:

“Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.”

(Điều 83, Hiến pháp 1992)

 Cho đến nay, Quốc hội chưa ban hành luật hay điều luật nào để điều tiết hoặc hạn chế quyền biểu tình. Điều đó có nghĩa là: Không (hoặc chưa) có ràng buộc pháp luật nào đối với quyền biểu tình, và vì vậy công dân hoàn toàn có quyền tự do biểu tình ôn hòa, không phải làm thủ tục đăng ký, xin phép nào cả.

 Trong tất cả 11 khoản của Điều 112, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, Hiến pháp 1992 không có bất cứ khoản nào cho phép Chính phủ ban hành nghị định để hạn chế hay can thiệp vào quyền tự do của công dân được ghi trong Hiến pháp (xem Phụ lục 6).

 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN, được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996, quy định:

Nghị định của Chính phủ bao gồm :

A) Nghị định quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ;

B) Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.”

(Điều 56, Khoản 2, Luật 52-L/CTN)

 Tuân theo Hiến pháp 1992, mục A) chỉ cho phép Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết thi hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, ban hành nghị định về tổ chức và điều hành bộ máy Chính phủ và các cơ quan cấp dưới, chứ không được phép ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân khi chưa có luật liên quan. Mục B) chấp nhận một trường hợp ngoại lệ, nhưng không thể xếp “quyền hội họp, biểu tình” vào phạm trù “chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật”, bởi nó đã được Hiến pháp quy định từ năm 1946 và được tái khẳng định trong cả 3 lần thay đổi Hiến pháp 1960, 1980 và 1992. Nếu quan niệm là “chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật” để điều tiết “quyền hội họp, biểu tình”, thì hóa ra cho rằng Quốc hội thời 1946, 1960, 1980 và 1992 viển vông, bộp chộp, nên mới đưa vào Hiến pháp những quyền công dân mà đến tận năm 2012 vẫn chưa chín muồi để xây dựng thành luật”.

 Như vậy, chưa cần xét đến nội dung của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, ta đã có thể kết luận rằng: Hoặc là Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không hề can thiệp tới “quyền hội họp, biểu tình” của công dânhoặc là có can thiệp, thì đã vi phạm quy định của Hiến pháp và pháp luật về quyền hạn của Chính phủ, để cản trở các quyền hiến định.

 Nghị định số 38/2005/NĐ-CP

 Cơ sở pháp lý duy nhất được nêu trong phần mở đầu của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP là:

“Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001.”

Nghĩa là hoàn toàn không có mệnh đề

“Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

như các văn bản luật thông thường. Hiển nhiên, một văn bản pháp quy không căn cứ vào Hiến pháp thì không thể chi phối các quyền công dân được ghi trong Hiến pháp.

 Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được viết nguyên văn như sau:

Điều 7. Quy định về tập trung đông người ở nơi công cộng

Việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký. Quy định này không áp dụng đối với các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.”

Chỉ riêng điều luật khá ngắn này đã chứa đựng nhiều cái sai trái, vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

 Cái sai đầu tiên là việc sử dụng thuật ngữ. “Tập trung đông người” là gì? Đấy không phải là một thuật ngữ pháp lýchính xác, phổ thông, và không hề xuất hiện trong cả bốn bản Hiến pháp của Việt Nam. Ngược lại, Nghị định số 38-2005-NĐ-CP hoàn toàn tránh, không nhắc đến thuật ngữ pháp lý cơ bản “hội họp” và “biểu tình”, được sử dụng trong các Hiến pháp. Vì sao lại như vậy? Phải chăng vì không muốn chấp nhận và muốn tránh gợi cho dân nhớ tới quyền “hội họp” và “biểu tình”? Hay vì họ biết rõ Hiến pháp và pháp luật không cho phép Chính phủ ban hành nghị định để hạn chế những quyền hiến định ấy, nên mới chơi chữ để lách luật và để sau này nếu bị phản đối thì có thể đổ cho cấp dưới vận dụng sai? Liệu có nên dùng thuật ngữ “tập trung đông người” để chỉ các cuộc họp Quốc hội, họp Trung ương và Bộ chính trị của Đảng CSVN, và họp Chính phủ hay không? Vì sao? Như vậy là thiếu tôn trọng ư? Nếu thế thì sao lại dùng cụm từ ấy để chỉ một hình thức hoạt động hoàn toàn chính đáng của nhân dân? Bao nhiêu thì bắt đầu coi là “đông người”“Tổ chức chính trị – xã hội” là gì? Nếu chỉ dựa vào ngôn ngữ phổ thông, thì không chỉ mặt trận hay công đoàn, mà một số tổ chức bị chính quyền quy là phản động và cấm hoạt động cũng là “tổ chức chính trị – xã hội”. Chẳng nhẽ công dân bình thường muốn tập trung thì phải “đăng ký trước”, còn mấy tổ chức bị chính quyền coi là xấu lại được tự do tổ chức tập trung ở nơi công cộng hay sao? Thuật ngữ “tập trung đông người” được dùng 21 lần trong Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, nhưng không hề được định nghĩa hay giải thích. Thuật ngữ “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” và “tổ chức chính trị – xã hội” cũng chịu chung một số phận. Như vậy, Nghị định số 38-2005-NĐ-CP đã vi phạm Điều 5 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN:

Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu.Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản.”

 Cái sai thứ hai liên quan đến tính khả thi và thực thi. Luật số 52-L/CTN quy định như sau:

Điều 7. Văn bản quy định chi tiết thi hành

1- Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay.

Trong trường hợp luật, pháp lệnh có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết bằng văn bản khác, thì ngay tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản.

2- Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh để trìnhcơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành khi luật, pháp lệnh có hiệu lực.

Rõ ràng, khi chưa biết bao nhiêu là “đông người” và cấp nào là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép “tập trung đông người ở nơi công cộng” thì không thể “thi hành ngay” khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP “có hiệu lực”.Hơn nữa, “ngay tại” Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không hề “xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản” để quy ước mức gọi là “đông người”  cấp gọi là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền”. Trên thực tế, cái “văn bản quy định chi tiết thi hành” cũng không được “kịp thời ban hành”khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP “có hiệu lực”.  Điều 14 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP viết rằng: “Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.” Và ngày công báo của nghị định này là 24/03/2005. Trong khi đó, Thông tư số 09/2005/TT-BCA hướng dẫn thi hành Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được Bộ Công an ban hành ngày 5 tháng 9 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2005. Tức là khoảng 6 tháng sau khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP có hiệu lực thì mới có văn bản để quy định thế nào là “tập trung đông người ở nơi công cộng” và cấp nào là “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép. Vậy là Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm cả 3 ý trong Điều 7 của Luật số 52-L/CTN.

 Cái sai thứ ba thuộc về tư duy lô-gíc, liên quan đến sự tồn tại của chủ thể hành động. Để đăng ký thì phải có người đứng ra đăng ký (xem Phụ lục 2). Nhưng đối với những cuộc tập trung đông người tự phát, không có người tổ chức, thì ai là người phải đứng ra đăng ký? Cuộc sống luôn có nhiều cuộc tập trung tự phát, không hề có người tổ chức. Ví dụ, khi hàng trăm, hàng nghìn người kéo đến Hồ Gươm xem rùa nổi lên, hay khi hàng chục người xếp hàng trước cổng để chờ đợi đến lượt vào chúc tết và trao phong bì cho lãnh đạo, thì ai phải đi đăng ký? Hơn nữa, khi mọi người buộc phải tập trung ngoài ý muốn, như khi bị tắc đường chẳng hạn, thì ai tự nguyện đi đăng ký? Ngay cả biểu tình cũng có nhiều cuộc hoàn toàn tự phát, không hề có người đứng ra tổ chức. Kể cả khi có lời kêu gọi của ai đó thì không có nghĩa là người đó tổ chức. Trước năm 1973, khi các cơ quan, đoàn thể của Việt Namkêu gọi nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh thì không có nghĩa là phía Việt Nam đứng ra tổ chức phong trào phản chiến ở Mỹ. Ngày nay, khi một số người lãnh đạo kêu gọi chống tham nhũng thì không có nghĩa là họ đứng ra tổ chức chống tham nhũng.

 Cái sai thứ tư cũng thuộc về tư duy lô-gíc, là không thể tiến hành thủ tục đăng ký trước nếu lý do để nhiều người tập trung là một sự kiện xảy ra đột ngột, mang tính thời sự (xem Phụ lục 2). Ví dụ như khi có tai nạn giao thông hay hỏa họan, thì mọi người phải tập trung ứng cứu ngay, chứ không thể nộp đơn đăng ký và đợi một tuần để được phép tập trung. Đối với biểu tình cũng tương tự: Nếu bị tác động bởi một sự kiện mang tính thời sự, vừa mới xảy ra, thì mọi người có nhu cầu thể hiện thái độ ngay lập tức, chứ không thể chờ đợi thêm một tuần nữa với hy vọng sẽ được cấp phép, vì nếu sự kiện gây bức bối trôi qua lâu rồi mới biểu tình phản đối, thì cũng vô duyên như nghe chuyện tiếu lâm hôm trước rồi hôm sau mới cười nắc nẻ.

 Cái sai thứ năm là xâm phạm quyền sinh sống, quyền hoạt động tối thiểu của con người. Biết bao hoạt động thông thường của con người có thể quy về trạng thái “tập trung đông người ở nơi công cộng”. Tập thể dục ở công viên, đi chợ, chờ đợi ở bến ô-tô buýt, cùng có mặt ở trường học hay chỗ làm việc, ăn uống ở quán, và bao hoạt động khác nữa đều là “tập trung đông người ở nơi công cộng”, chứ không chỉ có biểu tình hay tập trung khiếu kiện. Vậy mà Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP đòi hỏi mọi “việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước”, chỉ chừa ra “các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.” Còn ở đâu trên thế giới có một quy định kỳ lạ như thế nữa không? Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP không chỉ xâm phạm quyền công dân được quy định trong Hiến pháp, mà xâm phạm cả quyền sinh sống sơ đẳng của con người – theo mọi thước đo trên đời.

 Chỉ riêng Điều 7 của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, với vẻn vẹn 83 chữ, đã chứa nhiều cái sai như vậy. Vậy nghị định này có xứng đáng với vai trò của một văn bản quy phạm pháp luật để quản lý xã hội và bắt nhân dân phải tuân thủ hay không?

 Thông tư số 09/2005/TT-BCA

 Để định nghĩa khái niệm “tập trung đông người ở nơi công cộng”, Điểm 4.1 của Thông tư số 09/2005/TT-BCA viết nguyên văn như sau:

“4.1. Hoạt động tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này là những trường hợp tổ chức tập trung từ 5 người trở lên tại các khu vực, địa điểm phục vụ chung cho mọi người như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng; tại khu vực trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tại những nơi công cộng khác nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội, đếnquyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.”

 Theo định nghĩa trên thì “tập trung đông người” phải là “những trường hợp tổ chức tập trung”. Tức là: Để khắc phục cái sai thứ ba của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, Thông tư số 09/2005/TT-BCA đã bổ sung thêm từ “tổ chức”, nhằm có được chủ thể hành động cho việc “đăng ký trước”. Vì vậy, hai văn bản này chỉ còn chi phối những trường hợp tập trung có tổ chức. Thế thì tại sao hai văn bản này vẫn được viện dẫn để xử lý các cuộc biểu tình tự phát, không có người đứng ra tổ chức?

 Tiếp theo, thông tư này quy ước “tập trung từ 5 người trở lên” đã là “tập trung đông người”. Dựa vào cơ sở nào mà bảo “5 người” là “đông”? Nếu trong chợ, ngoài đường, ở vườn hoa hay trên sân vận động… chỉ có 5 người, thì tiếng Việt gọi là vắng, là lèo tèo, là ít người, chứ không thể gọi thế là “đông người” được. Vậy là Thông tư số 09/2005/TT-BCA  lại vi phạm Điều 5 của Luật số 52-L/CTN, quy định:

Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông…”

 Thật là phi lý, nếu một gia đình hay một nhóm bạn bè có 5 người đi cùng nhau đã bị gán cho cái nhãn “tập trung đông người ở nơi công cộng” và phải “đăng ký trước với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền”. Tất nhiên, nếu cứ“tập trung từ 5 người trở lên” ở nơi công cộng là “phải đăng ký trước”, theo đúng quy định của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, thì xã hội sẽ đại loạn, và dù bộ máy chính quyền có dồn hết nhân lực, thời gian để duyệt đơn và cấp phép cho “tập trung đông người ở nơi công cộng” thì cũng không thể làm xuể. Do đó, để chữa cái sai thứ năm của Điều 7 thuộc Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, vế sau của Điểm 4.1 thuộc Thông tư số 09/2005/TT-BCA đành phải hạn chế phạm vi chi phối là những trường hợp tập trung

“… nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội, đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.”

Có nghĩa là: Khi “tập trung”, dù “đông người” và có “tổ chức”, nhưng không “nhằm mục đích” kể trên, thì không thuộc vào phạm trù “tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này”, và vì vậy không “phải đăng ký trước”. Ví dụ: Khi phía Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, thì những người biểu tình yêu nước chỉ phản đối hành động đó của “láng giềng tốt”, chứ không hề“đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị” đối với chính quyền Việt Nam, và điều họ phản đối chỉ liên quan đến danh dự và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chứ không hề “liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức”, hay “đời sống chính trị – xã hội”, hay “quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác”. Cho nên, theo vế sau của Điểm 4.1 thuộc Thông tư số 09/2005/TT-BCA, biểu tình yêu nước không thuộc đối tượng chi phối của Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và vì thế không “phải đăng ký trước” (kể cả trường hợp có người đứng ra tổ chức). Vậy thì tại sao người ta vẫn viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP để trấn áp biểu tình yêu nước ôn hòa và bắt bớ những người tham gia?

 Thế mới biết, một khi đã bất chấp, tùy tiện sinh ra thuật ngữ “tập trung đông người”, thì không dễ khắc phục cái sai của nó.

 Hội chứng sợ đông người

 Những phân tích ở hai phần trên chỉ ra rằng:

 –         Nghị định số 38-2005-NĐ-CP vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Khi Quốc hội không hoặc chưa ban hành luật hay điều luật tương ứng thì Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền biểu tình của công dân được quy định trong Hiến pháp.

 –         Việc các cơ quan chính quyền, công an viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA để trấn áp các cuộc biểu tình yêu nước ôn hòa và bắt bớ một số người tham gia là sai về nhiều phương diện, không chỉ sai so với Hiến pháp và pháp luật, mà sai so với chính Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA, bởi theo định nghĩa trong Thông tư số 09/2005/TT-BCA thì các cuộc biểu tình yêu nước đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai mùa hè 2011-2012 không thuộc phạm trù “tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Thông tư này“.

 Tại sao lại có thể soạn thảo và ban hành một nghị định đầy sai trái như vậy? Phải chăng nó được sinh ra gấp gáp, để đối phó với phản ứng khắp nơi của người dân trước nạn mất đất tràn lan?

 Đất đai người dân đang sử dụng để sinh sống, thì đột nhiên bị trưng thu với giá bồi thường rẻ mạt, nhân danh sở hữu Quốc gia để lấy đi, rồi trao cho… các đại gia. Nơi thì chiếm dụng lâu dài, nơi thì tiến hành mấy thao tác đầu tư, rồi đem bán lại với giá cao gấp bội, khiến chủ cũ ngẩn ngơ, vì có khi chồng hết số tiền được đền bù cho cả trăm mét vuông đất cũng chỉ đủ để mua lại mấy mét vuông.  Chợ thì dân đang họp, thậm chí mới buộc phải góp tiền xây chợ chưa lâu, nay lại bị giải tỏa để xây siêu thị của… tư nhân. Chẳng nhẽ các nạn nhân phải nín chịu, để tỏ ra là đang mãn nguyện trong tự do, hạnh phúc hay sao? Bất công quá, không chịu nổi thì họ phải lên tiếng. Nhiều người cùng cảnh, cùng nạn, thì cùng khiếu nại. Thế là bị gán cho cái nhãn “tập trung đông người” và “khiếu kiện đông người”Theo báo cáo tại phiên họp Quốc hội ngày 1 tháng 11 năm 2006, 80% các vụ khiếu kiện đông người là liên quan đến đất đai, chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng.

 Có bất công trầm trọng thì hàng trăm người dân mới bỏ cả công việc kiếm sống mà cùng nhau đi khiếu nại. Những người dân vốn dĩ lành như cục đất, mấy chục năm qua Đảng CSVN bảo gì nghe nấy, quen tuân thủ bất cứ mệnh lệnh nào của chính quyền, vậy mà bây giờ họ phải cùng nhau lên tiếng. Trong số “đông người” ấy có cả những gia đình đã cưu mang bao thế hệ lãnh đạo, có nhiều người đã vào sinh ra tử vì Tổ quốc… Không chỉ bảo vệ lợi ích cá nhân, đòi lại công bằng, mà hành động của họ còn vạch trần sai trái, tố cáo tham nhũng, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thủ phạm chính “gây mất trật tự, an ninh” là phía gây chuyện bất công, nhưng lại không bị lên án, không bị xử lý. Thay vào đó, cái tội “gây mất trật tự, an ninh” lại được chụp lên đầu các nạn nhân, làm lý do để ngăn cản họ đồng thanh lên tiếng. Chẳng nhẽ “vì dân” có nghĩa là “cái gì xấu cũng vì dân” hay sao?

 Nếu thực tâm muốn giải quyết ổn thỏa bức xúc của người dân, thì giải quyết chung trong một vụ khiếu nại sẽ đỡ tốn công hơn nhiều so với chẻ nhỏ thành hàng trăm vụ khiếu nại giống hệt như nhau. Hơn nữa, để cho nhiều người dân không đồng thanh khiếu nại thì phải chấn chỉnh, ngăn chặn tệ nạn chiếm đất tràn lan của dân để giao cho tư nhân mà không đền bù thỏa đáng. Nhưng lại gán cho “tập trung đông người” và “khiếu kiện đông người” cái nguyên nhân là “do kẻ xấu, thế lực thù địch xúi giục” và cái tội là “gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh và trật tự công cộng”. Phải chăng quy kết như vậy để có lý do ngăn cản những “người cùng khổ” đoàn kết với nhau đòi lại công bằng?

 Để ngăn cản “tập trung đông người” thì sử dụng Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA. Để ngăn cản “khiếu kiện đông người” thì sử dụng thêm Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP, trong đó không chấp nhận “đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người”, mặc dù Hiến pháp 1992 chấp nhận “quyền khiếu nại” không hạn chế và Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 chấp nhận đích danh việc “nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung” và “cử đại diện để trình bày”, nghĩa là chấp nhận những vụ khiếu nại của nhiều người cùng đứng tên (xem Phụ lục 7). Ngoài các đường dây tham nhũng, các “nhóm lợi ích”, những biện pháp ngăn cản bất chấp Hiến pháp và pháp luật bảo vệ được ai?

 Chẳng nhẽ “có tật giật mình“, biết rõ mình đã phạm những tội gì đối với dân, với nước, nên sợ rằng nếu sau này nhân dân biết được sự thật thì sẽ không thể dung tha, do đó phải ngăn chặn phản ứng từ xa hay sao?

 “Cây ngay không sợ chết đứng.” Nếu chính quyền thực sự vì dân, vì nước, chỉ làm điều tốt, thì chắc chắn sẽ được đại đa số nhân dân ủng hộ. Khi đó, nếu dân có “tập trung đông người” thì cũng chỉ để mít tinh ca ngợi, hoặc để bảo vệ chính quyền trước thù trong, giặc ngoài (nếu có) mà thôi. Nếu họ tập trung đưa ra kiến nghị, góp ý, thì cũng chỉ nhằm giúp cho chính quyền tốt đẹp hơn nữa. Vậy thì việc gì phải tìm cách ngăn cản “tập trung đông người”?

 Giành được chính quyền là nhờ có “đông người” che chở, giúp đỡ. Thắng được kẻ thù trong chiến tranh cũng nhờ vận động được “đông người” hy sinh xương máu. Thuở phải dựa vào dân, trăm sự cậy nhờ dân, thì càng đông càng tốt, hy sinh triệu người vẫn chưa nản. Sao bây giờ lại sợ “đông người” làm vậy?

 Sai đến bao giờ?

 Phải chăng, vì chăm chăm nhằm vào mục tiêu dẹp phản ứng của những người dân bị mất đất đai, tài sản… và vì năm 2005 chưa thấy có dấu hiệu của biểu tình, nên Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA chủ yếu nhằm vào những đoàn người kéo nhau đi khiếu nại? Và phải chăng vì thế mà Điểm 4.1 của Thông tư số 09/2005/TT-BCA mới đưa ra định nghĩa về “tập trung đông người” chỉ là nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức…”, khiến nó không bao gồm được “biểu tình yêu nước”? Thôi thì đã lỡ viết ra như vậy thì đành lòng vậy. Chính phủ và Bộ Công an đã áp đặt những quy định theo ý muốn chủ quan của mình, thì cũng nên tôn trọng và áp dụng đúng các quy định của chính mình, cớ sao “cấm chó mà lại đòi bắt trâu”?

 Vì sao chính quyền, công an, trong đó có bao người gắn đủ thứ bằng cấp, vẫn hùng hồn viện dẫn Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA để cấm đoán và trấn áp biểu tình yêu nước? Phải chăng họ chưa hề đọc hai văn bản mà họ thường lấy làm bảo bối, hoặc đã đọc rồi nhưng không hiểu nổi? Nên chăng tổ chức cho các công chức trong bộ máy chính quyền, các sĩ quan và chiến sĩ công an, các cán bộ cơ sở ở cấp phường, cấp xã, và cả lãnh đạo cấp cao… thi đua tìm hiểu Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA? Âu cũng là một hình thức học tập và làm theo… pháp luật.

 Vì sao một số người tham gia biểu tình yêu nước vẫn bị sách nhiễu, thậm chí bị hành hạ, dù họ chẳng làm gì phạm pháp? Chẳng nhẽ những người thừa hành đã bị nhào nặn thành robot vô tri, chỉ còn biết tuân theo mệnh lệnh, bất chấp pháp luật, bất chấp đúng sai hay sao?

 Có chút cương vị trong bộ máy cầm quyền thì nhiều vị đã suy nghĩ và hành động như “quan phụ mẫu”, như thể là bố mẹ của dân. Cho nên mới đòi dạy dỗ thiên hạ, và còn “nặng lời vì nói nhẹ không nghe“. Thật “ngộ” khi “cán bộ mầm non” lại đòi giáo dục người về hưu. Thật trớ trêu khi kẻ sai lại lên mặt uốn nắn người đúng, kẻ hiểu biết dưới tầm lại lớn tiếng giáo dục người có trí tuệ tinh thông.

 Có thể ai đó sẽ biện hộ rằng đấy chỉ là sai lầm của cấp dưới, do trình độ hạn chế của cán bộ ở cơ sở. Nhưng nghị định là tác phẩm của Chính phủ, đâu phải là bài tập thực hành của cán bộ cấp phường? Tại sao lại có thể sinh ra những văn bản pháp quy vi phạm Hiến pháp và pháp luật như Nghị định số 38-2005-NĐ-CP?

 Không thể phủ nhận rằng trình độ kém cỏi là một trong những nguyên nhân khiến các cấp chính quyền vi phạm pháp luật tràn lan. Giả sử những người soạn thảo và ban hành Nghị định số 38-2005-NĐ-CP thông hiểu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN (là luật chỉ dành riêng cho giới lãnh đạo, chứ không hề liên quan đến dân thường), thì chẳng khó khăn gì để ghi thêm vào đó mấy câu như: Bộ Công an sẽ ban hành thông tư để quy định về khái niệm “tập trung đông người ở nơi công cộng” và cấp “Ủy ban nhân dân có thẩm quyền” cấp phép, và ban hành Thông tư số 09/2005/TT-BCA cùng lúc với Nghị định số 38-2005-NĐ-CP, để không vi phạm Điều 7 của Luậtsố 52-L/CTN.

 Lẽ ra phải đào tạo tử tế trước khi bổ nhiệm nhân sự vào những vị trí quan trọng. Khi được “bổ nhiệm non” thì phải biết điều, nghiêm túc nhìn nhận sự yếu kém của mình, chịu khó học hỏi để nâng tầm hiểu biết và tư duy, nhằm xứng đáng với cương vị đảm nhiệm. Thế nhưng, nhiều vị lại tự đắc với tầm ngồi, ỷ thế cái ghế quyền lực đã leo lên được để làm bừa, ngạo mạn coi thường nhân dân, đòi giáo dục cả bậc thầy và đe nẹt cả những người đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường từ thuở mình còn quấn tã.

 Song không thể quy mọi vi phạm Hiến pháp, pháp luật của chính quyền cho sự hạn chế trình độ. Bởi lẽ, nhiều điều không hề quá khó và đã được bao người góp ý, nhưng các “con trời” vẫn không học, không nghe, mà cứ làm ngơ, cố tình làm bằng được theo ý mình, nhiều khi như thách thức dư luận. Lý do quan trọng nhất là thái độ bất chấp pháp luật của quá nhiều người trong bộ máy cầm quyền. Dù kém cỏi đến đâu thì họ cũng phải biết những quyền công dân cơ bản được quy định trong Hiến pháp, và biết rằng mọi văn bản pháp quy khác đều phải tuân theo Hiến pháp. Thế nhưng họ vẫn ngang nhiên phủ định, tìm mọi cách để ngăn cản công dân thực hiện các quyền đó. Phía trên thì ban hành văn bản trái Hiến pháp, pháp luật, để cản trở quyền công dân. Phía dưới thì trên sai bảo gì cũng làm, bất chấp phải trái và cơ sở pháp lý, tuân theo cả những mệnh lệnh mà lãnh đạo cấp trên thừa biết là sai trái, nên cố tình dấu mặt để trốn tránh trách nhiệm và sự lên án của dư luận.

 7 năm qua, kể từ khi Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA có hiệu lực đến nay, cả nước có bao nhiêu trường hợp được cấp phép “tập trung đông người ở nơi công cộng”? Câu trả lời sẽ nói lên động cơ của những người soạn thảo, ban hành và những người vận dụng hai văn bản ấy. Đó là bức trường thành được dựng lên để ngăn cản, chứ không phải là cánh cổng mở ra để điều tiết. Về thực chất thì họ sợ và hoàn toàn không muốn chấp nhận bất cứ một cuộc biểu tình nào (không do chính quyền tổ chức), bất kể vì mục đích gì và được tổ chức như ra sao. Chính vì vậy, họ tìm mọi cách chống chế để không ban hành luật biểu tình, mặc dù luật biểu tình là phương tiện hợp pháp tốt nhất để hạn chế và kiểm soát biểu tình, và nếu muốn thì họ có thể đưa vào luật những điều khoản quy định ngặt nghèo đến mức trên thực tế khó mà có thể biểu tình được. Rõ ràng, họ phủ định tuyệt đối quyền biểu tình được ghi trong Hiến pháp hiện hành, tức là chống lại Hiến pháp. Khi không thể tiếp tục công khai khước từ, thì giao cho Bộ Công an soạn thảo luật biểu tình. Giải pháp đó giống như trao còi trọng tài cho một trong hai đội bóng giao đấu trên sân, vì mục tiêu của luật biểu tình không chỉ là điều tiết hành động những người tham biểu tình, mà còn khống chế cả cách hành xử của bộ máy công an. Rồi bao giờ luật biểu tình mới thực sự được soạn thảo và được thông qua thì chỉ “trời” mới biết.

 Một khi Hiến pháp đã quy định “Công dân có quyền … biểu tình theo quy định của pháp luật” thì chỉ còn có hai hoàn cảnh có thể xảy ra: Hoặc là ban hành luật để hạn chế và điều tiết quyền biểu tình, hoặc là không ban hành luật liên quan thì có nghĩa là công dân có quyền biểu tình không hạn chế. Vấn đề được phép đặt ra không phải là chấp nhận biểu tình hay không, mà chỉ là chấp nhận biểu tình thế nào. Đơn giản như vậy, nhưng nhiều người vẫn không hiểu, hoặc cố tình không chịu hiểu.

 Ngay trong Quốc hội cũng có những tiếng nói cực lực phản đối việc thực hiện quyền biểu tình và ban hành luật biểu tình. Đại biểu năng nổ nhất là của Thành phố Hồ Chí Minh, tên là Hoàng Hữu Phước, người nổi tiếng với một số bài viết, như bài “Tôi và Tổng thống Saddam Hussein”. Đại biểu Quốc hội có quyền đề xuất và tham gia sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại không được phép phát biểu chống lại Hiến pháp. Điều 3 của Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội số 56 L/CTN, được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1997, quy định: Đại biểu Quốc hội phải“trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Vậy mà, ông nghị Phước lại thay lòng trung thành với Hiến pháp bằng lòng trung thành với Chính phủ, và trong khi nhiệt thành thể hiện tinh thần bảo vệ Chính phủ, thì ông lại ngang nhiên chống lại Hiến pháp ngay giữa diễn đàn Quốc hội. Thành thử mới bị nhắc nhở rằng: Đại biểu Quốc hội không thể phát biểu vi hiến.” Tiếc rằng, người nhận ra và nhắc nhở vi phạm tối kỵ ấy của ông nghị Phước lại là Luật gia Trần Đình Thu, chứ không phải là Lãnh đạo Quốc hội.

 Chiểu theo Hiến pháp 1992, Điều 18 của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11, được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003quy định:

Ủy ban thường vụ Quốc hội… đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội xem xét, quyết địnhtại kỳ họp gần nhất.”

Chắc hẳn không hiếm văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật. Đã bao giờ Ủy ban thường vụ Quốc hội  thực hiện nhiệm vụ kể trên hay chưa? Đợi đến bao giờ thì Ủy ban thường vụ Quốc hội mới xem xét và xử lý Nghị định số 38-2005-NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA, cũng như Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP?

 Để xây dựng Nhà nước pháp quyền

 Muốn có được Nhà nước pháp quyền thì phải phê phán và ngăn chặn, thậm chí phải lên án và nghiêm trị những hành động lạm quyền, vi phạm Hiến pháp và pháp luật của bất kỳ ai trong bộ máy cầm quyền. Phải loại bỏ những người cố tình vi phạm Hiến pháp và pháp luật ra khỏi bộ máy lãnh đạo.

 Điều tối thiểu là phải chấp hành triệt để nguyên lý cơ bản, như được ghi trong Điều 146 của Hiến pháp 1992:

“Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.”

Phải cương quyết chấm dứt tệ nạn ban hành các văn bản pháp quy vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

 Nếu bộ máy cầm quyền muốn có những quyền hành gì thì cứ trung thực ghi thẳng vào Hiến pháp, và sau đó thì không được lạm quyền, tức là không được vượt quá quyền hạn ấy nữa. Nếu không định chấp nhận những quyền gì của công dân, của xã hội, thì hãy thẳng thắn và can đảm loại bỏ chúng ra khỏi Hiến pháp. Những quyền công dân và quyền của các tổ chức còn tồn tại trong Hiến pháp thì phải tuyệt đối tôn trọng, không được dùng mọi thủ đoạn để cản trở việc thực thi các quyền đó.

 Hiến pháp và pháp luật là công cụ để tổ chức, quản lý và điều khiển xã hội, chứ không phải là một thứ trang điểm hay ngụy trang cho chế độ. Không thể lập lờ, tránh ghi vào Hiến pháp những quyền hành mà trên thực tế bộ máy cầm quyền vẫn thực hiện, nhằm tránh mang tiếng xấu. Biết xấu thì đừng làm. Không thể hùng hồn ghi vào Hiến pháp những quyền công dân và quyền của các tổ chức mà bộ máy cầm quyền không chấp nhận trên thực tế. Đừng sĩ diện, giả tạo kiểu nhà giàu keo kiệt: Không muốn cho ai, nhưng lại muốn khoe khoang là mình hào phóng.

 Hiến pháp và pháp luật là thước đo của chế độ, là mốc chuẩn cho xã hội. Thước đo mà tùy tiện, mỗi lúc, mỗi nơi áp dụng một khác, thì chỉ làm cho chế độ xộc xệch, méo mó. Mốc chuẩn mà không được chính những người cầm quyền tôn trọng, thì chỉ làm cho xã hội thêm loạn.

 Lực cản chính cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đến từ bộ máy cầm quyền, từ giới lãnh đạo. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền thì phải hóa giải được lực cản ấy, nếu không thì Nhà nước pháp quyền cũng chỉ là thứ hữu danh vô thực, giống như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền hội họp, lập hội và quyền biểu tình (được ghi trong Điều 69 của Hiến pháp 1992) mà thôi.

Ghi chú: Mặc dù ngày 3 tháng 6 năm 2008 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 để thay thế, nhưng bài viết này vẫn trích dẫn Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật số 52-L/CTN, được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 12 tháng 11 năm 1996, vì Nghị định số 38-2005-NĐ-CP được ban hành vào năm 2005, tức là trước khi Luật số 17/2008/QH12 và sau khi Luật số 52-L/CTN có hiệu lực. Những nội dung mà bài viết này đã trích dẫn từ Điều 5, Điều 7 và Điều 56 của Luật số 52-L/CTN vẫn còn nguyên giá trị, được trình bày lại tương ứng tại Điều 5, Điều 8 và Điều 14 của Luật số 17/2008/QH12.

 Phụ lục 1

Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định:

 Điều sửa đổi, bổ sung 1

Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hay hạn chế quyền tự do ngôn luận, hoặc quyền tự do báo chí, hoặc quyền của người dân về hội họp (assemble) ôn hòa  kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.

Như vậy, Hiến pháp Mỹ quy định Quốc hội Mỹ không được phép ban hành luật nhằm hạn chế quyền hội họp (trong đó có quyền biểu tình), do đó người dân Mỹ hoàn toàn tự do thực hiện quyền ấy một cách ôn hòa.

 Phụ lục 2

Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (Grundgesetz, có nghĩa là Luật cơ sở hay Luật cơ bản) quy định:

 Điều 8

(1)   Tất cả người Đức có quyền hội họp (versammeln) ôn hòa và không đem theo vũ khí mà không cần phải đăng ký hay xin phép.

(2)   Đối với các cuộc hội họp (Versammlungen) ngoài trời thì quyền này có thể bị hạn chế bởi luật hoặc trên cơ sở một luật.

Luật hội họp của Cộng hòa Liên bang Đức quy định:

 Điều 14

(1)   Ai có ý định tổ chức một cuộc hội họp ngoài trời ở nơi công cộng hay một cuộc tuần hành thì phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền muộn nhất là 48 giờ trước khi ra thông báo, phải trình bày mục đích của cuộc hội họp hay tuần hành.

(2)   Trong bản đăng ký phải chỉ ra người nào chịu trách nhiệm điều khiển cuộc hội họp hay tuần hành.

Như vậy, trách nhiệm “đăng ký” thuộc về người ”có ý định tổ chức”, và chỉ có thể tiến hành “đăng ký” khi tồn tại người “tổ chức”. Do đó, quy định “phải đăng ký” chỉ có thể nhằm vào các cuộc hội họp, tuần hành có người đứng ra tổ chức, không thể áp dụng cho các cuộc hội họp tự phát, không có người tổ chức.

Phán quyết Brokdorf của Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ngày 14 tháng 5 năm 2005 (1 BvR 233, 341/81) đã chỉ rõ: Nghĩa vụ đăng ký quy định trong Điều 14 của Luật hội họp không được áp dụng cho các cuộc biểu tình tự phát và không thể dùng lý do “không đăng ký” để giải tán hay cấm biểu tình tự phát. Bên cạnh biểu tình không có người tổ chức, khái niệm “biểu tình tự phát”(Spontandemonstrationen) còn bao gồm cả những cuộc biểu tình hình thành tức thời vì lý do thời sự (Spontandemonstrationen, die sich aus aktuellem Anlaß augenblicklich bilden). Trong trường hợp này, người tổ chức (nếu có) cũng không phải đăng ký, bởi nếu phải đợi để cơ quan có thẩm quyền xét duyệt thì mất hết ý nghĩa thời sự, hoặc triệt tiêu mất duyên cớ dẫn đến biểu tình.

 Phụ lục 3

Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 quy định:

 Điều thứ 10

Công dân Việt Nam có quyền:

–          Tự do ngôn luận

–          Tự do xuất bản

–          Tự do tổ chức và hội họp

–          Tự do tín ngưỡng

–          Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.

 Phụ lục 4

Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1960 quy định:

 Điều 25

Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.

 Phụ lục 5

Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980 quy định:

 Điều 67

Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân. 

Phụ lục 6

 Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 quy định:

 Điều 112

Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1-    Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;

2-    Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;

3-    Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội;

4-    Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước;

5-    Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;

6-    Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;

7-    Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;

8-    Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;

9-    Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;

10-   Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

11-   Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.

Lưu ý là trong Điều 112, Hiến pháp 1992 dùng chữ quyền hạn chứ không phải quyền. Nếu viết là quyền thì một điều luật cụ thể có thể chỉ đề cập đến một số quyền nào đó, còn khi viết là quyền hạn thì có nghĩa là tất cả các quyền chỉ có như vậy. Rõ ràng là: Hiến pháp 1992 hoàn toàn không cho phép Chính phủ ban hành nghị định hay những văn bản tương tự để hạn chế quyền công dân, mà ngược lại, Hiến pháp giao cho Chính phủ trách nhiệm “Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình”.

 Phụ lục 7

Điều 74 của Hiến pháp 1992 quy định:

“Công dân có quyền khiếu nạiquyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.”

Điều 78 của Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 (được Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998), quy định về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo, có viết:

Cử đại diện để trình bày với người tiếp công dân trong trường hợp có nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung.”

Điều 78 của Luật số 9/1998/QH10 không bị sửa đổi trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo số 26/2004/QH11, thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo số 58/2005/QH11, thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.

Rõ ràng là Hiến pháp chấp nhận quyền khiếu nại (tự do, đầy đủ, không có hạn chế, không loại bỏ dạng khiếu nại nào) và Luật số 9/1998/QH10 chấp nhận đích danh trường hợp có nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung” và được “cử đại diện để trình bày”, nghĩa là chấp nhận những vụ khiếu nại chung của nhiều người, chứ không phải tách thành những đơn riêng lẻ. Thế mà Chính phủ lại khước từ quyền chính đáng ấy bằng ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP, trong đó quy định:

“… trong trường hợp đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người thì có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng…”

(Điều 6, Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo, số 136/2006/NĐ-CP, ngày 14 tháng 11  năm 2006)

Thanh tra Chính phủ cũng khẳng định thêm trong Thông tư số 04/2010/TT-TTCP bằng quy định:

Đơn khiếu nại có họ, tên, chữ ký của nhiều người thì cán bộ xử lý đơn đề xuất Thủ trưởng cơ quan chuyển trả đơn…”

(Điều 8, Thông tư quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo, số 04/2010/TT-TTCP, ngày 26 tháng 8 năm 2010)

Như vậy, Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP đã vi phạm Hiến pháp và Luật số 9/1998/QH10.

Có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có chuyện e ngại và tìm cách cản trở “khiếu kiện đông người”, chứ ở các nước khác thì việc nhiều người cùng ký vào một đơn kiện là chuyện hoàn toàn bình thường, hiển nhiên không có gì đáng bàn và không ai được phép khước từ những lá đơn khiếu nại như vậy.

Đơn của phía Việt Nam kiện các công ty Mỹ đã sản xuất chất độc màu da cam rải xuống chiến trường Việt Nam cũng do 3 người cùng ký tên. Nếu Chính phủ cho rằng “đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người” là sai, là không được, thì sao không ngăn chặn và“hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng”, để giữ gìn thể diện Quốc gia?

25/09/2012

Nguồn: hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu

* Cùng tác giả, đăng trên Ba Sàm:  280. Quyền biểu tình của công dân (9-8-2011); + 736. Một số khía cạnh hình sự của vụ án Tiên Lãng – Hải Phòng (16-02-2012); + 973. Hãy để lương tâm lên tiếng một lần! (08-05-2012);+ 1018. Vẽ mặt thật “Chiến binh cầm bút” (22-05-2012)

Share this:

Like this:

Be the first to like this.

Bài viết này được đăng vào 25/09/2012 lúc 22:39 và tập tin được lưu ở Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước. Bạn có thể theo dõi các phản hồi của bài viết này thông qua RSS 2.0 dòng thông tin. Bạn có thể Để lại lời nhắn, hoặc trackback từ trang của bạn.

28 phản hồi to “1271. Lực cản Nhà nước pháp quyền”

  1. CHÂN LÝ đã nói

    26/09/2012 lúc 17:19 không có DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN và TAM QUYỀN PHÂN LẬP thì không có nhà nước pháp quyền. ĐÂY LÀ CHÂN LÝ DUY NHẤT!

  2. anhhungqt đã nói

    26/09/2012 lúc 15:06 Bài viết của gs Hoàng Xuân Phú rất chi tiết và chặt chẽ ,chỉ ra những cái sai của giới lãnh đạo chính phủ khi ban hành những nghị định ( cụ thể nghị định 38) và thông tư hướng dẫn ( thông tư số 09/2005/TT-BCA)…không tuân thủ theo Hiến Pháp 1992 của nhà nước “pháp quyền XHCN” chứ không phải là nhà nước pháp quyền đại diện cho toàn dân như các nước dân chủ tự do. Nhà nước “pháp quyền XHCN” như cái tên gọi đã nêu bật là nhà nước của ý thức hệ cộng sản nên nó chỉ đại diện cho giai cấp thống trị dưới cái mỹ từ là vô sản, chứ không thể và không bao giờ đại diện cho toàn dân ( không phân biệt giai cấp). Như vậy không cần nói đến cái đang không có ở Việt nam là nhà nước pháp quyền thực sự mà ngay cả cái Hiến pháp 1992 của nhà nước “pháp quyền XHCN” mà giới lãnh đạo nhà nước vẫn tuân thủ thì cái nhà nước CHXHCN VN hiện nay là nhà nước gì?

  3. NONG THI XUAN đã nói

    26/09/2012 lúc 14:01 Hay van dong toan dan nhat te dung day lat do che do doc tai dang tri.

  4. NCH đã nói

    26/09/2012 lúc 12:59 Thì ra không phải chỉ: tự do là cái con c…, mà còn nhiều nữa: qui định, nghị định …v…v..cũng rứa.

  5. Biển Đen đã nói

    26/09/2012 lúc 12:24 Cầu mong sao cho ở VN ta có khoảng 10% ĐBQH và lãnh đạo cấp bộ trưởng trở lên có được nhận thức như GS-TS Hoàng Xuân Phú thì nhân dân, đất nước được nhờ to.

    • Dân Ngu nói đã nói

      26/09/2012 lúc 17:31 bạn Biển đen ạ 10% ĐBQH và lãnh đạo cấp bộ trưởng trở lên có được nhận thức như GS-TS Hoàng Xuân Phú,thì cũng chưa đủ lực làm nên chuyện gì đâu bạn?Vì 10% đó trước sau gì cũng bị 90% kẻ xấu còn lại tìm mọi cách hảm hại và trù dập, vì vậy trước sau gì cũng bị loại ra khỏi hàng ngũ, để chúng dễ dàng tham nhũng đục khoét tài sản của nhân dân, vào cái túi tham không đáy của chúng thôi bạn ạ?

      Posted by 115.73.162.101 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
      This is added while posting a message to avoid misusing the service

  6. cadao đã nói

    26/09/2012 lúc 12:19 Thật thấm thía với bài viết của GS Hoàng xuân Phú. Đúng là một Sĩ-Phu chánh trực, xin cảm-ơn GS rất..rất nhiều.

    Posted by 115.76.39.51 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
    This is added while posting a message to avoid misusing the service

  7. Hồ Nguyễn đã nói

    26/09/2012 lúc 10:56 Bài phân tích thật thấu đáo. Cái hay là tác giả dựa vào chính những tuyên bố đầy mâu thuẫn của nhà cầm quyền đã đủ bác những phi lý của họ. Vì không có chính nghĩa nên nhà cầm quyền luôn loanh quanh, nhưng nguyên tắc là xiết chặt dần theo vòng xoáy trôn ốc. Nếu hiến pháp là miệng con ốc thì các luật là thân con ốc và các nghị định là trôn con ốc. Và đến khi công an đem theo dùi cui, xe bịt bùng, khoá số 8 nữa bịt hẳn cả trôn con ốc.

    • Pham Dong đã nói

      26/09/2012 lúc 11:21 Rất hay, nhưng chỉ hay với những người có học. Còn lũ vô học thì “không hiểu”.

  8. montaukmosquito đã nói

    26/09/2012 lúc 10:36 Thêm một bằng chứng ủng hộ ô Nguyễn Trần Bạt, nhà nước ta chắc chắn không phải nhà nước toàn trị, và tự do cái con cặc .

    Câu hỏi đáng tiền nhất, Án bỏ túi, giữ hay bỏ ?

    http://nguoilotgach.blogspot.dk/2012/09/an-bo-tui-giu-hay-bo.html

    • hỏi gì mà hỏi buổn cưởi ?!!! đã nói

      26/09/2012 lúc 12:03 lại hỏi bưởi cưởi, đã bẩu là cho hỏi, dưng mà phải hỏi ló tử té, không được buồn cưởi…thợ may may quần áo phải có túi, thế túi để làm gì…để đút tiên, và đút án chứ còn éo gì nữa, đã bẩu rổi, hỏi bưởn cười thê lày, éo muốn trả lởi…có muốn con K..ặc …không ? con k phải ở trong quần lót, nghĩa nà phải có khuôn, có phép, hiểu chưa…thôi không nói nữa, tên ông dài quá, bố ai mà nhớ nổi…, cứ đơn giàn là con K …nghĩa nà tự do, hiêu chưa…?!!!

      Posted by 118.71.34.59 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
      This is added while posting a message to avoid misusing the service

  9. TRỰC NGÔN_ABS đã nói

    26/09/2012 lúc 10:30 Vấn đề Pháp trị hay Pháp quyền, tôi đã comment ở một vài nơi. Chỉ là một người dân vô danh, nhưng hôm nay mạn phép Giáo sư Hoàng Xuân Phú, trao đổi thêm về vấn đề Nhà nước Việt Nam có là Nhà nước Pháp quyền, như nhiều người đã nói hay không?

    Khi mà thể chế này xây dựng hệ thống pháp luật XHCN với mong muốn “ Tóm lại, hệ thống pháp luật mà chúng ta xây dựng phải thể hiện tính nguyên tắc nhất quán, nội dung qui phạm năng động, mềm dẻo nhưng chặt chẽ, rõ ràng, bảo đảm sức mạnh của chuyên chính vô sản..” ( Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ Việt Nam, Tập II, Bình luận, Hà Nội 1985, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, tr. 360-361).
    Đó là nhà nước Việt Nam đã khẳng định pháp luật chỉ để phục vụ cho giai tầng lảnh đạo với muc tiêu là “ chuyên chính vô sản”, mà trong đó Pháp luật dùng để Pháp trị, chỉ để đối xử với toàn bộ nhân dân, trừ ra một giai tầng nắm giữ quyền lực, là nhóm lảnh đạo, nhóm lợi ích nhỏ… dần dần đưa đến sự độc trị. Trong xã hội đó, Pháp luật lại trở thành công cụ trong tay kẻ mạnh (như Thương Ưởng, như Hitler, như Mao…) dùng để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Đúng như Giáo sư đã khẳng định “ Pháp luật do bộ máy cầm quyền viết ra, làm công cụ để quản lý và điều khiển xã hội”

    Bàn thêm về Nhà nước pháp trị, là Nhà nước đã thiết lập và thượng tôn một trật tự xã hội dựa trên pháp luật, trật tự pháp lý mà không ai có thể tùy tiện đảo lộn hay xóa bỏ.Còn sự công khai, minh bạch và công tâm của pháp luật là những khái niệm được quy ước, là những thuộc tính của một Nhà nước pháp quyền.
    Quan điểm của Aristotle xứ Hy Lạp là : một xã hội tốt đẹp là một xã hội được cai trị bởi luật pháp chứ không phải bởi bất cứ một cá nhân nào. Hay như Thương Ưởng đời Tần ở Trung Hoa, cũng có tư tưởng pháp trị. Nếu chỉ dùng Luật để trị dân, thì đó là Nhà nước Pháp trị chứ không phải là Nhà nước Pháp quyền. Rule by law nó khác hẳn với Rule of law.
    Sự khác nhau của bản chất của một Nhà Nước Pháp quyền và Pháp trị ở chổ : Nhà nước Pháp quyền đặt ra mục tiêu tối thượng là bảo vệ con người, Nhà nước Pháp trị thì có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị.
    Nên chúng ta sẽ thấy, Nhà nước Pháp trị phong kiến đời Tần khác với phong kiến đời Đường, Hán. Pháp trị đời Đức quốc xã đi đến độc trị, khác hoàn toàn về hành xử của một Nhà nước Pháp quyền đi đến mô hình xã hội dân chủ của Hoa Kỳ, của Anh quốc…vv

    Ông Nguyễn Văn Thạnh trong bài viết “Luật pháp và những kẽ hở của luật pháp” đăng trên Dân Luận đã khái quát :
    “ Chúng ta cần điểm qua một chút về nhà nước pháp trị và nhà nước pháp quyền. Cả hai dạng nhà nước trên đều quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước pháp trị thì luật do nhà cầm quyền đưa ra, cả xã hội phải thực thi (tất nhiên không phải tuyệt đối như vậy, nhưng nét chung là vậy). Ở nhà nước pháp quyền luật do chính người dân đưa ra, thông qua các thỏa thuận dân sự. Luật pháp cuối cùng được xây dựng bởi ý chí của cộng đồng, không có chuyện nhà cầm quyền muốn qui định cái gì cũng được. Đó là lý do vì sao nhà nước pháp quyền là hình ảnh của nhà nước dân chủ.”

    Định nghĩa đó rất đúng.Nếu không có tam quyền phân lập, thì Pháp luật dùng để Pháp trị, chỉ để đối xử với toàn bộ nhân dân, trừ ra một giai tầng nắm giữ quyền lực, là nhóm lảnh đạo, nhóm lợi ích nhỏ… dần dần đưa đến sự độc trị. Trong xã hội đó, Pháp luật lại trở thành công cụ trong tay kẻ mạnh (như Thương Ưởng, như Hitler, như Mao…) dùng để bảo vệ quyền lợi của chính mình.

    Còn tình cảnh ở Việt Nam hiện nay, nếu đã theo mô hình Pháp Trị thì cũng là niềm mong ước của nhiều công dân. Nhưng không hẳn thế, khi giai tầng lảnh đạo lai không có tinh thần Thượng tôn pháp luật, khi công dân chưa có quyền bình đẳng trước pháp luật, vẫn tồn tại điều… số mấy trong Hiến Pháp được ghi ra, chỉ nhằm bảo vệ một giai tầng cầm quyền. Thì rỏ ràng là thể chế này không theo đúng mô hình Nhà nước Pháp quyền hay là Pháp Trị. Nó chỉ là mô hình nữa phong kiến- nữa tư bản thời kỳ đầu tiên, bên ngoài được khoác chiếc áo CNXH, nên Luật pháp chỉ là trò chơi trong tay một nhóm cầm quyền có bản chất là Độc Trị. Muốn vận dụng sao cũng được, muốn hiểu thế nào cũng xong vì toàn bộ Hiến pháp, luật pháp đầy những điều khoản mập mờ cố ý và mâu thuẫn, như Giáo sư đã chứng minh trong bài viết của mình.

    Ai đó đã nói : Ở đâu có quyền lực tập trung tột đỉnh, ở đó có tham nhũng và thối nát tột đỉnh.Và ở một nhà nước Độc trị, sẽ xảy ra hàng loạt các hoạt động vi hiến, nhưng thoát khỏi Công Lý nhờ được núp dưới các danh xưng là vì lợi ích giai cấp, vì lợi ích quốc gia, vì hoàn cảnh lịch sử để lại, vì có công với đất nước…vv.

  10. Haohao đã nói

    26/09/2012 lúc 10:09 LÒE
    Bài viết quá hay và chỉ ra đúng bệnh của “làm cách mạng” và “hành xử của chính quyền cách mạng”:

    “Hiến pháp và pháp luật là công cụ để tổ chức, quản lý và điều khiển xã hội, chứ không phải là một thứ trang điểm hay NGỤY TRANG cho chế độ. Không thể lập lờ, tránh ghi vào Hiến pháp những quyền hành mà trên thực tế bộ máy cầm quyền vẫn thực hiện, nhằm tránh mang tiếng xấu. Biết xấu thì đừng làm. Không thể hùng hồn ghi vào Hiến pháp những quyền công dân và quyền của các tổ chức mà bộ máy cầm quyền không chấp nhận trên thực tế.”

    Nhưng tác giả ví von các quan cách mạng “soạn hiến pháp + pháp luật” theo kiểu nhà giàu ki bo nhưng đầy sĩ diện muốn khoe khoang hào phóng là SAI.

    Họ soạn hiến pháp chứa đựng rất nhiều điều tốt đẹp và tiến bộ để LÒE thế giới. Họ rải mành mành đinh nhọn để không ai được hưởng các điều tốt đẹp mà họ đã ghi. Họ đặt cạm bẫy khắp nơi trong các nghị định, thông tư, quyết định để mọi người dân đều là tù nhân dự khuyết. Họ muốn bắt ai bỏ tù cũng quá dễ.

    Bộ phận chấp pháp làm theo cái gì? Ai thì có quyền chấp pháp? Không rõ, muốn xử ai thì xử, xử đẹp luôn, xử công khai luôn.

    Có ai tự hỏi vì sao Hitler ra lệnh cho Bộ trưởng Phương Đông tiêu diệt gián bằng “điện thoại” khiến hàng triệu người Do Thái vào lò thiêu mà không có ai chịu trách nhiệm và lịch sử đố tìm ra cái luật, nghị định, thông tư nào ra lệnh đó. Bút phê cũng không.

    Khi chấp pháp theo “lệnh miệng” dù là lệnh của Cấp ủy thì coi như KHỎI BÀN. Khi chấp pháp theo Thông báo KHÔNG SỐ thì TỐNG VÔ MẶC là đương nhiên.

    Tác giả thắc mắc vì sao 5 người trở lên là “đông người”? Vậy Tần Thủy Hoàng ra lệnh bao nhiêu người tụ họp “xầm xì” thì bị chết chém?

  11. câm đi đ…trên 5 người ! đã nói

    26/09/2012 lúc 10:00 eo ôi, cứ có 5 ngưởi trở lên, là vi phạm NĐ 38, thế này thì phen này, CA tha hồ mà “xu phạt”, cứ đến các quán bán bia, đừng mặc sắc phục, nhưng có thẻ ‘đỏ”, vào toi lét mà phạt, giở cao điêm, trong đó vài chục mạng ‘tập trung” là ít…liên tục vá quyết liệt…doanh số phạt sẽ tăng “vèo vèo”…!!!
    haha…Bác HXP coi chưng nge, bác viết thế này, sẽ có QĐ điêu động bác vê “công tác mới” tại viện toán của hòa thương “nguyên thích học tóa”, còn bây giờ là hòa thương thích viện toán…bác vê đấy cho nó có đối trọng ( balance) …hehe…chào và cảm ơn GS TS HXP !( hẹn gập nhé, giữa đưởng Nguyễn khánh Toàn, rượu chít & nếp nương tây bắc, bác hỉ ?!).

    Posted by 118.71.34.59 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
    This is added while posting a message to avoid misusing the service

  12. Giáo Sư già về hưu đã nói

    26/09/2012 lúc 08:34 Cũng may trong nước còn có những người có cặp mắt tinh anh, đầu óc minh mẫn, đưa ra những lý luận thật vững chắc như bài viết của GS Hoàng Xuân Phú. Xin cảm phục và đa tạ muôn vàn.

  13. người yêu nước đã nói

    26/09/2012 lúc 06:42 Bài viết hay , logic chặt chẽ và dẫn chứng thuyết phục khiến người đọc nếu thuộc về “phe” nhân dân yêu nước cảm thấy nức lòng.
    Khổ một nỗi là “phe” cầm quyền dùng tất cả những Luật , Nghị định này nọ như công cụ của họ chứ không phải mục đích cuối cùng là xây dựng nhà nước Pháp quyền. Mâu thuẫn hình thức giữa Luật với Nghị định mà tác giả H.X.Phú nêu ra đã minh chứng cho nhận định này. Thế nhưng bên trong hệ thống hiện nay , tức là dưới cái lớp vỏ bọc luôn muốn tỏ ra là bảo đảm quyền dân chủ này nọ ( cụ thể là dùng ngôn từ , điều khoản cho phép tụ tập, biểu tình v.v…trong một loạt bản Hiến pháp các năm từ 1946 đến 1992) có một logic luôn được tuôn thủ chặt chẽ ĐÓ LÀ BẢO ĐẢM QUYỀN LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG.
    Nhưng mà lại không có Luật về đảng cho nên vẫn có cửa mở ngỏ cho sự LẠM QUYỀN THẬM CHÍ ĐỘC QUYỀN , TOÀN TRỊ ngay cả khi Hiến pháp quy định khác.
    Nhớ lại khẩu hiệu ” CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH” treo trước lối ra vào một cơ sở CA nào đó bạn sẽ thấu hiểu cái logic nội tại của chế độ hiện nay .

    Posted by 123.24.173.18 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
    This is added while posting a message to avoid misusing the service

  14. đã nói

    26/09/2012 lúc 06:25 Lực cản (để trở thành ) nhà nước pháp quyền ư? Là tự do vô hạn định của nhúm người tự xưng danh ta là “nhà nước”, là tự do một cách cặn bã của những kẻ cặn bã, là tự do khi được định nghĩa: tự do là là tự do (của) cái củ cặc !

  15. Thích Hoa Cải đã nói

    26/09/2012 lúc 06:14 Khâm phục GS Hoàng Xuân Phú! GS thế mới là GS chứ! Bravo giáo sư!!!

  16. VN xứ sở lạ lùng đã nói

    26/09/2012 lúc 03:54 Việt Nam! Có những xếp hạng rất to trong đất nước Việt Nam rất nhỏ. Trong đất nước rất nhỏ đó có 1 thủ đô rất to. Trong thủ đô rất to có những con đường rất nhỏ. Bên những con đường rất nhỏ có những ngôi biệt thự rất to Trong những ngôi biệt thự rất to có những cô vợ nhỏ’. Những cô vợ nhỏ là của các ông quan to. Những ông quan to có cái cặp rất nhỏ. Trong những cái cặp rất nhỏ có những dự án rất to. Những dự án rất to thì hiệu quả lại rất nhỏ. Hiệu quả rất nhỏ nhưng thất thóat thì rất to. Thất thoát rất to nhưng xử phạt lại rất nhỏ…
    Trung Quốc rất mạnh thường hay lấn áp Việt Nam rất yếu. Tuy Việt Nam yếu nhưng gần đây cũng la rất to, phản đối rất mạnh. Phản đối rát mạnh nhưng lại qua những cấp quan chức rất nhỏ và yếu. Do đó, niềm tin vào quan chức rất yếu nên người bất đồng chính kiến lên tiếng rất mạnh. Lên tiếng mạnh nhưng tiếc thay, được hưởng ứng tích cực rất yếu, hưởng ứng yếu nhưng họ lại bị xử án rất mạnh. Xử án mạnh nhưng hiệu quả răn đe trong dân lại rất yếu, hiệu quả yếu nhưng suy giảm uy tín nhà nước rất mạnh, nhưng thông tin chính thống vẫn rất yếu cho dù rất nhiều báo chí mạnh, báo tuyên truyền mạnh nhưng khả năng tin được thì rất yếu….

  17. DANG QUANG đã nói

    26/09/2012 lúc 00:16 xin sua lai chu “Chinh chu”=”Chinh phu” o dong
    thu 113 tu tren xuong trong bai nay.Xin loi vi khong go duoc dau tieng Viet do bi hong Vietkey

    ——
    BTV: Cám ơn bác Dang Quang. Đã sửa.

    • DANG QUANG đã nói

      26/09/2012 lúc 01:49 va hoa hoa=hoa hoan(dong 279 -tx),phap bieu=phat bieu(dong 520-tx).

      ——-
      BTV: Cám ơn bác, đã sửa rồi ạ. Bác đi đâu lâu nay, không thấy bác vào còm?

      • DANG QUANG đã nói

        26/09/2012 lúc 03:11 Cam on BTV van nho toi lao gia nay.Tui it comment nhung van zo trang TTTVH thuong xuyen day a.

        ——-
        BTV: Làm sao quên bác ĐQ cho được, độc giả kỳ cựu của TTXVH từ những ngày đầu năm 2009, lúc đó bác còm dài, bực tức mấy thằng “đầy tớ” của dân, đôi khi không kềm chế được, nên BTV tưởng bác thuộc “phía bên kia”, ai ngờ lại là đại tá “bên này”. Đề nghị hôm nào bác viết 1 bài về “tự diễn biến” như ông BS viết sinh nhật blog 5 tuổi, BTV sẽ đăng lên đây, giới thiệu cùng độc giả (năm ngoái thỉnh thoảng bác có viết vài bài, nhưng năm nay thì chưa thấy bài nào).

        • DANG QUANG đã nói

          26/09/2012 lúc 03:55 BTV nham toi voi bac Dang Quang-CA roi.Thuc ra toi cung da tung o 1 co quan bao ve phap luat,”tu dien bien” xin ra khoi co quan hon 10 nam roi.Bua nao ranh toi se viet 1 bai ve qua trinh”tu dien bien”cua toi nha.

          ——-
          BTV: Thấy bác lấy nick này, tưởng là bác ĐQ kia, nhưng không sao, bác cũng có thể kể chuyện “tự diễn biến” của bác cho bà con nghe mà.

  18. gsh đã nói

    26/09/2012 lúc 00:02 Đọc xong, tôi càng tin tưởng: với chúng, không thể thỏa hiệp, mà chỉ có tiêu diệt mà thôi…

  19. Dọc đường gió bụi đã nói

    25/09/2012 lúc 23:58 Tác giả Hoàng Xuân Phú đã phân tích một cách rành mạch , sâu sắc những sai phạm cực kỳ nghiêm trọng của 2 nghị định ” Bửu bối” mà chính phủ dùng nó để đàn áp , bịt miệng người yêu nước (phản đối TQ xâm lược) , dân oan (khi bị chính phủ cấu kết với các nhóm lợi ích cướp bóc tài sản , đất đai , ruộng vườn).
    Thiển ý của tôi , vì bản chất của chế độ cọng sản là độc tài , toàn trị ( Có thể làm một thăm dò ý kiến trên toàn thế giới xem có ai nói nhà nước cọng sản là tự do , pháp quyền ? ). Mà đã là độc tài rồi thì làm gì có pháp quyền , tự do , dân chủ ! Họ dựng ra hiến pháp , luât… chỉ làm bình phong che giấu bộ mặt độc tài , nhớp nhúa của họ với thế giới . Họ cai trị dân bằng những quy định khắc nghiệt riêng, ngụy trang dưới tên gọi : nghị định , quyết định…Cho nên mới có cái mâu thuẫn giữa hiến pháp, luật và nghị định . Nôm na, họ chơi quy trình ngược : Nghị định “to” hơn luật và luật “to” hơn hiến pháp.
    Tóm lại,không thể có nhà nước pháp quyền khi (băng) đảng cọng sản còn là ” lực lượng lãnh đạo nhà nước và XH ”
    Rất cảm ơn Bác Hoàng Xuân Phú , tuy không là lĩnh vực chuyên ngành( Bác là dân Toán -Lý ?) nhưng Bác đã trình làng một bài viết …xuất sắc ,trên cả tuyệt vời !
    Các quan chức , hồng vệ binh… cũng nên xem để biết mình đã phạm tội ác với dân như thế nào , bao nhiêu và “sám hối” khi chưa muộn ! Vì luật VAY -TRẢ vẫn là luật thiêng muôn đời .

    • Gmbh đã nói

      26/09/2012 lúc 03:00 Bài viết rất hay, cám ơn bác Hoàng Xuân Phú, nhưng có thể khó hiểu đối với các đ/c công an và nhiều quan chức.
      “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
      Họ sẽ théc méc, nếu qủa thiệt đó là Điều 69 của Hiến pháp CH XHCN Việt Nam, thì họ sẽ đòi thay đổi lại Hiến pháp, bỏ điều Điều 69 này đi, vì nó là …cái con củ c…

    • Khách đã nói

      26/09/2012 lúc 03:43 “Thuở ẩn trong dân cầu đông người tụ tập
      Thời ngự trên dân cấm tụ tập đông người”
      Trong bài viết bác Hoàng Xuân Phú đã cho thấy nỗi Sợ, sợ nhân dân tụ tập đông người của nhà cầm quyền. Đấy không phải là “hội chứng”, mà là nỗi sợ hãi có thật của họ, có thể là tử huyệt của họ.
      Họ ra cái Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10, cấm khiếu kiện tập thể, vô lý không giống ai, theo tôi nghĩ là họ sợ người dân tập hợp, đoàn kết được với nhau vì một mục đích chung, nếu là cá nhân đơn lẻ họ sẽ dễ làm ngơ, đàn áp.
      Không còn ai ngây thơ chờ đợi gì ở cái gọi là Luật biểu tình…do Bộ CA soạn thảo.

  20. gsh đã nói

    25/09/2012 lúc 23:38 Nói quá hay, thật tuyệt vời!

Tướng Huỳnh Văn Nghệ đánh giặc và làm thơ (kỳ 1) – ĐV

26 Th9

Tướng Huỳnh Văn Nghệ đánh giặc và làm thơ (kỳ 1)

 
Tên tuổi của Huỳnh Văn Nghệ gắn liền với khu 7, một trong 3 quân khu của Nam Bộ kháng chiến chống Pháp.

(ĐVO) Trên chiến trường này, ông từng đương đầu với các tướng tư lệnh của Pháp ở Nam Kỳ thời kỳ này như Nyo (12/1946-2/1948), Boyer de la Tour (2/1948-9/1949), Chanson (9/1949-7/1951) và Bondis (9/1951-6/1953).

Cả nước biết đến ông từ những vần thơ da diết trong bài “Nhớ Bắc”:

Ai về Bắc cho ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Từ Sài Gòn sang Phnong Pênh đến Bangkok

Huỳnh Văn nghệ thường được gọi là Tám Nghệ. Ông sinh năm 1914 (tuổi Hổ), quê ở làng Mỹ Lộc, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc tỉnh Bình Dương.

Cuộc đời hoạt động, chiến đấu, công tác của ông được chính ông khái quát bằng những vần thơ:

Tôi là người lăn lóc trên đường trần
Không phân biệt lúc mài gươm múa bút
Đời chiến sĩ máu hòa lệ mực
Còn yêu thương là chiến đấu không thôi
Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi
Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác

Mồ côi cha từ nhỏ, ông được mẹ bán cau tần tảo nuôi các con, học trường làng ở Tân Uyên rồi vào trường trung học Petrus Ký lớn nhất Sài Gòn khi đó, nhưng rồi sau khi học thành chung phải đi làm kiếm sống và giúp mẹ nuôi các em. Ông làm ở ngành xe lửa.

Sài Gòn cuối những năm 1930 đầy biến động. Năm 1939, Đức Quốc xã phát động Đại chiến thế giới lần 2. Năm 1940, quân đội của Hitler đánh vào Pháp. Ở xứ Đông Dương, Nhật tiến vào và trên toàn cõi Đông Nam Á. Việt Nam rơi vào cảnh “một cổ hai tròng” bị thực dân Pháp và phát xít Nhật chà đạp.

Đêm 22 rạng 23/11/1940, khởi nghĩa nổ ra hầu khắp các tỉnh Nam Kỳ, đặc biệt là ở Mỹ Tho. Do thời cơ cách mạng chưa chín muồi, kế hoạch bị lộ nên thực dân Pháp kịp thời đối phó, dùng máy bay, xe tăng đàn áp, triệt hạ nhiều thôn xóm.

Khi đó, Tám Nghệ định chuyển túi đạn cho những người bạn ở quê đang sống trong rừng sau vụ cướp đền Rạch Đông không thành. Lính Pháp phát hiện, ông quyết định vượt biên giơi sở Tây Ninh sang Nam Vang (Phnom Pênh), rồi từ đây lên Battambang và sang Bangkok, nơi người Việt ở đông, có nhiều hội Ái Hữu, Tương Tế.

Tại đây, ông và chi bộ lập ra tờ báo Hồn Cố Hương. Sức cuốn hút của tờ báo có nhiều lý do, mà phần rất quan trọng là những bài thơ yêu nước của ông.

Số báo Xuân Nhâm Ngọ (1942) có bài Tết quê người:

Đêm hôm nay nơi tha hương lữ thứ
Khách chinh phu dừng bước lại ven đường
Ngắm sao mờ phía chân trời xứ sở
Nhớ quê hương trong một phút đoạn trường.

Ba năm ở đất Xiêm chấm dứt khi tháng Giêng năm 1945, lính Nhật áp tải ông về Sài Gòn và giao cho một nhóm thân Nhật ở Sài Gòn.

Trước Tết Ất Dậu (1945), ông rơi vào tay trùm mật thám Bazin của Pháp. Nhưng lúc này Pháp đang lo Nhật đảo chính nên ông “được an trí” ở quê nhà. Trước đó, ông đã qua những ngày bị tra tấn, uy hiếp từ cả hai phía Nhật, Pháp.

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ và vợ.


Bắt “thủ tướng” của cái gọi là “Chính phủ Nam Kỳ tự trị tự do”

31 năm đã qua từ lúc sinh ra, Tám Nghệ trải nghiệm nhiều điều. Ông được thả về nhà vào đúng rằm tháng Giêng 1945. Ngay đêm đó, ông dặn dò người vợ để rồi sáng hôm sau cắt rừng đi tìm đồng đội là nhóm Chín Qùy đang bị truy nã ráo riết. Từ 1943, Pháp đã rắp tâm mai phục nhóm này bằng một trung đội xung kích.

Rồi ông trở lại với các bạn ngành xe lửa ở Sài Gòn, tìm tới văn phòng của Xứ ủy của ông Sáu Giàu (Trần Văn Giàu) ở làng Đa Phước, Quận Cần Giuộc. Ông Sáu Giàu giao nhiều nhiệm vụ “đặc biệt” cho Tám Nghệ, điển hình là truy nã luật sư Dương Văn Giáo vì tội “đã cộng tác với quân đội viễn chinh Pháp”.

Dương Văn Giáo thân Pháp, rồi trở cờ, thân Nhật, Nhật sắp thất trận, Giáo xoay sang Pháp. Ông Giàu phân tích, nói Giáo được Pháp cho lập chính phủ Nam Kỳ tự trị do Giáo đứng đầu, nhiệm vụ bắt được Giáo là quan trọng. Lúc này, Giáo tá túc ở biệt thự của Lê Kim Tỵ, đầu sư Cao Đài phát Tiên Thiên.

Bằng nghệ thuật hoạt động, bằng kiến thức và kinh nghiệm, ông đã lọt vào được tòa biệt thự, lọt qua đám bảo vệ… tiếp cận Dương Văn Giáo và đưa y về căn cứ.

>> Trung tướng Nguyễn Bình – Người anh cả của LLVT Nam Bộ

Gặp Trung tướng Nguyễn Bình

Trong lúc khó khăn bộn bề, Tám Nghệ và đội quân của ông được phái viên Trung ương Nguyễn Bình đến giúp.

Ông Nguyễn Bình đánh giá cao vị trí dốc Bà Nghiêm gần Tân Hòa mà Tám Nghệ chọn. Bộ đội Tân Uyên của Tám Nghệ mang phiên hiệu chi đội 10 của khu 7.

Dưới sự chỉ huy của Khu trưởng Nguyễn Bình, chi đội 10 tham gia trận đánh đêm 1 rạng ngày 2/1/1946, đêm Tết Dương lịch.

Nhân dân thị xã Biên Hòa chỉ được hưởng độc lập gần 60 ngày, kể từ 24/8 đến 24/10 thì Pháp chiếm Biên Hòa. Trận tập kích Biên Hòa hết sức táo bạo, bất ngờ. Thua đau đớn, hơn 3 tuần sau, Pháp dùng 2 cánh thủy bộ đánh vào vùng giải phóng ven dòng Đồng Nai. Quân báo ta phát hiện địch từ xa, chi đội 10 chặn địch ở các nơi hiểm yếu, đánh diệt trăm tên địch. Mưu toan lấn chiếm vào chiến khu D của Pháp ở trận đánh Biên Hòa thất bại.

Nhưng tình hình Nam Bộ nói chung và riêng khu 7 còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề giáo phái. Khu trưởng Nguyễn Bình một mặt cử Bảy Viễn phái Bình Xuyên làm Khu bộ phó thứ nhất và mặt khác cử Tám Nghệ làm Khu bộ phó thứ hai. Bảy Viễn phụ trách sông rạch, Tám Nghệ chỉ huy vùng rừng núi.

Tạm ước 6/3/1946 tạo điều kiện cho những người chỉ huy Nguyễn Bình, Huỳnh Văn Nghệ củng cố lực lượng. Tám Nghệ lần đầu “làm ngoại giao” dự cuộc họp với phía Pháp do Đại tá Fehler dẫn đầu, trên một tàu chiến Pháp. cuộc gặp diễn ra với sự chủ động của ta, tránh sự khiêu khích của địch.

Fehler cố chia rẽ 3 miền Bắc Trung Nam, nói Khu trưởng Nguyễn Bình là người Bắc, trưởng đoàn gặp gỡ Huỳnh Văn Nghệ cũng là người Bắc. Tám Nghệ đã trả lời (bằng tiếng Pháp): “Đúng, tôi là người Bắc, nhưng là người Bắc từ ba trăm năm nay”.

Gặp gỡ là cái cớ để 3 ngày sau Pháp đánh vào đầu não khu 7 nhưng ta biết trước vài giờ, đã có phương án tác chiến. Chúng thất bại đau đớn, quân ta diệt hàng trăm lính dù.

Phía ta, sau trận thắng cũng bí mật chuyển căn cứ của chiến khu D về các huyện Đức Hòa, Đức Huệ dọc sông Vàm Cỏ Đông.

(còn nữa)

Chuyên đề : Tướng lĩnh QĐND Việt Nam Văn Tuấn

“Kêu gọi dân “hy sinh vì thuỷ điện: Như thế là tội ác – SGTT

26 Th9

Kêu gọi dân “hy sinh vì thuỷ điện” : Như thế là tội ác

SGTT.VN – Cuộc sống bình thường là một cuộc sống có thể không khá giả nhưng yên lành, không nơm nớp lo sợ, không bất an thường trực trong bữa ăn và giấc ngủ hàng đêm. Cuộc sống của người dân ở hạ lưu thuỷ điện Sông Tranh 2 hiện nay thực sự là cuộc sống bất bình thường, nhưng đau thương là ở chỗ họ không hề chọn cuộc sống đó..

 

 
Người dân khu vực thủy điện Sông Tranh 2 đang sống bất an bên hàng triệu khối nước. 

 

Lý lẽ một cách tự nhiên và bình thường là: làng xóm có trước, người dân định cư trước đó hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, bỗng nhiên một ngày nào đó những nhà đầu tư đến đào bới, xây bờ đắp đập rồi từ đó, động đất làm đảo lộn toàn bộ đời sống cư dân. Khi mới xuất hiện lần đầu họ vẽ ra cho người dân hiền lành và thật thà một cái bánh vẽ thật hoành tráng giống như họ là “thiên sứ” đến mang lại hạnh phúc cho dân. Nào là tạo ra các khu dân cư mới tươi đẹp hơn, phụ nữ được tạo ra việc làm mới, con em họ được nhận vào làm các khu công nghiệp, các nhà máy, người già có nhà sinh hoạt cộng đồng, đường xá đi lại thuận tiện,…

Nhưng từ khi công trình mọc lên thì mọi sự bất hạnh đổ xuống. Không có gì bất công và khổ nhục hơn khi mà đang ở trong ngôi nhà yên lành lại bị ai đó nhân danh vì sự phát triển đất nước đến bắt phải đi chỗ khác tạm cư đến hơn mười năm, những đứa trẻ sinh ra và lớn lên không biết đến “mái ấm” và bây giờ lại đến chuyện đang có nhà phải bỏ nhà làm lều, làm nhà bằng dăm cây cọc, bìa cạc tông để sống qua ngày.

Nếu đó là hành động của một nhà đầu tư nước ngoài thì còn cho là họ thiếu tình nghĩa, nhưng có điều lạ là các nhà đầu tư Việt Nam đang đối xử tệ bạc với chính đồng bào của mình.

“Đập thuỷ điện thì tồn tại hàng trăm năm, nhà dân thì ngắn hơn”

Trả lời câu hỏi của báo Tuổi Trẻ “Độ an toàn khi có động đất chỉ được tính cho đập thuỷ điện và nhà dân làm sao chịu nổi động đất cấp 8 hoặc cao hơn?” Ông Trần Văn Hải, trưởng ban quản lý thuỷ điện 3 – chủ đầu tư công trình thuỷ điện Sông Tranh 2, cho rằng: “Không thể lấy tiêu chuẩn xây dựng của nhà dân và đập thuỷ điện để tính chung được. Đập thuỷ điện tồn tại hàng trăm năm, còn nhà dân thì ngắn hơn, có tiêu chuẩn riêng của bộ Xây dựng. Đúng là nếu động đất cấp 8 thì đập an toàn nhưng nhà dân sẽ sập. Nhưng tôi đã nói đây là động đất kích thích, không phải vì thuỷ điện Sông Tranh 2 mà nó mạnh hơn, cùng lắm chỉ diễn ra sớm hơn mà thôi…” Và ông Hải cũng kêu gọi người dân nên chia sẻ, hy sinh cho thuỷ điện.

Mỗi khi sự cố xảy ra họ tìm mọi cách đổ cho khách quan, họ phủ dụ dân chúng rằng đừng lo, cứ yên tâm mà sống bởi các nhà khoa học đã nói “dân lo lắng là thừa vì thiếu hiểu biết”… Nhưng làm sao đừng lo được khi mà một ngày vài trận động đất ngay dưới chân mình? Hơn nữa ông trưởng ban quản lý thuỷ điện 3 còn lớn tiếng kêu gọi người dân “hãy nên biết chia sẻ và hy sinh cho thuỷ điện”.

Người dân thật khó mà nuốt trôi “lời khuyên” này, vì làm sao họ chia sẻ được với những người đang làm tổn hại đời sống của họ và con cháu họ. Thật sự thì, họ đã hy sinh rồi thì thuỷ điện mới mọc lên và họ tiếp tục hy sinh nữa thì ai sẽ là người hưởng lợi từ công trình này? Câu trả lời đã rành rành: đó là các nhà đầu tư và những người ăn theo, bởi đầu tư thuỷ điện cực kỳ lời, nước thì của trời, họ đầu tư đập, hồ nước một lần rồi thu lời nhiều chục năm sau. Phần người dân thì được gì? Thực tế còn chỉ ra, rất nhiều cộng đồng dân cư sống ngay bên cạnh các đập thuỷ điện mà không có lấy một giọt điện nào. Còn hơn thế, nếu như những nguy cơ hiện nay biến thành hiện thực trong một ngày nào đó thì tính mạng của người dân sẽ bị chôn vùi dưới hàng triệu mét khối nước. Sự hy sinh mà chủ đầu tư kêu gọi hẳn là có ý nghĩa chính cho việc kiểm điểm rút kinh nghiệm của nhà đầu tư lẫn cơ quan chức năng?

Thật chí lý khi mà nhiều người dân nói rằng họ mong vợ con, cha mẹ các vị có thẩm quyền, các nhà khoa học từng đến ngó dự án và các loại nhà liên quan đến con đập này, đến sống chung với người dân vài ngày để cảm nhận được cái giá của sự hy sinh. Nhà đầu tư không lo cho con đập, bởi vì nó được thiết kế “đảm bảo an toàn” và tồn tại nhiều trăm năm sau, và nhà đầu tư cũng không phải lo cho dân, bởi theo họ thì nhà dân tự thân nó có tuổi thọ ngắn ngủi hơn con đập, việc nứt sập lúc nào chỉ còn là chuyện của thời gian. Xin hãy hiểu thực sự đó là tội ác.

TS Nguyễn Minh Hoà

 

Giờ thì người dân chỉ còn “nhờ trời”

Không thể so sánh động đất kích thích ở Bắc Trà My với động đất kích thích ở Hoà Bình bởi diễn biến địa chất hoàn toàn khác nhau, cấu trúc nền móng của thuỷ điện Sông Tranh 2 quá xấu. Việc tích hay không tích nước cũng chỉ là để trấn an bởi thuỷ điện Sông Tranh 2 không có cửa xả đáy nên ông trời mới là người quyết định việc này, khi lũ từ thượng nguồn đổ về.

PGS.TSKH Phan Văn Quýnh (đại học Khoa học tự nhiên – đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích như trên trong cuộc trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị.

Với mấy chục năm nghiên cứu trong lĩnh vực địa chất – kiến tạo, đã từng tham gia nghiên cứu và khảo sát tại khu vực Sông Tranh 2. Tiến sĩ có thể lý giải tại sao thuỷ điện Sông Tranh 2 đặt không đúng chỗ?

Cái chết người của thuỷ điện Sông Tranh 2 ở đây đó là cấu trúc nền móng của nó rất yếu. Họ đặt cái nhà máy thuỷ điện trên nền các thành tạo granit. Mà cụ thể là các hợp tạo diorit, granodiorit, granit với tổ hợp khoáng vật bất lợi cho sự bền vững khi chúng bị nước tác động. Đá ở Sông Tranh 2 là một trong những loại đá chịu đựng kém nhất với các tác nhân phong hoá như nước, gió, mưa… Ở Hoà Bình, Sơn La mình xây đập trên đá bazan còn ở đây là trên các thành tạo granit, nó khác hẳn nhau. Có một số nhà khoa học phân tích động đất kích thích ở Bắc Trà My cũng giống như động đất ở Hoà Bình, theo quy luật lên tới mạnh nhất (không vượt quá 5,5 độ Richter) và sẽ đi vào ổn định dần. Tôi cho rằng phân tích này chưa chính xác và mang tính “an ủi”. Động đất kích thích gọi đầy đủ là động đất kích thích hồ chứa do khi xây dựng hồ chứa mà tạo nên. Nhưng động đất kích thích của Bắc Trà My nó hơi khác, vì nó liên quan tới đứt gãy và đứt gãy đang hoạt động, liên quan tới đặc thù kiến tạo. Các đứt gãy này còn đóng vai trò khuếch tán nước làm tăng cường các trận động đất kích thích, nên phải xếp riêng động đất của Bắc Trà My ra.

Tiến sĩ đánh giá thế nào về các giải pháp lắp đặt các thiết bị máy móc cũng như quyết định chưa tích nước vào thời điểm này?

Chúng ta biết mực nước chết của hồ Sông Tranh là 140 nhưng khuyết điểm lớn nhất ở đây khi xây dựng là không xây đập xả đáy, chỉ có năm cửa xả lũ ở cao trình 161 nên luôn luôn treo lơ lửng trên đầu nhân dân một cột nước 140m. Bây giờ là tháng 10, sắp tới mùa lũ về dù muốn hay không thì hồ cũng có mực nước 161m. Khi đó việc tích hay không tích nước không phải bởi con người quyết định, mà là ông trời.

Có một điều ai cũng chắc chắn là động đất sẽ mạnh lên. Nhưng sự tăng cường của các thiết bị do động đất cũng chỉ để ghi nhận kết quả không mong muốn này thôi, còn chả làm gì được tai biến ấy cả.

Thanh Tuyền

Vì mục tiêu lợi nhuận của nhà đầu tư

TS Đào Trọng Tứ (giám đốc trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu): “Người dân Bắc Trà My phải bỏ mảnh đất màu mỡ, tươi tốt ven sông, nơi sinh kế của họ để vào ở khu tái định cư “đã là một sự chia sẻ, hy sinh rồi”, nên một khi chủ đầu tư chưa làm tốt thì sao lại tiếp tục bắt dân hy sinh nữa! Không thể phủ nhận thuỷ điện là một nguồn tài nguyên lớn, lợi thế lớn của đất nước ta, nên có nhà khoa học đã gọi đó là “hồng phúc”, và thực tế thuở ban đầu xây dựng và khai thác thuỷ điện, các nhà máy thuỷ điện thường hướng đến đa mục tiêu: phát điện, cung cấp nước cho tưới tiêu, ngăn lũ như Thác Bà, Hoà Bình, Sông Đà… nhưng giờ đây, thuỷ điện đang được khai thác một cách cạn kiệt và hầu như chỉ mục tiêu duy nhất là phát điện – vì mục tiêu lợi nhuận của nhà đầu tư.

Thực tế đến nay, chưa một đánh giá tác động môi trường nào mà làm một dự án thuỷ điện phải dừng lại vì lý do môi trường cả. Bởi lúc ấy, bao giờ lợi ích con số kinh tế sẽ thắng, dự án nào cũng khả thi cả, nhưng vấn đề anh trả giá thế nào thôi”.

Chí Hiếu

TÔI DỰ PHIÊN TÒA XỬ CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO Ở CÔNG AN PHƯỜNG BẾN THÀNH – Huỳnh Ngọc Chênh

26 Th9

TÔI DỰ PHIÊN TÒA XỬ CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO Ở CÔNG AN PHƯỜNG BẾN THÀNH

 PHẠM ĐÌNH TRỌNG
 
Sáng ngày 24 tháng chín, năm 2012, Sài Gòn nắng đẹp. Đi trong nắng mùa thu trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa tôi lại nhớ đến câu hát thôi thúc ngày nào: Mùa thu rồi / Ngày hăm ba / Ta đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến .  .  . Câu hát của thế hệ đàn anh của tôi vào ngày 23 tháng chín năm 1945. Họ hát lời đất nước kêu gọi rồi bừng bừng dũng khí đi vào cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp xâm lược. Hạnh phúc biết bao thế hệ được hát lời kêu gọi của đất nước rồi lên đường cứu nước. Thế hệ của tôi không có được hạnh phúc đó. Thế hệ chúng tôi cũng rầm rập ra trận, lúc đó chúng tôi tưởng rằng đi giải phóng miền Nam và hào hứng hát: Giải phóng miền Nam / Chúng ta cùng quyết tiến bước .  .  . Hóa ra không phải chúng tôi đi giải phóng miền Nam mà chúng tôi đi vào cuộc nội chiến Nam – Bắc tương tàn, chúng tôi chỉ là công cụ mang học thuyết Mác Lê nin, học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu áp đặt cho miền Nam, để cả nước bị nô dịch bởi học thuyết Mác Lê nin, để học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu thống trị cả dân tộc Việt Nam, đánh phá tan tác khối đoàn kết dân tộc Việt Nam, đánh phá tan nát đạo lí và văn hóa Việt Nam.
Dù hạnh phúc hay bất hạnh, thế hệ đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến đã kết thúc vai trò lịch sử. Dù có tội hay có công, thời của thế hệ chúng tôi cũng đã qua. Tuổi trẻ và sức lực của thế hệ chúng tôi đã để lại ở những ngả đường chiến tranh và những năm tháng gian nan, cơ cực, đói khổ, thiếu thốn. Bây giờ chúng tôi đã là những người tuổi già, sức yếu mà đất nước lại đang nguy biến. Giặc bành trướng Phương Bắc đã chiếm nhiều đất đai Việt Nam ở biên cương phía Bắc, đã chiếm nhiều đảo của Việt Nam ở biển khơi phía Đông, đang quyết thôn tính cả đất nước Việt Nam, mưu toan đồng hóa cả dân tộc Việt Nam. Sứ mệnh cứu nước bây giờ chủ yếu đặt trên đôi vai trẻ thế hệ kế tiếp của chúng tôi. Tháng chín mùa thu lại đến. Buổi sáng mùa thu nắng đẹp, tôi đến với những người anh hùng ở thế hệ đó, các anh Blogger Nguyễn Văn Hải, Luật sư Phan Thanh Hải và Blogger Tạ Phong Tần, những người Việt Nam nồng nàn yêu nước, lẫm liệt đi đầu trong cuộc chiến đấu mới chống bành trướng xâm lược nhưng đã bị Tòa án Nhân dân thành phố Sài Gòn buộc tội chống Nhà nước và đưa ra xử vào buổi sáng mùa thu lịch sử này. Điều đau xót là đến với những người anh hùng cứu nước hôm nay, tôi phải đến nơi được gọi là Tòa án Nhân dân thành phố Sài Gòn, nơi xét xử tội phạm.
Đường dẫn đến tòa án Nhân dân thành phố Sài Gòn từ ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Nguyễn Thị Minh Khai đã dày đặc công an. Tôi biết ngoài số công an công khai sắc xanh, sắc vàng giăng trập trùng trên đường kia còn lực lượng công an chìm cũng đông đúc không kém. Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đông nghẹt ô tô, xe máy và dày đặc công an. Tôi rẽ vào đường Nguyễn Du thưa thoáng hơn rồi đi vào đường Nguyễn Trung Trực phía sau Tòa án. Gửi chiếc xe máy ở điểm giữ xe vỉa hè đường Nguyễn Trung Trực, tôi đi bộ theo đường Lý Tử Trọng vòng ra phía trước Tòa án.
Bình thản qua mặt tốp công an ở cổng Tòa án, tôi vào đến mảnh sân Tòa thì người đàn ông mặc áo trắng vẻ mặt gây sự đến đuổi tôi ra ngoài. Tôi hỏi: Anh là ai mà đuổi tôi? Tôi là bảo vệ. Cái gì chứng minh anh là bảo vệ? Anh ta tỏ ra không thèm quan tâm đến câu hỏi của tôi, vẫn gay gắt đuổi tôi ra ngoài cổng. Hai người cầm camera chĩa ống kính vào mặt tôi ghi hình. Tôi nói to: Này, các anh muốn ghi hình mặt tôi, anh phải hỏi, tôi đồng ý anh mới được ghi hình chứ. Đã làm xong việc cần làm nên họ mang camera lẳng lặng bỏ đi. Lại một người mặc đồng phục nhân viên bảo vệ đến đuổi tôi. Tôi bảo: Đây là phiên tòa xét xử công khai, mọi công dân đều có quyền đến dự và tôi mới chỉ đứng ngoài sân, chưa vào phòng xử án. Hơn nữa, chỗ này cũng không có bảng cấm. Nhân viên bảo vệ bỏ đi. Tôi ngồi xuống gờ gạch đỏ bao quanh bồn cây xanh và thảm cỏ.
Tôi ước lượng chỉ từ cổng vào sân tòa án đã có khoảng hơn năm mươi cảnh sát áo xanh. Họ đứng thành hàng bên hàng rào sắt ngăn giữa sân tòa. Họ đứng từng tốp rải rác trong sân tòa. Người đeo còng sắt số tám ở thắt lưng. Người cầm điện thoại di động nghiệp vụ trên tay. Người trên lưng áo có hàng chữ và số CĐ 113, cảnh sát cơ động, hoặc cảnh sát chiến đấu 113. Bộ máy công cụ bạo lực được triển khai, rầm rộ, quyết liệt. Ngoài ra trên sân tòa còn khoảng hơn ba chục người mặc đồ dân sự. Những người này phần lớn ngồi ở gờ gạch đỏ bao quanh hai thảm cỏ ở một phía sân tòa án. Công an chìm đó. Chỉ trong sân trước tòa án đã có tới gần trăm công an chìm, nổi. Số công an chìm, nổi rải trên những đường phố quanh khu vực tòa án phải lên tới cả ngàn người. Tôi lấy điện thoại gọi thử. Máy lặng ngắt, không có sóng! Máy điện thoại dân sự đã bị xóa sóng. Chỉ còn sóng của những máy điện thoại nghiệp vụ công an. Hàng ngàn công cụ hưởng lương cao từ tiền thuế của dân, rồi máy móc, thiết bị hiện đại đắt tiền rầm rộ huy động cho một phiên tòa dân sự không xét chỉ xử ba người viết blog và biểu tình chống phương Bắc xâm lược. Đồng tiền thuế nghèo của dân bị sử dụng hoang phí đến như vậy! Tiền thuế của dân được sử dụng để chống lại chính nhân dân!
Bốn chiếc ô tô chở tù đỗ góc sân sát ngôi nhà tòa án quét vôi vàng. Hai chiếc ô tô mang biển số trung ương từ ngoài cổng chạy vào sân, chiếc bảy chỗ ngồi, 80A 000.70, vòng sang bên trái sân, đỗ lại. Chiếc bốn chỗ ngồi, 80B 6586, vòng sang bên phải. Nhưng không có ai mở cửa xe bước ra.
Người đàn ông xấp xỉ năm mươi tuổi mang kính trắng đến ngồi cạnh tôi. Tôi bắt chuyện: Phiên tòa đã bắt đầu chưa anh? Không biết! Anh ta trả lời gọn lỏn và lại lặng thinh nhưng ít phút sau chính anh ta lại ngồi hỏi chuyện tôi ở đồn công an phường Bến Thành.
Chiếc ô tô màu trắng từ ngoài cổng chạy vào sân, trên thành xe có hàng chữ CẢNH SÁT, sau ca bin chỉ có một hàng ghế ngồi còn lại là thùng nhỏ chở đồ. Chiếc ô tô vòng sang phải quay đầu xe rồi chạy đến đỗ lại bên cạnh tôi. Một người mặc dân sự đứng đó từ trước, nói: Chúng tôi yêu cầu anh ra khỏi đây, anh không ra. Bây giờ mời anh lên xe về phường. Tôi nói: Đây là phiên tòa dân sự công khai, hoàn toàn không có thông báo cấm, sao các anh lại cấm tôi. Tôi định bước ra cổng nhưng cửa xe sau ca bin mở ra, mấy người xô lại, đẩy tôi lên xe. Hai người mặc dân sự ngồi kèm hai bên người tôi. Người còn trẻ mặc quần jean, áo thun đen đã ngồi trên xe từ trước. Phía trước một người ngồi cạnh ghế lái. Chiếc xe rú còi báo động rền rĩ chạy như bay như biến vượt đèn đỏ về công an phường Bến Thành như trên xe đang chở tên trùm tội phạm nguy hiểm.
Tôi bị dẫn lên lầu một, vào phòng có dãy tủ sắt bên tường và mấy chiếc bàn ghế. Đại úy Nguyễn Tuấn Phong đưa tôi tờ giấy có in sẵn hàng chữ Bản Tường Trình. Đọc mươi dòng tôi viết trong Bản Tường Trình rồi đại úy Phong mải miết cắm cúi viết vào tờ giấy gấp đôi Biên Bản Ghi Lời Khai. Tôi chờ đợi biên bản kết thúc khi trang giấy thứ nhất đã gần kín chữ. Nhưng, sang trang thứ hai, viên đại úy trẻ vẫn mải miết viết. Nhìn cây bút bi của đại úy Phong nhoay nhoáy trên trang giấy, tôi mỉm cười nghĩ thầm: Sự việc chả có gì cả. Mình là nhà văn cũng không thể có lắm chữ nghĩa để viết dài đến thế. Viết gần hết trang thứ hai đại úy Phong mới dừng bút, đưa cho tôi tờ giấy vừa viết bảo tôi đọc lại và kí. Tôi ngạc nhiên là chỉ đọc mươi dòng tường trình của tôi và chỉ hỏi tôi đôi câu: Vì sao anh biết có phiên tòa? Anh đi cùng với ai? mà biên bản ghi lời khai cũng có liên tiếp nhiều cặp câu hỏi, đáp của một cuộc lấy cung và điều tôi ngạc nhiên hơn là đại úy Phong khá đẹp trai, mặt mũi khôi ngô nhưng chữ viết xấu quá. Chữ xấu đến đâu tôi cũng đọc được nhưng chữ viết của đại úy Phong thì tôi đành chịu. Tôi bảo người viết đọc cho tôi nghe và tôi cũng không tập trung lắng nghe. Loáng thoáng nghe những điều ghi không có hại cho mình tôi liền kí cho xong để về nhà.
Nhưng hết trung tá Nguyễn Công Cư, đến trung tá Đặng Văn Loát, rồi trung tá Lê Văn Linh đến hỏi tôi nhiều chuyện. Bất ngờ tôi gặp lại ở đây cả người tự giới thiệu là Tuấn ở công an thành phố hồi đầu tháng trước đã đến nhà tôi hỏi tôi nhiều điều về bản Kiến nghị ngày 27.7.2012 của 42 trí thức gửi lãnh đạo thành phố đề nghị tổ chức biểu tình phản đối những hành động xâm lược của Trung Quốc với Việt Nam mà tôi có tham gia kí tên. Hôm đó trước khi ra về, ông Tuấn khuyên tôi: Bác có cuộc sống đầy đủ, con cái trưởng thành, không có gì phải lo nghĩ, bác ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe, đừng đi biểu tình! Hôm nay ông Tuấn cũng mặc đồ dân sự như hôm ông đến nhà tôi nên tôi không biết cấp hàm của ông. Những gì diễn ra sau đó cho tôi biết ông Tuấn chính là người chủ trì việc bắt giữ tôi. Ông Tuấn tất bật ra vào chỉ thỉnh thoảng mới dừng lại nói với tôi một câu. Bác Trọng chủ yếu là chống chủ nghĩa Mác. Ông Tuấn bảo tôi như vậy.
Người đàn ông mang kính trắng đến ngồi cạnh tôi ở sân tòa án cũng lượn lờ ở đây rồi đến ngồi nói chuyện với tôi. Tôi hỏi và ông cho biết tên là Nam ở công an thành phố. Thỉnh thoảng ông an ninh Nam lại tự nói ra một chi tiết về thân thế của tôi chứng tỏ ông Nam biết quá rành về cuộc đời tôi và gia đình tôi. Ông Nam chuyển câu chuyện về chiếc điện thoại di động để ném ra câu hỏi: Điện thoại chú xài mấy sim? Trời ơi, tôi đã nghỉ hưu, suốt ngày ở nhà, đâu có nhiều mối quan hệ, xài một xim đã quá đủ. Tôi thật thà khai báo.
Qua cách hỏi chuyện của những ông trung tá mặc cảnh phục mang bảng tên và những ông an ninh mặc đồ dân sự, tôi biết sự quan tâm lớn nhất của họ là việc tôi đến tòa án có ai đứng ra tổ chức không. Tôi đi với ai? Ai rủ? Đi bằng gì? Vì sao lại biết có phiên tòa? .  .  .
Những ông công an Tuấn, Nam, Nguyễn Công Cư, Đặng Văn Loát, Lê Văn Linh đều ở cùng thế hệ với Blogger Nguyễn Văn Hải, Luật sư Phan Thanh Hải, Blogger Tạ Phong Tần, thế hệ đang được đặt trên vai trách nhiệm về sự giàu nghèo, sự sống còn của đất nước. Anh Nguyễn Văn Hải, anh Phan Thanh Hải, chị Tạ Phong Tần đã sống và hành xử theo lương tâm và trách nhiệm của người dân yêu nước, theo tiếng gọi của đất nước nguy biến thì bị chính quyền khép tội chống Nhà nước. Còn các ông công an Tuấn, Nam, Cư, Loát, Linh .  .  . thì hăng hái, hãnh diện được làm công cụ đàn áp, tù đày những khí phách Nguyễn Thanh Hải, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và cứ nhìn vào gương mặt của họ cũng biết họ đang quá mãn nguyện, nhởn nhơ, hả hê với cuộc sống đủ đầy phong lưu của sĩ quan công an lương cao bổng lộc nhiều mà họ đang được Nhà nước này lấy ngân sách nghèo của nước, lấy đồng tiền thuế đổ mồ hôi sôi nước mắt của dân ưu ái ban cho. Sự ưu ái đó như vị mặn trong thức ăn của con chim được người nuôi. Quen với món ăn có vị đậm đà của muối, con chim không thể rời người nuôi.
Người nói chuyện với tôi nhiều nhất lại là anh chàng trẻ tuổi mặc quần jean, áo thun đen đã ngồi trên ô tô áp giải tôi từ tòa án về công an phường Bến Thành. Cháu đã đọc bài Ăn Mày Dĩ Vãng của bác nhưng mạng bị chặn, cháu chưa đọc hết. Cháu biết bác đã đi thăm Cù Huy Hà Vũ. Ai mua vé máy bay cho bác ra Hà Nội? Tôi phải nói rằng chuyến đi thăm Cù Huy Hà Vũ của tôi chỉ là sự tình cờ. Hằng năm khi ngọn gió heo may xào xạc gợi cảm trở về miền Bắc tôi đều ra Hà Nội để được cảm nhận cái hơi may giá lạnh của nỗi nhớ, của kỉ niệm. Tháng ba năm nay tôi ra Hà Nội đúng dịp chị Dương Hà vợ anh Cù Huy Hà Vũ đi thăm chồng nên tôi xin đi theo. Chuyến đi ngẫu nhiên của tình cảm chứ không phải chuyến đi có tài trợ của tiền bạc, càng không phải chuyến đi có tổ chức của chính trị. Anh chàng an ninh trẻ còn nhắc đến một số bài viết khác của tôi, không hiểu để khai thác ở tôi điều gì. Tôi hỏi, anh chàng cho biết tên là Phước. Không biết có thật Phước đọc được những bài viết đó của tôi. Đó là những bài viết chân thành, là nỗi đau của tôi với đất nước, với nhân dân. Ai đọc bằng cái hồn dân tộc chứ không phải bằng lí thuyết giai cấp, ai đọc bằng cái cảm, cái suy tư của riêng mình đều thấy trong đó một phần hiện thực đau buồn của đất nước để có sự thức tỉnh. Lớp người trẻ tuổi như Phước cần có sự thức tỉnh đó, Phước ơi!
Việc tường trình của tôi, việc ghi biên bản của công an đã xong từ mười giờ. Tôi liên tục đòi về. Ông Tuấn liên tục áp máy điện thoại vào tai nhận lệnh cấp trên rồi bảo tôi chờ một tí, chờ một tí. Mười một giờ. Mười hai giờ. Mười hai giờ rưỡi. Tôi thúc giục nhiều quá, mọi người lảng đi, bỏ mặc tôi ngồi trong phòng. Gần một giờ chiều, một người mang đến cho tôi xuất cơm hộp và nài ép tôi ăn. Tôi phải nói dứt khoát: Có chết đói tôi cũng không ăn cơm của các anh. Tôi cần về nhà chứ tôi không cần ăn cơm.
Họ lại bỏ bỏ mặc tôi trong phòng. Kiểu này họ sẽ giữ tôi cho đến hết ngày làm việc của phiên tòa đây. Không chấp nhận hành xử đó, tôi liền xuống cầu thang, ra cửa. Ông Tuấn vừa nghe điện thoại vừa chặn trước mặt tôi, tôi lách qua bước ra ngoài phố. Gần chục người, cả sắc phục công an, cả thường phục quây quanh tôi, chặn chân tôi. Đã ra ngoài đường nên tôi nói to cho người đi đường thấy việc làm sai trái của công an: Tôi đến dự phiên tòa công khai, tôi không làm điều gì trái pháp luật. Các anh tùy tiện bắt giữ tôi là các anh đang làm trái pháp luật. Người dân được làm mọi việc pháp luật không cấm. Còn các anh chỉ được làm những việc pháp luật cho phép. Luật pháp nào cho phép các anh tùy tiện bắt giữ tôi suốt từ sáng đến giờ. Nhìn những công an trẻ đầy sức vóc đứng quanh tôi, tôi bảo: Một ông già ốm yếu như tôi, chỉ một người trẻ như các anh thừa sức bắt giữ, việc gì các anh phải đứng đông thế này!
Tôi cương quyết đòi ra lấy xe về nhà. Một trung tá, tôi chẳng cần quan tâm đọc bảng tên nữa, bảo tôi: Tôi là trưởng công an ở đây, tôi nói với anh . Anh đưa chìa khóa và vé xe cho anh em ở đây đi lấy xe về đây rồi sẽ giao xe cho anh về nhà. Tin lời hứa của ông trưởng công an phường, tôi giao chìa khóa và vé giữ xe cho Phước. Phước mang xe về nhưng ông Tuấn lại giữ chìa khóa xe của tôi. Đòi mãi không được, tôi phải sẵng giọng, quát: Anh Tuấn! Đưa chìa khóa xe đây! Ông Tuấn một tay nắm chặt chìa khóa xe của tôi, một tay cầm điện thoại áp vào tai. Rời điện thoại khỏi tai, ông Tuấn bảo: Bác chờ công an phường của bác lên đưa bác về. Tôi nói rằng tôi không phải người tù để công an dẫn giải và vẫn liên tục đòi lại chìa khóa xe.
Ông cảnh sát khu vực quen thuộc ở phường tôi, đại úy Dương Tấn Lắm mặc đồ dân sự, cùng một người nữa đi xe máy đến. Lại một cuộc giằng co vì tôi dứt khoát không chịu để công an, dù là ông Lắm, chở tôi về nhà. Ông Tuấn khuyên tôi để công an chở tôi về nhà cho an toàn và đưa chìa khóa xe của tôi cho ông Lắm. Tôi giành lại chìa khóa xe, nổ máy và bảo ông Lắm: Anh muốn đi kèm tôi thì ngồi sau xe tôi. Ông Lắm đành lên xe ngồi sau tôi. Tôi cho xe chạy rất nhanh. Qua kính nhìn sau, tôi thấy hai công an phường Bến Thành, Phước và một người nữa, đi hai xe máy vẫn bám sát cho đến khi tôi về đến nhà.
Đến khuya vào mạng, tôi uất nghẹn đến lặng đi khi trên mạng đưa tin phiên tòa đã tuyên bản án nặng nề không thể tưởng tượng đối với ba trái tim nồng nàn yêu nước: Blogger Nguyễn Văn Hải 12 năm tù, 5 năm quản chế. Blogger Tạ Phong Tần 10  năm tù, 3 năm quản chế. Luật sư Phan Thanh Hải 4 năm tù, 3 năm quản chế.
Nhà nước của tòa án đã buộc tội và tuyên bản án nhục nhã trong lịch sử cho những người yêu nước Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải chính là Nhà nước đã buộc tội và tuyên án cả Trần Quốc Toản khi Trần Quốc Toán dõng dạc hét lên: Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua chư hầu cho đất Bắc. Và các anh, chị Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải chính là Trần Quốc Toản của hôm nay. Tên tuổi các anh chị còn mãi với lịch sử Việt Nam hào hùng còn Nhà nước đã buộc tội và tuyên án các anh, chị sẽ được nhân dân và lịch sử xét xử.  
 
Được đăng bởi vào lúc 12:32

Lê Thừa Khiển: CUNG MÊ

26 Th9

Tranh chấp biển đảo Trung Quốc và nguy cơ chiến tranh – VHNA

26 Th9

Tranh chấp biển đảo Trung Quốc và nguy cơ chiến tranh

Anh Vũ

Căng thẳng trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa hai cường quốc hàng đầu châu Á, Trung Quốc và Nhật Bản, vẫn tiếp tục leo thang, đang thu hút nhiều sự chú ý của quốc tế. Nhật báo Le Monde hôm nay dành hẳn một trang lớn cho chủ đề với bài phân tích của bà Valérie Niquet, chuyên gia quan hệ quốc tế và quan hệ chiến lược ở châu Á, thuộc Quỹ nghiên cứu chiến lược của Pháp. Bài viết có tựa đề « Biển Trung Hoa : Chiến tranh đe dọa ».

Căng thẳng Trung-Nhật bùng lên kể từ khi hôm 10/9, Tokyo thông báo quốc hữu hóa một số đảo trong quần đảo Điếu Ngư/Senkaku đang có tranh chấp giữa hai nước. Trên mặt trận ngoại giao, Bắc Kinh đã đáp lại bằng những tuyên bố giọng đầy đe dọa rằng Tokyo phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về « những hậu quả » kéo theo bởi quyết định trên, đồng thời nhắc lại rằng, Trung Quốc sẽ không « khuất phục » và sẽ bảo vệ lãnh thổ « thiêng liêng » của mình. Từ đó đến giờ, các sự cố tranh chấp biển đảo trên biển Hoa Đông ngày càng trở nên rối tung rối mù không kiểm soát nổi.

Về những động thái mới đây của Trung Quốc nhằm xác quyết chủ quyền, như điều hàng trăm chiếc tàu ngư chính cùng cả nghìn tàu cá đến vùng biển đang tranh chấp, tác giả Valerie Niquet nhận định, đó là nằm trong chiến lược « chiến tranh không giới hạn » của Trung Quốc, theo đó, khai thác các phương tiện dân sự để phục vụ mục đích dân sự.

Ngay lúc này, tại Trung Quốc, liên tục xuất hiện những đe dọa trả đũa kinh tế và kêu gọi tẩy chay hàng hóa Nhật trên inernet cũng như trên báo chí chính thức. Tác giả nhắc lại, mới đây thôi vào năm 2010, Bắc Kinh cũng đã dùng vũ khí kiểm soát xuất khẩu đất hiếm để gây sức ép với Tokyo, vì những căng thẳng tương tự trên biển Hoa Đông.

Theo tác giả, các cuộc biểu tình dữ dội chống Nhật vừa qua, dù không đứng ra tổ chức, nhưng chính quyền đã cho phép và các cuộc biểu tình này đã gây thiệt hại về vật chất cũng như đe dọa an toàn cho kiều dân Nhật. Nhiều công ty Nhật đã tính chuyện rút khỏi Trung Quốc, vì công việc làm ăn của họ gặp quá nhiều rủi ro.

Hậu quả nhãn tiền đó là thị trường chứng khoán Thượng Hải tụt dốc nhanh chóng. Ở Trung Quốc, người ta đang nghi ngại chiến lược làm căng của chính quyền có thể gây hệ lụy đến tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Theo phân tích của chuyên gia Valerie Niquet, hai nước ít nhiều cũng có quan hệ hữu cơ trên mặt kinh tế. Nếu như Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của Nhật, thì xứ Phù Tang lại nắm giữ những công nghệ sống còn đối với nền kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản còn là một trong những nước đầu tư chính vào Trung Quốc. Trong lĩnh vực này, Nhật còn xếp trên cả Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu.

Sử dụng con bài tinh thần dân tộc để lái dư luận trong nước

Gây căng thẳng với Nhật, khơi dậy tình cảm dân tộc chủ nghĩa, theo tác giả, cũng là một việc làm có chủ đích của chính quyền Bắc Kinh, nhất là vào lúc này, khi mà lòng tin của dân chúng vào chế độ đang bị suy giảm nghiêm trọng vì những bất công xã hội và cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo đang được chuẩn bị cho cuối năm nay.

Chuyên gia Niquet phân tích : « Chủ nghĩa dân tộc góp phần làm nên tính chính đáng của đảng, đang nhằm vào mục tiêu chính là Nhật Bản, kẻ thù trong quá khứ, đối thủ hùng mạnh của ngày hôm nay, đồng minh của Hoa Kỳ, và là một tác nhân cản trở cường quốc Trung Hoa đang tìm cách ngự trị trong vùng ».

Vào thời điểm này, chính quyền Bắc Kinh không còn có thể lấy con bài thành công kinh tế để chứng minh tính chính đáng cho sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng. Chế độ cũng đã nhận thấy được sự yếu kém và chia rẽ trong nội bộ đảng. Những vụ bê bối chính trị, tham nhũng trong nước gần đây là một minh chứng của sự rạn nứt hệ thống chính trị. Vì thế việc bảo vệ « những lợi ích cốt lõi » của Trung Quốc đã được chế độ này đưa ra để đánh lạc hướng dư luận.

Theo bà Valerie Niquet, từ năm 2009, trong bối cảnh như vậy mà những sự cố và khiêu khích liên tiếp xảy ra trên vùng biển xung quanh Trung Quốc, không chỉ đối với Nhật Bản mà còn cả với những nước như Philippines, Việt Nam, indonesia hay thậm chí cả với Hoa Kỳ. Các sự cố tranh chấp biển đảo giờ đây làm cho Trung Quốc đang trở thành một mối đe dọa đáng quan ngại của hầu như toàn bộ khu vực, từ châu Á – Thái Bình Dương sang đến Ấn Độ Dương.

Trước mối đe dọa ngày càng gia tăng này thì quyết tâm « trở lại châu Á » của Hoa Kỳ được đánh giá cao trong khu vực. Tuy nhiên tác giả nhận thấy câu chuyện không kết thúc đơn giản. Châu Á giờ đây đang hình thành một mối tương quan sức mạnh, gần giống những gì diễn ra trong thời chiến tranh lạnh hay ở châu Âu ở vào thời kỳ trước chiến tranh thế giới lần thứ 2.

Bằng chứng là, sự phát triển khả năng quân sự gia tăng trong khu vực. Trung Quốc phô trương tàu sân bay mới, Việt Nam thì sắm tàu ngầm của Nga, Hoa Kỳ thông báo mở rộng hệ thống phòng thủ chống tên lửa tại châu Á. Trước Bắc Kinh, Washington đang phải đối mặt với một sự lựa chọn nan giải. Chơi lá bài hòa dịu, đứng ngoài thì sẽ để mặc cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm và có thể gây ra những hệ quả mất ổn định, thậm chí dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng hơn. Trái lại, chơi con bài liên minh thì lại có thể làm bùng nổ xung đột lớn ở trong vùng.

Cuối cùng, chuyên gia Valerie Niquet kết luận, những quan ngại của các nước châu Á trước Trung Quốc cần phải được quốc tế quan tâm. Trong một thế giới toàn cầu hóa ở mức độ như hiện nay, những căng thẳng lên cao tại châu Á có thể gây hậu quả đáng kể đến mối cân bằng của thế giới và sự lựa chọn của các nước.

Quan hệ Trung-Nhật nóng lạnh do đâu ?

Cũng trong chủ để tranh chấp chủ quyền biển đảo Trung- Nhật, Le Monde còn có bài viết ôn lại quan hệ hai nước với tựa : « Tính bất ổn của quan hệ Trung-Nhật ».

Ngày 29/9 này đánh dấu kỷ niệm 40 năm hai nước Trung-Nhật thiết lập quan hệ ngoại giao. Le Monde nhận định, mức độ thắm thiết của mối quan hệ này phụ thuộc vào hoàn cảnh địa chính trị và những phân tích tình hình của chính quyền Trung Quốc vào từng thời điểm khác nhau.

Tờ báo nhắc lại, mặc dù cuộc chiến tranh Trung-Nhật và những tội ác của quân đội Nhật trong quá khứ vẫn là nội dung trọng tâm để giáo dục tinh thần dân tộc ở Trung Quốc, nhưng vào thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, chính Mao Trạch Đông khi tiếp một phái đoàn nghị sĩ Nhật đã nói rằng Trung Quốc phải cám ơn Nhật vì có cuộc chiến tranh này mà đảng Cộng sản mới lên nắm quyền.

Việc thiết lập ngoại giao với kẻ thủ nằm trong bối cảnh khi đó Bắc Kinh đang coi Liên Xô là mối đe dọa chính. Trung Quốc còn quyết định xích lại với « kẻ thù thứ hai » là Hoa Kỳ. Điều này được đánh dấu bằng chuyến thăm lịch sử của tổng thống Mỹ Richard Nixon đến bắc Kinh hồi tháng Giêng năm 1972. Bất ngờ trước tình huống mới này, Tokyo quyết định chủ động xích lại với Bắc Kinh.

Với Bắc Kinh thì việc thiết lập quan hệ ngoại giao với cường quốc Nhật Bản khi đó sẽ giúp cho họ tránh được thế cô lập. Còn với Tokyo, dù còn kiêng dè, nhanh chóng lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc cũng là cơ hội và là cách để cho Washington thấy một điều : Lợi ích của Nhật mới là quan tâm hàng đầu trong sự lựa chọn ngoại giao.

Theo Le Monde, từ năm 1971, Trung Quốc và Đài Loan lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Điếu Ngư/ Senkaku, nhưng Tokyo khi đó không coi đây là thách thức lớn vì cho rằng Trung Quốc vẫn cần đến sự trợ giúp của Nhật. Năm 1992, Bắc Kinh đã rất hoan hỷ đón Nhật Hoàng đến thăm, một cử chỉ cho thấy Nhật Bản là cường quốc đầu tiên phá vỡ sự cô lập của Bắc Kinh, sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989.

Giờ đây, hoàn cảnh đã khác. Mối đe dọa của Liên Xô không còn nữa, Trung Quốc thì cũng đã vươn lên thành cường quốc thứ 2 thế giới. Lúc này thì chính Hoa Kỳ và các đồng minh châu Á mới là mối quan ngại của Trung Quốc.

Le Monde phân tích, dù cho quan hệ kinh tế giữa Tokyo và Bắc Kinh là quan hệ tương hỗ, thì với chính quyền hiện nay, Nhật Bản cũng là nơi để trút nỗi thất vọng chán chường của người dân.

Vấn đề lãnh thổ trong bối cảnh hiện nay chỉ là cái cớ, hay có thể gọi đây là một biểu hiện về hiện trạng quan hệ giữa hai cường quốc châu Á. Bản thân Đặng Tiểu Bình, năm 1978 trước khi tung ra đường lối cải cách mở cửa cho Trung Quốc đã từng tuyên bố xếp sang một bên chuyện tranh chấp Điếu Ngư/ Senkaku để mở đường cho hợp tác kinh tế giữa hai nước. Giờ đây thì Bắc Kinh lại đặt quần đảo này vào khu vực « lợi ích cốt lõi » kiên quyết bảo vệ.

Tờ báo kết luận, như vậy là mức độ căng thẳng giữa Tokyo và Bắc Kinh chính là chiếc hàn thử biểu chính xác đo mức độ mở cửa và hội nhập vào hệ thống thế giới theo mong muốn của Bắc Kinh.

Tổng thống Pháp lần đầu trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc

Một thời sự quốc tế khác cũng được các báo Pháp chú ý nhiều, đó là ngày hôm nay, khai mạc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Lần đầu tiên tổng thống Pháp Francois Hollande phát biểu trên diễn đàn thế giới giới này cùng với rất nhiều hồ sơ quốc tế nóng bỏng hiện nay. Nhật báo Le Figaro chạy tựa lớn trên trang nhất « Chính sách đối ngoại : Hollande tìm kiếm dấu ấn ». Tờ báo nhấn mạnh, « người đứng đầu Nhà nước Pháp hôm nay phát biểu trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc tại New York. Đây là dịp để ông thể làm rõ nét hơn hình ảnh ngoại giao (của Pháp) hiện còn đang rất lu mờ » trên trường quốc tế. Đặc biệt là trên hồ sơ Syria, được tờ báo cho là một hò sơ nóng bóng hiện nay đang rơi vào bế tắc hoàn toàn, trong khi Pháp không thể hiện được vai trò gì mạnh mẽ như đã làm với trường hợp Libya. Tờ báo kết luận ông « Hollande hãy thôi làm người ”bình thường” đi để đưa nước Pháp hiện diện trở lại trên bản đồ thế giới ».

Vẫn liên quan đến sự kiện này, nhật báo la Croix cũng có chung nhận xét « Syria, Liên Hiệp Quốc tìm kiếm một lối thoát ». Theo tờ báo thì cuộc nội chiến tại Syria là chủ đề bao trùm tại khóa họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, khai mạc hôm nay tại New York. Tuy nhiên, vì thiếu chiến lược chung, nên đến lúc này, không có hy vọng nào cho thấy cộng đồng quốc tế sẽ đưa ra được quyết định giải quyết khủng hoảng Syria trong khóa họp này. Trong khi đó, cuộc xung đột tại hiện trường vẫn tiếp tục diễn ra khốc liệt, đẫm máu hơn.

Nguồn: rfi

%d bloggers like this: