Lưu trữ | 1:17 Chiều

Cha con cạn tình – VNE

29 Th9

Cha con cạn tình

Người con trai không nhìn nhận, lạnh lùng kể tội cha trước những người xa lạ để giành lấy phần thắng về mình trong vụ kiện. Bi kịch của một gia đình trí thức khiến những ai tình cờ tham dự phiên tòa đều thấy xót xa.

Băng ghế đầu tiên trong phòng xử dân sự TAND TP HCM được mặc định là chỗ ngồi của các đương sự. Phiên tòa hôm ấy, đầu ghế bên này yên vị bởi người đàn ông tóc bạc trắng. Đầu ghế bên kia là người thanh niên tầm 30 tuổi, quần áo bảnh bao, gương mặt sáng láng. Nhìn kỹ, không khó để nhận ra mỗi đường nét thanh tú trên khuôn mặt người thanh niên thừa hưởng được từ người đàn ông tóc trắng. Họ là cha con. Băng ghế dài chưa đầy 2m nhưng khoảng trống giữa họ tưởng như là hố sâu thăm thẳm.

Vụ tranh chấp tài sản giữa cha con họ dần mở theo diễn biến phiên tòa. Năm 2005, sau gần 30 năm chung sống, do cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng ông quyết định ra tòa ly hôn. TAND quận 9, TP HCM xét xử chấp thuận cho họ ly hôn, phần tài sản gồm 2 thửa đất nông nghiệp, một ngôi nhà do vợ chồng yêu cầu tự giải quyết nên tòa không xem xét.

Sau ly hôn, ông và vợ cùng cậu con trai vẫn sống chung dưới một mái nhà. Để tránh “đụng” nhau, hai bên thỏa thuận phân chia “giới tuyến” bằng cách ngăn ngôi nhà thành hai phần. “Dù đã tạo vách ngăn nhưng chưa có ngày nào tôi yên ổn với mẹ con bà ấy. Hễ thấy mặt tôi là con trai đá thúng đụng nia, chửi chó mắng mèo. Tôi chịu không nổi muốn nói chuyện phải quấy thì nó nói tôi không phải cha nó nên không đủ tư cách hầu chuyện. Thậm chí, có lần hai mẹ con bà ấy cùng nhào đến đánh đập, ép tôi viết di chúc để lại toàn bộ tài sản. Vì thương con, tôi cố gắng chịu đựng, không mở miệng báo công an… Nuôi con cực khổ trăm bề, giờ thành tài, nó trả nghĩa bằng cách mong cho tôi chết”, ông rưng rưng kể trước tòa.

Sau nhiều năm không nhìn nhận cha, mới đây, cậu con trai tham mưu cho mẹ khởi kiện cha đòi phân chia tài sản gồm căn nhà và 2 thửa đất nông nghiệp.

Tại phiên tòa sơ thẩm TAND quận 9, ông trình bày rằng trước khi cưới vợ, ông được cha mẹ cho 2 thửa đất nông nghiệp làm tài sản riêng. Sau khi con trai chào đời, thấy nhà chật chội, mẹ ông cho ông một khoản tiền mua nhà ra riêng. TAND quận 9 tuyên xử 2 thửa đất nông nghiệp thuộc tài sản riêng của ông (tài sản trước hôn nhân) nên không phải chia cho vợ. Ngôi nhà là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, thuộc tài sản chung nhưng xét nguồn gốc mua từ tiền của mẹ ông nên tuyên ông được phần nhiều theo tỷ lệ 6-4.

Không đồng tình, vợ ông kháng cáo toàn bộ bản án. Theo bà, căn nhà phải được chia đôi, 2 thửa đất nông nghiệp cũng cần “định giá” để thanh toán lại công sức của bà sau 30 năm chung sống đã cùng chồng vun vén, canh tác cho nhiều hoa lợi.

Trong phiên tòa phúc thẩm mới đây, người con trai được mẹ ủy quyền nêu quan điểm: “Chúng tôi đến đây không phải để tranh chấp phần đất riêng của… “người này” mà chỉ muốn xin lại một phần công sức của mẹ tôi. Công sức ấy thể hiện ở chỗ đã cùng nhau canh tác, giữ gìn và đóng thuế. Nghĩa vợ chồng mấy chục năm qua, chẳng lẽ đùng một cái ly dị, người vợ phải ra đi tay trắng? Còn căn nhà thực tế do cả hai dành dụm, chỉ vì tin tưởng mà mẹ tôi để… “người này” đứng tên…”.

“Cha anh đã già, phận con cái sao không trả hiếu mà lại cư xử bạc tình đến vậy? Chỉ có con cái bất hiếu chứ cha mẹ nào tệ bạc với con? Hình hài của mình ai cho? Ai dưỡng nuôi anh từ lúc chỉ là một sinh linh nhỏ bé…?”, vị chủ tọa bức xúc nói.

Nghe con trai nói, mặt ông co dúm lại, đôi mắt nhắm nghiền, đau đớn. Vậy mà người con trai vẫn không thèm nhìn qua cha lấy một lần, lớn tiếng kể tội, khẳng định cha là kẻ vô tình, bạc bẽo. Nghe những lời “kết tội” lạnh lùng của con đối với cha, nhiều người dự khán bỗng thấy ái ngại trước bi kịch của một gia đình trí thức. Ông là cán bộ nghỉ hưu, người con trai sau khi tốt nghiệp đại học, nhờ mối quan hệ của cha cũng được nhận làm việc tại một sở lớn ở thành phố…

Sau khi nghị án, tòa tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại vì còn nhiều chứng cứ chưa được làm rõ. Người con trai phấn khởi ra mặt, quầy quả đi lấy xe. Ông lủi thủi ra ghế đá trong sân tòa ngồi thở. “Ngày ấy ly hôn, vì thương con, muốn thấy con mỗi ngày, tôi đã không bán căn nhà chia đôi để đường ai nấy đi. Nó không hiểu, hỗn hào rồi ra tòa thưa kiện. Tôi già rồi, sống bao năm nữa đâu, sau này tôi chết, toàn bộ đều cho nó chứ còn ai vô đây nữa…?”, ông nghẹn ngào nói rồi khó nhọc đứng dậy ra về.

Giữa trưa nắng gay gắt, bóng ông đổ dài dưới sân tòa trông bơ vơ, đơn độc đến nao lòng.

Theo Người Lao động

—————————————————————————–

Học sinh mẫu giáo, cấp 1, cấp 2 Việt Nam ( 1954 đến 1975 từ sông Bến Hải ra biên giới  phía Bắc, trên cả nước từ 1975 đến nay). Ở trơờng học và nơi sinh họat đoàn thể, họ rất ít được học ca dao, tục ngữ, văn hóa dân gian: “Công Cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ…/ Giấy rách giữ lấy lề…/Nhiễu điều phủ lấy giá gương…/ Chị ngả em nâng…/ Tham thì thâm… Gia Huấn Ca…/ …  vân vân và vân vân….”

-Họ được học rất nhiều về con người  mới Xã Hội Chủ Nghĩa.

(………………!!!)

vonga1

Mắng dân và… cười ngạo nghễ! – TVN

29 Th9

Mắng dân và… cười ngạo nghễ!

 

Ôi chao. Vừa bị các nhà khoa học mắng. Giờ Dân tôi lại bị Tham nhũng mắng, diễu cợt.

>> Không chỉ đóng cửa kiểm điểm/ Nhân chuyện Sông Tranh 2: Kém tin bởi tin kém!/ Nhà khoa học đáng phải ra toà?/ Sông Tranh 2: Làm dân khó lắm!

 

Sao Dân tôi bỗng dưng… muốn khóc!

Thế là, mặc cho kết luận của cơ quan quản lý Nhà nước rằng, đập thủy điện Sông Tranh 2 bảo đảm ổn định, an toàn, mặc cho những trấn an với người dân, rằng hãy biết yên tâm và duy trì các hoạt động sản xuất, học tập, sinh hoạt bình thường, và cũng mặc cho đập thủy điện chưa tích nước, đến thời điểm này, ST 2 vẫn liên tiếp có… “kết luận” riêng của nó.

Ai “kém hiểu biết” hơn?

Chỉ trong ngày 23/09, hai trận động đất với cường độ mạnh 4,8 richter đã khiến hàng nghìn người dân các huyện Nam- Bắc Trà My (Quảng Nam) hoảng hốt. 150 người đang dự tiếp xúc cử tri tại xã Trà Đốc bỏ chạy tán loạn.

Đã có gần 120 ngôi nhà, trường học của các xã Trà Đốc, Trà Tân, Trà Sơn và Trà My bị hư hỏng nặng. Ai sẽ phải đền bù thiệt hại đã xảy ra và sẽ xảy ra?  Câu trả lời còn ở thì…tương lai.

Nhưng trong khi chờ đợi “thì tương lai” tới, thì hiện tại, theo ông Đặng Phong, Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My, do quá lo sợ, nhiều người dân đành vào rừng, làm nhà tạm để sống.

Động đất vốn là thiên tai khiến cả nhân loại luôn kinh hoàng, sợ hãi. Không một quốc gia nào, dù phát triển văn minh, tiên tiến trong khoa học, như Nhật Bản chẳng hạn có thể dám coi thường. Bài học Fukushima mới đây còn đầy nước mắt.

Nữa là những quốc gia còn đang phát triển như Việt Nam. Nữa là cái huyện miền núi còn nghèo, chậm phát triển như Bắc Trà My. Tiếc thay, sau những ngày hoảng hốt chạy tán loạn, người dân Bắc Trà My và cả xã hội hết sức bất bình trước cái cách ứng xử của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn.

Chưa bao giờ, gánh nặng sinh mạng của hàng ngàn người dân thực sự trĩu vai chính quyền huyện Bắc Trà My như lúc này. Thủy điện ST 2 bỗng nhiên như một “chứng nhân” bất đắc dĩ của cuộc đấu khẩu giữa hai bên- chính quyền và các nhà khoa học.

Trước sự vênh nhau giữa phân tích về kỹ thuật với hiện tượng động đất luôn xảy ra, không tin vào những kết luận của đoàn cán bộ khoa học khảo sát, cũng như của Ban Quản lý thủy điện ST 2, ông Đặng Phong, Chủ tịch huyện gay gắt: Chúng tôi vẫn đang nợ người dân câu trả lời về độ an toàn của thủy điện ST 2.

 

Đã có gần 120 ngôi nhà, trường học hư hỏng nặng sau hàng loạt trận động đất. Ảnh: Thanh Niên

 

Thì đây, các nhà khoa học, các chuyên gia thủy điện, “trả nợ” dân:

Bà Ngô Thị Lư (Đoàn nghiên cứu Viện Vật lý Địa cầu): Người dân quá kém hiểu biết, chỉ mới nghe động là đã dắt trâu bò, gói ghém đồ đạc bỏ chạy. Bà Ngô Thị Lư còn yêu cầu chính quyền nên giáo dục lại dân.

Ôi trời, cái tâm của một người phụ nữ làm khoa học, lại là … TS nữa kia! Dân không chạy động đất thì ngồi đợi chờ chết ư, thưa bà Ngô Thị Lư?

Ông Lưu Thế Biểu, Phó Trưởng ban xây dựng Tập đoàn EVN: Nếu các trận động đất lớn hơn xảy ra đập vẫn an toàn. Ngày 13-9, EVN sẽ họp với Bộ Xây dựng để có kết luận cuối cùng và đề nghị Thủ tướng cho phép tích nước. Ông Biểu còn khuyên: Người dân và chính quyền tỉnh Quảng Nam phải tin vào kết luận của các nhà khoa học vì đó là… chân lý.

Còn ông Trần Văn Hải-Trưởng ban Quản lý dự án thủy điện 3, chủ đầu tư công trình ST2: Dân nên chia sẻ và hy sinh cho thủy điện!

Những lời mắng, lời khuyên… thừa, bỗng trở thành bất nhẫn, thưa các nhà khoa học lẫn các nhà quản lý dự án.

Nếu dân không biết chia sẻ và hy sinh, thì đâu phải di dời, chuyển nhà, tìm nơi định cư mới với vô vàn khó khăn của sự khởi đầu lại?

Nếu không biết hy sinh, lấy đâu ra công sức lao động để xây nên con đập thủy điện, mà do những kém cỏi chuyên môn, thậm chí do sự thiếu trách nhiệm và vô lương tâm của những kẻ nào đó, từ điều tra, khảo sát, thiết kế kỹ thuật đến thi công, giờ dân lại đang phải chịu những cơn “đập” nổi giận của đất?

Gần 120 ngôi nhà, trường học của dân nghèo bị  hư hỏng, dân phải chạy vào rừng sống, đã là hy sinh chưa? Hay hy sinh có nghĩa là chấp nhận sống chung với những trận động đất ngày càng lớn về cường độ, thậm chí biết đâu, có thể hủy diệt cả một cộng đồng?

Có kém hiểu biết, dân mới phải “bám víu” vào những khảo sát, kết luận “chân lý” của các nhà khoa học. Thế nhưng, chỉ 10 ngày sau lời khuyên “khoa học là chân lý”, đã có tiếp 2 trận động đất khiến dân kinh hồn.

Đến nước này, dư luận xã hội, chỉ mong các nhà khoa học, nhà chuyên môn như bà Ngô Thị Lư, ông Lưu Thế Biểu, ông Trần Văn Hải, và cả những ai ai nữa, khẳng định đầy tự tin vào sự an toàn của ST 2, nên đưa cả gia đình vào khu vực thủy điện chung sống, “chia sẻ” sự… hiểu biết cho người dân Bắc Trà My vốn kém hiểu biết.

Có lẽ khi đó, dân mới hoàn toàn tin phát ngôn của các vị có lý!

Ở góc độ Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam, ông Trần Xuân Thọ cay đắng: Chúng tôi tin các nhà khoa học chứ. Nhưng trước đó họ nói động đất sẽ giảm dần, giờ lại tăng lên thì có gì bất thường không? Giờ lại nói chúng tôi phải chờ ba năm nữa mới có kết quả chính thức là sao? Chỉ sợ khi đó chúng tôi không… còn sống nữa để đợi kết quả.

Không phải ngẫu nhiên ngày 24/9, báo SGTT có bài viết “Dân đáng bị mắng hay nhà khoa học đáng phải ra toà?”. Bài báo dẫn chứng, một phiên toà ở Ý từng làm xôn xao giới khoa học, vì theo cáo buộc của công tố viên, các nhà khoa học không cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khả năng động đất, dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng về con người và tài sản của dân.

Thông tin khoa học chính xác là yêu cầu tiên quyết, người dân chờ đợi ở các nhà khoa học, trong khi ngày ngày họ vẫn phải “chờ đợi” thảm họa động đất rất có thể lại xảy ra. Liệu ST 2 có cần được đi theo vết xe đổ của các nhà khoa học nước Ý xa lắc xa lơ không?

Nhưng mới đây, một “dư chấn khoa học” khiến xã hội còn sửng sốt hơn. Liệu đây có phải là câu “trả lời” của ST 2 cho các nhà khoa học không:

Khi Lật lại báo cáo đánh giá tác động môi trường thủy điện Sông Tranh 2, người ta sửng sốt, vì trong báo cáo này (lập vào tháng 8/2005), Tập đoàn Điện lực VN- EVN, cho rằng thủy điện ST 2 không có khả năng gây động đất kích thích khi tích nước, không gây rủi ro môi trường.

Thực tế xảy ra trái ngược hẳn, các hiện tượng động đất của ST 2 đều được các chuyên gia phân tích,  đánh giá là động đất kích thích.

Thế nhưng, cũng theo bài báo, một chuyên gia trong nhóm đánh giá nguy hiểm động đất thủy điện ST 2 (thời điểm tháng 8/2005) cho biết, nhóm này chỉ được “đặt hàng” đánh giá nguy hiểm động đất cực đại có thể tới 5,5 độ Richter chứ chưa có những nghiên cứu về động đất kích thích lúc đó!

Chưa có nghiên cứu, mà dám khẳng định trong báo cáo “thủy điện ST2 không có khả năng gây động đất kích thích khi tích nước, không gây rủi ro môi trường”. Đó là báo cáo kiểu gì, nếu không phải là thiếu cả trách nhiệm lẫn lương tâm khoa học?

Các nhà khoa học hay đổ tại cho cơ chế quản lý không tạo động lực nghiên cứu. Nhưng ở sự kiện ST 2, các nhà khoa học có trách nhiệm liên đới sẽ trả lời ra sao, về nghiên cứu một đằng, phát biểu một nẻo?

Ông Lê Trí Tập, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã phải nói:

Bây giờ tôi thật sự băn khoăn là có nên tin vào các nhà khoa học hay không vì họ nói không nhất quán gì cả. Đứng trước sinh mệnh của hàng vạn người dân Quảng Nam, tôi tha thiết đề nghị các nhà khoa học phải hết sức trung thực, hết sức khách quan và phải hết sức chính xác khi nhận định về những biến động địa chất ở thủy điện ST2.

Vậy, ai mới là “kém hiểu biết” hơn?

Xin các nhà khoa học, hãy trung thực lên tiếng?

Tại cuộc họp báo mới đây, ông Vũ Đức Đam, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP khẳng định, quan điểm của Chính phủ phải bảo đảm tuyệt đối an toàn tính mạng và tài sản của người dân. Cần thận trọng, theo dõi thêm ST 2, và Chính phủ cũng chưa cho phép tích nước ở thời điểm này.

Đó là quyết định đúng đắn và cần thiết.

Nụ cười …ngạo nghễ?

Giữa lúc thủy điện ST2 còn chưa biết đi về đâu hỡi tôi, thì ngày 24/09, VietNamNet đưa thông tin “Người có chức quyền thu nhập sẽ khá”. Đây được coi là một trong những giải pháp để phòng chống tham nhũng, khiến bạn đọc lập tức phản hồi, phản biện tới tấp về tòa soạn.

Tham nhũng, từ lâu giống như một “chấn thương tâm lý xã hội” cực mạnh. Bởi những thảm họa nó gây ra cho xã hội, khiến dân quá phẫn nộ, vì thậm chí nó đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Thật ra, quốc gia nào cũng có tham nhũng, từ tư bản đến xã hội chủ nghĩa, nó không phải đặc tính của một thể chế chính trị nào.

Có điều, tham nhũng sẽ bị hạn chế, nếu cơ chế quản lý xã hội thực sự khoa học, phù hợp quy luật thực tiễn, và pháp luật không bị tham nhũng…bịt mắt. Và có điều, tham nhũng ở xã hội ta, nó cũng đặc biệt quá.

Không cứ là quan chức, từ một nhân viên công quyền vô danh tiểu tốt, một giáo viên mầm non, một y tá,  điều dưỡng bệnh nhân…, đều có thể tham nhũng, bởi họ vẫn có quyền với một nhóm người nào đó phụ thuộc họ.

Nhưng quan chức, khả năng tham nhũng lớn, tham nhũng nặng, thì hơn hẳn. Nếu vậy, việc cải cách tiền lương chỉ “ưu tiên” cho quan chức, thì tác động của giải pháp này có phần gây… phản cảm. Sự bàn luận ồn ào ngay sau thông tin, đã giải thích phần nào. Và liệu nó có hiệu quả không?

Xin dẫn chứng, về cái sự tăng tiền bạc trước đây:

Khi ngành giáo dục có chủ trương tăng học phí, một câu hỏi đặt ngược: Liệu có sẽ tăng chất lượng giáo dục không?

Khi ngành y tế có chủ trương tăng viện phí, cũng có  câu hỏi đặt ngược: Liệu có sẽ tăng chất lượng điều trị bệnh không?

Câu trả lời của cả hai ngành giáo dục- y tế: Chưa dám khẳng định, vì chất lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác!

Thật khôn và thật khéo!

 

Tăng lương có chống được tham nhũng? Ảnh minh họa

 

Giờ đây, cũng rất có thể, có một câu hỏi đặt ngược: Nếu tăng tiền lương cho các quan chức, liệu tham nhũng có giảm bớt không? Không chừng, giống như ngành giáo dục và y tế, câu trả lời sẽ là: Chưa chắc, vì tham nhũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác!

Thế nên, trong bài viết mới đây trên Tuần Việt Nam, ngày 25/09, tác giả bài viết đã đặt câu hỏi: Tăng lương rồi mà vẫn tham nhũng thì làm gì nữa? Chả lẽ lại…tăng lương tiếp?

Câu hỏi này xin dành cho các chuyên gia tư vấn về chính sách phòng chống tham nhũng.

Quan trọng hơn cả, cơ chế, thiết chế quản lý kinh tế- chính trị- xã hội hiện nay đã thực sự khoa học, phù hợp thực tiễn, để có thể ngăn ngừa, phòng chống và hạn chế tham nhũng chưa?

Câu hỏi này xin dành cho các nhà quản lý chính quyền từ cơ sở…

Sau những ồn ào, sau những quan tâm thông tin về đối thoại phòng chống tham nhũng năm 2012, chờ cho tiếng nói dư luận xã hội lắng xuống, Tham nhũng mới xuất hiện. Đẹp đẽ, hồng hào, trông rất trí thức, lại rất giống đại gia. Rất kẻ cả, gương mặt đầy vẻ ban phát.

Giờ là lúc Tham nhũng đối thoại với Dân tôi:

– Nhà ngươi ăn gì?

– Dĩ nhiên ăn cơm. Thế còn ông, Tham nhũng, ông ăn gì?

– Ta ăn nhiều thứ lắm, tiền bạc, vàng, ngoại tệ, đất đai… Có thế mới đẹp đẽ thế này chứ. Ngươi tuy ăn, nhưng gạo thì đầy thuốc trừ sâu, phân hóa học, thực phẩm, rau củ, hoa quả ô nhiễm, đầy chất bảo quản. Tham nhũng tự tin.

-…

– Ta biết, Dân các ngươi phẫn nộ với Tham nhũng ta lắm. Nhưng Dân các ngươi có biết, vì sao ta không chết, mà vẫn có ba đầu sáu tay? Tại các ngươi cả đấy. Tại các ngươi luôn có nhu cầu khiến ta phải tham nhũng.

Có kẻ nào đó trong các ngươi từng tổng kết, cuộc đời làm dân của hắn, phải “lạy” tới 36 cửa: Cửa xin học, xin tuyển dụng, xin việc làm, xin chữa bệnh, xin công chứng, xin mua bán nhà cửa..v v…và vv…Các ngươi chỉ có quyền xin sỏ. Còn ta, ta có quyền.

– Chả lẽ Dân tôi có nhu cầu của đời sống là có tội?

– Không có tội. Nhưng ta có quyền. Quyền sinh ra lợi, đặc quyền, đặc lợi. Hiểu chưa?

Mà người có biết vì sao người ko chống nổi ta ko? Vì các ngươi có mỗi cái miệng là vũ khí. Lúc nào cũng hô khẩu hiệu: Chống tham nhũng, chống tham nhũng! Làm như cứ hô khẩu hiệu là Tham nhũng ta chết thẳng cẳng í? Tham nhũng cười sằng sặc.

– …

– Nhưng Dân các ngươi chỉ có quyền hô. Tham nhũng ta cũng hô cùng các ngươi, nhưng ta… “có quyền” không bao giờ chống lại… chính ta? Hiểu chửa?

Và Tham nhũng lại cười. Bước đi. Dáng đi và nụ cười ngạo nghễ, khệnh khạng giống nhau lạ.

Ôi chao. Vừa bị các nhà khoa học mắng. Giờ Dân tôi lại bị Tham nhũng mắng, diễu cợt!

Sao Dân tôi bỗng dưng…muốn khóc!

Kỳ Duyên

Nhà viết kịch Học Phi qua lời kể của con trai- nhà văn Chu Lai – PLTP

29 Th9

Nhà viết kịch Học Phi qua lời kể của con trai- nhà văn Chu Lai

 
Là nhà văn, nhà viết kịch uyên bác, độc giả biết đến cái tên Học Phi qua những trang văn, vở kịch gây tiếng vang lớn. Ít người biết ông là cha ruột của nhà văn Chu Lai. Hãy nghe “Người của phố” kể về cha mình qua những kỉ niệm và những trang văn.

“Cha tưởng tôi thành tướng cướp rồi tôi thành nhà văn”

Theo cách nói “con nhà nòi” ai cũng tưởng rằng chính nhà văn Học Phi đã định hướng cho con trai, nhà văn Chu Lai (Tên thật là Chu Ân Lai) theo nghiệp cầm bút mà không phải. Từ nhỏ, Chu Lai nổi tiếng nghịch ngợm, ương bướng, kỉ niệm gắn với cha và tuổi thơ của ông là những trận đòn, ông trầm ngâm kể: “Ngày nhỏ, tôi hay bị cha cho ăn đòn vì đánh nhau với trẻ con hàng xóm. Đáng nhớ nhất là khi tôi chừng 14 tuổi, ông cầm roi đuổi tôi chạy suốt căn phố mùa đông, uất quá, lại ngượng với đám con gái đang ngó cổ nhìn ra cười, tôi bèn dừng lại, trợn mắt lên, ý nói:” Bố đánh nữa đi, đánh chết đi!”. Không biết đôi mắt “ốc nhồi” của tôi lúc ấy bắn ra tia lửa gì mà cụ sững người, thõng tay xuống và từ đó cho đến mãi về sau tôi không bị đánh nữa. Cụ nói với mẹ tôi: “Thằng này rồi hỏng, mắt nó một là anh hùng hai là tướng cướp. Vậy mà tôi chả thành cả hai để rồi lại chui đầu vào cái trường văn trận bút khốn khổ cả đời”.

Khi được hỏi có phải chính cụ thân sinh hướng Chu Lai theo nghiệp viết không? Vẫn cái giọng tưng tửng, ngang tàng của người lính, nhà văn Chu Lai kể: “Không. Ông cụ đẻ nhiều con quá nên chả hướng cho con nào cái gì cả. Mười anh em trai, toàn trai chứ không có gái mới căng chứ, cứ lớn lên như cây cỏ. Rồi ra trận, loạn lạc, bệnh tật, ốm đau bây giờ chỉ còn hai. Hồi nhỏ tôi mê làm văn công, đi thi tuyển vào trường nghệ thuật quân đội trúng, ông cụ biết mà không ngăn cản. Cả lúc tôi chán son phấn đi bộ đội đánh giặc, cũng là hoàn toàn tự ý”.

Ít ai biết, nhà văn Chu Lai là con trai của nhà viết kịch Học Phi

Song cái chất nghệ sĩ của con nhà văn đã ngấm vào máu, anh lính Chu Lai xông pha trận mạc cũng một phần do cái chất nghệ sĩ của cha luôn thích thử nghiệm con người mình trong bão tố. Theo cách nói của ông thì “Cái gen văn chương nó mạnh lắm, nó thấm vào người tự lúc nào không hay. Sau này, không rõ nguyên cớ tôi lại viết văn, lúc đó ông cụ mới động viên và giúp thật sự”.

Cha và con không “gặp nhau” trong văn chương

Với tư cách một người viết văn, tiểu thuyết, truyện ngắn của nhà văn Học Phi trang trọng, lịch lãm khác hẳn với văn phong của “Ăn mày dĩ vãng”, “Phố”… Theo nhà văn Chu Lai ông mạnh về văn, cha mạnh về kịch. Chu Lai viết nhanh và hơi điên, cụ Học Phi lại chậm rãi, nhấn nhá và tỉnh như sáo. Giữa một lối viết ngang tàng, dữ dội, phá cách với những trang văn hào hoa, thanh lịch, câu chữ chuẩn xác đúng quy phạm thì làm sao có thể gặp nhau được?

Không gặp nhau trong những trang viết, nhưng cụ Học Phi lại có cách “yêu” văn Chu Lai rất lạ: “Yêu sau lưng”. Khi tôi mạn phép hỏi, cụ Học Phi nhận định thế nào về văn Chu Lai, giọng trầm ngâm, xúc động nhà văn kể: “Bằng khẩu khí, cha chả coi văn tôi ra cái gì, cụ nói với mấy bạn già: Cái thằng tính tình nóng như hổ mang hổ lửa như vậy thì văn chương cái nỗi gì. Thế mà có lần mẹ tôi mách: Suốt tuần qua bố chỉ đọc sách của con, rồi lại muốn xin con mấy cuốn tặng các bạn nhưng ông ngại”. Có lẽ ông ngại khen ngợi con quá sớm.

Nhà viết kịch, nhà văn Học Phi

Còn nhà văn Chu Lai không ngần ngại khẳng định văn của cha hiền quá, sạch quá, đọc không sướng. Nhưng về kịch ông lại là bậc thầy. Vở kịch mà Chu Lai ấn tượng nhất là “Ni cô Đàm Vân” được cụ Học Phi viết sau khi nghỉ hưu (tác giả Trần Đình Ngôn chuyển thể sang chèo). “Xem không thấy chút lên gân lên cốt nào, từ đầu chí cuối chỉ toàn những trắc trở và yêu đương nhưng toàn vở vẫn chan chứa tính Đảng. Viết về cách mạng, về người Đảng viên, về đấu tranh như vậy là quá khéo. Có lẽ cụ đã có thời gian hoạt động trong chùa, tâm tính lại đa sầu đa cảm, tức là đa tình nên con người cộng sản của cụ cứ như không, thật như khí trời, rơm rạ”, Chu Lai nói, giọng không khỏi tự hào.

Tôi tặng cha niềm say mê với nghề

Vừa qua nhân ngày giỗ tổ của sân khấu Việt Nam, hội nghệ sĩ sân khấu công diễn lại vở chèo “Ni Cô Đàm Vân” như một món quà mừng nhà văn, nhà biên kịch Học Phi tròn 100 tuổi đời, 80 tuổi Đảng và tôn vinh sự nghiệp cao cả của cụ. Còn nhà văn Chu Lai, chỉ muốn gửi tặng cha mình nhân cách sống bao năm qua, lòng hiếu thảo, sự say mê với nghề. Hơn cả như lời cha dặn biết lấy gia đình là chỗ nương tựa cuối cùng.

“Cha tôi từng nghĩ, lớn lên tôi chỉ có thể trở thành… tướng cướp”

Trong lời mừng thọ cha của ông vẫn pha chút tếu táo, hóm hỉnh: “Câu tôi muốn nói với cụ khi bước vào tuổi 100 là: “Ông Chu Dung Cơ, chả biết có phải cùng họ không, về nghỉ rồi mới tâm đắc: “Tất cả đều ở ngoài ta, chỉ có sức khỏe mới ở trong ta”. 100 tuổi cụ đã đạt kỷ lục dòng họ rồi, lại vẫn còn viết được thì có khi đạt kỷ lục quốc gia về độ bền con chữ. Còn tôi, có lẽ khi nào không còn biết rung động với cái đẹp, với phụ nữ thì coi như đã chết, có thể bảy mươi, tám mươi, chín mươi, một trăm…”.

Nhà văn, nhà viết kịch Học Phi tên thật là Chu Văn Tập, quê ở Tam Nông, Tiên Lữ, Hưng Yên và tham gia cách mạng và viết văn từ rất sớm. Sự nghiệp của ông đến nay bao gồm hơn 30 vở kịch và 9 cuốn tiểu thuyết. Tác phẩm đầu tay ông viết năm 1936 là tiểu thuyết “Hai làn sóng ngược”, dựa trên vở kịch ngắn cùng tên của Nguyễn Văn Năng, sau đổi tên thành“Xung đột” đăng trên báo Đời Nay. Tiếp đó ông viết tiếp hàng loạt truyện ngắn đăng trên báo Tin tức và các báo khác ở Hà Nội thời ấy.
 
Năm 1944, ông bắt đầu viết kịch, vở kịch đầu tay là “Đào Nương”. Các vở kịch ngắn về sau có thẻ kể tới “Chị Hòa”, “Bên đường dốc”,“Một đảng viên”, “Lúa mùa thu”, “Mở đường”, “Mai”… đã gây được tiếng vang lớn. Năm1976, sau khi nghỉ hưu ông làm bạn với văn chương và viết được những cuốn tiểu thuyếtNgọn lửa, Hừng đông, Xuống đường, Bà đốc Huệ, Cuộc đời về cuối. Từ các cuốn tiểu thuyết, ông lại rút ra một số vở kịch như “Ni cô Đàm Vân”, “Cô hàng rau” rút từ “Ngọn lửa” và “Hừng đông”,“Hoàng Lan”, “Đêm dài”rút từ“Xuống đường”…

Nhà văn, nhà viết kịch Học Phi từng là Tổng thư ký Văn hoá kháng chiến Liên khu III, Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam và Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lậphạng nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1).

 Theo Đinh Nha Trang (Dân trí)

 

Từ trí tuệ Trần Nhân Tông đến trí tuệ Việt Nam 2012 – SGTT

29 Th9

Từ trí tuệ Trần Nhân Tông đến trí tuệ Việt Nam 2012

SGTT.VN – Trong một buổi trò chuyện, một giáo sư triết học nhắc đến cuộc đối thoại của nhà văn Nguyên Ngọc với nhà báo Nam Dao. Ông Nam Dao có câu hỏi rất hay, đại ý là các văn nhân nước ta sao cứ giống Trình Giảo Kim, chém đúng ba búa rồi bỏ chạy, chẳng ai đủ sức đi đường dài mặc dù xã hội ngày càng nhiều những vấn nạn, vấn đề mới nảy sinh!

 

 
Nhà văn Nguyên Ngọc.

 

Ông Nguyên Ngọc trả lời rất rốt ráo câu hỏi này: “Muốn hiểu vì sao có tình trạng chợ chiều hôm nay cũng không có cách gì khác hơn là nhìn lại thực chất nội lực của văn học. Văn học thời Đổi mới đã bứt phá ra được vì nội lực của nó qua dồn nén lâu dài đã đến lúc trở nên mạnh hơn những lực lượng kìm hãm. Nhưng trong cuộc bứt phá đó nó đã “tiêu xài” hết nội lực có được, như chiếc xe cạn xăng, sức đuối dần đi, đến khi dừng lại hẳn như hiện nay.

Trong sự dừng lại hiện nay, có nguyên nhân của sự cản trở không? Có chứ. Nhưng thử nghĩ xem bao giờ mà không có sự cản trở. Các lực lượng kìm hãm thì thời nào, chỗ nào cũng không thiếu. Vấn đề là anh có đủ sức phá nó ra không? Vấn đề hiện nay là tự anh đã yếu đi, do đã tiêu hết nội lực có thật của mình. Tôi cho rằng những hiện tượng như Nguyễn Huy Thiệp đã dừng lại, Bảo Ninh thì hầu như không còn viết gì đáng chú ý nữa… đều có thể nói là tất yếu. Họ đã “xài” hết cái “trời cho”, tức tài năng bẩm sinh cộng với “vốn sống”, tức sự trải nghiệm của họ. Họ đã trở nên hụt hẫng.

Một nhà văn viết bằng gì? Theo tôi, có ba cái chính: tài năng “trời cho”, sự trải nghiệm hay “vốn sống”, và cái thứ ba là nền tảng văn hoá dân tộc và nhân loại mà anh ta có được, anh ta “đứng” trên đó để tiếp tục đi tới.

Lớp người trẻ cầm bút ở Việt Nam hiện nay thiếu hụt hơn cả chính là cái thứ ba này. Thử nhìn lại cha ông chúng ta, những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương… mà xem. Khi họ cầm bút thì đằng sau lưng họ là cả một cái vốn văn hoá khổng lồ của phương Đông. Nền giáo dục thời đó đã cho phép họ chiếm lĩnh gần như toàn bộ những đỉnh cao nhất của văn hoá nhân loại (hiểu ở nghĩa đối với chúng ta thời ấy chỉ bao gồm Trung Hoa và Ấn Độ, với Nho giáo và Phật giáo). Chính trên cái nền tảng vĩ đại đó mà họ phát huy tài năng trời cho và vốn trải nghiệm sâu sắc của họ, tạo nên những tác phẩm có tầm mức kinh điển của thời đại họ. Qua đến thế hệ nhà văn thời Pháp thuộc thì nền tảng của họ là truyền thống văn hoá cũ cộng với tri thức mới do nền Tây học mang lại. Họ cũng có những đóng góp tầm cỡ, như Thơ mới, tiểu thuyết… Sự hụt hẫng của lớp người cầm bút hiện nay ở Việt Nam chính bởi toàn bộ cái vốn văn hoá dân tộc và nhân loại mà các thế hệ trước có thì đến nay họ không còn có được nữa. Ở đây đương nhiên có vấn đề của nền giáo dục trong nước suốt nhiều chục năm qua. Đó là thời gian có thể nói là chúng ta gần như không có đại học thực sự. Anh Hoàng Ngọc Hiến gọi rất đúng đại học trong nước là trường “phổ thông cấp bốn”. Chỉ xin lấy một ví dụ: trong nền giáo dục ở mọi cấp, gần như hoàn toàn không dạy triết học. Tất nhiên có môn gọi là “triết học Mác – Lênin”, nhưng môn này không được giảng như triết học mà chỉ là những khoá huấn luyện chính trị rất sơ đẳng. Thế cho nên những người cầm bút thuộc thế hệ trẻ trong nước hiện nay có thể nói là hoàn toàn không hề được tiếp cận với di sản triết học nhân loại, cả phương Đông lẫn phương Tây. Thật khó mà tưởng tượng được một nhà văn mà không có chút vốn triết học nào!”

Ông Nguyên Ngọc đã từ lĩnh vực văn chương đi thẳng vào vấn đề nền tảng của người học hiện nay, khi mà cái cần nhất thì chúng ta không học (và không được dạy), cho nên người làm nghề gì cũng thế, chứ không chỉ nghề viết, không có nền tảng, muốn tiến thêm sẽ hụt hẫng. Lỗ hổng trong nền tảng quá lớn phải chăng là nguyên nhân mà chỉ số trí tuệ Việt Nam (bậc 76) vừa rồi tụt hạng thấp nhất trong các năm, thua Thái Lan (bậc 57) và Malaysia (64,8).

Phần lớn công chúng cho rằng, để khắc phục tình trạng này, chỉ có nhờ vào hệ thống giáo dục thay đổi thực sự. Chúng ta cứ hy vọng vào điều này đi, dù rằng nếu có chỉ số hy vọng, thì có lẽ Việt Nam sẽ xếp thứ nhất, thứ nhì chăng!

Từ thế kỷ 13, nước Việt đã có truyền thống giáo dục như thế, sao đến thế kỷ 21, lại sa sút trầm trọng – câu hỏi này ai trả lời được?

Dân tộc Việt không thiếu danh nhân đáng tự hào. Như Trần Nhân Tông, một vì vua cách đây 700 năm một lần nữa được vinh danh khắp thế giới khi đại học Harvard (Mỹ) thành lập viện Trần Nhân Tông, tổ chức giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải hàng năm dành trao cho những con người bằng hành động và ảnh hưởng của mình có đóng góp nổi bật cho sự nghiệp hoà giải và yêu thương nhân loại… Điều gì đã khiến những nhân vật tài danh xuất phát từ ngôi trường đại học danh tiếng, nơi đào tạo hàng vạn thế hệ nhân tài cho thế giới lựa chọn Trần Nhân Tông? Điều gì nếu không phải chính là trí tuệ toả sáng của ông?

Được nuôi dạy kỹ từ lúc còn trẻ, Trần Nhân Tông “khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không nắm được sâu sắc. Như thế vua Trần Nhân Tông đã thừa hưởng một nền giáo dục hết sức rộng rãi, với một tinh thần cởi mở, kết hợp kiến thức khoa học với văn chương, quân sự với âm nhạc. Đây là truyền thống giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, mà ta đã thấy xuất hiện từ thời Mâu Tử và Khương Tăng Hội” (trích Toàn tập Trần Nhân Tông).

Từ thế kỷ 13, nước Việt đã có truyền thống giáo dục như thế, sao đến thế kỷ 21, lại sa sút trầm trọng – câu hỏi này ai trả lời được? Nếu không, ta đành phải tự trả lời bằng cách tự thân vận động thôi. Như câu Phật hoàng Trần Nhân Tông tâm đắc nhất trong những lần tranh luận cùng với Tuệ Trung Thượng Sĩ, thầy của ngài, rằng: “Quan sát lại chính mình, đó là bổn phận, không do người khác làm được”.

Mỗi ngày thấy được mình cần phải dấn thêm một bước, đó là cái tự học của người ham học, cũng là cái cầu học của những người có tầm nhìn cho một đất nước thật sự vững mạnh bằng nội lực, chứ không phải bằng việc tìm mọi cách để bán tài nguyên.

Ngân Hà

 

Viện Trần Nhân Tông (Trần Nhân Tông Academy) được thành lập bởi một nhóm nhà nghiên cứu tại trường đại học Harvard, do giáo sư Thomas Patterson làm chủ tịch.

Mục đích dài hạn mà viện đề ra gồm: tổ chức nghiên cứu về Trần Nhân Tông theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời xuất bản các kết quả nghiên cứu, các ấn phẩm về Trần Nhân Tông bằng nhiều loại hình; thúc đẩy, ứng dụng những tư tưởng nhân ái, giàu trí tuệ của Trần Nhân Tông vào cuộc sống; quảng bá những giá trị tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Trần Nhân Tông trên toàn thế giới.

Ngày 22.9, viện đã trao giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải lần đầu cho Tổng thống Myanmar U Thein Sein và chủ tịch đảng đối lập Aung San Suu Kyi.

 

 

 
 

Mỹ: Trung Quốc nỗ lực xâm nhập máy tính Lầu Năm Góc – NLĐ

29 Th9

Mỹ: Trung Quốc nỗ lực xâm nhập máy tính Lầu Năm Góc

Giám đốc tình báo tại Bộ Chỉ huy Không gian mạng của Mỹ, Phó Đô đốc Samuel Cox, ngày 27-9 đã lên tiếng cáo buộc Trung Quốc (TQ) liên tục nỗ lực xâm nhập mạng máy tính của Lầu Năm Góc để đánh cắp các bí mật về quân sự.

Ông nhấn mạnh rằng mức độ tinh vi và sự nguy hiểm của các mối đe dọa trên không gian mạng đang gia tăng với tốc độ ngày càng nhanh. Ngoài ra, ông Cox cho biết Bộ Chỉ huy Không gian mạng đang soạn thảo đề nghị nâng cấp đơn vị tác chiến mạng thành một bộ chỉ huy thống nhất với đầy đủ chức năng của mình.
Mỹ đang đối mặt với mối đe dọa ngày càng tăng từ tin tặc Trung Quốc. Ảnh: THE NEW INTERNET

Ông Cox cho rằng nỗ lực của người TQ nhằm đánh cắp các bí mật đang ngày càng tăng. Ông xác nhận: “Mức độ nỗ lực của họ chống lại Bộ Quốc phòng Mỹ là bền bỉ, không ngơi nghỉ”. Trước đây, bản báo cáo của Cục Phản gián Quốc gia Mỹ đã khẳng định: “Người TQ là những kẻ thực hiện hành vi gián điệp kinh tế kiên trì nhất”. Tuy nhiên, ông Cox không cho biết tin tặc TQ đã xâm nhập thành công vào mạng lưới mật nào của Mỹ hay chưa.

Hãng tin Reuters cho biết Đại sứ quán TQ tại Mỹ vẫn chưa có phản ứng về phát biểu trên của Phó Đô đốc Cox. Trước đây, các giới chức TQ từng phủ nhận những cáo buộc như vậy.

Tại một diễn đàn gần đây, tướng Keith Alexander, người đứng đầu Bộ Chỉ huy Không gian mạng và Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ, đã từng phát biểu rằng số vụ tấn công trên mạng nhằm vào hạ tầng Mỹ do tin tặc và băng nhóm tội phạm nước ngoài thực hiện đã tăng vọt lên gấp 17 lần trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến 2011.
 
Lục San

Tài Liệu: Trích Biên bản cuộc họp tại Bắc Kinh giữa Chu Ân Lai và H. Kissinger về vấn đề Việt Nam, 1972 – ĐCV

29 Th9

Tài Liệu: Trích Biên bản cuộc họp tại Bắc Kinh giữa Chu Ân Lai và H. Kissinger về vấn đề Việt Nam, 1972

Cuộc Đàm Thoại Kissinger và Chu Ân Lai năm 1972. Ảnh Google

Biên bản cuộc họp tại Bắc Kinh giữa Chu Ân Lai và H. Kissinger về vấn đề Việt Nam, Châu Á ngày 20 tháng 6 năm 1972 tại Bắc kinh.

Trong buổi họp này, Tiến Sĩ Henry Kissinger, Phụ Tá An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon, và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai đã thảo luận nhiều vấn đề thế giới và đặc biệt là giải quyết cuộc chiến Việt Nam. Tài liệu gồm 37 trang dưới đây cho thấy sức mạnh và ảnh hưởng của các cường quốc trên thế giới. Từ trang 1 đến trang 26, Hoa Kỳ và Trung Cộng bàn thảo về tương quan giữa các quốc gia cùng an ninh toàn cầu. Đặc biệt từ trang 27 đến trang cuối, Kissinger và Chu Ân Lai bàn luận kế hoạch giải quyết vấn đề Đông Dương. Khai thác sự rạn nứt Trung – Nga năm 1969, Hoa Kỳ muốn tái lập bang giao với Trung Cộng. Bang giao với Trung Cộng sẽ giúp Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, lấy lại hết tù binh, giải quyết những bất ổn chính trị tại Hoa Kỳ và còn được khai thác thị trường to lớn trong lục địa. Để tái thiết ngoại giao với Trung Hoa, Kissinger đã nói với Thủ Tướng họ Chu: “Nếu chúng tôi sống chung được với một chính quyền cộng sản Trung Hoa, chúng tôi sẽ chấp nhận được ở Đông Dương”. Ngoài ra Kissinger cũng gián tiếp cam kết với Chu Ân Lai Hoa Kỳ không có ý định tiêu diệt hoặc đánh bại cộng sản Bắc Việt.

Bạn đọc có thể tìm đọc nguyên bản tiếng Anh tại links sau:

www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB193/HAK%206-20-72.pdf

Tam dịch một đoạn quan trọng trong số đó.

“Những Nhân Vật Tham Dự: Thủ Tướng Chu Ân; Lai Ch’iao Kuan-hua Phó Tổng Trưởng Ngoại Giao; Chang Wen-Chin, Phụ Tá Tổng Trưởng Ngoại Giao; Tang Wen-sheng, Chao-chu, Thông Dịch Viên Hai nhân viên ghi chú biên bản, Tiến Sĩ Henry A. Kissinger, Phụ Tá Tổng Thống về An Ninh Quốc Gia; Winston Lord, Nhân Viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; John D. Negroponte, Nhân Viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.

Ngày và Giờ: Thứ Ba, ngày 20 tháng 6 năm 1972, 2:05 – 6:05 chiều

Địa Điểm: Đại Sảnh Đường Nhân Dân, Bắc Kinh.

Dưới đây là cuộc đàm thoại, thương lượng và trả giá giữa Henry A. Kissinger Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai về tương lai VNCH.

Từ trang 27:

Chu Ân Lai và Henry Kissinger

Tiến Sĩ Kissinger: Đó không phải là ý định của chúng tôi. Chúng tôi không có ý định thành lập một chế độ công quản – nó đòi hỏi một hoàn cảnh khác thường để chúng tôi thực hiện điều này. Không phải là ý đồ của chúng tôi để tạo ra một chế độ công quản. Chúng tôi thực có ý định tạo dựng một bức tường ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng, dù về chính trị hay là thực thể vật chất. Điều khiến chúng tôi quan ngại nhất là khi cường quốc khai thác những xung đột địa phương cho mục đích riêng của họ.

Thủ Tướng Chu: Trong những phản đối của Nga Sô về bản thông cáo giữa chúng tôi với quí quốc hình như họ đặc biệt bày tỏ sự phản đối về nguyên tắc chung: “Không bên nào nên làm bá chủ.” Họ có nghĩ là điều đó nhắm vào họ không?

Tiến Sĩ Kissinger: Họ không nói, nhưng hình như họ nghĩ rằng điều đó có thể nhắm vào họ. Chúng tôi cho rằng nó nhắm vào những quốc gia muốn tạo chế độ công quản. Tôi có một thắc mắc lý thú từ Ấn Độ – không biết Thủ Tướng có nghĩ vậy không. Họ nói rằng khi Á Châu – Thái Bình Dương không bao gồm Ấ Độ, vậy những gì chúng tôi nói tức là chúng tôi thỏa thuận để Trung Hoa công quản Ấn Độ (cười). Nên tôi nói với họ là không đúng. Tôi mong Thủ Tướng không phật ý.

Thủ Tướng Chu: Ấn Độ là một quốc gia hết sức mập mờ. Đó là một quốc gia rất to lớn. Nhiều khi họ làm ra vẻ một quốc gia lớn, nhưng nhiều khi họ có mặc cảm tự ti.
Tiến Sĩ Kissinger: Họ bị khống chế bởi ngoại bang qua gần hết lịch sử của họ.

Thủ Tướng Chu: Vâng, đó có thể là một trong những nhân tố lịch sử. Và một nhân tố nữa là quá nhiều cạnh tranh vĩ đại trên thế giới. Bây giờ chúng ta sang tới vấn đề Đông Dương – – Tôi muốn nghe ông trình bày.

Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng có nói ông có vài nhận định muốn nói với tôi. Có lẽ chúng ta nên đổi vị trí để Thủ Tướng phát biểu trước.

Thủ Tướng Chu: Có những vấn đề cần tranh luận, và chúng tôi muốn nghe ông trước để biết giải pháp của ông cho vấn đề.

Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng muốn gợi ý là sau khi nghe tôi trình bày tôi sẽ thuyết phục được khiến mọi tranh luận sẽ biến mất, và sẽ không còn điều gì thêm để Thủ Tướng phải nhận định?

Thủ Tướng Chu: Tôi không có những dự tính đó, nhưng tôi thực sự mong sẽ giảm thiểu được những tranh luận.

Tiến Sĩ Kissinger: Tôi sẽ trình bày sự thẩm định thật vô tư của chúng tôi. Tôi biết không hợp với ý Thủ Tướng, nhưng tôi nghĩ dù sao nó cũng ích lợi để Thủ Tướng hiểu quan điểm của chúng tôi về hiện tình. Và tôi sẽ trình bày tình hình từ khi Bắc Việt bắt đầu vụ tấn công ngày 30 tháng 3. Tôi tin rằng tôi đã giải thích vói Thủ Tướng những mục tiêu tổng quát của chúng tôi ở Đông Dương. Hiển nhiên không phải mục tiêu của chính phủ này là sẽ duy trì vĩnh viễn những căn cứ tại Đông Dương hoặc tiếp tục chính sách khởi xướng bởi vị tổng trưởng ngoại giao đã từ chối bắt tay Thủ Tướng. Không phải như vậy? chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử khác. Chúng tôi tin rằng tương lai quan hệ của chúng tôi với Bắc Kinh quan trọng vô biên cho tương lai của Á Châu hơn là những gì xảy ra tại Phnom Penh, tại Hà Nội hoặc ở Sài gòn. Chắc Thủ Tướng còn nhớ khi Tổng Thống Johnson đưa quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam ông biện minh rằng vì một phần những gì xảy ra tại Đông Dương đã được kế hoạch tại Bắc Kinh và là một phần của âm mưu thôn tính toàn cầu. Dean Rusk đã diễn đạt như vậy trong một bản tuyên bố. Rồi quí quốc tiến hành cuộc Cách Mạng Văn Hóa và không, với những gì tôi đọc, nhấn mạnh đến phiêu lưu ra ngoại bang.

Với thực tế chúng ta đang ngồi họp trong phòng này đủ thay đổi nền tảng mục đích của cuộc can thiệp đầu tiên tại Đông Dương. Là người thừa hưởng cuộc chiến vấn đề của chúng tôi là tìm cách thanh toán nó với một phương thức không ảnh hưởng đến uy tín toàn cầu của chúng tôi và – – đây không phải là mối quan tâm chính của Thủ Tướng – – để ổn định nội bộ tại Hoa Kỳ. Nên chúng tôi đã chân thành cố gắng để chấm dứt chiến tranh, và Thủ Tướng có thể biết hoặc không biết, tôi đã đích thân khởi xướng thương lượng với Bắc Việt năm 1967 khi tôi còn ở ngoại biên của chính quyền khi không được quần chúng ưa thích, vì tôi tin rằng phải có một giải pháp chính trị để chấm dứt cuộc chiến. Rồi từ khi chúng tôi nắm chính quyền chúng tôi đã cố gắng chấm dứt cuộc chiến. Và chúng tôi hiểu, như tôi đã thưa với Thủ Tướng trước đây là, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nhân tố vĩnh viễn trên bán đảo Đông Dương và có thể là một thực thể mạnh nhất. Và chúng tôi đã không có ý định tiêu diệt họ hoặc ngay cả đánh bại họ. Sau khi chiến tranh chấm dứt chúng tôi sẽ triệt thoái xa 12 ngàn dậm. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn chỉ cách Sài gòn 300 dậm. Đó là một thực tế mà họ có vẻ không hiểu.

Thủ Tướng Chu: Điều mà họ quan tâm tới là vụ gọi là Việt Nam Hóa chiến tranh của quí quốc.

Tiến Sĩ Kissinger: Nhưng họ có một sự thiếu tự tin kỳ lạ. Chúng tôi đã cố gắng làm gì? Chúng ta hãy quên “họ là bậc thầy về phân tích những điểm khác nhau nhưng quên những khái niệm toàn bộ”. Chúng tôi đã cố gắng tách rời hậu quả quân sự ra khỏi hậu quả chính trị để rút ra khỏi vùng và để những thế lực địa phương tự xếp đặt tương lai của họ. Thật rất kỳ lạ, phía Bắc Việt đã cố níu chúng tôi ở lại để chúng tôi giải quyết vấn đề chính trị cho họ. Thí dụ như ngày 30 tháng 5 vừa qua, chúng tôi đã đề nghị là chúng tôi sẽ triệt thoái tất cả lực lượng nếu có sự ngưng bắn và hoàn trả các tù binh.

Đúng là ngày 31, không phải 30. Phía Bắc Việt sẽ ở đâu ngày hôm nay nếu họ đã chấp thuận dề nghị này. Tại sao? Vì họ muốn chúng tôi lật đổ chính quyền và đặt để chính quyền của họ vào. Chúng tôi không thương lượng. Tôi cố gắng giải thích điều chúng tôi suy nghĩ.

Hậu quả thực tế của những đề nghị của chúng tôi vẫn là để chúng tôi triệt thoái. Hậu quả thực tế của những đề nghị của họ là giữ chúng tôi ở lại.

Họ có hỏi chúng tôi “có một đòi hỏi họ đưa ra mà chúng tôi đã không đáp ứng, không thể đáp ứng và sẽ không đáp ứng, dù phải trả với giá nào với những quan hệ khác”, và đó là chúng tôi lật đổ những nhân vật chúng tôi vẫn thường giao thiệp và cũng là những người tin tưởng ở chúng tôi, đã có một hành động nào đó. Đây không phải là sự ưa thích cá nhân của một nhân vật nào đó đối với những nhân vật liên hệ. Không phải vì chúng tôi muốn có một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn. Tại sao chúng tôi lại muốn một chính quyền thân Mỹ ở Sài Gòn khi chúng tôi có thể sống với những chính quyền không thân Mỹ tại các quốc gia to lớn hơn nhiều ở Á Châu? Vì rằng một quốc gia không thể bị đòi hỏi để ràng buộc vào một hành động phản bội to lớn và coi đó như một nền tảng của chính sách đối ngoại.

Thủ Tướng Chu: Ông nói triệt thoái những lực lượng. Ông muốn nói triệt thoái toàn bộ Lục quân, Hải quân, Không quân, các căn cứ và tất cả?

Tiến Sĩ Kissinger: Năm ngoái khi tôi ở đây, Thủ Tướng đã hỏi tôi điều này. Tôi đã trình Thủ Tướng chúng tôi muốn lưu lai một số cố vấn. Rồi Thủ Tướng có nói một câu rất hay về hậu quả của cái mà Thủ Tướng gọi là “để cái đuôi ở lại.” Phần lớn do lời nói đó, chúng tôi, trong vòng một tháng, đã thay đổi đề nghị của chúng tôi nên bây giờ bao gồm luôn việc triệt thoái toàn bộ cố vấn trong những loại Thủ Tướng nêu lên bây giờ. Chúng tôi đã chuẩn bị triệt thoái tất cả lực lượng….”

————————————–
Nguồn:

Biên bản bằng tiếng Anh:
www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB193/HAK%206-20-72.pdf
Đoạn dịch sang tiếng Việt:
http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/09/nhung-su-that-can-phai-biet-su-that-ve.html#more

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. Kissinger nói: Sao chúng nó không chết quách đi
  2. Đọc lại tài liệu về cuộc chiến Việt Hoa và Việt Miên năm 1979
  3. Cuộc chiến bốn mươi năm trước: Mùa hè đỏ lửa (1972)
  4. 1972: Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trường Chinh
  5. 1972: Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Đức Thọ
  6. Kissinger nói về cuộc chiến Việt Nam

2 Phản hồi cho “Tài Liệu: Trích Biên bản cuộc họp tại Bắc Kinh giữa Chu Ân Lai và H. Kissinger về vấn đề Việt Nam, 1972”

  1. NON NGÀN says:

    TO ĐẦU

    To đầu chúng bắt tay nhau
    Đẩy con cá nhỏ ra mau giữa ngàn
    Sóng xô gió giật bộn bàng
    To đầu khoái trá cười vang góc trời
    Tội con cá nhỏ kia ơi
    Tưởng mình như vẫn ngàn khơi vẫy vùng !

    MÂY NGÀN
    (28/9/12)

  2. dv says:

    Tát cả những mưu đồ chính trị , quân sự và sự thôn tính các vùng , lãnh địa …các nước nhỏ đễ khai thác lợi ích… nào đó cho các nước lớn . Trong lúc , các nước nhỏ không có một chính thể độc lập , tự do , dân chủ thật sự đễ quyết định sứ mệnh Quốc Gia – Dân Tộc mình bằng một lập trường chính nghĩa đúng đắn , mà cứ luôn lệ thuộc một cách bất thường vào các nước lớn , bất cứ thể chế nào đi nữa thì những nước nhỏ, có cơ địa chính trị lệ thuộc , yếu ớt , thì sớm muộn gì cũng bị đem ra bàn nghị sự làm vật tế thần , đổi chát của những nước lớn dùng đễ mặc cả , đánh đổi … , phân chia lại trật tự thế giới có sự trao đổi lợi ích của các ông trùm nước lớn trong tình hình có lúc thuận lợi hoặc bế tắc vè mặt nào đó !. Bàn cờ chính trị và trật tự thế giới trong mọi thời kỳ đều nằm trong sự phân chia , thỏa thuận ngầm , mật đàm và sự mặc cả của các nước lớn …. Do đó mỗi quốc gia đều phải có lập trường nhất quán , tự chủ, mọi lợi ích đều phục vụ cho quốc gia -dân tộc,không độc tài tham nhũng , gia đình trị của nhóm quan quyền chóp bu , không quá lệ thuộc vào đồng minh , đ/c thì đất nước đó mới lớn mạnh vì có tiếng nói chính nghĩa, nhằm phục vụ cho lợi ích QUỐC GIA & DÂN TỘC . NẾU AI ĐÓ LÀM LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC MÀ CÚI ĐẦU , KHUM LƯNG ,THÌ ĐỪNG HÒNG TRÁNH KHỎI SỰ BỊ NƯỚC LỚN XỎ MŨI VÀ DẮT MŨI . Ví dụ như : Miền Nam VN là CP VNCH quá lệ thuộc vào Hoa Kỳ và không tìm thêm các đ/m khác ,còn Miền Bắc VN quá lệ thuộc hoàn toàn vào LX và Trung cộng . Trường hợp này đã bị 2 nước lớn đại diện bên Hoa Kỳ là : Ngoại trưởng Kissinger thay lời NIXON , bên Trung cộng là TT Chu ân Lai thay lời Mao trạch Đông , thì 2 chế độ trên một quốc gia như Việt Nam bị cả Hoa Kỳ và Trung cộng đêm ra xẻ thịt , phanh thây sau khi được mật đàm = sự mặc cả 2 bên đều có lợi , dù cho có đánh đổi những ông em quá ngu muội nghe và quá trung thành tin đàn anh , đ/c theo như tin chúa . Hiện nay mọi sự được bách hóa …đã thấy rõ, nhưng VN ,hiện nay thực tế chỉ còn 1 chính thể ‘ chế độ ‘ cs . Nhưng vẫn u mê đi theo con đường mác – lê lỗi thời hoang tưởng … Qua đó lại nhìn nhận , LỆ THUỘC ông anh đ/c TRUNG CỘNG nham hiểm gọi là cùng chung lý tưởng XHCN (còn đảng còn mình ) đễ rồi dân tộc VN phai lao đao ,lận đận trong nguy cơ mất nước , dưới chiêu bài vừa đánh vừa xoa của bọn bành trướng bá quyền , tham lam , hiếu chiến và tàn ác của chế độ đại Hán mang hơi hướng cộng sản giả tạo ,đễ ông em đ/c láng giềng ( cung vua phủ chúa ) Việt Nam tin vào chúng,nên bị mắc lỡm và bị dắt mũi lúc nào không hay biết . Từ đó luôn hèn với giặc ác với dân , nghe lời Bắc Kinh hành dân bán nước cho bọn đại Hán thời nay !? Theo nhân dân hiện nay cs VN cố bám ghế hành dân theo chân Tàu cộng

Xung đột trên biển: Mọi đặt cược đều rủi ro

29 Th9

Xung đột trên biển: Mọi đặt cược đều rủi ro

Tác giả: Đình Ngân theo atimes
 
 
 Những căng thẳng lịch sử và địa chính trị kéo dài giữa Nhật Bản và Trung Quốc xung quanh một nhóm đảo trên biển Hoa Đông đang bước vào giai đoạn nguy hiểm. Cuộc đấu tranh đòi chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/ Senkakư đang tăng nhiệt ở một thời điểm đầy nhạy cảm với cả hai nước.

Trong khi Nhật Bản sắp bước vào một cuộc bầu cử quan trọng, thì những cuộc biểu tình quy mô lớn chống Nhật cũng diễn ra ở hàng chục thành phố Trung Quốc. Có nơi, sự phẫn nộ được trút xuống các sản phẩm và nhãn hiệu Nhật Bản. Người biểu tình đã lật ngược chiếc xe mang thương hiệu Nhật Bản, phóng hỏa các tòa nhà và đập vỡ các hàng hóa điện tử do Nhật Bản sản xuất. Tâm lý chung tại Trung Quốc hiện nay là muốn chiến tranh.

Mặc dù tranh chấp lịch sử có nguồn gốc từ ít nhất vài thập niên, nhưng những động thái gần đây của cả hai nước đã làm gia tăng đáng kể xích mích giữa hai nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới. Đụng độ quân sự là một khả năng rất thực tế. Nguy cơ xung đột vũ trang có thể càng tăng thêm do những lo ngại về tình hình kinh tế cũng như những bất ổn chính trị ở cả hai nước.

Những ngày gần đây chứng kiến sự leo thang mạnh mẽ trong tranh chấp biển đảo. Nội các Nhật Bản đã thông qua kế hoạch mua lại ba trong số năm đảo tranh chấp từ các chủ sở hữu tư nhân người Nhật. Chính phủ Trung Quốc gần như ngay lập tức lên án động thái này. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã lên tiếng hứa sẽ “nhất định không nhượng bộ” trong vấn đề chủ quyền đối với các đảo này. [1]

Đáng chú ý hơn, chính phủ Trung Quốc còn khẳng định cho những lời lẽ của mình bằng sức mạnh quân sự. Bộ Quốc phòng Trung Quốc sẽ “được phép áp dụng các biện pháp cần thiết” [2] để bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo. Trung Quốc đã điều sáu tàu tuần tra biển đến khu vực tranh chấp để “thực thi pháp luật”. Chính phủ Nhật Bản sau đó triệu tập đại sứ Trung Quốc tại Tokyo và lên án việc triển khai lực lượng bán quân sự này là hành động “chưa từng có” trong cuộc tranh chấp đã kéo dài mấy thập niên.

Du Chí Dung (Yu Zhirong) một quan chức cấp cao trong Cơ quan Quản lý Hải dương quốc gia Trung Quốc, cũng góp chung vào không khí căng thẳng trong một cuộc trả lời phỏng vấn mới đây, “Chúng ta phải xua các tàu cảnh sát biển Nhật Bản khỏi vùng lãnh hải Trung Quốc. Chúng ta không sợ phải tiến hành một cuộc xung đột nhỏ”. [3] Trong khi giới lãnh đảo ở cả hai nước không ngại một cuộc đối đầu nhỏ mang nhiều ý nghĩa biểu tượng, nhưng hậu quả của một động thái như vậy có thể cảm nhận thấy ở khắp thế giới. Không ai có thể đảm bảo rằng bất kỳ xung đột nào trên biển Hoa Đông sẽ chỉ là “xung đột nhỏ”. Mối quan hệ an ninh gần gũi của Nhật Bản với Mỹ sẽ có khả năng kéo Mỹ vào bất cứ cuộc đụng độ nào.

Nước Mỹ đã và đang theo dõi chặt chẽ tình hình tại biển Hoa Đông. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Gary Locke mới đây đã nhấn mạnh Mỹ trung lập trong các tranh chấp hiện nay. Về cuộc giằng co giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, Locke khẳng định: “Chúng tôi hoàn toàn không có quan điểm ai đúng ai sai, và chúng tôi tin rằng cả hai bên sẽ nỗ lực giải quyết”. [4]

Những bình luận này được truyền thông Trung Quốc diễn giải là một thay đổi quan trọng trong chính sách của Mỹ. Cho đến nay, chính phủ Trung Quốc vẫn luôn nhấn mạnh giải quyết nhiều cuộc tranh chấp lãnh thổ thông qua cơ chế đàm phán song phương, bởi họ hiểu rằng họ có lợi thế địa chính trị trong giải quyết các bất đồng trên cơ sở tay đôi.

Ngược lại, Washington một mực lên tiếng ủng hộ cơ chế đa phương, nơi lợi thế của Trung Quốc sẽ giảm đi đáng kể. Dù có dụng ý gì hay không, nhưng rõ ràng việc Locke kêu gọi “hai bên” hợp tác giải quyết tranh chấp lãnh thổ có thể được Trung Quốc ghi nhận là chiến thắng ngoại giao.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cũng có một phát biểu quan trọng khi bàn về cuộc khủng hoảng đang leo thang này tại Tokyo: “Tôi lo ngại rằng khi các nước có những hành động khiêu khích ở dạng này hay dạng khác đối với những hòn đảo, thì rất có thể nhận định sai lầm từ bất cứ bên nào cũng có thể dẫn tới bạo lực, và cũng như xung đột. Và cuộc xung đột đó tiềm tàng khả năng lan rộng”. [5]

Quả thực, nguy cơ xung đột lan rộng là điều rất đáng lo cho Mỹ. Nguồn lực của Mỹ đang dàn trải khá mỏng. Mỹ đang đối mặt với cuộc khủng hoảng chưa lối thoát về đoạn băng kích động đạo Hồi, chưa kể đến cuộc chiến đang diễn ra ở Afghanistan và các chiến dịch quân sự tại Somalia, Yemen, và Pakistan. Một số thành phần diều hâu trong giới lãnh đạo Trung Quốc có thể muốn tận dụng cuộc đối đầu hiện nay để thử thách cam kết an ninh của Mỹ đối với Nhật Bản và rộng hơn là cuộc “xoay trục” chiến lược của Mỹ về châu Á.

Một làn sóng chủ nghĩa dân tộc đang cuốn khắp lãnh thổ Trung Quốc khi Bắc Kinh có những bước đi cụ thể thách thức quyền kiểm soát của Nhật Bản đối với các đảo. Sau khi chính phủ Nhật Bản quyết định mua lại các hòn đảo, Đài Loan đã rút phái viên tại Tokyo về để phản đối. Ngoại trưởng Đài Loan Timothy Yang gay gắt lên án chính sách của Nhật Bản và nói rằng: “Chúng tôi kiên quyết yêu cầu chính phủ Nhật Bản rút lại quyết định này. Hành động đơn phương và trái pháp luật của Nhật Bản không thể làm thay đổi thực tế rằng Đài Loan đang sở hữu quần đảo Điếu Ngư”. [6]

Ngoài những phản đối bằng lời lẽ ngoại giao mạnh mẽ của Đài Loan, còn có sự phẫn nộ của dân chúng nhằm vào Nhật Bản trên khắp Trung Quốc. Các nhà hoạt động Trung Quốc từ Hồng Kông đã đổ bộ lên các hòn đảo tranh chấp. Những lời kêu gọi tảy chay hàng hóa Nhật Bản đang nhận được sự ủng hộ lớn của người dân Trung Quốc. Đáng ngại hơn, các cuộc biểu tình phản đối Nhật Bản gần đây tại một vài thành phố Trung Quốc đã bùng phát thành hỗn loạn. Hình ảnh những chiếc xe hơi Nhật đang cháy (và chủ những chiếc xe ăn mặc sang trọng rơi nước mắt) đã lan rộng khắp các trang truyền thông xã hội Trung Quốc, còn nhanh hơn cả chính bản thân các cuộc nổi dậy. Quốc kỳ Trung Quốc được dịp treo khắp các cửa hàng trên cả nước, cùng với những khẩu hiệu phản đối Nhật Bản. Chính phủ Nhật đã ban hành một cảnh báo an toàn đối với công dân Nhật tại Trung Quốc sau một vài trường hợp tấn công hay quấy rối “nghiêm trọng”. [7]

Làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng hiện nay là việc đại sứ Nhật Bản mới được bổ nhiệm tại Trung Quốc vừa qua đời ở Bắc Kinh hôm 16/8. Ông Shinichi Nishimiya được bổ nhiệm giữ chức vụ này chỉ trước đó một tuần. Giới chức loại bỏ khả năng liên quan giữa cái chết đột ngột của ông Nishimiya với các cuộc biểu tình phản đối Nhật Bản ngày càng mang tính bạo lực, nhưng sự ra đi của ông có thể càng làm phức tạp thêm mối quan hệ vốn đang rất căng thẳng.

Cuộc khủng hoảng trên biển Hoa Đông sẽ có ảnh hưởng lớn về kinh tế bên cạnh những tác động địa chính trị. Quan hệ thương mại song phương giữa Nhật Bản với Trung Quốc đạt kim nganh trên 340 tỷ USD. Khi những lời kêu gọi tảy chay “hàng hóa của kẻ thù” nhiều lên ở cả hai phía, ảnh hưởng của cuộc đối đầu đang diễn ra này có thể cảm nhận được ở túi tiền của doanh nghiệp của cả hai nước. Vậy tại sao hai bên lại đang liều lĩnh leo thang căng thẳng ở thời điểm hiện nay?

Cả Bắc Kinh và Tokyo đang cưỡi trên lưng con hổ gầm thét của chủ nghĩa dân tộc. Nhật Bản đang đứng trước những chia rẽ chính trị nghiêm trọng trong nội bộ, tranh cãi về điện hạt nhân, và một nền kinh tế èo uột. Quyết định quốc hữu hóa các đảo của Thủ tướng Yoshihiko Noda đưa ra sau khi Thị trưởng Tokyo Shintara Ishiara không chỉ kêu gọi mua lại các đảo mà còn phát triển các hòn đảo ấy. Có vẻ Thủ tướng Nhật Bản sẽ không phát triển thêm các đảo, tức là ông lựa chọn đi giữa việc gây phẫn nộ cho những người chủ nghĩa dân tộc ở cả Nhật Bản và Trung Quốc. Nhưng chiến lược này có vẻ là một tính toán sai lầm nghiêm trọng.

Vài thập niên trở lại đây, chính phủ Trung Quốc đã cố gắng tránh đối đầu quân sự. Đảng Cộng sản Trung Quốc thay vào đó củng cố quyền lãnh đạo của mình bằng cách tạo ra tăng trưởng kinh tế. Tranh chấp với bên ngoài được đặt ngoài lề khi chính phủ tập trung vào mục tiêu duy nhất là gia tăng thịnh vượng vật chất. Từ đó tạo nền tảng để các nhà lãnh đạo Trung Quốc theo đuổi chiến lược dài hạn là củng cố quyền lực quốc tế của mình. Một cuộc khủng hoảng lớn, như vụ NATO đánh bom vào đại sứ quán Trung Quốc tại Serbia, không dẫn tới sự đáp trả kéo dài hay quan trọng nào, mặc dù dân chúng rất phẫn nộ.

Nhưng mọi chuyện có vẻ đang thay đổi. Những chia rẽ trong giới lãnh đạo đang nổi lên sau khi Bí thư Tỉnh ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai bị cách chức. Ngoài ra, sự vắng mặt khá lâu của Tập Cận Bình trước công chúng thời gian gần đây làm dấy lên những đồn đoán về một cuộc đối đầu căng thẳng trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc hiện nay. Sau cuộc đấu đá quyền lực gay gắt tại Trung Quốc, nhóm cầm quyền sẽ muốn củng cố sự ủng hộ trong nước bằng cách khơi mào một cuộc xung đột vũ trang với các kẻ thù trước đây.

Bên cạnh những bất ổn chính trị là những dấu hiệu đáng lo ngại về sự chững lại của nền kinh tế Trung Quốc. Tin tức xấu liên tục xuất hiện trong những tháng gần đây, với các chỉ số kinh tế chính cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế đang chậm lại đáng kể. Thủ tướng Ôn Gia Bảo mới đây đã cố gắng trấn an Trung Quốc (và thế giới) bằng cách giải quyết những khó khăn kinh tế: “Tôi không đồng  tình với nhận định cho rằng sau 30 năm tăng trưởng cao của Trung Quốc đã chấm dứt. Chúng tôi có thể còn duy trì được dài lâu”. [9] Ông Ôn Gia Bảo tiếp tục công bố mục tiêu tăng trưởng 7,5% trong năm nay. Trong hầu hết các nền kinh tế lớn, đây là một mức tăng trưởng quá ấn tượng, nhưng với Trung Quốc, nó cho thấy đây là mức tăng thấp nhất trong 22 năm qua.

Bằng việc mua lại các đảo ở thời điểm hiện nay, Thủ tướng Minister Noda đã buộc chính phủ Trung Quốc phải phản ứng bằng cách tăng các rủi ro ngoại giao, kinh tế và quân sự của cuộc xung đột. Do Trung Quốc coi việc quốc hữu hóa lãnh thổ tranh chấp của Tokyo là một động thái đơn phương làm thay đổi nguyên trạng, và do đó là một sự khiêu khích. Trung Quốc chắc chắn sẽ không phiêu lưu quân sự chừng nào kinh tees còn tăng trưởng nhanh và giới lãnh đạo Trung Quốc còn đồng lòng. Nhưng trước khả năng khủng hoảng có thể xẩy ra trong nền kinh tế Trung Quốc, hay tình hình bất ổn chính trị hiện nay, mọi sự đặt cược đều rất rủi ro.

Brendan P O’Reilly

—-

Notes:
1. Sino-Japanese clash, Deccan Herald, Sep 13, 2012.
2. China sends six ships to disputed islands, Al Jazeera, Sep 14, 2012.
3. China willing to risk ‘conflict’ as it claims waters around Senkakus, The Asashi Shimbun, Sep 15, 2012.
4. Locke urges bilateral talks to resolve issues, China Daily, Sep 15, 2012.
5. US defense chief Panetta warns on Asia territory rows, BBC News, Sep 16, 2012.
6. Taiwan recalls envoy over island dispute, Straits Times, Sep 11, 2012.
7. Japan warns citizens in China after assaults, Japan Today, Sep 14, 2012.
8. Japan’s new envoy to China dead: officials, Times of India, Sep 16, 2012.
9. China’s economy to continue ‘fast and stable’ growth, says Premier Wen Jiabao, Telegraph, Sep 11, 2012

%d bloggers like this: