Lưu trữ | Tháng Mười, 2012

“Có dấu hiệu muốn hạ nhiệt căng thẳng ở Biển Đông” – Vietnam+

31 Th10

“Có dấu hiệu muốn hạ nhiệt căng thẳng ở Biển Đông”

 

Tổng Thư ký ASEAN, Surin Pitsuwan. (Nguồn: Getty Images)
CÁC TIN LIÊN QUAN

ASEAN và TQ sẽ duy trì đà tham vấn về Biển Đông
Các quan chức cấp cao Trung Quốc và ASEAN ngày 29/10 nhất trí duy trì đà tham vấn về các quy định mang tính ràng buộc ở Biển Đông.

Phản đối Trung, Đài âm mưu hút dầu khí Biển Đông
Một nhóm học giả vừa đề xuất Bắc Kinh và Đài Bắc bắt tay nhau khai thác dầu khí tại Biển Đông, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Theo AFP, Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan ngày 30/10 tuyên bố những tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông luôn có nguy cơ bùng phát thành bạo lực song Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang thể hiện một thái độ muốn nhanh chóng nỗ lực hạ nhiệt căng thẳng.

Những bất đồng trong khu vực về cách giải quyết với Trung Quốc về tranh chấp nói trên đã ngăn cản ASEAN ra Tuyên bố chung về Biển Đông sau một hội nghị thượng đỉnh diễn ra hồi tháng Bảy tại thủ đô Phnom Penh, lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của hiệp hội này.

Tuy nhiên, ông Pitsuwan nhận định đã có “những dấu hiệu tích cực” trong các cuộc hội đàm không chính thức diễn ra tuần này tại khu nghỉ dưỡng Pattaya của Thái Lan giữa 10 quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc.

[Phản đối Trung, Đài âm mưu hút dầu khí Biển Đông]

Trả lời báo giới sau khi có bài phát biểu tại Kuala Lumpur, ông Pitsuwan nói: “Hiện hai bên đang quả quyết muốn xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử giữa các bên trên Biển Đông (COC) càng sớm càng tốt vì nếu trì hoãn sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của tất cả các bên. Dù khó khăn nhưng ít nhất họ đã đồng ý đối thoại.”

Ông Pitsuwan không bình luận cụ thể về những kỳ vọng của ông tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN từ ngày 15-20/11 tới tại Campuchia.

Trước đó, Kyodo đưa tin, các quan chức cấp cao của Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) gồm 10 nước thành viên ngày 29/10 đã nhất trí duy trì đà tham vấn về các quy định mang tính ràng buộc nhằm kiềm chế cách ứng xử của các bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

[SOM ASEAN-TQ họp hội nghị hẹp không chính thức]

Phát biểu tại một cuộc họp báo cùng ngày ở Pattaya của Thái Lan, Bí thư thường trực Bộ Ngoại giao Thái Lan Sihasak Phuangketkeow, người đồng chủ trì hội nghị trên cùng Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh, cho hay mặc dù các quan chức tham gia hội nghị không thể thảo luận thực sự về chi tiết của những quy định mang tính ràng buộc được dự kiến song tất cả các bên sẽ tìm cách đảm bảo thực thi kiềm chế và tránh những sự cố có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ chung giữa ASEAN và Trung Quốc.

Ông Sihasak nói: “Chúng tôi muốn duy trì một môi trường thuận lợi và chúng tôi có thể tiếp tục cuộc đối thoại để tìm ra cách thức có thể triển khai một bộ qui tắc về ứng xử trên Biển Đông.”

Ông Sihasak còn nói: “Chúng tôi tin rằng khuôn khổ ASEAN-Trung Quốc hiện nay tạo ra một khuôn khổ cho chúng tôi xử lý trên tinh thần xây dựng tất cả các vấn đề liên quan đến Biển Đông để thúc đẩy sự tin tưởng và tin cậy lẫn nhau nhằm tăng cường đối thoại xây dựng mà chúng tôi tin là sẽ dẫn đến một môi trường có lợi cho việc giải quyết cuối cùng các tranh chấp giữa các bên liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển”./.

(Vietnam+)

THƠ ĐƯƠNG ĐẠI ĐANG KHỦNG HOẢNG – nguyentrongtao

30 Th10

THƠ ĐƯƠNG ĐẠI ĐANG KHỦNG HOẢNG

HỒ SĨ VỊNH

Làm thơ là sáng tạo, là đam mê, có khi say nhiều hơn tỉnh. Người cổ đại gọi nhà thơ là “nhà tiên tri”. Các nhà thơ lớn thường nhận mình là “nhà thơ – công dân”, là “tiếng dội” của cuộc sống, là hơi thở của thời đại. Muốn xứng đáng với danh hiệu đó, nhà thơ phải có tài đã đành, nhưng trước hết phải có lý tưởng xã hội, phải dồn tích năng lượng, nhiệt huyết của mình để ngọn lửa cảm hứng sáng tạo luôn cháy sáng… 

Tại sao thơ đương đại có hiện tượng khủng hoảng? Chưa thấy những nhà thơ nổi bật, ít bài thơ hay, thiếu nhiều câu thơ đẹp đọng lại trong lòng công chúng? Thậm chí nhiều nhà phê bình bức xúc, nói nặng lời về thơ đương đại không phải không có chỗ đúng. Loại thơ – vè có chiều hướng lan rộng; thơ – văn xuôi lủng củng với những đoạn thơ bàng bạc, những ý thơ nhạt nhẽo, dễ dãi; thơ khó hiểu làm bạn đọc “nuốt không trôi”, xa lánh… v.v… Đi tìm nguyên nhân của thực trạng trên của thơ đương đại, từ một hướng tiếp cận văn hóa đọc, tôi chọn ra mấy nội dung học thuật sau:

1.Mơ hồ về lý tưởng xã hội của thơ ca.

Làm thơ là sáng tạo, là đam mê, có khi say nhiều hơn tỉnh. Người cổ đại gọi nhà thơ là “nhà tiên tri”. Các nhà thơ lớn thường nhận mình là “nhà thơ – công dân”, là “tiếng dội” của cuộc sống, là hơi thở của thời đại. Muốn xứng đáng với danh hiệu đó, nhà thơ phải có tài đã đành, nhưng trước hết phải có lý tưởng xã hội, phải dồn tích năng lượng, nhiệt huyết của mình để ngọn lửa cảm hứng sáng tạo luôn cháy sáng. Lý tưởng xã hội là mục đích cao nhất, là lẽ sống đẹp nhất của nhà thơ. Lý tưởng cần cho mọi người. Ông vua không làm đúng lý tưởng của mình, thì dân có quyền lật đổ. Sáng tạo, tự do mà không vì con người, không có mục tiêu thì chỉ là hư tưởng, vô dụng. Mươi năm gần đây, hiện tượng một số nhà thơ trẻ muốn nổi danh ngay, liên tiếp đưa ra những tuyên ngôn cao ngạo. Những câu thơ buông tuồng, thô thiển thỉnh thoảng xuất hiện trên các trang báo.

Ngày xưa các nhà thơ lớn đã có lời răn: “Danh lợi, tước lộc thường đi đôi với vạ lớn” (La Ẩn – nhà thơ đời Đường trong bài “Ngụ hoài” có câu: “Danh lợi ngoài thân chớ vội cầu/ Tước lộc có vui nhưng vạ lớn”). Văn chương, thơ ca là sự nghiệp của nghìn đời (văn chương thiên cổ sự). Nhà thơ là con ong khôn ngoan biết hút mật ở các loài hoa về xây tổ ấm cho thơ, cho cộng đồng, chứ không đi đốt bậy người đời, dễ bị người ta châm lửa, hun khói xua đuổi, có khi vỡ cả tổ. Nhà thơ có quyền viết bất cứ đề tài nào, khai thác mọi nỗi niềm sâu kín của tâm trạng: nổi đau, niềm vui, hạnh phúc, bất hạnh … nhưng khi bài thơ được công bố thì nó không còn là của riêng nhà thơ mà của xã hội, là đối tượng cảm thụ của hàng trăm nghìn thị hiếu khác nhau.

Khen – chê, chấp nhận – từ chối là chuyện của dư luận xã hội. Nhà thơ không vì được khen mà cao ngạo, bị chê mà chán nản. Hiệu ứng của sự khen – chê nằm ở tài năng, trước hết là ở tấm lòng người viết, ở lý tưởng xã hội mà nhà thơ theo đuổi. Một số người cứ thiên kiến nghĩ rằng, lý tưởng xã hội là cái nằm ngoài văn chương, do sự áp đặt của một tổ chức nào đó. Không phải! Nó là bầu máu nóng, là cảm hứng chủ đạo của bất cứ nhà thơ nào dù chỉ viết một dòng. Để khẳng định một thái độ sống, một nhà sinh quan được lý tưởng xã hội định hướng, Chế Lan Viên viết: “Ta đẻ ra đời, sao khỏi những cơn đau/ Hãy biết ơn vị muối của Đời cho thơ chất mặn”.

2. Cách tân, sáng tạo là quy luật tự nhiên, tự tại của thơ ca.

Cách tân không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện, là thao tác kỷ xảo, là sự tìm kiếm ý tưởng mới, hình tượng mới, ngôn từ lấp lánh. Sở dĩ ta gọi trường phái thơ 1932 – 1945 là THƠ MỚI là vì các nhà thơ rất có ý thức cách tân (nhờ ảnh hưởng của giao lưu văn hóa đầu thế kỷ XX) làm xuất hiện nhiều nhà thơ tài hoa. Qui trình cách tân đưa thơ đến với số đông bạn đọc, nhất là thanh niên, học sinh. cũng không thể có thơ hay. Muốn cách tân gì thì cách, trước hết nhà thơ phải có tài. Trong thơ ca, tài năng là sự chân thật, chân thật tối đa. Ở đây nhà thơ và nhân vật trữ tình là một, trùng khít đến mức khó tách làm hai. Mọi thứ giả vờ, làm dáng, cường điệu cảm xúc của người viết thật xa lạ với tính chân thật trong thơ. Có đau thì nói đau, nỗi đau của người trong cuộc. Có đủ kiến thức để khái quát câu thơ thành triết lý sống, thì cứ việc làm, chứ vay mượn sống sượng dù là của ai cũng không khó bị người đọc lật tẩy. Trong thơ đương đại, do tâm lý hấp tấp, hiện tượng “ăn non” quả chưa chín đã hái, nên vừa chát, vừa chua. Thông thường khi làm thơ, nhà thơ khó phân biệt đâu là trái tim, đâu là bộ óc, đâu là cảm xúc, đâu là trí tuệ, đâu là phi lý, đâu là hữu lý (đánh giá thơ không có chuyện đúng – sai, chỉ có hay – dở), nhưng khi bài thơ ra đời, được đông đảo người đọc đón nhận là nhờ hình tượng thơ mới – lạ, tình cảm nhà thơ thăng hoa, năng lượng tinh – khí – thần của bài thơ tỏa sáng. Trong thơ ca kháng chiến ở cả hai giai đoạn nhiều bài thơ viết về đề tài mất mát, bi thương, về chia ly, mặc dù kỹ thuật có chỗ chưa thật hoàn hảo, nhưng vẫn đọng lại sâu thẳm trong lòng người qua nhiều thế hệ: “Màu tím hoa sim”, “Núi đôi”, “Quê hương”, “Hương thầm”, “Cuộc chia ly màu đỏ”.. v.v… Viết về đề tài Tổ quốc, lãnh tụ, người phụ nữ Việt Nam, thiên nhiên đất nước, các nhà thơ đều để lại những trang thơ vừa đạt tầm triết lý, vừa mang cảm xúc dạt dào của nhiều thế hệ.

Hiện nay, nhiều bài thơ được gọi là thơ – văn xuôi, nhưng đọc lên nghe sao lổn nhổn, lủng củng. Nếu là thơ thì ít ra là nhạc tính, nếu là văn xuôi là sức khái quát của văn tự sự. Khi cách tân thơ, một nhà thơ cảnh báo: Mỗi lần cách tân, thơ thường mở cửa và văn xuôi tràn vào. Có hiện tượng tàn phá của văn xuôi khi tràn vào thơ. Sự tàn phá đó đưa lại hệ lụy: Thơ mà không phải thơ. Ở chỗ này, tôi thấy nhận xét của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý là đáng trân trọng: “Tôi nhận ra sự lặp lại, mòn cũ và ồn ào trong một số bài thơ viết về đất nước hiện nay. Ít lắm những sáng tạo mới về cấu trúc, hình tượng, ngôn từ. Thơ nghiêng về sự ầm ào, cao giọng, tuyên truyền cổ vũ mà không có câu hay, những ám ảnh lâu bền. Thoạt nghe có vẻ mênh mông, hoành tráng, nhưng khi đọc kỹ bằng mắt ta thấy vô vàn sáo rỗng, cũ kỹ…”.

3. Không có phông văn hóa, thiếu tri thức triết – mỹ, nhà thơ khó đi được xa .

Có nhà văn hóa nói, gốc của cây thơ là phù sa văn hóa, là tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học và là sự lịch duyệt, trải nghiệm. Nhà thơ mà chỉ dừng lại ở cảm xúc bàng bạc, trí tuệ nông cạn, tầm tưởng tượng thiếu hụt… thì dễ dẫn đến tình trạng rối loạn hình tượng, nghèo nàn ngôn ngữ. Đó là chưa nói sự bắt chước vồ vập một vài khuynh hướng thơ hiện đại, hậu hiện đại của bên ngoài. Giả dối là điều tối kỵ trong nghệ thuật, rất tối kỵ trong thơ. Nói chuyện với các nhà thơ trẻ, M.Gorki đã phân biệt nhà thơ và người thợ thơ. Người thứ nhất luôn ý thức, phấn đấu nhọc nhằn để có tâm lý sự kiện, thân phận ngang trái của con người, chiều sâu tình cảm, tính đa nghĩa, đa sắc của ngôn ngữ thơ; còn người thứ hai thường bằng lòng, dễ dãi trước nhiều hiện tượng dồn dập của cuộc sống, sa đà vào lối liệt kê, chắp nối từ ngữ, thiếu vắng cảm hứng thi ca, nên thơ biến thành vè. Liên quan tới nội dung này, tôi nêu hai ý niệm vẻ đẹp câu thơ và cái mới trong thơ. Có nhà mỹ học nói, mọi thể chế chính trị sẽ qua đi, câu thơ đẹp vẫn tồn tại mãi mãi. Điều đó đúng khi cái Đẹp gắn liền với cái Thiện. Nhà triết học Đức, E.Căng nói đại ý: Lý tưởng của chân lý là của Thượng đế, còn lý tưởng của cái Đẹp là của con người. Cái trước nằm ở giai đoạn “cảm thụ tự nhiên”, còn cái sau là “cái phải trở nên”.

Thơ gắn với Chân, Thiện, Mỹ giống như thỏi nam châm có sức hút, sức cảm hóa mọi thị hiếu, mọi người đọc ở nhiều thời đại. Còn cái mới trong thơ tìm ở đâu? Tất nhiên không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không phí công lục lọi trong đống phế loại từ ngoài biên giới lọt vào, càng không phải vắt óc trần trụi nghĩ ra. Nó ở trong biển kiến thức mênh mông và sâu thẳm của loài người. Nó có được là nhờ tài năng, tầm nhìn, sự định hướng sức bay của trí tưởng tượng (tưởng tượng thiếu định hướng dễ biến thành “con điên trong nhà”). Nhà thơ phải cậy học vấn. Xin đừng hiểu nhầm học vấn là bằng cấp, học vị, mà là thực học, thực tài, trải nghiệm cuộc sống. Nhà thơ Pháp Ch. Beaudelaire rất quí trọng trường học đường đời: “Tôi có quá nhiều kỷ niệm như thể đã sống nghìn năm để đòi hỏi sự đọc”. Còn Đổ Phủ: “Đọc thơ phú vạn quyển, hạ bút như hữu thần”. Có thể có học vấn mà thơ không hay, nhưng có bài thơ hay, câu thơ để đời thì nhà thơ có học vấn cao rồi đấy! Cha ông ta thường dạy: “Bản chất của văn chương tự học vấn mà ra, học vấn uyên bác thì văn viết mới hay. Có lẽ nào văn chương lại làm cho người ta kiêu căng!?” (Lê Quí Đôn).

Trong biển cả tri thức khổng lồ của nhân loại, có cái vừa cao siêu, vừa thiết thực, vừa bổ ích, vừa vô bổ, việc đi tìm cái mới trong đời sống và trong nghệ thuật để ứng dụng vào lý thuyết thơ và sáng tạo thơ cũng phải liệu sức mình, giống như bơi trong biển cả; cần biết cách đọc, cách tiếp cận, chớ lóa mắt, tuyệt đối hóa một hiện tượng nào, dù là thần tượng. Paul Bourjée cho rằng, nhà thơ cần phải biết các triết thuyết, tri thức xã hội học, tâm lý học mới nhất mà mình đọc được và cần theo đuổi “niềm say mê trí tuệ”. Các nhà thơ trẻ cần giữ vững bản lĩnh khi tìm đến cái mới, cái lạ. Không phải cái mới, cái lạ nào cũng đi tận cùng sáng tạo. Những dữ kiện nào cần cho thơ? – Đó là sự săn đuổi những đề tài xã hội và thân phận con người, tri thức cần và đủ cho cảm hứng, phản xạ, kho tàng ngôn từ, kỷ xảo thơ (vần, âm luật, điệp âm, hình ảnh, văn khí…). Mọi thứ bắt chước kỳ quặc, thô kệch, mọi thứ suy nghĩ rối rắm, ngôn từ bệnh hoạn (mot malade) hiện tượng làm ô nhiễm ngôn ngữ, cách diễn đạt rắc rối, gượng gạo, vờ vĩnh về đề tài tình dục, tình yêu nam nữ đều xa lạ với thơ đương đại và hệ lụy là bạn đọc xa lánh

LÃNG PHÍ LÃNH ĐẠO – Ngô Minh

30 Th10

LÃNG PHÍ LÃNH ĐẠO

 Ngô Minh

            Trong xã hội ta hiện nay có quá nhiều loại lãng phí rất “xót tiền dân”  : Lãng phí vốn đầu tư vào các công trình không mang lại hiệu quả; lãng phí đất đai, lãng phí điện nước, điện thoại, xe con, lãng phí lao động , lãng phí chất xám.v.v.. Mỗi năm nếu cất công tính toán số lãng phí sẽ lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng , gấp đôi gấp ba số  thu ngân sách hàng năm của tất cả các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên ! Trong lãng phí lao động, có một sự lãng phí đau xót nhất là lãng phí lãnh đạo ! Vâng , nước ta rất lãng phí lãnh đạo. Một bộ, một sở có tời sáu bảy ông thứ trưởng, phó giám đốc sở mà việc vẫn không chạy. Lãng phí nhất là việc tiếp khách, đi dự hiếu  hỉ của cán bộ lãnh đạo nhiều quá.

            Nêu vấn đề này ra có thể có người ngạc nhiên cho là làm gì có chuyện đó ! Xin thưa, đây là điều hoàn toàn có thật. Không chỉ lãng phí bình thường mà đây  là sự lãng phí “kép “. Tôi thấy một thực tế đau lòng là : Hầu hết cán bộ lãnh đạo các bộ, các địa phương gần như toàn bộ thời gian công tác trong một ngày đều dành để đi họp và đi dự lễ kỷ niệm, lễ khánh thành công  trình, lễ đón huân chương… Một lần được mời tham dự một lễ đón huân chương của một doanh nghiệp tôi thấy có ông Bí thư tỉnh ủy, chủ tịch  tỉnh , phó chủ tịch và gần nửa cán bộ lãnh đạo ban ngành của tỉnh,  rồi  giám đốc các sở, ban ngành cấp tỉnh.v.v..!  Hôm sau, đi dự một lễ khai trương đại lý của một Doanh nghiệp ở Sài Gòn mở ở một thành phố miền Trung, tôi lại thấy đủ bộ sậu lãnh đạo cấp tỉnh giống  như  hôm trước, chỉ thiếu năm ba người ,chắc đi công tác xa hoặc đau ốm. Không cần đi dự lễ đón, lễ khai trương, ngồi nhà xem ti-vi cũng thấy trên màn ảnh nhỏ địa phương hàng ngày tất cả các cuộc lễ lạc ấy  đều có mặt đông đủ  cán bộ chủ chốt nhất của một tỉnh. Mới hôm qua đây ( 4 / 12/2011), Công ty dược ở Huế đón Huân chương Lao động hạng ba mà có cả thứ thưởng Bộ y tế, Bí thu, chủ tịch tinh Thừa Thiên Huế,  rồi đầy đủ văn võ bá quan tỉnh ủy, UBND tỉnh  tới dự. Việc gì mà nghiêm trọng thế ! Vợ tôi bảo : Một là vì phong bì, hai là vì họ không có việc gì làm. Đặc biệt tôi còn xem trên ti-vi cuộc lễ của một tỉnh mà có tới hai ông phó thủ tướng, rồi phó chủ tịch Quốc hội và nhiều bộ trưởng tới dự. Vì họ bao giờ cũng ngồi ở những hàng ghế đầu nên toàn dân đều thấy . Đồng ý là các “cán bộ chóp bu” của Trung ương,  Bộ, tỉnh, huyện đến dự lễ khánh thành, đón huân chương… là để động viên anh em cơ sở . Và tất nhiên cũng có cuộc họp cần thiết như họp HĐND bàn việc phát triển kinh tế-xã hội,  họp bàn về bảo vệ môi trường, thống tham nhũng..v.v.. Nhưng các cuộc họp chiếm phần lớn thời gian làm việc của lãnh đạo các cấp là  đi lễ khánh thành, kỷ niệm, khai trương mang tính hiếu hỷ là việc không thể được . Mà lạ kỳ thay, chỉ một HTX nhỏ bé , hay một UB phường thôi , kỷ niệm 30 năm thành lập cũng mời cho được các đồng chí lãnh đạo chủ chốt nhất của tỉnh. Lãnh đạo chưa tới  thì chưa họp. Thế là mời 7 giờ 30 mà hội nghị phải chờ có khi đến 10 giờ sáng mới khai mạc. Vì có đồng chí lãnh đạo một ngày nhận được  năm sáu cái giấy mời , không đủ thời gian để “ chạy xô” ! Ở Trung ương tôi không thạo thủ tục ngoại giao, nhưng tôi thấy một vị thủ tướng, phó thủ tướng, thậm chí một vị bộ trưởng , thái tử con vua, hay phái viên của tổng thống nước khác.v.v.. đến thăm nước ta, lần nào cũng  đủ “bốn trụ cột quốc gia” là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đớn tiếp. Không phải bốn ông tiếp chung trong một cuộc mà mỗi ông mỗi cuộc riêng. Tất nhiên có thể là do chương trình họ yêu cầu, nhưng chẳng lẽ nước nào cũng yêu cầu như vậy ? Mà về ngoại giao, bố trí sắp xếp hay không là quyền mình chứ. Hãy để cho các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Nhà nước có nhiều thời gian suy nghĩ về chiến lược, phương sách phát triển và bảo vệ đất nước, đừng bắt các đồng chí ngày nào cũng tiếp khách. Lãng phí lắm.   

            Một đồng chí lãnh đạo một tỉnh tâm sự rằng, tỉnh không đủ lãnh đạo để đi họp! Mà đi dự lễ hiếu hỷ như thế là lãng phí lớn lắm. Thứ nhất là lãng phí lao động. Một cuộc khánh thành công trình xây dựng khách sạn mà có cả hơn hàng chục  lãnh đạo các cấp của tỉnh, trong đó chỉ một người phát biểu chào mừng thôi, còn lại ngồi nghe suốt hai tiếng đồng hồ. Tính ra công đi họp vô bổ như thế một năm một tỉnh lên tới hàng tỷ đồng tiền công .

             Thứ hai là lãng phí chất xám . Lãnh đạo các cấp là những người được cử tri “ sáng suốt lự chọn” , hay do giỏi giang mà được đề bạt ( trừ những thành phần được cơ cấu) . Khi được đề bạt lên  lãnh đạo rồi, thì suốt ngày đi họp, không  phải làm gì cả, dân gọi loại cán bộ này là “ lãnh đạo ngồi chơi xơi nước”, “ lãnh đạo phong bì”. Thậm chí chí không được mời dự lễ thì trách, có khi “ trù dập cấp dưới”. Dự lễ xong thì liên hoan, cụng ly “trăm phần trăm”, rồi đi “ tươi mát” , tối về nhà chưa xem hết chương trình thời sự đã ngủ! Thế là chẳng có thời gian nào để  đến với dân,   nghe ý kiến của dân,  để đọc sách, nghiên cứu thêm tài liệu chuyên môn, chính trị, pháp luật…. Thế là người giỏi thành người hành nghề ”đi họp”, ngồi cho có vị như một con manơcanh . Lãnh đạo thì lương cao, ba năm lại lên một bậc lương , mà không có nghiên cứu gì, sáng kiến gì, đề xuất gì để giúp phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước , lãng phí vô hậu lắm !

  Lãng phí lao động, lãng phí chất xám thành lãng phí “kép “ là như thế ! Ước tính sơ sơ , cả nước ta 64 tỉnh thành , hàng chục Bộ ngành rung ương, một năm có tới hàng chục triệu “ngày công lãnh đạo” bị lãng phí kép như thế. Muốn hạn chế và chấm dứt sự lãng phí này, theo thiển ý chúng tôi, mỗi cuộc họp hiếu hỷ , Tỉnh  hay Bộ , Trung ương chỉ nên cử một vài cán bộ lãnh đạo đi dự thôi , còn lãnh đạo tỉnh đi làm việc khác lớn hơn, ích quốc lợi dân hơn. Lãnh đạo Đảng đi rồi thì UBND thôi, HĐND đi dự rồi thì Tỉnh ủy, Uy ban thôi , không nên kéo nhau cả bộ máy đến ngồi không làm gì thì kỳ cục quá! Có nhiều hội nghị  ngành ngân hàng, tài chính, thuế…trong giấy mời ghi rõ “yêu cầu không tặng hoa”, để  tiết kiệm , nhưng lại mời hàng trăm đại biểu lãnh đạo các cấp của tỉnh , để ngồi vài tiếng đồng hồ nghe đọc một bản bản cáo thành tich  20 năm, mà bản báo cáo này đã được phát trong cặp tài liệu ,  rồi nhận một người vài trăm phong bì. Đúng là nhà nước thiệt đơn thiệt kép !

Tôi đề nghị Quốc hội phải đưa vào chương trình nghị sự nghiên cứu  ban hành ngay “Luật họp”. Luật này quy định mỗi cán bộ lãnh đạo các cấp của địa phương, trung ương mỗi ngày được dành bao nhiêu % thời gian để đi họp, bao nhiêu phần trăm thời gian đi xuống cơ sở tiếp xúc với dân, bao nhiêu phần trăm ngồi nghiên cứu chính sách, nghiên cứu các dự án quy hoạch, phát triển…. Các tỉnh cũng nên chỉ thị quy định cho các địa phương, đơn vị trực thuộc, các doanh nghiệp nhà nước.v.v.. trên địa bàn trong các cuộc họp hiếu hỷ chỉ được mời những ai, không được mời thành phần nào, mời bao nhiêu người.v.v.. Phải có một cuộc “ cách mạng” trong họp hành mới chấm dứt được tình trạng lãng phí lãnh đạo như hiện nay.

 

 

Đối thoại Mỹ- Nhật -Ấn : cuộc họp ba bên để bàn về hợp tác an ninh – RFI

30 Th10

Đối thoại Mỹ- Nhật -Ấn : cuộc họp ba bên để bàn về hợp tác an ninh

Các viên chức hải quân Mỹ, Nhật và Ấn gặp nhau trong khuôn khổ đối thoại hợp tác an ninh năm 2011 (AFP)

Các viên chức hải quân Mỹ, Nhật và Ấn gặp nhau trong khuôn khổ đối thoại hợp tác an ninh năm 2011 (AFP)

Vấn đề tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản sẽ được gợi lên hôm nay 29/10/2012 trong khuôn khổ cuộc họp ba bên, giữa các nhà ngoại giao Mỹ-Nhật-Ấn Độ, tổ chức tại New Delhi. Đây là lần gặp mặt thứ 3 của vòng đối thoại 3 bên. Trọng tâm cuộc họp là vấn đề hợp tác an ninh.

Theo hãng tin Ấn PTI, chính sách châu Á của Mỹ, hồ sơ Iran, tranh chấp lãnh thổ Nhật Trung là những hồ sơ quan trọng nêu lên. Bên cạnh đó, ba bên còn bàn đến khả năng hợp tác trong một số lãnh vực có tính chất chiến lược, trong đó có việc chống hải tặc và bảo đảm an toàn các tuyến hàng hải ở Châu Á-Thái Bình Dương, trong lúc mà Trung Quốc ngày càng gây căng thẳng trong khu vực.

Phiá Nhật Bản, thứ trưởng Ngoại giao Kenji Iramatsu dẫn đầu phái đoàn tham gia cuộc họp, bên cạnh trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách Nam và Trung Á Robert Blake, đại diện nước chủ nhà là thứ trưởng phụ trách Đông Á, Gautam Bambawale.

Nhân cuộc họp hôm nay, Nhật Bản và Ấn Độ cũng sẻ chuẩn bị cho chuyến đi của thủ tướng Ấn Manmohan Singh, sẽ đến Tokyo vào ngày 15/11 tới đây dự cuộc họp thượng đỉnh hai bên.

Thất kinh nghe đại gia ‘chém gió’ về rượu bổ – VNN

30 Th10

Thất kinh nghe đại gia ‘chém gió’ về rượu bổ

 Trong những lần “trà dư, tửu hậu”, các đại gia tự mãn cho rằng rượu ngâm xương cốt rắn, chắc và đặc biệt là làm “chuyện ấy” rất đều đặn, sung sức.

 

 

 

Cái gì cũng… “chém”

Hầm rượu của đại gia B. (ở khu đô thị Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội) không có rượu ngoại mà toàn rượu ngâm.

Ngoài những bình thủy tinh lớn (chứa 50 lít rượu trở lên) thì trong hầm rượu này còn có cả những chum sành đựng rượu, loại chum vài trăm lít. Đang nhìn phía trước, tôi thấy con hổ mang chúa sau lưng (do kính phản chiếu lại) bành mang, lè lưỡi, tiến về phía mình, tôi hoảng hốt quay lại, hóa ra, đó là bình rượu thủy tinh ngâm rắn hổ mang chúa đang dựng đầu như còn sống thật.

Tắc kè ôm cây sâm, nhìn như tác phẩm nghệ thuật trong bình thủy tinh rượu. Hai cái tay như tay người, chới với trong bình rượu lắc lư như thể giơ ra để vồ khách… Ấn tượng từ cách bài trí đến sản phẩm rượu ngâm ở hầm của đại gia B., chúng tôi tự nhủ, đại gia này có “cơ” để “chém gió”.

Đại gia B. tâm sự: “Hàng năm, tôi đầu tư cả tỷ đồng cho hầm rượu. Cứ đi đến miền nào của đất nước, ra nước ngoài, thấy con, cây, củ, quảã… ngâm rượu uống bổ là mua bằng được mang về”.

Vừa nói, đại gia B. vừa kể nguồn gốc bình rượu sâm 150 tuổi của mình: “Tôi sang Hàn Quốc ký kết hợp đồng kinh tế. Bạn hàng ở đó tiếp khách chu đáo. Họ đưa tôi tới tận làng cổ nhất về trồng sâm ở Hàn Quốc. Quả thật, nơi đó rất lạnh. Họ gọi một người già trong làng ra, nói chuyện gì đó lúc lâu, sau đó, chúng tôi đi thăm quan cánh đồng sâm, rồi về ngồi uống trà sâm…

 

Hai bình rượu tay gấu – loại được đồn thổi là có tác dụng cường dương

 

 

Sau 3 tiếng ở làng trồng sâm chơi và thưởng thức trà, cụ già xách túi đến và đưa cho chúng tôi 1 cây sâm khô. Trên xe về chỗ nghỉ, vị đối tác tặng tôi cây sâm quý này, nói rằng, nó 150 tuổi. Người dân trồng sâm ở Hàn Quốc ví sâm là vàng. Vị đối tác này khẳng định, ngâm với rượu, sâm sẽ nở ra căng tròn, đầy sức sống như củ sâm tươi mới thu hoạch xong, màu vàng trắng… thì đúng là sâm nhiều tuổi thật”.

Cũng là đại gia bất động sản như ông B., đại gia Đức (ở Hoàng Hoa Thám, Hà Nội) lắc đầu, giọng “trên cơ”: “Hầm rượu của tay B. thường lắm, toàn hoa quả, cây, con “hàng chợ”.

“Hàng xịn”, đúng tầm đại gia không quan trọng về số lượng mà phải là chất lượng. Chất lượng phải là bào thai linh dương, bào thai hổ, bào thai tê giác, bào thai voi, bào thai gấu, bào thai chó sói…”.

Đại gia Đ. “chốt hạ”, với “hàng xịn” như thế, 2 – 3 năm mới phải “đầu tư”/lần nhưng mỗi lần “đầu tư” là “đi đứt” 4 – 5 tỷ đồng.

Nghe chưa hết mà tai tôi ù đặc, trong đầu toàn là bào thai. Đã vậy, lại là bào thai những động vật quý hiếm, sách đỏ, đại gia Đ. lấy ở đâu để ngâm rượu mà “chém” ghê thế? 5 chứ 10 tỷ đồng chắc gì đã “sưu tập” được bộ rượu bào thai động vật quý như ông ta nói? Đại gia Đ. tự hào: “Thế giới có gì, Việt Nam có thứ đó, miễn là có tiền”.

Thao thao bất tuyệt chán chê, đại gia Đ. tiết lộ nguồn gốc của số bào thai động vật quý hiếm: “Tôi đi châu Phi săn tê giác, voi… rồi “móc” với giới buôn động vật quý hiếm, họ tìm cho đấy”. Đại gia H. (Tây Hồ, Hà Nội) bóc mẽ:

“Ông đi châu Phi bao giờ? Cùng lắm thì ông đi được mấy nước Đông Nam Á “nhà quê” như Lào, Campuchia… và Trung Quốc.” Cuộc “chém gió” bắt đầu chuyển chiều hướng làm tôi thấy choáng.

“Biết” nhiều nhưng… “nhầm”

“Bệnh” của người có tiền là hay “nhầm lẫn” (có thể là cố ý mà cũng có cả vô tình). Thế nhưng, trong lúc “chém gió”, các đại gia vẫn đỏ mặt, thậm chí gay gắt đến quyết liệt với nhau chỉ vì tên một địa danh. Không biết đại gia Đ. giàu có, tài sản nhiều đến đâu nhưng cứ nói là “sặc mùi’ sính ngoại. Đại gia Đ. phân tích: “Đã là loài động vật quý hiếm thì phải ngâm nó với rượu ngoại mới xứng tầm. Rượu Tây được khử hết an-đê-hít (một loại độc tố có trong rượu) nên yên tâm về chất lượng. Rượu chất lượng, động vật ngâm cũng chất lượng thì rượu ngâm chỉ có trên tuyệt… mà thôi”.

 

Đây là loại rượu mà đại gia khoe là uống vào “bổ âm, bổ dương”.

 

Đại gia H. châm chọc: “Chỉ có đại gia “Tây châu Á” như ông thì mới dùng rượu Tây ngâm với động vật, cây, quả… Rượu ngâm phải là rượu đặc sản được người dân ở vùng quê nấu như rượu làng Vân, rượu Sơn Tây, rượu Sán Lùng, rượu Mẫu Sơn…”.

Nghe đến đây, đại gia B. phân trần: “Các ông nói nhỏ thôi, hay ho gì mà khoe, toàn là chuyện liên quan đến tệ nạn cả. Với người Việt Nam, rượu dùng để ngâm với bất kỳ thứ gì đều dùng rượu nấu từ gạo, có thể là gạo tẻ, gạo nếp… chứ không dùng rượu sắn làng Vân (Việt Yên, Bắc Giang). Rượu nấu “đặc sản”, có nồng độ mạnh hơn rượu Tây, đổ ra đĩa hoặc bát, đốt lên, rượu cháy bùng bùng, không tỏa mùi cồn là rượu “xịn”, ngâm rất tốt.

Muốn có chất lượng rượu ngâm tuyệt hảo thì dụng cụ chứa phải bằng chum (chất liệu đất nung) rồi chôn xuống đất (hay còn gọi là hạ thổ). Chum rượu đó chôn ở dưới đất càng lâu thì nó càng khử được nhiều chất độc hại trong rượu và đồ ngâm”.

Không đồng tình với phân trần của ông B., đại gia than nổi danh, tên V. (ở Quảng Ninh) “chém”: “Tất cả đều sai hết. Rượu ngâm với cây, quả, con là cái thứ rượu người Tây rất ghê sợ, chỉ có dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ… gì đó mới chuộng thôi.

Các ông thấy đấy, thói quen của chúng ta bao đời nay có bỏ được đâu, cứ “bốc” lên là “vống” thật lực, nói nhầm nhưng vẫn cãi cố. Có sách vở nào ghi ngâm rượu Tây, rượu nấu tốt hay không tốt đâu mà cứ tranh cãi. Ai thích ngâm rượu gì tùy khẩu vị từng người. Người uống thì bảo ngâm rượu Tây ngon nhưng người khác thì lại nói, ngâm rượu nấu uống ngon hơn. Các ông cứ “chém” những chuyện chẳng đâu làm gì, để xung quanh họ cười”.

Đại gia Đ. tiếp lời: “Ông không biết, không thích thì “yên vị” ở đấy, chúng tôi đang bàn chuyện “đại sự” vì ăn uống liên quan tới sức khỏe. Có sức khỏe mới làm ăn và làm cho chị em “sung sướng” được chứ. Mình làm ra tiền, không biết hưởng thụ, không biết tiêu thì nghỉ cho khỏe.

Tôi cho rằng, “Tây văn minh hơn ta” nên dùng đồ Tây cái gì cũng tốt hơn. Rượu Tây mà ngâm với tay gấu, bào thai chó sói… chắc chắn hương vị sẽ đậm đà, nó sẽ thẩm thấu vào cơ thể nhiều chất bổ dưỡng hơn là rượu nấu”. Đại gia Đ. vẫn đang đứng, giơ tay “chém gió” thì đại gia H. “tiếp chiêu” bằng việc, dùng 2 tay, ấn 2 vai đại gia Đ. ngồi xuống. Như bị chạm vào sĩ diện, đại gia Đ. gồng mình đứng dậy, tay vỗ vào ngực, “chém” to hơn:

“Không có bào thai linh dương, báo, hổ, chó sói… ngâm với rượu Tây nên tức à?

Mấy cái bộ phận vớ vẩn tay, chân gấu ấy, tôi không thèm ngâm. Nó bẩn lắm, toàn lông lá mà lông lá ấy chứa đầy ấu trùng bệnh tật. Ngâm bào thai mới là khoa học. Nó sạch sẽ, vì nó ở trong bụng mẹ”.

Thế là chính các đại gia tự bóc mẽ chuyện “uống bẩn” của nhau, làm nhiều người xung quanh kinh sợ đến phì cười. Quả thật, cả con khỉ, con gấu, con bìm bịp… đầy lông, lòng mề (không được bỏ đi), ngâm ngay vào rượu, nó thôi ra rượu thì sẽ thế nào nhỉ? Lông và lòng mề, chắc chắn bẩn, chưa kể, còn có ấu trùng, vi khuẩn gây bệnh nữa, trong môi trường của rượu, nó có “sạch” và “hết” bệnh được không? Điều này, hình như chưa ai giải thích được.

Song, con vật ấy mang trong mình mầm bệnh, nhất là bệnh nan y, thì người uống rượu ngâm con vật ấy bị lây virus, vi khuẩn bệnh là điều không tránh khỏi.

Theo Người đưa tin
 

‘Không nên để dành bức xúc của dân’

30 Th10

‘Không nên để dành bức xúc của dân’

Mọi bức xúc phải có nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm giải pháp phù hợp mang tính khách quan, có cơ sở khoa học và thực tiễn, GS Đặng Hùng Võ khuyến nghị khi sửa Luật đất đai.

Phần 1:Luật Đất đai và những bức xúc không thể bỏ qua

Nơi chồng chéo, nơi bỏ trống

Quá trình xây dựng pháp luật đất đai nói trên thể hiện khá rõ quy luật của một đất nước có nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Một hệ thống quản lý đất đai phù hợp thị trường ngày càng rõ nét hơn, từng bước tiếp nhận được những thành tựu mới về quản lý đất đai trên thế giới. Từ những chật vật trong quá khứ, có thể rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu để từ đó khái quát thành các bài học cho đổi mới pháp luật đất đai hiện nay.

Đổi mới liên tục với tầm nhìn ngắn hạn có vẻ như năng động nhưng lại làm phức tạp hệ thống. Quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật đất đai luôn không có tầm nhìn dài. Nói chung việc đổi mới chính sách, pháp luật đất đai chậm hơn quá trình đổi mới kinh tế khoảng 15 năm. Trước năm 2003, trung bình khoảng 2,5 năm lại sửa luật hoặc pháp lệnh một lần. Sau năm 2003, trung bình khoảng 2,5 năm lại sửa nghị định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư một lần. Nhiều quy định quan trọng cần giải quyết nhưng phải để lại vì chưa đạt được thống nhất cao. Tình trạng này thể hiện một ưu điểm về tính năng động nhưng lại thể hiện nhiều nhược điểm.

Thứ nhất, cách đổi mới với nhiều bước đi ngắn hạn đã tạo nên môi trường pháp luật không ổn định, làm cho người sử dụng đất không yên tâm và sử dụng đất không hiệu quả. Ngay các nhà đầu tư nước ngoài cũng không yên tâm khi môi trường pháp luật không ổn định, nên tính năng động này có ảnh hưởng tiêu cực tới lực hút đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Thứ hai, tuổi thọ thấp của các văn bản pháp luật đã làm cho hệ thống văn bản pháp luật đất đai trở nên quá phức tạp, dẫn tới việc thực thi pháp luật rất khó khăn. Việc thực thi sai pháp luật khá phổ biến ở nhiều cấp địa phương, trong đó có hiện tượng lợi dụng hoàn cảnh này để cố tình áp dụng sai pháp luật vì mục đích tư lợi, thường được biện minh bằng khó khăn này.

Thứ ba, việc áp dụng pháp luật khác nhau giữa các giai đoạn đã tạo nên tình trạng bất công bằng về quyền và lợi ích của người sử dụng đất, làm tăng số lượng khiếu kiện của dân về đất đai. Trong số những khiếu kiện của dân về giá đất, có khá nhiều trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất từ xa xưa không được bồi thường nay khiếu kiện đồi bồi thường, hoặc được bồi thường thấp theo chính sách cũ nay khiếu kiện đòi được hưởng bồi thường như chính sách mới. 

Sự thiếu thống nhất giữa các cơ quan quản lý trong quá trình xây dựng pháp luật làm mất đi tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Trong quá trình xây dựng pháp luật, nhiều vấn đề quan trọng cần đặt thành trọng tâm mà nằm trên ranh giới phạm vi quản lý giữa các cơ quan quản lý thì thường phải giải quyết bằng các quy định hoặc thiếu rõ ràng hoặc phải phân chia thẩm quyền. Cách thức này làm mất đi tính thống nhất cần thiết trong bộ máy quản lý cũng như tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Có thể chỉ ra hàng loạt ví dụ trong quản lý đất đai về tình trạng này.

Ví dụ thứ nhất, quá trình thảo luận về thống nhất loại hình giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền cũng đã phải mất 15 năm (1994 – 2009). Trong 15 năm ấy, các quy định của pháp luật và việc thực hiện luôn trong trạng thái thay đổi liên tục, không thống nhất, người dân phiền lòng và không yên tâm.

 

Không có góp ý nào là tầm thường, vì thế, cần công khai, minh bạch để xây dựng luật tốt hơn. Ảnh minh họa.

 

Ví dụ thứ hai, quản lý nhà nước về định giá đất đai đang bị cắt thành ba phần riêng biệt: Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý về định giá hàng loạt để xây dựng khung giá đất của Chính phủ và bảng giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dưới cái ô của Luật Đất đai; Bộ Tài chính quản lý về nghiệp vụ định giá phục vụ định giá cụ thể cho từng thửa đất dưới cái ô của Pháp lệnh về giá (Quốc hội sẽ ban hành Luật về giá); và Bộ Xây dựng quản lý về định giá đất gắn với bất động sản dưới cái ô của Luật Kinh doanh bất động sản. Quy định chi tiết hướng dẫn thực hiện lại cũn có nhiều chỗ rất khác nhau. Vậy ai đó mà có lỡ làng về giá đất thì không biết kêu lên đâu cho phải.

Ví dụ thứ ba, việc giải quyết khiếu nại về đất đai được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai (không được khiếu nại lên Trung ương), khác với việc giải quyết khiếu nại chung được thực hiện theo Luật Khiếu nại và tố cáo trước đây (được khiếu nại lên Trung ương). Như vậy, hơn 70% khiếu nại là về đất đai lại được giải quyết theo pháp luật chuyên ngành, chỉ có dưới 30% khiếu nại là không về đất đai mới được giải quyết theo pháp luật chung. Tình trạng này mới được sửa đổi vào năm 2010 theo quy định của Luật Tố tụng hành chính (khiếu nại về đất đai phải giải quyết theo Luật Khiếu nại hiện hành).

Ví dụ thứ tư, ba loại hình quy hoạch gồm quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng vẫn chưa đạt được tính thống nhất hệ thống vì thiếu mối liên kết. Từ đây có thể thấy khi quy hoạch xây dựng chi tiết đã được phê duyệt thì không cần lập quy hoạch sử dụng đất nữa, nhưng thực tế vẫn cứ phải lập, thế là lãng phí. Trong khi đó, lập quy hoạch phân vùng trong quy hoạch xây dựng lại thiếu căn cứ chi tiết về quỹ đất để cân đối mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường giữa vùng nông nghiệp và vùng xây dựng, chèn vào công việc của quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch về phân bổ không gian các sân gôn trên phạm vi cả nước lại là nội dung của quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, không thuộc phạm vi quy hoạch sử dụng đất. Bài toán quy hoạch quả là phức tạp!

Sự thiếu thống nhất trong xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật làm cho môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, cơ quan quản lý khó thực hiện nhiệm vụ, doanh nghiệp và người dân khó thực hiện đúng pháp luật trên thực tế. Hơn nữa, hoàn cảnh này thường tạo ra các khoảng chồng chéo có xung đột pháp luật và các khoảng trống không có quy định pháp luật.

Tích cực đổi mới nhưng vẫn chưa trúng mục tiêu phát triển bền vững, chưa hướng tới mục tiêu tăng hiệu quả phát triển đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Đổi mới pháp luật đất đai rất tích cực nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu mà quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi. Quá trình này cần bảo đảm các nguyên tắc của phát triển bền vững, trong đó đổi mới công cụ quy hoạch sử dụng đất đai là phần thể chất và đổi mới công cụ tài chính đất đai là phần linh hồn. Cả hai phần này được đổi mới còn quá chậm so với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường đầy đủ, điều mà Chính phủ ta rất mong muốn thế giới công nhận. Những tiến bộ về quản trị tốt đất đai trên thế giới đã bước đầu được tiếp thu để áp dụng vào Việt Nam nhưng chưa được bao nhiêu. Những cơ chế tích cực để xây dựng hệ thống quản trị đất đai sạch tham nhũng, bảo vệ quyền của người dân đối với đất đai vẫn chưa được áp dụng đầy đủ. Chúng ta muốn đẩy mạnh công tác giám sát thực thi pháp luật nhưng kỹ thuật “giám sát và đánh giá” vẫn chưa được áp dụng. Hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật đang chứa đựng nguy cơ tham nhũng cao trong quản lý đất đai và nguy cơ đầu cơ cao trong sử dụng đất đai. Trên thực tế, tình trạng tham nhũng và đầu cơ đất đai ở Việt Nam vẫn đang ở nhóm đầu trên thế giới và trong khu vực ASEAN.

Không tầm thường

Từ những nhận xét như trên có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Luật Đất đai sửa đổi hiện nay. Điều quan trọng hơn là những bài học kinh nghiệm này cần được thực sự lưu tâm trong xây dựng pháp luật hiện nay.

Bài học kinh nghiệm thứ nhất: Cần nghiên cứu kỹ lưỡng và thảo luận sâu để đi tới nhất trí về lý luận kinh tế – chính trị học đối với đất đai trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đang áp dụng mô hình kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi bức xúc phải có nghiên cứu kỹ lưỡng để tìm giải pháp phù hợp mang tính khách quan, có cơ sở khoa học và thực tiễn. Khi tất cả giải pháp đã đạt được mức thuyết phục cao, đồng thuận lớn thì quyết định điều chỉnh chính sách, pháp luật, không nên để lại bất kỳ vấn đề bức xúc nào để giải quyết sau do chưa đủ điều kiện. Sửa đổi Luật Đất đai phải có tầm nhìn dài hạn, ít nhất phải có sức sống cho tới khi Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, trước khi đủ điều kiện về hạ tầng thông tin đất đai đủ để xây dựng Bộ luật Đất đai.

Bài học kinh nghiệm thứ hai: Việc thẩm định, xem xét, cho ý kiến và quyết định của Quốc hội cần được thực hiện thật chi tiết, cụ thể nhằm tránh đi một nhược điểm cố hữu về thu xếp quyền quản lý của các cơ quan tham gia soạn thảo. Ngoài ý kiến thẩm định của Ủy ban kinh tế, có thể cần tới ý kiến thẩm định bổ sung về từng mặt của một số cơ quan khác của Quốc hội. Hơn nữa, có thể cần cả tới những ý kiến thẩm định của một số tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia có trình độ, coi như tài liệu bổ sung cho các đại biểu Quốc hội. Các ý kiến như vậy cũng chỉ nhằm mục đích nói ra được những nhậy cảm mà trước đây vẫn hay phải sử dụng giải pháp “hài hòa” để thu xếp phạm vi quản lý giữa các Bộ. Có như vậy mới bảo đảm được tính ổn định của pháp luật và tính nhất quán của bộ máy thực thi pháp luật, tránh làm khó cho dân và doanh nghiệp.

Bài học kinh nghiệm thứ ba: Cần bảo đảm tính khách quan trong xây dựng Luật Đất đai mới, tránh phụ thuộc vào tư duy chủ quan duy ý chí thiếu cơ sở đúng đắn. Mặt khác, cũng cần tránh tình trạng bó hẹp sự tham gia chỉ trong phạm vi các cơ quan nhà nước. Cần tạo cơ chế có sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước ở trong nước, các tổ chức phát triển quốc tế, các chuyên gia có kinh nghiệm để tăng tính chuyên nghiệp của pháp luật. Đây là cách làm phù hợp nhằm thu lượm hết những tri thức sẵn có để phục vụ phát triển đất nước. Những kinh nghiệm trong nước, kinh nghiệm quốc tế cần được xem xét kỹ để tiếp thu tạo những bước đổi mới hữu ích trong giải quyết những bức xúc hiện tại.

Bài học kinh nghiệm thứ tư: Việc lấy ý kiến rộng rãi của toàn xã hội và nghiêm túc tiếp thu ý kiến có lý cần được đặt ra như một nguyên tắc quan trọng. Tất cả chúng ta đều biết đất đai là tài sản của cả dân tộc, nhưng cũng là nhu cầu sử dụng thiết yếu của tất cả mọi người, quyền sử dụng đất cũng là tài sản quý báu nhất của mỗi gia đình, mỗi con người. Đất đai đồng thời là nguồn lực đầu vào trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra hàng ngày. Trên thực tế ở nước ta, đất đai đã mang lại sự giầu có cho nhiều nhà đầu tư nhưng cũng làm nhiều người bị thu hồi đất rơi vào nghèo đói. Mỗi người góp ý vào Luật Đất đai đều gắn với những trăn trở trên thửa đất họ đang sống, không thể là những ý kiến tầm thường. Sự tham gia rộng rãi của cộng đồng cần được đặt ra nhưng một nguyên tắc cơ bản. Kết quả lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến phải được công khai, minh bạch và thể hiện tính dân chủ cao.

Quá trình chuẩn bị Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi vừa qua có những bước đi khá giống với những gì đã xẩy ra khi chuẩn bị soạn thảo Luật Đất đai 2003. Mặc dù thời gian có nhiều, được quan tâm nhiều hơn, được ủng hộ mạnh hơn, có nhiều thông tin hơn những công việc vẫn chưa thoát ra khỏi các nhược điểm xưa cũ. Hãy bỏ đi tư duy xây dựng luật khung để Chính phủ quy định cụ thể. Cần tư duy tập trung vào nội dung các chế tài cụ thể. Thửa đất rất cụ thể và người sử dụng đất rất cụ thể nên chế tài cũng phải cụ thể. Sức sống của pháp luật nằm ở đây. Trong hoàn cảnh này, các bài học kinh nghiệm trong xây dựng luật pháp, trong thực thi luật pháp có ý nghĩa rất lớn.

Còn nữa

 

GS Đặng Hùng Võ

 

 

Khi bộ Tài chính tính thu cả phí xe đạp điện…

Dự thảo thông tư mới của bộ Tài chính “hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đường bộ theo đầu phương tiện” đang gây nên nhiều bức xúc trong dư luận.
 

Tư duy ‘chỉ lo phần ngọn’ và nguy cơ bất ổn

Lối suy nghĩ và hành động chỉ lo tập trung phát triển phần ngọn mang lại kết quả tức thời, thoả mãn ngay bệnh thành tích vì 1 hay 2 nhiệm kỳ rất ngắn!
 

Không thể tái cơ cấu nếu vẫn ‘rải mành mành’

Nếu tiếp tục phân bổ vốn không có tập trung, vẫn “rải mành mành” cho các địa phương, các ngành, các tập đoàn, tổng công ty như trước, thì kết cục sẽ không có bất cứ cuộc tái cơ cấu nào cả. 

 

 

 

Thế giới 24h: Bác tin tỷ đô

30 Th10

Thế giới 24h: Bác tin tỷ đô

 – Luật sư bác bỏ tin gia đình Thủ tướng Ôn Gia Bảo sở hữu tài sản trị giá 2,7 tỷ USD; Siêu bão Sandy tấn công bờ đông nước Mỹ… là các tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Tờ Bưu điện Hoa Nam hôm 29/10 đã đăng tải một văn bản được cho là thông báo của nhóm luật sư cố vấn cho gia đình Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

Thông báo đã bác bỏ tin tức đăng ngày 26/10 trên tờ New York Times rằng gia đình đương kim Thủ tướng Trung Quốc sở hữu số tài sản trị giá 2,7 tỷ USD.

Các luật sư khẳng định những tiết lộ đó là “điều nói láo” và họ “sẽ có biện pháp để làm sáng tỏ những báo cáo dối trá khác”, cũng như khởi kiện tờ báo ra tòa.

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. (Ảnh: Nytimes)
Theo nội dung trên tờ New York Times, gia đình ông Ôn Gia Bảo đã giàu bất thường với các khoản đầu tư vào ngân hàng, khu nghỉ dưỡng, hãng viễn thông…

Báo trên viết, những người thân của ông Ôn Gia Bảo như con trai, con gái, em trai, em rể và thân mẫu ông đã trở nên giàu có trong thời gian ông làm lãnh đạo.

Tuy nhiên, nhóm luật sư cố vấn trên đã bác bỏ những thông tin này và khẳng định, người thân của ông Ôn Gia Bảo không hề lợi dụng vị trí của ông để trục lợi.

Hiện tại, Trung Quốc đã tiến hành ngăn chặn việc truy cập từ trong nước tới cả hai phiên bản điện tử tiếng Anh và tiếng Trung Quốc của tờ New York Times.

Tin vắn

– Tờ Wall Street Journal của Mỹ cho rằng, mâu thuẫn Trung, Nhật về quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư có thể dẫn tới xung đột vũ trang thực sự.

– Bộ Thống nhất Hàn Quốc cho biết, nhà lãnh đạo trẻ của Triều Tiên, Kim Jong-un không xuất hiện trước công chúng trong suốt hai tuần qua.

– Một vụ đánh bom xe tại khu vực ngoại ô Jaramana của thủ đô Damascus (Syria) đã làm 10 người thiệt mạng cùng 41 người khác bị thương.

– Khoảng 200 người dân tại tỉnh Chiết Giang của Trung Quốc đã tiếp tục xuống đường để phản đối kế hoạch mở rộng một nhà máy hóa chất.

– Truyền thông Trung Quốc đưa tin các tín đồ Hồi giáo của nước này đã đến Syria để chiến đấu chống lại chính phủ của Tổng thống al-Assad.

– Cơ quan thủy sản Nhật Bản nói đã bắt thuyền trưởng một tàu cá Trung Quốc bởi đánh bắt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế Nhật Bản.

– Các nhà hoạt động Hàn Quốc lại thả truyền đơn sang Triều Tiên, một tuần sau khi Bình Nhưỡng dọa đánh Seoul, nếu hoạt động này diễn ra.

– Bạo lực bùng phát từ hôm 21/10 ở Myanmar đã cướp đi sinh mạng của 84 người, làm 129 người bị thương, hơn 20.000 người mất nhà cửa.

– Một quan chức Bộ Quốc phòng Iran khẳng định rằng, quốc gia này đã thu được nhiều thông tin quan trọng về những “vùng cấm” của Israel.

Tin ảnh

Siêu bão Sandy tấn công bờ đông nước Mỹ. (Ảnh: AP)
Các hệ thống giao thông vận tải đã ngừng hoạt động, trong khi nhiều trường học và thị trường chứng khoán tại bờ đông nước Mỹ phải đóng cửa.

Phát ngôn ấn tượng

Hôm 29/10, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã bày tỏ sự thất vọng trước việc lệnh ngừng bắn ở Syria đã thất bại.

“Cuộc khủng hoảng này không thể giải quyết bằng vũ khí và đổ máu thêm nữa”, ông phát biểu từ thủ đô Seoul của Hàn Quốc.

Ngày này năm xưa

Bác sĩ nhãn khoa Vladimir Petrovich Filatov, Viện sỹ Viện Hàn lâm Liên Xô, sinh năm 1875, mất ngày 30/10/1956.

Bác sĩ Filatov đã thành công trong việc ghép giác mạc. Ông nổi tiếng thế giới về phương pháp cấy “nhau” dưới da.

Thanh Vân (tổng hợp)

‘Dự thảo Hiến pháp không có đột phá’ – BBC

30 Th10

‘Dự thảo Hiến pháp không có đột phá’

LS Trần Quốc Thuận nói dự thảo Hiến pháp còn chưa có thay đổi về đất đai và vai trò của Đảng.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Bấm vào đây để tải Flash Player mới nhất

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Nguyên Phó chủ nhiệm Thường trực VP Quốc hội nói bản dự thảo Hiến Pháp được trình trước Quốc hội hôm 29/10 chưa có những thay đổi quan trọng như đất đai và vai trò của Đảng.

Luật sư Trần Quốc Thuận cho BBC hay, nói các nội dung sửa đổi thực ra được xây dựng trên nội dung kỳ họp Trung ương Đảng lần thứ hai, nhằm hiến pháp hóa Nghị Quyết Đại hội Đảng cho phù hợp với Cương lĩnh Đảng từ nay tới năm 2020 và “không có đột phá”.

“Bản dự thảo chưa đặt ra những vấn đề lớn mà người ta chờ đợi. Đó là vấn đề dân chủ, nhân quyền. Vấn đề lớn thứ hai là quyền sở hữu đất đai, nguyên nhân của rất nhiều các vụ khiếu nại, chiếm 70-80% hàng năm, đồng thời là nguyên nhân của tham nhũng, cũng không được thay đổi [trong dự thảo lần này].”

Về việc sửa đổi Điều 4 Hiến Pháp, quy định vai trò của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị Việt Nam, ông Thuận nhận xét:

“Ở Việt Nam, cơ chế [kiểm soát quyền lực] chính là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân. Nhưng trên thực tế các cơ quan đó chẳng kiểm soát được gì, chỉ đóng vai trò các cơ quan hợp thức hóa.”

“Tôi cảm nhận [bản dự thảo vẫn chỉ] nói theo kiểu định hướng, trong lúc xã hội đòi hỏi phải có luật về Đảng. Tức là Đảng lãnh đạo, nhưng quyền của Đảng tới đâu, được quyết cái gì, chịu trách nhiệm về cái gì? Cần phải có cơ chế kiểm soát quyền lực.”

Trả lời phỏng vấn qua điện thoại hôm 29/10/2012, ông nói:

“Ở Việt Nam, cơ chế đó chính là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân. Nhưng trên thực tế các cơ quan đó chẳng kiểm soát được gì, chỉ đóng vai trò các cơ quan hợp thức hóa.”

Dự thảo Hiến Pháp cũng trao thêm quyền cho Chủ tịch nước. Chẳng hạn Chủ tịch nước nay có quyền bác bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng hoặc các thành viên chính phủ, hay bổ nhiệm các chức vụ cao cấp trong quân đội như phong hàm cấp tướng, đô đốc hải quân và bổ nhiệm tổng tham mưu trưởng.

Tuy nhiên, ông Trần Quốc Thuận nói bản chất quyền lực vẫn nằm trong tay Đảng Cộng sản.

Ông nói: “Việc bãi bỏ văn bản trước đây thuộc về Ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội, bây giờ chuyển về cho Chủ tịch nước. Nhưng đó chỉ là việc hợp thức hóa một quy trình đã có sẵn, cũng mang tính rất hình thức… không có nội dung thực tế.”

“Việc bổ nhiệm các chức vụ tướng tá cũng chỉ là hình thức. Thực tế các chức vụ đó đều phải thông qua tập thể Bộ Chính trị, phải được Bộ Chính trị gật đầu đồng thuận. Ông Chủ tịch nước không có thực quyền trong việc bổ nhiệm người. Thực ra luật đã quy định việc bổ nhiệm, nay chỉ là nhắc lại ở tầm cao hơn với việc đưa nội dung đó vào Hiến pháp.”

Tử huyệt của niềm tin – BBC

30 Th10

Tử huyệt của niềm tin

Tiến sĩ Alan Phan

Viết từ Sài Gòn

Hàng loạt khu căn hộ, chung cư ở Việt Nam đang xây dở phải bỏ trốngHàng loạt khu căn hộ, chung cư ở Việt Nam đang xây dở phải bỏ trống

Bong bóng đầy hơi helium thì sẽ bay bổng trông rất ngoạn mục. Nó mang theo ước mơ tươi đẹp của bao đứa trẻ muốn bay cao qua bầu trời, nhẹ lướt gió như con diều trên ngọn cây mái ngói. Nhưng người lớn thì thực tế hơn.

Họ hiểu rằng helium trong quả bóng sẽ xì hơi hay nổ tung theo thời gian, tùy vào áp lực và sức nóng. Nhiều người lớn không chấp nhận định luật vật lý này. Họ muốn “trẻ mãi không già”.

Thế giới gọi đây là hội chứng Peter Pan.

Tuần qua, các người “rất lớn” tổ chức hội thảo để giải quyết cục nợ gọi là “bong bóng bất động sản”.

Họ cố tìm ra một lý giải chính đáng để kết luận là bong bóng sẽ tiếp tục bay nếu chúng ta (người dân) có chút niềm tin vào chánh phủ và các công ty bất động sản (xem bài của VN Express đăng lại nơi web site GNA này).

Tin vào chánh phủ và các công ty bất động sản? Nếu đây là “tử huyệt” như vài chuyên gia nhận định, thì “tử” là cái chắc.

Như một bà vợ bắt gặp chồng ngoại tình lừa gạt không biết bao lần trong quá khứ, nhưng lần này ông chồng xin bà vợ hãy “tin anh đi”, anh mới cởi quần áo nó ra, chưa làm gì cả.

Tử huyệt niềm tin

Bỏ qua chuyện niềm tin, đây là những lý do tôi cho rằng một melt-down (chảy tan) của bất động sản Việt trước tháng 6 năm 2013 là điều khó tránh (trong bài phỏng vấn với VTV, họ cắt phần lớn những biện giải này):

1. Chánh phủ đã hết tiền, ngân hàng đã hết tiền, các công ty bất động sản đã hết tiền.

“Tin vào chánh phủ và các công ty bất động sản? Nếu đây là “tử huyệt” như vài chuyên gia nhận định, thì “tử” là cái chắc. “

Alan Phan

Người dân còn khoảng 50 tỷ USD (vàng và ngoại tệ) và Việt kiều có thể rót thêm 15 tỷ mỗi năm, nhưng không ai có “niềm tin” để vất tiền tốt theo đống tiền xấu.

Giải pháp in tiền bừa bãi không khả thi vì sẽ gây lạm phát phi mã và kết cuộc sẽ đến nhanh hơn dự đoán.

2. Khi giá bất động sản xuống dưới 50%, nợ xấu ngân hàng sẽ tăng gấp 3 lần hiện nay vì 67% dư nợ của ngân hàng dựa trên thế chấp bất đống sản.

Các con nợ thường ngưng trả tiền vay khi tài sản họ mất có trị giá thấp hơn tổng số tiền vay.

3. Nếu bong bóng bất động sản không nổ vì bất cứ lý do gì, sự trì trệ cho nền kinh tế sẽ kéo dài ít nhất 8 năm nữa.

Số lượng căn hộ tồn kho và các căn hộ đang xây dở dang phải mất đến 10 năm mới thanh lý hết.

4. Ánh sáng le lói dưới đường hầm là gói cứu trợ của IMF (chánh phủ đã bác bỏ giải pháp này) hoặc tín dụng từ đàn anh “lạ”.

Không ai ngoài chánh phủ có thông tin để dự đoán chính xác hướng đi sắp tới của chúng ta.

5. Chúng ta vẫn đang cố gắng làm những gì chúng ta đã làm trong quá khứ (khó mà thay đổi thói quen xin-và-cho); nhưng chúng ta đang hy vọng là kết quả sẽ khả quan và tốt đẹp (như lời các ngài quan chức đã tuyên bố gần đây).

Các quan đang muốn chứng minh là Einstein không biết gì về toán hay vật lý? Chúng ta mới là bậc trí tuệ?

Bản chất tôi là một người lạc quan và có niềm tin cao độ vào tôi cũng như vào những người chung quanh. Tôi luôn nhìn tương lai với cặp kính mầu hồng.

Gần đây, khi về lại Việt Nam, các Peter Pan cũng không còn đeo kính nữa. Có lẽ vì chúng ta đang ở Never-Land?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một Việt kiều Mỹ, chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa. Bài đã đăng ở Bấm trang web của tác giả.

Tướng tá TQ lên chức để giữ nhà? – BBC

30 Th10

Tướng tá TQ lên chức để giữ nhà?

Hai ông Tập Cận Bình và Hồ Cẩm Đào sẽ chia sẻ quyền quyết định về quân đội kể cả sau Đại hội 18

Thay đổi nhân sự trong Quân Giải phóng có mục tiêu tăng ảnh hưởng của ông Tập Cận Bình và duy trì vị thế của Hồ Cẩm Đào, theo các bình luận từ bên ngoài.

Chưa đầy hai tuần trước Đại hội Đảng 18, Bộ Quốc phòng Trung Quốc công bố một loạt thay đổi ở hàng tướng lĩnh, đưa lên những người trẻ hơn hẳn lớp đang phải về hưu.

Trong số các vị trí này có một Tổng tham mưu trưởng và hai Phó Tổng tham mưu trưởng mới và các chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Hậu cần và Thiệt bị.

Trước đó, trong năm nay Trung Quốc cũng đã thay một loạt các tư lệnh quân binh chủng quan trọng, hoặc quân khu, gồm cả tư lệnh lực lượng đóng ở Đặc khu Hong Kong.

Nhưng các chức vụ mới này còn có mục tiêu chính trị là nâng vị thế của người dự kiến lên làm Chủ tịch nước, ông Tập Cận Bình.

Chủ tịch Đảng Hồ Cẩm Đào cũng có nhiều khả năng tuy rời vị trí về mặt Nhà nước và Đảng nhưng vẫn nắm chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương để đảm bảo sự kiểm soát với Quân đội.

Đảm bảo thân tín

Theo bình luận của Jeremy Page trên báo Mỹ, tờ Wall Street Journal hôm 25/10, Thượng tướng Phòng Phong Huy, nhân vật thân tín của ông Hồ Cẩm Đào, được bổ nhiệm rằng tân Tổng tham mưu trưởng.

Trước đó, ông Phòng Phong Huy (61 tuổi) là tư lệnh quân khu Bắc Kinh, lực lượng trọng yếu, chuyên bảo vệ các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước của Trung Quốc.

Tướng Thường Vạn Toàn (62 tuổi), một trong số nhân vật được thăng chức, là người do Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đỡ đầu.

Tướng Trương Hựu Hiệp (62 tuổi), người có tiếng là thân với Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, nhận chức mới là Chủ nhiệm Tổng cục Thiết bị Quân sự, cơ quan lo mua và phát triển các loại vũ khí mới cho Trung Quốc.

Tầm bắn của hỏa tiễn đạn đạo Trung Quốc nay bao trùm nhiều khu vực

Nếu như ông Tập thuộc hàng con ông cháu cha (Thái tử đảng) thì Trung tướng Trương cũng có gốc gác tương tự.

Cha ông, Tướng Trương Tông Tốn là một nhân vật lão thành cách mạng, từng làm tham mưu trưởng quân đoàn 4 của Hồng quân Công nông Trung Quốc và một trong 10 vị tướng nổi tiếng thời Kháng Nhật.

Tướng Trương Tông Tốn còn là bạn thân của ông Tập Trọng Huân, một nhân vật cao cấp trong Đảng thời lập quốc, cha của ông Tập Cận Bình.

Có tin nói sau khi ông Tập trở thành Phó Chủ tịch thứ nhất của Quân ủy Trung ương năm 2010 đã có ít nhiều tiếng nói trong vụ phong tướng cho ông Trương Hựu Hiệp năm 2011, theo bài trên tờ Wall Street Journal.

Một vị tướng ‘con ông cháu cha’ là Lưu Nguyên, con của cố Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, tuy vẫn là Chính ủy Học viện Quân sự Quân giải phóng nhưng không được lên nắm Tổng cục Chính trị vì quan hệ gần với ông Bạc Hy Lai, cựu Bí thư Trùng Khánh vừa bị phế truất.

Nhưng độ tuổi của các nhân vật được thăng chức cũng trẻ hơn lứa phải từ nhiệm hoặc về hưu tới cả một thập niên.

Không chỉ các vị Trương Hựu Hiệp và Phòng Phong Huy đều mới vào tuổi 60, Tướng Trương Dương, tân Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị năm nay 61 tuổi.

Tướng Mã Hiểu Thiên, tân Tư lệnh Không quân năm nay 63.

Tướng Nguỵ Phượng Hòa, năm nay 58.

Họ là thế hệ thay thế cho các tướng về hưu như Lương Quang Liệt (72), Trần Bỉnh Đức (71), Lý Kế Nại (70), Liêu Tích Long (72).

Chuyển hướng chiến lược

Các chức vụ mới này còn cho thấy hướng đi của Quân giải phóng đã khác trước, theo bình luận của Christopher Bodeen, AP từ Bắc Kinh hôm thứ Năm.

Chẳng hạn chức tư lệnh Không quân được phong cho Tướng Mã Hiểu Thiên, cựu phi công cho thấy không quân ngày càng đóng vai trò quan trọng cho chiến lược quốc phòng của Bắc Kinh.

Quân Trung Quốc trong một trận đánh Việt Nam 10/1986 Sau cuộc chiến đánh Việt Nam nay quân đội Trung Quốc đã thay đổi nhiều và thành tích chiến trường không quyết định thăng chức

Theo đánh giá của giới quan sát được AP trích dẫn, kể từ sau Chiến tranh Biên giới với Việt Nam nổ ra năm 1979, quân đội Trung Quốc chưa hề lâm chiến ở một trận lớn nào.

Vì thế, thành tích chiến trường cũng không còn là tiêu chuẩn để thăng chức.

Nhưng Trung Quốc cũng hướng tới phát triển hỏa tiễn, không quân và hải quân mạnh hơn trước, dù toàn bộ các binh chủng gồm cả lực lượng bộ binh chính quy và địa phương, vẫn còn rất đông, tới 2,3 triệu quân.

Quân đoàn Tên lửa 2, đơn vị chiến lược của Trung Quốc, cũng liên tục có các cuộc thử nghiệm hỏa tiễn tầm xa trong những năm qua.

Hải quân Quân Giải phóng cũng vừa đưa vào sử dụng để huấn luyện hàng không mẫu hạm đầu tiên do Trung Quốc đóng lại từ một tàu cũ của Ukraina.

Dự thảo sửa Hiến pháp: Chủ tịch nước giữ chức Chủ tịch HĐ quốc phòng

29 Th10

Dự thảo sửa Hiến pháp: Chủ tịch nước giữ chức Chủ tịch HĐ quốc phòng

(GDVN) – Đây là điểm mới của dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) được Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Phan Trung Lý trình bày tại Quốc hội sáng nay.
 
Trong Chương VI quy định về Chủ tịch nước quy định rõ Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Trong đó Điều 94 sửa đổi, bổ sung Điều 103 của Hiến pháp hiện hành quy định Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn: Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trái với lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.  
Đáng chú ý theo dự thảo, Chủ tịch nước có nhiệm vụ và quyền hạn: Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp tướng, đô đốc, phó đô đốc, chuẩn đô đốc hải quân; bổ nhiệm Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh. Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
Bên cạnh đó, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ. Khi cần thiết, Chủ tịch nước yêu cầu Chính phủ họp bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.
Còn tại Chương VII quy định về Chính phủ, tại Điều 100 (sửa đổi, bổ sung Điều 109) quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.  Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Điều 101 (sửa đổi, bổ sung Điều 110) nói rõ cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định; Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số; Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Đặc biệt, thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ, Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ.
Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi) cũng bổ sung quy định Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia, xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ công vụ; quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức; phân công, phân cấp trong hệ thống hành chính nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính các đơn vị hành chính lãnh thổ; tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra, kiểm tra, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước và giải quyết khiếu nại, tố cáo… Thống nhất quản lý công tác đối ngoại; theo ủy quyền của Chủ tịch nước đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 94; đàm phán, ký, gia nhập, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi) cũng sửa đổi, bổ sung Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng và chức vụ tương đương trong bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chỉ đạo việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; đàm phán, ký hoặc gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đồng thời thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. 
Về quy định đối với Quốc hội, dự thảo Hiến pháp (sửa đổi) cũng đề xuất, Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn: Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, các Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước; phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật. Bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Tiến hành quyết định đại xá; quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước. Đặc biệt, QH quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh và phê chuẩn việc ký kết hiệp ước hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực, thương mại quốc tế và các nội dung được quy định trong luật.  Quyết định việc trưng cầu ý dân.
Minh Anh

Sửa Hiến pháp: Bổ sung quyền của Chủ tịch nước

29 Th10

Sửa Hiến pháp: Bổ sung quyền của Chủ tịch nước

– Theo dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Chủ tịch nước có quyền đề nghị QH bầu, bãi nhiệm phó chủ tịch nước, Thủ tướng, bãi bỏ văn bản của Chính phủ.

Theo tờ trình dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 do Chủ nhiệm UB Pháp luật Phan Trung Lý trình bày sáng nay, có 9 nội dung cơ bản sửa đổi Hiến pháp. Trong đó nhấn mạnh sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Cụ thể, dự thảo đã sửa đổi, bổ sung điều 4 Hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng.

Theo đó, xác định “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Theo ông Phan Trung Lý, còn hai loại ý kiến khác nhau là về cách thể hiện các thành phần kinh tế trong Hiến pháp.

Ý kiến thứ nhất đề nghị nêu thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và xác định vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế tại điều 55. Quy định như vậy để làm rõ hơn tính chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị không nêu cụ thể tên các thành phần kinh tế mà chỉ xác định các thành phần kinh tế là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế để bảo đảm tính khái quát, ổn định cao của Hiến pháp khi cơ cấu của nền kinh tế có thể thay đổi, đồng thời, thể hiện sự bình đẳng và cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

Ông Lý cho hay UB tán thành loại ý kiến thứ nhất và đã thể hiện tại điều 55 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Theo đó, điều 55 khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.

Chủ tịch nước có quyền bác văn bản của Thủ tướng

Dự thảo làm rõ hơn thẩm quyền của Chủ tịch nước trong một số lĩnh vực, sắp xếp lại nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.

Chủ nhiệm UB Pháp luật cho hay, trong mối quan hệ với hành pháp, dự thảo Hiến pháp sửa đổi làm rõ hơn thẩm quyền bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và Chính phủ; quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ; yêu cầu Chính phủ bàn về vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước khi cần thiết.

Cụ thể, điều 94 (sửa đổi, bổ sung điều 103) quy định những nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước. Trong đó, quy định Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm phó chủ tịch nước, Thủ tướng; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ trái với lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

Bảo vệ an ninh, chủ quyền

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, sự gắn kết giữa nhiệm vụ đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong việc xây dựng đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Cụ thể, các điều trong chương Bảo vệ Tổ quốc được sửa đổi khẳng định lực lượng vũ trang nhân dân “có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Lực lượng quân đội được xác định “xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng”.

Lực lượng công an được xác định “xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”.

Tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ cho ý kiến lần đầu về dự thảo sửa đổi Hiến pháp và biểu quyết Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo.

Dự thảo sẽ được chỉnh lý trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp háng 5/2013, sau đó tiếp tục hoàn thiện trình Quốc hội thông qua tháng 10/2013.

Linh Thư – Ảnh: Minh Thăng

Nguyễn Ngọc Tư: Một nhà văn viết về thân phận con người – TN

29 Th10

Nguyễn Ngọc Tư: Một nhà văn viết về thân phận con người

Sau những chuyến đi bụi khắp xứ sở, có chuyến lang thang Tây Bắc rồi lên cột cờ Lũng Cú một mình, chị lại về với Cà Mau, lặng lẽ viết. Sách của chị được tái bản nhiều và được dịch ra tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Thụy Điển. Và cho tới giờ, điều mà chị nói khi nhận Giải thưởng Văn học ASEAN hồi tháng 9.2008 tại Thái Lan về văn chương của mình, vẫn vậy.   

Khi đó, chị nói ngắn, chưa đầy hai phút: “Tôi hay nghĩ về sức mạnh của những giọt nước mắt. Chúng trong trẻo, giản dị nhưng lại gây rung cảm sâu sắc. Những tối, trên bản tin truyền hình, tôi nhìn thấy một em bé, hay một phụ nữ ở xứ sở xa xôi nào đó đang khóc, vì chiến tranh, vì bạo lực, hay vì thiên tai… và những giọt nước mắt lay động bất cứ ai nhìn thấy chúng, bất chấp biên giới, màu da, thể chế chính trị, ngôn ngữ hay những cách biệt văn hóa khác. Tôi nghĩ, nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi đang đeo đuổi, tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt, hay gần giống như thế, bởi văn học vẫn còn rào cản ngôn ngữ. Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt. Khi ấy, trong lòng các bạn, tôi không còn là cô gái Việt Nam viết về Việt Nam, mà là một nhà văn viết về thân phận con người, như các bạn”.

Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư – Ảnh: Trương Công Khả 

Nhân vật kỳ cục nhất của văn học thế giới

Cánh đồng bất tận đã được dịch sang tiếng Hàn và theo người dịch, nhà thơ Ha Jea Hong, trả lời điện thoại với chúng tôi khi anh đang du lịch ở Cà Mau, là “sách bán chạy lắm và đã được tái bản”. Sau đó anh đã đưa tác giả và ba bạn văn Việt Nam khác sang Hàn Quốc dự giao lưu với bạn đọc tiếng Hàn về cuốn truyện này. Về phần mình, Nguyễn Ngọc Tư chia sẻ: “Tôi nhận được ở anh một tấm lòng nhiệt thành, tâm huyết, một sự thấu hiểu, đồng cảm lớn giữa người viết và người đọc”.

Giữa tháng 2.2012, Dagens Nyheter, một tờ báo lớn của Thụy Điển, đã đăng bài của Giáo sư Stefan Jonsson đọc tuyển tập tuyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư do Tobias Theander dịch sang tiếng Thụy Điển. Vị giáo sư chuyên nghiên cứu về dân tộc và là nhà phê bình văn học của tờ báo này, cho rằng đây là những truyện ngắn hoàn hảo từ Việt Nam ngày nay. Ông viết: “Ở Thụy Điển, cuộc hiện đại hóa lớn đã đánh vỡ hệ thống nông thôn tự lực, đồng thời mở cho thế giới vào. Với Tư, điều tương ứng là cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài đã làm dân Cà Mau thấy rõ vị trí của mình trên thế giới”. Theo ông, “Trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện một thế giới duyên dáng, không cưỡng lại được, và tuyệt vọng” rồi cho biết: “Trong lời bạt, Tobias Theander giải thích tại sao nhiều người ở Việt Nam thương Tư, thảo luận về Tư. Tư không sắp đặt, chỉ kể lại chuyện nghiện rượu, mại dâm, áp bức phụ nữ. Và chính vì các truyện ngắn không cố gắng mang tính giáo dục, trái lại, chúng mô tả thẳng thắn mọi vấn đề, thì các nhân vật của Tư có vẻ càng anh hùng hơn khi đấu tranh để khắc phục các vấn đề này”. Giáo sư Stefan Jonsson phát hiện: “Hơn nữa, ở đây có một trong những nhân vật kỳ cục nhất của văn học thế giới, con vịt xiêm Cộc. Có lẽ, vai trò của nó là đại diện cho Phật”.

 

 
 
Tôi nghĩ, nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi đang đeo đuổi, tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt, hay gần giống như thế, bởi văn học vẫn còn rào cản ngôn ngữ
 
 
 

 

Ở Mỹ, Giáo sư Trần Hữu Dũng thuộc Đại học Wright State còn lập hẳn một “tủ sách Nguyễn Ngọc Tư” trong trang web của mình. Đây là nơi đang lưu giữ nhiều nhất tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư và ý kiến của bạn đọc. Có lần, trả lời phỏng vấn của chúng tôi, ông nói: “Trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta, ở khắp mọi phương trời, tìm lại được cái quê hương đích thực trong tâm tưởng, những tình tự ngủ quên trong lòng mình, những kỷ niệm mà mình tưởng như không ai chia sẻ”. Một lần khác, ông trả lời một bạn đọc trang web ấy, rằng: “Có rất nhiều người, từ mọi nơi trên thế giới, viết mail cảm ơn tôi về tủ sách Nguyễn Ngọc Tư. Có những em sinh viên còn rất trẻ, cũng có những người trạc tuổi tôi. Nhiều người xa quê hương đã lâu, người chỉ mới đây, người ở Hà Nội, người ở Cần Thơ. Có điều lạ là đa số đều cho tôi biết là họ đã… khóc khi đọc truyện của cô. Nhưng đó là những giọt nước mắt thương yêu, êm đềm”.

Vẫn thấy mình được chúc mừng nhầm

Còn với Nguyễn Ngọc Tư, dường như càng nổi tiếng thì chị càng lặng lẽ. Cuối năm 2010, phim Cánh đồng bất tận đạt doanh thu 17 tỉ đồng cùng lúc tập truyện Khói trời lộng lẫy tái bản ngay sau tuần lễ đầu phát hành và tác giả phải về Sài Gòn dự giao lưu ra mắt sách – thế nhưng Nguyễn Ngọc Tư lại bộc bạch: “Đi giao lưu ngại thật. Thấy người ta đông tôi kinh hãi lắm, nói chẳng ra ngô ra khoai, nhất là phải nói về những chuyện mà mình không quan tâm mấy, như thể chưa từng có trong đầu mình vậy”.

Trước nhiều lời chúc mừng phim Cánh đồng bất tận thành công là nhờ truyện phim hay, chị nói: “Cho tới bây giờ tôi vẫn thấy mình được chúc mừng nhầm, tôi không vơ lấy doanh thu rực rỡ của phim làm vinh dự của mình được. Từ khi đứa con tinh thần đó ra đời, người ta đã mặc cho nó một cái áo khác, sống với một tinh thần khác”. Cánh đồng bất tận kể chuyện nông thôn, nhưng cả sách, kịch và phim thì chưa được nhiều nông dân thưởng thức. Tôi băn khoăn hỏi chị về chuyện này thì chị nói: “Tôi không nghĩ viết về nông dân là để giới hạn cho người nông dân đọc. Cách nghĩ đó giống như tôi soi gương mỗi ngày và nhìn mặt mình hiện lên trên đó mỗi ngày. Người khác ngắm tôi, nhìn nhận tôi bằng cái nhìn của họ thì thú vị hơn chứ. Một vài cuốn sách mà để anh hiểu người nông dân hơn, để những giới khác quan tâm đến họ hơn, yêu thương họ hơn, với tôi đã là một tham vọng lớn rồi”.

Giờ đây cũng vậy, dù tiểu thuyết Sông được tái bản ngay trong tuần lễ đầu phát hành (lên 11.000 bản) và cuộc giao lưu ra mắt sách ở Hà Nội rộn ràng đến mấy, Nguyễn Ngọc Tư vẫn không thích nói nhiều về chuyện đã qua. Chị lại lặng lẽ ngồi vào bàn viết, viết báo Tết, viết văn và làm thơ. Thơ của chị cũng buồn như văn của chị. Nỗi buồn ám ảnh hơn. Như những giọt nước mắt.

 

Chuyên mục Sáng tạo vì Khát vọng Việt giới thiệu chân dung những người bạn của Trung Nguyên, bất kể tuổi tác, thành phần, trong hay ngoài nước… Họ là những con người đang ngày đêm miệt mài sáng tạo trong các lĩnh vực chuyên môn, đóng góp trí não, tâm sức, truyền đi ngọn lửa khát vọng, tạo cảm hứng cho thanh niên Việt Nam, khơi dậy khát khao đua tranh với thế giới, dấn thân và sáng tạo vì một nước Việt hùng mạnh.

 

Huỳnh Kim

ÁM ẢNH RỪNG TRONG TRƯỜNG CA CỦA ĐẶNG BÁ TIẾN – Nguyễn Duy Xuân

29 Th10

ÁM ẢNH RỪNG TRONG TRƯỜNG CA CỦA ĐẶNG BÁ TIẾN

NDX.net: – “… chuyện Tây Nguyên không rừng có nguy cơ thành sự thật. Là một nhà báo xông xáo và dũng cảm, Đặng Bá Tiến đã nhiều lần viết bài, báo độngđiều này, anh tìm nguyên nhân, tìm cách lí giải tại sao rừng Tây Nguyên lại mất đi với tốc độ chóng mặt. Nhưng Đặng Bá Tiến còn là một nhà thơ, những bài thơ lẻ viết đề tài này anh thấy chưa đủ, chưa “hả”, nên dồn sức viết thành trường ca Rừng cổ tích mười chương mà anh gọi là mười khúc.”

Trên đây là trích đoạn mở đầu trong Lời giới thiệu của nhà thơ Vương Trọng về trường ca Rừng cổ tích của nhà thơ Đặng Bá Tiến vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Như tác giả đã từng thổ lộ, Rừng cổ tích là một hoài niệm – hoài niệm về thiên nhiên Tây Nguyên hùng vĩ, văn hóa Tây Nguyên đặc sắc độc đáo; và là một giấc mơ – mơ về thiên nhiên ấy cùng những giá trị văn hóa của vùng đất này sẽ không là cổ tích trong tương lai.

Là một người đã gắn bó với Tây Nguyên hơn ba mươi năm nay, tôi trân trọng và chia sẻ với Đặng Bá Tiến về những suy tư, ám ảnh của anh, và tôi nghĩ tất cả những ai yêu Tây Nguyên đều chung sự đồng cảm ấy khi đọc trường ca này.

Giới thiệu với bạn đọc về Rừng cổ tích có lẽ không lời nào hơn bài viết sau đây của nhà thơ Lê Vĩnh Tài. Xin trân trọng giới thiệu cùng quí vị:

Rung-co-tich2

ÁM ẢNH RỪNG TRONG TRƯỜNG CA CỦA ĐẶNG BÁ TIẾN
     (Đọc trường ca RỪNG CỔ TÍCH của Đặng Bá Tiến)

     Khi nhiều thứ trong cuộc đời đã hóa thành cổ tích thì tôi được đọc trường ca RỪNG CỔ TÍCH của nhà báo – nhà thơ Đăng Bá Tiến, nối dài thêm những cái tên của các nhà thơ đương đại viết trường ca về vùng đất Tây Nguyên.
     Có những cái tên mang âm hưởng của sự cảnh báo và dự đoán, nhưng cái tên của trường ca này không mơ hồ như thế, mà là sự thật đến phũ phàng của Tây Nguyên hôm nay. Chữ RỪNG chùng xuống nghẹn ngào và CỔ TÍCH vút lên lần cuối cho sự mất rừng ở xứ sở nổi tiếng một thời khi chiều xuống loang đầy rừng lạnh. Trước & sau trường ca này, RỪNG còn ám ảnh bao nhiêu nhà thơ nữa trong vang vọng của chữ và dự đoán của thi sĩ? Chữ CỔ TÍCH không những làm tính từ, bổ nghĩa cho chữ RỪNG mà còn phải bổ nghĩa cho bao nhiêu điều/thứ/cái nữa chúng ta đành buông tay để mọi thứ thành CỔ TÍCH giữa thế kỷ 21 này?
     Ám ảnh RỪNG chạy xuyên suốt 10 chương của trường ca. RỪNG là cánh cửa mở ra, cũng chính là cánh cửa để khép lại, nhưng không kết thúc mà hướng người đọc đến những cảm xúc khác. Sự đau đớn vì con người đã tàn phá một vùng thiên nhiên hùng vĩ đến cạn kiệt cứ xoáy mãi vào lòng người đọc hôm nay. Tiếng dội của nó còn âm vang ở bên ngoài tác phẩm, tê dại.
     RỪNG CỔ TÍCH có cấu trúc 10 chương, với 2 chương cuối HỒI TƯỞNG & VĨ THANH có dung lượng nhỏ nhắn như một bài thơ trữ tình mà tác giả hóa thân thành nhân vật “ANH” của câu chuyện trữ tình để khép lại sự đau đớn và tuyệt vọng, ánh lên lần cuối sự lạc quan mà ít người làm thơ hôm nay vẫn còn giữ được:

         CHƯƠNG IX: HỒI TƯỞNG

         Mười năm
         rồi… ba mươi năm trôi
         đêm nay anh ngồi bên dòng Sê Rê Pôk
         mẹ thương anh héo lòng
         đã về cùng cái đất
         H’Lan chờ anh tóc đã sợi trắng, sợi xanh

         30 năm
         đám cưới chưa thành
         sống giữa thời bình mà thời gian hẹp quá
         người chờ đợi vẫn ngồi mòn bậc đá
         nửa trái tim anh vẫn thao thức nỗi rừng…

         30 năm anh nào có phút dừng
         mà chẳng kịp tới hôn trường khi son trẻ
         mà chẳng kịp làm vui lòng mẹ
         mẹ ơi
         mẹ thương con xin thương cả những dại khờ…
         CHƯƠNG X: VĨ THANH

         Từ ấy
         giữa rừng Bản Đôn có căn gác đơn sơ
         vợ chồng người gác rừng sống với lá hoa, muông thú
         cổ thụ chín tầng cành, xòe ô che chở
         mỗi ban mai chim hát, múa quanh nhà  
         mỗi chiều tà
         tù và lại rúc lên bổng trầm tha thiết
         cây nghe tiếng tù và xanh biếc, đầy hoa
         chim nghe tiếng tù và lời ca thêm thánh thót
         voi nghe tiếng tù và ngà mọc dài thêm…

         Rừng Bản Đôn nổi tiếng linh thiêng
         mấy thế kỷ sau tiếng tù và còn vọng
         giữa rừng đêm lúc trầm lúc bổng  
         như ru cây, ru muông thú ngủ yên lành
         như người gác rừng chưa khuất
         vẫn cầm canh
         giữ cho rừng bình yên mãi mãi!

     Tám chương còn lại “RỪNG” & “ANH” thay nhau là nhân vật của cảm xúc thẩm mỹ. Cái mà nhà thơ tìm kiếm vẫn nằm trong mạch kể chuyện của một trường ca cổ điển, nhưng nó lôi cuốn chúng ta bởi tiết tấu, vận tốc của chữ, cú pháp, cách diễn đạt… Tất cả đều tràn đầy nồng nhiệt của một người yêu rừng như con trai yêu người Mẹ. Những cơn sóng dồn dập từ lúc:

         Ấy là những đêm hành quân
         được chợp mắt trong hương rừng
         trong tiếng suối ru
         trong bàn tay vuốt ve của lá
         anh đã mơ…

Một chút binh đao khói lửa chiến tranh được gợi lại làm đề từ:
        
         hết Tây Nguyên
         tràn về Bình Phước, Đồng Nai
         anh đi
         nhưng tâm trí tình yêu ở lại
         với cánh rừng bạt ngàn
         dòng sông thác trắng, hùng vĩ, mộng mơ
Để cuối cùng “ANH” trở lại “RỪNG”:
         anh tự dặn mình phải trở lại nơi đây
         trở lại với điệp trùng rừng cây
         trở lại với những mùa lễ hội
         những mùa săn voi
         những đêm ăn trâu
         những ngày cúng thần bến nước, cúng thần cây đa
         những đêm rượu cần mềm môi
         những ngày tìm ong
         những ngày lấy măng
         những mùa trỉa bắp…

         Sẽ trở lại nơi này
         sống chết với đất này
         anh nguyện với lòng anh!
       Những biến tấu này không có gì khác hơn là tình yêu cháy bỏng với RỪNG, là tiếng gọi tha thiết: RỪNG ƠI…
       Tám chương còn lại, số 8 tình cờ hay nhà thơ cố ý, để 8 cuộc ganh đua về âm thanh và chữ nghĩa chạy theo nhau suốt từng chương, cả khi nhà thơ thương quê mới ngẫu hứng nhớ về quê cũ:   
        ngả nghiêng với nỗi nhớ quê
        dẫu làng Chùa nơi anh cắt rốn, chôn nhau tháng tám  ngày ba sống nhờ đọt mưng, khoai chạc
        nỗi nhớ mẹ cồn lên như ghềnh như thác
        năm nay mẹ đã bảy mươi tròn
        ngày anh đi đã nửa đầu tóc bạc
        giờ mẹ còn ngồi vuốt ngực đợi chờ anh?
        người yêu giờ đã lỡ tuổi xuân xanh
        đã lấy chồng?
        hay còn chờ anh thì khổ
        ngày chia tay cả nụ hôn cũng vội vàng dang dở
        dang dở cả ngàn đêm
        không tròn giấc ngủ…
      Cắt ngang những tâm sự ấy, nhà thơ trở lại với ám ảnh truyền kiếp của RỪNG. Rõ ràng RỪNG quyến rũ nhà thơ hơn cả, kéo “ANH” vào những con chữ, đôi khi làm “ANH” quên kể chuyện với những thi hứng bất ngờ. Tình yêu, và bây giờ là sự tuyệt vọng khi RỪNG đã mất, là điểm xuất phát và cũng là cái đích của “ANH”. Nhưng quan trọng nhất, những tình cảm ấy rất cổ điển, rất thơ.
    “ANH” làm trung tâm thì “RỪNG” làm đối trọng, cả hai thay nhau vị trí như người đang soi gương, gặng hỏi, tha thứ, đau đớn, trách móc, những khía cạnh nhỏ nhất, vô định nhất của tâm hồn nhà thơ. Không phải ngẫu nhiên mà nhà báo – nhà thơ Đặng Bá Tiến rất say mê chụp ảnh, vì “ANH” luôn luôn muốn ngắm nhìn thế giới xanh biếc, ngắm nhìn “RỪNG” qua ống kính của mình, ống kính tâm hồn và ống kính nghệ sĩ. Con đường làm anh chọn lựa vùng đất này và cũng là con đường để anh dấn thân thành nghệ sĩ, tìm những khúc quanh của đời mình, lý giải hành trình đến với thơ ca và nghệ thuật.
     Một chi tiết thú vị khi anh cho câu hát ay-ray và câu ví dặm hợp hôn với nhau, như máu của chàng trai Xứ Nghệ chảy trong tim của cô gái Ê Đê, như RỪNG gặp BIỂN, như Lạc Long Quân gặp Âu Cơ trong truyền thuyết lãng mạn sinh ra dân tộc. Cuộc tình ảo hay thật này đã làm cho hai nền văn hóa lồng vào nhau, như người nghệ sĩ hàng ngày soi gương và tự vấn. Nó là âm hưởng của những phản chiếu, những thay đổi của chính Tây Nguyên những tháng ngày này:
        Ôi câu ay-ray
        ôi câu ví dặm
        ta muốn rước về ở chung một buồng tim
        ta muốn đưa về ở chung một bếp
        ta muốn chiều chiều ngồi trên bến nước
        nghe khúc ay-ray và nghe câu ví dặm ân tình
        ta muốn đứa con yêu thương của ta được ru bằng câu
        ví dặm của cha  
        được nựng ngọt ngào bằng lời ay-ray của mẹ
        nó sẽ lớn lên với vóc hình dũng sĩ
        có tâm hồn thiết tha như câu ví
        và nồng nàn mơ mộng như điệu ay-ray
       RỪNG đã mất. Nhưng thời gian và ám ảnh liệu có còn? Và đó là sự níu giữ của trường ca với những suy nghĩ về hiện tại đang diễn ra, hoang mang vì sự ngắn ngủi, mong manh… gần như không tồn tại của nó. Điều đau xót đến vô lý này đã xảy ra ở Tây Nguyên, và đã lấy đi của chúng ta một trong những vùng rừng đẹp nhất, RỪNG CỔ TÍCH và không biết bao nhiêu chữ nghĩa đã đổ xuống còn hơn nước mắt Nữ Thần Mặt Trời, để kêu cứu và tuyệt vọng cùng RỪNG.
       RỪNG đã mất. Nhưng ký ức về RỪNG thì sẽ còn mãi mãi trong thơ ca, trong nhiếp ảnh và nghệ thuật của những nghệ sĩ bám trụ ở vùng đất này như Đặng Bá Tiến, để giữ lại những ánh sáng văn hóa, bập bùng mãi không thôi. Bằng cách thắp lửa như vậy, nhà thơ đã chạm tới những kỷ niệm thiêng liêng, những nguyên lý riêng bí hiểm nhất, cuồng dại nhất, đau đớn nhất…
                                         *
    Đương nhiên, những tập thơ hay nhất là những tập thơ ảo, nhưng chúng ta cần những tập thơ thật sự và có ích hơn là cứ mong chờ tuyệt vọng một tập thơ đẹp nhất chưa bao giờ viết ra. Điều quan trọng nhất là tình yêu. Bằng tình yêu, nhà thơ đã không ngừng ươm mầm cho thơ, cho cuộc đời, cho tương lai… để vùng đất này luôn xứng đáng với tên gọi: Một vùng sử thi.       
     Với những chuyện Khan chưa bao giờ dứt bên bếp lửa nhà dài và bây giờ là những trường ca, Tây Nguyên đang là vùng đất của hạnh phúc, vì nền văn học đa dân tộc, đa màu sắc, đa văn hóa đang hiện hữu và múa hát tại đây, quanh ché rượu cần này, những lời yêu này và đang chảy trong máu…
    
                                       Phố Núi, ngày có người về xứ biển
                                                       Tháng 8 – 2012
                                                       LÊ VĨNH TÀI

Vụ uống rượu chết người: Công an thu giữ men Trung Quốc – NLĐ

29 Th10

Vụ uống rượu chết người: Công an thu giữ men Trung Quốc

(NLĐO) – Liên quan đến vụ chết người sau khi uống rượu đế, ngày 28-10, ông Nguyễn Văn Ba (46 tuổi, ngụ xã Long Sơn, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, chủ nhà tổ chức tiệc nhậu) đã tử vong tại bệnh viện. Riêng anh Phạm Quốc Phong vẫn đang trong tình trạng hết sức nguy kịch.

Sau mấy ngày điều trị, ông Ba đã không qua khỏi

Theo cơ quan điều tra, rượu dùng tại bữa tiệc nhậu được mua tại quán tạp hóa của bà T.H, ngụ cùng xã. Tuy nhiên, bà T.H cho biết bà đã mua rượu này tại lò của ông B.Q.T (ngụ thôn 10, xã Long Sơn) để về bán lẻ.

Tiếp tục kiểm tra tại nhà ông B.Q.T, cơ quan chức năng phát hiện tại đây có nhiều can rượu mới nấu, cùng một gói men nấu rượu có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Sự việc xảy ra vào ngày 24-10, năm người gồm: Ông Nguyễn Văn Ba (46 tuổi), Phạm Quốc Phong (28 tuổi), ông Y Cu (49 tuổi, ngụ tỉnh Vĩnh Long và hai anh Chí, Nghĩa (đều ngụ xã Long Sơn) tổ chức nhậu tại nhà ông Ba.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì ông Y Cu bỗng than mệt rồi nằm lăn ra giữa nhà, bất tỉnh nhân sự. Ngay lập tức, mọi người đưa ông đi cấp cứu tại Trạm Y tế xã Long Sơn nhưng ông Y Cu đã tử vong sau đó ít phút.
 
Sau đó, ông Ba và anh Phong cũng rơi vào tình trạng hôn mê và được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Bà Rịa.
 
Tin-ảnh: G. Khánh

Đại biểu Đặng Thành Tâm trở lại họp Quốc hội – TP

29 Th10

Đại biểu Đặng Thành Tâm trở lại họp Quốc hội

 Chủ tịch Quốc hội chấp thuận ông Đặng Thành Tâm nghỉ cả kỳ họp

TPO – Sáng nay, đại biểu quốc hội Đặng Thành Tâm đã bất ngờ xuất hiện để tham gia kì họp thứ tư Quốc hội khóa XIII.

Đại biểu Đặng Thành Tâm tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII, ngày 29-10-2012 Đại biểu Đặng Thành Tâm tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII, ngày 29-10-2012. Ảnh: Minh Tuấn

Trao đổi với báo chí, ông Đặng Thành Tâm cho biết: Đại biểu quốc hội là phải đi họp để thể hiện trách nhiệm với những cử tri đã tin tưởng lựa chọn mình. Tôi sẽ tham dự hết kỳ họp. 

Về tình hình sức khỏe, ông Tâm cho biết sau một thời gian chữa trị ông đã cảm thấy ổn hơn.

Trao đổi với báo chí về tình hình của doanh nghiệp, ông Tâm nói: trong tình hình khó khăn chung của các doanh nghiệp thì doanh nghiệp của ông cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng.

Trước đó, sáng 22-10 Chủ tịch Quốc hội đã nhận được đơn của ông Đặng Thành Tâm xin nghỉ cả kỳ họp thứ tư để đi chữa bệnh ở nước ngoài. Cùng đó, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM cũng có văn bản đề nghị và Chủ tịch Quốc hội đã chấp thuận cho đại biểu Tâm vắng mặt cả kỳ họp.

ĐB Đặng Thành Tâm (SN 1964), thành viên Ủy ban Đối ngoại của QH khóa XIII, là một doanh nhân. Bà Đặng Thị Hoàng Yến, chị ruột ông Tâm, đã bị bãi miễn tư cách đại biểu Quốc hội trước đó.

 Minh Tuấn

Phản đối Trung, Đài âm mưu hút dầu khí Biển Đông = Vietnam+

29 Th10

Phản đối Trung, Đài âm mưu hút dầu khí Biển Đông

 

Bản đồ cho thấy 9 lô dầu khí Trung Quốc gọi thầu hồi tháng 6 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
CÁC TIN LIÊN QUAN

Không cần “giải pháp Đặng Tiểu Bình” ở Biển Đông
Chuyển từ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên (DOC) sang COC là cấp thiết nếu khu vực này muốn kiềm chế và giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông.

Phản đối nhóm học giả TQ nghiên cứu đường lưỡi bò
Việc nhóm các học giả Trung Quốc và Đài Loan nghiên cứu đường lưỡi bò là một bước đi liều lĩnh nữa xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Một nhóm học giả Đài Loan và Trung Quốc Đại lục vừa khuyến cáo hai chính quyền tăng cường hợp tác quản lý vấn đề Biển Đông mà một trong những đề xuất là Bắc Kinh và Đài Bắc bắt tay chặt chẽ với nhau để khai thác dầu khí tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông.
 
Lời kêu gọi của nhóm học giả này phụ họa cho những hành động liên tiếp gần đây của cả Trung Quốc và Đài Loan xâm phạm chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
 
Theo nhật báo Taipei Times của Đài Loan số ra ngày 28/10, nhóm học giả này gồm 16 người thuộc các cơ quan nghiên cứu khác nhau tại Đài Loan và Đại lục, với hai người đứng đầu là Lưu Phục Quốc – chuyên gia nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế thuộc Đại học Quốc lập Chính trị Đài Loan, và Ngô Sĩ Tôn – Giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc.

[Phản đối Trung Quốc mời thầu dầu khí ở Hoàng Sa]
 
Theo các học giả này, chính quyền hai phía nên phối hợp với nhau để hình thành ra một cơ chế cùng khai thác dầu khí trong vùng Biển Đông.
 
Các học giả đã đưa ra một đề xuất: Tập đoàn lọc dầu CPC Corp của Đài Loan cùng với Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) nên mở rộng hợp tác hiện nay – vốn giới hạn ở vùng eo biển Đài Loan – qua việc khai thác nguồn tài nguyên từ vùng biển phía bắc của quần đảo Pratas (Đông Sa), cũng như qua các vùng biển ngoài khơi bờ biển phía Đông và vùng biển xung quanh quần đảo Trường Sa.
 
Ngày 28/8/2012, Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc công bố mời thầu quốc tế 26 lô dầu khí, trong đó có lô dầu khí 65/12 nằm cách đảo Cây thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 3 hải lý
 
Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị vào ngày 31/8 đã nêu rõ: “Việc Trung Quốc mời thầu quốc tế tại lô dầu khí nói trên đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, trái với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước; đi ngược lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc (DOC), là hành động phi pháp và không có giá trị.

[Bộ Ngoại giao trao công hàm phản đối Trung Quốc]
 
Ông khẳng định Việt Nam phản đối hành động nói trên của phía Trung Quốc và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu quốc tế lô dầu khí này.

Ngày 27/6, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao Công hàm phản đối việc Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) mở thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam.
 
Trước đó, vào ngày 26/6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị giao nhấn mạnh, Việt Nam cực lực phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái trên, không có hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Đông và mở rộng tranh chấp./.

(Vietnam+)

‘TQ sẽ dùng sức mạnh bảo vệ chủ quyền’ – BBC

29 Th10

‘TQ sẽ dùng sức mạnh bảo vệ chủ quyền’

Thứ trưởng Trương trong một cuộc tham vấn với phái đoàn Nhật Bản về đảo tranh chấp

Thứ trưởng Trương trong một cuộc tham vấn với phái đoàn Nhật Bản về đảo tranh chấp

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng đe dọa nước ông sẽ dùng đến ‘biện pháp mạnh’ để đáp trả lại ‘bất cứ động thái nào đe dọa chủ quyền’ của họ.

Phát biểu với các phóng viên tại Bắc Kinh vào tối thứ Sáu ngày 26/10, Thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân cho biết nước ông theo đuổi đường lối ngoại giao hữu nghị và đối tác với các nước láng giềng và trước sau vẫn đi theo con đường phát triển hòa bình.

‘Không có lựa chọn’

“Chúng tôi muốn sống trong không khí hữu nghị với tất cả các nước kể cả Nhật Bản nhưng chúng tôi luôn bảo vệ những nguyên tắc cũng như điểm cốt lõi của mình,” hãng tin Tân Hoa Xã dẫn lời ông Trương nói.

“Nếu bất cứ ai đó muốn thách thức điểm cốt lõi này trên vấn đề chủ quyền thì Trung Quốc không có lựa chọn nào khác ngoài cách phải đáp trả bằng sức mạnh để loại trừ những phá hoại và trở ngại để tiếp tục vững bước trên con đường phát triển hòa bình,” ông nhấn mạnh.

Thứ trưởng Trương gọi hành động của Nhật Bản ‘mua lại’ một nhóm đảo tranh chấp trên Biển Hoa Đông từ tay chủ sở hữu tư nhân người Nhật là đã có ‘những tác động nghiêm trọng nhất’ đến quan hệ Trung-Nhật kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1972.

“Nếu bất cứ ai đó muốn thách thức điểm cốt lõi này trên vấn đề chủ quyền thì Trung Quốc không có lựa chọn nào khác ngoài cách phải đáp trả bằng sức mạnh để loại trừ những phá hoại và trở ngại để tiếp tục vững bước trên con đường phát triển hòa bình.”

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân

Ông lặp lại rằng quần đảo Điếu Ngư mà phía Nhật hiện đang kiểm soát với tên gọi Senkaku là một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc ‘trên cả phương diện sự thật lịch sử lẫn luật pháp’.

“Nhật Bản không có quyền mua bán lãnh thổ Trung Quốc bằng bất cứ cách nào và không có vụ mua bán nào được cho phép dù là chỉ một tấc đất của Điếu Ngư Đảo hay bất cứ những gì có trên đảo,” ông nhấn mạnh.

Trương Chí Quân cũng chĩa mùi dùi và lực lượng cực hữu Nhật Bản mà ông cho là đã đạo diễn ‘trò hề mua bán đảo’.

“Những gì mà cánh hữu muốn làm cuối cùng cũng được chính phủ Nhật hoàn thành,” ông nói.

Ông cảnh báo rằng ‘khuynh hướng chính trị nguy hiểm’ của cánh hữu Nhật ‘vốn đã từng đưa châu Á chìm trong thảm họa’ nếu không được ngăn chặn mà còn khuyến khích và dung túng do nhu cầu chính trị trong nước thì sẽ trở nên ngày một mạnh bạo và có ngày sẽ đưa Nhật Bản theo ‘con đường nguy hiểm’.

‘Từ bỏ ảo tưởng’

“Nếu Nhật Bản không đối diện lịch sử, không thể tự vấn lương tâm của mình và không thành thật sửa chữa lỗi lầm thì dù nền kinh tế của họ có phát triển như thế nào đi nữa thì quốc gia này cũng không thể đứng thẳng được về mặt đạo lý hay tâm lý,” ông nói.

“Nếu Nhật Bản không đối diện lịch sử, không thể tự vấn lương tâm của mình và không thành thật sửa chữa lỗi lầm thì dù nền kinh tế của họ có phát triển như thế nào đi nữa thì quốc gia này cũng không thể đứng thẳng được về mặt đạo lý hay tâm lý.”

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân

Ông nói mặc dù Trung Quốc đã bày tỏ phản đối mạnh mẽ đối với hành động ‘mua đảo’ của Nhật Bản ngay từ đầu mà nước này vẫn ‘bỏ ngoài tai’ trước những lời cảnh báo của Trung Quốc.

“Không một sự đe dọa hay sức ép nào từ bên ngoài có thể làm nhụt đi chút nào ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của chính phủ và nhân dân Trung Quốc,” ông khẳng định và cho biết chính phủ nước ông đã có một loạt biện pháp mạnh mẽ để ‘bảo vệ chủ quyền’ đối với đảo tranh chấp.

Ông kêu gọi Nhật Bản hãy ‘nhận thức chính xác tình hình’, ‘từ bỏ mọi ảo tưởng’ và ‘đối diện với thực tế’.

“Nhật Bản cần sửa chữa lỗi lầm với những bước đi đáng tin cậy và có những nỗ lực thật sự để giải quyết thỏa đáng vấn đề hiện tại,” ông Trương nói.

Kha Tiệm Ly: TRÁNG SĨ HÀNH

29 Th10

TRÁNG SĨ HÀNH

(Viết tặng Vĩnh Thuyên)

Kha Tiệm Ly

 

 

Tạm dừng vó ngựa ở nơi đây,

Quán cũ phong sương phủ lớp dày.

Còn ta, nửa kiếp phiêu linh đó,

Gom vào bầu chưa đủ cuộc say!

 

Hàng liễu vật mình theo gió chướng,

Chợt nhớ quê nhà tóc liễu bay.

Hoa đào trước quán bâng khuâng rụng,

Chẳng biết người xưa má vẫn đầy?

Môi xưa còn mọng màu mận chín,

Tóc xưa còn thoảng chất hương lài?

Bóng xưa mờ nhạt lung linh chén,

Lá xưa buồn thoảng gió heo may?

 

Tống Giang rượu uống đong nghìn chén,

Mà giận mình chưa đổi cuộc xoay.

Muốn tung cánh đại bàng muôn dặm,

Mà giận mình chưa đủ sức bay!

Sờ tóc bạc, thẹn cùng tuấn mã,

Vỗ gươm thiêng, thẹn với cỏ cây.

Vó ngựa kì hồ chưa mỏi bước,

Mà áo phong trần đã bạc vai!

 

 

Thẹn nỗi bình sanhchưa toại chí,

Gươm anh hùng đã vuột tầm tay,

Thẹn nghiên bút chợ đời rao bán,

Thẹn ơn cha, ơn mẹ, ơn thầy!

Lỡ hẹn cùng Lương Sơn hảo hán,

Lại thẹn cùng bóng nguyệt non tây.

 

Kinh Kha lấy mạng treo đầu kiếm,

Dịch Thủy dòng xưa nước thở dài.

Gươm múa bồi hồi theo tiếng trúc,

Tráng sĩ đi hề, sắc nhuộm màu mây!

Mang chủy thủ, lạnh lùng qua sông Dịch,

Xác gởi Hàm Dương, máu chảy nhầy!

Dũng sĩ hề, vì người tri kỉ,

Hàm Dương hề, mây trắng bay bay!

Có cái chết sáng ngời chữ NGHĨA,

Trượng phu hề, đá vỡ tro bay.

Đô Cương lệ ướt bâu tân khách,

Rượu Yên bang không đủ một Đan say!

Chợt ngưỡng mộ Hoàng Sào rạch đất,

Một thước gươm thiên hạ chia hai.

Rừng gươm giáo vào Quang Trung lãnh địa,

Mà ta còn ngơ ngác chốn thiên nhai!

Ai mài kiếm Lương Sơn mòn đá núi,

Thẹn đầu non chênh chếch bóng trăng lay!

Nghe gió lạnh, đồi cao ngựa hí,

Để trường giang thao thức canh dài!

 

Tầm Dương kĩ nữ ôm đàn hát,

Hơi rượu mơ hồ, thương nhớ phôi phai?

Nàng nức nở làm sầu tiếng nhạc,

Ta bâng khuâng dở chén Mao Đài.

Bóng người cũ tan dần trong men đắng,

Em và nàng, ai tri kỉ hơn ai?

 

Dũng sĩ ngày mai nào dám hẹn.

Nên nghìn đêm, còn lại đêm nay.

Nén u uất, rượu nồng luôn cạn chén,

Giấu đau thương, tóc liễu rũ che mày.

Nàng nửa kiếp đón đưa người mấy lượt,

Nên đắng lòng mà rượu ngọt thành cay?

Ta nửa kiếp giang hồ chân mỏi bước,

Gom vào bầu chưa đủ một cơn say!

 

KHA TIỆM LY

 

 

 

PHẢN BIỆN LẠI PHẢN BIỆN ĐÃ CÓ VĂN HÓA HƠN? – huyngngocchenh

29 Th10

PHẢN BIỆN LẠI PHẢN BIỆN ĐÃ CÓ VĂN HÓA HƠN?

   Một
Còn nhớ hồi tiến sĩ sinh học Hà Sĩ Phu viết bài “Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ”. Bằng lý luận khoa học sắc sảo, ông đã vạch ra rằng động lực phát triển của xã hội là trí tuệ chứ không phải là đấu tranh giai cấp như luận điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin mà hàng triệu tín đồ cộng sản trên thế giới đang mê muội tôn sùng.
Theo lời kể của nhà thơ Bùi Minh Quốc, sau khi viết xong, TS Hà Sỹ Phu đã nhờ ông Thuận Hữu lúc đó là trưởng đại diện báo Nhân Dân tại Đà Nẵng lén đánh máy và photo bài viết ấy ra chừng chục bản. Và chục bản photo lòe nhòe đó đã gây ra cơn chấn động mãnh liệt làm dậy sóng giới lý luận đầu não của đảng CSVN.

Bộ máy lý luận của đảng tổ chức ngay một đợt phản kích mạnh mẻ chống lại luận điểm được quy chụp là sai trái phản động của TS Hà Sĩ Phu. Các võ đài lớn độc quyền của đảng như Báo Nhân Dân, QĐND, Tạp chí Cộng Sản…được mở ra. Võ sĩ của phe đảng là những nhà lý luận cấp cao, những giáo sư tiến sỹ chính trị già dặn được tung lên võ đài. Phía đối nghịch là mình ên võ sĩ  Hà Sĩ Phu, tay chân bị trói chặt, miệng bị bịt kín…Trận đấu diễn ra dữ dội với hàng chục bài báo phản bác lại luận điểm của TS bằng những đòn đánh nặng phần quy chụp và rất hung hăng của các vị giáo sư tiến sĩ chính trị đáng kính. Một khí thế bừng bừng sôi sục dâng lên, vì các võ sĩ cung đình biết sau lưng mình có các công cụ bạo lực hỗ trợ và trước mặt mình là một đối thủ cô độc đã bị trói tay, bịt miệng.
Thời đó khán giả xem trận đấu ngạc nhiên đến chưng hửng, chẳng hiểu mô tê ất giáp gì. Trong số các khán giả ấy có tôi. Tôi tò mò phải tìm cho ra những thế võ mà võ sĩ Hà Sĩ Phu không được sử dụng khi thượng đài.. Cuối cùng tôi bắt gặp bí kiếp võ công là tập photo bản thảo lòe nhòe “Nắm tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” tôi đọc say mê và đến bây giờ đọc lại vẫn thấy vô cùng thú vị.
Võ sĩ Hà Sĩ Phu tuy trong hoàn cảnh bị trói tay, bịt miệng vẫn chẳng hề nao núng. Vài năm sau ông lại tung ra một đòn đánh mới đó bài viết “Chia Tay ý Thức Hệ”. Ông dùng lý luận chặt chẽ và thực tiễn sinh động đang diễn ra trên thế giới và ngay trên đất nươc Việt Nam để xuất chiêu hạ “knock out” những gì còn lại của cái gọi là ý thức hệ vô sản.
Biết không thể đấu lại Hà Sĩ Phu bằng lý luận, đám võ sĩ cung đình phải nhờ đến công cụ bạo lực. Côn đồ xuất hiện tông xe vào vị tiến sĩ và công an đến tịch thu túi xách trong đó có chứa bản photo lá thư của ông Võ Văn Kiệt, lấy cớ đó bắt ông vào tù.
Một khi các nhà lý luận thua cuộc thì công an vào cuộc.
        Hai
Sau nầy, khi các võ đài “Lề Dân” ra đời, đảng không còn độc quyền các võ đài nữa, hàng loạt võ sĩ lề dân xuất hiện. Những cây bút phản biện càng ngày càng đông và xuất nhiều chiêu thức võ công lợi hại. Bên cạnh Hà Sĩ Phu đã có Mai Thái Lĩnh, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự…rồi Lê Hiếu Đằng,Tống Văn Công, Phạm Toàn, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Trọng Vĩnh, Tương Lai, Nguyễn Quang A, Tô Hải, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Trung, Hạ Đình Nguyên, Nguyễn Văn Thạnh, Phạm Thành, Nguyễn Quang Lập, Trần Mạnh Hảo, Lê Phú Khải, Võ Văn Tạo, Hà Văn Thịnh, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Viết Đào, Nguyễn Tường Thụy, Trương Duy Nhất, Huy Đức, Thùy Linh, Nguyễn Hữu Vinh, Đinh tấn Lực, Mai Xuân Dũng, Bùi Văn Bồng…Thế hệ trẻ đã có Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định… và rất trẻ là Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hòang Vi, Paulo Thành Nguyễn, Phạm Lê Nguyên Các…Chưa kể đến lực lượng trí tuệ từ hải ngoại góp về như: Ngô Nhân Dụng,Trần Trung Đạo, Nguyễn Ngọc Giao, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Ngọc Già, Bùi Tín, Phạm Thị Hoài…
Lúc nầy khán giả thấy các võ sĩ cung đình, những giáo sư tiến sĩ chính trị học, hoặc lặn tiêu đâu hết, hoặc rúm ró sợ sệt không dám lên tiếng. Trên 700 võ đài của đảng, không thấy xuất hiện một bài viết phản biện lại các phản biện trên một cách ra hồn ngoài một vài bài qui chụp thô thiển, chống trả yếu ớt kiểu như của anh bộ đội Nguyễn Văn Minh nào đó.. Đâu rồi những nhà lý luận cấp cao? Đâu rồi những học hàm, học vị giáo sư tiến sĩ chính trị học đáng kính? Các vị đã tốn tiền của đảng, của dân ăn học lên đến đỉnh cao, được trang bị vũ khí lý luận sắc bén, từng tung hoành một thời trên các võ đài của đảng khi đối thủ của các vị là võ sĩ đã bị trói tay, bịt miệng nay biến đi đâu hết rồi?
Các vị đó, nếu là người học hành đàng hoàng thì hiểu ra chân lý, vì lòng tự trọng đã không dám phản biện lại một cách bừa bải nên chọn con đường im lặng. Các vị đó, nếu là người chụp giựt, mua bằng cấp để luồn lách ngoi lên thì dứt khoát không viết ra được gì vì không đủ trình độ. Cả sự nghiệp học hành của các vị đó, vào hoàn cảnh rộng đường dư luận như hiện nay, chỉ có thể phun ra được một câu “Chúng là thế lực thù địch, bắt nhốt hết đi”  rồi phủi tay đi hưởng thụ tiếp những ân sủng của đảng.
      Ba
Mới đây trên báo Nhân Dân xuất hiện một bài viết khá nghiêm túc của tác giả Anh Khôi nào đó phản biện lại bài viết của sinh viên Phạm Lê Vương Các. Không biết tác giả Anh Khôi có phải là một nhà lý luận cấp cao có học hàm học vị cao cấp hay không nhưng cung cách thể hiện qua bài viết là đáng khen dù nội dung cũng có chỗ này, chỗ khác không thoát ra khỏi kiểu quy chụp quen thuộc. Bỏ qua chuyện đúng sai của nội dung mà chỉ chú ý đến thái độ, đến phong cách thi đấu thì thấy ra nhiều điểm sáng. Võ sĩ Anh Khôi đã đường bệ thượng đài và công khai đối mặt với đối thủ Vương Các không bị trói tay bịt miệng như các võ sĩ phản biện trước đây. Một trận đấu đàng hoàng mặc dù chưa kết thúc: Chàng sinh viên Vương Các ra đòn, Anh Khôi tung chiêu phản kích, Vương Các được phép vung tay chống trả. (Xem tại đây, tại đâytại đây)
Hoan nghênh báo Nhân Dân đã mở ra một võ đài “fair play” nhất từ trước đến nay dù là các võ sĩ đối phương vẫn chưa được thượng lên đài này. Đây vẫn là võ đài dành riêng cho các võ sĩ cung đình. Rất chờ mong các vị đáng kính ấy nhảy lên xuất chiêu đả kích lại đám phản biện lê dân để khán giả mở mắt và đảng thấy rằng đã không tốn tiền của dân vô ích trong việc nuôi cho các vị ăn học lên cao.
Hơn nữa một khi các vị mạnh dạn thượng đài thì nhà nước khỏi tốn thêm tiền làm tường lửa, khỏi làm trò tin tặc như xã hội đen, khỏi cho an ninh theo dõi các blogger hoặc thủ tướng khỏi phải nhọc công ra chỉ thị cấm đoán và bắt bớ nầy nọ. Chân lý, đỉnh cao trí tuệ, vũ khí sắc bén vô địch…là của các vị thì các vị sợ gì mà phải ẩn núp sau lưng các công cụ trấn áp bạo lực hỡi những nhà lý luận cấp cao, làu làu kinh sử Mác Lê nin?
      Bốn
Gần đây, sau khi một trang blog lạ xuất hiện ồn ào và nhanh chóng vụt lên như đèn pha đó là Quan Làm Báo thì hàng loạt các blog lạ khác xuất hiện theo. Có thể kể ra ở đây là: Cầu Nhật Tân, Vua Làm Báo, Đảng Làm Báo, Anh Tư Sang, Gái bia Ôm Làm Báo, Bồ Câu Đen, Anh Lái Đò, Tập Viết Báo…
Thông tin trên các trang đó thì đủ kiểu, đủ chiều, đủ chiêu và đủ trò. Quan Làm Báo vừa rồi ra một bài viết cảnh báo một số trang trong số ấy cùng với vài trang ra đời trước đây là của công an văn hóa giả dạng.
Trên các mạng xã hội vào lúc nầy, lúc khác cũng xuất hiện các cảnh báo về trang nầy, trang khác là của “thế lực thù địch ngược lại” làm ra để phản tuyên truyền.
Hầu hết các cảnh báo đều tỏ thái độ tiêu cực và khuyên mọi người đừng vào các trang “phản động” ấy, rất nguy hiểm. Riêng tôi lại thấy rằng, sự ra đời của các trang ấy, nếu đúng là từ chủ trương của đảng thì rất đáng hoan nghênh. Đây là tín hiệu cho thấy đảng đã chấp nhận cuộc chơi một cách fair play. Đảng đã dùng những vũ khí phản biện văn minh để phản biện lại các trang phản biện chứ không còn thuần một cách dùng công cụ bạo lực để “phản biện” lại như trước đây.
Phải chăng phản biện lại phản biện đã càng ngày càng có văn hóa hơn?

Nghiên Cứu Biển Đông: Tin tuần từ 22/10-28/10 – NCBĐ

29 Th10

Tin tuần từ 22/10-28/10

dinh tuan anh

-(Vnexpress 26/10) Việt Nam kêu gọi sớm bàn Quy tắc Biển Đông: Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng việc bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) sớm được ASEAN và Trung Quốc đưa ra đàm phán sẽ mang lại những tiến triển tích cực; (Pltp 26/10) Singapore ủng hộ “dự thảo số 0” về COC

-(Dv 26/10) Tàu Trung Quốc ồ ạt tiến đến đảo tranh chấp: Ngày 25.10, 4 tàu hải giám của Trung Quốc đã tiến vào vùng biển quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/ Điếu Ngư; (Petrotimes 26/10) Hải quân Mỹ cam kết bảo đảm “tự do lưu thông hàng hải” ở châu Á

-(BBC 25/10) TQ tìm thấy bản đồ ‘chủ quyền Điếu Ngư’: Một nhà ngoại giao của họ đã tìm thấy một bản đồ do phương Tây vẽ từ thế kỷ 19 chứng minh chủ quyền của họ đối với quần đảo mà hiện họ đang có tranh chấp với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông; (Bdv 25/10) Nga muốn xây trung tâm tại Cam Ranh

-(Ddk 25/10) Giải mã “bàn cờ” trên Biển Đông: “Bàn cờ” trên Biển Đông đang xoay vần và đặt ra trách nhiệm lớn đối với các nước ASEAN trong việc bảo vệ hòa bình, ổn định trên vùng biển này; (Infonet 25/10)Xuồng cứu hộ Chủ quyền đến Trường Sa

-(Gd 25/10) Trung Quốc đóng tàu tìm cổ vật trên Biển Đông: Trung Quốc đang lên kế hoạch đóng tiếc tàu đầu tiên có khả năng trục vớt các cổ vật dưới đáy biển vào cuối năm 2013; (Vnplus 25/10) Trung Quốc phản đối cuộc tập trận chung của Nhật

-(Bdv 25/10) Australia kêu gọi duy trì ổn định ở Biển Đông: Phát biểu tại cuộc hội kiến với Tổng thống Philippines đang ở thăm Australia, Thủ tướng Julia Gillard kêu gọi tất cả các nước đang tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông tránh các hành động gây căng thẳng; (Petrotimes 25/10) Trung – Nhật – Hàn vẫn căng thẳng về biển đảo

-(DT 25/10) Nhật: Tàu Trung Quốc lại tiến vào vùng biển tranh chấp: Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật cho hay, 3 tàu chính phủ Trung Quốc sớm nay 25/10 đã tiến vào vùng biển tranh chấp ngoài khơi quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên Hoa Đông; (Vnmedia 25/10) Trung Quốc muốn Nhật “sửa chữa lỗi lầm”

-(Vnplus 25/10) Ba tàu hải giám TQ tiến sát một đảo trong Senkaku: Trong một tuyên bố, JCG nêu rõ ba tàu hải giám Trung Quốc đã đi vào vùng lãnh hải rộng 12 hải lý xung quanh quần đảo Senkaku; Đưa vào bờ an toàn 10 thuyền viên bị tàu lạ đâm

-(RFI 25/10) Hải quân Mỹ cam kết bảo đảm « tự do lưu thông hàng hải » ở châu Á: Chỉ huy hàng không mẫu hạm Mỹ USS George Washington đã khẳng định rằng sự hiện diện của Hoa Kỳ tại châu Á là nhằm bảo đảm « tự do lưu thông » tại các vùng biển đang có tranh chấp chủ quyền; (Gd 25/10) Tàu sân bay USS George Washington tới thăm Philippines

 

-(ANTD 25/10) Nhật – Trung thảo luận kín về quần đảo tranh chấp: Chính phủ Nhật Bản cho biết, các nhà ngoại giao nước này và Trung Quốc vừa có cuộc gặp kín tại Thượng Hải để thảo luận về mối quan hệ song phương giữa hai nước vốn đang căng thẳng do tranh chấp lãnh thổ trên Biển Hoa Đông; (TT 25/10) Nhật – Trung bí mật đàm phán

-(Infonet 25/10) Nhật Bản sẽ chế tạo vũ khí hạt nhân để đối phó Trung Quốc?: Đứng đằng sau bế tắc hiện về 5 hòn đảo nhỏ của quần đảo Senkaku/Điếu Ngư là một phong trào cánh hữu bên trong nội bộ Nhật Bản. Chính phong trào này có thể dẫn dắt Nhật Bản đến việc chế tạo bom nguyên tử; (Pltp 25/10) Úc mong muốn sớm hoàn tất COC

-(Vnplus 25/10) Indonesia triển khai hạm đội miền Tây ở Biển Đông: Phó Tư lệnh Hải quân Indonesia, Phó đô đốc Marsetio cho biết Hải quân Indonesia đã triển khai Hạm đội miền Tây tại khu vực Biển Đông; Phản đối nhóm học giả TQ nghiên cứu đường lưỡi bò

-(Infonet 24/10) Senkaku/Điếu Ngư: Cuộc tranh chấp chủ quyền ‘ngốc nghếch’ nhất thế giới: Tại sao chỉ vì một vài hòn đảo nhỏ không có người ở trên biển Hoa Đông mà Trung Quốc và Nhật Bản lại phải đưa ra lời đe dọa về một cuộc chiến tranh?; Không nhân nhượng với cạm bẫy ‘gác tranh chấp cùng khai thác’ của Trung Quốc

-(Gd 24/10) La Viện: Quân đội Trung Quốc là cơ bắp: La Viện cho rằng, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng mạnh trong những năm gần đây là sự bù đắp cho quá khứ; Trung Quốc bắt đầu tìm căn cứ cho “đường lưỡi bò” phi pháp

-(Vnplus 24/10) Hội thảo tăng cường an ninh Biển Đông tại Indonesia: Trường đào tạo nhân viên và sỹ quan chỉ huy Hải quân Indonesia đã tổ chức hội thảo quốc tế “Chiến lược hàng hải mang tính hợp tác nhằm tăng cường an ninh và ổn định trên Biển Đông” tại thủ đô Jakarta; Nhật Bản-Trung Quốc gặp bí mật tại Thượng Hải

-(Gd 24/10) Trung Quốc lại kéo 3 tàu chiến, 1 tàu khảo sát ra sát Senkaku: 3 tàu chiến này cùng với 4 tàu Hải giám khác đang hoạt động trên vùng biển gần nhóm đảo Senkaku. Đặc biệt có sự xuất hiện của 1 tàu khảo sát Trung Quốc; (Cand 24/10) Biển Hoàng Hải mùa dậy sóng

-(RFI 24/10) Úc kêu gọi các bên tranh chấp duy trì ổn định tại Biển Đông: Người đứng đầu chính phủ Úc đồng thời xác định là nước Úc không theo bất kỳ bên nào trong cuộc tranh chấp này; (BBC 24/10) Về địa danh Vạn Lý Trường Sa

-(Vnplus 24/10) Mỹ-Trung Quốc tham vấn các vấn đề châu Á-TBD: Mỹ và Trung Quốc ngày 23/10 đã tiến hành tham vấn lần thứ tư về các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương tại San Francisco của Mỹ; (Tp 24/10) Thêm 10 bản đồ ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa của VN

-(RFI 24/10) Trung Quốc và Đài Loan sẽ hợp sức bảo vệ cơ sở pháp lý của đường “lưỡi bò”: Ngô Sĩ Tồn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc đã cho biết như trên vào hôm 23/10; (VOA 24/10) Học giả Trung Quốc, Đài Loan nghiên cứu ranh giới trên Biển Đông

-(Vnplus 24/10) Trung Quốc cáo buộc Mỹ khuấy động ở Biển Đông: Đó là bình luận của tờ Trung Hoa Nhật Báo sau khi tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân USS George Washington hiện diện tại khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines; Trung Quốc “bóng gió” với Mỹ về vấn đề Điếu Ngư

-(TN 24/10) Trung Quốc đẩy mạnh kiểm soát biển đảo: Thời gian qua, Trung Quốc không ngừng tăng cường lực lượng phi cơ vận tải quân sự và máy bay không người lái để kiểm soát biển đảo; (Vnplus 24/10) Manila lôi kéo Australia ủng hộ vấn đề Biển Đông

-(DT 24/10) ASEAN-Trung Quốc thảo luận quy tắc ứng xử Biển Đông tuần tới: Ngoại trưởng Campuchia hôm qua 23/10 cho biết Trung Quốc dự kiến sẽ tham gia một cuộc họp của các lãnh đạo cấp cao ASEAN tại Thái Lan vào tuần tới để thảo luận bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông; (Infonet 24/10) Trung Quốc thay một loạt tướng lĩnh cấp cao

-(Vnplus 24/10) Nhật Bản phát triển máy bay tiêm kích thế hệ mới: Bộ Quốc phòng Nhật Bản dự định trong 5 năm tới sẽ khởi động dự án thiết kế máy bay tiêm kich kiểu mới mang ký hiệu F-3 và sản xuất hàng loạt loại máy bay này vào đầu năm 2027; (Pltp 24/10) Mỹ-Campuchia tập trận hải quân

-(VTC 24/10) Hải quân Mỹ sẽ được trang bị vũ khí laser: Hãng tin RT dẫn lời Văn phòng nghiên cứu của Hải quân Mỹ cho biết, các vũ khí laser có thể sẽ được triển khai sớm hơn 2 năm so với dự tính; (VNN 24/10) Trung Quốc có đáng được trọng vọng?

-(Nld 24/10) Biển Đông nóng trở lại: Sau khi tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân USS George Washington di chuyển qua bãi đá ngầm Scarborough trước khi đến Philippines cuối tuần trước, tờ China Daily lên tiếng cáo buộc “Mỹ khuấy động biển Đông”; (TP 24/10) Thủ tướng tiếp Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc

-(Bdv 23/10) Trung Quốc mở ra kỷ nguyên bất ổn mới ở châu Á?:Thái độ hiếu chiến của Trung Quốc trong các cuộc tranh chấp chủ quyền tại các vùng biển quanh nước này có thể mở ra một kỷ nguyên bất ổn mới ở châu Á; (TN 23/10) Hạ thủy tàu Cảnh sát biển đa năng 2000

-(Petrotimes 23/10) Trung Quốc tăng cường bảo vệ các tàu tuần tra ngư nghiệp ở Biển Đông bằng vệ tinh:  Trung Quốc có kế hoạch nâng cấp hệ thống định vị vệ tinh Bắc Đẩu cho các tàu tuần tra ngư nghiệp của nước này để tăng cường đảm bảo an toàn đánh bắt cá và cứu hộ trên biển; Thế cân bằng mới đang hình thành ở Biển Đông

-(Vnplus 23/10) Hội thảo quốc tế về thực trạng chủ quyền Biển Đông: Sáng 23/10, Hội thảo quốc tế do Trường Đại học Chosun và Trường Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp tổ chức đã diễn ra tại trường Đại học Tổng hợp Chosun, Gwangju, Hàn Quốc; Học giả Hàn Quốc chứng minh chủ quyền biển đảo VN

-(Toquoc 23/10) Nước Pháp với Biển Đông: Đối với Hoàng Sa: Nước Pháp nhận thức tầm quan trọng Hoàng Sa, Trường Sa đối với phòng thủ Đông Dương, đã tiếp quản 2 quần đảo này với tư cách nhà nước bảo hộ; (TT 23/10) Thêm hội thảo quốc tế về chủ quyền biển Đông

 

 

-(Vnplus 23/10)Nhật nên quen với việc hải quân TQ tập trận xa bờ”: Chủ nhiệm Phòng Ngoại vụ Bộ Quốc phòng Trung Quốc Tiền Lợi Hoa cho rằng việc Bắc Kinh cho bảy tàu chiến đi qua vùng biển giữa đảo Miyako và đảo chính Okinawa, miền Nam Nhật Bản, là “hành động hợp pháp,”; (VOA 23/10) Trung Quốc: Mỹ khuấy động Biển Đông

-(Nld 23/10) Tàu chiến Trung Quốc lại vào vùng tiếp giáp lãnh hải Nhật Bản: Ngày 23-10, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết 3 tàu chiến Trung Quốc đã đi vào vùng biển giữa đảo Miyako và đảo chính Okinawa; (BBC 23/10) Tổng tham mưu trưởng QĐVN thăm Nga

-(TT 23/10) Trung Quốc tăng cường do thám trên biển: Tân Hoa xã hôm nay 23-10 cho hay Trung Quốc sẽ xây dựng hai căn cứ máy bay do thám không người lái ở tỉnh Liêu Ninh để theo dõi khu vực biển Bột Hải và Hoàng Hải; (Vnplus 23/10) Phát hiện tàu chiến Trung Quốc gần vùng biển Nhật

-(TN 22/10) Hàn Quốc sẽ trình tuyên bố chủ quyền lên Liên Hiệp Quốc: Hàn Quốc sẽ sớm đệ trình tài liệu khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với phần thềm lục địa mở rộng nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước này ở biển Hoa Đông lên Liên Hiệp Quốc trong tháng 10; (Vnplus 22/10) Nhật kêu gọi các nghị sĩ Hàn không thăm Takeshima

-(Vnexpress 22/10) Tàu Trung Quốc tiến gần đảo tranh chấp với Nhật: Tàu hải giám Trung Quốc lại xuất hiện ở vùng biển ngay sát quần đảo tranh chấp với Nhật Bản hôm nay, trong ngày thứ ba liên tiếp; Hạm trưởng tàu sân bay ‘muốn người Việt hiểu Mỹ hơn’

-(VOV 22/10) Nhật-Trung nối lại thảo luận đánh cá ở quần đảo tranh chấp: Cuộc thảo luận đã bị tạm ngưng từ tháng 2/2009 do hai bên không tìm được tiếng nói chung; (Nld 22/10) Trung Quốc tăng cường máy bay giám sát Senkaku

-(Petrotimes 22/10) Báo chí nước ngoài nói gì về chuyến “du lịch” Biển Đông của tàu sân bay Washington?:  Mới đây, tàu sân bay USS  George Washington đã đón tiếp một đoàn cán bộ liên ngành của Việt Nam; Biển Hoa Đông dậy sóng và “Gió đổi chiều” Obama

-(Petrotimes 22/10) Trung Quốc khó ‘mềm’ với Nhật nhưng ngại thách thức Mỹ?: Lãnh đạo Trung Quốc đã tránh đề cập đến quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku như là “lợi ích quốc gia cốt lõi” trong cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton hồi tháng 9 vừa qua; Thủ tướng Singapore: Vấn đề Biển Đông đã có dấu hiệu tích cực

-(Vnexpress 22/10) Trung, Nhật hủy đường dây nóng về biển đảo: Báo chí Nhật cáo buộc Trung Quốc gác lại kế hoạch lập cơ chế liên lạc phòng vệ hàng hải giữa hai nước, đáng lẽ sẽ đi vào thực thi từ cuối năm nay; (Gd 22/10) TQ ráo riết tăng cường khả năng vận tải trên biển vì biển Đông?

-(Bdv 22/10) Trung Quốc xây thêm căn cứ UAV theo dõi biển: Trung Quốc đã thiết lập thêm 2 căn cứ máy bay không người lái ở đông bắc tỉnh Liêu Ninh để giám sát trực tiếp các vùng biển ven bờ; (RFI 22/10) Hải quân Úc – Philippines tập trận năm ngày tại biển Đông

-(Vnplus 22/10) ASEAN-Trung Quốc sẽ thảo luận về COC ở Thái Lan: Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong cho hay vấn đề COC sẽ được các quan chức cấp cao ASEAN và Trung Quốc thảo luận tại cuộc họp sắp tới ở Phuket; (VOA 22/10) Biển Đông cần một bộ quy tắc ứng xử

-(DT 23/10) Tàu chiến Mỹ đến Campuchia tham gia diễn tập hải quân: Tàu khu trục USS Vandegrift của Mỹ cùng 2 tàu lặn và tàu cứu hộ đã cập cảng Sihanoukvile của Campuchia vào sáng qua để tham gia cuộc diễn tập hải quân chung CARAT lần thứ ba; (VNN 23/10) Hải quân Mỹ tính cách đảm bảo an ninh biển Đông

-(PLtp 23/10) Philippines muốn Úc là đối tác chiến lược: Ngày 22-10, hải quân hai nước Philippines và Úc bắt đầu cuộc tập trận thường niên lần thứ 12 mang tên Lumbas 2012; (TT 23/10) Singapore hối thúc ASEAN thảo luận về COC

-(TN 23/10) Trung Quốc tăng không lực ở biển Đông: Nước này vừa có động thái mới nhằm tăng cường hậu cần kỹ thuật cho chiến đấu cơ của hạm đội hải quân Nam Hải hoạt động tại biển Đông; Nga tăng cường quân sự trên đảo tranh chấp với Nhật

-(Vnexpress 23/10) Các nhà Việt Nam học bàn về ‘xung đột biển Đông’: Hơn 1.500 đại biểu đến từ 36 quốc gia, vùng lãnh thổ sẽ có mặt tại Hà Nội để tham dự hội thảo Việt Nam học lớn nhất, diễn ra cuối tháng 11; (Vnplus 23/10) Tàu lớn Trung Quốc có thể bị tiêu diệt ở Biển Đông

-(Ld 22/10) Khởi công xây dựng 3 trường tiểu học tại Trường Sa: Sáng 20.10, đông đảo cán bộ chiến sĩ và nhân dân 3 đảo Trường Sa Lớn, Sinh Tồn, Song Tử Tây thuộc huyện Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa) đã vui mừng chứng kiến lễ khởi công xây dựng Trường Tiểu học Trường Sa; “Bắt tay” Philippines ở biển Đông: Trung Quốc gây sức ép với Nhật?

-(TN 22/10) Vũ khí “thay đổi cuộc chơi” trên biển: Mỹ đang nỗ lực tạo ra bước ngoặt mới cả trong hải chiến lẫn do thám, cứu hộ trên biển bằng cách phát triển tàu nổi không người lái; Mỹ, Úc tập trận ở Đông Nam Á

-(VNN 22/10) Các nước Đông Nam Á hối hả sắm vũ khí: Cảnh giác trước Trung Quốc và phấn khích với thành công về kinh tế, Đông Nam Á đang tăng cường chi tiêu cho vũ khí quân dụng hạng nặng; (Antd 22/10) Trung Quốc – Philippines nỗ lực cải thiện quan hệ

-(TN 22/10) Báo Trung Quốc lại lên giọng hiếu chiến: Hoàn Cầu thời báo tuyên bố việc Trung Quốc vừa tập trận tại biển Hoa Đông cho thấy “Bắc Kinh sẵn sàng dùng hải quân giải quyết tranh chấp biển”; Cùng tiến ra vùng biển của Tổ quốc

-(TP 22/10) Biển Đông và Indonesia: Song trùng lợi ích: Lần đầu tiên vấn đề biển Đông được Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono nêu tại phiên họp toàn thể Đại hội đồng Liên Hợp Quốc; (Vnplus 22/10) “TQ không coi Điếu Ngư là lợi ích quốc gia cốt lõi”

-(Pltp 22/10) Thủ tướng Lý Hiển Long: Vấn đề biển Đông đã có dấu hiệu tích cực: Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã kêu gọi ASEAN nỗ lực xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC); Thị trấn Trường Sa chờ đón trường mới

-(Vnplus 21/10) “Cần 40 năm để khôi phục lại quan hệ Nhật – Trung”: Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Uichiro Niwa cho rằng ngay cả sau khi ban lãnh đạo Trung Quốc thay đổi vào tháng 11 tới, thì quan hệ Nhật – Trung cũng khó chuyển biến tốt; (RFI 21/10) Tuần duyên Nhật Bản cứu 64 thủy thủ Trung Quốc

-(VNN 21/10) ‘TQ dùng máy bay không người lái tranh chấp đảo’: Phía Trung Quốc sẽ cho máy bay không người lái xuất phát từ tàu hải quân xâm nhập không phận phía trên quần đảo Senkaku; (BBC 21/10) Cựu chủ tịch kêu gọi TQ vươn ra biển

Luật Đất đai và những bức xúc không thể bỏ qua – TVN

29 Th10

Luật Đất đai và những bức xúc không thể bỏ qua

Luật Đất đai 2003 đã để lại nhiều bức xúc không thể bỏ qua, không giải quyết sẽ làm cho quá trình phát triển thiếu bền vững, “cha đẻ” của Luật đất đai 2003, TS Đặng Hùng Võ phân tích.

  • LTS: Liên tiếp trong vài tháng qua đã có hàng loạt sự kiện có liên quan mật thiết với nhiệm vụ xây dựng Luật Đất đai mới. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn chỉnh Dự thảo, Chính phủ đã chính thức trình Quốc hội, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã bắt đầu quá trình thẩm định. Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành TW Đảng đã thông báo kết luận của Hội nghị, trong đó đã xác định đường lối về chính sách, pháp luật đất đai trong giai đoạn tới. Đường đi của phát triển đã rất rõ ràng. Nhiệm vụ còn lại là hoàn chỉnh Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi để thực hiện tốt nhất các chủ trương của Đảng về chính sách, pháp luật đất đai nước ta. Gs. TsKh. Đặng Hùng Võ, chuyên gia về chính sách, pháp luật đất đai đã viết bài báo nhiều kỳ này trên VietnamNet với mục đích phân tích về những thách thức mà chúng ta phải vượt qua trong hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai mới nhằm giảm đi các bức xúc hiện tại.

Không thực với chính luật

Luật Đất đai năm 2003 được xây dựng dựa trên các chủ trương chính trị đã được xác định tại Nghị quyết Trung ương số 26-NQ/TW ngày 12-3-2003 thông qua Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy, khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhìn lại quãng đường 10 năm thực hiện, có thể đánh giá những điểm được và chưa được của chủ trương cũng như việc thực thi các điều khoản cụ thể của pháp luật đất đai.

Nhìn khái quát, cái được cơ bản là đã tập trung vào cách thức vận hành quỹ đất quốc gia dưới góc độ nguồn vốn, được coi như một tài sản, sao cho gần hơn với cơ chế thị trường, tạo thuận lợi có lý hơn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững và thực hiện sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ. Trong câu viết trên tôi hay dùng từ “hơn” vì đó là đặc thù của một nước có nền kinh tế chuyển đổi, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, việc chuyển từ tư duy bao cấp sang tư duy thị trường là một thách thức rất lớn.

Luật Đất đai 2003 đã có một cố gắng đáng kể trong mô tả nội dung thực nhất, không bị sa đà vào những hình thức bóng bẩy. Ví dụ như sở hữu toàn dân về đất đai cũng được diễn đạt cụ thể thành quyền của Nhà nước tới đâu và quyền của người sử dụng đất tới đâu. Trong các quyền của Nhà nước có quyền thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư vì mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế. Đây là một quy định bị các chuyên gia pháp luật phê phán nhiều nhất, nào là trái với Điều 23 của Hiến pháp, nào là tạo nguy cơ tham nhũng, nào là làm cho khiếu kiện tăng cao, v.v.

Chúng ta cũng cần quay lại quá khứ một chút để xem xét lại nội dung thực của vấn đề. Mặc dù Luật Đất đai 1993 quy định cơ chế Nhà nước thu hồi đất chỉ được áp dụng cho các dự án vì mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh nhưng Luật lại không cho phép các tổ chức kinh tế được nhận chuyển quyền sử dụng đất nên Chính phủ đành phải hướng dẫn áp dụng cơ chế này cho tất cả các dự án đầu tư vì mục đích lợi lợi ích kinh tế. Như vậy là không thực với chính luật pháp.

Nghị quyết Trung ương số 26-NQ/TW (nói trên) đã quyết định áp dụng cơ chế này cho các dự án sản xuất kinh doanh. Luật Đất đai 2003 đã đưa ra giải pháp “trung dung” là cho phép áp dụng cơ chế nhà nước thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế trong một phạm vi hẹp bao gồm các dự án có hạ tầng dùng chung, các dự án nhóm A và các dự án có 100% vốn nước ngoài. Cách giải quyết này muốn hướng tới bước tiếp theo của đổi mới pháp luật là không áp dụng cơ chế nhà nước thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế nhằm loại bỏ các nguy cơ tham nhũng và khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai.

Trải qua gần 10 năm thực hiện, Luật Đất đai 2003 đã có tác động đáng kể vào quá trình chuyển dịch đất đai đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mọi dự án đầu tư phát triển đều được các địa phương quan tâm đáng kể về thu xếp đất đai. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt ở mức cao, thị trường bất động sản luôn nóng.

 


Ảnh: Doanh nhân Sài gòn Cuối tuần

Những bức xúc để lại

Mặt khác cũng rất đáng kể, Luật Đất đai 2003 đã để lại nhiều bức xúc không thể bỏ qua, không giải quyết sẽ làm cho quá trình phát triển thiếu bền vững.

Bức xúc của nông dân, phụ nữ, người có thu nhập thấp, người nghèo khi chưa yên tâm về quyền sử dụng đất đai

Như đã biết, thành công đầu tiên của sự nghiệp “Đổi Mới” là chính sách giao lại ruộng đất của hợp tác xã cho hộ gia đình để sử dụng ổn định lâu dài (1988 – 1993). Lập tức năng suất và sản lượng lương thực lại tăng lên vùn vụt, không chỉ đưa người nông dân thoát đói mà còn đưa nước ta lên nhóm đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Nhưng từ khi là một nước xuất khẩu gạo hàng đầu tới nay, năng suất và sản lượng nông nghiệp không tăng lên được nhiều, chất lượng nông sản ở mức thấp so với các nước khác trong khu vực.

Một nguyên nhân dễ thấy là người nông dân chưa thực sự an tâm đầu tư chiều sâu vào sản xuất nông nghiệp vì thời hạn sử dụng đất quá ngắn. Mặt khác, chính sách hạn điền cũng làm cho quy mô sản xuất khó phát triển theo mô hình các trang trại sản xuất lớn.

Hiện nay, vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp không cao, trong giai đoạn 2000 – 2009 vốn đầu tư cho nông nghiệp chỉ chiếm 8,3% tổng vốn đầu tư, trong khi nông nghiệp đóng góp tới 20% GDP, hơn nữa còn giảm theo thời gian. Vào năm 2006, các hộ nông dân đều có mức bình quân doanh thu chỉ khoảng 30 triệu đồng mỗi năm, vốn dưới 8 triệu đồng, đất canh tác trung bình chỉ khoảng 0,9ha, chủ yếu tận dụng lao động gia đình. Cả nước mới có 135.437 trang trại, chiếm dưới 1% tổng số hộ gia đình nông thôn, quy mô ruộng đất không cao (vùng núi cũng chỉ tới 10ha) và vốn sản xuất kinh doanh trung bình của 1 trang trại cũng chỉ ở mức 240 triệu đồng mỗi năm.

Bức tranh này cho thấy, đất đai là trung tâm của vấn đề tam nông nhưng chính sách đất đai lại không theo kịp. Luật Đất đai 2003 giữ nguyên thời hạn sử dụng đất như Chính phủ quy định trong các Nghị định về thi hành Luật Đất đai 1993.

Lời giải cho vấn đề thời hạn có nhiều ý kiến khác nhau nên Trung ương không quyết định mà để lại giải quyết sau. Khi gần hết thời hạn sử dụng đất vào năm 2013, gần như mọi nông dân đều hoang mang không biết Trung ương sẽ quyết định thế nào? Nhiều nông dân giỏi rất muốn phát triển quy mô sản xuất nhưng luôn ngại câu chuyện hạn điền, tập trung đất đai vượt hạn mà Nhà nước thu hồi thì hỏng hết. Họ đành quyết định mượn tên người khác hoặc ngừng lại ý định phát triển nghề nông.

Chuyển sang khía cạnh đất đai cho nhóm người thuộc các dân tộc thiểu số, phụ nữ, người nghèo. Pháp luật dân sự nước ta rất lúng túng khi xử lý khái niệm gia đình và cộng đồng vì cho rằng đây không phải là các đối tượng có địa vị pháp lý đầy đủ. Chính vì vậy mà pháp luật đi theo hướng mỗi gia đình, cộng đồng đều phải có một cá nhân đại diện, đứng ra chịu trách nhiệm pháp lý cho gia đình hay cộng đồng. Cách quan niệm như vậy là hoàn toàn đúng khi các luật tục bị bãi bỏ hoàn toàn. Trên thực tế cuộc sống, các luật tục vẫn có sức mạnh thực thi, nhất đối với vấn đề phụ nữ và người thuộc các dân tộc thiểu số.

Đất đai là một vấn đề luôn luôn gắn với các luật tục rất nặng nề. Để giải quyết hợp lý vấn đề đất đai, pháp luật luôn phải quan tâm tới vấn đề luật tục để đưa ra các quy định phù hợp nhằm bảo đảm tính công bằng cho phụ nữ và sử dụng tốt đất đai tại các vùng dân tộc thiểu số. Đối với người có thu nhập thấp, người nghèo cũng vậy, nhóm người yếu thế này đang cần những chính sách ưu đãi thực sự về đất đai.

Cá nhân không đủ sức để có đất thì nhà nước hãy tận dụng sức mạnh của cộng đồng mà giao đất cho họ. Pháp luật đất đai lúc này cần tới tính nhân bản của pháp luật. Bỏ qua tính nhân bản thì gặp phải sự bất công bằng giản đơn mang tính pháp lý. Lúc này cần các quy định pháp luật hợp lý để có được tính nhân bản nhưng không để lại các kẽ hở pháp luật có thể bị lợi dụng.

Luật Đất đai 2003 đã có những quy định ưu đãi về đất đai cho những người thuộc nhóm yếu trong xã hội nhưng chưa được bao nhiêu, chủ yếu dưới dạng ưu đãi về thủ tục, nghĩa vụ tài chính, v.v. Đó chưa phải là cách thức chủ yếu để giải quyết vấn đề này, cần có những giải pháp phù hợp hơn dựa trên sức mạnh của cộng đồng.

Bức xúc về tham nhũng trong quản lý đất đai còn đang ở nhóm đứng đầu trên “bảng tham nhũng”

Trong tất cả các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học về tình trạng tham nhũng ở Việt Nam, tham nhũng trong quản lý đất đai luôn đứng ở nhóm cao nhất. Trên bản đồ sạch tham nhũng trên thế giới của Tổ chức Minh bạch quốc tế, mức sạch tham nhũng ở Việt Nam cũng đứng ở nhóm gần cuối.

Nghiên cứu về tham nhũng trong quản lý đất đai do Đại sứ quán Đan Mạch, Đại sứ quán Thụy Điển và Ngân hàng Thế giới thực hiện phục vụ đối thoại về tham nhũng giữa Chính phủ Việt Nam và nhóm các nước tài trợ cho Việt Nam đã chỉ ra 2 dạng chủ yếu dẫn đến tham nhũng trong quản lý đất đai: một là tham nhũng xuất hiện trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, một dạng tham nhũng “vặt” nhưng tác động đến cỡ gia đình; và hai là tham nhũng xuất hiện trong quá trình thu hồi đất của người đang sử dụng để giao trực tiếp cho nhà đầu tư đã được chỉ định, một dạng tham nhũng “cụ” nhưng chỉ tác động đến các dự án đầu tư.

Theo lý thuyết về kiểm soát tham nhũng, người ta đưa ra biểu thức mô tả tham nhũng dưới dạng tỷ lệ thuận với thẩm quyền quyết định và tỷ lệ nghịch với độ minh bạch và trách nhiệm giải trình. Thẩm quyền quyết định về đất đai không được giám sát tốt sẽ tạo nên nguy cơ tham nhũng. Cách thức quản lý thiếu minh bạch và cán bộ quản lý thiếu trách nhiệm giải trình cũng tạo nên nguy cơ tham nhũng.

Luật Đất đai 2003 đã tập trung vào tạo lập các cơ chế hợp lý để giám sát việc thực thi thẩm quyền quyết định về đất đai, cải cách thủ tục hành chính, công khai hóa và minh bạch hóa quản lý và tăng cường trách nhiệm giải trình của cán bộ quản lý. Công việc kiểm tra, thanh tra đất đai được tăng cường trong bộ máy hành chính, công việc giám sát được đẩy mạnh trong hệ thống các cơ quan dân cử cũng như hệ thống các tổ chức chính trị – xã hội.

Tham nhũng trong quản lý đất đai còn nhiều có nghĩa là các quy định của Luật vẫn chưa đủ chi tiết hoặc chưa thật đầy đủ hoặc chưa được thực hiện như yêu cầu. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cũng chưa mang lại hiệu quả thực sự.

Tất nhiên, đi bắt tham nhũng rất khó khăn và tốn kém. Giải pháp tốt không phải là tăng cường bộ máy đi bắt tham nhũng mà là sửa đổi pháp luật để loại bỏ hết các nguy cơ tham nhũng.

Bức xúc về khiếu kiện của dân đối với đất đai ngày càng nhiều, càng nặng

Một số liệu mọi người đều biết là khiếu kiện của dân về đất đai đang chiếm từ 70% tới 80% tổng lượng khiếu kiện của dân, trong đó hầu hết là khiếu kiện có liên quan tới quyết định thu hồi đất của Nhà nước và mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi với tỷ trọng 70% khiếu kiện về giá đất. Hiện nay, các cơ quan nhà nước các cấp đang có nỗ lực lớn về giải quyết khiếu kiện của dân về đất đai. Về mặt số lượng cũng giải quyết được tới 80% vụ việc xẩy ra hàng năm nhưng nói chung chất lượng giải quyết không cao.

Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, việc giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay không bảo đảm chất lượng nên thường giải quyết không dứt điểm, hầu hết là dân tiếp tục khiếu nại. Trong giai đoạn 2002 – 2004, đã có 4.666 đơn gửi lên Chính phủ và Thanh tra Chính phủ khiếu nại về quyết định giải quyết cuối cùng của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thanh tra Chính phủ đã xem xét lại 64 quyết định thì có đến 34 phải sửa nội dung (chiếm 53,1%). Trong năm 2005, Thanh tra Chính phủ đã xem xét lại 103 quyết định thì có tới 47 quyết định phải thay đổi một phần nội dung (chiếm 45,6%). Trong năm 2006, kiểm tra lại 256 quyết định giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì 20,8% phải sửa đổi quyết định, 10,2% phải hủy bỏ quyết định và 21,9% phải tiếp tục xem xét thêm để giải quyết (tổng là 52,9%). Nói chung, khoảng một nửa số lượng quyết định là chưa đúng. Vì vậy, tình trạng khiếu nại của dân vẫn tiếp tục tăng lên cả về số lượng và mức độ.

Tương tự như giải pháp giảm tham nhũng, cách tiếp cận đúng đắn để giảm khiếu kiện của dân về đất đai không phải là tăng cường bộ máy giải quyết khiếu kiện mà là loại bỏ các nguy cơ phát sinh khiếu kiện của dân. Như trên đã nói, khiếu kiện của dân về đất đai có nguyên nhân từ quyết định thu hồi đất, quyết định giá đất, quyết định giá trị bồi thường, hỗ trợ, quyết định nơi tái định cư không tương xứng, thiếu hợp lý hoặc bất công bằng.

Bức xúc về yếu kém trong thực thi pháp luật đất đai ở hầu hết các địa phương

Trong gần 10 năm qua, dưới góc nhìn từ Trung ương xuống, cũng như dưới góc nhìn từ dân lên đều có chung nhận định là việc thực thi pháp luật đất đai tại đa số các địa phương không tốt, cấp địa phương càng thấp thì yếu kém càng nhiều.

Ví dụ như Luật Đất đai 2003 quy định rằng bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành phải phù hợp với giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường. Trên thực tế, bảng giá đất này chỉ bằng từ 10% tới 70% giá đất trên thị trường, tức là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở hầu hết các địa phương đều vi phạm pháp luật đất đai.

Hoặc như một ví dụ khác về cấp giấy chứng nhận lần đầu, Luật quy định thời hạn dài nhất là 56 ngày nhưng chắc rất ít người có thể nhận được giấy chứng nhận trong thời hạn này, tức là hầu hết các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đều vi phạm pháp luật.

Tình trạng yếu kém trong thực thi pháp luật đất đai có nhiều nguyên nhân, có thể do cán bộ quản lý yếu chuyên môn, kém đạo đức, hoặc cũng có thể do cơ chế phân cấp nhưng không gắn với cơ chế giám sát việc thực thi pháp luật.

Luật Đất đai 2003 đã phân cấp quyền quyết định về đất đai và quản lý đất đai trên nguyên tắc: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền đối với đất đai do tổ chức, cơ sở tôn giáo, nhà đầu tư nước ngoài sử dụng; Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đối với đất đai do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng.

Việc phân cấp quản lý đất đai cho cả hai cấp tỉnh và huyện đang tạo nên sự chia cắt trong quản lý, hồ sơ địa chính không thống nhất. Lý luận về quản lý đất đai cũng như kinh nghiệm quản lý ở các nước phát triển cho thấy, quản lý đất đai cần được trao quyền hoàn toàn cho địa phương nhưng không phân thành nhiều cấp quản lý. Cấp được trao thẩm quyền có hệ thống quản lý theo ngành dọc xuống tới các địa phương cấp dưới.

Do thực thi pháp luật thời gian qua ở địa phương chưa tốt nên có nhiều ý kiến cho rằng phải thu bớt quyền về Trung ương. Cũng có một luồng ý kiến khác cho rằng cần tiếp tục trao thẩm quyền cho địa phương cấp tỉnh nhưng cần phải thiết lập hệ thống giám sát – đánh giá thực thi pháp luật.

Còn nữa

GS Đặng Hùng Võ

 

Nỗi buồn Nam Cao – VHNA

28 Th10

Nỗi buồn Nam Cao

Lê Thị Thanh Tâm

 (Viết nhân kỷ niệm ngày sinh nhà văn Nam Cao 29-10-1917)

Tưởng nhớ một nhà văn tên tuổi, hẳn cũng nên viết trong tâm tình chân thật. Đọc lại Nam Cao một chiều mùa thu, nhận ra cái gì lớn vẫn lớn, cái gì thiếu vẫn thiếu.

Nhân vật của Nam Cao hầu hết là không thể tự quyết định được cách sống của mình. Từ Chí Phèo, Thị Nở, Binh Chức, Năm Thọ đến Lão Hạc, Hộ, Thứ, Điền…, tất cả họ đều có chung một thân phận là bị điều kiện hóa tối đa. Họ muốn thế này thế khác, nhưng “xã hội không cho”. Họ muốn vươn tới những điều cao cả, nhưng bị cuộc sống mòn mỏi nên không thể làm gì được. Họ muốn cao quí mà thành ra thấp hèn, muốn yêu thương mà thành quỉ dữ. Đó là một kiểu nhân vật quá đặc biệt của một thời, nhưng chiều sâu của nó lại vượt khỏi dự cảm “phê phán hiện thực” của Nam Cao, để trở thành sự “phô bày căn tính”- điều mà Nam Cao dường như chưa có ý nói rõ.

Một đóng góp khác rất đáng chú ý của Nam Cao là các nhân vật của ông thường phải đứng giữa các lằn ranh, giữa nhiều lưỡng lự . Chính lựa chọn thông minh này giúp cho Nam Cao thể hiện tối đa khả năng bậc thầy về miêu tả tâm lý. Hầu hết nhân vật của ông bao giờ cũng là nhân vật tình huống. Tình huống bi thảm như Chí Phèo chết đi để mong được tỉnh, tình huống bà cụ ăn một bữa no mà chết, tình huống mua hay không mua nhà, tình huống bán hay không bán chó, tình huống chọn lựa giữa gia đình và sự nghiệp (mà kỳ thực là thất bại ở cả hai lựa chọn)… Nhân vật sống trong mặc cảm và ngạo mạn, sợ hãi và biến dạng là những chủ đề rất hấp dẫn trong văn chương thế giới. Ở phương diện này, Nam Cao đã gặp gỡ rất nhiều với các danh gia. Ngòi bút của ông ít khi vụng về khi lách sâu vào nỗi đau và hy vọng của con người.

Nam Cao dường như là người có biệt tài kể về những uẩn khúc nặng nề của tầng lớp trí thức. Viết về trí thức, nhất là trong những thời điểm quá “nhạy cảm” của lịch sử xã hội Việt Nam, bao giờ cũng khó, rất khó. Người trí thức là tâm điểm của những dày vò về tinh thần. Nói cho sòng phẳng, tác phẩm càng lớn thì thử thách về sự sâu sắc của người trí càng lớn. Từ đó, cũng cần thấy rằng hình tượng “con người tự khóc” là sáng tạo độc đáo và bứt phá  của Nam Cao. Con người tự khóc cho mình, cho những chuyến đi quá xa vào sự tha hóa, cho những cái “chết trong tâm hồn”, cho sự dằn vặt giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, khóc bởi quá nhiều chọn lựa… Các nhân vật của Nam Cao thường có gương mặt bên trong rất âm thầm, rất ám ảnh.

Tác phẩm Nam Cao cung cấp những băn khoăn rất sâu về căn tính dân tộc. Phải dùng từ “cung cấp” vì ông không có ý đặt nó thành “vấn đề”. Ông bày nó ra. Đọc lại truyện Nam Cao, người đọc vẫn luôn có cơ hội “cày xới”, nghiền ngẫm lại những “tập tính tập khí” đầy “bản sắc” của một Việt Nam xưa: chửi rủa, cạnh khóe, than vãn, kỳ thị, ăn vạ Những “tập khí” lạ lùng này không biết xuất hiện từ bao giờ, nếu nhìn từ một nền văn hiến mà bản lĩnh dân tộc từng được xem là tinh hoa của khu vực, từng trở thành “học phong”, “hào khí”?

Tất cả những điều nói trên là cống hiến tuyệt vời của Nam Cao cho văn chương nước nhà. Người đọc qua nhiều thời đã trân trọng, cảm thương những nhân vật từng đổ nước mắt trên trang viết Nam Cao. Tấm lòng và tài năng của nhà văn xứng đáng được tưởng nhớ dài lâu.

Người đọc hiện thời, dù rất mực chia sẻ với các nhân vật “bị nạn” của Nam Cao, vẫn có thể nghĩ mãi một điều này: Con người có quyền đau khổ nhưng có nhất thiết phải băng hoại như một phương cách chống đối không? Rằng họ chắc sẽ được thương yêu nhiều hơn khi bị “vong hóa”, biến dạng?

Nam Cao đã “lỡ tay” nhiều lần để cho các nhân vật tự tung tự tác, đi về hướng băng hoại với những lời lầm bầm kết tội xã hội, đất trời. Đó là sự yếu đuối, nếu không phải của nhân vật thì của tác giả, nếu không phải của tác giả thì của nơi đã tạo ra tác giả… Sự yếu đuối này không thể xem là một khía cạnh của tài năng sáng tạo.

Nam Cao giàu ý tưởng. Tuy nhiên ý tưởng về một sự nghiền ngẫm cay đắng của con người trước thời cuộc mà ông thể hiện chứa chan trong từng tác phẩm đã không tìm thấy một mô hình sáng tạo tương hợp để ông có thể trở thành nhà văn của thế giới. Mô hình của Nam Cao khá “nghèo nàn”. Người đọc thường bắt gặp những biểu hiện tự thuật của Nam Cao như: anh giáo (giáo khổ), nhà văn, những người vợ nông nổi, …kể cả sự từng trải, biến cố trong đời các nhân vật cũng hao hao anh giáo Trần Hữu Tri. Mô hình này không chuyên chở nổi những ý tưởng kiểu như: sống mòn, sống thừa, sống vô nghĩa – những ý tưởng vốn là những suy tư “cao cấp” của những bậc thầy văn chương thế giới. Nỗi buồn của Nam Cao là nỗi buồn của sự bất lực đã bị nhìn thấy từ hệ quả của xã hội bần cùng. Công bằng mà nói, Nam Cao đã chọn cách nhìn như vậy cho nỗi buồn của mình (chứ không chắc rằng đó là lý do cốt yếu?!). Nỗi buồn của Nam Cao đã bị chính ông nhìn sang hướng khác, hướng ngoại, điều ấy không làm nên một Nam Cao vĩ đại. Những phát ngôn kết án xã hội, qui kết cộng đồng, than vãn về sự trì trệ… không thể làm nên một Nam Cao vượt tầm.

Tài năng thiên phú của Nam Cao về ngôn từ tâm lý, về cách tạo dựng hồn vía nhân vật chỉ giúp cho ông sáng tạo nên những điển hình xúc động và sống động. Còn cái gì đó sâu xa hơn đằng sau nỗi buồn của ông vẫn chưa được chính ông bày tỏ. Nếu như nhà văn đặt nỗi buồn trong một chiều kích khác (trong quan hệ tương chiếu giữa con người này và tha nhân, con người này với thế giới, con người này với chính nó…), đồng thời tìm lấy ở nội tâm sâu sắc của mình một câu trả lời nào đó bớt “làng xã” hơn, bớt “vụn vặt” hơn, thì hẳn những Chí Phèo, những Thứ, những Hộ, … vẫn có thể đánh động người đọc nhiều hơn. Phần lớn các nhân vật “kinh điển” trong kho tàng văn chương thế giới thường phải chạm đến những vấn đề của bản ngã, định mệnh và suy tư triết học về tồn tại. Đó là điều mà Nam Cao hãy còn dè dặt… Có phải, cái chết sớm đã không cho ông cơ hội nào để nói thêm với người đọc về những lựa chọn của mình? Về xu thế mà ông sẽ đi theo? Tiếp tục tỏa sáng? Hay lặng lẽ trong tìm kiếm?…

Nam Cao bằng việc viết văn, bằng việc sáng tạo nhân vật, bằng những giới hạn của các thiên truyện, đã vô tình cho thấy nhiều hơn sự hạn hẹp cố hữu và di truyền của bản tính Việt, mặc dù tư tưởng ông rõ ràng hướng tới một quan niệm tương đối “dễ đọc”hơn: thương yêu người nghèo, bênh vực người nghèo, suy nghĩ có nhân cách và phê phán xã hội. Cái “bản tính Việt hạn hẹp có tính di truyền” ấy ẩn hiện trong tác phẩm Nam Cao, được nhà văn vô tình (hay cố ý?) bàn đến, có lẽ là “phẩm hạnh” và “tầm thấp” của những con người vì nhiều lý do mà đánh mất mọi thứ, dễ dàng đánh mất và dễ dàng đổ lỗi cho ai đó. Hay đúng hơn, họ (các nhân vật này) không được chuẩn bị nhiều cho sự trưởng thành về tâm hồn – một sự trưởng thành có được do những am hiểu nhẫn nại về nội tâm và ý chí. Phải chăng, nông thôn Bắc bộ những năm lao khổ, gần kề cái đói, đã làm lu mờ, tan mất sự trưởng thành ấy? Phải chăng, một dân tộc nhiều đau khổ thì phải méo mó đi, nhất định biến thái, mới là sản phẩm của một hiện thực? Phải chăng, việc đòi người khác cho mình được sống lương thiện lại trở thành xu hướng đáng “hoan nghênh” đến thế, xuất phát từ một chủ nghĩa cảm thương? … Chúng ta có quyền suy tư những gợi ý này từ di sản quá nhiều thao thức mà Nam Cao để lại.  

Do ánh sáng ngôn ngữ trần thuật độc đáo của Nam Cao mà người đọc cảm nhận những trang viết của ông “hình như” có nhiều tư tưởng. Nhưng tư tưởng được phát biểu giống như một lời khuyên của nhà phê bình, có lẽ, về bản chất không phải là tư tưởng của nghệ thuật. Tư tưởng đích thực toát ra từ tác phẩm nghệ thuật không nên “bị phát biểu ra” thẳng tuột trong một tình thế thiếu hư cấu, mà nó phải “tự phát tiết qua hình tượng” mới đúng. Nam Cao đã phát biểu quá nhiều, nói chen vào nhân vật quá nhiều. Những phát biểu này đậm đặc đến nỗi chúng thường được dẫn chứng như là “tư tưởng chủ đề”, “quan niệm nghệ thuật” độc đáo của Nam Cao.

Không! Trong trò chơi văn chương, chính Nam Cao cũng không ngờ chuỗi ngôn từ mà ông khổ công sử dụng lại mang một tinh thần khác. Nhìn vào các nhân vật của Nam Cao, người ta có thể hình dung một hệ thống các nạn nhân; hết nạn nhân của sự bần cùng hóa đến nạn nhân của “cơm áo ghì sát đất”, hết nạn nhân của đời sống rỉ mòn về tinh thần đến nạn nhân rất “cá biệt”: bị từ chối quyền làm người… Dĩ nhiên nhà văn có thể chọn bất kỳ đề tài nào, kể cả các đề tài về những nạn nhân. Song, điều đáng nói là ông đặt cái nhìn từ phía nạn nhân và chỉ từ phía nạn nhân, cất lên tiếng nói thầm thì từ cơn trầm cảm triền miên của những số phận không còn niềm tin nào với đời. Bởi vậy mà mỗi tác phẩm của Nam Cao đều rất dễ nhận lấy sự cảm thông của người đọc, nhưng lâu dài thì không thể thuyết phục những cách đọc khác, những rung động khác…- những cách đọc và rung động không an tâm với kiểu suy nghĩ đơn sơ về sự tồn tại của nỗi đau. Tâm sự “chậm dần đều” và u uất trong tác phẩm Nam Cao thường dừng lại ở những chiêm nghiệm có tính tự thuật, tự truyện, tự vấn của nhà văn, chưa đủ chi tiết để có thể nằm sâu trong cấu trúc nghệ thuật, chưa đủ thành một thứ nghệ thuật tinh lọc và nghiệt ngã.

Lẽ nào điều lớn lao duy nhất trong văn chương Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo như nhiều người đọc từng tâm đắc, rằng tư tưởng quan trọng nhất của ông là thương yêu hết thảy những người nghèo khó?

Xét cho cùng, cảm thông với các nạn nhân là đức tính quí báu. Nhưng chỉ nhìn con người như những nạn nhân lại không hẳn là sâu sắc. Cái nhìn ấy có thể thấm đẫm tình người, nhưng rất khó đi xa.

Nỗi buồn Nam Cao để lại trên trang viết khiến người đọc băn khoăn: bởi chính tác giả cũng chỉ truy vấn nỗi buồn trong một chiều tác động, bởi chính tác giả còn “di lý” nỗi buồn ấy sang cái nhìn đơn giản về quan hệ con người-xã hội (theo kiểu: con người chỉ tốt lên nhờ xã hội, chỉ xấu đi bởi xã hội), thì làm sao người đọc có thể tin rằng nhà văn Nam Cao thực sự là một tài năng tầm cỡ?

Nam Cao rất có tài, rất có tâm, song chưa thể là nhà văn tầm cỡ. Riêng điều ấy đã là một nỗi buồn lớn!

                                                                                                                        Giảng Võ, tháng 10 năm 2012

 

NHỮNG SỰ KỲ LẠ VỀ RÙA THẦN HỐ GƯƠM – vietsuky

28 Th10

NHÌN LẠI LỊCH SỬ *

NHỮNG SỰ KỲ LẠ VỀ RÙA THẦN HỐ GƯƠM

KS. PHAN DUY KHA

Bà con Việt kiều ta ở nước ngoài, với nỗi lòng không nguôi nhớ về Tổ quốc, thường treo bức ảnh Hồ Gươm với Tháp Rùa cổ kính ở những chỗ trang trọng nhất trong căn phòng ấm cúng. Bạn từ miền Nam, miền Trung ra, bạn từ miền núi có dịp về thủ đô, không thể không dành chút ít thời gian ghé thăm Hồ Gươm. Còn trong đời, nến bạn chưa một lần được về Hà Nội, bạn cũng đã có ít nhất đôi ba lần nhìn thấy toàn cảnh Hồ Gươm, trên màn ảnh nhỏ, với cuộc đua xe đạp, những cuộc chạy việt dã vòng quanh bờ hồ mà ống kính truyền hình trực tiếp đặt ở bốn góc hồ truyền đi khắp nước. Gần nhất, người dân thủ đô, trên đường đến cơ quan, có thể mỗi ngày đôi lần đi qua bờ hồ. Gần hơn nữa, những người ở xung quanh bờ hồ sáng sáng vẫn ra đây tập thể dục dưỡng sinh, hoặc chiều chiều bách bộ một vòng quanh hồ đón làn gió mát để xua bớt đi ưu tư trong cuộc sống bề bộn đời thường… Hồ Gươm gần gũi và thân thương biết bao trong đời sống mỗi người chúng ta.

 

Hồ Gươm (hay còn gọi hồ Hoàn Kiếm) nằm ở giữa lòng thủ đô Hà Nội. Có thể gọi Hồ Gươm là trung tâm của thủ đô với cả ý nghĩa về mặt địa lý cũng như tâm linh, tình cảm. Nhìn lên bản đồ thành phố, Hồ Gươm như một tấm gương hình bầu dục dẹt, đặt theo hướng Bắc Nam, với chiều dài hơn 600m, chiều rộng khoảng 200m, đường chu vi khoảng 1700m. Với một diện tích hạn hẹp 12 ha mặt nước, trong lòng hồ có đến hai hòn đảo. Hòn đảo ở phía Bắc lớn hơn được gọi là đảo Ngọc, trên đó có đền Ngọc Sơn. Vì đảo ở gần bờ nên người ta bắc một chiếc cầu nhỏ để đi ra đền. Đó là cầu Thê Húc (Thê Húc nghĩa là đọng ánh nắng ban mai). Hòn đảo ở gần giữa hồ bé hơn, là nơi rùa có thể bò lên phơi nắng nên được gọi là Gò Rùa. Ngôi tháp nhỏ trên Gò Rùa được gọi là Tháp Rùa. Với mực nước sâu khoảng 1,5m và lớp bùn dày khoảng 1m, Hồ Gươm chất chứa trong lòng bí ẩn lớn nhất: đó là loài rùa Hồ Gươm, gắn liền với truyền thuyết chổng giặc ngoại xâm của dân tộc ta đầu thế kỷ XV.

Chuyện kể rằng, thuở ấy nước ta bị giặc Minh xâm lược. Chúng đặt ách đô hộ lên đầu lên cổ nhân dân ta: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai họa (Nguyễn Trãi – Cáo Bình Ngô). Từ đất Lam Sơn (Thanh Hóa), người anh hùng dân tộc Lê Lợi được thần nhân trao cho một thanh gươm báu đuổi giặc. 10 năm sau, ông đã tiến ra bao vây kinh thành Thăng Long mà hồi ấy gọi là Đông Đô, buộc tướng giặc Vương Thông phải cởi giáp cầu hòa: Đông Đô đất cũ thu về (Nguyễn Trãi –Cáo Bình Ngô). Đất nước thanh bình. Một lần, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và đoàn tùy tùng bơi thuyền dạo chơi trên hồ Lục Thủy (Lục Thủy có nghĩa là nước xanh), bỗng có một con rùa lớn nổi lên, đòi lại gươm báu: Lê Lợi tung thanh gươm về phía con rùa thì lạ thay, rùa liền cắp lấy thanh gươm, lặn sâu xuống nước. Lê Lợi bảo tả hữu:

– Đức Long Quân cho ta mượn gươm báu đế trừ giặc Minh, nay việc lớn đã thành, sông núi đã thanh bình, Người sai Rùa thần lên lấy lại.

Từ đó, hồ Lục Thủy được mang tên là hồ Trả Gươm (cũng gọi là Hoàn Kiếm) mà nhân dân ta quen gọi là Hồ Gươm. Câu chuyện trên đây mang một triết lý sống của dân tộc ta. Đó là nhân dân ta luôn luôn khát khao hòa bình và chỉ cần đến vũ khí khi có giặc ngoại xâm.

Câu chuyện trả gươm cho Rùa thần là một huyền thoại. Nhưng rùa Hồ Gươm lại là những sinh vật có thực. Bạn là người ở xa về thủ đô, chắc chưa có dịp nào nhìn thấy rùa Hồ Gươm, vì rất hiếm khi rùa nổi lên mặt nước. Nhưng bạn có thấy tiêu bản của một con rùa Hồ Gươm khi vào thăm đền Ngọc Sơn. Con rùa này khi còn sống dài 2,1m, ngang 1,2m và nặng tới 250kg, chết vào năm 1968. Theo các nhà khoa học, tuổi của nó có thể đến 400 – 500 năm, tức là có thể được sinh ra vào khoảng thời Lê Thái Tổ. đuổi xong giặc Minh và trả gươm cho Rùa thần. Có nhà nghiên cứu từng thống kê lần rùa xuất hiện trên mặt hồ trong những năm gần đây: năm 1991 – 3 lần; năm 1992 – 3 lần; năm 1993 – 14 lần; năm 1994 – 7 lần (theo tài liệu của phó giáo sư sinh vật Hà Đình Đức). Cũng theo ông Hà Đình Đức thì năm 1993 do nạo vét lòng hồ, làm xáo trộn sự yên tĩnh hàng ngàn năm của rùa nên rùa mới nổi lên nhiều như thế.

Hồ Gươm thời Lê còn ăn thông với sông Hồng. Hồ kéo dài, cắt qua các phố Hàng Khay, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, ăn dọc theo phố Hàng Chuối, thông ra sông Hồng khoảng cảng Hà Nội ngày nay. Điều đó đã được các bản đồ kinh thành Thăng Long lập từ thời Hồng Đức (1490) xác nhận. Có người sẽ nghĩ rằng có thể từ thuở xa xưa, rùa từ sông Hồng vào ẩn mình sinh sống ở đây, rồi sau này hồ bị lấp nên không còn đường ra nữa. Thế nhưng, trong lịch sử từ xưa tới nay, chúng ta không hề thấy có tài liệu nào ghi chép về việc rùa lớn xuất hiện ở sông Hồng. vả lại, từ xa xưa, sông Tô Lịch ăn thông với sông Hồng và còn thông với các hồ ở Thăng Long. Thế nhưng, có một điều hết sức kỳ lạ là trong hàng chục hồ ở thủ đô có diện tích xấp xỉ Hồ Gươm (như hồ Bảy Mẫu, hồ Thiền Quang, hồ Vạn Phúc, hồ Đống Đa, hồ Thủ Lệ…), không có hồ nào có loài rùa lớn sinh sống như Hồ Gươm cả. Ngay Hồ Tây, rộng gấp hơn 40 lần Hồ Gươm (500 ha mặt nước), là một khúc cong của sông Hồng bị bồi lấp dần thành hồ – ta cũng không hề gặp loài rùa lớn này. Phải chăng, rùa Hồ Gươm là sản phẩm duy nhất của Hồ Gươm và đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử, khi thiên nhiên mới tạo ra châu thổ sông Hồng? Sự xuất hiện và tồn tại của nó phải chăng liên quan đến loài tảo lục của Hồ Gươm? Cũng theo phó giáo sư Hà Đình Đức, rùa Hồ Gươm là một loài hoàn toàn đặc biệt chưa hề có trong các sách từ điển về rùa của quốc tế (cuốn Encyclopedia of Tortles – Kiến thức bách khoa về rùa và cuốn Tortles of the World – Các loài rùa trên thế giới).

Một điều bí ẩn nữa là đứng về mặt cộng đồng, một loài vật sống trong môi trường tách biệt như thế thì số lượng cá thể trong loài phải đủ lớn để duy trì nòi giống (nhà văn Nguyễn Dậu từng sống hàng chục năm bên bờ hồ đếm được 17 con rùa có đặc tính, màu sắc khác nhau và có chiều dài khoảng từ 0,5 đến 2,7m). Mà khi có một quần thể như thế thì hiện tượng sinh, lão, bệnh, tử ắt phải xảy ra. Hiện tượng rùa sinh đẻ, chúng ta đã biết. Nhà văn Nguyễn Dậu từng mô tả về hiện tượng này trong tập truyện Rùa Hồ Gươm của ông. Nhưng còn hiện tượng rùa già và chết một cách tự nhiên là hết sức hiếm (trừ trường hợp những kẻ bất lương, ác độc cố tình giết chúng như trường hợp con rùa bị chết vào năm 1968 đã nhắc ở trên). Phải chăng, rùa Hồ Gươm có cuộc sống trường tồn? Nhưng dù trường tồn thì rùa Hồ Gươm vẫn là những sinh vật theo đúng nghĩa đen của từ này. Là sinh vật, chúng phải ăn, uổng và trao đối khí oxy vói môi trường. Một sự thay đổi nhỏ của môi trường cũng có thể ảnh hưởng lớn đến đời sống của loài rùa quý này, gây tác hại mà chúng ta không the lường hết được.

Rùa Hồ Gươm là một loài rùa đặc biệt chỉ có ở Hồ Gươm như chúng tôi đã căn cứ vào điều kiện địa lý – lịch sử trong phần phân tích ở trên. Về mặt sinh học, các nhà chuyên môn sẽ nghiên cứu để có kết luận xác đáng hơn. Tuy nhiên, việc nó tồn tại ở Hồ Gươm, trong một môi trường hạn hẹp, giữa lòng đô thị tách biệt hàng ngàn năm nay là một sự bí ấn kỳ lạ. Chỉ xét riêng về sự bí ẩn kỳ lạ trong đời sống của loài sinh vật này, chúng ta có thể coi rùa Hồ Gươm là Rùa thần. Chúng tôi xin được dùng danh từ Rùa thần ở đầu bài với ý nghĩa này. Việc gắn Rùa thần vào một thời kỳ lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta càng làm cho lịch sử hiện lên gần gũi chúng ta hơn nhưng cũng lung linh huyền ảo hơn. Vì vậy, Rùa thần Hồ Gươm phải được coi là quốc báu. Nó không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa mà còn về cả khoa học, không chỉ riêng đối với Việt Nam mà còn với cả thế giới!

Những trục giao thông chính của nước ta đều hướng về thủ đô. Đến lượt những đường phố chính của thủ đô lại hướng về Hồ Gươm. Hồ Gươm là một điếm sáng trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân tộc. Trong tình hình mật độ dân số gia tăng, các công trình xây dựng kiến trúc phát triển ồ ạt ở thủ đô hiện nay, vấn đề đảm bảo một môi trường sống không đổi cho rùa Hồ Gươm cần phải được đặt ra ngay từ bây giờ. Xin hãy xem Hồ Gươm như một sinh thể nhạy cảm. Mọi đụng chạm đến địa điểm này cần phải được cân nhắc thận trọng, tránh tái diễn những công trình cải tạo phản khoa học, phản văn hóa tương tự như việc xây kè bê tông quanh mép Gò Rùa vào năm 1993 (làm mất chỗ rùa đào hố đẻ trứng và bò lên những khi cần thiết). Điều kiến nghị cuối cùng, việc bảo vệ Hồ Gươm cần phải được nâng lên thành luật. Nhắc đến Hồ Gươm là nhắc đến bề dày truyền thống của văn hóa, của lịch sử dân tộc. Vì vậy, luật bảo vệ Hồ Gươm phải có những đặc thù riêng, không thế chỉ là luật bảo vệ môi trường chung chung.

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Mời đọc: + 159. THỜI DỰNG NƯỚC TRONG TƯ DUY CỦA CHÚNG TA NGÀY NAY; + 160. VIỆT THƯỜNG THỊ TRONG BUỔI ĐẦU NỀN VĂN MINH DÂN TỘC; + 161. THỬ LÝ GIẢI GIẤC MƠ CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG; + 162. ĐÂU LÀ QUỐC ĐÔ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT ?; + 163. VỀ CỘI NGUỒN VÀ HAI CUỘC THIÊN DI CỦA NGƯỜI VIỆT; + 164. BÍ ẨN NHỮNG HÌNH KHẮC TRÊN ĐÁ Ở SA PA, + 165. NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”; + 166. LẠC LONG QUÂN – ÂU CƠ MỘT TRUYỀN THUYẾT ĐẸP CỦA DÂN TỘC TA; + 167. THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG; + 168. THỬ GIẢI MÃ TRUYỀN THUYẾT THÁNH GIÓNG; + 169. THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI AN DƯƠNG VƯƠNG; + 170. VÌ SAO AN DƯƠNG VƯƠNG GẶP KHÓ KHĂN KHI XÂY THÀNH ỐC?; + 171. TRIỆU ĐÀ LÀ CON CHÁU VUA HÙNG Ư?; + 172. ĐI TÌM NÚI NÙNG TRÊN ĐẤT THĂNG LONG; + 173. CÂY GẠO LÀNG DƯƠNG LÔI, SƯ VẠN HẠNH VÀ VUA LÝ CÔNG UẨN; + 174. THĂM ĐỀN RỒNG, NGHĨ VỀ SỐ PHẬN ÉO LE CỦA LÝ CHIÊU HOÀNG; + 175. BÍ ẨN VỀ CÁI CHẾT CỦA HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG; + 176. THỬ GIẢI NGHĨA ĐÔI VẾ CÂU ĐỐI Ở CHÙA BỘC; + 177. ĐI TÌM VÓC DÁNG NGOẠI HÌNH VUA QUANG TRUNG.

NGUYÊN CT QUỐC HỘI NGUYỄN VĂN AN CŨNG TỎ RA THẤT VỌNG VỀ KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TW 6 – PVĐ

28 Th10

NGUYÊN CT QUỐC HỘI NGUYỄN VĂN AN CŨNG TỎ RA THẤT VỌNG VỀ KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TW 6

 
Sáng nay, Câu lạc bộ Thăng Long là nơi tập hợp các lão thành cách mạng sinh hoạt thường kỳ để tham gia góp ý cho việc sử đổi Hiến pháp 1992; Đây là Câu lạc bộ dưới sự chủ trì của 2 ông Nguyễn Văn An và Đặng Quốc Bảo…
Theo một vài nguồn tin của vài cử tọa tham gia sinh hoạt sáng nay cho biết, phát biểu tại buổi sinh hoạt, ông Nguyễn Văn An cũng đã bày tỏ sự thất vọng về kết quả của Hội nghị TW 6 ?
 
PV

Tới nơi có những kẻ bắt cóc thân thiện nhất thế giới – vnn

28 Th10

Tới nơi có những kẻ bắt cóc thân thiện nhất thế giới

Gần đây, khoảng trống an ninh đã khuyến khích một nhóm người Bedouin ở nửa nam bán đảo Sinai đòi trả tự do cho người cùng bộ tộc ngồi tù bằng một chiến thuật lạ đời: bắt cóc du khách nước ngoài và dùng họ làm lá bài mặc cả.
TIN BÀI KHÁC:

Bài viết của nhà báo Sarah A. Topol trên tạp chí Mỹ The Atlantic:

Người Bedouin đối xử với con tin rất tốt và lịch sự.

Người tiếp đón tôi, Sheikh Ahmed Hashem, một lãnh đạo bộ lạc Bedouin năm nay 37 tuổi, đã mời tôi nhiều li trà ngọt đến nỗi tôi không đếm nổi. Đó là một buổi chiều nóng nực vào đầu tháng 7, nơi chúng tôi ngồi trên sàn nhà của người đàn ông này ở Wadi Feiran, một ngôi làng hẻo lánh nằm sâu trong Bán đảo Sinai của Ai Cập.

Một dây cáp điện kết nối những căn nhà thấp bé bằng xi-măng ở ngôi làng này; một con đường chạy qua những ngọn núi xung quanh ra thế giới bên ngoài. Mọi thứ cảm giác rất thư thả, kể cả lời giải thích của Hashem, thông qua một phiên dịch viên, về những than phiền của dân làng anh về chính phủ Ai Cập.

Nhưng khi tôi hỏi tại sao người Bedouin lại bắt cóc du khách, anh nhanh chóng đính chính: “Đó không chỉ là bắt cóc. Đó là một hành trình du lịch (tourist safari)”. 

Người em trai Mohammed của Sheikh Ahmed Hashem gật đầu: “Du khách tới Ai Cập và trả tiền cho kiểu trải nghiệm này”, anh nói và cười rạng rỡ. 

Trong cuộc cách mạng Ai Cập năm ngoái, các cơ quan an ninh của đất nước này gần như đã rút hết khỏi Sinai, một bán đảo hình tam giác nằm giữa đại lục Ai Cập ở phía tây và Israel ở phía đông. Buôn lậu ma túy và vũ khí tăng cao; ở phía bắc bán đảo, đọ súng giữa các tay súng Hồi giáo và cảnh sát trở nên thường nhật; đường ống gas nối Ai Cập và Israel liên tục bị đánh bom.

Trong những tháng gần đây, khoảng trống an ninh đã khuyến khích một nhóm người Bedouin ở nửa nam của bán đảo vận động việc trả tự do cho người cùng bộ tộc ngồi tù bằng một chiến thuật lạ đời: bắt cóc du khách nước ngoài và dùng họ làm con bài để mặc cả. Từ tháng 2 và đầu tháng 7, các thành viên bộ tộc Bedouin đã bắt cóc 3 cặp người Mỹ, 3 người Hàn Quốc, một cặp người Brazil, và một người Singapore trong chiến dịch “safari” kéo dài từ vài giờ đến vài ngày. 

Người Bedouin ở Ai Cập – một bộ lạc Ảrập du cư đã sống ở Sinai nhiều thế kỷ – có nhiều than phiền về chính phủ. Sau khi Israel trả bán đảo này cho Ai Cập năm 1982 sau 15 năm chiếm đóng, chính phủ Ai Cập cáo buộc người Bedouin hợp tác với Israel; người Bedouin bị từ chối nghĩa vụ quân sự và hầu hết các công việc trong chính phủ.

Người Bedouin than phiền rằng các cơ quan an ninh của nhà nước đối xử với họ rất khắc nghiệt, bỏ tù hàng trăm thành viên mà không qua xét xử. Các ngôi làng Bedouin rất nghèo về cơ sở hạ tầng, y tế hoặc trường học so với phần còn lại của đất nước. Và mặc dù bờ Biển Đỏ của Sinai có nhiều khách sạn sang trọng, các bộ tộc than phiền rằng tiền thu từ du lịch không cải thiện được cuộc sống của họ vì các hãng du lịch không thuê họ làm việc. 

Chiến dịch bắt cóc đã được sắp đặt thời gian để làm bẽ mặt chính phủ Ai Cập. Nền kinh tế của đất nước này đang rơi tự do, và du lịch bãi biển là một nguồn thu ngoại tệ chính của đất nước. Vì vậy, chính phủ phải nỗ lực đảm bảo tự do cho bất kỳ ai bị bắt cóc càng sớm càng tốt. Nhưng một điều lạ đã xảy ra: những người bị bắt cóc mô tả tình cảnh của họ bằng những ngôn từ hào hứng đến ngạc nhiên. 

“Tất cả là một ký ức không thể nào quên”, Norma Supe, một y tá 63 tuổi đến từ California bị bắt cóc hồi tháng 2, kể với hãng tin AP. Bà gọi những kẻ bắt cóc là người tốt và lịch sự. Supe bị bắt cóc cùng một thành viên khác trong nhóm tour, Patti Esperanza 66 tuổi, trên một con đường gần Saint Catherine’s, một tu viện có từ thế kỷ thứ 6 ở chân núi Sinai. Hướng dẫn viên của họ, Hisham Zaki, tình nguyện đi cùng làm người phiên dịch. Như Zaki hồi tưởng sau đó, Esperanza đã yêu cầu một người trong nhóm đừng hút thuốc: “Tôi bảo bà ấy: Bà đùa sao? Bà đang bị bắt cóc đấy!”. Nhưng người bắt cóc kia đã nghe lời, ném điếu thuốc ra khỏi cửa xe.

Vào một lúc khác, Esperanza nhớ lại, những kẻ bắt cóc đã dừng lại để chuẩn bị cà phê cho hai con tin, nhưng khi biết Esperanza không uống cà phê, họ bèn pha trà mời bà. 

Khi tôi dùng xong tách trà của mình, Hashem đồng ý đưa tôi tới nơi mà Esperanza và Supe từng bị giữ. Chúng tôi lên chiếc xe tải của anh và đi khoảng một giờ đồng hồ trước khi đỗ lại dọc một triền cát ở chân núi. Chúng tôi ngồi xuống và Hashem giới thiệu cho tôi Attwa, người anh mô tả là đã bắt cóc hai bà già đến từ California. (Attwa không cho biết họ của anh nhưng một nguồn tin trong cơ quan an ninh Ai Cập xác nhận anh tham gia). Attwa sống trong một túp lều gần đó và, như hầu hết những người Bedouin trong khu vực, anh kiếm sống nhờ buôn ma túy. Attwa cho biết, anh đã cố gắng tuyệt vọng để tìm một công việc khác song tự hào mình đã giữ được cho các con tránh xa việc buôn bán ma túy. 

Attwa đã kể cho tôi nghe câu chuyện safari. Anh giải thích, vào cuối tháng 1, anh hay tin một trong số các con trai của mình bị giết chết và hai con khác bị bỏ tù sau một cuộc cãi lộn với cảnh sát. Chục ngày sau đó, hy vọng sẽ đòi được tự do cho các con, Attwa và một người bạn tự trang bị vũ khí và lái xe tới Saint Catherine’s. Bắt cóc Supe và Esperanza từ một chiếc xe du lịch là việc dễ đến ngạc nhiên. Attwa nói: “Tôi nhờ người phiên dịch làm cho họ bình tĩnh, vì họ sẽ không phải sợ bất kỳ điêu gì. Tôi giải thích là tôi cần chuyển một thông điệp tới chính phủ và đây là cách duy nhất tôi được lắng nghe”.

Attwa nói anh đã chuẩn bị bánh mì, pho mát và nước hoa quả cho các con tin. Vậy anh sẽ làm gì nếu họ bị kích động? Attwa cho biết anh sẽ thả họ đi nhưng hai người không khóc nên anh đã mang họ tới đây. 

Hashem nói rằng người Bedouin chỉ bắt vài du khách một lúc bởi vì chăm cho các nhóm lớn hơn sẽ rất tốn tiền. “Khi một Bedouin bắt cóc ai đó, anh ta phải chịu trách nhiệm về lòng hiếu khách khi đưa họ đi trên hành trình safari – thức ăn, đồ uống, vệ sinh và giấc ngủ. Nếu đối xử với họ tồi tệ, anh ta sẽ phải gánh trách nhiệm”, Hashem nói, nhắc đến hệ thống luật lệ của bộ lạc.  

Attwa cho biết, vài giờ sau khi anh bắt cóc hai phụ nữ Mỹ, chính phủ Ai Cập hứa sẽ trả tự do cho các con trai anh và anh đã giao nộp con tin. Nhưng khi chúng tôi có mặt ở đây, 5 tháng sau, các con anh vẫn chưa được thả.  

Thanh Hảo (Theo The Atlantic)

 

Trung Quốc sẽ lựa chọn giữa đối thoại hay đấu súng?

28 Th10

Trung Quốc sẽ lựa chọn giữa đối thoại hay đấu súng?

 

Ngoài những đường chồng lấn trên bản đồ, tình thế đối đầu đã xuất hiện tại các khu vực tranh chấp lãnh thổ Biển Đông.

Tranh chấp đang ngả theo hướng trở thành điểm nóng quân sự và tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn khu vực xoay quanh những toan tính an ninh năng lượng phức tạp trong tham vọng dài hạn là đóng một vai trò lớn hơn trong địa chính trị khu vực của Trung Quốc.

Tiềm năng dầu khí tại Biển Đông

Để đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề an ninh năng lượng, có lẽ nên nhìn vào khu vực qua lăng kính của những toan tính về năng lượng. Theo Thống kê của BP, năm 2011, khu vực châu Á – Thái Bình Dương chỉ chiếm 2,5% trữ lượng dầu được kiểm chứng trên toàn thế giới, nhưng chiếm tới trên 1/3 lượng tiêu thụ. Về khí tự nhiên, châu Á – Thái Bình Dương đóng góp 8% trữ lượng đã được kiểm chứng trên toàn thế giới và 18% tổng tiêu thụ toàn cầu.

Châu Á – Thái Bình Dương là khách hàng tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, chiếm gần 40% tổng mức tiêu thụ. Kể từ năm 2001, sức tiêu thụ dầu và khí gas của khu vực tăng hơn gấp đôi tốc độ tăng trưởng tiêu dùng năng lượng trên thế giới. BP dự báo, lượng tiêu thụ của châu Á – Thái Bình Dương sẽ còn tiếp tục duy trì cao hơn gấp đôi tốc độ gia tăng tiêu thụ năng lượng toàn thế giới cho tới năm 2030. Trung Quốc là một trong những nhân tố chính đóng góp vào sự gia tăng này.

Rủi ro kinh tế đang tăng lên. Khi châu Á ngày càng khát dầu và khí tự nhiên. Do vậy, việc đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định sẽ có ý nghĩa quan trọng mang tính quyết định. An ninh năng lượng đòi hỏi giảm phụ thuộc vào nguồn cung ở những nơi xa xôi và hay rối loạn trong các xung đột. Do vậy, yếu tố địa chính trị được quan tâm hàng đầu.

Dưới đáy Biển Đông được cho là có một trữ lượng dầu khí tương đối lớn. Trữ lượng ước tính dao động từ 28 tỷ thùng cho tới 213 tỷ thùng; nếu đúng là con số 213 tỷ thùng thì điều này sẽ đưa Biển Đông lên vị trí thứ ba trong số các khu vực có trữ lượng dầu được kiểm chứng lớn nhất. Khoảng 50% cơ hội vùng biển này có 3,8 nghìn tỷ m3 khí gas, tương đương khoảng ¼ trữ lượng khí tự nhiên được kiểm chứng của khu cả châu Á – Thái Bình Dương. Biển Đông cũng là tuyến lưu chuyển dầu khí quan trọng trong khu vực. Giá trị kim ngạch thương mại ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD.




Trung Quốc: Đối thoại hay đối đầu?

Do những toan tính lợi ích kinh tế, nên việc Trung Quốc mong muốn thực thi mở rộng tầm ảnh hưởng là điều dễ hiểu. Biển Đông có thể được coi là cứu cánh cho nước này khi mà cơn khát năng lượng đang nàng càng lớn. Hàng năm, Trung Quốc đang phải nhập khẩu ròng dầu khí. Do đó Trung Quốc sẽ không bỏ qua cơ hội triển khai quyền lực ra khu vực. Khối lượng dầu khí dưới đáy Biển Đông cũng có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam và Philippine, hai nước cũng nhập khẩu ròng dầu khí, trong khi Brunei và Malaysia là những nước xuất khẩu ròng.

Giai đoạn hiện nay chính là cơ hội để Trung Quốc triển khai sự lãnh đạo chiến lược và gia tăng ảnh hưởng trong khu vực cũng như ra thế giới. Nhưng một thái độ cẩu thả và sẵn sàng gây khiêu khích ở thời điểm quan trọng này có thể làm giảm sút nghiêm trọng uy tín của Trung Quốc không chỉ với các nước trong khu vực mà còn cả với các đối thủ địa chính trị toàn cầu. Để trỗi dậy là một thành viên có trách nhiệm trong phạm vi toàn cầu, Trung Quốc cần phải lựa chọn giữa đối thoại hay đấu súng.

Triển vọng đạt được một giải pháp mang tính tập thể cho vấn đề, có thể dưới sự trung gian của ASEAN, có vẻ rất mờ nhạt, thể hiện ở sự bế tắc chưa từng có giữa các nước thành viên. Việc không thể thông qua bản thông cáo chung lần đầu tiên trong 45 năm qua tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN cũng không phải là điều quá bất ngờ khi khả năng đạt được một sự đồng thuận trên thực tế cho vấn đề Biển Đông còn rất hạn chế. Tuyên bố duy nhất được đưa ra, Nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông, lại dẫn chiếu rõ ràng hai lần tới Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS). Một điểm mà Trung Quốc phản đối không áp dụng cho tình huống hiện nay là nó liên quan đến chủ quyền lịch sử.

Do vậy, dễ hiểu khi Trung Quốc ưu tiên đàm phán song phương hơn là xây dựng sự đồng thuận đa phương, khi nước này có sức nặng đàm phán lớn hơn với từng quốc gia nhỏ lẻ, nhờ vào vị thế kinh tế vượt trội. Việc các cuộc đàm phán song phương có nhằm đạt được các hiệp ước đa phương hay không vẫn là điều phải bàn cãi. Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục sử dụng ngoại giao song phương để giành sự ủng hộ của các quốc gia nhỏ hơn không tranh chấp, kết hợp với thể hiện những sự khiêu khích nhỏ.

Việc Trung Quốc cảm nhận thời điểm leo thang vấn đề, trong bối cảnh sắp diễn ra cuộc bầu cử tại Mỹ, đã mở đường cho “những kẻ cơ hội”. Tuy nhiên, Trung Quốc phải cân nhắc cuộc chuyển giao lãnh đạo cấp cao sắp diễn ra ở trong nước, nơi những lợi ích nhóm riêng sẽ trỗi dậy. Một động thái hiếu chiến với khối ASEAN có thể làm trầm trọng thêm vấn đề, khi đẩy các nước nhỏ hơn vào vòng tay của Mỹ. Hậu quả, Trung Quốc sẽ phải lựa chọn giữa chấp nhận, hay thể hiện lập trường cứng rắn. Thiệt hại sẽ rất lớn nếu đụng độ dẫn tới một cuộc đối đầu toàn diện.

Mỹ: Quan sát thận trọng

Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ công khai nhìn nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc là một ảnh hưởng địa chính trị cần được tính đến, bên cạnh sự trỗi dậy như một cường quốc kinh tế. Quyết định “xoay trục” chiến lược về châu Á của Mỹ thể hiện những quan ngại trong việc quản lý sự trỗi dậy quá nhanh chóng của Trung Quốc trong cuộc đối đầu quyền lực toàn cầu. Washington đang đứng trước nhiều câu hỏi cấp bách là nên xuống thang hay leo thang khi cuộc bầu cử đang tới gần. Cuộc tranh luận cô lập hay can thiệp từ thời Franklin D. Roosevelt lại nổi lên với “những vấn đề phương Đông” – Israel-Iran, Syria ở Trung Đông và Biển Đông ở Viễn Đông. Dường như Mỹ đang cảm thấy có trách nhiệm can thiệp vào trên cơ sở để bảo vệ lợi ích của mình, không chỉ về mặt thương mại mà cả về địa chính trị, trong khu vực.

Sau khi đóng một vai trò quan trọng trên phạm vi toàn cầu trong gần nửa thế kỷ, Mỹ sẽ thận trọng hơn với những hành động có thể đánh mất sự kiểm soát cho đối thủ, đặc biệt là Trung Quốc. Sự can thiệp của Mỹ có thể có khả năng gây nguy hiểm cho mối quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc, khi mà mức độ căng thẳng nào đó đang tồn tại dưới lớp vỏ hài hòa, đe dọa dẫn tới sự rạn nứt “đại hồng thủy”. Có rất nhiều bất đồng từ cả hai bên, với Trung Quốc nghi ngờ Mỹ cố tình gây cản trở sự vươn lên về quân sự và kinh tế của mình.

Hậu quả, sự tiếp tục chính sách bên miệng hố chiến tranh quân sự của Trung Quốc sẽ là trao lợi thế cho phía Mỹ. Điều này sẽ tạo cho Mỹ cái cớ để triển khai theo ý mình trong tình huống này, đứng về phía các quốc gia nhỏ hơn trong khối ASEAN. Nếu Trung Quốc thể hiện lập trường hài hòa với các nước láng giềng, Mỹ sẽ rất khó tham gia về mặt ngoại giao. Mặc dù tính chất chính trị bầu cử ở trong nước, Mỹ sẽ vẫn đảm nhận tốt vai trò của người quan sát thận trọng trong cuộc xung đột, và để cho các bên liên quan trong khu vực đi đến một giải pháp hòa bình.

Việt Nam và Philippine: Lựa chọn nào?

Trong lời cáo buộc mạnh mẽ sau khi không thể đưa ra thông cáo chung, Philippine đã nhắc đến Trung Quốc là “láng giềng phương Bắc” và thẳng thắn nêu ra nhu cầu cần phải giải quyết đa phương hơn là thảo luận song phương. Những hành động ăn miếng trả miếng giữa các bên càng làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn. Các nước nhỏ hơn rõ ràng có lý do để lo ngại về sự chuyển dịch cán cân quyền lực trong khu vực. Nỗ lực quốc tế hóa vấn đề đi ngược với nỗ lực khu vực hóa của Trung Quốc. Sự bế tắc này có thể nhanh chóng leo thang hơn nữa nếu không có những cuộc đối thoại tích cực.

Mối quan hệ về thương mại với Trung Quốc đã đặt Việt Nam và Philippine vào thế yếu hơn trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc trong phạm vi kinh tế, quân sự. Theo một số cách, các nước nhỏ có thể tìm sự ủng hộ từ phía Mỹ nếu Trung Quốc vẫn ngoan cố leo thang đối đầu.

Trung Quốc nên góp phần củng cố an ninh khu vực

Cũng trong thời điểm này, rắc rối giữa Trung Quốc và Nhật Bản vẫn đang âm ỉ xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông. Những tuyên bố cứng rắn của Trung Quốc có nguy cơ đẩy một tranh chấp lãnh thổ nữa giữa hai nước láng giềng vốn không ưa nhau vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Các nhà hoạt động Trung Quốc đã đổ bộ lên các hòn đảo và truyền thông Trung Quốc lập tức nắm bắt lấy những hình ảnh này để thổi bùng tinh thần chủ nghĩa dân tộc. Khi các nhà hoạt động Nhật Bản đáp lại, các cuộc biểu tình chống Nhật Bản lập tức nổ ra ở khắp Trung Quốc. Vấn đề lãnh thổ có xu hướng dễ dàng làm kích động tâm lý dân tộc chủ nghĩa của dân chúng. Đây sẽ là một vấn đề mà các chính phủ rất cần thận trọng giải quyết nếu nó vượt quá ngưỡng chịu đựng.

Một mặt, Trung Quốc tuyên bố đây là vấn đề chủ quyền, do đó nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của UNCLOS; mặt khác cũng thể hiện sẵn sàng khẳng định các tuyên bố chủ quyền trong khu vực. Tuy nhiên, Trung Quốc không nên leo thang sức mạnh hải quân và thay vào đó dành sức lực cho các nỗ lực đảm bảo an ninh khu vực. Quyết tâm của Trung Quốc sẽ được chào đón, nếu nó hướng tới đạt được giải pháp đa phương cho vấn đề và không đi quá phạm vi các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Một sự phân phối cân bằng và khai thác chung các nguồn tại nguyên dầu khí dưới đáy biển có lẽ là giải pháp hợp lý nhất cho các bên liên quan trong khu vực. Tuy nhiên, triển vọng giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa các bên tuyên bố chủ quyền còn rất mờ nhạt, nếu không nói là đang sa lầy trong bế tắc. Thái độ của các bên đang làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang. Trong khi đó, sự trung gian hòa giải của Mỹ có thể đồng nghĩa với việc làm sứt mẻ hình ảnh của Trung Quốc với tư cách là một nhà lãnh đạo có trách nhiệm mới trên trường quốc tế.

Đình Ngân (theo foreign policy journal)

KHI ĐẢNG LÃNH ĐẠO TỰ ĐẶT MÌNH RA NGOÀI PHÁP LUẬT – BS

27 Th10

Người Lót Gạch

KHI ĐẢNG LÃNH ĐẠO TỰ ĐẶT MÌNH RA NGOÀI PHÁP LUẬT

Hồ ngọc Nhuận

Để trị vì trên thiên hạ theo chế độ gọi là dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra một Hiến Pháp, với một số nguyên tắc và các định chế để thi hành Hiến Pháp. Như là Quốc Hội để làm luật, Chánh phủ để thi hành luật, hay hệ thống Tòa án  để xử án theo luật,v.v…Dưới khẩu hiệu của mọi nền dân chủ đứng đắn…“của dân, do dân, vì dân”.

Và tất cả mọi người, từ đứa bé mới đẻ phải làm khai sanh, tới người bộ hành phải đi bên phải, tới cụ già xuống lổ phải có giấy chứng tử… Tức sống, hay làm, hay không làm, đều phải theo luật. Ai không theo những cái “luật” đó  thì phải chịu chế tài. Làm ra hay hành xử chế tài cũng phải theo luật.

Ở nhiều nước dân chủ người ta gọi đó là chế độ Nhà Nước Pháp Quyền. Nghĩa là luật pháp là trên hết, mọi người phải tuân theo, không trừ ai (thượng tôn pháp luật). Tất cả các cơ quan quyền lực, từ làm luật, thi hành luật tới kiểm sát luật đều phải độc lập với nhau. Người ta gọi đó là “tam quyền phân lập”, mà Quốc Hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất  thay dân để làm luật, để thiết chế chế tài các định chế khác, cả người đứng đầu nhà nước. Trường hợp nào Quốc Hội không quyết, không duyệt thì phải trưng cầu ý dân. Báo chí quốc tế loan tin hằng ngày, nơi nầy nơi khác, tổng thống nầy, thủ tướng khác vi phạm luật pháp phải ra tòa hay từ chức là vì vậy, là vì mọi người phải tuân hành luật pháp. Cựu Thủ tướng Berlusconi nổi tiếng trùm thiên hạ của nước Ý cũng vừa phải ra tòa lãnh án 4 năm tù là vì nguyên tắc “luật pháp là trên hết”.

Ở Việt Nam cũng vậy, mà không phải vậy… Cũng vậy, là trong dân từ con đỏ cho tới cụ già dân đen nói chung là phải theo luật, từ nội dung câu chữ, cho tới hình thức trình tự, thủ tục. Nhưng không phải vậy, vì còn phải chờ một “nấc”, tuy phụ mà không phụ, là “nấc chỉ đạo của đảng”. Và còn nhiều “nấc” phụ khác nữa, tùy nhiều thế lực. Còn trong Đảng thì cũng vậy mà không phải vậy. Cũng vậy là vì cũng mấy cái tòa án nhân dân đó xử đảng viên thôi, nhưng không phải vậy là vì còn có cái gọi là xử lý nội bộ. Thường là  phải xử nội bộ xong mới tới xử thường, có khi còn phải “xin phép” cấp trên trong Đảng rồi mới được xử ngoài tòa án nhân dân. Mà khi xử ở tòa án nhân dân, nếu cùng chung tội, thì  đảng viên xử khác, dân thường, được coi là công dân loại hai, thì xử khác. Đảng viên, là công dân loại một, thì  thường là án treo, hoặc án nhẹ, bởi vốn bị đám công dân hạng hai cám dỗ làm bậy, cho ăn kẹo độc bọc đường, nói theo lời một cố Tổng Bí thư của Đảng. Không phải vậy còn vì đảng viên, tuy cùng là công dân loại một, nhưng cũng có nhiều cấp, nhiều hạng. Có số ít  đảng viên ưa nói ngay, nói thẳng thì thuộc một loại khác nữa. Ngay cả các đại biểu Quốc Hội  được gọi là đại biểu của dân thì ít ra cũng có hai hạng: hạng có chức vụ cao trong hệ  thống chuyên chính, đứng đầu các tỉnh, thường là làm trưởng đoàn đại biểu, và hạng đại biểu trơn không được phát biểu “linh tinh”, hoặc phải phát biểu theo… đại biểu trưởng đoàn.

Sở dĩ ở Việt Nam có tình trạng “cũng vậy mà không phải vậy”, là  vì ngoài các định chế dân chủ hiến định mà các nước dân chủ đều có, Việt Nam còn có định chế Một Đảng Duy Nhất Lãnh Đạo Tuyệt  Đối Toàn Diện, với điều 4 được ghi trong Hiến Pháp. Cũng vậy mà không phải vậy, vì Đảng vận hành lãnh đạo  không như  các định chế khác. Các định chế khác  đều có luật để triển khai hình thành và hoạt động. Tức là trong khuôn khổ của luật pháp. Còn Đảng lãnh đạo thì không cần luật hóa, hay thể chế hóa để hoạt động lãnh đạo. Mà chỉ cần có điều 4 Hiến Pháp là đủ. Để lãnh đạo tuyệt đối toàn diện, toàn đảng, toàn nước, toàn dân. Vì chủ nghĩa, hay  đường lối, chủ trương của Đảng là vô địch. Nghị quyết của Đảng là phải  học. Học chớ không phải thảo luận. Lại còn phải chia ra nhiều cấp, nhiều vòng để học.

Thỉnh thoảng cũng có người kiến nghị thể chế hóa điều 4 Hiến Pháp, để người dân đen biết Đảng “lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện” là như thế nào. Nhưng Đảng chỉ cười cho số ít người còn “yếu đức tin”. Và như ngầm nói: “Hiến Pháp còn bao nhiêu điều chỉ ghi để đó, sao không kiến nghị thể chế hóa? Nhất là về quyền làm dân, quyền con người. Điều nào được để nguyên không thể chế hóa  tức đã  được coi là “toàn diện tuyệt đối” như Điều 4 của  Đảng, với Đảng rồi, còn kiến với nghị cái gì nữa? Có những điều đã thể chế hóa rồi đó, như cái Quốc Hội, cái Tòa án, hay  như cái Mặt Trận Tổ Quốc cũng có luật rồi đó, mà có phải là đã tốt hết đâu. Lại cứ phải thêm luật nầy luật nọ để điều chỉnh. Hay như cái quyền tự do ngôn luận, báo chí đó, nó đã được thể chế hóa mấy lần rồi, mà…rốt lại báo chí là cái gì, là của ai, nếu không là của Đảng? Còn các nhà báo thì nằm trong tay ai? Và báo chí thì mặc áo có… qua khỏi đầu Đảng được không? Chỉ tốn công, tốn của để làm luật”.

Đảng phái ở các nước dân chủ, từ đảng cầm quyền đến  đảng đối lập đều có luật chi phối và răm rắp tuân theo luật, vì dân chủ ở đó là loại “dân chủ trơn”. Còn ở Việt Nam thì là “dân chủ xã hội chủ nghĩa triệu lần hơn”. Cho nên mãi mãi cho tới muôn đời, dù nền dân chủ khắp nơi có phát triển tới trời, thì ở đây cũng duy nhất chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo, theo thuyết chính thống của các ông tổ xã hội chủ nghĩa ở bên Tàu.

Định chế Một Đảng Duy Nhất Lãnh Đạo Toàn Diện Tuyệt Đối, với Điều 4 Hiến Pháp cho  phép Đảng trở thành một thứ Nhà nước trong Nhà nước, trên Nhà nước. Trong Nhà nước, vì Nhà nước có cái gì thì Đảng có cái nấy, cũng kinh tài, cũng nội chính, cũng quốc phòng v.v… Trên Nhà nước, vì  Nhà nước không kiểm soát được Đảng, còn Đảng thì kiểm tra kiểm soát nhà nước toàn diện, liên tục, qua các nhân sự, qua các cơ cấu, qua hệ thống các đảng đoàn, đảng bộ, đảng ủy lớn nhỏ ở khắp nơi. Đương nhiên là cả ở Quốc Hội, trên lý thuyết được gọi là cơ quan quyền lực cao nhất nước. Vì chính Nhà Nước nầy là do Đảng đẻ ra.

Tóm lại là Đảng có toàn quyền để toàn trị.

Nhưng nay, với cái gọi là  hội nghị Trung Ương 6 vừa qua thì tình hình đã bước sang một bước ngoặt hoàn toàn khác.

Với lời tuyên bố của ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, cho biết: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước Ban Chấp hành Trung ương về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu. Để giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng, góp phần giữ gìn uy tín, hình ảnh thiêng liêng của Đảng và làm gương trong toàn Đảng, Bộ Chính trị đã thống nhất 100% đề nghị Ban Chấp hành Trung ương cho được nhận một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị. Nhưng Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận rất kỹ, cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị.”

Còn Chủ tịch nước Trương Tấn Sang  thì nói: “…Ban Chấp hành Trung ương quyết nghị không thi hành kỷ luật, Như vậy không có nghĩa là Bộ Chính trị không có lỗi, không phải là cá nhân đồng chí ‘X’ không có lỗi”.

Với hành động và tuyên bố công khai chánh thức như trên, trước bàng dân thiên hạ và thế giới, thì Đảng Lãnh Đạo Tuyệt Đối Toàn Diện, từ nay, dù biết tội, cũng không xử nhau, mà không  theo một thứ luật thông thường nào hết. Hay chỉ theo một thứ luật dễ sợ của một “tập đoàn dễ sợ”: “luật của sự im lặng”. Cũng tức tình nguyện “tự tụt hạng”, với đôi chút nghẹn ngào.

Có người lại hỏi: Đảng đã như vậy từ khuya rồi mà?  Từ trước tới nay có phải lúc nào Đảng cũng luôn đứng  trong luật và làm theo luật đâu? Và theo công nhận của chính lãnh đạo Đảng thì “một bộ phận không nhỏ” người trong Đảng, với nhiều ưu quyền ưu đãi, có coi luật pháp là gì đâu, khi làm giàu bất chánh và làm nhiều cái bất chánh khác? 

Xin thưa: Đảng như từ trước tới nay là “đứng trên luật”. Việc “đứng trên luật” là việc Cổ Kim Đông Tây xưa nay không hiếm. Ở đâu có một chế độ mượn tên dân để đứng trên dân mà trị lại dân thì đó là đứng hay ngồi trên luật. Các chế độ vua quan xưa đều là vậy. Một số các chế độ khác trên thế giới ngày nay cũng na ná như vậy. Ở đây thì có chế độ “dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Điều 4 “chễm chệ” trên Hiến Pháp là công chứng rõ ràng nhất cho việc Đảng đứng trên luật.

Xử một đứa nhỏ ăn trộm một con vịt, ăn cấp một ổ bánh mì phải đi tù mấy tháng, thì cũng đều  giở luật mà  xử, dù có thể là đứng trên luật: luật vua hay luật dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng là luật, và phải thi hành, dù có kêu than. Xử một  quan lại, một “công thần”, một cán bộ, một hoàng thân quốc thích được hưởng án treo hay phải về vườn thì cũng đọc  luật  mà xử. Dù ai đó có so bì hay dị nghị…

 Đứng trên luật khác đứng ngoài luật.  Đứng  trên luật là độc quyền một mình một chợ tự mình nhào nắn luật pháp trong tay mình. Còn đứng ngoài  luật là coi luậtt pháp là không có. Từ đó cũng phủ nhận mình như một thành viên có trách nhiệm của một xã hội có tổ chức luật pháp. Và từ đó cũng tự chối bỏ cả cái quyền lãnh đạo, hay trị nước, ngày nay gọi là quản lý đất nước, dù là tự phong, của chính mình bởi quyền phải đi cùng với trách nhiệm. Khi đã chối bỏ trách nhiệm thì còn mặt mũi nào để cầm quyền, thì sao có thể giữ quyền mà không xấu hổ?

Nhưng, có người lại hỏi, còn ông Thủ tướng và ông Chủ tịch Quốc Hội, nhứt là ông Thủ Tướng đã đứng ra nhận hết các lỗi lớn nhỏ về phần mình và xin lỗi Quốc Hội, thì sao? Thì có gì khác?

Vừa có khác, vừa không. Có khác là khi ông Thủ tướng dùng những “tiếng to”, như  “nhận trách nhiệm chánh trị lớn”, như “nhận lỗi về tất cả những yếu kém, khuyết điểm…”, những thứ  “tiếng to” khiến người nghe phải phát ngượng. Nhất là nếu có người nghe từ một nước đã từng làm cuộc Cách Mạng Dân Chủ Dân Quyền cách đây hơn 200 năm.

Còn không khác, là vì đó cũng chỉ là cử động của “cái mũi thứ ba”, cụng vào “cái mũi  thứ tư” và “hằng trăm cái mũi” khác của cùng một cái đầu.

Vậy thì bước tiếp sẽ là gì ? Lại có người hỏi.  

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng đã hỏi như vậy, ông cho đó là “điều chưa xảy ra bao giờ” và nói: “… Đây là điều mà tôi thấy hiện nay chưa giải thích được, và chưa biết được rằng hệ quả sẽ như thế nào?

Như thế nào thì câu trả lời phải chăng là đã nằm sẵn trong câu hỏi của Tiến sĩ? Hệ quả nào mà không theo luật  nấy? Từ nay, từ trên xuống dưới, cứ theo “ luật của sự im lặng” mà xử nhau. Những “hạt đậu” lớn nhỏ lâu nay  người ta đã “sái thành binh”, nay  mặc nhiên được buông ra, sẽ trở thành “tướng”, cũng có cánh, có  vuốt, cũng bằng hay hơn nhà phù thủy đã “sái” ra chúng thì tha hồ mà hành xử  lên xuống, và “hành xử”  lẫn nhau …

Còn người dân thì sao? Nghĩ gì và sẽ ra sao?

Như để thay lời dân, Giáo sư Tương Lai đã nói : “…Diễn biến sắp tới thế nào phụ thuộc liệu người ta có nhận ra vở diễn vừa rồi đã thất bại và lòng tin của dân càng mất nhiều hơn. Cách tốt nhất là làm gì đó để lấy lại niềm tin. Cái gì đó không phải là nói suông mà là hành động.

Cách phân biệt chính tà lúc này là thái độ với kẻ xâm lược… Tôi tin vào sức mạnh của dân tộc. Dân tộc này không bao giờ cúi đầu trước thế lực cường quyền nào. Và bao giờ dân tộc này cũng tìm ra được giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”.

Tôi cũng nghĩ như giáo sư. Dân tộc nầy không phải chỉ có một lần chịu những tai ách. Nhưng sau “nhẫn” là  phải có một cái hay nhiều cái gì đó. Nhẫn mãi thì có ngày cũng tìm ra được biện pháp tương xứng để ít nhất là không phải nhẫn nữa.

Nhưng tôi cũng không thể bỏ qua lời nhắn của Chủ tịch Nước khi Chủ tịch đã đổ trách nhiệm lại cho dân:“Chúng tôi có lỗi lớn, nhưng cô bác anh chị cũng phải nghĩ về trách nhiệm của mình”.Đổ “trách nhiệm” chớ không “đổ quyền”. Chủ tịch lại sợ người dân ỉ lại mà mất cảnh giác nên không nói: “Dù sao chúng tôi cũng còn quyền, còn có công an, quân đội, còn có guồng máy quyền lực, chúng tôi sẽ hết sức mình cùng cô bác anh chị, dù phải, dù phải…” và đã lớn tiềng cảnh báo: “Chúng tôi hiểu tình hình trù úm người tố cáo là rất ghê gớm… Người ta có thể trù úm một người, một nhóm người nhưng không thể trù úm cả dân tộc này”.

Ba lãnh đạo cao cấp đều có các hoạt động sau hội nghị trung ương

Không biết “người ta” là ai mà ghê gớm đến như vậy. Ghê gớm đến mức những người đứng đầu Đảng lãnh đạo, đứng đầu Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng phải chùn bước, im lặng.

Dù sao cũng xin ghi nhận lời cảnh báo của Chủ tịch. Người dân chúng tôi biết cái giá phải trả cho nền độc lập tự chủ, cho nền dân chủ không có đuôi là không rẻ. Nhất là khi “người ta” nào đó vẫn nắm toàn quyền, vừa quyền tham nhũng, vừa quyền trù úm người tố cáo tham nhũng, không trừ khả năng trù úm cả dân tộc. Người dân chúng tôi cũng biết vừa  phải chống giặc ngoài vừa phải chống giặc trong là nguy hiểm như thế nào.

Nguồn: Người Lót Gạch

Tác giả Hồ Ngọc Nhuận là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Chính trị Nhật báo Tin Sáng.

Mời xem lại bài cùng tác giả: 1186. Đ Á N H ! ! ! (05-08-2012).

BÁO VĂN NGHỆ TP HCM ĐĂNG TRUYỆN ĐẠO VĂN – nguyentrongtao

27 Th10

BÁO VĂN NGHỆ TP HCM ĐĂNG TRUYỆN ĐẠO VĂN 

Quantcast
ANH VÂN

Truyện ngắn "Người đòi chết" in trên báo Văn Nghệ TP HCM.

Truyện ngắn “Người đòi chết” in trên báo Văn Nghệ TP HCM.

Mấy ngày qua, những người cầm bút bàn tán sôi nổi về việc truyện ngắn Buổi sáng biến mất của nhà văn Ngô Phan Lưu bị đạo trên báo Văn Nghệ TP HCM.

Trong số báo ra ngày 4/10, tạp chí này đăng truyện ngắn Người đòi chết của Hữu Thịnh – một tác giả mới ở Hòa Bình. Ngay khi báo ra mắt, nhiều người ngỡ ngàng phát hiện Người đòi chết giống y hệt truyện ngắn Buổi sáng biến mất của Ngô Phan Lưu sáng tác và từng đoạt giải nhất cuộc thi do báo Văn Nghệ – Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2007.

Điểm khác nhau đầu tiên giữa Người đòi chết (đọc một đoạn trích) với bản gốcBuổi sáng biến mất (đọc truyện) là ở cái tên truyện. Tiếp đó, tác giả Hữu Thịnh đổi tên địa danh Xóm Ao của Ngô Phan Lưu thành xóm Xóm Ráng. Còn tên của các nhân vật trong truyện gốc như: “Chú Khiêu chồng thím Xanh” bị đổi thành “chú Nam chồng thím Len”, “bà Mển vợ lão Sùng” bị đổi thành “bà Huê vợ ông Liêu”. Tên nhân vật chính trong truyện là Thuấn lại bị đổi thành Tạo… Còn lại, toàn bộ tình tiết, đường dây câu chuyện, nội dung của truyện ngắn đều như “anh em sinh đôi”.

Nhà thơ Thường Đoan, trưởng ban thời sự Văn hóa – nghệ thuật của báo Văn Nghệ TP HCM cho VnExpress.net biết, ngay sau khi được độc giả phản hồi về vụ việc, tòa soạn đã liên lạc với tác giả Hữu Thịnh để hỏi rõ vụ việc. “Ông Hữu Thịnh khăng khăng là truyện ngắn này ông nghe một người bạn kể lại nên viết lại. Nhưng không thể nào có chuyện chỉ nghe kể lại mà truyện lại giống nhau đến cả dấu chấm câu như thế”, nhà thơ Thường Đoan nói. Theo nữ nhà thơ, dù không chịu nhận mình đạo văn của Ngô Phan Lưu, tác giả Hữu Thịnh đã chuyển trả cho báo Văn Nghệ TP HCM số tiền nhuận bút nhận được của tòa soạn trước đó. Tác giả này quê ở Hòa Bình, sinh năm 1935 và là Hội viên Hội sử học Việt Nam, Hội viên Hội Văn học – nghệ thuật tỉnh Hòa Bình.

ngo-phan-luu-to-jpg-1350553343_500x0.jpg
Nhà văn Ngô Phan Lưu.

Nhà văn Ngô Phan Lưu chia sẻ cảm nhận với VnExpress.net về vụ việc: “Từ khi biết Buổi sáng biến mất bị ‘cầm nhầm’ như thế tôi thấy một chút buồn. Nhưng cảm giác buồn cũng mau chóng qua đi. Tôi tự an ủi mình có người còn đạo cả cuốn sách huống hồ gì chỉ một truyện ngắn. Chỉ có cảm giác chán nản và ngán sợ là còn lại với tôi!”

Ngô Phan Lưu sinh năm 1946 ở Phú Yên. Ông là tác giả của nhiều tập sách như:Bếp lửa chiều đông (1997 – thơ), Người không giăng câu Kiều (2004 – tập truyện ngắn), Cơm chiều (2008 – tập truyện ngắn), Xoa tay và cười (2009 – tập truyện ngắn, tản văn).

Năm 2007, Ngô Phan Lưu đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ cho hai truyện ngắn Cơm chiều và Buổi sáng biến mất. Tác giả này vốn được mệnh danh là “lão nông” viết văn vì sau một đời miệt mài trên đồng ruộng ở quê nhà Phú Yên, ông mới tìm đến văn chương và để lại ít nhiều dấu ấn. Trước khi viết văn xuôi, ông còn làm thơ.

 

Quay ngược chu kỳ kinh tế: Tài sản “cứng” lên ngôi ở VN – Alan Phan

27 Th10

Quay ngược chu kỳ kinh tế: Tài sản “cứng” lên ngôi ở VN

Bất chấp những tin đồn liên quan đến vụ bê bối kinh doanh của Bầu Kiên hồi tháng 8 vừa qua, ông Nguyễn Đăng Quang, Chủ tịch Tập đoàn Masan chẳng những xuất hiện trước đám đông mà còn công bố thương vụ Masan sở hữu 40% cổ phần Công ty Proconco – một liên doanh Việt-Pháp trong lĩnh vực thức ăn cho gia súc – với giá 96 triệu USD cùng sự tư vấn của định chế tài chính nước ngoài tên tuổi Morgan Stanley.

Ông Quang và cánh tay phải của mình, ông Madhur Maini – hiện là Tổng Giám đốc (CEO) của Masan, từng là cựu quản lý cao cấp của các tổ chức tài chính Deutsche Bank và Merrill Lynch ở châu Á – đang thực hiện tham vọng thống lĩnh ngành tiêu dùng thông qua việc chọn mua các công ty trong top đầu lĩnh vực này. Sau đó, đưa các công ty phát triển theo chiến lược “sản phẩm sạch” để đảo lộn thị trường.

Chẳng hạn, khi Masan mua chi phối Vinacafe, một công ty đứng đầu ngành cà phê, sau đó không lâu, họ phát đi những tuyên ngôn tiếp thị về việc sử dụng sản phẩm cà phê sạch, đấu với nhiều thương hiệu cà phê lớn trên thị trường. Và với việc mua lại Công ty Proconco, nhóm lãnh đạo Masan cũng không ngần ngại tiết lộ đến năm 2014, họ sẽ cho ra đời sản phẩm thịt sạch mang thương hiệu của riêng mình. Nghĩa là, từ đây đến khi ấy, Masan sẽ “biến” Proconco từ công ty kinh doanh thức ăn gia súc thành chuỗi cung ứng khép kín thực phẩm có quy mô lớn từ khâu nuôi, cho đến chế biến và phân phối sản phẩm thịt có thương hiệu, để tham gia vào một thị trường đang bị trấn giữ bởi 70% thị phần các công ty ngoại, trong đó, đặc biệt là đối thủ Công ty C.P. Trong lịch sử phát triển của họ, Masan cũng giành chiến thắng lớn ở các thị trường nước chấm, gia vị và mì gói bằng “chiến lược sạch”, hạ gục nhanh các đối thủ.

Tham vọng đổi ngôi về thị phần ở các thị trường tiêu dùng thông qua mua bán-sáp nhập (M&A) cũng đã góp phần giúp Masan đổi ngôi của họ trên thị trường chứng khoán và mở ra những tranh cãi về mô hình kinh doanh và quản trị của các công ty Việt Nam trong chu kỳ kinh tế mới.

Cú hích Masan

Trước hết, nói về sự đổi ngôi của Masan trên thị trường chứng khoán, có thể nhìn vào giá trị vốn hóa. Nếu định nghĩa giá trị vốn hóa là chỉ số đánh giá quy mô phát triển của doanh nghiệp và kỳ vọng của nhà đầu tư (được xác định bởi công thức “giá thị trường của cổ phiếu x số lượng cổ phiếu phổ thông đang lưu hành”) thì có lẽ Masan đang trên đà thắng thế, trong khi nhiều ông lớn blue-chip (những cổ phiếu dẫn đầu) đang trở nên khó khăn.

Có thể dẫn chứng vài trường hợp. Từ năm 2009, thời điểm đáy của chu kỳ kinh tế 10 năm, đã bắt đầu chứng kiến sự thay đổi theo chiều hướng giảm về giá trị vốn hóa của các công ty mạnh. Và sau năm 2009, có thể được xem là thời điểm bắt đầu mở ra một chu kỳ kinh tế mới thì nhiều blue-chip đã thật sự bị giảm mạnh về giá trị vốn hóa, trong đó có Ngân hàng ACB, Công ty FPT, REE, Hoàng Anh Gia Lai. Ngược lại, các cổ phiếu như Vinamilk, Vingroup và đặc biệt là Masan đã có mức tăng giá trị vốn hóa mạnh nhất trong suốt giai đoạn 3 năm 2009-2011 (xem bảng “Giá trị vốn hóa một số cổ phiếu blue-chip giai đoạn 2008-2011”).

Một vài điểm phân tích sau đây sẽ góp phần nhìn nhận vấn đề này. Các blue-chip mạnh bị sụt giảm giá trị vốn hóa 3 năm vừa qua có điểm chung là những công ty ở giai đoạn kinh doanh “bò sữa”. Và quy luật thì các con bò sữa phải đấu tranh cho sự sinh tồn nếu không muốn bị vắt hết sữa. Nhưng nhìn chung, sự sinh tồn cho chu kỳ kinh tế mới dường như vẫn loay hoay trong các công ty này. Họ vẫn quản trị theo kiểu gia đình trị, thân tín, ít hoặc không có khả năng thu hút được những nhà lãnh đạo giỏi từ bên ngoài, không tạo nên những đột phá về tư duy chiến lược. Khi những sự cố xảy ra, như trường hợp của FPT, ACB, một lần nữa, chúng ta lại chứng kiến sự trở lại của các nhà lãnh đạo gia đình.

Quan trọng hơn, ở góc nhìn chiến lược. Với một số công ty, chiến lược kinh doanh thâm niên sau nhiều năm vẫn chưa thấy những thay đổi nổi bật. Điển hình, sau các giai đoạn thay thế lãnh đạo của FPT, từ ông Nguyễn Thành Nam đến ông Trương Đình Anh, hàng loạt cuộc tái cấu trúc đã diễn ra. Nhưng kỳ vọng tăng trưởng của FPT vẫn chưa thể hoàn thành bởi không có chiến lược đột phá, rõ nét, cũng như chưa có các “ngôi sao” tài chính để giúp công ty này thực hiện công cuộc mở rộng kinh doanh, trong đó có việc phục vụ các hoạt động mua bán-sáp nhập.

Chính những cuộc “bị động” thay đổi, và tái cấu trúc liên tục này cũng khiến FPT đối mặt với sự sụt giảm giá trị vốn hóa. Từ 544 triệu USD giá trị vốn hóa của FPT (được xác định vào thời điểm cuối năm 2009) đã tuột xuống còn 514 triệu USD (thời điểm cuối năm 2011).

Ở một góc nhìn khác, những cái tên một thời nổi lên với sức phát triển đa ngành, trong đó có bất động sản cũng đã giảm sút giá trị vốn hóa đáng kể (được xác định chủ yếu bởi sự suy giảm giá cổ phiếu). Như Công ty Hoàng Anh Gia Lai từ 1.007 triệu USD (cuối năm 2009) chỉ còn 599 triệu USD (tính đến ngày 18.10.2012). Giai đoạn này cũng chứng kiến tình hình bất động sản vô cùng khó khăn của Hoàng Anh Gia Lai.

Trong khi đó, Masan dường như tạo cho họ một cuộc chơi khác, đón đầu một chu kỳ kinh tế mới. Tương phản với 2 điểm vừa nêu trên, trước hết, Masan là mô hình kinh doanh “sở hữu tài sản” không dính đến bất động sản (được định nghĩa là việc mua bán tài sản các công ty khác nhau để tạo tăng trưởng cho một công ty nào đó, mà NCĐT đã có dịp phản ánh trong bài viết “Masan: Mô hình sở hữu tài sản”). Bên cạnh đó, dù tiếng tăm ông Nguyễn Đăng Quang nhiều hơn thì cánh tay phải của ông lại là một CEO nước ngoài có nhiều kinh nghiệm, điều hiếm có ở các công ty Việt Nam.

Mặt khác, các cuộc mua bán tập trung vào hàng loạt “hàng tốt” của Việt Nam như dự án Núi Pháo (nơi có trữ lượng quặng vonfarm hàng đầu Việt Nam), Vinacafe (đứng đầu ngành cà phê), Proconco (top đầu ngành chăn nuôi gia súc) đã giúp Masan tạo nên giá trị vốn hóa lớn của họ trên thị trường, cũng như gia tăng lòng tin của nhà đầu tư với giá trị cổ phiếu. Có thể thấy, nếu thời điểm cuối năm 2009, giá trị vốn hóa của công ty này là 780 triệu USD thì đến cuối năm 2010 đã tăng 1,849 tỉ USD (sau hoàn tất dự án Núi Pháo) và tăng tiếp đến 2,231 tỉ USD cuối năm 2011 (sau hoàn tất thương vụ Vinacafe).

Và sẽ không có gì ngạc nhiên nếu giá trị vốn hóa của công ty này tiếp tục đà tăng trên thị trường chứng khoán sau các thương vụ như kiểu Proconco. Một điểm đáng lưu ý là các thương vụ mua bán từ năm 2011 được Masan xác định là tập trung chủ yếu vào ngành hàng tiêu dùng, lĩnh vực mà công ty này đã có lịch sử kinh nghiệm.

Chu kỳ kinh tế mới, làm gì để tăng giá trị vốn hóa?

Xác định ở thời điểm 15.10.2012, nếu loại trừ lĩnh vực gas (vốn là lợi thế quốc gia) thì giá trị vốn hóa của Masan và Vinamilk đang xấp xỉ 3.000 triệu USD cho mỗi công ty, đứng trong top 5 giá trị vốn hóa lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam. Điều này chứng tỏ cho sức phát triển của mô hình sở hữu tài sản tại Việt Nam (trường hợp Masan) và tính tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi (Masan, Vinamilk đều tập trung mạnh mẽ các nguồn lực để khai thác tối đa hóa lĩnh vực tiêu dùng).

Từ câu chuyện của Masan, Vinamilk, câu hỏi đặt ra liệu đây có thể là những hình mẫu doanh nghiệp trong chu kỳ kinh tế mới?

Một chu kỳ kinh tế được xác định bằng sự biến đổi của GDP và tỉ lệ thất nghiệp. Khi GDP giảm sâu và tỉ lệ thất nghiệp tăng lên sẽ đặt dấu chấm hết cho một chu kỳ kinh tế. Việt Nam tạm chia thành 3 chu kỳ kinh tế được tính từ thời điểm “mở cửa”: 1986-1999, 1990-1999, 2000-2009. Trong 3 giai đoạn này, nổi bật nhất là giai đoạn 2000-2009, khi Luật Doanh nghiệp được thực thi, cung tiền và tín dụng tăng cao, cộng với tiến trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ.

Chính vì lẽ đó, các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, xây dựng phát triển rất nhanh. Điều này dễ dàng nhận ra khi nhìn vào thống kê “Vốn đầu tư thực tế phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2005-2011” (xem lược đồ). Trong cuộc khảo sát “Top 50 công ty tốt nhất Việt Nam” do NCĐT thực hiện cũng cho thấy, sự mải mê làm giàu trong chu kỳ kinh tế vừa qua đã làm tăng giá trị vốn hóa đáng kể của các công ty bất động sản, xây dựng và tài chính, hoặc các công ty hoạt động đa ngành nghề, có liên quan đến bất động sản.

Dĩ nhiên, kết quả của nó là sự suy yếu các công ty này về giá trị vốn hóa sau khi chu kỳ kinh tế 10 năm lâm vào thoái trào từ ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu. Và sau đó, chu kỳ kinh tế mới tạm mở ra với sự xuất hiện các “nhà giàu” đi mua tài sản tốt như Masan, thông qua dòng tiền quốc tế. Trong khi giá trị vốn hóa của tập đoàn kiểu như Masan càng lúc càng tăng thì quan ngại về hệ quả thâu tóm trên diện rộng của một nhóm kinh doanh thiểu số quyền lực có thể được đặt ra. Vụ thâu tóm Sacombank vừa qua chính là một điển hình.

Nếu theo lý thuyết, chu kỳ kinh tế mới bắt đầu từ sau năm 2009 có thể sẽ đóng khép 10 năm tới, tức là năm 2019. Nhưng có thể sự suy thoái sẽ trở nên sớm hơn nếu chính sách vĩ mô không hướng đến bền vững. Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân có thể tiếp tục nhanh chóng chứng kiến những sự suy giảm sớm về giá trị công ty và các “nhà giàu” thì càng gần cơ hội để mua lại các tài sản. Kết quả của nó là hình thành một số ít tập đoàn tư nhân lớn mà giá trị vốn hóa cộng lại chiếm phần lớn thị trường, như trường hợp của thị trường chứng khoán Philippines. Và hình ảnh một công ty với doanh thu nhỏ hơn như Masan (doanh thu khoảng 7.000 tỉ đồng trong năm 2011) “gặm” một công ty có doanh thu lớn hơn gấp đôi như Proconco sẽ chẳng là điều ngạc nhiên.

Cũng trong chu kỳ kinh tế mới, có thể sẽ chứng kiến những thách thức lớn đối với các công ty đã vào giai đoạn bò sữa và còn loay hoay với mục tiêu mở rộng kinh doanh. Nhiều công ty “top đầu” thị trường chứng khoán đang cố thực hiện các cuộc sở hữu tài sản để tiếp tục tạo tăng trưởng, gia tăng giá trị vốn hóa. Không chỉ Masan đang biến họ thành mô hình tài sản lấy lĩnh vực tiêu dùng làm cốt lõi mà REE, công ty niêm yết đầu tiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đang nỗ lực “thu mua” các tài sản trong lĩnh vực hạ tầng điện, nước. Ngay cả Vinamilk dù chưa tuyên bố chiến lược rõ ràng, nhưng động thái “săn” các công ty sữa ở nước ngoài với hình thức liên doanh cũng cho thấy điều tương tự. Nên nhớ những nỗ lực của các CEO Việt trong giai đoạn kinh tế mới sẽ là điểm cộng cho giá trị trường của cổ phiếu, một yếu tố quan trọng để quyết định mức giá trị vốn hóa cao của các doanh nghiệp. 

Tác giả: Tàng Long     NCĐT 22/10/2012

%d bloggers like this: