Lưu trữ | 11:58 Sáng

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN ! – Ngô Minh

1 Th10

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

alt
Cụ ĐẶng Huy Trứ 

     104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

                                                                               Ngô Minh

                              Mình thiệt, lợi dân, DÂN gắn bó

                             Đẽo dân ,mình béo, DÂN căn hờn

                             Hờn căm, gắn bó tùy ta cả

                             Duy chữ THANH, THANH đối thế nhân 

                                    (Đặng Huy Trứ)

          Đó là bốn đề từ cho cuốn sách có một không hai trong lịch sử nước ta :TỪ THỤ YẾU QUY (không thể nhận và có thể nhận). Đặng Huy Trứ  (1825- 1874) là ông quan nổi tiếng triều Nguyễn về đức thanh liêm. Không chỉ liêm khi đương chức, về cuối đời, khi đang bệnh nặng ở Trung Quốc, ông đã dốc hết trí tuệ và sinh lực  để soạn cuốn sách  dày 650 trang  bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, gọi là Từ thụ yếu quy , rồi tự bỏ tiền túi ra in năm 1868, mong để lại cho đời sau những điều tâm huyết: Muốn làm quan phải luôn luôn tâm niệm có 104 thứ hối lộ không thể nhận. Cuốn sách cũng đưa ra những điển tích, những tấm gương sáng của người xưa về đức thanh liêm

          Đặng Huy Trứ quê ở Làng Thanh Lương, Hương Trà, Thừa Thiên- Huế. Ông đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi ( 1847), đi dạy học, 8 năm sau ra làm quan duới triều Tự Đức với những chức vụ :Thông ty Bố chánh, tri phủ nhiều tỉnh , Biên lý Bộ Hộ, Hàn lâm viện Ngự sử, làm Bình Chuẩn ở Hà Nội chuyên lo kinh tế cho triều đình. Trong cuộc đời làm quan ngắn ngủi của mình, ông đã dâng nhiều  biện pháp cách tân kinh tế lên  triều đình, ,ông thẳng tay chống lại những hành vi tham nhũng ! Bản thân ông sống “ cơm chỉ rau dưa, nhà khoe mái dột”. Gắn bó với đời sống cùng khổ của nhân dân ,ông sớm nhận ra cái họa tày đình  của nạn tham nhũng, hối lộ đang ngày đêm đục ruỗng rường cột quốc gia. Tác  phẩm Từ thụ yếu quy được viết trong tâm trạng lo lắng ấy ! Từ thụ yếu quy  đúc kết 104 kiểu hối lộ, tham nhũng điển hình phổ biến trong xã hội. Sau nỗi điều viết về tệ hối lộ, Đặng Huy Trứ kêu lên : Không thể nhận ! Sau đây là một số trong 104 điều hối lộ không thể nhận. Phần trình bày, ví dụ, nêu gương sáng của Đặng Huy Trứ rất kỹ, rất phong phú, xin được nêu vắn tắt :

          Sĩ tử đi thi hối lộ cầu được đỗ . Phép thi quý là chọn được thực tài.Thế mà có kẻ hèn kém, ngày thường chẳng chịu học hành, đến kỳ thi liền đem tiền bạc đến hối lộ quan chấm thi, để cầu được đỗ. Những kẻ ấy hạnh kiểm đã chẳng ngay thẳng…Nếu được đỗ thì cả đời họ chỉ tiến thân bằng con đường mờ ám, di hại cho dân chúng không nhỏ. Trừ được một kẻ như thế,dân chúng thoát được tai ương sau này…Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Quan lại xảo quyệt hối lộ cầu được tiến cử . Người làm quan phần đông nóng lòng mưu cầu giàu sang, hoặc muốn bổ vào chỗ dễ kiếm chác, hoặc mong thăng chức, hoặc tìm cách lẫn tránh nơi khó khăn.v.v..Lúc đầu thì biếu ta sơn hào, hải vị, trà ngon, the tốt, tiếp đến là tùy trên thích gì lớn nhỏ đều sẵn sàng dâng vàng bạc từ một lạng đến ba bốn trăm lạng…Đến khi mua được chức quan thì lãi mẹ để lãi con. Họ dùng quyền uy để mà lấy lại, dùng mưu mẹo để mà lấy lại, dùng ngày giỗ cha mẹ để mà lấy lại, dùng việc cưới xin con cái để mà lấy…Tất cả do ta đã nhận hối lộ rồi tiến cử họ mà gây nên như vậy…Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Quản cơ, suất đội hối lộ để được ra coi cửa quan, cửa biển ( tức Hải Quan). Các viên quản suất ấy sốt sắng việc công thì ít mà hám lợi thì nhiều. Ở cửa biển, thuyền đánh cá sớm đi chiều về,thì đòi biếu cá tôm, cua bể. Thuyền buôn trong nước thì đòi biếu tiền ,gạo, thổ sản…Thuyền buôn của Tàu ( Trung Quốc) ra vào thì đòi biếu hàng Tàu, đôi dăm ba lạng bạc. Ngoài ra còn khoản hối lộ về hàng cấm. Như thế hàng năm họ thu đưọc rất nhiều. Nghe tin cửa biển nào thiếu người thì họ chạy chọt, vay tiền bạc để hối lộ ta. Được chức rồi thì họ sách nhiễu con buôn. Không có vật gì dù nhỏ mọn mà họ không lấy. Còn ta thì cứ dày mặt với người,thật là xấu xa. Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Địa phương hối lộ các quan thanh tra . Quan thanh tra đi đâu đều được ban cấp tiền bạc, được huấn thị “ giữ lòng công, gác tình riêng”. Dầu thế, địa phương vẫn chuẩn bị tiền nong, vàng bạc , chờ xem thế nào sẽ biện lễ. Quà cáp nhiều, nói năng khéo, rồi bao nhiêu khiếm khuyết đều che đậy cho họ, rồi trên tờ trình đầy rẫy những lời tán dương, khen ngợi. Vâng mậnh lệnh vua, cầm tờ tiết đi kinh lược việc lớn, mà cứ thế thì khác nào từ trên cao đổ xuống, sẽ hại đến dân chúng trong thiên hạ. Triều đình còn trông cậy vào đâu ?. Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Thương nhân …hối lộ để xin giấu bớt thuế .Thuyền buôn sau khi đóng ( hàng) xong rồi báo khám. Căn cứ chiều dọc ngang ,rộng hẹp mà định nghạch thuế. Khi thuyền chở hàng ra cảng, theo hai hạng quý và thường, rồi căn cứ vào số cân mà đánh thuế. Song phép công cố định mà lòng người ham muốn không cùng. Con buôn thì lần đo khám nào cũng đem tiền bạc hối hộ  cho quan để ẩn lậu cho đi. Nếu thấy họ lễ hậu mà giảm cho, để túi riêng ta căng đầy, còn thuế khóa của triều đình thì bị thất thoát, thứ giam tham ấy khác chi bọn thủ kho trực tiếp moi móc kho hàng. Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Con buôn nước ngoài hối lộ để cầu thân. Con buôn mang lễ vật  biếu quan nào trà Ô Long, quạt lông trắng, bút rau chuột, lộc nhung, quế chi, the lụa Tô Châu, đồ sứ Giang Tây…Nhờ thế họ buôn bán hàng cấm, tung tiền ra để mau chuộc, xin thầu việc này việc khác, nhờ đòi nợ…mà trở nên giàu có. Họ mưu dùng ta làm bức tường chắn cho họ làm giàu…Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

Còn có nhiều thứ  hối lộ không thể nhận nữa như Hối lộ để chia nhau những thứ dôi ra trong kho, hối hộ để cầu xin làm việc thu thuế, nhà giàu keo kiệt hối lộ để được miễn góp việc công, hối lộ để xin khai thác khoáng sản.v.v…Do nhiều năm làm quan lo kinh tế cho Triều đình, bằng kinh nghiệm của mình, Đặng Huy Trứ đã tổng kết gần như đủ mưu ma hối lộ tham nhũng. Ông viết cuốn sách nói là để dạy con cháu trong nhà, nhưng đã 130 năm nay, cuốn sách vẫn còn rất hữu ích, vẫn nóng bỏng tính thời sự. Đây thực sự là cẩm nang  cho những người làm quan giữ đức thanh liêm có lợi cho dân cho nước. Tôi ước ao làm sao mỗi cán bộ, đảng viên của ta  có cuốn Từ thụ yếu quy gối đầu giường để hàng ngày đọc mà tu thân, mà chiêm nghiệm đạo làm người!

BÀI THƠ TUYỆT VỜI – Ngô Minh

1 Th10

BÀI THƠ TUYỆT VỜI

Bạn đọc thân mến . Nhà văn Trần Thùy Mai vừa Email cho QTXM bài tho tuyệt vời của một em bé Châu Phi viết bằng tiếng Anh.  Bài thơ được tổ chức UN bình chọn là bài thơ hay nhất Nhà văn không ghi tên tác giả cugnx không ghi tên người dịch. Bài thơ rất hay , người đọc thật sự bất ngờ trước những câu chữ thật đơn giản nhưng sức chứa đựng truyền tải thật phi thường   Cho nên nói khi chưa biết làm thơ th́ì thấy vần điệu là hay, khi mới biết làm thơ th́ì thấy chữ nghĩa được tu từ đẻo gọt là hay, khi làm thơ được rồi thì́ thấy quan sát, đột phá, đổi mới là hay… Rồi cho đến một khi nào đó thì́ thấy tất cả đều là vô nghĩa. Chỉ cọ̀n lại tấm lòng với cảm xúc đích thực của chính ḿình tuôn chảy ra một cách tự nhiên, thoát khỏi sự ràng buộc của ngôn từ – thi tứ, thoát khỏi sự gọt nắn, o bế của chức danh, tuổi tác, đẳng cấp, giới tính..khi đó mới thực sự đúng nghĩa là Thi Ca.

When I born, I black
When I grow up, I black :
When I go in Sun, I black
When I scared, I black
When I sick, I black
And when I die, I still black

And you white fellow
When you born, you pink
When you grow up, you white
When you go in sun, you red
When you cold, you blue
When you scared, you yellow
When you sick, you green
And when you die, you grey
And you calling me colored??
__________

Bản dịch thơ

Khi tôi sinh ra, tôi màu đen
Khi tôi lớn lên, tôi màu đen
Khi tôi đi dưới mặt trời, tôi màu đen
Khi tôi sợ, tôi màu đen
Khi tôi đau, tôi màu đen
Và khi tôi chết, tôi cũng màu đen
.
Anh nói rằng anh trắng
Khi anh sinh ra, anh màu hồng
Khi anh lớn lên, anh màu trắng
Khi anh đi dưới mặt trời, anh màu đỏ
Khi anh lạnh, anh màu xanh
Khi anh sợ, anh màu vàng
Khi anh đau, anh màu tái (lục)
Và khi anh chết, anh màu xám
Và tại sao anh lại nói tôi là da màu !

 

Cô gái thất học và triết gia lãng mạn

1 Th10

Cô gái thất học và triết gia lãng mạn

 –

“Cô tin là thấy ở tôi một người đàn ông chính trực; cô không lầm. Tôi tin là thấy ở cô một cô gái đa cảm, chất phác và không đỏng đảnh; tôi cũng không lầm. Tôi sống với Thérèse của tôi dễ chịu như với bậc kỳ tài phi thường nhất thiên hạ. “


ĐỌC CHẬM CUỐI TUẦN

Bánh mì trời hay bánh mì trần thế?
Em 13 tuổi, và em bị bán
“Nàng men chàng bóng” dội nước lạnh vào người đồng tính
‘Cầu trời cho em rời đi để tôi có thể thở trở lại’
Thiên tài từ túp lều nghèo khó
Những người khổng lồ “made in Vietnam” (p.2)
“Anh nhầm Dow Jones với Đông Gioăng…”
Quan niệm của một 9X về sách vở
Scandal của một triết gia

Đã từng đề cập đến Jean-Jacques Rousseau thông qua ngòi bút của một nhà tư tưởng hiện đại khác – Richard David Precht (Đức) trong “Scandal của một triết gia“, Đọc chậm cuối tuần lại có dịp nhắc đến ông bởi sự ra đời một tác phẩm đồ sộ. “Những lời bộc bạch” vừa ra mắt tại Việt Nam được viết bởi chính ông lúc cuối đời, như một lời trần tình về bản thân với công chúng và hậu thế.

Rousseau là một trong những vĩ nhân có xuất thân “dưới đáy” nhưng sau này đã vượt lên để trở thành người khổng lồ của nhân loại – một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến phong trào Khai sáng, cuộc cách mạng Pháp cũng như chủ nghĩa Lãng mạn. Cậu bé ốm yếu và đa cảm, mồ côi mẹ từ nhỏ, sinh ra trong một gia đình chữa đồng hồ lang bạt – đã dành cả cuộc đời mình tìm kiếm và xây dựng một con người lý tưởng trong xã hội mà ông nhìn thấy có quá nhiều bất công.

Nghiệm chứng từ chính bản thân mình trong mối tương quan với cộng đồng, các tác phẩm trong cuộc đời Rosseau tập trung ở 2 công trình lớn: xây dựng các “Khế ước xã hội” và xây dựng con người mới – “Émile hay là về giáo dục” (Tại Nhật, người ta bắt buộc tất cả giáo viên mầm non phải đọc một số chương trong cuốn sách này trước khi bước vào nghề).

Không chỉ tìm cách cải thiện cấu trúc xã hội bằng cách đưa ra các ý tưởng về khế ước, ông còn nhìn sâu và đấu tranh với cái xấu ngay trong chính bản thân mình. Dù nhiều người xem ông là cực đoan và kì dị, Rousseau chắc chắn là một trong những triết gia liêm khiết nhất, tự trọng nhất, thành thực nhất – người đã lấy cuộc đời mình chứng minh cho những quan niệm mà ông theo đuổi.

Là một triết gia của thế kỉ 18, nhưng Rosseau có một tầm nhìn rất xa vượt qua thời đại của mình: ông dùng lý trí để phê phán cách sử dụng lý tính tuyệt đối, ông tôn trọng con người thuần chất, tôn trọng cảm xúc và lưu ý về việc giữ gìn cảm xúc, ông cảnh báo về sự xa rời của con người với tự nhiên, ông là người đầu tiên đem lại phẩm chất cao quý cho từ “dân chúng”…

Tất cả những điều đó đã làm nên một Rosseau hiện đại ngay cả trong thế kỉ 21. Tư tưởng của ông còn được coi là gần gũi với những người yêu chủ nghĩa lãng mạn, những người hippie, những người yêu hòa bình, những người bảo vệ môi trường và những người yêu thích văn hóa đại chúng.

Ảnh 1: Giáo sư/dịch giả Lê Hồng Sâm từng được nhận Huân chương Cành cọ Hàn lâm Pháp (2003) và giải thưởng “Tinh hoa Giáo dục Quốc tế” của quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh (2008).

Trong cuộc tọa đàm về “Những lời bộc bạch” diễn ra cuối tháng 9/2012 tại Hà Nội, dịch giả Lê Hồng Sâm đã “đính chính” một tư tưởng hay bị hiểm nhầm nhất của Rousseau. Trong khi một số tài liệu cho rằng Rousseau không tin vào tác dụng của khoa học và nghệ thuật với con người, thì dịch giả cho hay ông chỉ không tin vào khoa học và nghệ thuật ngay tại xã hội hiện thời ông đang sống. Ông cho rằng cạnh tranh xã hội làm con người xấu xa đi. Nhưng bởi là một người trưởng thành nhờ tự học, Rousseau cũng thông báo “nếu như con người có tiềm năng để trở nên xấu xa, thì cũng chính con người cũng có thể trở nên tốt đẹp”. Ông phân biệt con người với các loài động vật bằng “khả năng tự hoàn thiện” của con người.

Rousseau có một trái tim hiền hòa, một trí óc nhạy cảm và nhiều tình yêu thương. Ông cũng đòi hỏi và kì vọng ở những con người khác trong xã hội một cung cách xử sự, một tấm chân tình tương tự; nhưng ông thường xuyên thất vọng. Trong cả cuộc đời mình, ít khi ông tìm thấy niềm an ủi nơi người khác. Thérèse là một trong vài ngoại lệ.

Không phải là một người phụ nữ thông tuệ, nhưng tính tình khiêm nhường, chất phác và dịu dàng của cô khiến cho quãng thời gian bên Thérèse trở thành hồi ức hạnh phúc trong cuộc đời nhà triết học Khai sáng và lãng mạn – J.J. Rousseau

Ảnh 2: Nhà triết học Khai sáng và lãng mạn – J.J. Rousseau

Trích đoạn thuộc về cuốn sách “Những lời bộc bạch” của J.J. Rousseau (NXB Tri thức), do dịch giả Lê Hồng Sâm dịch từ tiếng Pháp.

*Viết về việc học

Chúng tôi thường ăn sáng bằng cà phê sữa. Đó là thời gian trong gày mà chung tôi được yên tĩnh nhất, mà chúng tôi trò chuyện thoải mái nhất. Những buổi này thường kéo khá dài, kkhiến cho tôi vẫn còn rất thích các bữa sáng; và tôi vô cùng ưa tập quán của Anh và Thụy Sĩ, tại đó bữa sáng là một bữa ăn thực sự, tập hợp tất cả mọi người, hơn là tập quán của Pháp, nơi mỗi người ăn sáng một mình trong phòng riêng, hoặc thường xuyên hơn cả là không hề ăn sáng.

Sau một hai giờ trò chuyện, tôi đến với sách vở cho đến bữa ăn trưa. Tôi bắt đầu bằng một cuốn sách triết học nào đó, như Logic của Port-Royal, Tiểu luận của Locke, Malebranche, Leibnitz, Descartes, v.v..Chẳng bao lâu sau tôi nhận thấy tất cả các tác gia đó hầu như mâu thuẫn với nhau triền miên, và tôi xây dựng kế hoạch hão huyền là hòa hợp họ, cái kế hoạch khiến tôi rất mệt mỏi và mất nhiều thì giờ. Đầu óc tôi rối loạn và tôi chẳng tiến lên được.

Cuối cùng, từ bỏ phương pháp đó, tôi theo một phương pháp khác vô cùng tốt hơn, và tôi quy cho phương pháp này tất cả sự tiến bộ mà tôi có thể đạt được; mặc dù thiếu khả năng; vì chắc chắn rằng tôi luôn có rất ít khả năng để học tập.

Trong khi đọc mỗi tác gia, tôi đặt thành luật cho mình phải tán thành và đi theo mọi ý tưởng của tác gia đó, không xen ý tưởng của mình hay của một tác gia khác vào, và không bao giờ tranh cãi với ông ta.

Tôi tự nhủ: “Hãy khởi đầu bằng việc tạo cho mình một kho ý tưởng, đúng hay sai, nhưng rõ ràng, trong khi chờ đợi đầu óc mình chứa được nhiều ý tưởng đủ để có thể so sánh và chọn lọc“.

Phương pháp này không khỏi bất tiện, tôi biết như vậy, nhưng nó giúp tôi thành công trong mục tiêu trau dồi học thức. Sau vài năm chỉ tư duy thật đúng theo người khác, có thể nói là không ngẫm nghĩ và hầu như không suy lý, tôi thấy mình có một vốn thu hoạch đủ lớn để tự túc được, và tư duy không cần sự giúp đỡ của người khác.

Thế là, khi các chuyến đi và công việc khiến tôi không có phương tiện tham khảo sách vở, tôi giải trí bằng cách ôn lại và đối chiếu những gì mình đã đọc, bằng cách cân nhắc mỗi điều trên cán cân lý trí, và đôi khi xét đoán các bậc thầy của mình. Tuy bắt đầu muộn việc sử dụng năng lực phán đoán, song tôi thấy năng lực ấy không bị mất đi khí lực, và khi tôi công bố những ý tưởng của riêng tôi, mọi người đã không kết tội tôi là một đồ đệ nô lệ, nhất nhất chỉ theo lời thầy.

*Viết về Thérèse

Lần đầu tiên thấy cô gái này xuất hiện tại bàn ăn, tôi ngạc nhiên vì tư thái khiêm nhường của cô, và xúc động hơn nữa vì ánh mắt linh hoạt và dịu dàng, với tôi chẳng bao giờ có ánh mắt nào sánh được. Khách ăn, ngoài ông De Bonnefond, gồm nhiều tu sĩ người Irlande, Gascogne, và những người khác cùng kiểu như vậy. Bản thân bà chủ nhà đã từng lâu năm dập dìu ong bướm; ở đó chỉ có một mình tôi nói năng và cư xử đứng đắn.

Mọi người trêu ghẹo cô bé; tôi bênh vực cô. Lập tức những lời châm chọc rơi vào tôi. Cho dù tôi không có một mối ưa thích tự nhiên nào đối với cô gái tội ghiệp, thì niềm thương cảm, sự phản đối có lẽ cũng khiến tôi ưa thích cô. Tôi luôn yêu mến sự lương thiện trong thái độ và trong lời lẽ, nhất là ở nữ giới. Tôi đường hoàng trở thành người bảo hộ cô. Tôi thấy cô cảm động trước sự chăm sóc của tôi, và ánh mắt cô, phấn khích vì lòng biết ơn mà cô không dám nói ra miệng, chỉ càng thấm thía hơn vì thế.

Cô rất rụt rè, tôi cũng vậy. Tuy nhiêm mối quan hệ mà tâm tính chung này dường như đẩy ra xa lại càng hình thành nhanh chóng. Bà chủ nhà, nhận thấy chuyện đó, trở nên giận dữ, và những sự thô bạo của bà lại khiến chuyện của tôi tiến triển hơn với cô, do chỉ có mình tôi là chỗ dựa trong nhà, nên cô buồn khổ nhìn tôi ra phố và thở dài khi người che chở mình quay về.

Sự tương ứng giữa con tim chúng tôi, sự trùng hợp về tâm tính chúng tôi chẳng bao lâu có hiệu quả bình thường của nó. Cô tin là thấy ở tôi một người đàn ông chính trực; cô không lầm. Tôi tin là thấy ở cô một cô gái đa cảm, chất phác và không đỏng đảnh; tôi cũng không lầm. Tôi tuyên bố trước với cô rằng tôi sẽ không bao giờ bỏ mặc cũng không bao giờ lấy cô. Tình yêu, niềm quý trọng, sự thành thực chân chất là trợ thủ cho thắng lợi của tôi; và bởi cô giàu lòng yêu thương và lương thiện nên tôi chẳng dạn dĩ tán tỉnh mà lại được hạnh phúc.

Thoạt tiên tôi chỉ có ý định để mình vui chơi. Tôi thấy mình đã làm nhiều hơn, và đã để mình có một bạn gái. Quen thuộc hơn một chút với cô gái rất tốt này, suy nghĩ hơn một chút về tình thế của mình, tôi cảm nhận rằng trong khi chỉ nghĩ đến thú vui, thì tôi đã làm rất nhiều cho hạnh phúc của tôi. Thay vào chỗ tham vọng đã tắt, tôi cần một tình cảm sống động làm đầy trái tim tôi.

Khi tôi hoàn toàn đơn độc, lòng tôi trống trải nhưng để làm đầy nó chỉ cần một tấm lòng. Tôi tìm thấy ở Thérèse sự thay thế mà tôi cần; nhờ cô tôi sống hạnh phúc nhiều hết mức có thể, tùy theo tiến trình của các biến cố.

Bên cạnh những người mà ta yêu, tình cảm nuôi dưỡng trí não cũng như con tim, và ta ít cần tìm kiếm ý tưởng ở nơi khác. Tôi sống với Thérèse của tôi dễ chịu như với bậc kỳ tài phi thường nhất thiên hạ. Mẹ cô, tự hào vì trước kia được nuôi dạy bên nữ hầu tước De Monpipeau, làm ra vẻ có đầu óc văn chương, muốn chỉ huy đầu óc cô, và sự xảo quyệt của bà làm hỏng tính giản dị chất phác trong mối giao tiếp giữa chúng tôi. Do chán ngán sự quấy rầy này, tôi khắc phục được đôi chút nỗi xấu hổ ngu dại không dám xuất hiện công khai cùng Thérèse, và chúng tôi có những cuộc đi dạo riêng với nhau nơi đồng nội và những bữa nhẹ giữa chiều tuyệt vời đối với tôi.

Tôi thấy cô yêu tôi chân thành, và điều này làm tăng thêm tình thương mến nơi tôi. Tình trạng thân mật êm dịu này thay thế tất cả đối với tôi; tương lai không quan hệ đến tôi nữa, hoặc chỉ quan hệ đến tôi như là hiện tại kéo dài: tôi chỉ mong muốn làm cho nó được vững bền.

* Về công chúng và sự riêng tư

Thành công của những văn phẩm đầu tiên đã khiến tôi hợp thời thượng. Cảnh huống tôi đã chọn kích thích lòng hiếu kỳ; mọi người muốn biết cái con người kỳ quái chẳng cầu thân ai, chẳng quan tâm đến cái gì ngoài việc sống tự do và hạnh phúc theo cách của mình: thế là đủ để người đó không sao sống như vậy được. Căn phòng tôi ở không ngớt những người viện ra nhiều cớ khác nhau để chiếm lấy thì giờ của tôi.

Phụ nữ dùng trăm phương ngàn kế để có được tôi trong bữa ăn tối. Tôi càng cộc cằn với mọi người, thì họ càng gan lì. Tôi chẳng thể khước từ toàn thiên hạ. Do từ chối mà chuốc cho mình muôn kẻ thù, đồng thời tôi lại không ngừng bị chi phối vì dễ dãi, và dẫu làm cách nào, tôi cũng không có được mỗi ngày một giờ cho riêng mình.

Khi đó tôi cảm thấy nghèo và độc lập không phải bao giờ cũng dễ dàng như ta tưởng tượng. Tôi muốn sống bằng nghề của mình, công chúng không muốn thế. Họ nghĩ ra muôn ngàn kế nho nhỏ đề đền bù khoảng thời gian họ làm tôi bị mất. Chẳng mấy chốc khéo mà tôi phải phô mình như Polichinelle để được trả chừng này mỗi người. Tôi không biết tình trạng lệ thuộc nào nhục nhã hơn và tàn ác hơn tình trạng này. Tôi chỉ thấy phương cứu chữa là từ chối mọi tặng phẩm lớn nhỏ và không có ngoại lệ cho bất kì ai.

Tất cả chuyện này chỉ thu hút thêm người hiến tặng, họ muốn có niềm vinh quang thắng được sự kháng cự của tôi, và buộc tôi phải mang ơn họ bất chấp ý muốn của tôi. Như cái người có lẽ chẳng cho tôi một đồng écu, nếu tôi hỏi xin, lại cứ quấy rầy tôi không ngừng để biếu để tặng, và, nhằm trả thù vì bị cự tuyệt, chê trách sự từ chối của tôi là ngạo mạn và phô trương.

* Vẻ đẹp của thôn quê

Mặc dù trời lạnh, thậm chí hãy còn tuyết, song đất đai bắt đầu sinh trưởng; ta nhìn thấy hoa đổng thảo và anh thảo; các mầm cây bắt đầu nhú, và chính đêm tôi đến được đánh dấu bằng tiếng ca đầu tiên của chim họa mi, văng vẳng gần như bên cửa sổ, trong khu rừng nhỏ liền kề ngôi nhà.

Sau giấc ngủ không say, tỉnh dậy quên mất việc di dời, tôi ngỡ mình vẫn đang ở phố Genelle, thì đột nhiên tiếng hót ấy khiến tôi rùng mình và tôi reo lên phấn khích: “Cuối cùng mọi ước nguyện của ta đều được chuẩn nhận!“.

Mối quan tâm đầu tiên của tôi là thả mình theo ấn tượng của ngoại vật thôn dã bao quanh tôi. Càng xem xét nơi ẩn cư xinh đẹp, tôi càng cảm thấy nó hợp với mình. Nơi chốn hẻo lánh hơn là hoang dã ấy đưa tôi đến tận cùng thế giới bằng tâm tưởng. Nó có những vẻ đẹp nao lòng ít thấy gần thành phố, và khi được chuyển thẳng một lèo đến đó, chẳng bao giờ ta có thể tin mình chỉ cách Paris bốn dặm đường.

Vân Sam

Cụ bà bại liệt khóc con mù lòa – SGGP

1 Th10

 

ĐỊA CHỈ CẦN GIÚP ĐỠ

 Cụ bà bại liệt khóc con mù lòa

 
 

Có một căn nhà không điện, suốt mấy chục năm hiếm khi nào có tiếng cười nói, chỉ có hai mảnh đời côi cút vá víu, nương tựa vào nhau. Đó là hoàn cảnh của cụ Nguyễn Thị Kia (90 tuổi) và con gái là Trần Thị Thiên (68 tuổi), bị mù lòa và thần kinh điên loạn, trú tại tổ 5, thôn Hưng Lộc, xã Bình Định Nam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (ảnh). Trong căn nhà rách nát được chắp vá bằng những tấm phên cũ, dường như không có gì đáng giá hơn ngoài cái chum đựng gạo thời xa xưa.

 

Cụ Kia và con gái sống nhờ vào số tiền 180.000 đồng nhà nước trợ cấp hàng tháng. Những lúc bà Thiên tỉnh thì cụ “làm ánh sáng soi đường” cho con gái kiếm củi nấu cơm. Những lúc con điên loạn, cụ Kia chỉ biết nằm đó, mặc những giọt nước mắt chảy thành dòng. Bao nhiêu năm nay, cụ sống trong bóng tối nên đôi mắt cũng đã mờ, chưa kể những lần bà Thiên nổi cơn điên, cụ Kia vì “đói cơm” nên xỉu, bà con hàng xóm thương tình cho muỗng cháo, muỗng canh…

Bây giờ cụ Kia đã già yếu, niềm mong mỏi cuối cùng là muốn sống một ngày đủ 3 bữa ăn, đắp một cái chăn ấm trong những ngày mưa, được nhìn thấy ánh điện và được nhìn thấy con gái mình không phải cù bất cù bơ giữa chợ đời. Rất mong bạn đọc gần xa giúp đỡ để nụ cười của cụ Kia được sáng lên trong những tháng ngày cuối đời.

Mọi đóng góp xin gửi về Ban Chương trình xã hội Báo SGGP, 399 Hồng Bàng, phường 14, quận 5, TPHCM; ĐT: (08) 22111263. Hoặc chuyển qua số tài khoản Báo SGGP: 310.10000.231438 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh TP Hồ Chí Minh (ghi rõ nội dung chuyển gồm: tên người được giúp đỡ và ngày báo đăng tin).

Võ Thị Như Trang (Quảng Nam)

Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất – TVN

1 Th10

Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất

Tác giả: Trần Ngọc Vương
 
 

Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài trình bày của Phó Giáo sư Trần Ngọc Vương tại Hội nghị Trần Nhân Tông về Hoà giải tổ chức tại Harvard Faculty Club, ĐH Harvard,  Mỹ ngày 21/09 vừa qua.

Trong lịch sử Việt Nam từ sau thời điểm phục hưng được chủ quyền quốc gia (939), hiện tượng những người có thân phận ra đời trong hoàng gia, được quyền kế thừa ngôi vua hoặc ít nhiều có cơ hội để tranh đoạt ngôi vị đó nhưng lại thờ ơ với nó trên thực tế không phải là hiếm. Cả khi đã đăng cơ, một vài trong số họ vẫn nuôi giữ ý định rời bỏ ngôi vị. Có thể kể một số trường hợp tiêu biểu, chẳng hạn như cháu đích tôn của Ngô vương Quyền là Ngô Xương Tỷ, xuất gia tu hành ngay từ thời ông nội còn tại vị, về sau là vị Quốc sư của cả nhà Đinh và nhà Tiền Lê: Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu; Lý Nhân Tông từng hờ hững với ngôi vua để đến nỗi xảy ra vụ kỳ án Lê Văn Thịnh.

Trần Thái Tông từng bỏ ngôi vua trốn triều đình lên Yên Yử quyết chí tu hành với câu nói nổi tiếng “Ta đã trút bỏ ngôi vua như trút bỏ đôi giày rách” tuy rồi lại không từ bỏ được…

Sử gia nhà Nho các đời sau khi chép sử triều Trần đều chung hàm ý đánh giá, rằng nhà Trần “về khoan hậu thì có thừa mà về nghiêm trọng (nghiêm khắc, trang trọng) thì không đủ”.

Đương nhiên, khuynh hướng vận động chung của hệ tư tưởng xuyên suốt từ Ngô, Đinh cho tới tận triều Nguyễn vẫn là càng ngày càng thần thánh hóa, tuyệt đối hóa ngôi vua, vì thế mà nhìn chung, lịch sử càng nối dài thì sự chồng tầng theo hình kim tự tháp của kết cấu xã hội càng trở nên nặng nề, và khát vọng vươn lên địa vị tột đỉnh ở mỗi cá thể, vì thế cũng ngày càng mãnh liệt. Nhưng cuộc đời và hành trạng của Trần Nhân Tông trong thực tế lại đặt ra một số vấn đề theo một đường hướng khác.

Để hiểu Trần Nhân Tông, hẳn rằng phải trả lời một câu hỏi đặc biệt: rằng khi ai đó đã có địa vị (thậm chí từ thuở lọt lòng) là “bề trên tự nhiên”, một vị trí độc đắc, tối thượng mà bối cảnh lịch sử – cụ thể không làm xuất hiện đối thủ tranh giành, rồi người đó lại được hưởng thụ một nền giáo dục hoàn hảo bậc nhất của thời đại mình, tự giáo dục một cách ráo riết với một tư chất bẩm sinh là phi phàm, thì rốt cuộc, người ấy có thể muốn gì và có thể làm gì với đời sống và sinh mệnh của chính mình, theo yêu cầu tối ưu hóa tồn tại?

Triết lý sống xuất hiện từ xa xưa trong nền văn hóa Trung Hoa rồi phổ cập ra toàn vùng Đông Á về mục tiêu rốt ráo của đời người là làm sao để “dự” được vào một trong ba vị trí: lập đức, lập công hay lập ngôn, gọi là “tam bất hủ“.

Mẫu người cầm quyền lý tưởng theo Nho giáo là thánh vương, trên thực tế lịch sử là hiền nhân lập đức. Thánh hiền Nho gia nói chung chính là mẫu người lập đức, kết hợp nhiều ít với tiêu chí lập ngôn. Nhưng thánh hiền Nho gia không ai thực sự lập được “đại công”, hiểu theo nghĩa có một sự nghiệp chính trị nổi bật lúc sinh thời.

Pháp gia không đưa ra hình mẫu mang tính lý tưởng thực thụ, vì đó là một học thuyết cai trị theo tinh thần duy lợi, thực dụng nhưng tìm ra từ các công trình mang tính lý thuyết cơ bản của các nhà tư tưởng thuộc phái này, thì mẫu người cầm quyền đáng được đề cao nhất chính là mẫu người cầm quyền có đại công.

Trong lịch sử chính trị của Trung Quốc, một lịch sử chính trị có thực chất “nội Pháp ngoại Nho”, “thập đại đế vương” chính là những Hoàng đế được ghi nhận trên đường hướng này. Không ai trong số các đế vương nhờ lập ngôn mà trở nên hiển hách trong lịch sử. Phần lớn các “đại đế vương” Trung Hoa có khuyết tật trong nhân cách.

Với tất cả những dữ kiện lịch sử khả tín còn lại đến nay mà mình có thể biết, với tư cách nhà khoa học, cá nhân tôi không tìm thấy những bằng chứng để nhận xét rằng Trần Nhân Tông có thể có những tỳ vết nào đó về phương diện đức hạnh!

Sử thần Nho gia về sau từng đưa ra lời đại nghị, rằng Ngài “bẩm được tinh anh thánh nhân, thần khí tươi sáng, thể chất hoàn hảo“. Dường như “luật thừa trừ” (“bỉ sắc tư phong” – được cái này thì mất cái kia) đã lảng tránh, không đụng chạm tới Ngài!

Kinh nghiệm cho thấy, để hiểu một nhân vật lịch sử ở những tầng sâu kín nhất của họ, thường cần phải xâm nhập vào những trước tác hay những di ngôn, di chúc mà họ để lại. Chả thế mà S. Freud cùng các đồ đệ đã nhất trí cho rằng nghệ thuật và những giấc mơ cung cấp cho ta hình ảnh thăng hoa của những gì các “đương sự” không hoặc chưa thể thực hiện trong đời thực. Vô số khát vọng của con người, của cả các vĩ nhân, quằn quại, giãy dụa roi rói trong các con chữ, mặc cho thể xác họ đã từ lâu tuần hoàn trong hoàn vũ. Nhưng đọc hết những trước tác mà Trần Nhân Tông để lại, lại cơ hồ không tìm thấy dấu vết của những “mộng ước chưa thành” ấy. Chỉ có thể cho rằng, Ngài đã sống một cuộc đời không còn gì đáng để có thể ước mơ cao hơn, xa hơn!

Nhận chân về tính hữu hạn của đời người trên tất cả mọi bình diện, đó không phải là một phát hiện gì mới mẻ, nhất là ở các bậc được coi là đại trí xưa nay. Nhưng kể cả các bậc đại trí cũng chỉ thường nhận ra những giới hạn sau những thể nghiệm thất bại, và cũng thường phải đợi tới độ tuổi “sang nửa bên kia” của đời người. Vào một ngày “Xuân muộn” (Xuân vãn), Trần Nhân Tông cũng thể nhận điều đó:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung

Như kim kham phá Đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

(Tuổi trẻ chưa từng hiểu thế nào là “sắc”, “không”

Mỗi độ xuân về lòng để giữa trăm hoa

Nay khi đã khám phá ra khuôn mặt chúa xuân

Thì ngồi thiền trên tấm bồ đoàn nhìn hồng rụng).

Nhưng dường như sự thể nhận này ở Trần Nhân Tông không xuất lộ bởi những trải nghiệm đắng cay nào đó trong đời sống của chủ thể, và cũng chỉ vào thời khắc “muộn của mùa Xuân” chứ không là “buồn tàn thu” hay “sầu đông” ảo não. Tính chất an nhiên lộ rõ trong từng chữ.

Những bậc thánh triết Đông phương thường thường chỉ bàn về mọi lẽ một khi đã “liễu sinh tử“, tức đã thông hiểu tận cùng “căn nguyên và cơ cấu của sự sống và sự chết”. Làm chủ được “lẽ tử sinh”, với cơ hồ tất cả họ, mới xác lập được tiên đề cho việc luận đàm về mọi điều còn lại. Không chỉ Phật giáo, mà các học thuyết hay tôn giáo khác trong toàn khu vực cũng khá đồng quy trong tinh thần đó. Đứng trên lằn ranh giới của cuộc sinh tồn, chính là xác lập một tọa độ lý tưởng để có thể “quán chiếu” rốt ráo đối với mọi “ỉ eo đời thường” khác.

Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng. Khác với rất nhiều những triết nhân một khi đã tự cho mình là đấng toàn tri (omniscience) thì cũng bị ám ảnh bởi một thứ chủ nghĩa bi quan triết học, Trần Nhân Tông truyền cho đời sống một cảm xúc chí ít phải được đánh giá là lạc quan, nếu không cho rằng đó là một thái độ “ngày hằng sống, ngày hằng vui”.

Tinh thần “hòa quang đồng trần“, “cư trần lạc đạo“, “tam giáo tịnh hành” … nhờ thế trở thành “phong cách sống” của rất nhiều nhân vật văn hóa – lịch sử của thời đại. Dưới triều đại của Ngài, từ quý tộc, văn nhân, võ tướng, nhân gian bách tính cho đến những người thân phận thấp kém như hoạn quan, gia nô, nô tỳ, cho cả đến tù binh, tù nhân, những nhóm dân cư do hoàn cảnh cụ thể lâm vào tình thế tha phương cầu thực hay bị hạn chế tự do, đều nhất loạt trở nên “dễ sống” hơn, vui sống hơn.

Cá nhân Trần Nhân Tông, trong khi vừa tiếp tục thực thi những bổn phận “thế tục”, “hàng ngày” của mình, vừa làm nhà cầm quyền tối cao, vừa làm nhà ngoại giao kỳ đặc (cả trong những tình huống ứng xử đối nội lẫn đối ngoại), làm vị tướng song toàn, làm con hiếu thuận, làm cha nghiêm từ, làm em, làm anh độ lượng.., lại còn vừa lo nghĩ, tính toán nhiều đại sự cho nhiều thế hệ tiếp theo.

Chỉ với những gì thư tịch còn sót lại đến nay, có thể khẳng định Trần Nhân Tông là một tác giả văn chương vừa tinh tế vừa đa phong cách. Một trong những đóng góp đặc biệt của Trần Nhân Tông với tư cách tác giả văn học thể hiện ở chỗ Ngài chính là tác giả quan trọng đầu tiên còn để lại những tác phẩm lớn bằng chữ Nôm (với hai tác phẩm Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca), góp phần quan trọng kiến tạo nên bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ ghi lại tiếng nói của dân tộc.

Như nhiều học giả đã khẳng định, Thiền phái Trúc Lâm do Ngài sáng lập và trở thành Trúc Lâm đệ nhất tổ vừa kế thừa được tinh hoa của Thiền Tông nói chung, vừa kết tinh những thành tựu tu tập và quán tưởng của các hành giả bản địa, để trở thành một Thiền phái mang đậm sắc thái dân tộc mà đặc điểm hàng đầu là tinh thần nhập thế lạc quan, lại cũng vừa là nơi thể nghiệm sự kết hợp, dung hòa thêm các thành tố có nguồn gốc tôn giáo, tín ngưỡng hay học thuyết khác.

Tinh thần “dung tam tế” của các bậc quốc sư từ nhiều triều đại trước đến đây mở rộng hết tầm vóc. Một trong những chứng tích có ý nghĩa nhiều mặt được truyền thông rộng rãi gần đây chính là việc đấu giá phiên bản của bức họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ mà bản gốc được coi là quốc bảo đang được bảo vệ và lưu trữ ở Trung Quốc.

Còn nữa

Phần 2: Trần Nhân Tông trên cương vị một nhà cầm quyền

Đoản văn của Bùi Giáng – TN

1 Th10

Đoản văn của Bùi Giáng

Mới đây, chúng tôi được tiếp cận một số bản thảo viết tay của thi sĩ Bùi Giáng chưa xuất bản, trong đó có hai đoản văn ngồ ngộ. Xin giới thiệu với độc giả nhân dịp kỷ niệm 14 năm ngày thi sĩ mất.

>> Tọa đàm thơ Bùi Giáng
>> Bùi Giáng “nhập” vào nhạc Trần Quế Sơn
>> Bùi Giáng với Hoàng tử bé

Bài Ông Trời chất vấn ông điên – rằng: “Tại sao chú mày đánh đấm con vợ của chú mày như thế?”. “Tại vì nó có lỗi”. “Có lỗi như thế nào?”. “Tôi thì hằng năm tôi tắm rửa một lần để ăn tết. Còn nó thì mỗi ngày nó mỗi tắm… tức không chịu nổi!”. “Ủa, nó tắm rửa cho sạch sẽ thơm tho có gì đâu mà gọi là tội lỗi?”. “Nhưng mà nó càng sạch sẽ thơm tho bao nhiêu, thì thiên hạ càng thấy rõ cái dơ dáy thối tha của tôi bấy nhiêu. Có phải rằng nó có ý muốn vạch rõ cái thối tha bẩn thỉu của tôi? Tôi mang mặc cảm bấy lâu nay. Còn đâu hài hòa vợ chồng tâm đầu ý hiệp chứ”. Rồi “ông điên” muốn bỏ vợ để lấy “gái sa mạc” vì “sa mạc khô khan quanh năm, đâu có nước giếng nước biển nước sông để tắm cho nhiều”. Ông Trời gật gù: “À ra thế ấy, lọ là thế kia!”…

 thi sĩ Bùi Giáng
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng – Ảnh: Gia đình cung cấp

Bài thứ hai Mẹ ôi!, kể về cô gái 16 tuổi chửa hoang, bà mẹ thay vì phiền trách đã hân hoan reo lên: “Ồ, thế thì vạn phước đấy con ạ. Kiếp xưa có lẽ con khéo léo tu hành lắm đó, nên kiếp này mới gặp gỡ được thằng Mít (…) đến như con là đứa nghiêm trang nghiêm túc như thế mà nó chỉ la cà cày bừa trên bụng con đôi lần mà kết quả huy hoàng rực rỡ chói lòa thì đủ biết tài năng cày sâu cuốc bẫm của nó… Ha ha ha! Mẹ giao luôn cho nó cái khu vườn tược ba mẫu này để nó chăm sóc trồng dâu, trồng dừa: Ùn lên ngọn nước bốn mùa. Núi phơ phất tuyết, cổng chùa tịch liêu. Hai hàng phượng đỏ giấn liều. Đứa con gay cấn một chiều chửa hoang. Ha ha ha!!! Mẹ sắp có cháu ngoại để o bế o bồng rất mực bồng bế o o !!!”.

Đọc hai đoản văn trên hẳn có người sẽ nghĩ Bùi Giáng viết chỉ để “cà rỡn” chơi. Thật ra trong cái “cà rỡn” ấy vẫn ẩn chứa một điều gì khang khác là lạ so với những chuyện cười suông. Riêng chúng tôi, đọc hai bài trên, nghĩ mấy chữ “cổng chùa tịch liêu”, “đứa con gay cấn” và “sa mạc” là cái “chĩa ba” của một cây cổ thụ trong rừng ngôn ngữ mà Bùi Giáng trên đường ngao du đã đặt lên đó “một cách nhìn” để kể về: 1. Những “ông điên” quay cuồng theo các cặp đối trị: tốt – xấu, sạch – nhớp, khen – chê, vinh – nhục… 2. Những “đứa con gay cấn” đã rời “cổng chùa tịch liêu” để kết hôn với bọt nước, với nắng tàn, với sương mai và ánh chớp vội vàng vào mỗi chiều giông. Và thê thảm nhất là đã tự nhốt mình trong sách vở tư biện như ông từng viết: “tự nghìn năm triết học luận lý trường trại đã bóp ngột tư tưởng con người (…) nó khiến tư tưởng không thể nào bước đi thong dong trên ngã ba (…) không còn nghe ra ngôn ngữ Nguyễn Du, Shakespeare…”. (Đường đi trong rừng). Ông ca ngợi “sa mạc” – muốn tìm về “sự tĩnh lặng mênh mông, trong đó mọi năng lực, hùng tâm, dũng khí, thảy thảy tương hệ tương giao cùng rì rào hoạt động” và “im lặng vì xao xuyến dị thường” (Lời cố quận). Đó là “niềm im lặng” lên đường, tìm về nguồn cội sẵn có trong chính mình. Khi lạc lối, ông lại phải “chăn  trâu” hoặc “lùa dê” để lần về lối cũ: “Trăm năm trong cõi người ta – Chăn dê bò tại ngã ba đường rừng”. Và đây nữa: “Anh lùa dê vào núi rừng mây tím. Cho dê nhảy cỡn giữa mây ngàn (…) Dê lùa anh vào đồi sim trái chín. Anh lạc đường nghe dê gọi kêu vang”.

Lúc đầu ông “nghe dê gọi”. Đến sau ông quên cả dê, quên cả trâu, quên cả bò đang gặm cỏ, mà “chỉ nghe tiếng cọ rì rào”, rồi tự hỏi: “Có hay không bò đương gặm đó? Hay là đây tiếng gió thì thào? Hay là đây tiếng suối lao xao? Không biết nữa mà cần chi biết nữa”. Ông chả cần “biết” âm thanh tiếng động xung quanh mà đã quay “cái nghe” vào sâu nơi mình. Để từ trong cái “nghe tự tánh” ấy, đã tuôn chảy ra ngoài dòng sữa của thi ca…  

Giao Hưởng

Tài sản mềm của Việt Nam – TVN

1 Th10

Tài sản mềm của Việt Nam

Tác giả: Alan Phan
 
 
Nhìn lại Việt Nam, liệu chúng ta có thể đánh giá được những tài sản mềm? Vai trò của chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào trong chiến lược kinh tế khu vực và toàn cầu?

Khi tôi còn làm cho hãng Eisenberg và Hartcourt vào những năm đầu mở cửa của Trung Quốc (1975-1990), chúng tôi được tiếp đón nồng hậu và được mời đầu tư váo những công ty mà chính phủ Trung Quốc cho là “hòn ngọc”giá trị nhất của họ. Đó là những đại công ty có nhà máy lớn như một sân vận động, hàng chục ngàn nhân công, cơ sở văn phòng bề thế…tọa lạc phần lớn tại các vùng khỉ ho gà gáy (kế hoạch tránh các phi vụ ném bom trong chiến tranh). Những doanh nghiệp nhà nước này mang rất nhiều tính chất xã hội…nên thua lỗ thường trực.

Trước 1990, không mấy ai trên thế giới suy nghĩ nhiều về tài sản “mềm”, mà đo sự thịnh vượng thành công của 1 công ty hay 1 con người qua các đồ chơi sờ mó được như bất động sản, khoáng sản, thực phẩm, xe cộ, điện máy…

Giá trị của tài sản mềm

Do đó, khi Hartcourt đem tiền đầu tư chuyên vào các công ty IT, nhiều tư vấn Trung Quốc cho chúng tôi ngu, đem tiền đi đổ sông Ngô. Ngay đến hôm nay, phần lớn doanh nhân Việt vẫn không nhận ra giá trị mềm của công ty họ. Khi họ chào bán hay mời mọc, họ vẫn khoe nhiều về nhà máy hoành tráng, bao nhiêu hectares đất bao quanh, văn phòng tráng lệ ngay tại trung tâm thành phố và chiếc xe Rolls Royce họ đang lái…

Tôi có đến thăm tập đoàn Foxconn ờ Shenzen hai năm về trước. Nhà máy hiện đại với hơn 30 ngàn nhân công, hệ thống dây chuyền sản xuất và các phòng “sạch” (clean room) vĩ đại trông rất ấn tượng. Sản phẩm lớn nhất họ gia công là các Iphone, Ipad, Ipod cho Apple. Trong khi Apple làm chủ bản quyền trí tuệ và thương hiệu nên kiếm lời khoảng $140 USD mỗi đơn vị Iphone, lợi nhuận của Foxconn khoảng $7 một chiếc.

Hãng Nike có thương vụ lớn nhất toàn cầu về giầy dép và trang phục thể thao. Họ không sở hữu bất kỳ nhà máy nào trên thế giới. Tài sản quý giá nhất là thương hiệu đã xây dựng suốt 50 năm qua và những trung tâm thiết kế và các phòng thí nghiệm hiện đại nhất về công nghệ và sản phẩm. Những công ty có thị giá cao nhất trên thế giới đều là những công ty mà giá trị mềm vượt trội: Google, Microsoft, Facebook, Pfizer, Oracle, IBM…Không một công ty bất động sản nào nằm trong Top 100 (100 công ty hàng đầu).

Tài sản mềm mang giá trị quan trọng nhất trong lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế tương lai.

Nhìn lại Việt Nam, liệu chúng ta có thể đánh giá được những tài sản mềm? Vai trò của chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào trong chiến lược kinh tế khu vực và toàn cầu? Hãy kiểm điểm.

Tài sản con người

Hai yếu tố tạo mũi nhọn cho đội ngũ nhân lực là sáng tạo và năng động. Đây là phạm trù của tuổi trẻ và Việt Nam thường hãnh diện với một dân số mà 65% dưới 30 tuổi, trên 50 triệu người. Thêm vào đó, học sinh sinh viên Việt Nam thường tỏa sáng trên các trường trung đại học khắp thế giới. Cộng với giới trẻ trong nước, Việt Nam có 3.5 triệu kiều bào có kinh nghiệm nghề nghiệp cao, 32% tốt nghiệp đại học. Nói chung so với 9 quốc gia còn lại trong khối ASEAN, Việt Nam dẫn đầu về tiềm lực của nhân tài, trên cả Indonesia với gần 250 triệu dân.

Ảnh minh họa: tinmoi.vn

Tuy nhiên, sự yếu kém của nền giáo dục lý thuyết từ chương đã làm què quặt tiềm năng này. Công ty Intel đã không tìm ra đủ 180 nhân viên trung cấp cho nhà máy 1 tỷ đô la của họ ở Thủ Đức và phải nhập khẩu một số lớn chuyên viên từ Malaysia và Philippines. Các công ty FDI khác tại Việt Nam đều có những than phiền tương tự.

Thêm vào đó, tư duy sao chép nguyên bản các tư tưởng truyền thống, các công thức khoa học lỗi thời và chính sách dùng người lấy ngoan ngõan làm chỉ tiêu…đã gây thui chột mọi sáng kiến, mọi đổi mới, mọi tiến bộ. Dù có số lượng giáo sư tiến sĩ cao nhất ASEAN (gần 10 ngàn người), Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế nộp tại Âu Mỹ trong 6 năm qua. Năm 2011, trong khi Singapore với 5 triệu dân đăng ký 648 bằng sáng chế, con số từ Việt Nam là zero cho 90 triệu dân.

Thương hiệu quốc gia

Các tên tuổi mà mạng truyền thông Việt không ngừng vinh danh như Vinamilk, Trung Nguyên, Dr. Thanh, Bitis…đều không có một dấu ấn gì trên thương trường quốc tế. Ngay cả Vietnam Airlines đáng lẽ phải là một đầu cầu để phát huy các thương hiệu khác cho Việt Nam trên khắp điểm đến của thế giới đã chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Nhờ vai trò lịch sử trong 2 cuộc chiến tranh Pháp-Mỹ, Việt Nam đã có tiềm năng để nổi tiếng và tạo thiện cảm với nhân dân thế giới. Tuy nhiên sau 37 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh, hình ảnh Việt Nam đã mờ dần trong trí nhớ của những thế hệ trẻ sau này. Sự thiếu vắng những thành quả ấn tượng trên mọi lãnh vực từ kinh tế đến khoa học, từ nghệ thuật đến thể thao đã bào mòn thương hiệu Việt Nam.

Nhật Bản phải mất gần 40 năm mới tạo dựng cho Made In Japan một thương hiệu đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm và sáng tạo. Trung Quốc cố gắng tạo một thương hiệu quốc gia suốt 35 năm qua. Cho đến nay, kết quả ngược lại với mong ước, các thực phẩm, hóa phẩm Made in China bị tẩy chay trên mọi thị trường, ngay cả tại chính quốc gia họ. Các sản phẩm tiêu dùng khác của TQ đồng nghĩa với giá rẻ và biểu hiện của hàng nhái, hàng giả, hàng dởm…

Một may mắn cho Việt Nam là dù nằm cạnh Trung Quốc và mang nhiều tính chất kinh doanh cẩu thả tương tự, sản phẩm Việt Nam vẫn chưa bị bôi đen trên thế giới. Tuy nhiên, nếu tiếp tục copy ông láng giềng về quản lý chất lượng, thương hiệu chúng ta sẽ là một gánh nặng đè trên giá cả, thay vì hưởng một mức giá cao hơn (premium) như Nhật Bản.

Vị thế trên thị trường

Mọi nền kinh tế cũng như doanh nghiệp đều có thể tạo cho mình một thế mạnh trong các thị trường ngách, mà không cần đến các yếu tố cạnh tranh trên. Thí dụ, Thụy Sĩ hay Singapore không có một nền tài chính lớn mạnh như Mỹ, Anh…cũng không có đội ngũ hay công nghệ gì sáng tạo hơn; nhưng họ biết biến quốc gia nhỏ bé của họ thành một trung tâm tài chính thế giới qua chính sách mở rộng mà kín đáo, hiệu năng và minh bạch.

Việt Nam có thể tìm một lợi thế cạnh tranh theo phương thức trên. Dù công nghiệp Việt không thể sánh với Trung Quốc trên rất nhiều phương diện, nhưng các nhà sản xuất Hàn, Nhật đã đầu tư nhiều vào Việt Nam để tránh rủi ro khi bỏ tất cả trứng vào cái giỏ Trung Quốc. Về du lịch, dù không thể cạnh tranh với Thái Lan hay ngay cả xứ nhỏ như Singapore và Malaysia, Việt Nam có thể đào sâu vào một chiến lược đặc trưng như sinh thái hay thám hiểm hay hưu trí để tạo thị trường.

Hai ngành nghề tôi tin là Việt Nam có thể dẫn đầu tại ASEAN nếu biết phát triển đồng bộ và sáng tạo. Thứ nhất là nông nghiệp công nghệ cao. Tạo ra những sản phẩm xanh, sạch, an toàn được đảm bảo bởi những cơ quan kiểm phẩm nổi danh thế giới là bước đầu. Việc giáo dục huấn luyện cho các nông dân những công nghệ mới, những quy trình dùng IT để điều hòa và tiếp liệu, sử dụng đội ngũ tiếp thị trẻ và bén nhậy từ thành phố có thể tạo nên một làn sóng thay đổi bộ mặt của nông thủy sản Việt Nam. Người tiêu dùng tại các nước Á châu, nhất là tại các nơi có thu nhập cao như Hong Kong, Nhật, Singapore…đang có nhu cầu rất lớn về an toàn thực phẩm.

Thứ hai là ngành IT (công nghệ thông tin) tại các thành phố lớn bao quanh bởi các đại học tiến bộ và hiện đại. Giáo trình học phải thay đổi và các trung tâm IT phải có những cơ sở hạ tầng tối tân nhất để giúp tính sáng tạo của đội ngũ phát huy đúng mức.  Trên hết, luật về bản quyền trí tuệ phải được thắt chặt và nghiêm túc thực thi trên mọi cấp bực của thị trường.

Văn hóa gia đình và xã hội

Người Việt Nam có một gắn bó thân tình chặt chẽ với gia đình, làng xóm và đất nước, nên sự đùm bọc và tiếp sức tạo một thế đoàn kết mạnh hơn chủ nghĩa cá nhân của Âu Mỹ. Nhưng đây cũng có thể là một bất lợi vì tầm nhìn bị giới hạn, tâm lý bầy đàn rất cao và quá gần nhau thì cũng dễ gây ra xích mích mâu thuẫn. Một mặt khác, liên hệ với tha nhân ngoài xã hội lớn đang bị tha hóa và xuống cấp trầm trọng, tinh thần công dân trở nên tệ hại với những vấn nạn về tham lam, vô cảm, thói gây ô nhiễm và tư duy ích kỷ.

Nói tóm lại, cơ hội để tạo dựng những tài sản mềm cho Việt Nam hiện diện trên nhiều lãnh vực và tiềm năng của các tài sản này có thể là cú hích đưa kinh tế Việt bắt kịp các láng giềng giầu ở ASEAN trong 1 hay 2 thập kỷ sắp đến. Ba đòi hỏi quan trọng nhất trong quy trình đột phá này:

Một là, tư duy của đại đa số người dân phải thay đổi để hiểu rằng cái giá phải trả cho sự thịnh vương tương lai là can đảm vất bỏ ngay lập tức những thói quen tai hại, những tư tưởng lỗi thời và những định kiến sai lầm về kinh tế, xã hội và văn hóa. Một cuộc đổi mới toàn diện từ trí tuệ của trí thức, nông nhân công, trẻ già, giàu nghèo là ưu tiên số một.

Hai là, thành phần ưu tú và đang được hưởng thụ những thành quả từ sự thay đổi cơ chế phải nắm lấy cơ hội để tạo cho doanh nghiệp mình đang làm chủ hay làm công lĩnh hội được những kiến thức, công nghệ hiện đại, những kỹ cương đạo đức dài hạn, những sáng tạo đột phá trên thị trường và phải bắt đầu xây dựng thương hiệu bền vững.

Ba là, chính phủ nên tránh mọi can thiệp vào vận hành kinh tế của tư nhân, hãy tin vào khả năng kinh doanh của người dân, Họ dư sức đưa nền kinh tế này vào quỹ đạo của các nước tiến bộ và qua mặt những đối thủ cạnh tranh tại ASEAN cũng như toàn cầu. Hãy cởi trói cho họ để họ tự lực cánh sinh và đừng áp đặt thêm những gánh nặng không cần thiết qua chính sách thuế khóa công bằng và thủ tục hành chính đơn giản minh bạch.

Như Milon Friedman đã nhận xét, “qua bao nhiêu thời đại với nhiều thể chế kinh tế, không có một hệ thống xã hội nào có thể cải thiện mức sống của người dân nhanh chóng bằng hệ thống tự do để mặc cho người dân tự tỏa sáng sự sáng tạo và lao động của họ.”

  • T/S Alan Phan là một doanh nhân bôn ba làm ăn trên 43 năm qua tại Mỹ và Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại các đại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) và Southern Cross (Úc). Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.
%d bloggers like this: