Lưu trữ | 1:03 Chiều

PHAN LẠC HOA QUA HỒI ỨC CỦA BÁC SĨ SAO HỒNG – Nguyentrongtao

27 Th9

PHAN LẠC HOA QUA HỒI ỨC CỦA BÁC SĨ SAO HỒNG

 

Bút tích của Phan Lạc Hoa

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Nhạc sĩ Phan Lạc Hoa (1947-1982), tác giả những ca khúc nổi tiếng “Tàu anh qua núi”, “Tình yêu bên dòng sông quan họ”. Anh là người chồng 10 năm của NSND Thanh Hoa (tên thật là Nguyễn Thị Thanh, khi lấy nhau ghép với tên chồng thành tên ca sĩ), sinh hạ 3 người con là Thư, Lữ, Nguyên, nhưng Nguyên mất lúc còn nhỏ. Người con gái đầu lòng hiện là nhà thơ nổi tiếng Phan Huyền Thư. Năm nay tròn 30 năm (19/ 09/2010 – 19/09/2012) anh ra đi bằng cái chết trong sợi dây thừng oan nghiệt, tôi vào mạng thấy có bài viết của bác sĩ biệt danh Sao Hồng, người đã từng là sinh viên thực tập tại giường bệnh của Phan Lạc Hoa ở bệnh viên Bạch Mai những ngày cuối cùng của anh. Bài viết tuy có một số thông tin thiếu chính xác, nhưng phần nào cũng đã “ghi lại” được sự thật về người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh này. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Phan Lạc Hoa, cánh hoa rơi lạc giữa bão táp cuộc đời

SAO HỒNG

Câu chuyện mình viết lên đây, chỉ là những ký ức và kỷ niệm một thời đói khổ và mộng mơ. Mình trực tiếp nghe, tiếp xúc, đọc được những gì về một nhạc sỹ tài hoa bạc mệnh. Có thể có những chi tiết chưa chính xác (30 năm rồi chứ ít đâu) nhưng mình vãn tự tin vào trí nhớ của mình.

Ngày nay, những tư liệu về ông rất ít. Thế hệ trẻ sau này chỉ biết về ông, nhìn nhận ông, đánh giá ông qua những tâm sự, phỏng vấn hiếm hoi với người thân của ông. Nhưng xuyên suốt trong các câu chuyện về ông, mình vẫn thấy người thân, bạn bè của  ông, vì nhiều lý do, chưa “bật mí” hết những khía cạnh chìm khuất của ông.

Có một thời, khi ông mới mất, người đời thương quý ông và nghe đồn thổi mà sinh ra ghét bỏ và lên án người vợ mà ông yêu hết mình. Cũng vì quá yêu vợ mà ông tìm đến cái chết oan uổng.

Mình viết bài này cách đây hai năm, 2010, khi còn chơi bên Yahoo. Mình ngắt quảng câu chuyện về ông thành các phần theo mạch lan man trong tư duy của mình. Và cũng có một phần chưa viết, theo dự kiến.

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày ông từ giả “cõi tạm” (19/9/1982 – 19/9/2012), mình edited và post lại câu chuyện như một ký ức thời sinh viên để tưởng nhớ về ông, Nhạc sỹ Phan Lạc Hoa.

  1. I. HOÀI NIỆM VỀ SỐ PHẬN MỘT BỆNH NHÂN ĐẶC BIỆT.

Mỗi lần về quê hay có dịp xuôi tàu trên đường thiên lý Bắc – Nam, dòng suy tư lại đưa mình nhớ khôn nguôi về một con người tài hoa nhưng sớm rơi rụng, chìm lấp trong cõi hư vô và sự nổi tiếng của người thân. Đó là Nhạc sỹ Phan Lạc Hoa.

Mỗi khi qua đèo Hải Vân, cheo leo bên bờ biển Đông, nhà tàu lại phát bài ca “Tàu anh qua núi”. Giai điệu thiết tha trầm lắng của bài ca đã gợi lên nổi nhớ của mình. Một cuộc đời bầm dập, long đong và cách giải thoát bế tắc của ông dẫn dắt suy tư của mình “theo nhịp con tàu đi”.

Mình bắt đầu nghe tiếng Phan Lạc Hoa từ những bài hát nổi tiếng một thời qua làn sóng phát thanh: “Tàu Anh Qua Núi”, Tình Yêu Bên Dòng Sông Quan Họ”,… Về sau, mình trực tiếp nghe người vợ trẻ của ông, ca sỹ Thanh Hoa thể hiện những bài hát này tại sân trường đại học. Cứ mỗi cuối tuần, tháng một lần, Đoàn trường Đại học Y Hà Nội thường mời các ca sỹ Kiều Hưng, Thanh Hoa, Ngọc Bé, Ngọc Tân,… về biểu diễn cho sinh viên.

Tháng 9 năm 1981, mình là sinh viên năm thứ năm (Y5) đi học luân khoa ở Khoa Tâm thần, bệnh viện Bạch Mai (nay là Viện Sức khỏe Tâm thần). Nhạc sỹ Phan Lạc Hoa đang là một trong những “bệnh nhân nổi tiếng” ở Khoa này.

Thời đó, nhiều bệnh nhân nam của Khoa Tâm thần, bệnh viện Bạch Mai, có “lý lịch cuộc đời” rất ấn tượng với sinh viên như tụi mình. Đa số họ, có biệt tài, học giỏi, thông minh hoặc uyên bác một lĩnh vực nào đó. Họ nhập viện từ hầu hết ở các lĩnh vực trong đời sống. Thậm chí, có người từ “tầng lớp cung đình”.

Những tư duy, những suy nghĩ thầm kín của họ hoặc là quá cao siêu hoặc là lạc lõng giữa thời cuộc, làm cho họ luôn cảm thấy cuộc đời mình bế tắc. Cũng có người vì bị quy là “tâm thần” và bị buộc vào viện. Trường hợp như Nhạc sỹ Phan Lạc Hoa theo bệnh học tâm thần, được xếp vào nhóm “tâm căn” và “nhân cách yếu”. Nói một cách ví von là họ thuộc nhóm nhân cách nghệ sỹ.

Những lúc rảnh rỗi, sinh viên thường lấy cớ chăm sóc, thăm bệnh nhân để tiếp cận để nghe họ kể những câu chuyện hấp dẫn về cuộc đời họ. Thậm chí, khi sang học ở khoa Da liễu, hay Truyền nhiễm, thi thoảng mình vẫn còn la cà sang khoa Tâm thần hóng hớt. Bệnh nhân Phan Lạc Hoa một trong số bệnh nhân nổi bật được sinh viên quan tâm đặc biệt.

Trong trí nhớ của mình, Nhạc sỹ Phan Lạc Hoa thuộc diện xí trai. Mái tóc bờm lên những nếp xoăn màu nâu cháy nắng. Khuôn mặt gồ ghề khá sắc cạnh. Da mặt ngăm ngăm lại điểm xuyết vết rỗ. Dấu tích của bệnh đậu mùa thời ấu thơ nghèo khó (có lẽ, điều này giải thích vì sao hiếm có hình ảnh của ông trên phương tiện truyền thông hiện nay). Người ông tầm thước. Hai bàn tay đầy vết chai sạn như người công nhân quen cầm búa, cầm kìm. Nó tương phản với hình ảnh ông ôm đàn ghi ta với giọng khàn khàn cất lên những bài ca mà ông tâm đắc.

Đặc biệt, ông có biệt tài kể chuyện. Ông kể chuyện rất hấp dẫn và lôi cuốn như hút hồn người nghe. Chính những câu chuyện chắp nối giữa những khoảng tỉnh và mê đã vẽ nên cuộc đời bôn ba chìm nổi của ông. Từ chuyện cuộc đời, chuyện bạn bè đồng nghiệp, chuyện sáng tác, nghiệp và nghề đến chuyện tình yêu với vợ con và gia đình. Ông thường nói về vợ mình với một tình yêu  đau đớn. Khi đó, cuộc hôn nhân đang đi đến hồi kết mà tình yêu dành cho vợ nơi ông vẫn còn như xưa. Có lúc, câu chuyện kết thúc trong nước mắt làm những sinh viên trẻ như tụi mình cũng rưng rưng trong lòng.

Ông nói 10 năm hôn nhân thì thì hơn một nữa là hạnh phúc. Hai vợ chồng vẫn có với nhau 3 đứa con kháu khỉnh xinh đẹp. Phan Huyền Thư, Phan Thế Lữ và Phan Cao Nguyên. Đó là nhờ tình yêu của vợ ông. Đặc biệt, ông vẫn không nguôi được nỗi đau mất đứa con trai duy nhất. Cháu Phan Cao Nguyên.

Trong câu chuyện của ông, vợ ông là một người đàn bà có sức cuốn hút đàn ông, tuy không đẹp cho lắm. Hừng hực sống, khao khát yêu đương. Say mê ca hát. Cháy hết mình mỗi khi lên sân khấu cũng như khi yêu.

Cũng như bao người khác, với ông mỗi đứa con là một thiên thần bé nhỏ. Phan Cao Nguyên là niềm tự hào, hy vọng và là nguồn sống tinh thần của ông. Vì thế, khi cháu mất đi ông suy sụp hẳn. Cuộc đời coi như hết đối với ông.

Hơn một tuổi, Cao Nguyên bị bệnh tiêu chảy nhưng mức độ chưa trầm trọng. Khi vào Viện Nhi (hồi đó đang ở trong khuôn viên Bệnh viện Bạch Mai) điều trị. Nằm chung phòng với một cháu trai cùng tuổi những bị bệnh nặng hơn. Hai đứa khá giống nhau.

Ytá điều trị đã sơ suất không “3 tra 3 chiếu” khi thực hiện chỉ định truyền dịch của bác sỹ. Thay vì thực hiện cho cháu bên cạnh, y tá đã truyền cho cháu Nguyên. Kết quả là cháu Nguyên bị phù phổi cấp không cứu được. Chuyện này, mình nghe các anh lớp trên đi học lâm sàng Nhi kể lại.

Cho đến bây giờ, mình vẫn nghĩ, nếu Cao Nguyên còn sống, chắc bệnh nhân Phan Lạc Hoa không tìm cách giải thoát bế tắc một cách bi thương như thế. Đó là khi tâm trạng của ông trở nên u uất. Những khi ông khỏe và tỉnh táo. Ông vẫn vui cười và vẫn đàn hát cho sinh viên và bệnh nhân bên cạnh nghe.

Mỗi chủ nhật, sáng hoặc chiều, ca sỹ Thanh Hoa và hai cô con gái cỡ 8, 9 tuổi vào thăm ông. May mắn cho sinh viên nào trực vào ngày chủ nhật là được nghe và chứng kiến những giây phút hạnh phúc hiếm hoi của một gia đình nghệ sỹ. Đôi khi, nhìn cảnh ấy, mình cũng ước ao được sống trong một gia đình nghệ sỹ như vậy.

Nếu chứng kiến cảnh sum vầy ấy, nhiều người sẽ không ngờ chính trong thời gian này, tình yêu và hôn nhân của hai nghệ sỹ này đã rạn nứt và không có cơ hàn gắn như sự thừa nhận có vẽ buông xuôi của bệnh nhân Phan Lạc Hoa.

Chỉ đến khi tham dự buổi báo cáo tốt nghiệp Bác sỹ Nội trú của anh Kim Việt, một bác sỹ nội trú giỏi của Bộ môn Tâm thần học, mình mới hiểu thêm về cuộc đời và những khổ đau, dằn vặt dẫn đến căn bệnh của bệnh nhân Phan Lạc Hoa.

Mình đã khóc khi nghe anh Việt trình bày luận văn trước hội đồng. Bản luận văn như một tiểu thuyết cuộc đời chìm nổi của Phan Lạc Hoa thấm đẫm nước mắt và nhân tình thế thái. Mà không riêng gì mình, các bạn mình, các bác sỹ, y tá và hộ sinh đều rơi nước mắt.

Chính ấn tượng sấu sắc hồi đó làm mình nhớ mãi bệnh nhân Phan Lạc Hoa. Cuộc đời ông, tình yêu tuyệt vọng của ông như một cánh hoa tả tơi và ắt sớm rụng rơi trước dông bão cuộc đời.

II – BỆNH ÁN BỆNH NHÂN: cuốn tiểu thuyết một cuộc đời…

Mình đã khóc khi nghe anh Việt trình bày luận văn trước hội đồng. Bản luận văn như một tiểu thuyết cuộc đời chìm nổi của Phan Lạc Hoa thấm đẫm nước mắt và nhân tình thế thái.

Phan Lạc Hoa sinh ra khi nền cộng hòa dân quốc vừa hai tuổi. Dư âm trận đói năm Ất Dậu (1945) còn bao trùm đồng bằng thôn quê Bắc Bộ. Quê ông ở Hữu Bằng, Thạch Thất. Bố mất sớm, hai mẹ con dắt díu nhau lang bạt kiếm ăn xứ người. Từ quê hai mẹ con trôi dạt theo dòng di dân quen thuộc thời Pháp: Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Ông học ở trường đời nhiều hơn trường lớp. Những công nhân, thợ lò vùng cảng, vùng mỏ tốt bụng đã cưu mang giúp đỡ mẹ con ông. Trong câu chuyện, ông vẫn ví von, tuổi thơ mình như cây cỏ dại mọc lên giữa cánh đồng hoang. Giữa cánh đồng hoang đó, có những cây chèn ép và lấn át mình, nhưng cũng có những cây tỏa bóng mát che chở cho mình.

Việc học hành chắp vá nhưng ông là người thông minh và nhạy cảm. Ông có “hoa tay” và năng khiếu văn nghệ gần như bẩm sinh. Vì thế, từ phong trào văn nghệ quần chúng ông được cử về học ở trường Nhạc Hà Nội. Ông được đào tạo cho phong trào văn nghệ vùng mỏ Quảng Ninh.

Tại trường Nhạc, ông gặp và yêu mê mệt cô nữ sinh năm thứ ba “bé choắt, có đôi mắt đẹp hút hồn và giọng hát đầy triển vọng”, Nguyễn Thị Thanh. Mối tình lãng mạn bay bổng đạt đến đỉnh của sự ngất ngây thì… cả hai phải đối diện với thực tại. Cô sinh viên có thai khi chưa kết thúc khóa học.

Việc có thai ngoài ý muốn mà chưa hôn thú, “chưa báo cáo tổ chức” là vấn đề rất nghiêm trọng bấy giờ. Chế độ tem phiếu có thể không chết đói với một người độc thân nhưng với một “gia đình sinh viên chưa có hộ khẩu” thì không còn là chuyện mộng mơ.

Như một cú sốc, ông mất thăng bằng một thời gian vì không biết sẽ tổ chức cuộc sống thế nào. Ông chạy trốn thực tại lang thang với bạn bè. Hồi tâm, ông quay về sống với Thanh mà không cưới hỏi.

Ra trường, ông có quyết định đi B khi người vợ trẻ đã mang thai tháng thứ bảy. Ông hoang mang tột độ. Ông đau đầu giữa việc đi chiến trường bỏ vợ ở nhà với bụng bầu hay từ chối quyết định. Ở lại với vợ con là sẽ bị kỷ luật vì đồng nghĩa với việc đào nhiệm.

Tình cảm lấn át lý trí, cuối cùng, ông liều mình ở lại chăm sóc vợ con. Nghiễm nhiên, ông bị kỷ luật và bị “vất ra lề đường”. Mất biên chế là trắng tay. Không sổ gạo không tem phiếu. Không nơi nào dám nhận ông “một thằng đào nhiệm”, như lời ông nói.

Như một người tỉnh lẻ “trôi dạt về thủ đô” mà phải gánh trên vai trách nhiệm làm cha làm chồng. Ông làm bất cứ công việc gì để tồn tại cùng vợ con. Cũng có khi, sáng đi tìm việc, chiều về với hai bàn tay trắng trong cơn say nửa tỉnh nửa mơ.

Những năm tháng bị “tống ra lề đường”, bị hắt hủi ông mang tâm trạng mặc cảm tự ti. Ông bảo, làm thằng đàn ông thật là hèn khi phải ăn bám vợ.

Vợ ông, ca sỹ trẻ Nguyễn Thị Thanh được nhận về Đài Tiếng nói Việt Nam như một biên chế. Rồi trở nên nổi tiếng với nghệ danh Thanh Hoa. Nổi dày vò mặc cảm của ông ngày càng chồng chất, khi vợ ông càng khẳng định được chổ đứng trong lòng khán giả.

Qua bạn bè, ông được gặp vị cứu tinh, Tạ Đình Đề. Ông Tạ Đình Đề là một nhân vật huyền thoại của thời kháng Pháp. Ông có tài có tâm và biết nhìn người. Với bản tính nghĩa hiệp, giỏi thu phục nhân tâm, ông đã cưu mang những người có cá tính và thất cơ lỡ vận như Phan Lạc Hoa, Lưu Quang Vũ. Giao cho họ việc làm, cho họ môi trường để phát huy năng khiếu vốn có. Vì thế, thời đó, Tổng cục Đường sắt có phong trào văn thể rất sôi nổi. Họ có cả đoàn văn công, đội bóng đá, bóng chuyền nổi tiếng.

Ông Tạ Đình Đề bị bắt oan lần thứ nhất, đoàn văn công đường sắt cũng dần rã đám. Phan Lạc Hoa quay lại làm công nhân sắp chữ ở xưởng in. Lao động chân tay đối với ông, không có gì lạ. Nhưng tiếp xúc nhiều với bản kẽm bằng chì, cộng với thiếu cơm thừa rượu tạp, thuốc lá, thuốc lào rẻ tiền, đã dần dần tích lũy nên… bệnh tật của ông sau này.

Nước nhà thống nhất. Năm 1976, ông Tạ Đình Đề được giải oan và trở lại làm việc. Phan Lạc Hoa vẫn vừa làm công nhân vừa hoạt động văn nghệ. Những sáng tác của ông gắn liền với ngành đường sắt và mang tính phong trào. Những bài thơ, những ca khúc của ông thuộc về văn nghệ phong trào của ngành. Ông nói, qua giọng hát của vợ ông ca khúc của ông như có hồn hơn và lan tỏa xa hơn.

Có thể nói, chính giai đoạn ngắn ngủi làm “lính” của ông Tạ Đình Đề, Phan Lạc Hoa mới được “hồi sinh”, mới có ca khúc nổi tiếng. Vì thế, trong câu chuyện, ông Tạ Đình Đề không chỉ là thần tượng mà là một ân nhân của ông.

***

Dù đã được nhìn nhận trong đời sống văn nghệ, ông vẫn còn mặc cảm cho thân phận. Cuộc hôn nhân bắt đầu rạn nứt khi chổ đứng của hai người trong xã hội ngày càng xa nhau. Càng ngày họ không có cùng một hướng suy nghĩ và khó chia sẻ với nhau. Nó giống như câu ca quen thuộc “một người về đỉnh cao, một người về vực sâu”.

Sự khác biệt về tình cảnh và tâm tư, họ ly thân nhiều năm trước khi ông phát bệnh. Họ vẫn phải che dấu bớt tình cảnh của mình trước con cái và đồng nghiệp. Rồi khi bệnh tình thuyên giảm, ông quyết định chia tay trong đau đớn và cảm thấy tủi hổ. Sau gần mười năm cuộc hôn nhân của hai người kết thúc bằng một phiên tòa lặng lẽ.

Không có nhà riêng, nội ngoại ở xa, họ vẫn phải “ràng buộc nhau” bỡi con thơ và căn hộ tập thể chật chội. Căn hộ được ngăn cách bằng bức phên cót, nhưng vẫn chung bếp và khu vệ sinh. “Đường ai nấy đi” nhưng hằng ngày vẫn đụng nhau; vẫn phải “diễn” trước mặt con cái. Sống như vậy, có lúc ông cảm thấy căng thẳng quá sức chịu đựng.

Ca sỹ Thanh Hoa ngày càng thăng hoa dưới ánh đèn sân khấu và trên làn sóng phát thanh. Như một ngôi sao ca nhạc thời thượng, sự chúc tụng săn đón của khán giả, người hâm mộ cũng tăng lên. Có những người đàn ông đam mê nàng, kể cả những người từng là bạn bè chung của cả hai thời còn mặn nồng.

Trong câu chuyện, ông thường nhắc đến nhạc sỹ Đ., như một người tình của vợ mình khi còn ly thân. Mỗi tiếng cười đùa bên kia vách cót như những nhát dao đâm vào tim ông. Những khi ấy, ông rời căn hộ lang thang vô định rồi cuối cùng “chìm sâu” vào các cuộc rượu triền miên để quên nỗi buồn.

Cuộc đời lại bồi thêm cho ông một cú chí mạng. Đứa con trai kháu khỉnh mà ông yêu quý, Phan Cao Nguyên, bị bệnh vô bệnh viện và tử vong một cách tức tưởi. Cú đau đó, như giọt nước tràn ly, đã đánh gục sự cố gắng của ông về mặt tinh thần.

Tinh thần ông ngày càng hoảng loạn. Những ứng xử thất thường càng làm không khí căn hộ thêm bức bối và căng thẳng. Những cơn trầm cảm và hoảng loạn thất thường càng dày lên. Ông trở thành “bệnh nhân yêu mến” của Khoa Tâm – Thân kinh, bệnh viện Bạch Mai.

***

Ngoài những triệu chứng kéo dài và tập hợp chuổi thành hội chứng để được chẩn đoán là bệnh nhân tâm thần. Ông còn mắc nhiều chứng bệnh thực thể khác. Viêm dạ dày – tá tràng. Viêm gan. Rối loạn tuần hoàn não, đưa đến những cơn nhức đầu kinh niên. Đó là hậu quả được tích lũy dần từ cuộc sống khổ ải, lao động nặng nhọc, độc hại và thiếu thốn từ thuở thiếu thời.

Những bế tắc trong cuộc sống cũng dẫn dắt ông đến với những thói quen rất có hại với sức khỏe. Những bữa rượu suông đói cơm triền miên; nghiện thuốc lào, thuốc lá,.. Bệnh tình của ông chỉ được phát hiện thêm trong các lần khám tổng quát và xét nghiệm khi đã vào điều trị tại bệnh viện.

Thời gian điều trị ở bệnh viện Bạch Mai ông được sự quan tâm và chăm sóc của vợ con, dù cuộc hôn nhân đã đến hồi kết. Ông được các thầy thuốc, sinh viên yêu quý. Cuộc đời và bệnh tật của ông được một bác sỹ nội trú quan tâm và chọn làm luận văn tốt nghiệp năm 1982.

Bản luận văn như tiểu thuyết viết về một cuộc đời long đong, bầm dập, thấm đẫm nước mắt và nhân tình thế thái. Mình ví bản luận văn đó như cuốn tiểu thuyết có hậu. Vì cái kết của nó đầy hi vọng: chẩn đoán cuối cùng của bệnh nhân Phan Lạc Hoa, theo luận văn là TÂM CĂN. Bệnh do căn nguyên tâm lý và sang chấn tinh thần gây rối loạn hành vi cảm xúc.

Tâm thần thể Tâm căn sẽ không có những hoang tưởng rồ dại để tự gây hại cho bệnh nhân và người khác. Trong chỉ định điều trị, có thể tái hòa nhập đời sống xã hội. Có nghĩa là không cần cách ly và thỉnh thoảng cho về sống cùng gia đình người thân.

Nhưng thực tế cuộc sống lại quá khắc nghiệt mà lý thuyết không lường hết được. Chỉ mấy tháng sau, sau một đêm diễn thành công của người vợ cũ, “bệnh nhân yêu mến” Phan Lạc Hoa đã tự giải thoát sự bế tắc của mình bằng một sợi dây thừng oan nghiệt ngay tại căn hộ có hai thế giới riêng biệt của hai người.

Cái kết bi thương nay đã chìm vào quên lãng của người đời. Nhưng khi đó, nó để lại bao hệ lụy cho người vợ cũ và những đứa con của ông.

Thương thay cũng một kiếp người.

III – Sự giải thoát bế tắc & hệ lụy với người ở lại.

Tâm thần thể Tâm căn sẽ không có những hoang tưởng rồ dại để tự gây hại cho bệnh nhân và người khác. Trong chỉ định điều trị, có thể tái hòa nhập đời sống xã hội. Có nghĩa là không cần cách ly và thỉnh thoảng cho về sống cùng gia đình người thân.

Về chuyên môn, để chẩn đoán và xác định đúng bệnh tình của một bệnh nhân tâm thần không dễ chút nào. Cần phải có thời gian theo dõi dài lâu. Phải tìm hiểu cặn kẽ tâm tư và cuộc sống quá khứ, hiện tại của bệnh nhân.

Phân loại bệnh tâm thần trước thập niên 1990s (khi chưa có hội nghị lần thứ 43 của WHO, 5-1990, và hệ thống phân loại bệnh ICD-10) có 3 thể: tâm thần thực thể mà điển hình là Tâm thần phân liệt; Rối loạn hành vi tâm lý; Tâm căn hay là rối loạn hành vi cảm xúc.

Bệnh nhân Phan Lạc Hoa, được chẩn đoán thể TÂM CĂN. Chẩn đoán cuối cùng này đã tránh cho ông khỏi phải đi điều trị lâu dài ở… Trâu Quỳ, Bệnh viện Tâm thần Trung ương.

Thực ra lúc đầu, các thầy nghiêng về thể tâm thần thực thể dạng TÂM THẦN PHÂN LIỆT. Đây là thể bệnh nặng cần theo dõi, giám sát và chăm sóc đặc biệt. Khi mắc tâm thần phân liệt, bệnh nhân có xu hướng rơi vào tình trạng hoang tưởng; có thể vô thức tự hủy hoại bản thân hay gây nguy hiểm cho người xung quanh. Họ cần được cách ly khỏi xã hội.

Bệnh nhân Phan Lạc Hoa cũng có những lúc rơi vào trạng thái trầm cảm. Nhưng thường thì ông rất tỉnh táo. Thỉnh thoảng ông vẫn sáng tác hay viết lách ngay tại bệnh viện như một người đang an dưỡng. Mặt khác, hình ảnh gia đình nghệ sỹ sum họp đầm ấm mỗi chủ nhật ở bệnh viện, đã làm các thầy thuốc lầm tưởng rằng cảnh đó cũng thường xảy ra ở nhà.

Họ đâu ngờ sau cánh cửa căn hộ chật chội là căn phòng có bức phên cót mỏng manh ngăn cách hai thế giới riêng biệt. Tiếng cười rộn rã bên kia là tiếng đau xé lòng của bên này. Bức ngăn mỏng manh nhưng là khoảng cách ngày càng dày lên giữa hai người. Nó chia cách thế giới riêng trong tâm hồn của hai nghệ sỹ.

***

Có thể ít người còn nhớ cái đêm mà Phan Lạc Hoa tự vẫn. Nhưng mình vẫn còn nhớ như in sự kiện đó. Đó là đêm chủ nhật 19/9/1982. Trước đó một tháng, họ đã hoàn thất thủ tục ly hôn. Đó là một đêm diễn xuất thần của ca sỹ Thanh Hoa.

Đêm định mệnh để “một người ở đỉnh cao, một người về vực sâu”.

Kiếm một giấy mời hay vé vào cửa của đêm diễn một ca sỹ đang nổi tiếng mà mình hâm mộ không khó. Có được giấy mời của ông chú là quyền Tổng biên tập báo Lao Động, đêm đó mình là khán giả tại rạp Công Nhân.

Như thường lệ, “bệnh nhân đặc biệt” Pha Lạc Hoa được “tại ngoại” và vẫn thường đứng bên cánh gà của sân khấu.

Đã bao lần ông kể, sau khi ly thân, mỗi lần Thanh Hoa đi hát, là ông tự nhủ mình hãy ở nhà. Nhưng rồi, khi thì vì bạn bè, khi thì vì con cái mà ông đến nghe “người đàn bà hát”, từng là của ông. Cũng có lúc ông đến với đêm diễn của vợ mình như người… mộng du. Những khi giọng hát của Thanh Hoa càng vút cao; những tiếng vỗ tay không dứt yêu cầu ca sỹ hát lại, thì ông cảm thấy như ngực mình nhói đau và đầu óc quay cuồng.

Cùng hai con và bạn bè thân thiết đi “cổ vũ” cho vợ mình, nhưng ông thường bỏ về trước với con hoặc một mình theo các “chiến hữu” đi cuốc lủi. Thanh Hoa thì có nhiều người đưa đón và thường về sau với bạn bè.

Rạp Công Nhân lúc 20 giờ 30, khi xong phần của mình, ca sỹ Thanh Hoa “bay” sang Nhà Hát Lớn ngay đầu đường Tràng Tiền.  Ông, con gái và bạn bè tất nhiên cũng theo sang. Tại Nhà hát Lớn, ba bài hát của “người đàn bà hát”: Tàu anh qua núi, Vì sao anh ra đi, Em vẫn đợi anh về, như giọi nước cuối cùng làm tràn căng cái hộp sọ đã chất chứa bao nhiêu ẩn ức, bất công như muốn “nổ tung”. Nó đẩy bệnh nhân đến tận cùng tuyệt vọng.

***

Sáng hôm sau, sinh viên trường Y đã kháo nhau tin ông mất. Bệnh viện Bạch Mai được báo tin “bệnh nhân đặc biệt” mãi mãi sẽ không đến nữa.

Xung quanh cái chết của ông có rất nhiều lời đồn đoán và thêu dệt. Mình cũng nghe có người kể lại, y như là chính họ chứng kiến cái chết của ông từ đầu đến cuối.

Rằng, từ Nhà Hát lớn ông về, ông ngồi đốt thuốc lá trên chiếc ghế tựa và trong tay với sợi dây thừng như có ý chờ Thanh Hoa về. Chắc ông muốn nói lời vĩnh biệt cuối cùng.

Như mọi lần, ca sỹ Thanh Hoa chỉ muốn đi nằm và tránh “đối đầu” với “bệnh nhân tâm thần”. Đốt hết điếu thuốc cuối cùng, khi vợ con đã yên giấc, ông đứng lên chiếc ghế đầu lòn qua sợi dây treo từ chiếc quạt trần giữa phòng khách, đồng thời là phòng ngủ và không gian riêng của ông. Bên kia tấm phên cót, chắc vợ ông đã chìm vào giấc ngủ sau hai sô diễn cháy hết mình.

Người ta cũng đồn rằng, khi bạn bè và hàng xóm đầu tiên bước vào căn hộ, người ta thấy ca sỹ Thanh Hoa ngồi bất động câm lặng. Dưới sàn nhà tàn thuốc lá, ly tách chỏng chơ  vương vãi. Giữa trần nhà là cái quạt và ông vẫn treo lơ lững trong chiếc thòng lọng làm từ sợi dây kéo cánh phông màn. Câu chuyện với hình ảnh này, người ta nghĩ rằng ca sỹ Thanh Hoa không làm gì kịp thời để cứu người chồng cũ. Nhiều người đời tin thế. Nó đã để lại tai tiếng và hệ lụy cho Thanh Hoa một thời gian dài. (1)

***

Đám tang ông mình không tham gia đưa tiễn, bạn bè đi về kể lại, những chiến hữu văn nghệ tâm giao với ông, trước lúc ném cho ông nắm đất đã tưới lên quan tài những ly rượu trắng uống dở và thề sẽ trả thù. Nói thế thôi, chứ lúc đó họ cũng không hiểu họ sẽ trả thù ai và vì cái gì.

Trong vòng một trăm ngày tang, Thanh Hoa vắng bóng trên sân khấu ca nhạc. Cô ca sỹ rơi vào cơn lốc xoáy nghi kỵ và dèm pha của dư luận. Những đồn thổi về cái chết của Phan Lạc Hoa được bàn tán và thêu dệt khắp nơi.

Sau ngày giỗ trăm ngày, Thanh Hoa gắng đi hát trở lại. Vẫn những bài hát ruột quen thuộc ngày nào. Cũng chính giọng hát đó. Tiếng hát vút lên có lúc như nghẹn lại và đầm đìa nước mắt. Khán giả vẫn lắng nghe và có những cảm nhận khác trước. Cảm nhận này là lẽ tự nhiên. Nó tùy theo tâm trạng và mức độ tin cậy của họ đối với những lời đồn thổi về nguyên nhân cái chết của nhạc sỹ Pha Lạc Hoa.

Phần lớn khán giả vẫn đón đợi và chia sẻ sự cảm thông với ca sỹ Thanh Hoa. Nhưng không phải buổi diễn nào cũng êm thấm. Xen lẫn tiếng vỗ tay là tiếng la hét: “đồ sát chồng”, “xuống đi”,… Buổi diễn tại sân ký túc xá trường Y sau cái chết của Phan Lạc Hoa cũng có tiếng vỗ tay hòa lẫn tiếng la hét như thế. Những lúc đó, ca sỹ Thanh Hoa rời sân khấu với vị nước mắt đắng chát.

Chỉ những sinh viên, bác sỹ đã từng tiếp xúc với bệnh nhân Phan Lạc Hoa, mới hiểu và cảm thông với chị. Khán giả yêu mến chị chiếm số đông nên Thanh Hoa vẫn được mời đi hát như ngày nào. Giống như ca sỹ Ngọc Tân, sau sự cố vượt biên không thành và bị cấm hát. Các bệnh viện vẫn âm thần mời về hát cho cán bộ nhân viên, sinh viên nghe.

Dù thù lao ít ỏi, nhưng tình cảm của người hâm mộ chính là nguồn động viên và vực dậy tinh thần để những người như Thanh Hoa, Ngọc Tân còn trụ lại với nghề hát bạc bẽo của mình.

Ba mươi năm là quảng thời gian đã có đủ độ lùi, để nhìn nhận một sự kiện gắn liền với hệ lụy của nó. Giờ nhìn lại, như đa số bạn bè mình ngày xưa ở trường Y, mình vẫn thấy thương cảm và tiếc cho một con người tài hoa sớm từ giã cõi trần.

Và mỗi lần theo tàu xuôi ngược Bắc – Nam mình lại lẩm nhẫm bài thơ “NHỤY LỮA HOA ĐÈN”, mà cố Nhạc sỹ Phan Lạc Hoa đã tặng sinh viên khi đang điều trị tại Bạch Mai cách nay hơn 30 năm.

Anh thắp cây đèn xòe cánh nhớ cánh thương

Màu tín hiệu: đỏ vàng xanh tím lục

Trong xa cách ta vẫn gần hạnh phúc

Khi trái tim rung nhịp với con tàu !”

9/2010 – 9/2012
SH

___________

(1) Chú thích của Nguyễn Trọng Tạo: Theo lời kể của NSND Thanh Hoa thì sau đêm diễn về, khi các con đã ngủ, PLH pha cafe “thương lượng” với Thanh Hoa hủy giấy ly hôn, nhưng không được, anh tuyên bố cả hai sẽ “đi tàu suốt” (nghĩa là cùng chết). TH sợ quá chạy sang nhà cô gái bên cạnh. Một lát, nghe tiếng đạp tường vọng sang, TH có linh tính không ổn, chạy về nhà từ cửa sau, không thấy PLH ở trong nhà, còn cửa trước đã bị khóa ngoài. Sợ quá, TH chạy vòng dãy nhà A4 gõ cửa nhạc sĩ Lê Đình Lực. Khi TH và LĐL đến hiên trước cửa nhà thì thấy PLH đã treo cổ, liền kêu cứu. Mọi người đưa được PLH xuống, rồi đưa anh sang bệnh xá khu tập thể Đài TNVN cấp cứu, nhưng đã muộn, vì trước đó anh uống café pha rượu…

Vậy thì không phải PLH treo cổ ở trong phòng mà ở trước hiên nhà. Còn sợi dây thòng lọng lại là một đoạn “dây an toàn” của rạp xiếc, chứ không phải là ”chiếc thòng lọng làm từ sợi dây kéo cánh phông màn”.

– Cũng theo Thanh Hoa kể lại thì sau khi PLH chết, thấy trong túi áo sơmi của anh có một mảnh giấy với dòng chữ: “Vĩnh biệt các con! Vĩnh biệt gia đình! Vĩnh biệt bạn bè! Ôi Thanh Hoa! Ôi tình yêu!”.

http://www.who.int/classifications/icd/en/HistoryOfICD.pdf

http://www.who.int/patientsafety/taxonomy/WHOFICFamily.pdf

.

NHỤY LỬA HOA ĐÈN

PHAN LẠC HOA

Khi mặt trời xoay nắng sang chiều sau quả đất
Là lúc cây hoa ghi đươm trổ trái tim đèn

Trái tim đèn anh thắp gửi về em
Chùm sao mọc trên đỉnh đèo Khe Nét
Chùm hoa đêm với sắc mà tha thiết
Là những ngọn đèn ghi thao thức dọc con đường

Hoa phong lan tắm gió đỉnh Trường Sơn
Hoa lúa hoa ngô nặng tình nghĩa đất
Hoa đèn ghi nở sáng đường thống nhất
Soi tàu đi xao xuyến nhịp trăm miền

Ơi những ngọn đèn như đáy mắt em
Khoảng tím cứ lung linh như hẹn hò nhắn nhủ
Tàu qua núi qua sông gió chuyển mùa suối lũ
Vẫn mang trọn nét cười câu hát giử gìn nhau

Đêm dịu dàng buông nỗi nhớ thẳm sâu
Ngỡ dừng lại trước khoảng đèn sáng xanh tiếng hát
Ai đếm được những ngọ đèn rải quân trên đường sắt
Đứng gác non sông vĩnh viễn một con đường

Anh thắp cây đèn xòe cánh nhớ cánh thương
Màu tín hiệu: đỏ vàng xanh tím lục
Trong xa cách ta vẫn gần hạnh phúc
Khi trái tim rung nhịp với con tàu !

1980

(Bài thơ này được in trong một tbướm hai trang cùng với bài hát “TÀU ANH QUA NÚI”, mà mỗi sinh viên lớp mình đều được Nhạc sỹ Phan Lạc Hoa tặng 1982).

 

Filed under: Bài của bạn, Chân dung, Làng văn nghệ Thẻ: | ,

Có mộ phản hồi

  1. Nguễn, on 27.09.2012 at 08:57 said:

    Tôi đã rơi lệ khi đọc bài này. Mỗi khi đi tàu qua Hải Vân là tôi nhớ NS Phan Lạc Hoa. Tôi nhớ mấy năm trước NS Pham Tuyên, Mạnh Đạt và CS Thanh Hoa có vào báo Và Đài Truyền hình BRVT chơi và hát cho anh em nghe. Mình được ăn cơm chung 1 bữa. Qua quan sát những gì mình thấy…! phần nào hiểu được nổi đau của NS PLH. Có nỗi đau nào khủng khiếp hơn khi người đàn ông nghe, thấy vơ yêu của mình đang reo cười với người đàn ông khác ngay trong nhà mình. Tôi thương quý NS PLH và tôi yêu quý những người con của anh ấy. Với TH tôi chỉ yêu tiếng hát mà thôi chị Hoa ạ.

 
 

Tôn vinh nhà văn, nhà hoạt động cách mạng Học Phi – TTXVN

27 Th9

Tôn vinh nhà văn, nhà hoạt động cách mạng Học Phi

 

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi, tặng hoa chúc mừng nhà văn Học Phi. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
 
Tối 26/9, tại Hà Nội, Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam tổ chức Lễ tôn vinh nhà văn, nhà viết kịch Học Phi, cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Tổng thư ký Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam khóa I, nhân dịp ông tròn 100 tuổi.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân; đại diện lãnh đạo nhiều bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương, nhiều địa phương, cùng đông đảo các văn nghệ sỹ, đồng nghiệp, đồng chí, thân nhân gia đình nhà văn, nhà viết kịch Học Phi và khán giả Thủ đô đã tham dự.

Nhà văn, nhà viết kịch Học Phi, tên khai sinh là Chu Văn Tập, sinh ngày 11/2/1913 tại Tam Nông, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Từ năm 12 tuổi, Học Phi đã tham gia các hoạt động cách mạng, được kết nạp vào Đảng năm 19 tuổi và ông bắt đầu viết văn năm 1936.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban lâm thời cách mạng tỉnh Hưng Yên, sau đó làm Đổng lý văn phòng Bộ Thông tin tuyên truyền. Trong suốt thời kỳ toàn quốc kháng chiến, ông được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách tại khu II, liên khu III và Ban Tuyên huấn Trung ương, Đoàn Văn công nhân dân Trung ương.

Sau 1954, ông trở về Hà Nội, được bổ nhiệm làm Giám đốc Đoàn kịch nói Trung ương, sau này trở thành Nhà hát kịch Việt Nam. Sau đó, ông tiếp tục đảm nhiệm cương vị Tổng thư ký Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam…

Đến nay, nhà văn, nhà viết kịch Học Phi đã đóng góp cho nền văn học nghệ thuật nước nhà khoảng 30 vở kịch và 9 cuốn tiểu thuyết. Hầu hết các tác phẩm của ông đều tập trung thể hiện lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, khắc họa hình tượng người chiến sỹ cách mạng.

Nhà văn, nhà viết kịch, nhà hoạt động cách mạng lão thành Học Phi nay đã tròn 100 tuổi đời, 80 tuổi Đảng, song ông còn rất minh mẫn, hăng say lao động, sáng tạo nghệ thuật. Những đóng góp xuất sắc của ông cho văn học nghệ thuật đã được ghi nhận bằng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1, năm 1996). Ông cũng đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất…

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm tuổi đời và tôn vinh công lao, đóng góp của nhà văn, nhà viết kịch, nhà hoạt động cách mạng lão thành Học Phi, Nhà hát Chèo Việt Nam đã dựng lại vở “Ni cô Đàm Vân” của ông.

“Ni cô Đàm Vân” vốn là kịch bản kịch được viết sau khi tác giả Học Phi nghỉ hưu, các tình tiết trong vở kịch này rút ra từ chính những câu chuyện trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông.

Tác giả Trần Đình Ngôn đã chuyển thể kịch bản của Học Phi sang chèo và được đánh giá là một trong những kịch bản mẫu mực về chèo thể hiện đề tài hiện đại. Ra đời vào những năm 70 của thế kỷ XX, kịch bản này đã được hàng chục nhà hát dàn dựng và công chúng nhiệt tình đón nhận.

Kịch bản của tác giả Học Phi và những vở diễn dàn dựng từ kịch bản này đều khắc họa thành công hình tượng người chiến sỹ cách mạng kiên trung, anh dũng, khôn khéo trong đấu tranh với kẻ thù, đồng thời thể hiện đời sống nội tâm, tình cảm sâu sắc của những người chiến sỹ cách mạng.

Thành công của vở chèo “Ni cô Đàm Vân” chính là ở chỗ đã kết hợp khéo léo những yếu tố tự sự của chèo truyền thống với những xung đột kịch, khiến cho vở chèo đậm chất trữ tình, nói về cách mạng, người chiến sỹ cách mạng không khô khan, cứng nhắc, mà thấm đẫm chất nhân văn cao cả…

Phát biểu tại buổi Lễ, nhà văn, nhà viết kịch Học Phi bày tỏ niềm xúc động to lớn trước sự quan tâm sâu sắc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói chung đối với cá nhân ông và toàn thể giới văn nghệ sỹ Việt Nam; coi đây là nguồn động viên to lớn đối với ông và giới văn nghệ sỹ trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Ông bày tỏ mong muốn, trong những năm tháng tiếp theo của cuộc đời, khi còn sức lực, ông sẽ còn tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trao hoa và quà, nồng nhiệt chúc mừng nhà văn, nhà viết kịch, nhà hoạt động cách mạng lão thành Học Phi nhân dịp ông tròn 100 tuổi.

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã gửi lẵng hoa chúc mừng nhà văn, nhà viết kịch Học Phi.

Ngay sau Lễ tôn vinh, các nghệ sỹ, diễn viên Nhà hát chèo Việt Nam đã biểu diễn vở chèo “Ni cô Đàm Vân” như một món quà đầy ý nghĩa, để chúc mừng nhà văn, nhà viết kịch, nhà hoạt động cách mạng lão thành Học Phi./.

Nguyễn Sự-Thanh Giang (TTXVN)

Tự lực văn đoàn: 10 điều ngược lại – BBC

27 Th9

Tự lực văn đoàn: 10 điều ngược lại

Nguyễn Giang

BBCVietnamese.com

Dịp kỷ niệm 80 năm báo Phong Hóa bộ mới và phong trào Tự lực Văn đoàn khiến tôi nghĩ nếu không có họ thì văn học Việt Nam sẽ ra sao.
 

Văn chương và nhất là tiếng Việt chúng ta dùng ngày nay chắc chắn sẽ thiếu nhiều, và nghèo đi nhiều.

 

Chúng ta may mắn có họ ở vị trí những người mở đường tài năng, trẻ trung, trong sáng, và yêu nghề tới mức dấn thân.

Nhưng sau gần một thế kỷ, những nỗ lực của họ cũng cần được đánh giá theo hướng nhìn hoàn toàn đối nghịch.

Đó là đặt ngược lại các tôn chỉ của Tự lực Văn đoàn vào bối cảnh sinh hoạt văn hóa, truyền thông tại Việt Nam vào lúc này để xem chúng ta đã được và mất gì.

Hàng rẻ bán đắt

Tự lực văn đoàn coi làm giàu cho ‘văn sản’ trong nước và ra những cuốn sách có giá trị về văn chương là tôn chỉ số một.

Hiện thực thị trường sách báo tại Việt Nam nay lại là bức tranh ngược lại, tràn lan các ấn bản in xấu và vi phạm tác quyền, bán đại trà để kiếm tiền cho các đầu nậu.

Trên báo và văn online số bài sao chép dạng rác mạng nhiều hơn là các tác phẩm có tầm. Số lượng đầu báo hàng trăm không làm cho chất lượng hơn thời 1930-1945.

Bề bộn ngôn từ

Về ngôn từ, Tự lực văn đoàn, trong bối cảnh tiếng Pháp chiếm thế thượng phong, chữ Hán mất thế cùng di sản nghìn năm suy vi và thành gánh nặng, đã cổ vũ cho tiếng Việt, cho ngôn ngữ viết mang ‘tính cách An Nam’ như cách gọi hồi đó.

Hiện nay, ngôn ngữ tiếng Việt lại đầy ắp những từ du nhập, chủ yếu từ báo chí bình dân tiếng Anh, kể cả các từ viết sai, phiên âm linh tinh, thiếu chuẩn mực.

Phong Hóa và sau đó là Ngày Nay cũng cố gắng Việt hóa, giảm bớt chữ Nho thì bây giờ, ngôn ngữ chính trị trên các báo chính thống ở Việt Nam lại rập khuôn nhiều các cụm từ chính trị Trung Quốc.

Chủ nghĩa đại gia

Tự lực văn đoàn mong muốn và quyết chí đề cao khái niệm ‘chủ nghĩa bình dân’, hiểu theo cách của chúng ta bây giờ là một xã hội công dân theo các giá trị dân chủ tư sản.

Tinh thần ‘bình dân’ là thái độ vì đại chúng, đối lập với thói trưởng giả, hay sự kiêu căng của trí thức, sỹ phu ‘ăn trên, biết trước’, chứ không phải là bình dân kiểu nôm na hay lá cải (tabloid).

Nhưng các ‘chuẩn thị trường’ được theo đuổi cuồng nhiệt ở Việt Nam hiện nay khiến không gian văn hóa nhiều các nhân vật gây scandal, lố lăng, phát ngôn bừa bãi.

Báo chí Việt Nam ít ra là trong các mục nhắm tới giới trẻ hay nói về ‘đẳng cấp’ theo nghĩa coi các đại gia kiếm tiền, ăn tiêu phung phí hay chuyện riêng, chuyện kín của các cô hoa hậu để giới trẻ khâm phục và bắt chước chứ không phê phán.

Phục hồi hủ tục

Các nhân vật Lý Toét, Xã Xệ được đặt ra để phê phán tàn dư phong kiến, để dùng tiếng cười vạch trần tính lỗi thời của Nho giáo.

Sau 80 năm, người Việt Nam nay đua nhau phục cổ, từ xây nhà thờ họ, từ quay lại các lễ hội thôn quê tới cúng bái, lễ lạt tốn kém vì tin rằng họ đang trung thành với mong ước của cha ông.

Những phong trào này được chính quyền cổ xúy trong nỗ lực đích thực nhằm phục hồi dòng văn hóa dân gian từng bị chính chính quyền đó phủ nhận một thời nhưng cũng còn để thu hút du lịch, hoặc để dùng di tích, di sản làm kinh doanh.

Tổ chức quan cách

Tư lực văn đoàn từ lúc ra đời cho đến khi kết thúc luôn trung thành với tôn chỉ bình đẳng trong sáng tác và tổ chức. Công việc viết văn và xuất bản của họ không tạo thành một bộ máy, một cơ chế đồ sộ mà xoay quanh tinh thần dân chủ nội bộ và cũng cởi mở với bên ngoài.

Văn đàn chính thống ở Việt Nam ngày nay là ngôi đền có các ngôi vị và ngọn nến được thắp bằng nguồn tài trợ của chính phủ và cách sinh hoạt cồng kềnh, quan cách.

Đừng cười vượt cấp

Bên cạnh hai nhân vật gây cười trên tranh biếm họa nói trên, Tú Mỡ, một trong bảy nhân vật chủ chốt của Tự lực văn đoàn, đã thành danh nhờ thơ trào lộng.

Tiếng cười của ông và của Phong Hóa không thóa mạ mà có chừng mực, đả kích nhưng không đánh đấm.

Báo chí Việt Nam ngày nay, vì lý do chính trị, không có mục tiếu lâm về chính trường, về lãnh đạo.

“Nàng muốn không còn dính dáng một tí gì với đời cũ nữa. Còn lại một mình, nàng mong giũ sạch bụi đường cũ, để thảnh thơi tiến bước một cảnh đời mới”

Loan trong Đoạn Tuyệt

So với cách Phong Hóa cười từ hoàng đế, quan toàn quyền, tổng đốc, khâm sứ trở xuống thì ngày nay tính trào phúng trên văn báo Việt Nam có vẻ tụt lùi đi và chắc chắn là nghèo nàn hơn.

Ai cũng biết tiếu lâm chính trị kể trong quán nước, trên vỉa hè ở Việt Nam thì vẫn có nhưng không leo được vào các trang báo, các chương trình truyền hình, truyền thanh, hoặc có chút ít hài thì chỉ là phê quan chức tham nhũng chung chung, cấm vượt cấp.

Sex và bạo lực

Các nhân vật trong văn của Tự lực văn đoàn nhìn chung đều là những con người Việt Nam trong sáng, kể cả khi đi làm cách mạng thì họ vẫn lãng mạn, không bạo lực.

Các nhân vật nam và nữ đẹp trong khi yêu, khi sống, khi nghĩ.

Mâu thuẫn xã hội, gia đình, khác biệt tầng lớp xã hội đều có cả nhưng không tàn khốc. Có thể đó là phần ngây thơ của họ vì sau 80 năm, xã hội Việt Nam bộc lộ những xu hướng ngược lại.

Thời nay khó có thể sinh ra được Lý Toét và Xã Xệ

Mở các trang báo mạng nào cũng thấy mục ‘Đọc điều nhất’ là những chuyện rùng mình, dâm ô và tàn tệ.

Lan trong Hồn bướm mơ tiên phải chọn giữa ái tình và cửa Phật, còn sự lựa chọn của nhiều thanh niên hiện nay là thử cả hai: thể nghiệm trong yêu đương nhân danh lối sống ‘hiện đại’ nhưng cũng cúng lễ sì sụp mỗi ngày tuần để cầu tài hoặc thăm chùa như một hoạt động dã ngoại.

Tùy tiện tập thể

Khen và chê Tự lực văn đoàn chắc còn cần nhiều ý kiến nhưng theo tôi, sự thất bại lớn nhất của tinh thần Phong Hóa trong xã hội và con người Việt Nam ngày nay chính là sự thiếu vắng của Tự do cá nhân.

Trái với giá trị này, tính tùy tiện tập thể lại là phổ biến ngày nay.

Đây là sự thất bại của chung mọi người, không phải của nhóm chủ trương vì họ đã ra người thiên cổ từ lâu, và không tham gia gì hết vào phần định hình xã hội hậu chiến và mở cửa trong thế kỷ 21 này ở Việt Nam.

Bệnh tùy tiện tập thể lan truyền trên diện rộng không chỉ đẩy tự do cá nhân vào các góc của tính lập dị, hoặc bung phá theo cách ngỗ ngược trong thanh thiếu niên, văn nghệ sỹ, mà còn nuôi dưỡng chế độ môn phiệt kiểu mới.

Quanh co cụm lại

Khác với con người lý tưởng của Tự lực văn đoàn luôn nhìn lấy lương tâm và trách nhiệm cá nhân làm kim chỉ nam cho sự dấn thân, không ít con người Việt Nam, kể cả ở vai trò văn nghệ sỹ, trí thức hiện giờ lại ham phù trợ hay vây quanh một số nhân vật có quyền, một số nhóm lợi ích nắm báo chí để kiếm chác, hưởng danh lợi phù phiếm, bằng cấp, chức tước do bộ máy ban xuống.

Vì không dấn thân mà co cụm lại trong các hội đoàn, cơ quan, đại học, sức sáng tác của họ bị cùn mòn đi và tính bè phái lại tăng lên.

Câu hỏi cá nhân

Vợ chồng nhà văn Nhất Linh trong một ảnh tư liệu còn lưu lại

Viết ra đôi ý kiến riêng về Tự lực văn đoàn, tôi tự hào Việt Nam đã có những con người như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu trong nhóm chủ chốt nhiều thành viên tham gia cùng họ để tạo ra một dấu ấn, một di sản cho nhiều thế hệ.

Nghĩ đến Tự lực văn đoàn ngày nay cũng không thể quên được các câu chuyện xảy đến với họ và hàng triệu bạn đọc của họ trong suốt những thập niên biến động long trời lở đất trên toàn cõi Đông Dương và đất nước Việt Nam sau đó.

Nhưng nay nhìn lại, sức lôi cuốn của Tự lực văn đoàn không phải là một bài học họ để lại cho chúng ta mà là một câu hỏi mỗi cá nhân cần phải chia tay với cái gì và làm điều gì mới cho cuộc đời của chính mình.

Sau hai ba thập niên bung ra, xã hội Việt Nam có lẽ đã đến cái ngưỡng người ta cần hỏi có nên chấm dứt với thái độ ham tích cóp, chiếm đoạt và ăn tới bội thực các vấn đề, nhất là trong văn hóa, trong lối sống để dũng cảm bước lên một con đường mới, như Loan đã đoạn tuyệt với ngôi nhà cũ trong tiểu thuyết cùng tên của Nhất Linh mà tôi xin trích một đoạn làm lời kết:

“Từ ngày bà Hai mất đi đó đến nay trên bốn tháng đó Loan chỉ quanh quẩn với cái ý tưởng bán nhà để trả nợ. Nàng muốn không còn dính dáng một tí gì với đời cũ nữa.

Còn lại một mình, nàng mong giũ sạch bụi đường cũ, để thảnh thơi tiến bước một cảnh đời mới mà nàng vẫn khao khát bấy lâu.

Từ sáng đến giờ, trong lúc dọn nhà, nàng có cái cảm tưởng như người sắp sửa bắt đầu một cuộc đi chơi xa; nàng hồi hộp lo sợ, nhưng trong cái sợ có lẫn cái vui sắp được sống một cuộc đời tự lập, không lụy đến ai và không ai quấy rầy mình được…”

Mời quý vị chia sẻ bình luận về bài và chủ đề này trên trang Bấm Facebook của BBC Tiếng Việt.

 

VIỆT THƯỜNG THỊ TRONG BUỔI ĐẦU NỀN VĂN MINH DÂN TỘC – BS/Việt Sử Ký

27 Th9

NHÌN LẠI LỊCH SỬ *

VIỆT THƯỜNG THỊ TRONG BUỔI ĐẦU NỀN VĂN MINH DÂN TỘC

KS. PHAN DUY KHA

“Đời Đào Đường, Nam di có Việt Thường thị (VTT) qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thẩn. Rùa được nghìn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa” (Sách Thông Chí -Trịnh Tiêu đời Tống).

Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) – một nhà thơ, đồng thời là nhà biên khảo lịch sử. Ông đỗ Hoàng giáp khoa thi cuối cùng của triều Lê (1787). Tác phẩm của ông để lại cho đời rất nhiều, trong đó có cuốn Nghệ An ký. Đây là một cuốn địa chí viết về địa phương tương đối kỹ. Trong tác phẩm này Bùi Dương Lịch cố gắng chứng minh rằng đã từng tồn tại một “quốc gia” Việt Thường trong lịch sử. Ông cũng đã có công xác định giới hạn địa lý của quốc gia nói trên. Chúng tôi không có tham vọng chứng minh tiếp nối những luận điểm về “quốc gia” Việt Thường của ông. Ở đây, chỉ xin được nêu một số nét về vùng đất mà trên đó tộc người Việt Thường xưa đã từng sinh sống.

 

Biên giới “quốc gia” Việt Thường – theo Bùi Dương Lịch – về phía Bắc đến địa giới phía Bắc tỉnh Thanh Hóa, về phía Nam đến đèo Hải Van ngày nay. Như vậy theo xác định của Bùi Dương Lịch “quốc gia” Việt Thường nằm trọn trong vùng Khu Bốn cũ (KBC). Luận cứ của Bùi Dương Lịch dựa vào kho tàng thư tịch cổ, ngoài ra ông không có căn cứ gì hơn. Ngày nay, bằng những hiểu biết về địa lý, dân cư, ngôn ngữ… chúng ta thử khảo sát xem vùng này có gì đặc biệt so với các vùng khác trên đất nước ta?

Chắc bạn đọc đã có ít nhất một lần trong đời ngồi tàu hỏa xuyên Việt. Trên đường sắt qua các ga, không cần rời tàu, chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự thay đổi âm sắc và giọng nói của các miền dọc chiều dài đất nước (nhờ lời rao hàng tại các ga) Có lẽ như người ta nhận xét, không vùng nào trên nước Việt Nam có chất giọng khác biệt và dễ nhận thấy như vùng KBC. Đó là vùng có chất giọng nặng, dấu ngã (~) và dấu nặng (.) không phân biệt, đồng thời có rất nhiều từ địa phương. Đến mức nếu chúng ta tự nhiên lạc vào một miền quê nào đó của KBC thì ít nhất cũng phải” có một người đi theo để giúp đỡ “phiên dịch” (ở đây không kể những người đi xa làm ăn sinh sống ở các vùng khác đã bị “pha” tiếng).

Trên đất nước ta, KBC là vùng đất còn bảo lưu, bảo tồn được nhiều vốn từ Việt cổ nhất. Có những từ tưởng chừng như đã có từ khi mới xuất hiện ngôn ngữ của dân tộc: mói = muối; mọi = muỗi; nôốc = thuyền… Từ Bắc KBC đi xuôi về Nam KBC, chất giọng và từ ngữ có đôi chút khác biệt, nhưng vẫn cùng chung một loại từ mô, tê, răng, rứa (mô = ở đâu; tê = ở kia; răng = làm sao; rứa = như thế). Phải chăng sự giống nhau đó là do nguồn gốc chung của cùng một loại ngôn ngữ cổ xưa của bộ tộc Việt Thường thị? Có một điều: Bùi Dương Lịch không xét về mặt phong tục, tập quán và ngôn ngữ nhưng giới hạn địa lý về vùng đất VTT của ông đưa ra rất trùng hợp với vùng đất KBC của chúng ta bây giờ. Loại ngôn ngữ cổ xưa này là vốn từ quý mà chúng ta còn lưu giữ được. Do càng ngày càng thuận tiện về giao thông, do sự giao lưu về văn hóa với khắp mọi miền, vốn từ cổ này sẽ càng ngày càng ít đi. Vì vậy, theo chúng tôi, cần có công trình khảo cứu vốn từ cổ nói trên, nhằm bảo lưu kho tàng ngôn ngữ dân tộc.

Trong văn chương, tùy từng trường hợp cụ thể, chính những từ cổ này đã làm giàu, làm đẹp cho thơ văn của ta rất nhiều. Trần Hữu Thung, tác giả bài Thăm lúa, có những câu: “Qua cánh đồng tắt ngang Đến bờ ni anh bảo…”. Hay tác giả Hồng Nguyên với bài Nhớ nổi tiếng trong thời chống Pháp, có những câu: “Đằng nó vợ chưa?/ Đằng nớ?Tớ còn chờ độc lập!/ Và cả lũ cười vang bên ruộng bắp/ Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu”.

Bạn thử thay những từ ni, nớ, o trong những câu trên mà xem, chúng ta sẽ được những câu thơ trên mà xem, chúng ta sẽ được những câu thơ vô hồn! Đặc biệt, nhà thơ Tố Hữu còn đưa nguyên cả một cụm từ, thậm chí cả một câu toàn từ địa phương vào thơ:’ “Gan chi gan rứa mẹ nờ?(Mẹ Suốt). Hoặc: “Khổ em thì em chịu, biết làm răng đặng chừ” (Bài ca quê hương).

Thử hỏi chúng ta có thể thay những cụm từ trên của ông bằng những từ phổ thông được không. Tất nhiên, chúng ta không đề cao việc lạm dụng ngôn ngữ địa phương trong văn học.

Nó cũng như con dao hai lưỡi: dùng đúng chỗ sẽ rất đắc địa, dùng không đúng chỗ sẽ ngô nghê, dùng nhiều quá sẽ nhàm chán, nặng nề, gây khó hiểu cho người đọc. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn trích dẫn một số ví dụ để nêu lên bản sắc rất riêng của ngôn ngữ vùng này. Phải chăng bản sắc rất riêng đó có nguồn gốc sâu xa từ thời kỳ VTT?

Qua tìm tòi, chúng tôi thấy có rất nhiều từ cổ địa phương KBC trùng hợp kỳ lạ với ngôn ngữ của đồng bào Mường. Xin trích một ít thí dụ để tham khảo (xem bảng).

Ở đây, có thể có một số từ mà ngày nay ngay đồng bào KBC cũng không dùng nữa, hay chỉ một đôi vùng còn dùng. Ví dụ trường hợp số 8: ở phía Bắc KBC rất ít vùng dùng, nhưng ở Nam KBC lại dùng rất nhiều (nhất là Quảng Bình) nhưng lại có rất nhiều truyền thuyết. Điều đó chứng tỏ rằng nó đã xuất hiện cuối cùng trong ba thời kỳ trên và kéo dài không lâu (vì vậy thư tịch nước ngoài ít chú ý đến và cũng không có sự kiện đi sứ nào).

STT

Từ Mường

Từ KBC

Từ phổ thông

Dùng trong

1

đâm

đâm

giã

giã gạo

2

chị, cô

chị gái, cô gái

3

ca

ga

con gà

4

nấc

nấc

nước

Nước uống

5

eng

enh

anh

anh em

6

lọ

lúa

thóc lúa

7

mạng

mọng

miệng

mồm miệng

8

po

bo

bố

bố mẹ

9

nhói

nhói

chơi

chơi bời

10

cơn

cơn

cây

Cây cối

Chúng tôi cho rằng có sự tương đồng giữa những từ cổ địa phương KBC với ngôn ngữ dân tộc Mường vì cả hai tộc này có nguồn gốc chung, đó là cư dân VTT xưa. Và như đã phân tích, vào thế kỷ 7 trước CN, khi các vua Hùng thu nạp đất đai của bộ lạc này vào quốc gia Văn Lang thì phần lớn cư dân ở đây đã di cư lên miền núi và là tổ tiên của dân tộc Mường ngày nay. Số còn lại hòa nhập với cư dân Văn Lang của vua Hùng, là dân tộc Việt.

Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số kết luận:

  1. Trước thời các vua Hùng, vùng đất KBC là địa bàn sinh sống của cư dân VTT. Trong lúc ở miền Bắc còn là các bộ lạc nhỏ, riêng lẻ: bộ Rồng, bộ Chim, bộ Dâu, bộ Rùa… (Theo GS. Trần Quốc Vượng) thì ở KBC đã xuất hiện một bộ tộc Việt Thường có nền văn minh cao, đã có chữ viết. Chúng ta không loại trừ khả năng ở đây đã hình thành nhà nước phôi thai (bởi có quốc gia thì mới có sự kiện cử người đi sứ thông hiếu với các quốc gia khác!) như Bùi Dương Lịch đã chứng minh.
  2. Vào khoảng thế kỷ 7 trước CN, các vua Hùng đã thu nạp phần đất phía Bắc của bộ tộc này vào lãnh thổ quốc gia Văn Lang. Ở phía Nam, đất đai của VTT được sáp nhập vào quốc gia Lâm ấp (sau này là Hoàn Vương, Chiêm Thành). Vì vậy, ngôn ngữ, phong tục của Bắc KBC và Nam KBC có khác nhau do quá trình sinh sống ở hai “đất nước” khác nhau trong một thời gian dài. Giới hạn của hai khu vực này là Đèo Ngang ở phía Nam Hà Tĩnh.
  3. Vào thế kỷ II, vua Chiêm Thành là Chế Củ đem quân xâm phạm biên giới Đại Việt, bị vua Lý Thánh Tông  đánh và bắt được. Chế Củ phải đem ba châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) dâng cho Đại Việt mới được thả về. Như vậy, đã thu lại được hơn một nửa của nửa phía Nam VTT vào đất nước. Đến đầu thế kỷ 14, vua Chiêm là Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý cho ta (tức Thuận, Quảng: Thừa Thiên – Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay) để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần’2‘. Như vậy, sau bao thế kỷ, cuối cùng, toàn bộ đất đai VTT lại trở về sum họp dưới một quốc gia chung Đại Việt.
  4. Những từ địa phương KBC và những từ ngữ của dân tộc Mường đồng âm, nghĩa (mà chúng tôi đã trích một số làm thí dụ) là ngôn ngữ cổ của cư dân VTT. Chúng ta nên có những công trình nghiên cứu đi sâu tìm tòi những từ ngữ chung này, qua đó có thể khôi phục được ngôn ngữ CỔ VTT ngày xưa.

Dùng 35 chữ cái của chữ Mường cổ – mà Nguyễn Đổng Chi đã sưa tầm – để ghi những âm này: phải chăng chúng ta sẽ khôi phục được lối chữ khoa đầu mà bộ tộc Việt Thường từng ghi trên mai rùa, đã được phản ánh trong thư tịch cổ Trung Hoa?

«1» <2>  Theo Đai Viêt sử ký toàn thư

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Báo động liên tiếp mất trộm thư tịch cổ ở các đền thờ danh nhân có công gìn giữ cương thổ – Hữu Nguyên

27 Th9

Báo động liên tiếp mất trộm thư tịch cổ ở các đền thờ danh nhân có công gìn giữ cương thổ

 
Báo Đại Đoàn Kết lại một lần nữa từ chối đăng bài của nhà báo Từ Khôi (Phó ban Văn hoá Nghệ thuật của báo này nhưng đang bị vô hiệu hoá bằng một quyết định điều chuyển công tác đầy khuất tất của ông tổng biên tập). Có lẽ vì anh đang có đơn tố cáo ông tổng biên tập Đinh Đức Lập thì phải?
 
Bài viết cảnh báo về hiện tượng nhiều ngôi đền thờ các danh nhân Việt có công gìn giữ cương thổ trước hoạ ngoại xâm từ phương Bắc trong lịch sử nước ta đang bị kẻ trộm xâm nhập lấy cắp nhiều cổ vật và thư tịch cổ. Đáng lưu ý là chuyện lấy cắp thư tịch cổ mới xảy ra gần đây, thời gian trước kẻ trộm chỉ chú tâm tới cổ vật.
 
Trong cuộc đấu tranh khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, hải đảo của Tổ quốc, gần đây nhiều cá nhân, dòng họ, tổ chức của người Việt trong và ngoài nước đã tự nguyện hiến tặng nhiều tư liệu lịch sử quý giá mà họ xem như báu vật gia truyền trong nhiều đời. Các tư liệu lịch sử mà đặc biệt là các sắc phong, văn bản của triều đình phong kiến là một trong những chứng cứ lịch sử quan trọng có đầy đủ tính pháp lý để khẳng định chủ quyền cương thổ lâu đời và liên tục của đất nước.
 
Gần đây đột nhiên có hiện tượng nhièu người săn lùng, tìm mọi cách thu mua các loại thư tịch cổ này, chưa rõ ngoài mục tiêu sưu tập đồ cổ họ còn động cơ nào khác.
 
Và đồng tiền đã làm mờ mắt, bẻ gảy lương tâm của không ít người, họ sẵn sàng phá vở các giềng mối thiêng liêng gìn giữ tâm hồn Việt để lấy cắp cổ vật, thư tịch cổ trong các đền thờ đem bán linh hồn cho quỷ.
 
Câu chuyện mà nhà báo Từ Khôi phát hiện thật chỉ có kẻ vô cảm trước sự xúc phạm văn hoá và nguy cơ mất dần các chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của dân tộc ta mới có thể bàng quan, lạnh lùng từ chối chẳng thèm quan tâm.
 
Thật tiếc là báo Đại Đoàn Kết lại thêm lần nữa từ chối bài viết rất đáng trân trọng này của nhà báo Từ Khôi. 
 
Báo TT&VH sau khi nhận được bản thảo bị ĐĐK từ chối của nhà báo Từ Khôi ngay lập tức đã cho đăng trang trọng (xem ở đây).
 
Trân trọng giới thiệu tới quý vị bài viết đầy đủ của nhà báo Từ Khôi:
 
Báo động liên tiếp mất trộm thư tịch cổ ở các đền thờ danh nhân có công gìn giữ cương thổ
 
TỪ KHÔI
 
Thái sư Lê Văn Thịnh nổi lên trong lịch sử trung đại Việt Nam với những dấu ấn lớn: Vị Khoa bảng đầu tiên – năm 1075, tại kỳ thi Minh Kinh Bác học và Nho học tam trường ông đỗ đầu trong 10 người; Nhà ngoại giao kiệt xuất khi giành lại ba động sáu huyện phía Bắc của tổ quốc rơi vào tay nhà Tống qua đàm phán tại trại Vĩnh Bình năm 1084; Vị Thái sư có nhiều cải cách về điền địa, phân cấp và quản lý chùa chiền… Ghi nhớ công lao của danh nhân, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh quê hương ông nhiều đền thờ đã được xây dựng lên từ thời phong kiến. Nhiều cổ vật có giá trị đã và đang được lưu giữ tại các đền thờ này. Thế nhưng, gần đây, một số cổ vật có giá trị đã bị kẻ gian liên tiếp lấy trộm…
 
 
 
 Ông Nguyễn Quang Dương (trái) và ông Nguyễn Đình Xum kể chuyện mất trộm cổ vật ở đình Yên Việt.
 
Trong những cổ vật có giá trị của các khu di tích lịch sử văn hóa, sắc phong giữ vai trò vô cùng quan trọng. Bên cạnh tính chính thống công nhận của Nhà nước, sắc phong còn lưu giữ nhiều thông tin giá trị. Kiến trúc di tích có thể bị thay đổi qua các lần trùng tu nhưng sắc phong thì được gìn giữ, bảo quản cẩn mật. Có thể coi sắc phong như phần hồn của di tích. Thế nhưng, vừa qua, vào ngày 12/8 rạng sáng 13/8 (tức 26/6 âm lịch), tại đình đền Yên Việt, xã Đông Cứu huyện Gia Bình, Bắc Ninh, kẻ gian đã bẻ khóa vào lấy trộm toàn bộ 11 đạo sắc phong. Ông Nguyễn Quang Dương – Trưởng thôn Yên Việt – trưởng BQL di tích và ông Nguyễn Đình Xum – thủ từ đền cho biết: “Người phát hiện ra sự việc kẻ gian bẻ khóa đầu tiên là ông Nguyễn Văn Hướng khi ông ra đình thắp hương. Khi được báo, chúng tôi kiểm tra hậu cung thì phát hiện hòm sắc bị lật tung. 11 đạo sắc bị mất, kẻ gian để lại bản thần phả chữ Hán sao lại từ bản thần phả có niên đại Hồng Phúc nguyên niên (1572). Hai bình hương thờ ở hậu cung cũng đã bị kẻ gian vứt lại lỏng chỏng trên bàn thờ sau khi đã đổ hết tro và chân hương. Chắc có lẽ kẻ gian cho đó không phải là cổ vật. Mấy ngày hôm sau, ông Nguyễn Văn Thuận (thủ từ cũ) của đền vào thắp hương hậu cung phát hiện mất thêm mâm bồng bằng đồng thời Nguyễn và một be rượu thờ men lam thời Nguyễn”. Sự việc đã được báo cáo lên chính quyền xã Đông Cứu và công an huyện Gia Bình đã về lập biên bản, điều tra. Đến nay, công tác điều tra vẫn chưa có kết quả.
 
 
 
 
Hòm sắc trước ngai thờ đình Yên Việt đã mất hết 11 đạo sắc phong.
 
Ông Nguyễn Quang Dương cho biết: “Rất ít người dân vào thắp hương ở hậu cung. Bản thân tôi 5 năm rồi mới bước chân qua cửa hậu cung còn toàn thắp hương bên ngoài”. Không ít người dân Yên Việt suy đoán kẻ gian chắc phải biết rõ những cổ vật ở đình. Ông Dương cho biết thêm: “Năm 2009, kẻ gian cũng đã vào hậu cung, lục tung hòm sắc nhưng đổ ra đất không lấy đạo sắc nào”. Có thể khi đó kẻ gian chỉ tìm cổ vật? còn sau này được “đặt hàng” lấy cả sắc phong?. 11 đạo sắc phong của hai triều vua Lê – Nguyễn của đền Yên Việt được thống kê trong hồ sơ di tích với các niên đại: Cảnh Hưng nguyên niên (1740); Cảnh Hưng 28 (1767); Cảnh Hưng 44 (1783); Chiêu Thống nguyên niên (1787); Quang Trung 4 (1791); Cảnh Thịnh 4 (1796); Bảo Hưng 2 (1802); Thiệu Trị 3 (1843); Tự Đức 7 (1854); Tự Đức 33 (1880); Đồng Khánh 2 (1886); Khải Định 9 (1924).
 
 
 
 
2 trong số 11 sắc phong tại đình Yên Việt (chụp từ hồ sơ lưu tại di tích).
 
Đình Yên Việt là đình thứ hai trong 10 đình chính tổ chức lễ hội “thập đình” vào các năm có hàng chi Thân, Tý, Thìn. Khi tổ chức lễ hội, các đình “em” rước kiệu, long đình về Bảo Tháp. Cũng như đình cả – Đình đền Bảo Tháp, đình đền Yên Việt thờ thành hoàng “Lê Thái sư đại vương” tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Đức Cao Huy chiếu đại vương (tức Doãn Công – vị tướng Hải Dương Đốc bộ xứ thời Hai Bà Trưng). Cả hai vị thành hoàng đều là những danh nhân lớn có công lao hiển hách với dân tộc.
 
Đình Yên Việt là công trình văn hóa tín ngưỡng gắn liền với bề dày lịch sử và văn hiến của cộng đồng làng xã nơi đây. Đình đền được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng với quy mô lớn, chạm khắc trang trí tinh xảo. Đến thời Nguyễn, Triều vua Tự Đức, niên đại năm thứ hai (1849), đình được trùng tu tôn tạo. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình bị phá hủy hai gian hậu cung. Năm 1992, dân làng phục dựng lại ba gian hậu cung này. Qua thời gian, và các đợt trùng tu, đình vẫn giữ được vẻ đẹp nghệ thuật với những chạm khắc nghệ thuật điêu luyện.
 
 
 
Một góc chạm lộng tinh xảo ở đình Yên Việt.
 
Giá trị nổi bật của đình đền Yên Việt được thể hiện ở vẻ đẹp kiến trúc điêu khắc mang phong cách nghệ thuật hai thời Lê – Nguyễn. Đó là tòa đại đình to lớn gồm: 5 gian tiền tế, và hai gian hậu cung. Trên tất cả các bộ phận kiến trúc như con rường, cốn bảy, đầu dư đều được chạm khắc trang trí theo các đề tài “Rồng ổ”, “rồng tiên”… và hoa lá cách điệu. Các đầu dư đều được chạm lộng rồng ngậm ngọc với nét chạm chau chuốt, nghệ thuật. Đặc biệt trên tất cả các bức cốn gian giữa và gian bên đều được chạm nổi kênh bong các đề tài rồng – tiên rồng ổ điêu luyện: Những rồng mẹ, rồng con, từng đàn từng lớp quấn quýt bên nhau; rồng mẹ đều có bờm tóc, nét mác bay ngược lên thể hiện rõ phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng; điểm xuyết trên những đầu rồng mẹ là những cảnh tiên cưỡi rồng, tiên múa, tiên đánh trống, thổi sáo, đàn nhị… đã toát lên một thế giới “rồng” và “tiên” linh thiêng huyền bí cho ngôi đình.
 
 
 
 
Tam quan đình Yên Việt
 
Trước đó, cùng trong “thập đình”, đình Cứu Sơn xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, Bắc Ninh (cách đình Yên Việt khoảng 2km) cũng đã bị kẻ gian khoét vách đột nhập lấy đi cổ vật. Khi chúng tôi về địa phương tìm hiểu, ông Nguyễn Đăng Vạn – Trưởng thôn Cứu Sơn không những từ chối cung cấp thông tin mà còn nói: “Mất trộm thì đã mất rồi. Công an còn chịu thì báo chí chẳng đăng để làm gì. Cứ để cho sự việc trôi đi là hơn”. 
 
Chúng tôi tiếp tục tìm đến nhà ông Nguyễn Sĩ Bàng – thủ từ đình đền Cứu Sơn. Khác với thái độ của ông Vạn, ông Bàng kể lại rất tỷ mỉ chi tiết việc đình bị mất trộm. Ông Bàng nói: “Tôi nhớ đình bị kẻ gian đột nhập vào lấy trộm cổ vật là vào đêm 24, rạng sáng 25/4 âm lịch (tức 14 và 15/5 dương lịch). Kẻ gian phải là người thông thuộc di tích. Bởi lẽ, nơi bị khoét vách chính là cửa hậu trước đây đã bịt lại bằng vật liệu gạch vỡ, vữa đất. Đêm ấy, tôi và ông Đinh Bá Thuyết ngủ tại đình. Chúng tôi nằm trò chuyện và còn đi soi đèn kiểm tra các nơi trong đình lúc 2 giờ sáng. Đến tang tảng sáng chừng 5 giờ thì chúng tôi dậy và phát hiện ra đình đã bị kẻ gian đột nhập. Vì trời mưa, lại đột nhập từ phía sau vườn đất nên kẻ gian đã để lại dấu chân, dấu vân tay trên ban thờ và cột đình. Kẻ gian để lại hiện trường một con dao dài 30cm”. Khi kiểm tra, ông Bàng, ông Thuyết phát hiện kẻ gian đã lấy đi ba bình hương đồng thời Nguyễn, 1 bình hương sứ, 2 nậm rượu sứ, 2 chóe đựng nước cúng. Ông Bàng cho biết: Cách đây 3 năm, kẻ gian cũng đã đột nhập lấy đi đôi lục bình cổ và 1 bình hương sứ cổ.
 
 
 
 
Đình Cứu Sơn.
 
Ban Quản lý đình Cứu Sơn cũng đã báo cáo sự việc lên chính quyền xã Đông Cứu và công an huyện Gia Bình đã về lập biên bản. Tuy nhiên, cho đến nay, các cơ quan chức năng quản lý văn hóa của huyện Gia Bình và tỉnh Bắc Ninh vẫn “chưa biết” gì về sự việc này.
 
Không hiểu ngoài việc lấy trộm đồ cổ, kẻ gian còn có ý đồ nhằm vào ngôi đền thờ danh nhân có công gìn giữ cương thổ của đất nước không?.

[Bài tác giả gởi trực tiếp cho Blog Hữu Nguyên]

Bà Masamune biện hộ về vụ Securency – BBC

27 Th9

Bà Masamune biện hộ về vụ Securency

Bà Elizabeth Masamune (ảnh trên Facebook)

Bà Elizabeth Masamune là đại diện thương mại Úc ở Việt Nam từ 1999-2002

Người tình cũ của đại tá an ninh Lương Ngọc Anh nói với cảnh sát Úc rằng bà luôn “hành xử đúng mực” trong thời gian ở Việt Nam.

Cựu đại diện cơ quan thương mại Úc (Austrade) tại Việt Nam, Elizabeth Masamune, phải ra trước tòa án ở Melbourne trong vụ xử tám bị can bị cáo buộc hối lộ liên quan công ty Securency.

 

Trong văn bản khai với cảnh sát, bà nói: “Tôi không bị ông Anh gây ảnh hưởng để tìm kiếm hay giành ưu đãi cho ông ấy… Tôi tin rằng về mặt nghề nghiệp, tôi đã luôn hành xử đúng mực.”

Bà Elizabeth Masamune từng là quan chức phụ trách thương mại cao cấp nhất của nhà nước Australia ở Việt Nam trong các năm từ 1999-2002.

Hồi đầu tuần, bà Masamune đã thừa nhận bà đã ‘quan hệ’ hai lần với ông Lương Ngọc Anh, người đã làm môi giới hợp đồng in tiền cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đang bị Cảnh sát Úc nghi là nhận tới 20 triệu Úc kim tiền hối lộ từ công ty Securency mà Ngân hàng Trung ương Úc sở hữu một nửa.

‘Không tham nhũng’

Khi tham gia vào dự án in tiền polymer ở Việt Nam, bà Masamune nói bà chưa hề thấy hay nghe “bất cứ dấu hiệu sai trái hay tham nhũng của các viên chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hay nhân viên Securency”.

Cũng theo lời khai với cảnh sát, bà nói mình từng lo ngại văn phòng ở Hà Nội bị nghe lén.

Sau khi nói chuyện qua điện thoại với một nhà báo, bà “cảm thấy lo lắng về tầm mức thông tin cô ta có. Tôi cũng lo ngại không biết điện thoại của mình có bị theo dõi không”.

Nhưng bà tuyên bố với cảnh sát và tòa án Úc rằng có nhiều điều không làm bà cảm thấy phải hồ nghi khi ở Việt Nam từ 1999 đến 2002, trong đó có các chi tiết như:

  • Ông Lương Ngọc Anh đến dự sinh nhật của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Ông Ngọc Anh có cấp dưới là con trai Thống đốc Ngân hàng Việt Nam, Lê Đức Thúy. Bà nói bà tin rằng người con, ông Lê Đức Minh, được ông Anh thuê vào đầu năm 2002 để làm môi giới cho Ngân hàng ANZ trong lúc họ tìm cách bán công nghệ ATM cho Việt Nam.
  • Ông Ngọc Anh tặng nhiều quà cho bà như nước hoa, một đầu máy DVD và tivi.
  • Securency được trông đợi trả tiền cho một đoàn chính phủ Việt Nam đi thăm Brazil và Mexico để tham khảo công việc in tiền.

Bà Masamune nói với tòa án rằng việc trả tiền cho chuyến thăm là chi phí hợp pháp.

Quà tặng

Ông Lương Ngọc AnhÔng Lương Ngọc Anh có nhiều quan hệ với giới chức cao cấp ở Việt Nam

Quanh chuyện quà tặng của ông Ngọc Anh, bà nói tặng quà là nét văn hóa Việt Nam chứng tỏ “sự chân thành”.

Trong lời khai với cảnh sát, bà cho hay bà đã để lại một số món quà cho từ thiện, hoàn lại tiền cho Austrade vì một số món khác và yêu cầu ông Anh “đừng tặng thêm quà nữa vì tôi là viên chức chính phủ”.

Bà viết trong lời khai: “Một trong những lợi thế của ông Anh trong vai trò môi giới là các quan hệ của ông ấy vì ở Việt Nam, có quan hệ thì mới đạt kết quả.”

Bà nói với tòa rằng bà chỉ nghe “tin đồn” ông Anh có liên hệ với ngành an ninh và chưa bao giờ có thông tin chắc chắn.

Bà Masamune cho hay bà chưa bao giờ nghĩ rằng quan hệ thương mại của Securency với ông Ngọc Anh có thể mâu thuẫn với luật chống hối lộ của Úc.

Bà cũng không nghĩ rằng quan hệ của vị đại tá với Thủ tướng, Tổng Bí thư và Thống đốc Ngân hàng Việt Nam là dấu hiệu chứng tỏ ông này không đơn giản chỉ là một doanh nhân quen biết nhiều.

Vụ xử vẫn đang tiếp tục tại tòa án ở Melbourne.

 

Luật sư nổi tiếng tiếp tục kiến nghị về phiên tòa xét xử “bí mật” – GDVN

27 Th9

Luật sư nổi tiếng tiếp tục kiến nghị về phiên tòa xét xử “bí mật”

 
(GDVN) – “Nếu công dân không được tham dự phiên tòa, tức việc xét xử không còn công khai, tức là bí mật kín đáo. Khi đó các trình tự thủ tục xét xử không còn ý nghĩa nữa, trình diễn nào có ý nghĩa gì khi không còn khán giả?”
PV: Như trong thư anh đã gửi đến tòa soạn, anh cho biết những chiến sỹ cảnh sát bảo vệ tư pháp và những người bảo vệ tại cổng tòa án đã gây khó dễ cho người nhà của bị hại, bị cáo và những người quan tâm vào dự phiên tòa xét xử và tình trạng này là khá phổ biến. Xin anh có thể kể một vài trường hợp cụ thể về những vụ gây khó dễ như anh đã nói? 
 
LS Ngô Ngọc Trai: Năm 2011, một lần tôi tham gia bào chữa trong vụ án hình sự gồm có 6 bị cáo tại Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, địa chỉ 262 Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội. Khi người nhà bị cáo muốn vào phòng xử đã bị cảnh sát tư pháp ngăn lại. Thư ký tòa án đã đề nghị với công an là để cho người nhà vào tham dự thì một anh công an cãi lại: Cho người ta vào nếu có chuyện gì xảy ra thì anh (tức thư ký) chịu trách nhiệm nhé? Trước câu hỏi đó và thái độ sừng sộ của người công an, anh thư ký đành thôi.

Một phiên tòa xét xử công khai tại TAND TP Hà Nội
Một lần khác cuối năm 2011 và đầu năm 2012 tôi tham gia 02 phiên tòa xét xử tại Tòa án nhân dân huyện T ở một tỉnh miền trung. Bị cáo là một ông trưởng thôn có uy tín được bà con quý mến, đặc biệt cáo buộc phạm tội của cơ quan tố tụng thiếu cơ sở thuyết phục do vậy bà con đi tham dự phiên tòa ủng hộ bị cáo rất đông. Lực lượng công an đã ngăn cản không cho bà con vào trong sân tòa.

Thay vì để bà con thực hiện quyền của mình, chính Chánh án tòa án huyện cũng tham gia giữ gìn trật tự phiên tòa bằng cách phối hợp cùng công an chỉ đạo thực hiện không cho bà con vào tham dự. Cách giải quyết trái pháp luật của lực lượng công an và ông chánh án đã khiến cho bà con bức xúc đứng ngoài đường cãi vã với những lời lẽ thiếu tế nhị.

Đây là hai trong số rất nhiều ví dụ về việc bảo vệ tòa án và lực lượng công an tư pháp vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền được tham dự phiên tòa công khai của người dân.

Có ý kiến cho rằng: việc hạn chế người vào dự phiên tòa để giữ gìn trật tự khi diện tích phòng xử hẹp, đề phòng những người nhà của bị hại quá khích gây ồn ào ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Anh có ý kiến gì về vấn đề này?

Ví dụ điển hình minh chứng cho tình trạng phòng xử hẹp là Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, số 262 Đội Cấn, mấy phòng xử án được bố trí nằm tại ngách bên trái của tòa nhà đối diện cổng ra vào. Lối đi vào phòng xử hẹp và gần đó là khu vực vệ sinh, phòng xử án không có gì cho thấy sự tôn nghiêm của một nơi định đoạt số mệnh pháp lý và rất nhiều khi là định đoạt mạng sống của con người.

Tòa án nhân dân tối cao đã tận dụng những không gian thẹo thừa làm phòng xử án, còn những nơi chính diện thì làm văn phòng. Bằng cách bố trí như vậy chúng ta có thể hình dung được mức độ của cái gọi là  “công lý” được thực thi ở những nơi chốn này.

Một ví dụ điển hình khác là phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, không chỉ phòng xử án mà toàn bộ khuôn viên của Tòa Đống Đa là quá chật hẹp. Phòng xử án của tòa án lớn cỡ bằng một phòng nghỉ khách sạn dành cho hai người.

Tuy nhiên thực tế cho thấy không gian chật hẹp không phải là lý do thuyết phục để ngăn cản người dân vào tham dự phiên tòa, bằng chứng là còn nhiều ghế trống trong phòng xử.

Việc dự liệu rằng những người tham dự phiên tòa gây ồn ào ảnh hưởng đến việc xét xử, điều đó là đúng với những người có trách nhiệm tổ chức bố trí phiên xử. Tuy nhiên việc dự liệu và giải quyết công việc không được triệt tiêu luôn quy định pháp luật. Rất nhiều người tham dự phiên tòa có ý thức giữ gìn trật tự, chỉ có một vài trường hợp cá biệt là gây rối, nhưng sau đó bị xử lý đưa ngay ra ngoài. Nhìn vào số ít xấu mà đánh đồng tất cả là xấu, tước bỏ luôn quy định pháp luật thế là không được. 

Đối với những vụ án hình sự đặc biêt, bị cáo là những tội phạm nguy hiểm, nhất là những đối tượng có “số má” trong giang hồ. Nhiều người tỏ ra lo lắng trước việc để người dân tự do vào dự phiên tòa là một nguy cơ cho việc quản lý bị cáo. Đối với trường hợp này anh thấy thế nào?
Tại sao pháp luật không quy định cấm công dân tham dự phiên tòa cho gọn? Nếu công dân không được tham dự phiên tòa, tức việc xét xử không còn công khai, tức là bí mật kín đáo. Khi đó các trình tự thủ tục xét xử không còn ý nghĩa nữa, trình diễn nào có ý nghĩa gì khi không còn khán giả? Khi đó việc xử lý tội phạm chẳng khác gì sự trả thù của luật pháp, cũng lén lút mờ ám như hoạt động của tội phạm. 

Lực lượng công an phải phối hợp với tòa án để có cách thức bảo vệ cho bị cáo và giữ gìn trật tự phiên tòa, nhưng không được vi phạm pháp luật, mang danh là bảo vệ pháp luật lại đi vi phạm một quy định pháp luật khác thì hoạt động sẽ mất hết ý nghĩa.

Theo anh, nguồn gốc của hiện tượng ngăn cản người dân vào dự phiên tòa mà anh đã nêu từ đâu?

Nguồn gốc của hiện tượng này xuất phát từ việc coi thường pháp luật của chính tòa án và lực lượng công an tư pháp. Họ biết thừa rõ là công dân có quyền tham dự phiên tòa công khai nhưng họ vẫn ngăn cản để cho công việc của họ được dễ dàng. Họ đánh đổi sự nhàn hạ trong công việc bằng việc hy sinh quyền hợp pháp của người khác. Đặc biệt là trong môi trường điều kiện mà sai phạm của họ lại được dung dưỡng, không bị xử lý.
 
 
Tuấn Nam
%d bloggers like this: