Lưu trữ | 9:29 Chiều

Bí ẩn về một ‘người Việt da đen” – TP

4 Th10

Bí ẩn về một ‘người Việt da đen”

Đọc tên bìa hồi ký “Một người Việt da đen”, nhiều người thấy lạ: người Việt sao lại đen? Bước qua sự ngỡ ngàng ban đầu ấy, cuốn hồi ký đã dẫn dắt người đọc tìm hiểu về cuộc đời của một người rất đặc biệt, một người Việt da đen đã chiến đấu, cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước.

Ông Lang Đen giới thiệu với Bác Hồ về quặng apatite lúc còn là giám đốc mỏ ở Lào Cai Ông Lang Đen giới thiệu với Bác Hồ về quặng apatite lúc còn là giám đốc mỏ ở Lào Cai.

Ba lần gặp Bác Hồ

Người Việt da đen” ấy không ai khác chính là ông Nguyễn Văn Lang, người từng là Cục trưởng Cục kiến thiết cơ bản Bộ điện và than, là chuyên viên cao cấp, trợ lý của Tổng cục trưởng Tổng cục hóa chất Việt Nam. Khi hồi ký “Một người Việt da đen” vừa được xuất bản thì ông Lang đã về cõi vĩnh hằng. Nhưng khi nhắc đến ông Lang hẳn nhiều người ở Đà Nẵng vẫn còn nhớ một người Việt da đen, tóc xoắn mang hai dòng máu Việt-Phi, làm giám đốc đầu tiên của mỏ apatite Lào Cai, vinh dự được 3 lần gặp Bác Hồ, ông cũng từng là danh thủ bóng đá xứ Trung Kỳ, rồi tham gia cách mạng cướp chính quyền tại Đà Nẵng năm 1945… Trong cuốn hồi ký, ông đã kể về sự xuất thân đặc biệt của mình: “Có một cô gái Huế hiền thục ở vào đầu thế kỷ XX, đã vượt qua sự trở ngại về ngôn ngữ, những điều tiếng thị phi về lấy chồng Tây để yêu một thủy thủ tàu viễn dương và sinh ra tôi – một đứa con lai”. Như phần lớn những cuốn hồi ký cách mạng khác, “Một người Việt da đen” chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử giá trị, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Nó không đơn giản chỉ là những hoài niệm về cuộc đời, về những lần cùng đội bóng “Sport Tuoranais” giữ chức vô địch toàn Đông Dương, hay đóng giả thành sĩ quan Pháp để nắm tình hình địch, rồi suýt chết vì du kích phe ta cứ đinh ninh ông là sĩ quan Pháp thật…, người đọc tìm thấy trong đó dũng khí bước qua mặc cảm hai từ “con lai” để đến với lý tưởng cách mạng, cống hiến cho đất nước của ông Nguyễn Văn Lang. Hãy nghe ông kể: “Khi được tuyên truyền Việt Minh bí mật, tôi nghĩ đây là tổ chức mình cần. Khi tôi hỏi: Những người Cộng sản có trong tổ chức này không? Các anh tuyên truyền Việt Minh trả lời: Lẽ đương nhiên rồi! Thế là tôi yên tâm, vì biết thế nào cũng có anh Từ, anh Trảng, anh Chấn và một số anh ở xóm tôi đều có trong tổ chức này”. Không phải ngẫu nhiên khi ông mượn câu thơ Tố Hữu “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ” để đặt tên cho đoạn đời đáng nhớ này của ông. Từ ấy ông đã đồng hành cùng dân tộc suốt cuộc trường chinh chống Pháp, tham gia nhiều trận đánh xuất quỷ nhập thần, lập được nhiều chiến công.

Ông Lang Đen gặp lại ông Phạm Văn Ba tại Đà Nẵng Ông Lang Đen gặp lại ông Phạm Văn Ba tại Đà Nẵng.

Danh thủ bóng đá Trung Kỳ

Với ông Nguyễn Văn Lang, Đà Nẵng và Lào Cai là quê hương của mình. Chính ở Đà Nẵng, ông đã trở thành một danh thủ bóng đá Trung Kỳ, và cũng chính từ thành phố bên bờ sông Hàn, ông giác ngộ cách mạng, gia nhập Việt Minh, vào Đảng Cộng sản Đông Dương và từng tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp ở mặt trận nóng bỏng này trên cương vị Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy – Thành đội trưởng. Còn Lào Cai là nơi ông hai lần được thi thố tài năng về quản lý kinh tế, vượt qua nhiều khó khăn để quản lý khai thác mỏ apatite Lào Cai làm giàu cho đất nước. Nói về Đà Nẵng, ông đã dành nhiều tình cảm cho vùng đất này. “Đà Nẵng trong ký ức tuổi thơ tôi gắn liền với hình ảnh trên bến dưới thuyền, tàu xe qua lại tấp nập; là ngôi nhà thờ Con Gà có 33 thước chiều cao; đây là hãng sửa chữa xe hơi, kia là ga chợ Hàn, một Cổ Viện Chàm cổ kính huyền bí; một Sở Lục lộ đậm chất phương Tây và một Tòa Đốc lý uy nghi, sang trọng… Trên các lối phố, ta có thể bắt gặp những công chức, tư chức, thợ thuyền, lao động phổ thông… đi lại khắp nơi. Phần nhiều trong số họ là những phụ nữ làm nghề khuân vác ở bến tàu, một anh công nhân của một hãng buôn với dáng vẻ mệt nhọc lầm lũi bước đi…” . Hoặc “Từ đầu thế kỷ XX, Pháp thành lập Câu lạc bộ thể thao Đà Nẵng chủ yếu dành cho người Pháp và kiều dân Châu Âu, còn con em người Việt thì không được bén mảng đến. Đà Nẵng lúc đó thịnh nhất môn đá bóng và đua xe đạp; quần vợt thì chỉ có một sân duy nhất dành cho các quan Tây cùng những người Việt giàu có và thế lực. Về bóng đá, dân nghèo người Việt thì đá tại bãi đất trống Cây Quăng, đội bóng đá Hỏa xa Đà Nẵng – Rail Sport thì có sân bóng riêng thuộc khu vực ga Đà Nẵng, đội bóng đá Đà Nẵng, tức Touranais Sport thì đá tại sân vận động lớn – tức sân vận động Chi Lăng hiện nay”. Người đọc sẽ tìm thấy nhiều thông tin thú vị về khung cảnh Đà Nẵng ngày xưa trong những miêu tả như thế của ông Nguyễn Văn Lang trong “Một người Việt da đen”.

“Một người Việt da đen” là biệt danh do chính ông tự đặt cho mình, điều đó khẳng định rằng dù mang hình hài khác, tóc xoắn, da đen, có một nửa dòng máu Phi trong huyết quản nhưng chưa lúc nào ông Lang nghĩ mình không phải là người Việt. Dù vậy, lúc nào ông cũng đau đáu một nỗi niềm riêng về người cha của mình. Ông trăn trở: “Cho đến nay, khi đã gần khuất núi, trong tôi vẫn đau đáu một niềm riêng là làm sao biết được thân phận, gốc gác, hình ảnh người cha thân yêu của mình. Tôi đã từng nhờ nhiều bạn bè lục tìm lại các tư liệu liên quan đến vụ hỏa hoạn của con tàu viễn dương tại cảng Marseille năm nào, những mong tìm được dấu tích của ba song mọi cố gắng hầu như vô vọng”. Và ông tự dặn lòng: “dù mang trong mình màu da đen song con luôn lòng dặn lòng rằng mình là người Việt Nam chính cống- một người Việt da đen!”.

Theo CAĐN

Độc và nổi như đại gia Trầm Bê – Vef.vn

4 Th10

Độc và nổi như đại gia Trầm Bê

Tác giả: Theo Nhịp cầu đầu tư
 
TIN LIÊN QUAN

Là một nhân vật vô cùng kỹ tính, hiếm khi phát biểu trước báo chí, ông Trầm Bê gây nhiều sự tò mò vì chỉ nghe tiếng mà không biết ông xuất phát từ đâu.

Cái tên Trầm Bê thực sự chỉ được nghe nhắc nhiều qua sự kiện nổi đình nổi đám trong năm 2011: các ngân hàng thâu tóm Sacombank. Ông Trầm Bê từng là Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Chế biến Thủy hải sản Sơn Sơn và hiện là thành viên Hội đồng Quản trị của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bình Chánh (BCCI), Chủ tịch Bệnh viện Triều An. Ngoài ra, ông còn cùng với 3 người con tham gia Hội đồng Quản trị của một số công ty như Ngân hàng Phương Nam, Công ty Vàng bạc Đá quý Phương Nam, Công ty Chứng khoán Phương Nam và gần đây nhất là Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank).

Không phải ngẫu nhiên ông Trầm Bê lại đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khác nhau mà đó đều là những bước đi đầy toan tính. Những bước đi này thể hiện sự am hiểu của ông đối với chu kỳ kinh tế và một tầm nhìn chiến lược đầy tham vọng nhằm tạo ra thế kiềng 3 chân vững mạnh: cơ sở hạ tầng, nông nghiệp và tài chính.

Bất động sản: Đón đầu trào lưu

Giống như cách làm giàu của bầu Đức – đi lên từ việc khai thác tài nguyên gỗ,Trầm Bê cũng bắt đầu sự nghiệp của mình như vậy với cương vị là Giám đốc Công ty Chế biến Lâm sản Đông Anh (1991- 1994) và sau đó là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của công ty này (1995-2001).

Sau 10 năm tích lũy tài chính cũng như kinh nghiệm từ sản xuất kinh doanh và chế biến lâm sản, ông đã nhảy vào thị trường bất động sản bằng việc đầu tư vào BCCI với vai trò là thành viên Hội đồng Quản trị (1999). Vào thời kỳ này, việc đầu tư bất động sản khá dễ dàng, quỹ đất còn nhiều cộng với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội đang ở mức cao. Nhờ đó, BCCI đã không ngừng ăn nên làm ra.

Ông Trầm Bê vừa nhậm chức Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Sacombank

Ngay cả giai đoạn khủng hoảng kinh tế vừa qua, trong khi nhiều công ty bất động sản rơi vào bế tắc, doanh nghiệp này đã có kết quả kinh doanh khá khả quan, với mức tăng trưởng doanh thu 66% và lợi nhuận 36% trong năm tài chính 2009-2010. Sau khi đầu tư vào BCCI, cơ sở hạ tầng là đích đến đầu tiên mà Trầm Bê nhắm tới với việc đầu tư xây dựng Bệnh viện Triều An. Bởi lẽ, việc xây dựng bệnh viện lúc này sẽ nhận được nhiều ưu đãi của Nhà nước và đặc biệt là thị trường này vẫn còn bỏ ngỏ.

Ra đời vào năm 2001 trong chủ trương xã hội hóa y tế, Triều An là bệnh viện tư nhân đa khoa chuyên sâu đầu tiên và cũng là lớn nhất Việt Nam. Ông Trầm Bê đã cùng với Tiến sĩ – Bác sĩ Nguyễn Hải Nam và ông Lâm Trung Lương (hiện là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Bệnh viện Triều An) góp vốn để xây dựng bệnh viện này.

Sau 6 năm đi vào hoạt động, Bệnh viện Triều An đã cấp cứu 12.000 trường hợp, khám bệnh cho 700.000 lượt người, điều trị nội trú cho 950.000 bệnh nhân, phẫu thuật cho 34.000 ca. Với số lượng bệnh nhân trong nước lớn như vậy, cộng với việc mỗi năm tiếp nhận các bệnh nhân từ nước ngoài, nguồn thu từ bệnh viện là rất lớn. Đây là điều kiện để ông Trầm Bê tiến thêm một bước sang lĩnh vực nông nghiệp.

Ngôi dinh thự ở huyện Trà Cú, Trà Vinh của ông Trầm Bê.

Nông nghiệp: Độc quyền 7 năm

Có lẽ Trầm Bê thực sự nhạy cảm với những thị trường còn bỏ ngỏ, nên hầu như ông luôn tạo ra được thế độc quyền ban đầu khi tham gia vào bất cứ ngành nghề nào. Công ty Chế biến Thủy hải sản Sơn Sơn do ông làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị (2002- 2004) đã chiếm lĩnh 100% thị trường chiếu xạ thanh long tại Việt Nam. Mãi cho đến năm 2009, thế độc quyền này mới mất đi khi có nhà máy chiếu xạ thanh long thứ hai do Công ty Cổ phần An Phú đầu tư.

“Chỉ có duy nhất một đơn vị thực hiện khâu chiếu xạ là Công ty Chế biến Thủy hải sản Sơn Sơn ở quận Bình Tân, TP.HCM. Vì thế, mặc dù giá chiếu xạ thanh long do công ty này đưa ra cao gấp 4 lần so với giá chiếu xạ thanh long tại Thái Lan, nhưng các doanh nghiệp cũng phải chấp nhận”. Đó là nhận xét của ông Nguyễn Thuận, Chủ nhiệm Hợp tác xã Thanh long Hàm Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thanh long Bình Thuận, về Công ty Sơn Sơn của Trầm Bê vào cuối năm 2008, khi công ty này vẫn còn độc quyền về chiếu xạ thanh long.

Cũng trong năm này, ông Trầm Bê đã phải lên tiếng giãi bày khi bị cho là kinh doanh độc quyền. “Tôi theo đuổi việc lắp ráp, nhập khẩu máy chiếu xạ này từ 6 năm trước. Trải qua biết bao nhiêu thủ tục phức tạp, bao nhiêu biến cố và chi phí thì không thể nào tính được, Công ty mới được cấp giấy phép chiếu xạ như hiện nay. Tôi khẳng định mình không độc quyền, vì quy định của Nhà nước không cho doanh nghiệp nào độc quyền. Bất cứ doanh nghiệp nào đủ điều kiện đều có thể đầu tư”, ông nói.

Sơn Sơn đã hưởng thế độc quyền trong thời gian dài 7 năm vì không một doanh nghiệp nào có đủ điều kiện về công nghệ cũng như tài chính để đầu tư nhà máy chiếu xạ, vốn rất tốn kém trong khi quy trình vô cùng phức tạp.

Năm 2002, ông Trầm Bê đã mua thiết bị chiếu xạ theo tiêu chuẩn Pasteur và dùng kỹ thuật chiếu xạ của Mỹ với giá tới 20 triệu USD. Trong khi đó, việc nhập khẩu rất khó khăn. Đã vậy, khi máy về tới Việt Nam, nhà sản xuất bị phá sản nên họ không chuyển giao kỹ thuật vận hành như đã ký trong hợp đồng. Ông đã buộc phải thuê 5 chuyên gia người Mỹ trong vài tháng với chi phí 150.000 USD/ tháng để lập chương trình vận hành, huấn luyện công nhân Việt Nam.

Những gian nan trên con đường đầu tư nhà máy chiếu xạ một mặt cho thấy quyết tâm đeo đuổi mục tiêu đến cùng của Trầm Bê, mặt khác cũng cho thấy được năng lực tài chính của ông nhờ vào quá trình tích lũy khi đầu tư vào bất động sản và bệnh viện.

Sau khi tạo được thế độc quyền, ông chỉ việc ngồi hưởng lợi. Sản lượng xuất khẩu thanh long tại Bình Thuận từ năm 2005-2009 trung bình trên 23.000 tấn mỗi năm. Đó là chưa kể thanh long từ các tỉnh khác cũng phải đến chiếu xạ tại công ty này.

Khi cơ sở hạ tầng và nông nghiệp đã đủ vững mạnh, ông lại đi tiếp những bước đầy toan tính để tạo thành thế 3 chân kiên cố. Để có thể an tâm bước tiếp, ông đã lần lượt đưa các con của mình là Trầm Trọng Ngân, Trầm Thuyết Kiều và Trầm Khải Hòa vào nắm giữ những vị trí quan trọng trong các công ty mà ông đã tham gia đầu tư. Chẳng hạn như ông đưa con trai trưởng Trầm Trọng Ngân lên giữ vị trí Tổng Giám đốc của Công ty Sơn Sơn. Việc giao trọng trách cho những người thân tín nhất đã giúp ông yên tâm bước vào phần quan trọng nhất trong cuộc chinh phạt – lĩnh vực tài chính.

Tài chính: Thôn tính “ông” dẫn đầu

Có lẽ như việc Trầm Bê đầu tư vào bất cứ ngành nào cũng đều theo chu kỳ phát triển của kinh tế. Thứ nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng trong những năm đầu phát triển kinh tế của Việt Nam, mà y tế là một phần không thể thiếu. Thứ hai là đầu tư vào nông nghiệp, ngành trọng điểm của Việt Nam. Và cuối cùng là ngân hàng, một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất và mang theo quyền lực của tài chính.

Trầm Bê đã tham gia đầu tư và trở thành thành viên Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Phương Nam vào năm 2004. Trong giai đoạn này, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những bước tăng trưởng vượt bậc và đạt đỉnh điểm vào năm 2007. Cụ thể, tăng trưởng huy động vốn đạt 36,5% và tăng trưởng dư nợ tín dụng đạt 34% so với năm 2006.

Chính sự phát triển mạnh của nền kinh tế đã đẩy cao nhu cầu vốn của doanh nghiệp và ngành ngân hàng cũng bước vào giai đoạn tăng trưởng nóng. Các ngân hàng đã có một năm kinh doanh thành công và tất nhiên không ngoại trừ Phương Nam. Ngân hàng này đã đạt doanh thu trên 1.000 tỉ đồng cùng lợi nhuận ròng gần 200 tỉ đồng trong năm 2007.

Từ vị trí là thành viên Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Phương Nam, Trầm Bêtiếp tục đưa con gái của mình là bà Trầm Thuyết Kiều vào giữ vị trí Phó Tổng Giám đốc. Đồng thời, ông gia tăng tỉ lệ sở hữu của mình và các con tại ngân hàng này lên mức 17,5% (tính đến tháng 9.2011). Trong đó, ông Trầm Bê nắm giữ 8,36%, bà Kiều 7,36% và ông Ngân 1,86%.

Sau khi hoạt động của ngân hàng mẹ đã đi vào ổn định, Ngân hàng Phương Nam đã cho ra đời 2 đứa con là Công ty Vàng bạc Đá quý Phương Nam (NJC) và Công ty Chứng khoán Phương Nam (PNS). Vẫn với cách làm tương tự, sau khi NJC được thành lập vào năm 2007, trên cương vị là Phó Chủ tịch, năm 2008 ôngTrầm Bê đưa bà Kiều (sở hữu 11% cổ phần NJC) lên nắm giữ chức Phó Giám đốc.

Đến năm 2011, sau 3 năm thành lập PNS, con trai út 24 tuổi Trầm Khải Hòa tiếp tục nhận chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị của công ty này. PNS được xếp vào hạng các công ty chứng khoán nhỏ, hoạt động kinh doanh theo trào lưu nhưng có chiến lược kinh doanh hợp lý, quản trị rủi ro khá tốt. Đặc biệt, trong năm nay, khi lần đầu tiên lọt vào top 10 thị phần môi giới tại sàn HoSE, PNS đã giữ ngay vị trí thứ tư ở quý II với thị phần 6,2%, vượt qua cả các ông lớn chứng khoán như Kim Eng Việt Nam, VNDirect, Chứng khoán FPT. Hiện nay, ông Ngân và ông Hòa đã nâng tỉ lệ sở hữu tại PNS lên 6,09%.

Mặc dù các công ty trong lĩnh vực tài chính có sự tham gia đầu tư của ông Trầm Bê đều đang hoạt động khá ổn định, nhưng tất cả đều không đứng trong nhóm dẫn đầu thị trường. Chẳng hạn, Ngân hàng Phương Nam chỉ được xếp vào nhóm 2 (nhóm ngân hàng được tăng trưởng tín dụng tối đa 15%/năm) cùng với các ngân hàng như Nam Á, Đại Á, Phương Đông trong đợt công bố gần đây nhất của Ngân hàng Nhà nước.

Còn NJC chỉ đạt lợi nhuận 21 tỉ đồng trong năm 2011, tăng trưởng âm 26% so với năm 2010. Nếu so mức lợi nhuận này với công ty dẫn đầu thị trường là Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) thì NJC còn kém đến 12 lần.

Trong khi đó, PNS là một công ty chứng khoán nhỏ, chỉ đặt mục tiêu thị phần môi giới trong năm 2012 đạt 0,7% toàn thị trường. Đây là một mục tiêu khiêm tốn so với đơn vị dẫn đầu thị trường trong năm 2011 là Công ty Chứng khoán Sài Gòn với 16,9%. Do đó, để đứng trong nhóm dẫn đầu thị trường tài chính, Trầm Bê đã nuôi tham vọng thâu tóm Sacombank để củng cố chân thứ ba thêm vững chắc.

Sacombank là ngân hàng thuộc nhóm 1 (được tăng trưởng tín dụng tối đa 17%). Trong báo cáo của Vietcombank về thị trường ngân hàng vào cuối năm 2010,Sacombank có vốn điều lệ lớn thứ 7 trên tổng số 101 ngân hàng trên cả nước và hệ thống mạng lưới giao dịch chỉ đứng sau 4 ngân hàng thương mại quốc doanh. Rõ ràng, nếu chờ Ngân hàng Phương Nam phát triển lên như Sacombank, có lẽ Trầm Bê phải mất ít nhất từ 10-15 năm. Do đó, động lực để thúc đẩy ông sở hữu cổ phần của ngân hàng này càng lớn.

Một thuận lợi là lượng cổ phiếu mà các nhân sự chủ chốt của Sacombank nắm giữ khá mỏng. Vì thế, việc muốn thay đổi cơ cấu cổ đông tại ngân hàng này cũng không phải là chuyện quá khó. Năm 2010, ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Sacombank, nắm giữ trên 4%; ông Đặng Hồng Anh, con trai của ông Thành, 3,5%; bà Huỳnh Quế Hà, Phó Chủ tịch Sacombank, 1,38%. Nghĩa là ông Trầm Bê hoàn toàn có thể tham gia Hội đồng Quản trị Sacombank nếu ông có khả năng mua gom cổ phiếu của ngân hàng này.

Và điều gì đến cũng phải đến, vào đầu tháng 2.2012 Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã có ủy quyền bằng văn bản đại diện cho nhóm cổ đông đa số (trên 51% cổ phần biểu quyết, bao gồm cả Trầm Bê), yêu cầu bầu lại toàn bộ ban lãnh đạo của Sacombank.

Gần như toàn bộ vị trí lãnh đạo chủ chốt của Sacombank đã thay đổi, trong đó có sự góp mặt của ông Trầm Bê, với chức vụ mới là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trịSacombank sau khi ông rời khỏi ghế Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Phương Nam. Và tất nhiên, vẫn với cách làm cũ, ông không quên trám vào chỗ trống đó là con trai mình, Trầm Trọng Ngân, lên giữ chức Phó Chủ tịch thường trực Ngân hàng Phương Nam. Thêm vào đó, Trầm Khải Hòa cũng là thành viên Hội đồng Quản trị của Sacombank bắt đầu từ tháng 5/2012.

Trầm Bê lại tiếp tục thành công với tầm nhìn sâu rộng và một tham vọng lớn. Ông đầu tư vào những lĩnh vực chủ chốt, nắm quyền sau đó giao quyền lực cho những người thân tín. Có lẽ Trầm Bê là một trong số ít doanh nhân chưa gặp phải những thất bại nặng nề trong suốt sự nghiệp của mình. Liệu những bước đi tiếp theo của ông là gì?

Tranh luận giữa 2 ứng cử viên tổng thống Mỹ – VOA

4 Th10

Tranh luận giữa 2 ứng cử viên tổng thống Mỹ

 

Tổng thống Obama (trái), ứng cử viên Đảng Dân Chủ và cựu Thống đốc bang Massachusetts Mitt Romney, ứng cử viên đảng Cộng hòa trong cuộc tranh luận lần thứ nhất, tại Đại học Denver

 
 

 
 Đây là cuộc tranh luận đầu tiên trong 3 cuộc tranh luận của cuộc bầu cử năm 2012 và trọng tâm cuộc tranh luận là kinh tế, chăm sóc y tế và vai trò của chính phủ Mỹ trong đời sống hàng ngày của người dân.

Tổng thống Obama nói nước Mỹ sẽ tiến trên con đường tốt đẹp nhất khi giới trung lưu đạt được thành quả tốt đẹp nhất. Ông Obama nói rằng nền kinh tế với quá nhiều khó khăn ông thừa hưởng cách đây 4 năm đang cố gắng vượt qua những khó khăn để vươn lên trở lại, nhưng còn nhiều việc phải làm. Ông nói rằng đầu tư vào giáo dục, đào tạo, và cắt giảm thuế là con đường hữu hiệu nhất cần theo đuổi.
 
Khi được hỏi về vấn đề tạo công ăn việc làm, cựu thống đốc Massachusetts Mitt Romney nói rằng nước Mỹ phải chọn một con đường khác hơn là con đường đã đi trong quá khứ. Ông nói rằng các kế hoạch của ông bao gồm cả việc gia tăng sản xuất năng lượng, mở cửa hơn nữa cho giao thương quốc tế, đào tạo  nhiều hơn nữa, cân bằng ngân sách và hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp nhỏ.
 
Tổng thống Obama nói ông muốn giảm thuế doanh nghiệp và đóng những lỗ hỏng đã là những yếu tố khích lệ cho việc đưa công ăn việc làm ra nước ngoài.
 
Ông Romney nói rằng ông không muốn hạ thuế suất của những người Mỹ có lợi tức cao. Ông nói giới trung lưu Mỹ đã phải chịu đựng quá nhiều với những sắc thuế cao. Ông nói giá xăng, thực phẫm và chi phí y tế tăng cao và ông muốn các doanh nghiệp giúp đỡ những người Mỹ đó.
 
Ông nói các sắc thuế của cả doanh nghiệp và cá nhân đếu cần được giảm. Ông nói năng lượng rất quan trọng và việc gia tăng sản xuất năng lượng trong mấy năm qua đã được thực hiện trên các khu đất tư chứ không phải đất công.  Ông hứa sẽ hỗ trợ kỹ nghệ than và tăng sản xuất dầu ở Alaska và ủng hộ xây đường ống dẫn dầu từ Canada.

Tổng thống Obama nói  giảm thuế cho giới trung lưu sẽ giúp họ có thêm được một ít tiền túi nữa. Và rằng kế hoạch cắt giảm 5 ngàn tỉ đôla thuê của ông Romney sẽ thực hiện bởi việc đóng các lỗ hỏng và bỏ các khoảng khấu trừ. Ông nói rằng điều đó sẽ không giảm được thâm hụt ngân sách mà còn tạo gánh nặng cho các gia đình thuộc giới trung lưu.  Ông nói rằng đó không phải là kết luận ông đưa ra mà là của các kinh tế gia.
 
Ông Romney bác bỏ việc ông Obama nói ông mưu tìm biện pháp cắt giảm 5 ngàn tỉ đôla thuế. Ông nói ông sẽ không giảm thuế cho dân Mỹ có lợi tức cao và một lần nữa hứa giảm thuế cho giới trung lưu. Ông nói ông muốn hạ thuế suat đồng thời hạ các khoản miễn và khấu trừ thuế để chính phủ vẫn thu được tiền cần thiết.
 
Ông Obama nói ông và ông Romney đồng ý về sự cần thiết phát triển doanh nghiệp nhỏ, và ông nêu lên việc chính quyền của ông đã giảm các sắc thuế cho khu vực này từ khi ông trở thành tổng thống.
 
Ông Romney nói rằng các doanh nghiệp nhỏ đóng thuế thấp thuê mướn phân nửa số người làm việc cho khu vực doanh nghiệp nhỏ. Ông nói rằng tăng thuế các doanh nghiệp nhỏ làm ăn thành công sẽ làm mất đi hàng ngàn công ăn việc làm. Ông ông Obama đã không giảm được thâm hụt ngân sách, và kinh tế không tăng trưởng nhanh hơn vào lúc ông Obama nhậm chức. Ông nói rằng nếu tổng thống tăng thuế là “giết chết công ăn việc làm”. Ông nói ông không muốn làm điều này trong bối cảnh tài chính này.
 
Tổng thống Obama nói ông đã cắt giảm các chương trình của chính phủ mà ông tin là không hoạt động hiệu quả, tuy nhiên sự khác biệt giữa ông và ông Romney là ông Romney từ chối tăng thuế trong khi giảm chi. Ông nói Hoa Kỳ không nên miễn giảm thuế cho các công ty đưa công ăn việc làm ra nước ngoài.

Ông Romney nói rằng ông không muốn hạ thuế suất của những người Mỹ có lợi tức cao. Ông nói giới trung lưu Mỹ đã phải chịu đựng quá nhiều với những sắc thuế cao. Ông nói giá xăng, thực phẫm và chi phí y tế tăng cao và ông muốn các doanh nghiệp giúp đỡ những người Mỹ đó. Ông nói rằng cần giảm thuế cho  cả doanh nghiệp lẫn cá nhân. Ông nói rằng năng lượng rất quan trọng và việc gia tăng sản xuất năng lượng trong mấy năm qua đã được thực hiện trên các khu đất tư chứ không phải đất công.  Ông hứa sẽ hỗ trợ kỹ nghệ than và tăng sản xuất dầu ở Alaska và ủng hộ xây đường ống dẫn dầu từ Canada
 
Tổng thống Obama nói việc giảm thuế cho giới trung lưu sẽ giúp họ có thêm được một ít tiền túi.  Ông nói rằng kế hoạch cắt giảm 5 ngàn tỉ đôla thuê của ông Romney thực hiện được bởi việc đóng các lỗ hỏng cũng như các khoảng khấu trừ. Ông nói rằng điều đó sẽ không giảm được thâm hụt ngân sách mà còn tạo gánh nặng cho các gia đình thuộc giới trung lưu.  Ông nói rằng đó không phải là kết luận của ông mà là của các kinh tế gia.
 
Ông Romney bác bỏ việc ông Obama nói ông mưu tìm biện pháp cắt giảm 5 ngàn tỉ đôla thuế. Ông nói ông sẽ không giảm thuế cho dân Mỹ có lợi tức cao và một lần nữa hứa giảm thuế cho giới trung lưu. Ông nói ông muốn hạ thuế suất đồng thời giảm các khoản miễn và khấu trừ thuế để chính phủ vẫn thu được tiền cần thiết.

Ông Obama nói ông và ông Romney đồng ý về sự cần thiết phát triển doanh nghiệp nhỏ, và ông nêu lên việc chính quyền của ông đã giảm các sắc thuế này từ khi ông trở thành tổng thống.
 
Ông Romney nói rằng các doanh nghiệp nhỏ đóng thuế thấp hơn thuê mướn phân nửa số người làm việc cho các doanh nghiệp nhỏ. Ông nói rằng tăng thuế các doanh nghiệp nhỏ thành công sẽ làm mất đi hàng ngàn công ăn việc làm.
 
Được hỏi làm thế nào để giải quyết vấn đề thâm hụt ngân sách, ông Romney nói ông tin đây là một vấn để đạo đức vì các thế hệ tương lai sẽ phải lãnh nhận việc giải quyết này. Ông nói giải pháp của việc này là giảm chi và tăng trưởng kinh tế. Ông nói ông sẽ loại bỏ tất cả các chương trình của chính phủ không đáp ứng được thử thách này – ông nói chương trình đó có quan trọng đến mức đáng để vay tiền Trung Quốc  trang trải cho nó hay không? Ông Romney nói ông Obama đã không làm giảm thâm hụt ngân sách. Ông nói kinh tế đã không tăng trưởng nhanh hơn lúc ông Obama nhậm chức. Và nói rằng nếu tổng thống tăng thuế là “giết chết công ăn việc làm”. Ông nói ông không muốn làm điều này trong bối cảnh tài chính hiện nay.
 
Tổng thống Obama nói ông đã cắt giảm các chương trình của chính phủ mà ông tin là hoạt động không hiệu quả, tuy nhiên sự khác biệt giữa ông và ông Romney là ông Romney từ chối tăng thuế trong khi giảm chi. Ông Obama nói nước Mỹ không nên miễn thuế cho các công ty đưa công ăn việc làm ra nước ngoài. Ông nói ngân sách phản ánh sự lựa chọn, và không thu thêm thuế không có nghĩa là loại bỏ nhiều thứ, điều đó không giúp kinh tế tăng trưởng. Ông nói chuyển một số dịch vụ xuống tầm mức tiểu bang có nghĩa là cắt chương trình y tế medicaid, một chương trình được chính phủ tài trợ để giúp người cao tuổi và những người tàn tật trả chi phí chăm sóc sức khỏe. Tổng thống Obama đã dùng trường hợp của bà ông như một thí dụ về một người có thể sống độc lập nhờ vào các chương trình an sinh xã hội của chính phủ và chương trình chăm sóc y tế medicare.
 
Ông Romney bảo đảm rằng ông không có kế hoạch thay đổi chương trình an sinh xã hội hay chương trình Medicare dành cho nhưng người 60 trở lên, nhưng ông nói ông muốn phục hồi các khoản cắt giảm ông Obama đã làm để tiến hành chương trình cải cách y tế của ông.

Ông Romney nói ông muốn bãi bỏ chương trình cải cách y tế của tổng thống Obama, do chi phí quá cao. Ông nói những thứ đắc đỏ gây khó khăn cho các gia đình và rằng chương trình “Obamacare” lấy quỹ từ chương trình medicare. Ông nói các doanh nghiêp nhỏ cho biết chương trình này khiến họ ít muốn mướn người mới vì phải chịu chi phí.
 
Nhưng Tổng thống Obama nói rằng các gia đình lo ngại sẽ vỡ nợ nếu có người bị bệnh, và thêm nữa các công ty bảo hiểm không muốn nhận bảo hiểm cho những người đã có vấn đề sức khỏe trước đó.
 
Được hỏi về vai trò của chính phủ liên bang, ông Obama nói rằng vai trò đầu tiên của chính phủ là giữ cho dân chúng được an toàn. Nhưng ông nói rằng chính phủ cũng nên tạo những cơ cấu qua đó giúp người dân có thể thành công. Và ông nêu lên thí dụ là trong quá khứ chính phủ đã giúp xây các đường xe lửa, các viện nghiên cứu và các định chế giáo dục.
Ông nói nước Mỹ cần thêm giáo viên, và đó là loại đầu tư mà chính phủ liên bang có thể trợ giúp.
 
Ông Romney đáp rằng vai trò của chính phủ là phát huy và bảo vệ các nguyên tắc của Hiến pháp và Tuyên ngôn Độc lập. Ông nói rằng điều đó có nghĩa là duy trì sức mạnh của quân đội Mỹ. Ông nói rằng nước Mỹ cũng phải duy trì cam kết về sự dung chấp và tự do tôn giáo. Nước Mỹ phải chăm sóc người cao tuổi và tật nguyền, trong khi bảo tồn quyền tự do cho các cá nhân theo đuổi các ước mơ của họ. Về giáo dục ông Romney nói rằng chính phủ liên bang có thể làm cho các trường học tiểu bang và địa phương hoạt động hữu hiệu hơn. Ông nói ông muốn trẻ em được sự giúp đỡ của liên bang có thể chọn trường mà mình học.

Ông Obama nói chính phủ đang cùng làm việc với các thống đốc các tiểu bang để cải thiện phẩm chất của trường công.
 
Kết thúc cuộc tranh luận, Tổng thống Obama cám ơn ông Romney về cuộc tranh luận đầu tiên rất tuyệt vời. Tổng thống Obama nói ông muốn xây dựng trên những sức mạnh ông đã thực hiện trong nhiệm kỳ 4 năm đầu của ông. Ông nói ông sẽ tận lực làm việc trong nhiệm kỳ thứ nhì như ông đã làm trong nhiệm kỳ đầu.

Ông Romney kết thúc cuộc tranh luận rằng thêm 4 năm của ông Barack Obama sẽ có nghĩa là giới trung lưu sẽ khó khăn hơn. Ông hứa sẽ tạo hàng triệu việc làm mới, thay thế chương trình Obamacar và cương quyết không giảm chi phí cho quân đội.

Hai ứng cử viên sẽ gặp lại trong lần tranh luận thứ nhì vào ngày 16 tháng 10, và lần này sẽ trả lời các câu hỏi của những người tham dự.

Lãnh đạo các lực lượng bảo vệ biển ở Châu Á họp tại Ấn Độ – VOA

4 Th10

Lãnh đạo các lực lượng bảo vệ biển ở Châu Á họp tại Ấn Độ

 

HACGAM quy tụ sự tham gia của 21 cơ quan tuần duyên từ 17 nước thành viên, trong đó có Việt Nam

 
 Tin liên hệ
 Lần đầu tiên tại khu vực Nam Á, Lực lượng Tuần duyên Ấn Độ và Nhật Bản đồng chủ trì cuộc họp của lãnh đạo các cơ quan bảo vệ bờ biển ở Châu Á gọi tắt là HACGAM, theo tin hãng thông tấn Bernama.

Hội nghị HACGAM lần thứ 8 khai diễn tại New Dehli ngày 3/10 là diễn đàn tập trung tất cả các lực lượng tuần duyên chủ chốt của khu vực Châu Á.

Sáng kiến về hội nghị này thoạt đầu được đưa ra hồi năm 2004 nhằm thảo luận về sự hợp tác giữa các bên chống nạn hải tặc.

Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Ấn Độ cho hay phạm vi các cuộc thảo luận tại HACGAM đã được mở rộng bao gồm cả vấn đề thực thi luật biển, an ninh hàng hải, phòng ngừa thảm hoạ, và xây dựng khả năng cứu hộ.

Hiện HACGAM quy tụ sự tham gia của 21 cơ quan tuần duyên từ 17 nước thành viên, trong đó có Việt Nam.

Hội nghị HACGAM diễn ra thường niên kể từ năm 2004 tới nay và đã có lần được tổ chức tại Hà Nội.

Nguồn: Bernama, ANI

Thương mại Việt-Trung nở rộ bất kể tranh chấp Biển Ðông – VOA

4 Th10

Thương mại Việt-Trung nở rộ bất kể tranh chấp Biển Ðông

 

Tàu Hong Ji của Trung Quốc tại cảng than Cửa Ông ở thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh, Việt Nam

 
Tin liên hệ
Daniel Shchearf
 
LẠNG SƠN/ VỊNH CAM RANH — Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc lại nổi lên trở lại hồi tháng 7 vì vùng lãnh thổ tranh chấp trong Biển Ðông. Bất kể sự cãi cọ mang tính dân tộc, thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục nở rộ. Nhưng khác với Trung Quốc, Việt Nam đã hoan nghênh sự can dự của Hoa Kỳ vào vụ tranh chấp. Thông tín viên VOA Daniel Schearf vừa đến thăm vùng biên giới Việt-Trung và vùng vịnh chiến lược ở Biển Ðông và ghi nhận chi tiết trong bài tường thuật sau đây.

Bất kể các tranh chấp mang tính dân tộc, giao thương dọc theo biên giới Việt Trung đang nở rộ.

Các giới chức ở tỉnh Lạng Sơn nói gần 3 tỷ đôla các sản phẩm nông nghiệp và điện tử được trao đổi hàng năm với Trung Quốc.

Ông Nguyễn văn Chương, giám đốc văn phòng hải quan Tân Thanh, cho biết giao thương tăng khoảng 20% mỗi năm.

“Trong lĩnh vực thương mại thì gần đây như các bạn biết vẫn diễn ra bình thường, không có gì là trở ngại cả. Cả hai bên đều tạo điều kiện cho hàng hóa xuất nhập bình thường. Như các anh thấy xe cộ đi lại rất là thuận lợi.”

Việt Nam cho phép hàng loạt các cuộc biểu tình công khai hiếm hoi phản đối Trung Quốc hồi tháng 7 sau khi Bắc Kinh đạt các thỏa thuận thăm dò dầu khí trong vùng lãnh hải có tranh chấp với Việt Nam ở Biển Ðông.

Sau đó Bắc Kinh đã loan báo lập thủ đô hành chính để cai quản các khu vực mà cả Brunei, Malaysia, Philippines và Ðài Loan cũng nhận chủ quyền.

Căng thẳng đã gây quan ngại trong giới buôn bán, như ông Nguyễn Việt Ðức, lo rằng các vấn đề chính trị có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận.

“Quan hệ của công ty tôi đối với Trung Quốc thì cũng chưa lâu lắm, nhưng từ khi quan hệ đến nay thì liên tục, phát triển và tốt. Tôi cũng mong muốn là ở góc độ vĩ mô chính phủ hai nước quan tâm hơn và duy trì các hoạt động kinh doanh truyền thống trước đây đã có và tạo điều kiện cho hai bên các doanh nghiệp hoạt động tốt.”

Ðể kiềm chế Trung Quốc, Việt Nam hoan nghênh sự can dự của Hoa Kỳ ở Biển Ðông, kể cả ở Vịnh chiến lược Cam Ranh, nơi đặt một căn cứ hải quân cấm.

Hồi tháng 6, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta là giới chức Mỹ cấp cao nhất đi thăm vịnh này, từng là một căn cứ không quân Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam và sau đó là một căn cứ của Liên Xô.

Việt Nam đã mở lại vịnh để phục vụ các tàu hải quân nước ngoài vào năm 2010 và ông Nguyễn Ngọc Sơn, phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cam Ranh nói rằng tầm quan trọng của Vịnh đang gia tăng.

“Có thể nói Vịnh Cam Ranh là một nơi rất có tiềm năng để phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo giữ vững chủ quyền biên giới và biển đảo của quốc gia.”

Vịnh Cam Ranh mở về phía quân đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc đã nắm quyền kiểm soát kể từ khi xảy ra những vụ xung đột với Việt Nam vào năm 1974, cũng như quần đảo Trường Sa mà cả hai nước nhận chủ quyền.

Các giới chức cho rằng sự tập trung chú ý được đặt vào việc khai thác một trung tâm dịch vụ hậu cần mới cho cảng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở vịnh này.

Nhưng Việt Nam cũng hoạch định việc trú đóng nhiều tầu ngầm do Nga chế tạo ở đấy để tăng cường khả năng phòng vệ, có thể gây khó chịu cho Bắc Kinh.

Cam Ranh – VHNA

4 Th10

Cam Ranh

NHM

 VHNA: Chúng tôi có tiền lệ là không in thơ và các tác phẩm văn chương nhưng với Hoàng Sa, với Trường Sa, với biển đảo của Tổ Quốc thì không có lý do gì để từ chối vì đây như là bổn phận. Tác giả bài thơ sau là một nhà giáo, một nhà khoa học. Anh xin giấu tên vì muốn tình cảm của mình được hoà cùng với tình cảm của mọi người dành cho Trường Sa – Hoàng Sa, cho biển đảo thân yêu của Tổ Quốc.

 

Nơi có dây rốn nối đất mẹ tới đảo xa

 

 Đêm Cam Ranh

Tỉnh mê trong tiếng ì ầm phi tự nhiên

Tiếng gầm của đàn chiến đấu cơ nặng nề lên xuống ?

Tiêng vọng rền của đoàn chiến hạm trĩu đầy rời bến ?

Và thoảng nghe từng rạt rào tiếng vỗ bờ của sóng

 

Bãi biển cực nam Cam Ranh

Núi vòng cung như ngai vua hướng về nam[1]

Cánh tả hứng sóng gió đại dương

Trường Sa- Hoàng Sa phía đó

Cánh hữu hướng đất liền

Dân tộc vạn năm sinh tồn nơi đó

 

Cát trắng

Nước ngọc bích

Biển mặn chát

Cát san hô sóng xô mài mịn mát

Thế giới của coòng

Đá hoa cương mồ côi như lũ hải cầu châu đầu về núi mẹ

Như dân tộc vạn năm trường tồn do vạn triệu lòng con hướng về Hồn Quốc Tổ

 

Chợt thoáng hiện

bên những vết chân coòng

Ngàn chữ Y

Vạn chữ V

Triệu trái tim

Những mẩu san hô sáng trắng

Cành san hô rời thân thể mẹ, chết cũng biết hóa thân cất lên lời tha thiết

Trước khi tan thành cát!

Những chữ Y của Yêu

Những chữ V của Việt

Những chữ Y sắc nét

Cũng có những chữ Y còn dính màng như hình hài thai nhi trong lòng mẹ

Vạn chữ V gọn gàng, chữ V không thể khác!

Và những trái tim mỏng manh sẵn sàng mòn tan bồi dày thêm Đất-Nước

 

Sóng từ Trường Sa vỗ bờ

Cộng hưởng trong từng hốc đá

Dội lên từng vách núi

Rúng động đôi bờ,

Rền ngân

Gió từ Hoàng Sa giật dồn

 

Trường Sa

Phía ấy hôm nay u ám bão giông

Hoàng Sa

Biển nơi ấy hôm nay sóng gầm

Tiếng hồn dân tộc vạn năm

Cộng hưởng thảm thiết hồn oan dân Việt giữa biển khơi

Cộng hưởng căm hờn hồn chiến binh Việt tử thương giữ đảo xa

Lặng thinh

Dội vào lịch sử

Lộng như tiếng rền của sấm

Gầm như tiếng đàn chiến đấu cơ nặng nề cất cánh, thúc giục tâm can như tiếng đoàn chiến hạm trĩu đầy rời bến

Trầm hùng phi tự nhiên

Kỳ vĩ bản hùng ca

 

Những chiến sỹ hải quân nhựa sống tràn căng lồng ngực

Giọng chuông vang

Nụ cười xinh

Đôi mắt sáng

Những đứa con của mẹ

Dân tộc thấm đỏ từng hồng cầu

Mạnh mẽ đập trong từng huyết quản

Biển của máu dân tộc mặn chát

 

Thả mình trong mênh mông

Vẫy vùng như thuở bào thai trong bụng mẹ

Nghe sóng vỗ về

Mỗi đứa con của Tình yêu

Mỗi cánh chim của Tự do

Bầu trời phía đông hôm nay mây xám

Biển trời ngày mai Tự do rạng thắm

 

Cam Ranh

Trời biển nước non

Nơi đây đất mẹ nối dây rốn tới đảo xa

 

                        Cam Ranh, 3/10/2012

                        N.M.H.


[1] Núi hình cung như Núi Kiếp Bạc- ngai Hưng Đạo Đại Vương nhìn Lục Đầu Nam !

 

Giê-su qua cái nhìn của người Phật tử – VHNA

4 Th10

Giê-su qua cái nhìn của người Phật tử

André Bareau

(Bài thuyết trình của GS André Bareau  (Giáo sư Collège de France) tại Trung Tâm Văn Hóa Tin Lành dòng Luther, Paris, ngày 11 Tháng 12 năm 1984)

“Giê-su qua cái nhìn của người Phật tử”: đây là một đề tài lý thú, nhưng quả thật là khó. Trước hết, trong tất cả những đạo lớn của thế giới, có lẽ đạo Phật là đạo xa cách đạo Ki-tô nhất trong giáo lý cơ bản và trên nhiều điểm quan trọng, mặc dù vẫn gần gũi, hay có vẻ gần gũi, trên nhiều điểm khác. Thứ đến, với thời gian, trên con đường phát triển, đạo Phật đã mang rất nhiều hình tướng khác nhau, hội nhập vào nhiều nền văn minh khác nhau, vào nhiều dân tộc khác nhau, do đó giữa những người Phật tử có thể có những “cái nhìn về Giê-su” rất khác nhau. Sau hết, nếu chúng ta biết khá rõ về cái nhìn của người Phật tử, nhất là Phật tử thời nay, về đạo Ki-tô, chúng ta rất hiếm khi được nghe nói đến quan niệm của họ về cá nhân Giê-su.

*

Trước khi tìm hiểu người Phật tử thực sự nghĩ sao, tôi thiết nghĩ cần phải dựa trên giáo lý cơ bản của kinh điển nguyên thủy đã được ghi chép lại từ hơn 20 thế kỷ nay để xét xem người Phật tử sẽ phải nghĩ thế nào về người sáng lập đạo Ki-tô.

Có lẽ quý vị đều đã biết, đạo Phật là một đạo có đặc điểm, rất khó hiểu cho người phương tây chúng ta, là không những từ chối không chấp nhận một Thượng Đế độc nhất, thường hằng, quyền phép vô biên, tạo hóa mọi sự vật, chủ tể mọi loài trong vũ trụ, mà còn không chấp nhận một nhân thể thường hằng tương đương với cái mà chúng ta gọi là linh hồn. Chính vì phủ nhận nguyên lý một nhân thể thường hằng mà người Phật tử không thể chấp nhận một Đấng Tạo Hóa như người phương tây chúng ta thường quan niệm.

Cũng nên nói cho rõ hơn: Đạo Phật chưa bao giờ phủ nhận sự hiện hữu của các thần linh, trái lại nữa là khác, theo đạo Phật có hằng hà sa số các vị trời, hàng triệu thần tiên đủ loại, lớn nhỏ, thiên thần cũng như địa thần; có những vị thù thắng vi diệu, thân toàn ánh sáng sống bằng lạc thọ, có những vị thân thể thô thiển hơn nhưng mắt trần không thể thấy,  tất cả đều quyền phép oai vũ hơn người trần rất nhiều. Tuy nhiên, mỗi vị trời dù đứng thứ bậc nào trong địa vị thần linh, dù oai linh quyền phép đến đâu đi nữa cũng vẫn bị hạn chế trong thời gian sống và trong quyền phép của mình. Mỗi vị sinh ra, bỗng nhiên hóa hiện ra giữa các vị trời, sống rất lâu, hàng tỷ năm (người Ấn Độ thường vẫn hay phóng đại rất nhiều khi có dịp tự do vận dụng trí tưởng tượng vốn rất phong phú của họ), sống sung sướng an lành, không đau đớn, không phiền não lo âu, không bệnh tật, không chết chóc như các loài hữu tình khác, là loài người hay không phải là loài người. Nhưng đời sống này dĩ nhiên sẽ phải có kết thúc, cũng như mọi sự mọi vật đã có bắt đầu, đã được sinh ra. Một ngày kia, vị trời này sẽ mất đi, bỗng nhiên biến đi, không đau đớn lo âu, và sẽ tái sinh như bất cứ một hữu tình nào khác, vào cõi trời, hoặc cõi người, hoặc cõi súc sinh, hoặc cõi ngạ quỷ, tùy theo nghiệp quá khứ của vị đó. Vốn không thường hằng, vốn được sinh ra và mất đi như các hữu tình khác, vị trời này dĩ nhiên không thể là đấng tạo ra vũ trụ và những loài sinh sống trong đó. Quyền phép dù rộng lớn đến đâu đi nữa nhưng vẫn có giới hạn, vị trời này không thể là chủ tể mọi loài, mọi sự, mọi vật.

Không chấp nhận một Đấng Tạo Hóa, theo quan niệm chúng ta thường có bên phương tây Ki-tô giáo, người Phật tử dĩ nhiên không thể chấp nhận tính thiên khải của Giê-su. Đối với họ, dựa theo lịch sử, Giê-su chỉ là một con người. Tuy nhiên, với tất cả những đức tính hiển nhiên của ngài, chắc chắn sau đó ngài đã sinh vào cõi trời do thọ hưởng quả lành, do sự “chín muồi” của các thiện nghiệp. Tóm lại, qua lối nhìn của đạo Phật, con người Giê-su, sau khi chết, chắc đã trở thành một vị trời, nghĩa là một loại siêu nhân được xác định rõ ràng với những tính chất đặc thù, với quyền phép, với đời sống lâu dài, với những sinh hoạt đặc biệt; sinh hoạt này có thể là sự quán chiếu chân lý (contemplation de la vérité) hay chỉ là quán trí tiếp cận chân lý (méditation d’approche), hay chỉ là hưởng thụ lạc thú của thiên giới qua mọi hình thái khác nhau, có dục tính hay không dục tính, hoặc kiểm xét sinh hoạt của loài người. Khi vị Giê-su, đã trở thành trời trong điều kiện kể trên, chết đi thì, trong một tương lai xa hay gần, tùy theo địa vị hiện tại của ngài trên cõi trời, ngài sẽ tái sinh lại, cũng như vô số lần khác trong quá khứ. Chắc ngài sẽ sinh lại cõi trời hay cõi người tùy theo đức hạnh và thiện nghiệp của ngài, ngài sẽ không bị thu hút vào những cõi xấu xa như những kẻ tham ác, rơi vào những cõi súc sinh, ngạ quỷ. Nói cách khác, trong đời sống tương lai, Giê-su có thể còn giữ được tính trời của mình, theo ý nghĩa của đạo Phật, hay sinh vào cõi người , và trong trường hợp này sẽ hành động như một vị Cứu tinh (Messie), trong giới hạn mà đạo Phật đã định cho vai trò này. Như vậy, đạo Phật không phủ nhận tính trời của Giê-su, tính trời được hiểu theo một ý nghĩa nào đó, cũng như không phủ nhận tính người của ngài; tuy nhiên hai tính này không thể tồn tại cùng một lúc mà phải kế tiếp nhau.

Nếu con người Giê-su sinh ra cách đây ngót hai mươi thế kỷ đã trở thành một vị trời, người Phật tử có thể dễ dàng chấp nhận chuyện này, thì ngài rất đáng được kính trọng, đáng được tôn sùng như các vị thần linh khác, được mọi người tôn kính thờ phượng do vô số thiện nghiệp của các ngài trong các đời sống trước; chính tính trời của các vị là bằng chứng rõ ràng về những thiện nghiệp của các vị trong các kiếp trước. Hơn nữa, nghi lễ của đạo Ki-tô không đòi hỏi sát sinh, cũng giống như nghi lễ đạo Phật, vì sát sinh để cúng tế là phạm vào một trong những giới cấm cơ bản chung cho cả hai đạo, người Phật tử không thể chê trách gì tín đồ Ki-tô khi những người này tôn thờ Thầy của họ, Chúa của họ.  Còn hơn thế nữa, không gì ngăn cản người Phật tử tôn sùng Giê-su cũng như tôn sùng các vị thần linh khác xuất xứ từ Ấn Độ Giáo; trong nhiều chùa ta thường gặp đền thờ các vị thần này.

Thật vậy, ngược với đạo Ki-tô, sinh ra trong những điều kiện hoàn toàn khác, đạo Phật không những chưa bao giờ phủ nhận sự hiện hữu hoặc phủ nhận tính trời của vô số vị trời của Ấn Độ cổ xưa, hay của các xứ mà đạo Phật truyền tới, mà đạo Phật cũng không hạ thấp các vị trời đó xuống hàng những loài quỷ, xấu xa và tàn bạo, hiện thân của mọi điều xấu. Ngược lại, đạo Phật đã thu nhập tất cả những vị này, kể cả những vị vốn rất hung dữ cũng được mau chóng chuyển hóa. Còn hơn thế nữa, đạo Phật đã nâng các vị thần này lên hàng mẫu mực cho Phật tử cư sĩ, nhưng không thể là mẫu cho hàng tăng sĩ vì đời sống quá sung sướng của cõi trời khiến các vị trời không thể thành tu sĩ khổ hạnh, không thể trì hành các giới luật nghiêm túc và khắc khổ, con đường duy nhất đưa đến giải thoát, Niết-bàn.

Trong cõi trời rất phong phú và phức tạp của đạo Phật, rất hiếm có những vị trời còn giữ tính dữ dằn hoặc thực sự căm thù đối với loài người. Nếu có, thường chỉ là những vị địa tiên thuộc những tầng thấp nhất, những vị tiểu thần của một thôn xóm nào đó, hay là Mâra, thần chết, đối thủ chính và dai dẳng của đức Phật, vì ngài dạy cho muôn loài phương pháp để thoát khỏi sự chết, hay đúng hơn những sự chết kế tiếp nhau, hệ quả của tái sinh. Thật ra, Mâra là một hình ảnh có tính biểu tượng, chỉ được dùng trong đạo Phật, và theo truyền thuyết thì thường thường lố bịch hơn là đáng sợ, ngay cả lúc vị thần này xua đoàn quân quỷ ghê gớm do nó hóa hiện ra để tấn công đức Phật và đức Phật đã xua tan chúng chỉ bằng một niệm của ngài.

Việc các vị trời, ngoại trừ một vài vị rất hiếm, đều là những hữu thể hiền hoà xứng đáng được tôn kính, là một chuyện rất dễ hiểu theo giáo lý nhà Phật; nếu các ngài trở thành trời, được hưởng hạnh phúc tuyệt vời của cõi trời là vì các ngài thừa hưởng quả báo của vô số thiện nghiệp trong những đời trước. Trở lại đề tài của chúng ta, nếu con người Giê-su đã trở thành một vị trời, và đứng trên quan niệm Phật giáo thì chuyện này rất đáng tin, ngài xứng đáng được mọi người tôn kính thờ phượng, không chỉ những tín đồ đạo Ki-tô, mà kể cả những người Phật tử cũng như những người theo đạo khác.

Con người Giê-su trở thành một vị trời do đó được kính trọng, phải chăng điều này có nghĩa là giáo lý của ngài dạy cách đây hai nghìn năm và được tín đồ truyền tụng đến ngày nay cũng phải được trọng vọng như vậy? Nói cách khác, với người Phật tử, giáo lý của Giê-su, đạo Ki-tô, có đáng được trọng vọng bằng những thiện nghiệp của ngài không? Chắc chắn là đáng trong chừng mực mà giáo lý của ngài phù hợp với lời dạy của Đấng Thế Tôn, nghĩa là có ích lợi cho con người, giúp con người tiến bộ trên con đường giải thoát hay ít ra giúp tái sinh trong cõi trời hay cõi người chứ không bị rơi vào những cõi xấu xa khác. Trái lại, cũng không đáng, vì giáo lý của Giê-su đưa con người xa rời Con đường dẫn đến Giải thoát, hay đúng hơn khiến con người ngừng lại dọc đường, chỉ dẫn đến tái sinh nơi thiên đàng của một vị trời trong một thời gian có giới hạn, dù giới hạn này có dài lâu đến đâu đi nữa, và làm cho con người lầm tưởng rằng sẽ được ở đó vĩnh viễn. Tóm lại, giáo lý của Giê-su chỉ dành cho cư sĩ, những người muốn có một đời sống tương lai càng sung sướng, càng lâu dài càng tốt, trong khi giáo lý của đức Phật nhắm những tu sĩ, những người, sau khi thấu rõ tính chất vô thường, sự giới hạn trong không gian và thời gian, của vạn vật, kể cả hạnh phúc trong cõi trời, không vừa lòng với hạnh phúc đó, quyết định đạt đến Niết-bàn, chấm dứt mọi tái sinh, dù trong cõi nào đi nữa.

Hệ luân lý Giê-su truyền dạy cho tín đồ ngài hầu như in hệt hệ luân lý đức Phật dạy cho Phật tử. Không những cả đôi bên đều ngăn cấm làm điều ác, lớn hay nhỏ, như giết người, trộm cắp, tà hạnh, hưởng thụ, dối trá, phóng dật, v.v…, mà cả đôi bên cũng đều luôn luôn khuyên bảo tín đồ mình nuôi dưỡng và thể hiện những đức tính như lòng nhân ái, lòng từ bi, tính kiên trì, lòng từ thiện, lòng khoan dung mỗi khi bị xúc phạm, vv… Cả hai đều thấy rõ là sự thể hiện hệ luân lý chung này chỉ là bước đầu, rất cần thiết nhưng không đầy đủ, trên con đường dài đưa đến mục tiêu tối hậu do các vị sáng lập đạo giáo vạch ra cho tín đồ của mình, thiên đàng cho người theo đạo Ki-tô, Niết-bàn cho Phật tử. Tóm lại, cùng truyền dạy một hệ luân lý chung như là bước đầu cơ bản, Giê-su và đức Phật lúc đầu dẫn đắt tín đồ của mình trên cùng một con đường, một con đường dài và khó khăn cho nhiều người nhưng không thể tránh khỏi để chuẩn bị cho chặng đường sau, cho một đời sống đạo hạnh, tu luyện tâm linh để đạt đến quả vị tối hậu đã vạch ra.

Ngoài những điểm tương đồng kể trên, giáo lý của Giê-su và giáo lý của đức Phật khác biệt nhau rất xa. Với đức Phật, giáo lý của Giê-su sai lạc, không đúng với sự thật, không đúng với những Thánh đế mà tu sĩ Gotama đã “giác ngộ”, vì nghĩa chính của chữ  “Bụt-đà” (Bouddha) là giác ngộ. Như vậy, giáo lý đạo Ki-tô, với hệ luân lý cao đẹp, dẫn dắt tín đồ mình sinh vào một cõi trời, nhưng lại ngăn chận không cho tiến xa hơn, tới sự giải thoát khỏi vòng luân hồi, đạt đến Niết-bàn, vì làm cho tín đồ mình hiểu sai lầm rằng hạnh phúc trên cõi trời là mục đích cao cả nhất. Đối với người Phật tử, Giê-su đáng tôn kính vì đã dẫn dắt, bằng hệ luân lý của ngài, con người đến cõi sung sướng, nhưng ngược lại ngài cũng không đáng tôn kính vì đã truyền cho tín đồ một đạo lý sai lạc. Giáo lý này sai lạc vì nó dựa lên lòng tin nơi một vị trời độc nhất, thường hằng và tạo hóa mọi vật, tin vào một linh hồn vĩnh cửu, ẩn trong mỗi con người. Nó sai lạc vì nó không chấp nhận lẽ vô thường, lẽ vô ngã, do đó đưa đến phiền não khổ đau, của mỗi hữu tình. Nó còn sai lạc vì nó khuyên dạy tín đồ phát triển lòng sùng bái vị trời của họ và lòng thương yêu những con người khác, cả hai tính này đều có cơ sở là tham ái, trong khi đức Phật khuyên dạy phải xa lìa tham ái dưới mọi hình thức vì nó là một chướng ngại quan trọng trên con đường giải thoát, ngược lại, ngài khuyên dạy phải phá chấp một cách triệt để, ngay cả trong khi thể hiện đến tột cùng những đạo hạnh cao đẹp nhất, như lòng nhân ái, lòng từ bi, lòng từ thiện, tính khoan dung.

Như vậy, đứng về lý, đối với Phật tử, Giê-su là một con người đáng kính trọng, đáng thờ phượng, là một vị thánh nhân và chắc đã trở thành trời sau khi là một con người, cách đây ngót hai mươi thế kỷ. Tuy vậy ngài vẫn thua xa đức Phật, dù đức Phật vẫn mang thân người trong kiếp sống cuối cùng, trong khi Giê-su có lẽ đã thành trời trong đời sống đó. Thật ra, dưới con mắt những người Phật tử, tôn sư của họ, dù vẫn còn sống trong cõi người, đã tự nâng mình lên cao hơn mọi vị trời, đã “giác ngộ” Chân như, tìm ra con đường đưa đến Niết-bàn, điều mà không một vị trời nào có thể làm nổi chính vì tính trời của họ. Thật vậy, hạnh phúc toàn hảo của các vị trời khiến các ngài không thấu rõ được phiền não khổ đau tiềm ẩn trong mỗi hữu tình, dù có mang hình thái nào đi nữa. Chính sự chứng ngộ khổ đau này, đối với người Phật tử, là bước đầu trên con đường rất dài và rất khó đưa đến giải thoái khỏi vòng luân hồi.

*

Sau khi đã tìm hiểu cái nhìn người Phật tử có thể có về Giê-su, dựa trên giáo lý cơ bản mà người Phật tử học được và tin theo, bây giờ chúng ta xét trong thực tế họ nghĩ sao về Giê-su, dựa trên những lời nói chứng từ của chính họ.

Muốn vậy, tôi trông cậy vào bốn trong những người cộng tác xuất sắc nhất của tôi, mỗi vị, trong mỗi lãnh vực khác nhau, có một sự hiểu biết thấu đáo về tâm tư của người Phật tử thời nay. Thượng tọa Thích Thiện Châu, Tiến sĩ Văn chương, vốn là một vị tôn đức của Phật giáo Việt nam. Ông Mohan Wijayaratna, sinh ra trong một gia đình song giáo, Ki-tô và Phật, sắp trình luận án Tiến sĩ về một số khía cạnh của Phật giáo Tích lan và cũng đã từng viết nhiều bài báo rất đáng chú ý, một trong những bài này nói về đề tài chúng ta bàn đến hôm nay, dưới con mắt người Tích lan. Đức Cha Eugène Denis, Tiến sĩ Văn chương và nghiên cứu viên tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia (CNRS), sống tại Thái Lan từ hơn ba mươi năm nay và đang nghiên cứu đạo Phật xứ này. Ông Paul Magnin, nghiên cứu viên tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia (CNRS), đã từng sống lâu năm tại các xứ Viễn đông, nhất là tại Đài Loan, chuyên nghiên cứu về đạo Phật Trung quốc. Tôi cũng phải nói đến quyển sách quý báu do đồng nghiệp và cũng là bạn thân của tôi, Giáo sư Jacques Gernet, xuất bản cách đây hai năm tại nhà xuất bản Gallimard dưới tựa đề “Trung quốc và đạo Ki-tô, tác động và phản ứng” (Chine et christianisme, ation et réaction); tác phẩm này cho ta biết và hiểu quan niệm của người Trung quốc, người Phật tử hay người theo đạo khác, về đạo Ki-tô và về Giê-su trong những thế kỷ XVII và XVIII.

Lẽ ra, trong chừng mực nào đó, ta phải gắn liền sự tìm hiểu cái nhìn của người Phật tử về Giê-su với cái nhìn của họ về đạo Ki-tô. Nhưng vấn đề này tự nó cũng rất phức tạp, đòi hỏi quá nhiều tài liệu đủ mọi thể loại, khiến ta không có thì giờ bàn tới bữa nay.

Cái nhìn của Phật tử về Giê-su thay đổi tùy thời điểm lịch sử, tùy xứ, tùy tông phái Phật giáo. Nhưng ngày nay nó có xu hướng trở nên đồng nhất.

Người Trung quốc vào thế kỷ XVII và XVIII có những phê phán gay gắt nhất, tuy nhiên rất khó xác định đâu thực sự là phần phê phán của đạo Phật, đâu là phần của đạo Khổng hay đạo Lão. Với người trung Quốc, Giê-su chỉ là một người, bị kết án tử hình vì làm loạn, làm xáo trộn trật tự xã hội, điều tối kỵ đối với truyền thống Á đông. Cái chết khổ nhục của Giê-su, bị hành hình trên cây Thập ác như một tên tội phạm, sự đau đớn phải trải qua, theo người Phật tử, chỉ là kết quả của ác nghiệp trong quá khứ, nghiệp càng ác, quả báo càng nặng. Thuyết nghiệp báo khiến một số Phật tử nghĩ rằng đời trước Giê-su đã giết người. Hơn nữa, không dủ sức thoát khỏi cực hình, tự cứu thoát bằng phép tắc nhiệm mầu thì làm sao Giê-su có thể cứu người khác? Nếu Giê-su là Thượng đế tối cao, khi ngài đầu thai làm người, đất trời không ai cai quản, kết quả sẽ khủng khiếp vô cùng. Còn nếu ngài giáng sinh từ Thượng đế thì ngài thua xa đức Phật, vì chẳng cần ai giúp sức, thần thánh hay thế lực nào khác nữa, đức Phật tự mình đã tìm ra đạo lý giải thoát và tự lấy quyết định truyền bá đạo lý này. Dù sao đi nữa, nếu Giê-su là một vị trời, ngài chỉ có thể là một vị trời như muôn ngàn vị khác, chịu theo quy luật khắt khe của quả báo tái sinh, và do đó thấp hơn đức Phật, người đã ra ngoài vòng sinh tử luân hồi. Sự kiện Giê-su giáng sinh chẳng có gì đáng chú tâm, vì thực ra, nó chỉ là một hiện tượng mà người Phật tử xem là tương đối và tùy điều kiện sinh ra, trong dòng sinh tử luân hồi vô thường của vạn vật. Hơn nữa, sự giáng sinh này mâu thuẫn với tính chúa-ba-ngôi mà giáo lý Ki-tô gán cho ngài. Còn các phép lạ của Giê-su chẳng thấm vào đâu so với các oai phép Phật đã tung ra, bao trùm cả vũ trụ vô thủy vô chung, bao gồm hằng hà sa số thế giới tương tự như thế giới chúng ta.

Ngày nay, mâu thuẫn cũ giữa hai đạo đã giảm bớt, cái nhìn của Phật tử về Giê-su cũng nhẹ nhàng hơn. Dĩ nhiên, người Phật tử không nhìn nhận, không thể nhìn nhận Giê-su là vị Cứu thế, Nhà Tiên tri, hay là Đấng Tạo Hóa, thường hằng và tối thắng, vì những danh hiệu này đối với Phật tử hoàn toàn vô nghĩa, hay diễn dịch những ảo vọng xuất phát từ những hý luận vô ích chìm đắm trong vô minh, vô minh hiểu theo nghĩa của người Phật tử. Dĩ nhiên, người Phật tử cũng không thể đặt Giê-su cao hơn đức Phật, như một nhà truyền giáo nọ đã vụng về cố gắng chứng minh rằng đức Phật là kẻ đi trước chuẩn bị cho Giê-su xuất hiện. Và dĩ nhiên, người Phật tử không chấp nhận có sự phục sinh của Giê-su, vì khái niệm phục sinh không có trong giáo lý đạo Phật, cũng như không có trong giáo lý Ấn độ hay đạo Jaïna. Sự tái sinh sau khi chết hoàn toàn khác với sự phục sinh của đạo Ki-tô.

Ngoài những giới hạn kể trên, giới hạn suy ra từ lời dạy của đức Phật, hầu như mọi người Phật tử thời nay đều có  thiện cảm với Giê-su. Họ cảm mến ngài, kính phục nữa, nhưng không phải vì vậy mà họ mảy may có ý cải đạo theo đạo Ki-tô. Họ sẵn sàng nêu lên những điểm tương đồng giữa Giê-su và đức Phật: Một đời sống trong sạch, được hướng dẫn bởi một hệ luân lý cao cả, vô vị lợi, thấm nhuần bởi lòng nhân ái, lòng từ bi, lòng từ thiện, lòng khoan dung, cho đến hy sinh cả tính mạng của chính mình. Theo họ, cả Giê-su lẫn đức Phật đều đáng kính, cả hai đều là những vị thánh nhân hiền đức như nhau.

Thượng tọa Thích Thiện Châu có đưa thêm vài ý khá lý thú, dựa trên giáo lý Đạo Phật Phát Triển (Mahâyâna), một phong trào canh tân trong đạo Phật cách đây hai mươi thế kỷ; đạo Phật Việt Nam bắt nguồn từ đó, cũng như rất nhiều hình thái khác của đạo Phật tại Viễn đông và Trung đông. Giáo lý Ba Thân Phật cho phép ta hiểu tính chất của Giê-su rõ hơn là giáo lý nguyên thủy, hiện còn thịnh hành tại Tích Lan và Đông Nam Á. Giáo lý Phát Triển quan niệm là đức Thế tôn có ba thân: Hóa thân hay Ứng thân, người thường thấy được, với thân này Phật đã sinh ra, sống một đời sống bình thường của mọi người rồi chết đi; Báo thân, ngài dùng thân này để hiện ra giữa các vị Bồ-tát, tức là những vị xả thân cứu đời để thành Phật trong một thời gian rất xa nữa; và Pháp thân, là thật thể của các pháp trong vũ trụ, thân như thật và vĩnh cửu, các hữu tình đều có thân này, nhờ thế mà trong tương lai, có thể rất xa, tất cả đều có thể thành Phật. Ta có thể áp dụng Lý Ba Thân này vào trường hợp Giê-su để giải thích tính chất vừa trời vừa người của ngài, giải thích cách nào ngài vừa ở đời cứu nhân độ thế, vừa ngự trị trên ngôi tối thượng tuyệt đối. Thân thứ nhất có thể coi là thân mà mọi người bình thường trông thấy, là thân của Giê-su lịch sử, đã sinh ra, truyền đạo, đau khổ và chết đi trên cây Thập ác. Thân thứ hai là báo thân huyền diệu mà ba đệ tử Pierre, Jean và Jacques đã chiêm ngưỡng trên núi. Thân thứ ba là thân trời, người thường không thể nghĩ bàn, thân Cha trong quan niệm Ba Ngôi của đạo Ki-tô. Cách so sánh này, giữa hai giáo chủ, giúp cho người Phật tử hiểu biết dễ dàng hơn về Chúa cứu thế và Kinh thánh, và kính trọng ngài hơn. Thượng tọa Thích Thiện Châu đưa ra một hình ảnh tuyệt đẹp: “Ta có thể yêu mến sự tinh khiết của hoa sen, và cùng lúc thưởng thức cái đẹp của hoa huệ và hoa hồng” (*) .

Vị tăng sĩ Việt Nam nêu ra một điểm gần gũi nữa, giữa đạo Ki-tô và tông Tịnh độ, một tông phái ở Viễn đông khá quan trọng chỉ tôn thờ Phật A Di Đà, hay “Vô lượng quang Phật”, một vị Phật trước đây đã nguyện đón về đất “Tịnh Độ” tất cả hữu tình niệm danh hiệu ngài. Phật A Di Đà có một vị cộng tác nổi tiếng nhất trong các hàng Bồ tát, đó là Bồ tát Quan Thế Âm, đại từ đại bi, luôn luôn sẵn sàng hiện ra cứu giúp những kẻ hoạn nạn và đã từ chối không thành Phật chừng nào tất cả hữu tình chưa đạt Niết bàn. Hình ảnh Quan Thế Âm rất gần với hình ảnh Giê-su, do đó những người tu theo Đạo Phật Phát Triển, nhất là tông Tịnh độ, có thể tôn kính Giê-su như một vị Bồ tát. Đạo Phật Phát Triển cho rằng các vị Phật tương lai này, ngoài những đức tính như lòng từ bi, trí tuệ, lòng nhân ái, lòng nhẫn nại, v.v… lại còn “giỏi về phương tiện” để cứu vớt các loài hữu tình, làm những phép lạ, do đó Phật tử các tông phái Phát Triển chấp nhận dễ dàng là Giê-su thực sự có phép lạ.

Tuy nhiên, Thượng tọa Thích Thiện Châu nói thêm, Phật tử thuộc các tông phái Phát Triển [, với quan niệm tôn kính về Giê-su như đã nói ở trên,] không tránh khỏi ngỡ ngàng trước những lời cuối cùng có lẽ Giê-su đã thốt ra trên cây Thập ác: “Chúa ơi, Chúa ơi, sao lại bỏ rơi con ?”.

*

Như vậy, trong các tôn giáo lớn, đạo Phật là đạo xa cách đạo Ki-tô nhất, về mặt giáo lý cũng như phương cách hành đạo, nhưng, ngược lại, cũng là đạo biết đánh giá cao nhất giá trị tâm linh của đạo Ki-tô. Điều đó càng đúng vào thời đại này, khi mà đạo Ki-tô đã từ bỏ thái độ thù địch cố hữu của mình với mọi tín ngưỡng khác để chấp nhận rằng các đạo giáo đó không phải là âm mưu của quỷ dữ, mà là những cố gắng nhiều khi rất đáng quý nhằm xoa dịu phiền não khổ đau của con người bằng cách hiến dâng họ những hy vọng vào một ngày mai xán lạn hơn. Những quan hệ thường thường rất nồng hậu giữa Phật tử và tín đồ Ki-tô, và nhất là giữa những người đại diện của các cộng đồng đôi bên tại trung Á và đông Á, là những khích lệ lớn và có nhiều ý nghĩa. Trong các kết quả đáng chú ý nhất, phải kể cái nhìn kính trọng và có thiện cảm của đa số người Phật tử thời nay với con người Giê-su, dù là Phật tử xứ nào đi nữa, hay thuộc tông phái nào đi nữa.

***

Đăng Hương Sen 21/05/1997
Đọc lại 02/04/2010
Nguyên Đạo Lại Như Bằng


Người dịch : Lại Như Bằng

(*) Lời người dịch:  Muốn biết rõ tư tưởng của Hòa thượng Thích Thiện Châu về vấn đề này, nên tìm đọc tài liệu bằng tiếng Pháp “Approche du bouddhisme et du christianisme” của HT Thích Thiện Châu .
Ngoài ra, vào những thời điểm đó (1980-1990) người theo đạo Ca-tô tại Pháp cũng có nhiều suy nghĩ về vấn đề này. Tìm đọc Tập san Lumière et Vie số 193, tháng 8-1989 (Lyon), đặc biệt với bài của Linh mục Pierre de Béthune: “Le dialogue chrétien-bouddhiste, une expérience spirituelle”. 

Phan Ngọc trong nghiên cứu văn hóa Việt Nam – VHNA

4 Th10

Phan Ngọc trong nghiên cứu văn hóa Việt Nam

Hồ Liên

1. Các tác giả viết về văn hóa Việt Nam thường xuất phát từ những chuyên môn hẹp. Dù say sưa với một phương pháp nghiên cứu được hiểu khá mù mờ, “phương pháp liên ngành”, nhưng nhìn chung mỗi người vẫn cày xới trên thửa ruộng quen thuộc của mình. Trong những công trình của họ, ranh giới văn hóa học với khảo cổ học, sử học, văn hóa dân gian, triết học hay chính trị học không lấy gì làm rõ ràng. Văn hóa học, nếu có, dường như là một khoa học bao sân toàn bộ đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn.

Những tư liệu khảo cổ học, những giai đoạn văn hóa đồ đá, đồ đồng, những giai đoạn văn hóa tiền sử, sơ sử, thực chất chỉ làm phong phú và sáng tỏ thêm văn hóa các tộc người, chưa hẳn đã là nội dung thiết yếu của văn hóa cộng đồng dân tộc – quốc gia, hay nói theo GS Chu Xuân Diên, đó chưa đích thị là văn hóa Việt Nam mà chỉ mới là giai đoạn hình thành những nền tảng của văn hóa Việt Nam.

Một quan niệm phổ biến là đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa tộc người Kinh (Việt), lịch sử văn hóa Việt Nam là sự nối dài và mở rộng văn hóa Đại Việt.  Đại Việt “mở nước” về phương Nam như “tất yếu của quy luật cạnh tồn” (Đào Duy Anh). Nhiều cuốn sách trình bày diễn trình văn hóa Việt Nam khớp với các giai đoạn thông sử qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê…

2. PGS. Phan Ngọc là một trong số hiếm hoi những nhà nghiên cứu ở nước ta dũng cảm đi con đường khác, con đường lập thuyết, con đường xây dựng hệ thống các khái niệm công cụ hình thành một môn học.

PGS. Phan Ngọc nhận xét rằng, từ trước đến nay có vô số công trình viết về văn hóa thường thiếu một sự nhất quán ở phương pháp nghiên cứu và hệ thống các khái niệm. Đó là những công trình viết về từng mặt văn hóa như chính trị, giáo dục, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức, lối sống v.v… Người đọc không thấy cái mặt văn hóa, mà chỉ là sự rút gọn những thông tin ở các ngành khoa học hữu quan.

Ông nhiều lần viết rằng văn hóa học có cách khảo sát riêng của nó, đối tượng riêng của nó không giống bất kỳ bộ môn khoa học xã hội nào…

Văn hóa học không theo con đường của âm dương ngũ hành. Nó không xuất phát từ sự phân chia văn hóa theo tiêu chuẩn du mục hay nông nghiệp mà theo hẳn con đường phương pháp luận của phương Tây, trong khi tìm cách đổi mới những khái niệm của phương Tây sao cho ăn khớp với thực tế Việt Nam để tạo nên một hệ thuật ngữ riêng cho ngành khoa học của mình. Điều này là then chốt: một khoa học chỉ là khoa học khi có đối tượng riêng, phương pháp riêng và hệ thuật ngữ riêng.

Vậy văn hóa là gì? Ông lập luận rằng văn hóa là một hiện tượng vừa phổ biến lại vừa mang tính cá biệt. Nó phổ biến với tính cách một đặc điểm chung của con người, bắt gặp ở mọi thể cộng đồng. Con người ở đâu cũng sống cùng một lúc với hai thế giới, thế giới thực tại và thế giới các biểu tượng. Con người không chỉ sống trong hiện tại mà sống cả trong quá khứ và tương lai, hai yếu tố thuộc thế giới biểu tượng. Cách ứng xử của con người xuất phát từ một hệ thống những nguyên lý trừu tượng của thế giới ý niệm đã hình thành một cách gần như tự nhiên.

Xuất phát từ ý tưởng của K. Mác khi phân biệt sự khác nhau về bản chất hoạt động của con người xây cất một ngôi nhà với đàn ong xây tổ, ông nhận thấy con người có một kiểu lao động riêng, anh ta tạo ra sản phẩm theo cái mô hình trong óc, mô hình của thế giới biểu tượng. Nghiên cứu sản phẩm ở ngoài các mô hình ấy là việc của khoa học, kỹ thuật, chính trị, kinh tế, pháp luật. Nghiên cứu các mô hình trong óc con người là việc của triết học, văn học nghệ thuật. Văn hóa học nghiên cứu mối quan hệ giữa cái mô hình trong óc với cái mô hình anh ta tạo ra. Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác(1).

3. “Lựa chọn” là một khái niệm then chốt trong lý thuyết của ông. Mỗi thể cộng đồng có một kiểu lựa chọn riêng biểu hiện thành một lối sống riêng không giống các thể cộng đồng khác. Mỗi cách lựa chọn có lý thuyết riêng, có những nghi lễ riêng khẳng định tính ưu việt của nó.

 Những sự lựa chọn khác nhau dẫn đến những độ khúc xạ khác nhau. “Độ khúc xạ” là một khái niệm công cụ căn bản trong lý thuyết của PGS. Phan Ngọc. Ông muốn xây dựng một hệ thống khái niệm văn hóa học nhất quán, có giá trị thao tác, tức là cho phép hành động hiệu quả chứ không chỉ cung cấp kiến thức. Các khái niệm phải là công cụ khiến người ta có thể dựa vào đó mà tìm đặc trưng văn hóa không lẫn lộn với bất kỳ đối tượng nào của mọi ngành khoa học, giúp chúng ta nhận biết và lý giải “tại sao” về những nét riêng có của văn hóa Việt Nam khác văn hóa Trung Hoa, văn hóa Pháp…

Với ông, “độ khúc xạ” là một khái niệm như vậy.

Lịch sử nhân loại chứng minh rằng, khúc xạ như một quy luật vận động và phát triển của văn hóa. “Ai thực hiện được sự khúc xạ thành công nhất, người ấy thắng”(2).

“Khúc xạ” (refraction) vốn là một khái niệm vật lý học chỉ hiện tượng một tia sáng khi đi qua những môi trường khác nhau sẽ không đi thẳng mà có những độ lệch khác nhau. Cũng như cung cách xây dựng các khoa học khác, lý thuyết văn hóa học có thể vay mượn khái niệm này để cấp cho nó cách lý giải mới, tương hợp. Theo cách lý giải của PGS. Phan Ngọc, một tư tưởng từ ngoài vào, dù đó là Nho giáo, chủ nghĩa Mác, hay tư tưởng hậu công nghiệp, khi vào tâm thức Việt Nam, tức là nhập vào một tâm thức vốn chưa hề biết đến nó, thế nào cũng trải qua một độ khúc xạ, và do đó, có một độ lệch. Người Việt Nam nói chung không hề cảm thấy độ lệch ấy, nhưng xem xét cung cách ứng xử cụ thể sẽ thấy độ lệch này rất rõ. Nguyên nhân của nó ở ngay trong môi trường sống, môi trường thiên nhiên và xã hội hàng ngàn năm nay, khách quan, bên ngoài cá nhân. Nắm được độ khúc xạ này sẽ lý giải được di sản quá khứ và thực trạng văn hóa, đồng thời cho phép tiếp thu cái mới thành công, hạn chế những mò mẫm, vấp váp tốn công tốn của mà càng sửa càng sai(3).

Khái niệm “độ khúc xạ” là một đóng góp lý luận của PGS. Phan Ngọc trong nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Chúng ta có thể hiểu và chia sẻ những trăn trở của ông, rằng đời một người nghiên cứu, dù có viết hàng trăm quyển sách, xét cho cùng mơ ước chỉ là giới thiệu được một khái niệm hữu ích để xét được đối tượng một cách khách quan, hay góp phần sửa đổi lại cách lý giải một khái niệm quen thuộc theo một cách hợp lý hơn.

Với những khái niệm này, PGS. Phan Ngọc đã trình bày các nền văn hóa như những kiểu lựa chọn khác nhau. Như thế, hệ thống khái niệm mà ông xây dựng là một công cụ lý thuyết có giá trị tổng quát, không chỉ để nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

Tuy nhiên, ông làm tất cả cũng chỉ để dồn công sức và tâm huyết thức nhận văn hóa nước nhà, bề dày và số phận lịch sử của nó.

4. PGS. Phan Ngọc đầy thuyết phục trong những trang viết về sự khúc xạ của Khổng giáo từ Trung Hoa đến Việt Nam. Tư tưởng Khổng Tử, theo ông, trước hết là một sự kế thừa độc đáo. Khổng Tử đóng vai người nói theo Chu Công, nhưng cái mới là ở cách lựa chọn một phương diện nào đó và phát triển thật sự xuất sắc. Ông chỉ chú ý đến các ứng xử giữa người với người, chỉ chấp nhận một công cụ tìm hiểu thực tế là giác quan. Nếu Thích Ca, Lão Tử phủ nhận giác quan, thì Khổng Tử chỉ chấp nhận giác quan mà thôi. Cái gì vượt ra ngoài giác quan thì ông bảo là không biết.

Nhà triết học phải tìm ra cái bất biến trong mọi thay đổi. Cái bất biến này có thể là ý niệm, thượng đế, đạo, chân như, là hiện sinh, quan hệ, cái phi lý v.v…

Cái bất biến mà Khổng Tử nêu lên là những quan hệ giữa người và người. Con người không thể chỉ sống với cây cỏ, muông thú mà phải sống với những người khác. Do đó, cần phải xây dựng những quan hệ đẹp đẽ, gọi là “Lễ” giữa người với người để đạt đến sự hòa mục trong xã hội. Con người sinh ra, ắt có cha mẹ, do đó có chữ “Hiếu”; có anh em, do đó có chữ “Đễ”; có bạn bè, do đó có chữ “Tín”; có trách nhiệm với người khác, do đó có chữ “Nghĩa”; có người trên, kẻ dưới, do đó có chữ “Trung”; trong những hoàn cảnh phức tạp cần phải có chữ “Trí” để có được cách ứng xử thích hợp.

Khi đạt đến lí tưởng trong cách đối xử này người ta đạt đến chữ “Nhân”. Các chữ này chưa phải là những khái niệm kiểu Hy Lạp mà chỉ là những kiểu ứng xử chứa đựng một trình độ rất đa dạng, không thể công thức hóa một cách máy móc, đó là chữ “Thời”. Con người phải có hiếu, đễ, trung, tín… những chữ này thể hiện khác nhau trong từng hoàn cảnh khác nhau.

Để tìm được cái bất biến, Khổng Tử đề ra “ôn cũ mà biết mới”, học trong quá khứ, xét trong hiện tại rút ra những quan hệ không thay đổi… Thời đại thay đổi đến đâu thì các quan hệ xã hội vẫn thế, cũ hay mới cũng đều là biểu hiện của cái bất biến.

Khổng giáo không phải là học thuyết cho mọi người, mà chỉ để dạy các bậc “quân tử”, những người thuộc tầng lớp trên trong xã hội, có triển vọng làm quan và học để làm quan. Khổng Tử là người đầu tiên nhận thức được rằng trong một xã hội tôn ti luận, người làm quan phải được đào tạo cực kỳ chu đáo về nhân cách, đạo đức, học vấn để đem đến sự hòa mục trong xã hội. Trong một xã hội như thế, các quan hệ xã hội chi phối các quan hệ kinh tế. Khổng Tử không nói đến “lợi”, mà nói đến “tề gia”, “trị quốc” theo con đường “cách vật”, “trí tri”, “thành ý”, “chính tâm” để “tu thân”, tự mình nêu gương cho người khác theo.

Học thuyết ấy bị thay đổi, xuyên tạc, nhưng cái phần cơ bản vẫn còn ở các nước theo Khổng giáo. Những điểm chung của các nhà Nho là lấy giác quan làm cơ sở cho nhận thức để đi đến những quan hệ xã hội bất biến, tu dưỡng mình công phu, trở thành mẫu mực trong các quan hệ ấy để làm gương và giáo dục mọi người, học tập suốt đời, tìm nguồn vui ở ngay trong việc học, có thái độ bất khả tri trong những gì vượt khỏi giác quan, cũng không trực tiếp chống lại, coi trọng nhân nghĩa hơn giàu sang, biết dừng trong mọi ham muốn để giữ tâm hồn thanh thản. Các nhà Nho ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam đều như nhau ở điểm này, làm thành nét chung của bốn nền văn hóa. Nét chung ấy lần đầu tiên được quy phạm hóa. Đó là phần đóng góp, sáng tạo của Khổng Tử(4).

Nho giáo Việt Nam cũng lấy “trung hiếu” làm nền tảng. Nhưng trung với nước, Tổ quốc trên hết, không phải chỉ trung với quân, hiếu có “tiểu hiếu” và “đại hiếu” quy chiếu về “trung”, đặt vận mệnh đất nước trên hạnh phúc gia đình. Những “nhân, trí, anh hùng”, các khái niệm cơ bản của Khổng giáo tuy không thay đổi về ngôn ngữ, nhưng lại thay đổi về nội dung.

Lăng kính thứ hai tạo nên độ khúc xạ là “làng”. Con người Việt Nam là thần dân của một nước, nhưng đồng thời, và trước hết, anh ta là người của làng, người dân công xã. Nho sĩ Việt Nam “sang ở nước”, nhưng “sống ở làng”, tuân theo hệ tư tưởng công xã, không tạo thành một đẳng cấp riêng như ở Trung Hoa, họ góp phần tạo nên văn hóa làng xã, và đó mới là nền tảng tâm thức Việt Nam, không phải Nho giáo.

Sự khúc xạ thứ ba của Nho giáo ở Việt Nam xuất phát từ cơ tầng văn hóa Đông Nam Á. Văn hóa làng, nguyên tắc “hương đảng trọng xỉ”, tín ngưỡng thờ nữ thần, hội lễ, vai trò người phụ nữ trong gia đình… chứng tỏ tâm thức công xã không chấp nhận tư tưởng ngoại nhập đi ngược lại truyền thống.

Sự khúc xạ thứ tư xuất phát từ vị trí địa lý một nước nhỏ ở phía Nam, cạnh một nước lớn đầy tham vọng bành trướng, bá quyền. Việt Nam phải tiếp thu Nho giáo và chế độ khoa cử để chọn người cai trị, xây dựng một chính quyền dân sự thống nhất từ trung ương đến địa phương, và một nền chính trị tỉnh táo, “biết dừng”, biết “cúi mình để giữ độc lập”(5).

5. Viết về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS. Phan Ngọc thường xác định cái tồn tại không phải là yếu tố mà là quan hệ. Yếu tố thay đổi không ngừng. Bản sắc văn hóa, theo ông, không thể tìm thấy ở sự vật, hiện tượng mà là một kiểu quan hệ. Kiểu quan hệ kết hợp, chắp nối từ nhiều gốc rất khác nhau nhưng tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kỳ diệu. Ông gọi đó là bricolage.

“Nước Việt Nam không phải là Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Hoa để cấp được những yếu tố tạo nên văn hóa thế giới. Nhưng nó ở ngã ba đường của các nền văn hóa, trong một trăm năm nay theo các văn hóa Pháp, Mỹ, xã hội chủ nghĩa, hậu công nghiệp trong khi có sẵn một nội lực hùng mạnh chống sự đồng hóa, cho nên người Việt Nam là bậc thầy về nghệ thuật bricolage”(6).

Minh chứng cho lập luận này có thể dẫn hàng ngàn ví dụ trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Yếu tố đã có từ trước, nhưng tài kết hợp là của Việt Nam, đất nước huyền thoại của những con người anh dũng tuyệt vời, thông minh xuất chúng, và chủ yếu là yêu nước vô hạn.

Nhiều người đọc không giấu sự thú vị và thán phục ông ở những phát hiện này. PGS. Phan Ngọc đã chỉ ra được thực chất văn hóa Việt Nam là bricolage. Sáng tạo của Việt Nam là lắp ghép, dung hóa. Thiên nhiên ban cho mỗi dân tộc một thứ ân sủng khác nhau, một kiểu tài năng khác nhau. Người Việt Nam lấy những yếu tố có sẵn, vốn mình hoặc mượn người, cấu trúc lại, tức cấp cho chúng một kiểu “quan hệ” để tạo thành một sản phẩm khác phù hợp với mình. Với bricolage có thể hiểu được sở trường và sở đoản, nhất là cơ chế tiếp thu của văn hóa Việt Nam. Điều này rất cần không chỉ để tìm hiểu quá khứ, mà còn để xây dựng một chiến lược phát triển văn hóa tương lai.

Dĩ nhiên, bricolage có cái thực dụng của căn tính nông dân công xã, sản phẩm của phương thức sản xuất châu Á mà ông phân tích rất kỹ trong các công trình của mình, nhưng đồng thời cũng là sự vượt gộp (depassement), tiếp thu và đổi mới. Nó bảo vệ được cả cái cũ lẫn cái mới, không nhắm mắt chạy theo cái mới, vứt bỏ cái cũ, cũng không khư khư giữ lấy cái cũ, từ bỏ cái mới.

6. Nếu bản sắc văn hóa Việt Nam được cụ thể hóa trong những thao tác lắp ghép, vượt gộp thích dụng với từng hoàn cảnh lịch sử xã hội, thì cái tạo thành tính bất biến của các ứng xử ấy là những nhu cầu của tâm thức con người Việt Nam, là nhân cách Việt Nam được quy định bởi bốn yếu tố mà PGS. Phan Ngọc mô hình hóa thành công thức 4F (Fatherland, Family, Fate, Face):

Người Việt Nam là con người bổn phận. Anh ta có hai bổn phận chính là đối với nước và đối với nhà. Ngược lại, anh ta được những người khác che chở, đùm bọc, cấp cho anh ta một thân phận, và được mọi người đánh giá, cấp cho anh ta một diện mạo. Có bốn yếu tố tạo thành nhân cách Việt Nam: Tổ quốc, gia đình, thân phận, diện mạo. Đó là bốn yếu tố tạo thành văn hóa Việt Nam(7).

PGS. Phan Ngọc nhận xét rất đúng về hai phương thức tiếp biến văn hóa:

Một là, khi một hiện tượng văn hóa từ ngoài vào, trong nước chưa có, thường có hiện tượng giống hệt về hình thức và sự khúc xạ diễn ra chỉ ở nội dung.

Hai là, một xu hướng văn hóa khi vào Việt Nam đã có sẵn hiện tượng tương tự trong nước. Khi đó, sự tiếp xúc chủ yếu tạo nên sự thay đổi về hình thức. Hai phương thức tiếp biến văn hóa này phù hợp với tâm thức con người Việt Nam(8).

Sự hình thành ý thức dân tộc phải là một quá trình lịch sử lâu dài. Nhưng không phải ngẫu nhiên mà lần đầu tiên thế giới biết đến một bản tuyên ngôn về quyền tự quyết dân tộc và định nghĩa về một cộng đồng quốc gia – dân tộc lại ra đời ở Việt Nam, năm 1427 với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. PGS. Phan Ngọc đánh giá đây là một văn kiện có giá trị thế giới cho đến nay vẫn hoàn toàn hiện đại. Nguyễn Trãi trước UNESCO gần sáu trăm năm đã lấy văn hóa làm nền tảng cho chủ quyền dân tộc (Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu), trước Stalin 465 năm đã thấy dân tộc là một thể thống nhất gồm bốn yếu tố là địa lý (Núi sông bờ cõi đã chia), văn hóa  (Phong tục Bắc Nam cũng khác), lịch sử (Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập), chính quyền thống nhất (Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương)…

Đó là bản tuyên ngôn chủ quyền dân tộc. Vì có một truyền thống lâu đời và nhất quán như vậy, nên văn hóa Việt Nam trước hết là văn hóa vì Tổ quốc. Đây là cái chìa khóa để hiểu một con số đông đảo các biểu hiện văn hóa mà nếu xét tách rời, nhất định dẫn tới vô số cuộc tranh luận không thể kết thúc…

Gia đình là một cộng đồng văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự hình thành nhân cách con người Việt Nam. PGS. Phan Ngọc cho rằng muốn xây dựng một chế độ chính trị bền vững trong xã hội phương Đông, dứt khoát phải xuất phát từ gia đình, nơi mà lịch sử đã chứng minh rằng, hạnh phúc gia đình luôn gắn liền với vận mệnh đất nước. So sánh gia đình Việt Nam với gia đình Trung Hoa, PGS. Phan Ngọc có nhận xét sâu sắc rằng, trong xã hội tôn ti luận Trung Hoa, quan hệ gia đình bị quy chiếu vào quan hệ xã hội: chồng gọi vợ là thiếp, vợ gọi chồng là tướng công. Ngược lại, người Việt mở rộng quan hệ gia đình thành quan hệ xã hội. Không một người Trung Hoa nào gọi các vị quan lớn là bác nọ, chú kia, nhưng người Việt Nam thì khác, có thể xưng hô là “em”, là “con”, là “cháu”, với “thầy”, “chú”, “bác”, “cô”, “dì” như người thân trong các ứng xử xã hội. Đây là sự khác biệt có ý nghĩa căn bản giữa hai nền văn hóa(9).

7. Đi tìm ngữ nghĩa của hình thức, tiếp cận văn hóa Việt Nam bằng những khái niệm công cụ thao tác luận, PGS. Phan Ngọc nói rằng mình chỉ là kẻ tìm đường, một mình, dĩ nhiên không thể có tham vọng nói đã tìm được. Những sai lầm là tất yếu, nhưng sẽ giúp người khác đỡ vất vả trên con đường xây dựng nền văn hóa tương lai.

Một lý thuyết đang trong quá trình hình thành sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau, không hẳn đã đúng với ý tưởng của người lập thuyết.

Chúng tôi cũng hiểu khác. Quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong đầu óc con người với thế giới thực tại đã được mô hình hóa là như thế nào? Theo chúng tôi, con đường duy nhất để có thể thức nhận thế giới biểu tượng trong đầu óc nhà khoa học, người nghệ sỹ, nhà văn, nhà phát minh sáng chế v..v… chỉ có thể là nắm bắt cái thế giới thực tại, những tác phẩm, những công trình, những “hành vi và hoạt động” do chính họ sáng tạo nên. Quan hệ ấy là phổ biến và nhất quán, bởi chẳng mấy ai lại thích nghĩ một đường làm một nẻo.

 Nhưng ở đây quả có sự lựa chọn, sự lựa chọn biểu tượng và quá trình hình thành biểu tượng diễn ra trong đầu óc con người và thể hiện thành những khác biệt ở thế giới thực tại.

Có một thực tế lịch sử cho lý thuyết của PGS Phan Ngọc, đó là một bộ phận dân cư Bách Việt bị dồn đến chân tường, trên giải đất hẹp dưới chân Trường Sơn, mép biển bán đảo Đông Dương, chỉ có một lựa chọn duy nhất để tránh tuyệt diệt, để tồn tại như một cộng đồng dân tộc- quốc gia là chống Bắc thuộc và giải Trung Hoa Hóa. Vì thế, Bắc thuộc và chống Bắc thuộc trên mảnh đất này không phải là chuyện của nghìn năm đầu Công nguyên, mà trường kỳ lịch sử. Chống Bắc thuộc và giải Trung Hoa hóa là số phận lịch sử của dân tộc Việt Nam, lựa chọn duy nhất để tồn tại và cũng là một căn nguyên của bản sắc văn hóa Việt Nam.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

1. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, H. Nxb Văn hóa Thông tin. Trích dẫn (6)

2. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, H. Nxb Văn hóa Thông tin. Tr.d (1,2,3,4,5,8,9)

3. Phan Ngọc (2000), Thử xét văn hóa – văn học bằng ngôn ngữ học, H. Nxb Thanh niên. Tr.d (7).

 

 

Mianma: Ván cá cược chiến lược và bài học đối với Trung Quốc – VHNA

4 Th10

Mianma: Ván cá cược chiến lược và bài học đối với Trung Quốc

Jean-Bernard

Do vị trí địa lý và tài nguyên năng lượng, Mianma trở thành ván cá cược địa chính trị lớn mà Trung Quốc không thể bỏ qua, cũng không thể để rơi vào tay các cường quốc khác, dù đó là Ấn Độ hay phương Tây. Nhưng tướng Pháp Jean-Bernard, chuyên gia địa chính trị và tình báo kinh tế, cho rằng Trung Quốc đã nhận được những bài học đầu tiên vì đánh giá thấp trào lưu dân tộc chủ nghĩa trong ban lãnh đạo Mianma.

Lý giải tiến trình dân chủ hóa đang diễn ra ở Mianma trên tạp chí “Focus”, tướng Jean-Bernard nói đó là câu trả lời của phái dân tộc chủ nghĩa trong giới cầm quyền quân sự Mianma đối với ý đồ thực dân hóa dần dần của Trung Quốc. Quả thực là Trung Quốc phụ thuộc vào việc vận chuyển bằng đường biển một phần lớn năng lượng của mình từ Trung Đông về. Tuyến đường biển đó buộc phải đi qua Hormuz và Malắcca, hai eo biển dễ dàng bị các cường quốc hàng hải, trong đó có Mỹ, kiểm soát. Vận chuyển dầu mỏ và khí đốt qua lãnh thổ Mianma sẽ giúp Trung Quốc khắc phục được sự lệ thuộc bắt buộc đó, đặc biệt là eo biển Malắcca.

Hơn nữa, trữ lượng khí đốt đã được khẳng định ở Mianma là rất lớn vì tương đương với khoảng ba năm tiêu thụ của Trung Quốc với mức như của năm 2009. Việc Trung Quốc xây dựng hạ tầng kết nối giữa nước này và Mianma cho thấy Bắc Kinh coi trọng ván cá cược chiến lược này. Một tuyến đường ô tô đang được hoàn thành giữa Trung Quốc và Kengtung, ở phía Đông bang Shan. Quân đội Trung Quốc cũng đặt trạm nghe trộm ở Coco Islands, một quần đảo nhỏ ở Ấn Độ Dương. Trung Quốc còn tham gia xây dựng một số cảng nước sâu ở Ấn Độ Dương để chuẩn bị cho việc triển khai ở mặt bờ biển phía này. Một đường ống dẫn khí đốt sắp tới sẽ nối Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, với cảng Sittwe của Mianma và Kyaukpyu, trên đảo Ramsee, cách cảng Sittwe khoảng năm chục cây số về phía Nam. Đường ống dẫn dầu này sẽ vận chuyển 400.000 thùng/ngày từ Trung Đông về.

Đồng thời, đường ống dẫn khí đốt được Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC) đầu tư hơn mộ tỷ USD, được dùng để vận chuyển 25 tỷ mét khối khí trong 30 năm từ mỏ Shwe ( tiếng Mianma nghĩa là “vàng”) ở ngoài khơi Mianma, cách Sittwe (thủ phủ bang Arakanai) khoảng ba chục cây số, được ký với PetroChina vào mùa Xuân năm 2005 và được bổ sung năm 2008 bằng một bản ghi nhớ giữa các công ty khai thác và CNPC, về mua và vận chuyển khí đốt tự nhiên từ các mỏ A-1 và A-3 về Trung Quốc. Các đường ống này có tổng chiều dài 1.200 km, cộng với 45 km thuộc đường ống Yadana chạy trên đất liền được một tổ hợp do Total làm chủ thực hiện.

Tầm quan trọng của tuyến đường vận chuyển năng lượng này có tính chiến lược đối với Trung Quốc đến mức khiến người ta đặt câu hỏi liệu có phải từ hai chục năm nay, nước này đang tiến hành thực dân hóa dần dần vùng đất mà hai đường ống này chạy qua không. Tỉnh Mandalay của Mianma, vốn là thành lũy bộ tộc và văn hóa truyền thống ở Mianma, nằm trên đường đi của các đường ống này, gần như bị người Trung Quốc “thôn tính”. Hiện người Trung Quốc chiếm khoảng 30-40% số dân ở thành phố Mandalay, tức gần bằng số người Mianma, hơn nữa thành phố này còn có một cộng đồng lớn người Ấn Độ-Mianma. Tiếng Mianma vẫn là ngôn ngữ chính ở Mandalay, nhưng tiếng Quan thổ ngày càng được sử dụng nhiều ở đây, cụ thể là tại các khu thương mại như chợ Zegyo.

Trung Quốc hiện diện ở vùng này cả về con người, kinh tế lẫn quân sự. Từ những năm 1990, với việc ký hợp đồng bán vũ khí trị giá một tỷ USD, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Mianma. Trung Quốc cung cấp đều đặn cho Mianma trang thiết bị quân sự hạng nặng, cụ thể là xe tăng tấn công, xe bọc thép chở quân và phụ tùng pháo (súng chống tăng và phòng không, pháo tự hành…)

Trung Quốc hiện diện ở Mianma nhiều đến mức gây ra tâm lý chống nước này rất mạnh trong dân chúng ở miền Bắc vì họ cho đó là một hình thức thực dân hóa kinh tế mới. Trong hai tháng 5 và 6/2012, một loạt các vụ đánh bom nhằm vào các công trường và cơ sở khí đốt và dầu mỏ của Trung Quốc ở Mianma. Một số nhà quan sát nhấn mạnh rằng tâm lý bực tức, được một số nguồn tin gọi là hiện tượng “bài Trung Quốc”, ngày càng lan rộng ở Mianma, đặc biệt là trước làn sóng di cư mới đây vào miền Bắc nước này. Dân chúng địa phương nhận thấy hoạt động của cộng đồng người Trung Quốc ở Mianma không có lợi cho mình và than phiền những người mới di cư đến không hề có nỗ lực hòa nhập nào. Trong con mắt của dân địa phương Mianma, các thế hệ người di cư Trung Quốc trước đây hòa nhập tốt hơn vào môi trường địa phương vì họ cũng theo đạo Phật và nói tiếng Mianma, trong khi số người di cư mới dường như vì động cơ kinh doanh là chính nên không nỗ lực hòa nhập và tôn trọng luật lệ địa phương.

Tâm lý chống Trung Quốc đó mới đây thể hiện trong các vụ tấn công vũ trang vào các dự án xây đập nước trên sông Irawaddy để cung cấp điện cho tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Đập nước lớn nhất là Myitsone trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh vì các thiểu số sắc tộc sống ở vùng này. Các tổ chức Quân đội độc lập Kachin (KIA) và Quân đội Nhà nước Shan tổ chức phong tỏa việc vận chuyển trang thiết bị từ Trung Quốc đến, gây thiệt hại cho quân đội chính trị được điều đến để bảo vệ người lao động Trung Quốc, nhưng lại được dân chúng ủng hộ. Đến mức ngày 30/9/2011, Tổng thống Thein Sein thông báo trước Quốc hội ngừng việc xây đập Myitsone để “tôn trọng ý nguyện của dân chúng”.

Quyết định đó khiến Chính phủ Trung Quốc nổi giận vì họ quen coi Mianma là một “nước tự trị” (theo nghĩa dưới thời thực dân Anh, đây là một vùng lãnh thổ có thể được tự giải quyết các vấn đề tài chính, chính sách đối nội và thương mại của mình, nhưng không được kiểm soát chính sách đối ngoại, và có quyền có quân đội riêng), nhưng chính vì vậy mà Bắc Kinh đánh giá thấp trào lưu dân tộc chủ nghĩa và trào lưu nô dịch Bắc Kinh, là việc hai quan chức cao cấp Mianma tháng 1/2010 bị kết án tử hình tại Răngun với tội danh làm lộ bí mật quốc gia. Vốn là cựu sĩ quan quân đội, Win Naing Kyaw và Thura Kyaw, 2 viên chức Bộ Ngoại giao, có thể đã tổ chức tuồn thông tin và hình ảnh về chuyến thăm của một số tướng lĩnh Mianma ở Bắc Triều Tiên và Nga vào các năm 2006 và 2008. Trong tài liệu có ghi rõ việc mua một hệ thống tên lửa có điều khiển của Nga và Bắc Triều Tiên xây đường hầm. Về phương diện này, việc Bắc Triều Tiên và Nga bị nêu danh trong những điều chiếu theo của bản án là rất có ý nghĩa và nhằm mục đích gửi một thông điệp đến chính quyền hai nước này, đặc biệt là Mátxcơva. Thông điệp đó là “Đừng có đụng đến Mianma”. Tuy phụ thuộc vào Nga về năng lượng, song Trung Quốc không thể chấp nhận bất kỳ sự can thiệp chiến lược nào của Nga vào một nước mà họ coi là một phần của vùng ảnh hưởng đặc quyền của mình.

Tình hình trên khiến người ta nghĩ rằng tiến triển dân chủ mới đây ở Mianma, với việc nhân vật đối lập Aung San Suu Kyi trở lại sân khấu chính trị Mianma trong chiến thắng, là kết quả bước đầu của trào lưu dân tộc chủ nghĩa trong quân đội và nhằm cho phép củng cố quân đội. Quả thực là bước khởi đầu cho dân chủ hóa ở Mianma giúp các nhà lãnh đạo theo khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa có được chỗ dựa là dân chúng để chống lại áp lực từ Bắc Kinh và vĩnh viễn loại trừ các viên sĩ quan nô dịch Bắc Kinh trong Bộ chỉ huy quân sự cấp cao./.

Nguồn: BS/TTXVN (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

 

Mỹ triển khai thêm trực thăng đến căn cứ Nhật Bản – VHNA

4 Th10

Mỹ triển khai thêm trực thăng đến căn cứ Nhật Bản

 
 
Ngày 2/10, Mỹ đã huy động thêm ba trực thăng vận tải MV-22 Osprey đến căn cứ không quân Futenma của Mỹ ở tỉnh Okinawa, miền Nam Nhật Bản, một ngày sau khi nhóm đầu tiên gồm sáu chiếc đã được triển khai ở căn cứ này.

Phát biểu tại cuộc họp báo cùng ngày, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Satoshi Morimoto cho biết hiện vẫn còn ba máy bay Osprey triển khai tại căn cứ Iwakuni, thuộc tỉnh Yamaguchi, và hai chiếc trong số này đang được sửa chữa và thay thế một số bộ phận.

Nhóm thứ hai rời Iwakuni vào sáng 2/10 và đến Futenma  trưa cùng ngày. Toàn bộ 12 máy bay Osprey nói trên có thể bắt đầu hoạt động tại căn cứ Futenma từ nay đến cuối tháng này.

Phản ứng trước việc Mỹ triển khai máy bay Osprey đến Okinawaa, khoảng 200 người dân địa phương đã biểu tình ngồi trước cổng căn cứ Futenma để phản đối.

[Nhật chuyển 6 máy bay Osprey đầu tiên tới Okinawa ]

Tại Tokyo, Ngoại trưởng Koichiro Gemba một lần nữa kêu gọi người dân ở Okinawaa chấp nhận việc triển khai trực thăng Osprey, đồng thời lưu ý rằng loại máy bay này sẽ củng cố sức mạnh của quân đội Mỹ nhằm đảm bảo an ninh cho Nhật Bản và khu vực Đông Á.

Ông Gemba cho biết các máy bay trên cũng sẽ còn được sử dụng trong các công tác cứu hộ cứu nạn tại các khu vực thiên tai, thảm họa.

Về phần mình, chính quyền tỉnh Okinawaa cho biết cường độ âm thanh đo được ở thành phố Ginowan phát ra từ những trực thăng Osprey khi đáp xuống Futenma đạt mức tối đa là 89,2 db, tương đương với tiếng ồn phát phát ra từ một nhà máy đang hoạt động.

Mỹ cũng dự định phái thêm một số loại máy bay đến căn cứ Iwakuni và Trại Fuji ở Gotemba, tỉnh Shizuoka, hàng tháng và tiến hành các cuộc huấn luyện bay tầm thấp dành cho Osprey trên các đảo lớn Honshu, Shikoku và Kyushu.

Từ nay đến năm 2014, quân đội Mỹ dự kiến triển khai tổng cộng 24 chiếc Osprey, thay thế loại máy bay vận tải CH-46 đã lỗi thời./.
 Nguồn: TTXVN

Lương giáo viên phải cao nhất trong các ngành sự nghiệp – VNN

4 Th10

Lương giáo viên phải cao nhất trong các ngành sự nghiệp

“Tiền lương là thể hiện sự đối xử với thầy, cô giáo” – nguyên Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình chia sẻ.

 

Nguyên Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình.

Nguyên Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình cho rằng, vai trò của người thầy là căn cứ quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển giáo dục, nhưng cho đến nay, vấn đề giáo viên chưa một lần được giải quyết căn cơ, khiến cho tất cả những mong muốn đổi mới giáo dục đều không thực hiện được đến nơi đến chốn.

– Trở ngại lớn nhất trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông là thầy, cô giáo ở các trường phổ thông công lập gần như không còn động lực hoạt động nghề nghiệp vì thu nhập từ lương và phụ cấp do Nhà nước trả không đủ bảo đảm cho họ có cuộc sống tươm tất. Để tự cứu mình, nhiều giáo viên trường công ở các đô thị phải “dạy thêm”, dẫn đến dạy thêm tràn lan.

Trong khi đó, tình trạng xuống cấp về đạo đức và văn hóa trong xã hội gây nhiều tác động tiêu cực đến trường học mà ngay cả giáo viên cũng bị lây nhiễm. Do vậy, vị thế xã hội của nghề làm thầy lẫn người thầy bị hạ thấp trong thang giá trị xã hội.

Nếu đặt vấn đề tăng lương cho giáo viên, theo bà, tăng đến mức nào là phù hợp?

– Trong các kiến nghị, chúng tôi có nhấn mạnh vào việc sửa đổi chính sách lương, phụ cấp, đồng thời cải thiện điều kiện nghề nghiệp, đãi ngộ, mức sống đáp ứng được yêu cầu của nhà giáo và gia đình họ. Mức sống này phải được xác định là trên mức trung bình của xã hội.

Về thu nhập cụ thể, theo tôi, những nước khác làm được thì ta cũng phải làm được. Như ở Phần Lan, giáo viên là nghề có thu nhập cao, Hàn Quốc cũng xác định thu nhập của nhà giáo ở mức cao…

Gần đây, Nhà nước đã cố gắng tăng thêm 30% phụ cấp cho giáo viên đứng lớp. Có thể chưa được như mong muốn, nhưng so với lương của hệ thống viên chức nhà nước nói chung là khá cao. Nếu tiếp tục đặt vấn đề tăng lương giáo viên, thì như thế nào là hợp lý, thưa bà?

– Có thời kỳ Nhà nước ta đã nêu ra vấn đề lương giáo viên phải cao nhất trong các ngành sự nghiệp. Như vậy, theo tôi, đã có lúc chúng ta thấy được vấn đề nhưng không thống nhất được quan điểm và sự thực là chưa giải quyết vấn đề. Muốn vị thế trong xã hội của thầy, cô giáo cao lên, muốn thầy, cô giáo gắn bó với nghề, muốn thu hút người giỏi làm nghề dạy học, thì phải trả lương cao cho thầy, cô giáo. Tiền lương là thể hiện sự đối xử với thầy, cô giáo.

Bây giờ nhiều thầy không gắn bó với nghề. Học sinh khá, giỏi không muốn vào học sư phạm. Như thế thì giáo dục làm sao có chất lượng? Cái gốc vấn đề là ở đấy!

Hơn nữa, vấn đề đổi mới, hay cải cách giáo dục không chỉ tốt cho nhà trường mà sẽ nâng cao được cả văn hóa, đạo đức xã hội. Người giáo viên tốt thì con em chúng ta sẽ tốt hơn, xã hội tốt hơn.

Đã từng có ý kiến cho rằng nên có quỹ hỗ trợ dành cho giáo viên, huy động nguồn lực từ các tổ chức xã hội, các công ty, tập đoàn… Theo bà, vấn đề xã hội hóa trong việc tăng thu nhập cho giáo viên nên được nhìn nhận như thế nào?

– Xã hội hóa giáo dục trong giai đoạn này là chủ trương đúng. Tuy nhiên, tôi nhấn mạnh, đối với việc học tập của con em chúng ta, Nhà nước phải chịu trách nhiệm. Nhà nước có thể lo bằng nhiều cách, trong đó có biện pháp xã hội hóa, nhưng bằng cách gì thì Nhà nước vẫn phải đảm bảo, vẫn phải chịu trách nhiệm.

Có nên đặt ra vấn đề phân cấp giáo viên để phân cấp thu nhập hay không, thưa bà? Giáo viên giỏi, dù trẻ, nhưng phải có thu nhập cao hơn giáo viên bình thường khác?
 

 

Nguyên Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình tặng thưởng cho sinh viên ĐH Phan Châu Trinh.

– Ở đây có hai vấn đề. Thứ nhất, thâm niên là đặc thù của nghề giáo, càng làm lâu trong nghề càng phải khuyến khích. Còn đối với người giỏi, ở đây phải đặt ra vấn đề bồi dưỡng thường xuyên nâng cao trình độ. Trình độ đến đâu đãi ngộ đến đó. Nhóm nghiên cứu chúng tôi đề xuất toàn bộ giáo viên phổ thông phải có trình độ từ đại học trở lên. Phải nâng trình độ giáo viên lên và xóa bỏ ngay quan điểm lạc hậu lớp thấp chỉ cần trình độ thấp.

Đối với khoa học giáo dục hiện đại, những năm đầu của trẻ là giai đoạn hình thành nhân cách, tư duy. Vì vậy, bậc học càng thấp càng đòi hỏi ở người giáo viên nhiều hơn.

Theo bà, với tình trạng dạy thêm học thêm tràn lan như hiện nay, tăng lương có giải quyết được tình hình?

– Vấn đề dạy thêm học thêm hiện nay khó chống, nguyên nhân là người giáo viên phải làm thêm để có thu nhập đảm bảo đời sống. Vì vậy, dạy thêm rất khó cấm, và thực tế hiện nay là vẫn không thể chống được. Nếu giải quyết thỏa đáng đãi ngộ, lương bổng để giáo viên và gia đình có cuộc sống tươm tất, đàng hoàng thì theo tôi, không cần cấm đoán, giáo viên cũng sẽ không dạy thêm nữa.

Lực lượng giáo viên hiện nay đông, nguồn lực quốc gia có hạn. Vậy một lộ trình tăng lương sẽ như thế nào để cân đối, trong mối tương quan với bảng lương của các ngành nghề khác?

– Trước mắt hãy cứ thực hiện công bằng, tính đủ lao động cho người thầy. Công chức, viên chức làm việc 8h/ngày. Người thầy ngoài giờ lên lớp còn phải chấm bài, soạn giáo án… Ở các thành phố lớn, giáo viên không chỉ dạy một lớp 35 học sinh như quy định, mà số lượng học sinh phải phụ trách có khi lên tới 50 – 60 em. Vậy hãy tính đủ sức lao động cho họ. Chưa cần nói gì đến việc ưu ái hơn nhưng trước mắt cứ tính cho công bằng đã. Cũng cần thiết phải cải cách quản lý, phải làm sao để người giáo viên làm việc có mức độ vì họ còn gia đình, cuộc sống riêng.

Hãy làm tốt những vấn đề Nhà nước đã đặt ra như thâm niên, phụ cấp dạy thêm giờ, sĩ số lớp… Rồi sau đó hãy đặt tới vấn đề đưa lương của giáo viên đứng đầu trong bảng lương sự nghiệp.

Nhân dịp Đảng đang thực hiện việc thi hành Nghị quyết IV T.Ư khóa XI sẽ bàn về đổi mới trong giáo dục, bà có kỳ vọng gì vào cuộc họp lần này?

– Thật sự tôi muốn một cuộc “cải cách”, chứ không chỉ dừng ở “đổi mới” trong giáo dục. Tôi hy vọng những người lãnh đạo ngành có quan điểm, nhận thức đúng mức, quyết tâm thực hiện những điều mình nêu ra. Tất nhiên, không thể một lúc mà đề ra hết được mọi vấn đề. Nhưng tôi mong rằng, với mục tiêu đã có, với quan điểm đúng, kỳ họp sẽ chỉ ra được những giải pháp quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới, trong đó có vấn đề người thầy.

– Xin cảm ơn bà!
 

 

 

Đề tài khoa học cấp nhà nước “Các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông” do nguyên Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm đã đặt ra nhiều vấn đề nếu muốn nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Nhóm nghiên cứu khảo sát thu nhập của GV qua bảng lương cho thấy: Thu nhập bình quân từ lương và các phụ cấp theo lương trong khoảng từ 3 – 3,5 triệu đồng/tháng.

Tính theo năm công tác thì lương GV sau 13 năm từ 3 – 3,5 triệu đồng/tháng, sau 25 năm từ 4,1 – 4,7 triệu đồng/tháng. GV mới ra trường ở cả 3 cấp học nhận mức lương trên dưới 2 triệu đồng/tháng. Với số lượng GV như hiện nay, chỉ khoảng 50% số GV các cấp có thâm niên dạy học từ 13 năm trở lên và được hưởng mức lương bình quân, 50% còn lại được hưởng dưới mức lương bình quân.

Từ đó cho thấy, thu nhập từ lương và phụ cấp theo lương cho GV phổ thông không đảm bảo đáp ứng nhu cầu cơ bản về đời sống của bản thân và gia đình họ, nhất là ở các vùng đô thị. Khoảng trên 40% không muốn làm nghề sư phạm nếu được chọn lại ngành nghề vì lương quá thấp. 

(Theo Lao động)
 

Thế giới 24h: Lún sâu tranh chấp

4 Th10
 

Thế giới 24h: Lún sâu tranh chấp

 – Tranh chấp giữa Nhật Bản, Trung Quốc về chủ quyền với quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư ngày càng lún sâu; Đánh bom gây thương vong cực lớn ở Syria… là những tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Sáng qua (3/10), một nhóm tàu hải giám Trung Quốc lại tiến vào vùng biển gần quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư, tâm điểm của vụ tranh chấp đang căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản cho biết rằng, nhóm tàu hải giám của Trung Quốc đã phớt lờ những cảnh báo của tàu tuần tra bờ biển của phía Nhật Bản và tiến vào vùng biển trên.

Văn phòng khu vực của Lực lượng bảo vệ bờ biển tại Naha, Okinawa, cho biết tàu tuần tra của lực lượng này đã yêu cầu tàu Trung Quốc rời vùng biển Nhật Bản, song không có phản hồi.

Tâm điểm tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc trên biển Hoa Đông. (Ảnh: Kyodo/AP)

Nhật Bản ngay lập tức gửi công hàm phản đối Trung Quốc thông qua các kênh ngoại giao ngày thứ hai liên tiếp. Phát biểu ở Tokyo, Ngoại trưởng Nhật Bản kêu gọi Trung Quốc kiềm chế.

Trong khi đó, cùng ngày, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố, các tàu hải giám nước này vẫn tiếp tục tuần tra trên vùng biển ở ngoài khơi quần đảo tranh chấp.

Hôm 2/10, Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế Christine Lagarde đã kêu gọi Nhật Bản và Trung Quốc giảm bớt căng thẳng liên quan tới vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa hai quốc gia này.

Theo bà Lagarde, trong bối cảnh kinh tế thế giới đang ảm đạm như hiện nay, sự góp sức hỗ trợ tăng trưởng bền vững của 2 đầu tàu kinh tế châu Á là Trung Quốc và Nhật Bản rất cần thiết.

Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhấn mạnh, kinh tế thế giới đang chao đảo khó có thể chịu đựng nổi việc nền kinh tế số 2 và 3 suy giảm hơn nữa do tác động của tranh chấp biển đảo.

Tin vắn

– Các nước thành viên NATO đã nhất trí gia hạn nhiệm kỳ tổng thư ký của ông Anders Fogh Rasmussen thêm một năm, tới cuối tháng 7/2014.

– Kênh truyền hình Al-Arabiya cáo buộc chính Tổng thống Syria Bashar al-Assad đã nhúng tay vào những vụ sát hại thủ lĩnh tôn giáo Lebanon.

– Tổng thống Iran Ahmadinejad cho biết, nước này muốn đàm phán trực tiếp với Mỹ về chương trình hạt nhân để hai bên sớm giải tỏa bất đồng.

– Cựu Tổng thống Philippines từng bị lật đổ Joseph Estrada quyết tâm quay lại chính trường, khi nộp đơn tranh cử thị trưởng thành phố Manila.

– Công ty tư nhân Trung Quốc Ralls Corp đã khởi kiện Tổng thống Mỹ Barack Obama, sau khi ông này ngăn cản những dự án điện gió của họ.

– Nga hy vọng thắng lợi của phe đối lập trong cuộc bầu cử Quốc hội Gruzia sẽ góp phần vào việc bình thường hóa quan hệ Tbilisi với Moscow.

– Mỹ đề nghị Nhật Bản tích trữ một lượng plutonium ở mức tối thiểu, sau khi Tokyo hướng tới ngừng sản xuất điện hạt nhân vào khoảng 2030.

– Ít nhất 3 người thiệt mạng, 10 người khác bị thương trong một vụ nổ đường ống dẫn dầu xảy ra tại tỉnh Nam Sumatra của Indonesia hôm 3/10.

Tin ảnh

Trung tâm thành phố Aleppo của Syria đổ nát sau những vụ đánh bom. (Ảnh: AP)

Hôm 3/10, ba vụ đánh bom xe đã làm rung chuyển trung tâm Aleppo, làm ít nhất 40 người thiệt mạng và 90 người bị thương, phần lớn trong đó là binh sỹ chính phủ.  

Phát ngôn ấn tượng

Lò phản ứng hạt nhân Bushehr, nằm cách thủ đô Tehran của Iran 1.200km về phía nam. (Ảnh: Reuters)

Phó chủ tịch Ủy ban chính sách đối ngoại, an ninh quốc gia thuộc Quốc hội Iran, Mansour Haqiqatpour, cho biết Tehran sẽ làm giàu urani đến 60%, nếu đàm phán với nhóm P5+1 thất bại.

Theo giới phân tích quốc tế, tuyên bố trên của ông Mansour Haqiqatpour được đưa ra hôm 2/10, sẽ càng khiến phương Tây nghi ngờ về mục tiêu của chương trình phát triển hạt nhân Iran.

Ngày này năm xưa

4/10/1957, Liên Xô đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất, Sputnik 1.

Thanh Vân (tổng hợp)

 
 
 
%d bloggers like this: