Lưu trữ | 11:58 Sáng

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN ! – Ngô Minh

1 Th10

104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

alt
Cụ ĐẶng Huy Trứ 

     104 KIỂU HỐI LỘ KHÔNG THỂ NHẬN !

                                                                               Ngô Minh

                              Mình thiệt, lợi dân, DÂN gắn bó

                             Đẽo dân ,mình béo, DÂN căn hờn

                             Hờn căm, gắn bó tùy ta cả

                             Duy chữ THANH, THANH đối thế nhân 

                                    (Đặng Huy Trứ)

          Đó là bốn đề từ cho cuốn sách có một không hai trong lịch sử nước ta :TỪ THỤ YẾU QUY (không thể nhận và có thể nhận). Đặng Huy Trứ  (1825- 1874) là ông quan nổi tiếng triều Nguyễn về đức thanh liêm. Không chỉ liêm khi đương chức, về cuối đời, khi đang bệnh nặng ở Trung Quốc, ông đã dốc hết trí tuệ và sinh lực  để soạn cuốn sách  dày 650 trang  bàn về nạn hối lộ và đức thanh liêm của người làm quan, gọi là Từ thụ yếu quy , rồi tự bỏ tiền túi ra in năm 1868, mong để lại cho đời sau những điều tâm huyết: Muốn làm quan phải luôn luôn tâm niệm có 104 thứ hối lộ không thể nhận. Cuốn sách cũng đưa ra những điển tích, những tấm gương sáng của người xưa về đức thanh liêm

          Đặng Huy Trứ quê ở Làng Thanh Lương, Hương Trà, Thừa Thiên- Huế. Ông đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi ( 1847), đi dạy học, 8 năm sau ra làm quan duới triều Tự Đức với những chức vụ :Thông ty Bố chánh, tri phủ nhiều tỉnh , Biên lý Bộ Hộ, Hàn lâm viện Ngự sử, làm Bình Chuẩn ở Hà Nội chuyên lo kinh tế cho triều đình. Trong cuộc đời làm quan ngắn ngủi của mình, ông đã dâng nhiều  biện pháp cách tân kinh tế lên  triều đình, ,ông thẳng tay chống lại những hành vi tham nhũng ! Bản thân ông sống “ cơm chỉ rau dưa, nhà khoe mái dột”. Gắn bó với đời sống cùng khổ của nhân dân ,ông sớm nhận ra cái họa tày đình  của nạn tham nhũng, hối lộ đang ngày đêm đục ruỗng rường cột quốc gia. Tác  phẩm Từ thụ yếu quy được viết trong tâm trạng lo lắng ấy ! Từ thụ yếu quy  đúc kết 104 kiểu hối lộ, tham nhũng điển hình phổ biến trong xã hội. Sau nỗi điều viết về tệ hối lộ, Đặng Huy Trứ kêu lên : Không thể nhận ! Sau đây là một số trong 104 điều hối lộ không thể nhận. Phần trình bày, ví dụ, nêu gương sáng của Đặng Huy Trứ rất kỹ, rất phong phú, xin được nêu vắn tắt :

          Sĩ tử đi thi hối lộ cầu được đỗ . Phép thi quý là chọn được thực tài.Thế mà có kẻ hèn kém, ngày thường chẳng chịu học hành, đến kỳ thi liền đem tiền bạc đến hối lộ quan chấm thi, để cầu được đỗ. Những kẻ ấy hạnh kiểm đã chẳng ngay thẳng…Nếu được đỗ thì cả đời họ chỉ tiến thân bằng con đường mờ ám, di hại cho dân chúng không nhỏ. Trừ được một kẻ như thế,dân chúng thoát được tai ương sau này…Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Quan lại xảo quyệt hối lộ cầu được tiến cử . Người làm quan phần đông nóng lòng mưu cầu giàu sang, hoặc muốn bổ vào chỗ dễ kiếm chác, hoặc mong thăng chức, hoặc tìm cách lẫn tránh nơi khó khăn.v.v..Lúc đầu thì biếu ta sơn hào, hải vị, trà ngon, the tốt, tiếp đến là tùy trên thích gì lớn nhỏ đều sẵn sàng dâng vàng bạc từ một lạng đến ba bốn trăm lạng…Đến khi mua được chức quan thì lãi mẹ để lãi con. Họ dùng quyền uy để mà lấy lại, dùng mưu mẹo để mà lấy lại, dùng ngày giỗ cha mẹ để mà lấy lại, dùng việc cưới xin con cái để mà lấy…Tất cả do ta đã nhận hối lộ rồi tiến cử họ mà gây nên như vậy…Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Quản cơ, suất đội hối lộ để được ra coi cửa quan, cửa biển ( tức Hải Quan). Các viên quản suất ấy sốt sắng việc công thì ít mà hám lợi thì nhiều. Ở cửa biển, thuyền đánh cá sớm đi chiều về,thì đòi biếu cá tôm, cua bể. Thuyền buôn trong nước thì đòi biếu tiền ,gạo, thổ sản…Thuyền buôn của Tàu ( Trung Quốc) ra vào thì đòi biếu hàng Tàu, đôi dăm ba lạng bạc. Ngoài ra còn khoản hối lộ về hàng cấm. Như thế hàng năm họ thu đưọc rất nhiều. Nghe tin cửa biển nào thiếu người thì họ chạy chọt, vay tiền bạc để hối lộ ta. Được chức rồi thì họ sách nhiễu con buôn. Không có vật gì dù nhỏ mọn mà họ không lấy. Còn ta thì cứ dày mặt với người,thật là xấu xa. Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Địa phương hối lộ các quan thanh tra . Quan thanh tra đi đâu đều được ban cấp tiền bạc, được huấn thị “ giữ lòng công, gác tình riêng”. Dầu thế, địa phương vẫn chuẩn bị tiền nong, vàng bạc , chờ xem thế nào sẽ biện lễ. Quà cáp nhiều, nói năng khéo, rồi bao nhiêu khiếm khuyết đều che đậy cho họ, rồi trên tờ trình đầy rẫy những lời tán dương, khen ngợi. Vâng mậnh lệnh vua, cầm tờ tiết đi kinh lược việc lớn, mà cứ thế thì khác nào từ trên cao đổ xuống, sẽ hại đến dân chúng trong thiên hạ. Triều đình còn trông cậy vào đâu ?. Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Thương nhân …hối lộ để xin giấu bớt thuế .Thuyền buôn sau khi đóng ( hàng) xong rồi báo khám. Căn cứ chiều dọc ngang ,rộng hẹp mà định nghạch thuế. Khi thuyền chở hàng ra cảng, theo hai hạng quý và thường, rồi căn cứ vào số cân mà đánh thuế. Song phép công cố định mà lòng người ham muốn không cùng. Con buôn thì lần đo khám nào cũng đem tiền bạc hối hộ  cho quan để ẩn lậu cho đi. Nếu thấy họ lễ hậu mà giảm cho, để túi riêng ta căng đầy, còn thuế khóa của triều đình thì bị thất thoát, thứ giam tham ấy khác chi bọn thủ kho trực tiếp moi móc kho hàng. Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

          Con buôn nước ngoài hối lộ để cầu thân. Con buôn mang lễ vật  biếu quan nào trà Ô Long, quạt lông trắng, bút rau chuột, lộc nhung, quế chi, the lụa Tô Châu, đồ sứ Giang Tây…Nhờ thế họ buôn bán hàng cấm, tung tiền ra để mau chuộc, xin thầu việc này việc khác, nhờ đòi nợ…mà trở nên giàu có. Họ mưu dùng ta làm bức tường chắn cho họ làm giàu…Thứ hối lộ ấy không thể nhận !

Còn có nhiều thứ  hối lộ không thể nhận nữa như Hối lộ để chia nhau những thứ dôi ra trong kho, hối hộ để cầu xin làm việc thu thuế, nhà giàu keo kiệt hối lộ để được miễn góp việc công, hối lộ để xin khai thác khoáng sản.v.v…Do nhiều năm làm quan lo kinh tế cho Triều đình, bằng kinh nghiệm của mình, Đặng Huy Trứ đã tổng kết gần như đủ mưu ma hối lộ tham nhũng. Ông viết cuốn sách nói là để dạy con cháu trong nhà, nhưng đã 130 năm nay, cuốn sách vẫn còn rất hữu ích, vẫn nóng bỏng tính thời sự. Đây thực sự là cẩm nang  cho những người làm quan giữ đức thanh liêm có lợi cho dân cho nước. Tôi ước ao làm sao mỗi cán bộ, đảng viên của ta  có cuốn Từ thụ yếu quy gối đầu giường để hàng ngày đọc mà tu thân, mà chiêm nghiệm đạo làm người!

BÀI THƠ TUYỆT VỜI – Ngô Minh

1 Th10

BÀI THƠ TUYỆT VỜI

Bạn đọc thân mến . Nhà văn Trần Thùy Mai vừa Email cho QTXM bài tho tuyệt vời của một em bé Châu Phi viết bằng tiếng Anh.  Bài thơ được tổ chức UN bình chọn là bài thơ hay nhất Nhà văn không ghi tên tác giả cugnx không ghi tên người dịch. Bài thơ rất hay , người đọc thật sự bất ngờ trước những câu chữ thật đơn giản nhưng sức chứa đựng truyền tải thật phi thường   Cho nên nói khi chưa biết làm thơ th́ì thấy vần điệu là hay, khi mới biết làm thơ th́ì thấy chữ nghĩa được tu từ đẻo gọt là hay, khi làm thơ được rồi thì́ thấy quan sát, đột phá, đổi mới là hay… Rồi cho đến một khi nào đó thì́ thấy tất cả đều là vô nghĩa. Chỉ cọ̀n lại tấm lòng với cảm xúc đích thực của chính ḿình tuôn chảy ra một cách tự nhiên, thoát khỏi sự ràng buộc của ngôn từ – thi tứ, thoát khỏi sự gọt nắn, o bế của chức danh, tuổi tác, đẳng cấp, giới tính..khi đó mới thực sự đúng nghĩa là Thi Ca.

When I born, I black
When I grow up, I black :
When I go in Sun, I black
When I scared, I black
When I sick, I black
And when I die, I still black

And you white fellow
When you born, you pink
When you grow up, you white
When you go in sun, you red
When you cold, you blue
When you scared, you yellow
When you sick, you green
And when you die, you grey
And you calling me colored??
__________

Bản dịch thơ

Khi tôi sinh ra, tôi màu đen
Khi tôi lớn lên, tôi màu đen
Khi tôi đi dưới mặt trời, tôi màu đen
Khi tôi sợ, tôi màu đen
Khi tôi đau, tôi màu đen
Và khi tôi chết, tôi cũng màu đen
.
Anh nói rằng anh trắng
Khi anh sinh ra, anh màu hồng
Khi anh lớn lên, anh màu trắng
Khi anh đi dưới mặt trời, anh màu đỏ
Khi anh lạnh, anh màu xanh
Khi anh sợ, anh màu vàng
Khi anh đau, anh màu tái (lục)
Và khi anh chết, anh màu xám
Và tại sao anh lại nói tôi là da màu !

 

Cô gái thất học và triết gia lãng mạn

1 Th10

Cô gái thất học và triết gia lãng mạn

 –

“Cô tin là thấy ở tôi một người đàn ông chính trực; cô không lầm. Tôi tin là thấy ở cô một cô gái đa cảm, chất phác và không đỏng đảnh; tôi cũng không lầm. Tôi sống với Thérèse của tôi dễ chịu như với bậc kỳ tài phi thường nhất thiên hạ. “


ĐỌC CHẬM CUỐI TUẦN

Bánh mì trời hay bánh mì trần thế?
Em 13 tuổi, và em bị bán
“Nàng men chàng bóng” dội nước lạnh vào người đồng tính
‘Cầu trời cho em rời đi để tôi có thể thở trở lại’
Thiên tài từ túp lều nghèo khó
Những người khổng lồ “made in Vietnam” (p.2)
“Anh nhầm Dow Jones với Đông Gioăng…”
Quan niệm của một 9X về sách vở
Scandal của một triết gia

Đã từng đề cập đến Jean-Jacques Rousseau thông qua ngòi bút của một nhà tư tưởng hiện đại khác – Richard David Precht (Đức) trong “Scandal của một triết gia“, Đọc chậm cuối tuần lại có dịp nhắc đến ông bởi sự ra đời một tác phẩm đồ sộ. “Những lời bộc bạch” vừa ra mắt tại Việt Nam được viết bởi chính ông lúc cuối đời, như một lời trần tình về bản thân với công chúng và hậu thế.

Rousseau là một trong những vĩ nhân có xuất thân “dưới đáy” nhưng sau này đã vượt lên để trở thành người khổng lồ của nhân loại – một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến phong trào Khai sáng, cuộc cách mạng Pháp cũng như chủ nghĩa Lãng mạn. Cậu bé ốm yếu và đa cảm, mồ côi mẹ từ nhỏ, sinh ra trong một gia đình chữa đồng hồ lang bạt – đã dành cả cuộc đời mình tìm kiếm và xây dựng một con người lý tưởng trong xã hội mà ông nhìn thấy có quá nhiều bất công.

Nghiệm chứng từ chính bản thân mình trong mối tương quan với cộng đồng, các tác phẩm trong cuộc đời Rosseau tập trung ở 2 công trình lớn: xây dựng các “Khế ước xã hội” và xây dựng con người mới – “Émile hay là về giáo dục” (Tại Nhật, người ta bắt buộc tất cả giáo viên mầm non phải đọc một số chương trong cuốn sách này trước khi bước vào nghề).

Không chỉ tìm cách cải thiện cấu trúc xã hội bằng cách đưa ra các ý tưởng về khế ước, ông còn nhìn sâu và đấu tranh với cái xấu ngay trong chính bản thân mình. Dù nhiều người xem ông là cực đoan và kì dị, Rousseau chắc chắn là một trong những triết gia liêm khiết nhất, tự trọng nhất, thành thực nhất – người đã lấy cuộc đời mình chứng minh cho những quan niệm mà ông theo đuổi.

Là một triết gia của thế kỉ 18, nhưng Rosseau có một tầm nhìn rất xa vượt qua thời đại của mình: ông dùng lý trí để phê phán cách sử dụng lý tính tuyệt đối, ông tôn trọng con người thuần chất, tôn trọng cảm xúc và lưu ý về việc giữ gìn cảm xúc, ông cảnh báo về sự xa rời của con người với tự nhiên, ông là người đầu tiên đem lại phẩm chất cao quý cho từ “dân chúng”…

Tất cả những điều đó đã làm nên một Rosseau hiện đại ngay cả trong thế kỉ 21. Tư tưởng của ông còn được coi là gần gũi với những người yêu chủ nghĩa lãng mạn, những người hippie, những người yêu hòa bình, những người bảo vệ môi trường và những người yêu thích văn hóa đại chúng.

Ảnh 1: Giáo sư/dịch giả Lê Hồng Sâm từng được nhận Huân chương Cành cọ Hàn lâm Pháp (2003) và giải thưởng “Tinh hoa Giáo dục Quốc tế” của quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh (2008).

Trong cuộc tọa đàm về “Những lời bộc bạch” diễn ra cuối tháng 9/2012 tại Hà Nội, dịch giả Lê Hồng Sâm đã “đính chính” một tư tưởng hay bị hiểm nhầm nhất của Rousseau. Trong khi một số tài liệu cho rằng Rousseau không tin vào tác dụng của khoa học và nghệ thuật với con người, thì dịch giả cho hay ông chỉ không tin vào khoa học và nghệ thuật ngay tại xã hội hiện thời ông đang sống. Ông cho rằng cạnh tranh xã hội làm con người xấu xa đi. Nhưng bởi là một người trưởng thành nhờ tự học, Rousseau cũng thông báo “nếu như con người có tiềm năng để trở nên xấu xa, thì cũng chính con người cũng có thể trở nên tốt đẹp”. Ông phân biệt con người với các loài động vật bằng “khả năng tự hoàn thiện” của con người.

Rousseau có một trái tim hiền hòa, một trí óc nhạy cảm và nhiều tình yêu thương. Ông cũng đòi hỏi và kì vọng ở những con người khác trong xã hội một cung cách xử sự, một tấm chân tình tương tự; nhưng ông thường xuyên thất vọng. Trong cả cuộc đời mình, ít khi ông tìm thấy niềm an ủi nơi người khác. Thérèse là một trong vài ngoại lệ.

Không phải là một người phụ nữ thông tuệ, nhưng tính tình khiêm nhường, chất phác và dịu dàng của cô khiến cho quãng thời gian bên Thérèse trở thành hồi ức hạnh phúc trong cuộc đời nhà triết học Khai sáng và lãng mạn – J.J. Rousseau

Ảnh 2: Nhà triết học Khai sáng và lãng mạn – J.J. Rousseau

Trích đoạn thuộc về cuốn sách “Những lời bộc bạch” của J.J. Rousseau (NXB Tri thức), do dịch giả Lê Hồng Sâm dịch từ tiếng Pháp.

*Viết về việc học

Chúng tôi thường ăn sáng bằng cà phê sữa. Đó là thời gian trong gày mà chung tôi được yên tĩnh nhất, mà chúng tôi trò chuyện thoải mái nhất. Những buổi này thường kéo khá dài, kkhiến cho tôi vẫn còn rất thích các bữa sáng; và tôi vô cùng ưa tập quán của Anh và Thụy Sĩ, tại đó bữa sáng là một bữa ăn thực sự, tập hợp tất cả mọi người, hơn là tập quán của Pháp, nơi mỗi người ăn sáng một mình trong phòng riêng, hoặc thường xuyên hơn cả là không hề ăn sáng.

Sau một hai giờ trò chuyện, tôi đến với sách vở cho đến bữa ăn trưa. Tôi bắt đầu bằng một cuốn sách triết học nào đó, như Logic của Port-Royal, Tiểu luận của Locke, Malebranche, Leibnitz, Descartes, v.v..Chẳng bao lâu sau tôi nhận thấy tất cả các tác gia đó hầu như mâu thuẫn với nhau triền miên, và tôi xây dựng kế hoạch hão huyền là hòa hợp họ, cái kế hoạch khiến tôi rất mệt mỏi và mất nhiều thì giờ. Đầu óc tôi rối loạn và tôi chẳng tiến lên được.

Cuối cùng, từ bỏ phương pháp đó, tôi theo một phương pháp khác vô cùng tốt hơn, và tôi quy cho phương pháp này tất cả sự tiến bộ mà tôi có thể đạt được; mặc dù thiếu khả năng; vì chắc chắn rằng tôi luôn có rất ít khả năng để học tập.

Trong khi đọc mỗi tác gia, tôi đặt thành luật cho mình phải tán thành và đi theo mọi ý tưởng của tác gia đó, không xen ý tưởng của mình hay của một tác gia khác vào, và không bao giờ tranh cãi với ông ta.

Tôi tự nhủ: “Hãy khởi đầu bằng việc tạo cho mình một kho ý tưởng, đúng hay sai, nhưng rõ ràng, trong khi chờ đợi đầu óc mình chứa được nhiều ý tưởng đủ để có thể so sánh và chọn lọc“.

Phương pháp này không khỏi bất tiện, tôi biết như vậy, nhưng nó giúp tôi thành công trong mục tiêu trau dồi học thức. Sau vài năm chỉ tư duy thật đúng theo người khác, có thể nói là không ngẫm nghĩ và hầu như không suy lý, tôi thấy mình có một vốn thu hoạch đủ lớn để tự túc được, và tư duy không cần sự giúp đỡ của người khác.

Thế là, khi các chuyến đi và công việc khiến tôi không có phương tiện tham khảo sách vở, tôi giải trí bằng cách ôn lại và đối chiếu những gì mình đã đọc, bằng cách cân nhắc mỗi điều trên cán cân lý trí, và đôi khi xét đoán các bậc thầy của mình. Tuy bắt đầu muộn việc sử dụng năng lực phán đoán, song tôi thấy năng lực ấy không bị mất đi khí lực, và khi tôi công bố những ý tưởng của riêng tôi, mọi người đã không kết tội tôi là một đồ đệ nô lệ, nhất nhất chỉ theo lời thầy.

*Viết về Thérèse

Lần đầu tiên thấy cô gái này xuất hiện tại bàn ăn, tôi ngạc nhiên vì tư thái khiêm nhường của cô, và xúc động hơn nữa vì ánh mắt linh hoạt và dịu dàng, với tôi chẳng bao giờ có ánh mắt nào sánh được. Khách ăn, ngoài ông De Bonnefond, gồm nhiều tu sĩ người Irlande, Gascogne, và những người khác cùng kiểu như vậy. Bản thân bà chủ nhà đã từng lâu năm dập dìu ong bướm; ở đó chỉ có một mình tôi nói năng và cư xử đứng đắn.

Mọi người trêu ghẹo cô bé; tôi bênh vực cô. Lập tức những lời châm chọc rơi vào tôi. Cho dù tôi không có một mối ưa thích tự nhiên nào đối với cô gái tội ghiệp, thì niềm thương cảm, sự phản đối có lẽ cũng khiến tôi ưa thích cô. Tôi luôn yêu mến sự lương thiện trong thái độ và trong lời lẽ, nhất là ở nữ giới. Tôi đường hoàng trở thành người bảo hộ cô. Tôi thấy cô cảm động trước sự chăm sóc của tôi, và ánh mắt cô, phấn khích vì lòng biết ơn mà cô không dám nói ra miệng, chỉ càng thấm thía hơn vì thế.

Cô rất rụt rè, tôi cũng vậy. Tuy nhiêm mối quan hệ mà tâm tính chung này dường như đẩy ra xa lại càng hình thành nhanh chóng. Bà chủ nhà, nhận thấy chuyện đó, trở nên giận dữ, và những sự thô bạo của bà lại khiến chuyện của tôi tiến triển hơn với cô, do chỉ có mình tôi là chỗ dựa trong nhà, nên cô buồn khổ nhìn tôi ra phố và thở dài khi người che chở mình quay về.

Sự tương ứng giữa con tim chúng tôi, sự trùng hợp về tâm tính chúng tôi chẳng bao lâu có hiệu quả bình thường của nó. Cô tin là thấy ở tôi một người đàn ông chính trực; cô không lầm. Tôi tin là thấy ở cô một cô gái đa cảm, chất phác và không đỏng đảnh; tôi cũng không lầm. Tôi tuyên bố trước với cô rằng tôi sẽ không bao giờ bỏ mặc cũng không bao giờ lấy cô. Tình yêu, niềm quý trọng, sự thành thực chân chất là trợ thủ cho thắng lợi của tôi; và bởi cô giàu lòng yêu thương và lương thiện nên tôi chẳng dạn dĩ tán tỉnh mà lại được hạnh phúc.

Thoạt tiên tôi chỉ có ý định để mình vui chơi. Tôi thấy mình đã làm nhiều hơn, và đã để mình có một bạn gái. Quen thuộc hơn một chút với cô gái rất tốt này, suy nghĩ hơn một chút về tình thế của mình, tôi cảm nhận rằng trong khi chỉ nghĩ đến thú vui, thì tôi đã làm rất nhiều cho hạnh phúc của tôi. Thay vào chỗ tham vọng đã tắt, tôi cần một tình cảm sống động làm đầy trái tim tôi.

Khi tôi hoàn toàn đơn độc, lòng tôi trống trải nhưng để làm đầy nó chỉ cần một tấm lòng. Tôi tìm thấy ở Thérèse sự thay thế mà tôi cần; nhờ cô tôi sống hạnh phúc nhiều hết mức có thể, tùy theo tiến trình của các biến cố.

Bên cạnh những người mà ta yêu, tình cảm nuôi dưỡng trí não cũng như con tim, và ta ít cần tìm kiếm ý tưởng ở nơi khác. Tôi sống với Thérèse của tôi dễ chịu như với bậc kỳ tài phi thường nhất thiên hạ. Mẹ cô, tự hào vì trước kia được nuôi dạy bên nữ hầu tước De Monpipeau, làm ra vẻ có đầu óc văn chương, muốn chỉ huy đầu óc cô, và sự xảo quyệt của bà làm hỏng tính giản dị chất phác trong mối giao tiếp giữa chúng tôi. Do chán ngán sự quấy rầy này, tôi khắc phục được đôi chút nỗi xấu hổ ngu dại không dám xuất hiện công khai cùng Thérèse, và chúng tôi có những cuộc đi dạo riêng với nhau nơi đồng nội và những bữa nhẹ giữa chiều tuyệt vời đối với tôi.

Tôi thấy cô yêu tôi chân thành, và điều này làm tăng thêm tình thương mến nơi tôi. Tình trạng thân mật êm dịu này thay thế tất cả đối với tôi; tương lai không quan hệ đến tôi nữa, hoặc chỉ quan hệ đến tôi như là hiện tại kéo dài: tôi chỉ mong muốn làm cho nó được vững bền.

* Về công chúng và sự riêng tư

Thành công của những văn phẩm đầu tiên đã khiến tôi hợp thời thượng. Cảnh huống tôi đã chọn kích thích lòng hiếu kỳ; mọi người muốn biết cái con người kỳ quái chẳng cầu thân ai, chẳng quan tâm đến cái gì ngoài việc sống tự do và hạnh phúc theo cách của mình: thế là đủ để người đó không sao sống như vậy được. Căn phòng tôi ở không ngớt những người viện ra nhiều cớ khác nhau để chiếm lấy thì giờ của tôi.

Phụ nữ dùng trăm phương ngàn kế để có được tôi trong bữa ăn tối. Tôi càng cộc cằn với mọi người, thì họ càng gan lì. Tôi chẳng thể khước từ toàn thiên hạ. Do từ chối mà chuốc cho mình muôn kẻ thù, đồng thời tôi lại không ngừng bị chi phối vì dễ dãi, và dẫu làm cách nào, tôi cũng không có được mỗi ngày một giờ cho riêng mình.

Khi đó tôi cảm thấy nghèo và độc lập không phải bao giờ cũng dễ dàng như ta tưởng tượng. Tôi muốn sống bằng nghề của mình, công chúng không muốn thế. Họ nghĩ ra muôn ngàn kế nho nhỏ đề đền bù khoảng thời gian họ làm tôi bị mất. Chẳng mấy chốc khéo mà tôi phải phô mình như Polichinelle để được trả chừng này mỗi người. Tôi không biết tình trạng lệ thuộc nào nhục nhã hơn và tàn ác hơn tình trạng này. Tôi chỉ thấy phương cứu chữa là từ chối mọi tặng phẩm lớn nhỏ và không có ngoại lệ cho bất kì ai.

Tất cả chuyện này chỉ thu hút thêm người hiến tặng, họ muốn có niềm vinh quang thắng được sự kháng cự của tôi, và buộc tôi phải mang ơn họ bất chấp ý muốn của tôi. Như cái người có lẽ chẳng cho tôi một đồng écu, nếu tôi hỏi xin, lại cứ quấy rầy tôi không ngừng để biếu để tặng, và, nhằm trả thù vì bị cự tuyệt, chê trách sự từ chối của tôi là ngạo mạn và phô trương.

* Vẻ đẹp của thôn quê

Mặc dù trời lạnh, thậm chí hãy còn tuyết, song đất đai bắt đầu sinh trưởng; ta nhìn thấy hoa đổng thảo và anh thảo; các mầm cây bắt đầu nhú, và chính đêm tôi đến được đánh dấu bằng tiếng ca đầu tiên của chim họa mi, văng vẳng gần như bên cửa sổ, trong khu rừng nhỏ liền kề ngôi nhà.

Sau giấc ngủ không say, tỉnh dậy quên mất việc di dời, tôi ngỡ mình vẫn đang ở phố Genelle, thì đột nhiên tiếng hót ấy khiến tôi rùng mình và tôi reo lên phấn khích: “Cuối cùng mọi ước nguyện của ta đều được chuẩn nhận!“.

Mối quan tâm đầu tiên của tôi là thả mình theo ấn tượng của ngoại vật thôn dã bao quanh tôi. Càng xem xét nơi ẩn cư xinh đẹp, tôi càng cảm thấy nó hợp với mình. Nơi chốn hẻo lánh hơn là hoang dã ấy đưa tôi đến tận cùng thế giới bằng tâm tưởng. Nó có những vẻ đẹp nao lòng ít thấy gần thành phố, và khi được chuyển thẳng một lèo đến đó, chẳng bao giờ ta có thể tin mình chỉ cách Paris bốn dặm đường.

Vân Sam

Cụ bà bại liệt khóc con mù lòa – SGGP

1 Th10

 

ĐỊA CHỈ CẦN GIÚP ĐỠ

 Cụ bà bại liệt khóc con mù lòa

 
 

Có một căn nhà không điện, suốt mấy chục năm hiếm khi nào có tiếng cười nói, chỉ có hai mảnh đời côi cút vá víu, nương tựa vào nhau. Đó là hoàn cảnh của cụ Nguyễn Thị Kia (90 tuổi) và con gái là Trần Thị Thiên (68 tuổi), bị mù lòa và thần kinh điên loạn, trú tại tổ 5, thôn Hưng Lộc, xã Bình Định Nam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (ảnh). Trong căn nhà rách nát được chắp vá bằng những tấm phên cũ, dường như không có gì đáng giá hơn ngoài cái chum đựng gạo thời xa xưa.

 

Cụ Kia và con gái sống nhờ vào số tiền 180.000 đồng nhà nước trợ cấp hàng tháng. Những lúc bà Thiên tỉnh thì cụ “làm ánh sáng soi đường” cho con gái kiếm củi nấu cơm. Những lúc con điên loạn, cụ Kia chỉ biết nằm đó, mặc những giọt nước mắt chảy thành dòng. Bao nhiêu năm nay, cụ sống trong bóng tối nên đôi mắt cũng đã mờ, chưa kể những lần bà Thiên nổi cơn điên, cụ Kia vì “đói cơm” nên xỉu, bà con hàng xóm thương tình cho muỗng cháo, muỗng canh…

Bây giờ cụ Kia đã già yếu, niềm mong mỏi cuối cùng là muốn sống một ngày đủ 3 bữa ăn, đắp một cái chăn ấm trong những ngày mưa, được nhìn thấy ánh điện và được nhìn thấy con gái mình không phải cù bất cù bơ giữa chợ đời. Rất mong bạn đọc gần xa giúp đỡ để nụ cười của cụ Kia được sáng lên trong những tháng ngày cuối đời.

Mọi đóng góp xin gửi về Ban Chương trình xã hội Báo SGGP, 399 Hồng Bàng, phường 14, quận 5, TPHCM; ĐT: (08) 22111263. Hoặc chuyển qua số tài khoản Báo SGGP: 310.10000.231438 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh TP Hồ Chí Minh (ghi rõ nội dung chuyển gồm: tên người được giúp đỡ và ngày báo đăng tin).

Võ Thị Như Trang (Quảng Nam)

Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất – TVN

1 Th10

Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất

Tác giả: Trần Ngọc Vương
 
 

Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài trình bày của Phó Giáo sư Trần Ngọc Vương tại Hội nghị Trần Nhân Tông về Hoà giải tổ chức tại Harvard Faculty Club, ĐH Harvard,  Mỹ ngày 21/09 vừa qua.

Trong lịch sử Việt Nam từ sau thời điểm phục hưng được chủ quyền quốc gia (939), hiện tượng những người có thân phận ra đời trong hoàng gia, được quyền kế thừa ngôi vua hoặc ít nhiều có cơ hội để tranh đoạt ngôi vị đó nhưng lại thờ ơ với nó trên thực tế không phải là hiếm. Cả khi đã đăng cơ, một vài trong số họ vẫn nuôi giữ ý định rời bỏ ngôi vị. Có thể kể một số trường hợp tiêu biểu, chẳng hạn như cháu đích tôn của Ngô vương Quyền là Ngô Xương Tỷ, xuất gia tu hành ngay từ thời ông nội còn tại vị, về sau là vị Quốc sư của cả nhà Đinh và nhà Tiền Lê: Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu; Lý Nhân Tông từng hờ hững với ngôi vua để đến nỗi xảy ra vụ kỳ án Lê Văn Thịnh.

Trần Thái Tông từng bỏ ngôi vua trốn triều đình lên Yên Yử quyết chí tu hành với câu nói nổi tiếng “Ta đã trút bỏ ngôi vua như trút bỏ đôi giày rách” tuy rồi lại không từ bỏ được…

Sử gia nhà Nho các đời sau khi chép sử triều Trần đều chung hàm ý đánh giá, rằng nhà Trần “về khoan hậu thì có thừa mà về nghiêm trọng (nghiêm khắc, trang trọng) thì không đủ”.

Đương nhiên, khuynh hướng vận động chung của hệ tư tưởng xuyên suốt từ Ngô, Đinh cho tới tận triều Nguyễn vẫn là càng ngày càng thần thánh hóa, tuyệt đối hóa ngôi vua, vì thế mà nhìn chung, lịch sử càng nối dài thì sự chồng tầng theo hình kim tự tháp của kết cấu xã hội càng trở nên nặng nề, và khát vọng vươn lên địa vị tột đỉnh ở mỗi cá thể, vì thế cũng ngày càng mãnh liệt. Nhưng cuộc đời và hành trạng của Trần Nhân Tông trong thực tế lại đặt ra một số vấn đề theo một đường hướng khác.

Để hiểu Trần Nhân Tông, hẳn rằng phải trả lời một câu hỏi đặc biệt: rằng khi ai đó đã có địa vị (thậm chí từ thuở lọt lòng) là “bề trên tự nhiên”, một vị trí độc đắc, tối thượng mà bối cảnh lịch sử – cụ thể không làm xuất hiện đối thủ tranh giành, rồi người đó lại được hưởng thụ một nền giáo dục hoàn hảo bậc nhất của thời đại mình, tự giáo dục một cách ráo riết với một tư chất bẩm sinh là phi phàm, thì rốt cuộc, người ấy có thể muốn gì và có thể làm gì với đời sống và sinh mệnh của chính mình, theo yêu cầu tối ưu hóa tồn tại?

Triết lý sống xuất hiện từ xa xưa trong nền văn hóa Trung Hoa rồi phổ cập ra toàn vùng Đông Á về mục tiêu rốt ráo của đời người là làm sao để “dự” được vào một trong ba vị trí: lập đức, lập công hay lập ngôn, gọi là “tam bất hủ“.

Mẫu người cầm quyền lý tưởng theo Nho giáo là thánh vương, trên thực tế lịch sử là hiền nhân lập đức. Thánh hiền Nho gia nói chung chính là mẫu người lập đức, kết hợp nhiều ít với tiêu chí lập ngôn. Nhưng thánh hiền Nho gia không ai thực sự lập được “đại công”, hiểu theo nghĩa có một sự nghiệp chính trị nổi bật lúc sinh thời.

Pháp gia không đưa ra hình mẫu mang tính lý tưởng thực thụ, vì đó là một học thuyết cai trị theo tinh thần duy lợi, thực dụng nhưng tìm ra từ các công trình mang tính lý thuyết cơ bản của các nhà tư tưởng thuộc phái này, thì mẫu người cầm quyền đáng được đề cao nhất chính là mẫu người cầm quyền có đại công.

Trong lịch sử chính trị của Trung Quốc, một lịch sử chính trị có thực chất “nội Pháp ngoại Nho”, “thập đại đế vương” chính là những Hoàng đế được ghi nhận trên đường hướng này. Không ai trong số các đế vương nhờ lập ngôn mà trở nên hiển hách trong lịch sử. Phần lớn các “đại đế vương” Trung Hoa có khuyết tật trong nhân cách.

Với tất cả những dữ kiện lịch sử khả tín còn lại đến nay mà mình có thể biết, với tư cách nhà khoa học, cá nhân tôi không tìm thấy những bằng chứng để nhận xét rằng Trần Nhân Tông có thể có những tỳ vết nào đó về phương diện đức hạnh!

Sử thần Nho gia về sau từng đưa ra lời đại nghị, rằng Ngài “bẩm được tinh anh thánh nhân, thần khí tươi sáng, thể chất hoàn hảo“. Dường như “luật thừa trừ” (“bỉ sắc tư phong” – được cái này thì mất cái kia) đã lảng tránh, không đụng chạm tới Ngài!

Kinh nghiệm cho thấy, để hiểu một nhân vật lịch sử ở những tầng sâu kín nhất của họ, thường cần phải xâm nhập vào những trước tác hay những di ngôn, di chúc mà họ để lại. Chả thế mà S. Freud cùng các đồ đệ đã nhất trí cho rằng nghệ thuật và những giấc mơ cung cấp cho ta hình ảnh thăng hoa của những gì các “đương sự” không hoặc chưa thể thực hiện trong đời thực. Vô số khát vọng của con người, của cả các vĩ nhân, quằn quại, giãy dụa roi rói trong các con chữ, mặc cho thể xác họ đã từ lâu tuần hoàn trong hoàn vũ. Nhưng đọc hết những trước tác mà Trần Nhân Tông để lại, lại cơ hồ không tìm thấy dấu vết của những “mộng ước chưa thành” ấy. Chỉ có thể cho rằng, Ngài đã sống một cuộc đời không còn gì đáng để có thể ước mơ cao hơn, xa hơn!

Nhận chân về tính hữu hạn của đời người trên tất cả mọi bình diện, đó không phải là một phát hiện gì mới mẻ, nhất là ở các bậc được coi là đại trí xưa nay. Nhưng kể cả các bậc đại trí cũng chỉ thường nhận ra những giới hạn sau những thể nghiệm thất bại, và cũng thường phải đợi tới độ tuổi “sang nửa bên kia” của đời người. Vào một ngày “Xuân muộn” (Xuân vãn), Trần Nhân Tông cũng thể nhận điều đó:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung

Như kim kham phá Đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

(Tuổi trẻ chưa từng hiểu thế nào là “sắc”, “không”

Mỗi độ xuân về lòng để giữa trăm hoa

Nay khi đã khám phá ra khuôn mặt chúa xuân

Thì ngồi thiền trên tấm bồ đoàn nhìn hồng rụng).

Nhưng dường như sự thể nhận này ở Trần Nhân Tông không xuất lộ bởi những trải nghiệm đắng cay nào đó trong đời sống của chủ thể, và cũng chỉ vào thời khắc “muộn của mùa Xuân” chứ không là “buồn tàn thu” hay “sầu đông” ảo não. Tính chất an nhiên lộ rõ trong từng chữ.

Những bậc thánh triết Đông phương thường thường chỉ bàn về mọi lẽ một khi đã “liễu sinh tử“, tức đã thông hiểu tận cùng “căn nguyên và cơ cấu của sự sống và sự chết”. Làm chủ được “lẽ tử sinh”, với cơ hồ tất cả họ, mới xác lập được tiên đề cho việc luận đàm về mọi điều còn lại. Không chỉ Phật giáo, mà các học thuyết hay tôn giáo khác trong toàn khu vực cũng khá đồng quy trong tinh thần đó. Đứng trên lằn ranh giới của cuộc sinh tồn, chính là xác lập một tọa độ lý tưởng để có thể “quán chiếu” rốt ráo đối với mọi “ỉ eo đời thường” khác.

Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng. Khác với rất nhiều những triết nhân một khi đã tự cho mình là đấng toàn tri (omniscience) thì cũng bị ám ảnh bởi một thứ chủ nghĩa bi quan triết học, Trần Nhân Tông truyền cho đời sống một cảm xúc chí ít phải được đánh giá là lạc quan, nếu không cho rằng đó là một thái độ “ngày hằng sống, ngày hằng vui”.

Tinh thần “hòa quang đồng trần“, “cư trần lạc đạo“, “tam giáo tịnh hành” … nhờ thế trở thành “phong cách sống” của rất nhiều nhân vật văn hóa – lịch sử của thời đại. Dưới triều đại của Ngài, từ quý tộc, văn nhân, võ tướng, nhân gian bách tính cho đến những người thân phận thấp kém như hoạn quan, gia nô, nô tỳ, cho cả đến tù binh, tù nhân, những nhóm dân cư do hoàn cảnh cụ thể lâm vào tình thế tha phương cầu thực hay bị hạn chế tự do, đều nhất loạt trở nên “dễ sống” hơn, vui sống hơn.

Cá nhân Trần Nhân Tông, trong khi vừa tiếp tục thực thi những bổn phận “thế tục”, “hàng ngày” của mình, vừa làm nhà cầm quyền tối cao, vừa làm nhà ngoại giao kỳ đặc (cả trong những tình huống ứng xử đối nội lẫn đối ngoại), làm vị tướng song toàn, làm con hiếu thuận, làm cha nghiêm từ, làm em, làm anh độ lượng.., lại còn vừa lo nghĩ, tính toán nhiều đại sự cho nhiều thế hệ tiếp theo.

Chỉ với những gì thư tịch còn sót lại đến nay, có thể khẳng định Trần Nhân Tông là một tác giả văn chương vừa tinh tế vừa đa phong cách. Một trong những đóng góp đặc biệt của Trần Nhân Tông với tư cách tác giả văn học thể hiện ở chỗ Ngài chính là tác giả quan trọng đầu tiên còn để lại những tác phẩm lớn bằng chữ Nôm (với hai tác phẩm Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca), góp phần quan trọng kiến tạo nên bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ ghi lại tiếng nói của dân tộc.

Như nhiều học giả đã khẳng định, Thiền phái Trúc Lâm do Ngài sáng lập và trở thành Trúc Lâm đệ nhất tổ vừa kế thừa được tinh hoa của Thiền Tông nói chung, vừa kết tinh những thành tựu tu tập và quán tưởng của các hành giả bản địa, để trở thành một Thiền phái mang đậm sắc thái dân tộc mà đặc điểm hàng đầu là tinh thần nhập thế lạc quan, lại cũng vừa là nơi thể nghiệm sự kết hợp, dung hòa thêm các thành tố có nguồn gốc tôn giáo, tín ngưỡng hay học thuyết khác.

Tinh thần “dung tam tế” của các bậc quốc sư từ nhiều triều đại trước đến đây mở rộng hết tầm vóc. Một trong những chứng tích có ý nghĩa nhiều mặt được truyền thông rộng rãi gần đây chính là việc đấu giá phiên bản của bức họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ mà bản gốc được coi là quốc bảo đang được bảo vệ và lưu trữ ở Trung Quốc.

Còn nữa

Phần 2: Trần Nhân Tông trên cương vị một nhà cầm quyền

Đoản văn của Bùi Giáng – TN

1 Th10

Đoản văn của Bùi Giáng

Mới đây, chúng tôi được tiếp cận một số bản thảo viết tay của thi sĩ Bùi Giáng chưa xuất bản, trong đó có hai đoản văn ngồ ngộ. Xin giới thiệu với độc giả nhân dịp kỷ niệm 14 năm ngày thi sĩ mất.

>> Tọa đàm thơ Bùi Giáng
>> Bùi Giáng “nhập” vào nhạc Trần Quế Sơn
>> Bùi Giáng với Hoàng tử bé

Bài Ông Trời chất vấn ông điên – rằng: “Tại sao chú mày đánh đấm con vợ của chú mày như thế?”. “Tại vì nó có lỗi”. “Có lỗi như thế nào?”. “Tôi thì hằng năm tôi tắm rửa một lần để ăn tết. Còn nó thì mỗi ngày nó mỗi tắm… tức không chịu nổi!”. “Ủa, nó tắm rửa cho sạch sẽ thơm tho có gì đâu mà gọi là tội lỗi?”. “Nhưng mà nó càng sạch sẽ thơm tho bao nhiêu, thì thiên hạ càng thấy rõ cái dơ dáy thối tha của tôi bấy nhiêu. Có phải rằng nó có ý muốn vạch rõ cái thối tha bẩn thỉu của tôi? Tôi mang mặc cảm bấy lâu nay. Còn đâu hài hòa vợ chồng tâm đầu ý hiệp chứ”. Rồi “ông điên” muốn bỏ vợ để lấy “gái sa mạc” vì “sa mạc khô khan quanh năm, đâu có nước giếng nước biển nước sông để tắm cho nhiều”. Ông Trời gật gù: “À ra thế ấy, lọ là thế kia!”…

 thi sĩ Bùi Giáng
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và Bùi Giáng – Ảnh: Gia đình cung cấp

Bài thứ hai Mẹ ôi!, kể về cô gái 16 tuổi chửa hoang, bà mẹ thay vì phiền trách đã hân hoan reo lên: “Ồ, thế thì vạn phước đấy con ạ. Kiếp xưa có lẽ con khéo léo tu hành lắm đó, nên kiếp này mới gặp gỡ được thằng Mít (…) đến như con là đứa nghiêm trang nghiêm túc như thế mà nó chỉ la cà cày bừa trên bụng con đôi lần mà kết quả huy hoàng rực rỡ chói lòa thì đủ biết tài năng cày sâu cuốc bẫm của nó… Ha ha ha! Mẹ giao luôn cho nó cái khu vườn tược ba mẫu này để nó chăm sóc trồng dâu, trồng dừa: Ùn lên ngọn nước bốn mùa. Núi phơ phất tuyết, cổng chùa tịch liêu. Hai hàng phượng đỏ giấn liều. Đứa con gay cấn một chiều chửa hoang. Ha ha ha!!! Mẹ sắp có cháu ngoại để o bế o bồng rất mực bồng bế o o !!!”.

Đọc hai đoản văn trên hẳn có người sẽ nghĩ Bùi Giáng viết chỉ để “cà rỡn” chơi. Thật ra trong cái “cà rỡn” ấy vẫn ẩn chứa một điều gì khang khác là lạ so với những chuyện cười suông. Riêng chúng tôi, đọc hai bài trên, nghĩ mấy chữ “cổng chùa tịch liêu”, “đứa con gay cấn” và “sa mạc” là cái “chĩa ba” của một cây cổ thụ trong rừng ngôn ngữ mà Bùi Giáng trên đường ngao du đã đặt lên đó “một cách nhìn” để kể về: 1. Những “ông điên” quay cuồng theo các cặp đối trị: tốt – xấu, sạch – nhớp, khen – chê, vinh – nhục… 2. Những “đứa con gay cấn” đã rời “cổng chùa tịch liêu” để kết hôn với bọt nước, với nắng tàn, với sương mai và ánh chớp vội vàng vào mỗi chiều giông. Và thê thảm nhất là đã tự nhốt mình trong sách vở tư biện như ông từng viết: “tự nghìn năm triết học luận lý trường trại đã bóp ngột tư tưởng con người (…) nó khiến tư tưởng không thể nào bước đi thong dong trên ngã ba (…) không còn nghe ra ngôn ngữ Nguyễn Du, Shakespeare…”. (Đường đi trong rừng). Ông ca ngợi “sa mạc” – muốn tìm về “sự tĩnh lặng mênh mông, trong đó mọi năng lực, hùng tâm, dũng khí, thảy thảy tương hệ tương giao cùng rì rào hoạt động” và “im lặng vì xao xuyến dị thường” (Lời cố quận). Đó là “niềm im lặng” lên đường, tìm về nguồn cội sẵn có trong chính mình. Khi lạc lối, ông lại phải “chăn  trâu” hoặc “lùa dê” để lần về lối cũ: “Trăm năm trong cõi người ta – Chăn dê bò tại ngã ba đường rừng”. Và đây nữa: “Anh lùa dê vào núi rừng mây tím. Cho dê nhảy cỡn giữa mây ngàn (…) Dê lùa anh vào đồi sim trái chín. Anh lạc đường nghe dê gọi kêu vang”.

Lúc đầu ông “nghe dê gọi”. Đến sau ông quên cả dê, quên cả trâu, quên cả bò đang gặm cỏ, mà “chỉ nghe tiếng cọ rì rào”, rồi tự hỏi: “Có hay không bò đương gặm đó? Hay là đây tiếng gió thì thào? Hay là đây tiếng suối lao xao? Không biết nữa mà cần chi biết nữa”. Ông chả cần “biết” âm thanh tiếng động xung quanh mà đã quay “cái nghe” vào sâu nơi mình. Để từ trong cái “nghe tự tánh” ấy, đã tuôn chảy ra ngoài dòng sữa của thi ca…  

Giao Hưởng

Tài sản mềm của Việt Nam – TVN

1 Th10

Tài sản mềm của Việt Nam

Tác giả: Alan Phan
 
 
Nhìn lại Việt Nam, liệu chúng ta có thể đánh giá được những tài sản mềm? Vai trò của chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào trong chiến lược kinh tế khu vực và toàn cầu?

Khi tôi còn làm cho hãng Eisenberg và Hartcourt vào những năm đầu mở cửa của Trung Quốc (1975-1990), chúng tôi được tiếp đón nồng hậu và được mời đầu tư váo những công ty mà chính phủ Trung Quốc cho là “hòn ngọc”giá trị nhất của họ. Đó là những đại công ty có nhà máy lớn như một sân vận động, hàng chục ngàn nhân công, cơ sở văn phòng bề thế…tọa lạc phần lớn tại các vùng khỉ ho gà gáy (kế hoạch tránh các phi vụ ném bom trong chiến tranh). Những doanh nghiệp nhà nước này mang rất nhiều tính chất xã hội…nên thua lỗ thường trực.

Trước 1990, không mấy ai trên thế giới suy nghĩ nhiều về tài sản “mềm”, mà đo sự thịnh vượng thành công của 1 công ty hay 1 con người qua các đồ chơi sờ mó được như bất động sản, khoáng sản, thực phẩm, xe cộ, điện máy…

Giá trị của tài sản mềm

Do đó, khi Hartcourt đem tiền đầu tư chuyên vào các công ty IT, nhiều tư vấn Trung Quốc cho chúng tôi ngu, đem tiền đi đổ sông Ngô. Ngay đến hôm nay, phần lớn doanh nhân Việt vẫn không nhận ra giá trị mềm của công ty họ. Khi họ chào bán hay mời mọc, họ vẫn khoe nhiều về nhà máy hoành tráng, bao nhiêu hectares đất bao quanh, văn phòng tráng lệ ngay tại trung tâm thành phố và chiếc xe Rolls Royce họ đang lái…

Tôi có đến thăm tập đoàn Foxconn ờ Shenzen hai năm về trước. Nhà máy hiện đại với hơn 30 ngàn nhân công, hệ thống dây chuyền sản xuất và các phòng “sạch” (clean room) vĩ đại trông rất ấn tượng. Sản phẩm lớn nhất họ gia công là các Iphone, Ipad, Ipod cho Apple. Trong khi Apple làm chủ bản quyền trí tuệ và thương hiệu nên kiếm lời khoảng $140 USD mỗi đơn vị Iphone, lợi nhuận của Foxconn khoảng $7 một chiếc.

Hãng Nike có thương vụ lớn nhất toàn cầu về giầy dép và trang phục thể thao. Họ không sở hữu bất kỳ nhà máy nào trên thế giới. Tài sản quý giá nhất là thương hiệu đã xây dựng suốt 50 năm qua và những trung tâm thiết kế và các phòng thí nghiệm hiện đại nhất về công nghệ và sản phẩm. Những công ty có thị giá cao nhất trên thế giới đều là những công ty mà giá trị mềm vượt trội: Google, Microsoft, Facebook, Pfizer, Oracle, IBM…Không một công ty bất động sản nào nằm trong Top 100 (100 công ty hàng đầu).

Tài sản mềm mang giá trị quan trọng nhất trong lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế tương lai.

Nhìn lại Việt Nam, liệu chúng ta có thể đánh giá được những tài sản mềm? Vai trò của chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào trong chiến lược kinh tế khu vực và toàn cầu? Hãy kiểm điểm.

Tài sản con người

Hai yếu tố tạo mũi nhọn cho đội ngũ nhân lực là sáng tạo và năng động. Đây là phạm trù của tuổi trẻ và Việt Nam thường hãnh diện với một dân số mà 65% dưới 30 tuổi, trên 50 triệu người. Thêm vào đó, học sinh sinh viên Việt Nam thường tỏa sáng trên các trường trung đại học khắp thế giới. Cộng với giới trẻ trong nước, Việt Nam có 3.5 triệu kiều bào có kinh nghiệm nghề nghiệp cao, 32% tốt nghiệp đại học. Nói chung so với 9 quốc gia còn lại trong khối ASEAN, Việt Nam dẫn đầu về tiềm lực của nhân tài, trên cả Indonesia với gần 250 triệu dân.

Ảnh minh họa: tinmoi.vn

Tuy nhiên, sự yếu kém của nền giáo dục lý thuyết từ chương đã làm què quặt tiềm năng này. Công ty Intel đã không tìm ra đủ 180 nhân viên trung cấp cho nhà máy 1 tỷ đô la của họ ở Thủ Đức và phải nhập khẩu một số lớn chuyên viên từ Malaysia và Philippines. Các công ty FDI khác tại Việt Nam đều có những than phiền tương tự.

Thêm vào đó, tư duy sao chép nguyên bản các tư tưởng truyền thống, các công thức khoa học lỗi thời và chính sách dùng người lấy ngoan ngõan làm chỉ tiêu…đã gây thui chột mọi sáng kiến, mọi đổi mới, mọi tiến bộ. Dù có số lượng giáo sư tiến sĩ cao nhất ASEAN (gần 10 ngàn người), Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế nộp tại Âu Mỹ trong 6 năm qua. Năm 2011, trong khi Singapore với 5 triệu dân đăng ký 648 bằng sáng chế, con số từ Việt Nam là zero cho 90 triệu dân.

Thương hiệu quốc gia

Các tên tuổi mà mạng truyền thông Việt không ngừng vinh danh như Vinamilk, Trung Nguyên, Dr. Thanh, Bitis…đều không có một dấu ấn gì trên thương trường quốc tế. Ngay cả Vietnam Airlines đáng lẽ phải là một đầu cầu để phát huy các thương hiệu khác cho Việt Nam trên khắp điểm đến của thế giới đã chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Nhờ vai trò lịch sử trong 2 cuộc chiến tranh Pháp-Mỹ, Việt Nam đã có tiềm năng để nổi tiếng và tạo thiện cảm với nhân dân thế giới. Tuy nhiên sau 37 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh, hình ảnh Việt Nam đã mờ dần trong trí nhớ của những thế hệ trẻ sau này. Sự thiếu vắng những thành quả ấn tượng trên mọi lãnh vực từ kinh tế đến khoa học, từ nghệ thuật đến thể thao đã bào mòn thương hiệu Việt Nam.

Nhật Bản phải mất gần 40 năm mới tạo dựng cho Made In Japan một thương hiệu đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm và sáng tạo. Trung Quốc cố gắng tạo một thương hiệu quốc gia suốt 35 năm qua. Cho đến nay, kết quả ngược lại với mong ước, các thực phẩm, hóa phẩm Made in China bị tẩy chay trên mọi thị trường, ngay cả tại chính quốc gia họ. Các sản phẩm tiêu dùng khác của TQ đồng nghĩa với giá rẻ và biểu hiện của hàng nhái, hàng giả, hàng dởm…

Một may mắn cho Việt Nam là dù nằm cạnh Trung Quốc và mang nhiều tính chất kinh doanh cẩu thả tương tự, sản phẩm Việt Nam vẫn chưa bị bôi đen trên thế giới. Tuy nhiên, nếu tiếp tục copy ông láng giềng về quản lý chất lượng, thương hiệu chúng ta sẽ là một gánh nặng đè trên giá cả, thay vì hưởng một mức giá cao hơn (premium) như Nhật Bản.

Vị thế trên thị trường

Mọi nền kinh tế cũng như doanh nghiệp đều có thể tạo cho mình một thế mạnh trong các thị trường ngách, mà không cần đến các yếu tố cạnh tranh trên. Thí dụ, Thụy Sĩ hay Singapore không có một nền tài chính lớn mạnh như Mỹ, Anh…cũng không có đội ngũ hay công nghệ gì sáng tạo hơn; nhưng họ biết biến quốc gia nhỏ bé của họ thành một trung tâm tài chính thế giới qua chính sách mở rộng mà kín đáo, hiệu năng và minh bạch.

Việt Nam có thể tìm một lợi thế cạnh tranh theo phương thức trên. Dù công nghiệp Việt không thể sánh với Trung Quốc trên rất nhiều phương diện, nhưng các nhà sản xuất Hàn, Nhật đã đầu tư nhiều vào Việt Nam để tránh rủi ro khi bỏ tất cả trứng vào cái giỏ Trung Quốc. Về du lịch, dù không thể cạnh tranh với Thái Lan hay ngay cả xứ nhỏ như Singapore và Malaysia, Việt Nam có thể đào sâu vào một chiến lược đặc trưng như sinh thái hay thám hiểm hay hưu trí để tạo thị trường.

Hai ngành nghề tôi tin là Việt Nam có thể dẫn đầu tại ASEAN nếu biết phát triển đồng bộ và sáng tạo. Thứ nhất là nông nghiệp công nghệ cao. Tạo ra những sản phẩm xanh, sạch, an toàn được đảm bảo bởi những cơ quan kiểm phẩm nổi danh thế giới là bước đầu. Việc giáo dục huấn luyện cho các nông dân những công nghệ mới, những quy trình dùng IT để điều hòa và tiếp liệu, sử dụng đội ngũ tiếp thị trẻ và bén nhậy từ thành phố có thể tạo nên một làn sóng thay đổi bộ mặt của nông thủy sản Việt Nam. Người tiêu dùng tại các nước Á châu, nhất là tại các nơi có thu nhập cao như Hong Kong, Nhật, Singapore…đang có nhu cầu rất lớn về an toàn thực phẩm.

Thứ hai là ngành IT (công nghệ thông tin) tại các thành phố lớn bao quanh bởi các đại học tiến bộ và hiện đại. Giáo trình học phải thay đổi và các trung tâm IT phải có những cơ sở hạ tầng tối tân nhất để giúp tính sáng tạo của đội ngũ phát huy đúng mức.  Trên hết, luật về bản quyền trí tuệ phải được thắt chặt và nghiêm túc thực thi trên mọi cấp bực của thị trường.

Văn hóa gia đình và xã hội

Người Việt Nam có một gắn bó thân tình chặt chẽ với gia đình, làng xóm và đất nước, nên sự đùm bọc và tiếp sức tạo một thế đoàn kết mạnh hơn chủ nghĩa cá nhân của Âu Mỹ. Nhưng đây cũng có thể là một bất lợi vì tầm nhìn bị giới hạn, tâm lý bầy đàn rất cao và quá gần nhau thì cũng dễ gây ra xích mích mâu thuẫn. Một mặt khác, liên hệ với tha nhân ngoài xã hội lớn đang bị tha hóa và xuống cấp trầm trọng, tinh thần công dân trở nên tệ hại với những vấn nạn về tham lam, vô cảm, thói gây ô nhiễm và tư duy ích kỷ.

Nói tóm lại, cơ hội để tạo dựng những tài sản mềm cho Việt Nam hiện diện trên nhiều lãnh vực và tiềm năng của các tài sản này có thể là cú hích đưa kinh tế Việt bắt kịp các láng giềng giầu ở ASEAN trong 1 hay 2 thập kỷ sắp đến. Ba đòi hỏi quan trọng nhất trong quy trình đột phá này:

Một là, tư duy của đại đa số người dân phải thay đổi để hiểu rằng cái giá phải trả cho sự thịnh vương tương lai là can đảm vất bỏ ngay lập tức những thói quen tai hại, những tư tưởng lỗi thời và những định kiến sai lầm về kinh tế, xã hội và văn hóa. Một cuộc đổi mới toàn diện từ trí tuệ của trí thức, nông nhân công, trẻ già, giàu nghèo là ưu tiên số một.

Hai là, thành phần ưu tú và đang được hưởng thụ những thành quả từ sự thay đổi cơ chế phải nắm lấy cơ hội để tạo cho doanh nghiệp mình đang làm chủ hay làm công lĩnh hội được những kiến thức, công nghệ hiện đại, những kỹ cương đạo đức dài hạn, những sáng tạo đột phá trên thị trường và phải bắt đầu xây dựng thương hiệu bền vững.

Ba là, chính phủ nên tránh mọi can thiệp vào vận hành kinh tế của tư nhân, hãy tin vào khả năng kinh doanh của người dân, Họ dư sức đưa nền kinh tế này vào quỹ đạo của các nước tiến bộ và qua mặt những đối thủ cạnh tranh tại ASEAN cũng như toàn cầu. Hãy cởi trói cho họ để họ tự lực cánh sinh và đừng áp đặt thêm những gánh nặng không cần thiết qua chính sách thuế khóa công bằng và thủ tục hành chính đơn giản minh bạch.

Như Milon Friedman đã nhận xét, “qua bao nhiêu thời đại với nhiều thể chế kinh tế, không có một hệ thống xã hội nào có thể cải thiện mức sống của người dân nhanh chóng bằng hệ thống tự do để mặc cho người dân tự tỏa sáng sự sáng tạo và lao động của họ.”

  • T/S Alan Phan là một doanh nhân bôn ba làm ăn trên 43 năm qua tại Mỹ và Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại các đại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) và Southern Cross (Úc). Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.

Trí thức Việt Nam ở nước ngoài…Từ tiềm năng đến hiện thực” – nguoilotgach

1 Th10

Trí thức Việt Nam ở nước ngoài…Từ tiềm năng đến hiện thực”

 Tham luận tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần 2
Chuyên đề “Trí thức Việt Nam ở nước ngoài với sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – Từ tiềm năng đến hiện thực”
(TpHCM, 26-30/9/2012)
 
TsKH Trần Hà Anh
Câu lạc bộ KH&KT NVNONN
 
 
Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài bao giờ cũng mang lại niềm vui lớn cho các đại biểu tham dự, dù là đại biểu ở ngoài hay trong nước. Trước hết, tôi xin chia sẻ niềm vui đó với quý vị và mọi đại biểu có mặt trong Hội nghị này.
Bài tham luận này đã được chuẩn bị cho chuyên đề “Trí thức”, gồm hai phần, phần một nói về tình hình đóng góp chất xám hiện nay của trí thức kiều bào, và phần hai đề cập đến những việc đã làm được, chưa làm được trong thời gian qua, và một số giải pháp để trí thức kiều bào có điều kiện đóng góp nhiều hơn và hiệu quả hơn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
 
I. Tình hình đóng góp chất xám hiện nay của trí thức người Việt Nam ở nước ngoài  
Trong mấy chục năm gần đây, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng chiếm một địa vị quan trọng trong lòng dân tộc: số lượng kiều bào đã tăng lên đến khoảng 4,5 triệu người [1], đời sống ngày càng ổn định hơn; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không ngừng được củng cố; nhiều doanh nhân làm ăn phát đạt; một số nhà khoa học đạt được những thành tích chuyên môn đáng tự hào.
Trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, có khoảng 80 % kiều bào định cư tại các nước có nền kinh tế phát triển, và khoảng 10% có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ hoặc tay nghề cao. Trí thức phần đông được đào tạo bài bản, có kiến thức vững vàng và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong công tác.
Về đóng góp chất xám [3], hằng năm có 2-3 trăm lượt trí thức kiều bào về nước ngắn ngày để hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách phát triển, hoặc hợp tác trong nhiều lĩnh vực như khoa học và công nghệ; giáo dục và đào tạo; y tế v.v. Trí thức kiều bào còn đóng vai trò là cầu nối, giới thiệu các nguồn đầu tư cho trong nước; tạo điều kiện cho trong nước tiếp cận với các tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại. Ngoài ra, mỗi năm đều có một số trí thức kiều bào trẻ cũng như lớn tuổi quyết định hồi hương, về làm việc dài ngày hoặc về đầu tư trong lĩnh vực chuyên môn của mình để trực tiếp đóng góp với quê hương.
Một hình thức đóng góp mới, xuất hiện trong những năm gần đây là viết bài, trao đổi ý kiến theo dạng thảo luận chuyên đề trên các báo mạng. Các diễn đàn trên mạng là nơi giới trí thức trong và ngoài nước gặp gỡ, chia sẻ thông tin, thảo luận và cùng nhau hành động. Một trong những vấn đề mà giới trí thức đã làm tốt trong thời gian qua là tham gia đấu tranh cho chủ quyền biển đảo của nước ta, với kết quả là đã hạn chế được một số tạp chí quốc tế đăng bài của tác giả Trung quốc kèm theo bản đồ có “đường lưỡi bò” phi lý; đã buộc Công ty truyền thông Google phải hiệu chỉnh các bản đồ có thông tin sai lệch về chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Và nhiều cuộc thảo luận chuyên môn khác rất lý thú, mà nếu các cơ quan chuyên trách quan tâm nghiên cứu, thì có thể khai thác được một kho tàng trí tuệ quý giá của giới trí thức trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, có một vấn đề mà chúng ta cần tìm hiểu, là vì sao lực lượng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, với số lượng đông và chất lượng cao như đã nói trên, nhưng sự đóng góp chất xám với trong nước vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng, dù đã có những tiến bộ nhất định? Tại Hội nghị này, tôi thấy cần phân tích cặn kẽ hơn một số khía cạnh liên quan đến vấn đề này để tìm ra các giải pháp khắc phục có hiệu quả.
II. Những việc đã làm được, chưa làm được và những việc cần làm trong thời gian tới
Trong một tài liệu [4] viết cách nay 5 năm, tại phần về “Những giải pháp để tháo gỡ các rào cản …” tôi đã đề cập tới một số nội dung có tiềm năng ảnh hưởng quan trọng đến việc thu hút chất xám của trí thức ở nước ngoài. Đó là:
1. Chất lượng đại đoàn kết dân tộc;
2. Chế độ, chính sách thu hút sự đóng góp chất xám của trí thức kiều bào;
3. Vai trò của cán bộ các cấp trung gian trong việc vận động trí thức kiều bào; sự cần thiết phải cung cấp các yêu cầu cụ thể từ các cơ quan trong nước;
4. Cơ sở vật chất và cơ chế hoạt động thuận lợi cho việc đóng góp chất xám của kiều bào;
5. Nhu cầu thu thập thông tin về khả năng chuyên môn và điều kiện đóng góp của trí thức kiều bào;
6. Các tổ chức “đầu mối”, “cầu nối’, và “nguồn nhân lực” cần được đầu tư mạnh mẽ.
Từ phân tích này, trong phần tiếp theo về “Những việc cần làm để vận động chuyên gia, trí thức kiều bào đóng góp chất xám cho đất nước”, tôi đã kiến nghị một số nội dung cần thực hiện [4], đó là:
1. Nhà nước cần ban hành chính sách thu hút mạnh mẽ và sử dụng rộng rãi trí thức kiều bào tham gia đóng góp kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn, quản lý; chuyển giao công nghệ hiện đại cho trong nước.
2. Nhà nước cần tổ chức những đợt vận động trí thức về nước dài hoặc ngắn hạn để tham gia đóng góp theo yêu cầu của trong nước. Tiến hành vận động khi thực sự có nhu cầu và có khả năng bảo đảm điều kiện thực hiện, và phải kèm theo sự cam kết về chế độ, chính sách sau khi thỏa thuận với các đương sự.
3. Chính phủ, các Bộ, ngành, các địa phương và các cơ quan có chức năng nên tổ chức trao đổi, đóng góp ý kiến trên mạng về những vấn đề “nóng sốt” đặt ra, qua đó phát hiện những người có năng lực, kinh nghiệm và sẵn sàng tham gia giải quyết những vấn đề đó.
4. Nhà nước cần tích cực xúc tiến cải cách nền hành chính quốc gia, bao gồm cải tổ luật pháp và nâng cao chất lượng cán bộ, để đơn giản hóa và thu ngắn thời gian giải quyết các thủ tục đối với kiều bào cũng như bà con trong nước.
5. Xã hội cần đối xử đúng mực với người trí thức; đặc biệt có thái độ dân chủ, biết lắng nghe và tôn trọng các ý kiến khác biệt.
Với những phân tích và đề nghị nêu trên, ta có thể xem xét những gì đã làm được và chưa làm được trong thời gian qua [5]–[6]. Với phạm vi thì giờ cho phép, tôi chỉ xin nêu một số ý kiến quan trọng nhất.
A. Trước hết, về các việc đã làm được, phải nhìn nhận rằng công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã được Nhà nước ta coi trọng hơn trước, đặc biệt kể từ khi Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị được công bố. Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại Giao đã được nâng cấp thành Ủy ban Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban là một Thứ trưởng. Luật Quốc tịch được sửa đổi năm 2008, đã mở rộng nhiệm vụ bảo vệ kiều bào là tất cả những người có nguồn gốc Việt Nam, chứ không chỉ giới hạn vào những người có quốc tịch Việt Nam. Việc kiều bào mua nhà ở tại Việt Nam cũng đã được quy định trong Luật Nhà ở. Việc cấp visa cho kiều bào về thăm quê hương đã được thuận lợi hơn và việc quá cảnh cũng được dễ dàng hơn trước đây. Hằng năm, vào dịp các ngày lễ lớn, đại diện kiều bào được mời về tham dự, được đi thăm nhiều di tích lịch sử, thắng cảnh thiên nhiên để hiểu sâu và gắn bó hơn nữa với quê hương. Các cháu thiếu nhi, thiếu niên kiều bào cũng được tổ chức sinh hoạt trại hè để có điều kiện gắn bó với nhau và với các bạn cùng tuổi trong nước. Rõ ràng, đã có những tiến bộ nhất định trong việc nâng cao chất lượng đại đoàn kết dân tộc.
B. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là một nhiệm vụ bức thiết nhưng cũng là một lĩnh vực nhạy cảm, gắn với rất nhiều vấn đề bắt nguồn từ những chính kiến khác nhau, những quan niệm khác nhau về tổ chức hệ thống nhà nước, tự do dân chủ, nhân quyền, cũng như về văn hóa – xã hội, cho nên cần phải có thời gian để mọi người hiểu nhau và thông cảm nhau hơn.
Cũng phải thấy rằng để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, ta phải cố gắng bỏ qua những vấn đề, thậm chí những nỗi đau của quá khứ; việc này không dễ, nhưng vì lợi ích chung, mỗi người cần phải góp phần mình để cùng nhau bước tới trên con đường xây dựng tương lai của dân tộc.
Đại đoàn kết còn phải dựa trên điều kiện có sự thống nhất cao về con đường đi của dân tộc. Một lần nữa, việc hòa hợp để cùng đi chung một con đường cũng không dễ dàng. Vì vậy, Nhà nước cần phát huy dân chủ hơn nữa đồng thời phải cố gắng thuyết phục mọi người về con đường đã chọn, và cách thuyết phục tốt nhất là chứng minh bằng các kết quả thu thập được trong quá trình đi tới. Trong thời gian qua, đất nước Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ về các mặt kinh tế – xã hội được nhìn nhận rộng rãi.
Nhưng liệu ta đã làm tốt tất cả những gì cần làm để tiến nhanh và bền vững trên con đường đã chọn lựa đó chưa? Nếu có những việc chưa làm tốt thì tại sao, sẽ phải khắc phục như thế nào? Ta đã phát huy được tiềm lực chất xám của trí thức ngoài và trong nước đến mức nào? Tại sao đề án về “Chính sách, biện pháp thu hút chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài xây dựng đất nước” chuẩn bị từ nhiều năm mà đến nay vẫn chưa ban hành được? Tóm lại, con đường đi tới tương lai cần được chuẩn bị tốt và tập trung hơn nữa, mang tính thuyết phục hơn nữa thì mới xây dựng được khối đại đoàn kết có chất lượng cao hơn.
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, có một vấn đề gần đây đang nổi cộm, gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước đồng thời với nhiệm vụ bảo vệ môi trường hòa bình cần thiết cho sự phát triển bền vững. Nhà nước ta đã thể hiện sự khéo léo trong quan hệ đối ngoại để tranh thủ sự đồng tình của nhiều nước và giữ được môi trường hòa bình và ổn định, nhưng về công tác đối nội, tôi cảm nhận hình như chưa được chú ý đầy đủ lắm.
Trong tình hình hiện nay, nhân dân ta luôn phải sẵn sàng để tự vệ và không giờ phút nào được tự ru ngủ rằng chỉ cần thương lượng ngoại giao khéo léo là có thể bảo vệ được đất nước. Cho nên nếu sách lược khôn khéo để bảo vệ hòa bình là cần thiết, thì chiến lược bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước phải là cơ bản.
Nếu không khéo giải quyết vấn đề đối nội, tạo được sự đồng thuận của toàn dân về cách giải quyết của chúng ta để đạt được các mục đích nói trên, thì Nhà nước sẽ có nguy cơ mất đi hậu thuẫn vững chắc của nhân dân, uy tín của Nhà nước có thể bị giảm sút và cơ sở đại đoàn kết dân tộc để thực hiện con đường tiến đến tương lai tất nhiên cũng sẽ bị ảnh hưởng.
C. Đối với người trí thức, một trong những điều kiện phát triển là cởi mở, dân chủ trong tư duy và trong việc công bố kết quả của quá trình tư duy. Điều có ý nghĩa nhất là có điều kiện để tư duy, và được tư duy mà không phải chịu áp lực nào. Dân chủ cũng bao gồm khả năng công bố kết quả của quá trình tư duy nhằm góp phần cho sự đổi mới của đất nước.
Một điều kiện không thể thiếu cho sự tư duy là khả năng tiếp cận nguồn thông tin một cách cởi mở. Người trí thức cần được quyền tiếp cận thông tin nhiều chiều, trên cơ sở đó vận dụng tư duy của mình để tiến gần thêm đến chân lý. Ngày nay, thông tin qua mạng giúp trí thức ở nhiều nước trên thế giới cập nhật kiến thức, rút ngắn khoảng cách. Ở Việt Nam việc tiếp cận nguồn thông tin này còn gặp nhiều khó khăn.
Nếu không cởi mở, phát huy dân chủ và không có điều kiện nhận được đầy đủ thông tin, thì người trí thức sẽ không thể phát triển được và cũng không thể phát huy hết khả năng của mình được. Như vậy, thì làm sao động viên, khuyến khích, kết nối được trí thức kiều bào, huy động chất xám phục vụ cho Tổ quốc! Nếu không mạnh dạn tháo gỡ những nút thắt này thì việc đổi mới công tác vận động trí thức không thể đạt được kết quả như mong muốn. Thậm chí chúng ta còn có nguy cơ chảy máu chất xám như đang bắt đầu diễn ra với việc gửi sinh viên ra nước ngoài du học, nhưng chỉ có một tỷ lệ hạn chế sẽ về nước sau khi học xong [7].
D. Ngoài ra, các ý kiến khác về những việc cần làm mà tôi đã kiến nghị cách nay 5 năm và nhắc lại trên đây, theo tôi vẫn còn giá trị, mong được Hội nghị, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài và các cơ quan ban ngành có liên quan xem xét.
Chúc Hội nghị đạt được trọn vẹn các mục tiêu đã đề ra, và chúc mọi người chúng ta tiếp tục có nhiều đóng góp hiệu quả cho sự nghiệp phát triển bền vững và trường tồn của đất nước.
                                                                                                                        Ngày 9/9/2012
Tài liệu tham khảo

[1] Huy động nguồn lực kiều bào cho sự phát triển – Hà Minh, SGTT (phỏng vấn thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn)

[2] Kinh tế khó khăn, kiều hối vẫn tăng mạnh – Nam Phong
[3] Cộng đồng Việt kiều: Nguồn chất xám tiềm năng – Nguyễn Hồng Điệp – TTXVN/ Vietnam+
[4] Một số đề xuất về cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài
TsKH. Trần Hà Anh, Câu lạc bộ Khoa học và Kỹ thuật NVNONN – Tháng 11-2007
[5] Định hướng công tác kiều bào trong tình hình mới – TS. Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về NVNONN
[6] Công tác người Việt Nam ở nước ngoài- Mới làm tốt 50%
[7] Kiều hối chảy về, chất xám chảy đi

Truyện tình 2500 “T” ….thật tuyệt ! – trannhuong

1 Th10

Truyện tình 2500 “T” ….thật tuyệt !

Theo Tễu
Trần Thị Thu Thủy tên thật Trần Thị Thơ, trú tại thôn Tám, Trảng Tranh, Tỉnh Thừa Thiên. Thuở thiếu thời, trí tuệ thì thường thôi, tuy thế, tính Thủy thật thà, thủ thỉ thù thì, thỏn thà thỏn thẻn, thật thương!
.
Tới tuổi trăng tròn, Thủy tròn trặn, tươi tắn, trắng trẻo, tay tròn trĩnh, tóc thơm thơm, thật tuyệt! Thủy tuyệt trần, tôi tả thì thô thiển. Thôi thì tàm tạm thế. Trai tráng trong thôn Tám, từ trai tơ tới tuổi tứ tuần, từ tuổi tứ tuần tới tuổi thất thập, thoạt trông thấy Thủy, tất thảy tấm tắc trầm trồ: “Trời! Trắng tựa tuyết!” “Thon thả thế!” “Tóc thật thướt tha!” “Ti to thế! Tròn thế!” “Tác tuyệt! Tuyệt tác”.

Trai tơ thổn thức, tứ tuần tơ tưởng, thất thập thẫn thờ. Thấy Thủy thấp thoáng, tất thảy táo tác, thập thà thập thò, thật tội. Tứ tuần thách trai tơ: tán thắng Thủy thì thua tam trâu. Thất thập thách tứ tuần: tán thắng Thủy thì thua tám thúng tiền. Thách thì thách thế thôi, thua Thủy tất tần tật.
Thủy tựa thần tiên, trai tráng trong thôn thì thô thiển, tiền tài trắng trơn, thân thế thấp tè, thế thì tán tới trăm tuổi! Tiếng tăm Thủy truyền trong toàn tỉnh.Thư từ tới tấp tới tay Thủy. Thư thì thủ thỉ tâm tình. Thư thì tranh thủ trình thêm thân thế, tiền tài. Thư thì than thở tức tưởi. Thư thì thêm thơ, thêm tranh, trang trí thật trang trọng… Trong tám tháng trên tám trăm thư, thật thế!
Trai tráng trong tỉnh tìm tới tán tỉnh Thủy tới trăm thằng. Tám thằng thân tôi: Thằng Thịnh, thằng Tân, thằng Thuận, thằng Tạo, thằng Toàn, thằng Trung, thằng Tiến, thằng Tuấn, tán tỉnh tài thế, tí ta tí tởn tới tán Thủy, tốn tiền trăm tiền triệu, tiêu tiền tới trắng tay, thua tiếp tục thua. Tám thằng thất thểu tìm tới tôi than thở: “Thôi! Tiền thế, tài thế, tập tễnh tới tán Thủy thêm thiệt thòi.” Tôi thích Thủy, tuy thế tôi tỉnh táo tự thấy: trí tuệ tôi tầm thường, tiền tài thiếu thốn, thân thế tiếng thì to, thực tình thanh thế tổ tiên thôi, thân thế tôi thấp tẹt. Tôi trù tính: thư từ tán tỉnh, trật! Tiền tài: trật! Thân thế: trật. Tổ tiên ta từng truyền tụng: tham thì thâm. Thư từ, thân thế, tiền tài… trật trật trật! Thua thua thua! Thủy thích tinh tế, trung thực, thật thà, thế thôi. Tôi tính toán thật tình tiết: từ thị trấn Tân Tiến tận tụy tới thôn Tám tìm Thủy tâm tình, từ từ, từ từ, tránh trắng trợn, tránh thô thiển, thỉnh thoảng thêm tí tranh, thêm tí thơ tặng Thủy, trời thương trời trợ thủ thì tất thành. Trời thương tôi thật. Tới thôn Tám, thấy Thủy trơ trọi, thui thủi trên thềm, tôi thích thú thấy tôi tính toán trúng. Tôi trấn tĩnh, từ từ tiến tới tận thềm, thì thầm: “Thủy! Tôi tên Trí, Trần Trọng Trí, thầy thuốc Tây…” “Trần Trọng Trí!”, Thủy trầm trồ, “Thầy thuốc trị tim, trị thận, trị toàn thân thể, tiếng tăm truyền tám tỉnh! Trời, trẻ thế! Trẻ thế!” Thủy tấm ta tấm tắc. Tôi trùng tên thầy Trí, thầy thuốc thiên tài trên tỉnh. Thủy tưởng thế, thật trúng tủ, trời toàn thương tôi! Thấy tình thế thật thuận tiện, tôi tiếp tục thủ thỉ: “Thủy, tôi trốn thầy, trốn thủ trưởng, trốn tránh tất thảy, từ thị trấn Tân Tiến tới tìm Thủy!” Thủy trao tôi tách trà, thẹn thùng: “Thủy thật tầm thường, tìm Thủy thật trớ trêu…” Tôi tíu tít: “Thủy! Thủy! Thủy tránh tự ti. Thủy thật tuyệt trần, tiếng thơm truyền từ tỉnh Thanh tới tỉnh Thừa Thiên, thật thế!” “Thầy Trí tưởng thế thôi…”, tiếng Thủy trong trẻo, thánh thót. Tôi thủng thẳng tán tỉnh, thầm thầm thì thì, tu từ thật tốt, thỉnh thoảng thêm tí thán từ. Thấy Thủy thinh thích, tôi tấn tới, thả từng tiếng thật tha thiết: “Tháng tư, tôi trông thấy Thủy tha thướt trong thị trấn. Tôi thảng thốt: Trời, tiên từ trên trời tới thị trấn! Từ tháng tư tới tháng tám, tối tối tôi thao thức, trằn trọc. Tâm thần tôi trục trặc, thân thể tiều tụy. Tưởng tượng thấy Thủy trẻ trung, tươi tắn, tôi thổn thức: Thiếu thủ trưởng thì thảnh thơi, thiếu trời thì tổn thọ, thiếu Thủy thì tắc thở! Thủy! Trái tim tôi tràn trề tình thương Thủy. Tôi tìm tới Thủy trao trọn trái tim thật thà, trái tim trong trắng, trái tim thân thương, trái tim trẻ trung, trái tim trung thực… Tôi thề, tôi trao trọn!” Thấy tôi thề thốt thật tha thiết, thật tận tình, Thủy thấy thương thương, thẹn thò túm tóc thỏn thẻn: “Thôi thôi, Trí thôi thề thốt…” Thủy tin tôi, thật tuyệt! Thế thì tôi toàn trúng tủ, thật tuyệt! Tôi từ thủ thỉ tâm tình tiến tới thề thốt trầm trọng, toàn từ to tát: “Thủy tin tôi, thương tôi thì tôi thôi thề thốt. Thủy thiếu tin tưởng thì tôi tiếp tục thề. Tôi thương Thủy, tha thiết trao trọn tình tôi tới Thủy. Thủy tuyệt tình tôi thì tôi tự tử. Tôi theo Thủy tới trăm tuổi, tôi tuyệt tình Thủy thì tôi tắc tử!” “Trí!”, Thủy thổn thức, “Thủy tin Trí, thương Trí…” Tôi trúng to, trúng to! Trăng tròn tháng tám thấp thoáng trong tre, trời thu tươi tốt, tiếng thu thánh thót. Tôi tấn tới tìm tay Thủy. Tay Thủy trong tay tôi. “Thủy… Trí thương Thủy, thương tới tận tim…”, tôi thì thầm, từ từ thơm tay Thủy. Thủy thẽ thọt từng tiếng, từng tiếng thật thương: “Tính Thủy thật thà, thương thì thương thật. Trí tâm tình thế, Thủy tin. Tất thảy tình thương, Thủy trao trọn. Thủy tin: tình ta thắm thiết!”
Trời tối, Thủy tin tưởng trao thân. Tôi thơm tay Thủy, thơm tóc Thủy, thơm tới tận tai, thơm thơm thơm thơm. Thủy thất thần túm tay tôi, thét: “Thôi, Trí! Trí thương Thủy thì thương từ từ. Tình ta tránh trần tục. Trí…thụt tay!” Trí tôi, tên trác táng, tha Thủy thì thua thiệt, tốn tiền tàu từ thị trấn Tân Tiến tới thôn Tám. Thành thử tôi tiếp tục trổ tài tán tỉnh. Tôi thủ thỉ tâm tình: “Thủy thương Trí thì thương thật tình. Thủy trao trọn tình thì Trí trân trọng. Thủy thủ thế, trốn tránh, thiết tưởng thiếu tin tưởng Trí.” Thủy thật thà tin tôi, thả tấm thân trinh trắng tùy tôi thao túng. Thân thể Thủy trắng trẻo, thơm tho. *** Tôi tả thế thôi, tả thêm thì thô tục, tùy toàn thể tưởng tượng….
Thế thôi! tùy tưởng tượng!

Nghĩ về vận nước – trannhuong

1 Th10

Nghĩ về vận nước

Nhà văn Đắc Trung

       Lịch sử khi thịnh, lúc suy là thường. Pháp luật nghiêm và những người thực thi pháp luật nghiêm thì nước thịnh và ngược lại thì nước suy: đối nội đối ngoại lúng túng bế tắc, kinh tế khủng hoảng, sản xuất ngưng trệ, thất nghiệp tăng, đời sống khó khăn, khoảng cách giầu nghèo lớn, lòng tin của dân với bộ máy công quyền giảm, bất công sâu sắc, mâu thuẫn xã hội gay gắt, xung đột bùng phát…
      Có mấy cấp “suy”:  suy giảm – suy yếu – suy sụp – suy vong.
      Cùng với “suy” của lịch sử là sự “đồi” (đồi bại) của không ít yếu nhân: độc đoán chuyên quyền, bất chấp pháp luật, đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích quốc gia, tập hợp phe cánh, coi bộ máy công quyền là của mình, coi cấp dưới là thần quan riêng, coi người dân như nô lệ, vơ vét tiền của làm giầu bất chính, dùng mọi thủ đoạn nham hiểm hãm hại trung thần, đàn áp, tàn sát lương dân, gây rối loạn kỷ cương phép nước, khiến triều chính thối nát, lòng dân oán hận…
      Vấn đề quan trọng là giả quyết cách nào với sự “suy”, “đồi” ấy?
      Lịch sử nước ta đã có không ít bài học:
      Cuối triều Đinh “suy”. Loạn trong Hoàng tộc. Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại. Triều đình giết Đỗ Thích đưa Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi. Ngoài biên ải giặc Tống áp sát lăm le xâm lược. Trong nước Đinh Điền, Nguyễn Bặc nổi loạn. Sự tồn vong của xã tắc ngàn cân treo sợ tóc.
      Trước tình hình ấy Thái hậu Dương Vân Nga đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, nhường ngôi Hoàng đế của con trai mình cho tướng Lê Hoàn một người đức độ anh minh, văn võ song toàn được triều thần đồng thuận và lòng dân ngưỡng mộ. Nhờ thế quốc gia Đại Cồ Việt không chỉ thoát “suy” mà ngày càng hưng thịnh.
      Đến Lê Long Đĩnh, con trai út Lê Hoàn tàn ác bất nhân giết anh (Lê Long Việt) cướp ngôi, tham lam trác táng vô độ nên mắc bệnh phải nằm liệt (Ngọa Triều) mới 24 tuổi đã chết. Triều chính thối nát, lương dân lầm than cực khổ, oán hận ngút trời.
      Trước vận nước “suy”, “đồi” các quan trung thần bỏ qua truyền thống cha truyền con nối của thể chế phong kiến đồng tâm nhất trí tiến cử và tôn Lý Công Uẩn, một nhân tài đã đóng góp nhiều công lao cho đất nước lên ngôi vua.  Bằng sự sáng suốt và trách nhiệm cao với quốc gia các đại thần triều Lê đã cứu xã tắc thóat “suy”. Để rồi dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Lý Công Uẩn nước ta trở nên hùng mạnh.
      Cuối triều Lý, nhất là từ Lý Huệ Tông (1211-1224) sống sa đọa, triều đình mục nát, bị bệnh tâm thần ông ta phải nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng) mới 8 tuổi. Thiên tai mất mùa liên tiếp, nạn tham quan ô lại hoành hành, dân tình cực khổ, cướp loạn khắp nơi. Đại quân Nguyên – Mông áp sát biên giới. Đất nước trên đà suy sụp. Nguy cơ giặc phương Bắc xâm lược rất khó tránh khỏi.
      Trong bối cảnh ấy Trần Thủ Độ thấy rằng nếu để nhà Lý nắm triều chính thì nhất định Đại Việt sẽ đắm chìm trong lầm than nô lệ. Bằng đẳng cấp chính trị siêu phàm ông đã dụng “Kế mượn quyền” vận động Lý Chiêu Hoàng hạ chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, thực hiện cuộc bàn giao lịch sử hợp quy luật, không đổ máu để nhà Trần thay nhà Lý. Nhờ thế đất nước không chỉ qua cơn nguy biến mà mau chóng trở nên siêu cường, ba lần đánh tan giặc Nguyên xâm lược.
      Đến thế kỷ 14 nhà Trần “suy”, “đồi” thối nát. Vua Trần Thiếu Đế mới ba tuổi. Hồ Quý Ly lộng quyền át vua, tập hợp phe cánh thâu tóm quyền lực. Công bằng mà xét thực tâm Hồ Quý Ly cũng muốn theo gương Trần Thủ Độ tìm cách thay nhà Trần bằng nhà Hồ điều hành xã tắc để quốc gia thoát “suy”, cứu đất nước khỏi vong.
      Nhưng kinh nghiệm và bản lĩnh chính trị Hồ Quý Ly sao so được với Trần Thủ Độ, tiềm lực nhà Hồ sao bằng nhà Trần. Ông ta lại rất sai lầm khi tiến hành cuộc bàn giao ấy bằng đảo chính bạo lực lật đổ nhà Trần, thẳng tay tàn sát tôn thất nhà Trần cùng những người bất đồng chính kiến. Hành động bất nhân vô đạo của Hồ Qúy Ly khiến cả đất trời và lòng dân oán hận. Vì thế chỉ cầm quyền chưa được bẩy năm nhà Hồ bị diệt.
      Cuối triều Nguyễn Gia Long, đời Bảo Đại (1945) triều đình thối nát, tham quan ô lại tác quái, ngân khố cạn kiệt, thiên tai mất mùa, hơn hai triệu người chết đói, khắp nơi loạn lạc, giặc Pháp, giặc Nhật, giặc Tầu giày xéo. Đất nước tận cùng của sự suy sụp và khó tránh khỏi nhục vong.
      Trước bối cảnh ấy, Đảng Lao Động Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh bằng đường lối chính trị đúng đắn với mục tiêu: bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, xây dựng nước Việt Nam – Dân chủ – Cộng hòa – Độc lập – Tự do – Hạnh phúc rất hợp quy luật, hợp lòng dân. Nhờ thế đã quy tụ được mọi tầng lớp xã hội dưới cờ Tổ quốc, trong Mặt trận yêu nước tạo sức mạnh vô địch giành chính quyền, thực hiện thể chế chính trị mới, cứu đất nước thoát suy vong, nước Việt Nam trở nên hùng mạnh đánh bại cả giặc Tây, giặc Nhật, giặc Tầu.
      Rõ ràng thịnh – suy của lịch sử là quy luật Không nước nào luôn luôn mạnh, cũng không nước nào luôn luôn yếu. Quan trọng là giải quyết cách nào để thoát “suy” đạt thịnh. Lịch sử cũng chứng minh rằng bất kỳ thời nào dù bọn gian hùng đạo tặc, phi nghĩa bất chính có hoành hành đến đâu, dù nhất thời chúng có làm mưa làm gió thì cuối cùng cũng thất bại. Chính nghĩa dù có phải đương đầu với biết bao thử thách hiểm nguy nhưng nhất định chiến thắng. Chính thắng tà là quy luật. Với tinh thần ấy, chúng ta ” dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật “: vận nước đang suy. Suy ở cấp độ nào tùy nhãn quan từng người. Cùng với “suy” là “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất”. Nghĩa là “đồi”. Tuy nhiên lịch sử cũng chứng minh dù bất kỳ hoàn cảnh nào thì các yếu tố, nhân tố và sức mạnh tích cực vẫn tiềm ẩn nếu biết cách phát động, tập hợp, tổ chức thực hiện đổi mới thì mọi khó khăn nhất định vượt qua.
      Từ nhận thức ấy, Đảng ta tìm cách thoát “suy” xóa “đồi” bằng cuộc chỉnh đốn Đảng theo NQTW.4 với phương châm ” tự phê bình và phê bình”. Nghĩa là mỗi người tự soi mình và nhờ người khác giúp để thấy được điều đúng, điều tốt giữ lại, phát huy và thải loại điều sai, điều xấu với mong muốn được “trong sạch” đạt “chính nhân quân tử”, có như thế mới ” tề gia trị quốc bình thiên hạ” được. Không mới nhưng chỉnh Đảng lần này làm rất triệt để, kiên quyết từ trên xuống dưới không trừ ai, rất cầu thị, rất tự nguyện nhưng cũng rất nghiêm khắc kỷ luật. Ai “bẩn” quá, hoặc không chịu làm “sạch” thì phải thay, phải đào thải, quyết không để ” một con sâu làm rầu nồi canh “.
       Đây là chủ trương đúng, cách làm đúng, nhằm thanh lọc để trong sạch Đảng một cách ôn hòa, hợp quy luật, hợp lòng dân và hợp với thực tiễn lịch sử nước ta.
      Tuy nhiên cần hiểu rằng sự “suy”, “đồi” đã khá trầm trọng. Bởi thế tránh tả khuynh, nhưng cũng không được hữu khuynh. Phải kiên quyết, triệt để ” làm đến nơi đến chốn”. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Đây là thời cơ duy nhất để Đảng lấy lại niềm tin trong nhân dân và củng cố vị trí lãnh đạo của mình”. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều lần Tổng Bí thư Đảng và Chủ Tịch nước cảnh báo nạn: ” tham nhũng, thoái hóa về tư tưởng, về đạo đức lối sống “. Muốn giải quyết sự “đồi” bại này cần phải nhận diện cho rõ từng loại thoái hóa ấy.
      Tham nhũng: là muốn có, muốn chiếm đoạt những gì mà mình không xứng đáng, không có quyền được hưởng bằng mọi cách. Vì thế sẵn sàng gây nhũng nhiễu, thậm chí chà đạp cả pháp luật, bất chấp kỷ cương phép nước và đạo lý.
      Biết rằng bản thân, con cháu, người cùng phe cánh đức cạn, tài hèn, nhưng bằng quyền lực, bằng tiền bạc, bằng thủ đoạn vẫn cứ bổ nhiệm giữ những chức vụ quan trọng, béo bở bất chấp mọi quy tắc, bỏ ngoài tai sự bất bình phản đối của dư luận xã hội, làm suy yếu bộ máy quản lý điều hành đất nước, mất lòng tin của dân. Đó chính là tham nhũng quyền lực.
      Lợi dụng chức quyền, cấu kết với các phần tử bất trung, bất nghĩa, bất nhân vơ vét tiền của đất đai, nhà cửa, cổ phần, cổ phiếu thậm chí thông đồng với cả đối tác nước ngoài phản bội Tổ quốc làm giầu bất minh. Đó chính là tham nhũng vật chất.
      Xa rời lý tưởng cách mạng, buông lỏng lập trường giai cấp công nhân, bất chấp pháp luật, đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích quốc gia. Không “lấy dân làm gốc”, miệng nói “của dân, do dân, vì dân” nhưng làm thì khác, mị dân, lợi dụng dân, đàn áp dân. Thậm chí mơ tưởng một thể chế quyền lực do nhóm tài phiệt thâu tóm và tổng thống độc tài phán quyết, khi cần sẵn sàng phản bội Tổ quốc “cõng rắn cắn gà nhà”. Loại này rất nguy hiểm, trực tiếp “đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ”. Đó chính là thoái hóa tư tưởng.
      Cậy thế chức quyền, coi thường cả các bậc lão thành cách mạng có công khai quốc, các gia đình chính sách, các nhân sĩ trí thức, coi thường văn hóa truyền thống, vô cảm trước nỗi thống khổ của lương dân, sống phè phỡn trong giầu sang, trác táng sa đọa. Đó chính là thoái hóa đạo đức, lối sống.
      Các loại thoái hóa luôn gắn kết nhau làm suy yếu Đảng, sói mòn lòng tin trong nhân dân, đẩy quốc gia đến lầm than vong nhục. Bởi thế phải kiên quyết và triệt để trong cuộc chỉnh đốn Đảng lần này.
      Cần khẳng định lần nữa rằng: NQTW.4 là chủ trương đúng, cách làm đúng nhằm giải quyết, khắc phục sự “suy”, “đồi” của thực tế lịch sử. Bởi vậy sẽ rất sai lầm nếu cho rằng đây là cuộc đấu đá tranh giành quyền lực. Không. Đây là cuộc đổi mới rất cấp thiết, hợp quy luật với mục đích vì Tổ Quốc, vì Dân Tộc, vì hạnh phúc Nhân Dân được tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước hết lòng, hết sức ủng hộ. Đây không chỉ là công việc của Đảng mà của tất cả mọi người dân Việt Nam yêu nước lo lắng cho tương lai dân tộc.
      Vận nước đang đứng trước thử thách lớn lao. Bởi thế cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ ý nghĩa trọng đại, mục đích cao cả thiết thực của cuộc chỉnh đốn Đảng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, gắn bó, sát cánh cùng với Đảng thực hiện thành công cuộc vận động mang tính cách mạng này, đè bẹp mọi phản ứng tiêu cực, thậm chí phản kháng của những phần tử “thoái hóa biến chất” không chịu cải tà quy chính. Kiên quyết thải loại nhằm làm trong sạch Đảng lấy lại niềm tin trong nhân dân hoàn thành sứ mạng lịch sử mà Tổ quốc giao phó./.

CON CÁI TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG,CT NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG LÀM GÌ, Ở ĐÂU? – PVĐ

1 Th10

CON CÁI TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG,CT NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG LÀM GÌ, Ở ĐÂU?

NGƯỜI QUAN SÁT.
 
Trong cuộc sống có câu “những con số biết nói”.Thật vậy, có khi chỉ thông qua một con số mà người đời biết được nhiều điều hay, dở. Tương tự, thông qua một cử chỉ, việc làm người ta hiểu được đâu là phải, trái. Cho đến thời điểm hiện tại, có lẽ trừ Ban Tổ chức Trung ương Đảng,Văn phòng Chủ tịch nước, Quốc hội và những người thân trong gia đình biết tường tận con cái của TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang quí danh là gì, bao nhiêu tuổi, đang làm gì ở đâu? Còn thì không mấy ai biết và trả lời chính xác được câu hỏi đặt ra ở trên.
Ai cũng biết ông Nguyễn Phú Trọng trước khi trở thành TBT từng là Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội; còn ông Trương Tấn Sang trước khi được Quốc hội bầu là CT nước từng là Bí thư Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Thường trực Ban Bí thư. Ở những vị thế kinh qua như vậy, nếu ông Trọng, ông Sang ra tay tạo dựng cho con cái vào các chức danh Phó giám đốc rồi Giám đốc các ban, ngành (ở địa phương) để rồi tạo đà thăng tiến dần…hay Phó vụ trưởng, Vụ trưởng, Tổng Giám đốc một doanh nghiệp, thậm chí Thứ trưởng (các Bộ ngành ở Trung ương) chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ. Thực tế thì có khá nhiều VIP đã, đang làm như vậy rồi! Tổng BT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang đã không làm thế. Nếu con cái hai ông có những chức danh như đã điểm thì cả địa phương biết, cả ngành cả nước biết, thậm chí cả thế giới cũng tỏ.
Nghe nói, ( người viết bài này chỉ nghe nói) con cái của TBT Nguyễn Phú Trọng, CT Trương Tấn Sang hiện đang là những công chức, doanh nghiệp bình thường. Cũng như chức danh rất khiêm tốn ấy, lại cũng nghe nói, con cái của hai ông sống rất từ tốn chứ không ngồi đâu, với ai cũng huyếnh hoáng lên “ bố tớ là ông nọ ông kia”, thậm chí làm nhiều điều tai tiếng như con cái của nhiều vị ủy viên Trung ương hay Bộ trưởng nọ Bộ trưởng kia…Riêng về góc độ con cái, như vậy thật đáng khen và nể phục, chắc chắn họ là những người được học hành, giáo dục nề nếp, biết ứng xử với xã hội như thế nào…
Khác hẳn với TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có mấy người con, họ tên đầy đủ, hiện đang làm gì, ở đâu thì ai cũng biết cả rồi. Còn quí tử của Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm Nguyễn Sinh Hùng tên là Nguyễn Sinh Nhật Tân thì đang “được ủ” là Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Công thương, nghe nói là sẽ trở thành Thứ trưởng trong thời gian gần.
Hay như nguyên TBT Nông Đức Mạnh có cả một quá trình tạo ra đường quan lộ cho “thái tử” Nông Quốc Tuấn từ quan Trung ương đoàn sang làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đi luân chuyển để trở thành Bí thư tỉnh Bắc Giang và vào Trung ương như thế nào; rồi thì nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Nguyễn
Văn Chi trước khi rời “ghế” còn kịp mặc cả “cấy” con trai là Nguyễn Xuân Anh vốn từ một phóng viên báo Thanh niên làng nhàng lộn ngược về quê làm quan chức quận ở Đà Nẵng bỗng chốc “đại nhảy vọt” vào Trung ương.
Ở cấp độ thấp hơn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam Vũ Văn Hiền trước khi “hạ cánh an toàn” còn kịp đặt con trai Vũ Minh Tuấn vào cái ghế Phó Tổng Giám đốc chính nhà đài của mình…
Còn nữa…nhưng mà thôi, chấm phá so sánh vài ba trường hợp như vậy đủ để nói rằng TBT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang đang là những nhà lãnh đạo có tư chất và nhân cách riêng thuộc diện “xưa nay hiếm” ở Việt Nam. Đúng như tên riêng – Các ông SANG TRỌNG đúng nghĩa!
Như thế, chắc chắn tại Hội nghị Trung ương VI diễn ra tới đây,175 Ủy viên BCH Trung ương sẽ lấy đó là một trong những căn cứ sinh động, quan trọng để thể hiện chính kiến thông qua lá phiếu của mình trước vận mệnh của đất nước và của Đảng.
 
Ngày trước Tháng 10
N.Q.S.
 

Lý do gì Trung Quốc hung hăng ở Á Châu? – BS

1 Th10

Lý do gì Trung Quốc hung hăng ở Á Châu?

 Lê Quốc Trinh

Sau bài viết “Chiến luợc bao vây Trung Quốc của Hoa Kỳ” đăng trên Mạng hồi tháng trước, tôi nghiệm thấy tình hình diễn biến ở Thái Bình Dương càng lúc càng căng theo chiều hướng phỏng đoán. Cho nên xin phép viết tiếp bài này để trình bày thêm quan điểm, như sau:

 

1)- Sau hơn 30 năm thực hiện kế họach “Bốn Hiện Đại Hoá” do ông Đặng Tiểu Bình bày ra và nhờ chính sách “Tối Huệ Quốc” của Mỹ giúp đỡ (1980), TQ đã đi vào kỷ nguyên kinh tế mới, thay đổi bộ mặt nghèo đói lạc hậu thời Mao ngày xưa. Nhưng trong thực chất TQ tiến bộ đến mức độ nào ? Theo thiển ý, TQ mới chỉ vượt qua đói nghèo, khuếch trương kinh tế và quân sự nhờ bàn tay lao động cật lực của hơn 1.3 tỷ dân dưới ách thống trị độc đảng để thiết lập ổn định xã hội, kỷ luật sắt khép người lao động vào hệ thống bóc lột của ĐCS TQ, nhằm thuyết phục đầu tư ồ ạt từ Âu Mỹ.

 

Hiện giờ không còn ai nghe tuyên truyền “đế quốc Mỹ hay tư bản Âu Mỹ bóc lột” mà hiện thân giai cấp “tư bản đỏ TQ” chính là kẻ thay mặt để bóc lột đại đa số công nhân TQ. Giới tài phiệt Âu Mỹ rất ư hài lòng, vì cứ mỗi 100$US lợi nhuận từ đầu tư vào TQ, họ hưởng được 60% vào túi tiền các ông chủ đại gia và dân chúng Âu Mỹ. 40% còn lại vẫn còn đủ chán để TQ tích luỹ từ hơn 30 năm qua, vật giá thấp, chính sách kềm giữ đồng Nhân Dân Tệ thấp, đồng lương rẻ bèo, do ký cóp mà họ trở nên giàu có. Tuy vậy, sự giàu có sung túc ở TQ có bền vững thật không ? Với dân số hơn 1.3 tỷ người, được ăn sung mặc sướng từ hơn 10 năm qua, liệu TQ có khả năng tự túc nuôi cơm số miệng ăn khổng lồ này không nếu không có thế giới xung quanh hỗ trợ như một quan hệ hữu cơ ? Chúng ta thử lướt vài vòng phân tích xem:

2)- Thực chất trên phương diện KHKT, TQ đạt nhiều tiến bộ về hạ tầng cơ sở (xây dựng cầu cống, xa lộ, phi trường, đường xe hoả, cao ốc) và dịch vụ, lắp ráp máy móc điện tử. Đương nhiên họ có một đội quân công nhân rẻ tiền khổng lồ, với giá thành thấp, tay nghề cao, dễ hấp dẫn với người đầu tư. Ngược lại về máy móc thiết bị nặng họ vẫn còn chịu liên hệ nhiều với các công ty đại gia Âu Mỹ. Họ vẫn cần đến nhiều patents để chế biến máy móc, nhưng bản vẽ thiết kế và chi tiết quan trọng họ chưa thể tự sáng tạo. Đó là lý do tại sao họ chưa thể chế tạo nổi động cơ phản lực tối tân để trang bị máy bay. Trong nhiều dự án phóng phi thuyền, hoả tiễn, đóng tàu thuỷ hạng nặng và ngay cả tàu hoả cao tốc, TQ hãy còn cần đến bộ óc thiết kế tính toán của các cty đại gia Âu Mỹ (điển hình General Electric, Apple). Không thể nào chỉ trong vòng 20-25 năm mà TQ có thể tiến bằng những expertises quý báu của những cty công nghệ cao hàng đầu thế giới (nhiều cty có chiều dài lịch sử hơn 100 năm hoạt động).

TQ hiện giờ chỉ biết sử dụng đội quân gián điệp công nghiệp để ăn cắp tài liệu thiết kế kỹ thuật, hay cố tình nhái kiểu, bắt chước làm y chang thiết bị nhập từ ngoài. Trong kỹ nghệ xe hơi TQ thường bị tố cáo ăn cắp hình dáng các dòng xe đắt tiền Prestige (AUDI, BMW, MERCEDES) và bị các nước Âu Châu cấm cửa. Canada cũng bị thiệt hại không kém, nghe nói TQ sử dụng mánh khoé đặt hàng mua hai dàn máy làm giấy vĩ đại (dài cả trăm mét, thành giá không dưới 100 triệu US$). Nhưng khi nhận được dàn máy đầu tiên thì họ kiếm cớ hủy giao kèo dàn thứ hai. Họ tháo gỡ dàn máy kia để học tập bắt chước chế tạo y chang thành nhiều bản sao. Phải làm trong công nghiệp mới hiểu những thủ đoạn dơ bẩn này. Dẫu sao cứ mỗi lần TQ phóng phi thuyền hay hoả tiễn, thì ít nhất các đại gia Âu Mỹ cũng có phần hưởng lợi nhuận thì tại sao lại từ chối ? Nhưng không dễ gì TQ tiếp cận được hết mọi chi tiết kỹ thuật cao bí mật quân sự mà Ngũ Giác Đài kiểm soát gắt gao. Điển hình, chiếc hoả tiễn của Bắc Triều Tiên phóng hồi tháng Ba 2012 do TQ hỗ trợ ngân sách, kỹ thuật (hơn 3 tỷ US$) để gây thanh thế và gây náo loạn vùng biển Hoàng Hải, dường như đã bị HK sử dụng dàn súng LASER bắn rơi. Thất bại ê chề này làm Bình Nhưỡng ê mặt, cách chức viên tướng tổng tham mưu già, tạm thời ngậm miệng rút lui, và TQ bị bó buộc phải lộ diện là kẻ háo chiến ở Á Châu, và thế giới có cơ hội nhìn rõ sự thật hơn.

3)- TQ tiến bộ vượt bực về vật chất, quân sự, kinh tế, nhưng trên lĩnh vực chính trị xã hội (thượng tầng kiến trúc) họ vẫn còn lẹt đẹt hình thức phong kiến, độc đảng, độc tài. Hơn 1.3 tỷ dân TQ chưa hề được phép làm chủ thân phận, tiếng nói, tự do. Họ chưa hề có vinh dự tự tay cầm lá phiếu bầu lên người lãnh đạo chính danh đại diện thật cho họ. Tệ hơn nữa TQ đất rộng, đông dân, ngôn ngữ chưa đồng nhất (tiếng Quan Thoại ở TQ, tiếng Quảng Đông ở Hong Kong) và hàng trăm thứ tiếng “dialecte” còn chia năm sẻ bẩy nội tình TQ, chưa nói áp lực đòi độc lập của bốn vùng tự trị còn đang âm ỷ. Đó mới là mối ưu tư lo sợ hàng đầu trong lòng lãnh đạo TQ hiện nay. Tôi chưa đề cập đến những chuyện đấu đá nội bộ Đảng CS TQ qua hình ảnh Bạc Hy Lai mới đây. Do đó thiếu yếu tố DÂN CHỦ thì 1.3 tỷ dân sẽ biến thành một nồi nước sôi khổng lồ đang tạo áp xuất cao, sẽ nổ tung trong thời gian tới.

 Hãy thử nhìn qua lịch sử hình thành thể chế dân chủ của Hoa Kỳ thì rõ. Suốt hơn 200 năm đó HK đã trải qua nhiều biến động nội bộ, đi từ các triều đại dân chủ Washington cho đến ngày nay, rất nhiều lãnh tụ chính trị bị ám sát, chiến tranh Nam Bắc vì vấn đề giải phóng nô lệ da đen, rồi đến làn sóng biểu tình rầm rộ phản kháng chính sách kỳ thị chủng tộc (thập niên 60) với cái chết của lãnh tụ da đen Lucther King. Ngày nay Hoa Kỳ dám tự thay đổi tư duy, dám bầu lên một tổng thống da đen, để đại đa số dân lao động còn tin tưởng phần nào vào chính thể Pháp Trị, Tam Quyền Phân Lập, nhiều quốc gia khác đang tập tành noi gương. Thật tình mà nói thì HK không có giải pháp nào khác hơn DÂN CHỦ, vì hàng triệu người dân HK được phép mua súng ống, họ mà nổi dậy chống đối “độc tài, độc đảng, vô sản chuyên chế” thì nước Mỹ sẽ tan tành như xác pháo.

 Để sinh tồn và phát triển, TQ không đi ra ngoài quy luật tiến bộ này, càng chậm trễ đi tới dân chủ, thì khối ung thư “nổi loạn” càng phình to, càng giàu sang thì sự cách biệt giai cấp càng rõ nét, nguy cơ trở lại thời Đông Châu Liệt Quốc, hay Tam Quốc Chí chắc không xa. Thế nhưng, cơ chế “tư bản đỏ” trong lòng ĐCS TQ do nhiều vị tướng lãnh Quân Đội Nhân Dân đứng ra thành lập công ty đại gia, nắm chặt độc quyền mua bán địa ốc, đất đai, biến họ thành những chủ nhân ông giầu sụ nhất TQ (có thể sánh ngang hàng với các tỷ phú Âu Mỹ), họ không muốn dân chủ tý nào. Đó là phe “diều hâu” đang nuôi giấc mộng làm bá chủ thiên hạ, sẵn sàng khai thác triệt để tinh thần Đại Hán, chủ nghia yêu nước cực đoan của dân TQ, tuyên truyền “chiến tranh nhân dân” khiến cho nhiều quốc gia yêu chuộng hoà bình phải lo ngại hình ảnh một Đức quốc xã mới, đe doạ thế giới tự do. 

 4)- Hiện giờ bản chất hiếu chiến của TQ càng bộc lộ qua những diễn biến với Nhật, Phi, VN và Nam Hàn. Báo chí thế giới bắt đầu theo dõi chiến sự trên biển, thì TQ càng bị cô lập trên bình diện ngoại giao. Gọng kềm vô hình đang siết chặt bao vây TQ, điển hình:

 – Mặt trận ở mạn Tây: Miến Điện cải cách dân chủ hợp với một Ấn Độ đông dân không kém, kinh tế phát triển, nhưng quân sự càng tăng trưởng áp sát biên giới, cho thấy TQ mất ảnh hưởng quan trọng rồi;

 – Mặt trận Hoàng Hải (Bắc Triều Tiên): Sau cú bắn hoả tiễn bị thất bại ê chề (03/2012) khiến Bình Nhưỡng phải rút lui chiến thuật. HK lấy lại niềm tin với Đồng Minh. TQ đành phải đơn thân độc mã xuất hiện;

 – Mặt trận Tây Tạng và Nội Mông: Uy tín Ngài Đạt Lai Lạt Ma càng lên cao trong thế giới tự do, càng được Quốc Hội và tổng thống HK kính trọng như là lãnh tụ, thì TQ càng điên cuồng chống đối. Lý do là làn sóng biểu tình, tự thiêu của người dân Tây Tạng làm cho TQ bẽ mặt, chưa nói đến những khu tự trị khác, vấn đề dị biệt văn hoá ngôn ngữ, tín ngưỡng của đại đa số người Hồi Giáo đang ngấm ngầm bùng nổ. Bốn vùng tự trị này chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ và đại đa số dân TQ. Đó chính là mối ưu tư mất ăn mất ngủ của lãnh đạo ĐCS TQ;

 – Mặt trận Biển Đông với VN: Xem ra ở chỗ này TQ còn có cơ hội vẫy vùng phần nào, nhưng chưa hẳn thắng thế, vì lãnh đạo CS VN cứ nhùng nhằng chơi trò “đu dây đi hai hàng” với Nga và HK. Bên cạnh đó còn có Phi Luật Tân cũng đang khó chịu với TQ về tranh chấp trong bãi cạn san hô Scarborough, mà HK đã hứa chu cấp và nâng cấp hải quân Phi để giúp họ bảo vệ chủ quyền;

 – Mặt trận Trung Đông-Phi Châu: Sau màn kịch Cách Mạng Hoa Nhài nổi lên từ Tunisie (01/2011), lan rộng đến Ai Cập, Lybia …sắp đến Syria rồi Iran. Xem ra TQ càng ngày càng lép vế ở khu vực này, hàng chục triệu doanh nhân TQ (lớn bé, tiểu thương, đại gia, công nhân) đổ bộ lên lục địa da đen này từ hơn 10 năm qua, đầu tư cả trăm tỷ US$ vào các mỏ dầu hoả, nay đến lúc phải cuốn gói “hồi hương” vì bị hất cẳng. Hãy nghe ông tướng TQ Lưu Á Châu thổ lộ thì mới hiểu nỗi đắng cay, chua chát của TQ.

 Giờ đây công nghệ chế tạo xe hơi TQ mới phát triển được gần 10 năm, sắp xuất cảng sang Âu Mỹ để cạnh tranh (Made in China, giá rất rẻ), xem ra sắp phá sản đến nơi, vì hai lý do chinh:

 a)- Thiếu năng lượng: mất dầu hoả Trung Đông mất cơ hội làm bàn. Chỉ còn dầu hoả ở Biển Đông, tranh giành “ăn cướp cơm chim” với VN.

 b)- Kỹ thuật lạc hậu: Thế giới Âu Mỹ và Nhật đang sắp sửa tung ra thế hệ “xe hơi chạy điện” không còn lệ thuộc vào xăng dầu nữa. Mỗi ngày có thể lái xe đi làm trong vòng 100-200 km, tối về cắm điện charge lại bình ắc quy. Điệu này thì TQ chỉ còn xuất cảng xe hơi sang VN giá rẻ bèo để gỡ gạc mà thôi.

 Theo đánh giá của nhiều nhà kinh tế thế giới, tuy TQ đang nắm giữ một số tiền khổng lồ, chủ nợ của Mỹ và Âu Châu, nhưng viễn ảnh khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp tràn lan, nạn đói hoành hành hãy còn lởn vởn trước mắt vì tình trạng nhân mãn, không dễ gì giải quyết.

 Phe “diều hâu” TQ chỉ còn giải pháp tuyên truyền một chiều như thời Mao Trạch Đông xưa kia để vận động “chiến tranh nhân dân”, xua ngư dân ra biển làm tấm bình phong gây hấn, khiêu khích các nước láng giềng. Trong thời đại Internet này, hình thái chiến tranh cổ điển đó hết hiệu lực, vì theo thời gian dân chúng được tiếp cận sự thật, sẽ hiểu ngay thôi.

 Kết luận: Tình hình khẩn trương ở Thái Bình Dương này chỉ cho phép TQ hung hăng trong vòng 6 tuần lễ thôi. Đến khi 300 triệu dân Mỹ bầu lên xong một tổng thống xứng đáng, nội tình họ giải quyết xong, thì TQ sẽ không còn cơ hội làm bá chủ Á Châu …ngoại trừ Mỹ chịu lép vế để TQ chia thế giới thành hai vùng chiến lược kinh tế quân sự, đẩy Mỹ vào đường cùng, đe doạ hoà bình thế giới.

Lê Quốc Trinh (30/09/2012)

Làm dân khó lắm, phải đâu chuyện đùa – PLTP

1 Th10

Làm dân khó lắm, phải đâu chuyện đùa

 
Hình như làm dân càng ngày càng khó. Chuyện này đúng ra phải thuê một vài nhà khoa học nghiên cứu cho đến nơi đến chốn, chứ không thể phán bừa được.

Vừa rồi được nghe một vài vị cán bộ phàn nàn về dân nhiều quá, tức khắc ai cũng có cảm giác gờn gợn, nên chỉ dám dùng chữ “hình như”. Mà hình như là khó thật.

Có vị chê dân trí thấp nên phải nuôi mấy ngân hàng xấu, có vị khác thì bảo dân trí thấp nên mới… hổng chịu làm đường sắt cao tốc như ông nghị ở Hà Nam, lại có vị bảo dân phải hy sinh cho thủy điện. Thực tình dân cũng không biết phải làm gì ngoài đóng thuế để các vị quản lý và giải quyết các loại sự vụ xảy ra trong cái xã hội nhiều rắc rối rất nhức đầu này. Thậm chí dân Quảng Nam ngày đêm lo lắng tưởng như chết đến nơi, có vị tiến sĩ còn bảo, đại khái là, mới có động đất một tí mà đã nháo nhác hết cả lên.

Ngày xưa dân mình làm gì có thủy điện. Đến thời Pháp thuộc chúng ta mới có vài cái thủy điện nhỏ. Ngày trước vì không có thủy điện, nên chẳng có cái gọi là động đất kích thích, nứt đập sông đập suối này nọ. Đâm ra chẳng có cán bộ nào mắng dân là mới có thế đã dắt trâu bò, gói ghém đồ đạc bỏ chạy. Cũng vì thế mà chẳng có cán bộ nào bảo dân phải “chia sẻ và hy sinh” cho cái thủy điện không biết vỡ đập lúc nào. Dân Quảng Nam hồi đó, về cơ bản là không bị mắng, cũng không có thiệt hại gì vì một cái thủy điện.

Đầu năm, ông nghị Hoàng Hữu Phước phát biểu: “Chưa cần luật biểu tình, vì dân trí ta còn thấp”. Cuối năm, ông Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình lại cho rằng: “Do dân trí thấp, nên Nhà nước phải nuôi báo cô mấy ngân hàng xấu”. Ngày xưa dân mình cũng chẳng mấy khi đến ngân hàng. Mãi năm 1951 mới có Ngân hàng Nhà nước. Vậy nên không thấy có bằng chứng lịch sử nào ghi lại lời một quan chức ngân hàng chê dân trí thấp nên Nhà nước phải nuôi báo cô mấy ngân hàng làm ăn thua lỗ. Chưa hết, trên lĩnh vực văn hóa, trước tình trạng chân dài váy ngắn hở hang biểu diễn, ông cục trưởng quản lý biểu diễn lên TV tuyên bố “nói chung là dân trí chúng ta còn thấp…” đến nỗi một nhà văn hóa chịu hết thấu phải lên tiếng: Việc quản lý của ông ấy thấp nên mới để xảy ra tình trạng âm nhạc như thế. Nhờ sống chung với cái dân trí thấp nên nay ông cục trưởng đã… thăng chức thứ trưởng (!).

Ngày xưa, 95% dân số Việt Nam mù chữ. Cán bộ Việt Minh, đảng viên đi vận động từng người dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Không ai bảo dân trí thấp thì không làm được cách mạng. Tình trạng dân trí thấp được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đó giải thích là hậu quả của chính sách ngu dân thời kỳ thực dân – phong kiến, “chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”, làm cùn mòn trí tuệ và nô dịch dân ta trong sự dốt nát.

Cách mạng thành công, chính quyền mới không ai chê dân dốt, mà thấy việc nâng cao dân trí là trách nhiệm của mình. Chính quyền cách mạng phát động phong trào diệt giặc dốt. Người người, nhà nhà tham dự các lớp “bình dân học vụ”, hoàn toàn miễn phí. Cán bộ dạy chữ cho dân, các ông bà giáo dạy chữ cho dân, động viên dân phải giết cái thằng giặc dốt đi thì cuộc sống mới khá được. Hồi đó dân trí thấp hơn bây giờ thật nhưng cán bộ không chê, nên làm dân vẫn dễ.

Thế rồi cán bộ được đi nước ngoài, được học hành đến nơi đến chốn, thậm chí trong khi dân ở nhà đang vắt kiệt nguồn lực để kháng chiến chống Mỹ thì họ được cử đi Liên Xô, Đông Âu học, nuôi dưỡng một thế hệ cán bộ cho công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh. Thế nhưng thành tài rồi lại có người trong số họ quay ra trách dân thế nọ thế kia, cứ như ô tô các vị đang đi, tiền lương các vị đang nhận, cái nhà công vụ các vị đang ở, thậm chí cả cái mảnh bằng thạc sĩ, tiến sĩ của các vị, không phải từ mồ hôi nước mắt của dân mà ra.

Đâm ra làm dân càng ngày càng khó. Có khi khó quá thế này, dân nên… từ chức đi!

HỮU LONG

 

Lãnh đạo Đảng CSVN hãy noi gương Miến Điện – BS

1 Th10

 Lãnh đạo Đảng CSVN hãy noi gương Miến Điện

 basamnews

Đôi lời: Hôm qua blog Ba Sàm có điểm bài “Tổ quốc là một” của nhà báo Đỗ Hùng đăng trên báo Thanh niên. Trong bài viết có nhắc tới ông Nguyễn Hùng, một người Việt ở Úc “rất nhiệt tình tham gia đấu tranh vì chủ quyền đất nước trên mạng”. Ông Nguyễn Hùng cũng là người rất tích cực tham gia những bài viết, bài dịch liên quan tới dự án điện hạt nhân của Việt Nam, được đăng tải trên trang Bô-xít.

Ông Nguyễn Hùng đã có bức thư ngỏ gửi nhà báo Đỗ Hùng. Chúng tôi xin được đăng nguyên văn bức thư của ông với sự đồng ý của tác giả.

Đỗ Hùng thân mến,

Mình cám ơn Đỗ Hùng rất nhiều đã đưa mình vào “spot light” với bà con trong, ngoài nước. 

Rất đồng ý với Đỗ Hùng là người Việt đang sống trên toàn thế giới và tại VN thì chỉ có 1 Tổ quốc Việt Nam, và Tổ quốc này là của toàn dân, không phải là của một tổ chức chính trị nào dù là đảng cộng sản VN.

Một Tổ quốc là một sự thực ngàn đời nếu Việt Nam còn tồn tại trên bản đồ thế giới, còn việc có thể phát huy hay thủ tiêu tinh thần bảo vệ tổ quốc trước bọn xâm lược Tàu là trách nhiệm và nghĩa vụ của lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, đảng đang nắm toàn bộ vận mệnh của đất nước. Là anh hùng hay là tội đồ của dân Việt, nhận huy chương vô giá hay là bản án phản bội từ toàn dân, tất cả đều xuất phát từ hành động của lãnh đạo tối cao của đảng CSVN trong thời gian tới, không phải vài năm, vài chục năm mà phải là vài ngày vài tuần lễ vài tháng.

Một sự thật mà đảng cộng sản Việt Nam phải sáng suốt nhận biết và thừa nhận trong danh dự là tuyệt đại đa số người Việt đang sinh sống trên toàn thế giới ngoài VN là người Việt tỵ nạn cộng sản-đảng cộng sản Việt Nam, không chấp nhận độc tài độc quyền độc đảng. Chỉ có lãnh đạo đảng cộng sản mới có quyền lực thay đổi -vô hình và hữu hình – để  người Việt “tỵ nạn cộng sản” vui sướng và hãnh diện vứt bỏ cụm từ “tỵ nạn cộng sản”. Đó là lãnh đạo ĐCSVN chấp nhận và tôn trọng đối lập ngay tại trong nước, chấp nhận tự do dân chủ cho tất cả, không phân biệt quan điểm chính trị khác biệt.

Đỗ Hùng à, mình luôn luôn mang hy vọng dù rất mong manh – trong khi đa số người Việt ở nước ngoài tỏ ý không hy vọng gì – vào sự thay đổi tư duy của lãnh đạo cao cấp ĐCSVN. Mình hy vọng tinh thần dân tộc sẽ vượt thắng độc tài, độc quyền. Nếu không có một cuộc cách mạng về tư duy của lãnh đạo ĐCSVN, thì dù có lời kêu gọi nào hay hành động gì, thí dụ như cuộc hội thảo Việt kiều đang diễn ra ở VN, cũng không thể làm thay đổi được gì trong cộng đồng người Việt tỵ nạn CSVN. Con số vài trăm người Việt từ nước ngoài về chỉ là hạt muối bỏ biển. Một số cũng chỉ là những người vì lợi ích cho các thương vụ cá nhân mà thôi! Nhưng bên ngoài luôn dùng bình phong yêu nước (cho tư lợi). Họ cũng chỉ là những nhà đầu tư con con, lợi dụng sự ưu tiên để có lợi cho cá nhân như những nhà đầu tư người nước ngoài, không hơn không kém. So với số tiền mà bao nhiêu triệu người Việt đang sống tại nước ngoài thường xuyên  chia sẻ tiền bạc họ dành dụm cho người thân của họ tại VN (trên dưới 10 tỷ USD hằng năm)  thì số tiền cuả vài trăm người này chẳng là gì. Nếu đem số tiền đóng góp cho đất nước để đánh giá lòng yêu nước như nhà nước trong nước kêu gọi thì chính đa số thầm lặng yêu tổ quốc hơn một số vài trăm Việt kiều (thời cơ) này rất nhiều. Tại sao lại phí công phí của cho một thiểu số nhà đầu tư có cái “mác” Việt Nam.

Một khi quan điểm cơ bản về chính trị được thay đổi thì không cần kêu gọi gì từ phía chính phủ mà người dân Việt tại nước ngoài sẽ tự động đổ dồn về quê hương mình, giúp bà con thân thuộc, đầu tư và nhất là bảo vệ tổ quốc chống bọn xâm lược Tàu.

Đảng CSVN phải có nhiệm vụ và trách nhiệm trước tổ quốc là huỷ bỏ cụm từ “tỵ nạn cộng sản” chứ không phải đại đa số người Việt tại nước ngoài.

Khi đó đảng cộng sản sẽ  được chính danh lãnh đạo tổ quốc. Khi đó nạn kiêu binh lộng hành của các thế lực dựa vào đảng CSVN mới bị đánh gục. Việc này đảng CSVN có thể làm được, chỉ cần có hùng tâm, có quyết tâm. Nga, Đông Đức và các nước Đông Âu đã làm được. Cả nước chỉ cần một quyết định thay đổi từ các cấp của lãnh đạo tối cao của ĐCSVN, lãnh đạo cao nhất của đảng là ông Nguyễn Phú Trọng. Chắc Đỗ Hùng có dịp đọc qua vài bài viết của anh em mình về quan điểm này trong vài năm qua và được phổ biến và được mình chuyển cho các cơ quan truyền thông, đảng và nhà nước.

Trước tình hình thay đổi nhanh chóng hiện nay tại Đông Á, Đông Nam Á, đây là thời điểm thuận lợi và lý tưởng cho ĐCSVN hành động. Miến Điện đã làm được thì tại sao VN không làm được, phải không Đỗ Hùng. Nếu ĐCSVN làm như Miến Điện thì ĐCSVN sẽ “thắng và thắng”, như người  Anh Mỹ thường nói  “win and win situation”.

Xin lổi Đỗ Hùng mình đã viết lung bung hơi nhiều!.

Mến chúc Đỗ Hùng thành công trong nghiệp vụ chuyên môn và tích cực góp phần ảnh hưởng đến các thay đổi thuận lợi cho quê hương, tương tự như Miến Điện, nước đi sau VN mà đến đích trước VN mình.

Thân mến

Ng. Hùng

———

Thanh niên

Tổ quốc là một

30/09/2012 3:10

Mùa hè năm ngoái, sau khi xảy ra vụ tàu hải giám Trung Quốc tấn công phá hoại hoạt động thăm dò của tàu Bình Minh 02 trên vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, tinh thần đoàn kết của người Việt khắp năm châu đã có dịp bùng cháy mãnh liệt. Từ người dân trong nước đến kiều bào, tất cả đều hướng về biển Đông, nơi chủ quyền biển đảo đang bị thách thức.

Điều gì đã khiến những con người quốc tịch có thể khác nhau, sinh sống trong những xã hội khác nhau, chính kiến có thể rất khác nhau – thậm chí đối lập nhau, lại cùng đứng bên nhau? Câu trả lời là: Tổ quốc.

Dịp đó, tôi được xem chương trình hội luận trên Phố Bolsa TV, một đài truyền hình của người Việt ở Quận Cam, California, Mỹ. Chương trình rất dài, nhưng có lẽ chỉ cần một phát ngôn trong đó là đủ để đúc kết lại toàn bộ. “Đừng để những lá cờ cản trở mục tiêu chính của chúng ta là phản đối Trung Quốc xâm lăng”. Nhà văn Nguyễn Á Độc Lập, một người tham gia cuộc hội luận, đã nói như thế. Tôi chưa từng biết Nguyễn Á Độc Lập, nhưng câu nói hôm ấy của ông, đã đem lại cho tôi một sự xúc động vẫn vẹn nguyên cho tới tận bây giờ. Điều mà ông nói, cũng như tinh thần của chương trình hội luận, là tấm gương phản chiếu những gì đang diễn ra ngoài kia: người Việt khắp nơi trên thế giới đang sát cánh bên nhau vì chủ quyền đất nước, gạt sang một bên những khác biệt, bất đồng.

Sự thăng trầm của lịch sử từng khiến những người con đất Việt rời xa nhau, nhưng ngay cả trong những ngày tháng mà lòng người còn nhiều cách trở ấy, đất mẹ vẫn là nơi tất cả cùng hướng về. Để đến khi chủ quyền bị nhòm ngó, tất cả cùng đứng bên nhau, tạo nên cái mà người ta thường gọi là sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Chỉ có Tổ quốc mới khiến người ta sẵn sàng vượt qua lằn ranh của chính kiến khác biệt để đến bên nhau, như chưa từng có những chia lìa.

Anh Nguyễn Hùng, một Việt kiều ở Úc rất nhiệt tình tham gia đấu tranh vì chủ quyền đất nước trên mạng, từng nói với tôi: “Người Việt ở đâu cũng coi đất nước này là Tổ quốc. Dù xa quê hương đã lâu, chúng tôi vẫn luôn hướng về. Để đấu tranh cho chủ quyền đất nước, cần phải gác lại những lấn cấn bên này, bên kia”. Giản dị nhưng thật thấm thía!

Trong cuộc gặp gỡ với gần 1.000 kiều bào tại TP.HCM mới đây, thông điệp “chung một Tổ quốc” lại vang lên, làm nức lòng những trái tim Việt. “Dù có quan điểm, chính kiến khác nhau nhưng chúng ta cùng thống nhất rằng Tổ quốc Việt Nam là một, chủ quyền của Việt Nam là bất khả xâm phạm”. Lời của thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Cục trưởng Cục Tuyên huấn (Bộ Quốc phòng), đã nêu bật nguyên nhân cốt lõi tạo nên khối đoàn kết của những người con đất Việt khắp năm châu. Nguyên nhân ấy không gì khác hơn: chúng ta chung một Tổ quốc.

Vì Tổ quốc là một, mà Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn uy dũng lẫy lừng, giữa lúc nước nhà nguy nan, đã khiêm nhường cởi áo thượng tướng Trần Quang Khải để “tắm giùm”, qua đó xóa bỏ bất hòa cá nhân, để cùng nhau chung một quyết tâm “Đoạt sáo Chương Dương độ/Cầm Hồ Hàm Tử quan”.

“Tổ quốc Việt Nam là một, chủ quyền của Việt Nam là bất khả xâm phạm”, nguyên tắc ấy là bất di bất dịch, chân lý ấy có tự ngàn xưa, chứ không phải là giá trị của một thời đại. Hôm nay, chúng ta phát huy được tinh thần ấy, bờ cõi sẽ ngàn lần vững chắc, sá gì kẻ giặc hiểm độc nhòm ngó ngoài kia.

Đỗ Hùng

Đất và những nhân tố hạ giá đất

1 Th10

Đất và những nhân tố hạ giá đất

 

Có 3 hạn chế cốt yếu hạn chế giá trị đất nông nghiệp hiện nay: thời gian giao đất, hạn chế đối với chuyển đổi đất và thị trường đất kém phát triển.

Chính sách đất đai đang vì ai?

Mở rộng đất nông nghiệp đã đi đến hồi kết

Tài sản chính

Như đã đề cập từ trước, Hiến pháp và Luật Đất đai quy định đất đai là sở hữu toàn dân về đất đai. Sở hữu cá nhân không có giá trị. Giá trị mà đất có được chỉ dành cho việc tiếp cận sử dụng đất đáng giá hàng nghìn tỷ đồng (hàng tỷ đô la).

Mặc dù có một số vấn đề về phương pháp cộng dồn của cải nói chung, ước lượng cho thấy giá trị đất ở Việt Nam là khoảng 200 tỷ đô la. Phương pháp ước lượng tính tới các khoản sau: năm 2009 giá trị của thị  trường chứng khoán là 35 tỷ $, tài sản cố định và trang thiết bị là 240 tỷ $; cung tiền 115 tỷ $ (trong đó có 20 tỷ $ là dự trữ ngoại hối); dự trữ vàng 24 tỷ $.

Những hoạt động kinh tế chính tạo ra 94 tỷ $ GDP và 127 tỷ $ là tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa. Theo bất cứ cách đo lường nào thì giá trị cộng gộp của đất đai ở Việt Nam rất lớn.

Đối với hầu hết nông dân Việt Nam, đất đai là tài sản chính và là thành phần cơ bản trong của cải của họ. Luật Đất đai hiện tại cho phép nông dân quyền sử dụng, chuyển giao, cho thuê, thừa kế, thế chấp, cho/tặng, và góp vốn. Nông dân không thể chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp. Theo đúng luật, nông dân trồng lúa cần phải được chính quyền địa phương cho phép để sử dụng đất lúa sang mục đích nông nghiệp khác. Thời hạn giao đất bị hạn chế. Đối với hộ gia đình và cá nhân canh tác cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản, thời gian giao đất là 20 năm và đối với cây lâu năm, đất rừng là 50 năm.

Luật cũng đặt mức hạn điền cho mỗi hộ theo từng loại đất. Đối với cây hàng năm, mức hạn điền ở miền Bắc và miền Trung là 2ha, và 3ha ở miền Nam. Đối với cây lâu năm, mức hạn điền là 10 ha ở vùng đồng bằng và 30 ha ở vùng trung du và miền núi.

Trong thực tế, quyền sử dụng đất của nông dân bị hạn chế, thu hẹp và bị giám sát sát sao.

Giá trị của đất nông nghiệp phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng đất trong hiện tại và trong tương lai. Nhu cầu này lại phụ thuộc vào hiệu quả của các hoạt động nông nghiệp, và số lượng và chất lượng của các dịch vụ nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Giá đất còn bị ảnh hưởng bởi các thể chế quy định hình thức sử dụng đất và giới hạn khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Những hoạt động nông nghiệp chính bao gồm sản xuất lương thực (gạo, hoa quả, rau, ngô và sắn), chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản và cây công nghiệp (cao su, điều, cà phê, hạt tiêu). Nông dân có thể tăng giá trị mảnh đất của mình thông qua đầu tư nâng cao năng lực sảnxuất của đất như đầu tư cải tạo hệ thống thủy lợi, nâng cao độ màu mỡ, thực hành chăn nuôi tốt, bón phân, kiểm soát cỏ dại và những loài xâm hại, bảo vệ mùa màng và vật nuôi khỏi bệnh tật và côn trùng. Người nông dân có thể nâng cao hoặc duy trì giá trị của đất bằng cách hợp tác với hàng xóm xung quanh cải tạo hạ tầng chống lụt, trồng lại cây cối hoặc xây dựng lại vành đai bảo vệ, duy tu bảo dưỡng đường xá phục vụ sản xuất.

Luận bàn dưới đây cho thấy các hoạt động phi nông nghiệp ảnh hưởng tới sức sản xuất của đất nông nghiệp và vì thế ảnh hưởng cả giá trị của đất. Chi phí trong nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi chất lượng của hạ tầng dịch vụ ( giao thông, kho bãi, tưới tiêu và thông tin liên lạc), mức độ cạnh tranh trên thị trường đối với các đầu vào, đầu ra của sản xuất nông nghiệp, và sự sẵn có của thông tin thị trường phù hợp. Năng suất lao động của nông dân, gia đình họ và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ công về y tế, giáo dục và an ninh (để bảo vệ tài sản của người dân).

Cuối cùng, giá cả của sản phẩm đầu ra bị tác động trực tiếp bởi tăng trưởng mức thu nhập của khu vực đô thị và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản.

Đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, cụ thể là phục vụ đô thị hóa và công nghiệp hóa, cũng ảnh hưởng tới giá đất nông nghiệp. Cùng với quá trình HĐH và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sử dụng đất cho mục đích phi nông nghiệp sẽ tăng chi phí cơ hội của các cá nhân và toàn xã hội (được ước lượng bằng giá trị của thu nhập hoặc của cải bỏ qua) nếu tiếp tục giữ đất cho sản xuất nông nghiệp. Tăng dân số và thu nhập ở khu vực thành thị thúc đẩy nhu cầu về bất động sản tại những khu vực liền kề với đô thị chính và nằm trên hành lang nối kết các khu đô thị này. Nhu cầu này khiến khoảng 600 nghìn ha đất nông nghiệp đã bị chuyển đổi sang mục đích phi nông nghiệp trong những thập kỷ gần đây.

 

Ảnh minh họa.

 

Một phần cơ bản của giá trị mảnh đất bị chuyển đổi là “địa tô chuyển đổi”. Mức địa tô này phụ thuộc vào vị trí của mảnh đất, tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương, chất lượng của cơ sở hạ tầng đi kèm, và tiềm năng về công nghiệp, thương mại và những tiềm năng khác. Mức địa tô này cũng bị ảnh hưởng bởi “hiệu ứng tràn” từ thị trường của những tài sản có thể thay thế khác.

“Hiệu ứng tràn” đã kết nối trực tiếp giá trị của đất với công tác quản lý kinh tế vĩ mô. Trong thời kỳ ổn định vĩ mô, minh chứng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, cân bằng ngân sách, lạm phát thấp, tăng trưởng cung tiền vừa phải, ổn định cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái hợp lý, và có khả năng trả nợ nước ngoài một cách bền vững, người nắm giữ tài sản (cả trong nước và nước ngoài) có rất ít mong muốn để điều chỉnh danh mục đầu tư. Họ dễ hài lòng với các hình thức tích lũy hiện có, có tính tới tính thanh khoản và rủi ro bằng cách nắm giữ tổ hợp các tài sản khác nhau bao gồm đồng nội tệ, tín dụng ngân hàng, cổ phiếu, vàng, bất động sản, ngoại tệ và những tài sản hữu hình khác trong đó có đất.

Tuy nhiên, khi bội chi ngân sách, tăng cung tín dụng nội địa cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thực, lạm phát lên cao tương đối so với mặt bằng quốc tế, tỷ giá hối  đoái giữ ở mức cao so với giá trị thực, cán cân thanh toán xấu đi, và nợ công tăng nhanh hơn GDP, người có tài sản sẽ tìm kiếm giải pháp an toàn. Người Việt Nam có xu hướng chuyển sang đầu tư vào vàng, ngoại tệ, hàng nhập khẩu và bất động sản. Viêc nới rộng thị trường đất đai vào những năm 1980 đã đưa khả năng có được quyền sử dụng đất vào danh mục đầu tư nêu trên.

Quản lý kinh tế vĩ mô ở Việt Nam đã gây ra xu hướng lạm phát khiến những người có tài sản phải điều chỉnh danh mục đầu tư. Và xu hướng này tiếp tục tồn tại từ những năm 1990 cho đến nay. Cụ thể hơn, trong giai đoạn 2005-2008 khi nền kinh tế tăng trưởng ở mức 7.8%/năm, thì tổng mức tín dụng tăng trung bình 34%/năm. Điều này có liên quan, phần nào đó, tới sự thâm hụt ngân sách “chính thức” và chi tiêu ngoài ngân sách tương đương 5% GDP hàng năm.

Lạm phát tăng từ 8,3% năm 2005 lên 23,1% năm 2008. Cùng thời điểm này, thâm hụt tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán tăng từ 1% lên đến 10,3% của GDP và tỷ giá hối đoái danh nghĩa biến động từ 15907 đồng/1$ năm 2005 lên tới 17486 đồng/1 $ vào cuối năm 2008. Tốc độ lạm phát hạ xuống bớt do khủng hoảng kinh tế thế giới làm giảm nhu cầu của thị trường bên ngoài. Giá đất và bất động sản cũng vì thế mà giảm theo.

Những yếu tố như tăng thu nhập, tăng năng suất và mở rộng xuất khẩu, đô thị hóa và công nghiệp hóa nhìn chung làm tăng giá trị của đất. Tuy vậy, nông dân là nhóm được hưởng lợi ít nhất. Những hạn chế theo quy định đối với đất nông nghiệp làm giảm đi sức sản xuất và giá trị của đất.

Ba hạn chế cốt yếu

Có 3 hạn chế cốt yếu hạn chế giá trị đất nông nghiệp hiện nay: thời gian giao đất, hạn chế đối với chuyển đổi đất và thị trường đất kém phát triển.

Đối với đất canh tác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có hiệu lực 20 năm. Theo Luật Đất đai năm 2003 thì thời điểm hết hạn là vào năm 2013. Thời gian giao đất ngắn đã khiến người dân không có hứng thú đầu tư lâu dài vào đất để tăng sức sản xuất của đất. Việt Nam sẽ học hỏi được nhiều nếu quan tâm tới các  nghiên cứu quốc tế trong đó chỉ ra rằng giao đất ngắn hạn sẽ kìm hãm đầu tư và giảm thu nhập nông nghiệp.

Hậu quả sâu xa hơn của việc giao đất ngắn hạn là cản trở việc thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Nhiều nông dân có thể sẽ chết đi trong vòng 20 năm, và nếu biết rằng con cháu họ chỉ được quyền thừa kế thời hạn còn lại sẽ làm giảm giá trị của đất. Luật Đất đai 1993 nói rằng Chính phủ có thể cho phép kéo dài thời gian giao đất sau năm 2013. Tuy nhiên, điều đó cũng có thể ngầm hiểu là nông dân cũng sẽ chỉ là những tá điền tự nguyện thuê đất như họ mong muốn mà thôi.

Việc hạn chế khả năng chuyển đổi đất lúa sang những mục đích sản xuất nông nghiệp khác cũng làm giảm giá trị của đất. Những quy định hạn chế này là phản hiệu suất. Rất nhiều nghiên cứu tại Việt Nam chỉ ra rằng thu nhập từ trồng lúa thường thấp hơn từ 3-5 lần thu nhập từ các sản phẩm mùa khác như rau, hoa quả và thủy sản. Chính phủ đã quan tâm tới vấn đề này và Thủ tướng đã đề nghị hai Tổng công ty lương thực quốc doanh phải tính toán giá sàn làm sao để nông dân trồng lúa có lãi ít nhất 30%.

Yêu cầu này lại càng làm rõ hơn sự không công bằng của hạn chế trong sử dụng đất . Buộc phải trồng lúa nghĩa là nông dân đang phải hỗ trợ Chính phủ để đạt được mục tiêu tự cung tự cấp lúa gạo trong chính sách an ninh lương thực quốc gia. Người nông dân không nhận được sự đền đáp lợi ích vật chất hữu hình cho sự phục vụ vì lợi ích chung này. 30% lợi nhuận được tính dựa vào những định nghĩa hẹp về giá thành sản xuất nên thực tế người dân không được trả công xứng đáng cho những nỗ lực của họ.

Với thu nhập từ trồng lúa chỉ khoảng 28 đô la/người/tháng, một nửa số nông dân hiện đang canh tác 4 triệu ha lúa của ViệtNam, đang kề ngay hoặc gần sát với chuẩn nghèo của quốc gia.

Những hạn chế trong sử dụng đất còn làm giảm tính hấp dẫn của nó với thị trường. Thu nhập thấp đã ngăn cản người dân trồng lúa tích lũy đất sản xuất. Quan trọng hơn, trong khi đất đai bị khóa cứng gắn với trồng lúa, người dân cũng không có hứng thú mua thêm ruộng đất. Họ nhận ra rằng nếu họ mở rộng đất đai và khi đất đai bị thu hồi, giá trị đền bù sẽ không phản ánh đúng giá trị thực sự mà họ đã trả khi mua.

Sự bất công kể trong các hạn chế nêu trên sẽ tiếp tục được minh chứng khi có một số nông dân tham gia trò chơi với hệ thống hiện tại. Mặc dù có rất nhiều rủi ro nhưng một số nông dân vẫn tích tụ thêm nhiều đất bằng cách san ra nhiều “sổ đỏ” dưới tên của họ hàng và bạn bè.

Còn nữa

Tiêu đề do Tuần Việt Nam đặt

 

Cần một gói kích thích kinh tế mới?

1 Th10

Cần một gói kích thích kinh tế mới?

 Có thể thấy rằng gói hỗ trợ trị giá 29 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ, về bản chất kinh tế cũng là một gói kích thích kinh tế. Tuy nhiên, dường như nó vẫn chưa lớn để thay đổi cục diện của nền kinh tế Việt Nam hiện tại.

Câu hỏi đặt ra là liệu có cần phải đưa ra một gói kích thích kinh tế nữa nhằm phục hồi nền kinh tế nước ta hiện nay hay không?. VEF xin giới thiệu bài viết thể hiện quan điểm về vấn đề này của TS.Trịnh Hữu Hạnh từ Học viện Tài chính

 
Lợi và hại Để trả lời cho câu hỏi này, cần thiết phải phân tích nhằm làm sáng tỏ những lợi ích đạt được và những hậu quả xấu từ việc đưa ra một gói kích thích kinh tế trong giai đoạn này. Nếu đưa ra một gói kích thích kinh tế trong giai đoạn hiện nay có thể gây ra hai bất lợi chính như sau:

Một là: Sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách Nhà Nước, điều này sẽ gây nên sức ép không nhỏ đối với điều hành của Chính Phủ.

Hai là: Nếu không phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thì khi đưa ra một gói kích thích kinh tế có thế dẫn đến nguy cơ lạm phát cao sẽ quay trở lại với nền kinh tế nước ta.

Bên cạnh những bất lợi, việc đưa ra gói kích thích kinh tế ở thời điểm này sẽ đạt được nhiều lợi ích như sau:

Một là: Phù hợp với bối cảnh chung của thế giới cũng như điều kiện thực tại của kinh tế Việt Nam hiện nay.
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, việc đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu vẫn luôn là một ưu tiên, một động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Để đẩy mạnh xuất khẩu và giảm nhập siêu trong thời gian tới cần phải thực hiện nhiều giải pháp, tuy nhiên một trong những giải pháp quan trọng nhất đó là các DN Việt Nam cần phải hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy mới sản xuất ra những hàng hóa có chất lượng tốt, giá cả có thể cạnh tranh được với các hàng hóa trên thị trường thế giới. Để thực hiện được điều này thì chi phí vốn đối với các DN Việt Nam phải được hạ xuống.

Việc Chính phủ đưa ra một gói kích thích kinh tế trong thời điểm này sẽ góp phần quan trọng cho các DN tiếp cận được nguồn vốn với chi phí rẻ.

 

 

Hai là: Mặc dù khi đưa ra một gói kích thích kinh tế sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách Nhà Nước, tăng thêm nợ của quốc gia. Tuy nhiên nợ cũng chỉ là một bên của bảng cân đối kế toán, nó cho thấy những gì đất nước nợ, đối ứng bên kia sẽ là những tài sản tăng thêm, những tài sản tăng thêm này sẽ có tầm quan trọng rất lớn đối sự phát triển kinh tế. 

Nếu có cơ chế chính sách phù hợp thì tiền của gói kích thích sẽ được đầu tư vào những tài sản làm tăng nguồn thu ngân sách Nhà Nước trong dài hạn, như vậy không những giải quyết được vấn đề trước mắt đối với hầu hết DN trong giai đoạn khó khăn hiện tại mà còn thu được những kết quả tốt đối với nền kinh tế nước ta trong tương lai.

Điều này được thể hiện dước góc độ: Khi đưa ra gói kích thích kinh tế sẽ góp phần nâng cao năng lực hoạt động của các DN, tạo nên các DN mới, việc làm được tăng lên, sản lượng sản xuất tăng lên, sự tăng lên của việc làm và sản lượng diễn ra cả trong ngắn hạn, trung hạn lẫn dài hạn. Tiền từ gói kích thích kinh tế đem đi đầu tư sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của rất nhiều bộ phận người lao động trong hiện tại và cải thiện mức sống của họ trong tương lai.

Ba là: Tiền từ gói kích thích kinh tế sẽ xử lý được những yêu cầu cấp bách trong ngắn hạn, như vậy gói kích thích kinh tế của Chính Phủ sẽ là một cú huých để nền kinh tế và xã hội lấy lại thăng bằng tạo nền móng cho sự phát triển bền vững cho những năm tới.

Bốn là: Gói kích thích kinh tế sẽ góp phần rất quan trọng trong việc đào tạo mới người lao động, tái đào tạo người lao động góp phần rất lớn giảm thiểu thất nghiệp và tăng thu nhập cho một bộ phân không nhỏ người lao động trong nền kinh tế.

Hướng tới DN nhỏ và vừa

Từ những phân tích như trên, thì gói kích thích kinh tế đưa ra trong giai đoạn này sẽ hiệu quả hơn so với việc không dùng nó. Câu hỏi đặt ra là một gói kích thích kinh tế muốn đạt hiệu quả cao cần phải có những tiêu chí gì?

Thứ nhất: Do các chính sách kinh tế khi đưa ra đều có độ trễ nhất định, sau khi đưa ra gói kích thích kinh tế phải một thời gian dài mới có hiệu qủa về mặt tổng thể do vậy cần phải nhanh chóng đưa ra gói kích thích kinh tế phù hợp với quy mô nền kinh tế nước ta hiện nay.

Thứ hai: Gói kích thích kinh tế phải đạt được mục tiêu tạo ra nhiều nhất việc làm cho xã hội, các DN vừa và nhỏ là các đối tượng có thể tạo ra việc làm nhiều nhất cho xã hội vì vậy nên ưu tiên cho loại hình doanh nghiệp này, không chi tiền để giải cứu các tập đoàn, tổng công ty của nhà nước. Bởi vì, việc chi tiền cho các DN này mang lại hiệu quả kinh tế rất thấp, chỉ đạt được mục tiêu duy nhất là tạm thời duy trì được việc làm cho người lao động.

 

 

Thứ ba:Gói kích thích kinh tế phải đạt được mục tiêu hiệu quả. 

Để đạt được tính hiệu quả cao đối với nền kinh tế thì phải căn cứ vào hệ số nhân tăng trưởng trong kinh tế học, hệ số nhân trong kinh tế đã cho thấy rằng khi bỏ ra một đồng chi tiêu, đầu tư từ nền kinh tế sẽ tạo ra được số tiền gia tăng do quá trình chi tiêu, đầu tư của nền kinh tế đó.

Theo kết quả nghiên cứu về kinh tế học của các nhà kinh tế trên thế giới thì tổng số thu nhập Quốc dân thu về của tất cả các giai đoạn sẽ cao hơn một đồng chi tiêu mà Chính Phủ bỏ ra cho đầu tư. Trung bình của số nhân tăng trưởng trong ngắn hạn khoảng 1,15 đến 1,3 (bỏ ra chi tiêu đầu tư 1 đồng sẽ thu về 1,15 đến 1,3 đồng thu nhập Quốc dân trong ngắn hạn) trong dài hạn từ 3 đến 4 năm thì hệ số nhân này có thể từ 1,5 đến 1,7.

Lợi ích của chi đầu tư chỉ có thể thấy rõ sau vài năm, tuy nhiên những khó khăn về kinh tế vĩ mô, vi mô còn có thể kéo dài, vì vậy việc hoạch định chính sách cũng phải nên nhìn nhận những lợi ích có thể thu được trong dài hạn sau 3 đến 5 năm. Các hệ số nhân tăng trưởng sẽ khác nhau khi chi tiêu đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn khi đầu tư ở nước ngoài thì hệ số nhân sẽ rất thấp bởi vì các chuỗi chi tiêu mua sắm sẽ diễn ra ở nước ngoài.

Vì vậy việc lựa chọn lĩnh vực để chi đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng thu nhập quốc dân trong ngắn hạn và trong dài hạn.

Thứ tư: Gói kích thích kinh tế phải phục vụ lợi ích dài hạn của nền kinh tế và của toàn xã hội, để thực hiện điều này, khi đưa ra gói kích thích cần phải giải quyết được các mục tiêu trọng tâm như sau:

Gói kích thích phải đưa vào những ngành nghề và lĩnh vực mà trong tương lai phải tăng được mức tiết kiệm của quốc gia đồng thời giảm được thâm hụt ngân sách Nhà Nước, ưu tiên vào những lĩnh vực sản xuất hàng hóa thiết yếu và những hàng hóa xuất khẩu nhằm giảm thâm hụt thương mại đối với thị trường nước ngoài và nhất là với thị trường của Trung Quốc, nên ưu tiên đối với vấn đề sinh xã hội, tập trung vào cơ sở hạ tầng và chống biến đổi khí hậu.

Thứ năm: Gói khích thích kinh tế phải tạo nên sự công bằng, công bằng ở đây không có nghĩa là các doanh nghiệp lớn, các tổng công ty sẽ được hỗ trợ nhiều mà công bằng phải đặt dưới góc độ mọi thành phần kinh tế đều được hưởng lợi như nhau và dựa trên nguyên tắc loại hình doanh nghiệp nào tạo ra nhiều việc làm và hoạt động có hiệu quả sẽ được ưu tiên, tránh việc rót tiền vào các công ty lớn làm ăn thua lỗ bởi vì rót tiền vào các doanh nghiệp này chẳng khác nào “gió thổi vào nhà trống” và sẽ để lại hậu quả xấu trong tương lai.

Trịnh Hữu Hạnh

Thế giới 24h: Iran “móc” Israel

1 Th10

Thế giới 24h: Iran “móc” Israel

Iran tuyên bố Israel đã vi phạm chính “lằn ranh đỏ” mà thủ tướng nước này đề xuất; Nhật phản đối báo Mỹ “quảng cáo” chủ quyền cho Trung Quốc … là các tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Theo hãng thông tấn ISNA, hôm 29/9, Bộ trưởng Quốc phòng Iran Ahmad Vahidi tuyên bố rằng, Israel đã vi phạm “lằn ranh đỏ” do chính Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu vạch ra, bởi việc sở hữu hàng chục đầu đạn hạt nhân.

Ông Vahidi khẳng định, nếu Israel cho rằng việc sở hữu bom hạt nhân nghĩa là đã vượt “lằn đỏ”, thì chính Israel đã vượt qua ranh giới đó nhiều năm nay khi sản xuất hàng chục đầu đạn hạt nhân và sỡ hữu nhiều vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Thủ tướng Israel Netanyahu vạch đường màu đỏ trên biểu đồ hình trái bom hạt nhân của Iran. (Ảnh: Reuters)

Ông cũng nhấn mạnh, nếu Mỹ và phương Tây muốn loại bỏ nguy hiểm trong khu vực và thế giới, thì cần cắt đứt quan hệ với Israel, gây áp lực và tiến hành trừng phạt chính quyền Israel, tới khi nước này tháo dỡ tất cả đầu đạn hạt nhân.

Tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Iran nhằm đáp lại phát biểu vài ngày trước của Thủ tướng Israel Netanyahu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc. Trong đó, ông Netanyahu đòi phải áp đặt “lằn ranh đỏ” với hoạt động hạt nhân của Iran.

Thủ tướng Israel tuyên bố rằng, Iran đã đi được 70% đoạn đường làm giàu hạt nhân đủ để sản xuất vũ khí. Ông còn dùng bút vạch một đường màu đỏ ở mức 90% trên biểu đồ hình trái bom, mà ông gọi đó là giới hạn của sự kiên nhẫn.

Ông Netanyahu nhấn mạnh việc ngăn chặn chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân của Iran đang cấp thiết. Theo ông, Iran có thể có đủ urani được làm giàu trong vòng 12 tháng tới để tiến đến giai đoạn cuối cùng là sản xuất bom hạt nhân.

Trước bài phát biểu của ông Netanyahu, Isreal cũng đã nhiều lần tố cáo Iran sản xuất vũ khí hạt nhân và làm giàu urani, trong khi chính quyền Tehran không ít lần kiên quyết khẳng định các chương trình này chỉ nhằm mục đích hòa bình.

Tin vắn

– Tham mưu trưởng Lực lượng hỗ trợ an ninh quốc tế tại Afghanistan của NATO (ISAF), Olivier de Bavinchove cho biết 80% lãnh thổ Afghanistan không còn bạo lực.

– Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda có khả năng tiến hành cải tổ nội các vào 1/10, trong đó sẽ bao gồm những sự thay đổi nhằm xoa dịu tranh chấp với Trung Quốc.

– Nhật Bản đã lên tiếng phản đối việc một số tờ báo nổi tiếng ở Mỹ đăng bài quảng cáo của Trung Quốc về quần đảo mà hai bên đang có tranh chấp ở biển Hoa Đông.

– Theo AP, Trung Quốc xác nhận 38 công dân nước này đã bị bắt giữ và trục xuất sau khi bị phát hiện khai thác vàng trái phép ở Ghana, quốc gia ở miền tây châu Phi.

– Hôm 29/9, nhiều chính khách nổi tiếng và các đảng phái của Ai Cập đồng loạt ký vào một văn bản tẩy chay Hội đồng lập hiến, vốn có nhiệm vụ soạn hiến pháp mới.

– Chánh văn phòng Cục Tình báo Quốc gia Mỹ tuyên bố vụ tấn công tại Benghazi của Libya hôm 11/9 là hành động khủng bố có tổ chức, được lên kế hoạch từ trước.

– Ít nhất 19 người đã bị thiệt mạng trong một loạt các hành động đánh bom xe liên tiếp xảy ra trong ngày 30/9 trên khắp đất nước Iraq, mà chủ yếu là nhằm vào cảnh sát.

– Tối 29/9, lại xảy ra một vụ tấn công ở đông Afghanistan, làm một binh sĩ liên quân do NATO đứng đầu, một nhà thầu dân sự cùng một số binh sĩ Afghanistan bị chết.

Tin ảnh

Khoảng 10 người đã thiệt mạng khi lũ quét qua miền nam Tây Ban Nha. (Ảnh: THX)

Phát ngôn ấn tượng

Tổng thống Myanmar U Thein Sein (phải) và thủ lĩnh đối lập Aung San Suu Kyi. (Ảnh: Reuters)

“Nếu người dân chấp nhận bà ấy, tôi sẽ chấp nhận”, nhà lãnh đạo Myanmar Thein Sein trả lời câu hỏi của hãng tin BBC về khả năng bà Suu Kyi trở thành tổng thống.

Tổng thống U Thein Sein cũng khẳng định rằng, ông sẽ tôn trọng ý chí của người dân, cho dù họ chọn người nào đi nữa trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2015.

Ngày này năm xưa

1/10 là ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Thanh Vân (tổng hợp)

%d bloggers like this: