Lưu trữ | 11:47 Chiều

Chuyện đời cổ tích của một nhà văn dị thường

2 Th10

Chuyện đời cổ tích của một nhà văn dị thường

(Nguoiduatin.vn) – Giọng nói không tròn vành rõ tiếng, đôi chân bại liệt teo tóp, dúm dó, đôi bàn tay chỉ cử động được một ngón, hơn 10 năm qua, nhà văn dị thường này sống bằng nghề cầm bút mặc dù không trải qua bất cứ trường lớp nào.

Giấc mơ cổ tích

Chiếc khung đẩy bằng inox có gắn hai bánh xe lọc xọc chậm chạm băng qua đường. Từng bước chân xiêu vẹo, quấn quýt vào nhau khiến người đi sau ngỡ như ngọn đèn trước gió. Nhưng “ngọn đèn” ấy vẫn hiên ngang tỏa sáng trước sóng gió bão bùng. Đôi khi nó leo lắt tưởng sẽ tắt lịm. Vậy mà đã từ lâu, ngọn nến ấy vẫn sưởi ấm cho cả một thiên hà.

Sức làm việc phi thường của Nhà văn Trà My.

Cuộc nói chuyện của tôi với nhà văn đặc biệt Trần Trà My luôn bị ngắt quãng, chắp nối nhiều lần bởi người kể và người nghe bị rào cản về ngôn ngữ. Nhà văn không thể phát ra tròn tiếng nên phần nhiều chúng tôi trao đổi qua tin nhắn điện thoại. Điều tôi cảm nhận rõ nét nhất ở Trần Trà My là nét tươi trẻ đến kì lạ của một cô gái khuyết tật ở tuổi 26. Gặp những chuyện vui, Trà My ngửa cổ lên trời, cười hồn nhiên như đứa trẻ vừa được nhận quà. Dường như nỗi bất hạnh, đau đớn và cô đơn của cô bị sự trong sáng và yêu đời thiêu rụi hết.

Trà My thể hiện cảm xúc, suy nghĩ và tư tưởng của mình vào hết những trang viết. Đó là những trang văn mộc mạc, giản dị chứa đựng một triết lý sống trong sáng đến tuyệt vời ở tâm hồn cô.

Những đợt gió Lào thấm vị mặn của nắng của gió thổi về vùng quê Đông Hà (Quảng Trị) khiến cô gái bất hạnh Trà My trở nên rắn rỏi, cứng cáp. Cô vẫn nhớ như in những ngày tháng tuổi thơ của mình ở nơi hanh hao, nghèo khó ấy.

Ba tháng tuổi, bỗng trên người Trà My xuất hiện những chấm nhỏ li ti. Cứ ngỡ chỉ là căn bệnh thông thường của trẻ nhỏ khi thời tiết chuyển mùa. Đến khi nặng quá, gia đình mới hốt hoảng đưa cô vào Huế điều trị. Trà My trải qua những ca mổ kéo dài để lấy đi những chấm đỏ trên người. Tuy nhiên, khi mà những chấm nhỏ vừa hết cũng là lúc đôi chân của cô teo đi không thể cứu vãn nổi. Rồi đôi tay cũng vậy, các ngón tay co rụt lại mềm nhũn. Cùng với sự phát triển của cơ thể, Trà My vĩnh viễn mất đi chức năng của một đôi chân, hai bàn tay cô chỉ duy nhất một ngón cử động được. Điều đó đồng nghĩa, cô không thể đến trường học chữ.

Suốt ngày nằm co ro ở nhà làm bạn với mấy chú chó, nghe tiếng gà vịt lao xao ngoài vườn, My thấy cuộc sống của mình thật tẻ nhạt. Hai đứa em của My lớn lên lần lượt được cắp sách đến trường. Cô thấy niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt của chúng. Mỗi buổi tối, thấy các em học bài, My thèm lắm. Cô mon men lại gần bàn học lắng nghe âm thanh đọc bài lại thấy buồn lòng.

Chín tuổi, My vẫn chỉ là một cô bé dại khờ, vô vị, là đứa con luôn làm phiền cha mẹ kể cả sinh hoạt cá nhân. Cô không thể nói rõ nghĩa. Chính vì thế, người nghe khó hiểu nên nhiều khi chỉ một ý thôi mà My phải diễn đạt cả buổi mới ra. Những khi cha mẹ đi vắng, ở nhà, My lén học chữ cùng em. Hai đứa em thương chị cũng đành lòng dạy chị đọc chữ, chỉ cách làm toán. Những con chữ cứ nhảy múa trong đầu My khiến cô mệt mỏi, căng thẳng. Nhưng đó lại là niềm vui làm cô quên đi sự buồn chán.

My kể, có lần mẹ đi làm về đứng ngoài cửa thấy cô cặm cụi viết chữ, bà giả bộ làm lơ rồi lén quay đi lau nước mắt. Từ đó, bà công khai cho My cùng học với các em. Nhiều khi, cả hai vợ chồng cùng chung tay dạy My học. Ba My là bộ đội chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị. Hòa bình lập lại, ông làm lái xe cho một cơ quan Nhà nước. Mỗi lần ông đi công tác xa về luôn có quà cho các con.

My còn nhớ rõ, những năm đầu thấp niên 90, mùa Trung thu đến, những đứa trẻ trong xóm nô nức đi rước đèn ông sao, đeo mặt nạ vui chơi dọc đường làng. Chị em My cũng được cha mua về cho đèn lồng, mặt nạ, bánh trái. Những kí ức đó, My không bao giờ quên. Cô giấu kĩ trong đầu để một ngày nó trở thành những trang văn chứa đầy cảm xúc, hoài niệm về tuổi thơ.

Nhờ ham tìm tòi học hỏi, chỉ sau vài năm, Trà My đã nắm chắc mặt chữ. Cô đọc sách, làm toán không thua kém mấy đứa em được ăn học đàng hoàng.

Những suy nghĩ non nớt của cô gái tật nguyền bắt đầu manh nha trên những trang giấy trắng trong như chính tâm hồn cô vậy. My viết những gì mình nghĩ và cả ước mơ vươn xa chứ không chịu bó chân trong bốn bức tường chật hẹp. Một người bạn mách My thử gửi bài viết lên đài. My lại mua phong thư gửi đi và mang theo sự thấp thỏm, hồi hộp. Rồi một ngày, cả xóm sững sờ vì con bé Trà My có bài phát trên đài. Từ đó, nhiều báo đài tìm đến nhà phỏng vấn. Vậy là bầu trời bao la đã mở lối cho Trà My bay. Những bước chân non nớt đầu đời vượt qua mọi chông gai thử thách để thực hiện hoài bão.

 

Dù đôi chân khó nhọc nhưng cô vẫn bước đi khắp mọi nẻo đường.

Đôi chân trần “đạp đất”

Đôi bàn chân không thể đứng vững nhưng Trà My vẫn quyết tâm bước đi. Bầu trời Đông Hà quá nhỏ bé để níu chân cô ở lại. My đã đi, đi khắp nơi bằng những bước chân khập khiễng để khẳng định với mọi người rằng: Đôi bàn chân này không hề vô dụng. Trà My vào Sài Gòn bắt đầu cuộc sống đầy rẫy những bon chen, cám dỗ. Đối với người bình thường, để sống và trụ được ở một thành phố xô bồ, náo nhiệt này hoàn toàn không dễ. Còn với Trà My, đó quả là một thử thách không tưởng.

Trà My sống bằng nghề viết báo cộng tác. Trong mỗi tác phẩm của cô đều là sự bình đẳng. Bởi trên mặt báo không có sự phân định ngòi bút. Người đọc tìm thấy một tâm hồn trong sáng, đôn hậu không ngừng mơ ước của một cô gái khuyết tật. Nhiều người thích đọc văn, yêu cái lối viết chân thực, mộc mạc của cô nhưng lại không hề biết rằng, tác phẩm họ đang “phiêu” cùng xuất phát từ trái tim của một nhà văn khuyết tật.

Gần mười năm dấn thân ở đất Sài Gòn, người ta sẽ không thể hình dung được cuộc sống của cô gian truân biết nhường nào. My cũng không thể nhớ nổi đã bao nhiêu lần mình phải chuyển chỗ trọ. Đã bao ngày hết tiền phải đi xin hàng xóm cơm ăn. Hay những đêm về chập chờn giấc ngủ, âu lo cho cuộc sống ngày mai. Những giọt nước mắt câm lặng của nỗi cô đơn, buồn tủi nhớ nhung quê nhà. Tất cả đều phải nén lại nhường chỗ cho niềm say mê sáng tác. Bằng vốn kiến thức và suy nghĩ tích cực, Trà My đã không phụ lòng bao người yêu thương cô. Đó là tiền đề để cô cho ra đời những tác phẩm để đời. Hai cuốn sách đầu tiên xuất bản nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của độc giả.

Sắp tới, Trà My sẽ xuất bản tiếp cuốn “Yêu trên từng ngón tay”. Đó là những mẩu chuyện về tình yêu, tình cảm gia đình, xã hội, những giằng xé, đau đớn xen lẫn niềm vui hạnh phúc được trải nghiệm từ chính cuộc đời đầy sóng gió của cô.

Vừa qua, bộ phim tài liệu Trung ương khởi chiếu “cuộc đời sau trang sách” trong đó Trà My là một trong năm nhân vật chính. Trong năm nay, cô sẽ cho ra một cuốn sách kỉ niệm 10 năm ngày viết văn của mình. Cô đã viết được 50 truyện ngắn về tình yêu đôi lứa tình cảm gia đình và xã hội ở một góc nhìn đầy nhân văn chất chứa hoài bão, ý chí và ước mơ được bay cao bay xa trên đôi chân tật nguyền. Năm 2008, nhà văn khuyết tật Trà My đã vinh dự nhận giải thưởng “Bút mới” cho tập truyện ngắn đầu tay của mình. Ngoài viết văn, Trà My còn viết kịch bản, cô có dự định sẽ sang Singapore học về nghiệp vụ truyền thông để có cơ hội làm việc ở những công ty lớn.

 Những tác phẩm được “đẻ ra” từ một ngón tay

 Trong hai năm trời, vừa làm công việc chính là mảng truyền thông cho một công ty, Trà My vừa tranh thủ viết sách. Phía sau chiếc máy laptop che khuất hẳn thân hình cô là những tiếng gõ bền bỉ, đều đều trên một ngón tay tật nguyền. Mỗi từ, mỗi chữ được hiện lên là sự đớn đau đến tê tái khi những khớp xương dị tật phải gồng mình lên vận động. Tôi cứ nhớ mãi tâm sự của cô: “Nhiều khi đi làm về mệt lắm không viết được gì hết, cái đầu suy nghĩ nhiều cũng đau nhứt suốt. Có sức khỏe chắc chắn tôi sẽ viết thật nhiều, làm thật nhiều. Đôi chân của tôi không lành lặn nhưng tôi vẫn thích đi. Tôi đã đặt chân đến nhiều nơi từ Nam ra Bắc. Tôi thích được tham gia các chuyến đi khám phá, tham gia vào những hoạt động từ thiện giúp đỡ cộng đồng và kết bạn với nhiều người”.   

Hoa Nguyên

VĂN HÓA ĐẠI VIỆT TRONG THẾ ĐỐI THOẠI VỚI TRUNG HOA – Tễu

2 Th10

VĂN HÓA ĐẠI VIỆT TRONG THẾ ĐỐI THOẠI VỚI TRUNG HOA

 
.
Văn hóa Đại Việt trong thế đối thoại với Trung Hoa
– Vai trò của các chúa Trịnh thời Lê Trung Hưng
Nguyễn Xuân Diện & Trang Thanh Hiền

 Mở đầu

Thời gian gần đây, đã có nhiều cuộc hội thảo về Chúa Trịnh thu hút được sự quan tâm của giới học giả nhiều lĩnh vực. Nhiều vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, quân sự … của thời đại Lê Trịnh (hoặc từng vị Chúa Trịnh) được các nhà nghiên cứu đưa ra thảo luận, đánh giá.
 
 
Công lao của các chúa Trịnh về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội…được ghi nhận. Đặc biệt là mô hình chính trị “song trùng quyền lực”(còn gọi là “lưỡng đầu chế”) đã được một số nhà nghiên cứu nêu ra và lý giải, đánh giá[1]. Về mặt văn hóa, các học giả cũng đã đưa ra những tư liệu và đánh giá về công lao của các chúa Trịnh trên các lĩnh vực văn hóa giáo dục. Tuy nhiên, ngay trong vấn đề này, cũng chưa có đánh giá toàn diện, trước hết là do sự bao quát vấn đề trong một nghiên cứu liên ngành, đa ngành mà sự khó khăn trước hết là ở sự thiếu thốn tư liệu.
 
Bài viết này cố gắng xem xét những đóng góp của các chúa Trịnh trong việc gây dựng một nền văn hóa Đại Việt độc lập và trong thế đối thoại với Trung Hoa dưới thời Lê Trung hưng.
 
TỪ NHỮNG THÀNH TỰU VỀ CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ
Trong suốt 249 năm tồn tại, nhà Trịnh đã thể hiện được trách nhiệm chính trị đối với đất nước thông qua nhiều hoạt động tích cực và nhiều thành tựu được sử sách ghi nhận. Trong 249 năm ấy, lãnh thổ đã được giữ vững và không xảy ra một cuộc xâm lược nào của phương Bắc. Đó là một điều rất đáng được lưu ý đánh giá. Các chúa Trịnh Căn và Trịnh Cương đã nhiều lần cử các đoàn sứ bộ để bàn bạc việc xác định cắm mốc biên giới giữa nước ta và nhà Thanh, Trung Quốc. Sự kiện đáng lưu ý là năm 1728, nước ta đã đòi được mỏ đồng Tụ Long mà nhà Thanh đã chiếm trước đó[2]. Sự kiện này được Phan Huy Chú đặc biệt chú ý và đã ghi lại trong Lịch triều hiến chương loại chí[3].
 
Trên phương diện ngoại giao, nhà chúa duy trì phương châm mềm dẻo, ôn hòa và linh hoạt, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết. Một vấn đề mà các triều đại phong kiến Việt Nam luôn đặt ra khi giao thiệp với phương Bắc là danh hiệu nào cho người đứng đầu nước Việt. Trước kia, dưới thời nhà Minh, các vua Việt Nam thường chỉ được họ công nhận danh hiệu Đô thống sứ, nhưng với những cố gắng bền bỉ ngoại giao của các chúa Trịnh, nhà Minh buộc phải công nhận vua Lê là Quốc vương. Năm 1647, chúa Trịnh Tráng đã đòi được nhà Minh phong cho vua Lê Thần Tông là An Nam Quốc vương[4]. Năm 1651, nhà Minh phong cho chúa Trịnh là Đô thống sứ đại tướng quân, nhưng Trịnh Tráng trả lại ấn sắc, ý rằng nước ta đã là một vương quốc. Nhà Minh đành sai Trương Túc mang sắc sang phong chúa Trịnh Tráng là Phó Quốc vương[5]. Năm 1719, nhà Thanh sai Đặng Đình Triết sang phong vương, đòi vua Lê Dụ Tông phải ba quỳ chín vái để thụ phong. Trịnh Cương đề cao quốc thể, đưa thư không chấp nhận việc vua Lê phải quỳ lạy. Đặng Đinh Triết cứ gượng ép nhưng Trịnh Cương vẫn cứ bác bỏ. Rất nhiều thư từ đã được trao qua đổi lại, cuối cùng Đặng Đinh Triết cũng đành làm lễ phong Quốc vương cho vua Lê mà vua không phải hành lễ chư hầu ba quỳ chín vái[6].
Về thành tựu kinh tế, các nhà nghiên cứu đều nhắc đến sự phồn thịnh của Kẻ Chợ (kinh đô Thăng Long) và các trung tâm thương mại lớn như Phố Hiến, Hội An, Phú Xuân. Sử gia Phan Huy Chú, các nhà truyền giáo phương Tây, các học giả thời hiện đại như Phạm Văn Diêu, Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Thanh Nhạ đều viết về kinh tế thời Lê – Trịnh những lời khen ngợi. Nhà nghiên cứu Bỉnh Di viết: “Triều Lê Trịnh là triều đại đầu tiên trong lịch sử mở rộng buôn bán với phương Tây; năm 1645 đặt thương điếm Hà Lan, 1686 đặt thương điếm Anh…Đó là những dấu vết còn lại của một Thăng Long hưng thịnh do phát triển kinh tế hàng hóa và nghề thủ công dưới triều Lê Trịnh”[7].
 
ĐẾN NHỮNG THÀNH TỰU VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA ĐẠI VIỆT ĐỘC LẬP TRONG THẾ ĐỐI THOẠI VỚI TRUNG HOA
 
Lễ nhạc và Văn chương khác Trung Hoa
 
 
Trước đây, trong khi nghiên cứu về thời Lê Trịnh, chúng tôi đã công bố phát hiện về năm bản nhạc chương Nôm đời Lê[8]. Đó là 5 bản nhạc chương Nôm được dùng tấu lên cùng âm nhạc trong cung miếu nhà Trịnh mà tác giả là các bậc đại bút tiêu biểu cho các nho sĩ phong kiến. Những nhân vật được nhắc tới và ca tụng trong các bản nhạc chương đều là các tiên liệt dòng chúa Trịnh và đều được gọi bằng tôn hiệu. Cụ thể như sau: 
 
– Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn (ở ngôi chúa từ năm 1682 đến 1709).
– Lương Mục vương Trịnh Vĩnh (là con trưởng của chúa Trịnh Căn), mất sớm, chưa chính thức nối ngôi chúa.
– Tấn Quang vương Trịnh Bính (là con trưởng của Lương Mục Vương và là cha của chúa Trịnh Cương). Mất sớm, chưa chính thức nối ngôi chúa.
– Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương (ở ngôi chúa từ năm 1709 đến 1729).
– Nghị Tổ Ân vương Trịnh Doanh (ở ngôi chúa từ năm 1740 đến 1767). 
 
Các bản nhạc chương tấu trong nghi lễ ở cung miếu họ Trịnh được viết bằng chữ Nôm là điều ít ngờ tới. Song, còn ngạc nhiên hơn, khi chúng ta biết các tác giả của các bản nhạc chương này. Họ đều là những nhà khoa bảng lừng danh (trừ Mai Thế Uông chỉ đỗ Hương cống), là những nhà văn, nhà thơ, những sử gia, chính trị gia nổi tiếng. 
 
Cung miếu là nơi họ Trịnh thờ cúng tổ tiên. Các chúa Trịnh rất coi trọng việc tế lễ ở đây. Chính Trịnh Căn, trong bài Vịnh Cung miếu thi (Khâm định thăng bình bách vịnh) đã viết về nơi này: “Theo đạo hiếu thờ phụng tổ tiên; lời giáo huấn thực là rõ rệt. Xem văn hay mà chuộng đức trung thuần; Xét tế tự mà truy nguồn tìm ngọn. Than ôi! Các bậc thánh vương tôn kính; một lòng khuông phò xã tắc, gây dựng lo toan nghiệp lớn. Dấy anh uy dũng lược, trừ tiếm nghịch tà gian. Định vạc rồng, lấy lại Kinh đô; Mở cõi đất, dấy lên thế đạo….Cảm kích vô cùng, chưa hề có được chút chi đền báo, xin kính cẩn làm hai bài thơ tán dương công đức, may ra làm rõ được lòng chí kính vậy”[9]
 
Việc phát hiện các bản nhạc chương Nôm đời Lê có ý nghĩa quan trọng đối với các vấn đề văn hóa và âm nhạc nước ta. Như chúng ta đều biết, lễ nhạc của các triều đại phong kiến luôn luôn chịu ảnh hưởng từ phía Trung Hoa, trong đó chịu ảnh hưởng lớn nhất là các hình thức nhạc nghi lễ, tế tự, và điều này thấm sâu đến tận lễ nghi phong tục trong dân gian. Nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta biết cha ông ta đã dùng chữ Nôm trong nghi lễ tế tự chốn cung miếu. Các bài này lại được soạn theo lệnh của chúa Trịnh, và người soạn lại là các nhà khoa bảng lớn cũng là các quan chức quan phương làm việc trong chính phủ của phủ chúa và triều đình nhà Lê. 
 
Các bản Nhạc chương Nôm đời Lê cho thấy thời đại này đang xây dựng cho riêng một lề lối “y – quan – lễ – nhạc” khác Trung Hoa, khẳng định sự độc lập và riêng khác của văn hóa Việt, trong thế đối thoại với Trung Hoa. Đáng tiếc là sau đó, triều Nguyễn đã không nối tiếp được điều này. 
 
Các chúa Trịnh cũng là những người đặc biệt coi trọng chữ Nôm và có nhiều sáng tác bằng chữ Nôm. Về sáng tác chúng ta thấy Trịnh Căn có tập Ngự đề Thiên hòa doanh bách vịnh (Khâm định thăng bình bách vịnh), gồm 90 bài thơ, trong đó chỉ có 2 bài thơ chữ Hán; Trịnh Cương (? – 1729) có Lê triều ngự chế quốc âm thi là tập thơ văn Nôm từ khúc, ký và thơ (46 bài thơ Nôm); Trịnh Doanh (1720 – 1767) có tập Càn Nguyên ngự chế thi tập 268 bài, trong đó có 37 bài thơ chữ Hán, 231 bài thơ Nôm[10]
 
Ở ba tập thơ trên, các chủ đề lớn từ Tam diệu đại thống (ba mối huyền diệu lớn Thiên Địa Nhân) (Khâm định thăng bình bách vịnh), đến các khúc ca vịnh đi tuần thú (Lê triều ngự chế quốc âm thi), rồi các bài vịnh nhân ái trong họ hàng, đạo trị nước, phép luyện quân, giáo huấn, sai các tướng đi đánh trận, khen dụ đại thần, úy lạo sứ thần, tưởng lệ các bậc kỳ lão, tôn sùng các vị thánh triết, cảm nhận phúc trời, ban thưởng, thơ đề vịnh phong cảnh khắp nơi (Càn Nguyên ngự chế thi tập )…đều được thể hiện bằng chữ Nôm.
 
Đặc biệt nhất, phải kể đến Trịnh Sâm (1739-1782) là một nhân vật, mà về mặt văn hóa được đánh giá là có những đóng góp khá tích cực. Ông là một vị chúa trọng học vấn, biết phát hiện và quý trọng hiền tài. Là người thích du ngoạn, dấu vết xe loan của nhà chúa đã in khắp những nơi phong cảnh đẹp trong nước, và đời sau coi ông là người đã phát hiện những tuyến du lịch kỳ thú. Mỗi nơi ông đến, vẫn thường có thơ hoặc bút tích để lại, với số lượng nhiều mà bài nào cũng hay, với nét riêng thi vị: Chơi động Hương Tích, Tây Hồ tức cảnh, Đăng Tuyết sơn hữu hứng, Đề Hương Tích tự thi. 
 
Trịnh Sâm còn có 1 bài thơ và một bài từ chép trong sách Bình Ninh thực lục: Ngự chế lạo hoàn dịch quốc âm thi Ngự chế quốc âm từ khúc. Bài Ngự chế Quốc âm từ khúc của Trịnh Sâm được viết bằng chữ Nôm. Trong nguyên bản, bài này được gọi là bài từ khúc. Như chúng ta đều biết, Ngâm khúc Nôm là một trong những sáng tạo thể loại của văn học chữ Nôm. Các tác phẩm Ngâm khúc Nôm mà chúng ta thường gặp như Tứ thời khúc vịnh, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Văn chiêu hồn, Tự tình khúc … đều sử dụng thể thơ lục bát//song thất lục bát quen thuộc vốn có nguồn gốc từ thơ ca dân gian. Riêng trường hợp Ngự chế Quốc âm từ khúc, được ghi là từ khúc, nhưng lại được viết giống như thể phú, bằng lối biền ngẫu, với hai câu đối nhau. Chính điều này cho thấy, hoặc là cách gọi tên thể loại của người xưa thật không chặt chẽ như quan niệm của chúng ta ngày nay, hoặc là thể từ khúc ngày xưa được viết thế chăng? Tìm hiểu về các điệu từ khúc mà các tác gia Việt Nam quen dùng, chúng tôi cũng không ghi nhận được một điệu từ khúc nào viết với lối văn biền ngẫu như trường hợp Ngự chế Quốc âm từ khúc. Từ đó, cho phép chúng ta nghĩ đến việc, phải chăng, trong văn học thời trung đại, có một lối từ khúc Nôm viết bằng lối văn biền ngẫu? [11]
 
Trịnh Sâm còn được cho là đã sáng tạo ra điệu Thổng trong ca trù. Điều này được công bố trong Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, xuất bản tại Sài Gòn năm 1962[12]. Sau đó, Tuyển tập thơ ca trù của Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú (1987) cũng ghi như vậy. Gần đây nhất, trong hội thảo Trịnh Sâm cuộc đời và sự nghiệp tổ chức tại Thanh Hóa cuối năm 2008, nhà thơ Ngô Văn Phú có tham luận Chúa Trịnh với ca trù thêm một lần nữa khẳng định rằng chúa Trịnh Sâm đã làm ra điệu Thổng trong lối hát ca trù[13]
 
Nhắc đến thời kỳ này, không ai không nhắc đến cuốn từ điển song ngữ Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa. Đây được coi là cuốn từ điển song ngữ Hán – Việt (Nôm) đầu tiên của Việt Nam. Cuốn sách được tái bản (theo lối in mộc bản) vào năm Cảnh Hưng 22 (1761). Việc phải biên soạn một cuốn từ điển song ngữ Hán Nôm cho thấy một nhu cầu tra tìm và đối sánh về mặt ngôn ngữ đã được đặt ra, qua đó cũng cho thấy chữ Nôm Việt đã phát triển đến một trình độ ngôn ngữ thực sự, phản ánh sự phát triển của chữ Nôm cả về phương diện ngữ âm và phương diện văn tự. Từ đó đến nay, cuốn điển này luôn được các học giả quan tâm nghiên cứu và dùng làm dẫn chứng trong việc nghiên cứu về chữ Nôm, về tiếng Việt và các vấn đề khác[14]
 
Các nhà văn học sử đều cho rằng thời Lê Trịnh là thời kỳ nở rộ của diễn ca lịch sử và truyện Nôm, nhưng cũng không quên nhắc đến việc các chúa Trịnh nhiều lần cấm đoán các tác phẩm văn học Nôm “trái với quan điểm của Phủ chúa, có thể làm rối loạn cương thường phong hóa”[15]. Vì vậy, năm Quý Mão, niên hiệu Cảnh Trị 1 (1663), đã có lệnh cấm khắc in và lưu hành: “Phàm các sách kinh, sử, tử, tập cùng văn chương có quan hệ đến luân thường đạo lý ở đời, mới được khắc in và lưu hành. Còn các loại sách dị đoan, tà thuyết, Đạo giáo, Phật giáo cùng các truyện Nôm và thơ ca Nôm có liên quan đến chuyện dâm đãng, thì không được khắc in, mua bán, làm tổn hại đến phong hóa”[16]. Tuy nhiên, “lệnh này không được nhân dân chấp hành, truyện Nôm vẫn cứ được nhân dân truyền tụng ngày càng rộng rãi nên đến những năm 1718, 1751, Phủ chúa lại phải ra lệnh chỉ nhắc nhở việc thi hành. Rồi đến năm Cảnh Hưng 21 (1760) đời Lê Hiển Tông , Trịnh Doanh lại sai Nhữ Đình Toản diễn Nôm để dễ bề phổ biến”[17]. Thời kỳ này bên cạnh truyện thơ Nôm còn có ký Nôm, thậm chí có cả ký bằng chữ Hán nhưng lại dùng thể thơ lục bát[18]
 
Bên cạnh việc chữ Nôm được sử dụng rộng rãi “trong triều, ngoài nội”, từ phủ chúa tới dân gian, từ việc diễn đạt các nội dung nghiêm cẩn của đạo đức và học thuật Nho gia đến các cung điệu tình cảm khác nhau của con người chốn thôn cùng xóm vắng, thì chữ Nôm thậm chí lại còn xuất hiện cả trong văn bản hành chính[19]
 
Tóm lại, việc sử dụng chữ Nôm phổ biến và rộng rãi trong sáng tác văn học (các loại đề tài) trong văn bản hành chính cho thấy, thực sự trong xã hội lúc đó, dưới sự điều hành của Vua Lê Chúa Trịnh, chữ Nôm đã đi sâu vào mọi mặt đời sống xã hội. 
 
Nghệ thuật Việt: 
 
Thời đại Lê Trịnh hiện để lại rất nhiều dấu vết về nghệ thuật. Dường như, có một nền nghệ thuật thời Lê Trung Hưng trong lịch sử nghệ thuật nước nhà. Thời kỳ này, thực sự đã tạo nên những giá trị nghệ thuật thuần Việt, khác hẳn trước và sau đó. Một trong những di sản nghệ thuật của thời Lê – Trịnh để lại cho hậu thế, với số lượng di vật lớn, có thể quan sát và miêu tả được là di sản kiến trúc. 
 
1. Kiến trúc thời Lê – Trịnh gồm hai mảng: kiến trúc Phủ chúa Trịnh và dinh thự quan lại ở Thăng Long và kiến trúc các chùa chiền, đền miếu, lăng mộ quan đại thần được xây dựng dưới thời Lê Trịnh ở Thăng Long và các trấn. 
 

Với mảng thứ nhất, cho đến nay, tư liệu về vương phủ họ Trịnh ở Thăng Long được mô tả nhiều nhất và kỹ nhất trong các cuốn ghi chép của những giáo sĩ phương Tây thế kỷ XVI. Trong phần viết về “Kiến trúc quần thể Vương phủ” trong cuốn sách Họ Trịnh và Thăng Long, tác giả Quang Vũ đã cố gắng dựng lại quy mô kiến trúc của Vương phủ họ Trịnh thông qua các tài liệu mà tác giả có được như: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài của Alexandre de Rhodes, Vương quốc Đàng Ngoài của Samuel Baron (1663), Hành trình truyền giáo (1653). Nhiều bức tranh do người Phương Tây vẽ về Thăng Long thế kỷ XVI – XVIII cũng cung cấp được hình ảnh về kinh thành của vua Lê – chúa Trịnh lúc bấy giờ. Bên cạnh các tài liệu do người Phương Tây viết, có một tư liệu rất có giá trị, miêu tả vương phủ chúa Trịnh là cuốn sách Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác, ghi lại chuyến đi tới Phủ chúa Trịnh ở Thăng Long để chữa bệnh cho thế tử họ Trịnh. Những tư liệu này đã đủ để tác giả Quang Vũ phác họa lại kiến trúc quần thể Vương phủ: Vương phủ được thiết kế hình vuông, có tường bao quanh nằm ở phía Nam hồ Tả Vọng. Vương phủ có 3 cửa, mặt phía Nam: Chính môn, mặt phía đông: Tuyên Vũ môn, mặt phía Tây: Diệu Công môn. Khuôn viên phủ chúa bao gồm khu Bệnh viện Việt Đức, qua phố Tràng Thi, Thư viện Trung ương, Tòa án Tối cao, Hỏa Lò tới giáp phố Thợ Nhuộm ngày nay”[20]. Thư tịch cổ còn ghi được tên tuổi những trí thức lớn hoặc là quan chức, hoặc là những người có họ hàng xa gần với Phủ chúa đều đã ra tay xếp đặt hoặc trang trí cho Vương phủ. Đó là Kiều Nhạc hầu Nguyễn Khản “trong cung chơi giả sơn, bể cạn hay hoa chim cây đá gì, tất phải qua bàn tay ông Khản điểm xuyết chúa mới hài lòng”[21]; là Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều (cháu gọi chúa Trịnh là cậu ruột) được Trịnh Sâm cho vào phủ vẽ trang trí và trông nom tu sửa vương phủ[22]… 

 
Những cung điện nguy nga lộng lẫy, những khu vườn ngự thấp thoáng các đình tạ chạm trổ công phu tinh tế, những dòng ngự câu thơ mộng của phủ chúa đã được miêu tả trong những tác phẩm văn học cho thấy quy mô kiến trúc to lớn, những chạm khắc tinh vi của Vương phủ. Phạm Đình Hổ, trong Vũ trung tùy bút cho hay: “Các loại trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch, chậu hoa, non bộ trong dân gian đều thu vét hết không bỏ sót. Từng thấy lấy cả một cây đa từ bờ Bắc chở qua sông đem về. Cây đa ấy cành lá rườm rà như một cây cổ thụ treo leo nơi đầu non khe đá, rễ dài vài trượng, phải đến một cơ đội lính vây quanh mà khiêng, ngồi trên có vài bốn người cầm gươm gõ thanh la để lấy nhịp cho đi đều”. Rồi lính tráng nhà chúa đã cướp đoạt của quý của người dân như sau: “Dò xem nhà người ta có hoa chim đẹp thì biên ngay hai chữ Phụng thủ (vâng lệnh vua chúa mà lấy) vào lồng trúc chậu sứ rồi ngầm sai đem xe và tay chân đến lấy phăng đi, gán cho người ta tội giấu giếm vật cung phụng để hạch sách tiền của. Gặp hòn non bộ hay cái cây to quá, có khi phải phá nhà hủy tường để đưa ra. Những nhà giàu có khi phải bỏ hết của cải ra kêu xin. Nhiều nhà đập non bộ, phá cây cảnh để tránh tai họa”[23]
 
Nhưng, cho đến hôm nay, Vương phủ xưa hầu như không còn dấu vết gì. Các cơn binh hỏa, thiên tai và thời gian đã xóa hết dấu vết của Vương phủ. Những kiến trúc quy mô bị thiêu cháy, kéo theo những hoa viên đầy “kỳ hoa quái thạch” cũng không còn. Các tác phẩm điêu khắc chạm trổ trên đá, gỗ được bày biện trong phủ chúa xa hoa cũng không còn dấu vết. Bên cạnh Vương phủ, các dinh thự của các quan lại trong cung vua phủ chúa cũng mất dấu vết theo! Những hành cung của Chúa Trịnh tại Tây Hồ, Tử Trầm (Hà Tây cũ), Dũng Thúy (Ninh Bình) cũng không còn! 
 

Mảng kiến trúc các chùa chiền, đền miếu, lăng mộ quan đại thần được xây dựng dưới thời Lê Trịnh ở Thăng Long và các trấn trái lại còn nhiều dấu vết có thể khảo cứu được. Đó là những ngôi chùa đã trở thành danh lam cổ tự như: Bút Tháp (do bà hoàng Trịnh Thị Ngọc Trúc hưng công), Tây Phương (Trịnh Tạc sai trùng tu năm 1660), Nhạc Lâm (chúa và các phi tần có ghé thăm và đề thơ), Kim Liên (Trịnh Sâm sai trùng tu), Nga My (Trịnh Đỗ hưng công), Hàm Long (Trịnh Thập hưng công)…Những ngôi chùa này có diện mạo đẹp đẽ như ngày nay đều là do được xây dựng, trùng tu lớn dưới thời các chúa Trịnh. Chùa Bút Tháp với việc bố trí kiến trúc trải dài trên một trục thần đạo, xen giữa các cây cối, hoa cỏ, hồ nước, tháp mộ giữa một tổng thể cảnh quan đồng lúa và đê sông cho thấy một lối kiến trúc khoáng đạt. Hoa viên của Bút Tháp nói riêng của các chùa chiền đền miếu được xây dựng và tu bổ lớn dưới sự chỉ đạo của các chúa Trịnh hoặc sự hưng công của các quan lại, phi tần cung phi của chúa Trịnh đều có nét riêng đáng được xem là một nghệ thuật tiêu biểu. Đáng tiếc, vấn đề này chưa được thống kê, nghiên cứu và tổng kết. 

 
Phân tích các yếu tố Hoa và Việt trong bình đồ kiến trúc chùa Bút Tháp, GS Nguyễn Duy Hinh nhận định rằng kiến trúc Bút Tháp là lối kiến trúc viện lạc trong nghệ thuật kiến trúc Hoa[24]. Nhưng nhìn tổng thể kết cấu bố cục cũng như từng thành phần kiến trúc thì thấy rằng yếu tố Việt được hiện diện rất rõ ràng. Đặc biệt là tòa Tích Thiện Am bên trong có tháp Cửu phẩm liên hoa là một sản phẩm của Phật giáo Việt Nam, mặc dầu nguồn gốc của nó thuộc về Phật giáo Mật tông. Nó là sản phẩm có giá trị đặc biệt trong việc hình tượng hóa triết lý Phật giáo đặc sắc Việt Nam thế kỷ XVII. Đây cũng là một trong ba tòa tháp Cửu Phẩm bằng gỗ còn lại đến hôm nay ở nước ta[25].
 
 
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Phan Cẩm Thượng nhận định rằng: “Kiến trúc, điêu khắc, trang trí Bút Tháp nằm gọn trong thế kỷ XVII là di tích kiến trúc nguyên vẹn đặc trưng nhất của nghệ thuật Phật giáo cổ điển Việt Nam”[26]
 
Chùa Kim Liên, chùa Tây Phương được bố trí bằng một bình đồ hình chữ “tam” là bình đồ kiến trúc được khẳng định là của người Việt[27]. Với hai ngôi chùa này kiến trúc và trang trí cung đình hoa mỹ đã được thể hiện trên rất nhiều thành phần kiến trúc. Không chỉ vậy, lối kiến trúc hình chữ “tam” này đã là tiền đề cho lối kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc” rất độc đáo của cung điện thời Nguyễn sau này ở Huế. 
 
2. Nghệ thuật điêu khắc trên đá, gỗ cũng là một di sản nghệ thuật Lê Trung hưng còn lại đến hôm nay. Thời đại này dường như có sự nở rộ của việc xây cất những lăng mộ của giới quý tộc. Những khu lăng mộ đá hiện còn rải rác khắp châu thổ sông Hồng và xứ Thanh như: lăng Ân vương Trịnh Doanh, lăng Quận Đăng, Phúc Khê hầu Nguyễn Văn Nghi, lăng Dương Lễ công Trịnh Đỗ (Thanh Hóa) lăng Họ Ngọ, Dinh Hương, lăng Bầu ( Bắc Giang), lăng Quận công Nguyễn Đức Nhuận (Yên Mỹ, Hưng Yên), lăng Quận Vân (Thường Tín, Hà Tây cũ)… là các lăng của các quận công, thái giám triều Lê Trịnh. Sự nở rộ của việc xây cất lăng mộ cho thấy sự quan tâm rất thiết yếu về một đời sống tâm linh của các tầng lớp trên, mong có một sự bền vững và thịnh vượng cho dòng họ cũng như quốc gia. 
 

Khi đặt lăng mộ họ luôn phải quan tâm đến yếu tố phong thủy của một cuộc đất tốt. Lăng mộ thời kỳ này vượt hẳn lên so với các triều đại trước đó về cả qui mô lẫn nghệ thuật điêu khắc. Nếu thời Lê Sơ mới đặt ra các chuẩn tắc trong việc xây dựng các lăng mộ theo công đức của người đã khuất nhưng trình độ điêu khắc đá còn rất thô sơ, thì đến giai đoạn này, nghệ thuật điêu khắc đá dường như đạt đến đỉnh cao. Từ các tượng quan văn võ cho đến các tượng voi ngựa đều được khắc tạc vô cùng sinh động. Kích thước của các tượng cũng khá lớn. Việc giải quyết khối trong không gian đã đạt đến một trình độ điêu luyện, đặc biệt là các tượng voi ngựa cho thấy trình độ quan sát rất kỹ lưỡng cũng như một tay nghề tuyệt hảo. Đồng thời, cùng với nghệ thuật điêu khắc chân dung được phát triển mạnh trong các đình chùa, hay nhà thờ họ, thì trên các điêu khắc đá ở lăng mộ tượng chân dung cũng vô cùng sinh động. Người ta có thể nhìn thấy ở đây những sự nhận xét rất sắc sảo trong việc điêu khắc chân dung, tướng mạo của các vị quan văn, quan võ hai bên tả hữu của một khu lăng mộ. Đây cũng là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ và quy củ hơn của nghệ thuật điêu khắc lăng mộ thời Nguyễn ở Huế. Mặc dầu đứng trên giá trị nghệ thuật mà nói tính chất dân gian trong các chạm khắc đá lăng mộ thời Lê Trung Hưng cho thấy một tinh thần phóng khoáng hơn nhiều so với tính chất khô lạnh của các điêu khắc lăng mộ giai đoạn sau. 

 
Chưa kể đến, nghệ thuật thiết kế kiến trúc lăng mộ giai đoạn này còn mang nhiều ý thức giải Hoa như sự biến báo của lối thiết kế trục đường thần đạo của một công trình. Các hạng mục công trình như đền thờ và lăng mộ không nhất thiết phải tạo ra trên một trục dọc, mà chúng tùy ứng theo địa thế phong thủy. Tính chất đăng đối giả cũng được chú ý đến, khiến cho các công trình điêu khắc này tạo ra những nét thú vị đặc biệt.
Về đề tài chạm khắc ở các lăng mộ cũng rất phong phú, đa dạng những mô típ như khỉ, chuột, cá, chim cò, hoa cỏ được hiện diện ở khắp nơi dường như đã rời xa ảnh hưởng của Trung Hoa. Thế giới bên kia, nơi mà các chủ nhân của các ngôi mộ yên nghỉ đời đời được trang trí bằng các tác phẩm điêu khắc đá rất mềm mại, thuần Việt, thể hiện quan niệm “sống gửi thác về”. Nếu như các lăng mộ của giới quý tộc Trung Hoa biểu thị một sự uy nghiêm, cách bức với trần thế, thì các lăng mộ của Việt Nam dưới thời Lê Trung Hưng luôn gần gũi với những người còn sống: giữa đồng lúa nương dâu và bên cạnh các xóm làng bình yên. 
 
Bên cạnh những điêu khắc đá ở lăng mộ quý tộc, là hệ thống văn bia không chỉ ở lăng mộ mà ở khắp các đền, đình, chùa chiền. Các văn bia thời Lê Trung Hưng cũng cho thấy một trình độ điêu khắc rất đặc sắc. Các mô típ trang trí trên diềm, hay trán bia thời này rất đa dạng. Không chỉ có rồng chầu mặt nhật, nguyệt, mà còn xuất hiện rất nhiều các dạng như tiên cưỡi rồng, hạc, phượng, thậm chí phía dưới chân bia còn có những hình ảnh như tôm, cua, cá, hay khỉ… Xen lẫn vào đó là những biểu tượng tùng, cúc, trúc mai của văn hóa Nho giáo. Điều này cho thấy tính chất giải Hoa và tâm thức dân gian đậm nét. Chúng đồng thời bộc lộ ra tính cách tự do phóng túng của người Việt trong việc tạo tác các hình thức biểu tượng, mà đôi khi ưu điểm này lại trở thành nhược điểm bới tính tùy tiện của các nghệ nhân dân gian. Đôi khi trên một số trán bia người ta còn thấy ở đó tính chất trào lộng dân gian rất đậm nét được vận dụng theo kiểu liên tưởng giữa biểu tượng và nghĩa chữ. Ví dụ trên một tấm bia phong hầu thế kỷ XVII người ta đã khắc vào đó hình ảnh của một con ong (phong) và một con khỉ (hầu), bên cạnh hai chữ phong hầu, hay trên một đồ án khác lại có hình ảnh con khỉ cưỡi trên lưng ngựa có nghĩa là “thượng mã phong hầu”[28] v.v. Những biểu tượng mang nghĩa chữ như vậy rất phổ biến trong nghệ thuật chạm khắc bia đá thời Lê – Trịnh. 
 
Biểu tượng rồng trong nghệ thuật thời Lê – Trịnh cũng có những nét chuyển biến nhất định. Nó đã kiến tạo nên những nét phóng túng là làm nên sự đa dạng trong văn hóa Việt. Con rồng dường như được nhìn và thể hiện trên nhiều góc độ khác nhau, lối chuyển động của mình rồng cũng vô cùng đa dạng. Các mô típ rồng hóa mây, hóa lá, hóa trúc bắt đầu phát triển từ thời Lê Sơ thì đến giai đoạn này đã tạo nên được những dạng vẻ vô cùng phong phú. Trên các cốn, bẩy, đầu dư, hình tượng rồng như tràn vào đình làng tạo thành biểu tượng của làng xã. Những con rồng không biểu tượng cho vua nữa mà trở thành biểu tượng cho nền văn hóa nông nghiệp, biểu tượng cho nguồn nước, cho nên ở giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII, những con rồng này chỉ có 3 đến 4 móng, mà không bao giờ xuất hiện dạng rồng năm móng ở những chốn này. Sự xuất hiện của rồng đơn, rồng ổ, tiên cưỡi rồng thổi sáo đánh đàn và rồng trong đám quần ngư tranh thực, hay được chạm chung với cua, cá … đã trở thành một hình ảnh quen thuộc đối với hầu hết những người dân. Người ta cũng bắt gặp những biểu tượng rồng được gắn với biểu tượng của nghĩa chữ như trên các đồ án trên bia đá. Con rồng với những đôi tai như những chiếc cánh dơi, đã trở thành biểu tượng của điềm lành. Có lẽ đây chính là điểm đặc sắc nhất của nghệ thuật thời Lê Trung Hưng, mà người ta có thể thấy được tính chất giải Hoa hoàn toàn trên các biểu tượng con rồng. 
 
Ngoài ra biểu tượng phượng cũng vậy, dường như không có bất kỳ tính quy chuẩn nào cho những hình tượng này. Thậm chí ở một số di tích thuộc cấp quốc gia như đền Vua Đinh, Gia Viễn, Ninh Bình, những con phượng được chạm trên trán bia được hình dung như những con gà cồ. Hình ảnh kỳ lân (kỳ là con đực, lân là con cái), nghê, hay ly, xô trên mái đình cũng như những chạm khắc trong các đình làng là những con vật hư cấu có dạng vẻ gần giống nhau đã được thể hiện vô cùng phong phú. Chúng vừa có những nét học được từ biểu tượng sư tử vờn cầu của nghệ thuật Trung Hoa, nhưng cũng ngay lập tức biến báo cho phù hợp với thẩm mỹ của người Việt. Như vậy có thể nói bộ tứ linh vốn được nhập từ văn hóa Trung Hoa vào Việt Nam, nhưng người Việt đã sáng tạo ra những biểu tượng, kiểu dạng tứ linh của riêng mình và cũng đặt cho chúng những tên gọi khác nhau cho mình mà không theo những mẫu thức có sẵn của Trung Hoa. 
 
Cùng với di sản kiến trúc, chùa Bút Tháp còn có hệ thống tượng pháp được coi là đỉnh cao của nghệ thuật Phật giáo và nghệ thuật điêu khắc tượng chân dung của Việt Nam. Hàng loạt những tượng chân dung các vị hoàng thân quốc thích hiện nay được đặt trong các ngai thờ nhà Tổ của chùa là một minh chứng rất rõ rệt cho sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc chân dung thế kỷ XVII. Không chỉ chân dung mà tính chân thực của những trang phục được điêu khắc cũng giúp chúng ta hình dung được đời sống vương phủ trước đây. Không chỉ thế, do các bà hoàng đã qui y Phật pháp nên trên các đồ phục trang người ta thường thấy các vị có đội mũ Quan Âm có gắn tượng đức Adiđà nhỏ ở phía trước mũ. Đây cũng là sáng tạo độc đáo của các nghệ nhân dân gian. 
 
Những pho tượng như Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, hay tượng Tuyết Sơn, có thể chịu ảnh hưởng một phần từ nghệ thuật điêu khắc Trung Hoa, nhưng nó đã trở nên thuần Việt và dung dị. Trên gương mặt của các vị Phật này người ta ít thấy tính chất lý tưởng hóa một cách khô cứng hay thị uy như nghệ thuật Trung Hoa, mà là lòng từ, là sự gần gũi phổ độ chúng sinh. Đó cũng là tinh thần của Phật giáo Việt Nam, nơi bất cứ người dân thường nào cũng có thể tìm đến và san sẻ niềm đau nỗi khổ, tìm được những giây phút thanh thản trong cõi lòng. 
 
3. Nghệ thuật gốm sứ Lê Trung hưng cũng là một nét nổi bật của thời kỳ này. Dưới thời Lê Trung hưng, do việc mở rộng giao thương, các thuyền buôn Anh, Hà Lan, Nhật Bản giới quý tộc cũng đã dùng các đồ gốm sứ ngoại, do được biếu tặng. Đặng tộc gia phả có ghi lại được bài thơ dâng đồ quý lên Trịnh Cương gồm nậm rượu và ấm pha trà của Trung Hoa, đồ sứ Nhật Bản, đồ thủy tinh Hòa Lan. Việc dùng đồ ngoại quốc tất nhiên là không loại trừ nhưng chúng ta ai cũng biết rằng các chúa Trịnh đã cho người sang Trung Hoa đặt làm rất nhiều chủng loại đồ sứ. Đồ sứ ấy gọi là đồ sứ ký kiểu. Nhà chúa cũng ra qui định từ hoàng tử đến cac vương thân và quan lại đều được dùng đồ ký kiểu Trung Hoa nhưng trừ những thứ vẽ rồng năm móng. Và “để cho có những dấu ấn riêng biệt nhà Trịnh đã cho vẽ mẫu phong cảnh đất Việt, trang trí hoa lá, thảo trùng Việt để dùng trong vương triều mang tính dân tộc tự chủ cao”[29]. Điều này cho thấy mặc dầu dùng đồ Trung Hoa nhưng, không hề phụ thuộc vào các sản phẩm đó, mà các chúa đã biết tạo ra cho mình một bản sắc riêng. 
 
Theo như giới nghiên cứu cũng như giới sành cổ ngoạn, thì đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh được đánh giá cao, rất có giá trên thị trường cổ vật ở khu vực và trên thế giới. 
.

Ngoài ra trong các hình thức nghệ thuật giai đoạn này thì đồ gốm men lam đặc biệt phát triển. Gốm men lam thời Lê Trung Hưng dường như đã được kế thừa một thành quả to lớn từ kiểu dáng đến kỹ thuật gốm thời Mạc. Cốt gốm dày thô, các kiểu đắp, khắc cũng được tận dụng như một lợi thế to lớn trong việc tạo ra sự thay đổi trên cùng một sản phẩm gốm. Các hình thức hoa văn trên các đĩa, lọ, chân đèn vốn đã khá phát triển vào thời Mạc, thì nay thêm phần phóng túng. Có lẽ do sự ảnh hưởng của đồ sứ ký kiểu nhập từ Trung Hoa, nên giai đoạn này xuất hiện khá nhiều những mẫu hình kiểu Trung Hoa trên các sản phẩm này. Nó là sự pha trộn giữa thẩm mỹ dân gian và thẩm mỹ cung đình, nhưng đồng thời trên chính các mẫu thức này người ta lại thấy ý thức giải Hoa rất rõ ràng. Cùng là mô típ họa tiết đó, nhưng các nghệ nhân đã cố tình thay đổi sao cho chúng có vẻ thuần Việt. Những họa tiết như chim loan, chim trĩ, đặc biệt là các con long mã dỡn sóng hay long mã đội chữ Thọ rất sinh động và có tính tượng trưng cao độ. Đặc biệt hơn nữa là các dạng họa tiết như sen – cua hay sen – uyên ương, rồi các mẫu cá trên các đĩa như thế một bức tranh khái lược trên gốm.

 
 

Minh văn cũng là một đặc trưng cho loại hình gốm thời Lê Trung Hưng, nó là sự kế thừa phát triển từ thời Mạc. Không chỉ chữ Hán, mà người ta còn khắc vẽ cả chữ Nôm lên các bình lọ gốm hay chân đèn thời này. Có rất nhiều cách thức khắc vẽ chữ Hán Nôm lên gốm như khắc chìm đúc nổi, hoặc khắc rồi phủ mem lên cũng có trường hợp viết bằng men trực tiếp lên cốt gốm, nhưng đa phần lối khắc vẽ này thường theo dạng chữ chân phương, dường như không thấy có trường hợp nào dùng lối chữ triện hay bố cục khối chữ triện như trên đồ gốm sứ Trung Hoa. Những chữ đầu dòng thuộc niên hiệu hay vương triều thường được khắc viết “đài” theo qui định tôn kính giống như trên bia ký. Thậm chí lối viết tắt cũng chỉ thấy trong các dạng văn tự Việt, như trường hợp hai chữ “Vạn” liền nhau, thì chữ “vạn” thứ 2 được ký hiệu. Điều này không bao giờ xảy ra trong lối hành văn Trung Hoa. Trên các lư hương thế kỷ XVII lối viết minh văn dưới đế rất phổ biến, khác xa với lối viết minh văn của gốm Mạc trước đó[30]

 
Ngoài ra giai đoạn này còn có thêm dạng men rạn kết hợp với rất nhiều những hình đắp nổi đề tài tứ linh, tứ quí, cũng tạo nên những sản phẩm độc đáo. Các dạng ấm con phượng hay chân đèn con nghê đội cũng cho người ta thấy sự phát triển đến trình độ cao trong kỹ thuật gốm sứ giai đoạn này. 
 
4. Nghệ thuật âm nhạc và vũ đạo thời Lê – Trịnh cũng có nhiều điểm đáng chú ý, thể hiện được một tinh thần xây dựng một nền văn hóa thuần Việt, phi Hoa, đối thoại với Trung Hoa. 
 
Với âm nhạc, đó là một lối hát cửa quyền được diễn ra trong phủ chúa và các dinh thự lớn. Biên chế dàn nhạc trong cung gồm: trúc sinh (đàn khô), thiết huyền sắt, đàn cửu huyền, đàn thất huyền, đàn tranh. Phạm Đình Hổ ghi nhận: “Tiếng hát trong cung trau chuốt, uyển chuyển, thanh nhã”[31]
 
Những điệu hát ca trù cổ, tương truyền có từ thời Lê Trịnh như điệu Thét nhạc, điệu Bắc phản đều dùng lời ca tiếng Việt (chữ Nôm) mà không dùng lời chữ Hán. Trong dân gian, âm nhạc giáo phường rất thịnh hành. Theo Phạm Đình Hổ, nhạc khí trong giáo phường đã rất phong phú, gồm: trường trúc, trúc địch (tiêu), yêu cổ (trống cơm), đới cầm (đàn đáy), địch quản (quyển nhị), phách, sênh, đan diện cổ (trống mảnh)[32]
 
Dưới thời Lê Trung hưng, các chúa Trịnh cho tổ chức đội quân nhạc Bả lệnh Ngũ quân có từ thời Lê Sơ thành ra đội Bả lệnh để “nắm giữ việc âm nhạc trong phủ chúa và các tư gia”. “Quan phủ có việc cần đến hoặc các việc tang tế trong dân gian đều do đội Bả lệnh làm”. Biên chế dàn nhạc của đội Bả lệnh có: trống, mõ, trống phong yêu (trống tầm bông), xúy quản (kèn), tiểu xúy quản (kèn tiểu), trùng quyển xúy quản (kèn tổ sâu)[33].
 
Ngoài ra, nghệ thuật thời Lê Trung hưng còn thể hiện ở trang phục[34] và nghệ thuật uống trà[35]
 
Nhận xét về nghệ thuật nhà Trịnh, sách Mỹ thuật Châu Á viết: “Nghệ thuật nhà Trịnh (1533 – 1789) được đánh dấu là từ cuối thế kỷ 16 bằng sự phát triển các công trình tưởng nhớ tổ tiên và các anh hùng dân tộc …phục hưng các công trình nghệ thuật cổ: Xu hướng “dân tộc” đã dẫn đến trong các lĩnh vực trang trí điêu khắc, từ bỏ các đề tài chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, thay thế bằng một phong cách và quan niệm thẩm mỹ độc đáo hơn với các hình dạng phức tạp hơn”[36].

Kết luận:

 
1. Từ thành tựu kinh tế, chính trị và ngoại giao các chúa Trịnh đã tỏ rõ ý đồ xây dựng một nền văn hóa Đại Việt độc lập, trong thế phi Hoa, giải Hoa, và đối thoại với Trung Hoa. 
 
2. Ý chí đó của các chúa Trịnh đã được thể hiện trên nhiều lĩnh vực văn hóa: Lễ nhạc và văn chương, kiến trúc, điêu khắc, gốm sứ, âm nhạc và vũ đạo, trang phục, ẩm thực. Cách thể hiện ở mỗi lĩnh vực có khác nhau, nhưng đã cho thấy rõ ràng ý đồ gây dựng nền văn hóa thuần Việt từ triều đình, phủ chúa đến nhân dân, từ trong Kinh ra ngoài trấn, từ quan lại đến bách tính. 
 
3. Văn hóa Đại Việt dưới thời Lê – Trịnh do các chúa Trịnh dốc lòng khởi xướng và thực hành đã để lại một di sản lớn cho đất nước, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Nền văn hóa Đại Việt được gây dựng dưới đời Lê Trung hưng là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử đặc biệt, làm nên sự khác biệt với các thời kỳ trước và sau đó. Sự khác biệt đó trước hết là do các triều đại trước đó đã rập khuôn theo với Trung Hoa một cách cứng nhắc mà không hề tính đến việc phải giải Hoa, đối thoại với Trung Hoa, còn triều Nguyễn sau này thì rập khuôn máy móc theo Trung Hoa và tước đoạt đi sự sáng tạo và tinh thần Việt phóng khoáng trên mỗi một tác phẩm nghệ thuật. 
 
4. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu, các hội thảo đánh giá về nhà Trịnh nhưng nhiều vấn đề vẫn còn đang bỏ ngỏ, nhiều tư liệu chưa được tập hợp, đánh giá khai thác để có thể tiếp thu và phát huy di sản văn hóa của thời đại Lê Trung hưng trong thời đại mới. Vì thế, vấn đề văn hóa và nghệ thuật Lê – Trịnh vẫn cần được nghiên cứu và thảo luận sâu hơn nữa, để hiểu biết về thời đại Lê Trung hưng ngày càng được rõ ràng và khoa học. 
.
Hà Nội, tháng 6 năm 2009.
 

Tài liệu tham khảo chính:

1. Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ XV – XIX. Nguyễn Đình Chiến. Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xuất bản, 1999, 225 tr.
2. Chúa Trịnh – Vị trí và vai trò lịch sử. Kỷ yếu Hội thảo khoa học. Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử Thanh Hóa xuất bản, 1995.
3. Đại Việt sử ký toàn thư. 4 tập. Nxb KHXH, H, 1993.
4. Điêu khắc cổ Việt Nam. Phan Cẩm Thượng. Nxb Mỹ thuật, H, 1997.
5. Hình tượng con người trong chạm khắc cổ Việt Nam. Nhiều tác giả. ĐH Mỹ thuật Hà Nội xuất bản, 2002.
6. Họ Trịnh và Thăng Long. Bỉnh Di và Quang Vũ. Nxb. Văn hóa dân tộc, H, 2000. 187 tr.
7. Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Quốc sử quán triều Nguyễn. Hai tập. Nxb. Giáo dục, H, 1998.
8. Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù. Nguyễn Xuân Diện. Nxb. Thế Giới, H, 2007, 210 tr.
9. Lịch triều hiến chương loại chí . Phan Huy Chú. 2 tập. Nxb. Giáo dục, H, 2007.
10. Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành. Nhiều tác giả. Nxb. Thế giới, 2009. 858 tr.
11. Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam. Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề. Bản in lại . Nxb.Văn học , H. 1992.
12. Tháp Cửu phẩm liên hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam. Trang Thanh Hiền. Nxb. Thế Giới, H, 2006.
13. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập I. Trần Văn Giáp. Nxb. Văn hóa, H. 1984.
14. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập II. Trần Văn Giáp. Nxb. KHXH, H. 1990.
15. Tổng tập Văn học Nôm. Tập II. Nguyễn Tá Nhí chủ biên. Nxb. KHXH, H, 2008, 717 tr.
16. Tổng tập Văn học Việt Nam. Tập 5. Bùi Duy Tân chủ biên. Nxb. KHXH, H, 2000.
17. Trang phục triều Lê – Trịnh. Họa sĩ Trịnh Quang Vũ. Nxb. Từ điển Bách khoa, H, 2008.
18. Trịnh Sâm cuộc đời và sự nghiệp. Nhiều tác giả. Nxb. Văn hóa thông tin, H, 2009. 315 tr.
19. Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế. Nxb. KHXH, H. 1991.
20. Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam. Nguyễn Quang Thắng.. Nxb. Văn hóa Thông tin, H. 1999.
21. Tuyển tập Thơ Ca trù. Ngô Linh Ngọc – Ngô Văn Phú:. Nxb. Văn học, H. 1987.
22. Việt Nam ca trù biên khảo. Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề. Sài Gòn, 1962.
23. Vũ trung tùy bút. Phạm Đình Hổ. Trần Thị Kim Anh khảo cứu văn bản, dịch, chú thích và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 2003. 503 tr.
CHÚ THÍCH:
[1] Trần Ngọc Vương, với bài Lưỡng đầu chế thời Lê Trịnh và những hệ quả lịch sử của nó, in trong sách Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành. Nxb. Thế giới, 2009, tr. 630-657; và Bùi Thiết với bài Thử lý giải hiện tượng song trùng quyền lực vua Lê – chúa Trịnh trong lịch sử Việt Nam, in trong sách Trịnh Sâm cuộc đời và sự nghiệp. Nxb. VHTT, H, 2009, tr.103-107.[2] Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Bản dịch. Tập Hai. Nxb. Giáo dục, H, 1998. tr. 466.[3] Lịch triều hiến chương loại chí. Phan Huy Chú. Tập Hai. Nxb. Giáo dục, H. 2007, tr. 139 – 140.[4] Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Bản dịch. Tập Hai. Nxb. Giáo dục, H, 1998. tr. 258.[5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Bản dịch. Tập Hai. Nxb. Giáo dục, H, 1998. tr. 262.[6] Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Bản dịch. Tập Hai. Nxb. Giáo dục, H, 1998. tr. 416.[7] Bỉnh Di và Quang Vũ: Họ Trịnh và Thăng Long. Nxb. Văn hóa dân tộc. H, 2000, tr. 84-85.[8] Nguyễn Xuân Diện và Đinh Thanh Hiếu: Về năm bản nhạc chương Nôm đời Lê. Tạp chí Hán Nôm số 4 (45) – 2000, tr. 62 – 72.[9] Tổng tập Văn học Nôm. Tập 2. Nguyễn Tá Nhí chủ biên. Nxb. KHXH, H, 2008, tr.20-21.[10] Tổng tập Văn học Nôm. Nguyễn Tá Nhí chủ biên. Nxb. KHXH, H, 2009.[11] Nguyễn Xuân Diện Về bài Ngự chế Quốc âm từ khúc của Trịnh Sâm trong sách Bình Ninh thực lục. Tạp chí Hán Nôm số 1 (62) – 2004, tr. 68 – 73.[12] Các tác giả của Việt Nam ca trù biên khảo dẫn sách Ca trù bị khảo, cho rằng “Lối Thổng do chúa Trịnh đặt ra nên gọi là Thổng cửa quyền”(sdd, tr.67). Hiện nay chưa tìm được tài liệu Hán Nôm nào khẳng định chúa Trịnh (Trịnh Sâm) là người sáng tạo ra điệu Thổng trong ca trù. Và hiện cũng chưa tìm được cuốn Ca trù bị khảo mà Việt Nam ca trù biên khảo dẫn.[13] Trịnh Sâm cuộc đời và sự nghiệp. Nxb. VHTT, H, tr. 194 – 203.[14] Xem: Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa. Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm và chú giải, Nxb. KHXH, H, 1985, 260 tr. Và bài Thông tin mới nhất về Chỉ nam ngọc âm của Ngô Đức Thọ trên tạp chí Hán Nôm số 3 (70) – 2005, tr 25-35. Ngoài ra, các tác giả Trần Văn Giáp (1969), Hoa Bằng (1971), Nguyễn Tài Cẩn (1985), Đào Duy Anh (1975), Lê Văn Quán (1981) cũng có các nhận xét và nghiên cứu về văn bản Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.[15] Tổng tập Văn học Việt Nam. Tập 6. Nxb. KHXH, Hà Nội, 2000, tr. 16.[16] Lê triều chiếu lệnh thiện chính. Bản chữ Hán A.257. Dẫn theo Tổng tập Văn học Việt Nam. Tập 6. Nxb. KHXH, Hà Nội, 2000, tr. 16-17.[17] Tổng tập Văn học Việt Nam. Tập 6. Nxb. KHXH, Hà Nội, 2000, tr. 17.[18] Tổng tập Văn học Việt Nam. Tập 6. Nxb. KHXH, Hà Nội, 2000, tr. 17.[19] Xem: Họ Trịnh và Thăng Long của Bỉnh Di và Quang Vũ. Nxb. VHDT, H.2000, tr. 94-95.[20] Bình Di và Quang Vũ: Họ Trịnh và Thăng Long. Nxb. Văn hóa dân tộc, H, 2000, tr. 113.[21] Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút. Trần Thị Kim Anh khảo cứu văn bản, dịch, chú thích và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 2003, tr. 208.[22] Bỉnh Di và Quang Vũ: Họ Trịnh và Thăng Long. Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2000, tr. 144.[23] Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút. Trần Thị Kim Anh khảo cứu văn bản, dịch, chú thích và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 2003, tr. 36-37.[24] Nguyễn Duy Hinh: Yếu tố Hoa – Việt trong kiến trúc chùa chiền Việt Nam. In trong sách Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt – Hoa trong lịch sử. Nxb. Thế giới, H, 1988. tr. 129 – 148.[25] Trang Thanh Hiền: Tháp Cửu phẩm liên hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam. Nxb. Thế Giới, H, 2006.[26] Phan Cẩm Thượng: Chùa Bút Tháp. Nxb Mỹ thuật, H, 1996.[27] Nguyễn Khắc Tụng: Nhận biết yếu tố Hoa – Việt trong kiến trúc nhà ở cổ truyền của người Việt và ngược lại. In trong sách Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt – Hoa trong lịch sử. Nxb. Thế giới, H, 1988. tr. 122.[28] Trần Hậu Yên Thế: Lời thuyết minh trong triển lãm Các phương pháp nghiên cứu mỹ thuật cổ. ĐH Mỹ thuật, tháng 4 năm 2009.[29] Bình Di và Quang Vũ: Họ Trịnh và Thăng Long. Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2000, tr. 150.[30] Nguyễn Đình Chiến: Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ XV – XIX, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, H 1999.[31] Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút. Trần Thị Kim Anh khảo cứu văn bản, dịch, chú thích và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 2003, tr. 85.[32] Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút. Trần Thị Kim Anh khảo cứu văn bản, dịch, chú thích và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 2003, tr. 83 – 84.[33] Phạm Đình Hổ: Vũ trung tùy bút. Trần Thị Kim Anh khảo cứu văn bản, dịch, chú thích và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 2003, tr. 81 – 82 và 85 – 86.[34] Trịnh Quang Vũ: Trang phục triều Lê – Trịnh. Nxb. Từ điển Bách khoa, H. 2008. 363 tr.[35] Xem bài Chúa Trịnh Sâm nâng cao nghệ thuật trà Việt của Trương Thị Kim Dung, in trong sách Trịnh Sâm cuộc đời và sự nghiệp. Nxb. VHTT, H. 2009, tr. 248- 253.[36] Dẫn theo Trịnh Quang Vũ: Trang phục triều Lê – Trịnh. Nxb. Từ điển Bách khoa, H. 2008. tr. 10. 
 
*Bài đã đăng trên tạp chí Văn hóa Dân gian.


Hàn Mặc Tử – một định nghĩa bằng máu về thơ (Những bài học sáng tạo từ Hàn Mặc Tử) – PBVH

2 Th10

Hàn Mặc Tử – một định nghĩa bằng máu về thơ (Những bài học sáng tạo từ Hàn Mặc Tử)

Chu Văn Sơn

Sau biết bao chìm nổi thăng trầm suốt một trăm năm qua, di sản Hàn Mặc Tử ngày càng chứng tỏ một sức sống không thể vùi dập, một giá trị không thể quên lãng. Chúng ta đã có thừa căn cứ để khẳng định Hàn Mặc Tử là một thiên tài thi ca. Nhìn cuộc đời và thi nghiệp của thiên tài này từ cái nhìn hôm nay, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quí giá đối với việc sáng tạo.

Thơ là sự lên tiếng của thân phận

Hàn Mặc Tử là một cái định nghĩa sống về thơ, một cái định nghĩa muôn đời về thơ. Cho đến hôm nay, do ở ta hầu như mọi lĩnh vực từ chính trị kinh tế đến thể thao, văn hóa nghệ thuật đều thiếu tính chuyên nghiệp trầm trọng, nên khi nói về tình trạng của nền thơ nói chung hay về mỗi người làm thơ, ta vẫn đang nói tới chuyện nghiệp dư và chuyên nghiệp. Việc phân định ấy là cần thiết và có ý nghĩa, để nâng cao chất lượng của sáng tác thơ. Nhưng cứ còn luẩn quẩn với chuyên nghiệp hay nghiệp dư, là vẫn chưa thoát khỏi một ý thức thấp. Bởi, dầu sao, nó vẫn thuộc cái ý thức xem thơ như một thứ nghề. Nghĩ tới Hàn Mặc Tử, ta không khỏi thấy ngượng ngùng. Thơ, trước hết, không phải là chuyện chế câu tạo chữ. Trái lại thơ vốn là việc chưng cất sự sống người, chưng cất phần người trong mỗi con người ra mà luyện nên câu chữ. Với Hàn Mặc Tử, thơ không phải là nghề, thơ là nghiệp. Theo cả hai nghĩa: là nghiệp dĩ mà cũng là nghiệp chướng. Chia thi sĩ ra làm hai loại là người làm thơ và người bị thơ làm, tựa như kẻ bị ám, bị hành, Chế Lan Viên xếp Hàn Mặc Tử vào hạng thi sĩ bị thơ làm. Hơn cả chuyện nghề hay nghiệp, làm thơ hay thơ làm, là chuyện thân phận thơ. Với Hàn Mặc Tử, thơ là sự lên tiếng của thân phận. Thân phận nhà thơ là nguyên liệu của thơ, là trữ kim của thơ. Nhìn sâu vào số phận thơ này, còn có thể nói rằng, với Hàn Mặc Tử, thơ là mệnh. Thực vậy, thơ là bản mệnh, là sứ mệnh và cũng là mệnh giá của Hàn Mặc Tử. Ông cho rằng thượng đế tạo ra trong chúng sinh một loài riêng có thiên mệnh đặc biệt đó là loài thi sĩ. Và để có thơ, thượng đế bắt loài thi sĩ phải mua bằng giá máu[1]của chính nó. Không chỉ đến khi lâm trọng bệnh, Hàn mới xem thơ vừa là thiên ân lại cũng là thiên ách như thế. Mà ngay khi còn là một thần đồng thuộc phạm trù thơ cổ điển, Hàn Mặc Tử đã đặt toàn bộ nghĩa lí đời mình vào thơ, đã muốn trút hồn mình, rưới máu mình vào thơ. Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút / Mỗi lời thơ đều dính não cân ta. Càng về sau, ông càng ý thức thơ thuộc về tinh huyết. Thơ là tinh hoa của sự sống người, thơ cũng là sự cứu chuộc của phận người. Hiếm có thi sĩ nào xem thơ cao trọng như máu và linh thiêng như máu thế này: “Thơ trắng trong như một khối băng tâm / Luôn luôn reo trong hồn trong mạch máu”, “Ta khạc ra đây từng búng huyết”. “Ta khạc ra đây từng búng thơ”. Máu là sự sống người cũng là sự sống thơ. Trong thời trận mạc, máu đã chảy cho thơ và chảy trong thơ quá nhiều. Điều đó cũng dễ hiểu. Nhưng, đâu chỉ thời chiến mới cần đổi thơ bằng giá máu. Mà thời bình cũng vậy thôi. Người thơ cũng phải dám đánh đổi bằng thân phận mình thì mới mong có thơ đích thực, thơ hay được. Hàn là vậy. Tôi cho rằng, Hàn Mặc Tử là một câu định nghĩa bằng máu về thơ. “Máu đã khô rồi thơ cũng khô / Hồn ta chết yểu tự bao giờ / Từ nay trong gió trong mây gió / Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ”. “Thơ tôi bay suốt một đời khôn thấu / Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu / Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang”. Một ý thức thơ như thế khiến cho những tranh biện về chuyên nghiệp hay nghiệp dư thành câu chuyện thỏn mỏn, đáng thương. Và một định nghĩa thơ bằng chính thân phận mình như thế chỉ có thể có ở một thiên tài.

Sống đến gần đứt cả sự sống

Nói đến Hàn Mặc Tử là nói đến “thi sĩ điên”. Cho đến tận hôm nay vẫn còn không ít người chưa thật rạch ròi về điên trong sáng tạo của Hàn Mặc Tử. Trong quan niệm của trường thơ Loạn, điên không có nghĩa là một trạng thái bệnh lí, mà là một trạng thái sáng tạo. Ấy là khi hưng phấn sáng tạo ở vào cực điểm. Hàn Mặc Tử gọi đó là sự xối trộn giữa chiêm bao và sự thực, trạng thái chập chờn bất định giữa ý thức, tiềm thức và vô thức. Cái trạng thái mà bất cứ người sáng tạo thứ thiệt nào cũng mong có, thèm có. Đây là lúc các hình sắc của tinh thần sinh nở ở mức phun trào. Mallarme gọi là thăng hoa. Hoàng Ngọc Hiến thì gọi là siêu thức. Trong trạng thái ấy, người làm thơ sáng tạo như lên đồng, nhập đồng, trút ra mọi bí mật của tâm linh: “Ấy là dấu hiệu mùa thơ đã chín. Gặt hái cho mau, kẻo ngọn thơ càng cao, người thơ càng điên dại”, “Nghĩa là tôi yếu đuối quá ! Tôi bị cám dỗ, tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi hết sức giữ bí mật. Và cũng có nghĩa là tôi mất trí tôi phát điên”. “Tôi điên tôi nói như người dại / Van lạy không gian xóa những ngày”. Khi ấy, Hàn sống với từng cơn thơ, khạc ra từng búng thơ. Người ta đến với trạng thái hưng phấn sáng tạo cực điểm bằng nhiều cách. Đôi khi dùng cả những cách nhân tạo, như bằng rượu, bằng nàng tiên nâu. Còn Hàn Mặc Tử đến với trạng thái siêu thức siêu thăng ấy bằng cách thức giời đày. Tức là bằng đau thương: “Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú. Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi”. Ta hay nói đến nỗi “đau đớn lòng” như là động lực cao cả của sáng tạo nghệ thuật. Nhưng, nỗi đau vốn có hai dạng: đau tự thân và đau nhập vai. Ở Hàn Mặc Tử là nỗi đau tự thân. Hàn không đau bởi ai, không đau giùm ai. Nhưng phận người có thể soi thấy mình trong nỗi đau của Hàn. Và, đau vốn có hai cấp: đau đớn thể xác và đau khổ tinh thần. Đương nhiên, ở Hàn, nỗi đau tinh thần mới là nguồn cơn. Nỗi đau của người mang trong mình một tình yêu quá mãnh liệt, nhưng lại vô vọng và tuyệt vọng. Thiết tha sống nhưng luôn phải đối mặt với việc chia lìa sự sống, nên tuyệt vọng là trạng thái thường trực trong tinh thần Hàn. Không ai yêu sống bằng một người sắp phải chia lìa cõi sống, sắp bị tước đoạt sự sống. Do đó, bản chất của đau thương ở Hàn Mặc Tử là một sự tuyệt vọng. “Sao thơ anh toàn nhuốm màu tuyệt vọng / Khóc không thôi nức nở cả ban đêm”. Song, tuyệt vọng có thể chấm dứt hi vọng, nhưng không chấm dứt tình yêu. Càng tuyệt vọng lại càng mãnh liệt và càng mãnh liệt lại càng tuyệt vọng. Và Hàn đã viện cả đau đớn trong thân xác làm ngôn ngữ để cất lên đau khổ của tinh thần. Đau thương trong thơ Hàn Mặc Tử, vì thế, là đau khổ tinh thần cùng đau đớn thân xác chuyển hóa lẫn nhau. Trời hỡi bao giờ tôi chết đi / Bao giờ tôi hết được yêu vì / Bao giờ mặt nhật tan thành máu / Và khối lòng tôi cứng tợ si / Tôi đang còn đây hay ở đâu / Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu / Sao bông phượng nở trong màu huyết / Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu”. Ông gọi trạng thái sống đó của mình là “sống đến gần đứt cả sự sống”. Nó là một bất hạnh đối với thân phận người, nhưng oái oăm thay, lại là một may mắn đối với thân phận thơ. Bởi thơ vọt trào từng cơn và từng búng từ hồn Hàn Mặc Tử chính  từ trạng thái như thế. Hàn không làm thơ mà sống thơ. Sống như Hàn là một trải nghiệm bất đắc dĩ, trải nghiệm đày đọa để có một thứ thơ của máu. Vì thế, mỗi lời thơ Hàn như một lời tuyệt mệnh, lời nguyện cuối về sự sống của mình và sự sống trên đời. Hàn đã chết cho và chết trong mỗi câu thơ đó. Vâng, không thể sống số phận của Hàn. Nhưng, trước Hàn, chúng ta không khỏi thấy cái sống của mình sao mà hời hợt. Vậy mà chúng ta đòi có thơ hay.

Đào sâu vào bản thể

Mỗi thời đại thơ ca được nhận diện trước hết bằng ý thức trữ tình của nó. Nếu thời Trung đại là ý thức trữ tình của cái tôi siêu cá thể, thì thời Thơ mới là cái tôi cá nhân cá thể. Đây là những tri thức không còn mới. Tuy nhiên, nhìn kĩ về diễn trình Thơ mới, có thể thấy trên hành trình đi vào ý thức cá nhân, dòng thơ này có hai chặng khá rõ rệt: chặng đầu nghiêng về cái tôi cá thể và chặng sau chớm đi vào cái tôi bản thể. Đây là hai tầm mức của ý thức cá nhân. Cái tôi cá thể thường đi tìm mình trong thế giới. Còn cái tôi bản thể thì đi tìm thế giới trong mình. Cái tôi cá thể nghiêng về đời sống cảm xúc, thường sống với mối băn khoăn hướng ngoại. Nó luôn soi vào cộng đồng để nhận diện mình. Nó vui buồn hay hờn dỗi, nó tự ti hay tự cao… nhất nhất đều tương thuộc bầy đàn. Nhập đàn thì yên tâm, còn lìa đàn thì mặc cảm. Mà lạc đàn, lạc điệu, lạc loài là mặc cảm phổ biến nhất. Còn cái tôi bản thể hướng nội nhiều hơn. Nó soi vào gương để nhận ra mặt mình, để truy tìm những bình diện sâu khuất trong mình. Cái nó bận tâm là mình mang những giá trị nào, bất kể giá trị ấy có hợp đàn, hợp thời hay không. Sự hiện diện hay không của những giá trị ấy mới quyết định đến những xung động tinh thần của nó. Trong Thơ mới, mạnh về cái tôi cá thể, phải kể Xuân Diệu (Ta là một là riêng là thứ nhất / Không có chi bè bạn nổi cùng ta, Tôi là con nai bị chiều đánh lưới / Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối…), Huy Cận (Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà, Nghe đi rời rạc trong hồn / Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi), Nguyễn Bính (Thân em chẳng khác con chim non / Bơ vơ trong xứ người xa lạ, Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn…), Vũ Hoàng Chương (Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỉ, Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa / Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh), còn Hàn Mặc Tử mạnh về cái tôi bản thể (Hồn là ai ? Là ai ? Tôi chẳng biết / Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm / Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực/ … Hồn là ai ? Là ai ! tôi không hay / Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay / Hồn mệt lả còn tôi thì chết giấc…). Đào sâu vào nỗi cô đơn bản thể là khát khao mà cũng là lưu đày của Hàn Mặc Tử khi mang thân phận thơ quá ư bất hạnh này. Nhưng, nghiệt thay, đó lại là phần trọng yếu làm nên cái mệnh giá của thơ Hàn.

Tiếc rằng, cuộc truy tìm bản thể của Thơ mới chưa được bao lăm đã phải dừng, bởi sự can thiệp của lịch sử. Sau năm 45, thơ Việt chính thống có một ngả rẽ khác. Tuy nhiên, cuộc truy tìm bản thể của Thơ mới cũng khó có thể đi thật xa. Bởi, về phương thức, cái tôi Thơ mới căn bản là cái tôi cảm xúc với ngôn ngữ tình cảm. Để có thể đi sâu vào những miền khuất lấp của bản thể cá nhân, thơ không thể thiếu một điều kiện : sự xuất hiện cái tôi tư duy với ngôn ngữ triết luận. Trong dòng ngầm, điều kiện này đã đến sớm và thơ đã thầm đi theo lối của mình sớm hơn. Còn ở thơ dòng chính, đến cuối giai đoạn chống Mỹ, và nhất là sang thời đổi mới, cuộc truy tìm bản thể lại mới được tiếp nối. Và nó đem đến một tinh thần khác hẳn nhờ được tiếp lửa bởi một cái tôi tư duy riết róng với một ngôn ngữ triết luận sắc sói. Truy tìm sâu mãi vào những miền khuất trong cõi tinh thần với trạng thái nhòe mờ của vô thức, trạng thái bấn loạn của tâm linh, trạng thái thăng hoa của bản năng, trạng thái xung động của cái phi lí, siêu lí thuộc bản thể người… có thể nói đó là phần rất trội của thơ hôm nay.

Tôn giáo và thi ca

Một quãng thời gian dài, tôn giáo thưa thớt và gián đoạn trong thơ Việt. Từ sau 1975, tinh thần tôn giáo lại tái xuất với những màu sắc mới. Nay nhìn lại hiện tượng Hàn Mặc Tử, ta sẽ có thêm nhận thức về tôn giáo trong thơ.

Tôn giáo trong thơ Hàn là điều không còn phải bàn cãi. Nhưng nhận diện về nó thì thật phân hóa. Đến nay vẫn có rất nhiều người bám vào lai lịch một con chiên của Hàn và lớp nội dung bề nổi mà mặc nhiên coi thơ ông chỉ thuần túy thuộc về đức tin Thiên chúa giáo, chỉ như tiếng vọng của thánh tự. Sự đinh ninh như thế e rằng không chỉ làm nghèo, mà còn làm sai biệt Hàn. Bởi sự thực không đơn giản thế. Dù yếu tố Ki tô giáo đậm đặc hơn cả, nhưng nó không phải là duy nhất, càng không phải độc tôn. Yếu tố Phật giáo và cả Đạo giáo nữa trong thơ Hàn cũng đâu có ít. Rồi người ta đã quy tôn giáo đó thuộc về các phạm trù khác nhau : đề tài, cảm hứng, tư duy… Sự thực có phải vậy không ? Trước hết, phải khẳng định điều này: nếu Hàn Mặc Tử không xuất thân là con chiên Thiên chúa giáo, thì thơ Hàn vẫn cứ đi đến tôn giáo. Quan niệm của Hàn đã tỏ rõ như thế. Ông phát biểu nhiều lần, vì thế ta cũng dễ bị nhiễu, nếu không nắm được những quan niệm cốt lõi. Trong lời tựa cho tập Tinh huyết của Bích Khê, sau khi xem xét và thấy các bước thơ của chàng thi sĩ vốn không phải là tín đồ của tôn giáo nào, mà lại cứ men dần đến chốn huyền diệu, Hàn Mặc Tử đã viết: “cho nên thơ chàng sắp bay sang thế giới huyền bí để đi đến chỗ tuyệt đích là: Tôn giáo”. Ngay đó, chính ông đã chú rằng “xin hiểu chữ ấy (Tôn giáo – CVS) với tất cả tinh thần của nó[2]. Có thể rút ra hai điều. Một, với Hàn Mặc Tử, tôn giáo là cái chặng, cái đích cao siêu mà đã là một thi sĩ chân chính trên bước đường tìm tòi nghệ thuật của mình thì tất phải chạm tới, bước tới, vì nó là chốn tuyệt đích của thơ. Và hai, cũng là điều quan trọng hơn, Hàn có quan điểm mở về tôn giáo. Tôn giáo Hàn nói tới là một hình thái tinh thần nói chung, chứ không phải tôn giáo là một thiết chế cụ thể hạn hẹp nào. Nó không phải tôn giáo của tín đồ mà là tôn giáo của nghệ sĩ.

Cần khẳng định tiếp : Hàn không phải một giáo sĩ dùng thơ tuyên truyền cho tôn giáo mình. Hàn là một thi sĩ. Ý thức tôn giáo kia đã hóa thân vào ý thức nghệ thuật. Nếu ý thức nghệ thuật được đặc trưng bằng niềm say mê cái đẹp, thì ý thức tôn giáo được đặc trưng bằng niềm ngưỡng vọng cái thiêng. Khi cái đẹp được linh thiêng hóa, kì bí hóa và được gán cho những quyền năng huyền nhiệm, thì cái đẹp trở thành cái thiêng. Vì thế, ngay cả khi Hàn không trực tiếp viết về đề tài tôn giáo, không viết bằng cảm hứng tôn giáo, không viết bởi kiểu tư duy đa thần, nhất thần hay phiếm thần, thì thơ Hàn vẫn thấm phong vị tôn giáo. Ví như, bài thơ văn xuôi vẫn được xem là kiệt tác Chơi giữa mùa trăng, Hàn viết về chị Lễ, chị gái của mình chứ đâu phải về một nhân vật tôn giáo nào. Nhưng cảm quan thơ của Hàn vẫn thấm đẫm chất tôn giáo, khi thi sĩ cảm nhận vẻ đẹp trần thế của chị như vẻ thánh thiêng: “Ánh sáng tràn trề, ánh sáng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu… Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là bức tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quì lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi”. Người chị hiện ra trong vẻ đẹp được linh thiêng hóa. Cái đẹp và cái thiêng đồng thể với nhau. Và đó là bản chất của cảm quan tôn giáo ở hồn thơ Tử. Các ngôn liệu, thi liệu nhập từ Thiên chúa giáo : Chúa trời, Thượng đế, A ve Maria, đấng trinh tuyền thánh vẹn, Phật giáo : Mới lớn lên trăng đã thẹn thò / Thơm như tình ái của ni cô , Đạo giáo : Quần tiên hội, Như song lộc triều nguyên ơn phước cả… đều được dùng như những chất liệu để giúp chàng thi sĩ này thiêng hóa cái đẹp. Điều này là một chỉ dấu để ta nhận diện tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên, cảm quan tôn giáo của Hàn Mặc Tử càng về sau càng gắn liền với nhu cầu giải thoát cho thân phận của chính mình bằng đức tin gửi vào một quyền năng huyền nhiệm. Đặc biệt, khi kề cận cái chết, Hàn đã tìm tới mẫu hình giải thoát được nạp vào tâm linh từ thơ bé là thiên ân và thiên đường của Thiên chúa giáo. Ta hiểu vì sao khi ấy đức tin Ki tô giáo lại nổi lên da diết khắc khoải đến thế trong tinh thần của Hàn. Tóm lại, hành trình tôn giáo của Hàn là khá phức tạp: từ tôn giáo hẹp của một người theo đạo Thiên chúa đến với một ý thức tôn giáo phổ quát, cố gắng tích hợp chất liệu của nhiều tôn giáo khác nhau nhằm biểu hiện cái ý niệm về tôn giáo phổ quát đó, cuối đường lại chỉ một niềm mong ơn cứu rỗi của đức Ki tô. Tức là, từ tôn giáo của một tín đồ đến với tôn giáo của một thi sĩ, cuối cùng lại sống với tôn giáo của một con chiên. Song, để khép lại, cũng cần rành mạch điều này: ý niệm tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử nghiêng về nỗi khắc khoải giải thoát cho sinh mệnh cá thể hơn là niềm trăn trở về phục sinh cho tương lai của toàn thể. Đây cũng là điểm khác biệt giữa ý niệm tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử và thơ hôm nay.

Cách tân từ điệu sống                                         

Nhìn vào hành trình sáng tạo của Hàn Mặc Tử từ Lệ Thanh thi tập đến Gái quê, Đau Thương, Xuân Như ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm châu duyên (chưa kể hai kịch thơ Duyên kì ngộ, Quần tiên hội)… có thể thấy, đó là quá trình liên tục cách tân của một tiềm lực sáng tạo dồi dào sung mãn. Trên những bước lớn, Hàn Mặc Tử đã đi từ cổ điển đến lãng mạn, từ lãng mạn qua tượng trưng, rồi cập một chân vào bến bờ của siêu thực. Nhưng điều đáng nói đầu tiên trong hành trình thơ Hàn, không phải là sự cập nhật các “mốt” thơ, hay ý thức sành điệu về thời thượng của thơ. Nếu Hàn đi theo hướng ấy, chắc Hàn cũng sẽ chỉ có những tiếng thơ na ná những người quá vồ vập các mốt mới của thơ, các công nghệ mới của thơ mà ta đang thấy không ít hiện nay. Điều đáng nói là, Hàn Mặc Tử luôn sáng tạo trong tâm thế cao: vừa tiếp nhận vừa đối thoại với những bậc thầy sáng giá của thơ ca Pháp, nhất là Baudelaire. Chịu ảnh hưởng nhà thơ lớn này, nhưng Hàn không mê muội một chiều, mà đã tranh luận với không ít luận điểm của tác giả Hoa ác (Les Fleurs du Mal)[3]. Vì thế, Hàn mới là chính mình. Việc tiếp biến không phải là nô lệ, dù là nô lệ những khuôn vàng thước ngọc. Cố gắng đứng trên những tìm tòi đỉnh nhất đương thời để vận hành sự sáng tạo của mình, Hàn Mặc Tử đã ném tất cả những kiến văn có được vào những nghiệm sinh xương máu của mình để nó được luyện trong cái sống mãnh liệt của một hồn thơ sôi trào, cuối cùng Hàn đã có những cách tân chân chính.

Bởi cách tân thơ không phải chuyện xúng xính những bộ thời trang mới hay sắm sanh bộ đồ nghề mới. Trái lại, cái mới của thơ phải bắt đầu từ điệu hồn mới. Điệu hồn mới bắt đầu từ điệu sống mới. Điệu sống mới bắt đầu từ những trải nghiệm về giá trị sống mới, giá trị người mới. Mỗi nghệ sĩ chân chính xuất hiện bao giờ cũng là sự lên tiếng của một giá trị sống mới, mang cái thông điệp về một tầm mới của con người. Nếu thiếu điều này, thì mọi cái mới về hình thức chỉ còn trơ ra như những bộ đồ thời trang tân thời hay bộ đồ nghề tân kì không có sức sống và rồi sớm muộn cũng tan tiêu. Cái mới của Hàn Mặc Tử, trước hết là một điệu sống mới. Điệu sống của người phát hiện ra giá trị sống từ chính thân phận bất hạnh của mình. Cái giá trị của ngày hằng sống. Với người khác, sống để mà tận hưởng tối đa cuộc đời này là hạnh phúc. Với Hàn, chỉ cần được sống thôi, cũng đã hạnh phúc rồi. Trải nghiệm bất hạnh của kẻ bị tước đoạt mất cơ hội sống khiến Hàn thấm thía hơn ai hết cái hạnh phúc được sống giữa cõi này. Và Hàn đã giành giật sự sống với hư vô đến từng giờ, từng khắc. Sống như một dây đàn sắp sửa đứt phăng. Sống như một hồn đơn mong manh, một sinh linh thường xuyên quá tải. Người ta nói có hai tình huống cô đơn vào bậc nhất của phận người là : tự mình sáng tạo và tự mình đối mặt với cái chết. Hàn phải chịu cả hai. Nên đó là nỗi cô đơn nhân đôi. Cô đơn chập một. Người ta là mình trong cô đơn. Người ta sáng tạo trong cô đơn. Trong trạng thái sáng tạo ấy, ý tưởng cách tân đã nhập mình vào một ý thức mãnh liệt hơn : cần trút trọn vào ngôn ngữ những áp lực cùng cực của nội tâm. Và đó là quy trình của cách tân chân chính.

Hàn đã trút mình vào sáng tạo lớn nhất của đời mình là thơ Điên. Không thể định danh thơ Điên theo lối dựa vào các khuynh hướng thơ nhập nội từ phương Tây (Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực…) để phân xuất xem nó thuộc về dạng nào và để qui kết Hàn là học trò của đại sư nào. Thơ Điên Hàn Mặc Tử là một sự tích hợp của toàn bộ văn hóa thơ của Hàn cùng sự sống thơ và khát vọng thơ riêng của Hàn. Nó là đứa con độc đáo của cuộc hôn phối giữa cái ngoại nhập và cái nội sinh ở Hàn Mặc Tử. Có thể nói hình thái thơ Điên (chủ yếu trong tập Đau thương) là cách tân thơ đáng kể nhất, là đóng góp nghệ thuật quan trọng nhất của Hàn Mặc Tử. Mà đặc trưng của hình thái thơ này có thể thấy trên năm bình diện hợp thành một thể dạng trọn vẹn: 1) Cội nguồn cảm xúc của thơ Điên là đau thương (thực chất là một niềm yêu tuyệt vọng); 2) Chủ thể thơ Điên là cái tôi li hợp bất định (về hình thức, nó là cái tôi nguyên phiến tan thành muôn mảnh, cái tôi đơn ngã vỡ ra thành cái tôi đa ngã); 3) Kênh hình ảnh đặc thù của thơ Điên là hình ảnh kì dị, kinh dị; 4) Mạch liên kết trong thơ Điên là dòng tâm tư bất định (với những chập chờn giữa vô thức, tiềm thức và ý thức); 5) Lớp ngôn ngữ đặc thù của thơ Điên là lớp từ cực tả (có xu hướng biểu tả ở mức cực độ). Đến nay, đọc bất cứ tiếng thơ nào trong đó ta vẫn thấy gai người: “Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa / Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô / Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy / Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”. “Hồn là ai ? là ai ? Tôi không biết / Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi / Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười / Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng / Tôi chết giả và no nên vô hạn / Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng / Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng / Hồn đã cắn, đã cào, nhai ngấu nghiến”…

Hàn Mặc Tử được sinh ra cho thơ. Sinh thời, Hàn đã sống bằng thơ. Bây giờ và mai sau Hàn vẫn sống bằng thơ. Bởi vì Hàn đã chết cho mỗi lời thơ. Đó là bài học về thơ đắt giá và sáng giá nhất của muôn đời.

                                                                                                                                                                                                                                                 Nhân 100 năm sinh Hàn Mặc Tử                                                                               


 

[1] Các quan niệm và thơ của Hàn Mặc Tử được trích ở đây đều rút trong tập Thơ Hàn Mặc Tử – Do Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, Quy Nhơn, 1988 và Chơi giữa mùa trăng – Do An Tiêm xuất bản, Sài Gòn, 1969.

[2] Hàn Mặc Tử – Bích Khê thi sĩ thần linh, lời tựa Tinh huyết, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1995. Tr.23

[3] Ví như trong tiểu luận “Quan niệm thơ” gửi Trọng Miên, Hàn đã bày tỏ những ý kiến phản biện Baudelaire xung quanh quan điểm về tình cảm/nhiệt tình (enthousiasme) và dục tình/cảm hứng (passion) đối với thơ, cũng như về vấn đề thơ có dung hòa được với tôn giáo, luân lí và khoa học hay không.

Nguồn: Tham luận tại Hội thảo Kỉ niệm 100 năm sinh Hàn Mặc Tử tại Quy Nhơn ngày 21-9 -2012. Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn. Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Kinh tế Việt Nam, từ ‘cọp’ thành ‘mèo’ – NV

2 Th10

 

Kinh tế Việt Nam, từ ‘cọp’ thành ‘mèo’
 

<!–
Bookmark and Share

–>

 

 Phải thay đổi, nhưng khó thúc giới cầm quyền

HÀ NỘI (NV)Trong một bài phân tích dựa trên những thí dụ nổi bật chứng minh cho các chính sách sai lầm chỉ để làm đầy túi cho đám quan lại tham nhũng, tạp chí Newsweek số ra ngày 1 tháng 10, 2012 trình bày một số những lý do đã làm cho Việt Nam từ triển vọng thành cọp Á Châu lại biến thành một con mèo nhỏ đầy khuyết tật.

Vịnh Vân Phong thuộc tỉnh Khánh Hòa, một dự án cảng biển quốc tế với vốn đầu tư lên nhiều tỉ đô la nhưng thất bại của tổng công ty tàu biển Vinalines. Những chiếc trụ xi măng trơ trọi phơi sương phơi nắng trong nước biển là biểu tượng của chiến lược sai lầm của đám quan quyền tham nhũng “có dự án là có cơ hội chấm mút” bất kể hậu quả cho đất nước. (Hình: AP)

Theo bài viết này, “Ðể cứu một nền kinh tế có nhiều vấn đề, những người làm chính sách tại Việt Nam cần phải thực hiện các kế hoạch cải cách thật sự sâu rộng và đúng nghĩa.”

“Tuy nhiên, điều này có làm hay không hoàn toàn tùy thuộc vào cái đầu của những kẻ nắm giữ quyền lực, mà người ta tin họ không dễ dàng từ bỏ các đặc quyền đặc lợi.”

Bài phân tích mở đầu bằng cuộc thăm viếng Hà Nội hai năm trước của bà Christine Gregoire thống đốc tiểu bang Washington đứng mời khách hàng món khoai tây chiên tại tiệm thức ăn nhanh KFC ở Hà Nội.

Mục đích chính của bà không phải đi cổ võ khoai tây chiên mà đi cắt băng khánh thành cảng nước sâu Cái Mép-Thị Vải thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Cảng biển này, tốn phí xây dựng và chuẩn bị suốt 6 năm lên tới $160 triệu USD, liên doanh giữa công ty Carrix’s Marine Unit trụ sở ở Seattle và Cảng Sài Gòn, một đơn vị thành viên của Tổng Công Ty Vận Tải Biển Việt Nam (tức Vinalines).

Từ khi khánh thành đến nay, cảng Cái Mép chìm sâu vào thua lỗ.

Theo bài viết của báo Giao Thông Vận Tải ngày 1 tháng 10 năm 2012, “Hầu hết các cảng container khu vực Cái Mép-Thị Vải đều thua lỗ ít cũng 6-7 triệu USD, nhiều tới 20-30 triệu USD”. Một trong những lý do là thiếu trang bị hạ tầng bên cạnh những lý do khác.

Công ty mẹ Vinalines thì đầy vấn đề mà những kẻ cầm đầu đã bị bắt giữ gần đây với cáo buộc tham nhũng và “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng…”

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) giới đầu tư ngoại quốc đua nhau đổ tiền vào đây, tưởng nước này một sớm một chiều sẽ trở thành một thứ hổ con ở Á Châu.

Thống kê năm 2007 cho thấy tổng số đầu tư ngoại quốc đổ vào Việt Nam nhiều bằng tổng số đầu tư vào các nước Indonesia, Thái Lan, Phi Luật Tân và một số nước trong vùng. Nhưng chế độ Hà Nội không kịp tiêu hóa số lượng đầu tư quá lớn là một bài học mà giới kinh tế gia gọi là tính toán tài chính sai lạc.

“Việt Nam là trường hợp cổ điển về một nước nhỏ được thúc đẩy quá bạo”. Ruchir Sharma, phân tích gia về thị trường mới nổi của công ty Margan Stanley Investment Management ở New York, nhận định.

“Những kẻ cầm quyền hoặc chưa sẵn sàng hoặc không đủ khả năng tiếp nhận một lượng lớn tư bản ngoại quốc đổ tới trong thập niên qua.”

Tiền đầu tư đổ vào những dự án hạ tầng có vẻ hữu dụng như Cái Mép, các đường lộ và cầu từ Bắc chí Nam. Nhưng tiền cũng được đổ vào các dự án xây dựng cao ốc trong các thành phố. Nhiều đất nông nghiệp biến thành các khu công nghệ.

Tất cả các chương trình và công trình dồn dập, nay có rất nhiều tòa cao ốc bỏ hoang, các khu công nghệ chỉ có khoảng 810 ha là được sử dụng trên tổng số 3,645 ha “quy hoạch” xây dựng. Nông dân thì kiện cáo triền miên vì bị đẩy vào vòng đói khổ do đất đai sản xuất bị nhà nước tước đoạt rồi đền bù bằng những số tiền nhỏ. Họ ăn hết trong thời gian ngắn và không biết làm gì để sống.

Khi nền kinh tế thế giới chạy chậm lại, đầu tư ngoại quốc giảm dần từ năm 2008, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, thay thế tư bản ngoại quốc, bơm tiền thúc đẩy tăng trưởng.

Phần lớn những đồng tiền này chạy vào các tập đoàn và tổng công ty quốc doanh gồm khoảng 100 công ty mà số nợ hiện lên đến $50 tỉ USD, bằng một phần ba tổng sản lượng quốc gia (GDP).

 

* Thua lỗ triền miên, nợ khổng lồ

 

Một số đại gia quốc doanh này thua lỗ triền miên vì tham nhũng và vì đầu tư bừa bãi nhờ vào “tiền chùa” mượn nợ dễ dàng nhân danh nhà nước. Có dự án là có cơ hội chấm mút.

Việc bắt giữ Nguyễn Ðức Kiên, một trong những cổ đông lớn của một số ngân hàng thương mại, Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng ACB và thêm một số ông khác gồm cả cựu Bộ Trưởng Trần Xuân Giá mới đây chứng tỏ hệ thống tài chính ngân hàng ở Việt Nam nhiều lỗ hổng.

Một bản phúc trình của Ủy Ban Kinh Tế Quốc Hội CSVN hồi đầu tháng 9, 2012 ước lượng phải cần số tiền đến $12 tỉ USD để giải quyết cái núi nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại trong khi dự trữ ngoại hồi của Việt Nam chỉ có khoảng $14 tỉ USD. Ðây là điều Hà Nội không thể tự giải quyết được nếu không tìm nguồn tín dụng nào đó từ bên ngoài. Nếu cứ in bừa bãi tiền thì sẽ dẫn đến lạm phát cao. Chế độ Hà Nội đã phải đối phó với lạm phát một cách khó khăn và cũng không hoàn toàn thành công.

Một trong những cách giải quyết mà Hà Nội nhắm tới là cố lôi kéo đầu tư ngoại quốc quay trở lại. Tuy nhiên, người ta chẳng mấy hào hứng cắn mồi. Tập đoàn đóng tàu Vinashin vay $600 triệu USD rồi ỳ ra không trả nợ và nhà nước tránh né trách nhiệm hậu thuẫn là một trong những thí dụ điển hình để họ suy nghĩ cẩn thận.

Thêm nữa, luật lệ tròng tréo và mù mờ ở Việt Nam gây khó khăn cho giới đầu tư ngoại quốc không ít. Ðó là chưa kể tham nhũng vòi vĩnh hối lộ rất phổ biến.

Sự thiếu khả năng tự tài trợ để giải quyết khó khăn và giới đầu tư ngoại quốc tránh né làm cho Hà Nội có ít giải pháp đối phó. Trong đó, không loại trừ khả năng phải bơm tiền ứng cứu trước khi hệ thống tài chính sụp đổ.

Ở tình thế như vậy, Hoa Thịnh Ðốn có thể giúp Hà Nội dàn xếp một món vay từ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) nhưng nếu chuyện này xảy ra, bài phân tích của Newsweek cho rằng “có thể đặt nền móng cho các tàu hải quân Mỹ quay lại cảng Cam Ranh”.

Dù sao, khi có tin Hà Nội cần sự trợ giúp tài chính của IMF, Ngân Hàng Nhà Nước đã vội vã cải chính là họ không cần.

Nếu tiền đến từ nguồn nào đó bên ngoài, nó phải có những điều kiện. Cải cách sâu rộng và triệt để, gồm cả việc giải tán đám quốc doanh “lời giả lỗ thật” và phải áp dụng chặt chẽ luật lệ minh bạch là những đòi hỏi để có tín dụng.

Nhưng những kẻ cầm quyền ở Hà Nội có chịu cải cách thật sự hay không lại là chuyện không dễ xảy ra, một chuyện đã bị các định chế tài trợ quốc tế áp lực từ khi có chương trình “đổi mới” đến nay vẫn chỉ thấy những cải cách nửa vời.

Cải cách thật sự có thể dẫn đến mất quyền lực, mất cơ hội tham nhũng. Cũng vì vậy mà Việt Nam từ triển vọng trở thành cọp lại chỉ thành một thứ mèo con bệnh hoạn. (T.N.)

80 bản đồ chứng tỏ Trường Sa-Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc – VOA

2 Th10

80 bản đồ chứng tỏ Trường Sa-Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc

 

Ông Thắng Trần, Chủ tịch Viện văn hóa & giáo dục Việt Nam (IVCE) tại New York (Hoa Kỳ). Ảnh chụp ông Thắng với sách toàn đồ 1933 tại tiệm bán đồ cổ, New York

 
Một người Việt ở Mỹ sưu tập 80 bản đồ Tây phương và 3 sách toàn đồ Trung Hoa cho thấy Trường Sa-Hoàng Sa không thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Ông Thắng Trần, Chủ tịch Viện văn hóa & giáo dục Việt Nam (IVCE) tại New York (Hoa Kỳ) nói về bộ sưu tập của ông:

“80 bản đồ này có niên đại từ 1626 tới 1980 thể hiện rất rõ hai điều. Thứ nhất, miền Nam của Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam và không đi xuống xa hơn về phía Nam. Thứ hai, một số bản đồ Tây phương có chỉ đường hàng hải Bắc-Nam Châu Á, tất cả đường này đi ngang Hoàng Sa những năm 1800 và 1900 khi vùng biển và đảo ở Indochina do người Pháp quản lý. Sau hiệp định Geneva năm 1954, Pháp trao trả toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam thì tất nhiên Hoàng Sa-Trường Sa nằm trong khu vực trao trả lại cho Việt Nam.”

Ông Thắng cho biết các bản đồ này do ông đích thân tới những nơi bán đồ cổ hoặc lên mạng mua về.
​​
Ông Thắng Trần nói ông bắt đầu có ý định sưu tầm những chứng cứ lịch sử này kể từ nghe tin Tiến sĩ Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng tư liệu thư viện – Viện Hán Nôm, công bố tấm bản đồ Trung Quốc thực hiện dưới thời nhà Thanh xuất bản năm 1904 ghi rõ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, không bao gồm Hoàng Sa-Trường Sa.

Tấm bản đồ của Tiến sĩ Hồng đã được giao lại cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia bảo quản và trưng bày hồi cuối tháng 7 vừa qua.

Ông Thắng Trần đã quyết định gửi tặng toàn bộ 80 bản đồ ông sưu tập được cho Viện phát triển Xã Hội Ðà Nẵng.

Tiến Sĩ Trần Ðức Anh Sơn, Viện Phó Viện phát triển Xã Hội Ðà Nẵng, người đang phụ trách công tác nghiên cứu về Hoàng Sa – Trường Sa, phát biểu:

“Những phát hiện này của anh Trần Thắng rất quý bởi vì đã giúp cho những người nghiên cứu như chúng tôi có thêm cơ sở khoa học, chứng lý để có thể góp phần chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa-Trường Sa và bác bỏ những đòi hỏi vô lý của Trung Quốc về chủ quyền đối với hai quần đảo này.”

Toàn bộ hình ảnh về bộ sưu tập này được chủ nhân lưu lại tại trang web của Viện Văn hóa và Giáo dục Việt Nam ở địa chỉ ivce.org.

CHÙM THƠ: ĐỘC TÀI – NHÂN DÂN – SỰ THẬT – Thùy Linh

2 Th10

CHÙM THƠ: ĐỘC TÀI – NHÂN DÂN – SỰ THẬT

 
Tặng bạn bè chùm thơ của Võ Trung Hiếu – Một bạn thơ, một facebooker được nhiều người mến mộ nhân mùa trăng tròn 2012 với nhiều dự cảm khắc khoải…Con đường nào cho Việt Nam? Tương lai nào cho dân tộc? Hạnh phúc nào cho nhân dân?
 
ĐỘC TÀI
Đừng khen tao mày ạ
Tao sợ tệ sùng bái cá nhân và bệnh vĩ cuồng
 
 
 
Cứ để tao được sống bình thường
Cứ coi tao như bù nhìn hoặc rác …

Tao viết thơ giải khuây, không định làm điều gì to tát
Viết vì biết làm gì trong những lúc nhàn cư
Viết như đứa trẻ con đùa nghịch với ngôn từ
Không ảnh hưởng mấy đến hoà bình thế giới

Tao giải buồn thế đấy
Đá đít nỗi buồn bằng cách bấm iPhone
Nói những câu có khi thần tính nát thần hồn
Nhưng xuất phát điểm luôn là lòng trắc ẩn …

Cứ để tao ung dung thơ thẩn
Đừng lôi tao vào hội nhà văn nhà veo
Thời buổi nhiễu nhương, lành ít dữ nhiều
Tao không rảnh để mà leo cột mỡ …

Đừng tâng bốc, ca tụng tao này nọ
Sùng bái tao, rồi tao sẽ độc tài
Biết đâu tao sẽ trở thành những thứ quái thai
Kiểu như Gaddafi, Mao hay Kim Yong Ủn
Xây cho mình và cha mẹ mình những cái lăng vĩ cuồng to tướng
Dí súng và thuốc ngủ vào mồm nhân dân
Bắt những đứa trẻ lên ba phải tập đánh vần
“Lãnh tụ kính yêu đời đời vĩ đại …”
Tao sẽ trở nên tham tiền và hám gái
Sẽ bóp chết những con cừu dám đi lề trái
Sẽ dùng truyền thông để đổi trắng thay đen
Sẽ trừ khử đối phương bằng thủ đoạn đê hèn
Sẽ dùng quân đội và xe tăng mà đè bẹp sinh viên
Sẽ thắng cử mà không cần kiểm phiếu …

Nhân loại thật là khó hiểu
Những đứa trẻ sinh ra đâu định lớn thành Saddam, Hitler
Hầu hết những kẻ độc tài đều từng được tung hê
Như những anh hùng giải phóng
Từ ngai vàng ra ống cống
Đôi khi chặng đường không phải quá xa …

Tao lại sa vào mơ mộng và điêu toa
Muốn làm độc tài cũng cần có số
Nói tóm lại, đừng khen – tao rất sợ
Hãy để tao mụ mị giữa bình thường …

Gương kia ngự ở trên tường
Nước ta ai được bình thường bằng ta?
Gương cười, “Thôi đủ rồi cha…”

21.4.2012

SỰ THẬT
 


Sự thật bây giờ hiếm hơn đất hiếm
Muốn biết sự thật cần phải đi tìm
Vào thuở ít ai muốn nghe sự thật
Có khi còn hơn xuống bể mò kim

Sáng nay vừa xem thấy báo đưa tin
Câu chuyện éo le, bao người thờ thẫn
Sáng mai, “sự thật đằng sau tin này”
Hoá ra sự việc “chỉ là nhầm lẫn…”

Vô vàn những bức ảnh ở quanh ta
Bức nào nguyên bản, bức nào cắt ghép?
Vô vàn những phim, phóng sự điều tra
Cái nào không bị nhào nặn, phù phép?

Thông tin bây giờ khác gì ma trận
Lề trái – lề phải, ai mực – ai đèn?
Phe nọ phe kia, cuộc chiến quyền lực
Ai tà – ai chính, ai trắng – ai đen?

Những lời chém gió nghe mãi thành quen
“Xăng sẽ không tăng!”, “Nên mua chứng khoán!”
Có lẽ lời nói không mất tiền mua
Cho nên cứ lên tivi mà phán…

Nhìn quanh thế sự thấy sao mà ngán
Xí xập xí ngầu, thụt thò mua bán
Minh bạch chỉ là khái niệm vui đùa
Sự thật được rỉ tai nhau ngoài quán

Thời dùng ngoại giao thay cho súng đạn
Nguyên thủ gặp nhau tay bắt mặt mừng
Sự thật được giấu phía sau phòng họp?
Hay được gọt giũa cho vừa diễn văn?

Biết bao sự thật đành chịu phi tang
Nhường cho dối trá được làm vai chính
Nhân loại tiến hoá trong lớp sương mờ
Những chiếc bánh vẽ không hề ảo ảnh

Bao nhiêu cái chết, bao nhiêu số phận
Bao nhiêu cuộc chiến nhân danh hoà bình
Bao nhiêu những thứ “hồ sơ tuyệt mật”
Đã đưa thế giới này vào hôi tanh

Nhiều khi nghĩ mà rùng mình ớn lạnh
Khi sống mà không tin nổi điều gì
Khi sống mà nói điều thật cũng khó
Khi sống mà luôn cứ phải hoài nghi

Ngày xưa có nhà xuất bản Sự Thật
Cái tên nghe qua rõ quá là kêu
Bao nhiêu sự thật đã được xuất bản?
So với dối trá tôi nghĩ không nhiều …

Đêm nay lặng im giữa lòng thành phố
Tôi mở cửa xem đêm có còn trăng
May mắn dẫu sao vẫn còn rất thật
Là chiếc bánh trăng tròn lúc đêm rằm

22.9.2012

 
 
 
NHÂN DÂN
 

Nhân dân là ai oách nhỉ?
Mà còn có báo Nhân Dân?
Uỷ ban, công an, quân đội

“Nhân dân” luôn được có phần

Nhân dân không phải vĩ nhân
Là anh, là tôi, là bạn
Là những con người đơn giản
Mà ta thường gặp mỗi ngày

Nhân dân có dở có hay
Có kẻ này và người nọ
Nhưng nhân dân biết đồng lòng
Khi nước rơi vào gian khó

Nhân dân viết nên lịch sử
Bốn nghìn năm chống ngoại xâm
Nhân dân làm ra lúa gạo
Và sinh ra những đoàn quân

Nhân dân không phải thánh thần
Nhưng là linh hồn đất nước
Bao nhiêu nghệ thuật, tinh hoa
Nhờ nhân dân mà có được

Bao điều chướng tai gai mắt
Nhân dân không điếc, không mù
Họ biết cả và nhớ cả
Đừng nghĩ họ như bầy cừu

Bao cuộc cách mạng thành công
Là nhờ nhân dân tất cả
Không biết dựa vào nhân dân
Thì đứng kiểu nào cũng ngã

Nhân dân làm nên tất cả
Nâng thuyền rồi lại lật thuyền
Đập tan những điều giả trá
Mở đường đất nước tiến lên

Thế giới này chỉ kẻ điên
Thiển cận, vĩ cuồng, ngu xuẩn
Mới dùng nhà tù và súng
Để buộc nhân dân phục tùng

Nhân dân sinh những anh hùng
Xả thân mình cho đất nước
Bao lần gió bụi can qua
Nhân dân chưa từng khuất phục

Bắn nhân dân bằng súng lục
Rồi đại bác sẽ trả lời
Lịch sử nghìn năm đã rõ
Vấn đề là lúc nào thôi

29.9.2012

 
KHOE
 

Bạn lên FB khoe cái kính Dior
Ồ, đẹp nhỉ – Thời muốn gì cũng có…

 
Bạn lên blog khoe về những chuyến phượt ly kỳ
Châu Âu, Hoa Kỳ, Phù Tang, Mông Cổ
Nghe mà thèm xách vali chạy ù ra sân bay …

Tôi mắt mũi kèm nhem nên vớ phải báo sáng nay
Chả hiểu tỉnh say
Chả hiểu dở hay
Lại khoe toàn chuyện giá vàng – đô – điện – xăng – ga vượt quá tầm tay
Chuyện xe máy, ô-tô bỗng dưng cháy rụi giữa ban ngày
Chuyện nước lạ cho người sục sạo khắp nơi thu gom nông hải sản
Đến không ai biết – đi chẳng ai hay
Chuyện đàn ông Hàn Quốc tuyển vợ non nõn miền Tây
Và kính thưa biết bao những là cướp – giết – hiếp …

Thời buổi tự PR
Nhà giàu khoe biệt thự, xe hơi
Chính phủ khoe thành tích
Trên những forum bấy lâu tưởng chừng hàn lâm lịch thiệp
Kẻ cắp chữ nghĩa đạo mạo khoe thơ tâm linh
Bọn cơ hội xu thời nhanh nhẩu khoe ngay những bài moral ranh ma nghe qua tưởng thấu lý đạt tình
Lũ Chí Phèo tự PR bằng chửi thề, vỗ ngực và rạch mặt…

Thời buổi hội nhập WTO
Ai không biết khoe người ấy thiệt
Các em hot girl sau khi đi night club về bèn lên mạng khoe hình
Và không quên ca tụng sự nết na
Khoe có người muốn gặp chúng em uống cà phê cũng phải mất vài chục nghìn đô-la
Không có tiền cạp đất mà ăn à?
Tỷ phú Warrent Buffet hay Bill Gates bên Hoa Kỳ
Lỡ nghe được phải gọi các em bằng cụ …

 
 
 
Thời không có gì khoe nghĩa là đã cũ
Đất nước gồng lên khoe mình bằng đủ loại festival
Miếu mạo đền chùa rũ rêu phong nghìn xưa khoe sơn son thếp vàng
Vẻ đẹp bốn nghìn năm văn hiến Việt Nam
Khép nép PR gọi là “tiềm ẩn”
Bao nhiêu những tuồng rối hò chèo – danh lam thắng cảnh
Xếp hàng chờ hoá thân thành di sản Unesco

Siêu thị đèn sáng khoe ở thành phố
Nhà hàng đèn mờ khoe ở ngoại ô
Quan đầu tỉnh khệnh khạng khoe nhau bằng sân gôn và khu công nghiệp triệu đô
Phường khoe khu phố văn hoá
Xã khoe khóm ấp điển hình
Nhân dân bỗng được khoác lên người những biển hiệu văn minh
Vội vã và ngơ ngác …

Tôi nhìn những đám đông nháo nhác
Nhiều khi sân si cũng muốn tự khoe mình

Nhưng tôi là ai …
Chả có nhu cầu vỗ ngực xưng tên
Quá già cỗi để chụp hình tự sướng
Hay dị ứng với những điều sống sượng
Cũ kỹ, lạc thời, cả nghĩ, ẩm ương…

Tôi bèn đem khoe tôi cùng cỏ dại trong vườn
Cỏ nói gì xin chỉ mình tôi biết

8.9.2012

Cho dân biết, để việc của Đảng cũng là việc của dân – LĐ

2 Th10

Cho dân biết, để việc của Đảng cũng là việc của dânBí thư thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị: “Nếu một năm phiếu tín nhiệm quá thấp cũng bị thay, không chờ hết tuổi, hết nhiệm kỳ”.

Cho dân biết, để việc của Đảng cũng là việc của dân

“Nếu kết quả của các cuộc kiểm điểm ở bộ, ngành, địa phương, đơn vị còn chung chung, trùng lặp, không có địa chỉ cụ thể, con người cụ thể, trách nhiệm cụ thể thì khó thuyết phục được dân…”.
 
“Nếu kết quả của các cuộc kiểm điểm ở bộ, ngành, địa phương, đơn vị còn chung chung, trùng lặp, không có địa chỉ cụ thể, con người cụ thể, trách nhiệm cụ thể thì khó thuyết phục được dân rằng chúng ta đang chấn chỉnh thật sự, chấn chỉnh một cách nghiêm túc để xứng với sự kỳ vọng của dân” -Nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Phó Chủ nhiệm UBKT TƯ Vũ Quốc Hùng trao đổi với Lao Động sau một tuần sôi động với các cuộc kiểm điểm theo NQ TƯ 4 diễn ra rộng khắp trên toàn quốc.

Phát hiện tham nhũng là khó hay né tránh?

Nhận định “người dân tiếp tay cho tiêu cực, tham nhũng” trong báo cáo phòng, chống tham nhũng 2012 đã gặp phải phản ứng khá gay gắt của không  chỉ Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn mà còn của không ít người dân. Từng là thường trực Ban Chỉ đạo TƯ 6 lần 2,  ý kiến của ông về vấn đề này?

– Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của đồng chí Huỳnh Ngọc Sơn: Dân không bao giờ muốn bỏ tiền nhà đi đút lót, vì các cán bộ công chức đòi ăn nên dân mới phải đút. Và việc trách cứ dân là không đúng bản chất, bởi thực tế hầu hết các vụ tham nhũng là do dân phát hiện.

Nhận định sai dễ dẫn đến phương pháp sai. Bởi suy cho cùng, chống tham nhũng phải làm sao để có muốn người ta cũng không thể tham nhũng, chứ việc khuyên can, kêu gọi người dân là cần nhưng chưa đủ.

Ông Vũ Quốc Hùng.

Và chống tham nhũng, phải đồng nghĩa với việc xử lý nghiêm khắc, kiên quyết hành vi tham nhũng cũng như trách nhiệm của cơ quan chức năng và người đứng đầu những địa phương, đơn vị xảy ra tham nhũng. Trước đây, chúng ta nói đến “một bộ phận” và đến giờ Nghị quyết TƯ 4 đưa ra nhận định “một bộ phận không nhỏ” cán bộ đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí, vô nguyên tắc… Nhưng nếu chống tham nhũng theo kiểu phê phán bằng khẩu hiệu, hoặc đổ lỗi cho người dân, thì cuộc chiến chống tham nhũng không thể có được kết quả tốt đẹp.

Những thông tin chính thức từ các cuộc kiểm điểm theo tinh thần NQ TƯ 4 đến với người dân cho thấy dường như chưa có sự kiểm điểm sâu sắc, chí ít là việc để xảy ra tham nhũng trong phạm vi đơn vị, ngành, địa phương mình. Việc phát hiện ra tham nhũng, trách nhiệm với tham nhũng qua kiểm điểm là việc khó, hay đây là sự né tránh, thưa ông?

– Gần đây, tôi chú ý tới sự kiện Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Lê Thanh Cung kêu gọi DN phối hợp cùng chính quyền chống lại vấn đề tham nhũng. Đồng chí chủ tịch thừa nhận tình trạng  một số cán bộ công quyền nhũng nhiễu DN là có, và cam kết chính quyền sẽ tìm cách ngăn chặn. Đồng chí chủ tịch đề nghị khi gặp phải những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, DN hãy ghi âm lấy bằng chứng để cùng chính quyền xử lý nghiêm, nhằm làm trong sạch bộ máy công quyền. Theo tôi, đây cũng là một biểu hiện cụ thể của việc thực hiện Nghị quyết TƯ 4.

Bởi nếu nghị quyết TƯ đã thừa nhận tham nhũng là quốc nạn mà chính quyền các địa phương lại lơ là, né tránh, không dám nhìn vào sự thật, không dũng cảm công khai, ít nhất là nói về việc sẽ đấu tranh quyết liệt với tham nhũng thì làm sao có thể đẩy lùi được tham nhũng? Phòng, chống tham nhũng là một nội dung đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kết quả chống tham nhũng, lãng phí thì đã được nói rất rõ trong văn kiện Đại hội XI là “chưa đạt yêu cầu đề ra”.

Nếu không gắn việc chống tham nhũng, lãng phí vào đợt sinh hoạt chính trị này, nếu không chỉ rõ trách nhiệm của người đứng đầu trước tình trạng tham nhũng, lãng phí, thất thoát thì làm sao đợt sinh hoạt chính trị thuyết phục được người dân? Chống tham nhũng là việc không dễ, nhưng không nói tới trách nhiệm của người đứng đầu trong đơn vị để xảy ra tham nhũng, tôi cho đó chính là biểu hiện của bệnh hình thức, của việc né tránh.

Công khai để dân biết, dân tin, dân ủng hộ

Tại Hà Nội, sau hội nghị kiểm điểm, Bí thư Thành ủy HN đã có buổi gặp gỡ báo chí để cung cấp một số thông tin và nhấn mạnh đến việc bỏ phiếu tín nhiệm để loại bỏ những cán bộ yếu kém. Nhận xét của ông về cách làm của Hà Nội?

Đồng chí Bí thư Thành ủy khẳng định việc xử lý kỷ luật đối với những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ và đặc biệt là việc bỏ phiếu tín nhiệm với tuyên bố “Nếu hai năm liên tiếp không đạt yêu cầu phiếu tín nhiệm là thay thế; nếu một năm phiếu tín nhiệm quá thấp cũng bị thay, không chờ hết tuổi, hết nhiệm kỳ”. Theo tôi, đây là động thái cương quyết cần phải nhân rộng. Nhân dân thủ đô và cả nước đang chờ đợi những tuyên bố như thế được thực hiện trong cuộc sống, được biến thành hành động cụ thể để thủ đô xứng đáng là tấm gương của cả nước.

Việc kiểm điểm theo NQ TƯ 4 là vấn đề mà dư luận nhân dân rất quan tâm. Tuy nhiên, những thông tin công khai hiện khá chung chung, trùng lặp. Thưa ông, kiểm điểm có phải là chuyện nội bộ trong Đảng? và phải chăng việc kiểm điểm đang thiếu đi sự kiểm tra giám sát của người dân?

– Tôi cũng nhận thấy có sự trùng lặp, phần lớn thông tin công khai về các cuộc kiểm điểm thường là “chủ động, khách quan, đúng mức, thẳng thắn, chân thành, nhìn thẳng vào sự thật, tạo chuyển biến”…, trong khi kết quả kiểm điểm thế nào thì chỉ được nói hết sức vắn tắt và cũng hết sức chung chung. Tôi nghĩ đã đến thời điểm chúng ta cần thực sự dân chủ, công khai việc kiểm điểm trước dân.

Bởi nếu kết quả của các cuộc kiểm điểm ở bộ, ngành, địa phương, đơn vị nào cũng vẫn chỉ là những từ ngữ chung chung, trùng lặp, không có địa chỉ cụ thể, con người cụ thể, trách nhiệm cụ thể thì làm sao chứng minh được sự đúng đắn trong những nhận định của NQ TƯ 4, làm sao thuyết phục được nhân dân rằng chúng ta đang chấn chỉnh thật sự, chấn chỉnh một cách nghiêm túc để xứng với sự kỳ vọng của dân?

Tôi phải  khẳng định rằng, Điều lệ Đảng nêu rõ “Đảng tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Việc của Đảng không có gì là việc riêng. Và chính vì vậy, việc kiểm điểm càng phải công khai để cho dân biết. Dân có biết thì dân mới tin. Dân có tin thì dân mới ủng hộ. Và dân có ủng hộ thì việc gì cũng thành công.

Trong đợt sinh hoạt chính trị này, chúng ta đã tổ chức lấy ý kiến những đảng viên kỳ cựu, những cán bộ lão thành cách mạng. Điều đó là cần nhưng chưa đủ, bởi trí tuệ nhân dân cần phải được phát huy. Theo tôi, kết quả việc kiểm điểm cần công khai để nhân dân biết, dân giám sát, dân góp ý và tham gia đánh giá kết quả kiểm điểm của các cấp. Có như thế, việc của Đảng cũng mới là việc của dân.

Chỉnh đốn Đảng không đơn thuần là việc cấm càphê, cấm nhậu nhẹt

Ở Bình Thuận, ở Quảng Nam, sau các hội nghị kiểm điểm, có một số thông tin đưa ra báo chí về những quy phạm cấm cán bộ la cà quán càphê, cấm nhậu nhẹt vào giờ trưa…; tuy nhiên, đây có vẻ là vấn đề kỷ luật hành chính, trong khi nội dung của kiểm điểm theo NQ TƯ 4 không đơn giản chỉ là vậy, thưa ông?

Trong Chỉ thị 15 về việc thực hiện NQ TƯ 4 có đề cập cụ thể đến 3 nội dung kiểm điểm: Về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; việc thực hiện quy định về những điều đảng viên không được làm; trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và từng đảng viên, của người đứng đầu về tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái. Những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ. Và những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”… Trong 3 nội dung này, Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị nhấn mạnh nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, những thông tin công khai trên báo chí về kết quả kiểm điểm của rất nhiều bộ, ngành, địa phương thật ra ít nói đến sự suy thoái và việc kiểm điểm như một bản liệt kê thành tích, kèm theo vài dòng rút kinh nghiệm, cho nên người dân khó có thể biết nội dung được Bộ Chính trị xác định là “trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất” đã được kiểm điểm như thế nào. Theo tôi, đó mới là nội dung chính chứ không phải chuyện kỷ luật hành chính.

Việc cấm cán bộ đảng viên la cà quán càphê hay nhậu nhẹt cũng cần hoan nghênh, nhưng cốt lõi của việc kiểm điểm theo Nghị quyết TƯ 4 là những vấn đề cấp bách hơn nhiều, liên quan đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Và việc chấn chỉnh Đảng lại càng không đơn thuần là việc cấm càphê, cấm nhậu nhẹt.

– Xin trân trọng cảm ơn ông!

‘Người dân đang mất lòng tin trầm trọng’ – BBC

2 Th10

‘Người dân đang mất lòng tin trầm trọng’ 

Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khai mạc tại Hà Nội sáng 1/10 trong lúc dư luận quan tâm kết quả của cuộc chỉnh đốn trong Đảng.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Bấm vào đây để tải Flash Player mới nhất

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khai mạc tại Hà Nội sáng 1/10 trong lúc dư luận quan tâm kết quả của cuộc chỉnh đốn trong Đảng.

Phát biểu khai mạc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết một trong các nội dung sẽ được bàn là “Báo cáo kiểm điểm tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng Đảng”.

Ông Nguyễn Phú Trọng nói công tác xây dựng Đảng sẽ được Bộ Chính trị “báo cáo kết quả bước đầu để Trung ương cho ý kiến”.

Nói chuyện với BBC từ TP. HCM, giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, cho rằng người dân mong muốn được công khai thông tin về cuộc chỉnh Đảng rầm rộ mấy tháng qua.

Ông cho biết: “Về chính trị, thông tin trên mạng rất rối ren. Chưa bao giờ trên các mạng thông tin, người ta chửi nhau hăng hái như thế, réo tên các ông cao nhất, rằng phe này đánh phe kia, phe thân Tàu đánh phe tham nhũng. Không biết ai tham nhũng hơn ai, ai thân Tàu hơn ai, cũng chẳng rõ.”

“Vừa qua, những cấp cao nhất đã có tuyên bố quyết liệt về chỉnh Đảng, chống tham nhũng. Nhưng mấy ngày vừa rồi, theo báo chí phản ánh, mọi việc lại vui vẻ cả, kiểm điểm đều tốt đẹp. Trung ương không thấy vấn đề gì gay gắt, ở đây, TP. HCM, thì không có tham nhũng lớn… Tất cả những điều đó tạo nên nghi ngờ là người dân tin vào ai đây? Mất lòng tin đang diễn ra rất trầm trọng.”

“Nếu Hội nghị Trung ương không đưa ra được những giải pháp, cho thấy vừa qua, trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, tình hình như thế nào, chắc khó khôi phục lòng tin,” theo giáo sư Tương Lai.

 

Khi các nhà văn bốc thơm nhau – VHNA

2 Th10

Khi các nhà văn bốc thơm nhau

Nguyễn Thúy Ái

Với nhiều nhà văn thực sự, họ biết quý mến tài năng của đồng nghiệp, hơn thế nữa họ còn nâng niu, tìm cách góp ý hay chỉnh sửa những sai sót nếu có và muốn giới thiệu, phổ biến tác phẩm mà theo họ là có giá trị. Đó là chuyện xưa nay không hiếm trong làng văn, nhiều cặp đôi tri âm tri kỷ mà tình cảm họ dành cho nhau làm lay động bao thế hệ yêu văn chương sau này. Cũng nhờ những ngòi bút có tâm có tài đó mà nhiều tài năng được phát hiện và tỏa sáng trên văn đàn, với những tác phẩm hay, làm giàu sang cho đời sống văn hóa của xã hội. Cũng vì thế mà không hiếm những người cầm bút còn trẻ hay mới bước vào nghề, muốn cho ra mắt một tác phẩm thường tìm đến một nhà văn (hay nhà thơ, nhà lý luận phê bình) có uy tín để nhờ họ viết cho lời giới thiệu hay lời tựa, lời bạt, để in trong tác phẩm hay đưa lên báo … như một “con dấu vàng” đóng lên cho thêm phần danh giá, nhất là trong nền kinh tế thị trường thì những lời ca ngợi của các tác giả nổi tiếng sẽ là một show quảng cáo đáng giá giúp sách bán chạy.

Điều đó cũng không có gì xấu nếu giữa lời giới thiệu của một bậc “đàn anh, đàn chị” nào đó trong giới văn chương có chút tương đồng hay ít ra cũng được chín hay tám, bảy phân so với cái “mười phân vẹn mười” mà họ ngợi ca. Nhưng hỡi ơi, không hiếm những người đọc vì mê những lời bốc thơm ấy nên khi mua sách về đọc thì thất vọng đến nỗi như cứ từ trên chín tầng mây rơi xuống… Thì chắc cũng do cái tính cả nể của nhiều nhà văn đi trước hay nổi tiếng hơn, do nhẹ dạ hay trao đổi cái gì đó, hoặc thấy tác giả kia tội tội hay năn nỉ, ton hót, tự nhủ thôi khen cho nó sướng, sách nó bán được mà mình có mất gì thế là hào hiệp phóng bút với những mỹ từ, thậm xưng, ngoa ngôn… tuôn ra như thác lũ. Có một trường hợp cụ thể mới đây mà tôi biết, một nhà thơ – nhà văn nữ cao tuổi và cũng có tiếng tăm, có uy tín chưa bao giờ đánh giá cao, mà còn xem thường những sáng tác của một tác giả sồn sồn khác, dù vào nghề đã lâu, là Hội viên của nhiều Hội nhưng tác phẩm vẫn cứ tầm tầm, viết ngày càng tệ hơn và cũng chưa bao giờ sống được bằng ngòi bút. Thế mà mới đây, thật ngạc nhiên khi nhà văn cao tuổi này ca ngợi hết lời trong một bài giới thiệu về tác phẩm mới ra của nhà văn nữ sồn sồn nọ, khiến tôi đọc mà cứ muốn té ngữa, sao người ta nói (với tôi) một đàng mà làm một nẻo vậy trời? Đã không trung thực với chính mình, với bạn văn lại còn ngụy bạn đọc và nhất là tạo ra ảo tưởng cho người viết ấy rằng họ có tài. Mà ác thay, làm thơ viết văn là cái nghề dễ tạo ra nhiều hoang tưởng cho người hành nghề xưa nay.
Hiện nay, có những tác phẩm mới ra mà hai phần cánh gấp vào lẫn bìa sau của cuốn sách, in kín mít những lời khen của các tác giả khác nhỉnh hơn. Nhưng đọc sách xong, không hiếm người cứ ngẩn ngơ, không biết mình có mua nhầm sách không hay người ta giới thiệu nhầm! Vì giữa lời khen và độ hay của tác phẩm thật là một trời một vực. Đó còn chưa kể là có nhà văn còn viết bài tự bốc thơm tác phẩm của mình một cách mê say, “tự sướng” bằng cách so sánh mình với những tác phẩm, tác giả lừng danh khác trên thế giới rồi ký tên một nhà nghiên cứu, lý luận phê bình khác (tất nhiên là họ thân nhau). Tại sao lại có những “nhà phê bình” chịu tương tác với tác giả “mật thiết” đến như vậy cà? Có trời mà biết!
Nhưng được “bốc thơm” nhiều nhất chính là các tác giả vốn đang “thơm”, tức là đang ăn khách, cứ sách của các nhà văn này ra lò là nhiều nhà văn, nhà phê bình, nhà báo chực chờ xếp hàng để viết bài khen, dù thực tế có khi tác giả đó sức viết đã xuống, đỉnh cao của họ cũng đã qua rồi – điều này là bình thường- nhưng vẫn khen như khen “chiếc áo mới của hoàng đế”. Chắc họ tin rằng khen những nhà văn vốn nổi tiếng thì an toàn và nhất là mình cũng được thơm lây!
Nhưng cũng không hiếm khi “nội bộ xích mích” lắm nhà văn đã thẳng tay bôi đen tác giả mình từng ca ngợi. Nhưng bi hài nhất là có một nữ tác giả nọ cách đây vài năm đã gặp “tai nạn nghề nghiệp”, người ta mượn lời của những “nhà phê bình” là sinh viên, kỹ sư, cán bộ về hưu, luật sư, nhà báo … đánh chị tưng bừng trên mặt báo. Rồi một nhà văn nọ gọi điện đến an ủi, hứa hẹn viết bài “cứu giá”, nhưng tiếc thay nhà văn nữ nọ lại chậm hiểu, vô tư không biết cách “tạm ứng” điều mà nhà văn, nhà lý luận kia cần, thế là vốn không thiết thân cũng không thù không oán, ông ta viết bài đăng lên báo Văn Nghệ để “bồi” thêm cho nữ tác giả nọ thêm mấy đòn theo kiểu đánh hôi. Nhớ lại cái giọng tán tỉnh, đạo đức giả của nhà văn ấy nhà văn nữ nọ còn thấy rởn tóc gáy. Bây giờ bình tĩnh lại, gặp những kẻ đánh mình chị đều vui vẻ nói “Chào ân nhân!”.
Chỉ tiếc rằng có những tác phẩm có giá trị thực sự lại không được giới thiệu, được đánh giá đúng mức. Chắc tại tác giả ấy vẫn còn giữ niềm tin rằng “Hữu xạ tự nhiên hương” hoặc họ quá tự trọng, không muốn nhờ vả ai. Như cách đây ít lâu, tôi nhận được hai tác phẩm khá hay của hai đồng nghiệp, một tập lý luận phê bình của một nhà thơ nữ và tập truyện ngắn của một nhà văn lớn tuổi, viết cũng đã khá nhiều, thế mà rất ít thấy được báo chí “điểm sách”. Kể cũng thiệt cho những người cầm bút đứng đắn, tâm huyết như vậy. .. Và gần nhất, trong tháng 8- 2012 nổ ra một vụ bốc thơm “hoành tráng” xưa nay chưa từng có trong giới cầm bút ở VN, một sự lố bịch đã vượt khỏi mức khôi hài khi nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình chuyên nghiệp, có chức sắc trong làng văn lẫn những người ít học, ít đọc không biết chút gì về văn chương đồng loạt tụng ca những “thi phẩm” của một tay GS-TS, viện trưởng của một viện khoa học nọ “hay đến lạnh người”, là thơ thiền, thơ của “thần nhân mượn bút” … đến nỗi khiến tay “tác giả” đó đâm ra mắc bệnh hoang tưởng ở thể vĩ cuồng với biểu hiện là … gởi tác phẩm của mình đi dự giải Nobel! Cũng may nhiều người nhận ra sự bất thường của vụ này và đã khám phá ra đó là một vụ đạo văn vô cùng thô thiển, ấu trĩ … Trong chuyện sáng tác thì người ta có thể viết hay, viết dở nhưng đạo văn là điều tối kỵ, là hiểu biết sơ đẳng nhất mà một người cầm bút nào cũng phải biết.
Nhưng tại sao hiện nay người ta tha hồ bốc thơm nhau, kể cả những thứ vô giá trị như vậy? Phải chăng vì thiếu vắng những “viên hoa tiêu”, những “vị nhạc trưởng” trong văn học. Đó là những nhà lý luận phê bình có tâm huyết, có trình độ, có khả năng chuyên môn và có trách nhiệm? Xin thưa, không phải như vậy. Có nhiều nhà lý luận phê bình có trình độ cao, học vấn rộng, thông minh, nhạy bén có thừa nhưng hầu hết họ thường im lặng. Một số nhà phê bình thì “sống trong sợ hãi” nên chỉ muốn yên thân, một số nhà phê bình sắc sảo hay tiến sĩ văn chương thứ thiệt thì họ rất khảnh nên chỉ “phê”, hay điểm sách, giới thiệu và “bình” khi tác phẩm đó là của những người có đẳng cấp cao, có vị trí xã hội như chủ tịch, giám đốc, tiến sĩ, giáo sư, đại gia hay những nhà văn lớn thì họ mới “thêm hoa cho gấm” … Còn như tình hình hiện nay ai cũng có thể là nhà phê bình, tha hồ lên tiếng “bình loạn” khi có ai đó khích hay “đặt hàng”. Thậm chí còn có tình trạng “ăn theo”, khi tác phẩm nào đó bị xem là “có vấn đề”, “sai quan điểm” là họ hùa nhau đấu tố hoặc “ném đá” mà chưa hề đọc tác phẩm đó hoặc có đọc nhưng không hiểu. Cũng có khi chỉ vì ganh ghét cá nhân nếu tác giả nào đó được đồng nghiệp quý mến, ngưỡng mộ thì họ cũng tìm cách “ném đá giấu tay” xúi người khác “chụp mũ” và huy động lực lượng để “đánh hội đồng”, tạo nên những báo động giả để cơ quan quản lý văn hóa chú ý và họ có cơ hội được lập công.
Chỉ e rằng khi nào còn tình trạng “phê bình” bát nháo như hiện nay và nhất là những người cầm bút tìm cách “liên kết” để bốc thơm nhau để hai bên đều có lợi, thì lỗ to chỉ thuộc về bạn đọc và nền văn học nước nhà khi những tác phẩm viết bằng tâm huyết không được quảng bá còn nhà văn viết dở mà vẫn ảo tưởng rằng mình viết hay và tiếp tục viết, in… để rồi bạn đọc thất vọng tới một “tột đỉnh” nào đó họ sẽ quay lưng với văn chương Việt. Có thể nói, hiện tượng bốc thơm văn thơ của nhau một cách vô trách nhiệm của một số người cầm bút chính là “thảm họa” cho nền văn chương đương đại.
 

Nguồn:  viet-studies

Cái gốc văn hóa của đời người – TS

2 Th10

Cái gốc văn hóa của đời người

Tương Lai
Việc dạy học phải được đặt ra ở tầm tư duy chiến lược nhằm tạo ra “chất người và chất cá nhân” làm nên “cái gốc văn hóa của đời người”.
Câu chuyện sách giáo khoa Tiếng Việt lớp ba né tránh việc chỉ rõ tên kẻ thù đang gây nên sự phẫn nộ. Chuyện này có cái lý của nó khi mà từ ngàn xưa thái độ đối với giặc ngoại xâm đang là điểm quy chiếu chính tà mọi hành động của người Việt Nam xưa nay. Thế nhưng người viết sách giáo khoa Tiếng Việt lớp ba ấy cũng có cái lý khi nói về mục tiêu quy định nội dung biên soạn.

Thật ra, vấn đề không chỉ động chạm đến công việc quen thuộc của nhà giáo, nó đặt ra một tầm vóc lớn hơn nhiều. Nhân chuyện này xin bàn về một vấn đề chung, rộng hơn: vấn đề sách giáo khoa trong sự nghiệp trồng người. May mắn là trong tay tôi đang có cuốn sách “Vấn đề dạy văn” của nhà giáo Hồ Ngọc Đại với lời bạt của nhà văn Ma Văn Kháng. Vì vậy tốt nhất là lượm lặt trong món quà vừa được tặng này vài ý tâm đắc ngõ hầu góp đôi điều vào chuyện lớn đang đặt ra kia.

Nhà văn thì nhã nhặn lưu ý “Đại ơi! Quan tâm tới mức lo lắng đến việc dạy văn trong nhà trường là tâm trạng của xã hội ta trong những ngày này. Huống hồ là bọn tôi, một số những nhà văn có đoạn văn và bài văn hiện có mặt trong sách giáo khoa của học sinh từ bậc tiểu học đến trung học”. Ma Văn Kháng thổ lộ: “Ở đời muôn sự là chung, giữa anh và cánh nhà văn chúng tôi vẫn có một mẫu số chung đấy anh ạ. Thành ra, đọc sách này của anh, cảm tưởng đầu tiên là thấy như đang đọc một áng văn, một áng văn đầy cá tính”… Nhà giáo thì vẫn thế, ngang như cua, nói toẹt ra: “Văn chẳng là gì hết. Văn chỉ là văn thôi. Văn tức là cuộc sống nói một cách văn mà thôi!… “Theo cách ấy, tôi khoanh cái vùng “vấn đề dạy văn” ở chỗ nào có văn… Đối tượng nghệ thuật có cái lý của nó là những quan hệ người đời. Văn là “sự vật thể hóa” cái lý ấy theo kiểu văn ..”. Thế rồi anh ta hạ một câu có sức nặng ngàn cân của triết lý Hồ Ngọc Đại về chuyện dạy văn, học văn để từ đó mà quy định việc soạn sách giáo khoa: “Dạy văn là nhằm tạo cho trẻ em một nhu cầu nhân văn, một năng lực thuần túy người”! Đến đây thì quả là việc dạy văn và “chuyện sách giáo khoa” được đặt ra ở cái tầm của tư duy triết lý trong sự nghiêp trồng người.

“Thời tiểu học là thời hình thành nhân cách, với chất người và chất cá nhân, làm nên cái gốc văn hóa của đời người. Từ 0 đến 11-12 tuổi, em có chất văn hóa gì thì sau này văn hóa cá nhân em đặc trưng bởi tính chất ấy”. Quan điểm này Hồ Ngọc Đại trình bày trong “Giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam”. Cụ thể hơn, ở trang 15 của cuốn sách chỉ vỏn vẹn 35 trang kể cả mục lục, in khổ nhỏ, kiểu bỏ túi, mà lại chữ to để cho mắt kèm nhèm cũng đọc được mà tác giả tặng người viết này cách đây mấy tháng. Cầm cuốn sách trên tay mà nghĩ bụng “hắn chơi chua với đời đây, theo kiểu Voltaire: “Hai mươi tập sách khổ lớn không bao giờ làm nổi một cuộc cách mạng; chính những quyển sách nhỏ giá ba mươi xu mới thực sự đáng sợ” [Jamais vingt volumes in-folio ne feront de révolution ; ce sont les petits livres portatifs à trente sous qui sont à craindre].

“Chất người và chất cá nhân” làm nên “cái gốc văn hóa của đời người” gợi lại công trình nghiên cứu “Phạm trù Người” của anh, bản thảo đánh máy chưa in dày 300 trang Đại chuyển cho đọc cách nay đã hơn 20 năm. Từ ba trăm trang đánh máy ấy mà nội dung chắt lọc lại thành chỉ mấy câu này trong loại sách “ba xu” Voltaire nói là nó đây! Và chắc chắn không chỉ từ công trình đậm chất triêt học ấy, còn phải từ nhiều công trình nghiên cứu đã in và chưa đưa in khác, mới chưng cất được 35 dòng trong cuốn sách “bỏ túi” kia. Phải bằng những công trình như vậy của một người dành toàn bộ sự nghiệp và tâm huyết cả đời người cho chuyện “trồng người” mới chưng cất lên được mấy dòng chữ chắt lọc kia!

“Nghề chơi cũng lắm công phu” huống hồ nghề dạy học, nghề làm khoa học, mà xét đến cùng, cái cần hướng tới không thể là gì khác là con người, là chất người và chất cá nhân với cái gốc văn hóa của đời người! Cái gốc văn hóa của đời người này được Hồ Ngọc Đại trình bày trong “Vấn đề dạy văn” với nội dung rất súc tích cô đọng: “phải lấy sự sống thực, sự cảm nghiệm của chính mình làm nền tảng. Sự phong phú về tâm hồn, về văn chỉ là bông hoa của cây đời, mà lúc đầu chỉ là hạt giống được gieo trên mắt đất phù sa đầy nhựa sống của cuộc đời ” để từ đó mà đưa ra một kết luận chắc nịch: “Cuộc sống là nguồn gốc cuối cùng, là nơi xuất phát, nơi đi, nơi đến của quá trình hình thành tiếng nói và văn”.

Chính từ đó mà Ma Văn Kháng hạ một lời khen cũng kiệm lời kiệm chữ súc tích không kém “Cuốn sách của anh như một tảng đá bật ra từ cuộc sống… Cuốn sách có lối viết của một áng văn. Đó là một kết cấu đẹp với những câu văn và ý tưởng đẹp. Sức quyến rũ của nó với tôi là sức quyến rũ của cái đẹp!”. Rồi từ đó, nhà văn bạn tôi bộc bạch “với ai thì tôi không biết, nhưng với tôi thì nó đã giúp tôi thoát ra khỏi bao nhiêu là ràng buộc không nên có đấy giáo sư ạ. Ôi cái nghĩa đời, nghĩa văn giản đơn và sâu xa là vậy” của trái tim anh…”, và nhà văn bạn tôi đã “biểu lộ sự đồng tình, hơn nữa, niềm cảm hứng tràn trề của một tri kỷ trươc rất nhiều câu văn anh viết vừa phản ánh trình độ tư duy thấu đáo, kghoa học vừa mang hơi ấm nồng nàn của trái tim anh”.

Rõ ràng là cuốn sách bàn về chuyện dạy văn với cách đặt vấn đề của nó đã vượt xa khung khổ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đây là chuyện của cả xã hội. Vì rằng “cái lớn thì đủ sức bao dung cái nhỏ, mà cái nhỏ không đủ sức nâng đỡ cái lớn” như Nguyễn Văn Siêu, danh sĩ triều Nguyễn thế kỷ XVIII, đã chỉ ra. Vậy mà “cái lớn” thì lại đang còn quá nhiều vấn đề, ở đây xem ra “những chứng bệnh ngoài da” đã chuyển vào “bên trong nội tạng” như lời cảnh báo của M. Gorki ngay sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng. Người ta không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần”. Vì thế, văn hào Nga chỉ rõ: “Dân tộc này còn phải được trui rèn trong ngọn lửa cháy không bao giờ dứt của văn hóa”. Để rồi quyết liệt mà tuyên bố: “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi “Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”*

Ấy vậy mà, đâu chỉ có “Vấn đề dạy văn”! Gần đây, trên báo Tuổi Trẻ ra ngày 20.8.2012 người ta còn đòi hỏi “Phải “lột xác” môn sử” nữa cơ! Mà đây lại là lời của vị giáo sư đứng đầu ngành sử học Việt Nam. Những người nghiên cứu lịch sử, theo ông, “sẵn sàng cộng tác với Bộ GD-ĐT trong hành trình “lột xác” dạy và học môn lịch sử này”. Mà vì thế mà vị Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử khuyến cáo phải “rà soát lại toàn bộ chương trình, từ sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy đến công tác đào tạo giáo viên…”.

Nhưng nếu chỉ thế thôi thì e lại rơi vào tình thế của “cái nhỏ không đủ sức nâng đỡ cái lớn” mà danh sĩ triều Nguyễn đã chỉ ra. Để làm được tốt việc soạn sách giáo khoa môn sử, phải chăng cần rà soát lại chất lượng của các công trình nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là phải thẳng thắn nhìn lại tính trung thực lịch sử của các công trình nghiên cứu lịch sử đã được xuất bản. Để làm gì? Để các nhà sử học dám nhìn thẳng vào sự thật và nói lên sự thật về những sự kiện lịch sử đã được công bố với những lời phán xét của các nhà sử học đôi lúc chưa thật khách quan và trung thực, đặng nhặt ra những nhầm lẫn, xuyên tạc!

Vấn đề đặt ra chính là các nhà sử học phải đối diện với những đòi hỏi của lương tâm và trách nhiệm của chính mình, để “lột xác” những công trình nghiên cứu lịch sử, trả về cho chúng giá trị thật của chính nó!

Cần biết bao một cuốn sách “về vấn đề dạy sử” na ná như cuốn sách về “vấn đề dạy văn” của GS Hồ Ngọc Đại. Ở đó, vấn đề dạy văn, dạy sử phải được đặt ra ở tầm tư duy chiến lược nhằm tạo ra “chất người và chất cá nhân” làm nên “cái gốc văn hóa của đời người”.

* Maxim Gorky Những ý tưởng không hợp thời đăng trên nhật báo Novaja Žizn (Đời Mới) trong những năm 1917-1918. NXB Surkamp Taschenbuch của Đức ấn hành năm 1974

 

Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đoạt giải thưởng – TT

2 Th10

Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái đoạt giải thưởng

TT – Ngày 1-10, ban chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội do nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên – chủ tịch hội – chủ trì đã họp hội đồng xét giải thưởng văn học năm 2012 của hội. Theo đó, xét từ tám tác phẩm vào chung khảo, ở hạng mục văn xuôi, giải thưởng được trao cho SBC là săn bắt chuột (NXB Trẻ) của Hồ Anh Thái (8/9 phiếu).

Tập thơ Buổi câu hờ hững (NXB Văn Học) của Nguyễn Bình Phương đoạt giải ở hạng mục thơ (9/9). Tập tư liệu văn học Dĩ vãng phía trước (Phương Nam và NXB Hội Nhà Văn) của Ngô Thảo (9/9) đoạt giải ở hạng mục phê bình. Ở hạng mục dịch thuật, giải thưởng được trao cho bản dịch Lolita (Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn) – Dương Tường dịch từ tác phẩm của Nabokov (9/9). Riêng tập thơ Xem đêm (Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn) của nhà thơ Phùng Cung (1928-1997) đã được trao giải thành tựu về thơ (9/9).

Theo hội đồng xét giải, SBC là săn bắt chuột đã ghi nhận sự nỗ lực, tìm tòi, đổi mới cách viết liên tục của nhà văn Hồ Anh Thái. Một mặt nữa, Hồ Anh Thái đã tìm được một cấu trúc khác lạ cho cuốn tiểu thuyết và qua đó phản ánh được một cách hài hước, sâu cay hiện thực đời sống của Hà Nội.

Với bản dịch Lolita, hội đồng cho biết cũng đã cân nhắc về ý kiến của dư luận nhưng khẳng định đây là một bản dịch công phu, kỹ lưỡng, để đời của dịch giả lão thành Dương Tường. Còn Buổi câu hờ hững – tập thơ duy nhất vào chung khảo và đoạt giải – được đánh giá là một thành công của nhà thơ Nguyễn Bình Phương – một nhà thơ, nhà văn đã miệt mài, quyết liệt đổi mới trong cách viết. Riêng Xem đêm – giải thành tựu về thơ – là những bài thơ rất đặc sắc về mặt ngôn ngữ tiếng Việt, ngôn từ thi ca, gợi dậy được cảnh sắc, không khí làng quê xưa ở VN và mang nặng tâm tình, tâm sự của tác giả trước cái sống của mình.

Dịp này, Hội Nhà văn Hà Nội cũng đã xét kết nạp 26 hội viên mới, trong đó có những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Huệ Chi, Trương Ðăng Dung, Nguyễn Bình Phương, Ðỗ Bích Thúy, Chu Văn Sơn… Lễ trao giải và kết nạp sẽ được tổ chức ngày 10-10 tại Hà Nội.

VĂN VIỆT

Cay đắng xi măng: Tập đoàn đổ nợ cho Chính phủ

2 Th10

Cay đắng xi măng: Tập đoàn đổ nợ cho Chính phủ

– Trong số 5 DN thua lỗ gây nhức nhối trong ngành xi măng hiện nay đã có 4 là do các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đầu tư. Đó là: Xi măng Đồng Bành, Cẩm Phả, Thái Nguyên và Hạ Long.


Đầu tư kéo dài, sản xuất thua lỗ

Nhà máy Xi măng Đồng Bành (Lạng Sơn) do Tổng công ty Cơ khí Xây dựng (COMA), Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp (MIE) và Công ty Xi măng Lạng Sơn góp vốn đầu tư, trong đó cổ đông chi phối là COMA góp 88,23%.

Dự án có công suất 2.500 tấn clinker/ ngày, tương đương 910.000 tấn xi măng/năm với tổng mức đầu tư ban đầu là 1.298 tỷ đồng.

Theo kế hoạch, dự án khởi công vào tháng10/2006 và đi vào hoạt động cuối năm 2008, nhưng mãi đến tháng 9/2010, sản phẩm đầu tiên mới ra lò. Sau hai năm chậm trễ, tổng mức đầu tư cũng bị đôn lên rất nhiều. Tại thời điểm bắt đầu đi vào hoạt động, tháng 9/2010 đã là 1.505 tỷ đồng, tăng khoảng 16%.

Dự án này nhận được khá nhiều ưu ái từ các ngân hàng, với số vốn vay lớn. Cụ thể vay từ ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) 272,142 tỷ đồng; vay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 183,467 tỷ đồng, vay ngân hàng ANZ là 747,850 tỷ đồng; còn vốn tự có của chủ đầu tư 301,542 tỷ đồng tương đương với 20%. Trong đó, phần vốn vay từ ANZ được Chính phủ bảo lãnh.

Đến nay, nhà máy đã dừng hoạt động từ quý I/2012 với số lỗ gần 197 tỷ đồng. Trong khi đó, khoản vốn vay mà Xi măng Đồng Bành phải trả cả gốc lẫn lãi trong 5 năm tới là trên 600 tỷ đồng.

Thời gian vừa qua do thua lỗ Bộ Tài chính đã phải đứng ra trả 3,5 triệu USD cho ngân hàng ANZ thay cho Xi măng Đồng Bành. Với việc ngừng sản xuất thì các khoản nợ trong thời gian tới Xi măng Đồng Bành không biết lấy đâu để trả.

 

 
Nhà máy Xi măng Cẩm Phả (Quảng Ninh) do Tổng công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) làm chủ đầu tư. Dự án Xi măng Cẩm Phả có công suất thiết kế 2,3 triệu tấn/năm với tổng đầu tư khoảng 6.089 tỷ đồng.

Tuy vậy, sau 3 năm hoạt động Xi măng Cẩm Phả lỗ lũy kế lên đến 1.259 tỷ đồng. Năm 2011 Vinaconex đã phải trích lập dự phòng 586 tỷ đồng và năm 2012 dự kiến tiếp tục trích lập dự phòng đầu tư tài chính vào Xi măng Cẩm Phả khoảng 960 tỷ đồng.

Để giải tỏa nỗi ác mộng này, việc tính toán nhượng lại cổ phần của Xi măng Cẩm Phả đã được Vinaconex tính đến. Có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước muốn mua, tuy nhiên mức giá đưa ra rất rẻ chỉ dưới mệnh giá (10.000 đồng) cho mỗi cổ phiếu. Điều này đồng nghĩa với việc Vinaconex sẽ phải chịu một khoản lỗ lớn.

Nhà máy Xi măng Hạ Long (Quảng Ninh), được khởi công xây dựng từ 6/2006 do Tập đoàn Sông Đà làm chủ đầu tư. Dự án này có tổng mức đầu tư ban đầu khoảng 4.000 tỷ đồng, nhưng do thời gian thi công chậm 45 tháng, tổng mức đầu tư đã tăng thêm 2.776 tỷ đồng.

Đi vào sản xuất từ đầu năm 2010, nhưng do số vốn đi vay quá lớn (5.196 tỷ đồng), nên đến hết tháng 3/2012 của dự án lỗ 1.215 tỷ đồng. Trong khi đó, theo kế hoạch trả nợ năm 2012, Xi măng Hạ Long phải trả các khoản vay nước ngoài do Bộ Tài chính bảo lãnh, gồm khoảng 437 tỉ đồng cho Ngân hàng Natixis và hơn 28 tỉ đồng cho Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu.

Do làm ăn thua lỗ, nên Xi măng Hạ Long đã phải đi vay hoặc chiếm dụng các nguồn vốn khác để trả nợ các khoản vay trong và ngoài nước đến hạn trả nợ. Hết quý I/2012, Xi măng Hạ Long đã vay vốn để trả hơn 2.000 tỷ đồng. Hiện tại, Xi măng Hạ Long lại tiếp tục đối mặt với số nợ phải trả trong giai đoạn 2012-2015 là 1.200 tỷ đồng.

Nhà máy Xi măng Thái Nguyên (Thái Nguyên) do Tổng công ty cổ phần Xây dựng công nghiệp Việt Nam (Vinaincon) đầu tư với công suất 1,5 triệu tấn/năm, tổng vốn đầu tư 2.775 tỷ đồng, tương đương 185 triệu USD.

Dự án được Chính phủ cho phép thực hiện với nhiều cơ chế hỗ trợ như cho vay lãi suất ưu đãi, bảo lãnh vay vốn nước ngoài,

Sau hơn 1 năm hoạt động, Xi măng Thái Nguyên đã lỗ 77 tỷ đồng và chưa đạt 60% công suất. Với công suất này, giá thành sản xuất không thể chịu nổi được khấu hao và lãi vay. Theo tính toán, để đảm bảo hoạt động hiệu quả, có nguồn trả nợ, thì đầu ra ít nhất phải đạt 80% công suất.

Theo Bộ Tài chính, Xi măng Thái Nguyên hiện không có nguồn trả nợ. Vì vậy, tháng 7/2011, với tư cách là người bảo lãnh, Bộ Tài chính đã trả nợ vốn vay đầu tư đến hạn của Vinaincon tại Ngân hàng BNP Paribas, với số tiền 4,2 triệu euro.

Trước khó khăn sản xuất, không có nguồn trả nợ của Xi măng Thái Nguyên, Bộ Công thương đã phải đề xuất lên Chính phủ cho phép Bộ Tài chính tiếp tục ứng vốn từ Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài để trả thay cho Dự án khoản vay từ Ngân hàng BNP Paribas (Pháp). Đồng thời, xin khoanh nợ và hoãn trả nợ gốc giai đoạn 2012-2014, giai đoạn 2014-2021 trả nợ với lãi suất từ 5 đến 25%.

Ngoài ra, với việc trả nợ lãi vay, Dự án được khoanh nợ, dừng tính lãi phát sinh từ nay đến năm 2014 và được phép vay vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Bài học cay đắng

Tất cả các nhà máy trên đều nằm trong quy hoạch phát triển ngành xi măng, được hưởng nhiều ưu đãi… Tuy nhiên, kết quả đến nay là một khối thua lỗ và nợ nần.

Theo các chuyên gia từ Bộ Tài chính, tại các nhà máy này, việc huy động vốn vay quá lớn, trong khi vốn chủ sở hữu thiếu, đặc biệt, việc nhiều dự án không đảm bảo được tối thiểu 20% vốn chủ sở hữu như quy định là nguyên nhân lớn khiến các nhà máy xi măng rơi vào cảnh nợ nần chồng chất.

Ngoài ra, các dự án được phê duyệt không sát thực tế, đầu tư không đồng bộ, thời gian thực hiện kéo dài… là những nguyên nhân đẩy nợ lên cao và khó trả nợ sau khi dự án đi vào hoạt động.

Theo Bộ Xây dựng, những dự án này hoạt động kinh doanh không hiệu quả, khó khăn về tài chính kéo dài, không tự cân đối đủ dòng tiền trả nợ vay và duy trì sản xuất, có thể dẫn đến phá sản nếu không có phương án tái cấu trúc DN.

Nhìn nhận thực tế này, các chuyên gia cho rằng, đây lại thêm một bài học cay đắng nữa của phong trào đầu tư đa ngành của các DNNN. Việc các Tổng công ty, Tập đoàn Nhà nước đầu tư dàn trải vào các mảng không thuộc lĩnh vực kinh doanh chính đã dẫn đến mất cân đối nghiêm trọng về dòng tiền. Bởi nguồn vốn có hạn nhưng lại đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau khiến cho tỷ lệ vay nợ cao.

Bên cạnh đó là thiếu hụt nguồn nhân lực trầm trọng. Nguồn nhân sự cao cấp vốn đã ít ỏi lại bị dàn trải vào nhiều lĩnh vực, mỗi nhân sự quản lý đều nắm giữ nhiều vị trí tại nhiều công ty ở các lĩnh vực khác nhau. Các nhân sự quản lý không có đủ thời gian và kinh nghiệm cũng như chuyên môn để quản lý tốt công việc rất đa dạng.

Trong giai đoạn trước năm 2008, với sự bùng nổ của thị trường bất động sản, đã đưa thị trường xi măng phát triển sôi động chưa từng thấy. Vì vậy, với những điều kiện, như cầu lớn, đá vôi sẵn có, than thì mua không hạn chế, nên việc đầu tư xây dựng nhà máy xi măng đã tạo nên một hấp lực khó cưỡng.

Tuy nhiên, tư duy “thấy người ta ăn khoai, cũng vác mai đi đào” thêm một lần nữa lại chỉ rõ rằng hiệu quả chẳng thấy đâu mà kết cục là hàng chục ngàn tỷ đồng tung ra chỉ để rước về những món nợ lớn.

Trần Thủy
 

 

 

Trần Nhân Tông trên cương vị một nhà cầm quyền

2 Th10

Trần Nhân Tông trên cương vị một nhà cầm quyền 

Điều hòa được mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trên thực tế là khác biệt và vẫn trên đà nới rộng sự khác biệt, đó là một công việc không dễ dàng đối với người cầm quyền, nhất là ở vị trí quyền lực tối cao, ở vị trí quốc chủ.

Kỳ 1:Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất

Đối với đại đa số người Việt Nam qua các thời đại từ đầu thế kỷ XIV tới nay, Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là một cái “tên thiêng”, bao gồm nhiều kết tinh trên nhiều phương diện.

Bảo vể chủ quyền và thống nhất lãnh thổ

Trước hết, Trần Nhân Tông là mẫu người cầm quyền lý tưởng hãy còn là hiếm hoi trong lịch sử hiện thực.

Là con trưởng của vị vua thứ hai vương triều Trần (Thánh Tông), theo vương chế thời bấy giờ, Hoàng Thái Tử Trần Khâm mặc nhiên sẽ là người kế thừa vương vị.

Những tranh chấp về ngôi vị này trên thực tế từng diễn ra quyết liệt vào mấy thập kỷ đầu tiên của vương triều Trần. Như điều từng được biết tới một cách rộng rãi, người lập nên vương triều Trần đích thực lại không phải là người đảm trách lấy sứ mệnh của một Hoàng đế sáng nghiệp. Với hàng loạt những thủ đoạn, âm mưu và hành vi chính trị phức tạp nhưng đều mang tính hướng đích quyết liệt, Trần Thủ Độ dù sao cũng đáng được ghi nhận là một trong những nhà đảo chính cung đình hiếm hoi trong lịch sử đã hoàn tất đại sự của mình với ít biến cố gây đảo lộn xã hội nhất và ít đổ máu nhất. Đặt người cháu họ mới 8 tuổi lên ngai vàng, đương nhiên Trần Thủ Độ (1194 -1264) phải nắm lấy vị trí Thái sư phụ chính, thực hiện vai trò người cầm quyền tối cao trên thực tế. Sau trên dưới bốn chục năm giữ đại quyền, trong đó có tới hơn hai chục năm nhiếp chính, Trần Thủ Độ đã góp công cực lớn vào việc ổn định “trật tự nội bộ Hoàng gia”.

Những biến cố lộn xộn tai tiếng nhất liên quan tới việc tranh giành quyền lực tối cao cơ hồ đều liên quan tới An Sinh Vương Trần Liễu và về cơ bản cục diện đã ngã ngũ theo hướng ổn định sau khi ông này mất (1251). Tâm ý và lối hành xử của Trần Quốc Tuấn, người con trai lẫy lừng của người từng nhăm nhe ngôi báu ấy vào những năm tháng tiếp theo đã góp phần quyết định loại bỏ sự tranh chấp âm ỉ ngôi vua giữa các cá nhân và các chi trong nội bộ hoàng tộc.

Ngôi vua đến thời điểm Trần Khâm làm Hoàng thái tử không còn bị tranh giành, nhưng bản thân người được mặc định  nắm giữ ngôi vị đó thì lại từng có thời gian khá dài không muốn giữ nó.

Cả chính sử lẫn các thư tịch bổ sung khác (đặc biệt là Thánh đăng ngữ lục) đều thuật rằng ngài từng muốn nhường ngôi cho em trai là Đức Việp, chỉ đến lúc vua cha khóc mà yêu cầu thì ngài mới nguôi ý định ấy. Ngài cũng từng lặp lại hành vi của ông nội mình, tức Trần Thái Tông, nửa đêm bỏ Hoàng thành tìm lên Yên Tử, một địa chỉ tu hành Phật giáo nổi tiếng, nơi mà về sau, khi gắn với tên tuổi của Điều Ngự Giác Hoàng Trúc Lâm đệ nhất tổ thì trở thành thánh địa!

Miễn cưỡng nhận ngôi vị mà trong mắt hết thảy người đời là tột bậc cao sang, còn trong nhận thức của người am tường chính sự cũng như theo lý luận của các học thuyết – hệ tư tưởng lưu hành lúc bấy giờ (chủ yếu là theo lý luận Nho gia và Pháp gia) thì là vị trí đòi hỏi người đảm trách cực kỳ nhiều phẩm chất, Trần Nhân Tông đã hoàn thành sứ mệnh ấy theo cách không thể xuất sắc hơn.

Bổn phận đầu tiên của người làm vua là bảo vệ cho được sự toàn vẹn của quốc gia, cả về chủ quyền và lãnh thổ, bảo vệ che chở được cho mọi thành viên của cộng đồng. Đối kháng thành công với mọi thế lực ngoại xâm, người làm vua mới có thể bảo vệ lợi ích riêng của vương triều một cách hữu hiệu. Không thể có một lôgic nghịch đảo: khi chủ quyền quốc gia bị triệt bỏ, lãnh thổ quốc gia bị thôn tính, thần dân của một vương triều phải quàng thêm lên vai một ách nô lệ nữa, thì không bao giờ lợi ích của triều đại đang thống trị lại có thể còn “nguyên vẹn” hay về cơ bản vẫn được bảo toàn. Tuy nhiên, cái bài học vỡ lòng, sơ đẳng ấy về chính trị lại rất thường bị giới cầm quyền ở các chính thể yếu kém học mãi mà không thuộc!

Vào thế kỷ XIII – nửa đầu thế kỷ XIV, như mọi sử gia đều am tường, quân Mông Cổ là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới, đế chế Nguyên – Mông là đế chế rộng lớn nhất trong lịch sử nhân loại từ trước cho tới tận lúc bấy giờ, trải ra trên cả hai châu lục (Á – Âu). Vó ngựa xâm lăng của đội quân này còn sang đến tận châu Phi. Và như đã biết, chỉ ở nước Đại Việt, đội quân được coi là bách chiến bách thắng này mới phải gánh chịu thất bại. Không phải một lần, hai lần, mà là ba lần, cuộc chiến sau dữ dội hơn cuộc chiến trước, thất bại sau nặng nề hơn thất bại trước.

Trần Nhân Tông làm vua được 7 năm thì xảy ra cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai, được 10 năm thì phải tiến hành cuộc chiến thứ ba. Dù rằng trong cả hai cuộc kháng chiến này, cạnh vua còn có Thượng hoàng (Trần Thánh Tông mất năm 1290), nhưng cả về danh chính ngôn thuận cả trên thực tế phản ánh qua chính sử, Trần Nhân Tông thực sự là vị quốc chủ toàn quyền đưa ra những quyết định tối hậu. Chỉ cần nhìn vào cách xử lý mức khen thưởng đối với Đỗ Hành, người “chỉ được phong Quan nội hầu” trong khi về công trạng, đáng “được ban quốc tính” và chức vụ cao hơn, vì “khi bắt được Ô Mã Nhi không dâng lên Quan gia (tức vua) lại dâng lên Thượng hoàng” thì đủ rõ.

Ứng xử với nước lớn láng giềng

Như đã nói, thách thức mang tính sinh tử đối với bất cứ một nguyên thủ quốc gia nào ở mọi thời và mọi xứ sở là nạn ngoại xâm. Những quyết sách chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự và cả văn hóa nữa trong trường hợp đang diễn ra sự đối đầu thực sự giữa hai thế lực quyền lực bao giờ cũng đòi hỏi sự xác đáng và tinh tế cao độ.

Từ xa xưa trong lịch sử, người Việt đã phải chịu đựng trạng thái mất cân bằng truyền kiếp trong quan hệ với các thực thể quyền lực được tạo dựng nên trên lãnh thổ của quốc gia phương Bắc, không kể đó là thực thể quyền lực gốc Hán hay thực thể quyền lực có nguồn gốc ngoại lai. Vào thời chưa tồn tại cái gọi là công pháp quốc tế, quy luật cạnh tranh sinh tồn vẫn là quy luật chủ yếu chi phối mối quan hệ giữa các thực thể quyền lực, việc giữ gìn độc lập thực thụ cho quốc gia trở nên là tiêu chuẩn đầu tiên xác định tính “chân chính” của bất cứ một vương triều nào ở Việt Nam.

 

Ứng xử với láng giềng nước lớn của vua Trần Nhân Tông luôn toát lên khát vọng hòa bình

 

Tuy về mặt lý thuyết, Nho giáo có nêu lên làm chuẩn mực mối quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ là nước nhỏ phải biết kính sợ và tôn thờ, phục tùng nước lớn, còn nước lớn phải thương yêu, che chở nước nhỏ, nhưng phạm vi áp dụng thứ lý thuyết dường như ít nhiều “nhân bản” ấy chỉ giới hạn trong vùng văn hóa, khu vực địa chính trị Đông Á truyền thống, nơi chỉ có một nước tự nhận và trong ứng xử công khai cũng được các nước xung quanh coi là nước lớn, là triều đình duy nhất được mệnh danh là Thiên triều, cho nên lý thuyết ấy khi triển khai trong những mối quan hệ lịch sử hiện thực, thì hầu như bao giờ cũng mất gần hết ý nghĩa văn hóa chính trị, chỉ trơ lại cái lõi “tự nhiên” là “trì cường lăng nhược” (lấy mạnh hiếp yếu).

Đối phó có hiệu quả với thế lực ngoại xâm từ phương Bắc từ hàng ngàn năm trước đã luôn luôn là sứ mệnh khó khăn bậc nhất của giới lãnh đạo quốc gia. Do vậy mà với ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên – Mông, vương triều Trần trở nên là niềm tự hào của mọi người dân Đại Việt, đặc biệt hai vị vua cha – vua con (Trần Thánh Tông – Trần Nhân Tông) hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh là anh hùng dân tộc.

Nguyên thủ của quốc gia nào dĩ nhiên cũng phải hành động trước hết vì lợi ích của quốc gia ấy. Nhà cầm quyền thực tế ở bất cứ thời đại nào, xứ sở nào cũng không thể là các nhà đạo đức thuần khiết, nhà nhân đạo chủ nghĩa “toàn tòng”, tuân thủ nghiêm nhặt những chuẩn mực trừu tượng, lý tưởng nhưng cũng siêu hình, phi thực tế. Những chủ trương và hành động thực tế của Trần Nhân Tông với tư cách là bậc quốc chủ trong mối quan hệ với các láng giềng kể cả với nhà Tống, nhà Nguyên được khai triển với rất nhiều dạng thức phong phú, nhưng điều đặc biệt cần nhấn mạnh ở đây là tất cả đều toát lên khát vọng hòa bình, hay chí ít, trong những trường hợp bất khả kháng, là ít tốn xương máu nhất, ít tổn thất sinh mạng nhất, về cả mọi phía.

Cuộc hôn nhân chính trị mà ngài chủ động và kiên trì xúc tiến giữa công chúa Huyền Trân và vua Chiêm Thành Chế Mân dĩ nhiên có mục đích mở rộng cương vực của vương triều, nhưng nói theo ngôn ngữ ngày nay, là phát huy tối đa sức mạnh của “quyền lực mềm”, đưa lại lợi ích quốc gia theo một cách thức hòa bình nhất có thể.

Điều hòa các nhóm lợi ích

Sau ba lần chống ngoại xâm đối đầu với cùng một kẻ thù, và đó vẫn là một kẻ thù mạnh sau cả ba lần thua, giới cầm quyền ở Đại Việt mà đứng đầu là Trần Nhân Tông càng ngày càng ý thức sâu sắc hơn nhiệm vụ làm gia tăng sức mạnh quốc gia trong thời bình, vừa để mang lại hạnh phúc và sự thịnh vượng cho cộng đồng, vừa coi đó là biện pháp quốc phòng ít tốn kém nhất.

Làm thế nào để vẫn bảo đảm được lợi ích mang tính đặc quyền tối thiểu của Hoàng tộc và giới quý tộc, nhưng vẫn phải làm cho đông đảo cư dân – thần dân cảm nhận rằng mình đang được sống trong cảnh “thái bình thịnh trị”, nói cách khác, điều hòa được mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trên thực tế là khác biệt và vẫn trên đà nới rộng sự khác biệt, đó là một công việc không dễ dàng đối với người cầm quyền, nhất là ở vị trí quyền lực tối cao, ở vị trí quốc chủ.

Với gần ba thập kỷ làm vua rồi làm Thượng hoàng (kể cả lúc đã xuất gia thì vẫn không thôi là Thượng hoàng), nhìn lại tất cả những gì Trần Nhân Tông đã hiện thực hóa được trong cả hai ngả nội trị và ngoại giao, có thể khẳng định một lần nữa rằng Ngài là vị quốc chủ sáng giá, lỗi lạc nhất trong lịch sử quốc gia – dân tộc Việt. Theo cảm nhận của người viết bài, càng ngày càng đông đảo người Việt hoặc gốc Việt đồng tình với nhận định này.

Còn nữa

Trần Ngọc Vương

Thế giới 24h: Tàu Đài Loan ở Hoa Đông

2 Th10

Thế giới 24h: Tàu Đài Loan ở Hoa Đông

– Tàu tuần tra Đài Loan xuất hiện gần quần đảo tranh chấp với Nhật Bản; Syria cáo buộc Mỹ tuyên truyền bịa đặt về vũ khí hóa học của quốc gia Trung Đông này… là các tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản (JCG) cho biết, sáng 1/10, một tàu tuần tra Đài Loan đã xuất hiện tại vùng tiếp giáp lãnh hải mà Nhật quy định ở nhóm đảo tranh chấp Senkaku/ Điếu Ngư.

Chiếc tàu của chính quyền Đài Loan bị JCG phát hiện ở vùng biển cách đảo Uotsuri, đảo lớn nhất trong 5 đảo chính thuộc quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư, 40km về phía tây vào lúc 9 giờ 5 phút.

Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda. (Ảnh: THX)
Tàu tuần tra của JCG đã cảnh báo tàu Đài Loan không thâm nhập vào lãnh hải Nhật Bản. Đáp lại, tàu trên tuyên bố đang bảo vệ ngư dân Đài Loan trong “vùng đặc quyền kinh tế của Đài Loan”.

Cũng hôm qua, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản còn phát hiện được 4 tàu hải giám của Trung Quốc đại lục. Các tàu này đã tiến vào vùng biển trên vào lúc 12 giờ 30 phút và ở đó 40 phút.

Trong diễn biến khác, phát biểu chiều 1/10, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda tái khẳng định không có tranh chấp ở quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.

Theo ông, hai nước Nhật, Trung cần xử lý tranh chấp thông qua đối thoại. Đồng thời, ông khẳng định Nhật không định sử dụng Tòa án Công lý quốc tế, để giải quyết căng thẳng với Trung Quốc.

Tin vắn

– Sáng 1/10, giao tranh dữ dội xảy ra tại đồn quân sự ở Maiduguri, thủ phủ bang Borno, Đông Bắc Nigeria khiến nhà chức trách lo ngại gây thương vong lớn.

– Cũng sáng hôm qua, 6 chiếc máy bay vận tải quân sự lớp Osprey đã được triển khai tới căn cứ không quân của Mỹ đặt tại Okinawa, miền nam của Nhật Bản.

– Một vụ đánh bom liều chết nhằm vào đoàn tuần tra chung của NATO và Afghanistan đã xảy ra gần một khu chợ ở đông thành phố Khost làm 14 người chết.

– Ngoại trưởng Syria Walid Muallem tố cáo Mỹ muốn lật đổ chế độ Damascus bằng cách gây ra lo ngại về kho vũ khí hóa học của quốc gia Trung Đông này.

– Các số liệu chính thức công bố ngày 1/10 cho thấy, tháng 9 vừa qua là tháng đẫm máu nhất ở Iraq trong vòng 2 năm trở lại đây, với 365 người thiệt mạng.

– Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda đã chính thức công bố các thành viên trong nội các mới, sau khi chấp nhận đơn từ chức của hàng loạt các Bộ trưởng.

Tin ảnh

Một công nhân lau chùi tượng Mohandas Karamchand Gandhi, chuẩn bị cho lễ kỷ niệm ngày sinh (2/10) của vị anh hùng dân tộc của Ấn Độ. (Ảnh: THX)
Phát ngôn ấn tượng

Tổng thống Venezuela Hugo Chavez trong một cuộc phỏng vấn. (Ảnh: THX)
“Nếu tôi là người Mỹ, tôi sẽ bỏ phiếu cho ông Obama”, Tổng thống Venezuela Hugo Chavez phát biểu trong buổi phỏng vấn phát sóng trên truyền hình hôm 30/9.

Ngày này năm xưa

Người anh hùng dân tộc của Ấn Độ, ông Mohandas Karamchand Gandhi, sinh ngày 2/10/1869, tạ thế ngày 30/1/1948.

Thanh Vân (tổng hợp)

%d bloggers like this: